Thỏa thuận của cường quốc và bài học cho Việt Nam (Phần 2)

Thỏa thuận của cường quốc và bài học cho Việt Nam (Phần 2)

 Bởi  AdminTD

23-2-2022

Tiếp theo Phần 1

II. LÝ LẼ KẺ MẠNH VÀ THÔNG ĐIỆP MANG TÍNH “TỐI HẬU THƯ” CỦA ÔNG PUTIN

Ngày 22/2/2022 Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông Antonio Guterres đã khẳng định, nhóm lính Nga được triển khai ở miền Đông Ukraine không phải là “lực lượng gìn giữ hoà bình” như Matxcova tuyên bố.

Thực ra, từ khi ông Putin xâm chiếm và sát nhập Crimea tháng 2 năm 2014, là bắt đầu một cuộc chiến tranh không tuyên bố giữa Nga và Ukraine. Dân quân hai vùng Donetsk và Lugansk không thể chống lại được quân đội Ukraine. Lực lượng chủ chốt và vũ khí tại Donetsk và Lugansk là của Nga.

Với việc sát nhập Crimea và công khai đưa quân vào Donbass, chiếm 2 vùng lãnh thổ Donetsk và Lugansk của Ukraine, ông Putin đã vi phạm luật pháp quốc tế về biên giới hiện hành, không đếm xỉa đến chữ ký của tiền nhiệm trong Bản ghi nhớ Budapest về đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ Ukraine, chối bỏ ngay cả thoả thuận của chính ông Putin về tôn trọng đường biên giới hiện hành của Ukraine trong thoả thuận Minsk.

Các đế chế xuất hiện rồi tan biến. Nếu nói rằng Crimea và miền Đông Ukraine là lãnh thổ trước đây của Nga, nay lấy lại, thì Mông Cổ sẽ đòi lại phần lớn lãnh thổ LB Nga (bao gồm Matxcova), Đông Âu và các lãnh thổ khác với diện tích lên đến 24 triệu km2; Trung Quốc sẽ đòi lại 600.000 km2 vùng viễn đông của LB Nga bao gồm Vladivostok; Người da đỏ sẽ đòi lại châu Mỹ; Anh sẽ đòi lại 35% lãnh thổ thế giới… cả thế giới không thể vẽ lại được bản đồ. Lý luận “lãnh thổ trước đây” nay tiến hành chiến tranh lấy lại là lý luận bất chấp luật pháp quốc tế, là lý lẽ của kẻ mạnh.

Ông Eltsin, tiếp theo là ông Putin, đã đàn áp bằng được sự đòi độc lập của dân tộc Cherchen cộng hoà Chechnia qua hai cuộc chiến tranh đẫm máu hoang tàn 12/1994 – 8/1996 và 8/199 – 5/2000. Nhưng ông Putin lại ủng hộ và dưỡng sinh những nước “cộng hoà độc lập” trong lòng Grudia và Ukraine. Những người điếc cũng nghe được tiếng súng mà nhận ra “lẽ phải thuộc về kẻ mạnh” của các hoàng đế xâm lược và các bạo chúa độc tài.

Ông Putin tập trung khoảng 190.000 quân tại biên giới Ukraine không phải chỉ để tập trận, không phải để đe doạ, mà để hành động. Một bộ phận trong số đó đã được bố trí ngập tràn ở Donetsk và Lugansk. Hôm 22/2/2022 ông Putin đã không ngần ngại gửi một thông điệp mang tính “tối hậu thư” cho Ukraine và Phương Tây để tránh chiến tranh, với 4 điểm mấu chốt:

Điều gì nên xảy ra để, theo quan điểm của chúng tôi, tình hình được xem xét giải quyết theo quan điểm lịch sử lâu dài, để chúng ta có thể sống trong hòa bình, không để xảy ra bất kỳ cuộc xung đột nào, đặc biệt là những cuộc xung đột vũ trang”, ông Putin nói.

Trước tiên, theo ông, mọi người nên công nhận Crimea bị chiếm đóng là của Nga. Thứ hai, Ukraine phải tự nguyện từ bỏ tư cách thành viên NATO. Thứ ba, “giải quyết vấn đề Donbass thông qua các cuộc đàm phán và thực hiện các thỏa thuận Minsk”, nhưng điều này, theo Putin, “đã không còn phù hợp”.

“Và cuối cùng, điều quan trọng nhất, điều thứ 4. Mọi thứ đã nói ở trên có thể được lật ngược trong một giây nếu những người được gọi là đối tác của chúng tôi bơm cho chính quyền Kiev những loại vũ khí hiện đại. Do đó, điểm quan trọng nhất là mức độ nhất định về việc phi quân sự hóa Ukraine ngày nay”.

Bốn điều kiện mà ông Putin đưa ra, Ukraine khó mà chấp nhận, nguyên tắc nhất là toàn vẹn lãnh thổ. Và như ông Putin đe doạ “mọi thứ đã nói ở trên có thể được lật ngược trong một giây”.

Ai cũng biết, NATO không bao giờ dám gây chiến tranh với Nga, tổng thống Mỹ cũng đã tuyên bố rõ ràng như vậy. Trong trường hợp Nga tấn công Ukraine, Anh, Mỹ đều công khai tuyên bố không mang quân trợ giúp, chẳng những thế các nước Phương Tây đã sơ tán cả nhân viên ngoại giao và cảnh báo công dân của họ rời khỏi Ukraine. Còn Ukraine thì không bao giờ có thể đe doạ hay tấn công được Nga. Nhưng điều 4 đã cho thấy ông Putin lo sợ Ukraine có vũ khí hiện đại. Ông muốn Ukraine không có được khả năng quân sự đủ để cầm cự được sự tấn công chớp nhoáng của Nga. Và như vậy, Ukraine luôn nằm trong thế thần phục ông Putin.

Từ năm 1991, sau khi Liên Xô tan rã, Ukraine đã chung sống với LB Nga mà không hề có ý định gia nhập NATO. Ý định gia nhập NATO chỉ xuất hiện sau khi ông Putin xâm chiếm Crimea và sát nhập vào LB Nga năm 2014. Chính ông Putin đã đẩy Ukraine vào thế phải tìm kiếm NATO để bảo vệ lãnh thổ.

Nhưng thực chất, vấn đề Ukraine chưa bao giờ được nằm trên bàn NATO để thảo luận. Có hai điều khoản của NATO mà Ukraine khó vượt qua. Một là, NATO không kết nạp các thành viên đang có tranh chấp lãnh thổ. Hai là, chỉ cần một nước trong NATO phủ quyết là không được thông qua. Không ít các thành viên trong NATO không chấp nhận Ukraine vì quan hệ với Nga.

Nhưng bây giờ, khi ông Putin công khai đưa quân vào Donbass, thì khát vọng gia nhập NATO của Ukraine còn lớn hơn, và vấn đề gia nhập NATO của Ukraine có thể ở một tình thế khác.

Còn nói về tên lửa của NATO, thì ba nước Ban-tích thành viên NATO là Litva, Latvia, Estonia nằm cạnh Saint Petersburg, gần Matxcova như Kiev. Tất cả các lý do đưa ra đều là lý lẽ của kẻ mạnh.

III. TUYÊN BỐ CỦA TỔNG THỐNG UKRAINE ZELENSKY

Sau phát biểu mang tính “tối hậu thư” của ông Putin, vào lúc 22 giờ ngày 22/2/2022, Tổng thống Ukraine Zelensky đã có bài phát biểu dưới đây.

“Dân tộc tự do của đất nước tự do!

Tôi đã hứa rằng chúng ta sẽ thường xuyên trao đổi với nhau, và quan trọng nhất là trao đổi một cách thành thật.

Hiện giờ là 22h, giờ Kiev. Như đã hứa, tôi xin được báo cáo lại tất cả các hoạt động của chúng tôi một cách rõ ràng để các bạn hiểu chính xác những gì đang diễn ra ở Ukraine và cả ở ngoài biên giới của chúng ta.

Ngày hôm qua, Liên bang Nga đã công nhận độc lập cho những thực thể hình thành tại khu vực bị chiếm đóng trên lãnh thổ Ukraine. Ngày hôm nay họ đã phê chuẩn cái gọi là “Thỏa thuận” và cho phép tổng thống Nga có thể sử dụng quân đội ở nước ngoài, nghĩa là ở Donbas, thuộc lãnh thổ Ukraine. Bằng vào việc đó, họ chính thức thay lời dối trá “chúng tôi không có ở đó” bằng “Dù sao chúng tôi vẫn ở đây”. Quyết định này được tất cả họ đồng thuận. Như thế là đã rõ, ai là bên muốn hòa bình trên trái đất này, còn ai là bên muốn chia chác lại đất đai.

Với quyết định này của họ, trên thực tế Nga đã rời bỏ mọi thỏa thuận Minsk, thỏa thuận mà theo lời của họ là không có gì có thể thay thế. Còn đối với cá nhân tôi, kết thúc chiến tranh mới không thể khác được chứ không phải là cơ sở hay định dạng để đàm phán. Vì vậy, tôi sẵn sàng đàm phán cả ở các cuộc đàm phán song phương lẫn các cuộc đàm phán có sự tham gia của các nhà lãnh đạo khác. Nhưng tôi xin nhấn mạnh rằng, đối với tôi, điều quan trọng nhất là chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Trước tiên, chúng tôi đã đề nghị tổ chức Hội nghị thượng đỉnh các thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc với sự tham gia của Ukraine, Thổ Nhĩ Kỳ và Đức. Phần lớn các thành viên tham gia Hội nghị thượng đỉnh đều ủng hộ sáng kiến này, trong đó có tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Erdogan.

