Ai có thể đánh bại được Cộng sản?

Ai có thể đánh bại được Cộng sản?

Nguyễn Hưng Quốc

Nhìn lại lịch sử tranh chấp giữa hai khối tư bản và Cộng sản trong gần suốt thế kỷ 20, nhận xét đầu tiên người ta có thể rút ra là: Không ai có thể đánh bại được Cộng sản. Nhận xét ấy được hỗ trợ bởi hai bằng chứng:

Thứ nhất, trên phạm vi toàn cầu, trong 70 năm đầu tiên, chủ nghĩa Cộng sản phát triển cực nhanh, nhanh đến độ dường như không có ai và không có cái gì có thể ngăn cản được. Ra đời tại Nga năm 1917, năm năm sau, 1922, Liên bang Xô Viết được thành lập với vai trò nòng cốt của Nga, châu tuần bởi các nước láng giềng nhỏ của Nga, như Ukraine, Belarus, Georgia, Armenia và Azerbaijan. Sau đó, một số nước khác bị sáp nhập vào Liên bang Xô Viết, như Estonia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Latvia, Lithuania, Moldova, Tajikistan, Turkmenistan và Uzbekistan. Đến giữa thập niên 1980, Liên bang Xô Viết, với diện tích trên 22 triệu cây số vuông và đường biên giới trên 60.000 km, chiếm đến một phần sáu diện tích trái đất, rộng bằng cả Bắc Mỹ. Năm 1945, sau Đệ nhị thế chiến, một số nước thuộc Trung Âu và Đông Âu lần lượt rơi vào tay Cộng sản: Albania, Ba Lan, Bosnia, Bulgaria, Croatia, Đông Đức, Hungary, Macedonia, Montenegro, Romania, Serbia, Slovakia, Slovenia, Tiệp Khắc, Nam Tư. Sau đó nữa là các nước thuộc châu Á và châu Phi, như Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Afghanistan, Campuchia, Congo, Mông Cổ, Yemen, Angola, Benin, Congo, Ethiopia, Somalia, Eritrea và Mozambique. Vào giữa thập niên 1980, khối Cộng sản rất mạnh, chiếm một phần ba dân số thế giới. Cho đến lúc ấy, câu khẩu hiệu chủ nghĩa Marx-Lenin hoặc chủ nghĩa Cộng sản bách chiến bách thắng vang lên khắp nơi. Dân chúng ở các nước Cộng sản, vốn bị nhồi sọ, tin điều đó, đã đành. Ngay phần lớn dân chúng ở Tây phương, tuy biết tất cả những mặt trái đầy tiêu cực của chủ nghĩa Cộng sản, vẫn không tin là Tây phương có thể đánh bại được Cộng sản.

Thứ hai, dù cả hai bên, tư bản và Cộng sản, lúc nào cũng cố gắng tự kiềm chế, nhưng ít nhất cũng có hai nơi cuộc chiến tranh lạnh đã biến thành chiến tranh nóng: Ở Triều Tiên trong ba năm, 1950-1953, và ở Việt Nam, từ 1954 đến 1975. Ở trận chiến đầu, hai bên hòa nhau, Triều Tiên bị chia đôi, Nam và Bắc. Điểm phân cách vẫn là vĩ tuyến 38, đúng với quyết định của phe Đồng Minh trong hội nghị Potsdam vào tháng 8 năm 1945. Ở trận chiến sau, Mỹ tự nhận là thua sau khi rút khỏi Việt Nam vào tháng 4 năm 1975. (Về điểm này, tôi có phân tích khá kỹ trong bài “1975: Việt Nam có thắng Mỹ?”. Ở đây, tôi tạm thời chấp nhận cách nhìn quen thuộc và phổ biến để khỏi bị gián đoạn mạch lý luận trong bài viết này.)

Có điều, từ nhận xét nêu ở đầu bài viết, không ai có thể đánh bại được Cộng sản, người ta lại chứng kiến một sự kiện oái oăm vào thời điểm bản lề giữa hai thập niên 1980 và 1990: chủ nghĩa Cộng sản đã bị sụp đổ trên phạm vi toàn cầu. Cái gọi là “sụp đổ” ấy có hai mức độ: sụp đổ hoàn toàn và sụp đổ một phần, hơn nữa, phần lớn. Nhưng dù sụp đổ hoàn toàn hay sụp đổ một phần thì cũng vẫn là sụp đổ. Một sự sụp đổ lớn lao, nhanh chóng, và đặc biệt, hoàn toàn nằm ngoài dự kiến của mọi người ở mọi phía.
Sự sụp đổ hoàn toàn diễn ra ở Nga, Đông Âu, Trung Âu, Trung Đông, Trung Mỹ và châu Phi.

Trước hết, ở châu Âu, chỉ trong vòng chưa tới ba năm, toàn bộ các đảng Cộng sản đang nắm quyền sinh sát gần như tuyệt đối ở Đông Âu và Trung Âu đều mất sạch quyền hành; chế độ độc đảng trở thành đa đảng; bầu cử tự do được tổ chức khắp nơi, các thành phần đối lập hoặc lên cầm quyền hoặc được chia quyền (ở Ba Lan, ngày 4/6/1989; Turkmenistan 7/1/1990; Uzbekistan 18/2/1990; Lithuania 24/2/1990; Moldova 25/2/1990; Kyrgyzstan 25/2/1990; Belarus 3/3/1990; Nga 4/3/1990; Ukraine 4/3/1990; Đông Đức 18/3/1990; Estonia 18/3/1990; Latvia 18/3/1990; Hungary 25/3/1990; Kazakhstan 25/3/1990; Slovenia 8/4/1990; Croatia 24/4/1990; Romania 20/5/1990; Armenia 20/5/1990; Tiệp Khắc 8/6/1990; Bulgaria 10/6/1990; Azerbaijan 30/9/1990; Georgia 28/10/1990; Macedonia 11/11/1990; Bosnia & Herzegovina 18/11/1990; Serbia 8/12/1990; Montenegro 9/12/1990; và Albania 7/4/1991). Liên bang Xô Viết tan rã. Hầu hết các quốc gia trước đây bị sáp nhập vào Liên bang đều tuyên bố độc lập hoặc tự trị. Ngay cả ở Nga, đảng Cộng sản không những bị mất quyền mà còn bị khinh bỉ và tẩy chay, không còn đóng vai trò gì trên bàn cờ chính trị quốc nội.
Xin lưu ý; sự sụp đổ của chế độ Cộng sản ở các nước trên đều diễn ra rất gọn gàng, không gây xáo trộn và đặc biệt, không đổ máu, trừ Romania, nơi Ceaușescu bị lật đổ và giết chết, kéo theo cái chết của khoảng 1.100 người khác.

Sự sụp đổ ấy nhanh chóng lan sang các vùng khác, đặc biệt các vùng Trung Mỹ, Trung Đông và châu Phi. Năm 1990, ở Nicaragua, sau một cuộc bầu cử tự do, đảng Cộng sản mất quyền; ở Angola, cuộc chiến giữa Cộng sản và phe chống Cộng chấm dứt; năm 1991, ở Ethiopia, Trung tá Mengistu Meriam, nhà độc tài Cộng sản từng thống trị đất nước suốt gần 15 năm, chạy trốn khỏi đất nước, và Eritrea tuyên bố tách khỏi Ethopia, trở thành độc lập và từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản. Ở Trung Đông, năm 1990, chế độ Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Yemen bị sụp đổ, sau đó, hợp nhất với Nam Yemen, thành lập nước Cộng hòa Yemen; ở Afghanistan, chế độ Cộng sản của Najibullah sụp đổ vào mùa xuân 1992.

Sự sụp đổ một phần diễn ra ở Trung Quốc, Lào, Cuba và Việt Nam.

Chế độ Cộng sản, như nó từng tồn tại từ năm 1917 đến cuối thập niên 1980, dựa trên ba nền tảng chính: Về ý thức hệ, dựa trên chủ nghĩa Marx-Lenin; về kinh tế, dựa trên chính sách quốc hữu hóa và nguyên tắc kế hoạch hóa tập trung; và về bộ máy quyền lực, dựa trên sức mạnh độc tôn của đảng, công an và quân đội. Ở cả bốn quốc gia kể trên, từ đầu thập niên 1990, nền tảng ý thức hệ coi như đã bị phá sản; nền tảng kinh tế cũng bị biến chất theo chiều hướng tư bản hóa. Trên cái thế kiềng ba chân của chế độ, hai chân đã bị sụp. Chỉ còn một chân là bộ máy quyền lực. Gọi chế độ Cộng sản ở bốn quốc gia này bị sụp đổ một phần, thậm chí, phần lớn, là vậy.

Trên thế giới hiện nay, chỉ có một quốc gia duy nhất còn giữ được chế độ Cộng sản chính thống và “truyền thống” trước năm 1990, đó là Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên, không ai xem đó là điều đáng tự hào. Ngược lại. Nó chỉ bị xem là một thứ quái thai.

