LÀ AI VÀ PHẢI TRỞ THÀNH AI? – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

LÀ AI VÀ PHẢI TRỞ THÀNH AI?

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cần Chúa lớn lên, còn tôi nhỏ lại!”

Chuyện kể về một triết gia người Đức rất nổi tiếng, Schleiermacher, người định hình sự tiến bộ của tư tưởng hiện đại.  Một chiều kia, khi đèn đã lên, ông ngồi một mình trong công viên.  Một cảnh sát đi tới, với ý định bắt ông vì nghĩ rằng, ông là một gã say, lang thang.  Cảnh sát hỏi, “Ông là ai?”  Schleiermacher buồn bã trả lời, “Ước gì tôi biết!”

Kính thưa Anh Chị em,

Thật ngạc nhiên, Schleiermacher quên mình là ai!  Cũng thế, đôi khi trong cuộc sống, chúng ta không nhớ mình “là ai và phải trở thành ai?”  Trong Tin Mừng hôm nay, Gioan Tẩy Giả sẽ chỉ cho chúng ta bí quyết để mỗi người nhớ rõ căn tính mình; đó là, “Cần Chúa lớn lên, còn tôi nhỏ lại!”

Trước hết, việc Chúa Giêsu lớn lên trong cuộc sống của mỗi người chúng ta phải là mục tiêu hàng đầu.  Ngài phải chiếm hữu tâm trí và ý chí chúng ta ngày càng hơn; Ngài phải sở hữu chúng ta, và chúng ta sở hữu Ngài.  Nó có nghĩa là mọi nghi ngờ và sợ hãi phải được gạt sang một bên và tình yêu dành cho Ngài phải trở nên lý do của cuộc sống.  Sẽ thật tự do khi chúng ta cho phép Chúa Giêsu lớn lên trong cuộc đời mình.  Cuộc sống ấy sẽ được giải phóng theo nghĩa, “tôi không còn tìm cách tự quản nó;” vì Ngài, Đấng sống trong tôi, sẽ đảm nhiệm công việc đó.  Trong Ngài, tôi biết mình “là ai và phải trở thành ai;” tôi là của Ngài và mỗi ngày, tôi phải trở thành một Giêsu khác!

Thứ hai, khi nói “Còn tôi nhỏ lại”, Gioan muốn nói, ý chí, ước muốn, tham vọng, hy vọng… của Gioan phải tan biến khi Chúa Giêsu làm chủ hoàn toàn con người Gioan.  Từ bỏ mọi ích kỷ và sống vị tha phải là nguyên tắc căn bản trong cuộc sống chúng ta!  “Nhỏ lại” trước mặt Thiên Chúa có nghĩa là trở nên khiêm tốn; từ bỏ mọi thứ không phải của Chúa và chỉ cho phép Ngài soi rọi.  Chúng ta chỉ có thể từ bỏ một tình yêu nhỏ hơn vì một tình yêu lớn hơn!  Mỗi ngày, Gioan đặt khát vọng và tình yêu của mình vào Đấng Messia; hành động và ý hướng của Gioan tập trung vào Đấng sắp đến; Gioan biết mình “là ai và phải trở thành ai.”  Sự cô độc của Gioan trong sa mạc cho phép tình yêu này phát triển mà không bị phân tâm; Gioan chia sẻ, tất cả những gì chúng ta nhận được là từ trời, từ sự sống siêu nhiên được ban cho bởi cầu nguyện, chiêm ngưỡng và đón nhận.  Trong bài đọc thứ nhất hôm nay, Gioan tông đồ cũng nói, “Con Thiên Chúa đã đến, ban cho chúng ta ơn thông hiểu, để chúng ta nhận biết Chúa chân thật, và được ở trong Con chân thật của Ngài.”

Vậy mà rất nhiều lần, chúng ta làm điều ngược lại, “Cần tôi lớn lên, còn Chúa nhỏ lại,” chúng ta không biết mình “là ai và phải trở thành ai.”  Cám dỗ tìm kiếm chính mình trong ơn gọi, trong việc tông đồ, trong việc phục vụ Giáo Hội là một cám dỗ triền miên mọi thời, ở bất cứ ai, thuộc bất cứ đấng bậc nào!  Một số người chỉ cống hiến khi công việc phải mang lại cho họ danh dự hoặc nâng cao tầm quan trọng của bản thân.  Chúng ta tuyên bố phục vụ Chúa Kitô, nhưng nếu địa vị bị tổn hại vì những chỉ trích, hoặc thấy ai đó kém khả năng hơn đứng trên chúng ta về thứ hạng, trái tim chúng ta vỡ vụn; cam kết của chúng ta suy tàn.  Vào những thời điểm đó, chớ gì chúng ta có thể vượt qua thử thách mà Gioan đã vượt qua, vì “Cần Chúa lớn lên, còn tôi nhỏ lại!”

Anh Chị em,

“Là ai và phải trở thành ai?”  Một câu hỏi xem ra có vẻ như một lối chơi chữ, nhưng là một câu hỏi đáng để suy nghĩ.  Bởi lẽ, không ai khác mà là “bạn và tôi,” chúng ta biết, cùng đích cuối cùng của cuộc hành trình làm người là chúng ta phải trở thành một Giêsu khác.  Nói đúng hơn, chúng ta phải ngày càng làm rỗng chính mình để Chúa Giêsu có thể lấp đầy mỗi người bằng chính Ngài.  Theo cách nói của Phaolô, “nên đồng hình đồng dạng với Ngài,” khi “Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, mà Chúa Kitô sống trong tôi!”  Vậy chúng ta phải làm gì để đạt được mục đích này?  Phải như Gioan, chúng ta phải xác tín, “Cần Chúa lớn lên, còn tôi nhỏ lại!”  Tình yêu của chúng ta dành cho Chúa Giêsu không phải là nỗ lực một sớm một chiều, nhưng như Gioan, nó là thành quả của nhiều năm cầu nguyện, chinh phục bản thân và trung thành với một cuộc sống hoán cải vốn phải được sống trước khi được rao giảng.  Như vậy chúng ta mới biết mình “là ai và phải trở thành ai.”

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin dạy con biết quên đi bản thân như Gioan, để hoa trái công cuộc cứu rỗi thế giới của Chúa và của Hội Thánh được gặt hái, vì “Chúa phải lớn lên, còn con nhỏ lại,” Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

SỰ TRẢ THÙ NGỌT NGÀO

SỰ TRẢ THÙ NGỌT NGÀO

Cách đây đúng 64 năm, năm 1957, một vị Bác sĩ đã quyết định không cần cấp bằng sáng chế cho vắc-xin của mình, để tất cả các công ty dược phẩm được quyền sản xuất và cung cấp nó cho trẻ em toàn thế giới.

Đó là vị Bác sĩ Mỹ gốc Do Thái/Ba Lan, sinh ra ở Bialystok – ông Albert Bruce Sabin (1906 – 1993); nhà vi-rút học nổi tiếng với phát minh vắc-xin bại liệt (Polio Vaccine). Ông không cần tiền thưởng cho bằng sáng chế, để vắc-xin được tiếp cận tất cả mọi người bất kể giàu nghèo.

Từ năm 1959-1961, hàng triệu trẻ em khắp thế giới đã được chủng ngừa vắc-xin bại liệt của Sabin, dập tắt dịch bệnh này. Trong khi trước đó, gần như cả 1 thế hệ bị xóa sổ vì bệnh bại liệt.

Ông Sabin nói: “Nhiều người khuyên tôi nhất định phải lấy bằng sáng chế cho vắc-xin nhưng tôi không muốn. Đây là món quà tôi dành cho tất cả trẻ em trên thế giới”.

Được biết vì là người Do Thái, 2 cháu gái của ông đã bị phát-xít Đức giết hại. Được hỏi liệu ông có muốn trả thù, ông đáp: “Họ đã giết 2 đứa cháu gái tuyệt vời của tôi, nhưng tôi đã cứu hàng triệu đứa trẻ khắp thế giới. Bạn không nghĩ đây là một sự ‘trả thù’ lớn hơn sao?”

Trong thời Chiến tranh lạnh, Sabin đã tặng miễn phí các chủng vi-rút của mình cho nhà khoa học Liên Xô Mikhail Chumakov, cho phép phát triển vắc-xin của ông ở đất nước này.

Ông Sabin tiếp tục sống với mức lương bình thường, nhưng trái tim ông tràn ngập niềm vui vì đã làm được điều tốt đẹp nhất cho nhân loại.

SƯU TẦM

Richard

 From: TU-PHUNG

Thai nhi thò tay ra khỏi bụng mẹ và nắm chặt tay bác sĩ: Cuộc đời phi thường 20 năm sau khiến thế giới kinh ngạc

  Thai nhi thò tay ra khỏi bụng mẹ và nắm chặt tay bác sĩ: Cuộc đời phi thường 20 năm sau khiến thế giới kinh ngạc

Bức ảnh thai nhi thò tay ra khỏi bụng mẹ và nắm chặt tay bác sĩ đã trở thành khoảnh khắc huyền thoại trong lịch sử.

Năm 1999, khi đang mang bầu cậu con trai đầu lòng, cặp đôi Julie và Alex Armas đã phải đưa ra quyết định khó khăn giữa việc đình chỉ thai kỳ hay giữ lại con. Theo đó, khi siêu âm, các bác sĩ đã chẩn đoán thai nhi trong bụng Julie bị nứt đốt sống do không phát triển đầy đủ dây thần kinh. Nếu cố chấp sinh ra, đứa trẻ cũng không có nhiều cơ hội sống sót.

Chưa một giây dám nghĩ đến việc sẽ bỏ đi đứa con máu mủ của mình, cặp vợ chồng chấp nhận đánh cược với số phận và quyết giữ lại em bé. Cuối cùng, ngày 19/8/1999, khi đứa trẻ vừa tròn 21 tuần tuổi trong bụng mẹ, hội đồng y khoa tại Bệnh viện Đại học Vanderbilt ở thành phố Nashville, bang Tennessee (Mỹ) đã quyết định phẫu thuật chữa trị cho em bé ngay bên trong tử cung mẹ.

Trong ca mổ khó khăn đó, Michael Clancy, một nhiếp ảnh gia tự do cũng có mặt. Anh đã may mắn ghi lại được khoảnh khắc quý giá khi đứa trẻ thiếu tháng yếu ớt cố gắng thò bàn tay tí xíu của mình ra bên ngoài bụng mẹ và nắm chặt lấy ngón tay bác sĩ Joseph Bruner, người đang chuẩn bị phẫu thuật cho em.

Bức ảnh có tên Bàn Tay Hy Vọng nổi tiếng thế giới

Bức ảnh ý nghĩa ngay khi được chia sẻ đã khiến nhiều người phải rơi nước mắt, không ai có thể giấu nổi sự xúc động khi chiêm ngưỡng khoảnh khắc đầy phi thường của một em bé đang đứng trước cửa tử nhưng vẫn khát khao mong cầu sự sống.

Bức ảnh được đặt tên là Bàn Tay Hy Vọng và sau đó trở thành một trong những tác phẩm huyền thoại trong lịch sử. Ở đó, một em bé 21 tuần tuổi đã đem đến niềm tin, động lực và khiến hàng triệu người nhận ra giá trị của cuộc sống mà mình đang có.

Sau khi ca phẫu thuật chữa bệnh từ trong tử cung mẹ diễn ra suôn sẻ, 4 tháng sau đó, vào ngày 2/12/1999, đứa trẻ trong bức ảnh huyền thoại cũng đã được chào đời trong sự đón mừng hạnh phúc của gia đình và cả thế giới. Em được bố mẹ đặt tên là Samuel Alexander Armas.

Nói về bức ảnh “để đời”, mẹ của em bé chia sẻ: “Đó là khoảnh khắc kỳ diệu, không chỉ với chúng tôi mà còn với Samuel. Chúng tôi muốn mọi người nhìn vào Samuel và hiểu được rằng món quà quý giá nhất mà mỗi chúng ta được ban tặng chính là cuộc đời này. Và dù con chúng tôi có lành lặn hay không, chúng tôi vẫn sẽ làm mọi thứ để con được sống và đến với thế giới”.