Đồng thời các đối tác của Ukraine cũng cho thấy rõ, không còn con đường nào khác ngoài việc áp dụng các chế tài đối với Liên bang Nga. Tổng thống Mỹ Joe Biden đã thông qua các chế tài đối với những thực thể khủng bố LDNR, còn Anh quốc đã công bố các chế tài khác đối với các ngân hàng và các tài phiệt thân hữu. Phía Đức cũng đình chỉ việc cấp phép đường ống dẫn khí “Dòng chảy phương bắc -2”. Cannada cũng cho biết, sẽ áp dụng chế tài với Liên bang Nga vì sự vi phạm trắng trợn toàn vẹn lãnh thổ Ukraine.

Tôi cũng xin cảm ơn mọi giúp đỡ tài chính từ Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Nhật và Ngân hàng thế giới. Đây là những nguồn tài chính để bảo đảm sự vững vàng cho nền kinh tế Ukraine.

Liên quan đến an ninh và quốc phòng.

Cho đến hôm nay, việc tổng động viên trên toàn quốc là chưa cần thiết. Hiện tại, chúng ta chỉ cần tích cực hoàn thiện quân đội và các tổ chức quân sự khác.

Với tư cách là Tư lệnh tối cao của các lực lượng vũ trang Ukraine, tôi ban hành lệnh triệu tập quân số dự bị trong giai đoạn đặc biệt. Xin nhấn mạnh, chỉ những người thuộc lực lượng dự bị chiến đấu liên quan đến sắc lệnh này. Chúng ta cần nâng cao tính sẵn sàng chiến đấu cho quân đội trong mọi bối cảnh. Trong những ngày tới, sẽ tổ chức tập huấn quân sự cho các lực lượng dự bị ở địa phương.

Chúng ta cũng cần làm việc và đóng góp cho nền kinh tế Ukraine để có thể bảo đảm một quân đội vững mạnh. Người yêu nước không chỉ là những người chiến đấu với kẻ thù bảo vệ quê hương, mà còn là những người làm việc đóng góp vật chất và tạo ra công ăn việc làm cho đất nước. Do đó, nhà nước quyết định thực thi Chương trình kinh tế yêu nước. Đây là những ưu đãi đối với nền sản xuất nước nhà.

Mục đích chương trình kinh tế này hỗ trợ một số lĩnh vực sản xuất, giảm nhẹ gánh nặng thuế má và hạn chế thanh tra doanh nghiệp. Sự ưu đãi này nhằm thu hút nguồn lực của nhân dân đầu tư vào kinh doanh và hệ thống ngân hàng. Nhà nước cũng sẽ giảm thuế giá trị gia tăng cho xăng dầu. Mục đích của chúng ta là có một nền kinh tế độc lập, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng.

Đã đến lúc mọi chính trị gia đều phải trở thành nhà hoạt động chính sách. Hãy vứt bỏ mọi tham vọng cá nhân để vì lợi ích quốc gia. Tôi đã trao đổi với những người đứng đầu các đảng phái chính trị, mọi người đều hiểu rõ rằng, hiện tai, trong quốc hội chỉ cần một liên minh duy nhất – đó là liên minh quân sự: đồng lòng, đưa ra những quyết định quan trọng và nhanh chóng để có một nền kinh tế vững mạnh và nâng cao khả năng quốc phòng của đất nước. Từ hôm nay, mọi đảng phái đều đứng dưới một màu cờ – màu xanh – vàng của chúng ta.

Ngày mai, tôi sẽ gặp gỡ với 50 doanh nghiệp hàng đầu. Tất cả các doanh nghiệp này cần ở lại trong nước. Nhà máy, xí nghiệp của họ nằm trên lãnh thổ Ukraine mà quân đội chúng ta có trách nhiệm bảo vệ. Do đó, các doanh nghiệp cũng có trách nhiệm bảo vệ nền kinh tế và tạo thêm công ăn việc làm. Tất cả đồng lòng vực dậy và củng cố nền kinh tế. Mỗi người đều ở trên mặt trận của mình.

Đồng bào kính mến!

Ukraine là một dân tộc hiền lành, Chúng ta thích yên ổn. Nhưng nếu hôm nay chúng ta im lặng, ngày mai chúng ta sẽ bị tiêu diệt. Chờ đợi phía trước chúng ta là những tháng ngày khó khăn, vất vả. Nhưng chúng ta đã sẵn sàng. Hãy tự tin vào bản thân. Hãy tin vào đất nước và tin vào chiến thắng!

Đừng than vãn mà hãy chiến thắng!

Vinh quang Ukraine!

Volodymyr Zelensky”

22.02.2022.

(https://www.rbc.ua/rus/news/zelenskiy-zapisal-ocherednoe-obrashchenie-1645564980.html, bản dịch của Nguyễn Hồng Giang).

Về quan điểm phía Nga, truyền thông Việt Nam đã đưa nhiều, còn quan điểm phía Ukraine thì ít được nhắc đến. Để có thêm thông tin, xin giới thiệu ý kiến của Đại biện lâm thời Ukraine tại Việt Nam, bà Natalia Zhynkina – một công dân từ Lugansk của Ukraine.

Bà Natalia Zhynkina khẳng định: “Trong mọi trường hợp, chúng tôi sẽ bảo vệ đất mẹ của mình và dựa vào sự hỗ trợ của quốc tế”.

Nga – Công thức cũ và chiến lược gặm nhấm

Nga – Công thức cũ và chiến lược gặm nhấm

Bởi  AdminTD

Ngô Huy Cương

23-2-2022

Xúi giục nổi dậy, bạo loạn, thành lập chính quyền bất hợp hiến, sau đó công nhận chính quyền bất hợp hiến này, rồi đưa quân vào chiếm đóng là một công thức cũ đã được sử dụng quá nhiều trên thế giới từ trước tới nay.

Nhưng với chiến lược gặm nhấm dần lãnh thổ của một quốc gia yếu hơn với công thức như vậy và “xé toạc” những cam kết quốc tế còn hơi ấm, đồng thời lại ngụ ý về việc ngăn chặn một cuộc chiến tranh thế giới có thể xảy ra và bảo vệ hòa bình, thì đó đúng là một hành động tạo ra một tiền lệ cực xấu, đáng lên án.

Người Việt Nam chúng ta nghĩ gì, nếu như những kẻ thích la liếm lãnh thổ thuộc chủ quyền của chúng ta cũng theo đó mà hành động?

Hết sức lưu ý rằng, nước Nga không còn là một nước xã hội chủ nghĩa để chúng ta cứ mãi chạy theo để bảo vệ lập trường của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Chiến tranh theo đường lối xã hội chủ nghĩa như Liên Xô trước kia luôn khẳng định là chiến tranh vệ quốc chứ không phải là chiến tranh ăn cướp.

Chiếm Ucraina làm vùng đệm như trước đây để bảo vệ chính Nga chứ không phải là để bảo vệ Việt Nam hay bảo vệ cho hòa bình thế giới.

Vậy hãy nhìn nhận thật đúng hành động của Nga bây giờ để rút ra kinh nghiệm bảo vệ tổ quốc Việt Nam của chúng ta, chứ đừng hùa theo việc bảo vệ Nga như bảo vệ lợi ích của Việt Nam hoặc bảo vệ Nga một cách mù quáng, chỉ vì ghét Mỹ và Phương Tây!

Đứng trước một nước lớn luôn có ý đồ gặm nhấm lãnh thổ của các nước yếu hơn xung quanh, chúng ta, qua sự kiện Nga chiếm đóng Ucraina, quyết không thể để cho nước lớn này sử dụng công thức nói trên, đồng thời phải củng cố quân đội của chúng ta thật sự mạnh và hiện đại.

Nên học từ Nga một điểm là luôn luôn duy trì quân đội mạnh dù kinh tế có khó khăn hay chưa thực sự phát triển. Quân đội của họ mạnh và hiện đại chính là thứ mà họ đã tận dụng để đòi chia lại thế giới và chiếm đóng.

SỰ KỲ DIỆU CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG…

SỰ KỲ DIỆU CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG…

Giống như bất kỳ người mẹ nào, khi Karen biết mình mang thai, cô làm tất cả những gì có thể để giúp đứa con trai 3 tuổi, Michael, chuẩn bị tâm lý chào đón một thành viên mới trong gia đình.

Thành viên mới này là một bé gái. Ngày ngày, Michael hát cho đứa em gái còn trong bụng mẹ nghe. Cậu bé đã xây dựng tình yêu thương đối với em gái mình ngay cả trước khi cô bé ra đời.

Thai kì tiến triển bình thường. Theo thời gian, những cơn đau chuyển dạ đến. Mỗi năm phút, ba phút rồi một phút một lần. Tuy nhiên, biến chứng nghiêm trọng phát sinh, Karen chuyển dạ hàng giờ. Cuối cùng, em gái của Michael chào đời. Nhưng cô bé lại trong tình trạng rất nguy kịch. Tiếng còi hú trong đêm, xe cứu thương vội vàng chở đứa trẻ sơ sinh đến khu chăm sóc trẻ sơ sinh tại bệnh viện St. Mary, Knoxville.