Như vậy, chúng ta chứng kiến một nghịch lý: một mặt, có cảm tưởng như không ai có thể đánh bại được Cộng sản; mặt khác, chỉ trong vòng mấy năm thật ngắn ngủi, tất cả, với những mức độ khác nhau, đều thi nhau ngã gục. Vậy thì ai đánh bại nó?
Có nhiều câu trả lời đã được đưa ra. Nhưng câu trả lời được nhiều học giả đồng tình nhất là: Không có ai đánh bại Cộng sản cả. Chỉ có Cộng sản mới đánh bại được Cộng sản.

Cộng sản đánh bại Cộng sản bằng cách nào?

Bằng nhiều cách. Thứ nhất, bằng các sai lầm có tính hệ thống trong kinh tế khiến nước Cộng sản nào cũng nghèo đói xơ xác. Giữa thập niên 1980, phần lớn các cửa hàng quốc doanh, kể cả cửa hàng thực phẩm, ở phần lớn các nước Cộng sản, bao gồm cả Liên Xô, đều trống không. Nợ nước ngoài chồng chất. Riêng Ba Lan, nơi chế độ Cộng sản sụp đổ đầu tiên, nợ các nước Tây phương đến trên 100 tỉ đô la và đối diện với nguy cơ không thể trả được. Thứ hai, tình hình kinh tế tồi tệ ấy càng tồi tệ thêm nữa do nạn tham nhũng tràn ngập ở mọi cấp. Thứ ba, những thất bại về kinh tế, sự hoành hành của tham nhũng và những chính sách độc tài tàn bạo của chính quyền làm dân chúng bất mãn và nổi dậy tranh đấu đòi thay đổi chính sách, đặc biệt, dân chủ hóa. Cuối cùng, đối diện với tất cả các vấn đề ấy, hầu như mọi người, kể cả các cán bộ cao cấp nhất, đều mất hẳn niềm tin vào chủ nghĩa Cộng sản. Họ biết chắc chắn một điều: họ không thể tiếp tục tồn tại được nếu họ không tự thay đổi. Chính sách glasnost và perestroika của Mikhail Gorbachev ra đời là để đáp ứng lại nhu cầu đó. Nhưng ngay cả khi đưa ra chính sách cải tổ và tái cấu trúc như vậy, giới lãnh đạo vẫn không an tâm hẳn. Họ biết đó chỉ là những biện pháp vá víu. Tự thâm tâm, tất cả đều mất niềm tin vào chế độ.
Chính vì mất niềm tin như vậy nên ở những thời điểm quan trọng nhất, mọi người đều đâm ra hoang mang, không ai dám quyết định điều gì. Ngày 9 tháng 11 năm 1989, khi dân chúng đổ xuống đường biểu tình trước bức tường Bá Linh, bộ đội và công an, dù đông hơn hẳn, không biết đối phó thế nào. Họ gọi điện thoại lên cấp trên. Các cấp trên của họ sợ trách nhiệm, cứ đùn qua đẩy lại với nhau: Cuối cùng bức tường bị đổ. Ở Nga cũng vậy, trước các cuộc xuống đường của dân chúng, không ai dám ra lệnh quân đội hay công an nã súng vào dân chúng: cuối cùng, chế độ sụp.

Không phải cán bộ, công an hay giới lãnh đạo bỗng dưng nhân đạo hơn. Không. Ở đây không phải là sự thay đổi trong tính khí. Mà ở nhận thức. Tất cả đều nhận thức được sâu sắc mấy điểm chính: Một, ngày tàn của chế độ Cộng sản đã điểm; nó không thể tồn tại thêm được nữa. Hai, nó cũng không thể cứu được. Mọi nỗ lực cứu vớt đều tuyệt vọng và chỉ gây tai họa không những cho đất nước mà còn cả cho chính bản thân họ. Cuối cùng, như là hệ quả của hai điều ấy, chọn lựa tốt nhất mà họ nên làm là buông tay bỏ cuộc.

Cả ba nhận thức ấy đều không thể có nếu không có hai điều kiện: Thứ nhất, người ta có dịp so sánh với sự giàu có, tự do và dân chủ ở Tây phương và thứ hai, các nỗ lực tranh đấu không ngưng nghỉ của dân chúng, đặc biệt giới trí thức, trong việc vạch trần các sai lầm và tội ác của chế độ. Cả hai điều kiện đều quan trọng, nhưng điều kiện thứ nhất chỉ có thể phát huy được tác dụng là nhờ điều kiện thứ hai.

Những sự phê phán và tranh đấu cho dân chủ liên tục càng ngày càng làm nổi bật sự khác biệt sâu sắc giữa tự do và toàn trị, càng làm lung lạc niềm tin ngay cả ở những kẻ cuồng tín và mê tín nhất, cuối cùng, cô lập những kẻ lì lợm bám víu vào bộ máy độc tài. Khi sự cô lập đến mức độ nào đó, người ta chỉ còn hai lựa chọn: hoặc trở thành Gorbachev hoặc trở thành Ceaușescu (hay gần hơn, Muammar Gaddafi ở Libya).

Nguyễn Hưng Quốc

From: TU-PHUNG

Người Cyclo ở Tp. HCM năm 2019 và người phu xe ở Tokyo năm 1905

Vì đâu nên nỗi, do dân trí hay do tình trạng xã hội suy đồi, giáo dục lệch hướng gây nên???

Image may contain: 2 people, people standing, sky and outdoor

Chau Nguyen Thi

Người Cyclo ở Tp. HCM năm 2019 và người phu xe ở Tokyo năm 1905

Cụ Oki (ngoài cùng, bên trái) chụp ảnh kỷ niệm cùng gia đình ở phố đi bộ Nguyễn Huệ NVCC

Phan Bội Châu kể :

Cuối năm 1905, Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ dành dụm được vài đồng bạc làm hành phí để lên Tokyo tìm cho được anh học sinh Trung Quốc, quê Vân Nam có tên Ân Thừa Hiến. Xuống khỏi xe lửa, 2 người gọi một phu xe và đưa danh thiếp “Ân Thừa Hiến” ra. Người phu xe này kéo xe chở Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ đến một khách sạn tìm người nhưng đến nơi thì người đó đã chuyển chỗ, không để lại địa chỉ, nhưng anh phu xe bảo cứ đứng đợi để anh ta đi tìm người đó giúp. Sau ba giờ anh ta đã tìm thấy nơi ở mới của người đó và chở 2 ông đến tận nơi để gặp người cần gặp. Phan Bội Châu đưa một đồng bạc trả công cho người phu xe. Nhưng anh ta từ chối, chỉ lấy hai mươi lăm xu, và nói: “Theo giá cả của Bộ Nội vụ định, giá xe từ chỗ kia đến đây chỉ hai mươi lăm xu, tôi chỉ lấy đúng như vậy. Vả lại, các ngài vì mến mộ nền văn minh Nhật Bản mà qua đây, chúng tôi rất hoan nghênh, chứ có phải vì tiền mà tận tụy với các ngài đâu”.

Cử chỉ và lời nói ấy của người phu xe Nhật Bản khiến Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ kinh ngạc, thán phục và …lòng thêm tủi .

GẦN 115 NĂM SAU, Ở TPHCM, VIỆT NAM

Báo Thanh Niên hôm nay 4/8/2019 viết:

Ngày 3.8, cụ Oki Toshiyuki (83 tuổi, du khách Nhật Bản) muốn được ngắm nhìn Sài Gòn khi còn vắng xe cộ nhưng lại có một trải nghiệm… ngỡ ngàng…. Trên đoạn đường ngắn về lại khách sạn khoảng 5 phút, cụ Oki có ý định sẽ gởi tài xế xích lô 500 ngàn đồng để cám ơn khi đến nơi. Tuy nhiên, anh xích lô chỉ thả cụ gần khách sạn, cụ rút bóp ra, lấy 1 tờ 500 ngàn đồng đưa cho anh này thì anh này… tỏ ý đòi thêm. Cụ cũng đồng ý, nhưng người già tay chân chậm chạp, chưa kịp lấy thêm tiền thì anh xích lô thò tay vào bóp cụ, lấy hết 5 tờ 500 ngàn và 2 tờ 200 ngàn của cụ rồi bỏ đi.

xxxx

Tôi nghĩ, đây chính là vấn đề DÂN TRÍ của một dân tộc. Không lẽ dân trí người Việt năm 2019 lại không bằng dân trí người Nhật năm 1905 sao?

Việc Tổng thống Mỹ Trump lần đầu tiên ban hành sắc lệnh cấm sử dụng WeChat

Image may contain: 1 person

Tinh Hoa

Hôm 6/8, việc Tổng thống Mỹ Trump lần đầu tiên ban hành sắc lệnh cấm sử dụng WeChat đã đánh vào trung tâm giám sát mạng của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), vì ứng dụng di động này liên quan mật thiết đến mọi mặt của đời sống kinh tế và xã hội Trung Quốc.

