“Cuốn Theo Chiều Gió”

Image may contain: sky, cloud, twilight, outdoor and nature

Phan Thị Hồng is with Hoang Le Thanh and Kieu Loan.

“Cuốn Theo Chiều Gió”

Vương Trùng Dương

Theo dòng thời gian, từ trước công nguyên cho đến nay, nhiều nước trên thế giới đã từng xảy ra nội chiến (civil war – chiến tranh trong nước), những cuộc nội chiến đó trong quá khứ thường được nhắc đến trong những bài học lịch sử.

Lịch sử nước ta thời Đại Việt cũng trải qua vài giai đoạn như nội chiến Nam Bắc triều (1533-1677) giữa nhà Mạc và nhà Hậu Lê. Thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh (1627-1775) giữa chúa Trịnh ở phía Bắc sông Gianh (Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn ở miền Nam (Đàng Trong). Chiến tranh Tây Sơn – Chúa Nguyễn (1771-1785 và 1787-1802). Nguyễn Huệ (1753-1792) đánh Nam dẹp Bắc, lên ngôi Quang Trung Đại Đế nhưng chết khi còn trẻ, nhà Tây Sơn suy yếu, Nguyễn Phúc Ánh (1762-1820), tiến hành cuộc chiến, thống nhất sơn hà, năm 1802, lên ngôi Gia Long Hoàng Đế, quốc hiệu Việt Nam, chấm dứt cuộc nội chiến tranh kéo dài gần 270 năm.

Nội chiến Hoa Kỳ (American Civil War 1861-1865), còn gọi là cuộc chiến tranh Bắc-Nam giữa chính phủ liên bang miền Bắc (Union) sau khi Abraham Lincoln đắc cử trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1860 và liên bang phía Nam (Confederate States of America) với 11 tiểu bang theo chế độ nô lệ ở miền Nam Hoa Kỳ đã tuyên bố ly khai khỏi Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ.

Cuộc chiến khốc liệt đãm máu kéo dài 4 năm, bắt đầu vào ngày 12 tháng 4 năm 1861 và chấm dứt ngày 9 tháng 4 năm 1865, chế độ nô lệ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ.

Vị tướng tư lệnh miền Bắc Tướng George B. McClellan ra lệnh nghiêm cấm các sĩ quan và binh sĩ trực thuộc không được tỏ ra bất cứ hành động nào vô lễ với vị tướng tư lệnh miền Nam Tướng Robert Lee.

Theo quy luật chiến tranh thời đó, quân miền Nam phải giải giới, tước bỏ khí giới và quân dụng. Tự do trở về quê cũ như các dân thường. Tướng R. Lee đồng ý nhưng chỉ đòi hỏi một điều sau cùng là yêu cầu cho binh sĩ của ông được giữ lại lừa ngựa, vì lính miền Nam đem ngựa từ các nông trại của họ đi chiến đấu. Tướng Ulysses S. Grant thỏa hiệp là sẽ không sửa chữa chính thức trên văn bản nhưng thực tế sẽ cho lệnh để lính miền Nam đem lừa ngựa về nhà xây dựng lại nông trại. Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt, hoàn toàn không có tù binh, ai về nhà đó, cùng xây dựng lại quê hương.

Cuộc gặp gỡ của họ tại Appomattox, tiểu bang Virginia là khoảnh khắc tuyệt vời nhất của lịch sử nước Mỹ. Hình ảnh Tướng R. Lee cưỡi ngựa đi đến nơi họp mặt với đoàn quân nhạc miền Bắc chào đón. Khi Tướng Lee ký tên xong ra đi được sĩ quan và binh sĩ miền Bắc tiễn đưa và vẫy tay chào. Hình ảnh đó lưu lại ngày nay với tượng đài thể hiện sự trân trọng sau cuộc chiến.

Với người đã hy sinh trên chiến trận, nghĩa trang quốc gia Arlington, của người miền Bắc trong trận chiến Bắc Nam, … Sau cuộc nội chiến, các tiểu bang miền Nam có hàng ngàn nghĩa trang lớn nhỏ chôn cất tử sĩ của phe bại trận.

Năm 1900, mở đầu cho giai đoạn hòa giải dân tộc và năm 1901 thì các tử sĩ miền Nam được cải táng đưa vào một khu đặc biệt trong nghĩa trang Arlington gọi là Confederate Section. Tổng cộng gần 500 mộ phần quây tròn chung quanh một tượng đài do nhà tạc tượng danh tiếng là điêu khắc gia Moses Ezekiel thực hiện.

Trước khi chết, TT Lincoln đã nói: “Người ta có thể từ bỏ mọi thứ, nhưng không ai từ bỏ được lịch sử. Trước sau gì, lịch sử của bậc anh hùng sẽ phải được dựng lại ở chính nơi mà những con người vĩ đại đã ngã xuống”.

(Cũng thời điểm tháng Tư kết thúc cuộc chiến tại Việt Nam, nhiều người cho rằng, nếu khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam mà học được bài học lịch sử nầy của Hoa Kỳ, xóa bỏ hận thù, xử dụng nhân tài và chất xám, cùng nhau chung tay xây dựng đất nước, bảo vệ giang sơn, chống quân xâm lược Trung Cộng thì ngày nay Việt Nam không bị lệ thuộc hoàn toàn dưới ách thống trị dã man của Trung Cộng).

Tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió (Gone with the Wind).

70 năm sau, cuộc nội chiến Hoa Kỳ được phác họa qua tác phẩm Gone with the Wind (Cuốn Theo Chiều Gió) của nhà văn Margaret Mitchell (1900-1949), ấn hành vào tháng 7 năm 1936, dày hơn 1,000 trang. Tác phẩm dựa vào bối cảnh và lịch sử cuộc chiến, tác giả dày công sưu tầm tài liệu, ròng rã trong 10 năm để hoàn thành. Không phải là tác phẩm lịch sử mà viết theo cách kể chuyện tự sự, tuy có hư cấu nhưng theo dòng sử liệu trong bối cảnh xã hội như chứng nhân của giai đoạn đương thời. Với các mối tình xảy ra chung quanh vài nhân vật ngang trái, éo le, cuồng nhiệt và hờ hững, … lôi cuốn người đọc … Tác phẩm phẩm Gone with the Wind vừa ra mắt đã thành công, trong vòng 6 tháng, hơn 1 triệu ấn bản đã được bán hết với sức mua là 50,000 cuốn mỗi ngày vào thời điểm đó, ngoài sự tưởng tượng của tác giả và nhà xuất bản. Tác phẩm đoạt Giải Thưởng Pulitzer năm 1937 vì vậy giới điện ảnh Hollywood quan tâm và sách được nhà sản xuất phim David O. Selznick mua lại với giá 50.000 USD để được dựng thành phim cùng tên.

Đây cũng là tác phẩm kinh điển của văn học Hoa Kỳ có số lượng cao nhất trong lịch sử xuất bản của Hoa Kỳ, của mọi thời đại đã vượt qua kỷ lục 12 triệu cuốn vào năm 1965, được dịch sang hơn 30 ngôn ngữ khác nhau và phổ biến trên 40 quốc gia.

Margaret M. Mitchell sinh tại thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia, sau bậc trung học, theo học tại Smith College nhưng năm 1918, không theo đuổi con đường học vấn, trở về Atlanta để lo công việc gia đình bà mẹ qua đời vì bệnh cúm. Sau đó không lâu, cô tham gia vào ban biên tập của tờ nhật báo Atlanta Journal, viết bài cho ấn bản ngày Chủ Nhật.

Trong tai nạn bị gãy mắt cá chân, Margaret ở nhà điều trị, thời gia nầy cô tìm lại tài liệu về cuộc Nội Chiến Nam Bắc xảy ra trên quê hương.

Năm 1929, khi vết thương đã lành và cuốn truyện đã được viết xong nhưng trước đó các truyện ngắn của cô không được quan tâm nên cũng nghĩ quyển sách nầy cũng mang số phận như vậy.

Năm 1935, ông Howard Latham, phó giám đốc của nhà xuất bản MacMillan tới Atlanta để tìm kiếm các nhà văn mới của miền Nam Hoa Kỳ. Cơ hội cho Margaret Mitchell gặp ông Howard Latham để trao bản thảo Gone with the Wind. NXB MacMillan đã edit (biên tập) trong 6 tháng, tác phẩm được in xong vào ngày 30 tháng 6 năm 1936.

Với sự thành công của tác phẩm đầu tay của nhà văn Margarett Mitchell, danh vọng nổi tiếng nhưng bà vẫn tiếp tục sống trong ngôi nhà tại Atlanta, tiếp tục một cuộc sống giản dị. Năm 49 tuổi, trong khi cùng chồng băng qua đường phố ở Atlanta, bị một chiếc xe tải đâm phải. Năm ngày sau bà qua đời, Margarett Mitchell vĩnh biệt cõi trần giữa muôn vàn thương tiếc của mọi người.

Phim Gone with the Wind phỏng theo tiểu thuyết của Margaret Mitchell, phim được sản xuất bởi David O.Selznick, đạo diễn Victor Fleming và kịch bản gốc Sidney Howard. Bộ phim được quay ở miền Nam nước Mỹ (Atlanta, tiểu bang Georgia) trong thời gian xảy ra nội chiến.

Các diễn viên chính bao gồm: Clark Gable (vai Rhett Butler), Vivien Leigh (Scarlett O’Hara), Leslie Howard (Ashley Wilkes), Thomas Mitchell (Gerald O’Hara), Barbara O’Neil (Ellen O’Hara), Evelyn Keyes (Suellen O’Hara), Ann Rutherford (Carreen O’Hara), Olivia de Havilland (Ilanie Hamilton), Hattie McDaniel (Mammy, vú nuôi da đen), …

Phim dài 220 phút (thông thường chỉ 110 phút) được ra mắt tại Atlanta ngày 15 tháng 12 năm 1939, khi Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ.

Năm 1940, giải Oscar lần thứ 12 (đầu tiên năm 1929) và cũng là lần đầu phim Gone with the Wind được 8 giải Oscar và phim màu đầu tiên.

Phim được bình chọn là một trong vài bộ phim có nhiều khán giả nhất mọi thời đại kể từ khi được phát hành về doanh thu và rộng rãi khắp nơi trên thế giới.

Đây là tác phẩm kinh điển của nền văn học và điện ảnh Hoa Kỳ, phim dàn dựng rất công phu của điện ảnh Hollywood được hàng tỷ người trên thế giới đọc và xem từ trước đến nay.

Nhờ đó, mọi người mới hiểu được góc cạnh của cuộc nội chiến Nam-Bắc của Hoa Kỳ. Tình người với nhau để hàn gắn vết thương sau chiến tranh.

Atlanta trước đây là thị trấn nông nghiệp trở thành trung tâm lịch sử với nhiểu bảo tàng, trong đó có ngôi nhà của Margaret Mitchell và phim Gone with the Wind, … Ngôi nhà thời thơ ấu của MS Martin Luther King (1929-1968) ở Atlanta cùng các tòa nhà lân cận được công bố là di tích lịch sử Quốc Gia Martin Luther King, Jr.

Ở Việt Nam tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió được Vũ Kim Thư dịch từ đầu thập niên 50 (nay được tái bản nhiều lần và bản dịch của Dương Tường năm 2002). Phim Cuốn Theo Chiều Gió chiếu tại Sài Gòn và các thành phố lớn. Có lẽ cảm hứng từ cuốn phim, nhạc phẩm Cuốn Theo Chiều Gió của Anh Việt Thu sáng tác năm 1970.

*

Tác phẩm lấy bối cảnh miền Nam nước Mỹ trong cuộc nội chiến Bắc-Nam. Câu chuyện trải dài mối tình của nàng Scarlett với những nhân tình với “hỉ, nộ, ái, ố” say đắm, yêu thương, dang dở, hững hờ và phản bội.

Tiểu thư Scarlett tuổi trăng tròn, con gái cưng của chủ đồn điền Tara, tuy không sắc sảo nhưng trông quyến rũ, dễ thương. Hình ảnh mà Nguyên Sa tơ tưởng “Em gầy như liễu trong thơ cổ, Anh bỏ trường thi lúc thịnh Đường”. Tương lai đang đón chào nhưng cuộc nội chiến xảy ra, Scarlett bị loạn lạc trong cơn lốc rồi lận đận trong tình trường như lời thơ Hữu Loan “Lấy chồng thời chiến binh. Mấy người đi trở lại”… và nếu có trở về thì duyên phận trớ trêu! Scarlett bao năm theo đuổi cuộc tình để rồi cuối cùng bẽ bàng trước câu nói “My dear, I don’t give a damn,” (Cưng ơi, tôi cóc cần)!. Bạn bè với nhau mà chửi thề chữ a damn cũng nộ khí xung thiên xuống gì là tình nhân. Đau lòng cho cô tiểu thư con nhà khuê các đã cuốn theo chiều gió!

Tóm lược nội dung tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió dựa theo Kiwipedia.

Với tác phẩm dày cả nghìn trang, khó tóm tắt ngắn gọn nên dựa theo Kiwipedia tóm lược Cuốn Theo Chiều Gió theo dòng thời gian:

Tác phẩm mở đầu vào tháng 4 năm 1861 với nhân vật chính của truyện, Scarlett O’Hara đang ở đồn điền Tara nhà mình ở quận hạt Clayton, Georgia cùng với hai anh em sinh đôi Brent và Stuart Tarleton sống ở đồn điền kế bên. Qua cuộc nói chuyện này, Scarlett biết rằng người nàng thầm yêu từ lâu Ashley Wilkes nhưng chàng chuẩn bị đính hôn với cô em họ là Ilanie Hamilton ở Atlanta. Scarlett choáng váng khi nghe tin đó và cuộc nói chuyện cũng kết thúc. Nàng vội vã đi tìm cha mình, Gerald O’Hara, để xác minh lại câu chuyện và cha nàng khuyên nếu nàng và Ashley lấy nhau sẽ là một điều tồi tệ và nàng nên lấy một trong hai anh em sinh đôi trên.

