Tình thương thể hiện của gia đình kangourou  khi mẹ sắp lìa đời !

   Tình thương thể hiện của gia đình kangourou  khi mẹ sắp lìa đời !

Trân quý những mối nhân duyên, những ân tình được xếp định quanh mình vì “trăm năm vốn hữu hạn”.

Tình mẫu tử trước lúc lìa đời gây xúc động mạnh của 2 mẹ con kangaroo

Khoảnh khắc Kangaroo bố đau đớn ôm người bạn đời đang hấp hối làm nhiều người xúc động khôn xiết.

Giữa giây phút cận kề sự sống và cái chết, Kangaroo mẹ chỉ kịp nắm lấy tay con lần cuối trước khi từ giã cõi đời…

Cái ôm ly biệt và đôi tay níu kéo

Nhiếp ảnh gia Evan Switzer đã vô tình bắt gặp khoảnh khắc này khi đi dạo trên đảo Fraser, Queensland.

“Tôi thấy Kangaroo bố gắng sức đỡ bạn đời của mình, nó cố gắng làm mọi cách để giúp Kangaroo mẹ”, Evan Switzer kể lại.

“Nó ôm cổ Kangaroo mẹ với hy vọng bạn đời mình sẽ đứng dậy được. Tuy nhiên, Kangaroo mẹ đã kiệt sức… 

Nó đứng bên người bạn đời của mình, ánh mắt ngập trong nỗi buồn và bất lực…”

Dưới bóng mát của cây xoài, Kangaroo mẹ đã ra đi mãi mãi,

Kangaroo bố vẫn chưa từ bỏ hy vọng vẫn cố giữ chặt vòng tay hy vọng kỳ tích sẽ đến…

Kangaroo con giữ tay và khẽ chạm vào người mẹ, có lẽ nó vẫn chưa biết rằng mình sẽ không bao giờ được gặp lại mẹ nữa…

Evan Switzer phát hiện gia đình Kangaroo gặp chuyện không hay khi nghe những tiếng kêu thảm thiết cất lên.

“Tôi đã đi nhiều nơi, chứng kiến nhiều sự ra đi của những loài vật xung quanh mình 

nhưng cảnh tượng chia ly của gia đình Kagaroo này khiến cho tôi bồi hồi khôn xiết”.

“Kangaroo bố gắng sức đuổi những con vật xung quanh để bảo vệ Kangaroo mẹ đang nằm dưới thảm cỏ”.

“Kangaroo con đứng bên cạnh, cố chờ mẹ tỉnh lại. Nó đi xung quanh nhai cỏ, rồi quay trở lại …”

Anh Switzer cho biết Kangaroo mẹ dường như không có vết thương nào ngoài cơ thể, nguyên nhân nó chết vẫn chưa xác định được.

“Tôi không nghĩ loài vật lại có tình cảm gia đình thiêng liêng và cao quý như vậy. Tôi cảm thấy tiếc vì đã không giúp được gì cho gia đình Kangaroo ấy… mọi việc xảy ra quá nhanh…”

Tình yêu là món quà dành cho bất kỳ sinh mệnh nào tồn tại trên thế gian và động vật cũng là một phần trong số ấy.

Mặc dù, chúng dùng loại ngôn ngữ riêng, cử chỉ riêng để biểu đạt suy nghĩ và cảm tình của mình,

nhưng đôi khi cách thể hiện tình cảm của chúng cũng giống như con người.

Thậm chí, yêu thương chân thành trong đó thật sự đã cảm động đến trái tim của người ngắm nhìn, như câu chuyện của gia đình Kangaroo trên đây.

Nhìn đôi mắt thương yêu mà Kangaroo mẹ dành cho con trong khi đôi tay đang cố gắng níu kéo chút thời gian cuối cùng; cái ôm ly biệt, đôi mắt vô định vào khoảng không xa xôi của Kangaroo bố đang ôm bạn đời của mình trong giây phút ấy.

Có lẽ, chúng ta đã thật sự không dám tin… động vật cũng có thể thể hiện tình yêu chân thành như thế này sao?

Sinh ly tử biệt từ ngàn xưa vẫn là quy luật bất di bất dịch của tạo hóa; có sinh ắt có tử, hợp rồi lại tan, thế gian cứ mãi xoay vần…

Hãy biết trân quý những mối nhân duyên, những ân tình được xếp định quanh mình vì “trăm năm vốn hữu hạn”.

Nguồn ảnh: DigitalRev

Tuấn Vũ

From: Helen Huong Nguyen

Giáo lý về sự dữ

Giáo lý về dữ

Một ngày bình an trong Chúa và Mẹ yêu nhé. Xin bạn cộng tác với mình để quảng bá bài Giáo Lý hôm nay vì nó trả lời cho một câu hỏi rất khó trả lời trong thế giới ngày nay. Xin đa tạ!

Thứ 4: 29/12/2021

GIÁO LÝ: Nếu Thiên Chúa biết mọi sự và có thể làm được mọi sự, tại sao Người không ngăn cản được sự dữ? Thiên Chúa vẫn luôn có thể rút ra những điều tốt lành từ những sự dữ. Chẳng một đau khổ nào ta có thể giải mã được. Nhưng nó vẫn luôn đặt nền tảng trên sự khôn ngoan vô cùng của Thiên Chúa (Thánh Tôma Aquinô). (YouCat, số 51)

SUY NIỆM: Sự dữ trong thế gian là một mầu nhiệm vừa đen tối vừa khổ đau. Đấng chịu đóng đinh thập giá đã xin với Cha Người: Lạy Cha, sao Cha bỏ con? (Mt 27,36). Nhiều chuyện trong lãnh vực này vẫn còn khó hiểu. Nhưng ta biết được một điều chắc chắn: Thiên Chúa luôn tốt lành một trăm phần trăm. Không khi nào Người có thể là tác giả của những cái xấu. Chúa đã dựng nên một thế giới tốt, nhưng chưa được hoàn thành. Thế giới đi tới chỗ hoàn thành phải trải qua những xáo trộn dữ dội và những quá trình đau khổ. Ta cần phân biệt cho tốt hơn cái mà Hội Thánh gọi là sự dữ thể lý, chẳng hạn khuyết tật bẩm sinh, hoặc thiên tai lũ lụt, với cái goi là sự dữ luân lý phát xuất do con người sử dụng tự do sai lầm trong thế gian. “Hỏa ngục trần gian” – trẻ em làm lính, mưu sát – tự sát, trại tập trung – hầu hết đều là do con người. Vấn đề quyết định không phải là: “Làm sao có thể tin được là Thiên Chúa tốt lành đang khi có biết bao sự dữ như vậy?”, nhưng là: “Làm sao con người có trái tim và lý trí lại có thể đành chịu sống trong thế giới như vậy, nếu không có Thiên Chúa?”. Cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu chứng tỏ cho ta rằng sự dữ không có tiếng nói đầu tiên và nó sẽ không có tiếng nói cuối cùng (nghĩa là nó không phải tuyệt đối mà còn có cái khác nữa). Bởi vì Thiên Chúa làm cho từ sự dữ xấu xa nhất nảy sinh ra sự tốt lành tuyệt đối. Kitô hữu tin rằng đến ngày phán xét chung Thiên Chúa sẽ chấm dứt mọi bất công. Trong đời sống mai sau, sự dữ không còn nữa và đau khổ sẽ chấm dứt. (YouCat, số 51 t.t)

❦ Thiên Chúa thấy mọi sự Người sáng tạo: mọi sự đều rất tốt đẹp. (St 1,31)

❦ Không đau khổ nào mà không mang một ý nghĩa. Đau khổ luôn luôn có nền móng nơi sự khôn ngoan của Chúa.

(Thánh Tôma Aquinô)

❦ Thiên Chúa thì thầm trong những lúc ta vui, Người thì thầm trong lương tâm ta. Nhưng Người nói lớn và mạnh trong những đau khổ của ta. Những đau khổ đó là cái loa tăng âm để làm thức tỉnh một thế giới mê ngủ. (Clive Staples Lewis, 1898–1963, văn sĩ Anh, tác giả cuốn Ký sự Namia)

LẮNG NGHE: Tôi nghĩ rằng những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta. (Rm 8:18)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, tình trạng biến thể của vi rút đang làm nhiều người hoảng sợ và biến loạn, xin cho con tìm được niềm ủi an vì tin rằng còn có Chúa yêu thương con đến cùng, xin cho con đón nhận những gì xảy đến là do Chúa yêu thương quan phòng và đừng để con thất vọng trước nỗi bất hạnh con đang gánh chịu trong lúc này. Lạy Chúa, hơn bao giờ hết, con rất cần đến Chúa!

THỰC HÀNH: Nhắm mắt lại và nghe lại bài nhạc suy niệm hôm nay, ước gì bạn cảm nhận được “suối tình thương, tình Cha với con, thắm thiết nồng nàn…” trong lúc gian nan.

From: Đỗ Dzũng

Chúng ta không thể vô can

Than Ngoc Pham

Chúng ta không thể vô can

Dư luận kết án mẹ kế Nguyễn Võ Quỳnh Trang đã đành, vì kẻ này còn trẻ, có học nhưng thường xuyên lên Facebook khoe ảnh hở hang và có những stt kể lể mình thương yêu con gái của chồng. Lên án cô ta là đúng vì hình ảnh câu chuyện Tấm Cám đã hằn sâu vào tâm trí người Việt, hơn nữa tra tấn con chồng là tội ác bị người đời căm ghét hạng nhất, có lên án Quỳnh Trang cũng là điều nên làm nhằm cảnh báo những con người tương tự.

Nhưng người cha cũng không tránh khỏi bị dư luận lên án, bởi chính anh ta im lặng trước tội ác của vợ và vì vậy anh ta không thể thoát tội đồng lõa giết người. Dư luận lên án anh ta hai mặt: Đạo đức và trách nhiệm. Đạo đức: anh ta không có tình phụ tử, một thứ tình mà thượng để ban phát đồng đều cho mọi người ngoại trừ anh ta. Trách nhiệm: anh ta không bảo vệ con, hay chí ít của một đồng loại trước hành vi dã man của người vợ kế đối với một đứa trẻ.

Còn hàng xóm thì sao?

Việt Nam không có luật chế tài đối với người dân khi biết một vụ bạo hành gia đình mà không báo lại với cơ quan chức năng như nhiều nước khác trên thế giới, do đó người dân tự thấy không bị ràng buộc vào một điều luật có tính cưỡng chế, vì vậy mọi án mạng, tai nạn, hay bạo hành xảy ra thường xuyên hơn nhưng không có ai cảm thấy mình có lỗi khi không khai báo những việc ác độc mà họ chứng kiến.

