Ván bài thắng ngược!- CHUYỆN PHIẾM… BI HÀI…

Van Pham

CHUYỆN PHIẾM… BI HÀI…

Ván bài thắng ngược! Tại sao con số 9 nút (1954) lại thua con số 2 nút (1975)? Xin gởi đến các bạn bài ký sự dưới đây để biết: tại sao chúng ta cứ bị… việt vị mãi???!!!!!!!!!!

***

Bắc Kỳ 9 Nút, Bắc Kỳ 2 Nút.

“Anh hãy đi cho khuất mắt tôi, các anh đeo dai như con đỉa. Chúng tôi đã sợ các anh quá rồi! Hai mươi mốt năm trước, chúng tôi đã phải bỏ cả nhà cửa làng xóm để chạy xa các anh vào đây, vậy mà bây giờ các anh vẫn lại theo bám, không buông tha!”

Đó là lời người con gái ở Hố-Nai Biên-Hòa (bắc kỳ 9 nút) nói với tên bộ đội (bắc kỳ 2 nút) khi hắn theo tán tỉnh cô sau 30-4-1975. Cô là thế hệ thứ hai của một gia đình di cư vào Nam sau 20-7-1954.

Tội nghiệp cô gái bắc kỳ! Chúng tôi, những người lính thời ấy, trách nhiệm thế nào với nỗi nghẹn ngào cay đắng này của cô?

Ván bài thắng ngược! Tại sao con số 9 nút (1954) lại thua con số 2 nút (1975)? Cái gì khiến cô gái bắc kỳ này lại sợ tên bộ đội bắc kỳ kia? Trải nghiệm thực tế, đơn thuần trong sinh hoạt xã hội của “bác” Hồ trước và sau những năm 1975 để giải mã những nguyên nhân căn bản khiến con số 9 nút phải thua con số 2 nút:

Ở năm thứ 5 của đời tù tội, lần đầu tiên mẹ tôi đi thăm tôi ở trại Ba-Sao Nam-Hà, quà cho tôi thật khiêm tốn, trong đó có hai hộp sữa đặc là đáng quý nhất. Tôi nói đường xá xa xôi, mẹ mang làm chi hai hộp sữa này cho nặng, thì mẹ tôi cho biết bà mua ở Hà-Nội khi đi ngang qua. Chia tay, tôi ôm hai hộp sữa vào lòng, nghĩ tới chiều nay có được cái “ngọt ngào của cuộc đờiˮ, cái ngọt ngào đã biến mất trong suốt hơn 5 năm trong đời tù đày, mà đôi chân tôi bước đi khấp khểnh, cao thấp như đang ở trên mây.

Thế nhưng, trời sập rồi! cái đinh vừa đâm lút vào hộp sữa thì một dòng bùn đen túa ra, tôi mềm người rũ gục như một tàu lá úa. Ngồi cạnh tôi, người bạn thân trong tù đang chờ được chia xẻ, đôi mắt trợn tròn rồi rủ xuống như muốn khóc! Bóc nhãn hiệu ra, thấy cạnh hộp sữa có một vết hàn. Như thế là người Hà-Nội đã tinh vi sáng tạo: rút ruột sữa ra, bơm bùn đen vào rồi hàn lại. Quả thật (mẹ tôi), Bắc Kỳ 9 nút đã thua Bắc kỳ 2 nút!

“Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Tôi đã học cái văn hóa đó ở nhà trường. Ở nhà, trong hoàn cảnh nghèo, mẹ tôi thường nhắc nhở anh em chúng tôi phải luôn giữ cái chất“bần tiện bất năng di” ấy. Đó là cái nhân cách căn bản được giáo huấn ở học đường miền Nam Việt-Nam, ở cái đất nước mà con người hiền hòa, chân chất, đơn thuần, vô tư không ôm hận thù, không biết cướp bóc, lừa bịp, đểu cáng vv. Đó chính là cái đất nước ở phía sau vĩ tuyến 17 kia.

Còn ở miền Bắc, cái đất nước trước vĩ tuyến 17 thì sao? Người ta dạy nhau cái gì ở nhà trường và ngoài xã hội? Người ta dạy nhau rằng“bần cùng sinh đạo tặc”. Hậu quả là sau 30- 4-1975, người Bắc Kỳ, tay cầm dao, tay cầm súng, tràn vào miền Nam điên cuồng giết người cướp của, hành động của “kẻ dã man thắng người văn minh” mà nhà nữ văn sĩ C/S Hà-Nội Dương-thu- Hương đã nhận xét.

Sự thật đã chứng minh “con người ít nhiều là sản phẩm của xã hội”, vậy thì xã hội man rợ tất nhiên sản xuất ra con người dã man. Từ cái bản chất dã man này, tự nó, sinh ra tệ trạng sinh hoạt đầy tính chất nguy hiểm, độc ác, gian manh, quỷ quyệt khó lường v.v. Đó là kết quả tất yếu không cần lý giải.

Chỉ có một mẩu cá khô lấy trộm trong khi vận chuyển lương thực, ông chiến hữu của tôi miệng phải ngậm miếng cá đó, cổ đeo cái bảng viết hai chữ “ăn cắp”, đứng trước cổng trại suốt ba ngày! Miếng ăn quý hơn mạng người! Ông ngục sĩ Nguyễn-chí-Thiện khi còn sống đã nói rằng: “miền bắc thắng miền nam là do chế độ lương thực tem phiếu”. Ông đúng hay sai? Đây là câu trả lời: “Em xin anh, chúng em mà nói trên đài thì ở ngoài kia, cha mẹ và vợ con em sẽ bị cắt hộ khẩu, họ sẽ chết đói!”. Đó là lời của ba tên tù binh bị bắt trong trận đánh cuối cùng ở Long-Khánh.

Tôi còn nhớ, ngày 3/9/1978, ngày giỗ “bác” Hồ của nhân dân bắc kỳ (2 nút), tại trại giam ở Yên-Bái, địa danh có cái tên nghe rợn người: “Ma thiên lãnh!”, tù nhân được nghỉ một ngày để chuẩn bị làm giỗ “bác”. Bàn thờ được trải khăn đỏ, sau bàn treo lá cờ to, trên bàn có hình “bác”, trước “bác” đặc biệt có một mâm hoa quả bằng hình vẽ mà trước đó, nguyên một ngày, ông tù nhân Lê-Thanh, họa sĩ kiêm điêu khắc gia có tiếng trong quân đội miền Nam “thua cuộc”, đã phải vẽ trên cả chục bản để ông cai tù trưởng trại lựa chọn.

Sau khi đã nhuần nhuyễn nói về tài thao lược và đạo đức của “bác”, trưởng trại để ý thấy tù nhân xì xầm về bức họa trái cây kia, ông bèn rất là trân trọng và tự tin nói rằng: “bác thường dạy “trong đấu tranh gian khổ, tính chất khắc phục là quan trọng”, cho nên khả năng “biến không thành có, biến khó thành dễ” là thành tích luôn được biểu dương, khen thưởng”!

Giỗ “bác” hôm nay, “bác” được ăn hoa quả giấy. Quả nhiên gậy “bác” đập lưng “bác”! Phần tù nhân, nghe xong chỉ thấy họ lặng im. Tôi đoán họ đang nghĩ đến nhờ ngày giỗ “bác”, bữa ăn trưa nay được tăng thêm trọng lượng.

Ông chiến hữu (bắc kỳ 9 nút) nằm cạnh tôi kể chuyện anh: “Bọn công an (bắc kỳ 2 nút) cùng người giúp việc nhà anh, là chị đã xin nghỉ việc vài ngày sau 30/4/1975, đạp cửa bước vào và lớn tiếng hỏi anh: “lương lính, quân hàm thiếu tá, một tháng anh lãnh bao nhiêu? Anh trả lời chỉ vừa đủ sống cho hai vợ chồng và năm đứa con. Tên công an quát lớn: chỉ đủ sống thì làm sao anh có cái nhà to thế này? Đây là anh đã lấy của nhân dân, vậy bây giờ anh phải trả lại cho nhân dân. Anh có ba ngày để dọn ra khỏi căn nhà này.”

Một hơi thở dài, rồi một cơn ngủ thiếp của một ngày “chém tre, chặt gỗ trên ngàn, hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai” của ông chiến hữu (bắc kỳ 9 nút) đã thay cho phần kết của chuyện kể mà tôi thiển nghĩ, những người dân miền Nam, cái đất nước ở sau con sông Bến-Hải kia đều đã biết cái số phận căn nhà đó ra sao.

Những ngày vừa qua, nhân lễ kỷ niệm 50 năm anh em Tổng Thống Ngô-đình-Diệm bị sát hại, vài đài truyền hình có chiếu lại hình ảnh của gần một triệu người bắc kỳ (9 nút) bồng bế, gồng gánh, mang theo những chổi cùn, rế rách, luộm thuộm dắt díu nhau lên con tàu “há mồm” xuôi nam. Sau đó họ được định cư ở những vùng xa, vùng sâu, hoang vu hẻo lánh, lập nghiệp. Mơ ước cư ngụ ở giữa thành phố ồn ào, xôn xao, đối với họ chỉ là hoài bão.

Thế còn 30-4-1975, bắc kỳ (2 nút) xuôi nam thì sao? Vai đeo súng, tay cầm dao, nghênh ngang tràn vào thành phố cướp của, lấy nhà, chiếm đoạt, chễm chệ ở trong những căn nhà lớn ngay giữa thị thành. Áp đẩy khổ chủ đến vùng xa, vùng sâu có tên gọi là “kinh tế mới”! Cái tư thế “chễm chệ” kể trên, mỗi ngày một phát triển lớn, tới độ, bây giờ 38 năm sau, gần như toàn thể những thành thị ở miền nam, trên những đường phố lớn, trong những căn nhà to, chủ nhân đều là bắc kỳ (2 nút). Như vậy, chẳng phải rõ ràng bắc kỳ (2 nút) không những chỉ thắng bắc kỳ (9 nút), mà còn thừa thắng xông lên, áp đảo luôn cả những nam kỳ chủ nhà, không nút nào hay sao?

Tên công an chính trị viên, phó trại giam, tốt nghiệp viện triết học Marx, trong đối thoại về chủ nghĩa Cộng-Sản, hỏi tôi rằng “chân lý có thay đổi không?” Tôi trả lời: “đã là chân lý thì không thay đổi”. Hắn cười.