Scarlett cho rằng Ashley có ý định đính hôn vì chàng không biết nàng đã yêu mình. Nàng quyết định trong buổi tiệc ngoài trời tại trại Twelve Oaks sẽ thổ lộ tình yêu với chàng và cùng chàng trốn đi. Nhưng mọi thứ không theo kế hoạch của Scarlett, tuy Ashley ân cần với nàng nhưng nói rằng chàng vẫn sẽ cưới Ilanie. Vị khách không mời trong buổi tiệc, Rhett Butler, người vô tình lắng nghe toàn bộ câu chuyện buông lời trêu chọc Scarlett làm nàng nổi điên, điều này lại ngẫu nhiên quyến rũ Rhett. Trong cơn tức giận cùng với việc nghe lén Honey Wilkes, vợ chưa cưới của Charles Hamilton nói xấu mình, Scarlett đã nhận lời lấy Charles Hamilton vừa làm Ashley ghen vừa trả thù Honey. Buổi tiệc kết thúc cũng là lúc có tin cuộc nội chiến Hoa Kỳ nổ ra và các chàng trai phải đi nhập ngũ.

Đám cưới của Scarlett diễn ra nhanh chóng sau đó 2 tuần để Charles nhập ngũ, một ngày trước đám cưới giữa Ashley và Ilanie. Một tuần sau khi cưới, Charles nhập ngũ và 2 tuần sau, Ashley cùng đội kỵ binh của tiểu bang lên đường. Tuy nhiên, Charles đã chết vì bệnh đậu mùa ở căn cứ Nam Carolina trước khi có dịp được ra chiến trường. Sau đó, con trai Charles ra đời và được đặt tên là Wade Hampton Hamilton (theo tên chỉ huy của Charles là tướng Wade Hamilton).

Góa phụ Scarlett lúc nào cũng mặc đồ tang, sống thầm lặng, nàng cảm thấy đau đớn vì sự buồn chán và việc phải làm mẹ hơn là cái chết của chồng. Mẹ nàng, Ellen O’Hara, muốn nàng vơi bớt nỗi buồn đã gửi nàng đến Atlanta sống cùng Ilanie và bà cô của Charles, Pittypat Hamilton.

Scarlett đến Atlanta vào tháng 5 năm 1862. Tại đây, Scarlett nhanh chóng thích sự nhộn nhịp và hối hả của thành phố này. Nàng bị bắt buộc làm y tá tình nguyện ở dưỡng đường nhưng vô cùng chán ghét công việc này. Vì còn đang chịu tang chồng nên nàng bị cấm đoán đủ thứ, trong đó có cuộc bán đồ phúc thiện với sự góp mặt của nhiều cư dân thành phố, nhưng đến cuối cùng, Scarlett may mắn được dự vì để thay cho một bà khác có con bị bệnh. Tại đây, nàng gặp lại Rhett Butler, giờ đây là thuyền trưởng vượt phong tỏa, chuyên chở các mặt hàng thiết yếu cho miền Nam. Rhett Butler đã mời nàng khiêu vũ, mặc dù đang chịu tang nhưng Scarlett vẫn đồng ý vì nàng thèm muốn được khiêu vụ để thoát khỏi cái vỏ nhàm chán của một góa phụ.

Kể từ đó mối qua hệ giữa Scarlett và Rhett với nhau. Rhett bản tính hài hước, hay trêu chọc Scarlett và cố làm cho nàng vui. Tuy nhiên gần như cả thành phố đều căm ghét hắn. Scarlett lại lúc nào cũng chỉ nghĩ đến Ashley. Tình hình ngoài mặt trận ngày càng căng thẳng. Thất bại của quân đội liên bang miền Nam trong trận Gettysburg trong cuộc nội chiến và thương vong của quân đội liên bang ngày càng nhiều. Mùa Giáng Sinh năm 1862, Ashley trở về nhưng trái với mong đợi của Scarlett, chàng chỉ quan tâm đến vợ mình, Ilanie. Ngày Ashley rời nhà trở lại chiến trường, Scarlett lại một lần nữa thổ lộ tình yêu với chàng hy vọng chàng sẽ bỏ vợ để cưới nàng nhưng chàng không nói gì và dặn dò nàng chăm sóc Ilanie nếu chàng có mệnh hệ gì ngoài chiến trường. Chàng vội vã ra đi và lần thứ hai, Scarlett vỡ mộng.

Cuộc nội chiến ngày càng diễn biến bất lợi cho miền Nam. Sau những thất bại liên tiếp, quân đội liên bang miền Bắc đã tiến sát và bao vây Atlanta, do đó người dân thành phố phải tổ chức di tản. Tuy nhiên, Scarlett và Ilanie không thể đi cùng mọi người vì Ilanie đang có thai và có thể sinh con bất cứ lúc nào. Do các bác sĩ phải chăm sóc các thương binh nên Scarlett phải đỡ đẻ cho Ilanie. Sau khi Ilanie sinh xong, Scarlett phải cầu cứu Rhett và anh đã lấy cắp của quân đội cho nàng một chiếc xe ngựa nhưng con ngựa vô cùng ốm yếu. Anh chở Ilanie và con nàng là Prissy cùng Wade và Scarlett, chạy khỏi Atlanta. Tuy vậy, đi đến giữa đường thì Rhett bỏ mặc những người còn lại để gia nhập quân đội liên bang. Trước khi đi, anh hôn nàng và nói yêu nàng nhưng Scarlett giận dữ chửi rủa và tát hắn.

Scarlett trở về đồn điền Tara và gặp những cảnh tượng kinh hoàng: Mẹ mất vì bệnh, ngôi nhà bị tàn phá nặng nề, phần lớn các nô lệ đã bỏ trốn, 2 người em gái bệnh nặng nằm liệt giường và người cha bị sốc vì cái chết của vợ cũng trở nên loạn trí. Giờ đây Scarlett trở thành chủ nhân của Tara. Với bản tính kiên cường và cách suy nghĩ thực tế, nàng dần vực dậy đồn điền Tara và làm mọi công việc, kể cả những việc mà khi xưa chỉ có nô lệ làm. Một tên lính Yankee đến ăn cắp đã bị nàng cầm súng bắn chết. Ilanie vẫn còn phải nằm trên giường sau khi sinh xong nhưng vẫn cầm thanh kiếm của Charles đến giúp tuy nàng không đủ sức nâng nó. Hành động này khiến Scarlett thán phục và tình cảm của cô dành cho Ilanie giờ đây bắt đầu trỗi dậy. Sau đó, Scarlett chôn tên lính ngay tại Tara.

Chiến tranh gần kết thúc và đồn điền Tara lại bị tàn phá lần nữa khi quân đội liên bang miền Bắc đến. Một tháng sau thì cuộc nội chiến kết thúc với thắng lợi thuộc về liên bang miền Bắc. Những người lính bại trận trên đường trở về nhà đã ghé qua Tara để lấy thức ăn hoặc dưỡng thương. Trong số đó có một người lính bị thương nặng tên là Will Benteen, được em gái Scarlett là Carreen chăm sóc cẩn thận. Sau khi bình phục, Will đã ở lại Tara và giúp đỡ Scarlett vực dậy nó. Có Will, công việc của Scarlett đã được đỡ đần rất nhiều.

Ashley sau khi chiến tranh kết thúc vẫn chưa về được vì còn là tù binh của liên bang miền Bắc. Rồi một ngày, chàng bất ngờ xuất hiện tại Tara. Cả Scarlett và Ilanie đều chạy ra đón chàng nhưng Will ngăn Scarlett lại khiến Scarlett bất đắc dĩ phải quay trở lại.

Chiến tranh kết thúc nhưng một lần nữa số phận đồn điền Tara lại bị đe doạ khi chính phủ Yankee (người Anh gọi liên minh miền Nam) tăng tiền thuế của đồn điền lên để Scarlett không có tiền trả và phải nhượng lại Tara cho tên quản gia Yankee cặn bã Jonas Wilkerson và vợ hắn. Để có tiền cứu Tara, Scarlett phải đến Atlanta mượn tiền Rhett. Rhett vô cùng giàu có nhưng lúc này đang phải ngồi tù. Scarlett trang điểm và đến thăm Rhett để mượn một khoản tiền mà không để anh biết là nàng đang cố tán tỉnh anh vì tiền. Nàng đã gần như thuyết phục được Rhett cho đến khi đôi mắt sắc sảo của anh thấy đến bàn tay chai sần của Scarlett, bằng chứng cho những công việc nặng nhọc mà nàng đã làm và hoàn cảnh của gia đình, khiến cô phải thú nhận mục đích thật sự của chuyến viếng thăm. Cuối cùng, Rhett đã từ chối cho cô mượn tiền.

Trong cơn tuyệt vọng, Scarlett tình cờ gặp Frank Kennedy, chồng chưa cưới của Suellen, chủ cửa hàng và có khoản tiền khá. Bằng cách nói dối Frank rằng Suellen đã lấy người khác, Scarlett đã quyến rũ Frank để ông lấy mình. Nàng đã thành công và có tiền cứu Tara. Sau khi ra tù, Rhett cho nàng mượn tiền để có thể mua thêm xưởng cưa với điều kiện là nàng không được dùng tiền giúp Ashley Wilkes.

Scarlett điều hành xưởng cưa thành công nhưng nó cũng làm cho nàng bị nhiều dị nghị vì đó không phải là việc dành cho phụ nữ. Sau đó nàng đã có thai với Frank nhưng vẫn thường xuyên xuất hiện nơi công cộng nên ngày càng nhiều người khinh ghét. Sau đó không lâu, Gerald qua đời. Khi về Tara dự đám tang, nàng biết được rằng cái chết của cha mình có liên quan trực tiếp đến cô em gái Suellen. Will dù yêu Carreen nhưng cuối cùng đã lấy Suellen để làm dịu lại quan hệ gia đình. Carreen sau cái chết của Brent Tarleton vì quá đau khổ nên gửi mình vào tu viện. Sau đám tang cha, Scarlett đã mời Ashley trở lại Atlanta giúp nàng điều hành xưởng cưa và ngăn chàng lên miền bắc kiếm việc làm. Ashley lưỡng lự nhưng Ilanie kiên quyết đồng ý nên Ashley đành chiều theo ý vợ.

Sau khi sinh con, Scarlett thường xuyên lái xe ngựa một mình đến xưởng cưa mặc dù đã nhiều lần được cảnh báo về sự nguy hiểm. Một ngày nọ nàng bị một tên da trắng nghèo khổ và một tên da đen tấn công và suýt bị cưỡng hiếp. May mắn là Big Sam, một nô lệ da đen từng làm việc ở Tara, đã cứu nàng kịp thời. Frank, Ashley và một số người đàn ông khác thuộc đảng Ku Klux Klan (KKK) phải đi trả thù và kết cục là Ashley bị thương và Frank bị giết. Còn các thành viên còn lại được Rhett, với sự giúp đỡ của Belle Watling, gái mại dâm ở Atlanta, đã dựng chuyện và tìm cách cứu họ. Từ đó mối qua hệ của Rhett và người dân thành phố dần dần được phục hồi. Sau cái chết của Frank, Rhett ngay lập tức cầu hôn Scarlet trước khi nàng có thể lấy một người nào khác.

Scarlett lấy Rhett. Anh chiều chuộng nàng hết mức và tạo điều kiện cho nàng hưởng thụ những thú vui mà Scarlett chưa bao giờ biết đến ở New Orleans. Cũng qua Rhett mà Scarlett có được những người bạn mới: Những người Yankee và những kẻ giàu lên nhờ đầu cơ và làm ăn gian dối trong chiến tranh. Do đó mà mối qua hệ giữa vợ chồng Scarlett và những người bạn cũ ngày càng trở nên xấu đi và trong một buổi tiệc, vợ chồng Scarlett đã mời thống đốc tiểu bang thuộc đảng Cộng Hòa đến dự khiến tầng lớp thượng lưu miền Nam hoàn toàn cắt đứt mối qua hệ với hai người, ngoại trừ Ilanie.

Scarlett sau đó cũng sinh cho Rhett một đứa con gái mặc dù nàng cũng không hề muốn. Đứa bé được đặt tên là Eugenia Victoria. Cô bé vô cùng xinh đẹp với đôi mắt xanh dương nên được đặt thêm biệt danh Bonnie Blue Butler, theo tên lá cờ liên bang Bonnie Blue Flag. Rhett vô cùng hạnh phúc và rất thương yêu con gái mình. Nhưng vì tình yêu với Ashley, Scarlett kiên quyết không ngủ chung với chồng nữa để tránh việc mang thai lần nữa. Rhett tức giận và cãi cọ liên tục với nàng về mối qua hệ bạn bè, cách nuôi dạy con cái. Anh muốn con gái mình sẽ trở thành một công chúa trong tầng lớp thượng lưu miền Nam cũ. Rồi Rhett cùng với con gái đi khỏi Atlanta một thời gian.

Tại Georgia, Rhett cùng với những bạn bè xưa cũ khiến cho quan hệ giữa anh và họ ngày một tốt đẹp, thực chất là anh muốn gây dựng tương lai và thanh danh cho con gái Bonnie, mà giờ đây Rhett nổi tiếng là một người bố yêu thương con hết mực.

Ilanie tổ chức bữa tiệc sinh nhật bất ngờ cho Ashley. Ilanie nhờ Scarlett đến xưởng cưa giữ chân Ashley để mình có thêm thời gian chuẩn bị. Tại đây, Ashley và Scarlett vì xúc động khi nhớ về những ngày xưa êm đềm, đã ôm nhau trong tình cảm trong sáng, nhưng lại bị India Wilkes, bà Elsing và Archie, đánh xe của Ilanie bắt gặp. Rhett biết được chuyện này từ Archie nhưng vẫn bắt Scarlett phải đến dự buổi sinh nhật của Ashley với phong thái kiêu hãnh và can đảm, để không huỷ hoại tương lai của Bonnie. Ilanie cũng nghe chuyện nhưng với tâm hồn trong sáng, nàng nhất mực không tin và ra sức bênh vực Scarlett. Ilanie một lòng tin tưởng Scarlett vì những gì Scarlett đã làm cho nàng. Cũng vì đứng về phía Scarlett, Ilanie đã gây chia rẽ trong gia đình và bạn bè thân hữu.

Đêm hôm đó, Scarlett bắt gặp Rhett trong trạng thái say khướt. Sau đó, Rhett xốc bổng nàng lên cầu thang và cả hai trải qua một đêm ân ái đầy nồng nàn. Scarlett thức dậy một mình vào sáng hôm sau và háo hức muốn gặp chồng nhưng Rhett lẫn tránh nàng. Rhett đưa Bonnie đến Luân Đôn. Anh bỏ đi khiến Scarlett cảm thấy day dứt về những việc mình đã làm với anh và cả với hai đứa con đầu của mình. Nàng có thai lần nữa và đây là lần đầu tiên cảm thấy hạnh phúc vì điều đó. Ngày Rhett cùng Bonnie trở về, nàng đã háo hức muốn báo tin đó cho Rhett, nhưng không tin vào tình yêu mình nhìn thấy trong mắt Scarllet, anh giễu cợt nàng. Scarllet quá tức giận nên ngã cầu thang và sẩy thai.

