10 phút mỗi ngày

10 phút mỗi ngày

 Anh làm nghề lái taxi, mỗi ngày đều “cày cuốc” tới tối muộn mới về nhà. Bởi vì cả ngày ngồi lái xe, lại phải trò chuyện xã giao cùng khách nên thấy rất mệt. Khi về đến nhà, anh chỉ muốn yên tĩnh, chơi vài trò điện tử hoặc xem mấy mẫu phim hài. Nhưng vợ anh thấy chồng về liền quấn lấy, hỏi han đủ thứ. Còn anh, chỉ miễn cưỡng trả lời vài câu cho có lệ…

Sau một thời gian, vợ bắt đầu tỏ ra khó chịu. Cô ấy vẫn đi chợ nấu cơm như thường lệ nhưng cũng chẳng buồn hỏi han gì anh, tính khí cũng thay đổi hẳn, hay càu nhàu nóng nảy. Vì những chuyện nhỏ nhặt như anh để đồ đạc không đúng chỗ hoặc quên không thay dép đi trong nhà, cô ấy liền tức giận, càm ràm cả buổi!

 Ngày ngày trôi qua anh cảm thấy chán nản, có lúc còn thấy cuộc sống hôn nhân của mình sao mà ngột ngạt! Anh không hiểu, thầm nghĩ: chẳng phải mình đang chăm chỉ kiếm tiền để vợ con sống thoải mái hơn sao? Sao cô ấy lại không thông cảm cho mình?

Một ngày nọ, trong giờ nghỉ trưa, anh phàn nàn với một đồng nghiệp cũ rằng bản thân đang cảm thấy thất vọng với cuộc hôn nhân của mình. Người bạn đồng nghiệp vỗ vai anh rồi nói: “Ài, về nhà dù mệt đến mấy cũng phải vui vẻ trò chuyện với vợ, không cần quá nhiều đâu, 10 phút là đủ”. Người lái taxi hoài nghi: “Làm vậy có hiệu quả thật chứ?”. Tuy vậy anh vẫn quyết định sẽ thử, chỉ 10 phút thôi mà…

 “Bà xã, anh về rồi này!” Ngay hôm đó khi đi làm về, dù còn mệt nhưng anh vẫn tươi cười nói câu này với vợ. Người phụ nữ đang lúi húi trong bếp lúc này ló đầu ra, hơi bất ngờ, cô ấy nói “Về rồi hả?” Thay quần áo xong, anh không ngồi xem điện thoại trên ghế sô pha như mọi khi mà đi vào bếp, nói: “Bà xã, em vất vả rồi, để anh làm”. Vợ vừa ngạc nhiên, mà cũng có vẻ khinh thường: “Anh làm được gì chứ?”. Nhưng sau đó, cô ấy nhanh chóng đưa cho anh một củ hành, bảo anh bóc vỏ rồi rửa sạch.

Hôm ấy lúc làm bếp, anh kể cho vợ nghe những chuyện mình gặp phải khi đi chở khách hôm nay, có lúc còn kể cho cô ấy về tuổi thơ của mình. Buổi tối, cô gắp cho anh rất nhiều đồ ăn, còn nói: “Hôm nay anh vất vả rồi, ăn nhiều chút đi!”. Khi họ cùng ăn và trò chuyện, anh cảm thấy loại cảm giác thoải mái mà mình đã đánh mất từ lâu.

Lúc cả nhà dùng cơm xong, anh chuẩn bị bưng mâm bát đi rửa thì vợ chặn lại, nói: “Anh nghỉ đi, cả ngày làm việc mệt mỏi rồi, nghỉ đi cho khỏe”. Nói rồi cô bưng mâm cơm vào bếp. Vọng từ bếp ra là tiếng nước chảy róc rách kèm theo tiếng hát ngân nga của vợ mà từ lâu anh không còn nghe thấy…

 Kể từ hôm đó, ngày nào đi làm về anh cũng trò chuyện với vợ về những chuyện lớn nhỏ mà mình đã gặp trong ngày. Kiên trì một thời gian, anh phát hiện thường chỉ sau khoảng 10 phút nói chuyện, vợ đã “đuổi” anh ra khỏi gian bếp và nói “Đi cả ngày mệt rồi, anh nghỉ ngơi đi”. Sau 10 phút trò chuyện thân tình này, anh nhận ra cô ngày càng quan tâm đến anh, còn anh cũng nhận thấy những điểm tốt của vợ, những mâu thuẫn trước đây đều đã được hóa giải. Vậy nên anh đã duy trì thói quen này. Không cần quá nhiều thời gian, mỗi ngày chỉ cần dành 10 phút chân tình cho vợ là đủ.

 *** Người phụ nữ không cần quá nhiều, chỉ cần một người chồng dành cho cô ấy sự yêu thương, cảm thông và quan tâm. Chỉ thế thôi, không quá đáng chứ? Bạn nghĩ người phụ nữ của mình nói quá nhiều, càm ràm, nóng giận quá nhiều? Đó có thể là vì cô ấy chưa nhận được được sự quan tâm đúng mực mà thôi!

Phụ nữ có thể không kiếm nhiều tiền như đàn ông nhưng cô ấy có trăm mối việc không tên, nào là phụng dưỡng cha mẹ già, nuôi nấng con cái, lo toan cho gia đình. Cô ấy có áp lực không? Vậy nên người chồng không nên có suy nghĩ rằng vợ mình “chỉ ở nhà thì không có áp lực” hoặc “áp lực tài chính không nặng như mình”. Hãy sẵn lòng sẻ chia cùng cô ấy như vậy vợ chồng mới có thể thấu hiểu, cảm thông và trân trọng lẫn nhau.

 Hãy nhớ rằng, điều người vợ đòi hỏi ở bạn không phải là vinh hoa phú quý, mà là sự quan tâm, bầu bạn chân thành. Bạn đời của bạn có “lỡ lãng quên” điều này không? Hãy chia sẻ câu chuyện nhỏ này với bạn đời của bạn để cùng nhắc nhau quan tâm đến nửa kia của mình hơn nữa nhé!…

 10 phút mỗi ngày. Chỉ thế thôi, không quá đáng phải không?

 Theo Ezgoe/Ngọc Mai (biên dịch).

 From: KimBang Nguyen

Ta cứ tưởng trần gian là cõi thật

Ta cứ tưởng trần gian là cõi thật

Khi tóc bạc trên đầu trôi dạt mãi,

Cội nguồn ơi chiếc lá lại rơi về.

Đường về khép bóng trần gian

Lợi danh gói một hành trang vô thường

Ngoảnh nhìn cuộc đời như giấc mộng

Được mất bại thành bỗng chốc hóa hư không

Phú quý vinh hoa như mộng ảo
Sắc tài danh lợi tựa phù du

Đêm qua mộng lại thật gần
Đừng lay tôi nhé hồng trần mong manh !

Ta về giữ mộng trinh nguyên

Bờ hun hút lạnh nắng xuyên hình hài

Thân như bóng chớp chiều tà

Cỏ cây hoa lá xuân qua rụng rời

Sá chi suy thịnh cuộc đời

Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành

 

Ta cứ tưởng trần gian là cõi thật

Thế cho nên tất bật đến bây giờ!

Ta cứ ngỡ xuống trần chỉ một chốc

 Nào ngờ đâu ở mãi đến hôm nay

Bạn thân ơi! Có bao giờ bạn nghĩ

Cuộc đời này chỉ tạm bợ mà thôi

Anh và tôi giàu sang hay nghèo khổ

Khi trở về cát bụi cũng trắng tay

Cuộc đời ta phù du như cát bụi

Sống hôm nay và đâu biết ngày mai ?

Dù đời ta có dài hay ngắn ngủi

Rồi cũng về với cát bụi mà thôi

Thì người ơi! Xin đừng ganh đừng ghét

Ðừng hận thù tranh chấp với một ai

Hãy vui sống với tháng ngày ta có

Giữ cho nhau những giây phút tươi vui

Khi ra đi cũng không còn nuối tiếc

Vì đời ta đã sống trọn kiếp người

Với tất cả tấm lòng thành thương mến

Ðến mọi người xa lạ cũng như quen

Ta là Cát ta sẽ về với Bụi

Trả trần gian những cay đắng muộn phiền

Hồn ta sẽ về nơi cao xanh ấy

Không còn buồn lo lắng chốn trần ai!

Tất bật hơn thua rồi cũng bỏ
Thong dong tự tại vậy mà vui

Ta cứ tưởng trần gian là cõi thật - 5

KHÔNG THỂ TUYỆT VỜI HƠN

KHÔNG THỂ TUYỆT VỜI HƠN

Thiên Chúa là Tình Yêu.”

Kính thưa Anh Chị em,

Nói đến Thiên Chúa, hẳn sẽ không có một định nghĩa nào có thể sâu sắc và giàu ý nghĩa hơn định nghĩa của Thánh Gioan hôm nay, “Thiên Chúa là Tình Yêu”; và trong cách thức Thiên Chúa yêu thương, Gioan đã có một nhận định ‘không thể tuyệt vời hơn’, “Chính Người đã thương yêu chúng ta trước.”  Tình yêu mẫn cảm đó thể hiện nơi Chúa Giêsu qua Tin Mừng hôm nay, “Thấy dân chúng đông đảo thì động lòng thương xót họ”; trái tim chạnh thương của Chúa Giêsu khiến Ngài phải ra tay khi Ngài bảo các môn đệ, “Các con hãy cho họ ăn đi!”

Trong mùa Giáng Sinh, khi chọn đọc trình thuật bánh cá hoá nhiều nuôi sống năm ngàn người, phải chăng Hội Thánh muốn nói đến tình yêu tự hiến của Thiên Chúa ngay từ trũng thấp Bêlem.

“Bêlem” có nghĩa là “Nhà Bánh”; nơi ngôi nhà này, Thiên Chúa muốn gặp gỡ toàn thể nhân loại, một nhân loại đông đảo, tất tưởi, đáng thương; một nhân loại đang đói và khát.  Hài nhi Giêsu biết con người cần cơm bánh để nuôi sống thể xác và cần một cái gì đó để nuôi sống tâm hồn; Ngài biết, các thứ dinh dưỡng trên thế gian này không làm cho lòng người thoả mãn.  Và như thể Ngài muốn nói, ‘Tôi ở đây với tư cách là lương thực của anh em’; Ngài tự giới thiệu chính mình như một của ăn; Ngài trao tặng chính bản thân Ngài. ‘Không thể tuyệt vời hơn’!

Tại Bêlem, chúng ta khám phá ra rằng, Thiên Chúa không phải là người lấy mất sự sống, nhưng là Đấng trao ban sự sống.  Thân xác bé nhỏ của hài nhi Giêsu ở Bêlem mở ra một mẫu sống mới, ‘Không ngấu nghiến và tích trữ, nhưng chia sẻ và cho đi.’  Một Thiên Chúa co rút mình lại để nên nhỏ bé, làm lương thực cho chúng ta; để một khi được nuôi dưỡng bằng Bánh Hằng Sống, chúng ta được tái sinh trong tình yêu; và những tham lam vô độ nhất định phải được nghiền nát đi.  Ngắm nhìn hang đá, chúng ta hiểu rằng, điều nuôi dưỡng sự sống, kéo dài sự sống không phải là sở hữu, nhưng là tình yêu; không phải là ham hố, nhưng là bác ái; không phải là thừa mứa để khoe mẽ, nhưng là sự giản dị mà người ta phải bảo vệ; thật ‘không thể tuyệt vời hơn!’

Như thế, Bêlem không còn tanh tưởi và lạnh lẽo; nhưng ở đó, chúng ta ngửi thấy hương thơm và sự nồng ấm của một sự sống mới, hương thơm của giản dị đến mong manh của hài nhi Giêsu; hương thơm của nhẫn nhịn đến lặng lẽ của Giuse và Maria; hương thơm của hồn nhiên đến ngây ngất của các mục đồng.  Ấy thế, đó là những con người đã lên đường!  Mẹ Maria, Thánh Giuse, các mục đồng là những con người đã lên đường, và Chúa Giêsu chính là lương thực cho sự lên đường, ‘không thể tuyệt vời hơn!’  Với chúng ta hôm nay, Ngài cũng muốn có một chuyển động, Ngài nóng lòng thôi thúc hai tỷ Kitô hữu trên thế giới hãy mau chóng đứng dậy và ra đi, để cũng có thể trở nên những tấm bánh bẻ ra cho người khác.

Ngày kia, một viên chức giàu có công khai trách cứ một người cha gia đình là keo kiết vì ông này đóng góp quá ít trong dịp Giáng Sinh.  Hôm sau, người này đến gặp riêng ông nhà giàu và cho biết, gia đình ông đã chỉ sống bằng khoai lang và nước lã mấy tuần qua.  Ông giải thích, đã hơn một năm, trước khi trở lại đạo, ông phải thanh toán nợ nần; đã trả hết cho từng chủ nợ.  Ông nói, “Chúa Kitô đã biến tôi thành một người lương thiện”; “Vì thế, tôi chỉ có thể dâng một ít của lễ như một người đã cố hoà nhập với những hàng xóm lương dân của mình và cho họ thấy ân sủng Chúa có thể làm gì trong trái tim của một người đã từng bất lương.”  Nghe thế, trái tim ông nhà giàu quặn thắt, vô cùng hối hận và ông đã ký một tấm check lớn cho người cha tân tòng; sau đó, ông nhà giàu đã bán mọi sự và làm nhà bảo trợ của một viện tế bần, ‘không thể tuyệt vời hơn’!