Tờ Washington Post đưa tin, các lệnh trừng phạt của Tổng thống Trump đánh dấu nỗ lực đầu tiên của Hoa Kỳ nhằm chống lại hệ thống kiểm duyệt “Vạn lý Tường lửa” của ĐCSTQ. Bởi trước nay ĐCSTQ vẫn luôn kiểm soát người dân bằng cách xây dựng bức tường ảo của riêng mình, chính là các ứng dụng như TikTok, WeChat.

Bài báo viết: “Rõ ràng là chính quyền Tổng thống Trump đang ngắm chuẩn vào một dịch vụ có vị trí cực kỳ trọng yếu trong đời sống xã hội, thương mại và giao dịch ngoại thương của Trung Quốc”.

Bà Danielle Cave, Phó giám đốc Trung tâm Chính sách Internet Quốc tế thuộc Viện Chính sách Chiến lược Úc, cho biết: “WeChat không chỉ là một ứng dụng trò chuyện. Nó là một trong số ít siêu ứng dụng ‘tất cả trong một’ trên thế giới mà người dùng có thể sử dụng để nhận tin tức, thanh toán hóa đơn, đặt chỗ du lịch và mua sắm trực tuyến”.

Các công ty Trung Quốc từ trước đến nay luôn không có uy tín trong việc bảo vệ quyền riêng tư của khách hàng. Mặc dù Tencent đã nhiều lần tuyên bố rằng dữ liệu của người dùng quốc tế được lưu trữ ở nước ngoài và hoạt động kinh doanh của WeChat ở các thị trường phương Tây vẫn còn rất hạn chế, nhưng sự kiểm soát của WeChat đối với người Trung Quốc ở nước ngoài lại khiến người ta cực kỳ kinh ngạc.

Trong bức thư Tổng thống Trump gửi các nhà lãnh đạo Nghị viện hôm 6/8 viết rằng: “WeChat vẫn có thể theo dõi thông tin cá nhân và bí mật của công dân Trung Quốc khi họ đến Hoa Kỳ, do đó giúp ĐCSTQ có được một cơ chế giám sát chặt chẽ tình hình của các công dân Trung Quốc – những người mà có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời họ được hưởng lợi ích của xã hội tự do”.

“Theo báo cáo, giống như TikTok, WeChat cũng sẽ kiểm duyệt nội dung mà ĐCSTQ cho là nhạy cảm về mặt chính trị và cũng có thể được sử dụng để thực hiện các hoạt động tuyên truyền thông tin sai lệch có lợi cho ĐCSTQ”.

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng WeChat vẫn là nguồn tiếp nhận tin tức phổ biến nhất của cộng đồng người Hoa di cư ra nước ngoài, điều này khiến người Hoa ở nước ngoài cực kỳ dễ bị ảnh hưởng bởi thông tin sai lệch từ ĐCSTQ.

Trong những năm gần đây, cộng đồng người Hoa ở New York và những nơi khác đã nổi lên tranh cãi về việc WeChat lan truyền tin tức sai sự thật về chính trị ở Hoa Kỳ.

Năm 2018, nhà nghiên cứu Trương Trì (Zhang Chi) thuộc “Trung tâm Tin tức Kỹ thuật số” của Mỹ phát hiện ra rằng, 79% tin tức của người dùng tiếng Trung Quốc đến từ các nhóm trò chuyện WeChat. Một cuộc khảo sát đối với những người nói tiếng Quan Thoại ở Úc cũng cho thấy, 60% người được hỏi cho biết WeChat là nguồn lấy tin tức và thông tin chính của họ.

Trước đây, trong một cuộc phỏng vấn với tờ The Epoch Times, ông Hoành Hà (Heng He), một chuyên gia về các vấn đề Trung Quốc, nói rằng WeChat là một công cụ quan trọng để ĐCSTQ can thiệp vào công việc nội bộ của Hoa Kỳ. Bởi vì hiện nay vẫn còn một tỷ lệ khá cao số người Hoa ở Mỹ vẫn đang đọc tin tức từ WeChat, vậy nên việc ĐCSTQ sử dụng WeChat để tiến hành phong tỏa tin tức hiệu quả hơn bất kỳ công cụ nào trong quá khứ.

Ngoài ra, tin tức về việc chính quyền Trung Quốc dựa vào lịch sử cuộc trò chuyện trên WeChat để theo dõi những người bất đồng chính kiến ​​ở Trung Quốc, chặn tài khoản người dùng và các nhóm WeChat ở nước ngoài cũng liên tiếp bị phanh phui.

Tính đến tháng 4 năm nay, hàng nghìn Hoa kiều đã tham gia vụ kiện tập thể chống lại WeChat.

Vào ngày 30/5, Ủy ban Liên minh Bảo vệ Quyền lợi người Trung Quốc của Hoa Kỳ đã công khai một bức thư cho biết, Tencent đã kiểm duyệt và đơn phương chặn, khóa tài khoản, khóa nhóm của người dùng WeChat ở nước ngoài với lý do có nội dung nhạy cảm và vi phạm các quy định. Họ đã can thiệp vào quyền tự do ngôn luận của người Mỹ gốc Hoa, can thiệp và phá hoại nền chính trị của người Mỹ gốc Hoa và can thiệp vào cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ. Những hành vi nay vi phạm nghiêm trọng luật pháp Hoa Kỳ, vi phạm nghiêm trọng quyền tự do ngôn luận và quyền hợp pháp của công dân theo Hiến pháp Hoa Kỳ.

Trước cuộc bầu cử liên bang năm 2019 ở Canada, cơ quan an ninh mạng của Nghị viện nước này đã bất ngờ đưa ra cảnh báo về sự nguy hiểm của WeChat, cảnh báo các Nghị sĩ và viên chức làm việc trong Nghị viện không được sử dụng WeChat vì nó có “rủi ro an ninh mạng tiềm ẩn”.

Theo The Epoch Times

XUẤT KHẨU BẢN CHẤT CÔN ĐỒ CỘNG SẢN!

Image may contain: one or more people, people standing, house and outdoor
Image may contain: 1 person, standing
Image may contain: 1 person, text that says 'L EXCLUSIVE: THE SHOCK SCENES THAT GREETED DEMONSTRATORSYESTERDAY DEMONSTRATORS Embassy gun drama sparks probe by F.O. restrained someone @embasey'
Ngô Thứ

XUẤT KHẨU BẢN CHẤT CÔN ĐỒ CỘNG SẢN!

Cách nay 31 năm, ở thủ đô Luân Đôn (London) của Anh Quốc, có một nhóm người Việt tị nạn (thuyền nhân) diễu hành biểu tình chống ngày kỷ niệm 30.4.1975 trước cửa Đại sứ quán Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Bỗng nhiên có một thanh niên đeo kính cận chạy từ bên trong Sứ quán ra, rút một khẩu súng ngắn, dang hai chân, quỳ người xuống theo tư thế xạ thủ, hai tay cầm súng chĩa nhắm bắn về phía đoàn người đang biểu tình bất bạo động! Hình ảnh bạo lực nầy quả hy hữu, lạ mắt vô cùng đối với giới báo chí và người Anh! Không may cho hắn, là người biểu tình đã chụp được: “nguyên trạng” hắn ta với cây súng lăm lăm trong tay ở tư thế: “chuông reo là bắn”.

Lúc đó xã hội Việt Nam còn: “kín mít” gần như Bắc Hàn hôm nay. Dân đen sợ công an hơn sợ cọp. Công an là lực lượng kiêu binh, muốn: “xử” ai là “xử”. Có lẽ tên kia nghĩ rằng thủ đô London cũng chỉ như là…Hà Nội mà thôi nên sang nước Anh cũng chĩa súng dọa người! Hôm sau, tấm hình: “lịch sử ngoại giao” gần 31 năm trước về việc một nhân viên ngoại giao Việt Nam ở Anh quốc dùng súng chĩa vào đoàn người Việt biểu tình đòi…bắn đã nhất loạt được báo chí Anh quốc cho lên trang nhất! Thân phận: “sát thủ đầu còn…mưng mủ” kia lộ tẩy: hắn ta là…đệ tam tham tán của Đại sứ quán Việt Nam.

Nước Anh bị sốc nặng với hành vi: “ngoại giao” của phía Việt Nam. Họ không tài nào “tiêu hóa” nổi cái “văn hóa ngoại giao Xã Hội Chủ Nghĩa” nầy nên đã ra lệnh trục xuất “nhà ngoại giao” kia ra khỏi Anh trong vòng 48 tiếng đồng hồ sau khi điều tra. Đại sứ quán Việt Nam đã: “nỗ lực” vớt vát với bào chữa rằng ngài tham tán chỉ đùa, và nói rằng cây súng đó làm bằng Sô-cô-la! Nhận ra lý do súng làm bằng sô-cô-la có vẻ quái đản quá (vì loại súng ngọt ngào này thường chỉ phụ nữ mới thích chứ đàn ông ít ai…thèm), Sứ quán Việt Nam tại Luân Đôn sau đó lại gãi đầu bảo đó chỉ là súng…nước! (dù súng nước thì vẫn là loại phụ nữ…thích, còn nam nhi chỉ thích súng lục làm bằng kim loại cơ).