Thời gian trôi dần… Tình trạng của bé trở nên tồi tệ hơn. Các bác sĩ nhi khoa nói với cha mẹ Michael rằng có rất ít hy vọng, hãy chuẩn bị tinh thần cho tình huống xấu nhất…!

Karen và chồng liên lạc với một nghĩa trang địa phương để chuẩn bị cho việc chôn cất. Họ đã chuẩn bị một căn phòng đặc biệt trong nhà cho em bé mới, nhưng giờ phải lên kế hoạch cho một đám tang…!

Tuy nhiên, Michael đã van nài cha mẹ cho cậu vào gặp em gái mình. Cậu bé nói: “Con muốn hát cho em ấy nghe…!”.

Tuần thứ hai trong phòng chăm sóc đặc biệt. Michael tiếp tục nài nỉ để được hát cho em gái mình, nhưng trẻ con không được phép vào phòng chăm sóc đặc biệt.

Karen quyết định đưa Michael vào thăm em mình cho dù bệnh viện có đồng ý hay không. Nếu giờ cậu bé không được nhìn thấy em gái mình, thì có thể sẽ không bao giờ còn cơ hội nữa. Michael mặc bộ quần áo quá khổ và được dẫn đến phòng chăm sóc đặc biệt. Trông cậu bé giống như một giỏ đựng quần áo di động.

Người y tá trưởng nhận ra cậu bé và hét lên: “Đưa nó ra khỏi đây ngay. Trẻ con không được phép vào!”

Bản năng làm mẹ trong Karen trổi dậy và người phụ nữ bình thường hòa nhã nhìn trừng trừng vào mắt người y tá trưởng, với một giọng đanh thép, cô nói: “Cậu bé sẽ không rời khỏi cho đến khi nó hát cho em gái mình nghe…!”

Sau đó, Karen kéo Michael đến bên giường cô bé. Cậu bé nhìn chằm chằm vào đứa em đang yếu dần trong cuộc chiến giành lấy sự sống…! Sau một lúc, cậu bắt đầu cất giọng. Bằng giọng trong veo của một đứa trẻ 3 tuổi, Michael hát:

“You are my sunshine, my only sunshine, you make me happy when skies are gray.” (Bé là ánh nắng, ánh nắng mặt trời duy nhất của anh, bé làm anh hạnh phúc dẫu bầu trời xám xịt.)

Ngay lập tức, cô bé dường như có phản ứng. Mạch bắt đầu trở nên ổn định.

“Tiếp tục đi Michael”, Karen động viên, mắt ngấn lệ.

“You never know, dear, how much I love you, please don’t take my sunshine away.” (Bé con à, em không biết anh thương em thế nào đâu, xin đừng lấy đi ánh nắng mặt trời đi.)

Khi Michael hát, hơi thở rời rạc, yếu ớt của em bé trở nên nhịp nhàng. “Tiếp tục đi, con yêu…!”

“The other night, dear, as I lay sleeping, I dreamed I held you in my arms”. (Bé con ơi, một đêm nọ, khi anh nằm ngủ, anh mơ được ôm em trong vòng tay.)

Em gái của Michael bắt đầu thư giãn như đang ngủ. “Tiếp tục đi, Michael.” Lúc này, nước mắt đầm đìa trên gương mặt của người y tá trưởng hống hách. Karen thì cảm thấy ấm lòng.

“You are my sunshine, my only sunshine. Please don’t take my sunshine away…” (Bé là ánh nắng, ánh nắng mặt trời duy nhất của anh. Xin đừng lấy ánh nắng ấy đi …)

Ngày hôm sau, ngay ngày hôm sau…, một thời gian ngắn tiếp theo…, cô bé đã đủ khỏe để trở về nhà…!

*Thế mới hiểu: “Nơi nào có tình yêu thương chân thành thì nơi đó, luôn có điều kỳ diệu đáp đền…!”*

Trần Hồng Điệp

*Dịch từ truyện ngắn The miracle of love, true story.

From: Do Tan Hung & Kim Bang Nguyen

SỰ TRẢ THÙ NGỌT NGÀO

SỰ TRẢ THÙ NGỌT NGÀO

Cách đây đúng 64 năm, năm 1957, một vị Bác sĩ đã quyết định không cần cấp bằng sáng chế cho vắc-xin của mình, để tất cả các công ty dược phẩm được quyền sản xuất và cung cấp nó cho trẻ em toàn thế giới.

Đó là vị Bác sĩ Mỹ gốc Do Thái/Ba Lan, sinh ra ở Bialystok – ông Albert Bruce Sabin (1906 – 1993); nhà vi-rút học nổi tiếng với phát minh vắc-xin bại liệt (Polio Vaccine). Ông không cần tiền thưởng cho bằng sáng chế, để vắc-xin được tiếp cận tất cả mọi người bất kể giàu nghèo.

Từ năm 1959-1961, hàng triệu trẻ em khắp thế giới đã được chủng ngừa vắc-xin bại liệt của Sabin, dập tắt dịch bệnh này. Trong khi trước đó, gần như cả 1 thế hệ bị xóa sổ vì bệnh bại liệt.

Ông Sabin nói: “Nhiều người khuyên tôi nhất định phải lấy bằng sáng chế cho vắc-xin nhưng tôi không muốn. Đây là món quà tôi dành cho tất cả trẻ em trên thế giới”.

Được biết vì là người Do Thái, 2 cháu gái của ông đã bị phát-xít Đức giết hại. Được hỏi liệu ông có muốn trả thù, ông đáp: “Họ đã giết 2 đứa cháu gái tuyệt vời của tôi, nhưng tôi đã cứu hàng triệu đứa trẻ khắp thế giới. Bạn không nghĩ đây là một sự ‘trả thù’ lớn hơn sao?”

Trong thời Chiến tranh lạnh, Sabin đã tặng miễn phí các chủng vi-rút của mình cho nhà khoa học Liên Xô Mikhail Chumakov, cho phép phát triển vắc-xin của ông ở đất nước này.

Ông Sabin tiếp tục sống với mức lương bình thường, nhưng trái tim ông tràn ngập niềm vui vì đã làm được điều tốt đẹp nhất cho nhân loại.

SƯU TẦM

From: Do Tan Hung & Kim Bang Nguyen

Bí thư đảng ủy Thị trấn Vụ Bản lỗ mãng, vô học xúc phạm nghi lễ tôn giáo

Đài Á Châu Tự Do 

Theo chương trình của Năm Truyền Giáo, vào Chúa Nhật thứ III trong tháng– cầu cho việc truyền giáo của Tổng Giáo phận Hà Nội, Đức tổng Giuse sẽ dành hai ngày thăm viếng các giáo xứ miền Hòa Bình… Sáng 20/2/2022, là ngày Chúa Nhật đầu tiên ngài đi thăm giáo xứ Vụ Bản (thuộc huyện Lạc Sơn, Tỉnh Hoà Bình) và dâng Thánh lễ cho Giáo xứ ở đó.

Sự hiện diện của Đức Tổng Giám mục và dâng Thánh lễ là sự kiện trọng đại của Giáo xứ, đáp ứng mong mỏi của Giáo dân nơi đây.

Trong Thánh lễ sáng Chúa nhật 20/2/2022 tại đây, khi Thánh lễ đang tiến hành đến lúc hết sức linh thiêng là rước lễ, thì Bí thư Đảng ủy thị Trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn là Phạm Hồng Đức cùng với Phạm Văn Chiến là Phó Chủ tịch đã xông lên Cung Thánh, giành micro làm loạn Thánh lễ bất chấp Đức TGM Giuse Vũ Văn Thiên và các linh mục đang đồng tế tại đây.

Diện mạo của hai kẻ xông lên cung thánh này mặc quần áo bạt công an cấp nhìn như côn đồ, và có những lời nói đe dọa, xông vào cướp micro của Nhà thờ làm loạn.

Chúng hò hét la lối vào micro và loa phóng thanh mặc cho giáo dân vẫn đang đọc kinh, cầu nguyện hết sức nghiêm túc và các linh mục can ngăn.

Đặc biệt là hành động phá rối Thánh lễ linh thiêng của người Công giáo là một hành động rừng rú, lỗ mãng vô giáo dục và là sự vi phạm trắng trợn niềm tin, tín ngưỡng của giáo dân Vụ Bản cũng như Giáo hội Công giáo Việt Nam và giáo hội Hoàn Vũ.

Bí thư Đảng ủy thị Trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn là Phạm Hồng Đức cùng với Phạm Văn Chiến là Phó Chủ tịch tại Thánh lễ sáng 20/2/2022 tại giáo xứ Vụ Bản

RFA.ORG

Trí thức và độc tài

Trí thức và độc tài

Bởi  AdminTD

Nguyễn Hưng Quốc

21-2-2022

Đọc lịch sử các chế độ độc tài, từ độc tài phát xít với những Hitler và Mussolini đến độc tài cộng sản với những Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Nicolae Ceauşescu, và Kim Chính Nhật (bây giờ là Kim Chính Ân) hay độc tài cá nhân với những Saddam Hussein, Muammar Gaddafi, Robert Mugabe… chúng ta không thể không ngạc nhiên.

Có rất nhiều điều để ngạc nhiên.

Thứ nhất, tất cả các tên độc tài, dưới nhiều nhãn hiệu khác nhau, đều vô cùng tham lam và độc ác. Chúng thâu tóm toàn bộ quyền lực trong tay và với quyền lực vô tận ấy, giết vô số người, từ những kẻ thù thực sự đến những kẻ thù tưởng tượng, trong đó phần lớn là chính dân chúng ở nước chúng.

