Ngày Xuân: Viết về chuyện Đà Nẵng chưa ai kể

Ngày Xuân: Viết về chuyện Đà Nẵng chưa ai kể

Võ Hương An

Khi bắt tay viết về lịch sử Đà Nẵng, tôi thực không ngờ rằng cái vùng đất nhỏ bé này lại có nhiều chuyện lý thú , rất đáng để bỏ công tìm hiểu đến thế, và do đó , việc này đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm, nhiều gắn bó với đất với người của một miền đất nước đã nuôi gia đình tôi trong hơn hai mươi năm …Chẳng hạn chuyện Đảo Cô và chuyện Quan lớn Bảo hộ…

 Đảo Cô ở đâu?

Sau cuộc nổ súng thị uy của hai tàu Pháp là Gloire và Victorieuse tại vịnh Đà Nẵng vào ngày 15-4-1847, vua Thiệu Trị ra lệnh tăng cường phòng thủ Đà Nẵng bằng bảy pháo đài xây dựng ở bán đảo Sơn Trà với tên gọi là Trấn dương Thất bảo.

Trong bảy pháo đài đó, theo Đại Nam Nhất Thống Chí (quyển Quảng Nam) thì đảo thứ hai được đặt trên đảo Cô với tường cao 4 thước 3 tấc (chừng hơn 2m) và chu vi 41 trượng (164m).  Khi đọc được những dòng này, tôi tự nhủ:  Ủa, trong vịnh Đà Nẵng mà cũng có một hòn đảo tên là đảo Cô sao??  Sao mình không thấy mà cũng không nghe ai nói tới?  Bèn vội vã đi tìm bản đồ để xác định vị trí, nhưng thất vọng vì chả thấy gì cả.  Lại đoán già đoán non rằng hẳn bản đồ mình sử dụng có tỷ lệ nhỏ (1/100,000) mà hòn đảo cũng không lấy gì làm lớn nên chẳng có dấu vết nào, bèn đi kiếm bản đồ có tỷ lệ lớn hơn (1/25,000) với hy vọng sẽ tìm ra cái hòn đảo lần đầu tiên mới được nghe tên đó.  Lại thất vọng.Từ đó tôi bắt đầu một cuộc truy tầm bằng mọi phương cách, vừa tìm tài liệu và bản đồ để đọc thêm, vừa phỏng vấn những người lớn tuổi ở địa phương khi có dịp, với hy vọng nắm bắt được một manh mối nào đó.

Hơn một năm trời trôi qua trong vô ích.  Một hôm, vì nhiệm vụ, tôi phải tiếp xúc với hai nhân chứng, cụ Nguyễn văn Trách và cụ Đỗ Trọng Khai tự Bút, vốn là hào lão của làng An Hải, đều thuộc dòng dõi đã lập nghiệp ở địa phương từ trước đời Gia Long (1802-1820).  Xong việc giấy tờ, tôi cầm hai ông cụ nán lại một chút và mở cuộc mạn đàm bỏ túi:

– Hai cụ ở đây lâu, vậy có biết trong vịnh Đà Nẵng có hòn đảo nào tên là đảo Cô không?

– Biết chớ.  Đảo Cô là cái hòn đảo nho nhỏ nằm ở Sơn Trà chớ đâu.

Nói làm sao cho xiết nổi ngạc nhiên và sung sướng của tôi lúc đó.Tôi thầm đùa với chính mình: sao mà hên thế, đào đất cầu âu mà lại trúng ngay mạch vàng.  Tôi vội vã mang bản đồ Đà Nẵng trãi ra bàn, tay chỉ miệng nói:

– Đây là Đà Nẵng của mình đây.  Làng An Hải của hai cụ đây nè…Vịnh Đà Nẵng là đây…Sơn Trà là đây…Vậy chớ cái đảo Cô mà hai cụ nói nằm ở mô?

Cụ Khai lần ngón tay trên bản đồ rồi dừng lại ở vị trí Bộ chỉ huy Hải khu I ( Trại Chương Dương, trước 1975) và nói: “Nó đây nè” và đưa mắt nhìn cụ Trách như tham khảo ý kiến.  Ông này gật đầu: “Đúng rồi đó”  Tôi buột miệng hỏi:

– Đảo đâu mà đảo, chỗ này nối với đất liền mà.

– Thì nó nguyên là hòn đảo nhưng theo ông tôi kể lại thì vua Gia Long cho đắp một con đường nhỏ bằng đá để tiện đi lại canh phòng, sau Tây đắp rộng thêm, rồi Mỹ lấp vịnh thành đất liền, làm sao thấy ra hòn đảo nữa.

À ra thế!  Từ đầu mối đó, kết hợp với những tài liệu của Tây, ta, tôi có thể vẽ ra lý lịch của đảo Cô như sau:  ở phía Tây chân núi Sơn Trà có một mõm đất nhô ra khá lớn, dân địa phương gọi là núi Mõ Diều, Đại Nam Nhất Thống Chí gọi là đảo Mõ Diều.  Phía Nam của Mỏ Diều , cách một vịnh nhỏ, có một hòn đảo con nằm trơ trọi một mình, đó là đảo Cô.

Từ đời Gia Long , vua cho đắp một con đường đá nối đảo Cô với chân bán đảo Sơn Trà để tiện đi lại canh phòng.Đời Thiệu Trị đã xây một pháo đài trên đó, thuộc hệ thống Trấn dương Thất bảo.

Trong cuộc xâm lăng Đà Nẵng vào các năm 1858-1860, Pháp đã chiếm đảo này, đặt tên là l’Îlot de l’ Observatoire (đảo Quan sát), thường gọi tắt là l’Îlot  (xem hình).  Công binh Pháp đã cho phá hũy pháo đài của vua Thiệu Trị và xây một pháo đài khác, đặt tên là Fort de l’Observatoire (Pháo đài quan sát), đồng thời họ cũng đắp rộng thêm con đường đá cũ để tiện đi lại.Vị trí này, trước 1975, là Bộ Tư lệnh Hải khu I (Trại Chương Dương).  Năm 1965, công binh Hoa Kỳ đã lấp cái vịnh nhỏ, nồi liền đảo Cô và núi Mỏ Diều, thành ra không còn dấu vết gì  để nhận ra đó là một hòn đảo nữa.Quả thật là chuyện vật đổi sao dời, đời nào cũng có.

Chuyện Quan lớn Bảo hộ

Vụ giúp xác định đảo Cô  là bước mở đầu mối giao tình giữa tôi và các cụ Trách,   cụ Bút nói riêng và làng An Hải nói chung, từ đó dẫn đến những khám phá lý thú khác.

Sau lần tiếp xúc với các cụ tại chỗ làm việc, thời gian sau, cho đến ngày tan hàng rả đám năm 1975, những lúc rảnh rổi, từ cư xá nằm ở ngã tư Độc lập-Thống nhất, tôi thường thả bộ xuống bến phà máy Sông Hàn để qua làng An Hải thăm hỏi, chuyện trò cùng các cụ, nhất là cụ Bút, vì tôi đoán rằng còn có thể học hỏi nhiều ở các cụ nữa.  Ngay lần viếng thăm đầu tiên, tôi hỏi cụ Bút:

– Làng An Hải có di tích gì cổ xưa không cụ?

– Có chớ.  Có lăng Quan lớn Bảo hộ mà làng thờ làm hậu hiền , hàng năm cúng tế đàng hoàng vì ngài rất có công với làng.

Tôi ngạc nhiên:

– Ủa, Quan lớn Bảo hộ là ai?  Cụ có biết ngài húy là chi không?  Nếu biết được thì nói để tôi tra cứu trong sử sách coi sự nghiệp của ngài ra sao.

– Ờ, tôi vô tâm quá.cứ theo ông bà đời trước mà gọi, chưa bao giờ hỏi cha tôi hay ông tôi  ngài húy là chi, nhưng theo đời trước truyền lại thì ngài làm quan lớn lắm…À, thầy   có đọc được chữ Nho (Hán) không?  Trong giấy tờ do ông tôi để lại, có tờ trát của quan lớn Bảo hộ gởi cho làng, rồi làng giao cho ông tôi giữ, có chức tước của ngài nhưng không có húy.  Để tôi lục cho thầy coi, may ra biết ngài là ai.

Tôi đáp:

-Vâng, thế thì tốt quá.  Chữ Nho tôi chỉ đọc được lõm bõm nhưng tôi có ông bác thông Nho lắm, thành ra cụ khỏi lo.

Sau một hồi lục lọi trong chiếc rương gỗ mộc, cụ Bút lôi ra một tờ giấy bản sờn rách nhiều chỗ ngoài mép và đưa cho tôi.  Đọc lõm bõm, tôi tạm hiểu rằng tờ giấy này là một tài liệu hiếm, có liên quan đến Thoại Ngọc Hầu.  Tôi ngỏ ý xin mượn, cụ đồng ý ngay.

Về nhà, tôi vội lấy xe đi đến nhà cụ Nguyễn Văn Luân, Đốc sự thượng hạng hưu trí, bạn của nhạc gia tôi, mang theo tài liệu chữ Hán vừa mượn được.  May mắn, ông cụ không đi chơi tài bàn, đang nằm nhà đọc sách.Chìa tờ giấy ra, tôi nói:

– Nhờ bác đọc và dịch cho con tài liệu này.  Con cần lắm.  Bác đọc từ từ thì con ghi chép được.

Cụ Luân cầm tờ giấy liếc qua, đoạn nhìn tôi rồi hỏi:

– Tài liệu này hiếm lắm đây.  anh moi đâu ra vậy?

Sau khi nghe tôi thuật sơ về xuất xứ, ông già hắng giọng:

– Nghe đây này:

“Khâm sai Thống chế án thủ Châu Đốc Đồn, lãnh bảo hộ Cao Miên Quốc ấn, kiêm quản Hà Tiên Trấn biên vụ, gia nhất cấp, kỷ lục tứ thứ, quan …

“Vì trát tri sự …“

Thì ra đó là tờ trát của Khâm sai Thống chế Thoại Ngọc Hầu  Nguyễn Văn Thoại, bấy giờ đang trấn thủ Đồn Châu Đốc, lãnh nhiệm vụ bảo hộ nước Cao Miên (thuộc địa của Việt Nam dưới triều Minh Mạng) và kiêm luôn chức Trấn thủ Hà Tiên, gởi cho xã trưởng và hào mục xã An Hải, bày tỏ sự ủng hộ nguyện vọng của bảy xã thuộc tả ngạn sông Hàn ( An Hải, Mỹ Khê, Hóa Khuê, Mỹ Thị, Phước Trường, Tân An, Nam An) muốn đoàn kết lập chợ để chống lại sự cạnh tranh của xã Hải Châu.  Tờ trát đề ngày 20 tháng Tư năm Minh Mạng thứ 8, nhằm 15-5-1827 (xin xem hình).

Ảnh chụp tờ trát của Thoại Ngọc Hầu gởi cho hào mục làng An Hải, Đà Nãng (Ảnh của tác giả)

Phát giác này làm tôi ngạc nhiên muốn bật ngữa.  Tôi cảm ơn cụ Luân và chỉ nói “Thật con không ngờ Thoại Ngọc Hầu lại là người quê ở An Hải, Đà Nẵng”.  Thật sự thì tôi rất xúc động điều vừa khám phá, vì Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại là một khuôn mặt lớn trong lịch sử.Ông là một khai quốc công thần của vua Gia Long, tầm cở với Tả quân Lê Văn Duyệt và Trung quân Nguyễn Văn Thành, được phong tước Thoại Ngọc Hầu, là người có công khai phá miền Hậu giang, là người đã chỉ huy việc đào kinh Vĩnh Tế, nối liền Hà Tiên và Châu Đốc, một công trình vĩ đại khiến vua Minh Mạng rất đẹp ý, nên đã lấy tên vợ Bảo hộ Thoại (Châu Thị Vĩnh Tế) để đặt tên cho con kinh, lại cho khắc hình kỷ niệm vào Cao đỉnh, là đỉnh số 1 trong Cửu đỉnh của Thế miếu.  Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, Châu Đốc, đâu đâu cũng có dấu vết của ông.  Người ta tôn thờ và biết ơn ông.  Nếu có dịp đến những nơi này, nhất là Châu Đốc, bạn sẽ thấy được Quan lớn Bảo hộ hay Bảo hộ Thoại đã để lại dấu ấn tại những địa phương đó như thế nào.

Chính vì ông đã để lại một huân nghiệp như thế nên giáo sư Nguyễn Văn Hầu đã bỏ công trong hai mươi năm sưu tập tài liệu để viết cuốn “Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang”, một tác phẩm biên khảo công phu, có giá trị về mặt nhân văn và lịch sử.   Tôi còn nhớ (hiện giờ tôi không có sách đó trong tay) trong chương viết về dòng dõi Thoại Ngọc Hầu, khi nói đến quê quán , tác giả chỉ ghi Nguyễn Văn Thoại là người tổng An Lưu, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, với  lời chú thích, đại khái là mặc dầu đã bỏ công trong hai mươi năm để sưu tầm tài liệu (sử sách, gia phả, bi ký, bằng sắc …) nhưng ông cũng không thể xác định được Nguyễn Văn Thoại là người thuộc làng nào, xã nào của tỉnh Quảng Nam.  Cái điều giáo sư Nguyễn Văn Hầu săn tìm trong hai mươi năm mà không gặp, nay bỗng nhiên lại tình cờ ở trong tay tôi.

Vài hôm sau, được lúc rảnh rổi, tôi lại thả bộ qua An Hải gặp lại cụ Bút.  Tôi nhập đề ngay:

– Cụ ơi, tôi biết được húy của ngài rồi.  Quan lớn Bảo hộ của làng An Hải thật ra lớn lắm , tầm cở quốc gia chứ không phải riêng chi làng An Hải đâu…

– Đâu? Đâu?  Chuyện ra răng , thầy làm ơn kể cho tui nghe coi.

Tôi trả lại tờ trát và kể lại sự tích Thoại Ngọc Hầu.Có thể từ bao lâu nay làng An Hải cảm thấy hãnh diện về Thoại Ngọc Hầu như là một thân nhân làm lớn chứ chưa biết hết cái huân nghiệp của ông đối với một miền hoang dã nhưng trù phú của đất nước.  Do đó, trong câu chuyện, tôi nhấn mạnh về điểm này và ghi nhận ông cụ rất xúc động.  Ông dẫn tôi đi coi đình thờ (thờ chung các hậu hiền của làng) đang được tu sửa và than phiền rằng ngân khoản eo hẹp quá, chỉ làm sơ sơ thôi chứ chưa đúng mức như ý muốn.  Tôi góp ý:

– Cụ à, Quan lớn Bảo hộ không phải là một danh nhân của riêng chi làng An Hải mà còn chung cho cả Quảng Nam –Đà Nẵng nữa.  Tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng phải hãnh diện có một danh nhân như vậy, nên việc tu sửa này chính quyền cũng phải góp phần giúp đỡ.  Cụ và các cụ hương lão cùng ban hội tề nên có kế hoạch  quyên góp mở rộng để có được ngân khoản dồi dào hơn hầu việc trùng tu được tới nơi tới chốn.Nếu các cụ làm thì tôi xin giúp một tay, chẳng giàu có chi để giúp tiền giúp bạc, nhưng sẽ giới thiệu các cụ đến những nơi hằng tâm hằng sản, những nơi mình có thể gõ cửa được.

Đề nghị này về sau đã được các cụ thực hiện và Chương Trình Khuếch Trương Đà Nẵng và Vùng Phụ Cận, do anh Nguyễn Hà Hải làm Tổng Giám đốc, là thành phần chủ lực đã giúp đỡ hoàn thành ngôi đình khá bề thế.

Ngay từ buổi gặp gỡ đầu tiên các cụ có đề cập đến lăng Quan lớn Bảo hộ.  Nhờ đọc tác phẩm biên khảo của học giả Nguyễn Văn Hầu mà tôi biết rằng không thể có lăng của Thoại Ngọc Hầu ở An Hải, nhưng để kiểm chứng đó là lăng của ai thì mãi về sau mới có dịp.