Đã hơn 20 năm trôi qua sau khoảnh khắc ấn tượng ấy, bây giờ đây, Samuel của tuổi đôi mươi đã là chàng trai trưởng thành với vẻ khôi ngô, tuấn tú. Nhìn vào ánh mắt tinh anh của cậu, ai nấy đều phải ngưỡng mộ và gọi cậu là “điều kỳ diệu”.

Mặc dù mắc phải bạo bệnh từ trong bụng mẹ và chào đời với những dị tật vĩnh viễn, nhưng bằng nỗ lực phi thường cùng quyết tâm vượt lên số phận, Samuel vẫn đạt được những thành tích đáng nể trên con đường học vấn của mình.

Anh là học sinh tốt nghiệp hạng ưu tại trường Trung học Alexander ở Douglasville. Samuel theo học ngành khoa học thể dục tại Đại học Auburn sau đó, và với thành tích xuất sắc, cậu thanh niên còn được trao tặng Học bổng Toán học Movelle Murdock với giá trị không hề nhỏ.

Trên hết, “anh hùng nhí” năm xưa giờ đây còn là thành viên trong đội bóng rổ xe lăn Tigers. Nói về cơ hội tiếp cận bộ môn bóng rổ, Samuel nói: “Huấn luyện viên Taylor và tôi đã trao đổi thông tin liên lạc và câu lạc bộ trường Auburn bắt đầu chiêu mộ tôi. Sau khi thăm khuôn viên trường và suy nghĩ về việc tham gia đội bóng, huấn luyện viên Taylor cũng ngỏ lời hỗ trợ học phí cho tôi”.

Hiện tại, để di chuyển được lâu hơn và quãng đường dài hơn, Samuel vẫn cần tới sự hỗ trợ của chiếc xe lăn. Mặc dù vậy, cậu bé trong bức ảnh nổi tiếng ngày nào đang có cuộc sống tràn đầy hạnh phúc và có ích cho xã hội. Không để bất kỳ chướng ngại vật nào có thể cản trở mình, Samuel đang từng bước chứng minh rằng bản thân có thể làm tất cả những gì mà bản thân mình mong muốn, miễn còn được sống.

VietBF @ Sưu tầm

From: thanhlamle.le & NguyenNThu  

 

  Giá trị của sự quan tâm

 Giá trị của sự quan tâm

Tình yêu là phương thuốc nhiệm màu cho tất cả chúng ta – cho cả người trao tặng lẫn người đón nhận.

Một buổi tối sau giờ làm việc, một người đàn ông trở về nhà và ngồi nói chuyện với cậu con trai 14 tuổi của mình: “Hôm nay bố gặp một chuyện rất lạ. Khi bố đang ở văn phòng, một nhân viên bước vào và nói rằng anh ấy ngưỡng mộ bố, và đã tặng bố chiếc nơ xanh này để tôn vinh tài năng sáng tạo của bố, trên chiếc nơ có ghi “Tôi đã làm nên sự khác biệt”. Anh ấy cũng đưa bố một chiếc nơ nữa và nói bố có thể trao tặng nó cho một người đặc biệt khác. Trên đường về nhà, bố nghĩ xem mình có thể tặng ai, và bố đã nghĩ đến con. Bố muốn trao tặng chiếc nơ này cho con.

Bố thật sự rất bận nên mỗi khi về nhà, bố đã không quan tâm nhiều đến con. Đôi khi bố la mắng vì con không đạt điểm cao hoặc vì con không dọn dẹp để phòng ngủ bề bộn. Nhưng tối nay, không hiểu sao bố lại muốn ngồi đây với con và… chỉ muốn nói cho con biết rằng đối với bố, ngoài mẹ con ra, con là người quan trọng nhất. Con là một đứa con tuyệt vời và bố rất thương yêu con”.

Cậu bé giật mình sửng sốt, và bắt đầu thổn thức. Toàn thân cậu rung lên. Cậu ngước nhìn bố qua làn nước mắt và nói: “Vậy mà con định sẽ từ giã cuộc đời vào ngày mai vì con nghĩ bố không yêu con. Giờ đây, con không cần phải làm như thế nữa.”

Helice Bridges

Tình yêu là phương thuốc nhiệm màu cho tất cả chúng ta – cho cả người trao tặng lẫn người đón nhận.

Karl Menninger

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Vĩnh Biệt Sơn Nam- Tưởng Năng Tiến

Vĩnh Biệt Sơn Nam

Tưởng Năng Tiến

Tưởng giếng sâu tui nối sợi dây dài.
Ai ngờ giếng cạn, tui tiếc hoài sợi dây.

(Câu hò miền Nam, VN)

Trong cuốn Một Mảnh Tình Riêng, do nhà Văn Nghệ (VN) xuất bản năm 2000, Sơn Nam tâm sự : “Mẹ tôi đi làm dâu nơi xa nhà hàng năm mươi cây số đường giao thông hồi đầu thế kỷ khó khăn, vượt rừng qua hai con sông đầy sóng gió… Lâu năm lắm mẹ tôi với về quê thăm xứ một lần, tình trạng này tôi thử hư cấu, qua truyện ngắn ‘Gả Thiếp Về Rừng’… Qua sông Cái Bé thì dễ, nhưng gian nan nhất là qua sông Cái Lớn.”

Muốn biết chuyện làm dâu nơi xa, hồi đầu thế kỷ trước, gian nan và khó khăn ra sao, xin đọc vài đoạn (chính) trong truyện ngắn này của Sơn Nam:

“Câu chuyện xảy ra tại rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, đâu cũng vào khoảng năm 1939 … tháng chạp năm đĩ, nhà ông Cả treo bông kết tuội để gả con, giữa tiếng dị nghị của bao chàng trai tơ ở rạch Bình Thủy.

Cô Út về làm dâu đất Cạnh Đền.

Hai năm qua.

Ba năm qua…

Chuyến đầu, đôi vợ chồng về thăm ông Cả bà Cả, đèo theo một đứa con gái nhỏ… sổ sữa dễ thương.

Chuyến sau họ về, lại thêm một đứa gái và một đứa thứ ba nữa đang nằm trong bụng mẹ.

Hai ông bà quá đỗi vui mừng.

Nhưng liên tiếp mấy năm sau họ bặt tin, ngày Tết ngày giỗ cũng chẳng về. Lo ngại quá! Có chuyện gì xảy ra bất lành không?

Hai ông bà muốn xuống Cạnh Đền thăm con nhưng ngại mình già sức yếu, đường xa xôi, phải vượt qua sông Cái Lớn. Nằm đêm, lắm khi bà khóc lóc mà trách ông:

– Tôi nói muỗi rừng ăn thịt hai đứa nó rồi. Xứ gì mà muỗi kêu như sáo thổi. Không đau bịnh rét thì cũng chói nước lớn bụng mà chết… Hồi đó ông cãi tôi, nhớ không?

“Ông Cả vô cùng buồn bực. Nhứt là khi nghe con nít chòm xóm hát đưa em:

Má ơi đừng gả con xa,

Chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu?

Suốt tháng ngày, ông chống gậy đi quanh quẩn bên gốc tre già ở mé sông, mắt mịn mỏi nhìn bóng dáng các ghe thương hồ qua lại.

Trời đất nào phụ kẻ có lòng như ông!

Mãi đến buổi trưa đó, có chiếc ghe chèo chậm chậm ngang bến. Chồng trước mũi hỏi vợ sau lái:

– Phải chỗ cây mù u này không? Cậu Quỳnh nói nhà bên vợ ở đâu đây.

Chị vợ đáp:

– Không chừng… Đúng quá, cách ngã ba, qua hai cây cầu khỉ, nhà ngói có vườn quít.

Anh chồng ngó tới ngó lui, cãi lại:

– Mình mới qua một cây cầu. Chèo tới trước chỗ cây cấu khỉ, đằng kia kìa, họa may…

Ông Cả cố gom tất cả sức già, la lớn:

– Ở đây nè, bà con ơi! Nhà vợ thằng Quỳnh ở đây nè…

Ghe đậu lại. Hai vợ chồng nọ được mời lên ăn cơm với thịt gà tại bộ ván gõ giữa nhà ông Hương cả. Trong đời, họ chưa bao giờ được hân hạnh lớn như vậy! Ông Cả, bà Cả, người lối xóm xúm lại hỏi nhiều câu quá. Họ bối rối, trả lời vắn tắt:

– Dạ, vợ chồng cậu Quỳnh mạnh khỏe. Nhờ trời sanh được sáu đứa con. Bốn đứa sau đều là con trai.

Bà Cả mừng quýnh:

– Úy! Bộ con Út đẻ năm một sao? Con nhỏ đó thiệt giỏi!

Khách trả lời:

– Dạ, đẻ năm một. Đứa ăn thôi nôi, đứa lôi đầy tháng. Mẹ tròn con vuông. Hồi tôi đi đây, cô Út gần nằm chỗ một lần nữa. Thưa ông bà, miệt dưới ai cũng vậy. Như vợ chồng cháu đây có tám đứa con.

– Sao vậy cà? Sao vậy cà? Ở dưới cỡ này ra sao mà thiên hạ “đẻ nhiều quá vậy?

Khách ngượng nghịu, chập sau mới nói:

– Dạ ở miệt dưới muỗi dữ lắm. Chạng vạng là cả nhà, vợ “chồng con cái rút vơ mùng… nói chuyện. Ít ai đi đâu.

Ai nấy phá lên cười to. Đến lúc bấy giờ, ông Cả bà Cả mới hiểu thêm một sự bí mật quan trọng của tiếng ‘muỗi kêu như sáo thổi’ ở Cạnh Đền. Nó làm hại sức khỏe con người. Nhưng nó gắn bó mối tình chồng vợ hơn ở xứ không có muỗi.

Để đánh trống lảng, ông nói:

– Ừ! Phải vậy mới được. Xứ mình cần có dân đông để tạo lập thêm ruộng vườn, khai phá đất hoang.

Bà Cả nóng ruột:

– Anh chị đây có nghe vợ chồng nó nhắn chừng nào đem mấy đứa cháu ngoại của tôi về cho biết mặt?

Khách trả lời:

– Dạ không nghe. Con cái lũ khũ cả bầy, chắc vợ chồng cậu Quỳnh khó đi xa. Năm rồi mùa màng thất bát, ai cũng lo tay làm hàm nhai để nuôi con. Sông Cái Lớn mấy năm nay lại thêm sóng gió bất thường.

Bà thở dài, nói như rên siết:

– Nhớ mấy đứa nhỏ quá. Ông ơi! Hồi đó ông cãi tôi…


Ông Cả im lặng, nghĩ đến cái ngày gần đất xa trời của mình. Nó không còn bao xa nữa. Ngày đó, ai phị giá triệu, ai rinh quan tài? Nhìn bụi tre già dưới bến mà ông tủi thân: Măng non mọc kề bên gốc. Phận ông có khác; con gái, con rể và đám cháu ngoại ở chốn xa xôi kia làm sao được gần gũi để ông thấy mặt lần đầu- và cũng là lần chót – khi ông tàn hơi. Nước mắt muốn tươm ra, ông cố dằn lại. Ông hiểu đời ông chưa tới mức đen tối, còn chút ánh sáng lập lòe trong tương lai vô biên vô tận:

– Ờ… ở dưới nó có lập vườn chưa? Lát nữa, anh chị chịu khó chở về giùm cho vợ chống con Út một gốc tre Mạnh Tông để làm giống. Chừng thấy măng non cận gốc già, mấy đứa cháu của tôi luôn luôn nhớ ông ngoại bà ngoại nó trên Bình Thủy.

Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út. Ðể cho nước mạnh dân còn” (*).

Truyện “Gả Thiếp Về Rừng” lấy bối cảnh rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, vào khoảng năm 1939 – 40, khi tôi chưa ra đời. Ba mươi năm sau, lúc tôi đủ lớn để đọc và yêu thích Sơn Nam thì ghe thuyền gắn máy (đuôi tôm) đã chạy ngang dọc tá lả khắp sông rạch miền Nam. Thế hệ của chúng tôi khó mà hiểu được nỗi “gian truân” của một người con gái lấy chồng xa nhà (cỡ) … năm mươi cây số! Dù vậy, tôi vẫn cứ mến thương hết sức cái tình của Sơn Nam dành cho lớp người tiên phong, đi khai khẩn miền cực Nam của quê hương.

Cùng với Sơn Nam, nhà văn Bình Nguyên Lộc cũng ghi lại nhiều tình cảm sâu đậm của mình đối với những lưu dân. Trong truyện ngắn “Rừng Mắm” của ông, có đoạn đọc mà muốn ứa nước mắt:

“Bờ biển nầy mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được.

Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:

Ông với lại tía của con là cây mắm, chân giẫm trong bùn. Ðời con là tràm, chân vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xồi, mít, dừa, cau.

Ðời cây mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngồi mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác là con cháu của họ hưởng”.

Đã bao nhiêu đời tràm, bao nhiêu đời mắm ngã rạp, bao nhiêu thế hệ phải chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út … nhưng quê hương mỗi lúc một lụn bại hơn, chứ không giàu mạnh thêm – như kỳ vọng của Sơn Nam hay Bình Nguyên Lộc. Và vì nghèo đói, cảnh chia ly xẩy ra mỗi ngày một nhiều.

“Hiện nay, ở Nam Hàn, trên bất kỳ nhật báo nào cũng dễ dàng tìm thấy những lời quảng cáo:’Người già, người muốn tái hôn, người khuyết tật đều có thể kết hôn với những trinh nữ xinh đẹp ở Việt Nam … Thậm chí những quảng cáo này còn liệt kê ưu điểm của con gái VN như “xuất giá tòng phu”, “tôn trọng người già, thờ cúng tổ tiên đến bốn đời”, “dáng người đẹp nhất thế giới”, “giữ gìn trinh tiết và chung thủy với chồng” (Bán tuần báo Việt Luận, số 2063, phát hành từ Sydney ngày 28/04/2006).

Chuyện “lấy chồng xa” của phụ nữ VN đã trở thành kỹ nghệ, ở mức “đại trà” – theo như tin của nguyệt san Khởi Hành, số 134, phát hành từ California, tháng 4 năm 2006:

“Cảnh sát Cam Bốt mới khám phá một tổ chức bán các bé gái Việt Nam tại một khu phố ở Nam Vang. Các em cho biết đã được chở từ quê nhà vùng nông thôn miền Nam qua biên giới trong những thùng sắt dùng trở hàng xuất cảng

Những chuyện tủi nhục xót xa như thế đã xẩy ra (thường xuyên) từ mấy thập niên qua. Trong thời gian này, Sơn Nam vẫn cặm cụi cầm bút và vẫn in ấn đều đều. Tác phẩm mới nhất của nhà văn, có tên là Bình An, tập cuối trong bộ hồi ký của ông, và được giới thiệu là “cuốn sách đề cập đến những biến đổi lớn lao của Sài Gòn kể từ ngày giải phóng miền Nam 30/04/75 đến nay”.

Dù không phải là thầy bói, tôi vẫn biết chắc rằng, trong cả bốn tập hồi ký của Sơn Nam sẽ không có một dòng chữ nào – nửa dòng cũng không – viết về những em bé Việt Nam bị “gả” đi xa, “trong những thùng sắt dùng chở đồ xuất cảng” như thế.

Tập Hương Rừng Cà Mau, trong đó có truyện “Gả Thiếp Về Rừng”, được mở đầu bằng một bài thơ của (chính) Sơn Nam, có đoạn như sau:

Trong khói sông mênh mông,
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Mang theo chiếc độc huyền
Ðiệu thơ Lục Vân Tiên
Kiến nghĩa bất vi vô dông giả

Cái gì đã giết chết tinh thần “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” nơi Sơn Nam như thế? Ông đâu có chức quyền gì như Huy Cận hay Tố Hữu để mà sợ mất? Ông đâu có đụng chuyện với “cách mạng”, vào thời “Nhân Văn Giai Phẩm” mà hoảng hốt đến độ bị bắt ăn bánh vẽ nhưng vẫn phải làm bộ khen ngon – như Chế Lan Viên? Ở tuổi 80, Sơn Nam còn ngại gì nữa mà không (dám) nói lên đôi lời phải/quấy với bọn giặp cướp – đang tụ họp ở làng Ba Đình, Hà Nội – trước khi nhắm mắt?

Trong một chế độ “không cho phép ai được có một thái độ thứ ba” thì sự im lặng của Sơn Nam cũng chỉ là chuyện … bình thường thôi sao? Thời phải thế, thế thời phải thế. Cả đống tu sĩ, nhân sĩ, văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, bác sĩ – ở trong nước cũng như hải ngoại – đều giữ thái độ tương tự, trước việc phụ nữ VN bị gả bán như nô lệ, chứ đâu có riêng chi nhà văn Sơn Nam. Với thời gian – rồi ra – cả dân tộc Việt sẽ quen dần hết với mọi chuyện xấu xa tồi tệ, và có thể chấp nhận tất cả những tội ác một cách thản nhiên thôi.

Nghĩ cho cùng, có lẽ, đây chỉ là chuyện nhỏ và là chuyện (riêng) của cá nhân tôi với Sơn Nam. Chỉ vì lúc thiếu thời tôi yêu thích, quí mến ông ấy quá nên mới đặt thành vấn đề và cứ băn khoăn mãi.

Cho đến sáng nay, qua Tuổi Trẻ Online, tôi tình cờ tìm ra được lý do khiến cho Sơn Nam đã bỏ rơi cái quan niệm sống “lộ kiến bất bình vung đao bạt tụy” – của Lục Vân Tiên – trong con người Nam Bộ của ông.

Sơn Nam đã bị hóa đá rồi – chớ còn khỉ gì nữa! — Ảnh: tuoitre.com.vn

“Ngày 7-3, tổng công ty du lịch Sài Gòn khánh thành tượng chân dung nhà văn Sơn Nam tại làng du lịch Bình Quới 1 (Thanh Đa), để ghi nhận đóng góp của ông đối với nền văn hóa phương Nam”

Ý trời đất, quỉ thần, thiên địa (mèng đéc) ơi, như vậy là Sơn Nam đã bị hóa đá rồi – chớ còn khỉ gì nữa! Hèn gì, ông không còn nghe được tiếng dân kêu ai oán ở rừng U Minh Hạ. Ông cũng không còn bận lòng gì nữa về số phận gian truân của những người đồng hương đi lấy chồng xa – dù là xa nhà đến năm ngàn (hoặc hơn) chứ không phải chỉ là năm mươi cây số – và sang sông (tập thể) bằng tầu chở hàng, trong thùng container, thay vì bằng một chuyến đò ngang hay đò dọc.

Khi bàn về số phận của một số những người cầm bút ở miền Nam – bị cấm viết sau tháng 4 năm 1975 – nhà văn Võ Phiến gọi họ là những “tài năng bị chôn sống”. Sơn Nam (của tôi) dù được cho phép tiếp tục cầm viết, vẫn bị chôn sống như thường – bằng một hình thức khác, nhẹ nhàng hơn, vậy thôi. Thôi, vĩnh biệt Sơn Nam!

Copyright @ DCV online 2006

(*) Sách được in lại (và in lậu) tại hải ngoại, tuyệt nhiên không có ghi một chi tiết nào về nhà xuất bản hay năm xuất bản. Nguyên tập truyện Hương Rừng Cà Mau của Sơn Nam có thể đọc được qua website Đặc Trưng. Riêng truyện “Gả Thiếp về Rừng”, nơi web site này, thiếu một đoạn cuối như sau: “Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út. Để cho nước mạnh dân còn.”

Nhân cơ hội này, người viết cũng xin được ngỏ lời ghi ân nhóm chủ trương Đặc Trưng vì đã sử dụng tài liệu trong thư viện nhỏ (“trên không”) của quí bạn nhiều lần.

Tưởng Năng Tiến
5/2006

ĐỪNG QUÊN CÁI CHÍNH…

GÓC SUY GẪM…

ĐỪNG QUÊN CÁI CHÍNH…

Một người đàn bà nghèo khổ bế đứa trẻ đi ăn xin, một lần bà ta đi ngang qua một cái hang. Bỗng nghe văng vẳng bên tai:”

Ngươi có thể vào trong và lấy bất cứ thứ gì mình muốn, nhưng đừng quên cái chính và hãy nhớ một điều: sau khi ngươi trở ra thì cửa hang sẽ đóng lại vĩnh viễn, tuy vậy hãy lợi dụng cơ hội hiếm có này và nhớ đừng quên cái chính”.

Nghe lời bà ta đi vào trong hang. Bà bị lóa mắt bởi vô số những thứ quý giá: vàng bạc, châu báu, kim cương. Bà ta đặt đứa con xuống và bắt đầu nhặt mọi thứ có thể và nhét hết vào mọi nơi trên người. Bên tai văng vẳng lời nhắc nhở: “ngươi chỉ có 8 phút thôi và đừng quên cái chính !”.

Sau khi đã nhét đầy người vàng bạc châu báu cũng là lúc hết giờ. Bà ta vội vã rời khỏi hang, cũng là lúc cửa hang đóng sập lại. Chợt bà ta sực nhớ đến đứa trẻ còn ở trong hang. Bà ta vứt tất cả vàng bạc châu báu đã lấy được và lăn ra khóc lóc vật vã. Nhưng chẳng ích gì vì cửa hang đã vĩnh viễn đóng lại.

Trong cuộc đời chúng ta cũng có khoảng 80 năm để sống ở đời và từ trong sâu thẳm đáy lòng luôn có một âm thanh nhắc nhở chúng ta:

“ĐỪNG QUÊN CÁI CHÍNH”.

Nhiều khi con người vì ham kiếm thật nhiều tiền bạc, nhiều khi ăn chơi vô độ, hoặc chạy theo danh vọng, sắc đẹp mà quên đi cái chính của cuộc đời: đó là chăm chút đời sống tâm linh, lo cho gia đình, cho những người thân yêu là cha mẹ con cái chồng vợ… là giá trị của đạo đức làm người.

Nhoáng cái đã hết 80 năm. Đến khi sắp nhắm mắt mới nhận ra mình đã quên đi cái chính thì ôi thôi đã muộn…!!!

Một năm tấn công 6/1: Joe Biden công kích Donald Trump – BBC News Tiếng Việt

BBC News Tiếng Việt 

Trích đoạn diễn văn của Tổng thống Joe Biden ngày 6/1/2022:

“Đây không phải là một nhóm khách du lịch. Đây là một cuộc nổi dậy có vũ trang.

Họ không tìm cách duy trì ý chí của nhân dân. Họ đang tìm cách phủ nhận ý chí của người dân…

… Họ không tìm cách cứu chính nghĩa của nước Mỹ. Họ đang tìm cách lật đổ Hiến pháp.

Đây không phải là việc sa lầy trong quá khứ. Đây là việc đảm bảo quá khứ không bị chôn vùi…

…Ông ta đã làm được điều mà chưa một tổng thống nào trong lịch sử Hoa Kỳ – lịch sử của đất nước này – từng làm: Ông ta từ chối chấp nhận kết quả của một cuộc bầu cử và ý chí của người dân Mỹ…”

BBC.COM

Một năm tấn công 6/1: Joe Biden công kích Donald Trump – BBC News Tiếng Việt

Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden phát biểu đánh dấu một năm biến cố đám đông tấn công nhà Quốc hội Mỹ, và dùng diễn văn để công kích cựu tổng thống Donald Trump.

Xem thêm: Đài VOA & Đài RFI

*TT Biden: ‘Mạng lưới dối trá’ của ông Trump không ngừng đe dọa nền dân chủ Mỹ (VOA)

*Dân Mỹ vẫn lo âu cho nền dân chủ, một năm sau vụ tấn công Quốc Hội (RFI)

Về già, chúng ta dựa vào ai? (RFA)

Van Pham

Về già, chúng ta dựa vào ai?

Huỳnh Mai/RFA

Hình minh hoạ: Một người lớn tuổi ngồi trước cái bơm xe đợi khách trên đường phố Hà Nội năm 2008

 AFP

Khoảng chục năm nay chúng tôi bắt đầu nghĩ về cuộc sống khi về già. Ở cùng con là lựa chọn truyền thống và phổ biến nhất từ trước tới nay ở Việt Nam. Nhưng ở thế hệ chúng tôi, lựa chọn này đã không còn dễ dàng như với các thế hệ trước.

Chúng tôi đi học xa nhà từ 18 tuổi rồi tự lập luôn ở thành phố lớn, hầu như không có bà con họ hàng, quê hương… bên cạnh. Rồi con cái cũng vậy, chúng hầu hết đều đi học ở nước ngoài và không muốn về Việt Nam. Thế hệ chúng tôi lại ít con, mỗi nhà hai đứa là nhiều nhất, và cũng không ít người không lập gia đình hay không có con. Cho nên khi bọn nhỏ muốn định cư ở nước ngoài thì cha mẹ hầu như đều được khuyên rằng về già thì theo con sang đó sống.

Định cư theo con rồi ngồi trong bốn bức tường

Nhưng, thế hệ chúng tôi hiểu rõ sự quý báu của cuộc sống có tự do cá nhân. Cha mẹ chúng tôi thường sống với những người con khác ở quê hương-những đứa con không đi xa và có nhiều thời gian hơn để chăm sóc cha mẹ. Khoảng cách thế hệ vốn đã lớn thì còn lớn hơn với những đứa con trưởng thành và sống xa cha mẹ, do không sống chung nên cũng khó hiểu nhau và thiếu thốn những ký ức chung.

Thế thì con cái chúng tôi-những đứa trẻ trưởng thành ở Anh, Mỹ, Úc… thực chất hầu như đều đã trở thành những quả chuối (da vàng nhưng bên trong thì “trắng”) làm sao chúng có thể chăm sóc cha mẹ già Việt Nam trăm phần trăm? Mà lại là Việt Nam đã bị bứng ra khỏi hoàn cảnh và môi trường sống quen thuộc từ tấm bé, với bạn bè, họ hàng, đồng nghiệp cũ…, để sang sống ở một môi trường hoàn toàn lạ lẫm, thậm chí ngôn ngữ cũng không thông thạo? Nhiều đứa sẽ lấy vợ, lấy chồng Tây, khoảng cách thế hệ, văn hóa và dân tộc tính ngày càng lớn nhưng thời gian dành cho gia đình ngày càng ít, liệu cha mẹ già có thể sống vui với chúng những ngày cuối đời? Những người chúng tôi quen biết thân quý thì chúng không biết, và ngược lại. Những gì đã tạo nên ký ức của chúng tôi không có giá trị tương tự với chúng, và ngược lại

Có thể nói, khi sang nước ngoài sống cùng với con thì chúng tôi là cái cây bị bứt hết gốc rễ. chỉ còn phụ thuộc vào mỗi một mình con cái. Nếu chúng “trở mặt”, không dành đủ thời gian hay không chăm sóc được như ý, cha mẹ sẽ tủi thân vô cùng vì không có ai khác để chia sẻ. Cô đơn trong bốn bức tường thôi.

Rất nhiều đứa bé được cho đi học xa nhà từ tuổi thiếu niên hầu như đều cảm thấy Việt Nam không còn là nhà của nó nữa. Mọi thứ đều xa lạ, trừ cha mẹ. Bạn bè, thầy cô, khí hậu, thời tiết, thức ăn, văn hóa, lối sống… những gì nó quen thuộc và thích nhất đều ở bên kia đại dương cả rồi.

Cha mẹ nài nỉ: Con đi đâu thì cứ đi nhưng mai mốt ba mẹ già rồi thì về Việt Nam ở với ba mẹ. Ba mẹ có một mình con!

Nó trả lời: Con xin lỗi nhưng con cũng không lựa chọn làm con một của cha mẹ (tức là việc cha mẹ do chỉ có một đứa con nên suy luận rằng nó phải có nghĩa vụ tuân theo cha mẹ là không hợp lý).

Sợ cha mẹ buồn, nó nói rõ: sẽ chăm lo cha mẹ khi về già, nhưng nó không ở Việt Nam như ý cha mẹ muốn.

Không đi theo con thì về già sống ra sao? Rất nhiều người trong chúng tôi tính sẽ vào nhà dưỡng lão.

Ngay cả những gia đình con cái đều ở Việt Nam thì hầu hết cũng nghĩ sẽ vào nhà dưỡng lão khi già yếu, cũng với những lý do đó.

Nhà dưỡng lão ở Việt Nam

Mô hình nhà dưỡng lão đã được đặt ra từ hai, ba mươi năm nay, nhất là khi dân số già ở Việt Nam ngày càng tăng. Nhưng vì nhiều lý do nên nó vẫn chưa phổ biến.

Tôi cho rằng tài chính là lý do lớn nhất.

Phần đông người Việt Nam vẫn sống dưới mức trung lưu. Người bình dân thường thường sẽ sống như tập quán là sống cùng con cháu khi về già. Những người giàu có, chủ doanh nghiệp hay có nhiều tài sản cũng vậy, con cháu họ sẽ chăm sóc.

Số đông là tầng lớp công chức và trí thức trung lưu mong muốn cuộc sống độc lập, tự do không phụ thuộc con cháu thì lương hưu quá thấp. Nếu chỉ dựa vào lương hưu thì không đủ trả chi phí cho nhà dưỡng lão (lương hưu thấp nhất khoảng 4 triệu đồng, cao là khoảng 6-7 triệu đồng/tháng, trong khi phí trả cho nhà dưỡng lão thấp nhất khoảng 7 triệu đồng/tháng (nhu cầu cơ bản, thường phải cộng thêm các phí khác, tổng khoảng 10 triệu cho gói thấp nhất), trung bình khoảng 12-15 triệu/tháng). Hoặc phải bán nhà cửa đi (thường tầng lớp này cũng chỉ có một tài sản lớn nhất nhà cửa), nhưng thế thì con cháu sinh sống chỗ nào? Văn hóa làm cha mẹ của người Việt là phải để lại tài sản cho con, thế cho nên dù chật chội, thiếu thốn thì nhiều người già vẫn không bán tài sản để hưởng thụ cá nhân mà chọn cách ở với con cháu cho đến khi nhắm mắt xuôi tay.

Thứ hai, chưa có niềm tin vào nhà dưỡng lão.

Tôi có người bạn đã gửi ba của nó vào một nhà dưỡng lão tư nhân ở Củ Chi, ven Sài Gòn. Chi phí thấp nhất (phòng năm giường) là 10 triệu đồng/tháng. Cao nhất (phòng riêng) là 18 triệu đồng/tháng, chưa kể phụ phí đồng phục, chăm sóc khi bị bệnh và trong các ngày lễ tết.

Bạn tôi là con gái một. Mẹ bị tâm thần đã vài chục năm, không hung dữ phá phách nhưng suốt ngày đi lang thang rồi ghé tiệm của con xin tiền.

Khi bạn tôi có bầu đồng thời ba nó bị đột quỵ, không còn cách nào khác, nó phải gởi ba vào nhà dưỡng lão.

Hai ngày đi cùng nó lên thăm cha, tôi đã đủ ngậm ngùi.

Nhà dưỡng lão chia làm bốn loại khách hàng: Thứ nhất là các cụ ông/cụ bà còn tương đối khỏe mạnh và minh mẫn. Thứ hai là các cụ yếu hơn nhưng vẫn đi đứng được, có người lúc tỉnh lúc lẫn. Thứ ba, các cụ phải chăm sóc gần như toàn bộ, ăn phải có người đút, hầu hết không tự di chuyển được hoặc khá yếu nên phải ngồi xe lăn. Thứ tư là các cụ gần như chỉ còn sống thực vật, cho ăn qua ống.

Các ông bà cụ trong nhà dưỡng lão này không được mặc áo quần riêng, cũng không được dùng đồ cá nhân. Vào đây, họ đều được phát mấy bộ đồ đồng phục bằng thun dày màu cam, cổ tròn, cả ống tay áo và ống quần đều được may ngắn hơn bình thường để đỡ vướng. Tóc thì húi cua sạch cả cụ ông lẫn cụ bà, nên nhìn vào gần như chẳng phân biệt được bà hay ông. Bát chén riêng không được dùng mà ăn bằng cái tô inox của Nhà dưỡng lão.

Mỗi tuần, con cháu được lên thăm các cụ vào thứ bảy và chủ nhật. Đó là những ngày rộn ràng, vui tươi nhất của các cụ. Khi người thân đến nơi, bảo vệ sẽ báo vào bên trong (người thân không được vào khu lưu trú). Bảo mẫu sẽ săn sóc, chải tóc, thay quần áo cho các cụ nếu cần, rồi đẩy xe lăn ra sảnh tiếp đón. Khu này rộng, có mái che, nhiều bàn ghế, lại gần một hồ sen, có cây cảnh, tượng Phật nên thoáng mát và có thiên nhiên để ngắm nhìn. Thường các gia đình mang rất nhiều thức ăn đủ loại lên để “thăm nuôi” ông bà cha mẹ. Vô số thức ăn bày trên bàn, người này mở, người kia giục, người nọ xúc… ông bà vừa ăn chưa hết miếng này thì con cháu đã mở hộp thức ăn khác, xúc miếng khác..

Đến xế chiều, con cháu lần lượt ra về. Các cụ trở vào khu lưu trú. Khi hai cánh cửa mắt cáo ngăn cách hai khu khép lại cũng là lúc các cụ thầm đếm xem còn bao nhiêu buổi sáng, buổi chiều và buổi tối thì đến ngày được gặp con cháu lần nữa.

Tôi may mắn được chứng kiến bữa cơm của họ.

Bữa cơm gồm hai món: canh rau và một món mặn. Tất cả đều được nhân viên nấu nóng trong bếp, nhưng tất cả đều mang một cái màu: màu … cháo lòng, và một cái mùi: mùi thức ăn ít gia vị, nhạt nhẽo và được nấu lâu trên bếp.

Cơm trong nhà dưỡng lão đều từ nhão đến rất nhão, để các cụ già dễ nuốt. Canh cũng quanh đi quẩn lại bí đỏ, bí xanh, bắp cải… tất cả đều lõng bõng và chín nhừ. Thức ăn mặn thường là cá, trứng chiên hoặc ít thịt nạc kho nhạt. Các cụ khỏe còn tự xúc ăn được. Các cụ còn lại thì nhân viên sẽ đổ hết tất cả thức ăn, cả canh lẫn thịt vào một cái tô và xúc cho họ. Nhiều ông bà cụ nhai móm mém chưa xong miếng trước đã phải há miệng ra để nhận tiếp miếng sau.

Nhà dưỡng lão cho biết do lo ngại bụng dạ các cụ yếu nên thức ăn nấu rất nhạt và hầu như không có gia vị. Thành ra nhìn các cụ sau khi vào trại thì đều hồng hào, tăng cân (có lẽ một phần do ít vận động chăng), nhưng không cụ nào tỏ vẻ thích bữa ăn của trại. Họ đều mong chờ những ngày con cháu đến thăm, mang thức ăn hợp khẩu vị. Có cụ có tiền thì có thể mua thêm ít thức ăn vặt, nhưng rất hãn hữu.

Vài cụ ông còn khỏe mạnh thì nghe radio (tự mang vào), hoặc đọc báo. Nhưng báo cũng có rất ít loại. Sách không thấy cuốn nào. Không có thư viện mặc dù số người còn đọc được cũng khá đông.

Nhà dưỡng lão có các hoạt động văn nghệ nhưng tôi không gặp.

Phòng ngủ thường có 4 giường sắt cỡ 80 cm, đệm bọc simili thường gặp ở bệnh viện. Toilet chung nằm ở bên ngoài. Tuần hai hoặc ba lần, các cụ được tắm. Nhà tắm là một phòng chung rất đơn giản chia làm hai phần, bên trong là khu vực tắm với mấy vòi nước, thông thống không có gì che chắn. Nhân viên sẽ đẩy ba cụ vào một lần, xối nước tắm rồi đẩy ra ngoài, lau khô, mặc áo quần. Không còn gì là riêng tư nữa. Tôi cho rằng điều đó gây tổn thương nhân phẩm của các cụ và nó làm tôi đau lòng.

Với 18 triệu đồng, các cụ sẽ được một phòng riêng, rất nhỏ nhưng có máy lạnh và toilet trong phòng.

Ở một nhà dưỡng lão khác quảng cáo là do Nhật đầu tư, tình hình vui vẻ hơn rất nhiều. Các cụ được mặc dùng tư trang cá nhân như áo quần riêng, bát chén, chăn gối…, tất cả. Chất lượng bữa ăn phong phú và ngon hơn, được đổi bữa thường xuyên, lượng trái cây và sữa cũng nhiều hơn. Các cụ ở trong phòng riêng một hoặc hai người, đầy đủ tiện nghi. Giờ ăn, họ ngồi quanh một bàn ăn ấm cúng giống như ở nhà. Nhân viên vẫn tắm cho các cụ nhưng tắm riêng từng người một, trong phòng tắm kín. Sự riêng tư được tôn trọng. Chất lượng cuộc sống và phục vụ ở đây tốt hơn hẳn so với nhà dưỡng lão Việt Nam, nhưng tất nhiên giá tiền cũng cao hơn. Và do họ không có cơ sở rộng nên nhà dưỡng lão chỉ nhận rất ít người.

Tất cả là nhà dưỡng lão tư nhân. Ở TP HCM có một nhà dưỡng lão Nhà nước, gọi là Nhà dưỡng lão Thị Nghè. Vào đây, ngoài tiền còn phải đáp ứng một số yêu cầu như là cán bộ có quá trình cống hiến cho nhà nước.

Người già dựa ai?

Có những nhóm bạn thấy rõ thực tế của cuộc sống xa con sau này, đồng thời cũng sợ hãi sự cô độc và thiếu thốn ở nhà dưỡng lão nên bàn nhau xây dựng các nhóm dưỡng lão gia đình. Chung tiền thuê một ngôi nhà có vườn gần biển hoặc gần núi tùy thích, sống chung với nhau và thuê người chăm sóc. Chi phí tất nhiên là cao, nhưng lúc ấy bán hết tài sản đi để lấy tiền sống những ngày cuối đời thì chẳng cần phải băn khoăn.

Đó có lẽ là mô hình tốt nhất.

Hoặc cũng có thể thuê người giúp việc sống với mình, nhưng như vậy sẽ rất buồn bã và cô đơn vì không có bạn bè; các nhu cầu tối quan trọng như dinh dưỡng, y tế cũng không đảm bảo.

Ở Việt Nam không có chế độ phúc lợi thuê người giúp việc chăm sóc người già yếu neo đơn, cho nên chỗ dựa cho người già hầu như chỉ có một cái gậy duy nhất: tiền.

Nếu con cháu có hiếu và có đủ điều kiện (thời gian, tiền bạc, tâm trí) để người già sống quây quần cùng con cháu đến cuối đời thì đó là cuộc sống hạnh phúc nhất. Tứ đại đồng đường, cha mẹ con cháu đều được nương tựa vào nhau cả về tinh thần và vật chất.

Có lần trong bệnh viện tôi gặp một đôi vợ chồng già không có con. Ông bệnh, bà vào chăm sóc nhưng chủ yếu động viên tinh thần. Hai cụ già đều trên 80 tuổi không thể chạy đi mua thức ăn hay các việc lặt vặt khác được. Có một anh con trai là cháu của ông bà hàng ngày mua thức ăn vào, nhưng anh cũng không sốt sắng gì lắm, chỉ làm theo trách nhiệm rồi về.

Bà cười nhạt nói với tôi: “Già dựa ai? Dựa tiền. Ai nuôi? Tiền nuôi. Mình có tiền còn sai nó làm được, chớ không thì nó cũng bỏ thôi con à”.

Chúng ta rồi ai cũng già đi, không chừa một ai, rồi ai cũng sẽ đến ngày mắt mờ, tai điếc, chân run và tè dầm ra tã. Bạn đời, bạn bè, đồng nghiệp, người hâm mộ đều đã mất đi hoặc đều run rẩy như ta cả.

Nhưng có ai nghĩ đến điều đó? Khi chúng ta còn trẻ như lũ con cháu bây giờ, chúng ta cũng y như chúng, không có lấy một giây nghĩ rằng sẽ có ngày bản thân già đi.

Hình minh hoạ. Hai mẹ con… AFP

Bà lão bán hàng ở Hà Nội. AFP

SỰ CHẾT – LM Nguyễn Tầm Thường, sj.

SỰ CHẾT

 LM Nguyễn Tầm Thường, sj.

Khi tôi được sinh ra là khởi điểm tôi bắt đầu đi về cõi chết.  Làm gì có sự chết nếu không có sự sống.  Làm gì có ngày người ta chôn tôi nếu không có ngày tôi chào đời.  Như thế, cuộc sống của tôi là chuẩn bị cho ngày tôi chết.

Ngay từ trong bào thai của mẹ, bắt đầu có sự sống là tôi đã cưu mang sự chết rồi.  Kết hợp và biệt ly ở lẫn với nhau.  Trong lớn lên đã có mầm tan rã.  Khi vũ trụ chào đón tôi, thì cùng một lúc, tôi bắt đầu từ giã vũ trụ từng ngày, từng giờ.

Mỗi ngày là một bước tôi đi dần về sự chết.  Bình minh mọc lên, nhắc nhở cho tôi một bước cận kề.  Hoàng hôn buông xuống, thầm nói cho tôi sự vĩnh biệt đang đến.

Không muốn nghĩ về sự chết tôi cũng chẳng tránh đuợc sự chết.

Tôi có thể không muốn nghĩ về sự chết nhưng tôi có ghét sự chết được không?  Tôi ghét sự chết là tôi ghét chính tôi.  Chết ở trong tôi.  Tôi đang đi về cõi chết nên ngay bây giờ sự chết đã thuộc về tôi rồi.  Sự sống của tôi hàm chứa sự chết, nên tôi yêu sự sống thì tôi cũng phải yêu sự chết.  Vì vậy, cuộc đời có ý nghĩa vẫn chỉ là cuộc đời chuẩn bị cho ngày chết.

Trong dòng đời, tôi không sống một mình.  Cuộc sống của tôi là tấm thảm mà mỗi liên hệ yêu thương là một sợi tơ, mỗi gắn bó quen biết là một sợi chỉ, anh em, cha mẹ, người yêu.  Sự chết xé rách tung tất cả để tôi ra đi một mình.  Chẳng ai đi với tôi.  Vì thế, chết mang mầu ly biệt.

Sống là hướng về tương lai. Tương lai là cái tôi không nắm chắc trong tay, vì vậy, tôi hay nhìn về tương lai bằng nỗi sợ bấp bênh.  Càng bấp bênh thì tôi càng tìm kiếm vững chãi, càng tích lũy. Nhưng tích lũy xong, xây đắp xong, vất vả ngược xuôi để rồi ra đi trắng đôi tay thì đời tôi thành đáng thương hại.  Nếu tôi không đem theo được những gì tôi tích lũy, thì những gì tôi ôm ấp hôm nay chỉ làm tôi thêm đau đớn, nuối tiếc.  Nếu không muốn vậy thì chúng phải là phương tiện để chuẩn bị cho giờ ra đi của tôi.

Tích lũy cho tương lai có thể là dấu hiệu khôn ngoan đề phòng những bất trắc có thể xẩy ra.  Mà cũng có thể là một thứ nô lệ.  Nếu suốt đời tôi lo âu tìm kiếm danh vọng, quá tham lam tiền bạc, lúc nào cũng bị vây khốn, băn khoăn thì đâu là niềm vui, tận hưởng.

Mà tận hưởng là gì? Ðâu là ý nghĩa của sự tìm kiếm? Tích lũy?

Kinh Thánh kể:

Có người trong đám dân chúng nói với Ðức Kitô: “Thưa Thầy, Thầy bảo anh tôi chia gia tài với tôi”.

Ngài đã nói cùng họ: “Hãy coi chừng! hãy lo giữ mình tránh mọi thứ gian tham, vì không phải ai được sung túc, là đời sống người ấy chắc chắn nhờ của cải”.

Ngài nói cùng họ một ví dụ rằng: “Có người phú hộ, ruộng nương được mùa, nên suy tính với mình rằng: ta phải làm gì?  Vì ta không còn chỗ nào mà tích trữ hoa mầu nữa.  Ðoạn người ấy nói: Ta sẽ làm thế này: phá quách các lẫm đi, mà xây những lẫm lớn hơn, rồi chất cả lúa mạ, và của cải vào đó, rồi ta nhủ hồn ta:  Hồn ơi! mày có dư thừa của cải, sẵn đó cho bao nhiêu năm; nghỉ đi! ăn uống đi! hưởng đi! Nhưng Thiên Chúa bảo nó:  Ðồ ngốc! ngay đêm nay, người ta sẽ đòi ngươi trả lại hồn ngươi, mọi sự ngươi đã sắm sửa, tích góp kia sẽ về tay ai? (Lc 12,13-21).

Không ai sống hộ tôi.  Không ai chết thay tôi.  Không ai đi cùng tôi.  Tôi sẽ ra đi lẻ loi.  Họ sẽ quên tôi cũng như tôi đã quên bao người.  Có thể đôi khi họ nhớ tôi.  Cũng như đôi khi tôi nhớ người này, kẻ kia.  Nhưng nỗi nhớ chỉ là của riêng tôi, còn kẻ đã ra đi vẫn ra đi miền miệt.  Thì cũng thế, chẳng ai làm gì được cho tôi lúc tôi ra đi không trở lại.

Chết là mất tất cả. Nhưng thánh Phaolô lại tuyên tín rằng chết là chiến thắng (1Cor 15,54).  Chết là đi về sự sống vĩnh cửu.  Chết là gặp gỡ.  Gặp Ðấng tạo nên mình.  Như vậy, chết là cánh cửa im lìm được mở ra để tôi về với Ðấng thương tôi.  Chết là điều kiện để sống.

Chúa ơi, chết là đi về với Chúa sao con vẫn lo âu?

Phải chăng nỗi lo âu là dấu hiệu nói cho con rằng con sợ con có thể không gặp Chúa. Vì sợ không gặp nên chết mới là bản án nặng nề.  Mà tại sao con lại sợ không gặp Chúa?  Chúa luôn mong mỏi, đợi chờ con cơ mà.  Như thế, muốn gặp Chúa hay không là do ý của lòng con.  Con có quyền quyết định cho hạnh phúc của mình.

Chúa ơi, vì biết mình sẽ chết nên con băn khoăn tự hỏi bao giờ thì chuyến tầu định mệnh đem con đi.  Hôm nay hay ngày mai?  Mùa thu này hay mùa xuân tới?  Con âu lo.  Nhưng vì sao phải lo âu?

Phải chăng lo âu là dấu hiệu nói cho con rằng con chưa chuẩn bị đủ, là hồn con còn ngổn ngang.  Có xa Chúa thì mới sợ mất Chúa.  Sợ mất Chúa thì mới xao xuyến băn khoăn. Con biết thế, con biết rằng vì không sẵn sàng, vì không chuẩn bị nên mới hồi hộp, mất bình an. Con biết thế, con biết sau khi chết là hạnh phúc hay gian nan, là núi cao với mây ngàn cứu rỗi, hay vực sâu phiền muộn với đau thương.  Nhưng chuẩn bị cho giờ ra đi không đơn giản Chúa ơi.  Chúa biết đó, con đi tìm Chúa nhưng là đi trong lao đao.  Bởi yêu một vật hữu hình thì dễ hơn lắng nghe tiếng gọi từ nơi xa thẳm.  Giầu có và danh vọng cho con hạnh phúc mà con có thể sờ được.  Còn hạnh phúc của đức tin thì sâu thắm quá.

Chung quanh có biết bao mời mọc.  Kinh nghiệm cho con thấy rằng đã nhiều lần con bỏ Chúa. Như vậy biết đâu con lại chẳng bỏ Chúa trong tương lai.  Nếu lúc đó mà giờ chết đến thì sao?

Chúa có nghĩ rằng khi con phải phấn đấu chối từ những rung cảm bất chính để sống theo niềm tin là thánh giá của con không.  Chối từ tiếng gọi của tội lỗi đã là một thánh giá.  Nhưng có khi lo âu vì không biết mình có từ chối được không còn là một thánh giá khác nữa.  Chính đấng thánh của Chúa mà còn phải kêu lên: “Ôi! những điều tôi muốn làm thì tôi chẳng làm, những gì tôi muốn trốn tránh thì tôi lại làm” (Rom 7,15-16).  Chúa thấy đó, vị tông đồ lớn của Chúa mà còn như thế, huống chi con, một kẻ mang nhiều đam mê, yếu đuối thì đường về với Chúa gian nan biết bao.

Ðể khỏi chết khi con chết, thì con phải chết trước khi con chết.
Cái chết đó là đóng đinh đời con vào thập giá. Con không biết con can đảm đến đâu. Con chỉ xin sao cho con tiếp tục đi mãi. Ði xiêu vẹo vì yếu đuối của con, nhưng vẫn tiếp tục đi.

Thập giá nào thì cũng có đau thương.

Con không muốn thập giá.  Vì thập giá làm con mang thương tích.  Chúa cũng đã ngã.  Nhưng nếu sự sống của con mang mầm sự chết, thì trong cái chết của thập tự nẩy sinh sự sống.  Chúa đã chết. Chúa hiểu nỗi sợ hãi của sự chết.  Con vẫn nhớ lời Chúa cầu nguyện: “Lạy Cha, con xin phó hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).  Hôm nay con cũng muốn nói như vậy đó, với Chúa.  Cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa dạy con rằng chẳng có sự sống nào mà không phải qua sự chết.  Chết thì sợ hãi, nhưng nếu con yêu sự sống thì con phải yêu sự chết.

 Con muốn chết để được sống.

Con sẽ đóng đinh đời con vào thập tự.  Chúa ơi, Chúa có cho những lo âu của con là dấu chỉ tình yêu của một tâm hồn yếu đuối, đang thao thức đi tìm Chúa vì sợ mất Chúa không.

Lạy Cha, trong tay Cha con xin phó thác đời con.

LM Nguyễn Tầm Thường, SJ –
Trích trong Nước Mắt và Hạnh Phúc

Tạ ơn đời – BẠN TA

Tạ ơn đời

Tạ ơn đời hôm nay Tôi còn sống

Mắt còn nhìn, còn đọc được Emails

Đời còn vui, đâu đến nỗi cô liêu

Thêm kiến thức, thêm từ tâm hỷ xả!

Tạ ơn các bạn gần xa

Hằng ngày chia sẻ cùng ta đủ điều

Emails nhận được bao nhiêu

Là bao tình cảm thương yêu nồng nàn.

***

BẠN TA

Thăm hỏi Bạn, biết rằng người còn đó

Nỗi mừng vui tràn ngập cõi lòng tôi

Cuộc đời này bao sóng gió, nổi trôi

Vui được biết, Bạn bình an vui sống

Đời trần thế ví như là huyễn mộng

Kiếp nhân sinh là sinh tử, tử sinh

Quý nhau chăng chỉ ở một chữ Tình

Tình cha mẹ, tình vợ chồng, bè bạn

Tình cảm ấy ta không treo giá bán

Khi con tim không đơn vị đo lường

Bàn cân nào, cân được chữ Yêu Thương

Thế mới biết Thương Yêu là vô giá!

Cuộc đời dẫu đảo điên, nhiều dối trá

Nếu chúng ta thực sự mến thương nhau

Thì tiếc chi một lời nói, câu chào

Hãy trao gửi, sưởi ấm tình nhân thế

Có hơn không dù biết rằng chậm trễ

Vì con người ai cũng thích yêu thương

Được thương người và cũng được người thương

Hãy bày tỏ yêu thương dù có chậm

Bạn còn đó! Tôi còn đây! Mừng lắm!

Vì chúng ta còn cơ hội gặp nhau

Để trao nhau lời nói với câu chào

Đầy thân ái, đầy yêu thương, quý mến

Chuyện dĩ vãng, chuyện tương lai sắp đến

Hãy quên đi, xin nhớ hiện tại thôi

Nếu tâm bình trí lạc! Thế đủ rồi!

Người còn đó! Tôi còn đây!  Phúc lắm.

From: ThuNNguyen

Cuộc Trùng Phùng Hội Ngộ – ĐỖ NGÀ.

CHUYỆN PHIẾM – BI HÀI XHCN VN – ĐỖ NGÀ.

***

Cuộc Trùng Phùng Hội Ngộ

Mới năm xưa, được toà cho phép ly dị, chia đôi tài sản và con cái, Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển, còn bà Âu Cơ thì dẫn 50 người con lên núi.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, năm nay hai người lại gặp nhau tại khu nhà trọ gần lò thiêu Bình Hưng Hoà, quận Bình Tân, TP/ HCM. Cả hai đều già, khá tiều tụy, gương mặt không còn giữ được mấy những nét thần thoại của thuở hồng hoang.

Bà Âu Cơ dè dặt nắm lấy bàn tay gầy rộc của Lạc Long Quân, giọng cảm động:

– Ông và các con thế nào ? Cuộc sống chắc cũng cơ cực lắm?

– Thì đã hẳn. Nghề biển bây giờ khó sống lắm. Trước ra khơi xa thì còn kiếm ăn được, nhưng sau này giặc Tàu hung hãn quá, ngư dân cứ ló mặt ra là nó giết. Con mình bị chúng nó ủi chìm tàu, chết hết 10 đứa, chỉ còn 40 đứa, tôi sợ quá bèn cho chúng nó đi lao động xuất khẩu một mớ, số còn lại chỉ đánh bắt loanh quanh gần bờ, nhặt nhạnh con tôm, con cá sống qua ngày…

Bà Âu Cơ cắt ngang:

– Con ông còn được ở ngoài đời bương chải là may rồi. Con tôi đi tù gần hết. Từ ngày dẫn con lên núi làm cái nghề phá sơn lâm, tôi thấy không khá được ông ạ. Tiền bạc và gỗ quý thì chạy vào nhà các quan với lại tụi kiểm lâm, lâu lâu có bắt đi tù thì toàn là thợ rừng như đám con mình. Thấy thế tôi mới dắt mấy đứa còn lại xuống đồng bằng, cho chúng nó học lấy cái chữ những mong đổi đời. Ai dè tốt nghiệp đại học ra, không đứa nào có việc làm, toàn chạy shipper.

Lạc Long Quân nhìn sâu vào mắt vợ, ông thấy dù sao trong đôi mắt buồn của bà vẫn còn phảng phất đôi nét quý phái triều đình, và hỏi

– Sao bà không lo cho đứa nào vào đảng để dễ kiếm ăn?

– Vào đảng thế nào được ? Tại ông cả đấy. Thấy tên cha là Lạc Long Quân là chúng nó gạch bỏ ngay thôi, bảo xuất thân phong kiến.

– Lạ nhỉ. Lạc Long Quân gằn giọng, đôi lông mày bạc phếch chau lại, hàm râu bạc rung rung. Đúng ra họ phải ưu tiên cho con của bậc tiền nhân.

– Không dám đâu. Bà Âu Cơ nói giọng uất ức: Cái chế độ này nó thế rồi. Chỉ ôm lấy cái vỏ bọc chuyên chính vô sản nhằm giữ ghế và phục vụ cho lợi ích của thằng bạn vàng 4 tốt thôi. Nói thật chứ, nếu bây giờ Hai bà Trưng có sống dậy đánh đuổi giặc Tàu thì chúng nó cũng sẽ cho cả voi lẫn hai bà lên thớt.

Nghe nói tới chuyện chính trị, Lạc Long Quân rét run lên, bèn hỏi lảng qua chuyện khác:

– Dưng mà bà ở khu trọ này bao lâu rồi, mà hôm nay ta mới gặp nhau?

– Tôi chỉ mới tới thuê ở tạm hai ngày nay thôi, trong lúc chờ lấy tro cốt của thằng Út, ông nhớ thằng này không, cái thằng mà vừa sinh ra đã kêu “khổ, khổ” đó. Nó bị F0, người ta nhốt nó vô khu cách ly, được 7 ngày thì chết vì đói và vì bịnh nền. Bà Âu Cơ sụt sùi, đưa cái khăn tay thêu rồng phượng, mà ngày xưa ông tặng bà, lên lau nước mũi. Còn ông sao lại ở đây ?

– Tôi trọ ở đây lâu rồi, tôi ở với mấy thằng con lớn nhất của mình. Tụi nó làm đạo tỳ với lại làm công cho lò thiêu Bình Hưng Hòa này chứ đâu.

– Ồ, vậy là con mình lại thiêu con mình à?

– Chắc vậy đó. Lạc Long Quân khóc nấc lên: “Củi đậu đun hạt đậu, cùng sinh ra một gốc, nỡ đun nhau thế ư”. Khóc chán xong, lại nín, rồi rụt rè đề nghị: Thôi, hoàn cảnh nó thế rồi, hay là bà ở lại đây luôn, tụi mình góp gạo thổi cơm chung. Tôi thề sẽ không ly dị bà nữa.

Bà Âu Cơ ngồi lại ngay ngắn, nói giọng nghiêm trang:

– Em cũng muốn lắm, thưa Lang quân. Nhưng truyền thuyết đã bắt đôi ta phải chia lìa. Cả nước đều biết chuyện này. Chả nhẽ bây giờ ta lại bắt học sinh phải học lại là:

Lạc Long Quân và bà Âu Cơ cuối đời về sống chung với nhau, đẻ thêm 100 cái trứng…

Lạc Long Quân xem chừng hiểu ra, ông sửa lại mũ áo và nói với giọng cũng nghiêm trang không kém:

– Ái khanh nói chí phải. Mệnh trời đã đặt thế rồi, khiên cưỡng mà chi. Thôi để hôm nào hết giãn cách, ta sẽ đưa nàng đi cơm tiệm một bữa, rồi mình lại chia tay vĩnh viễn…

Ngoài kia, trời đang nắng, bổng giông bão từ đâu vần vũ kéo tới và trời bắt đầu đổ mưa. Chỉ chốc nữa thôi, cái thành phố HCM khốn khổ này lại sẽ thành Hồ ngập đến… lưng quần.

Myanmar, Daw Aung Suu Kyi và cuộc cách mạng: Quản thúc tại gia (Phần 2)

Myanmar, Daw Aung Suu Kyi và cuộc cách mạng: Quản thúc tại gia (Phần 2)

Bởi  AdminTD

NachDenkSeiten

Tác giả: Marco Wenzel

Vũ Ngọc Chi, chuyển ngữ

3-1-2022

Tiếp theo Phần 1

Sau Cách mạng Văn hóa và cái chết của Mao Trạch Đông, sau một nhiệm kỳ ngắn ngủi của Hoa Quốc Phong, Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền lãnh đạo Đảng CSTQ. Theo lý thuyết của Đặng, ông ta không quan trọng mèo trắng hay đen, cái chính là nó bắt được chuột, ý thức hệ cộng sản đã lùi bước để ủng hộ chính sách kinh tế thực dụng. Đặng muốn “trước hết để một số ít làm giàu” và tăng cường sự chủ động của tư nhân trong nền kinh tế bằng cách cho phép tư nhân sở hữu tư liệu sản xuất.

Đầu thập niên 1980, giới lãnh đạo Trung Quốc đã thiết lập các liên hệ chính thức với chính quyền ở Miến Điện. Đồng thời, Bắc Kinh cắt các khoản viện trợ trực tiếp cho CPB (Đảng Cộng sản Miến Điện). CPB, hoạt động ngầm từ năm 1949 và chống lại chính quyền trung ương, đã nhận được sự hỗ trợ về tư tưởng, trang thiết bị và vũ khí từ Đảng CSTQ cho đến cuối thập niên 1970. Khoảng một phần tư doanh thu của CPB đến trực tiếp từ Trung Quốc và một nửa tổng doanh thu của nó đến từ thuế quan mà họ thu được từ thương mại biên giới đen với Trung Quốc. Khoản thu nhập này giờ đã bị mất do chính Trung Quốc hiện đã mở cửa khẩu chính thức với Miến Điện và tự đánh thuế. CPB đột nhiên phải tự lực cánh sinh.

Khoảng 80% đồn điền trồng cây thuốc phiện ở đông bắc Miến Điện nằm trong các khu vực do CPB kiểm soát. Cho đến nay, CPB luôn có xu hướng ngăn chặn việc trồng cây thuốc phiện và hỗ trợ việc trồng ngũ cốc thay thế, giờ đây đã tự mình tham gia buôn bán thuốc phiện, một cách phi chính thống để kiếm tiền cho một đảng cộng sản. Giờ đây, họ đòi 20% số thuốc phiện thu hoạch được từ nông dân và cũng đánh thuế việc buôn bán thuốc phiện tại các chợ trong khu vực họ kiểm soát và việc bán thuốc phiện ra bên ngoài. Chẳng bao lâu, hàng tấn thuốc phiện đã chất thành đống trong các kho chứa CPB. Từ đó, nó được đưa, ban đầu chủ yếu là trong các đoàn lữ hành qua địa hình không thể vượt qua, đến các phòng thí nghiệm heroin ở Tam Giác Vàng nằm về phía nam và bán cho họ. Các đoàn lữ hành thường có hàng chục con vật và được canh gác cẩn mật.

Các phòng thí nghiệm heroin lại được điều hành bởi những ông trùm ma túy địa phương, những người đã kinh doanh lâu năm ở Tam Giác Vàng và những người đã đưa các nhà hóa học nước ngoài đến để sản xuất heroin. Heroin từ Tam Giác Vàng được những người nghiện coi là đặc biệt tinh khiết và chất lượng cao. Công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất heroin IV đặc biệt khắt khe và nếu thực hiện không đúng cách, toàn bộ phòng thí nghiệm sẽ bị nổ tung. Không phải công việc cho các nhà hóa học nghiệp dư.

Tam Giác Vàng. Nguồn: Chiang Rai Times| UNODC

Để đơn giản hóa việc vận chuyển gian khổ và nguy hiểm, CPB sớm cho phép các ông trùm ma túy điều hành các phòng thí nghiệm riêng trong khu vực của họ và đòi “tiền bảo vệ” cho việc này. Vì cần khoảng 10 kg thuốc phiện để sản xuất 1 kg heroin, trọng lượng của hàng hóa phải vận chuyển đã giảm xuống. Kinh doanh phát triển mạnh ở biên giới với Trung Quốc, nơi CPB đặt trụ sở chính. Những ngôi làng nhỏ trước đây đã trở thành những thành phố cỡ trung bình với các nhà máy điện và cơ sở hạ tầng của riêng họ. Có những sòng bạc và nhà thổ khổng lồ ở những thành phố này. Từ đó, đạo đức của các cấp lãnh đạo của CPB trở nên xấu đi, và thay vì theo đuổi những ý tưởng của Mao Trạch Đông, họ chuyển sang làm kinh doanh mờ ám. Năm 1989, những người lính cấp dưới của đảng đã nổi loạn và CPB chia thành bốn nhóm nhỏ, nhanh chóng được các dân tộc trong khu vực tiếp thu. Ban lãnh đạo đến Trung Quốc, nơi Đảng CSTQ cho họ lưu vong và một khoản tiền trợ cấp nhỏ với điều kiện họ ngừng tham gia chính trị.

Tuy nhiên, việc trồng và buôn bán thuốc phiện vẫn tiếp tục không suy giảm, và các băng đảng xã hội đen địa phương hiện đã hoàn toàn tiếp quản công việc kinh doanh này. Ngoài ra, những người cộng sản còn để lại những kho vũ khí, đạn dược và xe cộ đủ loại mà họ đã nhận được từ Trung Cộng trong thời gian qua. Các tổ chức xã hội đen Trung Quốc đã tiếp nhận những gì còn lại của CPB chỉ trong vài tháng và trở thành tổ chức ma túy có vũ trang nhất trên thế giới. Chính quyền quân sự hiện đã ký kết các thỏa thuận với những lãnh chúa này, hứa cho phép họ được tự do hoạt động và cho phép họ sử dụng các đường phố của Miến Điện để vận chuyển ma túy nếu họ kiềm chế được phiến quân.

Bằng cách này, chế độ độc tài quân sự ở Rangoon đã loại bỏ các đối thủ của mình ở phía đông bắc, những vùng lãnh thổ mà họ chưa từng kiểm soát, nhưng từ đó họ liên tục bị tấn công quân sự. Và sau khi phe đối lập năm 1988 ở Rangoon bị sát hại hoặc phải ngồi tù, NLD suy yếu và Suu Kyi bị quản thúc tại gia, chính quyền có thể củng cố quyền cai trị của mình đối với miền nam Miến Điện, đồng bằng Irrawaddy và khu vực miền trung và theo đuổi công việc kinh doanh của riêng mình mà họ kiểm soát thông qua các công ty MEHL và MEC của họ. Và từ trước tới ngay cả bây giờ không phải là ít. Hoạt động kinh doanh của quân đội bao gồm khai thác mỏ, công trình dân dụng, công ty vận tải, nhà máy bia, nhà máy sản xuất thuốc lá, ngân hàng riêng, hãng tàu riêng, ngành du lịch, v.v… Không có nhánh kinh tế nào mà quân đội không tham gia thông qua các công ty của chính họ, và không có nhà đầu tư nào từ nước ngoài có thể kinh doanh qua mặt chính quyền.

Hiến pháp mới và lộ trình tiến tới dân chủ

Sau cuộc cách mạng 88, chế độ ở Miến Điện thường xuyên chịu áp lực từ phương Tây để thực hiện các cải cách dân chủ như một điều kiện tiên quyết cho các mối quan hệ thương mại và kinh tế cũng như sự công nhận về mặt chính trị. Chế độ mà Trung Quốc và Nga vẫn là “những người bạn” duy nhất, không muốn giao phó quá nhiều cho một mình Trung Quốc và do đó trở nên dễ bị tống tiền. Chế độ quyết định tạo cho mình một diện mạo dân chủ.

Vào ngày 9 tháng 1 năm 1993, một đại hội quốc gia đã được triệu tập để vạch ra những nét chính của một hiến pháp mới. Ủy ban triệu tập Công ước Quốc gia chủ yếu bao gồm các sĩ quan quân đội và các quan chức chính phủ được chọn lọc kỹ lưỡng. NLD đã bị khai trừ khỏi Quốc hội vào năm 1995. Vào tháng 5 năm 1996, chính quyền bắt giữ hơn 500 nhà hoạt động, chính trị gia và những người ủng hộ NLD. Sau đó, đại hội quốc gia bị đình chỉ tạm thời. Aung Suu Kyi được trả tự do và bị cầm tù trở lại nhiều lần trong 21 năm, từ năm 1989 đến 2010. Bà ấy không bao giờ có thể lãnh đạo Đảng một cách bình thường vào thời điểm đó. Năm 1997, Miến Điện trở thành thành viên của ASEAN, chỉ để được quốc tế công nhận. Myanmar chưa bao giờ có đóng góp cho ASEAN và luôn là vấn đề cho khối này lo lắng.

Năm 2003, chính quyền, vốn ngày càng bị cô lập trên bình diện quốc tế, đã đưa ra “lộ trình bảy bước tiến tới dân chủ”. Đại hội toàn quốc lại được triệu tập, nhưng nhiều lần bị đình chỉ. Một hiến pháp cuối cùng cũng nên được soạn thảo, sau đó, “ngay khi luật pháp và trật tự được khôi phục”, các cuộc bầu cử sẽ được tổ chức và trao quyền cho kẻ chiến thắng, một thông báo đầy gian xảo và mưu mẹo, bởi vì hiến pháp được viết theo cách để bảo đảm quyền tối cao của Quân đội, bất kể ai thắng cử.

Vào tháng 11 năm 2005, chính quyền bắt đầu chuyển trụ sở đến thủ đô mới, Naypyidaw. Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 11 năm 2005, Myanmar được yêu cầu đẩy nhanh quá trình dân chủ hóa và trả tự do cho tất cả các tù nhân chính trị.

Cuộc cách mạng nghệ tây và cơn bão Nargis

Vào ngày 15 tháng 8 năm 2007, chính quyền cắt giảm trợ cấp nhiên liệu trong nước, khiến giá cả tăng gấp 5 lần. Từ tháng 9, đã có các cuộc biểu tình, ban đầu là chống lại việc tăng giá. Các cuộc biểu tình sớm hướng tới chống lại chế độ như vậy. Các cuộc biểu tình lần này do các nhà sư Phật giáo lãnh đạo, do đó có tên là Cách mạng nghệ tây.

Cuối tháng 9, chế độ bắt đầu đàn áp những người biểu tình. Quân đội ập vào các tu viện và bắt giữ các nhà sư. Có hàng trăm vụ bắt giữ và tùy thuộc vào thông tin, có tới 200 người chết. Các nhà lãnh đạo dân sự đối lập cũng bị bắt. Internet đã bị cắt. Vào ngày 29 tháng 9, cuộc cách mạng bị dập tắt. Bà Suu Kyi bị quản thúc tại gia trong suốt thời gian đó, và các nhà lãnh đạo NLD hầu hết đã bị bắt trước đó. Vào cuối năm 2007, một ủy ban mới được thành lập để soạn thảo hiến pháp mới, đã bắt đầu công việc của mình. Một cuộc trưng cầu dân ý về hiến pháp sẽ được tổ chức vào tháng 5 năm 2008 và cuộc bầu cử cuối cùng sẽ diễn ra vào năm 2010.

Các nhà sư diễu hành qua Rangoon trong cuộc nổi dậy năm 2007. Nguồn: burmacampaign.org.uk

Ngày 2 tháng 5 năm 2008, xoáy thuận Nargis, một xoáy thuận nhiệt đới, đã đổ vào Myanmar. Tình trạng khẩn cấp được ban bố tại 5 tỉnh với tổng số 24 triệu dân. Toàn bộ đồng bằng Irrawaddy, bao gồm Rangoon, bị ảnh hưởng, toàn bộ khu vực bị ngập lụt, hàng chục ngàn người chết và hàng trăm ngàn người vô gia cư bị tàn phá nhà cửa. Khu vực này đã được tuyên bố là khu vực thiên tai. Thiếu lương thực. Tuy nhiên, chế độ không cho phép bất kỳ người giúp đỡ hoặc cứu trợ từ nước ngoài nào vào nước.

Trẻ em và người lớn ở Miến Điện giơ tay xin thức ăn trợ cấp. Nguồn: Getty Images

Thay vì hoãn cuộc trưng cầu dân ý về hiến pháp ngày 10 tháng 5, chính quyền để người dân bỏ phiếu trong bối cảnh hỗn loạn sau Nargis. Bất kỳ hành động nào để thất bại cuộc trưng cầu dân ý có thể bị phạt tù lên đến ba năm hoặc phạt tiền nặng. Chế độ kêu gọi trên các phương tiện truyền thông toàn quốc hãy đồng ý với hiến pháp. Với tỷ lệ cử tri đi bầu hơn 99%, hiến pháp này sau đó đã được thông qua với 92,4% số phiếu đồng ý. Hầu như không ai trong khu vực bầu cử có điều kiện đọc tài liệu về hiến pháp này. Tuy nhiên, nếu không đồng ý với hiến pháp, sẽ không có bầu cử, người dân bị đe dọa như vậy, một cơ quan truyền thông cũng được sử dụng ở Thái Lan để thực thi một hiến pháp phi dân chủ do quân đội viết ra.

Theo hiến pháp, quân đội Miến Điện được dành 25% số ghế trong quốc hội cho các ứng cử viên do tổng chỉ huy quân đội chỉ định. Một sửa đổi hiến pháp chỉ có thể được thông qua với 3/4 đa số, vì vậy quân đội luôn có quyền phủ quyết trong quốc hội khi cần sửa đổi hiến pháp. Ngoài ra, các chức vụ của Bộ trưởng Nội vụ, Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Biên phòng tự động thuộc về các thành viên của quân đội. Bằng cách này, quân đội bảo đảm quyền kiểm soát đối với các bộ quan trọng nhất và sự quản lý của nhà nước, bất kể ai là người chiến thắng trong các cuộc bầu cử. Bất chấp mọi lời hứa cải cách, chính quyền quân đội Miến Điện không bao giờ có ý định từ bỏ quyền kiểm soát đất nước.

Là nhân vật có sức lôi cuốn nhất trong phong trào dân chủ, bà Aung Suu Kyi ngay từ đầu đã là một cái gai trước mắt đối với phe quân đội. Để ngăn việc bà, là người đã kết hôn với một người Anh và có hai con trai với ông (chồng bà mất năm 1999), có thể trở thành Tổng thống, hiến pháp quy định rằng không ai có thành viên gia đình nước ngoài được giữ chức vụ này. Do đó, sau chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 2015, NLD đã tạo ra chức vụ Ủy viên Quốc vụ đặc biệt cho bà. Tại cơ quan này, sau đó bà vẫn trở thành người đứng đầu chính phủ trên thực tế.

