10 câu nói hay của người Do Thái

1. Một cốc nước sạch vì một giọt nước bẩn mà trở nên vẩn đục, nhưng một cốc nước đục không thể vì một giọt nước sạch mà trở nên tinh khiết.

2. Nếu bạn thực sự tài năng, thì bạn sẽ không sợ mình không có may mắn.

3. Đừng sợ đi chậm. Chỉ sợ đứng yên.

4. Trên đời không có sự phân biệt rõ ràng giữa bi kịch và hỉ kịch, nếu bạn có thể bước ra từ bi kịch, đó là hỉ kịch. Nếu bạn chìm đắm mãi trong hỉ kịch, đó là bi kịch.

5. Nếu không đọc sách, đi vạn dặm đường chẳng qua cũng chỉ là một người đưa thư.

6. Cái khuy áo đầu tiên sai, cái sau cùng khó mà chữa được.

7. Bạn bè thực sự không phải là những người có thể ngồi với nhau nói chuyện cả ngày không hết, mà là những người ngay cả khi chẳng nói với nhau câu nào vẫn không cảm thấy ngại ngùng.

8. Ngựa thường dễ bị khuỵu chân trên những con đường đất mềm, con người dễ ngã gục trong những lời đường mật.

9. Đừng sợ rằng bạn không biết một cái gì đó. Hãy sợ rằng bạn không chịu tìm hiểu về nó.

10. Thời gian tốt nhất để trồng cây là vào 20 năm trước. Thời gian tốt thứ hai là ngay bây giờ.

Hy vọng với 10 câu nói hay của người Do Thái trên có thể giúp bạn thay đổi và phát triển bản thân mỗi ngày, vượt qua mọi khó khăn trở ngại trong cuộc sống, để có một cuộc sống hạnh phúc và thành công hơn.

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Boeing bàn giao chiếc 747 cuối cùng

VOA Tiếng Việt

Boeing hôm 31/1 từ biệt một biểu tượng, giao chiếc máy bay khổng lồ 747 cuối cùng của mình trước sự chứng kiến của hàng nghìn công nhân đã giúp chế tạo những chiếc máy bay này trong 55 năm qua.

Kể từ chuyến bay đầu tiên vào năm 1969, chiếc 747 khổng lồ đã đóng vai trò là máy bay chở hàng, máy bay thương mại có khả năng chở gần 500 hành khách, phương tiện vận chuyển cho tàu con thoi của NASA và chuyên cơ Không lực Một cho tổng thống Hoa Kỳ. Nó đã cách mạng hóa việc đi lại, kết nối các thành phố quốc tế mà trước đây chưa từng có đường bay thẳng và giúp dân chủ hóa các chuyến bay chở khách.

Nhưng trong khoảng 15 năm qua, Boeing và đối thủ châu Âu Airbus đã giới thiệu những chiếc máy bay thân rộng hiệu quả hơn và tiết kiệm nhiên liệu hơn, chỉ có hai động cơ thay vì bốn động cơ của 747. Chiếc máy bay cuối cùng là chiếc thứ 1.574 được Boeing chế tạo ở vùng Puget Sound thuộc tiểu bang Washington.

Hàng nghìn công nhân hôm 31/1 đã cùng các giám đốc điều hành của Boeing cùng các ngành khác từ khắp nơi trên thế giới – cũng như diễn viên kiêm phi công John Travolta, người đã lái những chiếc 747 – tham dự một buổi lễ tại nhà máy lớn của công ty ở phía bắc Seattle, đánh dấu việc giao chiếc cuối cùng cho hàng chuyên chở hàng hóa Atlas Air.

Nhà phân tích hàng không lâu năm Richard Aboulafia nói: “Nếu bạn yêu thích công việc kinh doanh này, thì bạn đã từng sợ hãi khoảnh khắc này. Không ai muốn có một chiếc máy bay bốn động cơ nữa, nhưng điều đó không xóa bỏ những đóng góp to lớn của chiếc máy bay này cho sự phát triển của ngành công nghiệp hoặc di sản đặc biệt của nó”.

Hơn 50.000 công nhân Boeing đã mất chưa đầy 16 tháng để cho ra đời chiếc 747 đầu tiên — một nỗ lực phi thường khiến họ có biệt danh “Gia đình siêu nhân”. Việc sản xuất máy bay khổng lồ này đòi hỏi phải xây dựng một nhà máy lớn ở Everett, phía bắc Seattle – tòa nhà lớn nhất thế giới tính theo thể tích. Nhà máy thậm chí còn chưa xong khi những chiếc máy bay đầu tiên được hoàn thành.