Anh Chị em,

Tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho chúng ta chính Con Một Người, Ngài là hiện thân đích thực của tình yêu Thiên Chúa.  Chính tình yêu đã khiến Ngài hiến thân làm bánh nuôi sống chúng ta mỗi ngày trên dương thế.  Thật ‘không thể tuyệt vời hơn!’  Nhờ của nuôi ấy, giờ đây, Ngài đang mời gọi chúng ta như đã mời ông nhà giàu trên, “Chính anh em hãy cho họ ăn!”  Không phải ai khác, chúng ta hãy cho họ ăn ‘chính bản thân mình’ như Chúa Giêsu đã cho.  Điều này có nghĩa là, chúng ta cống hiến tất cả bằng tình yêu như Chúa Giêsu đã cống hiến.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con luôn trở nên tấm bánh bẻ ra cho anh em con; cho con dám yêu thương hiến mình như Chúa.  Chính Chúa sẽ làm cho những gì ít ỏi của con góp phần để anh em con bớt khổ đau, và quan trọng hơn, được cứu độ đời đời.  Thật ‘không thể tuyệt vời hơn!’” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Langthangchieutim

LoavesFishes.jpg

DÂN TỘC…LƯU VONG

 Trước năm 1975 dầu có chiến tranh khốc liệt nhưng đâu có người Việt nào muốn bỏ nước ra đi. Các sinh viên sau khi du học ở ngoại quốc như Mỹ, Pháp, Anh… đa số đều trở về nước để phục vụ đất nước.

Còn bây giờ hơn 45 năm rồi, tại sao người người đều thấp thỏm bỏ nước ra đi??? Tại sao và tại sao?

Image may contain: text

DÂN TỘC…LƯU VONG

(Bài viết hay đến tận chữ cuối cùng, rất đáng đọc của tác giả Ngọc Vinh)

1- Trong lịch sử nhân loại, có hai dân tộc chịu số phận bi thảm hơn các dân tộc khác. Rất không may, một trong hai lại là dân tộc Việt chúng ta. Một trong hai còn lại là Do Thái.

Cái “lỗi” của dân tộc Do Thái là sinh ra Chúa rồi hành hình Chúa trên thập giá. Họ đã bị kỳ thị, xua đuổi, bị truy bức giết hại và lưu vong khắp nơi. Năm 1947, cái dân tộc rã rời nát vụn đó đã cùng nhau gom góp từng đồng tiền, từng mảnh đất để gầy dựng lại quốc gia của mình. Định mệnh bi thảm của dân tộc đã khiến họ gắn kết với nhau thành một khối, nhờ đó quốc gia Israel đã phát triển không ngừng. Một mình họ đã đánh bại quân đội của liên minh các nước Ả rập để bảo vệ sự tồn vong của đất nước. Và giờ, họ đã có bom nguyên tử…

Khác với dân tộc Do Thái lưu vong hơn ngàn năm trước, dân Việt chỉ bắt đầu lưu vong đại trà từ sau 30-4-1975. Dân tộc này không hành hình Chúa nhưng vẫn phải chịu một định mệnh bi thảm không kém. Cuộc chiến tranh giữa hai miền anh em với vũ khí bom đạn của ngoại bang kết thúc, đất nước được gom về một mối những tưởng sẽ bắt đầu một thời đại vàng son, nhưng không ngờ, thời đại đó biến thành một cuộc phân ly bi thảm. Vượt qua cả dân tộc Do Thái, người Việt ” vươn lên” dẫn đầu lịch sử lưu vong của nhân loại bằng cuộc di cư chính trị quy mô nhất về mặt số lượng từ trước đến nay. Hàng triệu người đã lao ra biển trên những chiếc tàu đánh cá các loại để thoát khỏi đất mẹ của mình, chấp nhận cả cái chết để…lưu vong. Một phần của dân tộc đã làm mồi cho cướp biển cho cá mập và bị nhốt trong những trại tị nạn nghẹt thở ở các nước Đông Nam Á đồng liêu.

Cuộc di cư khốc liệt của người Việt đã đưa họ đến khắp nơi trên thế giới, kể cả châu Phi, điều mà trước 1975, cả hai miền Nam Bắc đều không hề có.Tâm thức lưu vong kể từ mốc thời gian đó, đã phục kích trong các tầng lớp dân Việt, đóng đinh trong đầu họ cho đến tận ngày nay, không ngơi nghỉ và không có cơ hội để chấm dứt…

  1. Sau 30-4-1975, ở Phan Thiết quê tôi, người vượt biên bằng đường biển rất nhiều do thành phố này sống bằng kinh tế biển với rất nhiều tàu đánh cá. Người Phan Thiết không chỉ giúp ” đồng bọn” quê mình vượt biển mà còn giúp cả dân Sài gòn, với giá vài ba cây vàng, có khi chủ tàu chỉ thu đủ sở hụi để mua dầu, thực phẩm và đút lót cho bộ đội biên phòng. Có nguyên một làng chài hay cả xóm đạo vượt biên sạch. Sau đó, khi đất nước đói meo, thì những người vượt biên bắt đầu góp phần gầy dựng quê nhà bằng …những thùng hàng gởi về từ nước ngoài. Dân quê tôi gọi đó là hàng thùng. Một người vượt biên thoát được qua nước ngoài thì cả gia đình được nhờ, cả gia đình cùng thoát thì dòng họ được nhờ. Dân sống bằng hàng thùng chả cần làm gì vẫn phong lưu vì nhận hàng thùng đều đặn gởi về. Gia đình nào sống bằng hàng thùng thì con trai rất dễ lấy vợ và con gái, dù xấu, cũng rất dễ lấy chồng. Tâm thế chờ đợi hàng Mỹ, hàng Tây đã ăn sâu từ đó vào ký ức của cộng đồng. Không chỉ chờ đợi hàng thùng và đô la từ nước ngoài, người thân trong nước của các Việt kiều thường xuyên sống trong tâm trạng chờ đợi được bảo lãnh. Gặp nhau là họ hỏi thăm nhau bằng một câu cửa miệng: “bao giờ đi?”. Đi ở đây chính là lưu vong, là thoát khỏi nơi họ chôn nhao cắt rún!

3- Năm 2017, tôi đi du lịch Mỹ để thăm thú bạn bè định cư ở đất nước này. Ngày tôi đi cũng là ngày một nhà báo đồng nghiệp rất thân với tôi tại Đài phát thanh TPHCM xách va ly qua Mỹ để…lưu vong. Anh đã nghỉ hưu và được gia đình bảo lãnh. Rất nhiều nhà báo mà tôi quen biết khi về hưu đã sang Mỹ định cư, coi việc lưu vong là điều hết sức bình thường. Ai thắc mắc tuổi già còn sang Mỹ để làm gì, cứ hỏi họ đi rồi sẽ nhận được câu trả lời.

Tại Mỹ, tôi ghé San Jose thăm L.Hoàng, bạn học thời trung học của tôi ở Phan Thiết. Hoàng qua Mỹ năm 1978 và tiếp tục học hành để lấy bằng kỹ sư, giờ cậu là trưởng một bộ phận trong một công ty có 5000 căn hộ cho thuê. Cậu ở trong khu da trắng, với một ngôi nhà trị giá 800.000 đô la và lái chiếc Mẹc 7 chỗ. 17 tuổi, Hoàng đã là nhà tổ chức vượt biên và từng vô tù ngồi 6 tháng. Sau khi tổ chức nhiều chuyến tàu vượt biển thành công, cậu cùng 5 anh chị em của mình quyết định ra đi. Giờ họ cùng nhau sinh sống trên đất Mỹ. Hoàng bảo tôi khi gặp lại, rằng gia đình cậu lúc đó nghèo quá và thấy đất nước cũng nghèo quá nên vượt biên là con đường duy nhất mà cậu buộc phải lựa chọn. Cậu bảo,“tao đâu muốn sống lưu vong, nhưng không vượt biên làm sao có tương lai. Nước Mỹ lúc đó là miền đất hứa và họ đã cưu mang tao nên cuối cùng tao cũng quen với cuộc sống bên này”.

Đã có 3 thế hệ người Việt sống lưu vong trên đất Mỹ, thế hệ thứ nhất là những người bỏ chạy khỏi nước khi quân đội miền Bắc tràn vào Sài gòn và những người vượt biển. Thế hệ 2 là các sĩ quan VNCH và gia đình họ qua đây theo diện HO cùng với những người được thế hệ thứ nhất bảo lãnh. Thế hệ thứ 3 là con em người Việt sang du học, tìm kiếm việc làm, định cư và bảo lãnh cha mẹ. Trong số cha mẹ này có rất nhiều cán bộ nhà nước, họ đầu tư tiền bạc cho con cái ăn học, mua nhà cửa, gởi tiền vào tài khoản ngân hàng và chờ đợi thời cơ để…lưu vong. Tiền họ có được, dĩ nhiên đến từ túi của nhân dân, vì lương của thủ tướng VN chưa tới 20 triệu đồng (khoảng 850 đô Mỹ) thì họ lấy gì để nuôi con du học?

4- Mỗi năm, người Việt trong nước bỏ tiền tỉ đô la để mua nhà ở Mỹ. Ai có khả năng này? Chỉ có cán bộ và doanh nhân. Ở một thành phố của quận Cam, có cả một ” ngôi làng” của cán bộ nhà nước. Họ chuyên sống bằng hồn của Trương Ba nhưng da hàng thịt. Họ ở VN, làm việc trong bộ máy của chế độ nhưng tâm hồn thì để trong những ngôi nhà ở Mỹ. Ở đó có con cháu họ chờ sẵn. Giống như Võ Kim Cự Formosa vậy, nếu cần thiết lên đường xuất ngoại là đi thôi. Tiền đã gởi, nhà đã mua, con cháu đã chuẩn bị đón chào. Tôi biết Tổng biên tập một tờ báo nọ, vẫn đương chức ở Việt Nam nhưng đã có thẻ xanh ở Mỹ. TBT phải là đảng viên, nhưng chuyện này dễ ẹt, một khi lòng người đã muốn… lưu vong thì không có gì là không thể. Có TBT một tờ báo chửi Mỹ không còn nước non gì, thế mà cuối đời xách đít qua Mỹ để sống …lưu vong.

Các nhà báo đàn anh tôi, cùng lứa tuổi tôi hoặc nhỏ hơn ở Sài gòn, bằng cách này cách khác, đều gởi con du học Mỹ hoặc Úc. Đó là tương lai mới không chỉ cho con cái họ mà cho cả họ. Giờ họ là công dân Việt Nam nhưng mai mốt đây họ sẽ là công dân Mỹ Úc, nếu muốn. Cả đất nước đều như vậy. Nhiều công dân Việt hiện nay đã lên kế hoạch cho cuộc sống tương lai của mình không gắn với Việt Nam. Dân thường, cán bộ viên chức, nhà văn nhà báo, lãnh đạo cấp cao…vân vân. Không từ một tầng lớp nào. Ai dám chắc rằng các lãnh đạo cao cấp không chọn trước cho mình một chỗ để …lưu vong khi cần thiết. Cuộc đời, thời cuộc mà, đâu nói trước được điều gì. Người thân Mỹ chọn chỗ sẵn ở Mỹ, người thân Tàu chọn chỗ sẵn ở Tàu. Có biến là dzọt thôi.Vậy thì làm sao trách các công dân Việt thu nhập thấp tìm qua Đài Loan hay Nhật Bản để…lưu vong bất hợp pháp. Đã lưu vong thì bình đẳng, giống như sự bình đẳng của con người trong tuyên ngôn nhân quyền vậy, dù người giàu tiền và nghèo tiền thì chọn cách lưu vong khác nhau.

5- Vậy tại sao người Việt lại khát khao…lưu vong như thế? Câu hỏi này quá dễ trả lời bằng câu thành ngữ Việt Nam: đất lành chim đậu. Khi đất mẹ không còn lành thì người dân Việt sẽ tìm cách ra đi như một tất yếu để tìm đến mãnh đất lành hơn. Không ai muốn tương lai gia đình con cái mình sống trong mội trường nhiễm độc, nền giáo dục- y tế thiếu chất lượng, sự bất nhất giữa nói và làm của những người điều hành xã hội, sự giả dối lừa lọc nhau giữa người và người, niềm tin cùn mòn vì mọi thứ đều có thể làm giả, từ học vấn giả, nhân cách giả, đến cả lịch sử cũng bị làm giả, rồi người dân bị cấm đoán nói lên sự thật của đất nước mình…vân vân và vân vân, đó là chưa kể nỗi sợ hãi bị mai phục và thôn tính đến từ anh bạn vàng ròng láng giềng khổng lồ phương bắc…

6- Ở lứa tuổi hiện nay của mình, chưa bao giờ tôi muốn sống lưu vong, nhưng tôi lại muốn con cái mình được đào tạo bởi nền giáo dục Mỹ, Úc và đó cũng là nơi sinh sống thật tuyệt cho chúng nếu chúng muốn…lưu vong. Tâm thức cá nhân được định hình từ tâm thức xã hội, do vậy ngay trong bản thân, tôi đã bị tâm thức lưu vong chế ngự, kể từ khi đứa con của tôi bắt đầu xách cặp tới trường để học…tiếng Anh.