Thứ hai, tất cả đều mắc bệnh huyễn tưởng, tự xem vị thế và quyền lực của mình như một thứ gì thuộc về thiên mệnh; và vì thiên mệnh, chúng nằm ngoài hoặc nằm trên không những luật pháp mà còn cả các nguyên tắc đạo lý thông thường của con người. Giết người, thậm chí, giết vô số người, với người khác, là tội ác; với chúng, là thiêng liêng và cao cả.

Thứ ba, vì căn bệnh huyễn tưởng ấy, rất nhiều nhà độc tài trở thành lố bịch, không khác những tên hề. Ceauşescu tự xưng mình là “Thiên tài của vùng Carparthians”, một vùng núi rộng lớn ở Trung Âu, kéo dài từ Slovakia qua miền Nam Ba Lan, miền Tây Ukraine đến tận phía Đông Bắc của Romania. Còn vợ của ông, Elena, người được cử làm Phó Thủ tướng, thì được tuyên truyền như một “Quốc mẫu”, một nhà khoa học vĩ đại (dù bà thực sự bỏ học từ năm 14 tuổi, và tất cả các cái gọi là “công trình khoa học”, kể cả luận án tiến sĩ của bà, đều do người khác viết). Rafael Trujillo, nhà độc tài ở Dominican Republic từ 1930 đến 1938 và từ 1942 đến 1952 thì tự xem mình là Thượng đế. Ông ta ra lệnh cho mọi nhà thờ trong nước phải khắc câu “Chúa ở trên Trời, Trujillo ở dưới Thế” (God in Heaven, Trujillo on Earth) và mọi bảng xe đều khắc câu “Trujillo vạn tuế”. Francisco Macias Nguema, nhà độc tài ở Equatorial Guinea từ năm 1968 đến 1979 cũng thế. Cũng tự xưng mình là Thượng đế. Dưới thời ông, biểu ngữ chính trong nước ghi “Không có Thượng đế nào khác ngoài Macias Nguema”. Saparmurat Niyazov, Tổng thống xứ Turkmenistan từ năm 1990 đến 2006 thì ra lệnh đổi tên 12 tháng trong năm theo tên ông và người thân trong gia đình của ông. Ông cũng viết sách và ra lệnh bất cứ người dân nào, để được thi lấy bằng lái xe, cũng phải thuộc lòng nguyên cả cuốn sách của ông.

Thứ tư, tất cả đều giả dối, đều sử dụng vô số huyền thoại láo khoét để biến mình thành thần tượng, thành những lãnh tụ anh minh, đầy viễn kiến, mở ra những chân trời mới cho đất nước hoặc cho cả nhân loại. Những huyền thoại ấy nhiều khi rất ngây ngô, ví dụ chuyện Kim Chính Nhật điều khiển đội tuyển bóng đá Bắc Triều Tiên trong giải World Cup 2010 bằng cách chỉ dẫn từng đường đi nước bước trong suốt trận đấu cho huấn luyện viên Kim Jong-Hun qua một chiếc điện thoại di động vô hình!

Nhưng cả bốn điều “đáng ngạc nhiên” trên đều không đáng ngạc nhiên bằng hai điều này:

Một, mặc dù tham lam, độc ác, mắc bệnh huyễn tưởng và giả dối như vậy, những tên độc tài ấy lại cầm quyền, hơn nữa, cầm quyền một cách tuyệt đối, trong thời gian rất dài, có khi cả đời hoặc nhiều đời, hết đời con đến đời cháu, chắt.

Hai, dù đầy khuyết điểm như vậy, những tên độc tài ấy vẫn được nhiều người, kể cả giới trí thức, thậm chí là trí thức xuất sắc ở Tây phương, ngưỡng mộ và hết sức bênh vực cũng như góp phần tuyên truyền cho chúng một cách nhiệt tình.

Trong hai điều trên, điều thứ hai quan trọng hơn. Giải thích điều thứ nhất, người ta có thể nói: Bởi các nhà độc tài đã xây dựng được một bộ máy tuyên truyền hữu hiệu đủ để nhồi sọ tất cả mọi người và một bộ máy quyền lực mạnh mẽ đủ để nghiền nát bất cứ người nào dám chống đối. Nhưng không có một bộ máy xã hội và chính trị nào có thể tồn tại độc lập. Vấn đề chính là ở con người, tức ở khía cạnh thứ hai, chúng ta vừa nêu ở trên: Tại sao người ta lại khiếp sợ và ngưỡng mộ các tên độc tài đến như vậy? Tại sao người ta lại để cho các tên độc tài dễ dàng lừa dối mình đến như vậy?

Trên thế giới, cũng có nhiều người từng ngạc nhiên như vậy. Có thời, những kẻ như Hitler, Mussolini, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Fidel Castro, thậm chí, Kim Chính Nhật đã trở thành thần tượng của nhiều trí thức và văn nghệ sĩ Tây phương. Đạo diễn Oliver Stone khen Fidel Castro là một kẻ “rất vị tha và đạo đức. Một trong những người khôn ngoan nhất trên thế giới.” Một đạo diễn khác, Steven Spielberg, cho “gặp gỡ Fidel Castro là tám giờ quan trọng nhất” trong cuộc đời của ông. Trước đó, ở Ý, Gabriele D’Annunzio, một nhà thơ lớn, cũng như nhiều nhà thơ thuộc trường phái Vị Lai khác, từng là những kẻ ủng hộ nhiệt thành Benito Mussolini. Ở Đức, Hitler không thiếu người ngưỡng mộ, kể cả một trong những triết gia lớn nhất của thế kỷ, Martin Heidegger, một trong những hoạ sĩ lớn nhất của thế kỷ, Salvador Dali, một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ, Ezra Pound. Nhà văn Na Uy từng đoạt giải Nobel năm 1920, Knut Hamsun, cũng rất ủng hộ Adolf Hitler.

Đối với các nhà độc tài cộng sản, số trí thức ngưỡng mộ nhiều hơn hẳn. Nhà văn Anh George Bernard Shaw (1856-1950) suốt đời ủng hộ Lenin, Stalin, và cả Hitler nữa. Cả Andre Gide và Doris Lessing đều từng ủng hộ Stalin tuy cả hai, sau đó, tự nhận là mình lầm. Picasso, Bertolt Brecht, Pablo Neruda, W.E.B. Du Bois, Graham Greene, v.v… cũng đều ủng hộ Stalin; trong đó, có người vừa ủng hộ Stalin vừa ủng hộ Mao Trạch Đông.

Jean-Paul Sartre cũng từng là người ủng hộ Stalin và chế độ cộng sản rất nồng nhiệt. Ông là tác giả của một câu nói gây rất nhiều tai tiếng: “Mọi kẻ chống cộng đều là chó” (every anti-communist is a dog). May, sau đó, ông thay đổi thái độ. Khi quân đội Sô Viết xâm lăng Hungary vào tháng 11 năm 1956, ông lên án Liên Xô kịch liệt. Sự phê phán của Sartre đối với Liên Xô càng mạnh mẽ hơn nữa vào năm 1968 khi quân đội Sô Viết trấn áp dân chúng Czechoslovakia trong sự kiện được gọi là “mùa xuân Prague”. Trước năm 1975, trong chiến tranh Việt Nam, ông là người tích cực ủng hộ miền Bắc và lên án Mỹ một cách gay gắt. Sau năm 1975, chứng kiến thảm cảnh của người Việt Nam vượt biển, ông lại lên tiếng phê phán chính quyền Việt Nam và kêu gọi chính phủ Pháp cứu giúp người tị nạn.

Chúng ta lại phải tự hỏi: Tại sao nhiều người trí thức lại dễ dàng bị các nhà độc tài lừa bịp đến như vậy? Tại sao họ lại nhẹ dạ và cả tin đến như vậy?

Nhớ, trước đây, trong những lần về Việt Nam, tôi gặp khá nhiều văn nghệ sĩ và “trí thức” ở miền Bắc. Nhiều người kể lại, trước phong trào đổi mới, đặc biệt, trước năm 1975, họ gần như tuyệt đối tin tưởng vào giới lãnh đạo và chế độ. Trong các buổi học tập chính trị và văn hoá, họ lắng nghe cán bộ giảng bài như nghe những lời thánh phán. Họ cắm cúi ghi chép rồi về nhà, đọc lại một cách thành kính. Sau này, cũng theo lời họ, đọc lại các cuốn sổ tay cũ, họ thấy những ý kiến trong ấy rất hời hợt, thậm chí, ngô nghê. Họ tự hỏi: Tại sao thời ấy họ lại xem những ý kiến ấy như những lời vàng ngọc như vậy? Chính họ, họ cũng không biết rõ câu trả lời. Tất cả đều cho: Đó chỉ là hậu quả của việc nhồi sọ.