Lãnh đạo đảng Dân chủ Aung San Suu Kyi chào đón hàng ngàn người ủng hộ qua hàng rào ngôi nhà của bà khi bà được trả tự do ở Yangon, Miến Điện. Nguồn: EPA

Trong điều kiện này, các cuộc bầu cử đầu tiên kể từ năm 1990 đã diễn ra vào năm 2010. NLD tẩy chay các cuộc bầu cử và bà Suu Kyi vẫn bị quản thúc tại gia. Lệnh quản thúc tại gia chỉ được dỡ bỏ vào tháng 11 năm 2010. Trong các cuộc bầu cử phụ hồi tháng 4 năm 2012, bà Suu Kyi đã tranh cử một ghế trong quốc hội lần đầu tiên.

Phản ứng với những điều mà nước ngoài coi là một quá trình cải cách dân chủ, Nhật Bản và EU đã nối lại viện trợ phát triển và đình chỉ các lệnh trừng phạt của họ, và Ngân hàng Thế giới đã cấp cho Miến Điện một khoản vay viện trợ. Mỹ cũng hủy bỏ các lệnh trừng phạt của mình. Mọi người đều nhiệt tình và cuối cùng đã nhìn thấy Myanmar trên con đường tiến tới dân chủ. Chuyện này quá đẹp, bạn chỉ muốn tin mà cố tình bỏ qua rằng dù muốn vặn vẹo thế nào đi nữa thì quốc hội Myanmar cũng chỉ là quốc hội trên hình thức và quyền lực vẫn thuộc về quân đội, chỉ bị che đậy một cách đáng xấu hổ dưới áo choàng chế độ dân chủ. Vẻ mặt xấu xí thật sự của quân đội đã thể hiện lại với khuôn mặt tàn nhẫn của nó chưa đầy mười năm sau đó, sẽ được nói nhiều hơn trong phần thứ ba.

Suy ngẫm về nhân cách của Daw Aung Suu Kyi và tương lai của Myanmar

Ngay từ đầu, chính sách NLD dựa trên các nguyên tắc bất bạo động như Mahatma Gandhi đã thực hiện ở Ấn Độ. Suu Kyi là một người có phong cách lôi cuốn với sức hút mạnh mẽ và biết cách truyền cảm hứng cho mọi người. Nhưng bà không phải là một nhà lý luận chính trị như Lenin, Mao, Fidel Castro hay Hồ Chí Minh, những người có tư tưởng đã chín mùi, cũng không phải là một nhà cách mạng có lộ trình thay đổi hệ thống ở Miến Điện. Bà ấy chưa bao giờ giải quyết những ý tưởng về tự do và dân chủ của mình về mặt lý thuyết và cũng chưa bao giờ chỉ ra những ý tưởng của bà nên được thực hiện như thế nào. Nó luôn mơ hồ, nhưng mọi thứ nên luôn được thực hiện thông qua phản kháng bất bạo động. Và vì vậy về cơ bản nó chỉ là một giấc mơ mà bà muốn biến thành hiện thực. Theo nghĩa này, bà ấy thậm chí còn phi chính trị hơn Martin Luther King. Đối với họ, dân chủ nên được thực hiện thông qua hòa giải và đối thoại dân tộc, nhưng Tatmadaw rõ ràng không quan tâm đến việc đối thoại với bà ấy.

Bà Suu Kyi luôn mong muốn một thế giới không có bạo lực và từ chối đáp trả bạo lực bằng bạo lực đối lại. Nhưng những ý tưởng theo chủ nghĩa hòa bình đều đẹp và tốt, và khi đối mặt với một đối thủ tàn nhẫn như Tatmadaw được trang bị tận răng, chúng đều vô hiệu. Tatmadaw tự coi mình là tầng lớp ưu tú của xã hội Miến Điện, nếu không có, người Miến Điện sẽ bị diệt vong, và ít nhất những người lính bình thường, những người sống trong một thế giới song song được che chắn khỏi phần còn lại của xã hội, tin vào điều đó. Họ được truyền bá kỹ lưỡng và họ tin rằng họ đang bảo vệ hệ thống vì lợi ích của cả đất nước. Những thuyết phục tốt đều không có hiệu quả, Tatmadaw đánh đập và giết những người trong mắt họ chỉ là những kẻ thù của Miến Điện, những kẻ muốn hủy diệt đất nước. Và họ đang làm tốt cho Miến Điện trong quá trình này.

Suu Kyi luôn sẵn sàng thỏa hiệp, ngay cả sau nhiều năm bị quản thúc tại gia, bà không có ác cảm với quân đội và nói rằng bà luôn được đối xử tốt. Khi được hỏi về thái độ của mình đối với các vị tướng, bà ấy thậm chí còn nói rằng, họ “thật sự khá tốt”. Ngay sau khi đàn áp các cuộc biểu tình vào tháng 9 năm 1988 và cuộc tắm máu tiếp theo bởi Tatmadaw, có những hành động trả thù của người dân đối với những kẻ được cho là thủ phạm. Một số trong nhóm này đã bị người dân địa phương bắt và giết ngay tại chỗ. Sau đó, khi Suu Kyi biết tin dân chúng bắt giữ các lực lượng đàn áp, bà thường xuyên cử người của mình, thường cũng là các nhà sư, đến đó để cứu sống những người Tatmadaw bị bắt. Chính quyền đã cảm ơn bà ấy ngay sau đó bằng việc bắt giữ bà ấy và quản thúc tại gia. Một chút về chủ nghĩa hòa bình và bất bạo động, người đọc nên tự suy nghĩ riêng cho mình.

Suu Kyi là một Phật tử rất sùng đạo. Bà ấy dậy sớm vào buổi sáng, thiền định và đã đặt ra một kỷ luật nghiêm ngặt cho bản thân khi nói đến thời khóa biểu hàng ngày của bà. Bà là một phụ nữ chăm chỉ với những tính cách hơi thần bí. Quyền lãnh đạo của NLD rơi vào tay bà Suu Kyi vì không ai khác có sức hút mạnh mẽ tương tự và vì bà là con gái của cha bà, anh hùng dân tộc Aung San, vẫn là một thần tượng đối với tất cả người dân Miến Điện. NLD luôn là một phong trào hơn là một đảng. Phần lớn được phát triển một cách tự phát hơn là được lên kế hoạch và chuẩn bị về mặt tư tưởng.

Ngay cả khi bị quản thúc tại gia và che chắn trước công chúng, Suu Kyi vẫn là một biểu tượng cho những người theo bà. Bà là một phụ nữ trẻ dũng cảm, dám thách thức chế độ độc tài quân sự. Dũng cảm Suu Kyi luôn có, bạn phải công nhận bà ấy điều đó. Hình ảnh đã lan truyền khắp thế giới khi bà dũng cảm bước tới gần những người lính đang chĩa súng vào bà. Ngoài việc bất bạo động, lòng dũng cảm và lòng tin tưởng là một trong những chủ đề trọng tâm trong cách giảng dạy của bà, mà bà truyền lại cho những người theo mình. Một trong những cuốn sách của bà có tựa đề “Thoát khỏi sợ hãi”. Người phụ nữ trẻ trung, hấp dẫn và can đảm này là hiện thân của một câu chuyện khơi dậy lòng nhiệt thành không chỉ ở Miến Điện mà trên toàn thế giới. Ngoài giải Nobel Hòa bình, Suu Kyi còn nhận được vô số giải thưởng lớn nhỏ khác, từ các tổ chức công đoàn, tổ chức phi chính phủ đến các trường đại học, những giải thưởng này đã trao cho bà bằng tiến sĩ danh dự. Đó là câu chuyện của David đấu với Goliath, chỉ có Goliath là chưa bị đánh bại trong câu chuyện này. Và cũng như thế giới hướng về Aung Suu Kyi một cách nhiệt tình vì bà thể hiện một câu chuyện mà thế giới rất thích, thì cộng đồng thế giới cũng quay lưng lại với bà một cách đột ngột khi người ta tin rằng bà Suu Kyi không phản đối kịch liệt việc đàn áp người Rohingya và rằng bà không còn tương ứng với lý tưởng mà chính họ đã gán cho Suu Kyi.

Tuy nhiên, Suu Kyi cũng là một người thuộc dân tộc Bamar và vấn đề hòa nhập dân tộc thiểu số chưa bao giờ là một vấn đề gần gũi với trái tim bà. Đối với bà, Myanmar được coi là một quốc gia, các dân tộc thiểu số nên phục tùng lợi ích của quốc gia, nhưng quốc gia đó sẽ như thế nào, đất nước tương lai sẽ được xây dựng dựa trên những tầng lớp nào, liệu nó nên trở thành một Myanmar tư bản chủ nghĩa hay một nước xã hội chủ nghĩa. hoặc một cái gì đó ở giữa, “Con đường thứ ba”, chẳng hạn, luôn là một bí ẩn. Câu hỏi này đến câu hỏi khác, một chương trình đảng sẽ phải làm rõ điều đó. Và điều này giải thích lập trường của bà ấy về câu hỏi Rohingya, một vấn đề mà bà ấy làm mất uy tín của bản thân trên trường quốc tế, nhưng lại đại diện cho một quan điểm khá phổ biến ở Myanmar, ngoại trừ những người bị ảnh hưởng.

Một gia đình Rohingya lội nước qua biên giới từ Myanmar sang Bangladesh. © UNHCR/Roger Arnold

Sau khi NLD lãnh đạo chính phủ vào năm 2016, người ta nhanh chóng thấy rõ rằng các nhà lãnh đạo của nó có cùng quan điểm với những người tiền nhiệm của họ khi đề cập đến các vấn đề liên quan đến người dân bản địa Myanmar. Hòa bình và thịnh vượng cho tất cả mọi người chỉ có thể đạt được ở Myanmar nếu quyền của các dân tộc bản địa đã cư trú ở đó trong nhiều thế kỷ và những người không thể bị cai trị ngay cả bởi quyền lực thuộc địa Anh thời đó và phần lớn vẫn giữ được quyền tự trị của họ, cũng nên được ghi trong hiến pháp liên bang mới. Các nhóm bản địa thường hầu như không có bất kỳ giấy chứng nhận quyền sở hữu nào cho đất đai của họ; các thửa đất đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Họ cũng có các nhà lãnh đạo, chính phủ, chính quyền và quân đội của riêng họ.

Khi biên giới quốc gia được vạch ra, bổng dưng chỉ một ngày sau, chúng thuộc về Miến Điện, nhưng chúng không có mối liên hệ nào với chính quyền trung ương của Bamar và hầu như vẫn chưa có được điều đó cho đến ngày nay. Cũng không thể chấp nhận được việc một chính phủ do Bamar lãnh đạo, nhưng cho đến nay, quy định mà không có sự tham vấn, phải tuân theo luật nào, sống như thế nào, phải nộp thuế cho ai, nói ngôn ngữ nào và hơn thế nữa, ai sở hữu đất mà họ đã sống qua nhiều thế hệ. Việc công nhận các quyền về đất đai theo tập quán của người bản địa phải trở thành một phần không thể thiếu của một nước cộng hòa liên bang mới, chưa được thành lập của Myanmar mà không có Tatmadaw.

Chính phủ mới, trên thực tế giống như chính phủ của đảng đối lập, đang nỗ lực hướng tới một nước cộng hòa liên bang sau khi nội chiến kết thúc, đã nhận ra điều này và bắt đầu các cuộc đàm phán với những người thiểu số để giải quyết vấn đề. Bởi vì sự hỗ trợ của các nhóm dân tộc thiểu số và quân đội của họ để lật đổ chính quyền quân sự hiện tại cũng phụ thuộc vào đó. Chỉ khi các nhóm dân tộc bị loại trừ trước đây cảm thấy rằng, cuộc sống của họ sẽ là một cuộc sống tốt hơn trong một quốc gia tương lai, họ mới sẵn sàng đưa binh lính của mình phục vụ cho chính phủ NUG (National Unity Government) để đánh bại Tatmadaw. Nhưng nếu sau này mọi thứ vẫn giữ nguyên như vậy, thì tại sao họ phải chiến đấu ngày hôm nay?

(Còn tiếp)