Luật pháp như cái lưới bắt cá, cá lớn thì lưới lớn, chắc chắn, cá nhỏ thì sợi lưới nhỏ, mỏng nhưng đan dày hơn. Việt Nam không có lưới bắt những loại cá nhỏ mà xã hội cho là vô can.

Nếu luật pháp đan lưới dày hơn thì những con cá “vô can” không những sẽ sợ hãi và hai chữ vô can sẽ không còn trong tự điển pháp luật. Bắt buộc người ta phải báo cáo lại những gì họ nghe hay nhìn thấy từ đó giúp nạn nhân nhiều vụ tránh được cái chết tương tự như của cháu Vân An và hàng trăm người khác.

Là người Việt, chúng ta không thể vô can.

“…Xin Sẽ Được” – Nguoiviettudo

“…Xin Sẽ Được” – Nguoiviettudo

“…Ngày 22 tháng mười hai năm 1976 tôi bước chân ra khỏi nhà tù Pleiku. Tôi bị bắt ở Kontum cách đó khoảng bảy tháng. Từ Saigon đi xe đò lên cái tỉnh tận cùng biên giới ở phía Tây, chưa kịp nằm nóng lưng công an đã đến thăm hỏi, còng tay tống vào tù một tháng trời chờ xe đưa về trại giam tỉnh Pleiku. Hồi đó thời sinh viên khờ khạo, chưa bao giờ rời nơi sinh ra và lớn lên ở Saigon, chuyến đi Kontum là một mạo hiểm lớn. Vì quá nhiều lần toan tính vượt biên bằng tàu thất bại tôi quyết định thử thời vận lần nữa bằng đường bộ. Đâu có biết rằng những ngày vừa sau 30/4/ 75 VC chăng lưới tình báo nhân dân ở khắp mọi hang cùng ngõ hẻm, ngơ ngơ ngáo ngáo như tôi khi đến một địa phương xa lạ chắc chắn sẽ lọt ngay vào tầm ngắm của an ninh.

Lục soát ba-lô tôi đem theo, bọn chúng thấy một cuộn dây đi rừng và tai hại hơn nữa, một viên đạn colt 45 nằm lẫn lộn trong mớ quần áo, bèn đẩy tôi vào ngay biệt giam. May cho tôi ngoại trừ tang vật hiện trường chúng không tìm được gì khác. Tôi vẫn còn giữ tấm thẻ sinh viên đại học Khoa Học Saigon và thẻ căn cước nên chúng không biết khép tôi vào tội gì . Sau này tôi mới biết với VC , tội tình nghi nặng hơn bất cứ tội nào khác. Ăn cắp ăn trộm còn có án về, tình nghi thì “mút chỉ cà tha” . Ba năm là chuyện nhỏ, có người đã phải “ học tập“ trên chục năm trời ngày trở về ba má vợ con nhìn không ra.

Khoảng một tháng sau khi tạm giam ở Kontum, CA chuyển tôi về Pleiku. Địa ngục trần gian bắt đầu hiện ra trước mặt tôi. Chỉ có ba phòng sức chứa khoảng 150 người , nay bị dồn nhét hơn ba trăm . Một biệt giam gồm khoảng trên mười hộc (dành cho 10 người) chất đến ba chục mạng. Lần đầu tiên ở tù tôi chỉ muốn tự tử. Chung quanh tôi đa số là Fulro cắc-kè-bông với vết thẹo ghẻ lở phủ kín người. Cấp bậc nhỏ nhất là thằng Giu Se Mới, khoảng 20 tuổi đại úy Fulro. Tôi nằm chung hộc với nó và thẳng Y Nguoun, thiếu tá, bị bắt vì chỉ huy một đại đội tấn công đồn Công An quân số khoảng mười bốn mạng. Đánh đấm thế nào mà thiếu tá Y Nguoun bị bắt sống , lính lác chạy tán loạn, đồn CA thì vẫn còn nguyên.

Đó là lần đầu tiên tôi biết con rận. Sáng sớm thức dậy nhìn thấy một giọt máu nhỏ bằng đầu kim đi chuyển trên cánh tay, tôi kinh ngạc không biết là cái gì. Giu Se Mới chụp ngay lấy bỏ vào miệng cắn cái cóc . Nó còn khuyến khích tôi “ thử đi, ngọt lắm “. Ông nội tôi cũng không dám thử.

Mỗi ngày, chúng tôi được múc nước vào rửa ráy buồng giam một lần, ai có nhiệm vụ trực hôm đó đuoc hưởng thêm phần cơm cháy. Một thằng giết người (dân tộc Kinh) đang chờ ngày ra tòa vẫn dành giựt nhiệm vụ này với Thượng để có thêm cơm ăn. Ỷ mình Việt Nam chính cống nó ăn hiếp bọn Thượng khờ khạo (hay giả khờ qua ải). Thùng đựng nước là một thùng đạn lớn dùng chứa đủ thứ từ rác rưởi, ỉa đái, khạc nhổ. Sáng sớm hai thằng khiêng đổ ra đống rác rồi súc sơ sài bằng nước giếng, sau đó múc nước cũng từ giếng vào tắm rửa. Có lần tôi còn thấy rõ cục đàm của thằng nào nổi lều bều trên mặt. Không ăn nhằm gì hết với tù biệt giam vì cắc-kè-bông không sợ lở, chỉ việc vớt bỏ rồi thoải mái mà xối lên người, kỳ cọ với xà bông cục. Dân Thượng địa phương có thăm nuôi, sáu thằng Việt Nam chúng tôi đói khát muôn năm.

Đó là lý do tại sao sạch sẽ tắm rửa như vậy mà anh Fulro nào cũng thành cắc-kè bông. Thăm nuôi nghèo nàn, thiếu dinh dưỡng lại không ánh nắng mặt trời (biệt giam bị cấm ra khỏi khu vực buồng tối), vệ sinh tệ hại, không bị ghẻ đầy người mới là chuyện lạ.

Cuối cùng tôi chuyển đến phòng ngoài. Ra rồi tôi lại nhớ thời gian nằm “ hộc “. Dù sao thỉnh thoảng cũng được chia cho vài hơi thuốc rê quấn giấy bọc lương khô Trung Cộng. Hút cháy cổ mà vẫn ngon, hoặc chí ít cũng nếm được mẩu bánh đậu xanh (lương khô Tàu) lớn bằng đầu ngón tay cái.

Tôi biết ơn Giu Se Mới đã “bố thí“ vì trong biệt giam hai phong lương khô cộng với sáu điếu thuốc rê đổi được áo jacket lính Dù mặc rất ấm với khí hậu miền núi. “ Thấy cái mặt mày khờ, tao tội nghiệp”. Không có sự tội nghiệp của đại úy Giu Se Mới suốt đời tôi cũng chẳng biết hương vị “ ration C “ Tàu nó như thế nào..

Nhất y nhất quởn từ ngày bước lên chiếc xe đò định mệnh vốn liếng đi theo tôi cho tới ngày rời khỏi nhà tù chỉ bấy nhiêu để chống chọi cái rét khủng khiếp mùa đông .

Tôi bắt đầu có ghẻ, ghẻ mọc khắp nơi trên người bất kể chỗ kín hay hở. Ghẻ và đói là hai kẻ thù khủng khiếp hành hạ những thằng tù ngày cũng như đêm. Ghẻ và đói lại tàn ác hơn với những thằng tù “xa xứ“ quê quán ở tận Saigon như tôi. Tù Saigon đông lắm, nhưng đường xá xa xôi nhất là vào những ngày mới bị VC chiếm đóng miền Nam, phương tiện giao thông nghèo nàn, chẳng thằng nào có thăm nuôi. Bao nhiêu quần áo mang theo đã đổi lấy lương khô, thuốc rê, còn lại thì đem ra quấn hết vào người. Tù khổ nhưng rận rệp lại mừng vì càng ngày càng mập mạp , chỗ trú ẩn ấm cúng sau mấy lớp quần áo.

Buổi sáng tù được ra tắm nắng mỗi thằng tự mài lấy cho mình một cây kim từ những miếng sắt vụn kiếm được. Có hai lợi ích khi sở hữu một cây kim: để may lại bộ đồ rách (chỉ là những sợi nilon rút ra từ bao tải) và để bắt con ghẻ. Nhiều thằng tù không ngồi được vì đít đầy ghẻ mủ, chổng mông cho một thằng khác chà sát xịt máu rồi rửa bằng nước muối. Đó là cách trị ghẻ duy nhất tù nghĩ ra được.

(Sau 30/4/75, ở tù là chuyện dĩ nhiên đối với tất cả những ai sinh ra và sống dưới chế độ VNCH. Con nít ba tuổi còn phải đi tù với mẹ, nhiều bà lặc lè cái bụng cũng ngồi vài tháng vì tội vượt biên hoặc buôn bán lặt vặt. Hề là người miền Nam (không theo VC) thì phải “ học tập cải tạo “, đó là quy luật. )

Một đêm lúc còn trong hộc, bỗng dưng tôi thức dậy vào khoảng ba giờ sáng, chắc tại mấy con rận rệp cắn ngứa ngáy quá chịu không nổi. Thình lình tôi nghe văng vẳng từ xa vọng lại tiếng chuông nhà thờ. Tiếng chuông boong boong vọng vào tai rồi thấm dần đến quả tim từ lâu đã quên bẵng. Tôi nằm trong này hơn hai tháng rồi, chưa biết bao giờ mới được cho ra phòng ngoài chứ đừng nói gì đến được tha. Bao nhiêu ký ức hiện trong đầu tôi, những ngày còn ở ngoài đời.

Tôi là người Công Giáo, theo kiểu ông bà cha mẹ có đạo thì đương nhiên tôi cũng có đạo. Từ lúc lớn khôn tôi chẳng ý thức gì về vấn đề tôn giáo, nhưng phải đi lễ mỗi Chúa Nhật là một cực hình (tôi thà rong chơi với bạn bè trong mấy quán cà phê ). Sinh viên năm thứ ba ĐHKH Saigon tôi thích những nơi có nhạc TCS, lơ mơ điếu thuốc quấn Bồ Đà . Hồi nhỏ ba má tôi vẫn buộc chúng tôi phải đi lễ chung với gia đình, nhưng khi bước vào đại học, ông bà để chúng tôi tự do. Tôi trịch thượng so sánh những linh mục với những con quạ đen .