Một quốc gia sao có thể hùng cường khi người dân của quốc gia ấy cứ nhấp nhổm… lưu vong và không coi trọng đất nước của mình? Khó có thể gắn kết những con người nhấp nhổm ấy lại với nhau bằng tình cảm quốc gia để đoàn kết như dân Do Thái. Ai cũng biết rằng, kẻ lưu vong là kẻ bị nhổ bật gốc rễ khỏi quê hương, như bụi lúa bị nhổ bật khỏi ruộng nước. Đó là một nỗi đau từng là điều không chịu nổi đối với người tha hương xa xứ, vậy mà giờ đây, nó đang biến thành một món ăn tâm lý hạng nhất của người Việt chúng ta.

Vì đâu nên nỗi cuộc này, hả người?

 Trung Quốc chuyển sang kiềm chế Jack Ma

 Nhà giàu ở xứ cộng sản cũng khổ!!!

 

Image may contain: 1 person

Trung Quốc chuyển sang kiềm chế Jack Ma

Bắc Kinh khởi động một cuộc điều tra chống độc quyền đối với công ty của tỷ phú trực tính Jack Ma và ra lệnh tạm dừng phiên phát hành cổ phiếu đầu tiên ra công chúng (IPO) của công ty công nghệ tài chính Ant Group của ông hồi cuối tháng 12 năm ngoái.

Jack Ma là người sáng lập tập đoàn thương mại điện tử khổng lồ Alibaba và người giàu thứ hai Trung Quốc bị nghi ngờ là đã “mất tích” sau hai tháng không xuất hiện trước công chúng.

Hồi tháng 10-2020, Jack Ma có bài phát biểu chỉ trích những bất cập trong hệ thống quản lý tài chính của Trung Quốc.

Theo mạng báo Telegraph, ông không xuất hiện trong cả chương trình truyền hình thực tế mà ông làm ra và tham gia với tư cách một thành viên ban giám khảo.

Ảnh biếm họa: Rebel Pepper #RFAVietnamese #JackMa  

ĐẠO CÔNG GIÁO ĐẸP QUÁ VÀ XẤU QUÁ

ĐẠO CÔNG GIÁO ĐẸP QUÁ VÀ XẤU QUÁ

 Lm. Bùi Tuần

Một ông bạn đến thăm. Bạn mới toanh. Mình chỉ mới biết chứ chưa quen và chưa dám thân. Vừa ngồi xuống ghế, ông vô đề cái rụp:

– Anh là linh mục. Tôi là mácxít. Nhưng chúng mình cứ chân thành nói chuyện với nhau. Không ai ngại ai. Đừng ai sợ ai.

– Đồng ý. Tôi chỉ ước mong có bấy nhiêu thôi.

– Tôi công nhận đạo của anh có chân lý, vì nó tồn tại hai mươi thế kỷ. Tôi cố tìm hiểu đạo của anh, nhưng tìm hoài không ra. Tôi đọc Victor Hugo, tôi thấy đạo của anh rất mâu thuẫn. Đọc cuốn “Những Kẻ Khốn Cùng”, tôi thấy đạo của anh đẹp quá. Đọc cuốn “NhàThờ Đức Bà Paris”, thì lại thấy đạo của anh bẩn quá. Vậy thì đạo của anh là gì?

– Đọc Victor Hugo, anh chỉ thấy chúng tôi, chỉ thấy Giáo Hội, chứ chưa thấy ĐẠO. Chúng tôi không phải là ĐẠO. Đức Giêsu mới là ĐẠO. Chúng tôi hay Giáo Hội của chúng tôi, chỉ là những người tội lỗi đang lẽo đẽo theo sau Đức Giêsu, để tìm ơn cứu độ. Giữa Đức Giêsu và chúng tôi còn một khoảng cách xa vời vợi.

– Làm thế nào để hiểu biết Đức Giêsu?

– Phải đọc Thánh Kinh.

– Thánh Kinh bán ở đâu?

– Có đâu mà bán.

– Tại sao vậy?

– Anh hiểu rõ hơn chúng tôi. Nhưng hy vọng chánh sách sẽ mở rộng từ từ…

Mình và ông mácxít ngồi tâm sự rỉ rả với nhau từ tám giờ tối, đến mười giờ đêm. Tin tưởng và chân thành dìu cả hai người đi vào mọi ngóc ngách lịch sử của cả đạo lẫn đời.

Mình không ngại kể lại cho ông bạn sơ giao nghe những trang sử đen tối nhất của GiáoHội. Thời Trung Cổ Giáo Hội đã phạm những sai lầm ngoài sức tưởng tượng của mình.Đó là chia rẽ Kitô giáo; tòa án tôn giáo; cuộc chiến dai dẳng giữa Công giáo và Hồi giáo; đời sống luân lý sa đọa ngay tại Vatican.

Mình kể chuyện Giáo Hội yếu đuối, mà lòng không e ngại. Dường như mình cảm thấy rằng khiêm tốn nhìn nhận lỗi lầm của Giáo Hội cũng là chứng tá của Tin Mừng. Thánh Phalô đã không giấu giếm cái quá khứ tội lỗi của mình. Ngài thấy mình yếu đuối bao nhiêu thì càng thấy ơn Chúa hùng mạnh bấy nhiêu. Thánh Phêrô trên đường truyền giáo, chắc chắn không quên kể lại chuyện mình chối Chúa ba lần. Kể chuyện mình chối Chúa, mà cả người kể lẫn người nghe đều cảm thấy lòng mình thương Chúa nhiều hơn.

Hôm nay ông bạn mácxít được nghe chuyện xấu xa của Giáo Hội nhiều hơn ông đã từng biết. Ông không ghét, ông không khinh Giáo Hội. Dường như ông thông cảm với Giáo Hội, y như ông thông cảm với thân phận yếu đuối chung của loài người và của chính ông. Dường như ông cũng bắt đầu thấy rằng dưới gầm trời chẳng có ai là thánh. Ai khoe mình là Thánh, thì chỉ là khoác lác, chỉ là cuồng si, chỉ là không tưởng…

Mình cảm thấy rằng khi hai người đối thoại với nhau mà không thành kiến, không hận thù, thì họ sẽ thấy những khuyết điểm của nhau chỉ là đáng tiếc, chứ không đáng khinh dể. Bây giờ ông bạn mácxít của mình không còn thắc mắc tại sao “đạo của anh bẩn quá”. Ông chỉ còn muốn biết Đức Giêsu là thế nào. Mình kể cho ông nghe ba câu chuyện của ba người.

Người thứ nhất là ông Philip.

Sau khi được Đức Giêsu mời gọi làm đệ tử, Philip vội vàng đi khoe với ông bạn Nathanael: “Đấng mà Môsê và ngôn sứ nói tới, thì chúng tôi đã gặp rồi, đó là Đức Giêsu con ông Giuse, người làng Nagiarét”. Nói tới Nagiarét một làng nổi tiếng quê mùa, Nathanael cả cười và phê một câu chắc nịch: “Chẳng có điều gì tốt mà lại xuất phát từ Nagiarét”. Philip đành chịu thua, nhưng khuyên bạn: “Anh hãy đến mà xem”. Nathanael đến gặp Đức Giêsu và đã tin Người là Đấng Cứu Thế.

Mình khuyên ông bạn mácxít của mình: “Anh hãy nuôi ước muốn tìm hiểu Đức Giêsu. Ngài sẽ trực tiếp giúp anh”.

Người thứ hai là đại danh hào Lep Tolstoi.

Tolstoi say mê kinh “Phước Thật Tám Mối”. Đó là bài giảng quan trọng nhất của Đức Chúa Giêsu. Đó là chân dung hoàn hảo nhất của một Kitô hữu chân chính. Tolstoi đã giới thiệu kinh này cho Thánh Gandhi của Ấn Độ. Thánh Gandhi đã phát biểu ý kiến của mình về kinh “Phước Thật Tám Mối” như sau:

“Sau khi đọc kinh phước thật tám mối, tôi rất yên tâm tiếp tục cuộc đấu tranh bất bạo động của mình để giành độc lập cho quê hương Ấn Độ”.

Người thứ ba là đại danh hào Dostoievsky.

Dostoievsky bất mãn với Giáo Hội thời Trung Cổ. Trong cuốn “Anh Em Nhà Karamasov” ông đã dựng nên một vở tuồng cực ngắn mô phỏng một vị hồng y ngồi ghế chánh án xử một tín đồ về tội không tin theo giáo huấn của Giáo Hội. Người tín đồ ấy bị đưa lên giàn hỏa thiêu. Phần kết của vở tuồng, Dostoievsky cho đức hồng y chánh án đối chất với Đức Giêsu đang bị giam ở tầng hầm của tòa giám mục, “Xin Ngài nhớ là trước khi về trời, Ngài đã trao mọi quyền hành trên trời và dưới đất cho chúng tôi rồi mà. Tại sao bây giờ Ngài lại đến xía vào việc của chúng tôi…”.

Dostoievsky bất mãn với cái xấu của Giáo Hội, một tập thể yếu đuối đang đi tìm ơn cứu độ nơi Đức Giêsu. Nhưng ông lại tuyệt đối tin tưởng vào Đức Giêsu. Ông tuyên tín như sau: “Đức Giêsu là Chân-Thiện-Mỹ tuyệt đối. Nếu có ai bảo rằng Đức Giêsu không có chân lý thì tôi, Dostoievsky, vẫn đứng về phía của Người”.

Mình hứa sẽ tìm cho ông bạn mácxít của mình một cuốn sách Thánh Kinh. Đọc Thánh Kinh để biết Đức Giêsu. Đọc Thánh Kinh còn giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về các tác phẩm văn chương của Châu Âu. Mình đan cử một ví dụ:

V.Gheorghiu tác giả của cuốn “Giờ Thứ Hai Mươi Lăm” kể chuyện: một người đàn bà nghèo tên là Aritiba có một người chồng mà dư luận cho là có dòng máu Do-Thái. Đó là thời điểm đang bùng vỡ phong trào bài Do Thái. Người đàn bà này sợ quá, nhưng không dám hỏi chồng. Bà cứ nom nóp lo sợ, cứ âm thầm thắc mắc. Cho tới buổi tối hôm ấy, chồng của bà hấp hối. Bà đứng khóc thút thít bên giường người chồng sắp ra đi. Khi ông vừa ngáp một cái rồi tắt thở, thì bà vội kéo quần ông xệ xuống một cái rồi kéo trở lại ngay. Bà hốt hoảng lấy tay làm dấu Thánh giá…

Mình hỏi ông bạn:

– Anh có biết tại sao bà kéo quần của chồng xệ xuống, rồi vội kéo lên ngay không? Anh có hiểu tại sao bà ta hốt hoảng và làm dấu Thánh giá không?

– Tôi chưa kịp hiểu. Anh hỏi tôi mới để ý.

– Bà kéo quần chồng xệ xuống mới phát giác ra rằng quả thật chồng bà là người Do Thái.Theo luật, thì mọi người Do Thái phải cắt bỏ da bọc quy đầu. bà đã thấy, bà sợ quá. Khi sợ quá người bên đạo chúng tôi thường làm dấu Thánh giá như một phản xạ. Nếu anh đọcThánh Kinh, anh sẽ tìm hiểu ngay chi tiết có vẻ hơi bí mật này.

– Có lý. Anh kiếm cho tôi một cuốn Thánh Kinh nha.