Có dính một chút vào việc biên khảo nên tôi rất thông cảm với học giả Nguyễn Văn Hầu về nỗi buồn khi không tìm được tài liệu như ý và niềm vui, có khi còn sướng hơn bắt được vàng,  khi tìm được cái muốn tìm hoặc phát hiện ra những tài liệu chưa hề được công bố.Do đó, khi nắm trong tay thông tin và tài liệu mới mẻ về Thoại Ngọc Hầu  tôi đã viết một bài (lâu ngày quên mất nhan đề) định gởi cho bán nguyệt san Bách Khoa, nhưng rồi cứ phân vân mãi:  nên chăng, đăng báo “lấy tiếng”, hay là cung cấp tài liệu cho giáo sư Nguyễn Văn Hầu để ông có thể bổ sung tác phẩm được đầy đủ hơn, như vậy mới là thực sự cảm thông nghiệp cầm bút, dù chưa hề quen biết.  Một hôm, nhân công tác ở Huế, nghe nói giáo sư bảo trợ của tôi lúc đó là giáo sư Nghiêm Thẩm đang có giảng khóa ở Đại học Văn Khoa Huế, tôi đến cư xá thăm và hỏi ông:

– Em biết thầy quen ông Nguyễn Văn Hầu.  Vậy thầy có thể vui lòng cho em xin địa chỉ của ông ta được không?

-Anh xin địa chỉ của ông Hầu để làm gì?

Tôi lược thật câu chuyện và nói muốn liên lạc để cung cấp cho ông những thông tin  và tài liệu  vừa khám phá vì thấy ông đã đầu tư quá nhiều công sức vào tác phẩm mà vẫn chưa vừa ý, nên rất thông cảm.  Giáo sư Thẩm ngẫm nghĩ giây lát rồi nói:

– Theo tôi, anh nên gởi bài cho Bách Khoa.

Trở lại Đà Nẵng, tôi gởi bài.  Tôi còn nhớ trong phần kết thúc có để lời nhắn  đại khái rằng nếu đọc bài này mà tác giả “Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang” muốn biết thêm chi tiết thì xin liên lạc với tôi theo địa chỉ…, tôi sẵn sàng trả lời.

Bài gởi đi chừng mươi ngày thì tôi nhận được thư, không phải của Bách Khoa mà là của giáo sư Hầu.  Ông cho biết Bách Khoa đã báo cho ông biết về bài báo  và để cho ông được đọc trước khi đăng.  Nhân câu nhắn tin của tôi, ông yêu cầu Bách Khoa tạm hoãn để ông liên lạc với tôi xem sao đã.Ông xin lỗi về việc đó và ngỏ ý mong muốn được tôi hợp tác, giúp đỡ, bằng cách cung cấp những tài liệu và hình ảnh đã và sẽ sưu tập , đồng thời trả lời những câu hỏi liên quan đến quê hương và thân quyến Thoại Ngọc Hầu mà ông thấy chưa được sáng tỏ.Tôi biết ông rất nóng lòng trông hồi âm nên vội trả lời vắn tắt là chấp nhận hết thảy mọi điều ông yêu cầu trong niềm thông cảm của kẻ cầm bút; riêng về hình ảnh và tài liệu, cùng là trả lời những câu hỏi do ông nêu ra thì phải chờ lâu hơn vì tôi cần thời gian để thu thập thêm những chứng dẫn cần thiết, đặc biệt có một số lăng mộ nằm trong khu quân sự thuộc loại mật, không dễ chi chụp hình ngay được.

Thật vậy, ngoài hai sở lăng nằm trên một nỗng đất cao cách nhà cụ Bút không xa mà tôi đã từng được dẫn đi thăm và biết là lăng của ông bà nội Thoại Ngọc Hầu, còn cái lăng mà các cụ nói là lăng của Bảo hộ Thoại lại nằm trong khu vực Tổng kho Đà Nẵng, được canh phòng cẩn mật và dĩ nhiên bảng cấm chụp hình yết la liệt.  Tôi không quen sĩ quan Chỉ huy trưởng nên chưa biết làm thế nào để có thể xâm nhập vùng cấm địa mà khảo sát đây.  Một hôm, nhân đi uống cà-phê với nhà văn Duy Lam (trung tá Nguyễn Kim Tuấn, Quân đoàn I) tôi than thở về cái “kẹt” của mình, và hỏi anh có quen với trung tá X.Chỉ huy trưởng Tổng kho Đà Nẵng không?  Anh cười thoải mái:

-Tay đó tôi quen thân lắm.Để trong tuần này hễ ngày nào thư thả, tôi sẽ điện thoại cho anh biết, chuẩn bị, rồi tôi chở vào đó, gặp anh ta nói chuyện.  Không có gì trở ngại đâu.

Quả như anh Duy Lam dự liệu, tôi đã vào được khu vực Tổng kho Đà Nẵng, khảo sát ngôi lăng cổ, ghi chép và chụp hình thoải mái nhờ sự thông cảm bạn bè.  Và đúng như tôi nghĩ, đó không phải là lăng Quan lớn Bảo hộ mà chính là lăng thân phụ ông ta.

Mấy chục năm đã trôi qua, thật khó mà nhớ hết những gì tôi đã gởi vào Long Xuyên cho giáo sư Hầu.Dĩ nhiên, ông rất sung sướng và cảm động về những gì tôi đã làm cho ông và cho biết với những tài liệu đó ông có thể viết thêm một chương mới để bổ sung cho tác phẩm khi tái bản.  Ngược lại, tôi cũng cảm thấy hoan hỷ vì trên đường đời lại nảy ra một mối giao tình mới.Tôi muốn đứng giữa làm gạch nối Châu Đốc và Đà Nẵng để hai bên, những người còn mang nặng lòng tri ân và tưởng nhớ tới Thoại Ngọc Hầu, có thể gặp gỡ nhau, mở rộng tình tương thân tương ái giữa hai quê hương của cùng một danh nhân.  Bây giờ thì không còn nhớ đã đem việc này ra bàn với các cụ ở An Hải và giáo sư Hầu chưa, nhưng dù rồi hay chưa thì mọi tính toán cũng đều tan theo mây khói trong cơn lốc mùa Xuân 75…

Sinh Nguyễn Tử Trần

Một buổi chiều, khoảng hai giờ, đang ngồi làm việc thì người trực an ninh vào báo có phái đoàn làng An Hải muốn vào gặp.  Tôi nói xin mời vào, và thoáng một chút ngạc nhiên:  sao không nghe cụ Bút nói gì cả?

Phái đoàn gồm có năm vị, trong đó tôi chỉ còn nhớ có hai người là cụ Bút và ông  Trần Văn Mẹo, nghị viên Thành phố Đà Nẵng.  Mục đích của phái đoàn là chính thức cảm ơn tôi và trao tặng bảng “Công Đức Vô Lượng” vì tôi đã có công trong việc giúp trùng tu đền thờ Thoại Ngọc Hầu.  Thôi thì không biết nói làm sao, đành “cung kính  bất như tuân mệnh”, xin nhận lãnh và cảm ơn làng vậy.  Trong câu chuyện, tôi lại nhấn mạnh về tầm vóc của Thoại Ngọc hầu đối với đất nước và nhân đó xin tặng làng cuốn sách của giáo sư Nguyễn Văn Hầu viết về Bảo hộ Thoại để làm kỷ niệm.  Họ đòi phải có con dấu chức vụ và chữ ký của tôi mới chịu nhận, thôi thì cũng chiều lòng.Không biết cuốn sách đó nay làng có còn giữ  không.

Chúng tôi chuyện trò khá lâu và bỗng một vị trong phái đoàn vừa cười vừa nói rằng:

– Thực ra, làng chúng tôi có đến hai danh nhân, mà hai danh nhân này lại đối nghịch nhau.  Quan lớn Bảo hộ là danh nhân thuộc phe chiến thắng, tiếng tăm lừng lẫy, sử sách ghi chép nên ai cũng biết;  còn ông kia là danh tướng thuộc phe chiến bại, không ai dám nhắc tới, lâu ngày rồi quên luôn.

Tôi ngạc nhiên quá đổi:

– Xin cho biết là ai vậy?

– Là tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu đó.  Ông Trần Quang Diệu cũng là người làng An Hải chớ đâu, nay con cháu vẫn còn.  Như ông nghị viên Trần Văn Mẹo đây là thuộc dòng dõi tướng Trấn quang Diệu đó.

Tôi ngạc nhiên thiếu điều bật ngữa.  Lòng tự nhủ: sao mảnh đất An Hải nhỏ bé hiền hòa vậy mà lắm chuyện ly kỳ đến thế!  Thoại Ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại, danh tướng khai quốc công thần của Nhà Nguyễn người làng An Hải, mà viên dũng tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu cũng người làng an Hải!  Tướng Trần Quang Diệu cùng vợ là nữ tướng Bùi Thị Xuân đã từng nhiều phen làm vất vả điêu đứng quân của Nguyễn Vương (vua Gia Long sau này), gây cản trở lớn trên bước đường tiêu diệt Tây Sơn.  Vì vậy, khi bắt được cặp vợ chồng anh hùng đáng sợ này, nhà vua không những hành hình họ mà còn tàn sát thân nhân của họ bằng án tru di tam tộc.Theo lời kể của ông nghị viên Trần Văn Mẹo, khi nghe tin dữ ở kinh đô Huế, có người đã vội vã về ngay làng An Hải báo tin cho họ Trần biết để tìm cách lánh nạn trước khi lệnh truy nã đến.Nhờ hương lý và dân làng đều có cảm tình với họ Trần nên đã giúp một số gia đình đào thoát khỏi làng, thay tên đổi họ, đi lánh nạn phương xa.  Số còn lại, gồm những người không đi được hay không muốn đi, đều cải sang họ Nguyễn.  Do đó, khi lệnh truy nã tới thì không còn ai họ Trần để bị bắt giết.  Vì sự sống mà phải bất đắc dĩ mang họ Nguyễn, nên đến khi chết thì con cháu đều trở lại họ Trần để không mất gốc, tạo nên một tập tục mà hết thảy con cháu đều phải tuân theo , gọi là “Sinh Nguyễn tử Trần”.  Sau khi triều đình Huế nhường đất Đà Nẵng cho Pháp làm nhượng địa (1888), quyền lực địa phương không còn ở trong tay Nhà Nguyễn nữa, không có lý do gì để phải sợ hãi đề phòng nữa, nên một số đã trở lại họ Trần (chẳng hạn chi của ông Trần Văn Mẹo), phục hồi dòng tộc cũ của ông cha, số còn lại vẫn giữ tục “Sinh Nguyễn tử Trần”.

Khi nắm được thông tin lý thú này, tôi dự tính sẽ làm một cuộc sưu khảo về dòng dõi Trần Quang Diệu ở An Hải, vừa để xác minh những điều vừa mới ghi nhận, vừa hy vọng biết đâu lại tìm ra được những điều mới mẻ lý thú khác nữa ở cái vùng đất có bề ngoài hỏ bé khiêm tốn nhưng lại mang nhiều chuyện xưa tích cũ bất ngờ này.  Nhưng rồi tháng Ba gãy bút.

Võ Hương An

Cựu Thanh tra Giám Sát Viện Quân Khu I (VNCH)

Cựu Tù nhân Chính trị Quảng Nam-Đà Nẵng

From: TU-PHUNG

VALENTINE ‘S DAY – Ngày Của Tình Yêu Thương

VALENTINE ‘S DAY –  Ngày Của Tình Yêu Thương

Ngày 14 tháng Hai là một ngày rất đặc biệt tại Âu Châu và Mỹ Châu. Trong ngày này người ta gởi những thiếp chúc mừng gọi là “Valentines” cho những người mình yêu quí, những bạn thân và những thành viên trong gia đình.

Trên những tấm thiệp Valentines người ta thấy có nhiều nội dung với ý nghĩa khác nhau:

– Những thiệp Valentines mang những câu thơ lãng mạn, tình tứ, thiết tha…

– Những thiệp Valentines mang hình ảnh hài hước và lời chú thích tinh nghịch liên quan đến yêu thương….

– Những thiệp Valentines với nội dung nhẹ nhàng: “Be My Valentine.”

Tại Hoa Kỳ, vài tuần hay cả tháng trước ngày 14 tháng Hai, các loại thiệp Valentines và các đồ trang hoàng Valentine đã được bày bán khắp các cửa hàng…

Học sinh tại các trường cũng trang hoàng lớp học với những mẫu giấy hìng trái tim, với dây hoa và những lời yêu thương cho thầy cô giáo và cho nhau trong dịp Valentine’ s Day.

Vào đúng ngày Valentine, nhiều người tặng hoa, kẹo bánh và quà cho bạn hữu và người thân.

Ðây là một truyền thống rất dễ thương và mang rất nhiều thông điệp từ trái tim yêu thương. Trong ngày này mọi người sẽ nói với nhau, sẽ gửi đến nhau những lời yêu thương, những tình cảm nồng ấm, những tình yêu mặn mà, hoặc những nỗi niềm và ước mơ tha thiết nhất trong cuộc đời hướng về một người nào đó mà lòng mình hằng tưởng nhớ… không nguôi…

Phải chăng người ta phải dành cho TÌNH YÊU THƯƠNG phát động từ con tim thổn thức, từ niềm khao khát được yêu thương, được hiến dâng tình cảm… ít nhất là một ngày, để con người có dịp nói với nhau những lời dịu dàng âu yếm, những lời ấm nồng tha thiết hoặc hữu ái hòa vui… giữa biển đời đầy bão táp phong ba, gió thét mưa gào của bất trắc, của ích kỷ, của hận thù và cay đắng!?

“NGÀY VALENTINE” BẮT ĐẦU TỪ ĐÂU?

Ngày Valentine đã bắt đầu như thế nào? Do từ đâu? Vấn đề nguồn gốc này đã được các nhà nghiên cứu giải thích theo nhiều cách khác nhau.

Một số cho rằng Valentine có nguồn gốc từ thời thượng cổ La Mã. Thời đó, người La Mã có một cuộc lễ gọi là “LUPERCALIA”. Một số chuyên gia khác cho rằng lễ hội này có liên hệ đến một hay nhiều vị thánh thuộc Thiên Chúa Giáo sơ thủy trong đó có Thánh Valentine.

Ngoài ra, còn có người kết hợp ngày Valentine với niềm tin của người Anh thời xưa, rằng ngày 14 tháng Hai hằng năm là ngày mà các loài chim “chọn bạn đời” để chắp cánh bay vào cuộc sống lứa đôi.

Như vậy, xem như ngày Valentine có ba nguồn gốc được đưa ra. Chúng ta hãy xem thực chất của ngày dành cho Tình Yêu Thương như thế nào.

Trước hết, ngày lễ Lupercalia của La Mã, có ý nghĩa như thế nào?

Người La Mã cổ đại đã cử hành lễ hội Lupercalia vào ngày 15 tháng Hai với mục đích nhắc nhở mọi người củng cố và bảo đảm công cuộc phòng thủ chống lại sự xâm nhập của loài chó sói hung dữ. Trong lễ hội này có những hình thức tượng trưng như: những người trai trẻ thì đánh đấu mọi người với những mảnh da thú; còn đàn bà thì dùng những cú đấm vì họ nghĩ rằng sự va chạm sẽ làm cho họ sinh nhiều con cái…

Vào thế kỷ thứ I, năm 43, sau khi Ðế quốc La Mã chinh phục nước Anh, nguời Anh đã mượn khá nhiều lễ hội của La Mã. Một số văn sĩ đã kết hợp lễ Lupercalia với Ngày Valentine vì có sự trùng hợp về ngày tháng và về ý niệm sinh đẻ nhiều con…

Thứ đến là sự liên hệ đến một vài vị thánh. Trong Thiên Chúa giáo sơ thủy, có ít nhất hai vị thánh có tên là Valentine. Có hai truyền thuyết khác nhau.

1.- Thoại thứ nhất kể rằng: Vào năm 200, tức cuối thế kỷ thứ II, Hoàng đế La Mã là Claudius đệ Nhị, cấm những thanh niên trai tráng kết hôn. Vì hoàng đế nghĩ rằng những người độc thân sẽ là những chiến sĩ can trường. Một vị linh mục tên là Valentine, vì thương yêu những người trẻ tuổi, đã không tuân lệnh vua, bí mật làm lễ hôn phối cho các cặp vợ chồng trẻ.

2.- Thoại thứ hai kể rằng: Valentine là một vị thánh của Thiên Chúa Giáo sơ thủy, ông ta thường kết bạn với nhiều trẻ em. Người La Mã bỏ tù ông, vì ông từ chối không thờ phụng các vị thần La Mã. Khi ông ở trong tù, các em bé nhớ nhung ông và đã nhét những lá thư yêu thương qua cửa sổ phòng giam. Câu chuyện này cho thấy lý do tại sao người ta gửi cho nhau những tín hiệu và thông điệp yêu thương trong ngày Valentine.