Sau tai nạn đó, Scarlett phải về Tara một thời gian để điều dưỡng. Rhett đã bàn với Ilanie tìm cách lừa Scarlett để cô nhượng lại hai xưởng cưa cho Ashley. Bonnie được Rhett cưng chiều, cô bé rất thích cưỡi ngựa. Một ngày, Bonnie gặp tai nạn trong khi cho ngựa vượt rào và gãy cổ. Rhett bị chấn động tâm lý nặng nề sau cái chết của Bonnie và chỉ có Ilanie mới giúp anh vượt qua cú sốc đó.

“My dear, I don’t give a damn,” (Cưng ơi, tôi cóc cần)

Ilanie mang thai và giấu mọi người để sinh con, mặc dù đã bị bác sĩ cấm đoán. Nhưng do sức khỏe quá yếu, nàng lâm nguy kịch. Scarlett về sau khi nhận được điện khẩn của Rhett. Trên giường bệnh, Ilanie trăng trối lại với Scarlett hãy giúp nàng chăm sóc Ashley và Beau. Cuối cùng, Ilanie khuyên Scarlett hãy trân trọng Rhett và tình cảm của hắn. Scarlett bỏ chạy và gặp Ashley. Giờ đây nàng mới nhận ra Ilanie quan trọng với mình và suốt bao nhiêu năm qua, tình yêu của nàng đối với Ashley cũng chỉ như khi một đứa bé muốn với tới một mặt trăng hão huyền, đó là tình yêu do nàng tưởng tượng ra, chỉ là ảo huyền.

Trong lúc tuyệt vọng, Scarlett nghĩ đến Rhett và chợt nhận ra Rhett mới là người nàng cần. Nàng đã dần yêu Rhett trong bao nhiêu năm qua nhưng cái bóng quá lớn của Ashley đã chặn tầm mắt nàng lại. Rhett luôn luôn ở bên Scarlett mỗi khi nàng cần và giúp đỡ nàng theo cách tuyệt vời nhất, bằng sự thông hiểu sâu sắc. Nàng vội vã đi tìm Rhett nhưng giờ đây anh lại hoàn toàn ghẻ lạnh với nàng. Anh lạnh lùng bảo tình yêu bao năm qua anh dành cho nàng giờ đã lụi tàn cùng với sự thờ ơ anh nhận được, chỉ còn lại hai điều nàng ghét nhất là lòng thương hại và nhân từ.

Choáng váng vì những gì nghe thấy nhưng Scarlett vẫn can đảm thổ lộ tình yêu với Rhett nhưng chàng lại phán “My dear, I don’t give a damn,” (Cưng ơi, tôi cóc cần), bạn bè khi giận nhau mà chửi thề dùng damn dễ gây ấu đả huống chi nói với nhân tình!

Scarlett lặng lẽ nhìn Rhett bỏ đi và giờ đây nàng nhận ra, vì nàng không hiểu hai người mình yêu nên đã để tuột mất cả hai. Nàng quyết định sẽ trở về Tara, nơi nàng đã từng vực dậy từ trắng tay. Với tính tình mạnh mẽ cứng cỏi, Scarlett tin rằng mình có thể chiếm lại được Rhett. Chưa người đàn ông nào cưỡng lại nàng nếu nàng quyết tâm chinh phục.

Tác phẩm kết thúc với hình ảnh Scarlett trải qua bão táp nên cương nghị đứng trước đồn điền Tara ngập nắng với câu tiếp sức mạnh quen thuộc của mình: “Sau tất cả, ngày mai là một ngày mới” (After all, tomorrow is another day!). Ban đầu nhà văn muốn dùng câu nầy làm tựa đề nhưng nhà xuất bản chọn tên tác phẩm rất hay.

*

Ngày nay nước Mỹ có 700 sắc tộc sinh sống với 5 nhóm là Dân Bản Địa (Native American), Người Mỹ gốc Châu Âu (European American), Người Mỹ gốc Phi (African American), Người Mỹ gốc Latinh (Hispa American) và người Mỹ gốc Châu Á (Asian American) vì vậy gọi là Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Đề cập đến cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ (American Civil War, 1861–1865) trong nhiệm kỳ Tổng Thống Abraham Lincoln (1861-1865). Thời điếm lập quốc, lịch sử Hoa Kỳ đề cao vị Tổng Thống: George Washington (1789 đến 1797), John Adams (1735–1826) và Thomas Jefferson (1743–1826). TT George Washington được người dân Mỹ gọi là “cha già dân tộc” (sau nầy CSVN gọi HCM bắt chước tên gọi như vậy nên người Việt tị nạn CS dị ứng với tên gọi nầy), TT Thomas Jefferson có công lao lưu lại hậu thế với Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 4 tháng 7 năm 1776 và là người sáng lập ra đảng Dân Chủ.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình, trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập, HCM tuyên bố: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Câu nói nầy quen quen vì trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ nêu rõ: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc.

Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền & Dân Quyền của Cách Mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc ngày 10 tháng 12 năm 1948.

Điều 1: “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái”.

Điều 7: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này”.

Thế nhưng các nước Cộng Sản và độc tài đã vi phạm trầm trọng Tuyên Ngốn Quốc Tế Nhân Quyền nầy, trong đó có 5 nước trong thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ: Mỹ, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc thì Nga và Trung Quốc đã không tuân thủ còn cố tình xâm nhập vào các nước khác như Hoa Kỳ hiện nay để gây cơn lốc “kỳ thị chủng tộc”.

Hoa Kỳ trong thời điểm đối phó với đại dịch Virus Tàu Cộng lại xảy ra hai cái chết của hai người đàn ông da màu (gốc Phi) George Floyd ngày 25 tháng 5 tại Minneapolis, tiểu bang Minnesota và Rayshard Brooks ngày 14/6 vừa qua tại Atlanta, nơi chốn của tác giả Cuốn Theo Chiều Gió.

Đây là đất nước thượng tôn pháp luật, kẻ thi hành pháp luật vi phạm sẽ bị tòa án xét xử công khai tội trạng nhưng vì động cơ chính trị trong thuyết âm mưu đã “mượn gió bẻ măng”, đổ dầu vào lửa để lấy lý do kỳ thị chủng tộc gây cơn bão táp trên lãnh thổ Hoa Kỳ.

Đây cũng là cơ hội cho một số cơ quan truyền thông khai thác tận gốc rễ trên chính trường Hoa Kỳ mà thời gian qua xảy ra hằng ngày.

Cơn lốc còn xoáy trong giai đoạn bầu cử, sẽ hạ hồi phân giải nhưng những giá trị truyền thống của lịch sử đã và đang bị triệt hạ tưởng chừng những Vệ Binh Đỏ của Mao & Giang Thanh trong thời kỳ “Cách Mạng Văn Hóa” vào Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1966, nay lại xảy ra trên mảnh đất tự do!

Ngày 9 tháng 6, HBO Max thông báo ngưng chiếu phim Gone with the Wind trên băng tần của họ. May mà di sản tác giả và tác phẩm của Cuốn Theo Chiều Gió không bị thiêu đốt như sau tháng 4/1975 tại Sài Gòn.

Bàn chuyện chính trị ở Hoa Kỳ rất phức tạp, phe nầy phe nọ, kẻ bênh vực, người chống đối “miệng lưỡi thế gian, trăm đường lắt léo” khó phân biệt và phức tạp vì vậy tôi không đề cập. Đôi khi “chuyện làng mang vào nhà” vợ chồng, bạn bè thân tín tranh cãi, bất đồng quan điểm dẫn đến bất hòa thì chuyện xảy ra trên chính trường Hoa Kỳ như lằn ranh của hai bờ chiến tuyến.

Trở lại tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió, nhà văn Margaret M. Mitchell rất tinh tế khi dẫn dắt qua từng mẩu chuyện, chẳng có gì đào sâu nạn kỳ thị chủng tộc nhưng sự tị hiềm nên “bé xé ra to”.

Thiện tai!

Little Saigon 7/7/2020
Vương Trùng Dương

—————

Copy từ Dong Nguyen
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=3275792745818761&id=100001642022945

Trí tuệ cổ nhân: Ghen ghét đố kỵ là ác tâm phải bỏ – Trí Thức VN

Trí tuệ cổ nhân: Ghen ghét đố kỵ là ác tâm phải bỏ

  • An Hòa
  • Thứ Năm, 23/07/2020 • 6.8k Lượt Xem
  • Cổ ngữ có câu: “Thấy người khác được thì giống như mình được, thấy người khác mất thì giống như bản thân mình mất, người mà trong tâm có ý niệm này thì Trời tất sẽ bảo hộ”. Trong cuộc sống, chúng ta thường gặp những người có tâm ghen ghét đố kỵ rất lớn. Những người này khi thấy người khác được gì thì buồn rầu, phiền não giống như bản thân mất đi thứ gì, còn khi thấy người khác mất mát thì lại vui mừng như chính bản thân mình được vậy. Kỳ thực, cách suy nghĩ này là một trong những ác tâm xấu nhất, cần phải buông bỏ, vì hậu quả mà nó đem lại rất có thể chính là “hại người hại mình”.

Tâm đố kỵ ghen ghét thực sự là hại người hại mình. Người có tâm này khi sống cùng người khác mà thấy người khác hơn mình thì canh cánh trong tâm, tâm lý mất đi sự cân bằng. Một số người đố kỵ đến mức luôn tìm cách để gây trở ngại, làm tổn hại cho người khác. Thậm chí, có người bởi vì thế mà sinh ra ác niệm, ác sự, mưu hại người khác. Khi tật đố không chịu được thì người đó sẽ gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng, hại người, đồng thời định sẵn kết cục thảm hại cho bản thân mình.

Một người chỉ biết ghen ghét đố kỵ với thành công của người khác, khi người khác gặp họa thì mừng thầm trong lòng, vậy làm sao có thể sống hòa thuận cùng người khác, huống chi đến hợp tác, cộng sự đây?

Trong cuốn “Đình huấn cách ngôn”, Hoàng đế Khang Hy triều nhà Thanh viết: “Trong đối nhân xử thế, người ta cần phải thấy người khác đắc được gì thì nên sinh tâm vui mừng, khi thấy người khác bị mất mát gì thì nên sinh tâm thương cảm. Đây đều là điều tốt nên làm. Ghen ghét đố kỵ trước những thứ người khác đạt được, vui mừng trước thất bại của người khác, đều là những tâm xấu, tâm ác.”

Cổ nhân thường nói: “Mệnh lý hữu thì chung tu hữu, mệnh lí vô thì mạc cường cầu”, tức là trong mệnh có thì cuối cùng sẽ có, trong mệnh không có thì chớ cưỡng cầu. Khi thấy người khác được một điều gì đó mà bản thân không có, đừng bởi vậy mà bất bình tức giận. Một người cần cố gắng tu dưỡng tâm tính, hành thiện tích đức tất sẽ có thiện báo. Vì được mất của bản thân mà sinh tâm bất bình, làm việc ác, như vậy có đáng không?

Cổ nhân thường khuyên bảo con người khi đối nhân xử thế phải có tấm lòng khoan dung. “Vui với niềm vui của người khác, buồn với nỗi buồn của người khác”, xem được mất của người như được mất của mình, đó mới là điều mà cổ nhân khuyên nên làm. Tinh lực của con người là có giới hạn, thay vì ghen tị với người khác, hãy dùng chút tinh lực hữu hạn của mình tập trung làm những điều bản thân mong muốn. Như vậy vừa mở ra một bầu trời mới cho bản thân, vừa sống được thản đãng, tự tại.

Trong lịch sử nước ta cũng có rất nhiều bài học về tâm đố kỵ, ví như câu chuyện Kiều Công Tiễn ghen tức với Ngô Quyền.

Năm 923, Dương Đình Nghệ được nhà Nam Hán cho giữ chức Thứ sử Giao Châu, nhưng ông vẫn muốn khởi nghĩa nhằm giữ quyền tự chủ cho dân tộc mình. Ông chọn tìm được 3.000 hào trưởng cũng như các bậc tuấn kiệt đứng dưới cờ nghĩa của mình và gọi họ là giả tử, tức con nuôi.

Trong những người dưới trướng Dương Đình Nghệ thì nổi bật nhất là Kiều Công Tiễn và Ngô Quyền. Kiều Công Tiễn là hào trưởng đất Phong Châu, tức Phú Thọ ngày nay. Còn Ngô Quyền thì là con của ông Ngô Mân – Hào Trưởng đất Đường Lâm, tức Ba Vì ngày nay.

Dù cả Kiều Công Tiễn và Ngô Quyền đều là nhân tài, nhưng tính cách của họ lại rất trái ngược nhau. Trong khi Ngô Quyền là người hiền, thì Kiều Công Tiễn lại thiếu lòng nhân, cũng có tâm đố kỵ ghen ghét mạnh mẽ.

Ngô Quyền được coi là người Dương Đình Nghệ tin yêu nhất. Nên dù biết Ngô Quyền đã có vợ, Dương Đình Nghệ vẫn gả con gái yêu là Dương Như Ngọc cho Ngô Quyền.

Năm 931, Dương Đình Nghệ kéo quân tiến đánh thành Đại La, quân Nam Hán thua to phải chạy về nước. Dương Đình Nghệ xưng là Tiết độ sứ, giao cho các tướng lĩnh trấn giữ cai quản các nơi. Ngô Quyền được giao cai quản Ái Châu, còn Kiều Công Tiễn ở lại bên Dương Đình Nghệ.

Kiều Công Tiễn cảm thấy mình không được tin dùng bằng Ngô Quyền, tâm đố kỵ và ghen ghét nổi lên. Vào tháng 3/937, Kiều Công Tiễn đã ra tay sát hại bố nuôi Dương Đình Nghệ nhằm cướp đoạt quyền lực. Kiều Công Tiễn chiếm thành Đại La, nhiều công thần phản đối liền bị Công Tiễn giết hại.

Từ Ái Châu, Ngô Quyền cùng vợ để tang cha, rồi cùng em vợ là Dương Tam Kha tiến quân đến Đại La hỏi tội nghịch tặc Công Tiễn. Quân đi đến đâu hào trưởng ở các nơi đều ủng hộ đến đó, khiến quân của Ngô Quyền ngày càng đông và mạnh hơn.