Lại nhớ, mấy năm đầu sau 1975, một số “trí thức” Việt kiều ở Pháp về thăm nước rồi viết bài đăng tải trên báo chí ở Paris. Họ khen Việt Nam không tiếc lời. Trong lúc người Việt Nam đói đến xanh xao mặt mũi, họ khen đời sống rất sung túc. Trong lúc cả hàng chục ngàn người bị bắt đi cải tạo và con cái họ không được vào đại học, họ khen “chính quyền cách mạng” thực tâm hoà giải, không có bất cứ một chính sách kỳ thị nào đối với những người thuộc chế độ cũ trước đó. Trong lúc cả hàng triệu người bất chấp nguy hiểm tìm cách vượt biên tìm tự do, họ cho Việt Nam là một quốc gia dân chủ và ao ước một ngày nào đó được về nước sống hẳn (dù trên thực tế, không bao giờ họ về cả!)

Trí thức trong nước bị nhồi sọ. Nhưng còn trí thức ngoài nước thì sao?

Trong lúc loay hoay tìm cách trả lời cho câu hỏi ấy, cũng như câu hỏi về sự nhẹ dạ và cả tin của trí thức thế giới nói chung, tự dưng tôi nhớ đến mấy câu thơ của Nguyễn Quốc Chánh trong bài “Tao là đứa bé ngoẻo trên lưng Linda Lê”:

“Có 3 thứ không thể kết hợp với nhau nổi. Đó là: Thông minh, lương thiện & cộng sản.

Một người thông minh và lương thiện thì không thể cộng sản,

Một người thông minh mà cộng sản thì không thể lương thiện, và

Một người lương thiện mà cộng sản thì chắc chắn không thông minh.”

Những câu thơ ấy ám ảnh tôi đến độ tôi không thể nghĩ tiếp được nữa.

_____

*Ghi chú: Bài viết được trích từ cuốn “Những bài viết về chính trị”, Lotus Media xuất bản và phát hành trên Amazon.com)

 Những hiểu lầm về tự tử

 Những hiểu lầm về tự tử

  • TS Nguyễn Phương Mai
  • Viết cho BBC News Tiếng Việt 

BBC 19/02/2022.

Câu chuyện bạn sinh viên đeo đá tự vẫn mới đây khiến chúng ta ai nấy đều đau đớn. Đó không chỉ là một cái chết thương tâm mà còn là bao nhiêu câu hỏi sẽ còn quanh quẩn day dứt với người ở lại. 

Trong những khắc khoải đòi câu trả lời ấy, có một vài điều chúng ta cần chia sẻ rộng hơn để xã hội thêm sự thấu cảm với những cái chết như vậy.    

Chỉ những người bị trầm cảm hay có vấn đề về tinh thần mới tự sát 

Đúng là trầm cảm chiếm tỷ lệ lớn, đôi khi đến 50% số người tự sát. Tuy nhiên, lý do để một người chấm dứt cuộc đời đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau. 

Theo một báo cáo của UNICEF ở Việt Nam, lý do tự sát vô cùng đa dạng: áp lực học hành, bị bắt nạt, thất tình, bất hạnh và xung khắc với gia đình, gánh nặng kinh tế, bị ép buộc cưới sớm hoặc bị cản trở trong hôn nhân, áp lực phải thành công và mạnh mẽ…vv.

Như vậy, ta không nên coi tất cả những người tự tử là bệnh nhân trầm cảm vì như vậy giải pháp sẽ chỉ dồn về việc chữa trị một căn bệnh. Trong khi đó, nguyên nhân tự sát không chỉ là một căn bệnh đơn lẻ. Rất nhiều áp lực, bất công và vấn đề trong cuộc sống hàng ngày đều có thể là lý do để người thân của chúng ta tìm đến cái chết. 

Trong báo cáo của UNICEF về Việt Nam có một chi tiết khá quan trọng, đó là việc sống riêng có tác dụng bảo vệ người có ý định tự tử. Lý do có thể đến từ việc cha mẹ mong đợi quá nhiều ở con cái, biến yêu thương thành áp lực.      

Những người tự tử thường hành động bất ngờ, chẳng có dấu hiệu gì báo trước

Một trong những hình xăm tạo viral trên mạng khi mới xuất hiện là dòng chữ “I’m fine” (tôi ổn mà), nhưng khi nhìn ngược lại, chính dòng chữ ấy có thể đọc là “save me” (cứu tôi với). 

Khi một người ra đi, họ đã bằng nhiều cách khác nhau để lại những tín hiệu của dự định tìm đến cái chết. Câu hỏi là liệu xung quanh họ có những người đủ gần gũi, đủ sắc bén, đủ thấu cảm để nhận ra những tín hiệu đó?

Danh sách những tín hiệu của ngõ cụt, đường cùng bao gồm: xa lánh người xung quanh, buồn bã, không chăm sóc bản thân, có hành vi khác thường, thay đổi thói quen ăn uống và sinh hoạt theo hướng tồi tệ hơn, giận giữ, mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều, dùng chất kích thích, tự làm đau bản thân, than thân trách phận, có cái nhìn bế tắc với cuộc sống, tin rằng mình là gánh nặng cho người khác, coi bản thân là sự thất bại, tự coi mình là vô nghĩa, và bộc lộ suy nghĩ về tự sát. 

Từ khía cạnh sinh học tiến hóa, hành vi tự tử là kết quả cuối cùng của một chuỗi những tín hiệu cảnh báo mà không được để ý (bargaining model). Giả thuyết này cho rằng những người gặp vấn đề đã vô thức tìm đến việc phát đi tín hiệu cứu giúp ở mức độ cao nhất, và cái chết chỉ là một hệ quả không hề mong muốn của tín hiệu đường cùng đó. 

Nói về tự tử là vẽ đường cho hươu chạy

Không hẳn, bởi con hươu ấy đã đang chạy rồi, và chạy trong một ma trận không có đường thoát. Cách xã hội nhìn tự tử như một chủ đề nhạy cảm và cấm kỵ khiến ma trận đó càng khó giải hơn. Vấn đề này cũng khá giống cách một xã hội bảo thủ nhìn tình dục hay LGBTQ. Tìm hiểu về sex không có nghĩa là con trẻ sẽ tìm đến sex, nói về tình dục đồng giới không có nghĩa là góp phần bẻ thẳng thành cong. 

Người có ý định tự sát sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn khi được chia sẻ. Ba câu hỏi mà các chuyên gia khuyên nên dùng, theo thứ tự, chỉ hỏi câu tiếp theo khi câu đầu tiên trả lời là “có”:

  • Bạn có nghĩ rằng cuộc đời này đáng sống hay thà chết còn hơn? 
  • Bạn đã bao giờ nghĩ về tự tử chưa?
  • Bạn có nghĩ mình sẽ chấm dứt cuộc đời không? Bạn đã từng thử làm điều đó chưa? 

Những khó khăn về tinh thần cũng giống như những khó khăn về cơ thể, đều cần trị liệu mới khỏi. Một người gãy chân không thể tự đứng dậy mà đi. Tương tự, một người bị áp lực tinh thần không thể cứ vui lên mà sống tiếp mà không có sự chia sẻ, trợ giúp và nâng đỡ nào.

Những người tự tử là kẻ ích kỷ 

Một cái chết luôn để lại đau thương cho người ở lại. Chính vì thế mà kẻ tự tử bị coi là ích kỷ khi chỉ nghĩ đến giải thoát cho chính mình. 

Tuy nhiên, việc “bôi đen” hành động tự tử cũng là một cơ chế tâm lý vị kỷ nhằm gián tiếp bảo vệ bản thân kẻ phán xét. Ta sợ rằng mình sẽ là nạn nhân của sự đau khổ ấy, từ đó vô thức tìm cách giảm thiểu khả năng xảy ra hành vi tự tử bằng cách dán cho hành vi ấy một cái nhãn xấu xí

Trong thực tế, bất chấp giá trị thực trong mắt xã hội, nhiều người tìm đến cái chết thường thật lòng tin rằng họ là một gánh nặng cho người xung quanh. Họ coi tự tử là một giải pháp quên mình, xóa đi một mối lo, bỏ đi một mắt xích lỏng lẻo, khiến những người ở lại có thể trút được một phần khổ đau. 

Điều này chính là giả thuyết thứ hai của hành vi tự tử từ góc nhìn sinh học tiến hóa (adaptive suicide). Các nghiên cứu về vấn đề này cho rằng, khi tìm đến cái chết, những người tự tử không hẳn chỉ tìm đến sự giải thoát cho bản thân mà còn là sự giải thoát cho những người xung quanh, giống như một sự hy sinh vô thức cho lợi ích của cộng đồng.

Những người tự tử là kẻ yếu đuối 

Con người chúng ta sinh ra không hề bình đẳng. Chúng ta chỉ có quyền đấu tranh để đạt được điều đó. Không ai có thể chọn cho mình một sức khỏe hoàn hảo, một gia đình hạnh phúc, một ngôi nhà giàu sang, một đất nước phồn vinh vv…rồi mới chấp nhận chào đời. 

Bởi mỗi chúng ta đều mang vác trên mình những gánh nặng vô hình rất khác nhau của sức khỏe và tâm sinh lý, thật khó để phán xét rằng tại sao tôi cũng bị áp lực như bạn mà tôi không bỏ cuộc. Ngưỡng chịu đựng của mỗi người khác nhau bởi nguồn tài nguyên cung cấp cho sự sống của mỗi người là khác nhau. 

Đây chính là giả thuyết thứ ba của hành vi tự tử, nhìn từ góc độ sinh học tiến hóa (pain-brain hypothesis). Giả thuyết này cho rằng chỉ loài người mới có khả năng nhìn nhận và đánh giá nỗi đau của mình, rồi dùng bộ não để lập kế hoạch tự hủy diệt nhằm chấm dứt nỗi đau ấy. 