Một thoại khác còn kể thêm là trong thời gian ở tù, Valentine đã chữa sáng mắt cho một đứa con gái mù.

Phần lớn các thoại đều nói là Valentine bị xử tử vào ngày 14 tháng Hai khoảng năm 269. Và vào năm 496, Giáo Hoàng Gelasius Đệ Nhất đã phong cho ngày 14 tháng Hai là ngày Thánh Valentine.

Một nguồn gốc khác căn cứ vào ngôn ngữ. Tại Âu Châu, nguời Pháp thuộc vùng Normandie, trong ngôn ngữ nói hàng ngày vào thời Trung cổ, có chữ GALANTINE khi phát âm nghe tương tự như VALENTINE và có nghĩa là “người hào hoa” hay “người yêu” (gallant or lover). Sự tương tự này đã làm cho người ta liên tưởng và nghĩ rằng Thánh Valentine là một vị thánh đặc biệt của những đôi tình nhân, của những người yêu thương nhau.

Về quan niệm của người Anh xưa, cho rằng ngày 14 tháng Hai là ngày các loài chim tìm đôi bạn thì cần phải lưu ý một điều là vào thời đó, người ta dùng một loại lịch khác với bây giờ: trước năm 1582, ngày 14 tháng Hai là ngày 24 tháng Hai bây giờ.

Nội dung của các thoại trên đây tuy cách kể khác nhau nhưng ý nghĩa chính đều quy về sự tìm bạn, tìm tình thương và tình yêu thương đôi lứa trong vũ trụ thiên nhiên... Như vậy, có thể nói nguồn gốc và ý nghĩa của Ngày Valentine là tổng hợp của tất cả ba nguồn trên cùng với niềm tin tưởng rằng mùa xuân là mùa của những cặp tình nhân, của những kẻ yêu nhau.

Ngày 14 tháng Hai dương lịch gần với tiết lập xuân trong Âm lịch. Người phương Ðông cũng quan niệm Xuân là mùa của Tình Yêu Vũ Trụ khai thái tất cả vạn vật đều bừng dậy tràn đầy nhựa sống. Mùa Xuân là mùa của hôn nhân tức là của yêu thương…

Truyền thống dân tộc Việt Nam, ba ngày đầu Xuân, mồng một, mồng hai, mồng ba Tết (thường trùng với giữa tháng Hai dương lịch) là những ngày mà mọi người đều rất hòa ái, tử tế với nhau, những lời chào mừng chúc tụng đầy thiện cảm được trao đổi khắp mọi nơi khi người ta gặp gỡ nhau. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Tử tế với nhau như ba ngày Tết.”

Ý NGHĨA CỦA NGÀY VALENTINE

Tóm lại, có thể nói Ngày Valentine là Ngày Của Tình Yêu Thương.

Ðây là loại Tình Yêu Bao Dung phát xuất từ con tim chân chính, từ lòng vị tha, vì người, vì đời…mà lan tỏa… “Lan tỏa yêu thương” này tương ứng với “Tâm Vô Lượng” trong tinh thần Phật giáo (gồm Từ vô lượng; Bi vô lượng; Hỷ vô lượng; Xả vô lượng), Kiêm Ái (yêu tất cả không phân biệt) trong Mặc Tử và Bác Ái trong Thiên Chúa (Yêu người như yêu mình ta vậy…)

Dường như, mọi thứ trên trần gian này rồi sẽ phai tàn theo thời gian và luật vô thường, cái tồn tại là Tình Yêu Thương Ðích Thực (Authentic Love). Tình yêu đích thực là Tình Yêu đem hạnh phúc, niềm vui đến cho người mình yêu, vùa vì người vừa vì mình) khác với Tình yêu chiếm đoạt hay Tình yêu tư hữu hóa (Possessiveness Love/ Sở hữu đối tượng để thỏa mãn bản thân mình, không quan tâm đến cảm thức của đối tác.)

Trong tình yêu đích thực, hai khuynh hướng CHO và NHẬN hỗ tương hài hòa. Yêu ai là tự nguyện trách nhiệm niềm vui, nỗi buồn của người ấy. Mỗi giọt nước mắt, mỗi nụ cười, mỗi tiếng thở dài, mỗi cái rùng mình hay những trăn trở… băn khoăn… của người mình yêu đều là những biến cố, cần sự quan tâm đúng mức.

Tình Yêu Thương đích thực không phải là những lời tán dương vẻ đẹp tự nhiên hay nhân tạo, không phải là những món quà đắt giá trên thị trường kim hoàn, quần áo, xe cộ… tặng cho người yêu trong các dịp lễ lạc… mà chính là những mối quan tâm nhỏ nhặt tầm thường trong cuộc sống hàng ngày, cái mà ngưòi Pháp gọi là “les petites attentions” hoặc người Mỹ nói là”every little thing” on you…

Tình yêu chiếm đoạt là một cách thế tư hữu hóa đối tượng, biến người yêu thành một thứ của cải riêng không quan tâm đến những tâm tư tình cảm và khuynh hướng riêng của con người mà mình nói là đã yêu. Các nhà phân tích tâm lý nhận thấy rằng trong tình yêu tư hữu này, người ta nói là yêu người khác, tưởng là yêu người, nhưng sự thật thì họ chỉ yêu bản thân mình mà thôi. Tất cả những “động tác CHO” ở đây đều chỉ là một cách “đầu tư” nhằm vào lợi lộc trong tương lai, CHO với mục đích là để “bao vây” đối tượng… kiểu câu cá với ý tưởng NHẬN lại đủ vốn lời khi cá mắc mồi và cắn phải câu. Bởi vì đối tượng yêu đương chỉ là phương tiện làm cho họ thỏa mãn những khát vọng, những ao ước, hoặc khuynh hướng chinh phục của họ mà thôi. Bằng chứng là những người yêu theo lối này thường khoe khoang về thành quả chinh phục được người đẹp hay người hùng… vân vân… sau bao nhiêu ngày gian khổ… Ðây là “TỰ YÊU” chứ không phải là thực sự yêu người… do đó, tình yêu tư hữu thường đưa đến đổ vỡ hoặc bạo hành… Nhưng thật tội nghiệp cho cuộc đời, vì loại tình yêu này lại thường xảy ra nhất trong cuộc đời…

Ngưòi ta còn nói đến một loại tình yêu thứ ba nữa, đó là Tình Yêu Lý Tưởng hay Dâng Hiến (Ideal Love / Oblation) chỉ có CHO mà không cần thiết phải NHẬN lại. Yêu là muốn cho người mình yêu được hạnh phúc, kể cả khi hạnh phúc ấy không đáp lại ước mong của bản thân mình. Loại này hiếm nhưng không phải là không có!

“NGÀY VALENTINE” TRÊN THẾ GIỚI

Tại Hoa Kỳ và Gia Nã Ðại, trẻ em trao đổi thiệp Valentines với nhau. Tại một vài trường, học sinh tổ chức một buổi họp mặt cho lớp và để hết các thiệp Valentines vào trong một cái hộp đã cùng nhau trang hoàng. Vào buổi chiếu của ngày Valentine, thầy giáo hoặc một học sinh được đề cử ra phát những thiệp Valentines cho mọi người. Các học sinh thường được hướng dẫn tự làm lấy những thiệp Valentines bằng giấy mầu xanh đỏ, vẽ hình lên hoặc cắt từ các tạp chí. Nhiều khi các học sinh mua những vật dụng cần thiết để làm thiệp rồi chọn những thiệp lớn nhất, ngộ nghĩnh nhất để gửi cho cha mẹ và thầy cô giáo.

Các học sinh lớn và sinh viên thì tổ chức những buổi dạ hội có khiêu vũ trong ngày Valentine. Họ dọn những rổ bánh kẹo, những khay quà và những tấm thiệp được trang hoàng bằng hình những trái tim và hình một cậu bé mập mạp có cánh tay cầm cung tên gọi là CUPIDS tức là Thần Ái Tình.

Người trưởng thành thì tặng hoa, những hộp kẹo bánh hoặc những món quà khác cho vợ, chồng, hoặc cho người yêu quí.

Hầu hết những hộp kẹo bánh Valentine đều có hình trái tim và buộc bằng dây vải màu đỏ.

Tại Âu Châu, người ta cử hành lễ Valentine theo nhiều lối khác nhau.

Trẻ em Anh Quốc đi hát những bài đặc biệt dành cho Valentine’s Day và nhận quà tặng như kẹo, bánh, trái cây, hoặc tiền. Một vài nơi ở Anh Quốc người ta làm bánh Valentine với hạt ca-run thơm, mận hoặc nho.

Tại Ý, người ta tổ chức những bửa tiệc trong ngày Valentine.

Tại Anh Quốc và Ý Ðại Lợi, vào ngày Valentine, một số phụ nữ chưa lập gia đình thức dậy trước khi mặt trời mọc. Họ đến ngồi bên cửa sổ, có khi hàng giờ, nhìn ra đường, chờ đợi một người đàn ông đi ngang qua. Tục lệ này do sự tin tưởng rằng, người đàn ông đầu tiên mà họ nhìn thấy trong ngày Valentine, chính người đó, hoặc một chàng tương tự, sẽ cưới họ trong vòng một năm. Tục lệ này đã được nhà viết kịch nổi tiếng William Shakespeare mô tả trong kịch bản Hamlet (1603). Cô Ophelia đã hát rằng:

 “Good morrow! Tis St. Valentine ‘s Day

 All in the morning betime,

 And I a maid at you window,

 To be your valentine!”

(“Một ngày tươi đẹp! Ðây ngày Valentine

 Tất cả trong buổi sáng sớm

 Và em là cô gái bên song cửa

 Mong sẽ là người yêu dấu của anh!”)

Tại Ðan Mạch, người ta gửi những đóa hoa màu trắng ép khô, gọi là “giọt tuyết” cho bạn hữu. Ðàn ông Ðan Mạch cũng gửi một loại thiệp Valentine gọi là “gaekkebrev” một loại thư vui đùa (joking letter).

Các chàng viết một vần thơ nhưng không ký hẳn tên mình ra. Thay vào dó, ký tên bằng những dấu chấm nhỏ, một chấm vào mỗi chữ (letter) của cái tên thật. Nếu các nàng đoán được tên chàng, chàng sẽ thưởng cho nàng một trái trứng Phục Sinh vào Ngày Chúa Sống Lại. Trò chơi này cũng có một số người ở Anh làm trong Ngày Tình Yêu.

CÁC TỤC LỆ TRONG NGÀY VALENTINE  –  QUA CÁC THỜI ÐẠI 

Qua thời gian và không gian nếp sống và phong tục tập quán đều biến đổi. Các tục lệ về ngày Valentine cũng không thể ở ngoài qui luật. Những tục lệ đầu tiên bây giờ không còn như xưa nữa. Người Anh có lẽ đã cử hành Lễ Valentine từ thế kỷ thứ 14. Một vài sử gia đã truy tầm nguồn gốc của tục gởi những vần thơ vào Ngày Valentine và cho rằng do một người Pháp tên là Charles, Công Tước của Orléans đặt ra.

Công Tước Orléans, Charles, bị quân Anh Quốc bắt trong trận Agincourt vào năm 1415. Ông ta bị đưa về giam tại Anh. Vào ngày Valentine, Charles đã gửi cho vợ một bài thơ tình từ phòng giam tại nhà tù Tower of London.

Nhiều tục lệ bao gồm việc những người phụ nữ độc thân phải tìm cách biết được chồng tương lai của mình là người như thế nào?

Ðàn bà Anh Quốc thế kỷ thứ 17, viết tên người đàn ông trên những mảnh giấy nhỏ, cuốn quanh một viên đất sét rồi thả chúng vào nước. Tờ giấy đầu tiên nổi lên trên mặt nước sẽ được xem như có tên của một người tình đích thực.

Cũng trong thập niên 1700, những phụ nữ chưa lập gia đình kết năm lá nguyệt quế vào gối kê của mình vào buổi tối trước Ngày Valentine. Một lá ở chính giữa và bốn lá ở bốn góc. Nếu loại bùa phép này linh thì những phụ nữ này sẽ thấy người chồng tương lai của mình trong giấc mộng.

Tại miền trung nước Anh, quận Derbyshire, có tục lệ: các phụ nữ trẻ đi vòng quanh giáo đường từ ba đến 12 lần vào lúc nửa đêm, vừa đi vừa đọc những câu thơ như sau:

 I sow hempseed

 Hempseed I sow.

 He that loves me best,

 Come after me now.

 (Em gieo hạt giống mê say

 Hạt giống mê say em gieo.

 Chàng, người yêu em nhất,

 Hãy đến bên em lập tức.)

Người ta tin rằng sau khi lặp lại nhiều lần bài thơ trên, tình yêu trung thực sẽ hiện ra với những người thành tâm.

Một trong các tục lệ lâu đời nhất đó là tục viết tên những người phụ nữ trên những mảnh giấy, gấp lại, bỏ vào một cái bình. Mỗi người đàn ông sẽ bốc ra một mảnh giấy. Người phụ nữ có tên trên giấy ấy sẽ trở thành “Valentine” tức “người yêu quý” của anh ta, và sẽ được chàng dành cho sự quan tâm đặc biệt…

Nhiều người đàn ông đã tặng quà cho các Valentine của họ. Một vài nơi chàng trai trẻ tặng cho “người yêu quý” một đôi bao tay. Các chàng giàu có sẽ tổ chức những buổi dạ vũ linh đình để vinh danh Valentine của mình.

Vào thập niên 1700, có tục lệ vaò ngày Valentine, các nhóm bạn hữu họp mặt để rút thăm tên người Valentine của mình. Khi đã rút được tên Valentine của mình, vài ba ngày sau, người đàn ông sẽ đeo tên người phụ nữ trên tay áo của mình. Ðây là nguồn gốc của câu tục ngữ “mang trái tim mình trên cánh tay” (Wearing his heart on his sleeve). “Mang trái tim mình trên cánh tay” là câu nói có ý nghĩa rất thâm thúy. Tên người phụ nữ Valentine được xem như tái tim mình và mang trên cánh tay. Như vậy có nghĩa là trong tình cảm nói chung, trái tim là quan trọng hơn hết, mọi thứ khác chỉ là phụ tùy, trong tình yêu nam nữ trái tim là chính, tâm hồn là quan trọng nhất. Ngược lại thì không phải là tình yêu thực mà chỉ là tình dục trá hình…

Các phong tục cuả Ngày Valentine đã biến đổi qua thời gian. Vào các thập niên 1700 và 1800, tục lệ gửi những thông điệp tình yêu lãng mạn đã dần dần thay thế tục lệ gửi quà. Nhiều nơi đã bán những cuốn sổ tay gọi là “Valentine Writers” trong đó có in những bài thơ trữ tình, lãng mạn có thể chép lại để gửi đi, và những chỉ dẫn cùng gợi ý về việc sáng tác những vần thơ tình…

NHỮNG TẤM THIỆP VALENTINE CÓ TỪ BAO GIỜ?

Mãi đến đầu thập niên 1800 người ta mới thấy những tấm thiệp đầu tiên. Hầu hết đều để trắng bên trong cho người ta viết những điều muốn viết.

Bà Kate Greenway, một họa sĩ người Anh đã trở thành nổi tiếng nhờ những tấm thiệp Valentine của mình. Phần lớn các tấm thiệp của Kate đều vẻ những bức tranh duyên dáng, dễ thương với chủ đề các trẻ em vui chơi hạnh phúc và những khu vưòn êm ái, tươi vui…

Tại Mỹ, nhà sản xuất thiệp Valentine đầu tiên là một phụ nữ có tên là Esther A. Howland, thuộc thành phố Worcester, tiểu bang Massassussett. Vào năm 1847, sau khi nhìn thấy thiệp Valentine tại Anh quốc, bà ta đã quyết định tự làm lấy cho mình một vài cái. Bà đã làm ra những tờ mẫu và đã nhận đựợc đơn đặt hàng từ các cửa hàng. Sau đó bà thuê một số người trẻ tuổi để tiến hành việc sản xuất thiệp Valentines. Xí nghệp của Howland đã bành trướng rất mạnh và nhanh chóng số thương vụ mỗi năm lên tới một trăm ngàn Mỹ kim đầu tư. Nhiều tấm thiệp của thập niên này được vẽ bằng tay. Một số thiệp vẽ hình thần Ái Tình hiện thân trong một cậu bé mập mạp tay cầm cung tên nhắm bắn xuyên một trái tim… Phần lớn các thiệp đều có thắt dây bằng lụa, một số được trang trí bằng hoa khô, lông chim, nữ trang giả, vỏ ốc xa-cừ, vỏ ốc biển, hoặc tua chỉ. Một số thiệp tốn kém đến khoảng 10 Mỹ kim.