Kiều Công Tiễn ở Đại La nghe tin thì vô cùng hoảng sợ, biết mình không thể chống được Ngô Quyền, bèn sai người mang vàng bạc, châu báu sang nhờ quân Nam Hán cứu viện.

Tháng 11 năm 938, Ngô Quyền tập hợp quân các nơi được 5 vạn binh, thần tốc tiến đến bao vây thành Đại La, cho người kêu gọi Kiều Công Tiễn đầu hàng. Nhận được tin tức tiếp ứng, nhiều võ quan và binh sĩ nổi loạn, Ngô Quyền đột phá cổng thành, bắt Kiều Công Tiễn. Quân Nam Hán chưa kịp tới thì Công Tiễn đã bị xử tử, kết thúc số phận của kẻ luôn ganh tỵ với người khác, dùng thủ đoạn để chiếm đoạt quyền lực.

Dẹp xong phản loạn, Ngô Quyền lãnh đạo ba quân đón đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Ngô Quyền cho quân tiếp chiến với quân Nam Hán rồi giả thua rút chạy. Quân Nam Hán thừa thắng đuổi theo rồi rơi vào bãi cọc nhọn cắm sẵn trên sông, các thuyền lớn bị đâm vào cọc nhọn đều tan vỡ. Lúc này phục binh của quân Việt cũng tiến đánh khiến quân Nam Hán thiệt hại vô số, hoàng tử Hoằng Thao cũng bị chết trong trận này. (Xem bài: Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán, củng cố nền độc lập)

Từ câu chuyện của Kiều Công Tiễn, có thể thấy được sự đáng sợ của tâm ghen ghét đố kỵ. Kiều Công Tiễn vì tật đố mà giết Dương Đình Nghệ, rồi lại “rước giặc vào nhà”, khiến đất nước đứng trước nguy cơ tiếp tục bị phương Bắc xâm chiếm. Đây chính là “hại người hại mình”, lại suýt chút nữa thì hại cả Giang Sơn vậy.

An Hòa

M.TRITHUCVN.ORG

Trí tuệ cổ nhân: Ghen ghét đố kỵ là ác tâm phải bỏ – Trí Thức VN

Tâm đố kỵ ghen ghét thực sự là hại người hại mình. Người có tâm này khi sống cùng người khác mà thấy người khác hơn mình thì canh cánh trong tâm…

ĐCSTQ đã hủy hoại những gì trong Đại cách mạng văn hóa?

Sau khi Taliban lên nắm quyền tại Afghanistan, tượng Đức Phật Bamyan, một tượng đài văn minh thế giới, đã bị hủy hoại bằng súng, pháo và mìn. Còn quân ISIS thì không ngại phá hủy toàn bộ các di chỉ văn minh của nhiều nền văn hóa khác nhau, ở bất cứ đâu mà đội quân này lướt qua. Người ta gọi họ là những kẻ khủng bố phá hủy nền văn minh, không chỉ đối lập với con người và mọi thứ của thế giới hiện đại, mà còn mang lòng thâm thù đại hận. Tuy nhiên nếu so sánh thì thảm họa mà Taliban hay ISIS gây ra không thể nào sánh được với điều ĐCSTQ đã làm trong cuộc Đại cách mạng văn hóa. #Trithucvn

M.TRITHUCVN.ORG
Nếu so sánh thì thảm họa mà Taliban hay ISIS gây ra không thể nào sánh được với điều ĐCSTQ đã làm trong cuộc Đại cách mạng văn hóa.

Lòi mặt chuột: Trung Quốc vội vã đốt phi tang tài liệu tại tòa lãnh sự ở Houston sau khi bị đóng cửa

YOUTUBE.COM

Lòi mặt chuột: Trung Quốc vội vã đốt phi tang tài liệu tại tòa lãnh sự ở Houston sau khi bị đóng cửa

Hoa Kỳ đã ra lệnh cho Trung Quốc phải đóng cửa lãnh sự quán ở Houston trong vòng 72 tiếng đồng hồ. “Các cán bộ Trung Quốc đã hối hả đốt tài liệu trong một co…

XHCNVN CHẾT ỔN ĐỊNH.!

Image may contain: 3 people, people sitting

Image may contain: 7 people, people sitting
No photo description available.
Image may contain: one or more people
Image may contain: one or more people
+4

Van Pham

XHCNVN CHẾT ỔN ĐỊNH.!!!!!!!!!!!

Ông hàng xóm nói với tui:

– Bên Pháp vừa bị khủng bố làm gần 100 người chết, ông biết chưa?
– Mấy zụ đó thì loa phường công bố liền chứ có chi mà không biết!
– Công nhận Vn mình ổn định ông hỉ! Mấy nước đa đảng đó bị khủng bố, chết liên tục.
– Ừm! Vn mình ổn định! Chết cũng ổn định!
– Là sao? Tôi không hiểu ý ông nói gì!

– Thì VN lúc nào cũng ổn định chứ sao! Bên nước người ta lâu lâu bị khủng bố chết vài chục người thì mình lu loa, hô hào họ bất ổn, bạo loạn. Còn mình, ngày nào cũng hơn vài trăm mạng ra đi trong âm thầm, thì không ổn định sao được?

– Ông nói gì thế? Làm gì mà mỗi ngày vài trăm người chết?

– Đó là công bố của Bộ Y Tế chứ không phải tôi nói. BYT cho biết mỗi năm VN có 150 ngàn ca mắc bệnh ung thư, trong đó thường tử vong hơn một nửa.

– Một nửa của 150 ngàn là 75 ngàn, chia cho 365 ngày…. Á đù, trên 200 mạng thiệt ông ơi!

– Đó là tôi chưa nói đến những cái chết của hung thần xa lộ cũng thuộc top nhất thế giới với bình quân mỗi ngày hơn 40 mạng lìa trần trong ổn định, và 2 năm qua hơn 2300 người chết và mất tích cũng rất ổn định ngoài Biển Đông.

– Nói như ông rứa thì ổn định cái con mẹ gì mà báo chí ngày nào cũng ra rả Đất Nước ta ổn định? Hoà bình mà chết mỗi ngày vài ba trăm mạng ngon ơ. Đấy là chưa nói đến những cái chết lãng nhách như chém giết lẫn nhau, côn đồ truy sát, tự tử ở đồn công an, tự thiêu vì không có vịệc làm, nhãy sông nhãy suối vì bị cưỡng chế…

– Ai biểu ông quá tin vào bọn lều báo đó chi…

– Nhưng cái bọn Hồi Giáo đó thật độc ác ông hỉ, chúng nó giết người man rợ.

– Thì cũng giống bọn Hồ giáo ở mình !

– Hử ? Bọn Hồ giáo là bọn nào?

– Bọn đó trước kia khủng bố nhà hàng Mỹ Cảnh, trường tiểu học Cai Lậy, khách sạn Caraven….

– À, à hiểu rồi! Nhưng đó là trước kia, bây giờ bọn nó đâu còn khủng bố nữa?

– Vẫn còn! Nhưng bây giờ nó khủng bố cũng theo kiểu ỔN ĐỊNH

– Là sao?

– Là cũng giết người hàng loạt, nhưng giết từ từ, giết từng thế hệ, giết từng Địa Phương, rồi dần dần giết hết.

– Nhưng mà nó giết bằng cách nào mới được chứ?

– Đơn giản lắm ông à! Nó đem chất thải của Formosa lên chôn trên đầu nguồn, chỉ một thời gian sau thì cả dân tộc này rủ nhau đi chầu Diêm Vương hết thôi. Điều đó có gì lạ!

Á đù !!!! Xem ra bọn Hồ giaó này còn dã man hơn bọn Hồi giáo nhiều ông hỉ. Khốn nạn thật!!

Lượm trên mạng Internet….

VIỆT NAM LÀM GÌ TRƯỚC CUỘC SO GĂNG TRUNG-MỸ?

Image may contain: 1 person, text

Image may contain: water and outdoor

Ngô Thứ

Bài viết rất hay của bạn trẻ Nguyễn Anh Tuấn. Thật khâm phục em!
• • •
VIỆT NAM LÀM GÌ TRƯỚC CUỘC SO GĂNG TRUNG-MỸ?


#Bản_chất_cuộc_so_găng.

Không giống như sự nổi lên của Nhật Bản thập niên 70s-80s cuối cùng đã biến nước này thành một hội viên được đón chào của câu lạc bộ phương Tây; sự trỗi dậy của Trung Quốc mang dáng dấp của Nga Sô sau Thế Chiến II ở chỗ đều thách thức trật tự quốc tế hiện hành do phương Tây kiểm soát, với sự tự tin rằng họ đang vận hành một mô hình phát triển ưu việt hơn.

Những thành tựu phát triển của Nga Sô thời bấy giờ và của Trung Quốc hiện nay quả nhiên có thể biện minh cách tiếp cận này của họ.
Hơn thế nữa, trở thành siêu cường khi mà phương Tây đã bao vây khắp mọi nơi, không có nhiều lựa chọn cho Nga Sô và Trung Quốc trong cuộc cạnh tranh sinh tồn này ngoài việc phải xô đổ trật tự cũ.
Nếu Nga Sô phải “phá vòng vây” bằng cách hỗ trợ các dân tộc thuộc địa vùng lên chống thực dân phương Tây, và sau đó tham gia vào hệ thống XHCN do họ dẫn dắt; thì Trung Quốc đang tổng hợp những nỗ lực tương tự của mình trong “Sáng kiến Vành đai Con đường” đầy tham vọng nhằm chia lại vùng ảnh hưởng toàn cầu.

Như vậy, cũng như Nga Sô trước đây, cuộc so găng của Trung Quốc với phương Tây không chỉ bó hẹp trong một lãnh vực cụ thể, mà thực chất là sự cạnh tranh chiến lược giữa hai mô hình phát triển:
Về kinh tế, một bên nhấn mạnh vai trò quyết định của nhà nước, bên kia coi trọng sáng kiến tư nhân.
Về chính trị, một bên tăng cường độc đoán cưỡng bách đảng trị, bên kia dựa vào dân chủ tự do pháp trị.

Bản chất mô hình phát triển dựa vào nhà nước là không khác, nhưng Trung Quốc hơn Nga Sô ở chỗ tận dụng thành công bối cảnh toàn cầu hoá để học hỏi phương Tây, bổ sung các yếu tố thị trường vào nền kinh tế; nhưng cũng vì thế mà kém Nga Sô ở chỗ chưa thể xây dựng một hệ thống toàn cầu theo mô hình của mình, bởi lẽ chính Trung Quốc cũng chưa đủ thời gian để hệ thống hoá chặt chẽ một mô hình mà họ chỉ mới mày mò nhờ “dò đá qua sông”.
Nghĩa là Trung Quốc hơn Nga Sô về chiến thuật nhưng kém về chiến lược vậy.

#Đấu_trường_chính_của_cuộc_so_găng.

Lenin từng nói một câu mà hậu bối của ông ít khi muốn nhớ, rằng “xét đến cùng, chủ nghĩa xã hội nếu muốn thắng chủ nghĩa tư bản, sẽ phải thắng về năng suất lao động” [1].
Cuộc đối đầu giữa các mô hình phát triển cuối cùng cũng nằm ở chỗ mô hình nào tạo ra năng suất lao động cao hơn.

Đó là lý do vì sao người ta đang dần nhận ra cuộc chiến Mỹ-Trung hiện nay chính yếu không phải về thương mại, mà là về công nghệ [2] – yếu tố quan trọng bậc nhất để tăng năng suất.
Điều này cũng giải thích vì sao hai nước vừa tuyên bố đình chiến thương mại tạm thời, nhưng ngay sau đó con gái chủ tịch Huawei – tập đoàn chủ đạo trong tham vọng cường quốc công nghệ của Trung Quốc – vẫn bị bắt.

Trung Quốc hiểu hơn ai hết tầm quan trọng của vấn đề này khi mà sự phát triển vượt bậc vài thập kỷ qua của họ không dựa vào công nghệ phát triển tự thân.
Phương Tây sáng tạo công nghệ, Trung Quốc sao chép và tận dụng lợi thế quy mô (economies of scale) không thể so bì của mình để tăng năng suất, giảm giá thành, rồi tranh thủ bối cảnh toàn cầu hóa để vươn lên thành thế lực sản xuất hùng mạnh bậc nhất.

Công thức phát triển này của Trung Quốc, bởi vậy, đặt trọng tâm vào việc sao chép công nghệ của phương Tây bằng 3 cách thức chủ yếu sau:
(1) Gián điệp công nghệ,
(2) Mua bán&sát nhập tập đoàn phương Tây để chiếm lấy công nghệ, và
(3) Dùng thị trường nội địa khổng lồ để áp lực các tập đoàn phương Tây muốn làm ăn ở Trung Quốc phải chuyển giao công nghệ.

Không phải Tây phương không nhận ra chiến lược này của Trung Quốc, song chỉ khi họ vỡ mộng rằng sự phát triển kinh tế của Trung Quốc không dẫn đến cởi mở về chính trị, mà trái lại, còn giúp gia tăng quyền lực độc đoán đảng trị, và bừng tỉnh rằng siêu cường mới nổi này muốn tiếp bước Nga Sô, thách thức trật tự quốc tế hiện hành, họ mới bắt đầu ra tay tấn công vào công thức phát triển của Đại lục với 3 đòn tương ứng sau:
(1) Truy bắt gián điệp công nghệ,
(2) Siết chặt việc mua bán & sát nhập có yếu tố Trung Quốc (qua cơ chế CFI/Ủy ban Đầu tư Nước ngoài), và
(3) đẩy mạnh thương chiến nhằm sắp xếp lại chuỗi sản xuất toàn cầu và tạo thế bảo vệ các tập đoàn làm ăn trên đất Trung Quốc.

Trung Quốc quả thật nên lo lắng, nhất là khi mới đây họ đã thất bại trong việc dùng lợi ích gây chia rẽ nội bộ khối Tây phương [3] và đang chứng kiến việc mỗi khi một quốc gia Tây phương ra đòn thì cả khối lại hùa theo hưởng ứng.
Giờ đây vận mệnh của Trung Quốc, như Tập tuyên bố, sẽ được đặt trong nỗ lực của quốc gia này tự lực phát triển công nghệ. [4]

#Phe_nào_sẽ_thắng?