Nhưng đêm hôm đó, tôi bị “đánh thức“. Tiếng chuông vọng lại nhắc đến những Giáng Sinh gia đình thiếu vắng tôi trong lễ nửa đêm. Hình ảnh ba má tôi chăm chỉ dự lễ đều đặn nhất là sau ngày đại tang của đất nước. Ông bà cầu nguyện điều gì tôi không biết nhưng gương mặt già nua của cha mẹ giờ đây hiện rõ ràng trong tâm trí. Tôi bật khóc, tự nhiên tôi ngồi dậy, hai cái còng chữ u dưới chân rọt rẹt làm Giu Se Mới cằn nhằn “ngủ đi thằng Sài Gòn“. Tôi không ngủ được nữa, lần đầu tiên sau bao nhiêu lâu tôi mấp máy môi đọc một kinh Lạy cha ba kinh Kính Mừng một kinh Sáng Danh. Rồi tôi quyết định make a deal với Thiên Chúa. Tôi thưa như thế này:

– Lạy Chúa, bao lâu rồi con đã không dự lễ với ba má, Xin cho con được về trước Giáng Sinh năm nay, con muốn cùng ba má con dự thánh lễ Giáng Sinh . Nếu có thể xin hãy cho con điều đó. Nếu không xin hãy cất linh hồn con, con hết chịu nổi rồi. Sau Giáng Sinh nếu còn ở trong này con sẽ chẳng tha thiết điều gì nữa, cho con chết đi thì hơn.

Như đã nói, tội của tôi là tội “ tình nghi ” mà đối với VC “ tình nghi ” nặng hơn “ tình thiệt “. Tình thiệt còn có ngày về, tình nghi thì cứ “mút mùa Lệ Thủy”. Do đó cầu nguyện là một chuyện, cầu được ước thấy lại là chuyện khác. Tôi đinh ninh như thế và rồi tôi quên đi những gì mình đã thưa vào đêm thức dậy ba giờ sáng.

Ngày 22 tháng Mười Hai năm 1976. Đang lúc ra tắm nắng tù được lệnh trở vào phòng giam, thường là lệnh chuyến đi lao động những tù đã có án. Trước đó hai ngày ngày 20/12/1976 tôi chợt nhớ lại lời cầu xin của mình và lòng buồn rười rượi vì chắc chắn sẽ còn ở đây lâu. Thân thể tôi giờ như một bộ xương khô, cái đói chiếm trọn đầu óc. Đã có lần tôi suýt nhặt một trái ớt hiểm nằm giữa đống phân vì thèm. Tôi sắp chết rồi.

Đợt đầu được gọi ra để chuyển trại, cửa phòng giam mở khoảng mười lăm phút để tù có án tập trung . Sau đó lại đóng. Điều này hơi bất thường vì trước đây chưa từng . Hóa ra còn một đợt kêu tên nữa cho về. Tên tôi nằm hàng thứ ba mươi sáu.

Tôi đi như bay ra khỏi nhà giam, đầu óc tôi tê điếng chẳng còn cảm giác Điều tôi không ngờ đã đến. Tôi bước ngang Biệt Giam thấy mặt Giu Se Mới cười và nghe rõ tiếng nói của nó : “thằng Saigon về rồi! ”. Cảm ơn mày nha Giu Se Mới, tao sẽ nhớ mày và Y Nguoun

Hồi bị bắt tôi còn ít tiền, công an VC trả lại tôi đầy đủ (Điều này cũng đã làm tôi ngạc nhiên một thời gian, ít quá không đáng để lấy?). Tôi mua ngay một nải chuối, mấy cái bánh tét, tất cả những gì tôi thèm khát mà số tiền có thể mua được. Kết quả thấy ngay lập tức, tôi đứng dậy không nổi. Bao tử bị o ép thời gian dài nay căng ra quá độ làm tôi bị bội thực. Tôi ráng lết ra bến xe, trên người còn mặc bộ đồ tù trại phát. Ra đến đó tôi ngồi trên một băng ghế dài, ngẫm nghĩ cách đề về nhà. Tiền đã hết, làm thế nào đây? Cách duy nhất tôi có thể thực hiện lúc này là cầu nguyện. Tôi lại thưa:

– Lạy Chúa Chúa đã nghe lời con kêu xin , cho con được ra tù mà chỉ còn hai ngày nữa là đến Giáng Sinh, con lại không có tiền . Không lẽ Chúa bỏ con bơ vơ ở nơi này? Vậy thì cho con ra tù để làm gì?

Còn đang lẩm bẩm, tôi chợt nghe có tiếng nói

– Sao ngồi đây?.

Tôi ngước lên, trước mặt là một người đàn ông trung niên, ăn mặc như nông dân. Giọng miền Nam hơi phảng phất Trung Phần. Anh nhìn tôi có vẻ thông cảm (chắc tại bộ đồ tù)

Tôi thưa thiệt:

– Dạ tôi mới tù ra, nhà ở tận Saigon không biết làm sao đề về nhà

– Vậy hả, tôi tên Tường, mà nè sáng giờ ăn uống gì chưa?

Mặc dù ăn no đến bội thực, bao tử đang hành hạ nhưng cái đói ám ảnh khiến tôi buông vội (vì tưởng như mình vẫn đang rất đói ):

– Dạ chưa

– Vậy ngồi đây chờ chút tôi đi chút xíu quay lại.

Tôi bàng hoàng, kinh ngạc. Như thể Chúa đang ở trước mặt tôi, Ngài đang trò chuyện, đang nghe những lời kêu van thống thiết và gởi một thiên sứ đến giúp tôi . Anh là Thiên Sứ của Thiên Chúa hay người thường vậy anh Tường?

Anh trở lại với khúc bánh mì:

– Nè ăn đi, tôi đã sắp xếp một chỗ cho anh trên chiếc xe đò về Saigon rồi.

Tôi theo anh, anh dẫn tôi lên chiếc xe, nói gì đó với người tài xế, rồi ngoắc tay:

– Về nhà bình yên nghe

Tôi vẫn không biết anh có phải là Thiên Thần Bổn Mệnh của tôi, vì thời điểm đó, đâu có ai muốn rắc rối, dây dưa với người lạ nhất là một thằng tù còn mang trên người bộ quần áo . Càng co cụm, khép kín càng tốt. Ai biết ai… là ai!

Tôi lên xe ôm cái bụng cóc ọc ạch vì thức ăn nằm ủ trong đó. Cứ khoảng một cây số tôi lại xin người tài xế ngừng lại để đi cầu. Trên dưới đều không ra được làm tôi như người sắp chết. Bụng tôi căng cứng giống trái banh chờ lúc bùng nổ. Tôi lại lâm râm cầu nguyện. Những lời kinh phần nào làm đau đớn dịu xuống, nhưng hỗn tạp hàng chục loại thức ăn trong dạ dày khiến tôi chỉ muốn chết cho xong. Hành khách đi chung xe không ai dám nói chuyện với tôi, họ chỉ liếc mắt nhìn, người đầu tiên ngồi hàng cuối đứng dậy xuống, đi ngang qua ném cho tôi hai đòn bánh tét rồi đi thẳng. Người thứ hai, thứ ba giả bộ để rơi tờ giấy bạc, gói thuốc. Tôi cảm ơn họ những người xa lạ chỉ vì bộ đồ tù tôi mặc trên người sẵn sàng nhường nhịn chia sẻ chút vật thực rất nghèo nàn của họ. Những ngày đầu mất nước chẳng ai giàu có đủ để chia sẽ phần sở hữu của mình. Chắc họ đoán tôi là tù VC vừa được tha, mà đã là tù VC thì (ngoài hình sự ) tất cả đều là anh hùng . Cảm ơn họ, những người miền Nam giàu lòng vị tha

Tối hôm đó xe ngừng lại ở Qui Nhơn. Nhờ có tiền tôi thuê được cái ghế bố . Tôi muốn ngủ nhưng đau đớn quá đến bật khóc. Tôi lại ngồi dậy thầm thì cầu xin:

– Lạy Chúa, Chúa đã cho con ra tù, cho con có phương tiện về nhà không lẽ Chúa để con chết ở đây? Chúa biết là con cũng sắp chết rồi. Con thở không nổi nữa, đau quá Chúa ơi

Cầu nguyện một chặp, tôi mệt nằm xuống thiếp đi. Đoán chừng khoảng mười lăm phút sau, tôi ngồi bật dậy. Một con nôn thốc nôn tháo tống khứ hết mọi thức ăn đã nằm trong bao tử tôi hai ngày nay. Tôi tưởng sau đó tôi sẽ chết, thật lạ, hết cơn nôn tôi cảm thấy mình khỏe khoắn như chưa bao giờ khỏe như thế. Tối hôm đó tôi ngủ say như một đứa trẻ vừa no sữa

Xe đến ven thị xã Phan Thiết thì ngưng lại. Lệnh giới nghiêm không cho phép xe lưu thông qua thành phố sau nửa đêm. Đó là tôi đoán vậy, còn thật sự như thế nào tôi không biết. Đêm đó cũng như mọi người chúng tôi nằm lăn lóc ở hai bên vệ đường trong khách sạn “Ngàn Sao“ ( nhìn lên trời thấy sao không!)

Sáng ngày 24/12/1976 tôi về tới nhà. Con chó Lucky má tôi thừa hưởng từ người dì đã đi tản qua Canada để lại. Nó gốc quân khuyển thường được ăn đồ ngon cho tới khi về với má tôi và sống dưới chế độ VC. Tội nghiệp “ thằng nhỏ “ phải tập ăn mọi thứ má tôi có thể chia cho nó. Chơi láng hết từ khoai mì khoai lang, cám heo v..v . Hai “ đứa ” tụi tôi vẫn chơi thân với nhau trước ngày tôi đi tù.

Nghe tiếng người Lucky từ trong nhà chạy ào ra sủa dữ dội. Tôi la khẽ “ Lucky, tao nè “ nghe tiếng tôi nó ư ử mừng rỡ, chân cào lên hàng rào đuôi vẫy dữ dội. Má tôi đang ăn cơm, nghe chó sủa vội chạy ra coi là ai, tay vẫn còn cầm chén. Vừa nhìn thấy tôi, má chết sững

– Trời ơi , ông ơi, thằng Bảy nó về rồi nè.