Thân máy bay dài 225 foot (68,5 mét) và phần đuôi cao bằng một tòa nhà sáu tầng. Thiết kế của máy bay bao gồm một tầng thứ hai kéo dài từ buồng lái tới một phần ba đầu tiên của máy bay, tạo cho nó một cái bướu đặc biệt và truyền cảm hứng cho biệt danh Cá voi. Lãng mạn hơn, 747 được mệnh danh là Nữ hoàng bầu trời.

Một số hãng hàng không đã biến tầng thứ hai thành phòng phục vụ cocktail hạng nhất, trong khi ngay cả tầng dưới đôi khi cũng có phòng ngồi thưởng thức hoặc thậm chí là quầy bar chơi piano. Một chiếc 747 đã ngừng hoạt động, ban đầu được chế tạo cho Singapore Airlines vào năm 1976, đã được biến thành một khách sạn 33 phòng gần sân bay ở Stockholm.

Ông Guillaume de Syon, giáo sư lịch sử chuyên về hàng không tại Đại học Albright ở Pennsylvania, nhận xét: “Đó là chiếc máy bay thân rộng và lớn đầu tiên, vì vậy nó đặt ra một tiêu chuẩn mới cho các hãng hàng không để tìm ra những gì cần làm với nó và cách thức lấp đầy nó”.

Ông nói thêm: “Nó đã trở thành bản chất của du lịch hàng không đại chúng. Bạn không thể lấp đầy nó bằng những người trả giá đầy đủ, vì vậy bạn cần giảm giá để thu hút mọi người lên máy bay. Nó góp phần vào những gì đã xảy ra vào cuối những năm 1970 với việc bãi bỏ quy định về du lịch hàng không”.

Ông Aboulafia cho biết, chiếc 747 đầu tiên được đưa vào sử dụng vào năm 1970 trên chặng bay New York-London của Pan Am, và thời gian ra mắt thật tồi tệ. Nó ra mắt ngay trước cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, trong bối cảnh suy thoái kinh tế khiến số lượng việc làm của Boeing giảm từ 100.800 nhân viên vào năm 1967 xuống mức thấp nhất là 38.690 vào tháng 4 năm 1971.

Ông Aboulafia cho biết, một mẫu cập nhật — loạt 747-400 — xuất hiện vào cuối những năm 1980 và ra mắt vào thời điểm tốt hơn nhiều, trùng với thời kỳ bùng nổ kinh tế châu Á vào đầu những năm 1990. Ông đã bay trên chiếc 747 của hãng Cathay Pacific từ Los Angeles đến Hong Kong khi còn là khách tây ba lô ở độ tuổi 20 vào năm 1991.

“Ngay cả những người như tôi cũng có thể chu du châu Á”, ông Aboulafia nói. “Trước đây, bạn phải dừng lại để đổ nhiên liệu ở Alaska hoặc Hawaii và chi phí cao hơn rất nhiều. Đây là chuyến bay thẳng – và giá cả hợp lý”.

Delta là hãng hàng không cuối cùng của Hoa Kỳ sử dụng 747 cho các chuyến bay chở khách, vốn đã kết thúc vào năm 2017, mặc dù một số hãng hàng không quốc tế khác vẫn tiếp tục sử dụng loại máy bay này, bao gồm cả hãng hàng không Đức Lufthansa.

Giám đốc điều hành của Lufthansa, Carsten Spohr, nhớ lại việc bay trên chiếc 747 khi còn là một sinh viên trao đổi trẻ tuổi và nói rằng khi ông nhận ra rằng mình sẽ tới Bờ Tây Hoa Kỳ cho sự kiện hôm 31/1, thì chỉ có một cách duy nhất: đi khoang hạng nhất ở mũi của một chiếc Lufthansa 747 từ Frankfurt đến San Francisco. Ông hứa với đám đông rằng Lufthansa sẽ tiếp tục bay chiếc 747 trong nhiều năm tới. “Chúng tôi thực sự thích chiếc máy bay này”, ông nói.

Atlas Air đã đặt hàng bốn chiếc máy bay chở hàng 747-8 vào đầu năm ngoái, với chiếc cuối cùng – được trang trí bằng hình ảnh của Joe Sutter, kỹ sư giám sát nhóm thiết kế ban đầu của 747 – đã được giao vào ngày 31/1. Giám đốc điều hành của Atlas John Dietrich đã gọi 747 là chuyên cơ vận tải hàng không tuyệt vời nhất, một phần nhờ vào khả năng độc đáo là đưa hàng lên máy bay thông qua phần mũi có thể mở ra của máy bay này.