Lm. Bùi Tuần

CUỘC SỐNG KHÔNG NHẤT THIẾT CHUYỆN GÌ CŨNG PHẢI PHÂN RÕ TRẮNG ĐEN

CUỘC SỐNG KHÔNG NHẤT THIẾT CHUYỆN GÌ CŨNG PHẢI PHÂN RÕ TRẮNG ĐEN

Có câu “nước quá trong thì không có cá, người xét nét quá thì không có bạn.”
Tranh chấp với người nhà, giành được rồi thì tình thân cũng mất đi.
Tính toán với người yêu, rõ ràng rồi thì tình cảm cũng phai nhạt.
Hơn thua với bạn bè, chiến thắng rồi thì tình nghĩa cũng không còn.
Khi tranh luận, người ta chỉ hướng đến lý lẽ mà quên rằng cái mất đi là tình cảm, còn lại sự tổn thương là chính mình.
Cái gì đã đen thì sẽ đen, trắng là trắng, tốt nhất hãy để thời gian chứng minh.
Rủ bỏ sự cố chấp của bản thân, dùng lòng khoan dung để nhìn người xét việc; thêm một chút nhiệt tình, một chút điềm tĩnh và ấm áp thì cuộc sống sẽ luôn có ánh mặt trời và suốt đời mình sẽ là người thắng cuộc.
Ở đời, sống là để bản thân mình xem, đừng tham vọng mọi người đều hiểu bạn; cũng đừng mong cầu mọi việc đều theo ý mình.
Khi đau buồn hay mỏi mệt, nên biết tự an ủi lấy bản thân.
Không có người lo lắng thì càng phải mạnh mẽ.
Không có ai cổ vũ cũng phải biết tự bay lên.
Không có người chiêm ngưỡng cũng cần thơm tho và tươm tất.
Cuộc sống, không có khuôn mẫu cố định, chỉ cần một trái tim trong sáng và nhiệt huyết.
Gặp phiền não thì tự tìm lấy niềm vui riêng, đừng quên đi hạnh phúc.
Dù bận rộn cũng nhớ giữ lại chút thanh nhàn, đừng để mất sức khỏe.
Mệt mỏi rồi thì tạm dừng lại nghĩ ngơi, đừng đánh mất niềm vui cuộc sống.
Chỉ cần trong lòng luôn nhớ đích đến và biết hiện giờ mình đang làm gì ở đâu thì yên tâm, sẽ không bị lạc đường!
(Sưu Tầm )

From: TU-PHUNG

Buồn Vui Năm 2020 – Bài tản mạn

Buồn Vui Năm 2020 – Bài tản mạn

Tác giả: Nguyễn Ngọc Duy Hân

Thấm thoát mà một năm Dương Lịch lại đã trôi qua – năm 2020 với nhiều biến động, thay đổi. Thời gian nhanh như gió thoảng, nhớ mới hôm nào bắt đầu năm 2000, gia đình tôi và mọi người đều lo lắng cho một thiên niên kỷ mới, lo tích trữ gạo, nước, sợ điện bị cúp, lo hệ thống computer bị hư hỏng …. mà bây giờ 20 năm nữa đã trôi qua. Con số 2020 nhìn rất đặc biệt, nên cũng đã có khá nhiều sự kiện khác lạ xảy ra trong năm rồi. Mời bạn cùng tôi điểm qua vài sự kiện quan trọng nhé.

Đầu tiên thì phải kể tới đại dịch COVID-19. Thế giới ghi nhận bệnh nhân số 0 là một người dân ở Vũ Hán nước Tàu, 55 tuổi. Sau khi không thể che đậy dấu diếm, WHO đã phải công bố tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu. Đến nay, cả thế giới chịu ảnh hưởng bởi các lệnh phong tỏa và giãn cách xã hội. Mặt nạ, thuốc chích ngừa là vấn đề hàng ngày trên các báo chí, truyền thông. Người ta bị hạn chế tiếp xúc, giao thông công cộng bị đình trệ, ngành du lịch bị chết cứng. Biết bao tiền bạc, hợp đồng mua bán bị tiêu hủy, nạn thất nghiệp gia tăng chưa từng có. Dù chính phủ các quốc gia có hỗ trợ, cứu nguy người dân nhưng cũng không được bao nhiêu. Số nợ nần thâm thủng quốc gia này không biết sau này chúng ta và con cháu phải trả cách nào, đến bao giờ mới khỏi xuống dưới số zero. Tiếp theo suy thoái kinh tế là sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, ngoài một vài hãng làm thuốc chủng ngừa, bán hàng “online” có giá stock lên, còn đa số các công ty khác đều bị xuống giá trầm trọng, mỗi ngày hàng bao nhiêu triệu đô-la bị biến mất.

Người ta thống kê thấy nữ giới bị mất việc làm nhiều hơn nam giới, vì phụ nữ thường làm việc ở những ngành bị ảnh hưởng nặng nhất như du lịch và bán lẻ, làm trong các ngành phục vụ như nhà hàng, khách sạn… Riêng người Việt mình ở hải ngoại thì lao đao do tiệm Nail, tiệm cắt tóc, tiệm ăn bị lệnh “lockdown” phải đóng cửa. Ngay cả các tiệm bán hoa cũng khó làm ăn, vì không có tiệc, không có sinh nhật, thì đâu cần hoa hòe làm gì! Đám tang thì nhiều hơn nhưng phải tổ chức trong giới hạn, không có bao nhiêu người đi viếng funeral thì hoa cũng trở nên ế ẩm. May ra thì nhà quàn, nơi bán quan tài là đắt khách hơn trước. Các bà ít ra đường nên cũng chẳng cần quần áo đẹp, son phấn trang điểm. Đi chợ thì che mặt kín mít, tô son điểm phấn cũng hoài của. Có lần đi nhà thờ, tôi đem chè mới nấu tặng vài anh chị bạn mỗi người một hộp. Trao quà xong về nhà tôi ngơ ngẩn vì hồ nghi, không chắc mình đã trao hộp chè cho đúng người, vì anh đeo mặt nạ kín mít, đôi mắt nhìn tôi có vẻ rất ngạc nhiên, có lẽ anh thắc mắc sao bà này tự nhiên lại đem cho mình chè. Chùa chiền, nhà thờ cũng vắng vẻ, có thời gian được mở cửa lại với số người hạn chế, nhưng khoảng cuối năm 2020 thì lại đóng cửa trở lại. Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa bị ngưng trệ, phải học và họp phải qua hệ thống viễn liên, các sinh hoạt đều mang tính cách tạm thời, vá víu. Khẩu trang không chỉ trở thành hình ảnh mang tính biểu tượng của năm 2020 mà còn là biểu tượng của một thời kỳ đáng sợ. Đến các bức tượng nổi tiếng, ông già Noel, cục kẹo chocolate hình ông già Noel, các gốc cây… cũng phải đeo khẩu trang, thì việc chiếc “mask” trở thành vấn đề “nổi cộm” là chuyện đương nhiên. Thôi thì đành làm quen với cuộc sống ảo, chấp nhận khó khăn chứ biết sao bây giờ.

Sau Covid, sự kiện khá quan trọng mà báo chí thế giới đã công nhận là việc Nga sửa đổi hiến pháp, kéo dài nhiệm kỳ Tổng Thống. Chuyện này xảy ra vào đầu tháng 7, gần 80% cử tri Nga đã bỏ phiếu ủng hộ sửa đổi hiến pháp, trong đó có việc hủy bỏ giới hạn nhiệm kỳ tổng thống. Sửa đổi này cho phép tổng thống Vladimir Putin ra tranh cử thêm 2 lần nữa, và như vậy ông Putin có khả năng duy trì quyền lực cho đến năm 2036. Chuyện này cũng quen quen, giống như chuyện luật lệ ở Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, tất cả nằm trong quyền lực của chủ tịch.

Tiếp theo là cuộc chiến pháp lý ở biển Đông. Bất chấp đại dịch COVID-19, Trung Cộng vẫn tiếp tục leo thang hoạt động quân sự tại biển Đông, dù nhiều năm qua, rất nhiều các quốc gia đã phản đổi mạnh mẽ. Chẳng hạn trong năm 2020, Philippines, Malaysia, Indonesia đã đồng loạt gửi công hàm ngoại giao đến Liên Hiệp Quốc, phản đối đường 9 đoạn “Lưỡi Bò” của Trung Cộng. Ngoài ra, Mỹ, Úc rồi 3 nước châu Âu – Anh, Pháp, Đức – cũng gửi văn thư bác bỏ yêu sách Biển Đông của Bắc Kinh. Về phía người Việt hải ngoại, cũng đã có các nhóm kết hợp với người Việt quốc gia trong nước lo việc thưa Trung Cộng ra tòa án quốc tế, mong đòi lại được Hoàng Sa, Trường Sa toàn vẹn lãnh thổ. Công việc không dễ dàng nhưng nếu không làm, không cố gắng thì sẽ không có chút hy vọng nào.

Đụng độ biên giới giữa Ấn Độ – Trung Cộng cũng là một trong những việc đáng nhắc tới trong năm qua. Sự tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước này trong nhiều năm qua đã trở nên căng thẳng hơn cả sau vụ bắn nhau ở biên giới khiến 20 người lính Ấn Độ thiệt mạng hồi tháng 6, 2020. Bộ mặt thật của Trung Cộng ngày càng rõ ràng hơn trước tai mắt quốc tế, nhất là sau cơn dịch Vũ Hán. Cứ đà này, Trung Cộng sẽ có nhiểu cơ hội lấn lướt các nước lớn và trở thành quốc gia có thể chi phối cả thế giới. Mong là các nước đều mạnh mẽ có thái độ để Trung Cộng bớt lộng hành.

Việc người đàn ông da đen tên là George Floyd bị người cảnh sát da trắng ghì cổ đến chết cũng đã là sự kiện lớn xảy ra ở Hoa Kỳ trong năm qua. Người dân khắp thế giới tức giận biểu tình rồi đi đến bạo động. Phong trào Black Lives Matter sau đó bị lợi dụng để hôi của, phá hoại, rất nhiều các bức tượng đã bị giật sập, nhiều địa danh phải bị đổi tên vì không dám dính líu tới người da màu.

6 bieu tinh Black live matter.png

Báo chí cũng nhắc lại việc “đàn hặc”, dự định truất phế tổng thống Donald Trump nhưng cũng may chuyện bất thành, chỉ làm tốn thêm một mớ tiền thuế của người Mỹ.

Sự kiện lớn trong năm qua cũng là chuyện “bầu” giữa hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa bên Mỹ. Cuộc bầu cử Tổng Thống 2020 là cuộc bầu cử gây tranh cãi nhiều nhất trong lịch sử nước Mỹ. Đến bây giờ là cuối năm 2020, mà vẫn chưa ngã ngũ ai là tổng thống. Các gia đình, các nhóm gây gỗ nhau hằng ngày trong các bữa cơm, diễn đàn, thậm chí đi đến mạ lỵ phỉ báng nhau vì người bênh Trump, người bênh Biden. Đứng giữa có các “dư luận viên” ăn tiền Cộng Sản thọc gậy bánh xe, làm xáo trộn mất đoàn kết, mắng chửi nhau kinh hồn. 

Bạn có đọc câu chuyện vui về việc bầu bán sau đây chưa (ông bà mình dùng chữ hay quá, bầu thì phải đi liền với bán!):

Người Mỹ hãnh diện: “Chúng tôi với kỹ thuật hiện đại, buổi sáng bỏ phiếu, buổi chiều biết liền ai là tổng thống”.

Người Trung Cộng điềm tĩnh nói: “Sao các bạn kém vậy mà cũng khoe, chúng tôi hôm nay bỏ phiếu, nhưng năm ngoái đã biết chủ tịch là ai rồi”.

Người Bắc Hàn tỏ vẻ khinh thường: “Chẳng cần bỏ phiếu, khi học mẫu giáo đã biết ai sẽ là chủ tịch tiếp theo rồi”.

Người Nhật Bản bối rối tiếp theo: “Chúng tôi đã bỏ phiếu, nhưng cũng không biết ai là Thủ tướng”.

Người Nga cười nhạt một tiếng: “Tổng thống của chúng tôi mệt mỏi khi làm thủ tướng, và thủ tướng cũng mệt mỏi khi làm tổng thống”.

Một người Cuba nghi hoặc, yếu ớt hỏi: “Này anh, người lãnh đạo cũng có thể thay đổi à?”

Người Iraq lớn tiếng trả lời: “Có thể chứ, làm sao không thể đổi! Nếu không đổi, người Mỹ sẽ cho anh đổi!”.

Người Việt Nam thì cúi mặt: “Đảng cử, Dân bầu, không cần đi bầu cũng biết nhà nước sẽ có báo cáo có 99% dân đi bầu”

Còn năm nay, người Mỹ lại phải đổi cách nói, than rằng: “Chúng tôi bỏ phiếu từ gần 2 tháng nay, đếm tới đếm lui mà đến nay vẫn không rõ tổng thống là ai?”

Tiếp theo chuỗi chuyện rắc rối là việc cháy rừng ở Úc: “The Black Summer Fires”. Sydney bị chìm trong khói bụi cháy rừng. Chính phủ Úc phải tuyên bố đây là tai nạn lớn của quốc gia, gần 500 triệu thú vật đã bị chết cháy. Các nước trong có lính cứu hỏa Canada đã phải sang Úc tiếp cứu.

10 chay Uc.jpg

Hỏa hoạn cũng tiếp tục ở Hoa Kỳ, đặc biệt tại California làm thiệt hại rất nhiều. Nơi thì thần lửa nổi giận, nơi thì mưa gió ngập lụt, ôi thật là buồn, giá mà bù đắp cho nhau được. Các trận lụt lớn bên Phi, bên Tàu, Việt Nam cũng là điều không thể quên trong năm qua.

Tấm hình chụp một phụ nữ thuộc bộ tộc Turkana bị bủa vây bởi “giặc châu chấu” tại sa mạc Turkana, Kenya cũng trở thành tiêu đề cho năm 2020. Đám châu chấu khổng lồ này làm thiệt hại mùa màng, gây thêm đói kém nghèo khổ không ít.