Ba tôi chạy ra, mếu máo. Má tôi mở cổng, ôm chầm lấy tôi, Lucky nhảy chồm lên người tôi, ba tôi cứ cầm tay tôi mà lắc. Sau này khi bình tĩnh tôi mới biết ba má tôi tưởng tôi đã chết rồi vì không có tin tức gì hết từ ngày tôi bỏ đi. Ba má biết tôi tìm cách vượt biên đường bộ. Thú dữ, Khờ Me Đỏ, VC chắc là tôi không tài nào đi lọt. Thậm chí má tôi đã xin lễ cầu hồn cho tôi. Tôi đâu có dám cho ba má tôi biết bị tù ở Pleiku sợ ông bà tuổi già sức yếu lại lo gồng gánh thăm nuôi. Cuối cùng tôi chịu hết nỗi đánh liều gởi lén thằng bạn được tha bức thư cầu cứu chỉ cách ngày tôi được tự do có một tuần lễ. May là thằng bạn chắc về tới nhà vui quá quên giao thư. Cảm ơn nó, nếu không tôi lại làm khổ ba má tôi lần nữa.

Tính ra VC giam tôi hơn sáu tháng . Sáu tháng với một thằng thư sinh như tôi, từ nhỏ tới lớn chỉ biết ăn bám vào cha mẹ là cả một khoảng thời gian khủng khiếp. Tôi biết được con rận hình dạng ra sao, con cái ghẻ nhớ như thế nào và làm cách nào bắt “quả tang hung thủ“ bằng đầu kim mài nhọn từ mảnh sắt vụn. Tôi biết sự dã man khi bệnh “ đói “ hành hạ , cảm giác “ sung sướng đến tê dại “ lúc áp chai thủy tinh nước nóng vào hai cái mông đầy ghẻ, hoặc khi thằng bạn “ghẻ “ chà bật máu mủ rồi chế nước muối lên. Gọi là bạn ghẻ vì chúng tôi sẽ luân phiên “ điều trị “ bệnh ghẻ cho nhau theo lối đó.

Tôi cũng phải cảm ơn VC. Nghe lạ quá ha? Nhưng đúng là nhờ VC, bao tử tôi giờ vô địch. Tôi có thể ăn bất cứ con gì miễn là nó nhúc nhích (tôi đã từng nếm “hương vị“ rận no máu khi cắn cái cóc trong miệng ). Bây giờ nhiều khi ăn thức ăn để lâu hoặc cơm thiu người khác sẽ bị ngộ độc thực phẩm, còn tôi hả ? “ vô tư “! Vi trùng sợ tôi chứ tôi đếch ngán bất cứ vi trùng nào. Sống sót tù VC tôi có thể sống sót mọi nơi, mọi hoàn cảnh vì tận cùng của sự khủng khiếp là Hỏa Ngục mà so với tù VC chắc còn thua một bậc.

Câu chuyện này hoàn toàn có thật mà bao nhiêu năm nay tôi muốn kể lại để VINH DANH và CÁM ƠN Thiên Chúa, những vì không biết cách viết, cộng thêm với sự lười biếng, lo toan cuộc sống tôi chưa làm được. Tin hay không tuỳ quý vị, nhưng ơn Thiên Chúa ban cho có thật, nhất là cộng thêm lời cầu bầu rất linh nghiệm của Mẹ Maria.

Còn đối với anh Tường tôi vẫn cầu nguyện cho anh (tôi rất muốn biết anh chỉ là một người giàu lòng nhân đạo tình cờ đi ngang qua hay anh thật sự là một Thiên Sứ được sai đến?)

Tôi xin lỗi, tôi quên phần kết luận: chỉ trong vòng có hai ngày, từ trưa 22/12/1976 với một cái bụng bội thực gần chết, với phương tiện giao thông nghèo nàn dưới sự điều hành của VC đi từ Pleiku (cách xa Saigon bao nhiêu cây số ? ) , tôi đã về tới nhà mình vào đúng trưa ngày 24/12/1976. Điều đó có nghĩa là đêm Giáng Sinh tôi đã được tham dự Thánh lễ nửa đêm với ba má mình như lời nguyện xin trong phòng biệt giam ở Pleiku…”

VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRỜI

BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO NGƯỜI THIỆN TÂM

(Theo lời kể của một người bạn)

Nguoiviettudo

VỤ ÁN CHÁU BÉ 8 TUỔI BỊ ĐÁNH CHẾT VÀ VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN

Vũ Quốc Ngữ

VỤ ÁN CHÁU BÉ 8 TUỔI BỊ ĐÁNH CHẾT VÀ VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN

– – – – –

Huỳnh Ngọc Chênh

Cháu bé bị hành hạ ác độc hơn một năm qua để rồi cuối cùng bị đánh chết mà không hề được ai cứu giúp ngay trong một gia đình khá giả thượng lưu có cha làm giám đốc một công ty và ông nội là bác sĩ phó giám đốc một bệnh viện lớn, nói lên nhiều vấn đề của xã hội ngày hôm nay.

Nhiều bài viết đã lên án về mặt đạo đức và pháp luật khá đầy đủ, thấy không cần phải nêu ra nữa. Ở đây tui muốn lưu ý đến khía cạnh phổ biến hiểu biết về nhân quyền cho toàn dân và giáo dục nhân quyền cho trẻ em.

Đã nhiều lần khi nói về nhân quyền, tui hay nhắc đến chuyện ngay cả trẻ em mẫu giáo của các nước châu Phi cũng đã được dạy về nhân quyền. Quyền cụ thể và đầu tiên mà các em được dạy là quyền không bị làm đau đớn và không làm đau đớn người khác. Nghĩa là em không được cấu, cắn bạn bè và ngược lại. Rồi từ đó nâng cao lên, không ai có quyền đụng chạm đến cơ thể của em gây ra đau đớn, kể cả bố mẹ.

Rồi người ta dạy cho các em biết khi bị người lớn đụng chạm đến cơ thể phải phản ứng ra sao, phải báo động đến ai, phải cầu cứu ai…

Cháu bé vừa bị đánh chết đã học lên đến lớp 3, nếu từ khi còn mẫu giáo đã được dạy dỗ những điều như trên thì ngay lần bị mẹ kế hành hạ đầu tiên đã biết cầu cứu đến mẹ ruột, đến ông bà nội, đến hàng xóm, đến thầy cô giáo…

Nhưng cháu đã không làm được điều này, để bị hành hạ liên tục, ngày càng nặng hơn suốt một năm rồi bị đánh chết trong lần bị hành hạ cuối cùng. Cháu không được dạy về quyền làm người và cách bảo vệ quyền làm người của mình.

Người mẹ kế cũng không được dạy về quyền làm người từ bé nên đã thản nhiên xâm phạm cơ thể của cháu bé mà không thấy sai. Pháp luật thì cô càng không am hiểu.

Người bố học hành cao, có địa vị trong xã hội, nhưng từ bé đã không được dạy về nhân quyền, lớn lên và làm việc trong một xã hội mà nghe nói đến hai chữ nhân quyền như nghe về điều gì huý kị ghê gớm lắm, nên không hiểu một điều rất cơ bản là không có quyền làm đau con mình và không cho ai được phép làm đau con mình.

Nhân quyền thì giấu đi, luật pháp thì bưng bít những điều tiến bộ mà thế giới buộc phải ghi vào, thảm cảnh vẫn tiếp tục xảy ra cho con người VN là điều không thể tránh khỏi.

Nhân quyền là nền tảng của pháp luật. Hiểu biết pháp luật là hiểu biết về nhân quyền. Có lẽ vì vậy mà pháp luật cũng bị bưng bít với người dân.

Đã có nhóm Hiến Pháp bị bắt đi tù hết cả nhóm chỉ vì có ý định phổ biến kiến thức luật cho người dân.

Đã có bạn tui là ứng cử viên quốc hội Lê Trọng Hùng bị bắt đi tù chỉ vì đã phát sách pháp luật cho người dân.

Và cũng có lẽ vì vậy mà tui nhiều lần muốn gởi sách bộ luật hình sự và luật tố tụng hình sự vào trại giam cho vợ tui là Nguyễn Thuý Hạnh nghiên cứu am hiểu luật cũng bị ngăn cấm.

FB Huỳnh Ngọc Chênh

Ave Maria – Hàn Mạc Tử

Tuy Sen

Mỗi lần Giáng Sinh về lại nhớ nhà thơ Hàn Mạc Tử với

Ave Maria

Như song lộc triều nguyên ơn phước cả

Dâng cao dâng thần nhạc sáng hơn trăng

Thơm tho bay cho đến cõi Thiên Đàng

Huyền diệu biến thành muôn kinh trọng thể

Và Tổng thể Thiên thần quỳ lạy Mẹ

Tung hô câu đường hạ ngapi châu sa,

Hương xông lên lời ca ngợi sum vầy

Trí miêu duệ của muôn vì rất thánh

MARIA!linh hồn tôi ớn lạnh

Run như run thần tử thấy long nhan

Run như run hơi thở chạm tơ vàng

Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến

Tôi cảm động rưng rưng hai dòng lệ

Dòng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ.

Bút tôi reo như châu ngọc đền vua,

Trí tôi hớp bao nhiêu là khí vị

Và trong miệng ngậm câu ca huyền bí

Và trong tay nắm một nạm hào quang…

(Hàn Mạc Tử)

Những bức ảnh từng khiến nhiều người khóc cạn nước mắt

Những bức ảnh từng khiến nhiều người khóc cạn nước mắt

Một bức ảnh đáng giá ngàn lời. Đôi khi, một bức tranh ẩn chứa cả ngàn giọt nước mắt, một trái tim tan nát, một tâm hồn vụn vỡ, hay là tiếng kêu cứu của những người không thể tự nói ra.

Máy ảnh đã cho phép con người ghi lại một số khoảnh khắc kỳ diệu nhất, ấm lòng… nhất, nhưng cũng có những khoảnh khắc tàn nhẫn nhất.

Bé gái Syria

Thông thường những đứa trẻ chạy trốn, giấu mặt hoặc mỉm cười khi nhìn thấy camera. Không một đứa trẻ nào được tiếp xúc với súng và càng ít trẻ ý thức được hậu quả của việc sử dụng súng.

Đó là lý do tại sao, khi bức ảnh một bé gái người Syria giơ tay sợ hãi khi nhìn thấy ống kính máy ảnh – vì nghĩ là một khẩu súng, được đăng tải, đã gây chấn động toàn xã hội. Nhiếp ảnh gia Osman Sağırlı đã chụp bức ảnh tại trại tị nạn Atmeh ở Syria. Đáng buồn thay, bé Hudea, 4 tuổi, không phải là đứa trẻ Syria duy nhất quen với sự tàn phá của súng đạn và sự khốc liệt của chiến tranh.

