Cô/ Thầy ơi! Cho em hỏi…

Một bài thơ của đọc giả gửi tới, nhưng không cho biết họ tên….

***

Cô/ Thầy ơi! Cho em hỏi…

Cô ơi! Cho em hỏi…

Sao quê mình ngộ quá vậy cô!

Bốn ngàn tuổi vẫn dậm chân tại chỗ?

Bốn ngàn tuổi đời dân vẫn còn khổ?

Bốn ngàn tuổi và vẫn còn chổ cho những kể bán linh hồn?

Cô ơi.. Cô vẫn thường dạy.

Quê hương mình đẹp lắm…

Rừng vàng, biển bạc nổi tiếng khắp năm châu..

Nhưng giờ đây, rừng vàng toàn lũ mọt?

Biển xác cá phơi, bạc trắng bởi vì đâu?

Cô ơi.. Cho em hỏi…

Sao quê mình lạ quá vậy cô!

Những tên vô học… thì có bằng đại học?

Óc quả nho, bụng chứa toàn dzun với lãi…

Chúng xem nhân tài như xác cá nổi ngoài khơi…

Cô trả lời em đi, vì sao lạ nhỉ?

Quê hương mình rồi sẽ về đâu?

Cô ơi… Cho em hỏi…

Sao quê mình buồn quá vậy cô…

Giặc Pháp đi, thì dân ta phải no ấm?

Giặc Pháp chạy rồi, giờ dân đối diện giặc quan tham…

Xưa ta muốn đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào…

Vậy mà giờ chúng lại ào ào chạy theo sau?

Cô ơi… Cho em hỏi…

Sao quê mình thương quá vậy cô.

Kẻ bán nước, mất linh hồn vẫn tồn tại?

Người dân kêu đòi công lý lại là kẻ phản quê hương?

Nay ngoại bang đang giết mòn quê tổ…

Sao chúng lại câm mồm như một lũ vô danh?

Cô vẫn thường bảo…

Quê hương mình có ngàn, ngàn tiến sĩ…

Vậy mà bây giờ tiến sĩ, thành liệt sĩ vô danh.

Xác cá chết, phơi đầy khắp ngõ…

Không một tiến sĩ nào ra ngõ để đưa ma.

Cô trả lời em đi vì sao cô nhỉ?

Hay các tượng đài ngàn tỉ, các tiến sĩ yêu hơn?

Thế thì em cũng học đua đòi làm tiến sĩ.

Thà vô liêm sĩ, có tiền tĩ, lo nghĩ gì?

Đất nước mình rồi sẽ về đâu cô?

Cô không biết, và em cũng không biết.

Hỏi người trước, thì người trước đã qúa xa.

Hỏi người sau, làm gì có ngày sau.

Hỏi bọn tham quan, vô liêm sĩ, vô tâm cô sẽ biết.

Hỏi trời xanh, mặt trời sẽ đổ lệ.

Khóc cho quê mình khi vẫn còn lũ tham quan.

TÌM BỐ CHO CON

Chau Nguyen Thi

TÌM BỐ CHO CON

Các bạn có biết đại bàng cái tìm cha cho con của nó thế nào không? Hay phết đấy! Đại bàng cái bẻ một mẩu cành cây, ngậm ở mỏ, bay lên thật cao rồi cứ lượn vòng trên ấy. Xung quanh con cái sẽ xuất hiện các đại bàng đực, khi ấy đại bàng cái sẽ nhả mẩu cành cây ra, rồi bay ở trên quan sát. Sẽ có con đại bàng đực chộp được cái mẩu que ấy trong không trung, không cho nó rơi chạm đất, rồi đem nó tới chỗ con cái, cẩn thận trao lại, từ mỏ của mình sang mỏ con cái. Đại bàng cái lại bay lên cao tít, rồi lại thả, đại bàng đực lại lao đi bắt cái qua ấy ở trên không… Nếu từng ấy lần thử thách con đực luôn bắt được, thì nó sẽ được lựa chọn để làm bạn đời. Để làm gì ư, thì đây…

Đôi “uyên ương” sẽ làm tổ ở những hốc đá tít trên cao. Tổ chim là những que cứng, nếu không có đủ chúng dùng mỏ giật lông vũ của chính mình ra, rớm máu thịt. Chim bố và chim mẹ dùng chính lông của mình để lót ổ, để trám tất cả những khe hở, sao choc him non sẽ được ấm áp, êm ái nhất có thể. Chim cais ẽ đẻ trứng vào ổ, và cả hai sẽ cùng nhau ấp nở. Chim đại bàng non (thường là hai con) được sinh ra rất nhỏ bé, lẩy bẩy yếu đuối, trần trụi… và chim mẹ, chim bố sẽ dùng chính cơ thể mình sưởi ấm cho con, che chở nắng mưa, đem đến cho chim con nước và thức ăn, chúng sẽ lớn rất nhanh. Và khi ấy chim mẹ và chim bố thấy, là đã tới lúc rồi…

Chim bố đứng cạnh tổ chim, bắt đầu đập cánh dữ dội, cả tổ chim chao đảo, rụng rời. Để làm gì ư? Để tung bay đi hết những lông chim, còn trơ lại mỗi cái khung ban đầu chính chim bố, chim mẹ làm bằng các cành cây. Chim non bên trong hoảng sợ, chúng thấy tổ chim tan tành, chúng không hiểu vì sao chim bố, chim mẹ trước kia đang yêu thương chiều chuông thế, nay lại … Chim mẹ khi đó bay đi kiếm mồi, hoặc tránh mặt đi đâu, không nỡ nhìn những chú chim con ngơ ngác. Nhưng rồi chim mẹ bắt được cá, quay về ngồi cách tô chừng 5 mét, cho các con trông thấy. Nhưng chim mẹ không mớm mồi cho con nữa, mà bắt đầu ăn cá, kệ cho lũ con kêu réo đòi ăn.

Đói thì phải lo thân thôi, chin non đành lò dò ra khỏi cái tổ bây giờ cũng chả còn ấm êm gì nữa. Chúng chưa hề làm như thế trước kia, và sẽ không làm đâu nếu vẫn được bố mẹ cho ăn. Chim non còn chưa biết gì hết về cuộc đời này, tổ chim thì nằm trên vách đá cao tít để thú săn mồi không rình rập được. Chim non trượt chân, ngã quay lơ, rồi rơi thẳng xuống dưới vực. Lúc đó chim bố (ngày xưa phải bắt cành cây do “người yêu” ném mãi rồi) sẽ phi từ trên cao xuống và đỡ chú chim con bằng lưng, chứ không đã tan xác mất rồi! Chim bố sẽ cõng chim con trên lưng, lại đưa lên cái tổ chim nay đã xác xơ, và mọi chuyện lại bắt dầu như thế. Các con thì ngã, còn bố thì đỡ và cõng lên. Không chú chim non nào ngã chết cả. Nhưng trong những cú ngã kinh người ấy chim non bắt đầu làm những động tác mà nó cũng không ngờ tới: xòe rộng đôi cánh còn lơ thơ mấy cọng lông của mình ra ngược chiều gió. Chim non bắt đầu bay! Và con nào biết bay trước thì sẽ được bố mẹ dẫn đường, cho bay tới nơi gần nhất có cá. Chứ không dùng mỏ cắp cá về mớm cho chim con nữa…

Con người cũng có thể học được nhiều điều từ đại bàng. Bắt đầu từ việc chọn cha cho những đứa con tương lai của mình….

Bonus: có 60 giống đại bàng khác nhau. Đại bàng chưa phải chim bay nhanh nhất, nhưng có thể bay được kể cả trong dông tố. Tốc độ bay đạt tới 200km/h, và lúc “bổ nhào” nó đạt vận tốc 320 km/h. Mắt nó cực tinh, nhìn một lúc được 2 vật khác nhau, khi săn mồi trên cao 3000m có thể nhìn thấy vật chỉ bằng quả trứng gà dưới đất trong phạm vi 11km2. Mắt có 2 màng bảo vệ, nhìn được góc 270 độ. Berkut là loài đại bàng lớn nhất, có thể bay lên 4500m cao để quan sát, còn đại bàng thường bay cao 700m. Đại bàng không “tái sinh” như phượng hoàng (trong cổ tích) nhưng “cải lão hoàn đồng” thì có: đến năm 40 tuổi đại bàng gặp vấn đề tuổi tác: lông ngực thưa dần đâm bay kém đi, móng bị mềm yếu, mỏ cũng lung lay… Và nó mất 5 tháng, sẽ thay mỏ, thay lông, mọc móng mới… Và nó lại “trẻ trung”, mạnh mẽ và sống thêm được tầm 40 năm nữa!

Việc nuôi dạy con xảy ra trong 3 tháng đầu đời của chim non. Đại bàng vô cùng chung thủy, chả khác gì thiên nga, chúng kết đôi với nhau cả đời. Chúng cũng không bỏ tổ chim, mà thường dùng lại cái khung cũ, chỉ “mông má” lại mà thôi. Nhiệm vụ lo đồ ăn, thức uống của chim đực, còn chim cái có nhiệm vụ rất quan trọng là trông nom bọn đại bàng con, chúng nó mới sinh ra đã có cái tính muốn hất anh em của mình ra khỏi tổ ấm rồi! Nguy hiểm đến mấy chúng cũng không bỏ chim con.

Đại bàng không bao giờ ăn thịt thiu, mà chỉ ăn mồi mình săn được. Có loài thì chỉ ăn thực vật, nhưng cũng phải tươi. Chỉ trong điều kiện bị loài người giam hãm, thì chúng đành ăn thịt hay đồ ăn thiu. Nhưng chúng sẽ không bao giờ sinh con đẻ cái nếu mất tự do!

Từ fb Trần Kim Anh

VẠN VẬT ĐỀU CÓ TÁNH LINH

Chau Nguyen Thi

VẠN VẬT ĐỀU CÓ TÁNH LINH

Tôi đã từng chứng kiến một cảnh chết rất bi tráng. Cái chết đó làm rung động cõi lòng sâu thẳm của tôi. Từ đó tôi nguyện suốt đời không làm tổn hại bất cứ một sanh mạng cho dù là bé nhỏ…

Một lần nọ đi săn linh dương, chúng tôi được chứng kiến đời sống và bản chất của chúng.

Linh dương có hình dạng giống sơn dương nhưng có khiếu nhảy rất giỏi, mỗi con trưởng thành nặng khoảng 30 kg ,tính tình thuần hậu , là loại động vật mà bọn thợ săn thích nhất. Lúc đó đội săn bắn chúng tôi bí mật bao vây khắp vùng nơi một đàn linh dương đang cư trú, áp hơn 60 con linh dương vào mõm đá trên vách núi cao, nghĩ rằng như thế sẽ làm cho chúng rơi hết xuống mà chết cho đở lãng phí cung tên.

Nhưng không ngờ, khoảng 30 phút sau, một con linh dương đực đột nhiên kêu lên một tiếng. Tất cả linh dương lập tức phân thành hai nhóm: môt nhóm già và một nhóm trẻ.Tôi nhìn rất rõ nhưng không hiểu vì sao chúng lại phân theo già trẻ như vậy. Lúc đó, một con linh dương đực từ trong nhóm già đi ra, con này lông dài xuống ngực, trên mặt có nhiều nếp nhăn ngang dọc, hai cái sừng bị mòn đi. Vừa nhìn tôi đã biết con linh dương này già lắm rồi. Nó đi ra đứng phía trước, nhìn về hướng nhóm trẻ kêu một tiếng “be”. Một con linh dương trẻ liền bước ra. Một già một trẻ của hai nhóm đi đến vách núi đoạn mệnh. Sau đó lui lại vài bước, đột nhiên con linh dương trẻ hướng về trước chạy như bay, liên tiếp linh dương già cũng chạy theo. Con trẻ chạy đến ranh giới của vách đá, rùng mình một cái, hướng về phía khe suối đối diện mà nhảy. Con già liền kế theo sau cũng từ vách núi đá mà nhảy. Cứ một trẻ một già thời gian nhảy có trước sau một chút, tư thế nhảy cũng có khác. Con già nhảy thấp hơn , có nghĩa là có trước có sau, có cao có thấp.Tôi rất kinh ngạc, lẽ nào chết cũng phải từng đôi sao? Tôi nghĩ những con linh dương này trừ khi có ráp cánh mới nhảy qua được vách núi bên kia. Đúng vậy, con trẻ vừa nhảy được khoảng 5,6 mét thì rớt xuống ,trên không trung vẽ ra một đường cong rất đáng sợ. Tôi nghĩ nhiều nhất là vài giây nó sẽ rơi vào trong sâu thẳm. Đột nhiên một việc lạ xuất hiện. Con linh dương già nhờ vào kỹ thuật thành thạo của mình, tại chổ con trẻ từ điểm cao nhất trong nháy mắt nhảy xuống và toàn thân xuất hiện ở dưới móng của con trẻ, những con linh dương trong nhóm già nắm thời gian rất chính xác, ngay lúc mà toàn thân xuất hiện ở dưới móng của con trẻ thì cũng đúng lúc thời điểm cao nhất của đường cong nhảy, giống như hai chiếc tàu vũ trụ ở trên không trung hoàn thành nhiệm vụ tiếp nhận, bốn móng chân của nhóm trẻ đạp mạnh trên lưng của những con già, giống như nhờ vào cái cầu để nhảy qua vậy, nó ở trên không trung lại nhún một lần nữa và rơi xuống đất lại một lần nữa dồng lên cao. Mà các con linh dương trong nhóm già giống như xác phế của tên lửa đã di chuyển hết chất đốt sau đó tự động rời khỏi tàu vũ trụ,thậm chí nó càng bi thảm hơn xác phế tên lửa,sức mạnh của những con linh dương trẻ đạp nhún xuống giống như đôi cánh của con chim bị gãy ngang rớt thẳng xuống đất. Nhưng sức của những con trẻ nhảy lần thứ hai không xa như lần thứ nhất Độ cao cũng chỉ bằng nửa lần trước nhưng cũng đủ để vượt qua khoảng cách hai mét cuối cùng.Trong nháy mắt chỉ thấy những con linh dương trẻ rơi xuống ngọn núi đối diện thích thú kêu lên một tiếng “be” quay qua tảng đá đằng sau khuất dạng, cú nhảy đã thành công.