Thái độ cẩn trọng không cho phép chúng ta dựa trên thiên kiến mà vội vàng đưa ra câu trả lời, đặc biệt, khi chứng kiến sự phát triển vũ bão của Trung Quốc vài thập niên qua.
Tuy nhiên nếu đồng ý rằng công nghệ là đấu trường chính của cuộc so găng, Trung Quốc rõ ràng đang gặp quá nhiều bất lợi:

Đầu tiên, những diễn biến thời gian gần đây cho thấy mặc dù rất nỗ lực, Trung Quốc vẫn chưa chế ngự được khả năng sáng tạo công nghệ. Sự khốn đốn của ZTE – tập đoàn công nghệ hàng đầu Trung Quốc, dưới lệnh cấm vận công nghệ của Hoa Kỳ là một minh chứng không thể rõ nét hơn.

Hơn thế, trong khi nhiều nghiên cứu chỉ ra tự do chính trị quan trọng thế nào đối với khả năng sáng tạo về dài hạn [5], thì yếu tố này lại không thể chấp nhận được đối với mô hình phát triển của Trung Quốc.
Nghĩa là tham vọng tự lực công nghệ thông qua chiến lược Made in China 2025 của họ, ngay cả khi không bị để ý cũng đã không dễ thành công, huống hồ hiện nay lại đang là đích nhắm tấn công của toàn khối Tây phương thì lại càng khó khăn bội phần.

Hi vọng sót lại của Trung Quốc được nuôi dưỡng bằng niềm tin rằng “tinh thần quốc gia phục thù” một khi được thổi bùng lên, sẽ là nhiên liệu cho cỗ máy sáng tạo quốc gia như những gì từng xảy ra ở Đức sau Thế Chiến I.
Chưa rõ nỗ lực này sẽ đi về đâu, nhưng nếu nhớ rằng trong khi Đức thuộc về nòng cốt của khối Tây phương, thừa hưởng sinh lực sáng tạo mạnh mẽ bắt rễ trong lối nghĩ, lối sống lý tính hóa cao độ hàng trăm năm của Tây phương nên đã chế ngự được khả năng sáng tạo; thì Trung Quốc, dù tăng trưởng liên tục những thập kỷ vừa qua, nhưng chỉ mới chập chững những bước đầu tiên trong việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, sẽ thấy hi vọng của Trung Quốc dẫu chưa tới mức ảo tưởng, nhưng vẫn khá mong manh.

Một thước đo khác, trực quan hơn, có thể giúp dự đoán kết quả cuộc so găng.
Sáng tạo vốn dĩ gắn liền với nhân tài, là sản phẩm của cá nhân và tập thể nhân tài. Thử xem nhân tài trên thế giới đã, đang và sẽ đổ về Mỹ và phương Tây hay là về Trung Quốc để thấy viễn cảnh Trung Quốc u ám ra sao nếu vẫn đẩy quốc gia dấn sâu vào cuộc cạnh tranh chiến lược này. [6]

#Việt_Nam_phải_chọn

Câu hỏi đầu tiên đặt ra là: liệu Việt Nam có thể đứng bên lề cuộc so găng lịch sử này với một tư thế trung lập được không? Khả năng cao là không.
Việt Nam là một nước nhỏ yếu nằm ở vị trí trung tâm của đấu trường so găng là khu vực Biển Đông, mà đã nhỏ yếu thì khó thoát vòng chi phối của các siêu cường mỗi khi họ đụng độ.
“Các nước Đông Nam Á có thể bị buộc phải chọn một trong hai”[7], lời phát biểu mới tháng trước của Lý Hiển Long tuy ngắn gọn nhưng đủ cho thấy đảo quốc này, nhờ đứng chân trên một di sản và kinh nghiệm ngoại giao phong phú, đã thấu hiểu thời cuộc ra sao.

Nghĩa là, dù Việt Nam có muốn hay không, thì các siêu cường cũng sẽ tính toán trên lưng các nước nhỏ như Việt Nam. Thế thì chi bằng Việt Nam chọn lựa vị trí của mình trước, ít ra cũng chiếm được đôi chút thế chủ động.

Tuy đáng lo ngại khi lịch sử chứa đầy các ví dụ cho thấy nước nhỏ, gồm cả Việt Nam, đã trở thành chiến trường ủy nhiệm của các siêu cường ra sao, nhưng lịch sử đồng thời cũng cho thấy các quốc gia chậm tiến chỉ có thể phát triển vượt bậc nhờ khéo léo khai thác mâu thuẫn giữa các siêu cường như thế nào.
Nếu Nhật Bản nương vào cuộc tranh giành thuộc địa giữa các thực dân Tây phương, thì Hàn Quốc tận dụng mâu thuẫn Chiến tranh Lạnh, nếu Đài Loan khai thác thù địch Mỹ-Trung, thì chính Trung Quốc sau đó lại chủ động khoét sâu mâu thuẫn Mỹ-Nga Sô (mà việc xâm lược Việt Nam năm 1979 là một phần trong kế hoạch đó) – tất cả đều là để tìm cơ hội phát triển và hiện đại hóa quốc gia.

Vì sao lại thế? Vì chỉ khi đụng độ lớn thì các siêu cường mới sẵn sàng hỗ trợ hết mình cho đồng minh nhược tiểu nhằm phục vụ cho lợi ích của chính các siêu cường.
Bên cạnh đó, vì nhu cầu chứng minh mô hình phát triển của mình là tốt nhất, sự hỗ trợ của các siêu cường cũng mang tính toàn diện, không chỉ gói gọn trong lãnh vực quân sự, mà lan rộng ra cả kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, xã hội.

Hiểu như thế để thấy Việt Nam chẳng nên lo ngại cuộc so găng lịch sử này mà trái lại, cần hoan nghênh nó như một cơ hội, nếu đã coi phát triển quốc gia là mục tiêu tối thượng.

Cũng có nghĩa là, câu hỏi bây giờ không phải là có chọn phe hay không, mà là phải chọn phe nào?

#Chọn_phe_nào?

Với những phân tích ở trên, rõ ràng là nên nghiêng về phương án Mỹ/phương Tây, bởi ưu thế vượt trội của phe này.
Thực tế thì tất cả những nước Đông Á kể trên (Nhật, Hàn, Đài, Trung) cũng đã từng lựa chọn tương tự trong những thời điểm quốc gia đòi hỏi hiện đại hóa.

Đó là chưa nói đến có nhiều lý do khiến việc đứng về phe Trung Quốc không hề đảm bảo một kết cục tốt đẹp.

Trước hết, chiến lược ngoại giao bẫy nợ của Trung Quốc đang dấy lên lo ngại khắp nơi, và thực tế là chưa có nước nhỏ yếu nào trở nên thịnh vượng nhờ gắn vận mệnh của mình vào Trung Quốc khi mà cách tiếp cận cùng thắng (win-win) chưa bao giờ là ưu tiên của quốc gia này.

Thứ nữa là, tâm lý chống Trung Quốc lan rộng của người dân Việt Nam, hàm ý rằng ngay cả khi những người lãnh đạo bằng cách nào đó nhìn thấy lợi ích quốc gia trong việc tăng cường hợp tác với Trung Quốc, thì sự hợp tác đó cũng khó lòng được công chúng ủng hộ, nghĩa là đã để ngỏ sẵn sự thất bại.

Cuối cùng nhưng quan trọng không kém là, hồ sơ tranh chấp chủ quyền biển đảo sẽ khiến mọi chọn lựa đứng về phía Trung Quốc, nếu thành hiện thực, đồng nghĩa với đánh đổi chủ quyền quốc gia trên thực tế.

#Phải_làm_gì?

Ngoại giao dù khéo léo đến đâu cũng chỉ có thể trì hoãn chứ không thể chấm dứt được hiểm họa bành trướng Trung Quốc phủ bóng lên dân tộc chúng ta, và cũng không thể ngăn các siêu cường thương lượng trên lưng những nước nhược tiểu như chúng ta.

Ở một vị trí như nước ta trong tình thế hiện nay, ngoại giao cùng lắm chỉ giúp mua thời gian để chúng ta hiện đại hóa quốc gia nhanh nhất có thể.
Mục tiêu của chúng ta không bao giờ là đổi danh dự lấy hòa bình để rồi đánh mất cả hai trong ô nhục, mà phải tìm mọi cách để xây dựng quốc gia hùng mạnh nhất có thể. Chỉ khi quốc gia chúng ta đủ hùng mạnh thì Trung Quốc mới phải cân nhắc thật kỹ trước khi chọn chúng ta làm đối tượng bành trướng của họ, và chính chúng ta mới đủ khả năng xoay sở vượt thoát thân phận con cờ trên bàn cờ nước lớn.

Mà muốn thế thì:

Đầu tiên, phải xóa bỏ tâm lý yếm thế, lo ngại xung đột của một thứ chủ nghĩa hòa bình thiếu chân đế.
Nếu tin rằng phát triển quốc gia là mục tiêu tối thượng, trước là để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ sau là để dân tộc có cơ hội ngẩng mặt lên, chúng ta phải hoan nghênh và đón chào cuộc so găng lịch sử này như một cơ hội trăm năm cho dân tộc chúng ta. Vì rằng ngay cả khi chúng ta ở một vị trí chiến lược song nếu không có mâu thuẫn giữa các siêu cường, thì chúng ta cũng chẳng vin vào đâu để phát triển vượt bậc cho được; tương tự, nếu mâu thuẫn giữa các siêu cường có nảy sinh đi chăng nữa nhưng nếu chúng ta nằm ngoài khu vực đấu trường trung tâm thì cũng rất khó tìm thấy cơ hội.

May thay, chúng ta chẳng những có cả hai mà lại đang sở hữu lợi thế thời gian, vì cuộc mâu thuẫn này chỉ mới chớm nở và còn nhiều đánh giá khác nhau xung quanh nó.
Nhiều người, dựa trên tính khí thất thường của Trump cũng như động thái xuống nước gần đây của Trung Quốc, nghĩ rằng cuộc đụng độ này chỉ khởi lên tạm thời và mang tính chất giai đoạn, trong khi chúng ta, nhìn vào đồng thuận chống Trung Quốc của giới lãnh đạo chính trị phương Tây hiện nay [8] và dựa trên trải nghiệm va đập với Trung Quốc suốt chiều dài lịch sử của chính chúng ta, sẽ thấy cuộc so găng chiến lược này còn kéo dài, mở rộng nhiều thập kỷ tới, và Trung Quốc sẽ không bao giờ dừng lại cho đến khi nó thất bại.
Thời gian ở đây là một lợi thế chỉ khi chúng ta nhanh chóng đưa ra quyết định chọn phe của mình thay vì mải mê đu dây.
Bởi lẽ, một khi cuộc đụng độ đã định hình, phe phái đã phân chia, sự lựa chọn chậm trễ của chúng ta sẽ không còn ý nghĩa, hay nói đúng hơn, chúng ta khi đó sẽ không còn quyền chọn lựa nữa.

Sau khi đã có một thái độ đúng đắn với cuộc so găng lịch sử và chọn đúng phe của mình, chúng ta mới có thể đưa ra những đối sách phù hợp.
Đó là dù có khoác mặt nạ ngoại giao hòa hiếu với Trung Quốc tới cỡ nào, chúng ta cũng phải ý thức rõ rằng đó chỉ để mua thời gian nhằm ra sức hợp tác toàn diện với Mỹ và phương Tây, vốn đã tỏ rõ đồng thuận mong muốn một Việt Nam thịnh vượng (dĩ nhiên là vì lợi ích chiến lược của chính họ).
Sự hợp tác này phải ở mức đồng minh bất luận tên gọi của nó là gì, phải đủ toàn diện ở tất cả các lãnh vực kinh tế, giáo dục, chính trị, quân sự, xã hội, và với cả ba chủ thể là nhà nước, thị trường, xã hội dân sự, phải đủ sâu sắc tới mức tạo được sự chuyển biến về chất.
Trong sự hợp tác toàn diện đó, lẽ dĩ nhiên là nước chậm tiến đi sau, Việt Nam phải đóng vai một người học trò siêng năng, học lấy học để một cách chủ động như Nhật, Hàn, Đài, Trung đã từng (nghĩa là không chỉ sao chép máy móc mô hình), và còn phải chạy đua với thời gian, vì như đã nói, ngoại giao dù khéo léo đến đâu cũng không kéo dài được cuộc hòa hoãn quá lâu.
Sự chủ động của chúng ta là tối quan trọng: chúng ta phải đòi hỏi hợp tác 10 ngay cả khi họ chỉ sẵn lòng hợp tác 1, chứ không phải ngược lại như hiện nay.

Dĩ nhiên là sẽ có những trở ngại đến từ thể chế chính trị hiện hành của Việt Nam, nhưng cần lưu ý rằng, hiện đại hóa quốc gia là quá trình diễn ra rộng khắp trên nhiều lãnh vực mà hình thức chế độ chỉ là một trong số đó, có thể thay đổi trước hoặc sau tùy hoàn cảnh, miễn sao mục đích phát triển đạt được.
Trung Quốc cũng có thể phá hoại những nỗ lực ngoại giao câu giờ của Việt Nam bằng cách chất vấn vì sao các đồng chí là cộng sản mà lại hợp tác sâu rộng với Mỹ/phương Tây, nhưng không khó để đáp trả bằng cách nhắc họ nhớ rằng chính những người cộng sản Trung Quốc thời Đặng Tiểu Bình đã từng mong muốn liên minh quân sự với Mỹ, và trên thực tế là đã hợp tác sâu rộng với siêu cường này nhiều thập kỷ sau đó để mưu tìm phát triển.

Tóm lại, trở lực lớn nhất ngăn Việt Nam chớp lấy cơ hội trăm năm có một này không đến từ bối cảnh quốc tế bên ngoài hay hiện tình chính trị nội bộ, mà chính là viễn kiến của những người lãnh đạo Việt Nam hiện nay.

Với lề lối thực hành chính trị thiếu minh bạch ở đất nước chúng ta, người dân hiện không ở vị trí có thể biết được liệu những người lãnh đạo có nhìn ra cơ hội này không và có đang tìm cách chớp lấy hay không. Song khả năng cao là không, nếu chúng ta để ý những động thái sau
(1) tuyên truyền chống Mỹ/phương Tây trong hệ thống giáo dục, báo chí chính thống, và đặc biệt trong lực lượng vũ trang vẫn tiếp tục được duy trì,
(2) sự cương quyết không nhượng bộ Mỹ/phương Tây khi đụng đến một số vấn đề nhân quyền không quá cốt yếu phản ánh tâm lý thắng-thua với Mỹ/phương Tây còn đậm nét, và
(3) sự rụt rè trong hợp tác với Mỹ/phương Tây, mà gần đây là việc hủy bỏ nhiều chương trình giao lưu quốc phòng với Mỹ.
Tất cả đều cho thấy những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam hiện nay chỉ coi việc hợp tác với Mỹ/phương Tây mang tính chất tình thế và giai đoạn nhằm cân bằng áp lực từ Trung Quốc, chứ hoàn toàn không thấy ở đó cơ hội phát triển và hiện đại hóa vượt bậc cho quốc gia như nó nên là.