Cao hơn, đó thậm chí còn là câu hỏi về quyền tự quyết. Ta đã không được chọn phương cách được sinh ra, nhưng ta có thể chọn phương cách mình chết đi. 

Sự phán xét, thậm chí rủa xả những người tự tử là kẻ hèn nhát phản ánh nhiều điều, trong đó rõ nhất là khả năng thấu cảm của người phán xét. Những người có ý định tự sát khi đọc được những lời phán xét đó có thể tìm cách vượt qua nỗi đau. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, sự phán xét đó cũng khiến họ che giấu nỗi đau kỹ hơn, từ chối tìm đến sự trợ giúp. 

Đây chính một trong những nguyên nhân lớn nhất giải thích cho việc tỷ lệ nam giới tự vẫn luôn cao gấp nhiều lần nữ giới, ở Việt Nam là gấp hai, ở Úc là gấp ba. 

Như vậy có phải là đàn ông bản chất là yếu đuối hơn phụ nữ hay không? 

Đàn ông vốn được cho là phái mạnh. Họ cũng bị áp lực phải là phái mạnh. Nếu họ thất bại trong cuộc sống, đó là do họ yếu đuối, nhu nhược, là do tự bản thân họ không xứng đáng chứ không phải do các nguyên nhân khác. 

Lấy ví dụ như bạo hành. Không khó để thấy những câu chuyện đàn ông bị đánh đập và thiên hạ thi nhau thả mặt cười. Sự chế giễu “đàn ông mà yếu đuối” vô tình ngăn cản họ tìm kiếm sự giúp đỡ, xuất phát từ nỗi sợ rằng không ai tin họ. Họ tự xấu hổ và trách móc chính bản thân mình.

Như vậy, không chỉ xã hội đổ lỗi cho nạn nhân (đàn ông mà thế à?) mà chính nạn nhân cũng đổ lỗi cho chính mình (tại bản thân tôi yếu kém). Kết cục là người đàn ông phải đối mặt với không chỉ một mà tận hai tầng chướng ngại vật, khiến họ phải trả giá đắt vì phải chịu đựng, che dấu các vấn đề sức khỏe thể chất và tinh thần. 

Thậm chí chính người đàn ông cũng cố gắng tự coi đó là chuyện nhỏ để tránh làm mình bị tổn thương hơn, hoặc để không bị xấu hổ. Tại Mỹ chẳng hạn, tỷ lệ những người bị mắc chứng trầm cảm tìm đến giải pháp tự sát là 1% với phụ nữ, nhưng với đàn ông, tỷ lệ đó là 7%. 

Việc tỷ lệ nam giới tự tử cao gấp nhiều lần nữ giới khiến ta hiểu rằng, các vấn đề trong cuộc sống không đứng riêng lẻ mà tương tác với nhau. Như một kẻ bị đánh hội đồng, các vấn đề liên quan đến giới, giai tầng xã hội, tuổi tác, sức khỏe, tài chính, tinh thần …vv cùng “xúm vào” dần cho nạn nhân tơi tả, không có thời gian hồi phục. Chính vì thế, ta nên cân nhắc để không so sánh một cú đấm riêng lẻ với một trận tấn công dồn dập, để từ đó phán xét rằng kẻ tự tử chỉ là một kẻ yếu đuối. 

Vả lại, cái chết luôn là điều đáng sợ. Vì sự sinh tồn, tạo hóa đã cài đặt nỗi sợ ấy sâu đến mức con người luôn bằng mọi giá né tránh cái chết. Dù là tự tử, cảm tử, trợ tử, hay thậm chí chết vì danh dự, những con người tự nguyện đối mặt với cái chết đều có một động lực mạnh mẽ hơn cả cái chết. Vượt qua được nỗi sợ có tính bản năng đó có thể nào thuần túy là hèn nhát yếu đuối không hay thực sự là một trạng thái của lòng can đảm? 

*PGS.TS Nguyễn Phương Mai làm việc tại ĐH Khoa học Ứng dụng Amsterdam, Hà Lan. Bà nghiên cứu quản trị đa văn hoá bằng phương pháp liên ngành kết hợp với kiến thức thần kinh não bộ (neuroscience). Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

From: Đỗ Tan Hung & KimBang Nguyen

ĐÔI MẮT CỦA TÌNH YÊU

ĐÔI MẮT CỦA TÌNH YÊU

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Chúng ta hình dung một cặp say sưa yêu nhau trong thời gian đầu; một người tân tòng yêu mến Chúa, cầu nguyện đến xuất thần; một thanh niên lòng đầy lý tưởng, làm việc không mệt mỏi vì người nghèo, lòng bừng bừng vì khao khát công bằng.  Hai bạn trẻ đó có yêu nhau thực sự không?  Người tân tòng đó có yêu Chúa thực sự không?  Nhà hoạt động xã hội trẻ có có thật sự yêu người nghèo không?  Đó là những câu hỏi không dễ để trả lời.

Khi có cảm giác yêu là chúng ta thật sự đang yêu ai?  Yêu người khác?  Yêu bản thân?  Yêu mẫu hình và sinh lực nơi những người khác?  Yêu ảo tưởng của chúng ta về người đó?  Hay là yêu cái cảm giác mà trải nghiệm đó khơi lên trong chúng ta?  Khi yêu, chúng ta thật sự yêu người khác hay chỉ đắm mình trong một cảm giác tuyệt vời vốn có thể dễ dàng được vô số người khơi lên?

Có những câu trả lời khác nhau cho câu hỏi này.  Thánh Gioan Thánh Giá nói tình yêu là tất cả những điều này, là chúng ta thật sự yêu người đó, yêu ảo tưởng của chúng ta về người đó, và đắm mình trong cảm giác vui thích mà chuyện này khơi gợi lên trong lòng chúng ta.  Chính vì thế, một chuyện luôn xảy ra là, đến một lúc nào đó trong mối quan hệ, những cảm giác yêu nồng nàn mạnh mẽ 3/ nhường chỗ cho vỡ mộng – và theo định nghĩa, “vỡ mộng” là xóa tan những ảo tưởng, mộng tưởng sai lầm, những gì không có thật.  Với Thánh Gioan Thánh Giá, khi chúng ta yêu, thì một phần tình yêu đó là thật, và một phần là ảo tưởng.  Hơn nữa, ngài nói điều này cũng đúng với những cảm giác sốt sắng ban đầu của chúng ta khi cầu nguyện và làm những việc hảo tâm.  Có sự trộn lẫn cả hai, cả tình yêu chân thực và ảo tưởng.

Một vài phân tích khác lại không nương tay đến thế.  Nhiều phân tích xác định rằng mọi tình yêu ban đầu của chúng ta, dù là với người khác, với Thiên Chúa khi cầu nguyện, với người nghèo trong việc phục vụ, chủ yếu đều là ảo tưởng.  Xét cho cùng, chúng ta yêu chuyện được yêu, yêu những gì lời cầu nguyện làm cho ta, hoặc là yêu cảm giác chúng ta có được khi làm việc vì công bằng.  Người khác, Thiên Chúa và người nghèo, chỉ là điều thứ yếu.  Chính vì thế, chuyện thường xảy ra là khi lửa mến ban đầu nguội đi, thì tình yêu của chúng ta dành cho đối tượng cũng lạnh dần.  Khi ảo tưởng chết đi, thì cảm thức yêu cũng thế.  Chúng ta yêu mà không thật sự hiểu người kia, và chúng ta hết yêu mà cũng không thật sự hiểu người kia.  “Bắt đầu yêu” trong tiếng Anh là “fall in love” (tiếng Việt là rơi vào lưới tình, là phải lòng) và nó nói lên nhiều điều.  “Fall/ngã” không phải là điều chúng ta quyết định mà điều xảy đến với chúng ta.  Linh đạo về hôn nhân có một khẩu hiệu rất sáng suốt: hôn nhân là lựa chọn, yêu thì không. 

Ai nói đúng đây?  Khi chúng ta yêu, bao nhiêu phần là tình yêu đích thực và bao nhiêu phần là ảo tưởng, vốn thật sự chỉ là chúng ta đang yêu chính mình?  Nhà thơ người Mỹ Steven Levine trả lời câu hỏi này từ một góc nhìn khác và soi rọi nhận định mới về vấn đề này.

Ông nói rằng, tình yêu không phải là “cảm xúc đối ngẫu.”  Với ông, mỗi khi chúng ta cảm nhận tình yêu chân thực, chính lúc đó, chúng ta cảm nhận sự đồng nhất với Thiên Chúa và vạn vật.  Ông viết: “Cảm nghiệm tình yêu trỗi dậy khi chúng ta buông bỏ sự tách biệt của mình trước sự đồng nhất toàn thể.  Nó là một cảm giác hợp nhất…  Nó không phải là cảm giác, đúng hơn là một tình trạng hiện hữu….  Nó không phải là ‘cả hai nên một’ cho bằng ‘một mà thể hiện như hai.’”  Nói cách khác, khi yêu ai đó, thì lúc ấy, chúng ta là một với người đó, không tách rời, đến nỗi dù cho những ảo tưởng và cảm giác của chúng ta chỉ nhắm vào tác động cho riêng chúng ta, nhưng luôn có đó một điều sâu sắc hơn và chân thực hơn nhiều.  Chúng ta là một với người kia trong hiện hữu, và khi yêu, chúng ta cảm nhận được điều đó. 