Lúc gấp gáp từng đôi từng đôi từ trên cao vòi vọi nhảy xuống, vùng cao trên khe suối như vẽ ra những đường cong làm người ta rối tung, thì từng con linh dương già đã rơi xuống thịt nát xương tan.

Tôi không ngờ đến giờ phút đồng loại sắp tuyệt diệt thì đàn linh dương đã nghĩ ra biện pháp hy sinh một nửa để giành lại một nửa cơ hội sanh tồn cho đồng loại.Tôi càng không nghĩ đến những con linh dương già sao mà ung dung khoan hồng chọn lấy cái chết, cam tâm tình nguyện, bỏ thân mệnh mình mở ra một con đường sống còn cho đời sau. Do tận mắt nhìn thấy một cảnh chết vô cùng bi tráng làm rung động lòng tôi. Tôi cảm thấy rất xấu hổ. Từ đó về sau, nguyện không sát hại bất cứ một sanh mạng nào dù là rất nhỏ.

Vạn vật đều có tánh linh…

(Gia Nguyễn chia sẻ từ Thư Viện Việt Nam)

UKRRAINE VÀ NHỮNG TỪ NGỮ DẪN ĐẾN SỰ GIẾT NGƯỜI HÀNG LOẠT

Oanh Vy Lý

UKRRAINE VÀ NHỮNG TỪ NGỮ DẪN ĐẾN SỰ GIẾT NGƯỜI HÀNG LOẠT

Anne Applebaum – Tạp chí Atlantic

Vào mùa đông khủng khiếp năm 1932–33, nhiều lữ đoàn thuộc Đảng Cộng sản Liên Xô đi đến từng nhà trong vùng nông thôn Ukraine để tìm kiếm thực phẩm. Họ đến từ Moscow, Kyiv, Kharkiv, cũng như các làng bên dưới đường. Họ đào các khu vườn, đập toang các bức tường và dùng que dài chọc vào ống khói, để tìm chỗ người ta giấu ngũ cốc.

Họ tìm khói bốc ra từ ống khói nhà dân, vì điều đó nghĩa là có người đã giấu bột và đang nướng bánh mì. Họ cướp đi gia súc và tịch thu cây giống. Sau khi họ bỏ đi, nông dân Ukraine thiếu thốn lương thực, đã phải ăn chuột, ếch và cỏ luộc. Họ gặm nhấm vỏ cây và da thuộc cho đỡ đói. Nhiều người còn ăn thịt đồng loại để sống sót. Khoảng bốn triệu người chết đói thời gian này.

Khi đó những người tham gia chiến dịch không hề cảm thấy tội lỗi. Liên Xô tuyên truyền rằng những người nông dân đó là kulaks, là những chủ đất giàu có, là kẻ thù nguy hiểm của giai cấp vô sản. Thành phần kulaks nên được quét sạch, nghiền nát như ruồi muỗi, như ký sinh trùng.

Thực phẩm họ sở hữu phải được trao cho những người lao động trong thành phố, xứng đáng được nhận nó hơn họ.

Nhiều năm sau, nhiều văn sĩ Nga, những người đã tham gia vào chiến dịch cướp bóc đó, đã có dịp nhìn lại, và thấy rằng để không bị lương tâm cắn rứt, người ta che đậy sự thật vô nhân đạo khó thể chấp nhận bằng cách nhắm mắt, và đóng cửa lương tâm mình.

Họ nhớ về những từ ngữ được chính trị hóa giúp ngụy trang sự thật về những gì họ đã làm. Những từ ngữ đó làm cho họ không thấy thương cảm cho những người nông dân khốn khổ Ukraine, mà thay vào đó nhìn những người nông dân đó như một mối đe dọa cho sự thành công của chủ nghĩa xã hội. Họ lý giải cho những việc làm vô nhân đạo đó là yêu tổ quốc xã hội chủ nghĩa, giúp kế hoạch 5 năm thành công.

Các nhà văn này kể lại họ đã nghe và chính họ đã lặp đi lặp lại rằng những người nông dân Ukraine đó không phải là con người, mà chỉ là một thứ rác rưởi.

Chín thập niên đã trôi qua kể từ khi những điều khủng khiếp đó xảy ra. Liên bang Xô Viết không còn tồn tại. Sách viết ra của các nhà văn đã sáng mắt đó giờ có sẵn khắp nơi. Chúng ta đã nghĩ nếu kể ra những câu chuyện này sẽ khiến người ta không lặp lại những sai lầm đã mắc phải. Nhưng người dân Nga lại bị một thứ trở ngại khác che lấp tầm nhìn của họ. Đó là sự thờ ơ với bạo lực, sự thờ ơ vô nhân đạo đối với việc giết người hàng loạt.

Tuy dùng ít bạo lực hơn thời Stalin để trấn áp dân, chính phủ Putin có một chiêu khác: Ngày nay, truyền hình Nga, do chính phủ Nga điều hành đã mang tính giải trí hơn, phức tạp hơn, có phong cách hơn so với các chương trình trên đài phát thanh thời Stalin. Phương tiện truyền thông xã hội hiện giờ cũng gây nghiện và hấp dẫn hơn nhiều so với những tờ báo in thô thiển thời Stalin.

Những kẻ có tài châm biếm được đào tạo chuyên nghiệp và những người nổi tiếng được công chúng ủng hộ có thể định hướng sự tranh luận trên mạng xã hội, mang lại lợi ích cho Điện Kremlin mà lại ít tốn công sức hơn xưa rất nhiều.

Nhà nước Nga hiện giờ thay vì đưa ra một số viễn cảnh thiên đường cho người dân, họ lại muốn người dân trở nên hoài nghi và thụ động; dân có tin chính phủ hay không cũng không quan trọng. Mặc dù nói dối, nhưng họ cố gắng làm cho lời giả dối của họ như thật. Họ tức giận khi ai đó buộc tội họ nói dối, và họ đưa ra “bằng chứng” giả mạo để phản bác.

Ở nước Nga của Putin, chính trị gia và các nhân vật tiếng tăm trên truyền hình có một trò chơi khác, một trò chơi mà chúng ta ở Mỹ chỉ mới biết đến từ khi có các thủ đoạn chính trị của Donald Trump: Đó là nói dối liên tục, trắng trợn, rõ ràng. Nhưng nếu bị buộc tội nói dối, họ không bận tâm đưa ra lời phản bác. Cả một sự giả dối triền miên như thế dần dần làm người ta mệt mỏi, rồi trở nên thờ ơ, thay vì phẫn nộ. Vì liên tục dối trá như thế làm sao người ta có thể biết đâu là sự thật?

Thay vì ca ngợi một thiên đường Cộng sản, tuyên truyền hiện đại của Nga gần đây tập trung vào kẻ thù. Người Nga biết rất ít về những gì đang xảy ra nơi họ ở. Do đó, họ không phải thấy sự tương phản giữa thực tế và điều chính phủ rêu rao như trước đây dưới thời Liên xô. Mà họ được nghe liên tục về những nơi họ chưa biết chưa thấy như Mỹ, Pháp, Anh, Thụy Điển và Ba Lan — những nơi đầy rẫy sự suy đồi, đạo đức giả và “hội chứng bài người Nga”.

Nước Mỹ còn bị họ phác họa tồi tệ hơn. Người Mỹ sẽ rất kinh ngạc khi biết rằng truyền hình nhà nước Nga dành ra rất nhiều thời gian để nói về nền chính trị và người dân Mỹ, và cả các cuộc chiến tranh văn hóa của Mỹ. Có cả một đội ngũ lừa đảo của Putin được giao cho công việc tham gia điều khiển và thúc đẩy sự chia rẽ, phân cực ở người Mỹ,

Ukraine từ lâu đã đóng một vai trò đặc biệt trong các bản tin hàng đêm gây sợ hãi cho người dân Nga. Theo tuyên truyền của chính phủ Nga, Ukraine là một quốc gia giả tạo, không có lịch sử và không là một đất nước hợp pháp, một nơi mà theo lời của Putin, chỉ là “một mảnh đất phía tây nam” của Nga, một phần của “lịch sử, văn hóa và linh hồn Nga.”

Tệ hơn, Putin còn nói, đất nước giả tạo này đã bị các cường quốc phương Tây kiểm soát , bị vũ khí hóa, lầm lạc sai đường và sẽ hóa thân thành một tổ chức thù địch “chống Nga”. Xâm lược Ukraine là để bảo vệ Nga. Như những người kulaks trước đây, Ukraine phải bị loại bỏ không chút thương xót.

Putin nói với dân như vậy!

Con người ta có thể xúc phạm nhau, hạ nhục, thoá mạ nhau bằng từ ngữ căm thù mà không giết nhau. Nhưng khi đã quá quen thuộc với việc sử dụng ngôn ngữ diệt chủng thì hậu quả hành động của con người ta rất khó lường. Tất cả những cuộc diệt chủng trước giờ trong lịch sử đều xuất phát từ sự chuẩn bị bằng ngôn ngữ hăm dọa, căm thù, giết chóc. Sự tuyên truyền hiện giờ của nhà nước Nga đã chuẩn bị cho người Nga một sự thờ ơ, không còn chút thương cảm đối với Ukraine.

Họ đã thành công. Ngay từ những ngày đầu tiên của cuộc chiến, rõ ràng là quân đội Nga đã có kế hoạch giết hàng triệu thường dân, làm cho họ bị thương hoặc phải bỏ nhà ra đi. Chưa có thành phố nào bị tấn công trong lịch sử lại bị tàn phá chỉ vài ngày sau khi cuộc tấn công bắt đầu như vậy.

Ở Ukraine, vào tuần đầu tiên của cuộc chiến, tên lửa và pháo của Nga đã không từ một nơi nào, họ nhắm vào các khu chung cư, bệnh viện và trường học. Khi chiếm đóng, lính Nga đã sát hại cả nhân viên chính phủ Ukraine lẫn dân thường.

Khi quân đội Ukraine tái chiếm Bucha, ở phía bắc Kyiv, họ tìm thấy những xác chết bị trói tay sau lưng, nằm trên đường. Khi có mặt ở đó vào giữa tháng Tư, tôi nhìn thấy nhiều người đã bị ném vào một ngôi mộ tập thể. Chỉ trong ba tuần đầu tiên của cuộc chiến, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đã ghi lại rất nhiều các trường hợp hành quyết nhanh, hãm hiếp và cướp bóc hàng loạt tài sản của người dân.

Mariupol, một thành phố dân chúng nói tiếng Nga, rộng khoảng Miami, đã bị tàn phá gần như hoàn toàn. Trong một cuộc phỏng vấn đầy ấn tượng vào cuối tháng 3, Tổng thống Ukraine, Volodymyr Zelensky, lưu ý rằng trong các cuộc xung đột ở châu Âu trước đây, những người chiếm đóng đã không phá hủy mọi thứ, bởi vì bản thân họ cần một nơi nào đó để nấu nướng, ăn uống, giặt giũ; trong thời gian Đức Quốc xã chiếm đóng, “các rạp chiếu phim vẫn hoạt động ở Pháp.”

Nhưng Mariupol thì khác: “Mọi thứ đã cháy hết.” 90% các tòa nhà đã bị phá hủy chỉ trong vòng vài tuần. Một nhà máy luyện thép khổng lồ mà quân Nga muốn kiểm soát đã hoàn toàn bị san phẳng. Vào lúc cao điểm của cuộc giao tranh, dân thường bị mắc kẹt trong thành phố, không có thức ăn, nước uống, điện, sưởi, và thuốc men.

Đàn ông, phụ nữ, trẻ em chết vì đói khát. Những người cố gắng trốn thoát đã bị bắn theo. Những người bên ngoài cố gắng mang tiếp tế cũng bị nã súng vào. Thi thể của những người thiệt mạng, cả thường dân Ukraine và binh lính Nga, nằm trên đường phố nhiều ngày không được chôn cất.