Cũng có nghĩa là, cơ hội để Việt Nam không bị nhỡ tàu như bao lần trước đây trong lịch sử nằm ở chỗ liệu mỗi chúng ta, trong tư cách phần tử quốc gia, có làm đủ không trong việc khiến những người lãnh đạo phải đặt quyền lợi dân tộc lên trên đảng phái, phe nhóm, cá nhân, để từ đó thấu triệt vấn đề thời cuộc, hoặc chúng ta đã sẵn sàng chưa trong việc thay thế họ một khi thời gian không cho phép sự chậm trễ của họ thêm một giây phút nào nữa.

Đang có tin ComCom và các trang tin chống Mỹ quốc doanh tương tự đồng loạt dừng hoạt động. Nếu đúng vậy, mình xin gửi bài viết này đến các bạn admin của những trang đó.
Chúc các bạn mau hết bàng hoàng, sớm ổn định tinh thần để nhận công tác mới.

“VIỆT NAM” NGHĨA LÀ GÌ?

Mai Thanh Truyet Envirovn
Thưa Bà Con,

Sưu tầm trên mạng thấy hay hay về …lý lịch tên nước VIỆT NAM. Xin chia xẻ với Bà Con:

“VIỆT NAM” NGHĨA LÀ GÌ?

1/ Không ít người bây giờ vẫn tưởng “Việt Nam” nghĩa là “nước Nam của người Việt”. Hoặc là, qua một số em sinh viên trẻ cho tôi biết ở trường giải thích: “Việt Nam” nghĩa là nước Việt nằm về phương Nam (so với Tàu). Mắc giống gì mà danh xưng một quốc gia lại đi lấy một quốc gia khác làm “hệ qui chiếu”? Coi đi, quốc gia của người Hàn nằm về phía đông nước Tàu, họ đâu giải thích nước họ là … “Hàn Đông”.

Ý nghĩa của hai chữ “Việt Nam” bấy lâu nay thường được diễn giải theo chủ quan của hậu thế, NHƯNG cho dù diễn giải vi diệu/hay ho/cao siêu tới đâu đi nữa thì – xin nhấn mạnh – hãy nhớ rằng tên nước VIỆT NAM 越 南 là do nhà Nguyễn đặt ra. Thành thử phải tìm hiểu nhà Nguyễn gọi vậy với ý nghĩa gì (chớ đừng nhét cách diễn giải của đời sau vào miệng tiền nhân)!

… Hệt như có một làn gió mát mẻ, hết sức khỏe khoắn sau khi tôi may mắn biết được ý nghĩa đích xác của tên nước “VIỆT NAM” khi Gia Long định danh.
“Việt” trong quốc danh “Việt Nam” 越 南, té ra không phải làm một với “Việt” trong quốc danh “Đại Việt” 大 越 (mặc dù nhìn vô mặt chữ hệt nhau)!
Nói nào ngay, “Việt” đàng nào cũng có cái hay, nhưng lại không giống nhau.

2/ VIỆT NAM trở thành quốc danh chính thức, lần đầu tiên, là vào đời vua Gia Long, năm 1804.

2a) Ban đầu, năm 1802, vua Gia Long đặt tên nước là “Nam Việt” 南 越.
Nhưng nhà Thanh e ngại hai chữ 南 越 (Nam Việt) lặp lại quốc danh “Nam Việt” mà Triệu Võ Đế (Triệu Đà, năm 204 TCN – năm 137 TCN) đặt ra, bấy giờ lãnh thổ không chỉ có Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (đồng bằng sông Hồng cho tới Hà Tĩnh) mà bao trùm luôn Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây).

2b) Để tránh sự e ngại từ nhà Thanh, vua Gia Long đã đổi “Nam Việt” thành VIỆT NAM (越 南).
Dầu “Nam Việt” hoặc “Việt Nam” cũng đều chung ý nghĩa. Trịnh Hoài Đức (1765-1825), sử gia nổi tiếng sống dưới thời vua Gia Long, có mặt trong đoàn sứ qua Tàu đàm phán với nhà Thanh, cho biết:
“Việt Nam là quốc danh thích hợp để chỉ một lãnh thổ hợp nhứt giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài”, “chúng ta (nhà Nguyễn) sở hữu đất của Việt Thường trước, và vùng An Nam được thêm vào sau đó”.
Hai chữ VIỆT NAM là sự kết hợp giữa VIỆT (THƯỜNG) với (AN) NAM.

3/ Việt Thường là xứ mô?
Theo những sách cổ xưa như “Hậu Hán thư”, “Thượng thư đại truyện”, “Tư trị thông giám cương mục” thì nước Việt Thường 越 裳 nằm về phía nam Giao Chỉ.

Trong cuốn “Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập” thì xác định tên gọi VIỆT THƯỜNG “là tên cổ của xứ Champa”!
Một nguồn khác cho biết cách gọi “Việt Thường” là để chỉ lãnh thổ về phía nam của Giao Chỉ, bao gồm cả Phù Nam (sau này trở thành vùng Thủy Chân Lạp).

Khi Trịnh Hoài Đức viết “chúng ta sở hữu đất của Việt Thường 越 裳 trước”, là nhằm ghi nhận các bậc tiền nhân của vua Gia Long (là các Chúa Nguyễn) đã hùng cứ tại Đàng Trong (Champa, Thủy Chân Lạp). Sau đó Nguyễn Phước Ánh (vua Gia Long) đã “thêm vào vùng An Nam 安 南 ” là xứ lấy Thăng Long làm kinh đô (tức Đàng Ngoài).

4/ HÃNH DIỆN HAI CHỮ “VIỆT NAM”!

Trước đó, theo dòng lịch sử qua các đời Lý, Trần, Lê… cho dù tự xưng quốc danh “Đại Việt” đi nữa, tuy nhiên nước Tàu không tôn trọng mà họ cứ gọi xứ sở (lấy Thăng Long làm kinh đô) là “An Nam” miết (và gọi các đời vua Lý, Trần, Hậu Lê đều là “An Nam quốc vương”)!

Đến đời Hoàng đế Gia Long, ban đầu triều đình bên Tàu ép vẫn phải dùng quốc danh “An Nam”. Nhưng sứ giả của vua Gia Long không đồng ý.
Với quốc danh VIỆT NAM, quí bạn chú ý: Đây là LẦN ĐẦU TIÊN trong suốt lịch sử cả ngàn năm, Tàu đã phải từ bỏ cách gọi truyền kiếp “An Nam” đối với nước Việt chúng ta!

Đời nay chúng ta mỗi khi hãnh diện về hai chữ “Việt Nam” thì nên nhớ tới cái danh xưng đó do Hoàng đế Gia Long đặt ra. Đừng uống nước mà quên luôn cái nguồn quốc danh đó từ đâu, đừng bị nhiễm thói ăn cháo đá bát.

5/ THAY LỜI KẾT

“Việt” (trong “Đại Việt” 大 越 ) dùng để chỉ Việt tộc.
Còn “Việt” (trong “Việt Nam” 越 南 ) tuy cùng mặt chữ nhưng được lấy từ trong danh từ kép “Việt Thường” 越 裳 (định danh về địa lý).

Ghép chữ “Việt” (trong “Việt Thường”) với “Nam” (trong “An Nam”) thành quốc danh VIỆT NAM, là sự ghi nhận đàng hoàng về nguồn gốc của từng vùng lãnh thổ!

Qua đó, vua Gia Long cho thấy niềm hãnh diện trước việc hợp nhứt Đàng Trong với Đàng Ngoài. Lãnh thổ nước ta LẦN ĐẦU TIÊN trải rộng từ bắc chí nam, theo đường cái quan đi từ Quảng Ninh cho tới mũi Cà Mau thành đường cong chữ S.

Tắt một lời, VIỆT NAM là quốc danh mang ý nghĩa về SỰ HỢP NHỨT LÃNH THỔ.

Ý nghĩa nêu trên của hai chữ VIỆT NAM, thiệt hay hết sức, độc đáo hết sức trong tinh thần đoàn kết các cộng đồng dân tộc ./.

No photo description available.
No photo description available.
No photo description available.
Image may contain: one or more people, crowd and outdoor
Image may contain: one or more people, people standing, wedding and outdoor

BỂ Ổ ?

Dung Tran
BỂ Ổ ?

Nguyen Khan

Việc một nước đột ngột yêu cầu Tổng Lãnh sự quán nước khác đặt trên nước mình đóng cửa khẩn cấp trong vòng 72 giờ hiếm khi xảy ra, trừ phi quan hệ ngoại giao giữa hai nước khủng hoảng đến mức thấp nhất.

Nhưng việc Mỹ đột ngột yêu cầu Tổng Lãnh sự quán TC (Trung Cộng) tại TP. Houston bang Texas đóng cửa trong vòng 72 giờ lại không phải là chuyện quá lạ nếu không muốn nói là chẳng có gì lạ khi quan hệ Mỹ Trung đang xuống thấp thêm từng ngày, những diễn biến dồn dập mấy ngày qua cho thấy rõ điều đó :

* Sự đổ bể thỏa thuận thương mại giai đoạn một khiến tổng thống Mỹ đánh thuế hàng TC thẳng tay, tuyên bố không cần Trung Cộng nữa.

* TC thông qua luật an ninh Hongkong dẫn đến việc Mỹ rút Hongkong khỏi quy chế đặc biệt, trừng phạt các quan chức TC và Hongkong có liên quan.

* Mỹ lên án TC đàn áp người Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, trừng phạt các quan chức liên quan, trong đó có bí thư Tân Cương đương chức, là một trong 25 thành viên thường trực Bộ Chính trị uy quyền nhất TC, một việc chưa từng có tiền lệ.

* Ngoại trưởng Mỹ vừa lên án TC đàn áp Pháp Luân Công hơn hai thập kỷ qua, yêu cầu TC dừng tay bức hại…

* New York Time đưa tin các giới chức Mỹ đang nghiên cứu đề xuất tổng thống ban hành quyết định hành pháp cấm tất cả đảng viên đảng cộng sản TC và người nhà nhập cảnh Mỹ. Con số ước lượng 270 triệu người, số đảng viên là 92 triệu.

* Ngoại trưởng Mỹ vừa bác bỏ hầu hết yêu sách chủ quyền phi pháp gần 90% diện tích Biển Đông của TC, tuyên bố ủng hộ Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Brunei và Philippines đấu tranh chống lại việc TC ỷ mạnh bức hiếp các nước để chiếm đoạt biển đảo. Tăng cường quân sự ồ ạt đe dọa TC, gọi TC là nước côn đồ.

* Và dĩ nhiên căng thẳng nhất vẫn là Mỹ tố cáo TC và WHO giấu dịch cúm gây thiệt hại quá lớn về sức khỏe, sinh mạng và kinh tế cho Mỹ và thế giới.

Quan hệ hai nước xuống thấp đến vậy thì việc Mỹ đóng cửa lãnh sự quán TC tại TP Houston bang Texas chẳng có gì lạ.

Lạ chăng ở chỗ lãnh sự quán này gây ra vụ cháy giữa sân, cột khói lớn khiến xe cứu hỏa phải đến ứng cứu nhưng lãnh sự TC không cho vào. Người ta ngửi được mùi khét của giấy, chứng tỏ lãnh sự quán TC vội vã đốt tất cả tài liệu nhạy cảm với số lượng cực lớn, không biết liệu Mỹ có bị chậm chân để tuột con mồi ?

Việc TC vội vã đốt tài liệu chứng tỏ Mỹ có lý do hết sức chính đáng để đóng cửa lãnh sự quán này. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ nêu lý do đóng cửa là để : “bảo vệ sở hữu trí tuệ và thông tin cá nhân của người Mỹ”. Như vậy đây là ổ gián điệp chuyên ăn cắp sở hữu trí tuệ và truy bức những người Mỹ thù địch với TC?

Bộ Ngoại giao Mỹ nêu cụ thể hơn : ” Không dung thứ cho TQ vì các hành vi vi phạm chủ quyền và đe dọa người dân của chúng tôi. Chúng tôi cũng không dung thứ cho các hành vi thương mại không công bằng, trộm cắp việc làm của người Mỹ và các hành vi nghiêm trọng khác của TQ “.

Vậy là có quá nhiều vấn đề trong tòa lãnh sự quán này. Từ trộm cắp, đe dọa những người chống lại TC… Cho đến vi phạm chủ quyền và nhiều vấn đề nghiêm trọng khác… làm nhiều người nghĩ… có thể đây cũng là hang ổ tài trợ, giật dây, kích động nhóm BLM, ANTIFA v.v… Gây bạo loạn gần hai tháng qua, làm suy yếu nước Mỹ, gây bất lợi cho ông Trump trong kỳ bầu cử tổng thống đầu tháng 11 sắp tới ? Nếu đúng vậy thì hôm nay âm mưu của TC đã bị BỂ Ổ… ở Houston, và chắc không ít người Mỹ dính vào ổ này đang lo đóng bỉm…

Kịch bản hay lúc này không phải là Mỹ sẽ làm gì tiếp theo, mà là TC sẽ trả đũa ra sao, liệu TC có dám làm căng khi mà có cảm giác như Mỹ không ngại TC làm căng… nếu không muốn nói là… thích TC làm căng để… Căng !
N.K.

Image may contain: 1 person, text

LỰC LƯỢNG MỸ TIẾP TỤC HIỆN DIỆN TẠI BIỂN ĐÔNG

LỰC LƯỢNG MỸ TIẾP TỤC HIỆN DIỆN TẠI BIỂN ĐÔNG

TTO: Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Esper xuất hiện tại một sự kiện do Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế tổ chức tối 21-7 (giờ Việt Nam).

Bài phát biểu của ông thu hút sự chú ý sau khi Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo công bố lập trường mới của Washington, trong đó bác bỏ yêu sách hàng hải của Trung Quốc và gọi chúng là phi pháp.

Trước câu hỏi Mỹ sẽ làm gì trước sự đã rồi mà Trung Quốc tạo ra trên Biển Đông ngoài các chiến dịch đảm bảo tự do hàng hải (FONOP), Bộ trưởng Quốc phòng Esper nhấn mạnh Mỹ sẽ tiếp tục hiện diện tại Biển Đông.