Với quan điểm này, tình yêu chân thực không phải là cái chúng ta cảm nhận cho bằng là cái mà chúng ta là.  Về căn bản, tình yêu không phải là một cảm xúc gây xúc động hay một đức tính (dù chúng là những phần của tình yêu).  Tình yêu là một tình trạng siêu hình, chứ không phải một thứ đến rồi đi như cảm xúc, không phải một thứ mà chúng ta có thể chọn hoặc bỏ theo tinh thần của mình.  Tình trạng siêu hình là điều được trao, điều mà chúng ta tồn tại trong nó, điều mà một phần con người chúng ta cố kết dù chúng ta không nhận ra.  Do đó, tình yêu, thậm chí cả cảm giác mới yêu, có thể giúp chúng ta ý thức hơn về sự không tách rời của mình, về sự thống nhất hiện hữu của chúng ta với người khác. 

Khi yêu đậm sâu hay nồng nhiệt, có lẽ (như lời Thomas Merton mô tả một thị kiến cha thấy ở một góc đường) chúng ta có thể tỉnh hơn khỏi mộng ảo tách biệt và ảo tưởng khác biệt để thấy được vẻ đẹp và chiều sâu nơi tâm hồn người khác.  Có lẽ nó cũng sẽ cho chúng ta thấy được người khác, thấy được phần mà cả tội, dục vọng hay sự tự tri đều không vươn đến được, phần cốt lõi hiện thực của con, là con người trong mắt Thiên Chúa.

Và thật là tuyệt vời, “nếu chúng ta có thể thấy người khác như thế suốt.” (theo lời cha Merton).

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: langthangchieutim

Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em

Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em

Ngày Chúa Nhật thật là tốt lành nhé.

Cha Vương

CN: 20/02/2022

TIN MỪNG: Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em, và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. (Lc 6:27-28)

SUY NIỆM: Thật, đây là một mệnh lệnh rất khó để thực hành trong cuộc sống va chạm hằng ngày. Mình biết rất khó đó nhưng không phải là bạn “không có thể”. Sự thường thì bản tính tự nhiên của con người dạy ta: “thương kẻ nể ta, đập kẻ mất lòng ta” còn trong Kinh Thương Linh Hồn 7 Mối, điều thứ năm và thứ 6 lại dạy ta: “Tha kẻ hại ta, nhịn kẻ mất lòng ta”. Hai điều này quy về một điều mà Chúa dạy hôm nay là: hãy YÊU MẾN kẻ thù của mình, LÀM ƠN cho kể ghét mình, CHÚC LÀNH cho kẻ nguyền rủa mình, CẦU NGUYỆN cho kẻ vu khống mình. Nếu bạn yêu không được thì hãy làm ơn làm phước cho họ. Nếu bạn yêu cũng chẳng vô, làm ơn cũng chẳng được vì chữ “khó” hoặc vì không muốn nhìn mặt người đó thì việc chúc lành và cầu nguyện cho họ là một việc “có thể”. Nó không đến nỗi khó như bạn tưởng đâu. Bạn cứ chúc lành và cầu nguyện cho họ đi rồi để Chúa là người sẽ phán xét họ. Nếu bạn cứ dành thời gian và năng lực để phán xét chỉ trích họ thì bạn có thời gian đâu để cầu nguyện cho họ nữa, hãy để Chúa làm việc phán xét đó. Chúa Giêsu đến để mạc khải sứ điệp tốt hơn, trọn hảo hơn, bẻ gẫy những giới hạn tự nhiên: “răng đền răng mắt đền mắt”. Ngài nhắc nhở bạn 2 điều hôm nay:

1) Tình yêu của Chúa không là Tình Yêu phân loại (exclusive): ai là người thân hoặc ai là thù địch.  Tình Yêu Chúa là tình yêu bao gồm (inclusive), không ai bị loại ra khỏi tình yêu thương của Người.

2) Tình yêu thương đó được thể hiện bằng những hành động cụ thể, và quan trọng nhất, đó là thi ân, chúc lành, và cầu nguyện cho những kẻ không tự nhiên được bạn yêu thương, và đây không còn là tình yêu thương theo tình cảm, mà là tình yêu thương thực sự hướng đến lợi ích của người khác. Ước mong bạn cảm nhận được lời Chúa dạy là một giải pháp tích cực để đương đầu với những người đáng ghét hôm nay.

LẮNG NGHE: Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, / Người chấp giận và giàu tình thương. / Người không cứ tội ta mà xét xử, / không trả báo ta xứng với lỗi lầm. (Tv 102: 8,10)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin đổ tràn trên con tình yêu thương của Chúa, để con được giải thoát khỏi tình yêu hạn hẹp, có tính toán, mà biết quảng đại yêu thương tất cả mọi người, ngay cả kẻ chống đối và có ác cảm với con hôm nay.

THỰC HÀNH: Cầu nguyện và làm một việc hy sinh cho những đối tượng của bạn nhé.

From: Đỗ Dzũng

Bữa Ăn Một Mình – Tạp Ghi Huy Phuơng

Tạp Ghi Huy Phuơng,

***

Bữa Ăn Một Mình

Hiện nay tôi đang sống với gia đình cô con gái út. Cháu có một gái đã trưởng thành sống ở tiểu bang khác và một cháu trai đang học năm cuối của trung học. Chồng cháu thỉnh thoảng phải đi làm xa. Hai vợ chồng tôi đã đến tuổi già gần đất xa trời, nên thời khắc biểu của những thành viên trong gia đình rất khác nhau, nên ít khi chúng tôi ngồi lại cạnh nhau cùng ăn chung một bữa cơm.

Buổi sáng thức dậy trễ, thì con cái đã đi làm, cháu đã đến trường, vợ thì luẩn quẩn ở sau khu vườn nhỏ, đành ngồi ăn sáng một mình. Buổi tối, thấy cơm canh đã sẵn sàng nhưng chưa thấy ai sẵn sàng cùng ăn với mình. Gọi vợ thì vợ bảo:

-“Ông cứ ăn đi, tôi mới ăn củ khoai, còn ngang bụng!” Gọi con thì con thưa: “Ba cứ dùng cơm đi, con đang bận tay!” Ðứa cháu thì khi hiện khi biến, chẳng mấy khi gặp mặt, có khi ăn ở trong bếp hay đem phần ăn lên phòng riêng để có sự tự do một mình.

Tôi muốn có những bữa ăn đông người, vui vẻ, có tiếng cười nói rộn ràng, nhưng thường là phải ăn những bữa ăn một mình. Bữa ăn một mình thì đâu cần đến mâm bàn dọn ra ngay ngắn, tươm tất, mà sao cũng cho xong một bữa ăn. Một tô cơm trộn thức ăn, và một cái muỗng, ngồi trước máy computer hay trước máy truyền hình.

Bạn có nghĩ một bữa ăn như thế có dễ tiêu hoá, có lợi cho sức khoẻ hay không? Và một bữa ăn như thế có buồn không?

Tôi không bao giờ quên được những bữa ăn gia đình thời thơ ấu. Tất cả mọi người trong gia đình đều chờ nhau vào mâm cơm một lượt, dù là buổi sáng giờ trưa hay bữa chiều tối. Bữa cơm có cả ông bà nội, cha mẹ, cả anh chị cùng mấy đứa em nhỏ, kể cả thành viên nhỏ bé của đại gia đình là con mèo vàng luẩn quẩn chờ miếng ăn trong lòng bà nội tôi.

Rồi thời gian qua đi, kẻ còn, người mất, gia đình mỗi người một nơi. Tôi lớn lên, tạo lập một gia đình nhỏ, có những bữa ăn sum họp gia đình, nhưng không quên được những người đã đi xa, không còn hiện diện trên cuộc đời này nữa.

Rồi chiến tranh, tù đày, xô đẩy con người mỗi người đi mỗi hướng.

Trong một trại tù nào đó, trên cái chõng tre tập thể, hay bữa trưa ngoài bìa rừng, tôi ngồi dùng đũa đếm những hạt ngô bung, xót xa nhớ đến những bữa cơm gia đình. Khi tôi từ nhà tù trở về, thì bữa cơm không còn là bữa cơm nữa. Con tản mát, vợ chạy gạo mỗi ngày, nồi cơm lạnh lẽo trên bếp, ai thấy thì ăn.

Thời Cộng Sản vào nhà, không còn hai chữ “sum họp,” cũng chẳng còn câu “ngồi lại với nhau.”

Ra hải ngoại, thì cái văn hoá “bữa cơm gia đình” cũng đã mờ nhạt. Ly cà phê bữa sáng trên xe, cái hamburger cùng ly coke vào giờ lunch và những buổi tối về nhà trong giờ giấc trước sau không đồng nhất. Phải chờ đến những ngày Lễ Tết, sinh nhật, cha con, anh chị em họa hoằn mới có dịp ngồi lại trong những bữa tiệc cuối tuần.

Các bạn còn trẻ có lẽ chưa cảm nhận được nỗi buồn khi phải ngồi ăn một mình. Thức ăn có ngon đến đâu, bổ dưỡng đến đâu mà không “dịch vị” của tiếng cười, niềm vui, chỉ còn “gia vị” của cô đơn, buồn nản, thì bữa ăn ấy chỉ còn là bổn phận ăn để sống. Chính các vị y sĩ cũng đã khuyên người già “ăn uống phải có bạn, nên ăn chung với gia đình hay con cháu. Về phần con cháu, cũng không nên để cho cha mẹ mình ăn uống trong cô đơn buồn tẻ, vì khi ăn một mình, sẽ kém vui, và ăn ít đi, không tốt cho sức khoẻ. Sự cô đơn sẽ làm miếng ăn thêm cay đắng.”