Tuy nhiên, ngay cả khi những tội ác này được phơi bày trước toàn thế giới, chính quyền Nga đã che giấu được dân Nga thảm kịch này: bởi vì như đã xảy ra trong quá khứ, ngôn từ chính phủ dùng cho tuyên truyền bao lâu nay đã có ích cho họ. Đa số người Nga không còn lòng thương xót.

Các đoạn ghi âm cuộc nói chuyện qua điện thoại giữa binh sĩ Nga và gia đình cho thấy họ có đầy sự khinh miệt đối với người dân Ukraine. Một người lính nói với một người phụ nữ, có lẽ là vợ hoặc chị của anh ta: “Tôi đã bắn vào một chiếc xe.”

“Cứ bắn hết những đứa khốn kiếp đó đi,” cô ta đáp lại, “ Mẹ kiếp bọn chúng, cái đám nghiện ma túy và bọn phát xít chết tiệt đó!” Họ nói về việc ăn cắp tivi, uống rượu cognac, và những vụ bắn người trong các khu rừng. Họ không quan tâm đến thương vong, ngay cả thương vong về phía họ. Liên lạc vô tuyến giữa các binh sĩ Nga tấn công dân thường ở Bucha cho thấy họ lạnh lùng bất nhân.

Tổng thống Zelensky thật sự kinh hoàng trước sự thờ ơ của người Nga khi họ đề nghị gửi một số túi rác để người Ukraine bọc xác những người lính Nga: “Ngay cả khi một con chó hay một con mèo chết, người ta cũng không làm như thế,” ông nói với các nhà báo.

Tất cả những điều này – sự thờ ơ với bạo lực, sự thản nhiên vô nhân đạo trước việc giết người hàng loạt, thậm chí là sự coi thường mạng sống của những người lính Nga – là điều quen thuộc đối với bất kỳ ai biết lịch sử Liên Xô. Nhưng dân Nga và binh sĩ Nga hoặc không biết lịch sử đó hoặc không quan tâm.

Tổng thống Zelensky đã nói với tôi rằng, giống như “những người nghiện rượu không bao giờ thừa nhận họ nghiện rượu”, những người Nga này “sợ phải công nhận mình có tội”. Không có sự hối cải nào sau nạn đói ở Ukraine, hay trại tập trung Gulag, hay Đại khủng bố năm 1937–38, không khi nào thủ phạm bày tỏ chính thức sự ân hận.

Bây giờ chúng ta đã thấy. Ngoài những thiểu số hướng thiện như các nhà văn Kravchenko và Kopelev, hầu hết người Nga tin vào những điều nhà nước tẩy não họ trong quá khứ và cả hiện tại.

Kulaks không phải là con người; họ là một thứ rác rưởi, người ta đã được nhồi sọ như thế.

Và bây giờ, đa số dân Nga tin rằng dân Ukraine không phải là con người; mà là phát xít!

Thụy Mân lược dịch.

https://www.theatlantic.com/…/ukraine-mass…/629629/

THẾ NÀO LÀ TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ?-QUÂN ĐỘI NGA, SỰ MỤC NÁT TỪ BÊN TRONG

Oanh Vy Lý

THẾ NÀO LÀ TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ?

QUÂN ĐỘI NGA, SỰ MỤC NÁT TỪ BÊN TRONG

Trong chiến tranh hiện đại, hễ ai phát hiện kẻ địch trước thì người đó thắng.

Trong chiến tranh vùng vịnh lần thứ nhất năm 1992, Liên quân do Mỹ dẫn đầu đã đánh tan quân Saddam Hussen trong thời gian ngắn là bởi vì vũ khí Mỹ luôn phát hiện kẻ địch trước. Khi đó xe tăng M1 Abrams của Mỹ có thiết bị quan sát hiện đại hơn, tầm bắn xa hơn và chính xác hơn.

Chính vì thế xe tăng Mỹ luôn phát hiện xe tăng T72 của phía Iraq trước và biến những cỗ tăng do Nga sản xuất thành những đống lửa cháy rực trời. Trong chiến tranh mà để bị lộ trước thì ắt sẽ thua mà thôi.

Hiện nay nước Mỹ đi đầu về công nghệ tàng hình cho chiến đấu cơ, chiến hạm vv… cũng là dựa trên quan điểm, không để kẻ thù phát hiện ra ta hoặc kẻ thù phát hiện ra ta chậm hơn ta phát hiện ra chúng. Chính người Pháp khi sản xuất chiến đấu cơ lừng danh Rafale cũng thừa nhận chiến đấu cơ của họ có nhiều điểm ưu việt hơn F-35 của Mỹ, tuy nhiên họ thừa nhận họ đi sau Mỹ về công nghệ tàng hình.

Và hiện nay, Pháp đang đi khắp thế giới rao bán chiến đấu cơ Rafale nổi tiếng của mình nhưng với F-35 thì hàng loạt khách xếp hàng chờ mua. Thực tế đã chứng minh, máy bay ném bom tàng hình B2 Spirit của Mỹ chưa hề bị đối phương bắn hạ dù nó đã ra đời từ rất lâu và được tham chiến nhiều điểm nóng trên thế giới từ nhiều thập kỷ qua.

Tác chiến điện tử trong quân sự là dùng công nghệ tiên tiến và trình độ có chuyên môn cao của lực lượng vũ trang để làm chủ thế trận, khống chế làn sóng điện từ đối phương, gây nhiễu loạn thống chỉ huy đối phương, phá hủy thông tin liên lạc của địch, đánh lừa hoặc che mất tầm quan sát của địch. Nói chung, mục đích của tác chiến điện tử là biến đối phương thành kẻ mù trước quân ta và từ đó giành chiến thắng. Tác chiến điện tử nó phụ thuộc vào 2 yếu tố: công nghệ và khả năng làm chủ công nghệ.

Lý thuyết là vậy, tuy nhiên xem ra khoa học quân sự của Nga đã đuối sức trong cuộc chạy đua này. Nga không thể huấn luyện cho binh lính Nga những gì mà nước Nga không có, vậy nên, khi khoa học quân sự đã lạc hậu thì trình độ tác chiến của quân đội Nga trong lĩnh vực tác chiến điện tử cũng thấp hơn quân độ Mỹ một bậc.

Theo Rfi thì chính vì quân đội Nga tại Ucraina không có điện thoại mã hóa nên liên lạc bằng bộ đàm thông dụng, thậm chí bằng mạng di động của Ukraina nên đã dẫn đến cái chết của 10 tướng lãnh. Thời đại tác chiến điện tử quyết định thế trận mà quân Nga để xảy ra trường hợp như thế thì quá tệ rồi. Chống sao nổi trước vũ khí Mỹ và Phương Tây đây?

Khi công nghệ kém thì thì không những khí tài quân sự bị tiêu hao nhiều mà nhân mạng cũng chất thành núi. Chỉ qua 2 tháng chiến tranh mà đã có khoảng 15.000 người lính Nga ngã xuống (theo số liệu của Anh), ít nhất 1.600 xe bọc thép bị phá hủy, cùng với vài chục máy bay, soái hạm Moskva và tàu tuần tra cao tốc Raptor nổ tung vì bị quân Ucraina bắn trúng.

Chạy đua về công nghệ là chạy đua về chất xám và tài chính. Cả hai mặt này, Nga không thể cạnh tranh nổi với Mỹ. Với sự điều hành kém cỏi của độc tài Putin, nước Nga trở thành quốc gia tham nhũng cao như các quốc gia độc tài khác. Chính vì thế nguồn tiền rót vào nghiên cứu và đầu tư chế tạo bị bóp lại mặc dù Nga đầu tư cho quốc phòng rất lớn. Đến lốp bánh xe mà còn dùng hàng Tàu và thông tin liên lạc ngoài chiến trường còn dùng máy bộ đàm phổ thông do Trung Quốc sản xuất thì làm sao quân Nga có thể đối đầu vũ khí Mỹ trên chiến trường?

Giai đoạn đầu của chiến tranh Ucraina, phía Ucraina đã dùng vũ khí Nga chống lại vũ khí Nga, ấy vậy mà Putin còn không thắng nổi. Với gói viện trợ 33 tỷ đô la của Mỹ thì có thể nói quân đội Ucraina sẽ thay máu kho vũ khí cũ kỹ của họ. Lúc đó, quân Nga sẽ đối đầu với vũ khí Mỹ trên chiến trường thì cục diện sẽ khác chứ không như hiện nay.

Từ hơn 2 tháng qua, quân đội Ucraina được các nước phương tây hỗ trợ vũ khí với số lượng khiêm tốn nhưng phía Ucraina đã từ thế phòng thủ chuyển dần sang tấn công. Quân Ucraina đã đánh cháy nhiều cơ sở hậu cần của quân Nga trên lãnh thổ Nga. Đây là lời cảnh báo cho Putin. Không khéo, Nga lại mất luôn Crimea.

Cuộc chiến Ucraina là bài test hiệu quả cho vũ khí Nga. Vũ khí Nga đang thua trước vũ khí Mỹ và thực tế cho thấy, sức mạnh quân sự Nga không như thế giới đang suy nghĩ về họ. Ucraina chưa đuổi quân Nga ra khỏi lãnh thổ mà Phần Lan và Thụy Điển có đáp số cho riêng họ. Sau bao nhiêu năm không dám gia nhập NATO vì sợ Nga, nay họ đã mạnh dạn nộp đơn xin gia nhập tổ chức quân sự này. Khả năng đe dọa của Nga bị giảm đi rất nhiều. Như vậy là Nga đã thất bại rồi, sự thất bại này có công rất lớn của Putin.

Biết rằng vũ khí Nga bán rẻ và thủ tục đơn giản, Nga không đòi hỏi điều kiện khắt khe với bên mua như Mỹ. Tuy nhiên, thời buổi chiến tranh công nghệ mà ham rẻ ham nhiều thì chẳng được gì cả. Việc này sẽ gây nên thiệt hại rất lớn về người và khí tài nhưng lại mất lợi thế trên chính trường.

Việt Nam đã được Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí sát thương từ năm 2015, tuy nhiên cho đến nay ĐCS vẫn bám vũ khí Nga. Họ bám vũ khí Nga bởi vì mua loại vũ khí này họ được lại quả đậm. Đây là bước đi rất sai lầm của ĐCS Việt Nam. Sở hữu vũ khí đồng nát, và tham nhũng tràn lan trong quân đội đã là quân đội Nga suy yếu rõ rệt. Quân đội Nga thế thì quân đội Việt Nam thì cũng chẳng khác gì, chả lẽ Trung Quốc không nhìn ra? Đấy là mối nguy./.

Đỗ Ngà

TÔI LÀ NẠN NHÂN CỦA GIÁO DỤC XHCN!

Le Thanh Hoang Dan

Thảo luận về Kinh tế, Chính trị & Xã hội Việt Nam 

Bùi Toàn  

TÔI LÀ NẠN NHÂN CỦA GIÁO DỤC XHCN!

Cách đây mấy năm tôi nhận thư mời giảng dạy cho một trường cao đẳng hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ tại SG. Thầy Hiệu Trưởng là một Thạc sĩ du học từ Mỹ về vì thế thầy có tư tưởng tiến bộ.

Chính môi trường giáo dục này đã làm thay đổi hoàn toàn tư tưởng và quan điểm chính trị của tôi – hay nói cách khác tôi hoàn toàn thức tỉnh kể từ khi bước vào dạy ở đây!

Phong cách giảng dạy của tôi bao giờ cũng tự tin và tự do trong học tập, sinh viên được tự do nói lên chính kiến trong các giờ giảng của tôi, không hề có một sự ràng buộc và áp chế nào!

Trong một buổi giảng tại trường này, tôi nhớ là buổi thứ 04 gì đó, tôi có nhắc đến sự phát triển kinh tế của VN sau 1975 và có nhắc đến đảng cs và ông hồ chí minh theo kiểu tuyên truyền của cs. Ngay lập tức hơn nửa lớp giơ tay đòi phát biểu ý kiến với thái độ tức giận! Chứ không phải là bình thường như các buổi học trước đó, nhưng vốn dĩ đã có kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm ở các chương trình cao đẳng Đh, tôi vẫn bình tĩnh xử lý tình huống bất thường này, tôi ổn định lớp trước và hứa với các bạn tôi sẽ lắng nghe hết tất cả chính kiến của các bạn! Nếu cần tôi xin nhà trường ở lại trường muộn để lắng nghe hết tất cả mọi ý kiến của các bạn. Ngày hôm đó quả là một ngày tồi tệ nhất trong cuộc đời giảng dạy của tôi – nhưng cũng là một ngày ý nghĩa thức tỉnh lương tri của tôi.