Người đứng đầu Lầu Năm Góc tiếp tục gọi các yêu sách hàng hải của Bắc Kinh là phi pháp, nhấn mạnh “Mỹ phản đối yêu sách vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc” và sẽ tiếp tục phối hợp với các nước tiến hành các chiến dịch FONOP trong tương lai.

Theo ông Esper, có 3 lý do chính để Mỹ tiếp tục các hoạt động tại khu vực:

– Thứ nhất, ngăn cản các hành vi bắt nạt và cưỡng ép nước nhỏ của Trung Quốc;

– Thứ hai, đảm bảo tự do hàng hải và hàng không trên Biển Đông;

– Thứ ba, tăng cường năng lực các nước đồng minh và đối tác của Mỹ xung quanh Biển Đông, hướng tới việc giúp các nước này có đủ sức tự bảo vệ được vùng biển và lãnh thổ trước tham vọng của Bắc Kinh.

“Sẽ không ai ngăn cản được Mỹ tới Biển Đông. Chúng tôi sẽ tiếp tục có mặt tại khu vực và hoạt động ở những nơi được luật quốc tế cho phép”, ông Esper nhấn mạnh khi được hỏi về việc truyền thông nhà nước Trung Quốc cảnh báo các tàu sân bay Mỹ đang nằm trong tầm bắn của tên lửa Trung Quốc.

“Trung Quốc không có quyền biến các vùng biển quốc tế thành các vùng biển của riêng họ. Chính sách mới của Mỹ về Biển Đông đã rất rõ ràng, đó là công nhận các tuyên bố hàng hải phù hợp với luật quốc tế, ủng hộ quyền chủ quyền của các nước Đông Nam Á và phản đối các yêu sách hàng hải quá đáng, phi pháp của Trung Quốc”, ông Esper khẳng định.

“Các yêu sách hàng hải phi pháp và quá đáng của Trung Quốc đã được họ sử dụng như một công cụ để bắt nạt các nước nhỏ hơn, ngăn cản các nước nhỏ tiếp cận các nguồn tài nguyên xa bờ vốn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của họ”, Bộ trưởng Esper nhấn mạnh.

Người đứng đầu Lầu Năm Góc cũng kêu gọi các nước trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mở rộng mạng lưới các đối tác an ninh “cùng chí hướng”.

Theo ông Esper, hiện Mỹ đang phát triển học thuyết mới và sẽ thúc giục quốc hội nước này phối hợp với chính phủ đề ra “Sáng kiến răn đe Thái Bình Dương”, trong đó ưu tiên duy trì khả năng răn đe và bảo đảm các cam kết của Mỹ đối với khu vực.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ nhấn mạnh Washington không tìm kiếm xung đột với Bắc Kinh và mong muốn có quan hệ thực chất với Trung Quốc. Tuy nhiên, Bắc Kinh phải tuân thủ luật pháp quốc tế và chấm dứt các hành vi hung hăng, cưỡng ép nước khác.

“Chúng tôi kêu gọi các nhà lãnh đạo Trung Quốc tuân thủ luật quốc tế – thứ đã đem lại lợi ích to lớn cho cả nhân dân Trung Quốc trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, trong khi kỳ vọng Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ thay đổi hành vi của mình, Mỹ và quốc tế nên chuẩn bị cho các kịch bản thay thế khác”, Bộ trưởng Mỹ nêu quan điểm.

Nguồn Tuoitreonline 21/7/2020

Image may contain: 1 person, suit
Image may contain: ocean, sky, water and outdoor
Image may contain: ocean, sky, outdoor and water

CHÂN DUNG THÁNH NỮ MARIA MAĐALÊNA

CHÂN DUNG THÁNH NỮ MARIA MAĐALÊNA

 Trầm Thiên Thu

Thánh Maria Mađalêna (hoặc Maria Mácđala, Mai Đệ Liên) được cả Công giáo, Chính thống giáo, Anh giáo, và Tin lành Luther tôn kính là một vị thánh, lễ nhớ ngày 22-7 hằng năm.  Các Giáo hội Tin lành khác tôn kính bà là nữ anh hùng đức tin.  Chính thống giáo Đông phương cũng kính nhớ bà vào Chúa nhật Myrrh-bearers (người mang dầu thơm).

Tên “cúng cơm” của Thánh Maria Mađalêna là Μαρία (Maria), và người ta thường chấp nhận ở dạng Latin được viết là Μαριὰμ (Mariam).  Tên Maria rất phổ biến trong thời Chúa Giêsu vì liên quan việc cai trị thời Hasmonea và các triều đại Hêrôđê.

Tuy nhiên, bà bị tai tiếng vì bà bị hiểu lầm là “người phụ nữ tội lỗi” đã khóc và xức dầu thơm chân Chúa Giêsu.

Thực ra Maria Mađalêna (Hy ngữ: Μαρία ἡ Μαγδαληνή) là một phụ nữ đạo đức và can đảm.  Trong Tân ước, Thánh Maria Mađalêna được coi là người phụ nữ quan trọng thứ nhì sau Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa.  Bà đồng hành với Chúa Giêsu cùng với các Tông đồ.  Bà hiện diện trong hai thời điểm quan trọng nhất của Chúa Giêsu: Chịu đóng đinh và phục sinh.  Trong 4 Phúc Âm, tài liệu lịch sử cổ xưa nhất nhắc đến tên bà, ít nhất 12 lần, hơn cả các Tông đồ khác.  Phúc Âm diễn tả bà là người đủ can đảm nên mới có thể đứng bên Chúa Giêsu trong thời gian Ngài chịu khổ nạn, chịu chết và sau đó.

Trong Tân ước, Chúa Giêsu đã trừ bảy quỷ và chữa bệnh cho bà (x. Lc 8:2; Mc 16:9), đôi khi được hiểu là các chứng bệnh phức tạp.  Bà nổi bật nhất trong những ngày cuối đời của Chúa Giêsu trên thế gian.  Khi Chúa Giêsu chịu đóng đinh, bà có mặt ở đó với Ngài, trong giây phút khủng khiếp nhất, và bà đã than khóc Ngài.  Sau khi các Tông đồ “bỏ của chạy lấy người”, trừ Thánh Gioan Tông đồ, bà vẫn ở bên Chúa Giêsu.  Khi an táng Chúa Giêsu, bà là người duy nhất được kể tên trong cả 4 Phúc Âm khi biết Chúa Giêsu phục sinh và chính bà là nhân chứng đức tin.  Ga 20:11-18 và Mc 16:9 xác nhận bà là người đầu tiên gặp Chúa Giêsu phục sinh.  Bà có mặt vào ngay giây phút đầu tiên mà sau đó biến đổi Tây phương.  Bà là “Tông đồ đối với các Tông đồ”, một cách nói kính cẩn mà thần học gia Augustine (Chính thống giáo, thế kỷ IV) đã dành cho bà, và những người thời Giáo hội sơ khai cũng nói về bà như vậy.

Mặc dù ngày xưa bà bị mang tai tiếng khi người ta mô tả trong tôn giáo, nghệ thuật, văn chương, và cả những cuốn sách và các bộ phim mới đây, như The Da Vinci Code (Mật mã Da Vinci), ngày nay người ta cũng đồng ý điều này: “Không có chứng cớ Kinh Thánh nào chứng tỏ bà là gái điếm, người vợ, người mẹ, hoặc người yêu bí mật.”

Trong cả 4 Phúc Âm, Thánh Maria Mađalêna hầu như luôn được phân biệt với các phụ nữ khác tên là Maria bằng cách thêm chữ Mađalêna vào tên bà.  Theo truyền thống, điều này có nghĩa bà là người vùng Mađalêna, một thành phố thuộc Tây duyên hải Galilê.  Lc 8:2 nói rằng bà thực sự được gọi là Mađalêna.  Theo tiếng Do thái, Mađalêna (Migdal, מגדל) nghĩa là “tháp”, “thành lũy”; theo tiếng Aram, Mađalêna nghĩa là “tháp” hoặc “được nâng lên, cao cả, nguy nga.”  Các bản văn truyền thống Do Thái nói: “Miriam, hamegadela se’ar nasha” – Maria, người bện tóc phụ nữ (Hagigah 4b; x. Shabbat 104b), có thể nói Maria Mađalêna phục vụ như một người thợ làm tóc (kiểu làm đầu, uốn tóc ngày nay).

Trong Phúc Âm theo Thánh Gioan, Thánh Maria Mađalêna cũng được nhắc tới bằng tên Maria ít nhất là 2 lần.  Các văn bản không chính thức khác thì dùng tên Maria, Maria Mađalêna, hoặc Mađalêna.

Ngày nay, hầu như người ta đồng ý điểm quan trọng: Người ta cho rằng Thánh Maria Mađalêna là “gái điếm sám hối”, đó là vô căn cứ.  Tuy nhiên, Thánh Maria Mađalêna vẫn bị lầm lẫn với các phụ nữ khác cũng tên Maria và vài phụ nữ nặc danh vẫn bị coi là phụ nữ phạm tội ngoại tình.  Người ta đồng hóa Maria Mađalêna với nữ tội nhân vô danh nào đó (thường biết đến là phụ nữ ngoại tình) trong trình thuật Lc 7:36-50.  Mặc dù Thánh Maria Mađalêna được nhắc tên trong cả 4 Phúc Âm, nhưng không lần nào nói bà là gái điếm hoặc tội nhân.  Tân ước không hề có “gợi ý” nào nói bà là một cô gái làng chơi hoặc một phụ nữ trắc nết.  Các học giả đương đại đã phục hồi “danh tiếng” cho Thánh Maria Mađalêna là người dẫn dắt quan trọng của Kitô giáo thời sơ khai.

Nhiều thế kỷ qua, Công giáo Tây phương dạy rằng Thánh Maria Mađalêna là người được nói tới trong các Phúc Âm vừa là Maria ở Bêthania vừa là “người đàn bà tội lỗi” xức dầu thơm chân Chúa Giêsu (Lc 7:36-50).  Khái niệm về Thánh Maria Mađalêna là gái điếm sám hối đã phổ biến qua nhiều thế kỷ, ít là từ Ephraim người Syria (thế kỷ IV), Thánh Giáo Hoàng Grêgôriô Cả (thế kỷ VI), nhiều họa sĩ, văn sĩ và các nhà chú giải Kinh Thánh cũng theo xu hướng đó.  Từ thế kỷ XII, Abbot Hugh ở Semur (qua đời năm 1109), Peter Abelard (qua đời năm 1142), và Geoffrey ở Vendome (qua đời năm 1132) đều nhắc tới Thánh Maria Mađalêna là người tội lỗi và được tặng danh hiệu “apostolarum apostola” (Tông đồ đối với các Tông đồ), danh hiệu này trở thành phổ biến trong các thế kỷ XII và XIII.

Do đó, hình ảnh cô-gái-điếm-sám-hối trở thành “đặc điểm” bị gán cho Thánh Maria Mađalêna trong nghệ thuật và văn chương tôn giáo ở Tây phương.  Vì hiểu sai về bà nên trong nghệ thuật, người ta thường vẽ bà mặc áo hở cổ, lả lơi, thậm chí có họa sĩ còn vẽ bà khỏa thân bên chiếc sọ đầu lâu với bình dầu thơm, và một tay cầm Thánh Giá, hoặc là một phụ nữ xa lánh mọi người để sám hối nơi hoang địa.

Sự đồng hóa đó là do Công giáo Tây phương, có trong bài giảng của Thánh Giáo Hoàng Grêgôriô Cả vào khoảng năm 591.  Thánh Giáo Hoàng Grêgôriô Cả được coi là một trong những người ảnh hưởng nhất và trở thành giáo hoàng.  Trong các bài giảng nổi tiếng của ngài về Thánh Maria Mađalêna, giảng tại Rôma, ngài đã xác định Mađalêna không chỉ là phụ nữ tội lỗi trong Phúc Âm theo Thánh Luca, mà còn là Maria ở Bêthania, chị của Matta và Ladarô; chính bảy quỷ được Chúa Giêsu trục xuất “đã tạo thành 7 tội trọng, và Maria Mađalêna bắt đầu bị kết án không chỉ vì tội dâm dục mà còn vì tội kiêu ngạo và tham lam.”  Bài giảng của Thánh GH Grêgôriô Cả về Phúc Âm theo Thánh Luca đã tạo thành cách hiểu chính thức của Giáo hội về Thánh Maria Mađalêna, cho rằng bà là phụ nữ “alabaster jar” (gái điếm).

Trong bài giảng XXXIII, Thánh GH Grêgôriô Cả nói: “Bà [Maria Mađalêna] là người mà Thánh Luca gọi là phụ nữ tội lỗi, Thánh Gioan gọi là Maria, chúng ta tin là Maria được trừ bảy quỷ trong Phúc Âm theo Thánh Máccô.  Bảy quỷ này biểu hiện điều gì, nếu không phải là các thói hư?  Anh chị em thân mến, rõ ràng là phụ nữ này trước đó đã xức thơm thân xác cô bằng những hành động bị cấm.  Do đó điều cô biểu hiện càng khiếm nhã hơn, nhưng nay cô dâng cho Chúa bằng động thái đáng khen.  Cô đã ham muốn bằng con mắt trần tục, nhưng nay cô ăn năn bằng nước mắt.  Cô đã xõa tóc che mặt, nhưng nay cô dùng tóc lau khô nước mắt.  Miệng cô đã nói những điều kiêu ngạo, nhưng nay cô dùng miệng hôn chân Chúa, cô đặt miệng mình lên chân Đấng Cứu Thế.  Do đó, đối với mỗi niềm vui, cô đã có trong lòng, nay cô hy sinh chính mình.  Cô biến tội lỗi thành nhân đức để phục vụ Thiên Chúa hoàn toàn trong sự ăn năn.”

Với điều này, tác giả Susan Haskins viết trong cuốn “Mary Magdalene: Myth and Metaphor” (Maria Mađalêna: Huyền thoại và Ẩn dụ): “Cuối cùng, hình ảnh xung đột của Thánh Maria Mađalêna cũng được sáng tỏ… sau gần 140 năm.”

Năm 1969, trong triều đại giáo hoàng của Chân phước Phaolô VI, Tòa Thánh không phê bình về nhận xét của Thánh GH Grêgôriô Cả, mà chỉ bỏ điều đó bằng cách tách biệt người phụ nữ tội lỗi trong Phúc Âm theo Thánh Luca với bà Maria ở Bêthania và Maria Mađalêna qua Sách lễ Rôma.