Vào giữa thế kỷ thứ 18 và đầu thế kỷ 19, ngưòi ta thường gửi những thiệp valentines hài hước gọi là “đồng xu đáng sợ” (penny dreadfull) vì những thiệp này chỉ bán có một xu mà thôi. Nội dung chứa những câu thơ nguyền rủa như:

“Tis all in vain your simpering looks,

You never can incline,

With all your bustles, stays, and curls,

To find a valentine.”

(Tất cả đều vô ích

Những cái nhìn ngờ nghệch của bạn

Bạn sẽ chẳng khi nào có thể thuyết phục được

Bằng tất cả những hối hả rộn ràng, viếng thăm và quay quắt

Ðể tìm được một người tình yêu quí.)

Ngày nay những cái thiệp loại này đã trở thành đồ cổ trong các bộ sưu tập…

Valentine ‘s Day là một truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Âu, Mỹ. Họ đã dành một ngày riêng cho Tình Yêu Thương như đã dành một ngày cho Mẹ, cho Cha và các tình cảm cao quí khác…

Dĩ nhiên, tình yêu thương phải hiện diện thường trực trong cuộc sống để con người có đủ niềm tin, niềm an ủi và niềm vui để dìu nhau vượt qua những chặng đường đời đầy gai góc và gian khổ.

Tiếc thay, vì những thúc bách của cuộc sống, tình yêu thương thường hiện diện một cách tiềm tàng, thầm lặng… Tiềm tàng và thầm lặng đến nỗi có nhiều “người trong cuộc” không còn cảm thấy gì ấm nồng, tha thiết nữa… rồi đâm ra buồn chán cho nhịp đơn điệu, tẻ nhạt… Một số người đã đi tìm cảm xúc và cảm giác mới thay vì tìm lại “người yêu dấu xưa”, tìm lại Valentine của một thuở một thời…

Trong tình cảnh này, Ngày Valentine sẽ là dịp giúp cho người đời hâm nóng lại những tình cảm đã cơ hồ như nguội lạnh vì hoàn cảnh, tạo điều kiện thuận lợi cho những người yêu nhau ôn lại cuộc tình đầy kỷ niệm buồn vui cho tình lên men thắm lại.

Valentine cũng sẽ là cơ hội tốt cho những chàng, những nàng còn quá rụt rè e thẹn trước ngưỡng cửa tình yêu. Hỡi những kẻ từng yêu mà không dám tỏ, hãy nương theo Valentine ‘s Day, Ngày của Tình Yêu Thương để nói lên tất cả những tình cảm chân thành đang rạo rực trong tim. Hỡi những tấm lòng son đang cháy ước mơ! Hãy biết rằng trên cõi tình không có một người nhan sắc nào vô tình cả!

Hãy gọi! thế nào cũng sẽ có lời đáp lại!

Hãy gõ! thế nào cũng có người mở cửa ra!

Hãy đi! thế nào cũng có lúc đến!

Hãy nhắm mắt lại, và mở lòng ra…

 “With Love All Things Are Possible”.

Hãy tin đi! Happy Valentine!

NGUYỄN CHÂU – San Jose – Valentine’s Day 2022.

From: Truong Le

Sử gia Harari: Hướng đi của nhân loại đang được quyết định tại Ukraina (RFI)

Sử gia Harari: Hướng đi của nhân loại đang được quyết định tại Ukraina

Đăng ngày: 13/02/2022 

Sử gia Yuval Noah Harari. © wikipedia

Trọng Thành

Những tuần lễ đầu tiên của năm 2022, khi đại dịch Covid-19 có phần tạm lắng sau 2 năm hoành hành, nhân loại lại đứng trước một đe dọa lớn mới đáng sợ hơn bội phần : Chiến tranh. Nguy cơ nước Ukraina bị xâm lăng không chỉ là đại họa với người dân của riêng quốc gia này cùng những khu vực xung quanh, mà còn đe dọa toàn bộ thành tựu của thế giới từ hơn nửa thế kỷ qua: Nền hòa bình.

Đối với sử gia nổi tiếng người Israel, Yuval Noah Harari (*), « thành tựu chính trị lớn nhất » của nhân loại trong bảy thập niên qua là « tình trạng suy tàn của chiến tranh ». Chiến tranh, chinh phạt, xâm chiếm lãnh thổ, cướp bóc tài nguyên, lấy bạo lực để bảo đảm vị thế, sự thịnh vượng, bảo đảm vinh quang, vốn từng là hoạt động hết sức phổ biến trong lịch sử nhân loại hàng ngàn năm nay. Luật Rừng, nơi mạnh được yếu thua, đã từng là nguyên tắc chủ yếu chi phối lịch sử nhân loại trong một thời gian dài. Tuy nhiên, theo sử gia Harari, trong vòng một vài thế hệ gần đây, thế giới đã chuyển sang một hướng đi hoàn toàn khác, một thay đổi triệt để. Cụ thể là một bộ phận lớn của giới tinh hoa lãnh đạo thế giới hiện nay tin tưởng là chiến tranh là « cái ác có thể tránh được ».

Cho dù chiến tranh vẫn tiếp diễn giữa một số quốc gia, trong nội bộ một số quốc gia, nhưng xu thế chung của giai đoạn lịch sử hơn nửa thế kỷ qua là nền hòa bình đã trở thành tình trạng phổ biến, và chiến tranh xâm lược ngày càng trở nên chuyện gần như không thể. Theo tác giả, « sự suy tàn của chiến tranh » không phải là kết quả của một phép màu hay sự thay đổi của các quy luật mang tính tự nhiên, mà chính là do sự lựa chọn của con người.

Yuval Noah Harari sống tại Trung Đông, một khu vực mà bạo lực chiến tranh xảy ra khá thường xuyên. Tác giả phân biệt những gì là « ngoại lệ » với xu thế chung. Theo tác giả, « nền hòa bình mới » là điều chưa từng có với nhân loại. Chiến tranh xâm lược khó xảy ra hơn hiện nay khi tri thức đã trở thành « nguồn lực chủ yếu tạo ra của cải », chứ không còn là tài nguyên thiên nhiên như trước đây. Giờ đây, bạo lực do chiến tranh khiến ít người chết hơn là tai nạn giao thông hay bệnh béo phì. Chi phí cho giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội nhiều hơn hẳn ngân sách cho vũ trang, vốn chiếm tỉ lệ lớn nhất trong ngân sách của giới cầm quyền các thời kỳ lịch sử trước đây.

Yuval Noah Harari nhấn mạnh là « nền hòa bình mới » chưa từng có với nhân loại đang bị đe dọa: « Sự trỗi dậy của vũ khí mạng, các nền kinh tế do trí tuệ nhân tạo điều khiển và việc tái quân sự hóa nền văn hóa của chúng ta có thể mở ra một kỷ nguyên chiến tranh mới, tồi tệ hơn rất nhiều so với bất kỳ điều gì chúng ta từng biết trước đây ». Theo ông, hướng đi của nhân loại sẽ bị đảo chiều, nếu chiến tranh xâm lược bùng nổ tại Ukraina.

Tuy nhiên, nhà sử học nổi tiếng với tiếp cận lịch sử toàn cầu, xuyên nhiều thiên niên kỷ, cũng tin tưởng là chiến tranh, Luật Rừng không phải quy luật có trong tự nhiên, mà là sự lựa chọn của con người. Con người đã tạo lập được « nền hòa bình » kéo dài hơn nửa thế kỷ. Chiến tranh không phải là định mệnh, Luật Rừng không phải là luật tự nhiên. Khả năng hợp tác và xây dựng nền dân chủ có thể giúp cho nhân loại bảo vệ được hòa bình. Việc người dân Ukraina bất ngờ dựng nên nền dân chủ non trẻ, trỗi dậy lạ kỳ sau hàng thế kỷ bị đàn áp tưởng như không ngóc đầu lên được, cho thấy Ukraina có thể mang lại cho nhân loại những bài học bất ngờ.

Sau đây, xin giới thiệu với quý độc giả góc nhìn của sử gia Yuval Noah Harari trên The Economist, qua bài « Yuval Noah Harari argues that what’s at stake in Ukraine is the direction of human history » (tạm dịch là « Sử gia Harari: Hướng đi của lịch sử nhân loại đang được quyết định tại Ukraina »). Phần chuyển dịch dựa trên bản dịch tiếng Pháp trên Courrier International).

***

HƯỚNG ĐI của NHÂN LOẠI ĐANG ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH tại UKRAINA

Thành tựu chính trị lớn nhất của nhân loại trong bảy thập niên qua là tình trạng suy tàn của chiến tranh. Thành tựu đó hiện đang gặp nguy hiểm.

Trong tâm điểm của cuộc khủng hoảng Ukraina, có một câu hỏi căn bản liên quan đến bản chất của lịch sử và bản chất của nhân loại : Đó là thay đổi là có thể hay không thể ? Con người có thể thay đổi được ứng xử của mình ? hay lịch sử rút cục chỉ là sự lặp lại không ngừng, bởi nhân loại bị kết án mãi mãi lắp lại các bi kịch trong quá khứ, mà không có thể làm gì để thay đổi cả, có chăng chỉ là những gì không căn bản ?

Có một trường phái tư tưởng phủ nhận triệt để khả năng thay đổi của con người. Theo trường phái này, thì thế giới tuân theo Luật Rừng, nơi các loài mạnh ăn thịt các loài yếu, và sức mạnh vũ trang là phương tiện duy nhất ngăn cản một quốc gia này nuốt chửng một quốc gia khác. Lịch sử đã là như vậy, và sẽ luôn luôn tiếp tục là như vậy. Những ai không tin vào Luật Rừng sẽ không chì sống trong ảo ảnh, mà còn khiến sự tồn tại của chính mình lâm nguy. Họ sẽ không thể sống sót.

Một trường phái tư tưởng khác khẳng định rằng cái gọi là luật cạnh tranh sinh tồn đúng là rất phổ biến, nhưng lại không phải là một quy luật tự nhiên. Chính con người đã tạo ra nó, và như vậy con người có thể thay đổi nó. Ngược với những ý tưởng sai lầm đang tồn tại, theo các dấu hiệu khảo cổ học xưa nhất không thể phản bác, hoạt động chiến tranh có tổ chức chỉ xảy ra vào khoảng 13.000 năm trước Công nguyên. Và ngay cả sau niên đại này, trong nhiều khoảng thời gian dài, khó tìm thấy các dấu vết khảo cổ về chiến tranh. Ngược hẳn với « trọng lực » (một quy luật tự nhiên), chiến tranh không phải là một sức mạnh vốn có của thiên nhiên. Sự tồn tại của chiến tranh, mức độ căng thẳng của chiến tranh phụ thuộc vào các yếu tố công nghệ, kinh tế và văn hóa ngầm ẩn. Và khi các yếu tố này thay đổi thì chiến tranh cũng thay đổi.

Tri thức, nguồn lực chủ yếu sáng tạo ra của cải

Có nhiều bằng chứng cho sự thay đổi này xung quanh chúng ta. Trong vòng một vài thế hệ, vũ khí hạt nhân đã biến chiến tranh giữa các siêu cường thành một nguy cơ tự sát tập thể điên rồ. Đây là điều buộc các quốc gia hùng mạnh nhất hành tinh phải tìm ra các phương tiện ít bạo lực hơn để giải quyết các xung đột. Nếu như các cuộc chiến tranh giữa các đại cường, như kiểu Thế chiến Hai hay cuộc chiến tranh Punic lần thứ hai (từ 218 đến 201 trước Công Nguyên, tại Bắc Phi và Nam Âu, giữa Carthage và đế quốc La Mã –  người dịch bổ sung) đã từng là một đặc điểm nổi trội trong phần lớn lịch sử, thì 70 năm gần đây chưa từng chứng kiến bất cứ một xung đột trực tiếp nào giữa các đại cường.

Trong cùng một giai đoạn, nền kinh tế thế giới, trước đây vốn dựa vào các nguồn tài nguyên, nay đã chuyển hướng sang dựa vào tri thức. Trong lúc trước kia các nguồn tài nguyên chính là các tài sản vật chất, như mỏ vàng, đồng ruộng, các giếng dầu, thì giờ đây nguồn tài nguyên chính là tri thức. Mà, nếu như có thể dùng vũ lực để chiếm lĩnh các mỏ dầu, thì lại không thể làm như vậy với tri thức. Chính vì vậy, chinh phục lãnh thổ giờ đây ít mang lại lợi ích hơn.

Cuối cùng thì văn hóa thế giới đã trải qua một giai đoạn biến chuyển dữ dội. Trong lịch sử, một bộ phận lớn của giới tinh hoa – ví dụ như các thủ lĩnh của người Hun, người Viking, hay giới quý tộc La Mã – đã từng cho chiến tranh là điều tốt. Từ Sargon Đại Đế vùng Lưỡng Hà đến nhà độc tài Ý Benito Mussolini, các nhà lãnh đạo thường tìm kiếm danh tiếng bất tử thông qua các cuộc chinh phạt (…). Một số thành phần tinh hoa khác, như Giáo hội Thiên Chúa giáo, từng coi chiến tranh là cái ác không thể tránh được.

Tuy nhiên, trong vòng một vài thế hệ trở lại đây, lần đầu tiên thế giới được lãnh đạo bởi một bộ phận giới tinh hoa coi chiến tranh là một cái ác có thể tránh được. Cả các tổng thống Mỹ George W. Bush và Donald Trump, chưa kể đến những người như thủ tướng Đức Merkel và thủ tướng New Zealand Ardern. Đó là những chính trị gia khác hẳn với Attila Rợ Hung hay Alaric đệ nhất, vua của tộc Goth (tức các thủ lĩnh quân sự lừng danh châu Âu thế kỷ V – người dịch). Các chính trị gia đương đại (như Merkel nay Ardern) nhìn chung lên nắm quyền nhờ việc nuôi dưỡng niềm tin trong công chúng vào ước mơ có được các cải cách trong nước hơn là tiến hành các cuộc chinh phạt bên ngoài. Trong lúc đó, những cây đại thụ trong các lĩnh vực nghệ thuật và tư tưởng – từ danh họa Pablo Picasso đến nhà điện ảnh bậc thầy Stanley Kubrick – nổi tiếng đặc biệt là do đã mô tả sự ghê rợn phi lý của chiến tranh, hơn là tôn vinh những người gây ra chiến tranh.

Đường ăn khiến nhiều người chết hơn là thuốc súng

Tiếp theo những thay đổi như vậy, phần lớn các chính quyền đã ngừng coi các cuộc chiến tranh xâm lược, như một công cụ có thể dùng đến để bảo vệ các lợi ích của họ, và đa số các quốc gia cũng ngừng nuôi dưỡng tham vọng chinh phạt và sát nhập lãnh thổ của các láng giềng. Sẽ là sai lầm khi tin rằng lực lượng quân sự duy nhất đủ để ngăn cản Brazil chinh phục Uruguay, hoặc Tây Ban Nha xâm lược Maroc.

Các thống kê cho thấy sự suy tàn của chiến tranh không thiếu. Từ năm 1945, tương đối hiếm có việc các biên giới quốc tế bị vẽ lại do một cuộc xâm lược, và không có một quốc gia nào bị xóa sổ khỏi bản đồ do một cuộc xâm lặng từ bên ngoài. Dĩ nhiên là có nhiều loại xung đột khác, như nội chiến và nổi dậy. Tuy nhiên, ngay cả khi tính tổng cộng tất cả các nạn nhân của những cuộc chiến như vậy trong 20 năm đầu của thế kỷ XXI, bạo lực chiến tranh khiến ít người chết hơn là nạn tự sát, tai nạn giao thông hay bệnh tật liên quan đến béo phì. Giờ đây thuốc súng khiến ít người chết hơn là đường.

Tính chính xác của các số liệu này là đối tượng tranh luận trong giới khoa học, nhưng cần vượt ra khỏi chuyện này để nhắm đến câu chuyện căn bản hơn. Sự suy tàn của chiến tranh không chỉ là câu chuyện thống kê mà cũng là một hiện tượng tâm lý. Trước hết, có thể thấy có một thay đổi kỳ lạ trong bản thân nghĩa của từ « hòa bình », như một hệ quả. Trong suốt chiều dài lịch sử của nhân loại, « thời bình » đã từng là đồng nghĩa như « sự vắng mặt tạm thời của chiến tranh ». Năm 1913, khi mọi người nói rằng đã có « hòa bình » giữa Pháp và Đức, thì điều đó có chỉ nghĩa là hai quân đội Pháp và Đức đang trong tình trạng không đụng độ trực tiếp, nhưng tất cả đều hiểu rằng chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.