Đầu tiên là một cô bé người Việt gốc Hoa, tôi cho em phát biểu trước tiên vì em là người phản đối đầu tiên và giơ cánh tay liên tục không bỏ xuống, thái độ vừa tức giận nhưng nước mắt thì chực trào, tôi đưa khăn giấy cho em lau nước mắt và kêu em bình tĩnh kể cho tôi nghe chuyện gì đã và đang xẩy ra: rồi em nói to gia đình em là nạn nhân của cộng sản, ông bà nội của em là người gốc Hoa trước 1975 là một nhà đại tư sản có nhiều sạp vải tại Chợ Lớn SG, nhưng khi cs vào đã cướp hết của cải bao nhiêu nhà cửa, và đẩy gia đình ông bà nội lên vùng kinh tế mới, và ông bà nội đã không chịu được rừng sâu nước độc và đã chết sau đó, người anh của bạn cũng chết vì lao động quá sức và bị sốt rét….Em vừa kể vừa khóc, nhưng ánh mắt thì đầy căm phẫn….

Một bạn, hai bạn, ba bạn, bốn bạn….lần lượt những câu chuyện tương tự như vậy được kể liên tục, như một cuốn phim tài liệu tua lại lịch sử đau thương của người dân MN phải hứng chịu khi cs xâm chiếm được MN….tất cả tội ác được phơi bày trước mắt tôi….

Tất cả sự thật và tội ác được phơi bày trước mắt tôi mà mấy chục năm nay bị che dấu, tôi không hề hay biết! Lỗ tai tôi bắt đầu lùng bùng, nước mắt chực trào lúc nào không hay biết, tôi bắt đầu choáng váng, xây xẩm mặt mày, cảm giác khó thở….còn mấy em nữa muốn được kể cho tôi nghe, nhưng thật sự tôi lúc đó chỉ muốn ngã khuỵu xuống….tôi đành phải xin lỗi những bạn khác và hứa buổi học sau sẽ cho các bạn kể hết, hơn nữa cả trường đã ra về từ lâu lắm rồi!

Hôm đó tôi phải gọi taxi đi về nhà, vì tôi quá sốc và mệt không thể tự chạy xe về nhà được nữa, về đến nhà tôi vất ba lô, laptop xuống và nằm vật ra giường ôm mặt khóc nức nở….

Ngày hôm sau, khi đã ổn định tinh thần tôi bắt đầu vào google và tìm các từ khoá như “ Sự thật về HCM, sự thật về Đảng cộng sản, sự thật về đánh tư sản sau 1975, sự thật về giải phóng miền nam…”, …..tôi hoàn toàn sốc từ sự thật này đến sự thật khác và cứ thế tôi khóc….đó là những ngày tồi tệ nhất của cuộc đời tôi…nhưng nhờ nó mà tôi phản tỉnh, lương tri tôi thức tỉnh và tôi bắt đầu dạy khác đi, và đỉnh điểm năm 2018 tôi cùng nhiều SV xuống đường biểu tình chống luật đặc khu….Và cũng kể từ đó tôi bắt đầu nằm trong danh sách theo dõi của an ninh thành phố! Tôi và gia đình người thân chịu nhiều đàn áp về mặt tinh thần từ nhà cầm quyền csVN! Tôi nghỉ dạy vì tôi không chấp nhận giáo dục ngu dân trị của giáo dục xhcn VN!

Tôi là nạn nhân của giáo dục xhcn VN! Vì vậy thay vì tôi thức tỉnh sinh viên của mình, thì ngược lại tôi lại bị SV của một trường tiến bộ thức tỉnh tôi và giúp tôi thoát khỏi tư tưởng u mê, bị tẩy não và nhồi sọ suốt mấy chục năm qua! Tôi thành thật cảm ơn các em SV cũng là nạn nhân của cộng sản đã giúp tôi phản tỉnh và sống có trách nhiệm với đất nước, tổ quốc hơn!

Trần Hoan

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=513539233771956&id=100053476506338

Hội nghị Trung ương 5: Có phải tình trạng ‘phe phái’ đã được giải quyết?

Đài Á Châu Tự Do 

Nhà báo độc lập Nguyễn Ngọc Già khi trả lời RFA từ Sài Gòn hôm 4/5, nhận định:

“Nhà cầm quyền CSVN đang lấy lượng thay phẩm, tức họ lấy số mới bị bắt gần đây để nói rằng đã kiểm soát được quyền lực. Điều này là một cách tiếp cận rất sai lầm, bởi vì để kiểm soát quyền lực thì phải làm ngay từ đầu, tức là khi trao quyền. Chứ không phải là đợi đến khi các cuộc tham nhũng lan tràn, phá nát kinh tế xã hội rồi mới bắt bớ bỏ tù… đây là phép ngụy biện gọi là đảo ngược nhân quả. Thứ hai, việc khởi tố bắt giam chỉ là bề nổi, khi nhà cầm quyền CSVN không thể phớt lờ được nữa, đặc biệt là trước Hội nghị Trung ương 5. Họ muốn dùng điều này để thuyết phục người dân về tính chính danh của họ, nhưng tôi nghĩ đã thất bại vì phát ngôn kiểm soát được quyền lực là từ nội bộ của họ với nhau chứ không phải từ dân, tức không có tính khách quan.”

Thứ ba theo Nhà báo độc lập Nguyễn Ngọc Già, việc bắt bớ vừa rồi dù bắt rất nhiều và mạnh tay, nhưng việc bắt bớ đó càng bộc lộ cho dư luận thấy các phe phái đang thanh trừng chính trị dưới ‘vở kịch’ chống tham nhũng. Bởi vì theo ông Nguyễn Ngọc Già, những trọc phú tại Việt Nam đã khiến dư luận nghi ngờ khi bất ngờ xuất hiện, không rõ tài năng, vốn liếng… nhưng lại được báo chí và nhà nước tung hô… và rồi lại đột ngột bị bắt vì tội danh này hay tội danh khác… nhưng đều liên quan tham nhũng. Nhà báo độc lập Nguyễn Ngọc Già nói tiếp:

“Thế thì thử hỏi, nếu không có sự bảo kê, sự chống lưng từ những thế lực siêu cao nào đó, thì làm sao họ được vậy. Có nghĩa là những vị trọc phú đó họ vẫn là ’ những con cua cậy càng… những con cá cậy vây’… Do đó cái gọi là kiểm soát được quyền lực, kiểm soát được tình trạng như ông Nguyễn Phú Trọng nói là đã hết tình trạng ‘cua cậy càng, cá cậy vây’… Thì tôi cho rằng nó vẫn nguyên si, chuyện tham nhũng, thanh trừng phe phái, vẫn là một cái bình rất rẻ tiền với rượu rất là nhạt nhẽo.”

Trả lời RFA hôm 4/5, Nhà báo Nguyễn Vũ Bình, từng công tác tại Tạp chí Cộng sản, nhận định:

“Cơ chế độc tài toàn trị của đảng CS thì cái đấy không bao giờ hết được, các phe phái xuất phát từ cơ chế này mà ra, chỉ khi chế độ này chấm dứt thì mới hết ô dù, phe phái, bè cánh… Thực tế nó như vậy, bởi vì không có bầu cử, ứng cử tự do, và có sự đấu đá ngầm trong đảng CS để phân chia quyền lực. Ông Trọng nói vậy thôi, ổng dựa vào việc bắt một số tướng tá công an quân đội, việc bắt một số nhân vật quyền lực… Nhưng thực tế không phải vậy, vẫn còn những phe cánh đang đấu đá, Hội nghị Trung ương tới thì việc tranh giành quyền lực trong cấp chóp bu rất kinh khủng. Ngay cả việc những người vừa bị bắt cũng là phe cánh đánh nhau, triệt tay chân của nhau… trên cơ sở chống tham nhũng.”

Vì vậy theo Nhà báo Nguyễn Vũ Bình, với cơ chế hiện tại của nhà nước cộng sản Việt Nam, thì phe phái, bè cánh hay tranh giành quyền lực là không bao giờ hết.

https://www.rfa.org/…/has-the-faction-status-been…

RFA.ORG

Hội nghị Trung ương 5: Có phải tình trạng ‘phe phái’ đã được giải quyết?

Ngay trước thềm Hội nghị Trung ương 5, báo nhà nước lại dẫn lời giới lãnh đạo cho rằng, nhờ kiểm soát quyền lực nên tình trạng ‘phe cánh’ đã không còn. Thực tế ra sao?  

Bài học từ chiến tranh Ukraine, từ Nhật Bản đến Việt Nam

Bài học từ chiến tranh Ukraine, từ Nhật Bản đến Việt Nam

Chiến tranh nhấn mạnh tính cấp thiết của việc củng cố liên minh và hệ thống phòng thủ quốc gia

 

Lực lượng Phòng thủ Mặt đất (JGSDF) của Nhật Bản luyện tập bắn đạn thật từ xe tăng Type-74 ở gần núi Phú Sĩ (Fuji) ngày 22 tháng Năm 2021 trong cuộc huấn luyện hàng năm. Ảnh Akio Kon – Pool/Getty Images

Hành động tấn công quân sự vô cớ của Nga chống Ukraine là lời cảnh báo an ninh nghiêm trọng đối với nhiều quốc gia. Sự tàn phá kinh hoàng và thương vong lớn mà Ukraine phải gánh chịu buộc các nhà lãnh đạo trên thế giới phải suy nghĩ lại về các chính sách quốc phòng và chiến lược an ninh. 

Phần Lan và Thụy Điển là hai trường hợp đáng chú ý nhất. Sau nhiều thập niên theo đuổi một đại chiến lược chủ yếu nhằm bảo đảm chung sống hòa bình với Nga, hai quốc gia này hiện đang tính gia nhập NATO. Tuy ở châu Á xa xôi, Nhật Bản không thể tự cô lập khỏi những sự thay đổi lớn do cuộc chiến Ukraine gây ra và cũng đã từng bước thay đổi chính sách và chiến lược an ninh của Tokyo.

Khi Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014, chính quyền của thủ tướng khi đó là Shinzo Abe đã kiềm chế, không đưa ra các biện pháp trừng phạt nghiêm ngặt đối với Moscow, không đứng cùng hàng ngũ với các cường quốc phương Tây. Lần này, khi cuộc chiến Nga-Ukraine nổ ra, chính phủ Nhật Bản đã có lập trường rõ ràng và mạnh mẽ hơn. Cùng với Mỹ và châu Âu, Nhật Bản đã tăng cường các biện pháp trừng phạt Nga và bắt đầu tiếp nhận người tị nạn Ukraine, dù với số lượng ít hơn nhiều so với các nước phương Tây. Đây chắc chắn là một phản ứng đúng đắn trước việc Nga vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Ukraine.

Tuy nhiên, Nhật Bản chưa sẵn sàng tự mình đối mặt với một cuộc khủng hoảng an ninh. Các nhà hoạch định chính sách Nhật Bản cần phải học một số bài học quan trọng từ chiến tranh Ukraine và phải tìm ra các kế hoạch giúp cho quốc gia ít bị tổn thương hơn trước các mối đe dọa.

Các nhà hoạch định chính sách và chuyên gia Nhật Bản cho rằng cuộc chiến đang diễn ra ở Ukraine mang lại ba bài học quan trọng cho Nhật Bản, một bài bình luận trên báo Nikkei Asia Review cho biết. 

Bài học thứ nhất là trong tình huống chiến tranh, chỉ có thể dựa vào các đồng minh an ninh chính thức, bất kể có thể có bao nhiêu bạn bè. Đây là một thực tế lạnh lùng, khắc nghiệt. Cả Mỹ và châu Âu đều không cử quân đội đến Ukraine để chống lại Nga mặc dù họ đã cung cấp nhiều loại vũ khí cho quốc gia đang kháng chiến. Điều này là do Ukraine không thuộc liên minh quân sự NATO. Việc tham gia một liên minh quân sự đa phương như NATO hoặc song phương với một siêu cường như Hoa Kỳ là một bảo đảm an ninh có tính chất chiến lược.

Nhật Bản đã và đang mở rộng quan hệ an ninh song phương với Úc, Ấn Độ, Anh và Pháp. Tokyo cũng đang thực hiện các bước để củng cố khuôn khổ hợp tác an ninh Bộ Tứ (Quad) với Mỹ, Úc và Ấn Độ. Những động thái chiến lược này là quan trọng nhưng không thay thế được liên minh của Nhật Bản với Mỹ. Điều quan trọng đối với Tokyo là trước hết phải tăng cường hệ thống phòng thủ quốc gia dựa trên hiệp ước an ninh Nhật-Mỹ.

Thứ hai, như một câu tục ngữ đã nói, trời giúp những người tự giúp mình. Ukraine đã nhận được sự ủng hộ từ nhiều quốc gia vì người dân của họ đã chiến đấu chống xâm lược với lòng dũng cảm và quyết tâm bất khuất. Các quốc gia không thể giúp Ukraine nếu quân đội của Kyiv nhanh chóng quy hàng. Để nhận được sự trợ giúp quốc tế, trước hết phải có thể tự vệ một cách hiệu quả.

Vào giữa những năm 2010, Thủ tướng Abe đã ban hành một chỉ thị cho các quan chức cấp cao của Bộ Quốc phòng. Mặc dù không biết chính xác từ ngữ của chỉ thị, nhưng nó có nội dung là: “Khi quần đảo Senkaku bị [Trung Quốc] xâm chiếm, tìm kiếm sự giúp đỡ ngay lập tức của Hoa Kỳ là điều cuối cùng nên làm. Một liên minh sẽ không hoạt động trừ khi Nhật Bản cố gắng hết sức để tự vệ.” Mệnh lệnh này có thể áp dụng cho bất kỳ phần nào của lãnh thổ Nhật Bản. Nếu Nhật Bản thiếu ý chí và khả năng tự vệ, Mỹ sẽ không chấp nhận rủi ro lớn để đứng ra bảo vệ Nhật.

Thứ ba, khả năng lãnh đạo chính trị cũng quan trọng như sức mạnh quân sự trong việc quyết định kết quả của một cuộc chiến. Tổng thống Ukraine, Volodymyr Zelenskyy vẫn ở thủ đô Kyiv, bất chấp mối đe dọa đến tính mạng, khi ông tập hợp người dân và quân đội của mình cùng nhau chống lại Nga. Zelenskyy đã chỉ huy chiến đấu, đã tham gia các cuộc đàm phán ngừng bắn và đã vươn ra thế giới, đưa ra các yêu cầu và thông tin. Ngược lại, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã mắc phải vô số sai lầm, vây quanh ông ta là những nịnh thần và đã đàn áp các cuộc biểu tình phản chiến ở Nga.

***

Từ ba bài học kinh nghiệm Nhật Bản, nhìn về Việt Nam, không thể không lo ngại trước hiện tình đất nước. Cũng như Nhật Bản, Việt Nam sống bên cạnh Trung Quốc, một nước lớn có tham vọng bành trướng lãnh thổ và bắt nạt các nước láng giềng. Nhưng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản, theo đuổi chính sách quốc phòng “bốn không” (không tham gia liên minh quân sự; không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam; không dựa vào nước này để chống nước kia. không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.) Nếu xung đột với Trung Quốc xảy ra như chiến tranh Nga – Ukraine hiện nay, Nhật Bản có thể dựa vào liên minh quân sự Nhật-Mỹ, khối Quad hoặc quan hệ an ninh song phương với Ấn Độ, Úc, Anh và Pháp; còn Việt Nam thì “đơn thân độc mã”, không ai ngó ngàng tới.

Lực lượng Phòng vệ SDF của Nhật tuy quân số không lớn nhưng trang bị rất hiện đại, tinh thần sung mãn, lại được cọ xát thường xuyên trong việc ngăn chặn sự xâm lấn của Trung Quốc ở quần đảo Senkaku mà Bắc Kinh tuyên bố là lãnh thổ Trung Quốc, gọi là đảo Điếu Ngư. Quân đội Việt Nam đông, nhưng vũ khí trang bị ọp ẹp, tướng tá chỉ lo “làm kinh tế” để làm giàu, tham nhũng và tranh giành quyền lực. Chưa có chiến tranh mà đã có tới 19 tướng công an và 25 tướng quân đội phải vào tù vì tham nhũng. Một quân đội như vậy có ý chí và khả năng tự vệ khi đất nước bị xâm lược hay không, câu trả lời tưởng đã rõ.

Bên cạnh tiềm lực quân sự như vậy, khả năng lãnh đạo chính trị của Việt Nam chắc chắn không dẫn tới một kết quả lạc quan trong chiến tranh. Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện một chế độ toàn trị khắc nghiệt đến mức người dân không được phép biểu thị lòng yêu nước trước những hành vi gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông; cùng với một nền kinh tế tư bản bè phái, trong đó giới quan chức và tư sản đỏ mặc sức làm giàu trên tài nguyên quốc gia và mồ hôi nước mắt người dân. Nếu chiến tranh với Trung Quốc nổ ra thì ai là người có thể tập hợp quân đội và nhân dân kháng chiến như Tổng thống Volodymyr Zelensky ở Ukraine hiện nay? Liệu người dân Việt Nam, đã quá mỏi mệt vì nhiều cuộc chiến tranh liên miên, có xung phong cầm súng ra trận để bảo vệ một đảng độc tài đi theo một ý thức hệ lỗi thời và phản động, một chế độ cực quyền đã tước bỏ quyền tự do, quyền làm chủ của người dân hay không? 

Từ chiến tranh Ukraine, nếu Nhật Bản nhận ra nước Nhật đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng về an ninh quốc phòng thì có thể nói gì về tình trạng ở Việt Nam? “Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”, câu thơ buồn của cụ Nguyễn Du quả là có tính tiên tri về vận mệnh dân tộc.

Từ cuộc chiến tại Ukraine, nhìn lại chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam

Từ cuộc chiến tại Ukraine, nhìn lại chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam

Trần Trung Đạo

Với tỉ số vượt trội gồm 141 nước kết án Nga và chỉ có 5 nước ủng hộ Nga trong Quyết nghị LHQ ngày 2 tháng 3, 2022 là một kết quả rất ngạc nhiên và người ngạc nhiên nhất không ai khác hơn là Vladimir Putin.

Trước đó, ngày 25 tháng 2, Hội đồng Bảo An LHQ họp để biểu quyết quyết nghị tố cáo Nga vi phạm Điều 2, phân đoạn 4 của Hiến chương LHQ vì đã dùng võ lực xâm phạm chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine, quốc gia hội viên. Quyết nghị này bị Nga phủ quyết, nhưng ngoài TC, Ấn, United Arab Emirates bỏ phiếu trắng, không một quốc gia nào trong số 15 hội viện của Hội đồng Bảo an ủng hộ Nga.

Cộng hòa Kenya là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ. Buổi chiều tối trước giờ biểu quyết, Đại sứ Martin Kimani đã đọc một diễn văn để bày tỏ lập trường của quốc gia ông. Dưới đây là vài đoạn trích từ diễn văn hùng hồn, đầy thôi thúc của Đại sứ Martin Kimani:

“Kenya và hầu hết các quốc gia châu Phi ra đời bởi sự kết thúc của đế chế. Biên giới của chúng tôi không phải do chúng tôi vẽ mà được vẽ ở các mẫu quốc thuộc địa xa xôi của London, Paris và Lisbon, không liên quan gì đến các quốc gia thời cổ đại đã bị tách rời nhau.”

“Chúng tôi cũng lên án mạnh mẽ xu hướng trong vài thập niên gần đây của các cường quốc, bao gồm cả các thành viên của Hội đồng Bảo an, vi phạm luật pháp quốc tế mà không được quan tâm.”

“Đêm nay, chủ nghĩa đa phương nằm trên giường bệnh. Ngày nay cũng như trong quá khứ gần đây, chủ nghĩa đa phương đã bị các cường quốc tấn công.”

Một người Việt Nam quan tâm nào đọc diễn văn của Đại sứ Martin Kimani cũng đều cảm thấy gần gũi, xúc động và cảm thông. Số phận những nước nhược tiểu từng bị thực dân bóc lột ở đâu cũng giống nhau.

Giống như dân tộc Kenya, dân tộc Việt Nam không hề ký vào các Hòa ước Nhâm Tuất 1862 (nhượng Nam Kỳ cho Pháp), Hòa ước Giáp Thân (Patenôtre) 1884, Hiệp định Geneva 1954 hay Hiệp định Paris 1973. Tất cả đều là tác phẩm của thực dân và đế quốc để phân chia quyền lợi và quyền lực bằng máu xương người Việt.

Diễn văn của Đại sứ  Martin Kimani cũng cho thấy khuôn mặt mới của thế giới đang định hình và một xu hướng mới đang mở ra cho các quan hệ đối ngoại. Kết quả hai cuộc biểu quyết ở LHQ cũng cho thấy sự cần thiết phải đẩy mạnh chủ nghĩa đa phương để giải quyết các vấn đề chung của các quốc gia trong phạm vi một khu vực hay thế giới.

Chủ nghĩa đa phương (multilateralism)  liên kết của các quốc gia qua hình thức của những tổ chức, những trung tâm, những cơ quan quốc tế, những nhóm liên kết của ba nước hay nhiều hơn. Khác với phương thức đơn phương (unilateralism) hay song phương (bilateralism), phương thức đa phương là cơ hội cho các quốc gia nhỏ có tiếng nói, có quyền hạn và trách nhiệm đối với cộng đồng nhân loại. LHQ hay WTO là những tổ chức đa phương.

TC rất sợ và từ chối cách giải quyết các tranh chấp trên nền tảng đa phương. Chiến lược đàm phán của TC từ nhiều năm nay là song phương nhưng thực chất cũng chỉ là đơn phương vì TC luôn giữ thế mạnh và quyết định kết quả của đàm phán.

Các lãnh đạo đảng CSVN thường xuyên lặp lại hai chữ “ổn định” để diễn tả tình trạng Việt Nam. Nhưng đó chỉ cách nói dối, không chỉ dối với người dân mà còn tự dối với chính mình.

Hiểm họa TC là hiểm họa thường trực thì làm gì có ổn định. Đọc lại vài biến cố nổi bật từ sau chiến tranh Biên giới Việt-Trung 1979 tới nay để thấy tội ác của bá quyền TC đối với dân tộc Việt Nam gấp nhiều lần hơn so với tội các của Nga đối với Ukraine.

Cuộc chiến xâm lược Việt Nam của Đặng Tiểu Bình năm 1979 mang về cho TC một thảm bại nhục nhã nhưng đồng thời đó cũng là thời điểm đánh dấu những thay đổi lớn trong sách lược quốc phòng. Họ Đặng đẩy mạnh hiện đại hóa quốc phòng bằng cách trẻ trung hóa cấp chỉ huy và nâng cấp kỹ thuật chiến tranh trong quân đội. Hơn một triệu lính và sĩ quan già các cấp bị cho giải ngũ. Yếu tố phẩm chất được nhấn mạnh thay vì số lượng.

Mặc dù thua to, họ Đặng không từ bỏ tham vọng tấn công Việt Nam.

Những năm từ 1980 đến 1983, các trận pháo liên tục bắn vào lãnh thổ Việt Nam và các đụng độ nhỏ tiếp tục diễn ra dọc biên giới Việt-Trung. Theo Miles Maochun Yu (Dư Mậu Xuân 余茂春 học giả Mỹ gốc Hoa – BVN chú), từng là cố vấn chính sách về Trung Quốc của Bộ Ngoại giao Mỹ:  “Chỉ trong năm 1985, Trung Quốc đã bắn một triệu quả đạn vào vùng Vị Xuyên của Việt Nam, sau đó là một loạt trận pháo kích dài ngày khác trong suốt hai năm sau đó, kèm theo các cuộc tấn công của Trung Quốc vào các vị trí của Việt Nam với sự tham gia của ít nhất 15 sư đoàn quân TC. Chỉ trong vòng 5 năm từ 1985 đến 1989, Trung Quốc đã bắn hơn hai triệu quả đạn pháo vào Việt Nam.” (America’s Pivot To Vietnam, Miles Maochun Yu, Friday, May 27, 2016, Hoover Institution) .

Hai triệu quả pháo là một con số khủng khiếp, không nhiều hơn nhưng chắc cũng không ít hơn so với số lượng pháo TC bắn vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ trong thập niên 1950.

Sau 5 năm cải tiến, Đặng Tiểu Bình muốn thử nghiệm hiệu quả của chính sách “hiện đại hóa quốc phòng” và lần nữa nơi thử nghiệm chẳng đâu khác là Việt Nam.
Ngày 24, 12, 1983, họ Đặng tiếp Norodom Sihanouk, lúc đó đang là Chủ tịch của Chính phủ Liên hiệp Ba thành phần gồm Khmer Đỏ, Campuchia Dân chủ và Mặt trận Giải phóng Dân tộc Khmer, tại Bắc Kinh. Trong buổi tiếp xúc này, Norodom Sihanouk yêu cầu Đặng can thiệp bằng quân sự vì phía CSVN đang thắng thế trong nhiều mặt trận trên khắp lãnh thổ Cambodia.  (Xiaoming Zhang (Trương Hiểu Minh 张晓明 – BVN chú), Deng Xiaoping’s Long War: The Military Conflict between China and Vietnam, University of North Carolina Press, 2015).

Đặng Tiểu Bình đồng ý giúp nhưng thay vì mở một cuộc chiến tranh biên giới khác, họ Đặng nhắm hai căn cứ chiến lược Lão Sơn (Laoshan) và  Núi Bạc (Zheyinshan).   Sau nhiều trận đánh suốt mùa hè 1984, Lão Sơn của Việt Nam đã bị TC chiếm ngày 16 tháng 7, 1984. Nhiều ngàn thanh niên Việt Nam đã chết trên các đỉnh núi Lão Sơn. Đặng Tiểu Bình xem đây là một chiến thắng lớn. Viên Tư lịnh Sư đoàn tham dự mặt trận Lão Sơn được đặc cách lên chức Tư lịnh Binh đoàn 11 của quân đội TC. ((1) Trần Trung Đạo, Đặng Tiểu Bình và Trận Lão Sơn Trong Chiến tranh Biên giới Trung – Việt Năm 1984 dịch từ China-Defense, (2) Charlie Gao, China’s Loss That You Have Never Heard About,  The National Interest, August 18, 2021).

Ngày 14 tháng 3, 1988, TC chiếm Gạc Ma. Cuộc thảm sát này hiện nay được được nhắc lại trong các báo khá nhiều. Báo Lao Động ngày 13/03/2022 viết: “Ngày 14.3.1988, nhằm ngày 27 tháng giêng âm lịch, Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm đảo đá chìm Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trong một cuộc chiến không cân sức để bảo vệ đảo đá Gạc Ma, 64 chiến sĩ thuộc lực lượng Hải quân Nhân dân Việt Nam đã kiên cường chiến đấu và anh dũng hy sinh. Nhiều người trong số họ đã nằm lại mãi mãi nơi đáy biển sâu.” Cũng theo báo Lao Động, mãi tới 11 năm sau “những bài báo viết về các anh, các cựu binh Gạc Ma mới bắt đầu xuất hiện rải rác. (Lao Động, Chủ nhật, 13/03/2022).

Chiếm Gạc Ma chỉ là đầu cầu cho chiến lược bành trướng Biển Đông của Đặng Tiểu Bình. Vào thập niên 1990, đối tượng cạnh tranh chiến lược của Đặng Tiểu Bình và các lãnh đạo TC sau ông ta  là Mỹ, Nhật, Đức chứ không còn là Việt Nam.

Cuối năm 1990, LX đang trên đà sụp đổ. Sáu trong số mười lăm nước “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa” đã tuyên bố độc lập, nền kinh tế LX đang thời kỳ suy thoái, bức tường Bá Linh đã bị đập đổ. Boris Yeltsin từ bỏ đảng CS và trở thành lãnh đạo của phong trào dân chủ Nga. CSVN trở thành con thuyền không bến và chiếc phao duy nhất còn lại là TC. Hội nghị Thành Đô trong hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 đánh dấu cho ngày trở về của đảng CSVN dưới ảnh hưởng TC.

Chỉ ba tháng sau hội nghị Thành Đô, ngày 8 tháng 5 năm 1992 Trung Cộng ký hợp đồng khai thác dầu khí với công ty năng lượng Crestone của Mỹ, cho phép công ty này thăm dò khai thác dầu khí trong thềm lục địa của Việt Nam, nằm ở phía Tây Nam của quần đảo Trường Sa. Trung Cộng cũng hứa với công ty Creston sẽ bảo vệ bằng võ lực nếu Việt Nam can thiệp vào công việc của họ.

Ngày 25 tháng 2, 1992, TC thông qua Luật Lãnh hải và Vùng Tiếp giáp. Theo luật này, Biển Đông, trong đó có  Hoàng Sa và Trường Sa, thuộc về TC. Văn bản này viết: “Lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là vành đai biển tiếp giáp lãnh thổ đất liền và nội thủy của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Lãnh thổ trên đất liền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bao gồm đất liền và các đảo ven biển; Đài Loan và tất cả các đảo bao gồm quần đảo Điếu Ngư; quần đảo Penghu; quần đảo Đông Sa; quần đảo Tây Sa; quần đảo Trung Sa và quần đảo Nam Sa; cũng như tất cả các đảo khác thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.”

Theo phân tích của Council On Foreign Relations, một trung tâm nghiên cứu lớn tại Mỹ, ý đồ của TC không chỉ là kinh tế nhưng chính là quân sự. TC muốn khóa Biển Đông khỏi sự hải hành quân sự của Mỹ.

Quan trọng nhất là việc TC quân sự hóa Biển Đông qua việc xây dựng hàng loạt “đảo nhân tạo” và các căn cứ quân sự trên quần đảo Hoàng Sa. Bảy đảo nhân tạo đó gồm Johnson Reef South (Đá Gạc Ma), Subi Reef (Đá Xu Bi), Gaven Reef (Đá Ga Ven), Hughes Reef (Đá Tư Nghĩa), Fiery Cross Reef (Đá Chữ Thập), Cuarteron Reef (Đá Châu Viên) và Mischief Reef (Đá Vành Khăn).

Tại hội nghị Shangri-La 2015 (The IISS Shangri-La Dialogue) với cấp bộ trưởng quốc phòng của 50 quốc gia, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter chính thức yêu cầu TC ngưng xây dựng các căn cứ quân sự nổi qua hình thức các đảo nhân tạo. Tuy nhiên, ngoại trừ có các biện pháp cứng rắn của các quốc gia trực tiếp trong vòng tranh chấp, không một lời yêu cầu nào hay văn bản nào có thể làm thay đổi tham vọng của Tập Cận Bình.

Ngày 14 tháng 2, 2016, TC đặt các giàn hỏa tiễn địa đối không (surface-to-air missiles) và chiến đấu cơ J-11 trên đảo Phú Lâm (Hoàng Sa). Tờ The Wall Street Journal trích dẫn nguồn tin quân sự cho biết đây là loại hỏa tiễn HQ-9 dài 6 mét, nặng hai tấn, tầm bắn từ trung bình tới xa (China Positions Missiles on Disputed South China Sea IslandThe Wall Street Journal, Feb. 17, 2016).

Ngày 18 tháng 5, 2018, các oanh tạc cơ H-6 của TC cất cánh từ đảo Phú Lâm và đáp xuống một “đảo nhân tạo” của TC trên Biển Đông. Ấn bản điện tử của Nhân dân Nhật báo còn đăng cả một video ngắn cho thấy oanh tạc cơ H-6K có tầm bay xa 1900 hải lý hạ cánh xuống một trong những “đảo nhân tạo”. Với loại oanh tạc cơ này, tất cả các thành phố lớn, các quốc gia vùng Đông Nam Á đều nằm trong tầm oanh tạc của H-6K nói chi là Việt Nam chỉ cách Hoàng Sa 121 hải lý (China lands bomber on South China Sea island for first time, CNBC, May 18, 2018).

Ngày 18 tháng 4, 2020, TC công bố thành lập hai đơn vị hành chánh mới gồm Tây Sa bao gồm Hoàng Sa và Nam Sa bao gồm Trường Sa của Việt Nam. Trụ sở của hai đơn vị hành chánh này đặt tại đảo Phú Lâm, trực thuộc tỉnh Hải Nam của TC. Nhiều người nghĩ tình trạng Covid-19 sẽ làm giảm chính sách bành trướng của Tập Cận Bình, nhưng không, họ Tập không những [không] chậm mà còn lợi dụng khó khăn của thế giới để đẩy mạnh hơn tham vọng xâm thực chủ quyền của các nước chung quanh trong đó có Việt Nam.

Trên đây chỉ là vài sự kiện chính được các viện nghiên cứu, các hãng tin, các báo chí quốc tế ghi lại. Sự chịu đựng của ngư dân Việt Nam trong 47 năm qua không sách vở nào ghi hết như Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô Đại cáo “Trúc Nam Sơn không ghi hết tội, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”.

Nhiều người có thể đặt câu hỏi nếu vậy thì làm gì?

Cuộc chiến tranh xâm lược của Nga vào Ukraine đã làm các nhà phác họa chính sách đối ngoại, từ các nước lớn như Mỹ, Đức, Anh cho tới những nước nhỏ xa xôi như Ghana ở Phi Châu hay Cambodia ở Á Châu suy nghĩ lại chính sách đối ngoại của nước mình và chọn lựa một hướng đi mới phù hợp với xu hướng mới đặt trên nền tảng đa phương.

Việt Nam không có khả năng đánh bại hải quân TC, không đủ không quân để làm chủ bầu trời Biển Đông nhưng không phải là tuyệt lộ. Ít nhất có một việc nên làm ngay, đó là hủy bỏ chính sách quốc phòng “Bốn không”.

Chính sách “Bốn không” được xác định trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019: “Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” (Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019).

Tại sao phải “Bốn không”? Thái Lan, Nam Dương, Mã Lai, Philippines, Cambodia và ngay cả nước nhỏ tí như Brunei cũng không tự cô lập khi đưa ra một chính sách tự trói tay như Việt Nam.

Một chính sách đối ngoại đúng là chính sách đặt quyền lợi của đất nước lên trên hết chứ không đặt quyền lợi của cường quốc nào lên trên hết. Chính sách “Bốn không” thực chất là một chính sách “tiền đồn” nhằm phục vụ cho quyền lợi của TC để giữ “sân sau” Việt Nam làm hành lang an toàn cho TC khi có một xung đột giữa TC với Mỹ và Đồng minh xảy ra.

Hủy bỏ “Bốn không” không có nghĩa phải thay bằng “Bốn có”, không nhất thiết phải chọn đi với Mỹ nhưng để giải quyết các vấn đề thế giới trên nền tảng đa phương, không tự trói tay.

Hủy bỏ “Bốn không” không có nghĩa là chống lại TC mà là giới hạn sự lệ thuộc vào TC và tạo điều kiện được đối xử bình đẳng trong quan hệ ngoại giao với TC.

Cuộc chiến tự vệ của Cộng hòa Ukraine với sự ủng hộ của gần hết các quốc gia trên thế giới cho thấy tầm quan trọng của chủ nghĩa đa phương.

Chưa bao giờ trong lịch sử thế giới từ sau Thế chiến thứ Hai, sự liên kết và phụ thuộc hỗ tương giữa các quốc gia bất kể lớn nhỏ quan trọng như những ngày này. Một trong những quốc gia nhỏ nhất thế giới là Lục Xâm Bảo (Luxembourg) với dân số chỉ 640 ngàn người cũng gởi võ khí chống tăng đến giúp Ukraine. Con số tuy nhỏ nhưng tính đại diện rất quan trọng và ý nghĩa.

Sự thất bại của Putin là bài học cho Tập Cận Bình, đặc biệt là quan điểm chủ nghĩa dân tộc cực đoan của y đối với Đài Loan. Khái niệm dân tộc ngày nay không chỉ được định nghĩa bằng quá khứ lịch sử, ngôn ngữ, giống nòi, tôn giáo mà quan trọng hơn là dựa vào khát vọng của con người sống trong thời đại họ. Khi thành phố Bucha của Ukraine bị san bằng, hàng ngàn người dân vô tội, kể cả phụ nữ mang thai bị giết, mọi lời rao về tình dân tộc Rus củaVladimir Putin đã trở thành những hạt muối xát vào vết thương của người dân Ukraine.

Sự thất bại của Putin cũng là bài học cho Tập Cận Bình về hậu quả của chủ nghĩa bành trướng. Lịch sử cận đại chứng minh các đế quốc bành trướng như Ottoman, Phổ, Nhật, Nga, Áo-Hung v.v. đều thất bại và sụp đổ.

Cái gọi là “quyền lịch sử” mà bộ máy tuyên truyền TC huênh hoang tối ngày thực chất chỉ là quyền ăn cướp. Nếu TC quả thật có đủ bằng chứng cụ thể và thuyết phục trước công pháp quốc tế thì họ đã không trốn khi bị Philippines kiện ra tòa.

Xin nhớ, Chính phủ Philippines không hề giấu diếm ý định mà còn báo trước cho TC biết họ sẽ nộp đơn kiện để TC có thời gian chuẩn bị.

Nhắc lại, ngày 22 tháng 1, 2013 Chính phủ Philippines trao cho Đại sứ Trung Cộng tại Philippines một công hàm ngoại giao trong đó trình bày lý do Philippines kiện Trung Cộng lên Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS). Chính phủ Philippines cũng cho Đại sứ TC biết trọng tài thứ nhất Philippines chọn là luật gia người Đức Rüdiger Wolfrum.

Cộng hòa Philippines dựa vào Điều 287 (chọn thủ tục) và Phụ lục số Bảy (Annex VII) của Công ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea, UNCLOS) để nộp đơn lên kiện Trung Cộng vi phạm UNCLOS đối với Philippines và thách thức cái gọi là “Quyền lịch sử” của Trung Cộng trên Biển Đông.

Kẻ cướp chỉ có súng chứ làm gì có bằng chứng sở hữu vì của cải, đất đai, nhà cửa là của chủ nhà. Sau gần một tháng họp bàn, ngày 19 tháng 2, 2013 TC thông báo cho Chính phủ Philippines biết sẽ không tham gia vụ kiện. Vì không tham gia nên TC không có quyền đề cử thẩm phán trọng tài. Kết quả như cả thế giới đều biết hôm nay, Philippines chẳng những thắng phần mình mà còn làm cho lý luận gọi là “quyền lịch sử” chỉ để đun nóng chủ nghĩa dân tộc cực đoan tại lục địa chứ hoàn toàn vô nghĩa trước công pháp quốc tế (The South China Sea Arbitration. The Republic of Philippines v. The People’s Republic of China, Case 2013-19 PCA)

Thay vì “Bốn không”, quan điểm quốc phòng chỉ nên viết một cách tổng quát: Chính sách quốc phòng Việt Nam phục vụ cho mục đích duy nhất là bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, và do đó, trong mỗi tình huống của thế giới, chính sách có thể sẽ được linh động áp dụng một cách thích nghi.

Hủy bỏ “Bốn không” chưa hẳn là “thoát Trung” nhưng ít nhất cũng phá vỡ tình trạng tự cô lập, bế tắc để mở ra một không gian mới thúc đẩy đa phương hóa trong tranh chấp Biển Đông.

Im lặng là góp phần nuôi dưỡng tội ác.

Nhìn bức ảnh đính kèm theo bài viết độc giả sẽ thấy không phải một sáng, một chiều, một tháng, hay ngay cả một năm mà TC xây xong bảy căn cứ quân sự trên Biển Đông.

Các hình ảnh chụp năm 1988 và 1995 cho thấy những “căn cứ” của TC trên Trường Sa vừa chiếm được của Việt Nam đơn sơ không khác gì những chòi giữ vịt ở Cao Lãnh. Tuy nhiên, chính sách quốc phòng tự cô lập của Việt Nam đã khuyến khích TC biến những chòi giữ vịt đó thành những phi trường cho các oanh tạc cơ, chiến đấu cơ, các giàn phóng hỏa tiễn tầm xa được đặt, đồn trú hay trang bị như ngày nay.

TC có kho ngoại hối dự trữ (foreign-exchange reserves) lớn nhất thế giới nhờ mấy chục năm bán sức lao động của mấy trăm triệu dân và kho võ khí hiện đại một phần không nhỏ do ăn cắp kỹ thuật. Tuy nhiên, như bài học Putin cho thấy võ khí và tiền bạc không đem lại chiến thắng.

Nga có nguồn dự trữ lớn thứ tư trên thế giới với 611 tỷ dollar nhưng ngoại trừ 13% số tiền đó ký thác trong các ngân hàng Trung Cộng và sẽ sử dụng được, số lớn còn lại đã bị “đóng băng”. Kỹ thuật chiến tranh của Nga chưa phải là đối thủ của Mỹ và NATO.

Yếu tố còn lại và cũng là yếu tố quyết định là con người. Đây cũng là nỗi lo của Tập Cận Bình. Chính họ Tập đã gọi quân đội TC đang mắc một bệnh dịch gọi là “bệnh hòa bình”. Lý do, từ sau chiến tranh biên giới với Việt Nam, quân đội TC chưa tham dự một cuộc chiến nào. (Charlie Lyons Jones, Xi believes a ‘peace disease’ hampers China’s military modernization, Australian Strategic Policy Institute, 26 Aug 2019)

TC không đáng sợ nhưng nếu CSVN tiếp tục theo đuổi các chính sách tự cô lập, tách rời khỏi hướng đi của thời đại, không liên kết với các quốc gia có cùng quyền lợi để ngăn chặn kịp thời tham vọng bành trướng của TC, Việt Nam, một quốc gia bán đảo bên bờ Thái Bình Dương, có nguy cơ trở thành một nước không có biển.

Cuộc chiến xâm lược của Nga tại Ukraine là một trường hợp nghiên cứu cho tất cả học viện quân sự, các “think tank” (trung tâm nghiên cứu chiến lược) tại mọi quốc gia, mọi chính phủ, nhất là những nước có vị trí địa lý chính trị tương tự như Ukraine.

Nếu Ukraine cũng theo đuổi chính sách “Bốn không” như Việt Nam chắc chắn đã không có sự viện trợ quân sự của 36 quốc gia, và hậu quả ai cũng có thể hình dung được thủ đô Kyiv hôm nay là một đống tro tàn.

Qua hai cuộc bỏ phiếu vừa rồi tại LHQ, người viết không kỳ vọng giới cầm quyền CSVN thay đổi chính sách quốc phòng, nhưng chẳng qua nói phải nói cho hết, viết phải viết cho hết.

Biển vô cùng quan trọng. Phải giữ cho được biển. Nhiều ngàn năm trước, tổ tiên dòng giống Việt vượt núi, băng rừng từ bỏ vùng đất nằm sâu trong đất liền để di dân về phương Nam và đã dừng lại ở Việt Nam chỉ vì nơi đây có biển. Đừng vì sự “ổn định” tạm thời của đời mình hay của đảng mình mà quên đi nền hòa bình, thịnh vượng và ổn định thật sự của cả dân tộc trong nhiều đời sau.

T.T.Đ.

NỘI CHIẾN NAM – BẮC MỸ VÀ NÚI ĐÁ STONE MOUNTAIN

Nghệ Lâm Hồng

HẬN THÙ CÓ VĂN HOÁ DÙ CÁCH ĐÂY GẦN HAI TRĂM NĂM

NỘI CHIẾN NAM – BẮC MỸ VÀ NÚI ĐÁ STONE MOUNTAIN

Tại thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia, trên vách núi có khắc tượng của tướng Lee, vị chỉ huy bại trận của miền Nam trong cuộc Nội Chiến Bắc-Nam (Civil War) của Mỹ. Atlanta là thủ đô của quân miền nam. Hiện nay lá cờ của quán miền nam nền đỏ với chữ X màu xanh dương vẫn bay phấp phới tại đây. Cuộc Nội Chiến này đã khiễn nữ văn sĩ Margaret Michell viết nên tác phẩm bất hủ là “Gone with the wind’ thường được dịch là “Cuốn Theo Chiều Gió”, đồng thời nó được chuyển thể thành phim.

Nước Mỹ vĩ đại vì họ có những con người vĩ đại và cách thức họ kết thúc một cuộc nội chiến cũng rất đáng khâm phục.

Câu chuyện tại làng Appomattox.

Cách đây đúng 153 năm, Tướng Robert E Lee của quân đội miền Nam đầu hàng Tướng Ulysses Grant của quân đội miền Bắc, đánh dấu kết thúc cuộc nội chiến Hoa Kỳ đã làm hơn 7 trăm ngàn người thiệt mạng. Sở dĩ gọi là chiến tranh Nam Bắc là vì cuộc chiến diễn ra giữa hai phe: phe miền Bắc (còn gọi là phe liên bang) đứng đầu là Tổng thống Lincoln chủ trương xóa bỏ buôn bán nô lệ người da đen và phe miền Nam chống lại chủ trương này.

Cuộc chiến Nam Bắc của Mỹ thường được nhắc tới qua những trận đánh đẫm máu giữa quân đội của hai phe: quân miền Bắc do tướng Ulysses Simpson Grant chỉ huy và quân miền Nam do tướng Robert Edward Lee cầm đầu. Tuy tướng Lee đã nhiều lần tấn công và gây tổn thất khá nặng cho đội quân của tướng Grant nhưng quân miền Bắc được sự hỗ trợ to lớn từ ngân sách liên bang và chiêu mộ được thêm nhiều quân số từ những người nô lệ da đen vừa được giải phóng nên cuối cùng quân miền Nam của tướng Lee phải chấp nhận thua trận.

Đã có những lời khuyên tướng Lee nên chia nhỏ quân của mình ra và tiến hành đánh du kích nhưng tướng Lee đã nói: nếu cứ tiếp tục chiến tranh gây bao chết chóc thì tội của tôi đáng chết gấp ngàn lần. Ông đã nhắn cho tướng Grant là ông chuẩn bị đầu hàng. Tướng Grant nhắn lại, đề nghị tướng Lee chọn địa điểm bàn thảo việc qui hàng. Và căn nhà của một người buôn bán tên là Wilmer Mc. Lean tại làng Appomattox đã được chọn. Ngày nay ngôi nhà này trở thành di tích lịch sử quốc gia, và được gọi là Appomattox Court House.

Đến ngày hẹn, tướng Lee bận một bộ lễ phục mới tinh và đeo kiếm, còn tướng Grant xuất hiện muộn hơn trong bộ đồ tác chiến thường ngày còn dính bùn đất hành quân. Hai người ngồi trong phòng khách của ông Mc. Lean và hàn huyên thân mật về những kỷ niệm quân ngũ trong cuộc chiến tranh Mexico. Câu chuyện lâu đến nỗi tướng Lee sốt ruột, chủ động đề cập đến “mục đích buổi gặp gỡ của chúng ta ngày hôm nay là bàn về việc đầu hàng”. Tướng Grant bèn lấy cây bút chì và tờ giấy viết vội những điều khoản và trao cho tướng Lee, trong đó có những nội dung nói về binh lính miền Nam:

  1. Không bị coi là phản quốc và không phải ở tù.
  2. Chính phủ coi binh lính miền Nam là những công dân bình thường nếu họ chấp hành tốt luật lệ.
  3. Được mang ngựa và lừa về nhà để giúp gia đình cày cấy vào mùa xuân.

Sau khi xem qua những điều tướng Grant vừa viết, tướng Lee nói: “Những điều này sẽ có tác động tốt đến quân sĩ của tôi. Chúng sẽ góp phần quan trọng trong việc hòa giải dân tộc chúng ta.” Tướng Lee cho biết ông sẽ trao trả những tù binh miền Bắc vì ông không có đủ lương thực cho họ. Tướng Grant đáp lại rằng ông sẽ gửi ngay cho binh lính miền Nam 25.000 phần lương thực khô. Ông cũng ra lệnh cho in 28.231 giấy phóng thích cho binh lính miền Nam.

Khi tin phe miền Nam đầu hàng bay đến doanh trại, quân miền Bắc định bắn đại pháo chào mừng. Tướng Grant ra lệnh ngưng ngay lập tức các hoạt động ăn mừng. Ông nói với các sĩ quan dưới quyền: “Chiến tranh đã kết thúc. Giờ đây họ đã là đồng bào của chúng ta”. Ông cho rằng hai bên không còn là kẻ thù, và cách tốt đẹp nhất để bày tỏ niềm vui của miền Bắc là không vui mừng trước thất bại của miền Nam.

Ngày 12 tháng 4 năm 1865, quân đội của tướng Lee tiến vào ngôi làng Appomattox để giao nộp vũ khí. Tướng Joshua L.Chamberlain của miền Bắc được chỉ định tiếp nhận binh sĩ qui hàng. Trước hàng quân miền Bắc nghiêm chỉnh, ông nhìn những binh sĩ miền Nam bại trận đi vào làng với cảm xúc dâng trào. Sau này ông viết lại: “Giây phút đó làm tôi thực sự xúc động. Tôi quyết định đánh dấu sự kiện này bằng một hành động, không gì khác hơn là giơ tay chào kiểu nhà binh. Tôi biết có người sẽ chỉ trích tôi về cử chỉ này. Tôi đã không xin phép và cũng không yêu cầu sự tha thứ về hành động này. Đối diện với chúng tôi là những chiến binh, bại trận nhưng can trường, là biểu tượng cho tinh thần trượng phu, không rã rời, không đau khổ, bất chấp hy sinh và không có gì khuất phục được họ. Giờ đây, họ là những người ốm yếu và đói khát, nhưng họ hiên ngang nhìn thẳng vào chúng tôi, làm sống dậy những ràng buộc thiêng liêng cao cả hơn bao giờ hết. Không có lý do gì để những đấng nam nhi ấy không được hội nhập vào Hợp Chủng Quốc vững vàng của chúng ta.”

Sau đó tất cả hàng ngũ quân miền Bắc thắng trận từ đơn vị này đến đơn vị khác đều nghiêm chỉnh giơ tay chào kiểu nhà binh. Vị tướng dẫn đầu đoàn quân miền Nam đầu cúi xuống trong buồn bã, chợt nhận ra và ngồi thẳng lại trên lưng ngựa, giơ tay chào đáp lễ. Ông ra lệnh cho các đơn vị theo sau tuân theo nghi lễ quân sự khi đi ngang qua đoàn quân miền Bắc. Không có kèn thắng trận, không có tiếng trống, tiếng hô, tiếng reo hò mừng chiến thắng, không một lời nói hay tiếng xì xầm… Một sự im lặng đến nghẹt thở.

Từ sáng sớm đến chiều tối, những người lính miền Nam đều giơ tay chào khi đi ngang qua hàng quân miền Bắc cũng đang giơ tay chào. Họ giao nộp vũ khí, những lá cờ trận rách tơi tả của miền Nam và trở về quê. Gần 100.000 quân miền Nam đã qui hàng ở làng Appomattox. Vài ngày sau tất cả rời khỏi nơi này, ngôi làng trở lại cuộc sống bình thường.

Hàng năm, có khoảng 110.000 du khách đến thăm ngôi làng này. Các du khách đến đây để tìm nguồn cảm hứng, và câu chuyện các du khách muốn nghe không phải là trận đánh cuối cùng mà là sự hòa hợp của quốc gia và những điều khoản rộng rãi do tướng Grant đưa ra.

Ông Ron Wilson, sử gia của Appomattox Court House nói: “Tướng Grant và tướng Lee có một tầm nhìn rất xa. Hai ông nhận thức rằng những nỗ lực hai bên cùng dồn vào cho cuộc chiến đã gây ra sự phân hóa khắc nghiệt trong bao năm qua, giờ đây cần phải được dùng để tái thiết quốc gia. Không cần phải có hận thù.”

Tướng Lee và tướng Grant đã đi vào lịch sử như những huyền thoại. Nhưng đằng sau câu chuyện ở làng Appomattox là bàn tay đạo diễn của Tổng thống Abraham Lincoln, lẽ đương nhiên cũng là một nhân vật huyền thoại. Ông thường nói rằng ông mong muốn cuộc chiến kết thúc trong sự khoan dung. Ông Ron Wilson nói rằng Tổng thống Lincoln và tướng Grant đã gặp nhau hai tuần trước đó trên chiến hạm River Queen ở sông James. Họ đã thảo luận rất lâu về hình thức kết thúc chiến tranh và những xáo trộn có thể xảy ra trong thời kỳ hậu chiến. Tổng thống Lincoln đã nói với tướng Grant: “Hãy để họ buông súng một cách thoải mái”.

(Sau chiến tranh, ngày 14/4/1865 tổng thống Lincoln bị ám sát, tướng Lee trở thành Viện trưởng của Đại học Washington, tướng Grant được bầu làm Tổng thống Mỹ hai nhiệm kỳ 1869-1877).

Nguồn: Đa Minh Việt Nam

Phỏng theo Mercy at Appomattox (William Zinsser) – Reader’s Digest

FB Hien Huynh Thanh

Những ngày cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam và bí mật về sự can thiệp của Trung Quốc (VOA)

Những ngày cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam và bí mật về sự can thiệp của Trung Quốc

30/04/2022

Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai gặp mặt Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Henry Kissinger trong cuộc gặp được gọi là “lịch sử” tại Bắc Kinh ngày 9/7/1971.

Hơn mt thp k tìm kiếm qua nhng tài liu gii mt và các cuc phng vn vi nhng người trong cuc, nhà s hc George J. Veith phát hin ra điu mà ông gi là bí mt ln cui cùng ca Chiến tranh Vit Nam

Lần đầu tiên ông Veith, người có bằng tiến sỹ về sử học, biết về ‘bí mật’ này là qua một nhà ngoại giao của Việt Nam Cộng hòa và cũng là bạn của ông, Nguyễn Xuân Phong, người từng là Quốc vụ khanh đặc trách hòa đàm Paris của chính phủ VNCH trước khi tới Mỹ và làm việc tại Đại học Texas Tech đầu những năm 2000.

“Ông (Phong) nói rằng ông có một ‘bí mật lớn’ mà ông chưa nói với ai,” ông Veith, một cựu Đại úy Lục quân Hoa Kỳ, nói và cho biết ông Phong đã giữ kín bí mật đó trong hơn 30 năm. “Ông ấy chỉ nói rằng khi còn ở trong trại cải tạo (của Bắc Việt), những người Cộng sản đã đánh đập ông để tìm ra những gì ông ấy biết nhưng ông không nói.”

Qua một cuộc điện thoại cách đây nhiều năm, ông Phong cho ông Veith biết rằng “phía Trung Quốc muốn đưa hai sư đoàn nhảy dù vào Biên Hòa để chặn cuộc Nam tiến của quân Bắc Việt” trong những ngày tháng cuối của cuộc chiến tranh.

Theo phát hiện của nhà sử học từng viết 4 cuốn sách về đề tài Chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc, một đồng minh lâu năm của miền Bắc Việt Nam, có thể đã tìm cách tạo ra một miền Nam trung lập vào năm 1975 nhằm ngăn cản Hà Nội giành được chiến thắng mà họ đã tìm kiếm từ lâu.

“Điều này thực sự là sốc vì Trung Quốc, cùng với Liên Xô, đã hỗ trợ Hà Nội trong suốt những năm tháng đó rồi đột nhiên thay đổi,” ông Veith nói với VOA về sự phát hiện khiến ông “bàng hoàng.”

Phát hiện này được ông Veith tiết lộ trong cuốn “Drawn Swords in a Distant Land: South Vietnam’s Shattered Dreams,” (Tuốt gươm ở miền đất xa lạ: Những giấc mơ tan vỡ của miền Nam Việt Nam) trong đó cung cấp nhiều chuyện hậu trường chưa được biết tới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, tập trung vào sự nghiệp chính trị của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng như thăng trầm của chính quyền dưới thời ông. Đây là cuốn sách mới nhất và cũng là cuốn sách thứ 4 của ông Veith về Chiến tranh Việt Nam, ra mắt vào năm ngoái. Trước đó, ông cho ra mắt cuốn “Black Friday: The Fall of South Vietnam 1973-75” (Tháng Tư đen: Sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam 1973-75) sau hai cuốn về việc tìm kiếm binh sỹ Mỹ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam.

‘Người đưa thư

Trong thời gian đàm phán ở Paris về Việt Nam từ 1968 đến 1975, ông Phong – từ địa vị thành viên đến trưởng phái đoàn rồi Quốc vụ khanh đặc trách hòa đàm – cho ông Veith biết rằng ông đã tiếp xúc với phía Trung Quốc nhằm để cứu vãn miền Nam Việt Nam.

Không lâu sau khi Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Henry Kissinger có chuyến thăm lịch sử tới Bắc Kinh năm 1971, ông Phong được mời tới tham dự một tiệc chiêu đãi ở Sứ quán Miến Điện ở Paris. Tại đó, theo ông Veith kể trong chương cuối cùng của cuốn sách, ông Phong được giới thiệu với một quan chức Trung Quốc từ Văn phòng Thủ tướng Chu Ân Lai. Người này kết thúc cuộc thảo luận bằng câu hỏi: “Liệu Tổng thống Thiệu có biết ai là bạn ai là thù của ông ấy không?”

Theo ông Phong, phía Trung Quốc đã qua ông gửi nhiều thông điệp tới ông Thiệu để tìm cách có được một cuộc hội thoại trực tiếp nhưng vị tổng thống VNCH đã không đáp lời.

Ông Phong nói rằng khi trở lại Sài Gòn vào năm 1975, ông mang theo một thông điệp bí mật từ phía Trung Quốc. Ông ngay lập tức đi gặp Tổng thống Trần Văn Hương, người lên nắm quyền từ 21/4/1975 sau khi ông Thiệu từ chức, để thông báo rằng không có hy vọng cho các cuộc đàm phán khi ông còn đương nhiệm. Ông Phong không nhắc tới thông điệp từ phía Trung Quốc. Ngày hôm sau, ông Hương triệu tập cuộc họp để bắt đầu quá trình chuyển giao quyền lực cho Tướng Dương Văn Minh.

Sau đó vài ngày, ông Phong gặp mặt với người bạn thân của Tướng Minh, Tướng Trần Văn Đôn, và một đại diện của Chính phủ Giải phóng Lâm thời (PRG) để bàn thảo về việc thành lập một chính phủ liên minh. Tại cuộc gặp, có cả sự hiện diện của một quan chức PRG – do Bắc Việt hậu thuẫn – ông Phong nói rằng Pháp và các nước khác sẽ giúp đỡ chính phủ mới nhưng cố tình mơ hồ về ý nghĩa của điều này.

Trung Quốc, theo ông Phong, rất muốn PRG nắm quyền thông qua công thức liên minh của Pháp với Tướng Minh để ngăn chặn sự tiếp quản của Bắc Việt. Sau khi một liên minh được thành lập, ông Minh sẽ gửi lời kêu gọi trợ giúp và người Pháp sẽ trả lời rằng một lực lượng quốc tế sẽ vào Nam Việt Nam để bảo vệ chính phủ mới. Ban đầu, như ông Phong cho biết, sẽ là “hai sư đoàn nhảy dù của Trung Quốc vào Biên Hòa” và Bắc Kinh yêu cầu có 4 ngày để điều động quân của họ đưa đến căn cứ không quân này.

“Bắc Kinh không thể ra mặt và làm việc này một cách trực tiếp nhưng họ để mọi người thấy rằng họ… để cho người Pháp làm việc này!,” ông Phong giải thích về ý định của Bắc Kinh – được nhà sử học Veith ghi lại trong cuốn sách. “Bắc Kinh không thể ngang nhiên can thiệp quân sự vào miền Nam Việt Nam. Pháp cần phải kêu gọi một số quốc gia tham gia vào một ‘lực lượng quốc tế’ (với Pháp là mũi nhọn) để cho phép Bắc Kinh can thiệp.”

Vì sao Trung Quốc muốn can thiệp bằng quân sự để ngăn cản chiến thắng của quân Bắc Việt sau nhiều năm ủng hộ Hà Nội?

Theo giải thích của nhà sử học Mỹ, Trung Quốc muốn một miền Nam Việt Nam trung lập để không bị bao vây bởi một hiệp ước tiềm tàng giữa Moscow và Hà Nội. Điều này được Nayan Chanda của Far Eastern Economic Review khẳng định khi cho rằng Bắc Kinh đã “nhất quán tuân thủ chính sách duy trì bằng mọi cách theo ý của mình một Đông Dương bị chia cắt không có các cường quốc lớn.”

Thông đip t Trung Quc

Ông Phong, qua đời năm 2017, không phải là người duy nhất mang thông điệp của Trung Quốc tới chính thể VNCH. Theo ông Veith, một tướng hồi hưu người Pháp có tên Paul Vanuxem, người quen biết ông Thiệu và các sĩ quan cao cấp khác của quân đội VNCH từ sau Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, cũng mang một thông điệp tương tự như ông Phong. Ông Vanuxem đã thỉnh thoảng đến thăm ông Thiệu và trở lại Việt Nam vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh với tư cách là phóng viên tuần báp Carrefour của Pháp.

Trong cuốn sách phát hành năm 1976 về những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, ông Vanuxem, người mất năm 1997, nói rằng ông đã tới Dinh Độc Lập vào ngày 30/4/1975 để nói chuyện với Tướng Minh, lúc đó là tổng thống. Theo sử gia Veith, ông Lý Quí Chung, bộ trưởng Bộ Thông tin trong chính phủ tồn tại hai ngày của Tổng thống Minh, khẳng định điều này khi cho biết rằng “ông Vanuxem nói rằng ông ấy muốn đưa ra một kế hoạch cho ông Minh để cứu vãn tình hình tuyệt vọng mà chính thể Sài Gòn đang đối mặt.” Ông Vanuxem nói với ông Minh, ngay sau khi ông Minh ghi âm lời tuyên bố đầu hàng sáng ngày 30/4, rằng: “Tôi đã sắp đặt việc này ở Paris. Tôi yêu cầu ông công khai xin trợ giúp từ Nước C (China – tức Trung Quốc) để bảo vệ ông.”

Ông Vanuxem yêu cầu ông Minh cầm cự trong 3 ngày nhưng ông Minh từ chối, theo ghi nhận của sử gia Veith. Ông Minh đã cười một cách cay đắng trước lời đề nghị của ông Vanuxem và nói rằng: “Theo Tây, theo Mỹ mãi chưa đủ sao mà bây giờ lại theo Tàu?”

“Tôi tiếp tục đào sâu và sau đó tôi tìm thêm ra nhiều thông tin được chính những người Cộng sản công bố, trong đó cũng nói về những điều tương tự,” ông Veith cho biết và nói rằng Hà Nội cũng biết được lời đề nghị của ông Vanuxem và cuối cùng thừa nhận về ý định can thiệp của Trung Quốc. “Sách Trắng Quốc phòng (của Việt Nam) xuất bản 10 năm sau khi chiến tranh kết thúc, trong đó thừa nhận rằng ông Vanexum đã tới Dinh (Thống Nhất) và tìm cách thực hiện âm mưu nhằm ngăn chặn bước tiến của họ để giành chiến thắng trong cuộc chiến đó.”

Phía Trung Quốc cũng được cho là đã tiếp cận cựu Phó Tổng thống VNCH Nguyễn Cao Kỳ. Trong một cuộc phỏng vấn với William Buckley trên Firing Line tháng 9/1975, ông Kỳ nói rằng các đặc vụ Trung Quốc đã tới nhà ông ở Sài Gòn vào năm 1972 và yêu cầu ông lật đổ Tổng thống Thiệu cũng như “tuyên bố miền Nam Việt Nam trung lập, không theo Nga hay Mỹ.” Ông Kỳ, người đã đưa gia đình di tản sang Mỹ sau khi Sài Gòn sụp đổ, nói rằng nếu ông làm điều đó, “thì phía Trung Quốc sẽ hỗ trợ ông” bởi vì Bắc Kinh “đã gặp khó khăn ở biên giới phía bắc với người Nga” và “không muốn sườn phía nam của mình bị vệ tinh của Nga (tức Bắc Việt Nam) chiếm đóng.”

Với những khẳng định từ nhiều nguồn khác nhau, sử gia Veith tin rằng những nỗ lực của Trung Quốc nhằm ngăn cản chiến thắng của quân Bắc Việt bằng cách hậu thuẫn một chính phủ trung lập ở miền Nam Việt Nam, là có thật. Tuy nhiên điều này không thể được khẳng định hoàn toàn khi không có bằng chứng tài liệu hay sự chấp nhận chính thức từ chính phủ Trung Quốc hoặc Pháp.

Liệu Trung Quốc hay Pháp, mỗi nước vì lợi ích quốc gia, có thông đồng để tìm cách làm cho miền Nam Việt Nam trung lập cũng như ngăn chặn chiến thắng của Hà Nội hay không, sẽ vẫn là một khả năng bỏ ngỏ và sử gia Veith gọi đó là “bí mật lớn cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam.”