Diện mạo của cái đói

Nạn đói ở Hà Nam (Trung Quốc) kéo dài từ mùa hè năm 1942 đến mùa xuân năm 1943, cướp đi sinh mạng của 2-5 triệu người và khiến 4 triệu người đã phải tha phương cầu thực. Đó là hệ lụy tổng hợp của chiến tranh, hạn hán và dịch bệnh hoành hành trong khu vực.

Nhà báo Theodore White (Mỹ) đã tường thuật trực tiếp rằng nhiều người đang tự tử và các bậc cha mẹ phải bán con cái của họ với giá chưa đến 10 USD. Người ta đã chụp được bức ảnh một người đàn ông đói khát tuyệt vọng gặm vỏ cây bên ngoài đại sứ quán Anh.

Lòng dũng cảm và sự duyên dáng

Ngày 13/11/1985, núi lửa Nevado del Ruiz ở Colombia phun trào, xóa sổ thị trấn Armero, giết chết hơn 20.000 trong tổng dân số 29.000 người. Một trong những nạn nhân của bi kịch Armero là Omayra Sanchez, 13 tuổi, hai chân bị kẹt dưới bức tường gạch khi dòng bùn núi lửa tràn vào nhà. Không thể thực hiện một ca cắt cụt chi an toàn và giải thoát cho Omayra, các bác sĩ và lực lượng cứu hộ cho rằng, điều nhân đạo nhất là giữ cho cô bé bình tĩnh và để cô ấy chết dần.

Vài giờ trước khi cô qua đời, sau khi bị mắc kẹt trong 60 giờ, nhiếp ảnh gia Frank Fournier đã đến và chụp bức ảnh Omayra nổi tiếng hiện nay. Bức ảnh được vinh danh là Bức ảnh Báo chí Thế giới của năm và là lời nhắc nhở đầy ám ảnh về vụ phun trào núi lửa chết chóc thứ hai trong thế kỷ 20.

Một người cha bất lực

Thoạt đầu, bức ảnh trông giống như một người đàn ông thường xuyên ngồi trên hiên và nhìn vào thứ gì đó. Nhưng “cái gì đó” là những gì còn lại của con người: một bàn chân và một bàn tay. Trên thực tế, chúng thuộc về đứa con gái Boali 5 tuổi của người đàn ông này.

Cô bé bị đã bị các giám thị của Công ty Cao su Ấn Độ Anh-Bỉ giết chết. Người đàn ông không hoàn thành được chỉ tiêu cao su hàng ngày của mình; vợ của ông cũng bị giết. Dù ở thời đại và xã hội nào, hành động đó thể hiện sự man rợ ở dạng trần trụi nhất của nó.

Lòng biết ơn

Bức hình chụp cậu bé 12 tuổi người Brazil, Diego Frazão Torquato, đang chơi đàn vĩ cầm trong đám tang người thầy giáo của mình. Thầy Evandro Silva là người đã giúp Diego thoát khỏi cảnh nghèo đói và bạo lực. Ông bị giết trong một vụ cướp của mafia vào tháng 10/2009. Đáng buồn thay, Diego, người bị bệnh bạch cầu từ khi mới 4 tuổi, đã qua đời vào năm sau do biến chứng sau khi cắt bỏ ruột thừa.

Sự tàn ác của con người

Khi sự tàn ác, sự ngu dốt và lòng tham của con người không biết đến giới hạn thì đây là kết quả. Ảnh chụp ở đây là một trong những “điểm tham quan kỳ lạ” của vườn thú – một bé gái người Philippine bị trói tay vào một khúc gỗ. Từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, những “cuộc triển lãm” vô nhân đạo như vậy có thể được thấy ở Paris, Hamburg, Barcelona, London, Milan và New York. Bức tranh này đã được chụp hơn một thế kỷ về trước.

Vô gia cư

Chính sự đau khổ của trẻ thơ đã khơi dậy nỗi đau khổ và bản năng bảo vệ sâu sắc nhất trong chúng ta. Bức ảnh “Vô gia cư” của nhiếp ảnh gia Môi trường của CIWEM năm 2011 – Chan Kwok Hung, là một ví dụ hoàn hảo về điều đó. Tại Kathmandu – thủ đô của Nepal, ông đã chụp được bức ảnh hai đứa trẻ vô gia cư đang sống trên đường. Hàng ngày, hai anh em đến bãi phế liệu gần đó và tìm kiếm bất cứ thứ gì có giá trị để bán.

Tình yêu của một người anh

Những gì một cậu bé Nhật Bản thể hiện khi đưa người em trai đã khuất của mình đi hỏa táng không chỉ là tình yêu mà còn là sự dũng cảm và đĩnh đạc của một người đàn ông gấp mấy lần tuổi cậu. Nhiếp ảnh gia Joe O’Donnell có mặt tại hiện trường nơi hỏa táng những người thiệt mạng trong vụ đánh bom ở Nagasaki, ghi lại hình ảnh này và nói về những gì đã xảy ra sau khi họ đặt đứa trẻ đã chết từ vào đống lửa: “Cậu bé đứng đó không nhúc nhích, nhìn ngọn lửa. Cậu cắn môi dưới của mình mạnh đến nỗi nó ứa máu. Ngọn lửa cháy thấp dần như mặt trời lặn. Cậu bé quay lưng, lặng lẽ bước đi”.

Để tự chết

Bức ảnh chụp vào tháng 7/1913 của nhiếp ảnh gia người Pháp Albert Kahn cho thấy một phụ nữ trẻ người Mông Cổ đang cố gắng giải thoát mình khỏi một cái cũi gỗ. Vì bị cho là ngoại tình, cô bị giam cho đến chết vì đói. Những chiếc bát trước mặt cô ban đầu được đổ đầy nước và cô phải xin ăn. Tuy nhiên, kết cục cuối cùng là cái chết, cho dù quá trình này có thể kéo dài. Phương pháp trừng phạt vô nhân đạo này đã được thực hiện ở Mông Cổ cho đến đầu thế kỷ 20.

Thứ bảy đẫm máu

Ngày 28/8/1937, nhiếp ảnh gia H. S. Wong đã chụp được bức ảnh một em bé đang khóc ngay sau khi Không quân Nhật Bản ném bom nhà ga xe lửa Thượng Hải. Đó là một cuộc tấn công vào dân thường, làm 1.500 người bị thiệt mạng. Ngay sau vụ đánh bom, một người đàn ông đang đi qua đống đổ nát và giải cứu các nạn nhân. Đứa trẻ trong bức ảnh là người đầu tiên anh cứu.

Thực tế của thời đại chúng ta

Tháng 3/1993, khi đang thực hiện một nhiệm vụ của Liên Hợp Quốc ở Châu Phi, nhiếp ảnh gia Kevin Carter đã chụp được một bức ảnh mang lại cho ông Giải thưởng Pulitzer. Trong khi chụp ảnh các nạn nhân đói khát, Carter tình cờ gặp một đứa trẻ mới biết đi đang lả đi, gục xuống đất vì đói. Nấp phía sau là một con kền kền đang chực chờ rình mồi đứa trẻ.

Carter đã chụp ảnh hiện trường và đuổi con kền kền đi. Sau khi chụp một số bức ảnh, Kevin ngồi dưới gốc cây và khóc. Bốn tháng sau, nhiếp ảnh gia Kevin tự sát. Một phần trong bức thư tuyệt mệnh của anh ta có viết: “Tôi bị ám ảnh bởi những ký ức sống động về những vụ giết chóc và xác chết và sự tức giận và đau đớn… của những đứa trẻ bị chết đói, hoặc bị thương…”.

“Bức ảnh đau lòng nhất”

Hầu hết mọi người đều quen thuộc với hình ảnh cậu bé Alan Kurdi 3 tuổi người Syria, bị trôi dạt vào một bãi biển ở Bodrum, Thổ Nhĩ Kỳ ngày 2/9/2015. Cậu bé chết đuối khi thoát khỏi cuộc chiến ở Syria cùng gia đình người Kurd. Trên hành trình băng qua biển Aegean để đến Hy Lạp, con thuyền quá đông đúc của họ bị lật. 12 người, trong đó có một số trẻ em, bị chết đuối. Bức ảnh được đăng tải trên các phương tiện truyền thông và được coi là “Bức ảnh Đau lòng nhất”, một lần nữa nhắc nhở thế giới về sự khủng khiếp và tuyệt vọng của chiến tranh.

From: Tu-Phung

Ăn Cướp & Ăn Cắp- Tưởng Năng Tiến

Ăn Cướp & Ăn Cắp

Tưởng Năng Tiến

Tôi nghe nhiều người than phiền về một vị đồng hương (khó thương) của mình nên cũng đâm ra hơi sốt ruột, và xót ruột:

Người Buôn GióHầu như cứ động đến Việt Kiều là có mặt Thọ Muối. Nhà văn Thọ Muối trước là cựu chiến binh giải phóng miền Nam, khi xuất ngũ về đói quá (tác phẩm Nhà Ba Hộ đoạt giải của Thọ Muối lột tả những tháng ngày đau khổ này) Thọ Muối đi xuất khẩu lao động sang Đông Đức. Thời thế nháo nhào Tây Đông hòa hợp, Thọ Muối thành Việt Kiều Đức nhưng lòng nhớ các em gái Việt Nam khôn nguôi.

Và hơn nữa là sự đam mê văn chương. Vì những thứ ấy chỉ ở Việt Nam mới đáp ứng nhu cầu của Thọ Muối. Nên Thọ năng đi về quan hệ với văn nghệ sĩ và các em út trong nước. Mà muốn đi về thì phải phát ngôn thế nào thì Thọ tất rõ. Thọ Muối từng giật míc đọc thơ đón tiếp Tổng Bí Thư Nông khi ngài có dịp sang Đức quá bộ thăm Kiều bào bên đó.”

Đỗ Trường: Tập kiểu sống như thế này, hèn và nhục lắm ông Nguyễn Văn Thọ ạ

Khánh Minh: “Thọ Muối là đồng chí đéo lào mà lịnh thế!”