Không chỉ báo chí Anh quốc mà báo tiếng Việt ở nước ngoài đều đưa tin và đăng ảnh. Tòa Đại Sứ, khi bị triệu đến Bộ Ngoại giao Anh để trả lời về việc nầy, đã cho rằng đó là súng giả. Lập luận bào chữa trẻ con đó dĩ nhiên sao được Scotland Yard chấp nhận? Với năng lực của cảnh sát Anh thì sau đó Đại sứ quán Việt Nam đã phải nộp lại súng thật. Và rồi, quyết định trục xuất: “ngài tham tán” ra khỏi Anh quốc sau 48 giờ được thi hành; tên tham tán nầy đã phải rời nước Anh, vĩnh viễn không bao giờ được phép trở lại dù với thân phận gì. Chính quyền Anh lúc đó gần như muốn đóng cửa đại sứ quán Việt Nam vì vụ xì căng đan nầy.

Với tâm thế của kẻ bề trên quen thói hành xử bạo ngược đè nén dân lành trong nước của những: “cường hào, ác bá” thời Phong Kiến Xã Hội Chủ Nghĩa, dù miệng luôn rao giảng chế độ mình là hiện thân dân chủ, mọi thứ đều là: “của dân”, mọi việc làm đều: “vì dân”, “do dân” mà thành, họ đã: “xuất khẩu” cái căn tính côn đồ, có cội rễ từ nền tảng: “chuyên chính vô sản”, “bạo lực cách mạng”, ‘‘chính quyền trên đầu súng” của chủ thuyết Marx – Lenin – Mao, ra thế giới văn minh, nơi mọi việc đều phải hành xử theo pháp luật. Đúng là: “giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”!

Copy : Thanh Bình

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=1389450331250636&id=100005570465352  

Sự hãnh tiến và tự mãn quá mức của chính quyền Việt Nam trước nCovid

Sự hãnh tiến và tự mãn quá mức của chính quyền Việt Nam trước nCovid

VietTuSaiGon

Nguy hiểm nhất của đời người, nhóm người, tổ chức, quốc gia… không phải là sự thất bại mà là sự hãnh tiến, tự mãn. Điều đó đã ứng với Việt Nam, nhìn trên góc độ nào cũng thấy Việt Nam đã quá hãnh tiến, quá tự mãn trong đợt chống dịch đầu năm, để đến bây giờ, mọi sự đã quá muộn màng. Nói mọi sự quá muộn màng liệu có quá bi quan không? Không! Đây là một sự thật mà chắc chắc trong thời gian tới, Việt Nam phải đối mặt!

Bởi trong đợt chống dịch vào tháng Tư, Việt Nam kịp thời khóa các cửa khẩu với Trung Quốc, các chuyến hàng giao dịch giữa hai nước được cách ly rất tốt, chuyến xe lửa Việt Nam – Trung Quốc được tổ chức cách ly sau khi về nước, khử trùng đầy đủ và đặc biệt các đường biên giới được canh giữ kĩ càng, dường như không có người Việt sang Trung Quốc và ngược lại. Sở dĩ có chuyện này bởi hầu hết người dân đều rất sợ, phải nói là rất sợ dịch bệnh, bởi dù không nói ra nhưng ai cũng hiểu hoàn cảnh đất nước, nhân tình thế thái, ví dụ như Mỹ, hay cả Trung Quốc có bị dịch chết tràn lan cả năm trời thì mức độ khủng hoảng cũng không bằng việc nó xảy ra tại Việt Nam chừng vài tháng. Chính vì lẽ này mà người người, nhà nhà ý thức tự cách ly, tự tránh dịch.

Thế rồi thời gian chống chọi với dịch cũng qua, không có cái chết nào do dịch (hoặc có mà không được loan báo cũng không chừng!). Sau sự vụ chống dịch, hầu hết các đảng viên Cộng sản đều tự hào ra mặt, đều dương dương vỗ ngực về thiên đường xã hội chủ nghĩa của họ. Và không dừng ở đó, ngay cả báo chí nhà nước và báo chí phi nhà nước cũng có những nhận định hết sức ầu ơ. Nếu báo chí nhà nước tha hồ ca ngợi, tung hê thành quả chống dịch thì báo chí phi nhà nước lại đặt câu hỏi tại sao người Việt Nam có thể kháng được dịch? Hay là do người Việt Nam quen ở bẩn? Cả hai khuynh hướng viết tuy trái chiều nhưng lại có chung hệ quả: Gieo rắc vào tâm lý người Việt tính chủ quan, không sợ dịch, nghĩ rằng dịch chỉ có ở nước khác, nó sợ Việt Nam. Về phía chính phủ, từ các Phó Thủ tướng cho đến Thủ tướng đều không ngớt tự đắc, ông Vũ Đức Đam tuyên bố “Dịch hoành hành ở đâu không biết, nhưng sang Việt Nam thì nó phải bị dập chết!”, ông Thủ tướng còn gân cổ hơn: “Nếu cây cột điện Mỹ có chân thì nó cũng chạy vào Việt Nam!”.

Tất cả các cơ ngôn luận từ truyền thông mậu dịch cho đến phi mậu dịch, từ ngành y tế cho đến chính phủ đều tỏ ra hãnh tiến, thậm chí tự mãn, tạo ra bầu không khí tự đắc từ Nam chí Bắc. Và, không dừng ở lời nói, Thủ tướng chỉ đạo phải tiến hành phục vụ du lịch trở lại, kêu gọi du lịch trong nước, tạo điều kiện cho các công ty lữ hành hoạt động chống lỗ… Nói chung là “cứu du lịch”. Mọi chuyện kiếm tiền từ du lịch nghe cứ như cháy rừng bên cạnh, lũ quét sắp kéo qua. Kết quả là ngành du lịch đua nhau kéo khách, các hãng lữ hành chạy đường dây đen, kéo hàng ngàn người Trung Quốc sang Việt Nam. Đương nhiên là ngành biên phòng không khỏi nhúng tay vào, vấn đề là kẻ nào nhúng tay, cho đến giờ này vẫn chưa ai biết. Nhưng chí ít nó gợi lại chuyện bán biển thời sau 1975, hầu hết dân đi biển mua biển từ biên phòng để đi vượt biên, nếu không bị lộ thì họ thả cho đi luôn, nếu có dấu hiệu cấp trên phát hiện thì họ bắn chìm tàu hoặc bắt ngược trở lại giao cho công an, sau đó mở tòa, kết án… Bài này rất quen!

Khi mọi thứ đều trở nên lỏng kẻo vì chủ quan, lãnh đạo thì dương dương vỗ ngực khoe thành tích, thậm chí mạo phạm cả một siêu cường như Mỹ, người dân thì lao vào kiếm tiền, bất chấp, ngành y tế thì lúc nào cũng hất mặt lên trời trước thiên hạ (sau đợt chống dịch đầu tiên, chính phủ tuyên bố thành công thì hầu hết cán bộ y tá đều tỏ ra hách dịch, xem mình là tinh hoa của quốc gia, cách hành xử của họ với bệnh nhân khác trước đó rất nhiều, coi thường, kiêu ngạo trước bệnh nhân và người nhà của họ, chuyện này diễn ra khắp mọi nơi. Và hình như người dân cũng tỏ ra kiêng dè, nễ sợ y bác sĩ hơn trước…), ngay cả ngành giáo dục cũng vỗ ngực xưng hô thành tích chống dịch… Nhìn chung là không khí tự sướng diễn ra khắp mọi thành phần, mọi ngành nghề. Và trong lúc người ta say sưa, mãi mê tự sướng thì có ít nhất hàng trăm người thu lợi bất chính, bất chấp để đưa hàng chục ngàn người Trung Quốc vào Việt Nam. Và rồi chuyện gì đến cũng phải đến. Đợt dịch thứ hai bùng phát ngay trung tâm du lịch bậc nhất Việt Nam – thành phố Đà Nẵng, thành phố mệnh danh “đáng sống” nhất Việt Nam!