Kể từ vài thập niên trở lại đây, « hòa bình » cuối cùng đã mang nghĩa « chiến tranh là bất khả thi ». Nhiều quốc gia ngày nay khó lòng hình dung được là họ có thể bị xâm lược và chinh phục bởi các nước láng giềng. Tôi là người sống ở vùng Trung Đông, vì vậy tôi biết rõ rằng có những ngoại lệ với xu hướng này. Nhưng việc xác định các xu hướng cũng quan trọng không kém việc chỉ ra các trường hợp ngoại lệ.

Khi con người có những lựa chọn đúng hơn

« Nền hòa bình mới » không còn là một trạng thái bất thường xét về mặt thống kê, và cũng không còn là một ảo tưởng của giới hippy. Các ngân sách – được tính toán một cách lạnh lùng – cung cấp các bằng chứng rõ ràng nhất cho điều này. Trong những thập kỷ gần đây, các chính phủ trên toàn thế giới đã cảm thấy đủ an toàn khi chỉ chi trung bình 6,5% ngân sách cho vũ trang, và chi nhiều hơn hẳn cho giáo dục, y tế và phúc lợi xã hội. Điều mà chúng ta có thể dễ dàng coi là chuyện đương nhiên, trong khi đây là một điều mới lạ đáng kinh ngạc, nếu xét trên toàn bộ lịch sử nhân loại. Trong hàng nghìn năm, chi tiêu quân sự đã từng là khoản chi lớn nhất trong ngân sách của các hoàng tử, các đại hãn, các quốc vương, hoàng đế. Họ hiếm khi chi tiền cho giáo dục hoặc chăm sóc y tế cho đại chúng.

Sự suy tàn của chiến tranh không phải là kết quả của một phép màu thần thánh hay sự thay đổi của các quy luật tự nhiên. Mà đó là bởi vì con người đã có những lựa chọn tốt hơn. Có thể nói, chắc chắn đây là thành tựu chính trị và đạo đức vĩ đại nhất của nền văn minh hiện đại. Nhưng thật không may, bởi nếu điều đó được sinh ra bởi sự lựa chọn của con người thì cũng có nghĩa là nó có thể bị đảo ngược.

Công nghệ, nền kinh tế và văn hóa tiếp tục phát triển. Sự trỗi dậy của vũ khí mạng, các nền kinh tế do trí tuệ nhân tạo điều khiển và việc tái quân sự hóa nền văn hóa của chúng ta có thể mở ra một kỷ nguyên chiến tranh mới, tồi tệ hơn rất nhiều so với bất kỳ điều gì chúng ta từng biết trước đây. Để tận hưởng nền hòa bình, điều cần thiết là tất cả mọi người, hoặc hầu hết tất cả mọi người, có được những lựa chọn đúng đắn. Ngược lại, chỉ cần một người tham gia lựa chọn tồi có thể khiến chiến tranh bùng nổ.

Đây là lý do tại sao mối đe dọa xâm lược Ukraina của Nga có thể khiến tất cả cư dân trên hành tinh này lo lắng. Nếu các quốc gia hùng mạnh có thể đè bẹp các nước láng giềng yếu hơn mà không bị trừng phạt, thì các cảm xúc và hành vi trên toàn thế giới sẽ thay đổi. Hệ quả đầu tiên, và có lẽ là rõ ràng nhất, của sự quay trở lại của Luật Rừng sẽ là sự gia tăng mạnh chi phi quân sự gây bất lợi cho phần còn lại của thế giới. Số tiền đáng lẽ dành cho giáo viên, y tá và nhân viên xã hội sẽ được đầu tư vào xe tăng, tên lửa và vũ khí mạng.

Vòng xoáy luẩn quẩn có thể dẫn nhân loại chúng ta đến chỗ diệt vong

Việc quay trở lại luật rừng cũng sẽ làm suy yếu hợp tác toàn cầu, đặc biệt là khi liên quan đến việc ngăn chặn biến đổi khí hậu, hoặc điều chỉnh các công nghệ tiềm ẩn nguy hiểm như trí tuệ nhân tạo và kỹ thuật di truyền. Thật không dễ dàng để làm việc, khi phải sống cạnh các quốc gia đang chuẩn bị xóa sổ nước bạn khỏi bản đồ. Và khi biến đổi khí hậu và cuộc chạy đua trí tuệ nhân tạo tăng tốc, thì mối đe dọa xung đột vũ trang cũng sẽ chỉ có thể gia tăng, giam hãm chúng ta vào một cái vòng luẩn quẩn, có thể dẫn nhân loại chúng ta đến chỗ diệt vong. Nếu bạn tin rằng sự thay đổi lịch sử là điều không thể xảy ra và loài người chưa bao giờ rời khỏi rừng rậm và sẽ không bao giờ rời khỏi rừng rậm, thì sự lựa chọn sẽ là giữa chọn làm kẻ săn mồi hoặc chọn làm con mồi. Khi ấy nếu phải lựa chọn, hầu hết các nhà lãnh đạo sẽ thà đi vào lịch sử như những kẻ săn mồi đỉnh cao và bổ sung tên của họ vào cái danh sách thê thảm của thủ lĩnh các cuộc chinh phạt mà những học sinh nghèo phải học thuộc lòng để qua được các kỳ thi môn lịch sử.

Nhưng thay đổi cũng là điều có thể ? Có thể vì Luật Rừng là một sự lựa chọn chứ không phải là định mệnh ? Nếu như vậy, nhà lãnh đạo nào lựa chọn quyết định xâm lược quốc gia hàng xóm sẽ có một vị trí đặc biệt trong ký ức của nhân loại, tệ hơn rất nhiều so với Tamerlane (thủ lĩnh quân sự nổi tiếng tàn bạo (sinh 1336 – chết 1405), người sáng lập đế quốc Timurid ở vùng Ba Tư và Trung Á – người dịch bổ sung). Một kẻ như vậy sẽ đi vào lịch sử với tư cách là người phá bỏ thành tựu vĩ đại nhất của chúng ta. Sẽ đưa chúng ta trở lại thế giới của Luật Rừng, trong khi chúng ta tin tưởng là đã thoát khỏi nó.

Người Ukraina có nhiều điều để dạy chúng ta

Tôi không biết điều gì sẽ xảy ra ở Ukraina. Nhưng với tư cách là một nhà sử học, tôi tin vào khả năng thay đổi. Đây không phải là niềm tin ngây thơ, mà là chủ nghĩa hiện thực. Điều duy nhất bất biến trong lịch sử loài người đó là sự thay đổi. Và về chủ đề này, người Ukraina có thể có điều gì đó để dạy chúng ta. Nhiều thế hệ người Ukraina chỉ biết đến chế độ chuyên chế và bạo lực. Họ đã phải chịu đựng hai thế kỷ dưới chế độ chuyên chế Sa hoàng (cuối cùng đã sụp đổ trong cơn đại hồng thủy của Thế chiến thứ nhất). Nỗ lực giành độc lập ngắn ngủi của dân Ukraina đã nhanh chóng bị đè bẹp bởi Hồng Quân, lực lượng đã khôi phục quyền thống trị của đế chế Nga. Sau đó, người Ukraina đã trải qua nạn đói khủng khiếp do chính sách « Holodomor » (1932 – 1933) (chính sách gây chết đói hàng loạt), sự khủng bố của chế độ Stalin, sự chiếm đóng của Đức Quốc xã và nhiều thập niên bị đè nén dưới chế độ toàn trị cộng sản. Khi Liên Xô sụp đổ, đã có mọi lý do để tin rằng người Ukraina sẽ một lần nữa đi theo con đường của chế độ chuyên chế tàn bạo, vì đó là những gì duy nhất mà họ đã biết được.

Nhưng dân Ukraina đã có một sự lựa chọn khác. Bất chấp sức nặng của lịch sử, bất chấp tình trạng nghèo đói cùng cực và bất chấp những trở ngại dường như không thể vượt qua nổi, người Ukraina đã thiết lập được một nền dân chủ. Ở Ukraina, không giống như ở Nga và Belarus, các ứng cử viên đối lập đã nhiều lần lên nắm quyền. Đối mặt với mối đe dọa của một chế độ ngả sang độc tài, trong những năm 2004 và 2013, người Ukraina đã hai lần nổi dậy để bảo vệ quyền tự do của mình. Nền dân chủ với dân Ukraina là hoàn toàn mới mẻ. Cũng giống như « nền hòa bình mới » (của nhân loại từ hơn nửa thế kỷ nay – người dịch). Cả hai đều mong manh và có thể sẽ không tồn tại lâu. Nhưng cả nền dân chủ và hòa bình đều là điều có thể thành công, và có thể bắt rễ sâu. Chúng ta đừng quên rằng những gì cũ hiện nay trước đây đã từng là cái mới. Tất cả đều phụ thuộc vào những lựa chọn của con người.

GHI CHÚ

(*) Yuval Noah Harari (sinh năm 1976) là giáo sư Khoa Lịch sử tại Đại học Hebrew Jerusalem. Ông là tác giả của ba cuốn sách bán chạy hàng đầu thế giới: Sapiens: Lược sử loài người (2014), Homo Deus: Lược sử tương lai (2016) và 21 bài học cho thế kỷ 21 (2018).

Thách thức nghiêm trọng nhất của Việt Nam là Đảng Cộng sản

Thách thức nghiêm trọng nhất của Việt Nam là Đảng Cộng sản

Bởi  AdminTD

 Jackhammer Nguyễn

14-1-2022

Ngày 11-2-2022, cây bút quen thuộc, Nguyễn Quang Dy có bài viết đăng trên trang Viet-Studies: Những thách thức năm Nhâm dần.

Bài mở đầu với những cảm xúc tích cực về các hiện tượng thiên nhiên đầu năm mới, và kết thúc bằng lời khuyên rằng, Việt Nam nên thay đổi thể chế để có thể vượt qua những thách thức trong năm mới.

Chúng ta có thể dễ dàng đồng ý với những phân tích về quan hệ bang giao quốc tế của tác giả, trong đó nhấn mạnh, việc Việt Nam đã khá thành công trong việc tạo cho mình một thế đứng trung gian giữa cuộc xung đột và cạnh tranh ngày càng mạnh giữa các siêu cường, quan trọng nhất là cuộc xung đột Mỹ – Trung. Nói một cách nôm na là, Hà Nội đã thành công trong việc đu dây giữa Washington và Bắc Kinh.

Không chỉ một mình ông Nguyễn Quang Dy nhận ra điều đó, tôi cũng có nghe rằng một trong những gương mặt chống Cộng có tiếng người Việt ở Mỹ, nói trong chỗ thân tình rằng: “Cộng sản Hà Nội đu dây tử thần, nên cho họ credit về chuyện đó”.

Ngày 11-2-2022, chính phủ Mỹ công bố sách lược Ấn Độ – Thái Bình Dương, trong đó Việt Nam được xem như một trong những đối tác khu vực hàng đầu (leading regional partners), ngang hàng với Singapore, Đài Loan.

Có thể nói không ngoa rằng, thái độ của Hoa Kỳ cộng với việc thành công của chính sách đu dây của Việt Nam đã làm cho Hà Nội chống được dịch Covid-19, với lượng vaccine của chính phủ Mỹ đến kịp thời.

Những đề cập về kinh tế Việt Nam cũng như những khuyến cáo (hoặc trích dẫn) mà ông Nguyễn Quang Dy đưa ra, cũng sẽ dễ dàng được độc giả đồng tình.

Nhưng không biết có phải vì do thời điểm đầu năm mới, cần có những suy nghĩ tích cực hay không, nhưng tôi cảm thấy tác giả đã giảm nhẹ điều gọi là thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay. Đó chính là vị trí một mình một chợ, ngày càng vững chắc của Đảng Cộng sản cầm quyền.

Sau một thời gian dài lưỡng lự, Đảng Cộng sản đã tống giam người thực sự đối kháng cuối cùng của chế độ là Phạm Đoan Trang vào năm 2020. Thừa thắng xông lên, Đảng Cộng sản dẹp luôn những tổ chức dân sự ít màu sắc chính trị quyền lực hơn, nhưng họ không kiểm soát.

Ngày 9-2-2022, Hà Nội tống giam bà Ngụy Thị Khanh, đứng đầu một tổ chức môi trường, từng nhận giải thưởng về bảo vệ môi trường quốc tế, với tội danh… trốn thuế! Cần nhớ rằng, tội danh loại này cũng từng được gán cho một số nhân vật đối kháng có tiếng trước đây như Nguyễn Văn Hải, Lê Quốc Quân, Trần Huỳnh Duy Thức (đối với ông Thức là cái nhãn gian lận thương mại).

Công bằng mà nói thì những thành phần thực sự đối kháng như tôi vừa đề cập không là bao nhiêu, sự lưỡng lự của Hà Nội trong hơn 10 năm qua, chỉ là sự đo lường sức ép quốc tế lên họ mà thôi, chứ thực ra họ vẫn kiểm soát tình hình, kiểm soát rất chặt phong trào đối kháng, một phong trào ra đời từ sự bắt nạt của Trung Quốc đối với Việt Nam, hơn là những nhu cầu dân sinh và xã hội trong nước. Đã ít ỏi, phong trào này lại rất hỗn tạp, không dựa trên những hiểu biết căn bản về một xã hội dân chủ.

Đầu năm 2022, một người Việt chống Cộng ở Mỹ là ông Dao Huyen, đưa ra nhận xét về những người gọi là hoạt động dân chủ ở Việt Nam trong những năm qua là họ “thiếu sự thiện lương và công chính của những người muốn đi làm cách mạng”. Dĩ nhiên ông Dao Huyen nói điều đó không bao hàm tất cả những người vào tù ra khám ở Việt Nam trong những năm qua. Dù sao năm 2020 cũng đánh dấu sự kết thúc của phong trào này.

Bên trong thì phong trào đối kháng, vốn đã yếu, nay thì tan rã. Bên ngoài, nhờ vào vị trí địa chiến lược đắc địa đối với phương Tây trong cuộc đối đầu với Trung Quốc, cộng với ngoại giao đu dây khéo léo, Hà Nội đang ở trong môi trường rất thuận lợi.

Nhưng trong những cái thuận lợi ấy, cái lợi cho Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều hơn so với người dân Việt Nam. Thậm chí đối với người dân Việt Nam, lợi lộc của Đảng Cộng sản là điều có hại cho dân rất rõ ràng. Đảng Cộng sản đã mạnh, đã một mình, nay càng mạnh thêm, càng một mình và càng tha hồ làm bậy.

Cùng năm với việc bắt giữ Phạm Đoan Trang, việc chống dịch Covid một cách bát nháo của Đảng làm cho hơn 20 ngàn người Việt thiệt mạng. Dịch bệnh cũng làm lộ rõ tình trạng người dân quê Việt Nam, những người làm thuê làm mướn trong các nhà máy, bị bóc lột tận xương tủy, trong đó có hơn 1 triệu người bỏ chạy tán loạn sau vài tuần lễ phong tỏa.

Năm 2021 lại chứng kiến hai sự việc tồi tệ một cách kinh hoàng là vụ công ty Việt Á bán bộ xét nghiệm dỏm, làm giàu trên tình trạng chết chóc của dân chúng, và vụ nâng giá vé máy bay cho người Việt ở nước ngoài muốn về nước giữa đại dịch, qua những chuyến bay mà chính quyền gọi là “giải cứu”.

Hai điều kinh hoàng nhất trong hai sự kiện này là sự mục ruỗng của cả hệ thống bao che cho những kẻ thủ ác, thứ hai là sự suy đồi đạo đức không còn giới hạn nữa của quan chức Đảng Cộng sản Việt Nam.

Không có gì bảo đảm rằng hai sự việc như thế sẽ không còn xảy ra trong tương lai, và người dân trong nước sẽ lại chịu hậu quả thảm khốc, trong tình trạng Đảng Cộng sản Việt Nam một mình một chợ, quyền lực không giới hạn, tự tung tự tác.

Và đó chính là thách thức nghiêm trọng nhất đối với Việt Nam hiện nay.

Bắt các lãnh đạo khối XHDS vì lợi ích nhóm bị đụng chạm và để đe dọa! (RFA)

Bắt các lãnh đạo khối XHDS vì lợi ích nhóm bị đụng chạm và để đe dọa!

2022.02.11

Ba nhà hoạt động Mai Phan Lợi, Đặng Đình Bách và Nguỵ Thị Khanh trong một hội thảo của các CSOs.

Nhân vật cung cấp cho RFA

Vụ bắt giữ nhà hoạt động môi trường, Giám đốc tổ chức xã hội dân sự Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh – Green ID- bà Nguỵ Thị Khanh, là vụ mới nhất mà Chính quyền Hà Nội ra tay đối với các tổ chức xã hội dân sự có đăng ký ở Việt Nam. 

Hồi tháng bảy năm ngoái, hai người khác bị bắt và đã bị xét xử là ông Mai Phan Lợi, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung tâm Giáo dục Truyền thông (MEC). Ông bị tuyên bốn năm tù vào ngày 11/1. Người thứ hai là luật gia Đặng Đình Bách, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Pháp luật & Phát triển Bền vững (LPSD) bị án năm năm tù hôm 24/1, với cùng tội danh ‘trốn thuế’.

Một người luôn đồng hành cùng với luật gia Đặng Đình Bách trong các hoạt động của Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Pháp luật & Phát triển Bền vững (LPSD), yêu cầu được giấu danh tính vì lý do an toàn, nói với RFA tối hôm 10/2 rằng việc lãnh đạo của các tổ chức xã hội dân sự được Nhà nước Việt Nam cấp phép, bị khởi tố trong thời gian gần đây đã tạo ra một nỗi lo sợ bao trùm lên các tổ chức NGOs khác ở trong nước, và rằng “trốn thuế” chỉ là cái cớ để chính quyền Việt Nam tiến hành bắt giam những nhà hoạt động hàng đầu vì có động chạm đến lợi ích nhóm.

Đụng chạm lợi ích nhóm?

Người này phân tích, cả ba tổ chức MEC, LPSD và Green ID đều thuộc Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA). Mục tiêu của liên minh này là thúc đẩy năng lượng tái tạo, giảm ô nhiễm không khí bằng cách giảm nhiệt điện than, và vận động chính sách ra Luật bảo vệ môi trường, Luật quy hoạch điện VIII:

“Tôi hiểu rằng tội trốn thuế là một cái cớ. Còn nguyên nhân thực tế thì tôi cho rằng ba tổ chức này đều liên quan đến EVFTA và liên quan đến hoạt động của Liên minh năng lượng bền vững trong việc vận động mạnh mẽ bỏ nhiệt điện than, thì nó có tác động đến lợi ích nhóm.”

Ngoài ra, người này nhận định, đối với vụ án xảy ra ở tổ chức LPSD thì không giống với các vụ trốn thuế thông thường, trong quá trình tố tụng hình sự có nhiều sai phạm.

Thứ nhất, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử có ghi rõ đây là một phiên toà công khai, nhưng trên thực tế thì không một thân nhân nào của bị can, là luật gia Đặng Đình Bách được vào toà. Nếu chỉ là một vụ trốn thuế đơn thuần, vì sao phải ngăn chặn người thân tham dự phiên xét xử.

Thứ hai, toà không triệu tập kế toán trưởng và giám định viên cục thuế. Hành vi trốn thuế của một doanh nghiệp không thể nào giám đốc thực hiện một mình được mà không có sự liên đới của kế toán. Toà đưa ra phán quyết chỉ căn cứ vào những con số do giám định viên đưa ra, nhưng lại không triệu tập giám định viên vào toà để chất vấn.  Đó là điều vô lý.

Thứ ba, LPSD là một tổ chức phi lợi nhuận, không thuộc tổ chức phải đóng thuế. Sau khi kết thúc các dự án, tổ chức này luôn thu thập các lá thư của nhà tài trợ và đối tác xác nhận rằng LPSD đã sử dụng số tiền tài trợ đúng mục đích.

Thứ tư, nếu đơn giản là vụ án trốn thuế, vì sao gia đình xin nộp tiền khắc phục hậu quả để được tình tiết giảm nhẹ, mà toà án lại không xem xét.

Từ những lý do trên, người này kết luận rất có khả năng là tòa án đã thông đồng với giám định viên cục thuế và kế toán trưởng để đổ hết tội cho luật gia Đặng Đình Bách, cáo buộc trốn thuế chỉ là điều nguỵ tạo.

Lá đơn đề nghị luật sư bào chưa do luật gia Đặng Đình Bách viết từ 8/7/2021 khẳng định lý do ông bị bắt theo lời ông là: “làm việc với một số dự án liên quan đến Thuỷ điện Sơn La, nên tôi bị đưa vào một vụ án khác… Tôi xác định mình vô tội và là nạn nhân của một vụ án khác” – ông Bách viết trong lá đơn.

Nỗi lo sợ, căng thẳng bao trùm các tổ chức khác

Nhân vật giấu tên mà RFA phỏng vấn cho biết đã nỗ lực liên hệ với gia đình của ông Mai Phan Lợi và bà Nguỵ Thị Khanh khi hai người này bị bắt, nhưng tất cả đều e ngại tiếp xúc với truyền thông:

“Tôi đã tìm cách đến gia đình của anh Lợi cũng như gia đình của chị Khanh nhưng mọi người không muốn chia sẻ với truyền thông bất cứ một thứ gì, mọi người vẫn rất là sợ.

Bởi vì thứ nhất là người thân của các anh chị đó không hiểu về tính chất công việc của người nhà mình. Họ vì không hiểu cho nên có một nỗi sợ, mọi người sợ bị sách nhiễu nên là mọi người rất là e ngại. Vậy nên tôi cảm thấy rất là đơn độc.”

Người này nói mình cảm nhận được nỗi sợ hãi đang bao trùm lên giới NGOs trong nước. Đã bắt một, hai rồi ba người thì không có lý do gì phải e ngại bắt tiếp nhiều người khác:

“Mọi người có hỏi thăm đến gia đình tôi, thì tôi có cảm nhận được nỗi sợ hãi nó đã bao trùm lên tâm lý của tất cả những người đứng đầu ca các tổ chức NGOs khác.

Vì họ sợ không biết đến khi nào thì chính quyền sẽ sờ đến mình, cho nên họ không dám có bất kỳ một hành động cụ thể nào để lên tiếng cho những người đã bị bắt oan, đã bị kết tội oan. Như thế họ sống trong sự hoang mang và lo lắng nó bao trùm lên hết.”

Vào tháng 12/2021, Báo cáo viên đặc biệt của Liên hiệp quốc về các quyền tự do hội họp ôn hòa và hiệp hội và Báo cáo viên Đặc biệt về thúc đẩy và bảo vệ quyền tự do quan điểm và biểu đạt đã gởi một thư ngỏ cho Chính phủ Việt Nam.

Một trong các nội dung của bức thư này lưu ý rằng Việt Nam đã hạn chế các hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự cũng như bày tỏ quan ngại về những hạn chế pháp lý đối với việc tiếp cận nguồn tài trợ nước ngoài.

Các Báo cáo viên đặc biệt kêu gọi Việt Nam đảm bảo rằng các hiệp hội, dù đăng ký hay không, đều có thể tìm kiếm, nhận và sử dụng tài trợ và các nguồn lực, dù là nội địa, nước ngoài hay quốc tế, mà không phải phê duyệt trước hay phải chịu những cản trở không đáng có, bao gồm từ các cá nhân, hiệp hội, quỹ hay các tổ chức xã hội dân sự khác…

Giờ đây bộ máy đàn áp của Nhà nước này lại đang chuyển hướng nhắm vào các tổ chức phi chính phủ hoạt động về môi trường và xã hội. – Phil Robertson (HRW)

Bình luận của Tổ chức nhân quyền quốc tế

Bình luận với Đài Á châu Tự do qua email vào hôm 10/2, ông Phil Robertson, Giám đốc khu vực Á Châu của tôt chức Human Rights Watch cho rằng:

Việt Nam tuyên bố rằng họ quan tâm đến môi trường toàn cầu và các cam kết COP26, tuy nhiên hành động của họ chứng minh rõ nét hơn là lời nóiĐây là một Chính phủ mà Bộ trưởng tham dự hội nghị COP26 đã bị quay lại cảnh ăn tối với món bò dát vàng trị giá 20 ngàn đô-la, tại một quán ăn cao cấở London. Và bây giờ, Chính phủ đó lại đang bắt giữ bà Ngụy Thị Khanh, một nhà hoạt động môi trường nổi tiếng nhất của họ, theo một cách hoàn toàn nguỵ tạo và có động cơ chính trị, với cáo buộc tội trốn thuế. Đối với Chính phủ Việt Nam, rõ ràng là sự đàn áp và tham nhũng luôn được đặt lên trên hết, còn nhân quyền và môi trường thì đứng sau cùng.

Cả ba nhà hoạt động bị bắt gần đây, hai trong số họ đã bị kết án, đều liên quan đến việc giám sát Hiệđịnh Thương mại Tự do Châu Âu-Việt Nam (EVFTA), từ khía cạnh môi trường. Vì vậy, những vụ bắt giữ này có thể xem là cú tát của Việt Nam vào mặt của EU về vấn đề giám sát và tuân thủ EVFTA, và chờ xem liệu Brussels có đủ can đảm để làm điều gì đó hay không. Đó là một thách thức trực tiếđối với những quan ngại đã được EU tuyên bố về tính độc lập của xã hội dân sự, hành động vì môi trường và giám sát chuỗi cung ứng bền vững ở Việt Nam.

Bây giờ, Hà Nội đã hoàn tất việc bỏ tù tất cả những người bất đồng chính kiến, trong lúc thế giới đang bị phân tâm bởi COVID-19. Giờ đây bộ máy đàn áp của Nhà nước này lại đang chuyển hướng nhắm vào các tổ chức phi chính phủ hoạt động về môi trường và xã hội. Chúng ta hãy hy vọng rằng thế giới sẽ đấu tranh mạnh mẽ cho các nhà lãnh đạo xã hội dân sự hơn là những gì họ đã làm đối với những người bất đồng chính kiến. Nhiều người trong số đó hiện đang phải chịu án tù dài hạn vì chỉ đơn giản là lên tiếng chống lại vi phạm các quyền và tham nhũng.”

httpv://www.youtube.com/watch?v=irjT0WtPeUU&t=7s

Bộ trưởng Công an Tô Lâm ăn bò dát vàng 

Nhân ngày “Lễ Tình Yêu” chúng ta hãy dành 1 phút để nhớ đến bậc sinh thành….

Chúng ta cùng suy gẫm…

Trên thế gian này, chỉ có cha mẹ mới toàn tâm toàn ý yêu thương ta mà không đòi hỏi gì. Vì con, họ có thể làm tất cả mà không cần báo đáp.

Nhưng liệu có mấy ai ý thức được điều đó, hay chỉ nhận ra khi mọi chuyện đã quá muộn màng.

Tuệ Tâm.

***

Nhân ngày “Lễ Tình Yêu” chúng ta hãy dành 1 phút để nhớ đến bậc sinh thành….

“Lúc cha mẹ cho con thứ gì, con đều nở nụ cười;

Lúc con cái cho cha mẹ thứ gì, cha mẹ khóc”.

(Ngạn ngữ Do Thái)

Cả đời này, người có thể làm cho chúng ta mọi thứ mà không cầu báo đáp chỉ có cha mẹ, vậy nên, dù thế nào cũng đừng phàn nàn họ, hãy thông cảm cho họ, quan tâm tới họ.

Hãy trân trọng từng phút giây bên cha mẹ, bởi không ai biết được khi nào họ sẽ rời xa ta mãi mãi.

Khi cha mẹ còn hãy luôn nở nụ cười, hãy luôn quan tâm chăm sóc tới họ, đừng để cha mẹ mỏi mắt ngóng trông mà không nhìn thấy hình bóng của bạn.

Khi bạn cất tiếng khóc chào đời, chỉ có cha mẹ là người hạnh phúc nâng niu bạn trong vòng tay, cũng chỉ có cha mẹ là người ngày đêm bỉm sữa, chăm sóc bạn từng miếng ăn giấc ngủ.

Khi bạn chập chững bước đi, chỉ có cha mẹ là người nắm lấy đôi bàn tay nhỏ bé, dìu dắt bạn đi những bước đầu đời.

Khi bạn đau ốm, chỉ có cha mẹ là người mất ăn mất ngủ, ngày đêm túc trực bên giường bệnh.

Vì bạn, dẫu phải bán đi khối tài sản cuối cùng trong tay, họ vẫn sẵn sàng.

Khi bạn gặp khó khăn trắc trở, hay khi cả thế giới đều quay lưng với bạn, thì cha mẹ vẫn luôn ở bên che chở bạn, vỗ về bạn.

Thời gian có thể làm lòng người thay đổi, nhưng vĩnh viễn không thể thay đổi tình yêu cha mẹ dành cho bạn.

Nhưng nếu một ngày cha mẹ buộc phải ra đi, họ sẽ không thể báo trước cho bạn một lời nào, không thể tiếp tục gọi tên bạn, cũng không thể cùng bạn ăn cơm và quan tâm tới bạn được nữa…

Con muốn báo hiếu mà cha mẹ đâu còn?

Giá như ta để dành thời gian ở bên cha mẹ, ta sẽ cảm thấy bản thân đỡ ân hận phần nào!

Bởi vậy, nhân lúc cha mẹ còn đang khỏe mạnh, hãy an ủi tinh thần cho họ, hãy dành nhiều thời gian hơn để bên cạnh họ, cố gắng đáp ứng hết nguyện vọng của họ, đừng khiến cho bản thân sau này phải hối hận.

Hãy yêu thương cha mẹ như yêu thương chính bản thân mình, bởi vì họ cũng cần được yêu thương.

Và nếu có một ngày thực sự họ rời đi, chúng ta sẽ không phải ngậm ngùi về những tháng ngày đã qua…

LƯƠNG THIỆN KHÓ HƠN THÔNG MINH!!!

 

LƯƠNG THIỆN KHÓ HƠN THÔNG MINH!!!

Một vị sư lên rừng hái củi, trên đường về gặp 1 cậu bé đang chạy chơi đùa, hái hoa bắt bướm.

– Vị sư đến gần hỏi: Trên tay con cầm gì thế?

– Thằng bé (láu cá): Đố sư biết đó, nhưng nói sai sư phải mất cho con bó củi nhé!

– Một con bướm đã chết đúng không?

– Haha sai rồi, con bướm còn sống nhé sư! Nói rồi cậu tung con bướm bay lên trời.

Vị sư cười nói: Củi của con đây, cầm về đi!

Thằng bé hí hửng đem bó củi về khoe cha, ông tái mặt bước đến nhéo tai thằng con: Đem bó củi lên chùa trả rồi xin lỗi người ta ngay. Thằng bé vừa đi vừa la: Nhưng con thắng mà!?

Đến chùa 2 cha con chắp tay xin lỗi, vị sư chỉ nhẹ mỉm cười gật đầu. Trên đường về cậu bé vẫn hậm hực.

Người cha nhẹ nhàng nói: Nếu sư nói con bướm còn sống con cũng bóp cho nó chết đúng không? Từ đầu ngài đã định đem bó củi để đổi lấy một mạng sống rồi đó.

Thằng bé lặng lẽ cúi đầu.

***Sự ngạo mạn và hiếu thắng luôn lấy đi bao lý trí của mỗi chúng ta. Đừng thấy ai lùi mà vội bảo họ thua.

Lương Thiện khó hơn là thông minh. Bởi vì thông minh là thiên phú, còn Lương thiện là một sự lựa chọn (chỉ có được ở những trái tim nhân hậu).💗

KHI NGƯỜI KHÔNG ÐÁP TRẢ

KHI NGƯỜI KHÔNG ÐÁP TRẢ

Lm Nguyễn Tầm Thường, SJ

Ai trong các con có bạn hữu nửa đêm đến nhà mình nói: Bạn ơi, cho tôi mượn mấy tấm bánh, vì bằng hữu ở xa tới mà tôi hết đồ ăn rồi.  Người kia ở trong trả lời: Ðừng quấy rầy người ta, cửa đóng rồi, trẻ nhỏ ngủ hết, ai dậy mà lấy cho ông được.  Nhưng nếu họ cứ gõ hoài.  Ta bảo thật, người ấy không dậy mà cho vì tình bạn bè thì ít ra vì họ quấy rầy nên cũng ráng dậy mà lấy cho họ.  Nên Ta bảo cho các con rõ: Vì hễ ai xin, sẽ được, ai tìm sẽ thấy, ai gõ sẽ mở cho (Lc. 11: 5-10).

Chúa bảo tôi đến gõ cửa, ở đấy có chờ đợi.  Ðó là lời xác định của Chúa.  Như vậy, chắc chắn tôi sẽ bắt gặp nếu tôi kiếm tìm, tôi sẽ tìm thấy nếu tôi van xin.

*************************************

Nhưng trong đời, tôi đã kinh nghiệm một nỗi bận tâm khó hiểu.  Tôi gọi mà Chúa không đáp trả.  Tôi xin mà Chúa không cho.  Có những vực sâu của tâm hồn, có những đêm dài bất an, tôi hướng về Chúa nhưng tôi không gặp.  Tôi không ước mơ những ước mơ lớn.  Tôi chẳng xin sang giàu.  Tôi chỉ xin cho tôi nhẹ bớt khổ đau tâm hồn.  Tôi chỉ xin cho đỡ kéo dài bệnh tật của thân xác.  Tôi chỉ xin Chúa soi cho tôi một ánh đèn khi tôi phải quyết định những vấn đề quan trọng.  Tôi chỉ xin Chúa giữ tôi lại trước đêm đen mịt mùng cám dỗ.  Nhưng tiếng tôi từ vực sâu lại vọng về với tôi trong nỗi vắng.  Những lúc tôi cần Chúa nhất thì Ngài lại bỏ tôi đi xa.  Vì sao Người im tiếng?

 *************************************

Ngài im tiếng.  Hay có phải Ngài đang nói mà tôi không nghe?  Ngài chối từ.  Hay có phải cánh cửa đã mở mà tôi không vào vì có vũ tiệc của mùa xuân trần thế ở chung quanh?  Ngài im lặng.  Hay có phải Ngài bảo tôi: Hãy vào sa mạc, hãy ra bờ đá lặng thinh, hãy khép lại bớt cửa lòng rồi con sẽ nghe thấy tiếng Cha.  Nhưng tôi chán những bờ đá vắng vẻ, và tôi đã yêu những vũ tiệc của mùa xuân trần thế ở chung quanh.  Làm sao tim tôi nghe được tiếng con họa mi đang hót khi mà bầy ve sầu đam mê đang kêu inh ỏi trong hồn?

Ngài thờ ơ.  Hay có phải Ngài không đáp trả vì tôi bất xứng với ân sủng của Ngài.  Chẳng ai có thể trách vì sao không có mặt trời nếu họ cứ sống dưới hầm tối, vực sâu.  Chẳng ai có thể trách vì sao không có bình an nở giữa khu vườn tham lam.  Người cha tốt là người cha đóng cửa nhà mình để đứa con khỏi ngày ngày về lấy gia tài đi hoang đàng, phung phí.

Vì sao Chúa không cho tôi điều tôi xin?  Ðã bao lần Chúa bắt tôi đi.  Gian nan.  Mỏi.  Tôi muốn ghé tạm xuống đường ngồi nghỉ.  Nhưng Chúa biết để tôi ngồi nghỉ, dần dà tôi sẽ nghe theo tiếng nói của đất thấp, tôi sẽ lười biếng đối với tiếng gọi của trời cao.  Tôi trách vì sao Người không cho tôi lập nghiệp trên những ước mơ của tôi, xin làm quê hương trên những ý nghĩ riêng tư của tôi.  Ngài chẳng đáp trả, vì Ngài biết đường dễ dãi sẽ dẫn đến hư đi.  Trong những đêm đen như mù mịt, tôi gõ nhưng cánh cửa chẳng mở.  Phải chăng chỉ có Ngài, Ngài mới biết những gì là tốt nhất cho phần rỗi của tôi.  Như vậy, không đáp trả có là dấu chỉ của tình thương?

 *************************************

Khi không đáp trả, đấy cũng là một cách trả lời.  Trả lời bằng lặng im nhiều khi lại là câu trả lời thâm sâu và hàm chứa nhiều ý nghĩa.

Tôi không đến với ai mà tôi biết chắc rằng tôi không thể tin cậy.  Khi đến xin Chúa trợ giúp là tôi đặt niềm tin nơi Ngài.  Nếu đã đặt niềm tin thì sao lại có thể phân vân.  Khi Ngài im lặng như không đáp trả, tôi lo âu, thì đấy là dấu hiệu niềm tin đó không vững vàng.

Niềm tin là lời cầu nguyện để xin được biến đổi.  Như thỏi đất sét tin mình nằm trong tay người thợ lành nghề.  Người thợ gốm biết loại đất sét nào có sức chịu đựng để đúc gạch lót đường, loại nào có thể tạc tượng.  Niềm tin vững vàng là phó thác trong tay người thợ gốm vì tin rằng mình được yêu thương và săn sóc.  Tin vững vàng hệ tại phó thác rằng Chúa là người thợ gốm khôn ngoan và không lầm lẫn trong công trình sáng tạo.  Chứ tin vững vàng không có nghĩa là tin mình sẽ biến đổi được ý định của Chúa để đạt được điều mình xin.  Có những lời xin chẳng bao giờ được đáp trả nhưng lại là một ân sủng thật lớn lao.

*************************************

Ngày còn bé tôi không biết cầu nguyện thế nào.  Những ngày bom nổ nhiều là những ngày mẹ tôi càng lo.  Mỗi tối, mẹ tôi bảo tôi ngồi lần hạt cầu nguyện cho cha ngoài trận tuyến.  Trong trí óc non dại, tôi cầu nguyện cho cha tôi được bình yên.  Một lằn đạn hiểm nghèo.  Một trái mìn kín đáo.  Ðời sống bếp bênh như treo bằng sợi chỉ.  Chỉ một giấy báo tin thôi, tôi sẽ là đứa mồ côi.  Mẹ tôi sẽ là góa phụ.  Tôi đã thấy nhiều lá cờ trải lên mộ đất.  Tôi đã thấy nhiều chuyến xe nhà binh chở đơn độc một quan tài, người thiếu phụ đội nón trắng ngồi lặng lẽ không còn nước mắt để khóc.

Rồi chuyện một đêm đã đến.  Chiến tranh đổ xuống trên mảnh đất quê tôi.  Tôi còn bé, nhưng tôi hiểu những nghẹn ngào của người có thân nhân vừa mới vĩnh biệt.  Mưa ướt lẹp xẹp, tôi nghển cổ nhìn qua cửa sổ đông chật người.  Một chiều mưa ảm đạm, lạnh lẽo làm sao.  Mái lá thấp đổ những dòng mưa thảm não.  Tôi vẫn còn nhớ cái buổi chiều xám nặng nề ấy cho tới hôm nay.  Ðôi chân của cậu X. chết nằm sóng sượt trên cái phản gỗ.  Bùn dính lem luốc.  Mợ X. khóc thảm thiết bên xác chồng mới chết trận.  Ai đã bắn chết cậu?  Có phải kẻ mà cậu chưa kịp bắn?

Tò mò, tôi theo những đứa trẻ khác ra ven rừng xem xác chết.  Những hố bom cày tung đất còn mới nguyên.  Vải băng trắng còn lẫn với xác người chưa kịp thu.  Giữa những xác người ấy, tôi thấy một người nằm chết cong queo, cụt chân vì bom nổ, máu bầm khô bết vào áo đầm đìa.  Mặt cháy đen.  Nhìn kỹ trên khuôn mặt ấy, tôi không quên được là chuỗi tràng hạt vẫn quàng vòng quanh cổ.  Kẻ chết là một bộ đội miền Bắc.  Ðiều làm tôi ngỡ ngàng là bộ đội cộng sản cũng tin vào Chúa như tôi sao?

Từ ngày đó, mỗi lần giúp lễ, nhìn lên thánh giá mà hồn tôi bâng khuâng.  Tôi thấy Chúa buồn.  Quỳ đây, tôi cầu nguyện xin Chúa chở che cha tôi ngoài chiến trận.  Nhưng người cán binh bộ độ ấy, có thể cũng có một đứa con trai bằng tuổi tôi ở ngoài miền Bắc.  Nó cũng là cậu bé giúp lễ.  Cứ mỗi sáng, mẹ nó cũng đánh thức nó dậy thật sớm để giúp lễ, cầu nguyện cho cha đang ở mãi trong miền Nam heo hút.  Năm tháng bặt tin, chắc chiều chiều, tối tối, mẹ nó cũng rối bời lòng trí, thẫn thờ nhìn về phương Nam, dục nó đọc kinh.  Chúa nghe lời tôi để cha tôi giết họ?  Chúa nghe lời cậu bé kia để cha cậu giết cha tôi?  Cả hai cậu bé đều cầu nguyện, Chúa biết nghe lời ai?

Tôi không tin là Chúa có câu trả lời.  Tôi chỉ cảm thấy rằng Chúa khó xử ghê gớm lắm.  Chúa trên thập giá như càng thêm đau đớn.  Mỗi lời cầu của tôi là một vết thương cho Ngài.  Mỗi nỗi lo âu của cậu bé ngoài miền Bắc kia làm Ngài thêm khổ tâm.

Tôi hình dung Chúa như một người cha.  Ðứa con thứ nhất chạy đến: Cha ơi, đưa con dao cho con để con chém nó.  Ðứa con kia chạy lại, sợ hãi: Cha ơi, đừng đưa!  Cha có biết rằng con cũng là con của cha sao?  Và người cha chỉ còn biết đớn đau mà thôi, vì cả hai con đều là con của mình.

Từ đó, mỗi buổi sáng giúp lễ, tôi thấy Chúa trên thập giá như ngậm ngùi.  Tay giang rộng cứ thêm mãi khổ thương.  Từ ngày đó, trong cái trí óc non nhỏ của tôi, tôi hiểu mơ màng rằng bất cứ hành động nào gây thương tích cho nhau cũng là làm khổ cho Cha trên trời.

*************************************

Lạy Chúa,
Mỗi khi con cầu nguyện thì cho con biết xin được biến đổi, chứ đừng biến đổi Chúa.  Làm sao con có thể biến đổi sự khôn ngoan của Chúa thành sự vụng về của con.  Khi con nài Chúa làm theo ý con là con muốn đem sự hoàn hảo của Chúa thành những bất toàn giống như của con.

Con ngỡ tiếng sói sủa là vui tai.  Con ngỡ lời mời của Satan là tha thiết. Con ngỡ trái táo hồng có hương thơm, nào ngờ đâu con có biết sâu độc làm tổ ở bên trong.  Những lời con xin nhiều khi rất đẹp, nhưng chỉ là đẹp theo cái nhìn của con mà thôi.

Lạy Chúa,
Xin cho con hiểu rằng có những lời xin mà Chúa chẳng thể đáp trả được.  Và chính lúc Chúa im lặng lại là lúc Chúa đang nói với con bằng ngôn ngữ nhiệm mầu nhất.

Lm Nguyễn Tầm Thường, SJ

Trích trong “Con Biết Con Cần Chúa”

From:  Langthangchieutim

Tuần lễ Quốc gia về Hôn nhân

Hôm nay là ngày Thế Giới Hôn Nhân, chúc những cặp hôn nhân được tràn đầy niềm vui của Tình Yêu Thiên Chúa. Đừng quên tặng cho nhau kẹo sô-cô-la hảo hạng nhé.

Cha Vương

TIN MỪNG: Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có Đức Chúa làm chỗ nương thân. Người ấy như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái. (Gr 17:7-8)

SUY NIỆM: Tuần lễ Quốc gia về Hôn nhân được Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ phát động lần đầu tiên vào năm 2010 như một phần của chiến dịch quốc tế nhằm tìm cách quy tụ các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp để củng cố hôn nhân và để gây ảnh hưởng đến văn hóa hiện đại. Chủ đề được chọn để làm nổi bật nhiều cách mà các đôi vợ chồng và gia đình được Giáo hội đồng hành để sống theo tiếng gọi của tình yêu đó là: “Được kêu gọi đến với Niềm vui của Tình yêu”. Hôn nhân là gì? Hôn nhân Công giáo là bí tích Chúa Giêsu đã lập, để kết hợp hai người tín hữu, một nam một nữ, thành vợ chồng trước mặt Thiên Chúa và Hội Thánh, cùng ban ơn giúp họ sống xứng đáng ơn gọi của mình. Trong ơn gọi này vợ chồng được mời gọi để yêu thương nhau như Đức Kitô đã yêu thương Hội Thánh, kiện toàn tình yêu tự nhiên, củng cố sự hiệp nhất bất khả phân ly và thánh hoá họ trong đời sống siêu nhiên. Niềm vui và hạnh phúc của đời sống hôn không thể dựa trên những tiêu chuẩn hoặc đòi hỏi của thế gian nhưng nó phải được đặt trên nền tảng bất di bất dịch của Tình Yêu Thiên Chúa. Tình Yêu này giúp bạn nhìn xuyên qua những khuyết điểm của nhau.

Một cuộc hôn nhân tuyệt vời không phải là do sự kết hợp của một cặp đôi hoàn hảo, nhưng mà là một cặp đôi KHÔNG hoàn hảo biết chấp nhận những khiếm khuyết của nhau. Đã yêu thì phải có hy sinh rồi phải không bạn? Đã hy sinh thì phải có tổn thương, mất mát, thiệt thòi, sỉ nhục, đau khổ… rồi, nhưng điều quan trọng là bạn đừng để cho những thứ đó làm mất đi giá trị thật của Tình Yêu. Bạn hãy sẵn sàng đón nhận nó như là một sự thử thách quá lớn và đặt nó vào bàn tay của Chúa là Đấng luôn làm cho mọi sự trở nên tốt hơn. Nhờ đó bạn trở thành khí cụ để nâng đỡ và hỗ trợ nhau trong những sóng gió của đời sống hôn nhân. Điều quan trọng nhất trong đời sống hôn nhân không phải là tiền tài địa vị danh vọng, ai hơn ai thiệt nhưng mà là đặt hết niềm tin vào Chúa. Nếu bạn lấy Chúa làm chỗ NƯƠNG THÂN thì hôn nhân của bạn không khác như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái.

LẮNG NGHE: Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em. (Lc 6:20)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa đã yêu thương con đến độ đã hiến mình vì con để biến con nên hoàn hảo hơn, tốt đẹp hơn, thánh thiện hơn. Xin cho con biết đến với Chúa, lắng nghe Lời Chúa, nhìn ngắm mẫu gương của Chúa, để học biết yêu thương như Chúa. Xin đổ Thánh Thần Tình yêu của Chúa xuống trên con để con có đủ can đảm bước theo con đường Chúa đang mời gọi con.

THỰC HÀNH: Khi nhìn vào tình yêu Đức Kitô dành cho Hội Thánh, cho bạn, bạn học được điều gì cho tình yêu của anh chị? Hãy chia sẻ với nhau tâm tư của mình.

From: Đỗ Dzũng

 Một câu chuyện hay.

 Một câu chuyện hay.

Có một tỷ phú sống trong căn biệt thư xa hoa nhưng phát hiện ra mình mắc bệnh hiểm nghèo. Tới lúc cái chết cận kề, ông mới chợt nhận ra rằng tất cả danh vọng, tiền tài và vật chất, thực ra đều hư vô như mây khói. Ông tìm đến một vị linh mục để xin lời khuyên và hy vọng, tìm thấy tia sáng cuối con đường* Sau khi bắt câu truyện của nhà tỷ phú linh mục mới nói: “Bệnh của ông ngoài cách này ra thì không thuốc nào có thể chữa khỏi. Tôi sẽ kê ba đơn thuốc, ông cứ theo đó mà làm, hết đơn thứ nhất thì chuyển sang đơn tiếp theo”.

*Về nhà, vị tỷ phú lấy đơn thuốc đầu tiên ra và đọc: “Hãy đến một bãi biển và nằm đó khoảng 30 phút, làm liên tục như vậy 21 ngày”. Mặc dù thấy khó hiểu nhưng ông vẫn quyết định ra bờ biển, lang thang một vòng rồi ngả lưng nằm trên bãi cát. Bất chợt một cảm giác nhẹ nhàng và khoan khoái vô cùng bao trọn lấy cơ thể ông.

Trước đây, vì công việc bận rộn nên ông không có cơ hội nghỉ ngơi… Nay ông có thể tĩnh tâm lại để lắng nghe tiếng gió thổi vi vu, tiếng sóng biển rì rào hòa lẫn với tiếng kêu thánh thót của đàn hải âu gọi bầy… Trái tim bỗng thổn thức, chưa bao giờ ông có được cảm giác thoải mái như bây giờ.

*Ngày thứ 22, ông mở đơn thuốc thứ hai, trong đó viết: “Hãy tìm những người nghèo và giúp đỡ họ, liên tục như vậy trong 21 ngày”. Trong lòng ông một lần nữa đầy rẫy những băn khoăn nhưng vẫn cặm cụi đi tìm những người nghèo và giúp đỡ họ. Ngắm nhìn từng gương mặt hạnh phúc của họ, trong lòng ông không nén nổi nỗi xúc động.*

*Ngày thứ 43, ông đọc đơn thuốc cuối cùng:

“Tìm một cành cây và viết những điều khiến ông cảm thấy không hài lòng lên bãi cát”.

Nhưng khi ông vừa viết xong, thủy triều lại cuốn tất cả xuống biển.

Ông lại viết, sóng lại cuốn đi, lại viết, lại cuốn đi, rồi lại viết, và lại cuốn đi…

Ông bật khóc nức nở vì chợt hiểu ra tất cả.

Khi về nhà ông cảm thấy toàn thân nhẹ nhàng, tinh thần chưa bao giờ thoải mái và tự tại đến thế, thậm chí ông cũng không còn sợ cái chết nữa.

♡ Thì ra con người ta chỉ cần học được 3 điều thì sẽ vui vẻ hạnh phúc:

♡ Thứ nhất: Nghỉ ngơi

Thứ hai: Cho đi
Thứ ba: Buông bỏ

From: TU-PHUNG

Cộng đồng gốc Việt tại Mỹ: Tổn thương và sa sút trí nhớ sau chiến tranh VN (BBC)

Cộng đồng gốc Việt tại Mỹ: Tổn thương và sa sút trí nhớ sau chiến tranh VN

  • Huyền Trân
  • BBC News Tiếng Việt

8 tháng 2 2022

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Thuyền nhân Việt Nam chờ được giải cứu vào năm 1978

Lần đầu tiên có một nghiên cứu về mối liên hệ giữa chấn thương từ chiến tranh Việt Nam với sa sút trí tuệ (dementia) trong cộng đồng người Việt đến Mỹ sau 1975. Đây là cộng đồng gốc Á đông thứ 4 tại Mỹ hiện nay với hơn 2 triệu người.

Phó Giáo sư Oanh Meyer, chuyên ngành Thần kinh học từ Đại học California-Davis, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu, từng trực tiếp chứng kiến căn bệnh sa sút trí tuệ (dementia) và triệu chứng bị ảo tưởng (paranoia) này xảy ra với mẹ – bà Anh Lê, hơn 70 tuổi – một người tới Mỹ vào năm 1975.

“Mẹ tôi nói rằng bà rất lo lắng khi thấy những người lính Việt Cộng đứng bên ngoài cửa sổ, luôn cảm thấy sợ hãi khi cho rằng những người lính này đang muốn làm hại gia đình mình.” Phó Giáo sư Oanh Meyer nói với BBC.

Đôi khi bà Anh Lê nói con phải nghỉ học vì trường học bị ném bom và mọi người phải trốn dưới gầm bàn.

NGUỒN HÌNH ẢNH,OANH MEYER

Chụp lại hình ảnh,

Phó Giáo sư Oanh Meyer (trái) và mẹ mình, bà Anh Lê

Từ trải nghiệm của bản thân và được biết đến nhiều trường hợp khác cũng mắc chứng bệnh giống bà Anh Lê, từ năm 2013, Phó Giáo sư Oanh Meyer bắt đầu phỏng vấn những người chăm sóc các bệnh nhân người Mỹ gốc Việt bị sa sút trí tuệ để có chương trình giúp họ hồi phục.

Cô đã luôn nghe được những câu chuyện về tổn thương sau chiến tranh Việt Nam trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

‘Quá khứ ám ảnh’

Một trong những người mà Phó Giáo sư Oanh Meyer phỏng vấn là bà Quyên Vương, 57 tuổi, Giám đốc Điều hành International Children Assistance Network (ICAN) hiện đang sinh sống tại San Jose, Mỹ.

Bà Quyên Vương rời Việt Nam đến Mỹ vào năm 1981 bằng con đường vượt biên. Khi đó, bà chỉ mới 16 tuổi, ra đi cùng em nhỏ mới 11 tuổi.

Cho đến tận hôm nay, bà Quyên cho biết khoảng thời gian sống 4 tháng ở một trại tị nạn trên đảo Pulau Bidong (Malaysia) vẫn in sâu trong tâm trí.

“Dù ở trong trại tị nạn có 4 tháng nhưng tôi thật sự hiểu cảm giác của một đứa trẻ mồ côi. Mỗi ngày Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc phát một bịch thực phẩm có chút gạo, khô, muối đủ ăn. Ở trại tị nạn, ai có tiền thì mua cá hay rau cải của người dân địa phương trên đảo. Đói thì không đói nhưng buồn thì rất buồn”, bà Quyên nói với BBC News Tiếng Việt.

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Trẻ em tị nạn Việt Nam trên đảo Pulau Bidong (Malaysia)

Bà Quyên cho biết khi mới qua Mỹ, bà từng có ý định nghỉ học để đi làm giúp gia đình có tiền trả tiền nhà.

“Sau khi qua Mỹ thì gia đình tôi rất nghèo, bị thiếu tiền trả tiền nhà, cả một sự khủng hoảng, khác với trước năm 1975 khi gia đình cũng đủ ăn.”

Bà cho biết stress, nặng nề, căng thẳng vào thời điểm mới đến Mỹ “đến từ mọi hướng” và “vô cùng mệt mỏi” như đi làm 30 giờ một tuần lúc học trung học.

“Cũng may lúc đó mình còn trẻ, sức chịu đựng còn dai thì mình dễ quên. Như mỗi tuần đến nhà bạn ăn phở, bún bò rồi mình cũng quên. Thế nhưng trong độ tuổi ngũ tuần, tôi thấy bắt đầu thấm mệt và có dấu hiệu quên.”

“Khi qua Mỹ thì nhu cầu phải sống còn quá mạnh cho nên mình gạt qua mọi sự bầm dập. Cho đến bây giờ khi mình lớn tuổi rồi thì mới thấm mệt và những stress, mental health [sức khỏe tâm thần] mới xuất hiện”, bà Quyên nói.

‘Tổn thương phổ biến’

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Những người tị nạn Việt Nam ra đi vào cuối những năm 1970 trên các con tàu gỗ

Theo Phó Giáo sư Oanh Meyer, nhiều người, giống như bà Quyên Vương, đã kể lại việc các thành viên trong gia đình mình bị những tổn thương tâm lý nặng nề từ chiến tranh Việt Nam do chứng kiến người thân hay bạn bè bị mất tích, tàu chở người tị nạn bị hải tặc tấn công hay hãm hiếp.

“Một người đang chăm sóc vợ ở tuổi 80 tại Mỹ kể lại với tôi rằng ông đã bị đi học tập cải tạo và khi đó vợ ông phải ở nhà một mình chăm sóc gia đình. Ông cho rằng vợ mình đã bị sa sút trí tuệ từ những tổn thương khi đó”, Phó Giáo sư Oanh Meyer nói với BBC News Tiếng Việt.

“Qua việc nói chuyện với gia đình những người Việt Nam và cả câu chuyện của gia đình mình, thì tôi thấy có sự liên quan giữa rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) và tổn thương (trauma) và bệnh sa sút trí tuệ (dementia). Và cho đến nay không có nghiên cứu nào được thực hiện đối với cộng đồng người Mỹ gốc Việt”, Phó Giáo sư Oanh Meyer nói với BBC

“Cụ thể là chưa có nghiên cứu nào chỉ ra mối liên hệ những áp lực (stress), những tổn thương tâm lý thời trẻ có liên quan đến bệnh sa sút trí tuệ (dementia) ở tuổi già hay không? Cách căn bệnh này xuất hiện ở cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Tôi muốn nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng đó.”

NGUỒN HÌNH ẢNH,OANH MEYER

Chụp lại hình ảnh,

Nghiên cứu của Phó Giáo sư Oanh Meyer được thực hiện trên những người Mỹ gốc Việt từ 65 tuổi trở lên

Bắt đầu từ năm 2021, nghiên cứu của Phó Giáo sư Oanh Meyer đã nhận được khoản tiền tài trợ trị giá 7,2 triệu đôla Mỹ cho thời hạn 5 năm từ Viện Quốc gia về Lão hóa Hoa Kỳ (National Institute on Aging) để nghiên cứu nhóm người lớn tuổi ở San Jose, Sacramento và Santa Clara, thông qua phỏng vấn.

Đối tượng nghiên cứu là những người từ 65 tuổi trở lên là người Việt hoặc người Mỹ gốc Việt, sống tại Bắc California, nói tiếng Việt hoặc tiếng Anh, nhập cư từ Việt Nam.

“Hy vọng trong tương lai chúng ta có thể nhìn vào những thay đổi và dịch chuyển trong mô hình dân cư và thấy bệnh sa sút trí tuệ cũng thay đổi theo thời gian”, theo Phó Giáo sư Oanh Meyer.

Một số yếu tố khiến người Mỹ gốc Việt có nguy cơ mắc suy giảm nhận thức (cognitive impairment) cao được cho bao gồm chiến tranh và di cư, khủng hoảng tâm lý, khó khăn thời niên thiếu, trầm cảm, huyết áp cao, và bệnh tiểu đường.

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Người tị nạn Việt Nam trên đường từ Nhật Bản sang Mỹ vào năm 1975

“Cộng đồng người Mỹ gốc Việt có những điểm khác biệt so với các cộng đồng người tị nạn khác tại Mỹ. Nếu chúng ta hiểu được các nhân tố ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần thì sẽ có những chương trình can thiệp sớm giúp giảm nguy cơ bệnh sa sút trí tuệ (dementia) hay mất trí nhớ (memory loss) đặc biệt đối với cộng đồng người tị nạn hay nhập cư” Phó Giáo sư Oanh Meyer cho biết.

Hiện nay nhóm nghiên cứu vẫn đang trong quá trình thu thập dữ liệu và số người cần được phỏng vấn là hơn 500 người Mỹ gốc Việt trong vòng 2 năm tới.

Phó Giáo sư Oanh Meyer cho biết vào năm 2018 đã có một nghiên cứu về mối liên hệ giữa rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) và bệnh sa sút trí tuệ của Giáo sư Rachel Whitmer từ Đại học California-Davis thực hiện đối với các thành viên hệ thống chăm sóc y tế. Và một kết quả quan trọng thu được đó là người lớn tuổi bị PTSD có nguy cơ bị sa sút trí tuệ cao hơn 70% với người không bị PTSD.

Nhiều người Việt Nam cho rằng sa sút trí tuệ (dementia) là một phần bình thường của quá trình lão hóa, nhưng đây là suy nghĩ sai.

“Sa sút trí tuệ (dementia) không phải là một phần bình thường của quá trình lão hóa (ageing). Ví dụ bạn có thể quên để quên chìa khóa nhưng nếu không biết chìa khóa dùng để làm gì là dấu hiệu bất thường”, Phó Giáo sư Oanh Meyer nói thêm.

Sau khi chính phủ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ vào năm 1975, khoảng 800.000 người Việt Nam vượt biên bằng đường biển trên những con tàu đủ mọi kích cỡ, trong đó thậm chí có tàu gỗ thô sơ, và sống hàng tháng hay hàng năm tại những trại tị nạn ở Philippines, Malaysia…trước khi sang Mỹ hay nước khác. Họ được gọi là ‘thuyền nhân Việt Nam’.

Trong một bài viết của BBC News năm 2019, Hanh Trần, một thuyền nhân kể lại đã chen chúc cùng 86 người khác trên một con tàu dài 11 mét vào năm 1979 và gặp những tên hải tặc Thái Lan, bị tàu quân sự của Malaysia bắn và hải quân Singapore xua đuổi, gặp bão trước khi may mắn đến được một hòn đảo trên một con tàu rách nát.

“Chúng tôi rất sợ Cộng sản. Nếu nói gì sai thì sẽ bị mời lên đồn công an và không bao giờ trở về”, Hanh Trần hiện đang sống tại Anh nói với BBC năm 2019.

Nhân Tâm

Van Pham

GÓC SUY GẪM

Nhân Tâm

Tôi nhớ hồi còn nhỏ, có lần một người đàn ông ghé vào nhà tôi xin tiền. Ông nói ở quê lên đây chữa bệnh, giờ đã mất hết tiền rồi, không còn tiền về quê nên ông phải đi xin. Mẹ tôi đưa cho ông số tiền ít ỏi bà có và hỏi ông ăn cơm chưa rồi bảo tôi xới cho ông bát cơm nguội với mắm. Bà lấy cho ông cái áo của anh tôi cho ông ấy mặc…

Ông ăn xong, cầm cái áo và tiền cứ vừa đi thụt lùi ra cổng vừa chắp tay chấp bái vừa nói:

– “Tôi đội ơn cô, cầu Trời Phật ban phước cho nhà mình….!”*

Với một đứa trẻ ở quê, đó là một câu chuyện lạ, tôi tò mò níu áo Mẹ,

– “Mẹ, ông ấy quê ở đâu…? Ông ấy bị bệnh gì…? Ông ấy đi xin được nhiều tiền không…?”

Mẹ mỉm cười:

– “Mẹ không hỏi.”

– “Tại sao Mẹ không hỏi…?”

– “Ừ, người ta xa quê, rơi vào cảnh khốn cùng thì hỏi về quê hương là đụng vào nỗi đau của họ. Người thành đạt rất tự hào khi nói về quê hương nơi chôn nhau cắt rốn, người sa cơ thì xấu hổ khi nói về quê của mình. Mình cho người ta có một chút mà mình lại chạm vào nỗi đau, nỗi xấu hổ của người ta thì không phải, không đúng. Làm vậy là ác tâm…!”

Tôi lại băn khoăn:

– “Ông ấy sắp chết hả Mẹ…?” Ông ấy có xin đủ tiền về quê không…?”

Mẹ nhìn xa xăm…

– “Ừ, phần lớn con người dù có thế nào thì vẫn muốn khi mất, được chôn trên mảnh đất nơi mình sinh ra, nơi chôn nhao cắt rốn… Cái đó gọi là tình yêu quê hương….! À, lúc nãy con đưa cho chú ấy bát cơm bằng một tay rồi chạy biến đi không mời là sai đấy nhé…!”

Tôi xấu hổ dụi mặt vào ngực Mẹ. Bà nghiêm khắc:

– “Tại sao con được dạy đưa đồ cho người lớn phải đưa bằng hai tay mà hôm nay con lại chỉ đưa bát cơm bằng một tay cho chú…? Chú ấy đi xin, nhưng không có nghĩa là con được phép đưa đồ cho chú bằng một tay…

Làm vậy người ta sẽ nghĩ Mẹ không biết dạy con tôn trọng lễ phép với người lớn tuổi. Hôm nay, người ta phải đi xin hay sắp chết thì con người vẫn luôn có phẩm giá của họ. Con không được khinh khi người ta vì biết đâu sau này mình sẽ như họ…!”

Tôi càng xấu hổ và rúc sâu hơn vào lòng Mẹ vì biết mình sai…

Ngày bé, những bài học Mẹ dạy cứ nhẹ nhàng như vậy nhưng nó đi vào đầu tôi và ở đó, không thể quên. Những bài học đã hình thành nên tính cách, con người của tôi hiện tại. Khi lớn, tôi mới hiểu hết những lời dặn và sự tinh tế trong cách cư xử, trong các bài học của Mẹ. Nó cũng làm cho tôi nhận biết người có nhân tâm hay ác tâm, tinh tế hay hời hợt qua hành vi, lời nói, cách ứng xử, hành động, hành vi của họ chứ không phải nhân danh việc của họ làm.

Khi chịu khó để ý, suy nghĩ để nhận ra đâu là hành động xuất phát từ nhân tâm, đâu là từ nhân danh nhân tâm, ta sẽ thấy có rất nhiều việc làm nhân danh nhân tâm nhưng thật ra nó lại phục vụ cho một mưu toan, mục đích khác…

Đôi khi chúng ta để cho bản thân bị đánh lừa và khi số đông bị lừa thì nó sẽ là tai hoạ cho xã hội, cho cả dân tộc…

Tôi khát khao, khi đất nước được tự do, các bài học trong môn văn học và giáo dục công dân là những bài học đơn sơ như thế, để con người có thể phân định rõ các giá trị và trả nó về đúng giá trị của nó. Dần loại bỏ các hành động nhân danh để xã hội là một xã hội trung thực và nhân văn đúng nghĩa…!