Hôm nay, hắn đúng, tôi sai. Chân lý của Marx quả đã thay đổi. Thế giới C/S của Marx đã xây dựng gần một thế kỷ, hoàn toàn sụp đổ. Học trò của Marx đã chia tay ý thức hệ với Marx, lũ lượt bỏ chạy qua vùng đất tư bản, thấy của cải vật chất phong phú thừa thãi mà chóng mặt, hoa mắt nên làm càn làm loạn”. “Hy sinh đời bố, củng cố đời con”, thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước, gia sức trấn lột, cướp bóc, lừa bịp, điên đảo, tham nhũng bừa bãi, trơ tráo tới độ vô văn hóa, vô nhân tính.

Trở lại con số 9 nút (1954) và con số 2 nút (1975) mà người ta mệnh danh là bắc kỳ cũ và bắc kỳ mới, với những chuyện xảy ra ở trên một đất nước xa Hà-Nội tới ngàn dậm này: Đất nước Hoa-Kỳ.

“Này chị kia, ở nước Mỹ chợ nào cũng có chỗ cất shopping- car, sao chị lại bỏ bừa sau xe của tôi?ˮ “Cứ tự nhiên như ở Hà-Nội!ˮ, “Nhà tôi” (bắc kỳ 9 nút), bực mình la lớn. Hai bà (bắc kỳ 2 nút) tỉnh bơ, nổ máy xe biến mất. Còn lại là hai tôi, mỗi người đẩy một xe đưa vào chỗ cất.

Một lần khác, người bạn tôi kể rằng “Đi chợ, mua vội, tay chỉ cầm có hai gói cà-phê, đang xếp hàng chợt một chị bắc kỳ (2 nút) chen ngang vào đứng trước anh, anh phản đối thì chỉ hỏi lại: “xe của ông đâu?” Anh giận quá la lớn: “Đây là ở nước Mỹ, mua nhiều hay ít đều phải xếp hàng chứ không phải ở Hà-Nội của chị”.

Tại một nhà hàng, cháu gái của tôi cầm tờ biên lai tính tiền do bạn trai là người Mỹ trả, tới nói với người thâu ngân rằng: “chúng tôi gọi hai tô bún thịt nướng chứ đâu phải chả cá thăng-long mà tính nhiều thế này?” thì được thâu ngân viên buông gọn một chữ “nhầm”, rồi đếm tiền hoàn lại, không một lời xin lỗi. Tôi đoán chắc người Hà-Nội, chủ nhân (2 nút) tưởng Mỹ khờ khạo (đã bị bác và đảng đánh bại), nên mập mờ đánh lận con đen.

Trên đường về nhà, dọc hai bên đường, ở giữa lòng cái thủ đô có tên Little Saigon này, lác đác những căn nhà to như dinh thự mà người Hà-nội đã bỏ tiền triệu để sở hữu một cách ngạo nghễ, khiến tôi chợt nhớ đến ông chiến hữu bại trận của tôi năm xưa đã phải “trả nhà cho nhân dân” (nhân dân Hà-Nội), mà xót xa!

Tôi miên man tự hỏi, chẳng lẽ từ niềm tự hào “đánh thắng hai đế quốc lớn” của người Hà-Nội đang được thể hiện một cách ngang ngược, lỗ mãng, vô văn hóa ngay giữa cái thủ đô của người Việt tị nạn trên đất nước Hoa-Kỳ này đến vậy sao? Lý do gì họ có mặt nơi này? phần đất nơi cư ngụ cuối cùng, mà những người hoảng sợ đã phải bỏ nhà bỏ của để chạy xa họ? Tôi đang nghĩ đến người con gái bắc kỳ (9 nút) ở đất Hố-Nai Biên-Hòa năm xưa. Tôi ước ao được gặp lại cô ở nơi này, nơi cư ngụ cuối cùng của những người kinh hoàng, hoảng hốt bỏ lại quê hương, chạy trốn những kẻ bạo tàn! Tôi muốn lại được nghe cô nói rằng “Các anh hãy đi cho khuất mắt tôi, tôi đã sợ các anh quá rồi, chạy xa các anh tới nửa vòng trái đất mà các anh vẫn không buông tha!”

Ông nhà văn Hoàng-hải-Thủy của miền nam cũ, mới đây cay đắng than rằng “Nếu một ngày nào đó trên đất nước Hoa-Kỳ này, giữa nơi ở của những người Việt tị nạn có phất phới lá cờ đỏ sao vàng thì xin cho tôi được chết trước!” Nghe mà xót xa cay đắng quá! Mong là con bài 2 nút sẽ không thắng ngược 9 nút thêm lần nữa!

VỀ CA KHÚC “GÁI XUÂN”

VỀ CA KHÚC “GÁI XUÂN”

Có thể nói nhạc xuân là một phần quan trọng của việc đón xuân. Nhất là đối với những kẻ tha hương. Ngày xưa, Tết đi đôi với mai vàng, pháo nổ, bánh chưng, hạt dưa, đánh bài, xông đất, hái lộc. Từ khi có cassette, rồi băng nhạc, rồi video, rồi CD, rồi DVD, thì nhạc – và nhạc xuân – đã đi vào từng ngõ ngách của đời sống.

Nghe nhạc xuân không giống như nghe nhạc tình hay nhạc êm dịu. Nhạc xuân không để nghe một mình. Nhạc xuân không để ru dỗ giấc ngủ. Nhạc xuân là cái gì chung, phải mở lớn ra cho mọi người cùng nghe. Đã thế, không phải là ngồi yên lặng mà phải vừa nghe vừa làm một cái gì đó. Chẳng hạn như nhậu, đánh bài, nấu nướng, cúng quẫy, trò chuyện râm ran về xuân hoặc dọn dẹp nhà cửa. Nhạc xuân có tính chất “hâm nóng” thêm không khí Tết. Nó lan tỏa mọi nơi, chan hòa.

Tuy nhiên, nhạc xuân từ sau năm 1975 rất nhiều ca khúc của các nhạc sĩ viết về xuân. Nhưng lại rất ít bài khi nghe mà lòng mình thấy nôn nao xuân về, mặc dù trong ca từ nhắc đến từ xuân rất nhiều, nhưng vẫn không thấy xuân… Đó là điều đáng buồn…

Và ngược lại hầu hết những ca khúc xuân đi vào lòng người yêu nhạc lại nằm ở thời điểm sáng tác trước năm 1975 rất bất hủ, mỗi khi nghe, lòng người thấy rộn ràng, tươi trẻ…mọi điều phiền muộn đều được cởi bỏ ra khỏi tâm hồn mình và có cảm giác như mùa xuân đang đến bên lưng….

Về ca khúc Gái Xuân

“Em như cô gái hãy còn xuân. Trong trắng thân chưa lấm bụi trần…”.

“Gái xuân” nay đã 69 tuổi. Nhưng sức hút của ca khúc này như cô gái tuổi “teen”, vẫn trẻ mãi không già, cho dù người thi sĩ sinh ra “cô” đã hóa thành người thiên cổ từ lâu, và người nhạc sĩ nuôi nấng/tô điểm cho “nàng” giờ đây đã bước sang tuổi 90. Có thể nói, trong danh mục bài hát Việt, nói về mùa xuân, ngày càng dài thêm, thì “Gái Xuân” vẫn là một trong những nhạc phẩm đặc sắc nhất.

Hát thì cứ hát, nghe thì cứ nghe, nhưng có mấy người biết “Gái Xuân” đã ra đời như thế nào? Phần lớn, người ta chỉ biết “Gái xuân” là một trong những bài thơ hay của thi sĩ Nguyễn Bính, được phổ nhạc một cách xuất thần. Nhưng ít ai biết, người đã thổi âm điệu cho hồn thơ đó bay cao chính là Từ Vũ.

Tên khai sinh của Từ Vũ là Trần Đỗ Lộc. Ông sinh năm 1932 tại Thường Tín, Hà Đông (nay là Hà Tây, Hà Nội). Năm 1950, ông theo gia đình vào Nam sinh sống.

Mùa xuân năm 1953, chàng trai Từ Vũ tròn 21 tuổi, sống kiếp tha phương giữa đất Sài Gòn hoa lệ, không có gia đình, người thân, bạn bè bên cạnh. Ông nằm trên gác trọ tìm quên nỗi buồn bằng sách báo cho vơi nỗi nhớ nhà. Bất chợt ông tìm thấy trong đống sách báo lộn xộn đó tập thơ “Mây Tần” của thi sĩ Nguyễn Bính. Khi đọc đến bài “Gái xuân”, một bài thơ rất ngắn, chỉ vỏn vẹn 2 khổ, 8 câu, ông đã rung động tận đáy lòng. Nhạc sĩ Từ Vũ nói: “Tôi không thể nén được cảm xúc khi đọc câu “Gái xuân giũ lụa trên sông Vân”.

Đích thị đây phải là một cô gái Hà Đông, quê tôi. Bởi lẽ, không chỉ lụa Hà Đông đã nổi tiếng từ ngàn xưa trên đất Bắc, mà gái Hà Đông cũng nổi tiếng đẹp đẽ, ngoan hiền, dịu dàng như lụa. Chẳng kém cạnh gì những cô gái quan họ Bắc Ninh. Rồi thì “…Đôi tám xuân đi trên mái tóc/ Đêm xuân cô ngủ có buồn không?”. Thi sĩ Nguyễn Bính đã diễn tả tâm trạng cô gái quá tài tình. Tôi đọc đi, đọc lại bài thơ dăm ba lần là “ngấm” ngay vào máu, vào tim. Trong giây phút xuất thần, tôi viết ngay một mạch, không chỉnh sửa gì cả. Thế là thành nhạc phẩm “Gái xuân”. Ông quả quyết: “Mọi lãnh vực sáng tác, kể cả âm nhạc đều tùy vào “thần hứng”. Không phải lúc nào cái giây phút thăng hoa, khiến tâm hồn mình bay bổng cũng đến. Một đời, đôi khi “thần hứng” chỉ đến một đôi lần, nếu không kịp ghi lại cảm xúc tuyệt vời đó là coi như chẳng có được gì”.

Nhạc sĩ tiết lộ: “Có một điều, nguyên tác ‘Gái xuân’ của Nguyễn Bính ngắn quá”:

Khi phổ nhạc, chẳng lẽ cứ lặp đi, lặp lại bấy nhiêu lời. Thành thử Ông mạn phép tác giả, thêm 2 câu trong khổ thơ này:

Xuân đi. Xuân đến hãy còn xuân,

Cô gái trông xuân đến bao lần.

Sau khi hoàn thành “Gái xuân” cho đến khi bài hát được thịnh hành rồi đi vào lòng công chúng, mãi mãi tôi không một lần được gặp Nguyễn Bính để nói với ông một vài lời. Lòng tôi áy náy lắm! Không biết thi sĩ có gì trách móc hay không?

Không ai có thể nói thay Nguyễn Bính, 2 câu mà ông thêm vào nghe cũng rất … Nguyễn Bính, và cũng chẳng kém phần tài hoa, đã nhập với toàn bộ bài thơ một cách hài hòa. Do đó, chắc Nguyễn Bính cũng vui lòng, bởi sự thêm thắt không làm mất đi giá trị của nguyên bản.

Từ Vũ có đến 20 ca khúc, và một số bài hát ngoại quốc do ông đặt lời Việt. Tuy nhiên, nhắc đến ông, người ta chỉ nghĩ đến “Gái xuân”. Ca khúc này đã đưa ông lên hàng “chiếu trên” của làng âm nhạc VN.

“Gái xuân giũ lụa trên sông Vân”

Chúng ta chắc đều thắc mắc không biết Sông Vân ở đâu? – Trả lời khi được phỏng vấn Nhạc sĩ cho đó là một dòng sông rộng lớn và rất đẹp chảy qua làng Vân Tử, phủ Thường Tín, Hà Đông, nơi các cô gái thường đến giũ lụa (Hà Đông). Nhưng theo thời gian vật đổi sao dời, hiện nay chỉ còn là một làn nước chảy.

Vân cũng là tên người con gái ông yêu (Thanh Vân), mặc dù chỉ trong một niên học, mà ông muốn viết bài hát này để tặng cô ấy, nhưng sau đó cô ta đã xuất ngoại.

Một ca khúc được nhiều ca sĩ thuộc nhiều thế hệ nối tiếp hát, mỗi người một chất giọng, một phong cách khác nhau, nhưng hầu hết họ đều thể hiện thành công. Đó chính là điểm đặc sắc của Từ Vũ. Nói như giọng hát vượt thời gian Thái Thanh: “Bởi vì tự thân “Gái Xuân” quá hay, khó mà hát dở cho được”. Khởi thủy, Từ Vũ viết “Gái Xuân” bằng điệu Tango dồn dập, lôi cuốn một cách sang trọng. Nhưng về sau, nhiều ca sĩ lại chuyển sang điệu Rumba, rồi Chachacha, với tiết tấu trẻ trung, phần phối âm, phối khí hiện đại, đã khoác cho ca khúc này một chiếc áo mới. Từ Vũ nhận xét: “Sự chuyển thể này tôi nghe cũng thấy hay, rộn ràng và tươi trẻ hơn. Vấn đề là vẫn giữ được cái hồn và tình cảm của ca khúc”.

Điều đặc biệt “Gái xuân” là nhạc phẩm mang âm hưởng miền Bắc đã trở thành món ăn tinh thần được yêu quý ở miền Nam. Từ ca sĩ đến người dân miền Nam chưa một lần đặt chân đến đất Bắc nhưng vẫn hào hứng hát: “Xuân đến hoa mơ hoa mận nở/ Gái xuân rũ lụa bên sông Vân”. Chính ca khúc này đưa nhạc sĩ Từ Vũ ngang hàng với các nhạc sĩ nổi tiếng ở thế hệ trước. gần 70 năm sau, ca khúc “Gái Xuân” vẫn sống khỏe qua các thế hệ ca sĩ và trở thành một nhạc phẩm thân thuộc không thể thiếu trong dịp tết đến xuân về từ Nam ra Bắc.

Theo lời kể của nhạc sĩ Từ Vũ khi ra mắt “Gái Xuân”, ông đã nhờ nữ ca sĩ Linh Sơn hát đầu tiên, nhưng ông không lấy làm hài lòng cho lắm. Một hôm, tình cờ gặp nữ ca sĩ Tâm Vấn, bà trách ông sao không tặng bà bài “Gái Xuân”? Ông đã viết vội ca khúc này lên một mảnh giấy và trao cho Tâm Vấn. Sau đó, Từ Vũ theo gia đình ra Phan Thiết và chưa được nghe Tâm Vấn hát một lần nào cả. Nhưng theo lời bạn bè kể cho ông thì Đài Phát thanh Sài Gòn đã thường xuyên phát đi, phát lại ca khúc “Gái xuân” với tiếng hát Tâm Vấn, rất được công chúng ưa thích.

Một buổi tối cuối năm 1953. Từ Vũ rảo bước lang thang trên dường phố Phan Thiết, bỗng dưng từ loa phóng thanh công cộng của Ty Thông tin Phan Thiết, tiếp sóng Đài Phát thanh Huế vang lên điệu nhạc Tango của bài “Gái Xuân” qua tiếng hát của nữ ca sĩ Diệu Hương. Từ Vũ đã xúc động đến trào nước mắt. Đó là lần đầu tiên Từ Vũ gặp lại đứa con tinh thần của mình kể từ khi ông cho nó ra đời. Dù ông không biết Diệu Hương là ai, và đó là lần đầu ông mới nghe tên, thế mà cứ thẫn thờ, tiếc nuối! Biết bao giờ mới được nghe lại thêm lần nữa. Tối hôm đó, Từ Vũ không chợp mắt được. Ông nằm thương nhớ “Gái Xuân” vang vọng mãi trong hồn giọng hát từ xứ Huế xa xôi.

Sau Linh Sơn, Tâm Vấn, Diệu Hương, đến lượt Thái Thanh, Sĩ Phú, Lệ Thu, Khánh Ly, Thanh Lan, Hoàng Oanh, Lan Ngọc, Hương Lan, Băng Tâm, Ý Lan, Ánh Tuyết… và nhiều ca sĩ danh tiếng của thế hệ kế tiếp như: Trang Nhung, Quang Linh, Cẩm Ly, Hiền Thục, Hồng Ngọc, ban tam ca Áo Trắng, ban tam ca 3A…cũng hát “Gái Xuân”. Nhất là vào dịp tết, cùng với “Ly Rượu mừng”, “Xuân và Tuổi trẻ”, “Gái Xuân” là 3 ca khúc kinh điển, luôn vang lên trong từng mái ấm gia đình VN ở trong nước cũng như nhiều nơi trên khắp thế giới. Khi nghe ban tam ca Áo Trắng tập bài “Gái Xuân”, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói: “Hồi mới lớn, ‘moa’ đã rất thích bài này. Có thể nói, tết mà thiếu ‘Ly Rượu mừng’, ‘Xuân và tuổi trẻ’, ‘Gái xuân’ là đã mất đi một nửa mùa xuân”. 

– Đầu xuân 20022, mời các bạn nghe NGÂM THƠ Gái Xuân:

https://www.youtube.com/watch?v=D1QzJEo4tM4

Và xuân Nhâm Dần – tết con cọp, mời thưởng thức Gái Xuân (Ý Lan):

https://www.youtube.com/watch?v=W_jtxllV7v0

VĂN KÝ tổng hợp

From: TU-PHUNG

Tình cờ gặp thượng đế

Tình cờ gặp thượng đế

  Đối với cuộc đời mỗi người, quan trọng nhất là: biết yêu thương, trân trọng và thứ tha cho những người chung quanh lẫn cả bản thân mình.

Một hôm, Thượng đế ghé xuống thăm trần gian, thì gặp một nhà hiền triết đang nghiên cứu vấn đề đời người. Thượng đế đi đến trước mặt nhà hiền triết dưới hình dạng một ông lão và nói:

– Ông cũng không hiểu nổi sự đời, vậy chúng ta cùng nhau tìm hiểu được không? Chúng ta chỉ bàn luận về sự đời, xong rồi tôi sẽ đi, không cần nói những vấn đề khác.

Nhà hiền triết dù không biết cụ già đang đứng trước mình là ai, nhưng vẫn chấp nhận trò chuyện cùng ông lão lạ mặt. Nhà hiền triết nói:

– Tôi đang suy ngẫm về con người, cụ à. Càng tìm hiểu, tôi càng cảm thấy con người là một động vật đặc biệt. Đôi lúc rất thông minh, nhưng đôi lúc lại vô cùng ngu dốt, lại thường đánh mất lý trí khi gặp vấn đề lớn.

Thượng đế cảm khái:

– Điểm này tôi đồng ý, họ ghét thời gian tốt đẹp lúc nhỏ, vội vàng trưởng thành, nhưng trưởng thành rồi lại muốn cải lão hoàn đồng. Lúc khỏe mạnh thì họ không biết trân trọng sức khỏe, luôn muốn dùng sức khỏe đổi lấy tiền tài, sau đó lại lấy tiền tài mua sức khỏe. Họ luôn lo lắng về tương lai, nhưng lại thờ ơ với hiện tại, kết quả là không thể sống ở cả hiện tại lẫn tương lai. Họ sống theo cách tưởng chừng không bao giờ chết, nhưng lúc chết đi thì giống như chưa từng sống, còn có người nói đời người như một giấc mộng…

Nhà hiền triết nhận thấy lý luận của người đang đối thoại với mình rất sâu sắc, liền nói:

– Nghiên cứu vấn đề cuộc đời con người phải chăng sẽ rất phí thời gian? Cụ nghĩ thế nào?

– Với riêng tôi, thời gian là vĩnh hằng. Tôi nghĩ nếu con người thật sự hiểu được giá trị của thời gian, cũng sẽ hiểu rõ sự đời…

Nhà hiền triết im lặng lắng nghe. Sau đó ông yêu cầu cụ già rút ra kết luận về đời người. Thượng đế móc từ trong túi áo ra một cuốn sách dày, bên trên có viết mấy dòng chữ:

“Làm người hãy nhớ rằng không thể làm vừa lòng tất cả mọi người. Quan trọng nhất không phải có được gì, mà là sống như thế nào và có được bạn bè thế nào.

Sự giàu có không phải là chiếm hữu nhiều thứ mà là khi có ít lòng tham.

Làm tổn thương một người chỉ cần vài giây, nhưng muốn chữa lành vết thương phải mất rất nhiều thời gian. Có người yêu bạn thật lòng nhưng lại không biết bày tỏ thế nào.

Yêu thích một đóa hồng không nhất thiết phải cắt hết gai của nó. Nếu không muốn bản thân bị tổn thương thì cũng đừng nên làm tổn thương người mình yêu thương.

Thứ quý báu nhất mà tiền không thể mua được chính là hạnh phúc.

Tha thứ cho người khác hay được người khác tha thứ vẫn chưa đủ, ta còn phải biết tha thứ cho bản thân.

Và quan trọng nhất: Đôi khi cần biết bỏ qua, bỏ qua được thì sẽ đổi thay được”.

Nhà hiền triết xem xong, cảm động nói:

– Chỉ có Thượng đế mới có thể…

Ông ngẩng đầu lên thì cụ già đã biến mất rồi.

(Theo hatgiongtamhon)

From: TU-PHUNG

Trí thức là ai?

Trí thức là ai?

Nguyễn Văn Tuấn

Giáo sư Y khoa, Đại học New South Wales

Lâu nay, khái niệm trí thức thường bị hiểu thiên lệch vì nhuốm màu bằng cấp.

Tôi thấy nhiều khi công chúng dùng chữ “trí thức” để chỉ người có bằng đại học trở lên. Nhưng cách hiểu đó có lẽ chưa đúng.

Có những nhóm người Việt trong và ngoài nước lấy từ “trí thức” làm tên diễn đàn, hội của họ. Vì họ cho rằng các thành viên là người có bằng cấp, một số giữ các chức vụ khoa bảng, học hàm, học vị cao. Nhưng vài người trong đó chia sẻ với tôi, họ vẫn cảm thấy dè dặt tự nhận mình là trí thức. Theo họ, đó là một đại ngôn.

Tuy nhiên, nếu đã hiểu ý nghĩa của khái niệm trí thức thì những người có bằng cấp cao cũng có lý do để dè dặt hơn khi tự xem mình là trí thức.

Tôi tìm hiểu, chữ “trí thức” xuất hiện lần đầu ở Việt Nam vào đầu thập niên 1930 trong cuốn Từ điển Pháp – Việt do Đào Duy Anh biên soạn. Ông dịch chữ intellectuel là “trí thức”.

Trí thức có thể hiểu là người làm cho xã hội lúc nào cũng thức tỉnh. Để làm cho xã hội thức tỉnh, người trí thức phải hội đủ ba yếu tố: có kiến thức, nhiều ý tưởng mới, giá trị và tự nguyện dấn thân. Tôi thấy cách dịch của cụ Đào Duy Anh rất hay và đúng.

Hiểu theo nghĩa đó, người làm cho xã hội thức tỉnh không nhất thiết phải có bằng cấp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư hay danh hiệu khoa bảng. Nghệ sĩ, nhà văn, nhà báo, bác sĩ, nhà giáo, nhà khoa học, nhà sư, linh mục, doanh nhân… đều có thể là trí thức. Chúng ta có thể nghĩ ngay đến những vị tiền nhân như Phan Châu Trinh, Phan Khôi, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng… Họ là những trí thức tiêu biểu của đất nước.

Đó là những người đã làm cho xã hội thức tỉnh. Đọc lại những bài nghị luận và sách của cụ Phan Châu Trinh, ta dễ dàng nhận ra ông đã dùng ngòi bút của mình để phê phán lối học cũ và lề lối lạc hậu làm kìm hãm dân tộc hàng ngàn năm. Ông phê phán những quan chức quan liêu. Dù ông đã qua đời gần 100 năm, nhưng chúng ta vẫn ngưỡng phục phong trào “Khai dân trí, chấn dân khí và hậu dân sinh” của ông. Có thể còn người đương thời không đồng tình với ông, nhưng vai trò làm thức tỉnh xã hội của một trí thức thời nào cũng rất đáng trân trọng và noi gương.

Bản chất của trí thức là hoài nghi lành mạnh. Họ hay nhìn ra nhiều vấn đề. Họ thường không hài lòng hoàn toàn với cách giải quyết trong hiện tại và lúc nào cũng suy tư, tìm ý tưởng, giải pháp tiến bộ hơn cho tương lai. Do đó, họ muốn xã hội nếu không đồng trăn trở với họ cũng thừa nhận và tôn trọng các ý tưởng tiến bộ.

Có thể ví vai trò của đội ngũ trí thức như người kiến tạo hệ thống miễn dịch tư duy cho xã hội. Họ làm được việc này bằng cách thách thức những ý niệm và lề lối được xem như chân lý. Họ giúp xã hội cảnh giác trước những đe doạ manh nha và thách thức mới, đôi khi tinh vi.

Người trí thức thường là những kẻ “vượt rào” và quan tâm cả đến những vấn đề ngoài chuyên môn của họ. Noam Chomsky là nhà ngôn ngữ học, nhưng ông rất nổi tiếng qua những bài nghị luận chính trị. Ông dùng sở trường ngôn ngữ để phân tích về chính sách ngoại giao và đấu tranh cho tự do tư tưởng, được ghi nhận là nhà tư tưởng lớn giai đoạn hiện đại. Albert Einstein là nhà vật lý học lừng danh, nhưng ông rất nổi tiếng vì những hoạt động liên quan đến chính sách, nhân đạo và xiển dương hòa bình. Họ chính là những nhân tố giúp thế giới thay đổi tốt hơn.

Ngược lại với trí thức, trong thực tế, hàng nghìn người có bằng cấp đại học không phát huy vai trò của trí thức. Họ coi bằng cấp là công cụ để tiến thân hay cơ bản nhất là để có việc làm, thu nhập, lấy cái oai trước người khác. Nhiều người còn liên kết với nhau để tìm danh và lợi chứ không bao giờ muốn “đánh thức xã hội”.

Một số người tìm đến bằng cấp như một phương tiện để có chức vụ. Mục tiêu của họ là chức quyền chứ không hẳn vì tiến bộ xã hội, cũng chẳng vì giáo dục hay khoa học.

Có những người với bằng cấp cao lại hay phụ hoạ quan điểm của người có quyền dù quan điểm đó bị đa số công chúng phản đối hoặc không tốt cho sự phát triển chung của cộng đồng. Tôi nghĩ họ không phải trí thức chân chính – hiểu theo nghĩa những người không ngần ngại nói ra suy nghĩ thật của mình và không chấp nhận vai trò bợ đỡ người có quyền, có tiền.

Không ít người có bằng cấp cao chọn im lặng trước bất công xã hội, nhưng tự an ủi bằng ngữ vựng nằm lòng là “tập trung làm tốt chuyên môn”. Lại có những “diễn đàn” mang danh giới trí thức, tinh hoa của xã hội nhưng thực chất là nơi nhiều người đấu tố nhau, đưa ra những nhận xét thiếu tính chuyên nghiệp. Họ không đáp ứng ba thành tố của người tinh hoa.

Vào thế kỷ 15, học giả nổi tiếng của Việt Nam là Thân Nhân Trung nhận định “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Câu nói vẫn luôn đúng cho thời nay. Phẩm chất của cộng đồng trí thức có thể phản ánh mức độ hưng thịnh của một quốc gia.

Trí thức đúng nghĩa sẽ có đất dụng võ – đánh thức xã hội khi được mọi người thấu hiểu và tôn trọng vai trò của họ. Đồng thời, xã hội sẽ kiến tạo cho họ một thể chế dung nạp và môi trường tự do học thuật, nơi trí tuệ tinh anh trưởng thành.

N.V.T.

THAY ĐỔI BẢN THÂN ĐỂ ĐỔI THAY THẾ GIỚI

THAY ĐỔI BẢN THÂN ĐỂ ĐỔI THAY THẾ GIỚI

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Ngày xửa ngày xưa, có một vị vua cai quản một vương quốc rộng lớn bao la. Ông muốn đích thân đi thăm những miền xa xôi của đất nước.  Khi về đến nhà, đôi bàn chân ông sưng tấy và đau đớn, vì đường xá gập ghềnh sỏi đá.  Ông liền ra lệnh tất cả các con đường trong vương quốc phải trải bằng da lông thú để nếu ông đi thăm vương quốc thì chân ông không còn bị đau.  Cả triều đình đều thấy đó là một điều vô lý, nhưng chẳng ai dám lên tiếng.  Sau cùng, có một vị quan dũng cảm đã nói với vua: “Tâu bệ hạ, tại sao vương quốc của chúng ta lại phải tiêu tốn ngân khố một cách vô ích như vậy?  Tại sao bệ hạ lại không cho cắt những miếng da bò rồi phủ quanh đôi chân trần của mình?  Như vậy, chân Người sẽ không còn bị đau khi đi qua những con đường gập ghềnh sỏi đá, mà cả vương quốc sẽ tiết kiệm được thời gian và tiền bạc?”  Nhà vua rất ngạc nhiên trước lời đề nghị của vị quan, và thế là đôi giày da đầu tiên của nhân loại ra đời.

Có nhiều người muốn bắt cả thế giới theo mình, trong khi nếu mình thay đổi cách sống và quan niệm cá nhân, thì sẽ cảm nhận thế giới hoàn toàn khác.  Thay đổi bản thân, trong ngôn ngữ của Tin Mừng, là thành tâm sám hối.  Ngôn sứ Giona được Chúa sai đến thành Ninivê để kêu gọi dân thành sám hối.  Vào thời đó, thành phố này có tiếng là tội lỗi và hung bạo, đến nỗi khi ông Giona nghe thấy Chúa sai mình đến đó thì tìm cách chạy trốn vì sợ hãi.  Nhưng lạ thay, khi nghe lời Giona rao giảng, mọi người, từ vua cho tới dân đã ăn chay sám hối theo lệnh của vua.  Nhờ lòng sám hối, dân thành đã không bị án phạt giáng xuống.

Chúa Giêsu khởi đầu sứ mạng loan báo Tin Mừng bằng lời kêu gọi sám hối.  Lời kêu gọi này còn được lặp đi lặp lại nhiều lần, ở mọi nơi Người đặt chân tới.  Sám hối là một phần quan trọng của giáo huấn Tin Mừng.  Lời kêu gọi sám hối của Chúa Giêsu đi liền với lời mời gọi tin vào Tin Mừng Người rao giảng.  Tin vào Tin Mừng là nhận biết Chúa Cha, đấng bao dung nhân hậu.  Ngài luôn chờ đợi chúng ta trở về để đón nhận sự tha thứ.  Tin Mừng kể lại có những người rất tội lỗi, nhưng đã mở lòng đón nhận giáo huấn của Chúa và được ơn thứ tha.  Lịch sử Giáo Hội cũng làm chứng cho chúng ta, rất nhiều tội nhân đã sám hối và được nên thánh.

Sám hối là khiêm tốn nhìn nhận những sai sót lỗi lầm của mình, đồng thời hứa với Chúa sẽ thay đổi cuộc sống của mình nên tốt hơn.  Một khi chúng ta thay đổi cuộc sống và thay đổi cách nhìn của mình đối với những người xung quanh, chúng ta sẽ nhận ra những điều tốt đẹp nơi người khác.  Thay đổi cuộc sống sẽ giúp chúng ta thấy cuộc đời lạc quan  đáng yêu hơn, đồng thời thúc đẩy chúng ta đóng góp phần mình để nhân lên những điều thiện hảo trong cuộc sống.  Giống như vị vua trong câu chuyện trên đây, khi ông bọc đôi chân bằng miếng da bò, thì đi đâu cũng thấy êm ái và sạch sẽ.  Khi trong tâm trí chúng ta có những tâm tình tốt đẹp, chúng ta sẽ  khám phá những nét đẹp tiềm ẩn nơi mọi người mọi vật xung quanh.

Sám hối còn là đoạn tuyệt với quá khứ để khởi đầu một hành trình mới theo chân Đức Giêsu.  Thánh Máccô kể với chúng ta trong Tin Mừng hôm nay về việc Chúa gọi các môn đệ đầu tiên.  Anrê và Simon, Giacôbê và Gioan là những người đã can đảm từ bỏ cuộc sống cũ để khởi đầu một hành trình mới.  Tiếng gọi “Hãy theo tôi” có sức thuyết phục kỳ diệu, khiến các ông sẵn sàng từ bỏ những người thân yêu và nghề nghiệp bao năm gắn bó.  Sau này, nhiều khi phải đối diện với những khó khăn, chống đối và thiếu thốn, nhưng các ông không hề hối tiếc vì sự lựa chọn này: “Thưa Thày, bỏ Thày thì chúng con biết đến với ai?  Thày mới có những lời ban sự sống đời đời” (Ga 6,67).

Cũng như một cỗ máy cần được bảo dưỡng luôn luôn, cũng như những cây nho cần được thường xuyên cắt tỉa, tâm hồn chúng ta phải được thanh tẩy mỗi ngày, để nhờ đó, chúng ta được biến đổi, nên giống Chúa hơn.  Lời kêu gọi thay đổi cuộc đời luôn âm vang trong cuộc sống của người tín hữu chúng ta.  Đây không phải là một khẩu hiệu, mà là một lời khuyên rất thiết thực, vì “thời gian chẳng còn bao lâu.”  Thánh Phaolô đã dùng cách nói rất cụ thể để nói với chúng ta hãy lựa chọn những điều tốt nhất và lâu bền cho mình, bởi vì bộ mặt thế gian này đang qua đi, nên “những ai có vợ hãy sống như không có; ai khóc lóc hãy làm như không khóc; ai vui mừng như chẳng mừng vui; ai mua sắm, hãy làm như không có gì cả…”.

“Mỗi vị thánh đều có một quá khứ; mỗi tội nhân đều có một tương lai.”  Đừng có ai mặc cảm về đời sống của mình mà không mạnh dạn thay đổi cuộc đời.  Nếu mạnh dạn tiến bước, chúng ta chẳng còn là tội nhân, mà sẽ là những vị thánh, nhờ lòng bao dung thứ tha và ơn phù trợ của Thiên Chúa.  “Tâm bình, thế giới bình,” cuộc đời này sẽ thay đổi, khởi đi từ sự thay đổi trong chính con người mỗi chúng ta.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

Con người được dựng nên theo “hình ảnh Thiên Chúa” nghĩa là gì?

Con người được dựng nên theo “hình ảnh Thiên Chúa” nghĩa là gì?

Mến chào ngày mới trong tinh thần hiệp thông, biến đổi để nên thánh trong Chúa Giê-su Ki-tô và Mẹ Maria. Uớc mong những gì “tốt nhất” đến với bạn và gia đình hôm nay nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 14/01/2022

GIÁO LÝ: Con người được dựng nên theo “hình ảnh Thiên Chúa” nghĩa là gì? Nghĩa là, con người không như các loài vô hồn, đất đá, cây cỏ, con vật. Con người có phần linh thiêng. Nhờ đặc tính linh thiêng, con người được gần gũi với Thiên Chúa hơn các thụ tạo hữu hình khác, và chỉ riêng con người có thể nhận biết Đấng Tạo dựng nên họ và có thể yêu mến Người. (YouCat, số 58)

SUY NIỆM: Con người không phải một sự vật, mà là một người. Cũng như ta nói Thiên Chúa là một ngôi vị thì Ta cũng nói con người là ngôi vị. Một người có thể suy tư vượt ra khỏi phạm vi sát kề mình, và đo kích thước bao la của mọi vật hiện hữu. Họ cũng có thể lùi lại để đánh giá nghiêm chỉnh và tác động trên chính họ. Họ có thể coi người khác như những ngôi vị, khám phá phẩm giá của họ và yêu thương họ. Trong các thụ tạo hữu hình, chỉ một mình con người là có thể nhận biết và yêu mến Đấng tạo dựng nên mình (Vatican II, Gaudium et Spes 12,3). Vì thế, con người được dựng nên để sống tình nghĩa với Thiên Chúa (Ga 15,15). (YouCat, số 58 t.t)

❦ Hãy nhìn nhận rằng bạn là hình ảnh của Thiên Chúa và hãy xấu hổ vì đã bao bọc nó bằng một hình ảnh xa lạ. (Thánh Bernard de Clairvaux)

LẮNG NGHE: Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra và họ biết Thiên Chúa. (1 Ga 4:)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa vì đã ban cho con khả năng tự biết mình, tự làm chủ lấy mình và tự do tự hiến và thông hiệp với người khác. Xin cho con biết tật dụng hết những khả năng và sự tự do Chúa ban để thật lòng đón nhận ưu khuyết điểm của người khác, sống hoà thuận và yêu thương để cùng nhau xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn mỗi ngày.

THỰC HÀNH: Ngày hôm mời bạn làm 2 điều đáng ghét sau đây:

(1) Phải tránh xa dịp tội, gương mù gương xấu để chính mình khỏi vấp ngã.

(2) Đừng bao giờ làm dịp tội hay gương mù gương xấu cho người khác.

From: Đỗ Dzũng

Đúng là “Thời loạn”!

Đúng là “Thời loạn”!

Bởi  AdminTD

Nguyễn Như Phong

14-1-2022

Bốn năm trước, tôi có viết cuốn tiểu thuyết mang tên ‘Thời loạn’.

Cuốn tiểu thuyết nói về những “doanh nhân” mà để làm giàu, họ không từ một thủ đoạn nào. Thủ đoạn từ mưu mô thổi giá chứng khoán, buôn lậu vàng, thâu tóm đất đai đến đòi nợ thuê, rồi cả giết người… Những cuộc tình đầy toan tính và éo le. Các biên tập viên của Nhà xuất bản CAND đọc rất thích nhưng cứ băn khoăn về chữ “Thời loạn”, bởi nó “nhạy cảm”. Xã hội ta đang tươi roi rói, cơ đồ sáng choang thế này, đi đâu cũng thấy cờ hoa biểu ngữ đỏ rực thế này mà lại bảo “Thời loạn”, nghe rất không được. Thôi vậy, thế thì đổi tên.

Bàn đi tính lại mãi với nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ, cuối cùng đổi thành “Kim Tiền”, và cuốn tiểu thuyết đã đạt giải B cuộc thi Tiểu thuyết, Truyện ký của Bộ Công an và Hội Nhà văn năm 2020. Cuốn tiểu thuyết cũng chuyển thành kịch bản phim hình sự, nhưng chả ai dám đầu tư vì đây không phải là “hàng chợ”, đầu tư làm phim khá tốn tiền, phải gấp ba, gấp bốn lần phim “Thị trường” hiện nay.

Nói lằng nhằng một tý về cuốn sách. Nhưng giờ mới thấy thời buổi này đúng là “Thời loạn” thật. Đúng là “Thời loạn” khi mà liên tiếp xảy ra những vụ cha mẹ đánh chết con thơ. Con cái đánh chết cha mẹ.

Đúng là “Thời loạn” thật, khi mà nhiều ông to bà lớn, mới hôm trước còn lên bục răn dạy thiên hạ, thì ít hôm sau lại thấy “ăn năn, hối lỗi”.

Đúng là “Thời loạn” thật, khi mà xảy ra những vụ như Việt Á, lợi dụng dịch bệnh để kiếm chác, mà lại được tặng thưởng Huân chương mới là “loạn” chứ?

Đúng là “Thời loạn” thật, khi mà có không ít doanh nhân vừa mới lên diễn đàn thể hiện “lòng yêu nước vô bờ bến” thì lại có những hành vi lừa đảo, kiếm tiền bất chấp liêm sỉ?

Mà xem ra khá nhiều tình tiết hư cấu trong tiểu thuyết “Kim Tiền” là được các “roanh… nhân” hiện nay áp dụng. Kể cũng thú vị.

Mặc dù tôi biết, họ chả có thời gian đâu, văn hóa đâu mà đọc cuốn sách của tôi đến ngót 800 trang?

Đúng là “Thời loạn” thật!

VỮNG TIN VÀO CHÚA

VỮNG TIN VÀO CHÚA

Sau lễ Hiển Linh và lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa, hôm nay, Phụng vụ lại giới thiệu với chúng ta một cuộc “thần hiện” thứ ba: đó là dấu lạ tại tiệc cưới Cana.  Quả vậy, khi thực hiện phép lạ này, Chúa Giêsu diễn tả quyền năng thiên linh của Người, và vinh quang Thiên Chúa cũng được thể hiện qua biến cố đó.  Chính tác giả Gioan đã nhận định về phép lạ đầu tiên này như sự tỏ bày vinh quang của Thiên Chúa, và nhờ đó mà các môn đệ tin vào Người.  “Các môn đệ”, trong đó tất nhiên có Gioan, người kể lại sự việc, đồng thời cũng là chứng nhân về sự việc ấy.

Thánh Gioan là tác giả duy nhất kể lại dấu lạ Cana.  Khởi đi từ lời tuyên bố: Ngôi Lời đã làm người và ở với chúng ta.  Qua việc Đức Giêsu đến dự tiệc cưới, ông muốn diễn tả hình ảnh một Đức Giêsu đến trần gian để sống giữa mọi người.  Người chia sẻ niềm vui và nỗi buồn của cuộc đời nhân thế.  Người hiện diện giữa họ để đem cho họ niềm vui.  Chúa hiện diện trong những đám cưới, đám tang là những sự kiện rất đỗi thường tình của cuộc sống.  Người đến tiệc cưới để chúc lành, và làm cho niềm vui của cô dâu chú rể nên trọn vẹn.  Giáo Hội dựa trên sự kiện này để dạy chúng ta về việc Chúa thiết lập Bí tích hôn phối.  Khi đôi bạn nam nữ tiến đến bàn thờ để thề hứa chung thuỷ với nhau trọn đời, Thiên Chúa sẽ chúc phúc cho tình yêu hôn nhân của họ.  Bí tích hôn nhân là mối dây yêu thương ràng buộc hai người suốt đời, đồng thời ban ơn nâng đỡ để đôi bạn vượt lên những khó khăn của đời sống gia đình.

Trở lại với Bài đọc thứ nhất, trích ngôn sứ Isaia, tác giả chiêm ngưỡng một tương lai huy hoàng, hân hoan vui mừng như một tiệc cưới.  Dân Israel sẽ hết thời khổ nhục và tang chế.  Không ai còn khinh bỉ dân tộc này, vì Chúa ra tay cứu giúp.  Ngài sẽ can thiệp và biến đổi đau thương của dân tộc thành niềm vui bất tận.  “Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về.  Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ.”  Đức tin Kitô giáo nhận ra trong lời ngôn sứ trên đây lời tiên báo về thời Thiên sai.  Đức Giêsu Kitô đã đến khai mở thời thiên sai muôn dân mong đợi.  Người được sánh như chú rể trong tiệc cưới.  Tiệc cưới cũng là hình ảnh diễn tả mối liên hệ thân thiết giữa Thiên Chúa và nhân loại.  Thời đại cũ đã qua, thời Thiên sai đã khai mở.  Thời đại cũ vô vị như nước lã, thời đại mới nồng nàn như rượu thơm.  Dấu lạ Canna vừa đem niềm vui cho cô dâu chú rể, vừa làm vui lòng thực khách là chính thế giới này.

Ý niệm về Chúa Giêsu như một “chàng rể” cũng được nhắc tới trong các Tin Mừng, nhất là trong Tin Mừng Thánh Gioan.  Chúa Giêsu là Đấng muôn dân mong đợi.  Người đến trần gian để nối kết con người với Thiên Chúa.  Thánh Gioan Tẩy giả, khi nói về Chúa Giêsu, cũng dùng hình ảnh chàng rể, và ông khiêm tốn nhận mình là người phù rể (x. Ga 3, 25-30).  Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nhân loại được mời gọi đón chờ Người như chờ đón chàng rể của hôn lễ (x Dụ ngôn mười trinh nữ, Mt 25, 1-13).  Đây cũng là viễn cảnh tương lai, khi lịch sử nhân loại đến hồi kết thúc, nhường chỗ cho trời mới đất mới, được diễn tả như tiệc cưới của Chiên Con, lúc đó, vinh quang Chúa sẽ bao trùm tất cả, niềm hân hoan sẽ tràn ngập vũ trụ (x Kh 19, 1-7).

Trình thuật của thánh Gioan làm nổi bật vai trò và sự tinh tế của Đức Trinh nữ Maria.  Phép lạ xảy đến do quyền năng của Thiên Chúa và với sự cộng tác của những gia nhân.  Những người này đã nghe lời khuyên của Đức Maria: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.”  Ngày hôm nay, Đức Trinh nữ vẫn hiện diện giữa chúng ta, để can thiệp và cứu giúp chúng ta với tâm tình hiền mẫu.  Đức Mẹ luôn hướng dẫn và giúp chúng ta thực thi Lời Chúa, như xưa Đức Mẹ luôn ghi nhớ và suy niệm Lời Chúa trong lòng.  Vâng lời Chúa và làm theo huấn lệnh của Người, đó chính là bí quyết để làm nên những điều lạ lùng trong cuộc sống.

Nếu Đức Giêsu đã đến thiết lập kỷ nguyên mới, thì Chúa Thánh Thần lại là mối giây nối kết tình hiệp nhất trong Giáo Hội.  Thánh Phaolô diễn tả Chúa Thánh Thần như nguyên lý của mọi đặc sủng.  Dù có nhiều đặc sủng, nhưng chỉ có một Thánh Thần.  Ơn của Ngài được ban cho các tín hữu rất dồi dào phong phú, hầu xây dựng Giáo Hội là thân thể huyền nhiệm của Chúa Giêsu.  Hôm nay Chúa Thánh Thần vẫn đang tiếp tục thổi hơi thần thiêng của Ngài nơi các cộng đoàn tín hữu.  Nhờ Ngài mà Giáo Hội luôn vững vàng trước phong ba bão tố của thời gian.

Khi đọc Kinh Mân côi, thứ hai mùa Sáng, chúng ta suy niệm dấu lạ Chúa Giêsu đã thực hiện tại Cana, đồng thời chúng ta cầu xin cho được “noi gương Đức Mẹ và vững tin vào Chúa.”  Đức Mẹ là người có phúc vì Mẹ đã tin rằng những gì Chúa phán sẽ thành hiện thực.  Xin Mẹ cầu bầu cho chúng ta.  Amen!

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Nỗi đau của tuổi già – Huy Phương

Nỗi đau của tuổi già

Huy Phương

Ở đây, chúng Ta không bàn chuyện đau nhức, cao máu, tiểu đường… nữa, vì đã có quá nhiều vị bác sĩ quan tâm tới tuổi già trên đất Mỹ này rồi. Những loại đau trên đã có thuốc và có chính phủ Mỹ trả tiền, nhưng có những thứ đau khác không có thuốc chữa và cũng không ai kê vai gánh vác giùm.

Báo OC Register thứ sáu tuần trước có đăng tin một ông già bị người ta đem bỏ trước  cổng một ngôi chùa ở thành phố Westminster. Ông lặng lẽ ngồi trước hiên chùa suốt ngày. Cảnh sát đến mang ông vào bệnh viện tâm thần. Ông không có trong người bất cứ một thứ giấy tờ nào để biết được ông là ai, ở đâu. Ông không nói một lời nào, chỉ biết lặng lẽ, đôi khi cười một mình như một người mất trí. Ông là một người châu Á, Việt Nam cũng chưa chừng, như vậy ông không phải sinh ra ở đây, hay từ trên trời rơi xuống như cô bé Maika trong một tập phim Tiệp Khắc. Vậy là có người chở ông tới và bỏ ông lại đây, không ai ngoài con cái hay thân thích của ông. Lâu nay thỉnh thoảng người ta thấy có những thiếu phụ sinh con rồi đem con bỏ vào thùng rác, nhưng chưa thấy ai đem cha mẹ vứt bỏ ngoài đường. Ông già chỉ cười vu vơ, trí nhớ của ông đã suy kiệt, nếu không ông sẽ đau khổ biết chừng nào?

Trước đây người ta kể chuyện có người chở bà mẹ già bỏ ở cây xăng, tôi không tin, tưởng là chuyện đùa, nhưng bây giờ thực sự lại có người “đem cha bỏ chùa”. Cũng lại câu chuyện của một người già…

Tháng trước, trong một dịp đưa người thân đi Việt Nam, tại quầy vé China Airline ở phi trường Los Angeles tôi đã chứng kiến một cảnh khá đau lòng. Trong khi mọi người đang xếp hàng trình vé, cân hàng thì một bà cụ người Việt cứ loay hoay lúng túng trước quầy vé với các thứ giấy tờ vương vãi, bề bộn trên sàn nhà. Bà ngồi bệt xuống đất hết móc túi này đến túi nọ, vẻ mặt lo lắng. Một nhân viên an ninh phi trường thấy tôi cũng là người Á Đông, ngỏ ý muốn tôi lên giúp bà cụ. Nhân viên quầy vé cho biết bà có vé máy bay, một visa nhập cảnh Việt Nam nhưng không có passport hay thẻ xanh. Tôi giúp bà moi từ đống giấy tờ ra chỉ thấy một cái hộ chiếu của Việt Nam cấp cách đây mười mấy năm khi bà đến Mỹ đã hết hạn và một cái ID của bà do tiểu bang Florida cấp. Bà mới từ Florida đến phi trường LOS mấy giờ trước đây một mình và trình giấy tờ để lên máy bay đi Việt Nam.

Cuối cùng, bà cũng lên được máy bay, nhưng bà sẽ không bao giờ có thể trở lại Florida nữa vì trong tay bà không có pass- port của Hoa Kỳ, không thẻ xanh, không “entry permit”. Đây là trường hợp một bà mẹ già, quê mùa bị con cái “mời khéo” về Việt Nam. Tội nghiệp cho bà đã ngồi trên máy bay năm sáu tiếng đồng hồ để đến phi trường LAX, sắp tiếp tục chặng đường về Việt Nam nhưng không biết là mình không thể trở lại Mỹ và lòng bất nhân của con cái.

Hình ảnh bà già này cứ ám ảnh tôi mãi. Bà vụng về, quê mùa, có lẽ cũng chẳng giúp ích được gì cho con cái mà chỉ thêm gánh nặng.

Thôi để cho bà đi, khi biết mình không trở lại Mỹ được thì chuyện đã rồi.

Tuổi bà có nằm lại trên quê hương cũng phải, sống chẳng giúp ích gì được cho ai, chết ở đây bao nhiêu thứ tốn kém.

Hai vợ chồng sang Mỹ từ hai mươi năm nay, đi làm nuôi con, mua được căn nhà đã pay off.

Khi các con đã có gia đình ra riêng thì ít năm sau ông cụ cũng qua đời.

Thấy mẹ hiu quạnh trong một căn nhà khá 1ớn, mà giá nhà đang lên, các con bàn với mẹ bán nhà đi rồi về ở với các con. Bà mẹ bán nhà, thương con chia đều cho mỗi đứa một ít, còn dăm nghìn dắt lưng, rồi về ở với con. Bà không biết lái xe, không biết chữ nghĩa, cũng không biết trông cháu làm home work, nên cha mẹ chúng phải nhờ người đưa đón. Bà thích nấu ăn, gói bánh, kho cá, nhưng sợ nhà hôi hám, con cái không cho. Lúc đầu thì chẳng sao, lâu dần mẹ thành gánh nặng.

Buổi chiều, đứa con gái xô cửa trở về nhà, thấy mẹ đang gồi xem TV, nó hất hàm hỏi:

-“Có hiểu gì không mà thấy má ngồi coi suốt ngày vậy?”

Có lúc chuông điện thoại reo, đứa con nhấc máy, bên kia không biết ai hỏi gì, trước mặt bà già, nó trả lời nhát gừng:

-“Bả ấy đi khỏi rồi!”

Một bà mẹ khác, ở chung nhà với một đứa con nhưng nhờ một đứa con khác đưa đi bác sĩ.

Xong việc, nó đưa mẹ về rồi lẹ lẹ dọt xe đi làm

Bà già vào tới cửa, móc túi mãi không tìm ra cái chìa khóa nhà. Bà không có chìa khóa, không cell phone, cũng không biết tiếng Anh, bà sợ sệt không dám gõ cửa hàng xóm. Bà ngồi đó, trên bục cửa cho tới chiều, khi đứa con ở chung nhà đi làm về, thì bà đã kiệt sức vì khô nước, phân và nước tiểu đầy mình.

Đời xưa, người ta kể chuyện trong một gia đình, có hai vợ chồng đối xử với ông cha già đã run rẩy của mình tệ bạc, cho cha ăn trong cái “mủng dừa”.

Một hôm hai vợ chồng đi làm về thấy đứa con nhỏ của mình đang hì hục đẽo một cái gáo như thế, được cha mẹ hỏi, nó “thành thật khai báo” rằng “để dành cho cha mẹ lúc về già”.

Đâu phải ai nuôi con cũng nghĩ tới lòng cha mẹ, cũng như nhớ chuyện “trồng đậu có đậu, trồng dưa có dưa”.

Huy Phương

From: NguyenNThu

Không Phàn Nàn – Huy Phương

Không Phàn Nàn – Huy Phương

Trong đời sống, đã biết bao lần chúng ta phàn nàn. Buổi sáng đi làm kẹt xe. Đến sở gặp đồng nghiệp ăn nói vô duyên, mếch lòng. Ông chủ mặt mày khó chịu, gắt gỏng. Về nhà vợ than phiền chuyện cơm áo. Con cãi lời, hỗn láo. Cánh tay đau nhức khó ngủ.

Nói chung hữu thân thì hữu khổ. Nhưng khi còn có việc làm, thì mới có đồng nghiệp, có ông thủ trưởng. Còn có xe để bị kẹt, còn có vợ để nghe mè nheo, còn có con để chê là nghịch tử. Còn có cánh tay để đau nhức. Trên đời này rất nhiều người không có gì, kể cả hai cánh tay, và sự thật là có người bất hạnh, không có luôn cả hai chân nữa.

Ít người cho mình có một đời sống hạnh phúc hoàn toàn. Không bất mãn chuyện này thì cũng khổ vì chuyện kia. Mỗi cuộc đời có bao nhiêu chuyện bất như ý, mỗi ngày có bao nhiêu giờ phút bực mình, đáng cho ta phàn nàn, than vãn!

Anh họ tôi có con trai sợ vợ, để vợ lấn lướt tìm cách đuổi cha mẹ chồng ra khỏi nhà, mà không có được một phản ứng gì. Tuy không đến nỗi lâm thảm cảnh của người vô gia cư, nhưng vợ chồng anh thất vọng, buồn bã đến nỗi mang chứng trầm uất, nhiều khi tỏ thái độ không thiết tha đến cuộc sống nữa. Ví như, trường hợp của một gia đình khác, đứa con trai ngay từ hồi còn bé bị té từ trên giường cao hai tầng xuống, tổn thương não bộ, phải sống đời thực vật từ nhỏ đến nay đã gần 40 tuổi, khổ đau là chừng nào. Trong khi anh chỉ có một thằng con bất hiếu, sợ vợ, nhưng anh cũng có khả năng thuê được nhà ở, có chiếc xe đi, lại còn có chị bên cạnh trong tuổi già, cuộc đời đâu đến nỗi bi đát.

Ông bạn già tôi, hơn ba mươi năm về trước, gửi đứa con trai vị thành niên, theo một người bạn đi vượt biên. Sang đến đảo, người bạn đổi tên đổi họ con anh, nhận là con mình. Khi gia đình anh sang định cư tại Mỹ, thì con anh đã lớn, tốt nghiệp đại học, nhưng đã trở thành đứa con của một gia đình khác, xem người đưa mình vượt biển là mẹ và cũng không còn biết người bạn tôi là ai. Vợ chồng người bạn tôi coi đây là một biến cố lớn lao trong đời, canh cánh bên lòng mỗi khi nghĩ đến chuyện mất con, đứa con mình đã tốn công sinh dưỡng, bây giờ xem mình như là những người xa lạ. Thật ra thì, bạn tôi không hề mất con, đứa con mình sinh ra, vẫn còn đó, mạnh khỏe, bình an, thành đạt, có một mái gia đình êm ấm. Có khác chăng là quan niệm “con tôi,” “vật sở hữu của tôi” nay vì nó thuộc về người khác, nên nó làm cho tôi đau khổ.

Tôi nhắc lại một chuyện cũ, vợ chồng ông bạn tôi sang Mỹ, nhà có mỗi hai cô con gái thì lớn lên, một cô lấy chồng Mỹ, một cô lấy chồng Trung Đông. Bạn tôi có hai ông rể giỏi giang, những đứa cháu xinh dẹp, dễ thương, nhưng lòng luôn luôn phiền muộn, thường mỗi khi nói đến chuyện con cái, gia đình, thì y như là khơi lại mối thương tâm, khiến bạn tôi không vui, tỏ ra bất mãn với hoàn cảnh. Rất nhiều gia đình sau Tháng Tư, 1975 có con gái mất tích giữa đại dương ngày vượt biển, phải chi được đổi lấy một hoàn cảnh của người bạn kia, thì gia đình họ sẽ vui sướng hạnh phúc bao nhiêu!

Em tôi sang Mỹ chậm, con cái không có cơ hội và cũng thiếu may mắn trong chuyện học hành, lớn lên, đứa thì làm công nhân hãng xưởng, đứa thì bưng phở trong nhà hàng, đứa thì chạy xe hàng xuyên bang. Nhìn quanh bạn bè, con ai cũng thành đạt, ông em sinh ra tự ti mặc cảm, tránh xa thiên hạ, không muốn giao thiệp với ai, không muốn nói đến chuyện gia đình. Những đứa con gia đình này, không có tội lỗi gì, cũng không cần phải mang mặc cảm như bố. Bao nhiêu người chết sông, chết biển, mình mang được cả gia đình trọn vẹn sang đây, ai cũng có công ăn việc làm ổn định, sống lương thiện, không vướng trộm cắp, ma túy. Bao nhiêu người mơ ước có cuộc đời như mình mà không được.

Có ông bạn gặp bà vợ lắm điều, không hợp ý, ông vò đầu bứt tai than khổ, tưởng như đang sống dưới mấy tầng địa ngục. Nghĩ lại, có người vợ mất sớm, thân già vò võ một mình, quạnh hiu biết chừng nào. Có người thì vợ đau yếu, vào ra bệnh viện, thập tử nhất sinh, giờ lại phải vào nhà dưỡng lão, ông phải vất vả vào ra hàng ngày. Còn có vợ bên mình, không còn ngọt bùi như thời xuân sắc, nay dù có điều bất như ý, thì cũng còn có nhau, bao nhiêu người mơ ước cảnh đời này mà không được.

Khi người ta bất như ý, người ta có thói quen oán Trời trách Đất. – “Trời ơi sao tôi khổ thế này?”- “Sao Ông Trời bất công quá vậy!”- “Thật là Ông Trời không có con mắt!”- “Ông Trời ơi, xuống mà coi nè!”

Cam chịu bình thản, thì người theo đạo Phật tin vào Nhân Quả và cái Nghiệp. Đời này thấy mình sao thì biết kiếp trước mình ăn ở làm vậy! Người Công Giáo thì tin đã có Chúa an bài, là do ý Chúa, chết cũng là do Chúa gọi về!

Người bình dân thường đổ cho tại cái số, giàu nghèo, no đói, sướng khổ đều do số Trời định, khi đã được Nam Tào, Bắc Đẩu ghi sổ rồi, thì “có chạy Trời cũng không khỏi,” cứ an phận thủ thường, ung dung tự tại mà sống!

Xin kể một chuyện bên Tàu: Đức Khổng Tử đi chơi núi Thái Sơn, gặp ông Vinh Khải Kỳ ngao du ngoài đồng, mặc áo cừu, thắt lưng dây, tay gẫy đàn cầm vừa đi vừa hát.

Đức Khổng Tử hỏi: “Tiên sinh làm thế nào mà thường vui vẻ như thế?”

Ông Vinh Khải Kỳ nói: “Trời sinh muôn vật, loài người quý nhất mà ta được làm người. Trong loài người đàn ông quý hơn đàn bà mà ta được làm đàn ông.  Người ta sinh ra có đui què, non yểu mà ta hoàn toàn khỏe mạnh, nay đã chín mươi tuổi. Đó là ba điều đáng vui, có gì mà phải lo buồn”.

Lại xin kể một chuyện bên Tây: Từ đầu năm đến nay, hàng chục người đã thiệt mạng khi tìm cách vượt qua sông Rio Grande, nơi mực nước dâng lên cao nhất trong 20 năm qua, để tìm cách đến Mỹ.

Đoàn “caravan di cư” bất hợp pháp hơn 7,000 người áp sát biên giới Mỹ. Trạm biên phòng Del Rio ở Texas hôm tuần qua đã báo cáo, chỉ từ Tháng Sáu tới nay họ bắt giữ hơn 1,000 người Haiti.

Mới đây lại thêm một bức ảnh chấn động lương tâm thế giới ghi lại cảnh tượng một người cha và con gái người El Salvador bị chết đuối, nằm úp mặt xuống nước tại bờ sông Rio Grande ở biên giới Mỹ – Mexico khi tìm cách bơi qua sông. Họ là những người đang tìm cách đến Mỹ và hy vọng sống được trên đất Mỹ, như chúng ta.

Liệu chúng ta có nên phàn nàn nữa không?

(Huy Phương)

Tự do tôn giáo và bài toán “tà giáo”: Từ góc nhìn quản lý nhà nước Tìm hiểu về nhu cầu quản lý tôn giáo chính đáng của các nhà nước.

Tự do tôn giáo và bài toán “tà giáo”: Từ góc nhìn quản lý nhà nước Tìm hiểu về nhu cầu quản lý tôn giáo chính đáng của các nhà nước.

 13/01/2022

By  NGUYỄN QUỐC TẤN TRUNG

Minh họa: Cristiana Couceiro/ The New Yorker.

Nathan là một sinh viên năm hai tại trường Đại học Indiana, Hoa Kỳ.

Một ngày nọ, anh gặp Jodi, người tự nhận mình cũng là học sinh của trường. Họ bàn luận về mọi thứ trên đời: các cuộc chạy đua vũ trang, tình trạng đạo đức của xã hội hay sự bất bình đẳng toàn cầu. Thật ngạc nhiên, mọi quan điểm và góc nhìn của anh đều được Jodi ủng hộ và đồng tình.

Jodi giải thích rằng có một nhóm cộng đồng mà cô đang tham gia cũng chia sẻ những suy nghĩ giống như anh, và họ có một buổi gặp mặt ngay chiều hôm đó.

Nhóm người này đón tiếp anh như thể một thành viên thân thuộc của gia đình; mọi quan ngại về văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội của anh đều được nhóm bàn luận, đồng tình. Anh say sưa tham gia các trò chơi vận động, hát hò, tham gia vào các buổi trị liệu tâm lý nhóm nhỏ.

Từ khi tham gia nhóm, Nathan chỉ ngủ được tám tiếng trong suốt ba ngày cuối tuần, ăn hai bữa mỗi ngày, nhưng vô cùng hạnh phúc vì đây là lần đầu tiên anh gặp được những người có cùng lối sống, cùng tư duy, cùng niềm tin và dường như cùng đích đến.

Nathan quyết định chuyển vào ở chung với nhóm người đồng đạo, bật băng nghe “giáo chủ” thuyết giảng liên hồi, ngủ ba tiếng một ngày, cùng lúc tích cực tìm kiếm và chiêu mộ thành viên mới.

Trong khi đó, mối quan hệ của anh với ba mẹ mình ngày càng tệ đi. Tất cả những mối liên hệ bạn bè trước kia đã tạo nên Nathan của “ngày xưa” cũng dần biến mất.

Quá trình “truyền đạo” hoàn tất. [1]

“Giáo phái sùng tín” (cult), “tà đạo” (heresy) và vai trò của nhà nước

Các bài viết về tôn giáo xưa nay của Luật Khoa hầu hết đều chia sẻ tư duy bảo vệ quyền tự do tôn giáo.

Với những quy định pháp lý mơ hồ cùng những tiêu chuẩn kép của chính quyền, sẽ là bình thường khi người ta nghi ngờ thực trạng bảo vệ tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc chúng ta nên phủ nhận khả năng lạm dụng danh nghĩa tôn giáo để xâm phạm tới các giá trị pháp lý hay quy chuẩn xã hội. Trong bối cảnh đời sống tín ngưỡng – tâm linh và các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội chưa thật sự ổn định của Việt Nam, việc những “tà đạo”, “giáo phái” luôn luôn rình rập là một khả năng hiển hiện.

Có thứ gọi là tà đạo, dị giáo hay không? Chính quyền các quốc gia trên thế giới có lo ngại chúng hay không?

Câu trả lời chắc chắn là có.

Sử dụng tôn giáo như một công cụ để đạt được các mục tiêu, từ gây ảnh hưởng kinh tế, chính trị, xã hội cho đến mưu cầu lợi ích riêng, đã không còn là chuyện xa lạ tại hầu hết các quốc gia.

Shoko Asahara, người sáng lập giáo phái Aum Shinrikyo (trái) và cuộc tấn công khí độc do nhữngthành viên của giáo phái này thực hiện trên tàu điện ngầm ở Tokyo vào năm 1995. Ảnh: Daily Mail.

Một ví dụ nghiêm trọng là trường hợp giáo phái tận thế Aum Shinrikyo tại Nhật. Giáo phái này bắt đầu như là một nhóm tôn giáo kết hợp các giáo lý giữa Hindu và Phật giáo, đồng thời sử dụng các câu chuyện tận thế từ Công giáo. Việc không có những kiểm soát tiền đề về tôn giáo tại Nhật đã khiến diễn ngôn sai lệch của Aum Shinrikyo phát triển đủ mạnh, từ đó dẫn đến cuộc tấn công khủng bố chết chóc bằng chất độc thần kinh dạng lỏng trên hệ thống tàu điện ngầm Tokyo vào năm 1995. [2]

Ở dạng nhẹ hơn, chúng ta có những câu chuyện tương tự như của Nathan lúc đầu. Trong những trường hợp như vậy, Richard Delgado, một giáo sư luật thuộc trường Đại học California, Los Angeles, Mỹ (UCLA) lo ngại rằng các nhóm truyền đạo sẽ sử dụng các công cụ kiểm soát để thao túng tâm lý những người trẻ.

Vị giáo sư đưa ra đề xuất bắt buộc các nhóm giáo phái muốn truyền đạo phải có “sự đồng thuận với đầy đủ thông tin” (informed consent) từ phía người được truyền đạo trước khi bắt đầu quá trình hướng đạo (proselytizing). [3] Nói cách khác, người được truyền đạo cần phải biết trước những thông tin cần thiết như tên gọi, mục tiêu, tôn chỉ, hay các yếu tố khác liên quan đến giáo phái.

Dẫu thế nào đi chăng nữa, không nên (và không thể) tiếp cận tự do tôn giáo như một quyền trong trẻo và tốt đẹp hoàn toàn, không có khả năng bị lạm dụng hay biến tướng.

Vấn đề ở chỗ là pháp luật nên can thiệp lúc nào và can thiệp như thế nào.

Những nhóm tôn giáo này “vi phạm pháp luật” ở điểm gì?

Năm 1995, ngay sau khi Aum Shinrikyo (thường được gọi tắt là Aum) thực hiện hành vi khủng bố, ngoài việc khởi tố và bắt giữ các nghi phạm liên quan, chính quyền Nhật Bản tuyên bố rằng các giáo lý, việc giảng dạy và mục tiêu hoạt động của nhóm này là hành động thực hiện chiến tranh chống lại nhà nước. [4]

Áp dụng đạo luật thời kỳ Chiến tranh Lạnh khá tranh cãi có tên gọi Subversive Activities Prevention Law (Luật Phòng chống Hoạt động Lật đổ Chính quyền – 1951), chính quyền Nhật Bản tịch thu toàn bộ tài sản, giáo lý, tư liệu và các nguồn lực khác của Aum. Giáo phái này chính thức không còn được phép hoạt động. [5]

Nhiều nước trên thế giới cũng đặt Aum ngoài vòng pháp luật. Nhiều nhóm nhỏ có dính líu tới Aum bị trục xuất khỏi các quốc gia. Sau gần 30 năm, các cựu thành viên của Aum dường như không còn bất kỳ cơ hội nào để được xã hội và pháp luật chấp nhận lại.

Các quan ngại lớn nhất ở đây là khả năng phát sinh bạo động, khủng bố từ các triết lý tôn giáo cực đoan.

Tại Hoa Kỳ, cả chính quyền lẫn các nhà nghiên cứu đều thừa nhận sự nguy hiểm của các giáo phái, các nhóm dị giáo (như các nhóm thờ phụng quỷ Satan – Satanic cults).

Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng niềm tin từ thập niên 1970 đến thập niên 1980, hàng ngàn giáo phái xuất hiện tại Hoa Kỳ với hơn ba triệu giáo dân, có quyền lực kinh tế lẫn chính trị không tưởng. [6]

Ảnh chụp sự kiện tự sát tập thể của giáo phái Peoples Temple tại Mỹ vào năm 1978. Hơn 900 người, trong đó có nhiều trẻ em, theo lệnh của giáo chủ Jim Jones, đã uống thuốc độc tự sát hoặc bị bắn chết. Ảnh: Bettmann/ Bettmann Archive.

Các nhà nghiên cứu liệt kê một số vấn đề pháp lý nghiêm trọng trong các nhóm giáo phái sùng tín Hoa Kỳ điển hình của giai đoạn này:

  1. Các thành viên tuyên thệ trung thành tuyệt đối với giáo chủ, người đổi lại đưa ra mọi quyết định trong đời sống cá nhân của giáo dân;
  2. Các nhóm thường được vận hành dựa trên tâm lý phản – trí thức (anti – intellectual). Họ được giáo huấn không tin tưởng vào bất kỳ thông tin khoa học, chính trị nào khác ngoài lời dạy của giáo chủ;
  3. Các giáo phái này thường chống lại các giá trị gia đình (anti – family) và phân biệt giới tính (sexist). Giáo phái là gia đình duy nhất của giáo dân, phụ nữ chỉ được xem là công cụ sinh đẻ (nhưng vẫn thu hút được một lượng lớn nữ giới phục tùng). Mọi kết nối gia đình đều được khuyến khích (hoặc bị bắt buộc) cắt đứt;
  4. Các giáo phái có thể biến tướng trở thành mô hình lao động nô dịch (slave labour), nơi mà giáo dân bị yêu cầu phải làm việc cật lực để nuôi sống giới chức tôn giáo.

Tất cả những yếu tố này đều có khả năng vi phạm pháp luật ở mọi quốc gia.

*** 

Với những thông tin mở rộng nói trên, có lẽ cần đồng ý việc quản trị các hoạt động tôn giáo là một nhu cầu thượng tầng kiến trúc có cơ sở và chính đáng. Nhu cầu này không chỉ bảo vệ quyền lợi của nhà nước, mà trong nhiều trường hợp, bảo vệ quyền lợi của công dân, các định chế xã hội căn bản như gia đình hay đạo đức.

Vấn đề ở chỗ, chúng ta nên quản lý nó bằng công cụ nào và như thế nào.

Con người phải đối xử với loài vật và các vật khác thế nào?

Con người phải đối xử với loài vật và các vật khác thế nào?

Tạ ơn Chúa đã ban cho con thêm một ngày mới để biết yêu thương nhau và những gì Chúa đã tạo dựng nên. Một ngày bình an và khoẻ mạnh nhé.

Cha Vương

Thư 4: 12/01/2022

GIÁO LÝ: Con người phải đối xử với loài vật và các vật khác thế nào? Con người cần tôn vinh Thiên Chúa nơi các thụ tạo của Người, và cư xử với chúng cách ân cần và có trách nhiệm. Con người, con vật, và cây cỏ, có cùng một Đấng Tạo hóa, Người đã dựng nên mọi loài bởi Tình yêu Người. Vì vậy, yêu thương các loài vật là tình cảm rất thâm sâu của con người. (YouCat, số 57)

SUY NIỆM: Con người được phép dùng cây cỏ và loài vật để nuôi sống mình. Tuy nhiên không được phép hành hạ và ngược đãi chúng. Khai thác trái đất một cách mù quáng là đối nghịch với phẩm giá của thụ tạo. (YouCat, số 57 t.t)

LẮNG NGHE: Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất.” (St 1:26)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Cha hằng có đời, vì yêu thương Cha đã tạo dựng muôn loài muôn vật từ hư không. Cha cũng đã ban cho loài người được hưởng tất cả những gì Cha đã dựng lên. Xin cho con biết tích cực cộng tác vào công trình sáng tạo của Cha để hoàn tất công trình sáng tạo của Cha cách hiệu quả hơn.

THỰC HÀNH: Quyết tâm bảo vệ môi trường sống cho sạch sẽ bằng cách không xả rác bừa bãi nơi chỗ ở và nơi công cộng.

From: Đỗ Dzũng