Và, sau một thời gian dài “không có dịch” tại Việt Nam (có thể con số 189 ngày không có người chết vì dịch này cũng là con số ngộ nhận?!), Việt Nam chính thức khủng hoảng vì dịch, các ca dịch liên tiếp xuất hiện, F0 vẫn là một ẩn số, nhiều người Trung Quốc bị bắt nhưng vẫn chưa cho thấy đó là con số đầy đủ. Các F1 di chuyển khắp mọi miền đất nước và mức độ lây lan, mức độ lo lắng gần như có khắp mọi ngõ ngách. Nếu như ở đợt chống dịch đầu tiên, người ta chỉ khủng hoảng và lo lắng với những ca nhiễm có nguồn gốc, địa chỉ thì ở đợt chống dịch này, người ta chỉ nhìn thấy những ca được phát giác và chỉ nhìn thấy những ca F1, riêng thành phần F0 vẫn trong vòng bí mật, chẳng biết đâu mà lần!

Và hơn bao giờ hết, Việt Nam lúc này đứng trước nguy cơ vỡ trận nếu như ngành an ninh không tìm ra được nguồn F0. Hơn nữa, sau một đợt chống dịch hết sức cam go từ tháng Giêng đến tháng Tư, dường như mọi nhóm ngành nghề đều trong trạng thái mỏi mệt, chưa thể phục hồi, bây giờ nhận thêm một đợt chống dịch tiếp theo, đương nhiên khả năng cầm cự không cao như ban đầu mặc dù kinh nghiệm có khá hơn trước. Và mức độ rủi ro thì quá cao bởi nguồn lây lan chưa tìm ra, bởi lương thực bắt đầu cạn, bởi nguồn tài chính quốc gia suy kiệt, bởi chủ nợ Trung Quốc bắt đầu đòi mạnh tay (các hành vi xấm lấn trên biển Đông của họ lúc này không chỉ đơn thuần thể hiện óc bành trướng của Trung Quốc mà nó cho thấy họ biết bành trường mạnh tay lúc nào, khi con nợ bắt đầu đuối sức thì chủ cho vay nặng lãi mới xiết nhà. Trung Quốc lâu nay vẫn là chủ cho vay nặng lãi của Việt Nam, và Trường Sa, Hoàng Sa lâu nay vẫn là món gá nợ của Việt Nam. Hành vi im lặng của Việt Nam trước Trung Quốc không phải vô duyên vô cớ mà là sự lép vế mang tính nợ nần…), cơ sở điều trị dã chiến và trang thiết bị y tế có thể thiếu hụt nếu dịch bùng phát mạnh… Mọi thứ đều ẩn chứa nguy cơ rủi ro rất cao.

Đó là chưa muốn nói đến một vấn đề khác, mùa thiên tai lũ lụt cũng cận kề, nếu không giải quyết rốt ráo dịch bệnh trước mùa mưa thì nguy cơ đói kém của năm sau là hiện rõ trước mắt. Và, chỉ vì chủ quan, hãnh tiến và tự mãn quá đáng mà chúng ta đã trả giá quá đắt cho tương lai! Và, nếu chúng ta không dốc toàn lực để chống dịch, không dập dịch được trước mùa mưa thì hậu quả thật khó lường. Giả sử Việt Nam dập dịch rốt ráo trước mùa mưa thì cũng đừng tin mù quáng rằng cột điện Mỹ sẽ chạy sang Việt Nam. Vì cột điện Trung Quốc sát cạnh Việt Nam, nó đã chạy và sẽ còn chạy sang Việt Nam rất nhiều. Đừng mời bất kỳ cây cột điện nào vào Việt Nam nữa, cẩn thận và cẩn ngôn!

Chiến lược Mỹ “thoát Trung” của đảng Cộng Hòa.

Chiến lược Mỹ “thoát Trung” của đảng Cộng Hòa.

Nguyễn Quang Duy

“Muốn bảo vệ tự do cho nước Mỹ và tự do cho Thế giới, Trung Hoa phải có tự do” chính là tóm tắt chiến lược “thoát Trung” được giải thích qua 4 bài phát biểu của 4 vị lãnh đạo hành chánh Mỹ gần đây.

 

Mỹ thụ động và ngây thơ …

Ngày 24/6/2020, Cố vấn an ninh quốc gia Robert O’Brien nêu lên một sự thật phũ phàng là gần nửa thế kỷ qua các chính trị gia cả hai đảng, các nhà khoa bảng, nhà giáo dục, nhà báo, nhà kinh doanh Mỹ đều thụ động và ngây thơ (passivity and naivety) trước Trung cộng.

Người Mỹ không biết sự khác biệt giữa người dân Trung Hoa và đảng Cộng sản, một tổ chức theo chủ nghĩa Marxist-Leninist, mà Tập Cận Bình là hiện thân của Joseph Stalin.

Đảng Cộng sản không đại diện cho người dân Trung Hoa nên phải sử dụng bạo lực và tuyên truyền để kiểm soát cuộc sống của người dân, họ kiểm soát về kinh tế, về chính trị, về thể xác và quan trọng nhất là kiểm soát suy nghĩ của người dân.

Mỹ ảo tưởng khi Trung cộng giàu hơn, đảng Cộng sản sẽ thay đổi, người dân Trung Hoa sẽ được hưởng thành quả lao động và những giá trị tự do cũng như người Mỹ.

Trung cộng giàu hơn và mạnh hơn thì ngược lại đảng Cộng sản vi phạm nhân quyền thô bạo hơn.

Mỹ càng phụ thuộc vào thương mãi với Trung cộng thì Mỹ càng làm ngơ trước những vi phạm nhân quyền, quay đầu với những giá trị tự do của người Mỹ.

Khi Trung cộng giàu hơn, họ bỏ tiền tỷ, dùng ngay chính hệ thống giáo dục, truyền thông, mạng xã hội, điện ảnh Hollywood tuyên truyền về sự thành công của chủ nghĩa cộng sản, thay đổi cách suy nghĩ và cách sống của người Mỹ.

Đảng Cộng sản cho tin tặc xâm nhập những kho tài liệu cá nhân đánh cắp thông tin của người Mỹ để kiểm soát dân Mỹ cũng như họ đã kiểm soát người dân Trung Hoa.

Khi Trung cộng giàu và mạnh hơn, họ bỏ tiền mua chuộc các quốc gia nhỏ bé và kiểm soát các tổ chức quốc tế bao vây nước Mỹ, thực hiện tham vọng bá chủ thế giới.

Vì không hiểu chủ nghĩa cộng sản nên Mỹ tự bỏ cuộc hay thua cuộc chiến tranh ý thức hệ với đảng Cộng sản Trung Hoa.

 

Mỹ nhắm mắt, bịt tai…

Ngày 7/7/2020, Giám đốc Cục Điều Tra Liên Bang Mỹ (FBI) Christopher Wray cho rằng người Mỹ không thể tiếp tục nhắm mắt, bịt tai trước mối đe dọa của việc Trung cộng dùng thủ đoạn gián điệp kinh tế và an ninh tình báo để vượt mặt Mỹ trở thành cường quốc số một trên thế giới.

Cuộc chiến chống gián điệp Trung cộng diễn ra trên mọi lãnh vực: từ chính trị, đến các ngành công nghiệp, nông nghiệp, khoa học, hàng không, robot, chăm sóc sức khỏe, xảy ra trên từng địa phương, từng đại học, từng cơ quan nghiên cứu, từng công ty Mỹ và ngay tại Quốc Hội Mỹ.

Trung cộng cho cả giải phóng quân trong vỏ bọc những khoa học gia đến Mỹ để đánh cắp thông tin về thuốc chủng ngừa dịch cúm Vũ Hán, do các Viện đại học và các Viện dược phẩm Mỹ nghiên cứu và phát triển.

Có khoảng 2,500 cuộc điều tra đang được FBI tiến hành về việc đánh cắp công nghệ Mỹ của tình báo Trung cộng và cứ mỗi 10 giờ FBI phải mở một cuộc điều tra mới chống lại tình báo Trung cộng.

Trung cộng vừa chiêu dụ vừa đe dọa người Mỹ gốc Hoa, cũng như tìm mọi cách gây ảnh hưởng trên các chính trị gia, các nhà khoa học, các nhà giáo dục, nhà báo, và dư luận Mỹ để phục vụ cho tham vọng bá quyền đi ngược lại quyền lợi của nước Mỹ.

 

Mỹ bị bao vây kinh tế và chính trị…

Ngày 16/7/2020, tại Bảo tàng Tổng thống Gerald Ford, Bộ trưởng Tư pháp William Barr nhắc đến việc 50 năm về trước hai Tổng Thống Nixon và Ford mở cửa giúp Trung cộng vực dậy nền kinh tế.

Nhưng thay vì cạnh tranh tự do và công bằng với Mỹ, Trung cộng đã sử dụng các chiến thuật thao túng tiền tệ, thuế quan, hạn ngạch, trợ cấp nhà nước, bán phá giá, tấn công mạng, trộm cắp trí tuệ và gián điệp kinh tế.

Trung cộng đã giết chết các công ty công nghệ Mỹ, xâm chiếm và thống trị thị trường Mỹ, buộc nước Mỹ lệ thuộc vào hàng hóa và chuỗi cung ứng của Trung cộng.

Trung cộng đã vượt qua Hoa Kỳ về sản lượng sản xuất trong năm 2010 và họ muốn xuất cảng chủ nghĩa tư bản nhà nước để xây dựng các chế độ độc tài trên thế giới.

Toàn cầu hóa không phải lúc nào cũng theo hướng thị trường tự do, thương mại tự do hoặc trao đổi ý tưởng tự do.

Các công ty điện ảnh Hollywood, đến cả Disney, trước đây là trung tâm của tự do sáng tạo, nhưng ngày nay vì lợi nhuận ngắn hạn trên thị trường 1.4 tỷ người Trung Hoa nên đã tự kiểm duyệt, đã cúi đầu khuất phục trước nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh.

Công ty Cisco đã giúp đảng Cộng sản xây dựng bức tường lửa ngăn chận người dân Trung Hoa không vào được mạng lưới truyền thông toàn cầu Internet, các công ty Google, Microsoft, Yahoo và Apple đều đã cộng tác với nhà cầm quyền cộng sản.

Lãnh đạo nhiều công ty của Mỹ còn tự đảm nhận vai trò vận động hành lang và nhiều chính trị gia Mỹ đã tiếp tay ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi nước Mỹ.

Trung cộng còn dùng tiền kiểm soát hoặc đồng tổ chức một số các viện nghiên cứu học thuật của Mỹ, hay tìm cách ảnh hưởng đến việc nghiên cứu và việc giảng dạy của các Viện Đại Học tại Mỹ.

Trung cộng tập trung quyền lực xây dựng một chủ nghĩa xã hội vượt trội hơn chủ nghĩa tư bản, sáng kiến MADE IN CHINA 2025 là một kế hoạch thống trị các ngành công nghệ thông tin tiên tiến, robot, hàng không và xe điện, sáng kiến “Vành đai, Con đường” và mạng toàn cầu 5G nhằm kiểm soát cơ sở hạ tầng cho các công ty nhà nước Trung cộng xây dựng mạng lưới bao vây Mỹ và thống trị toàn cầu.

Đã có lúc người Mỹ cần hiểu rõ sự thâm độc của Trung cộng, cần coi mình là người Mỹ, cần tự hào bảo vệ quyền lợi và giá trị tự do của Mỹ.

 

Chiến lược Trung Hoa tự do…

Ngày 23/7/2020, tại Thư viện Nixon tiểu bang California, Ngoại trưởng Mike Pompeo đã nói về cộng sản Trung Hoa và tương lai của Thế Giới.

Năm 1972 khi đi thăm Trung Hoa Tổng thống Nixon mong ước sự hợp tác giữa Mỹ với Trung cộng sẽ tạo ra một tương lai đầy tươi sáng cho thế giới.

Nên Mỹ đã giúp hồi sinh nền kinh tế đang trên đà sụp đổ của Trung cộng, nhưng đến nay kết quả là nhà cầm quyền Bắc Kinh đã ăn cháo đá bát phản bội thiện chí của Mỹ và các quốc gia tự do.

Ông Mike Pompeo tổng kết 3 bài phát biểu của Cố vấn an ninh quốc gia Robert O’Brien, Giám đốc FBI Christopher Wray và Bộ trưởng Tư pháp William Barr về mối đe dọa của Trung cộng đối với nền kinh tế và nền tự do của Mỹ và thế giới.

Ông nói ra một điều mà gần như người Việt thuộc nằm lòng là đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm (…communist China is to act not on the basis of what Chinese leaders say, but how they behave.).

Ông cho biết đã đến lúc phải thay đổi, nên vừa rồi Mỹ đã bác bỏ yêu sách đường chữ U của Bắc Kinh về Biển Đông và Bộ Quốc phòng đã gia tăng nỗ lực tự do hoạt động hàng hải ở Biển Đông, Biển Hoa Đông, và Eo biển Đài Loan.

Mỹ cũng đã ra lệnh trừng phạt các quan chức Trung cộng vi phạm nhân quyền, thu hồi tư cách đặc biệt của Hồng Kông về ngoại giao và thương mại, tuyên bố đóng cửa lãnh sự quán tại Houston vì đây là một trung tâm gián điệp và trộm cắp tài sản trí tuệ và đang cứu xét không cấp visa vào Mỹ cho các đảng viên đảng Cộng sản và gia đình.

Mỹ không thể bỏ qua các mối đe dọa của Trung cộng, nhưng không muốn đơn phương hành động nên kêu gọi các quốc gia có cùng chí hướng tạo thành một liên minh mới của các quốc gia tự do và dân chủ.

Mỹ đã nhận thức được sự khác biệt giữa người dân Trung Hoa và đảng Cộng sản, nhận thức được việc thay đổi Trung Hoa không chỉ là sứ mệnh riêng của người dân Trung Hoa, mà cả các quốc gia tự do cũng cần phải nỗ lực để bảo vệ tự do.

 

Đề tài tranh cử…

Cả bốn bài phát biểu được phổ biến trong mùa tranh cử và đều nêu lên một điều là nếu Mỹ không thay đổi Trung cộng, đảng Cộng sản chắc chắn sẽ thay đổi Mỹ và thế giới.

Ngoại trưởng Mike Pompeo cho biết chiến lược của Chính Phủ Donald Trump là Trung Hoa phải có tự do thì Mỹ mới bảo vệ được tự do cho chính mình và cho thế giới.

Ứng cử viên Joe Biden, một chính trị gia đã tham gia chính trị liên bang Mỹ từ 3/11/1970, từng trải trong việc hoạch định chính sách Mỹ-Trung, nên chắc rằng trong các cuộc tranh luận sắp tới sẽ cho chúng ta biết những nhận định cá nhân, cũng như chiến lược của đảng Dân Chủ Mỹ đối với một Trung cộng đang trỗi dậy muốn thống trị toàn cầu.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

1/8/2020

Con người ta chết có phải là hết hay không?

https://www.facebook.com/suthatvatruyenthong/videos/902216540296614/?t=8

Tinh Hoa TV

Con người ta chết có phải là hết hay không?

Đã có rất nhiều nhà khoa học cùng biết bao máy móc hiện đại chỉ để tập trung khám phá bí ẩn của mộng mị… Và điều kỳ lạ trong những giấc mơ xảy ra thật nơi hiện thực vẫn khiến không ít người chúng ta phải trăn trở, suy nghĩ…

Nguồn: ĐKN.

NGƯỜI VN SINH RA ĐỂ… CHỜ CHẾT?

Ngô Thứ
NGƯỜI VN SINH RA ĐỂ… CHỜ CHẾT?

Ở Việt Nam, cứ nói đến chính trị thì bị cho là rảnh hơi và nếu bạn không cùng ý kiến với nhà nước , bạn sẽ bị xếp vào những thành phần sau :
– Nếu là đảng viên thì bị cho là: đạo đức suy thoái.
– Nếu bạn là trí thức thì bị cho là: bất mãn với thời cuộc
– Nếu là kẻ nghèo thì bị cho là: bị kẻ xấu kích động
– Nếu là kẻ ít học thì bị cho là: bị dụ dỗ lợi dụng
– Lên facebook bày tỏ quan điểm : bạn sẽ bị cho là kẻ phản động …

Thế đấy, tùy theo “khẩu nghiệp” mà bạn nhận được danh hiệu do họ phong tặng.

Và khi tôi và những người khác lên tiếng để mong có một tương lai tốt đẹp cho đất nước này, thì bạn nói : sống ở xã hội này thì phải chấp nhận như thế, có nói cũng chẳng làm được gì. Vậy:

– Khi nhà bạn có người gần chết, đưa vào bệnh viện mà chưa có tiền đóng viện phí, người ta không cứu, bạn đừng khóc vì khóc cũng chẳng thay đổi được gì.

– Nhà bạn có người bị tai nạn, xung quanh người ta đi lại, chỉ ném một cái nhìn vào chỗ người thân bạn đang nằm chổng vó ra đấy mà chẳng thèm làm gì hơn, bạn đừng trách sao họ thờ ơ vô cảm.

– Con cái bạn bị những kẻ vô loài hãm hiếp, mà pháp luật vẫn để những kẻ đó nhởn nhơ, bạn đừng kêu oan vì kêu cũng chẳng làm được gì.

– Bạn ra đường mà có bị cướp giật hay bị trộm mất xe ngay trước mặt, thì tốt nhất bạn hãy im miệng vào, vì có kêu thì cũng không ai nghe thấy đâu.

– Bạn bị công an bắt xe không lý do thì cũng nên vui vẻ mà nộp phạt, ấm ức cái gì?

– Sau này đất đai nhà bạn có bị quy hoạch và được trả giá 200k/m2, thì cũng đừng có kêu gào làm gì, không ai quan tâm việc nhà bạn đâu.

– Bạn đi khám mà chẳng may mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối, thì cũng nên vui vẻ mà chấp nhận sống nốt cuộc đời còn lại, vì ở cái xã hội thờ ơ tràn lan thực phẩm bẩn này mỗi ngày có khoảng 300 người chết vì bệnh ung thư chứ không riêng gì bạn đâu.

…………….. Và còn nhiều điều “khốn nạn nhưng rất đỗi bình thường” khác ở cái đất nước này, khi xảy đến với bạn thì tốt nhất bạn cũng nên ngậm chặt miệng vào, vì xã hội VN nó thế! Người Việt Nam sinh ra để làm gì? Người Việt Nam sinh ra để …chờ chết!

Hãy cầu cho mình một cái chết nhanh nhất, như tai nạn giao thông chẳng hạn! Chết vì ung thư khổ lắm mấy con cừu ngoan ạ.

Và bây giờ hãy tiếp tục im miệng để sắp phải làm nô lệ cho Tàu ngay trên chính quê hương mình.

Coppy từ nguồn Facebook Nguyen Minh

https://www.facebook.com/100027857649279/posts/627132681558648/

Image may contain: text
No photo description available.
Image may contain: text

Nhà văn Tiểu Tử, những giọt nước mắt, những tiếng thở dài

Nhà văn Tiểu Tử, những giọt nước mắt, những tiếng thở dài

TỪ THỨC

André Gide nói ‘’C’est avec des beaux sentiments qu’on fait de mauvaise littérature‘’ (Với những tình cảm tốt, người ta làm văn chương dở). Tiểu Tử là một nhà văn đã chứng minh ngược lại, có thể viết hay với những tình cảm tốt. Trong tác phẩm của ông, hầu như chỉ có những tình cảm tốt, chỉ có tình người.

Đọc Tiểu Tử người ta không cầm được nước mắt, nhưng sau đó thấy ấm lòng, vì thấy trong một xã hội đảo lộn, vẫn còn đầy tình người, vẫn còn đầy thương yêu, vẫn còn nghiã đồng bào, vẫn còn những người tử tế. Và thấy đời còn đáng sống. Một nhà văn Pháp nói văn chương, trước hết là xúc động… Trong truyện ngắn của Tiểu Tử, sự xúc động hầu như thường trực.

Tiểu Tử là một nhà văn miền Nam điển hình, con đường nối dài của những Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam. Văn của ông là lối kể chuyện của người miền Nam, bình dị nhưng duyên dáng, duyên dáng bởi vì bình dị, tự nhiên. Tiểu Tử không ‘’làm văn‘’. Ông kể chuyện; không có chữ thật kêu, không có những câu chải chuốt. Với cách viết, với ngôn ngữ chỉ có những tác giả miền Nam mới viết được. Không hề có cường điệu, không hề có làm dáng. Người đọc đôi khi có cảm tưởng tác giả không mấy ưu tư về kỹ thuật viết lách, ông viết với tấm lòng.

Ngay cả tên những nhân vật cũng đặc miền Nam, không có Lan, Cúc, Hồ Điệp, Giáng Hương như trong tiểu thuyết miền Bắc, không có Nga My, Diễm My, Công Tằng Tôn Nữ như Huế, chỉ có những con Huê, con Nhàn, con Lúa, thằng Rớt, thầy Năm Chén, thằng Lượm, bà Năm Chiên, bà Năm Cháo lòng. Các địa danh cũng đặc Nam kỳ, không có Cổ Ngư, Vỹ Dạ, Thăng Long, chỉ có những Nhơn Hoà, Cồn Cỏ, Bò Keo, Bình Quới, những tên, những địa chỉ rất ‘’miệt vườn‘’, chỉ đọc cũng đã thấy dễ thương, lạ tai, ngồ ngộ. Âm thanh như một câu vọng cổ.

Tiểu Tử, 88 tuổi, kỹ sư dầu khí, tác giả nhiều tập truyện ngắn (Những Mảnh Vụn, Bài ca Vọng Cổ, Chuyện Thuở Giao Thời) học ở Marseilles, hiện sống ở ngoại ô Paris, nhưng văn của ông không lai Tây một chút nào. Rất Việt nam, đúng ra rất Nam Việt, với lối viết như người ta kể chuyện bên ly la de, bên tô hủ tíu, với những chữ nghen, chữ héng, chữ nghe…’’Cần gì cứ nói nghe cô Hai, đừng ngại. Mình với nhau mà…’’. Dưới ngòi bút của một tác giả người Bắc, người Trung, gọi người đàn bà là con Huê, con Nhàn có vẻ hỗn, ở Tiểu Tử, nó chỉ có sự thân ái.

Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Tiểu Tử đã chứng tỏ ngôn ngữ địa phương, cách diễn tả địa phương làm giầu cho văn hoá dân tộc. Cố gắng bắt chước lối diễn tả Hà Nội là một lầm lỗi, nó chỉ làm cái vốn văn hoá của ta nghèo đi.

(Sự thực Hà Nội ngày nay không còn gì là nơi văn vật, cái gì cũng ‘’đéo‘’. Còn báo Nhân Dân không? Đéo còn, chỉ còn Người Hà Lội).

Văn chương là hư cấu, nhưng đọc Tiểu tử, người ta thấy cái chân thực, có cảm tưởng không có chi tiết nào là kết quả của tưởng tượng. Tất cả đều la những chuyện tác giả đã sống, hay đã nghe kể lại. Vả lại, ở Việt Nam, thực tế vượt xa tưởng tượng. Cái đau đớn, cái thảm kịch mỗi người Việt Nam đã, đang sống, không có người viết văn nào, giầu óc tưởng tượng tới đâu, có thể bịa ra. Trong ‘’Thầy Năm Chén‘’, ông thầy thuốc, suốt đời làm việc nghiã, bị cách mạnh hành hạ, chuẩn bị cho con vượt biên. Khi giã từ con, ông đưa cho con, thằng Kiệt, ‘’một cái gói mầu đỏ đã phai màu, cột làm nhiều gút, nói: cho con cái ni (ông là người gốc Huế). Con giữ trong người để hộ thân. ’’Kiệt đến Canada an toàn, một ngày dở cái gói của cha cho ngày vượt biển. Trong đó có ba cái răng vàng. Thầy Năm Chén, nghèo đói quá, đã cạy ba cái răng vàng cho con làm của hộ thân đi tìm đường sống ở xứ người. Độc giả hiểu tại sao từ ngày con đi, ông Năm Chén chỉ ăn cháo.

‘’Chiếc khăn mùi xoa‘’ có thể coi là điển hình cho truyện ngắn Tiểu Tử, trong đó có sự xúc động cao độ, đẫm nước mắt, với những nhân vật nhân hậu, giầu tình nghiã, những chi tiết éo le như một cuốn phim tình lãng mạn, nhưng đơn giản, chân thực.

Một người Việt tị nạn ở Pháp về thăm nhà, gặp những người bạn học cũ, trong đó có nhân vật chính, ‘’con Huê‘’, sự thực là một người đàn bà đã đứng tuổi. Ông ta kể lại: ‘’Con Huê tiễn tao ra cổng, đứng ngập ngừng một lát rồi bỗng nói một mạch, là lạ, như tụi mình trả bài thuộc lòng thuở nhỏ: Anh qua bên Tây, gặp anh Cương nói em gởi lời thăm ảnh. Nó nói rồi bỏ chạy vội vào trong, tao thấy nó đưa tay quệt nước mắt mấy lần. Tao đứng chết trân, nhớ lại lời con Nhàn, em con Huê nói với tao: Anh biết không, chị Huê thương anh Cương từ hồi còn nhỏ lận. Người con gái ở quê mình nó thật thà, trung hậu đến mức độ mà khi trót thương ai thì thương cho đến chết. Họ coi đó là tự nhiên, phải có nước lớn nước ròng‘’.

Tiểu Tử viết chuyện tình âm thầm của người đàn bà từ ngày còn đi học, tới ngày nay đã bạc đầu, với người bạn trai ngày xưa tên là Cương, nhưng sóng gíó 75 đã khiến người đàn ông bỏ nước đi lánh nạn. Người con gái của ông Cương, đang sống ở Bruxelles, đọc truyện, cho tác giả hay bố mẹ đều đã qua đời. Trước khi chết, Cương dặn con gái: ‘’Con ráng tìm cách về Nhơn Hoà, Cầu Cỏ, trao cái này cho cô Hai Huê, nói ba không quên ai hết‘’. ‘’Cái này ‘’ là một bao thư, trong đó có chiếc khăn mùi xoa cô Huê đã tặng Cương thời trẻ. Người con gái thấy thương bố, thương cô Hai Huê không cùng. Cô gái đi Việt Nam, một xứ xa lạ, tìm về Nhơn Hoà, Cầu cỏ, tìm người bà tên Huê để trao lại kỷ vật của người đã qua đời. Cô Hai Huê xỉu đi khi nghe tin người bạn xưa đã chết. Hai người đàn bà, một già, một trẻ ôm nhau khóc. Nếu bạn là người tưởng mình có tâm hồn sỏi đá vì đã sống, đã chứng kiến đủ mọi thảm kịch của đời sống, nhất là đời sống của một người Việt Nam, bạn sẽ ngạc nhiên thấy mình đang lau nước mắt.