Cứu cánh biện minh cho phương tiện là châm ngôn sống của nhiều người, chứ chả riêng chi ông Thọ. Nịnh bợ, nói nào ngay, cũng chỉ là một trong hằng trăm cách ứng xử ở đời thôi. Trong cái bối cảnh xã hội mà “không có nhân cách người ta vẫn sống, thậm chí còn sống béo tốt hơn” (theo như lời của một vị sĩ phu xứ Việt) thì xu phụ – nghĩ cho cùng – cũng không có gì là trật lắm!

Tôi chỉ có hơi phiền lòng chút đỉnh khi nghe nhà văn Nguyễn Văn Thọ lại vừa lớn tiếng đòi “lên án gia đình” em V.T.T.M, một nữ sinh mồ côi cha, quê ở Sầm Sơn – Thanh Hoá. Em bị bắt giữ và làm nhục chỉ vì ăn cắp một cái váy trị giá 160 ngàn đồng tiền Việt, vào hôm 3 tháng 12 năm 2021:

“Xưa người ta thường nói Đứa dại hở L thằng khôn xấu hổ hay Chó gầy hổ mắt người nuôi. Cha mẹ những kẻ ăn cắp phải nên biết xấu hổ và tôi thấy báo chí không nên khai thác 1 mặt về phía tâm lí cha mẹ trong trường hợp này, dường như gia đình và cô gái kia không đáng lên án sao?

May mà còn có những người người cầm bút khác, với cái tầm và cái tâm bao dung hơn thế:

– Thùy DươngTrong vụ việc nói trên, chủ shop quần áo đã có những hành vi mang tính nhục mạ, xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của nữ sinh 16 tuổi. Việc chụp ảnh em M. bị hành hung để tung lên mạng xã hội, phát tán cho nhiều người cùng xem, đã làm cho mức độ xâm phạm danh dự, nhân phẩm của nữ sinh này trầm trọng thêm.

Thái HạoChúng ta tỉnh táo tới mức không thể chấp nhận việc có nhiều người động lòng thương gia đình một cô bé nghèo khổ ăn cắp, chúng ta sáng suốt nhân danh đủ thứ lý lẽ để đòi trừng trị, chúng ta cao giọng dạy dỗ huấn thị. Ngày xưa, khi phát hiện một đứa trẻ đang leo cây hái trộm ổi, ông chủ nhà sẽ im lặng không lên tiếng, giả vờ như không biết vì sợ nó té ngã; ngày xưa, khi một đứa trẻ ăn trộm trái cây trong vườn ông thầy đồ, ông sẽ nói “cháu đừng hái trái xanh”, rồi đến trưa thì tự tay mang sang nhà cho một rổ… Thời tôi vẫn còn lác đác thấy thế, thời cha mẹ ông bà tôi thì nhiều hơn.

Những chuyện “ngày xưa” thượng dẫn khiến tôi nhớ đến một câu chuyện khác, chưa xa xưa gì lắm, đọc được trên trang Trí Thức VN:

Buổi sáng hôm ấy, cậu học sinh này cứ lang thang mở coi hết cuốn này đến cuốn khác ở chỗ các giá sách tiếng Pháp. Việc lấm lét nhìn tới nhìn lui của cậu bé khiến nhân viên trông coi khu sách tiếng Pháp nghi ngờ. Lúc cậu đi ra, họ giữ lại, sờ ngực áo cậu và lôi ra một cuốn Toán Hình học và Đại số của Réunion de Professeurs quý giá đã nói ở trên.

– Tại sao cậu ăn cắp sách?

Cậu bé tái mặt không nói nên lời. Chiếc phù hiệu trên ngực áo cậu cho biết cậu học trường Pétrus Ký, một trong bốn trường trung học công lập lớn nhất rất nổi tiếng tại Sài Gòn lúc bấy giờ: Gia Long, Trưng Vương, Pétrus Ký, Chu Văn An.

– Hừ, học sinh trường Pétrus Ký mà ăn cắp sách! Tôi gọi cảnh sát đến bắt để cậu chừa cái thói đó đi!

Họ lôi cậu bé tới chỗ quầy thâu tiền của cô thâu ngân viên, nhờ cô giữ cậu giùm rồi đi gọi cảnh sát. Cậu bé sợ hãi khóc như mưa như gió:

– Lạy chị, nhà em nghèo không có tiền mua sách, chị nói với chú ấy tha cho em đừng gọi cảnh sát…

Từ đầu đến giờ có một ông đã lớn tuổi, ăn mặc lịch sự vẫn đứng theo dõi câu chuyện. Thấy cô thâu ngân nói thế, ông bảo cô ta:

– Thôi được, cuốn sách giá bao nhiêu để tôi trả tiền. Học trò nghèo mà, lấy một cuốn sách, lỡ bị đuổi học tội nghiệp…

Cô thâu ngân viên chưa biết giải quyết thế nào thì đúng lúc đó ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhà sách mà mọi người vẫn gọi là ông Khai Trí, từ ngoài đi vô.

Thấy chuyện lạ, ông dừng lại hỏi chuyện gì. Cô thâu ngân viên thuật lại sự việc và ông khách cũng đề nghị trả tiền như ông đã nói với cô thâu ngân. Ông Khai Trí cầm cuốn sách lên coi sơ qua rồi nói:

– Phải học trò giỏi mới dùng tới cuốn sách này chứ kém không dùng tới. Cám ơn lòng tốt của ông nhưng để tôi tặng cậu ta, không lấy tiền và sẽ còn giúp cậu ta thêm nữa…

Ông trao cuốn sách cho cậu bé, thân mật vỗ vai khuyên cậu cố gắng học hành rồi móc bóp lấy tấm danh thiếp, viết vài chữ, ký tên và đưa cho cậu:

– Từ nay hễ cần sách gì cháu cứ đem danh thiếp này đến đưa cho ông quản lý hay cô thâu ngân, cô ấy sẽ lấy cho cháu. Ngày trước bác cũng là học sinh trường Pétrus Ký mà…

Thái độ của người khách lạ và ông chủ hiệu sách Khai Trí khiến tôi nhớ đến tựa một cuốn sách (It Takes A Village) của Hillary Rodham Clinton, xuất bản lần đầu vào năm 1997. Đề tựa này dường như được lấy cảm hứng từ một câu ngạn ngữ cổ xưa – “It takes a village to raise a child” Một đứa bé cần được cả làng chăm sóc – của dân Châu Phi.

Cái thời mà phần lớn nhân loại sống theo từng làng mạc nay đã qua rồi. Bây giờ ở Việt Nam nếp sống được tổ chức chặt chẽ hơn nhiều. Ngoài sự “quan tâm” thường xuyên của Nhà Nước và Đảng cầm quyền, tất cả mọi người dân (bất kể nam phụ lão ấu) còn được Mặt Trận Tổ Quốc “chăm sóc” tới nơi tới chốn nữa cơ?

Liệu chính quyền địa phương (với đủ thứ hội hè, đoàn thể, ban ngành) có chút trách nhiệm gì không về hành vi đáng tiếc vừa qua của một công dân vị thành niên?

Tôi chưa được đặt chân đến Thanh Hoá lần nào nên cũng tò mò muốn biết xem cuộc sống nơi em V.T.T.M sinh trưởng ra sao? Lần dò qua báo chí nước nhà, và đọc được những mẩu tin sau:

Nếu “khối tài sản” của ông Bí Thư Thành Ủy Thanh Hóa đừng quá “khổng lồ” (và nếu quí vị quan chức ở địa phương này chịu “cắt xén” hay “ăn chận” mỏng hơn chút xíu) liệu em V.T.T.M sẽ có thể sắm một cái váy để mặc, thay vì trộm cắp hay không?

Có thể cũng không, vì chả có gì hoàn toàn bảo đảm là một cá nhân có thể hành xử cách này, thay vì cách khác. Tuy thế, tôi vẫn tin rằng nếu nhà văn Nguyễn Văn Thọ cũng “đứng về phe nước mắt” như vô số người cầm viết khác (thay cho cái thói “thượng đội hạ đạp” cố hữu) thì chắc chắn ông sẽ tránh được rất nhiều điều tiếng hay búa rìu dư luận.

Tưởng Năng Tiến
12/2021

Những thánh gia Na-da-rét thời đại mới  

Những thánh gia Na-da-rét thời đại mới

(Suy niệm Lễ Thánh gia)

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà  

Hằng năm vào dịp lễ Thánh gia là ngày bổn mạng của giáo xứ, sau khi lễ xong, các gia đình trong giáo xứ tập trung đông đảo chung quanh hang đá cầu nguyện với thánh gia thất và mỗi gia đình cử ra một vị đại diện tuần tự tiến lên hàng đôi đến trước bộ tượng ba đấng, dâng lên Chúa Giê-su, Đức Mẹ và thánh Giu-se những bông hoa thắm tươi để tỏ lòng tôn kính mến yêu.

Thế mà hôm qua, chỉ còn ba ngày nữa là đến lễ Thánh gia, lợi dụng bóng tối, có kẻ bất lương đến đập vỡ ba bức tượng thánh Giu-se, Mẹ Maria và Chúa hài đồng có tầm cao như người thật, đặt trong hang đá lớn nằm bên hông nhà thờ, khiến mọi người trong xứ đạo rất đau lòng và bối rối.

Biết tính sao đây, khi lễ Thánh gia đã gần kề? Tìm đâu ra bộ tượng ba đấng mới thế vào bộ tượng bị phá tan? Nghi lễ dâng hoa cho ba đấng vào mỗi dịp lễ Thánh gia là một nghi lễ truyền thống đã được thực hiện xuyên suốt từ hơn trăm năm qua, lẽ nào năm nay không tổ chức được? Ngoài ra, ngày lễ Thánh gia đã cận kề nên cũng không thể đặt một bộ tượng khác thay thế.

Trước tình thế đó, Cha xứ có một sáng kiến táo bạo: Ngài cho mời đôi vợ chồng mới sinh đứa con trai đầu lòng được chừng tháng tuổi và mới được rửa tội mấy ngày trước, mặc y phục truyền thống thật chỉnh tề, đóng vai Đức Mẹ, thánh Giu-se và Chúa Giê-su thay cho bộ tượng hang đá bằng thạch cao đã hư hại. Ngài sắp xếp cho cặp vợ chồng quỳ bên trong hang đá, chầu hai bên đứa con thơ và kêu mời đại diện các gia đình trong giáo xứ dâng hoa cho ba vị nầy trong tư cách là hình ảnh của thánh gia Na-da-rét.

Sáng kiến nầy đã làm cho một số người trong họ đạo cảm thấy bị sốc. Họ cho rằng làm như vậy là quá đề cao gia đình người tín hữu và xúc phạm đến ba đấng thánh.