Do đó, tai tiếng vẫn cứ “lờn vờn” bị gán cho Thánh Maria Mađalêna.  Sau thời gian quá lâu, cách tin này trở thành “thâm căn cố đế” không chỉ trong Giáo hội Tây phương mà còn trong một số Giáo hội Tin lành đã từng theo truyền thống Công giáo Rôma.

Cách hiểu sai về Thánh Maria Mađalêna là cô-gái-điếm-sám-hối vẫn được nhiều văn sĩ và họa sĩ hồi thập niên 1990.  Thậm chí ngay cả ngày nay, cách hiểu sai đó vẫn được truyền bá.  Điều đó được phản ánh trong bộ phim của Martin Scorsese – phỏng theo tiểu thuyết “Cơn Cám Dỗ Cuối Cùng của Đức Kitô” (The Last Temptation of Christ) của Nikos Kazantzakis, trong phim “Phúc Âm theo Chúa Giêsu Kitô” (The Gospel According to Jesus Christ) của José Saramago, trong “Siêu Sao Giêsu Kitô” của Andrew Lloyd Webber, trong “Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô” của Mel Gibson, trong “Màu Thập Giá” (Color of the Cross) của Jean-Claude La Marre, và trong “Sách Sự Sống” (The Book of Life) của Hal Hartley.

Vì hiểu sai về Thánh Maria Mađalêna là gái điếm nên người ta mới chọn bà làm bổn mạng của “các phụ nữ hư hỏng”, vì có một truyền thuyết lâu đời trong Giáo hội nói rằng bà là người phụ nữ tội lỗi vô danh đã xức dầu chân Chúa Giêsu được thuật lại trong Lc 7:36-50, và viện tế bần Mađalêna đã được thành lập để “cứu vớt” các chị em từ nhà thổ.  Bà còn được coi là bổn mạng của những người bị vu khống.

Thánh sử Luca cho biết: “Đức Giêsu rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa.  Cùng đi với Người, có Nhóm Mười Hai và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh.  Đó là bà Maria gọi là Maria Mađalêna, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, bà Gioanna, vợ ông Khu-da quản lý của vua Hêrôđê, bà Susanna và nhiều bà khác nữa.  Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ” (Lc 8:1-3).

Lúc Chúa Giêsu chịu khổ hình và phục sinh, Thánh Maria Mađalêna đã có mặt bên Chúa Giêsu.  Trong số những người theo Chúa Giêsu chỉ có bà được nói rõ tên là nhân chứng ba sự kiện quan trọng: Chúa Giêsu chịu khổ nạn, Chúa Giêsu chịu mai táng, và ngôi mộ trống.  Mc 15:40, Mt 27:56 và Ga 19:25 nói đến Thánh Maria Mađalêna là nhân chứng khi Chúa Giêsu chịu khổ nạn, cùng với các phụ nữ khác.  Thánh Luca không nêu tên nhân chứng, nhưng nói: “Đứng đàng xa, có tất cả những người quen biết Đức Giêsu cũng như những phụ nữ đã theo Người từ Galilê; các bà đã chứng kiến những việc ấy” (Lc 23:49).  Thánh Máccô nói: “Còn bà Maria Mađalêna và bà Maria mẹ ông Giôxết, thì để ý nhìn xem chỗ họ mai táng Người” (Mc 15:47), và Thánh Matthêu nói: “Còn bà Maria Mađalêna và một bà khác cũng tên là Maria ở lại đó, quay mặt vào mồ” (Mt 27:61).  Lc 23:55 cho biết: “Cùng đi với ông Giô-xếp, có những người phụ nữ đã theo Đức Giê-su từ Ga-li-lê.  Các bà để ý nhìn ngôi mộ và xem xác Người được đặt như thế nào.”  Ga 19:39-42 mô tả: “Ông Nicôđêmô cũng đến.  Ông này trước kia đã tới gặp Đức Giêsu ban đêm.  Ông mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương.  Các ông lãnh thi hài Đức Giêsu, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do-thái.  Nơi Đức Giêsu bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai.  Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Do-thái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng Đức Giêsu ở đó.”

Thánh Máccô, Matthêu và Gioan đều nói Thánh Maria Mađalêna là nhân chứng đầu tiên đối với việc Chúa phục sinh.  Ga 20:1 cho biết Thánh Maria Mađalêna mô tả việc thấy ngôi một trống.  Mc 16:9 nói: “Sau khi sống lại vào lúc tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu hiện ra trước tiên với bà Maria Mađalêna, là kẻ đã được Người trừ cho khỏi bảy quỷ.”  Thánh sử Mátthêu cho biết: “Sau ngày sa-bát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Maria Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Maria, đi viếng mộ” (Mt 28:1).

Sau khi thuật lại cho các Tông đồ biết Chúa Giêsu đã phục sinh, Thánh Maria Mađalêna không được nhắc đến trong Tân ước nữa.  Bà cũng không được nhắc tên trong sách Công vụ, và “số phận” bà vẫn không được tài liệu ghi lại và không được “minh oan.”  Có phải vì vậy mà bà cứ bị hiểu lầm là “người phụ nữ tội lỗi” chăng?

Đa số các học giả Kinh thánh ngày nay đều chứng tỏ rằng không có nền tảng Kinh thánh nào để lẫn lộn hai phụ nữ này.  Maria Magđalêna, nghĩa là Maria ở Magđalêna, là người mà Chúa Giêsu đã đuổi “bảy quỷ” (Lc 8:2).  Maria Mađalêna là một trong những người “giúp Chúa Giêsu và Nhóm Mười Hai.”  Bà là một trong những người đứng bên Thánh giá với Đức Mẹ.

Linh mục W.J. Harrington, Dòng Đa Minh, viết trong cuốn “Chú giải Công giáo mới” (New Catholic Commentary): “Bị bảy quỷ ám không có nghĩa là Thánh Maria Mađalêna đã sống cuộc đời vô luân, một kết luận chỉ đạt được bằng cách lầm lẫn với phụ nữ vô danh trong Lc 7:36”.  Linh mục Edward Mally, Dòng Tên, viết trong cuốn “Chú giải Kinh thánh của Thánh Giêrônimô” (Jerome Biblical Commentary): “Bà (Maria Mađalêna) KHÔNG là phụ nữ tội lỗi trong Lc 7:37, mặc dù có truyền thống lãng mạn Tây phương đã nói về bà.”

Hy vọng Thánh Maria Mađalêna sẽ không còn bị “mang tiếng” và không còn bị chúng ta hiểu lầm như xưa nay nữa!

Lạy Thánh nữ Maria Mađalêna, xin thương nguyện giúp cầu thay. Amen.

Trầm Thiên Thu

Ông Tập Cận Bình lặp đi lặp lại về ‘vai trò trọng tâm của Đảng Cộng sản’ – BBC News Tiếng Việt

 

Ông Tập Cận Bình lặp đi lặp lại về ‘vai trò trọng tâm của Đảng Cộng sản’

6 giờ trước

Lúc Trung Quốc gặp khó khăn, Chủ tịch Tập Cận Bình nhắc đi nhắc lại rằng Đảng Cộng sản lãnh đạo ở ‘Đông, Tây, Nam, Bắc và cả Trung tâm’.

Một bài viết quan trọng của Chủ tịch Trung Quốc, ông Tập Cận Bình đăng trên tạp chí của Đảng Cộng sản hôm 15/07/2020 nhắc lại định hướng “Đảng lãnh đạo tổng thị toàn cục” cho đất nước và xã hội Trung Quốc.

Thế nhưng bài trên tạp chí Cầu Thực (Qiushi – Tìm Sự thật), của Trung ương Đảng CS TQ bị các học giả Phương Tây cho là “nhàm chán, lặp lại” (monotony), và chỉ có mục tiêu khẳng định quyền lực cá nhân của ông Tập.

Tuy thế, giới quan sát cho rằng điều đáng nói chính là sự xuất hiện của bài báo vào lúc Trung Quốc đang gặp khó khăn bên trong: lụt lội lớn, dịch Covid-19 chưa dứt, và bên ngoài: va chạm với Hoa Kỳ, vấn đề Huawei, Hong Kong.

Theo James Palmer viết trên Foreign Policy (17/07) thì bài của ông Tập không có gì mới, chỉ là sự nhắc lại 18 đoạn trích dẫn đã cũ của chính ông.

Phần dẫn nhập thậm chí còn dùng một đoạn trích lời ông Tập từ 2013.

Đây là dấu hiệu mục đích duy nhất của việc đăng bài là nhằm xác tín lại quyền lực của Tập Cận Bình, bài trên Foreign Policy trích chuyên gia về TQ, ông Carl Minzer cho biết.

Việc kiểm soát này gồm hai phần: Đảng nắm tất cả, và ông Tập Cận Bình là hạt nhân, nắm trọn quyền trong Đảng.

‘Đặc sắc Tập Cận Bình’

Bản tiếng Anh của bài có tựa đề nói rõ rằng: “Sự lãnh đạo của Đảng chính là nét đặc sắc trọng yếu nhất của Chủ nghĩa xã hội mang đặc tính Trung Hoa”.

“Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc là sự lựa chọn của toàn thể nhân dân Trung Quốc, gồm các đảng phái dân chủ, tổ chức xã hội, dân tộc, các gia tầng và tất cả mọi người.”

Cụm từ quen thuộc “Đông, Tây, Nam, Bắc, và Trung tâm, mọi nơi đều do Đảng lãnh đạo”, được nhắc lại năm lần trong bài.

James Palmer viết trên trang Foreign Policy, gọi đây là “Bài báo Đỏ nhỏ xíu”, (Xi’s Little Red Article), gợi lại hình ảnh cuốn Mao Tuyển (Mao’s Little Red Book), để cho rằng tư duy nhàm chán của ông Tập tuy thế rấ̃t nguy hiểm.

Còn Richard McGregor, cựu phóng viên báo Anh, tờ Financial Times tại Trung Quốc, hiện là học giả ở Viện Lowy Institute ở Sydney, Úc thì cho rằng ông Tập Cận Bình đang tìm cách nhấn mạnh, để lỡ có ai quên, về vai trò trung tâm của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

McGregor cũng viết trên tờ The Sunday Times hôm Chủ nhật 19/7 rằng nhân dịp vụ Anh loại Huawei, truyền thông Trung Quốc, và cả một số nhà ngoại giao Trung Quốc công khai đe dọa Anh.

Tuy thế, ông McGregor, tác giả cuốn sách hồi 2010 về Đảng Cộng sản Trung Quốc, “The Party: The Secret World of China’s Communist Rulers” tin rằng với nước Anh, lời đe dọa của Trung Quốc không hiệu quả với Anh, vì trên thực tế, chỉ có 4% hàng xuất khẩu từ Anh là sang Trung Quốc, năm 2019.

Kinh tế Anh vì thế, không lệ thuộc nhiều vào Trung Quốc như kinh tế Úc, vì Úc xuất đi 40% hàng xuất khẩu sang Trung Quốc.

Ngoài ra, Anh vẫn đang nắm trong tay lá bài quyết định hay không về số phận của công ty Trung Quốc trong hợp đồng xây dựng nhà máy điện nguyên tử ở Bradwell-on-Sea, Essex.

Tuần trước, một tác giả khác, Ambrose Evans-Richard viết trên tờ The Telegraph rằng Anh Quốc không việc gì phải sợ Trung Quốc, vì theo ông, kinh tế Trung Quốc “đã lên tới đỉnh (peaked), và sẽ chỉ đi vào đình trệ”. Điều quan trọng nhất, theo Evans-Richard, là chế độ của Tập Cận Bình không có một đồng minh kinh tế nào nữa.

Ngoại giao Trung Quốc lên tiếng

Gần đây, giới ngoại giao Trung Quốc lên tiếng mạnh mẽ phản đối ‘sự bao vây” của Phương Tây và lên án các hoạt động của Mỹ, Anh ở châu Á.

Đại sứ Trung Quốc tại Anh, ông Lưu Hiểu Minh gần đây nhất xuất hiện trên chương trình phỏng vấn của phóng viên BBC Andrew Marr bác bỏ các cáo buộc về việc Trung Quốc giam giữ người Hồi giáo ở Tân Cương trong các trại cải tạo.

Ông Lưu Hiểu Minh nói với Andrew Marr rằng người Uighurs được đối xử giống như bất kỳ các nhóm sắc tộc nào khác ở Trung Quốc.

Trong một động thái khác thường, tuần trước, trang Facebook của Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội đăng bài của Tổng biên tập Hoàn cầu Thời báo, ông Hồ Tích Tiến, cảnh báo Việt Nam không đứng về phía Hoa Kỳ.

“Quan hệ quốc tế như trò trẻ con, thích dở mặt thì dở mặt. Mỹ hiện dành muôn vàn cưng chiều cho Việt Nam, mục đích chỉ có một, đó là ly gián quan hệ Trung– Việt, dung túng Việt Nam đối trọng với Trung Quốc trong vấn đề trên biển khiến Việt Nam cũng trở thành con cờ phục vụ cho chiến lược Mỹ chèn ép Trung Quốc.”

Ông giải thích về các lý do vì sao quan hệ Trung – Việt quan trọng, gồm cả câu về ý thức hệ chung: xã hội chủ nghĩa”, và “thực lực giữa Trung Quốc và Việt Nam là không sao thay đổi”.

Điểm quan trọng hơn cả, theo ông Hồ Tích Tiến, là Việt Nam cần trách bị Hoa Kỳ “lợi dụng”.

Vài hôm sau, nội dung bài của ông Hồ Tích Tiến bằng tiếng Việt đăng tải nhân dịp Mỹ – Việt kỷ niệm 25 năm quan hệ ngoại giao đã bị bỏ khỏi trang Facebook của Đại sứ quán TQ tại Việt Nam.

BBC.COM

Ông Tập Cận Bình lặp đi lặp lại về ‘vai trò trọng tâm của Đảng Cộng sản’ – BBC News Tiếng Việt

TBT Tập Cận Bình nhắc lại định hướng ‘Đảng lãnh đạo tổng thị toàn cục’ cho đất nước và xã hội Trung Quốc.

“Một dân tộc không thích đọc sách là một dân tộc không có hy vọng” – Trí Thức VN

Từ Thức to TT GROUP

Chỉ cần đổi chữ ”người Trung quốc” trong bài thành người An Nam. Khỏi phải viết bài khác

Mới đây, bài viết có tiêu đề “Người Trung Quốc không đọc sách khiến người ta quan ngại” của một kỹ sư người Ấn Độ rất nổi tiếng trên mạng.