Thế giới truyện ngắn của Tiểu Tử xoay quanh hai đề tài chính: những kỷ niệm về một Miền Nam hiền hoà, chất phác, nhân hậu ngày xưa, với những trò vui đưà nghịch ngợm của đám bạn bè trẻ, những mối tình mộc mạc của những người dân quê và, sau đó, những đảo lộn sau 75, khi tai họa trên trời giáng xuống. ‘’Tất cả đều bị xáo trộn, bị nghịch lý đến nỗi tao sống trong đó mà lắm khi phải tự hỏi: làm sao có thể như vậy được‘’. Một xã hội vô tư, kể cả vùng quê, trở thành địa ngục. Chỉ còn hận thù, phản trắc, gian sảo, cướp đoạt, dối trá.

Những nhân vật của Tiểu Tử không còn cười đuà, vui chơi, dễ dãi nưã. Đó là những nhân vật đầy ưu phiền như ông Tư, như bà Hai, như thầy Năm Chén, như anh Bẩy, như bà Năm cháo lòng. Một xã hội đổ nát, rách bươm… ‘’Những người ‘’cách mạng’’ xông vào nhà, ngang nhiên hùng hổ, như một bọn cướp. Họ ‘’bươi‘’ từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ sau ra trước… giống như gà bươi đống rác. Gặp gì kiểm tra nấy. Vậy rồi… hốt hết. ‘’

Sau 75, người ta truyền nhau một câu ca dao mới: “Thằng khôn thì đã vượt biên. Những thằng ở lại không điên cũng khùng”. Các nhân vật của Tiểu Tử, vốn là những người miền Nam hiền lành, dễ tin, yêu đời, nhiều người đã hết lòng với ‘’kháng chiến‘’, sau ‘’cách mạng’’, đều bị đàn áp, gia sản bị cướp đoạt trắng trợn trong những chiến dịch ‘’đánh tư sản mại bản‘’ trở thành không điên cũng khùng

Ông Tư (trong IM LẶNG) là người có gia sản ở Saìgòn, đã bí mật đóng góp tài chánh cho ‘’Giải Phóng’’. Khi Cộng Sản chiếm miền Nam, không những không được trả ơn, mà bị hành hạ, gia sản bị cướp sạch. ‘’Bỗng nhiên ông Tư nhận thức rằng tất cả những gì thuộc về ông bây giờ chỉ còn lại người vợ cuả ông đang chờ đợi ông ở nhà‘’… Nhưng bà vợ tiếc cuả, uất hận vì bị cách mạng lưà gạt, suốt ngày đay nghiến trách móc chồng. Rốt cuộc hai vợ chồng tìm được cách chạy sang Pháp, nơi con trai ông đã được bố mẹ gởi đi du học, đã thành đạt, có nhà cưả sang trọng. Ông con hỏi bố ở chơi bao nhiêu ngày. Ông Tư nói ở lại luôn. Ông con nói, giọng đặc ‘’Việt kiều yêu nước’’: ‘’Ủa, sao lại ở luôn. Bây giờ nước nhà độc lập rồi, không còn thằng nào ngồi trên cổ mình hết; vậy mà ba má bỏ qua đây luôn. Thiệt là vô lý‘’. Ông Tư trở thành một người câm, không nói gì với ai nưã. Cho đến một hôm lầm lũi lội chết dưới biển.

Bà Hai (trong Thằng Đi Mất Biệt), con cái chết, gia tình tan nát, suốt ngày ngồi chờ đưá con trai còn lại bị đưa đi cải tạo. ‘’Khi trời nắng ráo, bà đi tuốt ra ngoài vàm rạch, lên ngồi trên môi đất có thể nhìn thẳng qua bên kia sông. Như vậy, “khi nào thằng nhỏ nó về, mình thấy nó từ đằng xa, nó có đi đò, trong đám đông, mình cũng nhìn ra đươc nó liền hà‘’.

Thầy Năm Chén (trong truyện cùng tên) phòng mạch bị chiếm, con trai phải bỏ đi kiếm ăn. ‘’Chia tay nhau mà hai cha con không dám ôm nhau. Sợ người ta để ý. Thầy không đưa con ra cổng nghiã trang. Sợ người ta để ý. Thầy không dám để rơi một giọt nước mắt. Sợ người ta để ý. Thầy chỉ thở dài. Thời buổi bây giờ chỉ thở dài là không ai để ý. Bởi vì ai cũng thở dài hết”.

Ông già bới rác (truyện cùng tên) là một ông già có công với ‘’cách mạng’’, bi cách mạng cướp hết không còn manh giáp, trở thành khùng, suốt ngày lang thang ngoài đường bới rác, ‘’tao bới rác để kiếm mấy thằng Việt Cộng tao đã nuôi trong nhà‘’

Trong Những Mảnh Vụn, người yêu ‘’đi chui bán chánh thức‘’, nghiã là đi vượt biển do cán bộ tổ chức, biệt tăm, chắc mất xác vì tầu quá cũ bị chìm, anh Bâỷ suốt ngày, như một người mất hồn, đi qua lại tất cả những nơi ngày xưa hai người vẫn hẹn hò. ‘’Bẩy không biết mình đang đi lượm những mảnh vụn của cuộc tình. Nếu không có cái ‘’ngày cách mạng thành công‘’ đã thật sự thành công trong nhiệm vụ đập nát tất cả những gì của miền Nam, kể cả những gì nhỏ bé nhứt, tầm thường nhứt như tình yêu của chàng trai và cô gái đó‘’.

Bà Năm cháo lòng ‘’vẫn bán cháo lòng, lâu lâu vẫn chửi thằng con mà giống như bà chửi cả nước‘’

Đọc Tiểu Tử, người ta không thể không xúc động… Nhưng văn Tiểu Tử cũng đầy nét khôi hài, những nhận xét ngộ nghĩnh. Phòng mạch của Thầy Năm Chén ‘’bịnh nhơn cũng vắng. Làm như người ta sợ quá rồi… quên bịnh. Trái lại, bên phía chuà thì lại đông người lui tới và ngày nào cũng có người. Làm như người ta chỉ còn biết… dựa vào Phật‘’. Qua vài nét chấm phá, ông ghi lại những cảnh trái tai gai mắt, những cảnh lố bịch của những người thắng trận. Những cảnh không biết nên cười hay nên khóc diễn ra trước mắt, mỗi ngày, chỉ cần ghi lại, không thêm thắt, bình luận. André Gide: Plus un humouriste est intelligent, moins il a besoin de déformer la réalité pour le rendre significative (Một nhà khôi hài càng thông minh, càng không cần bóp méo sự thực để làm cho nó có ý nghiã). Tiểu Tử không cần bóp méo sự thực, chỉ việc cúi xuống lượm, ghi lại những cái lố lăng, đảo lộn luân thường diễn ra mỗi ngày, trước mắt.

Muốn hiểu lịch sử, hay xã hội trong một giai đoạn lịch sử, không gì hơn là đọc các nhà văn. Hơn là những sử gia, những nhà biên khảo, nhà văn, trong vài chữ, vài nét, cho thấy mặt thực của xã hội. Văn chương đi vào trái tim, trong khi biên khảo chỉ đi vào trí óc. Không có xúc động, rất khó có cảm thông, không có cảm thông, không sống với người trong cuôc, làm sao hiểu được? Một câu danh ngôn: ‘’một người chết là một bi kịch, một triệu người chết chỉ là một con số thống kê‘’. Tiểu Tử không làm thống kê, ông ghi lại bi kịch của một nhân vật, của tôi, của anh, của mỗi người. Mỗi câu chuyện cuả ông là một bi hài kịch (farces tragiques) của một thời đảo điên.

Truyện ngắn Tiểu Tử, với lối hành văn bình dị, linh động là một cuốn tự điển sống của ngôn ngữ miền Nam thời chưa loạn. Đó là kho tàng quý, trong khi ở hải ngoại, chữ Việt càng ngày càng lai Tây, lai Mỹ; trong nước càng ngày càng lai Tầu, với những chữ, những lối nói ngớ ngẩn, đôi khi kỳ quái, khiến tiếng Việt không còn là tiếng Việt, báo hiệu một ngày người Việt không còn là người Việt. Truyện ngắn Tiểu Tử là những giọt nước mắt, những tiếng thở dài, nụ cười trong những ngày bình an và ngay cả trong cơn đớn đau cùng cực. Ông là một nhân chứng quý báu của một giai đoạn bi thảm, một cuộc đổi đời ghê rợn nhất trong lịch sử Việt./-

TỪ THỨC