Cha Sở diễn giảng cho họ như sau:

Khi đề nghị gia đình anh chị Năm đóng vai Giu-se, Mẹ Maria và Chúa Giê-su thế chỗ cho bộ tượng ba đấng bằng thạch cao bị hư, chúng ta không hề xúc phạm đến ba đấng thánh, nhưng xem gia đình anh chị Năm đây là hình ảnh rất trung thực và cao quý của thánh gia Na-da-rét.

Tại sao tôi nói như vậy?

Thứ nhất, bộ tượng ba đấng mà ta kính viếng xưa nay là hình ảnh của Thánh Giu-se, Mẹ Maria và Chúa Giê-su do tay người phàm tạo nên bằng thạch cao, không có sự sống; trong khi gia đình anh chị Năm đây là hình ảnh của ba Ngôi Thiên Chúa, do chính Thiên Chúa tạo dựng nên, có linh hồn, có lương tri, có sự sống.

Thứ hai, nhờ lãnh nhận bí tích Thánh tẩy, anh chị Năm cũng như mỗi người chúng ta được trở thành chi thể của Chúa Giê-su (GLHTCG số 1267). Thánh Phao-lô cũng xác nhận điều nầy: “Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Ki-tô sao?” (I Cor 6,15).

Thứ ba, nhờ rước lấy Mình thánh Chúa Giê-su trong bí tích Thánh Thể, anh chị Năm được trở nên cùng chung máu thịt với Ngài, được thông dự vào sự sống của Thiên Chúa, được thông phần bản tính Thiên Chúa (2 Pr 1, 4).

Ngoài ra, Chúa Giê-su và Hội thánh thường dạy chúng ta rằng “Thiên Chúa đồng hóa với con người”, con người là hiện thân của Thiên Chúa.

Thứ tư, Hội Thánh công giáo xưa nay vẫn nhìn nhận gia đình của ki-tô hữu là gia đình thánh nên Giáo hội quen gọi đó là những hội thánh tại gia, tức là thánh gia.

Như vậy, không có một bức tượng nào do tay người phàm làm ra dù bằng thạch cao, bằng gỗ, bằng đá hay bằng kim loại quý… xứng đáng được chọn làm hình ảnh của Chúa Giê-su, của Mẹ Maria, của thánh Giu-se cho bằng chính mỗi Ki-tô hữu chúng ta.

Sau khi hiểu được những điều cha xứ giải thích, mọi người vui vẻ dâng những đoá hoa thật đẹp thật tươi cho anh chị Năm được cử đóng vai thánh gia Na-da-rét.

Rồi qua những năm sau, nhiều người trong giáo xứ đều thấy thật là thích hợp và đầy ý nghĩa khi chọn một gia đình công giáo trong họ đạo đóng vai thánh gia Na-da-rét thay vì dùng bộ tượng thạch cao, nên cộng đồng giáo xứ thoả thuận với nhau rằng: đôi vợ chồng nào mới sinh con trai và được rửa tội sớm nhất trong tháng 12 dương lịch thì sẽ được chọn đóng vai thánh Giu-se, Đức Mẹ và Chúa Giê-su để cho giáo dân thăm viếng. Và cũng từ lúc đó, thay vì dâng hoa cho ba Đấng như trước đây, người ta dâng cho em bé trong vai Giê-su những hộp sữa; dâng cho người mẹ trong vai Maria những cuộn chỉ, những chiếc kim, chiếc kéo; dâng cho người cha trong vai Giu-se những dụng cụ làm việc nho nhỏ như những chiếc kìm, chiếc búa, cái đục, cái bào…

Từ sự kiện nầy, các gia đình tín hữu trong xứ đạo đều ý thức mình là những thánh gia Na-da-rét thời mới. Các đôi vợ chồng trong các gia đình luôn trân trọng và yêu quý nhau như Mẹ Maria và thánh Giu-se; Cha mẹ biết chăm lo giáo dục con cái như Mẹ Maria và thánh Giu-se đã làm cho Chúa Giê-su; Con cái luôn vâng phục và thảo hiếu với mẹ cha như Chúa Giê-su đối với thánh Giu-se và Đức Mẹ.

Từ đó, niềm vui, hạnh phúc và đời sống thánh thiện chan hoà trong các gia đình.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà  

@ Muốn đọc thêm bài suy niệm cũ hơn, kính mời vào website: https://nguonvui.net

From: Do Tan Hung & KimBằng Nguyễn

Bằng giả, không phải chỉ Đông Đô

 

Bằng giả, không phải chỉ Đông Đô

Bởi  AdminTD

Thái Hạo

26-12-2021

Vụ đại học Đông Đô cấp thần tốc hơn 400 bằng giả đang làm xã hội kinh động. Nhưng đó là do… không biết. Nếu bây giờ rà lại tất cả trường đại học ngoại ngữ hay các khoa ngoại ngữ đang cấp các loại chứng chỉ ngữ ngoại “danh giá” như B, C, văn bằng 2 v.v., thì chúng ta sẽ không ngạc nhiên nữa.

Từ cách đây hơn 10 năm, lúc tôi thi để lấy chứng chỉ B1 làm điều kiện tốt nghiệp thạc sĩ, đã thấy sự nhếch nhác, bi hài của nó. Đó là một cuộc “làm giàu không khó” của các trường đại học, của giáo viên có ô dù. “Lo trước” đã là bước đi tất yếu của đa số các “yếu nhân”. Nhớ lại, hãy còn rùng mình: phòng thi như cái chợ, người ta đã “gửi” trước, chưa thi đã đỗ. Tôi suýt trượt trong kỳ thi ấy, vì vào bằng tiếng Trung mà ra tiếng Anh. Có những chuyện xấu hổ không dám kể lúc này. Đi thi, nhìn khung cảnh thật hoang tàn, bát nháo…

Sau hơn 10 năm, tình hình đã tệ hơn rất nhiều. Nhiều người bạn và người quen của tôi cũng vừa thi để lấy B1, B2, C sau cả chục năm đi làm, vì yêu cầu “chuẩn hóa” và “nâng chuẩn”. “Tiền chống trượt” là gì? Đó thực chất là tiền mua bằng. Nó diễn ra trên khắp cả nước.

Những cái chứng chỉ chức danh nghề nghiệp đang khiến cả triệu giáo viên lao đao, là gì? Hãy xem người ta đang dạy thế nào, học thế nào, thi thế nào, đóng tiền ra sao, thì rõ. Nói trắng ra, đó là bằng giả. Học vài buổi chiếu lệ, nộp mấy triệu, thi và cấp chứng chỉ. Không có chứng chỉ thì lụi bại, dù không muốn cũng phải cố mà lết đi, khi lương giáo viên không bằng người bán xôi sáng. Vấn đề là nó đang công nhiên diễn ra, ai cũng thấy và phải tham gia, nó không những được cấp phép, mà còn trở thành tiêu chuẩn. Thì chống cái gì!

Bằng giả (thực ra là bằng thật nhưng chất lượng giả) đang hoành hành khắp mọi hang cùng ngõ hẻm. Và phá nát nền học vấn, phá nát lương tri con người, kéo đất nước trở lại thời kỳ tăm tối.

Vấn đề quan trọng nhất ở đây không phải chỉ là chuyện bằng giả hay bằng thật, mà là một xã hội vận hành trên bằng cấp. Chúng ta không có tiêu chí chọn người, không có công cụ đánh giá năng lực người lao động, thế là chỉ còn cách dựa vào những mảnh giấy gọi là Bằng. Mọi tệ lậu bắt đầu sinh ra khi mà sự quản lý chất lượng của chúng đã vượt ngoài khả năng. Giáo dục trở thành chợ đen.

Chống làm sao được khi mà ngay chính những người chống mà báo chí gọi là “người có uy tín” lại cũng xài bằng giả!

Trong cuộc chạy đua bằng cấp này, khó ai có thể giữ được nhân cách, dù họ không muốn đánh mất nó. Chấn hưng nền giáo dục, bằng cách nào? Học thật, thi thật? Không, huyệt đạo nằm ở “tuyển dụng thật”. Còn nạn con ông cháu cha, còn “nhất hậu duệ nhì quan hệ ba tiền tệ bốn trí tuệ”; còn bán ghế, bán chỗ v.v… thì dù có học thật, thi thật, nhân tài thật thì tất cả cũng chỉ là nỗi bẽ bàng sau rốt…

Nỗi Buồn Cuối Năm, Nỗi Buồn Cuối Đời – Huy Phương

Van Pham is feeling sad.

GÓC SUY TƯ

Giáng sinh hay cuối năm là dịp đoàn tụ gia đình cũng là dịp để san sẻ tình cảm cho nhau… Chúng ta dể dàng cảm thông và mủi lòng trước những hoàn cảnh thương tâm ở chung quanh. Nhưng đôi khi chúng ta lại hững hờ với chính người thân của mình, nhất là cha mẹ già….

***

Nỗi Buồn Cuối Năm, Nỗi Buồn Cuối Đời

Tạp Ghi Huy Phương

Câu chuyện đi thăm Tướng Đỗ Kế Giai tại một nhà dưỡng lão ở Garland, Texas, đã ám ảnh tôi suốt một đêm khó ngủ. Đó là một buổi chiều Chủ Nhật vào cuối Tháng Mười Hai Dương Lịch, trời đã bắt đầu se lạnh, bãi đậu xe trống vắng bóng xe, gần như không có một người khách đến thăm viếng.

Những ông bà cụ già, ngồi trên xe lăn, dồn ra phòng khách, trên lối đi vào, với đôi mắt đờ đẫn không nhìn ai, hay gục mặt nhìn xuống thân mình, trong thói quen chờ đợi, hy vọng có một người thân của mình hiện ra trên ngưỡng cửa với một nụ cười, bó hoa hay món quà trên tay.

Tôi biết trên thế giới Tây phương có nhiều đứa con không dám đi du lịch xa, vì sợ con mèo, con chó hay bầy cá ở nhà không ai cho chúng ăn hay săn sóc, nhưng cha mẹ già thì đã có những nhà dưỡng lão. Thậm chí trong tình vợ chồng, người vợ còn mạnh khỏe, siêng đi lễ hay lên chùa, nhưng chồng thì cô đơn, trên chiếc xe lăn trong một nhà già quạnh hiu nào đó.