8 chau chau tai Kenya.jpg

Kế tới là việc chiếc Boeing 737 của Ukrainian bị bắn rớt, vì người Iran tưởng lầm đây là hỏa tiễn của “giặc lạ”. Quả là “lầm chết người”, Iran tuyên bố sẽ bồi thường tiền cho nạn nhân, nhưng số tiền có là bao so với mạng người phải chết tức tưởi như thế.

11 ukrain crash.jpg

Được nhắc tới nhiều là một vụ nổ kinh hoàng tại trung tâm Beirut cũng đã làm khu vực này trở thành bình địa, thiệt hại rất to lớn. Những người cầm đầu chính phủ Lebanon này đã bị dân chúng chống đối đòi họ phải từ chức, do quá bất cẩn chứa nhiều hóa chất dễ nổ mà không phòng ngừa,

12 beirut explosion.jpg

Tại Thái Lan, chuyện chấn động trong năm là việc khu trung tâm buôn bán lớn đã bị một người lính nổ súng làm 29 người chết và 58 bị thương.

Các cuộc biểu tình lớn ở Hongkong cũng là sự kiện quan trọng, hàng triệu người đã xuống đường đòi tự do. Dù bị Trung Cộng đàn áp dã man, mọi người đặc biệt giới trẻ vẫn không sờn lòng.

13 B hongkong.jpg

Tại Anh, năm qua Hoàng Gia cũng đã thêm nhức đầu do hoàng từ Harry và vợ là Meghan Markle tuyên bố “quit” Hoàng Gia, không thèm tước vị công nương, hoàng tử. Giàu có, quyền lực như Nữ Hoàng Anh mà cũng phải đối đầu với nhiều biến cố, có ai sung sướng hoàn toàn đâu.

Báo chí thế giới cũng liệt kê cái chết của Kobe Bryant, một cầu thủ bóng rổ nổi tiếng của NBA bị tai nạn trực thăng là sự kiện đáng chú ý trong năm. Tiện đây cũng xin mở ngoặc vào cuối năm 2020, nhạc sĩ Lam Phương và Chí Tài đã qua đời. Về nghệ thuật thế giới thì người ta cũng cho việc cuốn phim “Parasite” nghĩa là “Ký Sinh Trùng” được tới 4 giải Oscars là sự kiện quan trọng. Phim và đạo diễn là người Đại Hàn, điều này cho thấy người châu Á cũng rất tài năng và đang phát triển vượt bậc trong nghệ thuật phim ảnh.

15 oscars.jpg

Tiếp theo các sự kiện trên là các hệ lụy đương nhiên xảy ra, đã dẫn tới sự nghèo đói khắp thế giới. Theo WB, COVID-19 đã khiến thêm 115 triệu người rơi vào cảnh cùng cực trong năm nay. Lớp người nghèo mới này đa số ở tại Nam Á hoặc vùng hạ Sahara của châu Phi. Thế giới trong 2020 có thêm khoảng 132 triệu trẻ em bị đói ăn. Tại nhiều nơi, tình trạng khan hiếm lương thực và dịch bệnh đã gây ra mâu thuẫn và bạo lực. Tấm hình của một cậu bé bị suy dinh dưỡng, với ánh mắt tuyệt vọng tại tỉnh Hajj, Yemen cũng làm người ta xúc động mãnh liệt. Yemen là quốc gia xảy ra vi phạm nhân đạo nghiêm trọng nhất thế giới do 3 năm nội chiến.

9 be trai Yemen bi doi.jpg

Riêng tại Việt Nam, đối với tôi sự kiện quan trọng trong năm nay là việc tù nhân lương tâm Nguyễn Bắc Truyển được trao giải Stefanus. Tổ chức Stefanus Alliance International của Na Uy hôm 20 tháng 10, 2020 đã làm buổi lễ trao giải thưởng đặc biệt cho ông Truyển.  Đây là giải trao cho người dám thể hiện lòng dũng cảm, dám tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo và “Human Rights” của con người. Trước đây giải thưởng này đã trao cho các nhân vật tại Iraq, Bắc Hàn, Thổ Nhĩ Kỳ… Ông Nguyễn Bắc Truyển là một tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, một thành viên của Hội Ái Hữu Tù Nhân Lương Tâm và Hội Anh Em Dân Chủ. Năm 2017, ông Truyển cùng một số nhà hoạt động khác bị bắt và bị đưa ra xét xử. Sau đó, ông bị tuyên án 11 năm tù và 3 năm quản chế với cáo buộc “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Bà Bùi Thị Kim Phượng, vợ của Nguyễn Bắc Truyển từ Sài Gòn cho biết bà rất xúc động và tự hào về chồng mình. Cho dù bản thân bà và các chị của bà đã phải chịu sự trả thù hết sức là bất nhân của nhà cầm quyền Việt Nam. Ông Truyển hiện ở tại nhà tù An Điềm, tỉnh Quảng Nam. Chúng tôi sinh hoạt trong Phong Trào Yểm Trợ Dân Chủ Quốc Nội Toronto, rất gần gũi thân thiết với vợ chồng Nguyễn Bắc Truyển, rất cảm phục tinh thần dấn thân và hy sinh của họ.

1 nguyen bac truyen.jpeg

Vâng, ở Việt Nam thì thế đấy, sau khi cướp đất ở Thái Hà, vườn rau Lộc Hưng… là hiện tượng Đồng Tâm, biết bao người bị giết, bị tù vì không chịu bị bọn cầm quyền chiếm đất cách vô lý. Thời gian gần đây nhiều tù nhân lương tâm khác cũng đã bị bắt, như nhà báo độc lập Phạm Đoan Trang, anh em Huỳnh Minh Tâm, Huỳnh Tố Nga, cô Thu Thủy… Trần Huỳnh Duy Thức vẫn đang tuyệt thực trong trại giam. Một công dân Canada là ông Châu Văn Khảm bị xử bản án vô lý vẫn còn trong tay bọn Cộng Sản. 

Mặc dù nhìn ở mặt ngoài, do được các công ty ngoại quốc đến Việt Nam đầu tư, công ăn việc làm có nhiều hơn, đời sống một số người dân đỡ khổ hơn, nhưng ăn chận, hối lộ, hà hiếp dân lành, đàn áp tôn giáo vẫn là chuyện không chấm dứt được ở quê nhà. Năm vừa qua bão lụt miền Trung lại xảy ra to lớn hơn bao giờ, người dân đã nghèo lại càng khổ hơn. Hiện tượng ca sĩ Thủy Tiên thu góp được số tiền cứu trợ nạn nhân bão lụt rất lớn cũng được coi làm một việc đáng nhắc tới. Tại sao người dân không tin nhà nước, mà lại tin vào một nữ ca sĩ như thế, câu trả lời chắc là ai cũng biết rồi. 

Tại hải ngoại, các sinh hoạt cộng đồng như lễ tưởng niệm Quốc Hận 30 tháng 4, ngày Quốc tế Nhân quyền, các hội họp đểu bị ngưng do lệnh “lockdown”. Năm con Trâu sắp đến các Hội Chợ Tết cũng sẽ không có, không biết đến mùa hè 2021 mọi việc sẽ ổn định lại chưa. Quả là một năm buồn nhiều hơn vui.  

Tuy nhiên, nếu cứ bi quan nhìn vào cái tiêu cực thì cũng không nên. Qua đại dịch Covid, cũng có vài điều tốt mình nên nhắc tới. Đầu tiên là việc môi trường, không khí, các vùng biển được trong lành, bớt ô nhiễm hơn. Người ta cũng có thì giờ nhìn lại mình, dành nhiều giờ cho gia đình và bồi dưỡng tâm hồn hơn. Thức ăn cũng được “lành” hơn do ít đi ăn ngoài, tự nấu lấy tránh được dầu mỡ, bột ngọt, hóa chất. Tuy nhiên, cũng không ít người lên cân do thiếu vận động, ở nhà buồn nên ăn nhiều hơn. Có người bạn vui vẻ tuyên bố: “Cấm cung ở nhà ăn nhiều, mà không hề lên cân”. Không “lên cân” ở đây nghĩa là không dám bước lên cái cân, chứ đâu phải nghĩa là không tăng ký! Ngoài ra mình cũng có được khoảng thời gian để nhìn lại, như ly nước luôn bị vẩn đục, nay được yên lặng để cát bụi cặn bã lắng xuống, ly nước tâm hồn được trong trẻo hơn, có nhiều quyết tâm thay đổi cuộc sống hơn.

Forbes cũng vừa công bố danh sách 100 phụ nữ quyền lực nhất thế giới năm 2020, trong đó thủ tướng Đức là bà Angela Merkel vẫn đứng đầu danh sách những phụ nữ quyền lực nhất thế giới năm thứ 10 liên tiếp. Ngoài ra, những người được liệt tên khác là ứng cử viên phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris, Nữ hoàng Anh Elizabeth, thủ tướng New Zealand Jacinda Ardern, thủ tướng Phần Lan Sanna Marin, chủ tịch Ngân hàng Trung ương Châu Âu Christine Lagarde, Thị trưởng Tokyo Yuriko Koike….

Nãy giờ điểm qua các chuyện có thể không vui lắm, nên tôi xin sưu tầm vài phong tục đón Tết dương lịch ngộ nghĩnh trên thế giới, hy vọng sẽ làm bạn vui được chút chút chăng.

Bắt đầu là Tây Ban Nha, trong giây phút chuyển giao giữa năm mới và năm cũ, người Tây Ban Nha ngoài uống rượu chúc mừng thì họ còn có truyền thống là ăn nho xanh. Khi “count down” giao thừa, họ ăn thật nhanh 12 trái nho tượng trưng cho 12 tháng trong năm mới, thể hiện mong ước một tương lai ngọt ngào và suôn sẻ.

Đối với người dân tại Cộng hòa Czech thì trong đêm mừng năm mới, mọi người trong gia đình sẽ cùng nhau quầy quần và trên bàn ăn sẽ cắt quả táo làm đôi. Nếu lõi quả táo có hình ngôi sao tức là năm đó sẽ có sức khỏe dồi dào và gặp nhiều may mắn. Còn nếu quả táo có hình chữ thập đan chéo thì năm đó sẽ có người bị vấn đề sức khoẻ.

Úc là một trong những nơi đón giao thừa sớm nhất thế giới. Đêm giao thừa ở các nước khác rơi vào mùa Đông giá lạnh, còn đêm giao thừa tại Úc thời tiết có thể ấm gần 40 độ C.

Người Ai Cập lấy nước sông Nile dâng cao nhất làm ngày bắt đầu năm mới.

Tại Mỹ và Canada, mọi người thường hôn nhau vào khoảnh khắc giao thừa. Theo văn hóa phương Tây, đặc biệt là ở Bắc Mỹ, việc hôn một người vào lúc 0 giờ rất có ý nghĩa, nếu thích ai mình có thể “canh-me” hôn người đó vào lúc này mà không bị… tát tai.

Người Ba-Tây lại có phong tục thả trôi những bông hoa trắng dưới biển để tỏ lòng biết ơn với nữ thần biển cả.

Đập vỡ bát đĩa trong đêm giao thừa được coi là may mắn tại Đan Mạch.

Riêng ở Châu Mỹ Latin như Mexico, Bolivia và Ba-Tây, màu sắc quần lót sẽ xác định năm mới của mình như thế nào. Màu đỏ sẽ mang lại tình yêu và sự lãng mạn, màu vàng dẫn đến sự giàu có và thành công, màu trắng dành cho sự bình an và hòa hợp, màu xanh lá cây có ý nghĩa tốt đẹp và yêu thiên nhiên. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, quần lót đỏ cũng được xem là món quà may mắn và hứa hẹn một năm mới đầy sinh khí.

Ở Ecuador, phong tục đốt cháy hình nộm là để tiêu diệt những điều xui xẻo của năm cũ. Những hình nộm này được làm từ quần áo cũ được nhồi với giấy báo hoặc mạt cưa. Bắt chước họ, bạn thử đốt một ít khẩu trang xem sao, may ra năm mới 2021 không phải đeo cái mặt nạ này nữa.

Tháng Giêng tại Nhật Bản được gọi là “Oshougatsu”, bắt nguồn từ phong tục chào đón vị thần năm mới Toshigamisama – vị thần tượng trưng cho sức khỏe, may mắn và phát đạt. Ngày xưa Nhật Bản đã đón tết âm lịch như các nước châu Á khác, nhưng sau này họ chuyển sang đón tết dương lịch. Họ đặt các loại bánh dầy, bánh Tokonoma lên bàn thờ nhằm tỏ lòng thành kính và mong được các thần linh phù hộ. Vào lúc nửa đêm, các ngôi chùa Phật giáo khắp Nhật Bản rung lên 108 hồi chuông để xua tan đi 108 đam mê xấu xa của con người. Đam mê tội lỗi có tới 108 loại, tôi chỉ mong mỗi năm mình bớt được 1, 2 tánh xấu là mừng lắm rồi. Càng già tôi càng thấy “tật” rất khó sửa, chính mình không sửa được thì sao dám đòi hỏi người chung quanh thay đổi.