Rõ ràng là tâm lý đã tác dụng vào sinh lý. Dù đau yếu, suy kiệt, mòn mỏi nhưng tôi vẫn nghĩ rằng những người sống chung với con cháu, hay còn vợ chồng có khả năng sống lâu hơn là những ông bà cụ già hiện đang sống một mình trong những căn phòng lạnh lẽo của những căn “nursing home.”

Trong nhà dưỡng hưu, tôi đã thấy những bữa cơm gọn gàng trong những cái khay nhỏ do nhà bếp đưa đến tận giường, để cả giờ nguội lạnh mà các ông bà vẫn chưa muốn ăn.

Tôi đã đến thăm nhà thơ Nguyễn Chí Thiện lẻ loi trong căn nhà già ở Santa Ana lúc ông chưa vào bệnh viện. Lúc ấy vào buổi xế trưa, mà từ sáng đến giờ, nồi cơm điện còn nguyên chưa được xới ra trên bếp, thức ăn còn để lạnh ngắt trong tủ lạnh. Ông thú nhận là ông không muốn ăn, mà chỉ ăn vì “nghĩa vụ,” một nghĩa vụ nặng nề! Chung quy cũng vì nỗi buồn cô đơn, thui thủi một mình.

Keith Ferrazzi, tác giả cuốn sách “Ðừng bao giờ đi ăn một mình (Never eat alone) không nói về sự cô đơn mà nói về sự giao tiếp đưa đến sự thành công và hạnh phúc cho cuộc sống. Chúng ta không bàn đến chuyện “ăn một mình” theo lối này.

Ðã đi hết một chặng đường dài, đã lo toan cho mọi thứ, nhưng cuối cùng tuổi già cô độc bên mâm cơm, lặng lẽ một mình. Những bậc cha mẹ già không mong con tặng quà, phải chi con ghé nhà thăm, ngồi ăn với cha hay mẹ một bữa cơm, nói cười như thuở ấu thơ

CHUYỆN CỤ LOUIS CẦU HÔN

 

CHUYỆN CỤ LOUIS CẦU HÔN

Cụ ông Louis và cụ bà Rose cùng sống trong một viện dưỡng lão.

Họ đã góa vợ và góa chồng từ lâu.

Một ngày nọ, họ ngồi đối diện nhau trong bữa ăn tối, cụ Louis đưa mắt nhìn ấm áp về phía bạn gái. Cuối cùng, lấy hết can đảm, cụ ông hỏi:

– Bà Rose, bà có muốn kết hôn với tôi không?

Sau vài giây suy nghĩ cẩn thận, cụ bà đáp:

– Vâng. Vâng. Tôi đồng ý!

Rồi họ tiếp tục trò chuyện vui vẻ.

Sau bữa tối, ai về phòng nấy ngủ.

Sáng hôm sau, cụ ông Louis thức dậy, rất băn khoăn.

– Không biết bà ấy nói “có” hay “không” nhỉ?

Ông không thể nhớ được.

Càng cố gắng nhớ, ông cũng không thể nhớ một điều gì cụ thể.

Tuổi già đã làm cho trí nhớ đã trở nên yếu đi như vậy.

Cuối cùng, không chịu được, cụ Louis quay lại điện thoại và gọi cho cụ bà Rose.

Đầu tiên, ông giải thích với bà rằng tuổi tác sẽ có một số vấn đề về trí nhớ, rằng đêm qua thật tuyệt vời, và chỉ sau đó, lấy hết can đảm, ông hỏi:

– “Và khi tôi hỏi bà lấy tôi làm chồng, bà có nói đồng ý hay không nhỉ?”

– Có! Tôi nói có mà. Và tôi rất vui khi nghe ông hỏi đó thôi.

Cụ Louis thở phào nhẹ nhõm.

Cụ bà Rose nói tiếp:

– Và tôi cũng rất vui vì ông đã gọi điện, chớ tôi đã không thể nhớ chính xác, ai đã cầu hôn tôi ..

St.& dịch Svi Doan

NỖI ĐAU TÂM LINH

NỖI ĐAU TÂM LINH

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Chúa Giêsu thở dài mà nói, “Tại sao thế hệ này lại xin điềm lạ?”

Một người kia, sau 25 năm, vẫn một công việc với một mức lương cố định; anh đến gặp ông chủ và than phiền, “Tôi cảm thấy mình đã bị lãng quên, tôi đã có một phần tư thế kỷ kinh nghiệm.”  Ông chủ anh thở dài và nói, “Bạn thân mến, bạn chưa có một phần tư thế kỷ kinh nghiệm; bạn chỉ có một kinh nghiệm trong một phần tư thế kỷ!”

Kính thưa Anh Chị em,

“Bạn chưa có một phần tư thế kỷ kinh nghiệm!”  Một trùng hợp đầy thú vị, Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay cũng thở dài, vì xem ra, giới biệt phái cũng chưa có kinh nghiệm về Ngài.  Ngài thở dài khi họ kéo nhau đến tranh luận với Ngài và sau đó, đòi Ngài một dấu lạ từ trời.  Tiếng thở dài của Ngài đã tiết lộ một ‘nỗi đau tâm linh’ sâu sắc bên trong!

Rất giống với bản dịch BJ của Pháp và NAB của Hoa Kỳ, cha Nguyễn Thế Thuấn dịch câu này là, “Tự tâm thần, Ngài rên lên.”  Rõ ràng, đây không phải là một tiếng rên hay một tiếng thở dài bình thường; nó nói lên nhiều điều hơn là một cảm xúc.  Vậy thì điều gì đã xảy ra với Chúa Giêsu khiến Ngài não nuột đến thế?  Tiếng thở dài này cho thấy một nỗi xót xa bên trong con người Ngài, đó là một ‘nỗi đau tâm linh’ đến từ việc một tình yêu bị từ chối, một nỗi đau vì yêu.  Đó là kết quả của việc Ngài chân thành yêu thương những con người này; nhưng đáp lại, họ từ chối ân điển Ngài đem đến và thay vào đó, là sự thù hận, giết chóc.  Chính điều này khiến Chúa Giêsu tê tái; Ngài đau đớn vô cùng khi tình yêu vô bờ Ngài dành cho họ hóa ra công cốc!

Một điều lý thú là, hiếm khi chúng ta nghĩ đến tình yêu Chúa Giêsu dành cho những người biệt phái và ký lục!  Sự thường, chúng ta chỉ nghĩ đến những lời khắt khe thẳng thừng của Ngài; thế nhưng, mọi lời mạnh mẽ Ngài hướng đến họ không ngoài mục đích biến đổi họ, để họ có thể nhận ra tình yêu của Ngài.  Về phần Ngài, đó là một nỗ lực để lay động và thức tỉnh họ khỏi sự thờ ơ và từ chối ân điển Ngài tặng ban.  Hành động của Ngài là một hành động của tình yêu!

Câu hỏi đặt ra hôm nay là, ‘Có bao giờ Chúa Giêsu phải thở dài vì sự thờ ơ hay cứng lòng nơi mỗi người chúng ta?’  Thật bất ngờ, phải chăng Ngài cũng thở dài vì chúng ta ‘hoài nghi’, ‘giao động’ hoặc ‘hai lòng’ như gợi ý của thánh Giacôbê trong bài đọc thứ hai hôm nay, “Ai hoài nghi, thì giống như sóng biển bị gió cuốn đi và giao động!” “Con người hai lòng, do dự trong mọi đường lối, con người ấy đừng mong lãnh nhận gì nơi Chúa!”  Thật ý nghĩa với tâm tình thống hối của Thánh Vịnh đáp ca, “Lạy Chúa, xin chạnh lòng thương cho con được sống!”

Anh Chị em,

“Bạn chưa có một phần tư thế kỷ kinh nghiệm!”  Phải, cả chúng ta, phải chăng chúng ta cũng chưa có một phần tư thế kỷ kinh nghiệm về Chúa Giêsu!  Nếu có một kinh nghiệm già dặn về Ngài, kinh nghiệm về ân sủng, kinh nghiệm về cầu nguyện, kinh nghiệm về thống hối… hẳn chúng ta đã nên thánh từ lâu!  Tắt một lời, Chúa Giêsu chưa được chúng ta yêu mến!  Vậy mà Chúa Giêsu sẽ không để cho Ngài được yêu mến nếu Ngài không phải là Ngài, là một Giêsu nào đó; cũng như Ngài sẽ chẳng khát khao chúng ta khi chúng ta không phải là chính mình!  Ngài phải là Ngài và chúng ta phải là chính mình!  Chúng ta có thể muốn nhiều điều cho hạnh phúc của mình, nhưng Chúa Giêsu lại muốn chúng ta chấp nh ận rằng, ý muốn của Thiên Chúa phải là trọng tâm của ‘đỉnh cao toàn thiện’ nơi mỗi người chúng ta!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giúp con biết yêu mến Chúa bằng một tình yêu trong sáng và thánh thiện.  Cho con biết cảm nhận một ‘nỗi đau tâm linh’ về tội lỗi mình và tội lỗi người khác, mà vì đó, Chúa phải thở dài!”  Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen