Nghị quyết 36 thành công hay thất bại?

Nghị quyết 36 thành công hay thất bại?

Jackhammer Nguyễn

21-10-2022

Ông Nguyễn Hữu Liêm ở San Jose, lâu nay “bị” xem là thân “cộng”, vừa viết một bài liên quan tới việc tiếp xúc giữa Hà Nội và người gốc Việt ở Mỹ. Trọng tâm của bài viết này, ông Liêm đưa ra những biện luận của mình để chứng minh rằng “nghị quyết 36” của Đảng Cộng sản Việt Nam (đảng CSVN) đã thất bại. Nghị quyết này được đưa ra để Đảng CSVN tiếp cận với người Việt ở hải ngoại, chủ yếu là nhóm tù chính trị (“cải tạo”), thuyền nhân.

Tôi nghĩ rằng “cộng” sẽ không hài lòng với bài viết này. Ông Liêm chỉ trích Đảng CSVN khá nặng. Ông nói rằng họ có “tư duy nông dân”, và nghị quyết 36 ấy được viết với tư duy đó.

Ông Liêm cũng đề nghị Đảng CSVN đưa ra một nghị quyết mới, thật lòng hơn, trong đó có việc nhận trách nhiệm về những tội lỗi lịch sử mà Đảng CSVN đã gây ra, như là cải cách ruộng đất, giam giữ tù chính trị, đánh tư sản miền Nam,…

Đây là bài thứ ba liên tục mà ông Liêm, theo chủ quan của tôi, đã làm phật lòng Hà Nội. Đầu tiên ông gọi ông đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng là “người cộng sản cuối cùng”, kế đó ông đả kích chủ nghĩa Marx, và bây giờ ông mắng Đảng CSVN là … nhà quê (nông dân).

Đối với bài viết đả kích Karl Marx, tôi không dám có ý kiến phản biện lại người chuyên nghiên cứu triết học như ông Liêm. Còn hai bài kia thì tôi không đồng ý, tôi cho rằng tính chất cộng sản của ông Trọng cũng chẳng hơn các đàn em của ông ấy đâu, và ông Trọng cũng chẳng hiểu Karl Marx hơn ông Liêm.

Còn chuyện ông mắng Đảng CSVN là nhà quê thì tôi đã viết trong bài “Những chiếc ghế gỗ và sự sang trọng cộng sản”, để nói rằng, người “cộng sản” Việt Nam hiện nay chẳng quê tí nào đâu, mà họ rất thích sự … sang trọng. Có thể ông Liêm đúng với hàm ý rằng “các nông dân Ba Đình” hiện nay không suy nghĩ được gì lớn lao, hay nói theo ngôn ngữ báo chí trong nước là “không có tầm nhìn”.

Nhưng ông mắng họ “nhà quê” là họ giận lắm đấy.

Thôi, sau khi phiếm lòng vòng các danh từ, khái niệm, cho vui, bây giờ tôi xin trở lại vấn đề đánh giá nghị quyết 36 của Hà Nội.

Tôi cho rằng, nói thành công như Đảng CSVN đánh giá thì cũng đúng, mà nói thất bại, như ông Liêm và các bạn ông, cũng đúng. Vấn đề nằm ở chỗ, ta đứng ở góc nào, yêu cầu của ta ra sao để mà đánh giá. Rõ ràng, yêu cầu của ông Liêm và Đảng CSVN không giống nhau.

Có thể Đảng CSVN cho rằng, họ đã mời được “các nhà truyền thông hải ngoại” … về nước, giao lưu, mà những người này cũng có hoạt động trong… “cộng đồng”, thành ra là … thành công!

Ông Liêm và các bạn thì mong muốn ý tưởng của các ông nên được Đảng CSVN xem xét để thúc đẩy sự thịnh vượng của Việt Nam, nên các ông xem nghị quyết 36 là thất bại.

Một việc nữa là ông Liêm và các bạn ông xếp mình vào nhóm người ra đi từ miền Nam Việt Nam, những người đã trưởng thành trước năm 1975, mà nhóm người này chưa bao giờ xem Đảng CSVN thật lòng với họ cả. Nghị quyết 36 rõ ràng thất bại với nhóm này, trừ một số nhà… “truyền thông hải ngoại”.

Nếu ta định lượng kết quả của nghị quyết 36, bằng số lượng người Việt hải ngoại về thăm nhà, số tiền họ gửi về giúp người thân, số lần biểu tình chống đối cũng như cường độ của các cuộc biểu tình bị giảm xuống… thì nghị quyết 36 thành công.

Tuy nhiên, những cuộc biểu tình và cường độ của nó giảm xuống, lại không phải do nghị quyết 36, mà do những người biểu tình già đi, ngọn lửa biểu tình không còn được con cháu họ coi trọng. Đó không phải là thành công của Đảng CSVN, mà là thất bại của cộng đồng người Việt chống cộng ở hải ngoại.

Sự thắng thế của Đảng CSVN tại hải ngoại, nếu có, không phải là họ có nhiều điều hay ho, mà là họ có… thời gian.

Theo đánh giá của một nhân vật lãnh đạo chính trị của người Việt hải ngoại (mà tôi xin giấu tên), thì số lượng người Việt ở Mỹ, đến Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình từ thập niên 1990 trở về sau (tức là sau khi Việt Nam mở cửa, không còn là “cộng sản” nữa), cộng với những người sinh ra ở Mỹ, hoặc sinh ra ở Việt Nam, nhưng lớn lên ở Mỹ, đã đông hơn những người từng là tù cải tạo, thuyền nhân.

Nhóm đến sau, hoặc lớn lên ở Mỹ này không còn “quyết tâm chống cộng” mạnh mẽ nữa.

Vào dịp Tết nguyên đán đầu năm 2022, một số nguồn tin khả tín nói rằng, Lãnh sự quán Việt Nam ở San Francisco đã xuống miền Nam California, tổ chức một buổi tiệc tân niên ngay tại khu Little Saigon, nơi được mệnh danh là “Thủ đô tinh thần của người Việt tị nạn Cộng Sản”, có đến 200 người tham dự. Vậy mà không có tờ báo Việt ngữ nào của “cộng đồng” đề cập đến.

Thế nhưng, nếu lấy con số 200 đó mà nói nghị quyết 36 thành công, thì không thỏa đáng. Tôi nghĩ rằng chí ít, nhà cầm quyền Hà Nội cũng mong thu được nhân tâm của những người như nhóm ông Nguyễn Hữu Liêm, hay thế hệ trẻ người Việt, không phải là du học sinh, chứ đâu chỉ thu phục nhóm người thích về Việt Nam chơi bời và đến dự tiệc của lãnh sự quán để ăn uống!

Nhóm người Việt trẻ tuổi lớn lên ở Mỹ chú ý đến nước Mỹ hơn Việt Nam. Họ quan tâm đến nền dân chủ Mỹ, và dĩ nhiên với tình trạng chính trị Việt Nam hiện nay thì họ quan tâm để làm gì? Có bao nhiêu chính trị gia trẻ tuổi người Mỹ gốc Việt, lớn lên ở Mỹ, có quan hệ với Hà Nội? Theo hiểu biết của tôi, con số đó gần bằng… zero.

Nói cho cùng thì cộng đồng người Việt hải ngoại và chính quyền Hà Nội hiện nay có thể chả quan tâm gì đến nhau cũng không sao cả, mạnh ai nấy sống. Người Việt hải ngoại có được cái may mắn chạy thoát khỏi “lũy tre làng ngàn năm văn vật”, cứ tiếp tục hưởng tinh thần dân chủ.

Trong một bài viết cho báo New York Times hôm nay, ông Ngãi Vị Vị, một nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc, hiện sống ở châu Âu, viết rằng: “Não trạng người Trung Quốc chưa bao giờ thực sự tự do… không có sự thay đổi cơ bản nào khả dĩ diễn ra. Người Trung Quốc bình thường chỉ việc tuân lệnh thôi”.

Ai có thể bảo tôi rằng, người Việt thì khác? Thế cho nên Đảng CSVN cần chi nghị quyết 36 để cãi chày cãi cối với ông Liêm như thế!

Vấn nạn ‘dân trí’ của người Việt…

Lmdc Viet Nam

 “Vấn nạn ‘dân trí’ của người Việt…”

Nhắc đến Phan Bội Châu (1867-1940), rất nhiều người Việt Nam có thể dễ dàng nói ông là nhà tư tưởng, nhà cách mạng nổi tiếng của Việt Nam.

Nhưng không phải ai cũng biết về tinh thần “phê phán” của Phan Bội Châu, thể hiện qua tác phẩm Việt Nam quốc sử khảo, xuất bản lần đầu vào năm 1909.

Với mục đích động viên tinh thần yêu nước và làm cách mạng, Phan Bội Châu đã dành một phần trong sách để than phiền về điều mà ông xem là vấn nạn ‘dân trí’ của người Việt đương thời.

Trích, theo bản dịch của Chương Thâu:

– “Hay nghi kỵ lẫn nhau, không làm nên việc gì cả, đó là điều rất ngu thứ nhất.

– Tôn sùng những điều xa hoa vô ích, bỏ bê những sự nghiệp đáng làm, đó là điều rất ngu thứ hai.

– Chỉ biết lợi mình mà không biết hợp quần, đó là điều rất ngu thứ ba.

– Thương tiếc của riêng, không tưởng đến việc ích chung, đó là điều rất ngu thứ tư.

-Biết có thân mình nhà mình mà không biết có nước, đó là điều rất ngu thứ năm.”

Một đoạn khác, Phan Bội Châu than: “Cùng làm chung việc thì nghi kỵ nhau, cùng làm thành công thì ghét bỏ nhau, chưa đánh với người ngoài mà trong nhà đã tranh nhau.

* Buồn thay, lời của cụ Phan Bội Châu vẫn đúng đến tận ngày nay

TL BBC

Phan Bội Châu là một trong những nhà yêu nước lớn ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Ông sinh ngày 26 tháng 12 năm 1867, tại làng Đan Nhiễm (nay là xã Xuân Hòa), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Những hoạt động yêu nước, chống Pháp do Phan Bội Châu khởi xướng, tiêu biểu như phong trào Đông Du (1905 – 1909) và tổ chức Việt Nam Quang phục Hội (1912 – 1917).

Khi Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt năm 1925, thì tầng lớp thanh niên, với lực lượng chủ công là học sinh, sinh viên, trí thức đã tích cực xuống đường đấu tranh đòi chính quyền thực dân ở Việt Nam phải trả tự do cho nhà yêu nước Phan Bội Châu.

Kết quả là thực dân Pháp buộc phải giảm án từ tử hình xuống chung thân khổ sai, sau đó đưa ông về an trí ở Huế cho đến khi ông qua đời năm 1940.

Tâm Sự Của Một Y Công – Nguyễn Thượng Chánh, DVM

Tâm Sự Của Một Y Công – Nguyễn Thượng Chánh, DVM

Hình minh họa 

Săn sóc bệnh nhân ở giai đoạn cuối đời, chẳng hạn như thay tã, thay quần thay áo, làm giường, giúp họ trong việc ăn uống, trong vấn đề vệ sinh, tắm rửa hằng ngày, v.v…là những công việc thường lệ của một y công.

Đây là một job không phải dễ, rất cực nhọc, đòi hỏi một sự chịu đựng và nhẫn nại hơn người.

Không phải ai cũng có thể làm được hết đâu.

Làm việc trong một khung cảnh đượm vẻ thê lương, nặng nề, và đầy rẫy âm thanh rên xiết suốt ngày suốt đêm, người y công cũng không dám nói là mình chai đá dửng dưng được trước cảnh đời quá phủ phàng, kiếp nhân sinh quá phù du…

NNT  là cháu của người viết và hiện là một y công tại một bệnh viện lớn ở Montreal. Cậu ta làm việc tại một bộ phận hắc ám nhất. Đó là tầng bệnh nhân ở giai đoạn cuối, gọi là unité de soins palliatifs. Đây là nơi nằm của các bệnh nhân hết thuốc chữa và chỉ chờ ngày chết mà thôi.

Sau  đây là đôi dòng tâm sự của cậu ta.

 « …Cuộc đời đưa đẩy tôi làm y công cho một bệnh viện ở Montreal.

Công việc của tôi là chăm sóc người bệnh, giúp cho họ có được những giây phút thoải mái để cuộc sống dễ chịu hơn trong những ngày cuối cùng của đời họ trên dương thế nầy.

Đó là những người bệnh già, bệnh nhân lú lẫn Alzheimer, những người bị ung thư vào giai đoạn cuối, những người mới vừa được mổ và những người bị bệnh tâm thần, v.v…

Bệnh nhân được tôi săn sóc nằm trong khoảng tuổi từ 18 đến 101 tuổi.

Có người còn rất trẻ, đâu trên dưới 20 tuổi mà phải chịu nằm chờ chết vỉ họ bị ung thư não. Có người bị cancer vú, mùi hôi thúi nồng nặc rất khó chịu, cần phải băng bó vết thương lại bằng những loại băng có chất than charbon activé cho đỡ hôi thúi. Họ không ngớt rên la cả đêm vì quá đau đớn và khó chịu. Họ thường năn nĩ để xin thuốc morphine để giảm đau.

Tôi thấy rất xót xa và cảm thương họ, nhưng biết làm sao bây giờ?

 Biết chừng đâu một ngày nào đó mình cũng sẽ như họ?

 Trước tình cảnh như thế, người ta tự hỏi chúng ta có nên giúp bệnh nhân chấm dứt sự đau đớn vô ích đó càng sớm càng tốt hay không? Nhưng đây chỉ là ý tưởng riêng tư của mỗi người mà thôi.

Luật pháp Canada cấm ngặt việc trợ tử.Vấn đề nầy hiện nay vẫn còn là một vấn đề tranh luận tại các xứ Tây phương!

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xem sự sống là thiêng liêng nên họ đều cấm triệt việc giúp đỡ bệnh nhân sớm kết liểu cuộc sống. Đây là một vấn đề cấm kỵ, còn đang được tranh luận.

Ngày nay chỉ có Hòa Lan, Thụy Sĩ và Bỉ mới cho phép việc trợ tử theo ý muốn của bệnh nhân.

 Vừa qua, báo chí có đề cập đến trường hợp của một người Mỹ gốc Việt rất giàu có, tài sản 100 triệu dollars nhưng chẳng may bị cancer vào giai đoạn cuối cùng, và bác sĩ nói ông ta chỉ còn sống khoảng ba tháng mà thôi. Bệnh nhân bèn trở về quê hương để được chết bên đó. Theo lời khuyên bảo cùa một thầy tử vi, ông ta xin chánh quyền Việt Nam cho phép ông được chết vào ngày giờ tốt hầu giúp cho con cháu được hưng phát sau nầy.

Biết rằng luật pháp Việt Nam cấm việc trợ tử. Không biết với tài sản kết xù của mình, bệnh nhân có thể chết theo ý muốn được không?

Tôi rất xót xa mỗi khi thấy những bệnh nhân còn quá nhỏ tuổi mà phải vô nằm trong soins palliatifs. Họ chưa hưởng được gì cả trong cuộc đời quá ngắn ngủi. Đối với các cụ lớn tuổi, 80- 90 tuổi trở lên thì dễ chấp nhận hơn vì họ đã thật sự sống cuộc đời họ rồi. Chết là sự giải thoát khỏi thân xác già nua xấu xí, khỏi bệnh tật, khỏi sự đau đớn của thể xác và tâm hồn…Các cụ đã sống quá đủ rồi.

 Theo sự quan sát của mình, tôi thấy người bệnh rất sợ chết mà thân nhân cũng rất sợ xác chết nữa. Tôi muốn nói đến trường hợp của một cụ bà người Hoa, 85 tuổi. Con gái, 65 tuổi, của cụ bà thường phàn nàn sao đêm nào mẹ mình cũng không ngớt gọi mình làm mình không ngủ nghê gì được cả. Rồi có một đêm nọ, người con gái không còn nghe tiếng mẹ mình gọi nữa. Bà ta mới hỏi tôi và tôi cho biết là bà cụ đã đi rồi trong đêm qua. Người con mới xin tôi được mang găng tay và mặc áo blouse để vào nhìn mặt mẹ lần cuối cùng. Tôi nói bà cụ là mẹ thì cần gì phải mang găng và bận áo choàng làm chi. Bà cứ việc vô đi, không sao đâu, nhưng bà ta không dám, mà chỉ đứng ngoài cửa lấp ló ngó vào và run cầm cập. Mẹ mình mà mình cũng sợ!

 Mỗi khi có người vừa mới tắt thở, bác sĩ liền được mời đến để chứng thật. Phận sự của tôi sau đó là tháo gỡ hàm răng giả của người chết ra và bỏ vào hộp. Thay bỏ quần áo cũ ra và bận vào xác chết một cái áo giấy, cuộn xác kỹ lưỡng vào một tấm nylon to. Để xác lên xe và đẩy xuống nhà xác. Thế là xong một kiếp người!

Mỗi khi có người quá vãng thì thân nhân đến viếng.

Dân Haiti thường đến rất đông, khóc la thảm thiết, kế đến là người Ý cũng khá đông.

Người mình thì ít hơn. Đôi khi cũng có gia đình rước thầy đến tụng niệm kinh vãng sanh, bằng không thì cũng để cassette hoặc CD Nam Mô A Di Đà Phật, hoặc kinh Tây Tạng.

Om maņi padme hum.

Mahājñāna cittotpāda,

 Làm việc lâu năm trong soins palliatifs, đối mặt thường xuyên với cảnh bệnh hoạn và chết chóc, tôi phải tự tạo cho mình một cái vỏ khá cứng mới có thể chịu đựng được… » NNT

 TÂM TRẠNG CỦA NGƯỜI SẮP CHẾT

 Tiếp xúc với người sắp chết là việc rất khó và rất tế nhị. Chúng ta phải biết cảm thông với người bệnh vào giai đoạn cuối đời.

Nên ghi nhớ những điều sau đây:

–          Khuyến khích họ thố lộ ra những ưu tư, ước muốn và nói lên những tình cảm sâu kín của họ.

–          Phải biết lắng nghe họ bằng đôi tai, bằng cặp mắt, và bằng cả con tim của mình và nhẹ nhàng nắm lấy tay họ.

–          Nếu họ còn nói được, cần phải nhẫn nại, nên dùng những chữ đơn giản, có thể không dùng ngôn từ mà chỉ sử dụng cử chỉ để trao đổi với người bệnh.

–          Phải biết tôn trọng bệnh nhân trong giai đoạn cuối đời. Không bao giờ nói với họ những câu như: ngày mai sẽ khá hơn, hãy mĩm cười, tất cả sẽ tốt đẹp, đừng có lo, mọi sự rồi sẽ trở nên ổn thoả hết...

–          Đôi khi người sắp chết cần phải nói lên về sự chết hay về quá khứ của họ.

–          Phải nể trọng họ và hãy lắng tai nghe họ nói.

–          Chúng ta cũng cần phải tôn trọng sự im lặng của người sắp chết.

–          Người sắp chết tuy nằm bất động nhưng họ vẫn còn nghe. Vậy tránh nói những lời không tốt đẹp hoặc đem chuyện gia đình ra gây gổ với nhau bên cạnh giường bệnh.

Người sắp chết thường phải trãi qua các tâm trạng sau đây :

  • Sự chối từ

Đây là một phản ứng tự nhiên. Họ không chấp nhận sự chẩn đoán chung quyết của bác sĩ. Họ rất lo sợ nên có phản ứng chối từ.

  • Sự giận dữ

Tại sao phải là tôi? Tại sao ngay bây giờ. Bệnh nhân cố ý không chấp nhận sự thật và trở nên hung dữ đối với tất cả mọi người.

  • Thương lượng với sự chết

«Nếu tôi có chết cũng không thể nào trước ngày đám cưới của con gái tôi được. hoặc không thể nào chết trước ngày ra đời của cháu nội tôi được»

  • Giai đoạn chán đời, trầm cảm

Bệnh nhân rơi vào trạng thái buồn rầu cực độ trước sự chết quá hiển nhiên của mình trong những ngày sắp tới. Họ phải xa lìa và bỏ lại hết tất cả những gì thân thương nhất trên cõi đời nầy.

  • Chấp nhận cái chết

Cuối cùng họ trở nên bình thản hơn và chịu chấp nhận sự ra đi của họ.

KẾT LUẬN

Chết là điểm cuối cùng trong chu trình sanh lão bệnh tử.

Chết chỉ là một việc rất tự nhiên mà thôi.

Xã hội có khuynh hướng vui mừng hân hoan trước sự nhiệm mầu của sanh sản nhưng lại khắc khe chống đối sự chết. Tại sao? Tại vì con người quá tham lam, dệt quá nhiều ước mơ và quá nhiều hy vọng chăng?

Nói theo Phật giáo, thì chúng ta vì tâm luyến ái nên cố bám víu vào cuộc sống, và vì vô minh nên không biết đó là giả tạo, không có gì là thật cả!

Cố tình không bàn đến cái chết là cố tình không muốn biết đến lực lượng đông đảo bác sĩ, y tá, y công và thiện nguyện viên ngày đêm hy sinh, không quản ngại khó khăn, sát cánh bên nhau để giúp cho các bệnh nhân cuối đời có được những giây phút thoải mái trước khi thanh thản nhắm mắt về cõi vĩnh hằng.

Con lãnh đạo ở Quảng Ngãi du học bằng tiền thuế dân rồi ‘từ từ trả nợ’

QUẢNG NGÃI, Việt Nam (NV) – Giới chức Sở Nội Vụ tỉnh Quảng Ngãi được ghi nhận đang “đau đầu” với nhiệm vụ thu hồi khoản tiền 9.9 tỷ đồng ($405,073) từ bốn “nhân tài” là con của cựu quan chức tỉnh này.

Theo báo Giao Thông hôm 17 Tháng Mười, hồi 10 năm trước, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Ngãi ban hành đề án đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ và “thu hút nhân tài.”

Sở Nội Vụ tỉnh Quảng Ngãi được giao nhiệm vụ thu hồi khoản tiền $405,073 từ các “nhân tài” là con của quan chức tỉnh này. (Hình: Zing)

Trong số này có bốn “hạt giống đỏ” là con của lãnh đạo đương chức của các sở, ban ngành của tỉnh Quảng Ngãi. Đó là bà Phạm Thị Mỹ Hạnh, con gái ông Phạm Thanh Hải, trưởng Ban Tuyên Giáo; bà Nguyễn Lê Ngọc Hà, con gái ông Nguyễn Chín, trưởng Ban Tổ Chức Tỉnh Ủy; ông Phạm Thành Việt, con trai ông Phạm Tấn Hoàng, chủ tịch thành phố Quảng Ngãi; và bà Huỳnh Thị Lan Viên, con gái ông Huỳnh Chánh, giám đốc Sở Tài Chính.

Bà Phạm Thị Mỹ Hạnh du học Úc, trong lúc ba người còn lại du học Anh. Chi phí tổng cộng cho bốn người là 9.9 tỷ đồng.

Năm 2017, cả bốn người nêu trên đều lấy được bằng thạc sĩ và về nước. Thế nhưng, chỉ có bà Nguyễn Lê Ngọc Hà đến nhận việc tại Sở Tài Chính tỉnh Quảng Ngãi, trong lúc ba người còn lại “cao chạy xa bay.” Tuy nhiên sau thời gian ngắn công tác tại Sở Tài Chính, bà Hà cũng nghỉ việc.

Do vậy, năm 2019, Sở Nội Vụ tỉnh Quảng Ngãi yêu cầu bốn người nêu trên phải trả lại tiền trong vòng hai năm, được chia thành 10 lần, mỗi lần nộp tối thiểu một phần mười tổng kinh phí phải hoàn trả.

Cho đến năm ngoái, nhóm này chỉ mới trả góp được 2.8 tỷ đồng ($114,566), tức chưa được một phần ba số tiền ban đầu đã chi cho họ.

Huỳnh Thị Lan Viên được học bổng từ tiền thuế dân du học ở Anh nhờ là con gái ông Huỳnh Chánh, giám đốc Sở Tài Chính tỉnh Quảng Ngãi. (Hình: Người Lao Động)

Theo ghi nhận của báo Giao Thông, hiện chưa rõ nhóm bốn người đó có tiếp tục trả nợ hay không.

“Theo tôi biết thì có một số trường hợp đã hoàn trả xong, một số chưa. Nhưng từ năm 2021 đến giờ không thấy ‘đụng đậy’ gì nên không biết ra sao,” một giới chức không được nêu danh tính của Sở Tài Chính tỉnh Quảng Ngãi cho hay. (N.H.K) [qd]

NGHỊCH LÝ ĐỜI TU!

NGHỊCH LÝ ĐỜI TU!

 Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Nhìn từ bên ngoài, người ta luôn thấy đời tu rất đẹp, hệt như một Thiên Đường tại thế. Suốt ngày cất cao giọng hát ngợi khen Chúa, vui vẻ với những công việc tầm thường như việc cắt cỏ, trồng rau, không một chút bon chen với cuộc đời, không phải lắng lo chuyện gia đình, con cái, không ganh đua với danh vọng cao sang. Nhìn những vị tu sĩ cao niên đắc đạo, miệng lúc nào cũng nở những nụ cười tươi, không quần áo sang trọng, không vàng bạc trữ kho, nhưng tâm hồn lúc nào cũng bình yên thư thái, lối hành xử luôn chậm rãi khoan thai, không hờn ai, không trách cứ, đó quả thực là điều nhiều người ước mong. Rồi những tấm gương hy sinh cả một đời giúp đỡ những người cơ nhỡ, người nghèo, hay những ai bị cuộc đời ruồng rẫy, họ làm việc như thể đó là niềm vui, cho đi mà chẳng mong gì đền đáp, bao lụy phiền của nhân tình thế thái chẳng thể bám víu trái tim họ. Đời tu quả là tươi đẹp, là dấu chỉ của Nước Chúa hiện diện ở trần gian.

Thế nhưng, chỉ có những ai sống trong đời tu mới có thể hiểu rõ được sống đời tu thật không dễ tí nào. Để có thể trở nên một cây cổ thụ sừng sững uy phong, nó đã phải trải qua không ít những gian nan thử thách. Cây nào chịu đựng được thì lớn lên; cây nào không đủ sức thì gục ngã. Đời tu tuy đẹp đấy, nhưng để có thể sống trọn vẹn lý tưởng này, chẳng con người nào có thể tự sức mình mà sống được. Ấy là bởi vì sống đời tu là sống giữa nghịch lý vô cùng căng thẳng của kiếp người.

Người đi tu là người sống giữa thế gian nhưng không được để mình bị thế gian đụng đến. Họ người có đôi chân chạm đất nhưng đầu thì hướng thẳng về trời cao. Họ phải sống trong cuộc đời nhưng lại bị xem là người ở cõi khác. Họ chọn đời hiến dâng không phải để trốn đời, hận đời, nhưng là để vào đời và yêu mến đời nhiều hơn. Người đi tu cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp như ai kia, nhưng phải chọn lấy cho mình phần kém nhất. Họ phải trải rộng tình thương của mình cho người khác, nhưng lại không được để một người nào đó được phép yêu mình. Họ phải yêu người nhưng không được giữ lại riêng cho mình một ai. Họ yêu nhưng không được nắm giữ.

Ai cũng mong muốn mình có một bến đỗ dừng chân, nơi một mái ấm nhỏ, có tiếng cười của con thơ. Nhưng người đi tu thì phải vượt trên mong muốn ấy. Họ có đôi bàn chân không bao giờ ngừng bước. Họ như ngọn gió ngao du khắp núi rừng, băng qua biển khơi. Chẳng nơi đâu là nhà nhưng cũng chẳng nơi đâu là xa lạ. Nơi họ đặt chân đến là quê hương, là cuộc sống của họ… Họ không được đậu neo ở điểm dừng nào, không được để lòng lưu luyến ai hay bất cứ nơi đâu, nhưng phải thanh thoát và tự do với mọi sự. Nơi con tim của người đi tu chất chứa đầy những tâm tư sâu kín. Họ có yêu ai không, không ai biết; họ có ghét ai không, chẳng ai hay; họ có nóng giận, buồn phiền với ai không, không ai tỏ. Dù bên trong có thế nào, điều mà họ thể hiện ra bên ngoài phải là niềm hạnh phúc, phải là niềm vui, phải là dấu chỉ của Nước Trời.

Đó là lý tưởng đẹp, nhưng cũng là điều không phải dễ mà sống được. Sống giữa căng thẳng luôn làm người ta như muốn xé nát con người mình làm đôi. Làm sao giữa dòng đời vạn biến, tâm mình vẫn không động, vẫn yên vui? Làm sao giữa một thế giới đang hô hào chuyện hưởng thụ vật chất, sống trụy lạc và tự do cá nhân, mình lại chủ trương chọn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục người khác? Có những tu sĩ đã vì những xu hướng và thúc bách cá nhân đưa đẩy, lại thiếu đi sự kết hiệp với Chúa nên đã dần dần đánh mất đi lý tưởng tuyệt vời và cao quý của đời tu.

Trong giờ phút này, chúng ta hãy dành ít phút cầu nguyện cho những vị tu sĩ ấy:

Trước hết, chúng ta hãy cầu nguyện cho những ai đang đứng trước chọn lựa giữa đời tu và đời sống bình thường. Xin cho họ được ơn soi sáng để có thể bình tâm chọn lựa điều nào hợp với thánh ý Chúa cho cuộc đời mình.

Chúng ta cũng xin Chúa đến kề bên và nâng đỡ những tu sĩ nào đang bị ngả nghiêng theo cơn gió cuộc đời. Xin cho họ biết chạy đến với Chúa khi tâm hồn có chút gợn sóng nhân gian để được ủi an và thêm sức, chứ đừng tìm bù trừ nơi những niềm vui thế tục, nơi những vật chất, tiện nghi. Xin Chúa giúp cho các tu sĩ biết tìm hạnh phúc nơi những hy sinh và thập giá, chứ không phải nơi bạc tiền và danh vọng.

Xin cho các tu sĩ nhận ra rằng biết bao linh hồn đang cần họ đi tới và chia sẻ; có rất nhiều người đang nhìn đến đời sống phục vụ vô vị lợi của họ mà thầm tạ ơn Chúa và nhờ đó có thêm nghị lực đứng lên làm lại cuộc đời. Xin cho họ đừng vì ích kỷ cá nhân và quên đi lời gọi mời cao quý Chúa đã dành cho họ.

Xin cho các tu sĩ, mỗi ngày nên giống Đức Giêsu Kitô vác thập giá – mẫu gương đời sống dâng hiến của họ hơn.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

 

NHẪN

NHẪN

Người biết nhẫn là người hoà hiệp

Sống bình tâm ăn nói cũng nhẹ nhàng

Họ luôn luôn thanh thản trước nguy nan

Và lịch sự lẹ làng ngoài xã hội

Người biết nhẫn làm trọng tài lúc rối

Chẳng giận hờn trách móc kẻ chung quanh

Nét căm thù không bộc lộ phát nhanh

Nói hoà nhã vui cùng niềm vui bè bạn

Người biết nhẫn sống hài hòa bình thản

Biến những lời gay gắt trở thành không

Biết can ngăn khi sự việc nổ phồng

Hoá giận dữ hoà đồng cho vui vẻ

Người biết nhẫn không bao giờ chia rẽ

Đưa bạn bè xích lại sát gần nhau

Chỉ cho nhau sai trái buổi ban đầu

Hay an ủi vỗ về người lầm lỗi

Người biết nhẫn trong cuộc chơi mở lối

Với tấm lòng hàn gắn kịp can ngăn

Sống hiếu đời, hoà giải mọi lỗi lầm

Để tình bạn đời đời thêm gắn bó

Người biết nhẫn là người không thách đố

Mọi ưu phiền giải tỏa biến thành vui

Đem tấm lòng rộng mở với mọi người

Không chèn ép biết hoà mình chung cảnh ngộ …!

Anh chi Thụ Mai gởi

Đức tính ân cần của người Sài Gòn 

 

Đức tính ân cần của người Sài Gòn 

Tác giảNhạc sĩ Tuấn Khanh

Buổi sáng nọ, nơi góc đổ rác chung của cả khu nhà tự dưng xuất hiện một đôi giày cũ còn khá tốt. Giày được đặt trong một cái hộp với tờ

giấy ghi chú, nét chữ nắn nót “đồ còn tốt, ai cần xin cứ tự nhiên”. 

Ở mấy nước tư bản, việc đem bỏ đi đồ dùng còn xài tốt không lạ, nhưng cách nhường lại cho người khác sử dụng với tất cả sự ân cần là một cung cách đáng ngưỡng mộ. Đôi giày cũ khi đặt vào hộp, gửi tặng mơ hồ vào cõi nhân gian, được chủ nhân ân cần đi đánh xi lại, mới và đẹp, ai nhìn cũng thú vị.

Vậy mà mấy ngày sau mới có anh Mễ làm nghề đổ rác đến lấy, rồi để lại chữ “cám ơn”. Đôi giày nằm liên tục mấy ngày ở đấy, vì những người trong khu nhà không ai muốn giành lấy phần của người có thể khó khăn hơn mình.

Thỉnh thoảng thấy trong đời có sự ân cần làm lay động, lại chợt nhớ Sài Gòn với tất cả không gian từng rất ân cần của nó, một không gian mà giờ đây nhắc lại như một thứ của quý đang mất dần, phai dần, dư niệm của nhiều thế hệ.

Sài Gòn ân cần trong trí nhớ đơn giản lạ. Đôi khi chỉ là chuyện người qua đường trú mưa được chủ nhà mời vào ngồi vì sợ kẻ lạ bị ướt. Đôi khi vì một thùng trà đá để trước cửa để giúp bá tánh lỡ đường giải khát trưa hè. Có đi đến tận những thành phố, hỏi đường đi bị tính tiền, mới biết Sài Gòn đã từng ân cần thế nào. Sài Gòn ân cần và vô tư đến mức từng thấy người say nắng ngất xỉu bên đường, không ai biết ai cứ xúm vô cạo gió, lấy thuốc cho uống để giúp khách qua đường có sức đi tiếp.

Mới hôm rồi, may mắn đọc được một câu chuyện của người Sài Gòn mà lòng mát dịu. Lại thấy thương người đất miền Nam không quen nói trôi chữ, chỉ có tấm lòng.

Một anh trên facebook kể rằng anh đi làm thêm kiếm tiền đi học, chạy bàn rửa chén cho một đôi vợ chồng ở Sài Gòn. Một hôm lỡ tay làm bể hết nguyên chồng tô dĩa, anh luýnh quýnh không biết làm sao thì bất chợt bà chủ chạy vô nhìn thấy.

Bà sững người, chưa kịp la đã dặn: “Nếu chồng cô có xuống thấy thì nói tại cô làm bể, chứ không ổng chửi chết!”.

Vừa quay lưng thì ông chủ chạy từ trên lầu xuống, nhìn đống tô dĩa nát bấy mà thất thần, rồi dặn: “Nếu vợ chú vô hỏi, thì nói chú làm bể nghe, chứ không bả chửi chết!”.

Người làm công đó mang kỷ niệm ngọt ngào và xúc động đó kể lại trên nhật ký của mình, làm không biết bao người đọc rưng rưng, trìu mến.

Sự ân cần là cách mà con người thấu hiểu đời sống, đối đãi bằng lòng chân thành của mình. Bước đi vài dặm trong một đất nước, có thể thấy sự ân cần cho con người đang ở mức nào.

Việt Nam hôm nay có những thành phố lớn hơn, con người cao sang hơn, đại lộ đi bộ to rộng hơn… nhưng sự xua đuổi người nghèo khó cũng quyết liệt hơn. Sự ân cần như chỉ còn trú ngụ loanh quanh với giai cấp dưới, ở những thị dân ít học được thói cao sang.

Nhiều cao ốc được dựng lên, nhưng không mấy cái có lối đi của người khuyết tật. Nhà vệ sinh công cộng phải xây đắt tiền như tượng đài, nhưng hầu như không có cái nào dành cho phụ nữ có thai hay cho người già yếu.

Trong sự rực rỡ của đất nước này hôm nay, đã nhàn nhạt sự ân cần của người với người. Sự chói lọi chỉ số phát triển vẫn kèm theo khoảng tối đen mù lòa sau lưng nó.

“Những Thay Đổi Ở Tuổi 73”

“Những Thay Đổi Ở Tuổi 73”.

Trần Văn Giang, Orange County, ở tuổi 73

  1. Tôi đã thay đổi.  Tôi không còn nghĩ là tiếng nói hay quan điểm của tôi quan trọng nữa.  Tôi đã viết trên 500 bài với đủ các vấn đề, phần lớn là các đề tài chống Cộng tới cực đoan.  Nhìn lại, vì các lý do riêng ở cuộc sống trên đất tạm dung, có rất ít người quan tâm và nhiều khi tôi còn bị chỉ trích là chỉ làm chuyện “tào lao.”  Dân Việt ngàn năm vẫn là dân Việt, nhưng chế độ Công sản y như tã lót, sẽ phải bị thay không sớm thì muộn. Tôi không hề trở cờ, nhưng không tiếp tục dóng cao tiếng nói chống Cộng nữa.  Chính nghĩa là của chung, không phải của một vài người như tôi.  Tôi để mọi người tự nhận ra. 
  2. Tôi đã thay đổi.  Ngoài việc yêu thương Bố Mẹ (cả hai đã mất lâu rồi!), anh em, vợ con và chó mèo nuôi trong nhà, tôi bắt để ý và yêu thương chính bản thân của tôi hơn: quan tâm về vấn đề sức khỏe trong việc ăn uống, nghỉ ngơi, đi bộ mỗi ngày… (hàng tuần tôi cũng không quên mua vài đồng “lottery”  thử thời vận tuổi già !).  Sức khỏe của tôi dù không khá hơn, nhưng cũng không tệ hơn! That is a big improvement!?
  3. Tôi đã thay đổi.  Tôi không còn lên tiếng (qua Social Media) sửa sai bất cứ ai dù cho tôi thấy là họ đã sai rõ ràng (!)  Đối với tôi bây giờ, làm cho người khác toàn hảo hơn không phải là nhiệm vụ của tôi.  Tôi thấy sự hòa thuận còn quý hơn là sự toàn hảo. 
  4. Tôi đã thay đổi.  Tôi không ngớt và rất rộng rãi khen ngợi những thành quả lớn hay bé của mọi người thân quen chung quanh.  Cố gắng làm cho họ phấn khởi thêm và như thế cũng làm tôi vui hơn. 
  5. Tôi đã thay đổi. Tôi không còn tức giận hay nổi nóng khi có người nói xấu tôi vì họ tưởng tôi ganh đua vói họ.  Thực ra, tôi không còn sức lực để ganh đua với ai hết trơn hết trọi.  Tôi đã từ bỏ tất cả các ganh đua từ lâu rồi hè! 
  6. Tôi đã thay đổi. Tôi không quan tâm hay mắc cở về chuyện vẫn mặc quần áo cũ, mang giầy dép cũ, lái cái xe cũ (xe của tôi đã 12 tuổi và chạy trên 125 ngàn miles).  Tôi thấy tư cách quan trọng hơn là bề ngoài. 
  7. Tôi đã thay đổi. Tôi hoàn toàn tránh nhắc nhở người già về việc họ nói những câu chuyện mà tôi đã nghe họ nói nhiều lần rồi. Những câu chuyện lập lại như vậy giúp trí nhớ của họ sống động hơn, tránh được vấn đề lú lẩn. 
  8. Tôi đã thay đổi, Tôi không còn thấy xấu hổ hay giận hờn nếu có người nói là tôi sai. Sự sai lầm của tôi làm tôi thấy gần gũi với họ hơn (I feel more human!). 
  9. Tôi đã thay đổi.Tôi không còn mặc cả về 15-20 xu với các bà mẹ bán rau, trái cây trước các chợ Việt Nam. Vài chục xu không thể làm lủng ngân sách gia đình tôi, nhưng có thể giúp nhưng người nghèo buôn thúng bán bưng kiếm thêm chút bạc cắc nuôi gia đình. 
  10. Tôi đã thay đổi.Tôi cũng không còn thương lượng khắt khe, sát ván về giá cả “estimate” với các ông thợ sửa xe, thợ sửa ống nước… vì họ làm được những việc mà tôi không tự làm lấy một mình được. 
  11. Tôi đã thay đổi.Tôi cho “Tip” rộng rãi hơn tại nhà hàng ăn, tiệm hớt tóc… Tôi thấy họ cười nhận vui vẻ hơn và tôi hiểu rắng công việc của họ vất vả hơn đời sống của tôi. 
  12. Tôi đã thay đổi.Tôi nhận thấy cái tâm trạng “bị mất mặt” không quan trọng bằng chuyên phải “duy trì tình thân.”  Tôi không hề phải sống cô đơn. 
  13. Tôi đã thay đổi. Tôi đang sống những ngày còn lại như … “những ngày còn lại” – Những ngày rất quý báu của cuộc đời. 

  Ngày biến thành tuần lễ rồi thành tháng, thành năm… Thời gian tiếp tục thay đổi giống như tôi thay đổi.  Tôi cảm thấy cuộc sống của tôi thoải mái, hạnh phúc hơn với những thay đổi kịp thời này. 

  Quý vị có những thay đổi gì hay không nhỉ? 

    Trần Văn Giang 

Orange County, Oct. 6, 2022 

NGÔN NGỮ MIỀN NAM – Nguyễn Gia Việt

Van Pham

NGÔN NGỮ MIỀN NAM – Nguyễn Gia Việt

***

“Mèn Đét Ơi!” – Diễn Tả Kiểu Nam Kỳ

Người Nam Kỳ có nhiều cách diễn tả biểu cảm rất ngộ. Thí dụ như cần rốt ráo thẳng luôn, dứt khoát, không e ngại, chẳng lòng vòng thì kêu là “nói đại”, “làm đại”, “nói phứt cho rồi”.

Chữ đại trong Hán Việt có nghĩa là to lớn, nhưng qua miệng dân Nam Kỳ thành biến nghĩa qua nhanh, gọn, rốt ráo, không rào đón trước sau.

“Kinh xáng mới đào

Tàu Tây mới chạy

Thương thì thương đại

Đừng nghi đừng ngại

Bớ điệu chung tình”

Thương đại là thương liền đi, thương mau lẹ, thương nhanh đi, đừng chần chờ gì hết.

Đọc Hồ Biểu Chánh thấy hành động nhanh gọn còn diễn tả trong chữ “phứt”, phứt hoặc phức là chữ đệm thôi.

Thí dụ: thôi phứt cho rồi, nói phứt cho rồi, lãnh lương nên đem trả phứt cho dì, con đi phứt cho rồi, tôi muốn chết phứt cho rồi, mướn phứt một chiếc xe hơi, gả phứt nó cho rồi, xin từ chức phứt cho rồi,…

Phứt có nghĩa là liền đó đa, gả phứt là gả chồng cho con liền.

Mà nhớ nè, cha nào được gả phứt coi chừng rước đồ mắc dịch về nhà đó nghen.

“Bớ chiếc ghe sau, chèo mau anh đợi

Kẻo giông khói đèn bờ bụi tối tăm

Bờ bụi tối tăm, anh quơ nhằm cái tộ bể

Cưới vợ có chừ về thổi lửa queo râu.”

Người Nam Kỳ mô tả thơm tho bằng từ “thơm phức”.

Thơm phức là thơm dữ lắm, thơm lừng, thơm thất kinh. Hoa lá thơm phưc, dầu thơm phức, xà bông thơm phức, da thịt đờn bà cũng thơm phức.

– Mờ đạo nghĩa, ân tình, ân nghĩa, lòng dạ, tiết tháo cũng thơm phức.

– “Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo,thương vì hai chữ thiên dân.

– Cây nhang nghĩa khí thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ”

Ông Bình-nguyên Lộc thì cái trân quý nhứt của đời ông là ”thổ ngơi thơm phứt hồn ma cũ” của đất Sài Gòn.

Xin chép vài ba câu thơ của ông Bình-nguyên Lộc cho bà con Nam Kỳ mình ôn cố tri tân, đặng để lòng mà nhớ mà thương, rồi có thương mới có ý thức về xứ sở của mình.

“Ghe ơi, vài bữa ghe về

Nhắn người dưới ruộng, cô Quì còn không?

Mùi đất nước ruộng bùn phảng phất

Nhớ cố hương ngây ngất lòng sầu

Năm năm, bao cuộc bể dâu?

Phút giây in lại như hầu hôm qua”

Có thơm phức thì phải có đối nghịch nó, là thúi hoắc.

Có những người bề ngoài coi tốt đẹp, còn bề trong thì thúi hoắc. Nhơn cách mờ bị gán cho hai chữ “thúi hoắc” thì tiêu tán đường.

Lâu lâu về xóm, đụng ngay mấy bà “Tám”, ta nghe mấy bả la lên những tiếng vầy nè: “Mèn đét ơi! Mày trổ giò lớn xộn, giống thằng cha mày quá, cưới vợ được rồi đa”

Thống kê những tiếng “ngộ” đó như sau:

– Chèn đét ơi!

– Mèn đét ơi !

– Trèn đét ơi!

– Mèn ơi!

– Chèn ơi!

Chèn đéc quỷ thần thiên địa ôn hoàng hột vịt lộn ơi!

Bạn biết mèn đét hay chèn đét là chữ có nghĩa gì không? Đó là câu “Trời đất ơi!” đó.

Hiểu một cách nôm na thì những câu”chèn đét ơi!” là nói trại từ “Trời đất ơi !”, là một cách nói trại từ, nói kiêng, kỵ húy ông Trời, không dám kêu đích danh ông Trời.

Tim trong thư tịch Nam Kỳ xưa thời Phan Thanh Giản thì không thấy những chữ chèn ơi đó, trong văn Hồ Biểu Chánh cũng không thấy, ông Hồ Biểu Chánh viết câu kêu lên là “Trời ơi!”, thí dụ đoạn văn sau trong “Ông Cử”:

(Trích đoạn): “Cách một lát, một đứa trẻ ở dưới mé sông đi lên, tay lắc chuông leng keng, vai vác một tấm băng đỏ lói. Ði tới cái băng chỗ ông Cử và Ba Sang ngồi, đứa nhỏ ấy dựng tấm bảng một bên, rồi ngồi gần Ba Sang mà nghỉ chơn.

Ba Sang không biết chữ, không hiểu tờ giấy đỏ dán trên tấm bảng ấy nói chuyện gì, kêu vỗ vai thằng nhỏ mà hỏi: “Em rao bán giống gì vậy em?“

Thằng nhỏ cười đáp: “Trời ơi! Anh này quê quá! Bảng rao hát cải lương, chớ bảng giống gì! Anh không thấy hình đó sao? Hình đó là hình cô đào nhứt trong gánh, tối nay thủ vai Bàng Quý Phi cụp lắm“.

Ba Sang với lấy tấm bảng, cầm coi cái hình, khen cô đào xinh đẹp, rồi kêu ông Cử mượn đọc, coi những hàng chữ in trên đó nói cái giống gì vậy“. (Ông Cử, 1936)

Những câu “chèn ơi”, ”mèng đét ơi” xuất hiện ở Sài Gòn, ở Nam Kỳ những năm 1960, xuất phát từ những người Nam Kỳ miệt Lục Tỉnh Miền Tây bình dân chạy giặc về Sài Gòn, nó là tiếng lóng.

Trong văn Bình Nguyên Lộc ta không thấy những từ mèn đét ơi.

Bình Nguyên Lộc là nhà văn Nam Kỳ nhưng không rặc Nam kỳ như Hồ Biểu Chánh, trong văn ông này vẫn lộn chữ kiểu Bắc Kỳ, trong “Đò dọc” của Bình Nguyên Lộc ta tìm ra từ “gầy khô đét” kiểu Bắc, đáng lẽ ra là “Ốm khô queo khô quắt”.

Hồ Trường An là nhà văn xài “mèn đét ơi” nhiều nhứt.

Xin hãy đọc hai đoạn trích sau:

(Trích) “Mèn đéc ơi, thằng nhỏ coi giống hịt thằng Bảy Huỳnh Kim Báu quá trời quá đất!… Chèn ơi, nụ cười nó giống nụ cười tía nó quá chừng chừng!”

(Trích)” Trong những thửa ruộng sâm sấp nước, ốc bươu, ốc lác bắt đầu giao hoan, cua đồng bắt đầu sanh sản. Chèn ơi, giữa mùa mưa, chẳng những loại nghêu, sò, ốc, hến, cua, còng mài miệt giao hoan, xôn xao sanh sản mà lũ cá chài, cá úc, cá mè vinh trong sông cũng mê tơi kết trứng thụ tinh”

Miệng thì “mèng đéc ơi?” thì tay phải quơ, tay vỗ đùi đen đét, mắt phải biểu cảm mới ra cái nghĩa nha hôn, các bạn đạo diễn nhớ cái khúc này làm cho trúng à, không thì chớ có ra Nam Kỳ à.

Túm lại, mèn đét ơi đã thành di sản đặc trưng Nam Kỳ, nghe riết thành quen, nó để lại trong lòng người Nam Kỳ bao nhiêu cảm xúc, nghe thấy vui, xa thấy buồn. 

KHÔNG CẦN QUAN TÂM ĐẾN THỜI CUỘC

Hồng Ly SG

 17.10.2022

Bài viết của Luật sư Đặng Đình Mạnh viết từ năm 2017 đến nay vẫn còn nguyên giá trị:

KHÔNG CẦN QUAN TÂM ĐẾN THỜI CUỘC

——-//——-

Nếu bạn hỏi có cần quan tâm đến thời cuộc hay không, thì tôi có ngay câu trả lời là KHÔNG!

Nếu bạn vẫn ung dung trả 100.000 đồng đề mua xăng dù vẫn biết trong đấy chỉ có 45.000 đồng là giá xăng, nhưng có đến 55.000 đồng là thuế phí các loại, chưa kể đến yếu tố chúng ta là một quốc gia xuất khẩu dầu hỏa. Thì quả thật, tôi nghĩ bạn KHÔNG cần quan tâm đến thời cuộc.

Nếu bạn chấp nhận như lẽ đương nhiên khi con cái bạn rời ghế nhà trường mà không thể kiếm được việc làm, hoặc đi làm nhưng không thích ứng được với công việc vì sự đào tạo kém cỏi của hệ thống giáo dục. Thì quả thật, tôi nghĩ bạn KHÔNG cần quan tâm đến thời cuộc.

Nếu bạn cảm thấy là “hồng phúc của dân tộc” khi các chức vụ chính quyền cao cấp đều được trao cho những đứa trẻ ranh, bà con thân thuộc của lãnh đạo dù bất tài. Thì quả thật, tôi nghĩ bạn KHÔNG cần quan tâm đến thời cuộc.

Nếu bạn thản nhiên trước tình trạng cán bộ nhà nước ngày càng giàu có, sống xa hoa bất thường so với mức lương nhận lãnh. Thì quả thật, tôi nghĩ bạn KHÔNG cần quan tâm đến thời cuộc.

Nếu bạn thấy bình thường khi đã trả đủ loại thuế, phí cho cầu đường mà vẫn phải sử dụng những con đường xuống cấp ngay khi mới hoàn thành. Thì quả thật, tôi nghĩ bạn KHÔNG cần quan tâm đến thời cuộc.

Nếu bạn tin tưởng tuyệt đối vào thông tin một chiều mà không cần kiểm chứng, tìm hiểu về sự thật nào đang bị ẩn giấu đằng sau đó. Thì quả thật, tôi nghĩ bạn KHÔNG cần quan tâm đến thời cuộc.

Nếu bạn không cảm thấy đau xót trước những đoàn người dân oan mất nhà cửa, đất đai, ruộng vườn và cả công lý vì sự thao túng chính sách của những kẻ tham tàn. Thì quả thật, tôi nghĩ bạn KHÔNG cần quan tâm đến thời cuộc.

Nếu bạn không thắc mắc với mỗi lần thông báo tăng thuế để trả cho số nợ công ngày càng cao vì sự bất lực với tình trạng tham nhũng. Thì quả thật, tôi nghĩ bạn KHÔNG cần quan tâm đến thời cuộc.

Nếu bạn vẫn bàng quan với sự thua lỗ, thất thoát đến hàng trăm nghìn tỷ đồng của những công ty quốc doanh vứt tiền đóng thuế của bạn ra ngoài của sổ. Thì quả thật, tôi nghĩ bạn KHÔNG cần quan tâm đến thời cuộc.

Nếu bạn vẫn hồn nhiên hít thở không khí ô nhiễm, ăn thực phẩm bẩn và dùng nước nhiễm độc mà không cần biết đến nguyên do. Thì quả thật, tôi nghĩ bạn KHÔNG cần quan tâm đến thời cuộc.

Nếu bạn dửng dưng với lá phiếu cử tri của mình để bầu cử cho bất cứ ai mà người ta chọn sẵn cho bạn, dù bất tài, bất xứng. Thì quả thật, tôi nghĩ bạn KHÔNG cần quan tâm đến thời cuộc.

Nếu bạn không thấy xấu hổ khi thấy các quốc gia lân bang ngày càng thịnh vượng cho dù có xuất phát điểm kém hơn chúng ta. Thì quả thật, tôi nghĩ bạn KHÔNG cần quan tâm đến thời cuộc.

Nếu bạn không thấy xót xa khi lãnh thổ của cha ông để lại nay ngày càng teo tóp, ngoại bang thì ngày càng lộng hành trước sự luồn cúi hèn hạ của đám sai nha bán nước. Thì quả thật, tôi nghĩ bạn KHÔNG cần quan tâm đến thời cuộc.

Bạn thờ ơ, KHÔNG quan tâm đến thời cuộc, mọi sự với bạn thật nhẹ nhàng. Thế nên, tôi không thể không chúc mừng bạn và nhân thể, tôi phân ưu vì sự vô phúc của xứ sở này, không biết đến mức nào cho đủ.

2017

Manh Dang

(Tự đạo)

——-//——-

Ảnh minh họa từ nguồn internet

Phương Châm Sống Của Người Khôn Ngoan

Van Pham

GÓC SUY GẪM

Phương Châm Sống Của Người Khôn Ngoan

– “Ruồi chết vì mật ngọt. Đàn bà chết vì đàn ông khéo. Đàn ông chết vì đàn bà đẹp. Còn cha mẹ chết vì con bất hiếu.”

– Cuộc sống là sự cân bằng giữa cho đi và nhận lại.

– Đời người là một hợp đồng trọn gói. Niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc, khổ đau… Tất cả chỉ bán chung một gói, không thể mua riêng từng thứ được. (Trích: Trưởng thành sau ngàn lần tranh đấu).

– Trên đời này không có thứ gì dễ dàng đạt được cả. Mà nếu quá dễ dàng đạt được thì chúng ta lại không biết trân trọng.

– Khi cuộc sống dồn bạn vào bước đường cùng, đừng hỏi: tại sao là tôi? Mà hãy nói rằng: cứ thử tôi đi!

– Đừng để bất hòa nhỏ làm tổn thương mối quan hệ lớn.

– Cuộc sống cũng giống như đi xe đạp, nếu muốn thăng bằng bạn phải tiếp tục di chuyển.

– Sống là chính mình, bình thường nhưng không tầm thường.”

– “Nếu cơ hội không gõ cửa, hãy tạo ra một cánh cửa” – Milton Berle

Chỉ mất hai năm để học nói, nhưng phải mất cả đời để học cách im lặng.

– Cuộc sống vẫn vậy nếu nó lấy đi thứ gì của bạn, thì thế nào nó cũng bù lại cho bạn thứ khác, chỉ có điều là bạn có chịu đi tìm hay không.

– Nếu kẻ khác nói xấu bạn, phán xét bạn mặc dù không biết gì về bạn. Đừng buồn, hãy nhớ kỹ một điều: “Chó sủa khi gặp người lạ”.

– Đừng bao giờ dùng những lời nhẫn tâm làm tổn thương người yêu thương bạn, kể cả lúc tâm trạng của bạn đau khổ nhất.

– Sẽ có một ngày bạn nhận ra rằng, SỐNG LƯƠNG THIỆN còn khó hơn gấp bội phần SỐNG THÔNG MINH. Thông minh là trời cho, còn lương thiện là sự lựa chọn cách sống của bạn.

– Sự nghiệp không cần kinh thiên động địa, có thành tựu là được; tiền bạc không cần thừa thãi, dùng cả đời không hết, đủ tiêu là được; bạn bè không cần lúc nào cũng như hình với bóng, nhớ, nghĩ về nhau là được; con cái không cần nhiều hoặc ít, hiếu thuận là được; tuổi thọ không cần quá một trăm, sống khỏe mỗi ngày là được!

– “Những người thông minh và những người xinh đẹp đều mắc chung một tật: cứ tưởng như thế là mãi mãi.”

– Thứ không cần, có tốt, có đẹp đến đâu cũng là rác.

Sưu tầm