Điểm thú vị trong ngày đầu năm mới tại Pháp là người dân nước này ra đường xem hướng gió để đoán thời vận trong năm. Nếu gió Nam thổi, đó là dấu hiệu một năm mưa thuận gió hòa. Nếu gió Tây thổi, sẽ là một năm may mắn đối với nghề đánh cá và nuôi bò sữa. Nếu gió Đông thổi, cây trái sẽ bội thu, nhà nhà no ấm. Còn nếu gió Bắc thổi là điềm không tốt, đây sẽ là một năm mùa màng kém thành công.

Người dân Colombia rất thích được đi du lịch khắp thế giới. Vì thế truyền thống vào dịp cuối năm của họ là xách một chiếc vali chạy vòng quanh một khối đá với mong ước sang năm mới sẽ được đi nhiều nơi để khám phá nhiều điều thú vị hơn.

Bắt đầu từ năm 1970, cứ vào đêm giao thừa người dân nước Đức lại có thói quen đón xem chương trình “Dinner for One”. Đây là một bộ phim hài hước đen trắng a nước Anh được quay ở Đức vào năm 1963. Bộ phim này chẳng liên quan đến năm mới bao nhiêu, nhưng không xem thì coi như thiếu niềm vui trong năm mới.

Ở Hungary, người ta cũng kiêng không giặt quần áo trong ngày đầu năm nếu không muốn năm tới xui xẻo.

Bắn pháo bông cũng là phong tục mừng năm mới trên khắp thế giới. Người ta xếp hạng 10 địa điểm bắn pháo hoa đẹp nhất trên thế giới như sau: Đứng đầu là Sydney của nước Úc. Màn bắn pháo hoa mỹ lệ diễn ra tại nhà hát con sò Opera Sydney và cây cầu của hải cảng Sydney đã mang đến cảnh tượng ngoạn mục cho mọi người. Tiếp tới là Đài Bắc (Đài Loan), rồi tới Bangkok (Thái Lan) au đó là Dubai với màn trình diễn các loại pháo bông đủ kiểu tại tòa nhà cao nhất thế giới Burj Khalifa (828 mét). Tiếp tới là Moscow (Nga),  Cape Town (Nam Phi), London (Anh), Rio de Janeiro (Brazil), gần cuối hạng 9 và hạng 10 mới là New York và kinh đô ánh sáng trên sa mạc Las Vegas (Mỹ).

19 sydney.jpg

Năm nay các nơi vẫn có bắn pháo bông mừng năm mới, nhưng khán giả đa số bị cấm cửa không được ra đường xem trực tiếp, kể cũng buồn. Hẹn năm sau. Đúng rồi, có xuống thì sẽ có lên, bao giờ người siêng năng, cố gắng cũng dễ đạt tới thành công. Hãy sống tốt nhất trong hoàn cảnh của mình và hướng về tương lai. 

Nhìn lại chuyện thế sự thì như thế, còn chuyện của riêng ta thì sao. Năm nào, tháng nào, ngày nào tôi cũng ráng nhìn lại mình, cầu nguyện cho mình được tốt hơn hôm qua, năm cũ. Đầu năm mới, “new year resolution” của bạn là gì, hãy chú tâm, cố gắng hoạch định và chúc bạn thành công nhé.

Xin mến chúc mọi người luôn lạc quan để thấy không phải chỉ nụ cười, mà nhiều khi nước mắt cũng là hạnh phúc, kinh nghiệm tốt đẹp. Chúc mọi người tìm và giữ được những giây phút yêu thương chan chứa trong ngày đầu năm. Chúc bạn một năm 2021 đến trong an hòa, hạnh phúc. Chúc bạn ngoài biết nấu ăn ngon trong bếp, cũng biết thêm cách nêm nếm xào nấu ngôn ngữ trước khi sử dụng để “đắc nhân tâm” không làm người khác buồn lòng. Chúc bạn nhạy cảm như lá cây mắc cở (hoa trinh nữ) để luôn biết xếp cánh, thương cảm trước những cảnh khó khăn và rộng lòng giúp đỡ. Với người thân đã ra đi không thể đoàn tụ, nhất là vì Covid, mong là trái tim chúng ta luôn ở bên nhau, nhớ tới nhau, cầu nguyện cho nhau.

Trong giây phút giao hòa của đêm 31 tháng 12, chúng ta cũng hướng lòng về quê cha đất tổ, chúc non sông An hòa Dân chủ, chúc người dân thật sự Tự do No Ấm, quan tâm yêu thương nhau….

Don’t just Dream…DO

Don’t just hear…LISTEN

Don’t just talk…ACT

Don’t just tell…SHOW

Don’t just exist…LIVE

Chúc Mừng Năm Mới – Happy New Year

Nguyễn Ngọc Duy Hân

Vì sao người Tây Phương (Mỹ) không dùng nhà và xe đo lường “thành công” như người Việt?

 

Vì sao người Tây Phương (Mỹ) không dùng nhà và xe đo lường “thành công” như người Việt?

Gần đây, sau bài viết “Khoe khoang kiểu Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam khác gì nhau” đăng tải trên Trí thức VN, không ít người đã bình luận và liên tưởng đến quan điểm sống, cách “khoe khoang” cũng như tiêu chí đo lường thành công của người Tây phương, đặc biệt là người Mỹ.

Dường như nếu tại một số nước phương Đông, nhà lầu và xe hơi được coi là tiêu chí đo lường thành công, thì điều này khác biệt hoàn toàn ở Mỹ. Vì sao lại có sự khác biệt như vậy?

Thứ nhất, quan điểm của những người trẻ đã trở nên thay đổi

Hiện tại, những người trẻ ở Mỹ có quan niệm khá khác biệt so với những người thế hệ trước, họ có hệ giá trị quan của mình. Những người thành công không sử dụng tài sản để mua nhà, mua xe hay tiến hành đầu tư nữa. Với họ, thành công tức là phải tự làm cho bản thân mình phong phú, đi du lịch nhiều nơi, chơi nhiều môn thể thao mạo hiểm và phải tự gây dựng sự nghiệp của mình.

Hơn nữa, những người trẻ tuổi cũng không có nhu cầu muốn ổn định, họ thậm chí còn muốn có nhiều không gian sinh hoạt sao cho có thể duy trì sự độc lập về kinh tế và tự chủ trong cuộc sống.

Thứ hai, thích lối sống tự do

Người Mỹ bản thân tính cách sôi nổi, thích trải nghiệm những môi trường sống khác nhau, thay đổi công việc của người Mỹ cũng lớn, mỗi lần như vậy đều có thể chuyển cả chỗ ở. Điều này trái ngược hoàn toàn so với văn hóa “an cư lạc nghiệp” của người phương Đông.

Ngoài ra, bởi vì những nhân viên người Mỹ tính lưu động cũng lớn, do đó các công ty cũng thường khuyến khích nhân viên tìm nhà ở gần chỗ làm để tiện cho công việc. Trong nhiều trường hợp, đi thuê nhà sẽ phù hợp với sự lưu động của tính chất công việc.

Thứ ba, người Mỹ làm cho chúng ta “tròn mắt” về quan niệm nhân sinh

Nói đến nước Mỹ, rất nhiều người chưa từng đến Mỹ đều cho rằng đây là một đất nước hiện đại hóa, nhịp sống rất nhanh, khắp nơi là đô thị, quán bar nhà hàng, tụ điểm ăn chơi… cho rằng Người Mỹ ai ai cũng chỉ âm mưu tranh đấu, tình người lạnh nhạt, khái niệm về gia đình không mạnh, tình dục hết sức cởi mở, tiền là thượng đế…

Nhưng nếu đến Mỹ, bạn sẽ phát hiện ra những gì trong tưởng tượng đó lại chỉ phù hợp với tình hình của Việt Nam và Trung Quốc hiện nay, không hề giống như nước Mỹ vốn có.

  1. Bị bệnh vẫn cố đi làm được xem là một hành vi vô trách nhiệm

Đến Mỹ, bạn sẽ phát hiện rằng, bị bệnh thì nên nghỉ ngơi, không nên cố đi làm. Khi bị bệnh mà vẫn cố đi làm thì được xem là một hành vi vô trách nhiệm đối với cả bản thân mình và người khác.

Chẳng hạn nếu bạn bị cúm, bác sĩ sẽ yêu cầu bạn nên ở nhà, cần phải tự cách ly bản thân trong thời gian bao lâu, bởi khi đến nơi công cộng bạn sẽ lây bệnh cho những người khác. Đây còn là một chủng đạo đức công cộng, chính là biểu hiện có trách nhiệm với xã hội.

  1. Nhà lầu xe hơi không phải là thứ mà người giàu nhất định phải sở hữu

Ở Mỹ khi nói đến mua nhà, cơ bản là mua nhà độc lập (giống như cái gọi là “biệt thự” trong suy nghĩ của nhiều người Việt). Những người bình thường cũng có thể mua nhà loại này, chứ không phải những người giàu. Ngoài ra còn một loại nhà xây theo từng phố (chúng ta gọi là biệt thự liền kề) giá rẻ hơn và thuộc quyền sở hữu của chủ nhà.

Điều này không giống với ở Trung Quốc và Việt Nam, người bình thường có để dành tiền cả đời cũng khó mua được biệt thự. Ở Trung Quốc chỉ có thể sở hữu tối đa 70 năm, còn quyền sở hữu vĩnh viễn thuộc về nhà nước, còn ở Việt Nam chỉ mua được quyền sử dụng đất.

  1. Chính trị gia cũng không có gì đáng kể

Trong suy nghĩ của nhiều người chúng ta, nếu được chụp ảnh riêng với chủ tịch nước, thủ tướng hay thậm chí giám đốc tỉnh, thành phố thôi cũng là một điều đáng để tự hào. Nhưng ở Mỹ thì quan chức chính phủ là do cử tri bầu cử. Bạn sẽ có nhiều cơ hội gặp họ khi họ tiến hành chiến dịch vận động tranh cử. Nếu bạn muốn chụp ảnh, khẳng định là họ sẽ phải cười vui vẻ và thể hiện thái độ thân thiện nhất với bạn, sau đó còn phải cảm ơn bạn đã ủng hộ cho họ. Các nghị sĩ và quan chức sau khi được bầu chọn, bạn viết thư cho họ nhất định sẽ nhận được hồi đáp. Nếu như trong giờ làm chưa giải quyết hết công việc, họ sẽ phải ở lại muộn để trả lời từng lá thư một.

  1. Gia đình là số một: Công việc và tiền bạc đều phải nhường chỗ cho gia đình

Rất nhiều người hiện nay bị cuốn vào công việc và tiền bạc đến nỗi không có thời gian dành cho gia đình. Có những người làm việc cả ngày lẫn đêm, họ coi trọng của cải vật chất hơn bất cứ thứ gì khác, sẵn sàng bỏ bê vợ con, con ốm cũng không đưa đi bệnh viện được, đến khi cha mẹ qua đời có thể còn không kịp đến gặp mặt lần cuối cùng…

Ở Mỹ, nếu làm như vậy thì sẽ bị người khác khinh thường. Nhiều người Mỹ thường đặt ảnh chụp chung của gia đình trên bàn làm việc. Sau giờ làm và cuối tuần họ đều dành thời gian cho gia đình. Hàng năm cũng có những kỳ nghỉ mà toàn bộ thành viên gia đình tham gia cùng nhau.

Người Mỹ cho rằng gia đình là số một, ngay cả tiền bạc và công việc đều phải nhường chỗ cho gia đình (Ảnh: Pixabay)

  1. “Phú” không đồng nghĩa với “quý”

Nhiều người cho rằng cuộc sống quý tộc chính là ở biệt thự, đi xe Bentley, chơi gôn, chi tiêu nhiều tiền hay đầu tư vào nhà đất… Thực tế thì đây không phải là tinh thần quý tộc. Đây mới chỉ là bước khởi đầu.

Tại Mỹ, rất dễ đánh giá sai một người nếu chỉ nhìn bề ngoài. Người giàu họ không chú trọng thương hiệu, không dùng xe hơi, nhà lớn, mà chú trọng phong thái, ra đường phải chỉnh tề (rất quan trọng), làn da phải màu nâu rám (có tiền để đi tắm nắng), thể hình phải rắn chắc (có phòng tập thể dục)… Một điều quan trọng nhất chính là khoản tiền đóng góp hàng năm cho các hiệp hội từ thiện và nhà thờ. Ở những trường đào tạo quý tộc thực sự, học sinh phải ngủ ở giường cứng, ăn uống cũng đạm bạc, mỗi ngày đều phải đào tạo huấn luyện cực kỳ gian khổ, thậm chí còn khổ hơn ở những trường bình dân. Trong ý thức người Trung Quốc, phú và quý là như nhau, không có khác biệt, nhưng sự thật thì hoàn toàn khác nhau, phú là ở vật chất, còn quý là ở tinh thần.

Người Mỹ theo đuổi các giá trị tinh thần, chứ không chạy theo bạc tiền vật chất, do đó với họ thì việc mua nhà lầu xe hơi chắc chắn không phải là thước đo thành công hay giá trị của một người giàu có.