Chúng ta có bao nhiêu lý do để bào chữa, biện minh cho việc bỏ bê cha mẹ già trong một cơ quan y tế. Được cho ăn mỗi bữa, áo quần có người giặt, vài ba ngày được đẩy xe vào phòng tắm, trần truồng và được cô y tá hay một nam nhân viên dội nước, xát xà phòng, vo đầu. Những việc săn sóc này dù có mang chút tình người đi nữa thì cũng là những công việc hằng ngày bắt buộc, thương ghét hay xúc động chỉ là những cảm tính vô ích.

Có những đứa con nại cớ bù đầu với công việc ở sở, và việc con cái bếp núc ở nhà nên không có thời gian dành cho cha mẹ già, đành phải đưa cha mẹ vào nhà dưỡng lão.

Gần đây người ta lên tiếng hoan nghênh những người phụ nữ hy sinh lợi tức để ở nhà toàn thời gian chăm nom, săn sóc con cái, nhưng nào có ai nghe chuyện có những đứa con bỏ việc làm vì còn cha mẹ cần sự giúp đỡ lúc về già!

Người ta thường kêu than không có thời giờ, “đầu tắt, mặt tối” nhưng còn có thời gian mua sắm trong các cửa hàng thời trang, mất một hai tiếng đồng hồ trong gym mỗi ngày, năm giờ cho một chương trình ca nhạc ở sòng bài, không tính thời giờ đi về. Đó là chưa kể thời gian “bắt buộc” phải ngồi trước máy điện toán, vào Facebook, hay trao đổi tin nhắn với bạn bè.

Người ta có thể mỗi năm tổ chức những chuyến du lịch bắt buộc, ra ngoài để mở tầm mắt trước thế giới, nhưng “nhắm mắt” làm ngơ về một lần sắp xếp thời gian đi thăm cha mẹ già.

Ngày xưa một người mẹ nuôi được năm mười đứa con, ngày nay cả năm mười đứa con không nuôi nổi được một mẹ. Phải chăng vì vậy mà phải đẩy mẹ vào nhà dưỡng lão, để cho những người xa lạ trông coi. Ở đây có khi mẹ thiếu ăn, cơ thể mất nước, dơ bẩn trong mớ phân và nước tiểu, bị đối xử tàn tệ, cũng chẳng hề ai biết đến.

Ngày xưa “bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,” không có bậc cha mẹ nào có thể ngoảnh mặt trước cảnh con đói khát hay bị lăng nhục bởi một người khác.

Con biết giờ đây, “một ông già bằng ba đứa trẻ” cha “lẩm cẩm” bước đi, và mẹ phải nương lưng nhờ gậy chống.

Xưa kia khi các con còn thơ ấu, thân xác chưa trưởng thành và tâm hồn con yếu đuối, điều một điều hai vẫn là mẹ. Một đứa trẻ có thể biết lạnh, biết nóng, biết đói, biết khát, biết đau, nên khóc la, nhưng chóng quên, khóc đó rồi cười đó.

Trái lại, một ông già còn biết buồn, biết tủi thân, biết xót xa mà chỉ biết gậm nhấm mang lấy nỗi buồn của riêng của mình, nên tuổi già cũng cần chăm sóc, gần gũi, ân cần như là một đứa trẻ, có khi còn hơn thế nữa!

Thói quen của người đời, người ta thường hỏi nhau có được mấy con, mấy ai quan tâm xem song thân còn hay mất! Đối với cha mẹ, con là tất cả, nhưng đối với con, cha mẹ là một thứ quá khứ cần xếp lại.

Ngày xưa, niềm vui của cha mẹ là nghe tiếng đứa con chập chững bi bô, hay toét miệng cười, ngày nay cha mẹ về già, các con ở xa, chỉ mong nghe tiếng điện thoại reo vui vào những ngày lễ, Tết, và đầu điện thoại bên kia có tiếng nói: “Mẹ ơi!” hay “Mẹ đó hả?”

Trong cái tổ ấm cúng ngày xưa, và là cái tổ trống hoác ngày nay, khi các con đã đi xa, những cái phòng của các con vẫn để trống, biết đâu có ngày con về thăm bố mẹ. Con búp bê bằng nhựa, con gấu nhồi bông vẫn còn trên chiếc dương cầm phủ bụi của con gái, tủ sách, nhiều giải thưởng và những lá cờ kỷ niệm của trường đại học vẫn còn gắn trên bức tường trong phòng đứa con trai.

Và ngôi vườn kia, đã đầy lớp lá vàng vào Thu hay phủ tuyết mùa Đông, cái ghế xích đu ngoài vườn ngày trước con thích ngồi, vẫn rung khẽ cùng cơn gió nhẹ thổi qua.

Nhiều lúc cha mẹ muốn bán ngôi nhà cũ đầy ắp kỷ niệm, nhiều phòng, để đi tìm một cái condo, nhưng cứ nghĩ khi con về, và còn những đứa cháu nữa, sẽ ở đâu?

Cha mẹ Việt Nam tự an ủi, ru mình bằng bốn tiếng “nước mắt chảy xuôi” là mọi chuyện đều cho qua, nhận thức đời sống một phần cũng cho là duyên, là phước. Phải chi cha mẹ như cha mẹ nơi quê người Mỹ – Úc…. không hề lưu luyến, bịn rịn, ngay từ lúc đứa con đã trưởng thành rời mái ấm ra đi.

Nhưng có lẽ mọi điều không phải như vậy, dù bên trời Tây hay bên phương Đông.

Chúng tôi vừa được xem một đoạn phim rất ngắn kể chuyện một người già cô đơn ở phương Tây.

Những ngày lễ lớn năm nay, cô con gái tin cho biết là cô không về thăm cha được vì bận việc. Ông cụ lủi thủi một mình, cô đơn trong căn nhà nhỏ với những bữa cơm lặng lẽ hàng ngày. Nhưng rồi, cô con gái nhận được tin cha mình qua đời đột ngột, cô thu xếp cùng chồng trở về nhà.

Trên bậc cửa, cô thấy người cha thân yêu của cô hiện ra với tấm lưng còng và mái tóc bạc phơ. Cô bật khóc. Phải chăng vì nghe tin cha chết, cô mới trở về, trong khi còn sống, người cha cần có con, thì không có cô bên cạnh.

Nhưng cũng còn may. Cách đây mười mấy năm ở Paris, vào mùa Hè, có một trận nóng kinh khủng giết hàng trăm cụ già trong nhà dưỡng lão.

Nhà nước thông báo cho những đứa con trở về lo chôn cất. Nhưng chúng, nhiều đứa đành xin lỗi, vì đang kẹt trong chuyến du lịch dài ngày ở xa!

Kiếp Người Là Chuyến Hành Trình, Gặp Gỡ Nhau Nên Cảm Kích…

Van Pham

GÓC SUY GẪM…

Kiếp Người Là Chuyến Hành Trình, Gặp Gỡ Nhau Nên Cảm Kích…

Khi tàu về đích, trăm người đi trăm hướng, cuộc gặp gỡ bất chợt, thoáng qua âu cũng là duyên phận. Không ai là vô duyên, vô cớ xuất hiện trong cuộc đời của bạn cả, sự xuất hiện của mỗi người đều có nguyên do, đều đáng được cảm kích.

Ta không thể sống một mình. Cuộc sống là sự tương duyên nương tựa giữa ta và người. Mấy mươi năm sống trong đời, không biết bao nhiêu người đã đi ngang đời ta. Có lẽ ta sẽ không nhớ hết những người từng gặp từ khi mở mắt chào đời đến bây giờ.

Nhưng gặp gỡ trong một khoảnh khắc nào đó hay một thời gian dài thì cũng không ngoài chữ duyên. Dù duyên ấy là thiện duyên hay ác duyên, nhưng có gặp nhau thì đã có duyên rồi.

Người với người gặp gỡ là dựa vào một chút duyên phận, sống được với nhau, là dựa vào một chút thành ý…

Sự hấp dẫn của đàn ông không ở chỗ có bao nhiêu tiền, lớn lên đẹp trai đến đâu, mà là khi gặp chuyện có thể gánh vác trách nhiệm.

Sự quyến rũ của phụ nữ không phải ở chỗ xinh đẹp bao nhiêu, mà là ở tính cách ôn nhu, thiện lương và một nội tâm khoan dung độ lượng.

Trong cuộc sống, bất kể tình thân, tình bạn hay là tình yêu, có thể tự nhiên mà gắn bó mới thực sự là tình cảm tốt đẹp nhất.

Tai thính thật sự có thể nghe được tiếng lòng; mắt sáng thực sự có thể nhìn thấu nội tâm.

Chứng kiến không có nghĩa là đã nhìn thấy,

Nhìn thấy không có nghĩa là biết rõ,

Thấy rõ không có nghĩa là đã xem hiểu,

Xem hiểu không có nghĩa là đã nhìn thấu,

Nhìn thấu không có nghĩa là đã thông suốt,

Thông suốt không có nghĩa là không phiền não.

Chuyện trên đời có những lúc biến hóa khôn lường, nhưng có thể duy trì một nội tâm bao dung, thấu hiểu và trân quý thì có thể khiến các mối quan hệ được bền chặt lâu dài. Bởi vì dù sao, những người có thể gặp được trong kiếp này đều là duyên phận hy hữu.

Mọi người thường nói, duyên do trời định, phận do nhân định.

Đúng là như thế, gặp nhau là ý trời, bên nhau là ý người. Dựa vào đôi bên gìn giữ, phát triển thì duyên một lần gặp gỡ mới thành mối phận trăm năm. Nhưng duyên phận dài ngắn thế nào lại chẳng ai hay, ai biết?

Một năm, năm năm, cả đời? Hết thảy chúng ta đều không đoán được.

Hôm nay có duyên phận không có nghĩa là vĩnh viễn sẽ có duyên phận.

Nhân duyên cũng chỉ có thời điểm, duyên phận cũng vậy. Bởi thế mà phải nắm thật chắc, giữ thật chặt, hết lòng quý trọng. Đó là món quà trời ban, chỉ trong một giây, một khắc, một đoạn.

Kiếp này có thể tương ngộ chính là điều hạnh phúc nhất. Bất kể là gặp thoáng qua, là bạn bè, đồng sự, hay hẹn ước trăm năm đều vô cùng trân quý.

Sinh mệnh vốn là một hành trình phiêu bạt, gặp được ai cũng đều không hề ngẫu nhiên, vậy nên ta cần trân trọng tất cả những người gọi ta là bằng hữu.

Cảm ơn những người mà kiếp này ta tương ngộ.