Để ta nhớ về nhau với niềm yêu thương chứ không phải bằng nỗi đau!

Để ta nhớ về nhau với niềm yêu thương chứ không phải bằng nỗi đau!

Bà là một góa phụ lớn tuổi, chồng bà đã qua đời sau một tai nạn xe hơi. Kể từ đó, bà sống khép kín, không khóc than, không tâm sự với bất kỳ ai về cái chết của chồng. Hầu như ngày nào, bà cũng ngồi nhìn ra cửa sổ một cách vô định, không nấu ăn, không chăm sóc khu vườn và cả bản thân của mình nữa

Con gái bà đã tìm mọi cách giúp mẹ vượt qua tình trạng bế tắc này nhưng thật vô vọng. Nhiều bác sĩ đã chẩn đoán và điều trị chứng trầm cảm của bà nhưng vẫn hoài công, và đến một ngày người con gái dẫn bà tới gặp một bác sĩ tâm lý.

Lúc đầu, bà và bác sĩ chỉ ngồi quan sát nhau mà không trò chuyện. Trông bà khá trẻ so với cái tuổi bảy mươi, nhưng dường như trong bà không còn chút sức sống.

Người bác sĩ bắt đầu gợi chuyện, hỏi tại sao bà lại đến đây.

– Chồng tôi đã mất – Im lặng một lúc, bà nói tiếp – Các con tôi muốn tôi được khuây khỏa sau cái chết của cha chúng. Nhưng không ai có thể hiểu được cả.

– Tôi hiểu bà như mất đi một nửa cuộc sống của mình. Chỉ có chồng bà mới hiểu được nỗi mất mát ấy. Và cũng chỉ ông ấy mới biết được cuộc sống của hai người trước đây đã hạnh phúc đến nhường nào. – Bác sĩ nói.

Bà quay lại nhìn bác sĩ, đôi mắt màu nâu đen của bà không có một tia sáng nào cả.

– Nếu như lúc này ông ấy đang có mặt tại đây, bà sẽ nói gì?

Bà nhìn bác sĩ một lúc lâu rồi từ từ nhắm mắt lại. Bà bắt đầu nói – như thể đang nói với người chồng thân yêu của mình – về cuộc sống của bà từ khi không có ông. Bà kể cho ông nghe cảm giác của bà khi phải tự mình làm mọi việc mà trước đây hai người cùng làm. Bà cảm thấy thật sự khó khăn khi phải chấp nhận rằng ông thực sự không còn nữa. Bà thấy rằng còn nhiều điều bà chưa kịp làm và chia sẻ cùng ông… Và bà đã khóc, bà khóc rất nhiều như chưa bao giờ được khóc.

Đợi bà qua cơn xúc động, bác sĩ hỏi liệu có còn điều gì mà bà chưa nói với ông không. Bà bảo rằng bà rất giận ông vì ông đã để bà phải sống một mình khi về già, rằng ông đã không thực hiện lời hứa với bà.

– Ông ấy đã dạy cho tôi biết thế nào là tình yêu cuộc sống…

– Bà tiếp tục kể. Vị bác sĩ vô cùng xúc động và ngạc nhiên khi nghe câu chuyện tình lãng mạn của hai người.

– Giả sử ông ấy đang ngồi đây, trước mặt bà, là tôi đây. Ông ấy sẽ hỏi bà điều gì về cuộc sống của bà trong suốt hai năm qua? – Bác sĩ hỏi.

– Anh ấy sẽ hỏi tôi “Tại sao em lại nhớ anh bằng một nỗi đau đớn vô bờ và hành hạ bản thân mình như vậy? Điều mong muốn lớn nhất trong cuộc đời của anh là mang đến cho em niềm vui mà”. Khi nói xong điều đó, một tia sáng hiếm thấy lấp lánh trong ánh mắt bà. Bà dường như được trở về với chính mình hai năm trước đó.

Qua lần trò chuyện đó, bà dần hiểu rằng không phải cứ đau buồn đắm chìm trong ký ức và giam mình trong một cuộc sống khép kín mới là tưởng nhớ đến nhau. Khoảng một năm sau, bà gửi cho bác sĩ tâm lý một tập gồm các bài viết trích từ tờ báo địa phương về tổ chức từ thiện mà bà đang tham gia – trong đó có những người như bà – cùng lời đề tặng: “Từ trong tuyệt vọng, tôi đã quyết định nhổ neo, căng buồm và lướt sóng ra khơi”.

Đứng trước mỗi một nỗi đau, mất mát nào đó, chúng ta dường như phải lựa chọn cuộc sống một lần nữa. Chúng ta không bắt buộc phải quên đi mọi thứ, nhưng thời gian sẽ chữa lành tất cả, để ta nhớ về nhau với niềm yêu thương chứ không phải bằng nỗi đau!

Helen Keller

Tình yêu thì còn mãi

Tình yêu thì còn mãi

Một năm trước khi chết, nhà văn Tiệp khắc Franz Kafka (1883-1924) đã có một trải nghiệm đặc biệt. Đi dạo trong công viên Steglitz ở Berlin ông gặp cô gái nhỏ Elsi đang khóc vì tuyệt vọng: cô ấy đã đánh mất con búp bê Brigida yêu thích của mình. Kafka đã đề nghị giúp cô ấy đi tìm và hai người đã hẹn là sẽ gặp nhau vào ngày hôm sau.

Biết là không thể tìm thấy, nhà văn đã giả giọng con búp bê viết một bức thư cho cô bé và mang nó theo khi họ gặp nhau: “Xin đừng khóc, tôi đang đi du lịch để nhìn xem thế giới và sẽ kể cho bạn nghe về những chuyến phiêu lưu này…”, Ông đã bắt đầu bức thư như vậy.

Khi gặp nhau, ông đã đọc bức thư, trong đó mô tả thật kỹ những cuộc phiêu lưu tưởng tượng của con búp bê Brigida. Cô bé Elsi cảm thấy mình được an ủi, và trước khi chia tay, nhà văn Kafka có tặng cho cô bé một con búp bê. Dĩ nhiên con búp bê này khác với con búp bê bị mất, nó được kèm theo một ghi chú để nhằm giải thích: “Cuộc hành trình dài đã làm tôi thay đổi”.

Nhiều năm sau, khi cô gái Elsi đã trưởng thành, một hôm cô tìm thấy một mảnh giấy khác giấu trong lòng con búp bê: “Tất cả những gì bạn yêu bạn đều có thể sẽ đánh mất nó, nhưng cuối cùng tình yêu sẽ chuyển đổi trong một hình thức khác”. (Người gửi: Franz Kafka)

“Cuộc đời vô thường, ta không thể giữ mãi những gì ta yêu quý nhưng tình yêu còn lại mãi…”

Theo Blog Radio

Hình của songdep

Image may contain: 3 people

Nước nghèo có thể dân chủ không? Người dân Malawi nói có

Nước nghèo có thể dân chủ không? Người dân Malawi nói có

Phương Tây ngả mũ trước nỗ lực gìn giữ nền dân chủ của một đất nước châu Phi bé nhỏ.

30/12/2020

By  JASON NGUYEN

Cử tri Malawi mừng chiến thắng của Tổng thống tân cử Lazarus Chakwera trong cuộc bầu cử lịch sử năm 2020. Ảnh: Amos Gumulira/ AFP.

Năm 2020, tổ chức Freedom House đánh giá rằng tình hình dân chủ đã xấu đi ở ít nhất 80 nước, trong đó có cả nước Mỹ.

Theo đó, các giá trị dân chủ đã xói mòn trong bối cảnh đại dịch. Nhiều quốc gia đã có những động thái như giới hạn tự do truyền thông và ngôn luận, trì hoãn nhiều cuộc bầu cử quan trọng, cũng như tăng cường giam giữ những tiếng nói đối lập – tất cả với lý do phòng chống dịch bệnh.

Duy chỉ có một đất nước có điểm số dân chủ tăng lên, đó là Malawi. Tạp chí The Economist (Anh) mới đây đã trang trọng gọi đất nước châu Phi này là quốc gia của năm.

Tình hình dân chủ xấu đi ở nhiều quốc gia trong năm 2020. Malawi là điểm sáng duy nhất. Đồ họa: The Economist.

Theo nhận định của Freedom House, câu chuyện ở Malawi đã “nêu bật tầm quan trọng của các thiết chế nhà nước độc lập cũng như một khu vực xã hội dân sự năng động trong việc duy trì tính toàn vẹn và dân chủ của bầu cử, đồng thời đưa ra các bài học quan trọng cho các cuộc bầu cử tương tự trong khu vực”.

Câu chuyện về mặt hồ phát sáng

Malawi là một quốc gia còn khá xa lạ với nhiều người trên thế giới, không riêng gì với người Việt Nam. Nằm giữa vùng Đông Nam châu Phi với dân số khoảng 19 triệu người, Malawi tiếp giáp với ba quốc gia là Mozambique, Tanzania, và Zambia.

Thu nhập bình quân đầu người của Malawi vào năm 2019 chỉ là 411 USD, theo số liệu của World Bank. Mức thu nhập này chỉ bằng ⅙ của Việt Nam. Malawi, theo đó, là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới.

Ánh bình minh phản chiếu trên mặt hồ Malawi khi các ngư dân trở về nhà sau một đêm làm việc dài. Ảnh: Marcus Westberg/ New York Times.

Địa danh nổi tiếng nhất tại quốc gia này có lẽ là hồ Malawi – một trong những hồ nước ngọt chứa lượng cá phong phú nhất thế giới. Dù có diện tích tương đối nhỏ (chỉ bằng một nửa Việt Nam), Malawi sở hữu đến 1/3 diện tích nước ngọt của cả châu Phi. Tên gọi của quốc gia này phản ánh đặc trưng đó. Malawi trong tiếng bản địa nghĩa là “vùng nước phát sáng” (flaming waters), tượng trưng cho hình ảnh mặt hồ Malawi phản chiếu những tia nắng mặt trời.

Malawi chỉ trở thành tên gọi chính thức khi quốc gia này giành độc lập khỏi Anh Quốc vào ngày 6/7/1964, thay cho tên cũ là Nyasaland (mang nghĩa “vùng nước rộng lớn” – broad waters).

Vào ngày độc lập, hơn 40.000 người đã đổ ra Quảng trường Trung tâm (Central Stadium) tại thủ đô Lilongwe và hô vang ‘Ufulu! Ufulu’ (‘Tự do! Tự do!) cho một khởi đầu mới của đất nước, và của chính họ.

Trong một khu vực vẫn còn mang nặng quá khứ thuộc địa, Malawi được xem là một hình mẫu khá thành công. Khi các quốc gia châu Phi khác vẫn đang phải đắm chìm trong xung đột giữa các bộ tộc, Malawi đang từng bước vững chãi chuyển mình sang thể chế dân chủ hậu thực dân.

Thăng trầm dân chủ hóa

Không lâu sau khi giành được độc lập, một cuộc tranh chấp quyền lực xảy ra giữa thủ tướng lúc bấy giờ là Hastings Kamuzu Banda và các bộ trưởng trong nội các chính phủ. Ba bộ trưởng sau đó bị bãi nhiệm, ba người khác từ chức.

Vào ngày 6/7/1966, Malawi trở thành một nước cộng hòa, và Banda được bầu làm tổng thống. Năm 1971, ông được bổ nhiệm làm tổng thống trọn đời. Hiến pháp cũng chính thức công nhận Đảng Quốc hội Malawi (Malawi Congress Party – MCP), lúc bấy giờ do tổng thống Banda lãnh đạo, là chính đảng duy nhất tại đây.

Tuy là đảng phái lâu đời nhất và có sức ảnh hưởng tại Malawi, nhưng bên cạnh công trạng lớn trong việc đưa quốc gia này thoát khỏi thuộc địa Anh và thúc đẩy phát triển kinh tế, MCP được cho là dùng phần lớn thời gian trong suốt 31 năm cầm quyền của mình để củng cố quyền lực và xây dựng một chế độ độc đảng.

Tổng thống đầu tiên của Malawi từ ngày giành độc lập – Hastings Banda, cùng với Nữ hoàng Anh Elizabeth II tại Blantyre, Malawi vào ngày 22/7/1979. Ảnh: Popula.com/ AP.

Mọi chuyện chỉ thay đổi từ ngày 8/3/1992, khi một lá thư mục vụ (pastoral letter) của Hội đồng Giám mục Công giáo Malawi được đọc tại các nhà thờ trên khắp đất nước.

Nội dung lá thư bày tỏ mối quan tâm về tình hình nhân quyền tồi tệ, nạn nghèo đói, và những ảnh hưởng nghiêm trọng của chúng đến cuộc sống của người dân lúc bấy giờ. Xuất hiện vào một thời điểm không thể thích hợp hơn, lá thư này như một luồng gió khích lệ với các đảng phái đối lập đang hoạt động ngầm. Họ chờ đợi cơ hội khơi mào một chiến dịch cải cách dân chủ.

Thổi thêm vào luồng gió này là áp lực từ quốc tế, khi chính phủ các quốc gia viện trợ đe dọa sẽ cắt các nguồn trợ cấp nếu Malawi không chịu đa nguyên hóa thể chế chính trị.

Các yêu cầu cải cách đã có một chiến thắng vang dội.

Vào cuối năm 1992, hai đảng phái đối lập trong nước là Liên minh cho Dân chủ (Alliance for Democracy) và Mặt trận Dân chủ Thống nhất (United Democratic Front – UDF) chính thức được thành lập và ra mắt công chúng.

Tháng 5/1994, cuộc bầu cử tự do đầu tiên chính thức diễn ra tại Malawi sau 30 năm kể từ ngày giành độc lập. Thủ tướng Banda sau đó bị ứng cử viên Bakili Muluzi của đảng đối lập UDF đánh bại. Đảng UDF cũng đã giành được đa số ghế trong quốc hội sau cuộc bầu cử này.

Năm 1995, một hiến pháp mới ra đời, đặt những viên gạch nền tiếp theo giúp Malawi chuyển mình sang một xã hội dân chủ. Hiến pháp mới cũng giới hạn số nhiệm kỳ của tổng thống Malawi xuống tối đa là hai, với mỗi nhiệm kỳ kéo dài 5 năm.

Trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, tổng thống Muluzi đã tiến hành những cải cách dân chủ sâu rộng hơn, thúc đẩy các quyền tự do cơ bản như quyền tự do ngôn luận và hội nhóm. Đó là một giai đoạn trái ngược hoàn toàn với thời kỳ lãnh đạo của cựu tổng thống Banda.

Tưởng chừng mọi việc đã an bài, thế nhưng, nền dân chủ của Malawi lại bị đe dọa một lần nữa.

Muluzi tái đắc cử tổng thống vào năm 1999, nhưng nhiệm kỳ thứ hai của ông không suôn sẻ như nhiệm kỳ đầu. Kết quả bầu cử bị đặt nghi vấn, kéo theo đó là một giai đoạn của các cuộc biểu tình, bạo lực, và cướp bóc.

Tổng thống Muluzi bị các tiếng nói cả trong và ngoài nước chỉ trích vì đã có những động thái ngày càng chuyên quyền. Không muốn bị giới hạn chỉ trong hai nhiệm kỳ, ông cũng đã nỗ lực sửa đổi hiến pháp nhằm gia hạn thời gian cầm quyền của mình, nhưng bất thành.

Bingu wa Mutharika và Bakili Muluzi, hai tổng thống của Malawi. Ảnh: Maravipost.com.

Không thể tiếp tục nắm quyền, vào cuộc bầu cử tiếp theo (năm 2004), Muluzi đề cử một ứng viên khác của Đảng UDF là Bingu wa Mutharika. Ông Mutharika sau đó đắc cử tổng thống.

Mutharika, giống như những người tiền nhiệm của mình, là đại diện cho một tình trạng đáng lưu tâm trong tiến trình dân chủ hóa ở các quốc gia châu Phi. Đó là việc người lãnh đạo trở nên chuyên quyền sau một thời gian tại vị.

Là một trong những thành viên sáng lập chủ chốt của Đảng UDF, Mutharika có một nền tảng học thuật và hoạt động công ích vững chắc. Ông từng làm việc tại các tổ chức quốc tế lớn như Liên Hợp Quốc và Ngân hàng Thế giới trước khi bước vào chính trường.

Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Mutharika, Malawi trải qua nhiều thách thức lớn. Đất nước nhỏ này phải đối mặt với cuộc khủng hoảng dịch bệnh HIV/AIDS. Bên cạnh đó là sự thiếu hụt các đòn bẩy kinh tế, mất cân bằng an ninh lương thực, nền giáo dục xuống cấp, và cơ sở hạ tầng yếu kém.

Giống những người tiền nhiệm, Mutharika đã tiến hành nhiều cải cách quan trọng, trong đó nổi bật nhất là về kinh tế và chính trị.

Về kinh tế, ông tập trung vào việc chống tham nhũng và thiết lập các chính sách kinh tế bền vững để giúp đưa nền kinh tế thoát khỏi suy thoái. Còn về chính trị, Mutharika tập trung vào quá trình cải thiện tình hình nhân quyền và pháp quyền với một tôn chỉ: vì người dân Malawi.

Thế nhưng vào nhiệm kỳ thứ hai, bắt đầu từ năm 2009, chính sách của Mutharika đã quay ngoắt 180 độ so với những gì ông cố thực hiện trước đó. Có thể nói, Mutharika của năm 2004 và 2009 là hai phiên bản đối nghịch của nhau.

Mutharika ngày càng trở nên chuyên quyền và kém khoan dung trước những lời chỉ trích. Ông cách chức tùy tiện các quan chức chính phủ, sách nhiễu các nhà hoạt động phản đối chính sách mình đưa ra, công khai tuyên bố rằng sẽ “xử lý” và bỏ tù những người tổ chức các cuộc biểu tình chống lại chế độ của mình.

Biểu tình lớn ở Malawi năm 2011. Ít nhất 19 người đã chết trong cuộc đụng độ với quân đội. Ảnh: VOA.

Vào tháng 7/2011, sức ép lên chính quyền của Mutharika càng lên cao. Nhiều cuộc biểu tình đã nổ ra tại Malawi vì người dân bất mãn với giá lương thực tăng cao và cuộc khủng hoảng năng lượng trên toàn quốc. Quân đội được triển khai để trấn áp. 19 người biểu tình bị giết chết, hàng trăm người khác bị thương.

Ngày 5/4/2012, một sự kiện bất ngờ xảy ra: Mutharika đột ngột qua đời vì một cơn đau tim.

Cái chết của vị tổng thống chỉ được công bố chính thức hai ngày sau đó. Lý do là vì các quan chức chính quyền (vốn theo Mutharika) không muốn phó tổng thống lúc bấy giờ là Joyce Banda thế vào chỗ trống theo hiến pháp. Tấm thảm dẫn tới ghế tổng thống lúc đó đã được trải sẵn cho cậu em trai Peter Mutharika. Tuy vậy, với sự ủng hộ mạnh mẽ của người dân trong nước và quốc tế, Banda vẫn nhậm chức tổng thống tạm quyền.

Đến cuộc bầu cử năm 2015, Peter Mutharika giành thắng lợi với 36,4% số phiếu bầu. Ông vượt qua Lazarus Chakwera, ứng cử viên của đảng MCP, và Tổng thống tạm quyền Banda (đạt lần lượt là 27,8% và 20,2% số phiếu). Mặc dù Banda cáo buộc có gian lận bầu cử, Tòa án Tối cao Malawi đã bác bỏ cáo buộc này.

Tuy nhiên, chỉ vài năm sau, mọi sự tập trung không dành cho người về nhất, mà lại đổ dồn vào người về nhì: Lazarus Chakwera.

Khi người dân quyết tâm giành lại cuộc bầu cử

Lazarus Chakwera là một cái tên khá mới mẻ trong chính trường Malawi. Cuộc đời ông lẽ ra đã được định sẵn để trở thành một mục sư, chứ không phải là tổng thống.

Sinh ra trong gia đình có cha là một nhà truyền giáo, Chakwera theo học và tốt nghiệp cử nhân triết học tại Malawi, sau đó theo học thạc sỹ ngành thần học (theology) tại Nam Phi và Hoa Kỳ. Ông quyết định xông pha vào chính trường khi nhận thấy rằng đất nước của mình đang lâm vào khủng hoảng và trở nên chia rẽ hơn bao giờ hết trong suốt 25 năm qua.

Dáng dấp của Chakwera gợi nhớ đến một trong những nhà lãnh đạo dân sự vĩ đại nhất nước Mỹ – mục sư Martin Luther King Jr. – và bài phát biểu “Tôi có một giấc mơ” (I have a dream) nổi tiếng. Trong các bài diễn thuyết của mình, Chakwera thậm chí còn truyền đi những hy vọng táo bạo hơn.

“Đã đến lúc chúng ta vươn xa hơn những giấc mơ của mình”, ông nói. “Tất cả phải thức dậy, bởi vì đây chính là thời điểm để thoát khỏi giấc ngủ dài và biến giấc mơ của chúng ta thành hiện thực”.

Đó cũng chính là thời khắc người dân Malawi chợt thức tỉnh.

Lazakrus Chakwera gợi nhớ đến huyền thoại Martin Luther King Jr. Ảnh: Reuters.

Vào cuộc bầu cử tổng thống tháng 5/2019, cái tên Peter Mutharika lại được xướng lên là người chiến thắng với 38,57% số phiếu, theo sau là Chakwera với 35,41%. Thế nhưng, chiến thắng lần này của ông Mutharika không kéo dài được lâu.

Ủy ban Bầu cử Malawi (MEC) nhận được 147 báo cáo về gian lận bầu cử, trong đó có việc sử dụng hóa chất Tipp-Ex để tẩy xóa các phiếu bầu của ứng cử viên đảng đối lập. Các đảng đối lập đệ đơn lên Tòa án Hiến pháp, còn người biểu tình Malawi thì tràn ra đường để cất lên tiếng nói ủng hộ quyết định trên.

Vào tháng 2/2020, Tòa án Tối cao Malawi đưa ra phán quyết rằng đã có những sai sót “lớn, mang tính hệ thống, và nghiêm trọng” trong quá trình bầu cử; đồng thời yêu cầu tổ chức lại một cuộc bầu cử mới trong vòng 150 ngày.

Lần này thì hàng triệu cử tri Malawi quyết tâm không để gian lận bầu cử lặp lại.

Đại dịch COVID-19 ngăn cản các quan sát viên quốc tế đến giám sát cuộc bầu cử mới, nhưng điều này chẳng thành vấn đề. Các tổ chức dân sự, phóng viên, và các nhà hoạt động xã hội địa phương đã thay phiên giám sát từng quá trình, từ vận động, bầu chọn, cho đến kiểm và đếm phiếu.

Để đảm bảo không có gian lận xảy ra, người dân tuần hành “hộ tống” các thùng phiếu đến các trung tâm kiểm phiếu. Quân đội lại được triển khai, nhưng giờ đây là để bảo vệ dòng người biểu tình đang diễu hành đòi công lý.

Tháng 6/2020, cả đất nước trải qua giai đoạn hồi hộp nhất kể từ ngày độc lập. Người người chăm chú bên chiếc radio trong hàng tháng trời để dõi theo từng diễn biến của cuộc bầu cử mới.

Sau biết bao chờ đợi, người dân Malawi đã có lý do để ăn mừng. Kết quả cuối cùng không phụ lòng họ.

Người dân Malawi đón mừng phán quyết của Tòa án Tối cao tại thủ đô Lilongwe. Ảnh: The Economist/ AP.

Trong cuộc bầu cử “sạch” này, ứng cử viên Lazarus Chakewra đã chiến thắng với 59% trong tổng số 4,4 triệu phiếu bầu, bỏ xa đối thủ Mutharika.

Đây không chỉ là chiến thắng của riêng Chakewra, mà còn là của cả người dân Malawi trong nỗ lực bảo vệ nền dân chủ của mình.

Điều này cũng cho thấy tầm quan trọng của các thiết chế vững chãi đối với những quốc gia đang bước đầu xây dựng nền dân chủ: một hệ thống tòa án độc lập, một khu vực xã hội dân sự sôi động, một nền báo chí dấn thân, và một quốc hội đủ mạnh. Tất cả kết hợp lại sẽ khiến cho những kẻ đam mê quyền lực khó lòng bám trụ vào ảo tưởng của mình.

Đây cũng là một bài học cho tất cả các quốc gia khác – những nước xét về quy mô dân số và điều kiện phát triển đều hơn hẳn quốc gia châu Phi nhỏ bé này.

Người Malawi đã lựa chọn dân chủ. Họ không viện dẫn cái nghèo để thờ ơ với chính trị, hay để những kẻ chuyên quyền tước đi các quyền dân sự cơ bản nhất của mình: quyền được cất lên tiếng nói, quyền được bầu chọn người lãnh đạo, và quan trọng hơn hết, quyền được tiếp cận sự thật.

Malawi đáng được ngưỡng mộ vì lẽ đó. Tạp chí The Economist vinh danh họ là quốc gia của năm 2020 với một phát biểu hùng hồn:

“Dù đất nước còn nghèo, nhưng người dân Malawi không chấp nhận làm đối tượng bị cai trị. Họ là những công dân tự do.”

Sẽ còn rất nhiều việc phải làm để cải thiện đời sống của những công dân tự do nơi đây. Nhưng trước mắt họ đang là rất nhiều hy vọng.

Tham khảo:

How Malawi saved its democracy, The Continent

Which is The Economist’s country of the year?, The Economist

A historic day for Malawi’s democracy, The Economist

Malawi’s re-run election is a victory for democracy, The Economist

Nyasaland Becomes Malawi, 37th Free African Country; New Name Helps Mark Shift of Control From Whites to Black Majority, New York Times

History of Malawi, Britannica
The Erosion of Democracy in Malawi: President Bingu wa Mutharika’s Unholy Conversion, Brookings Institution