VOATIENGVIET.COM

Boeing bàn giao chiếc 747 cuối cùng

Phúc thật

Thahlinh.net

Tác giả:  Huệ Minh

Trong dịp đầu năm, chúng ta thường cầu chúc cho nhau 365 ngày hạnh phúc. Trong những bức thư, chúng ta thường nguyện ước cho nhau gặp nhiều may mắn, thế nhưng trái chín hạnh phúc vẫn ở ngoài tầm tay của chúng ta, vì cả chúng ta lẫn những người chung quanh không ai có đủ yêu thương và đủ quyền phép để thực hiện những điều mong ước. Bởi đó đau khổ vẫn chồng chất trong cuộc sống, đau khổ vì nghèo đói, vì bệnh tật, vì chết chóc. Đau khổ vì thất bại, vì chia ly, vì những cám dỗ đè nặng. Và hạnh phúc mãi mãi vẫn là một khát vọng chưa một lần nguôi ngoai.

Tất cả những gì mà người ta nghĩ là hạnh phúc thì Chúa Giêsu lại không nghĩ vậy, giáo huấn của Người hoàn toàn biệt lập về sự hạnh phúc là gì, làm thế nào và khi nào chúng ta đạt được hạnh phúc. Tất cả chúng ta đều đã nghe lời giáo huấn của Người nhưng có lẽ chúng ta hoàn toàn thất bại trong việc nắm bắt cho dù là một đặc tính duy nhất mà Chúa Giêsu đã tuyên bố.

Nhiều người ao ước được giàu có và danh tiếng như ông vua phần mềm máy tính này, thậm chí chỉ xin được bằng cái số lẻ của ông thì đã vô cùng hạnh phúc. Bởi vì “Có tiền mua tiên cũng được!” Hay như thời nay người ta thường nói:

“Đồng tiền là Tiên là Phật

Là sức bật của tuổi trẻ,

Là sức khỏe của tuổi già,

Là cái đà của danh vọng,

Là cái lọng che thân,

Là cán cân công lý,

Đồng tiền là hết ý”.

Nhưng Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu lại tuyên bố: “Hạnh phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó” (Mt 5,3). Hơn nữa, Người còn cho là hạnh phúc những ai hiền lành, sầu khổ, bị bách hại…

Giáo Hội gọi đó là Hiến Chương Nước Trời, nghĩa là chỉ những ai sống và thực thi những điều ấy mới được làm công dân của Nước Trời.

Với người không có niềm tin thì đó là một điều hết sức nghịch lý. Nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, bị bách hại… không thể mang lại hạnh phúc mà chỉ đem đến những bất hạnh thiệt thòi, khinh bỉ mà thôi.

Như vậy phải chăng Chúa Giêsu ngăn cản nền văn minh tiến bộ của nhân loại đang vươn tới hùng cường, thịnh vượng sao? Phải chăng Người ủng hộ cho hành động bóc lột và đàn áp? Hoàn toàn trái lại. Người đã nói: “Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Vì thế, làm môn đệ Đức Giêsu là phải xua đuổi nghèo nàn và lạc hậu khỏi thế giới này, là phải đẩy lui đau khổ và bất công xa rời con người. Đó là những vị khách không mời mà đến, và chúng ta phải có nhiệm vụ tống khứ chúng ra khỏi mái nhà của nhân loại. Đây là mục tiêu giải quyết của Kitô giáo, và cũng là trách nhiệm của mỗi người tín hữu chúng ta.

Thực ra, ai cũng biết rằng nghèo không đương nhiên là khổ, đã đành rằng nghèo và khổ thường đi đôi với nhau. Trái lại, giàu có cũng không tất nhiên đem lại hạnh phúc. Vấn đề hạnh phúc chủ yếu ở tại cái Tâm. Bởi thế các bậc thánh nhân, bằng những ngôn ngữ khác nhau, nhưng hầu như đều nhất trí trong việc đề cao đời sống tâm linh. Đó chính là lý do tại sao Chúa Giêsu đề cao tâm hồn nghèo khó, hiền hậu, dám chấp nhận đau hkổ, yêu thích sự chính trực, thương xót anh em đồng loại, trong sạch và xây dựng hoà bình.

Thực vậy, những đức tính trên đây là những đức tính người nghèo của Thiên Chúa, theo truyền thống Kinh Thánh. Người nghèo của Thiên Chúa không phải là người có đời sống vật chất khó khăn túng quẫn, mà là kẻ luôn tin tưởng phó thác nơi Chúa, biết sống cho Ngài và cho anh em đồng loại. Lấy Chúa làm gia nghiệp và luôn sống trong tình liên đới với anh em. Thực thi điều răn quan trọng nhất là mến Chúa và yêu người.

Nói theo tư tưởng Đông phương, thì hạnh phúc chủ yếu ở chỗ thực hiện được sự hoà điệu giữa lòng mình với lòng trời, giữa lòng mình với lòng người, nghĩa là sống cho hợp lòng người và lấy lòng trăm họ làm lòng mình.

Trong tám mối phúc thật, Chúa Giêsu cho thấy hạnh phúc của chúng ta tuỳ thuộc vào mối tương quan ba chiều giữa chúng ta với Thiên Chúa, và giữa chúng ta với anh em đồng loại.

Tận thẳm sâu của tâm hồn, ai cũng có nỗi khao khát cháy bỏng được sống hạnh phúc, ai cũng muốn người khác đem lại phúc lộc cho mình. Nhưng hạnh phúc đích thực chỉ đến với những người biết đem lại hạnh phúc cho kẻ khác, và hết lòng quảng đại với tha nhân. Chúa Giêsu đã dạy: “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35). Nhà truyền giáo Albert Schweiltzer quả quyết: “Người hạnh phúc nhất trong anh em là người đã tìm thấy con đường hiến thân phục vụ”.

Hạnh phúc đích thực không đo bằng của cải con người thu tích được, không tùy thuộc nơi những thành đạt mà họ có, cũng không đến từ danh vọng mà con người chiếm hữu, nhưng chính là do nơi họ biết hoàn toàn tín thác vào Chúa mà thôi. Sự giàu có đích thực là sự giàu có ở trái tim, không phải ở túi tiền.

Lối sống từ xa hoa đến phung phí của những đại công tử miền Nam xưa

Kimtrong Lam

Miền đất Nam Bộ có rất nhiều lịch sử được ghi nhận lại và hiển nhiên, có một phần không thể thiếu góp phần tạo nên sự phong phú của lịch sử chính là sự xuất hiện của những đại công tử nổi tiếng với lối ăn chơi phung phí bậc nhất….

Bay sang Thái “hóng mát”, Hắc Công Tử đốt 200.000 giạ lúa

Trần Trinh Huy (1900 – 1973) hay còn được gọi là Ba Huy – nổi tiếng là tay chơi khét tiếng phóng túng Sài Gòn và miền Nam. Ở Việt Nam của những năm thập niên 1930 – 1940 phải nói là không có đối thủ. Mức độ vung tiền tiêu xài của ông rất nổi danh, xếp hạng đầu bảng trong số các Công tử Bạc Liêu thời bấy giờ, đến nỗi khi nói đến thành ngữ “Công tử Bạc Liêu” người ta thường liên tưởng đến ông.

Thành ngữ “Công tử Bạc Liêu” ra đời từ những năm đầu thế kỷ 20, ở thời điểm mà thực dân Pháp đã ổn định về mặt tổ chức ở vùng đất Nam Kỳ. Ông Trần Trinh Trạch (cha của Trần Trinh Huy) trở nên giàu có từ việc chia ruộng và cho vay nặng lãi, ông xây dựng được mối quan hệ tốt cùng người Pháp nên được ưu tiên cho những mẫu đất tốt nên gia sản ngày càng nhiều. Mọi tay nhà giàu thời đó đều theo trào lưu cho con du học Pháp nhưng hầu hết các vị công tử đều bị ảnh hưởng bởi sự phồn hoa đô hội nên thường đi vào con đường tay chơi. Và hiển nhiên, chẳng ai có thể chơi lại những công tử Bạc Liêu, về sau, thành ngữ này lại được dành riêng cho Trần Trinh Huy vì chẳng có công tử nào sánh kịp về khả năng tài chính cùng độ phóng túng của vị công tử này.

Ngoài cái quý danh Công tử Bạc Liêu, Trần Trinh Huy còn mang nhiều tên khác như Ba Huy, Hội đồng Ba (cách gọi của tá điền, sự thật thì Ba Huy không là thành viên trong hội đồng nào), Hắc công tử (do nước da ngăm đen và để phân biệt với Bạch công tử). Cậu Ba Huy từng xin cha mẹ cho đi du học Pháp thay vì lên Sài Gòn học trường Tây, nhưng thay vì học hỏi kiến thức khoa học như cha mẹ kỳ vọng, cậu Huy lại chỉ thích học những thú ăn chơi ở phương Tây như lái máy bay, lái xe, nhảy đầm, tango…Ngày về nước, cha mẹ gặng hỏi con trai về bằng cấp đại học mà cậu đạt được sau ba năm thì cậu Ba Huy lại kể ra một người vợ Pháp và đứa con nhỏ được gửi lại Paris.

Ba Huy cũng là người rất cởi mở, không cổ hủ, cực đoan như nhiều điền chủ khác nên cậu khá được lòng mọi người. Với người Pháp, Ba Huy cũng rất sòng phẳng, đã hứa những gì thì sẽ làm thế ấy. Song song với bản tính phóng khoáng được người yêu mến thì Ba Huy lại có thói tiêu tiền như rác. Ba Huy được biết nhiều đến với lối sinh hoạt cực kỳ xa xỉ, luôn diện lên mình những bộ cánh đắt đỏ nhất, tham gia những bữa tiệc xa hoa nhất, ngồi trên những chiếc xe đẳng cấp nhất.

Mỗi lần từ Bạc Liêu đi Sài Gòn là ông ta ngồi trên chiếc xe cáu cạnh, có tài xế lái. Khi lên Sài Gòn ít khi Công tử Bạc Liêu ở ngôi biệt thự của Trần gia mà vào một trong những khách sạn nổi tiếng sang trọng ở Sài Gòn. Có khi hứng chí đi dạo mát Ba Huy thuê cả chục chiếc xe kéo, ông ta ngồi một chiếc, những chiếc còn lại chở những món đồ như mũ, kính, gậy.

Một sự kiện chấn động cả nước khi đó là Ba Huy đi thăm ruộng bằng máy bay. Ở thời điểm ấy, toàn Việt Nam chỉ có 2 chiếc, Ba Huy và vua Bảo Đại, nếu không tính máy bay của vua Bảo Đại là được trang bị riêng từ ngân khố quốc gia, thì Ba Huy chính là người Việt đầu tiên có máy bay riêng. Một lần bay qua thăm điền Rạch Giá, Công tử Bạc Liêu hứng chí tranh lái với phi công Pháp, bay ra biển Hà Tiên chơi, cứ bay mải miết cho đến khi kim báo xăng không còn nhiên liệu, buộc lòng Ba Huy phải đáp khẩn cấp. Xuống đất, Ba Huy hoảng hốt biết mình đã bay lọt sang tận nước Xiêm. Trần Trinh Huy bị Nhà nước Xiêm bắt giữ và phạt 200.000 giạ lúa. Báo hại ông Hội đồng Trạch phải chở một đoàn ghe chở lúa thật dài qua tận Xiêm để chuộc cậu quý tử về.

Còn nữa, Công tử Bạc Liêu vốn là người ham vui nên những cuộc chơi nổ trời không thể nào thiếu sự góp mặt của cậu. Trần Trinh Huy thường lặn ngụp trong những bàn tiệc với rượu sâm banh. Cứ mỗi chủ nhật ông đều đi nghỉ cuối tuần ở Vũng Tàu, Đà Lạt hoặc về Cần Thơ. Ngoài ra, Ba Huy còn là một kẻ mê cờ bạc, có lần ông tham gia đánh một cây bài lên đến 30.000 đồng, trong khi lúa chỉ 1,7 đồng một giạ và lương của Thống đốc Nam Kỳ thời đó còn chưa tới 3.000 đồng/tháng.

Bạch Công Tử lấy tiền làm củi để gỡ gạc thể diện

Bạch Công Tử tên thật là Lê Công Phước (1901 – 1950) – là một tay chơi nổi tiếng ở miền Nam những năm của thập niên 1920, 1930. Ông thường được gọi là George Phước, còn cái tên Bạch công tử là để phân biệt với Công tử Bạc Liêu Ba Huy.

Vốn là người rất mê cải lương nên thời gian du học tại Pháp, ông từng học ngành sân khấu. Khi về nước, ông hợp tác cùng với Nguyễn Ngọc Cương để lập ra gánh hát Phước Cương, tại đây quy tụ được nhiều đào kép nổi tiếng thời bấy giờ như Năm Phỉ, Tám Danh, Tám Mẹo… Nhưng chỉ một năm sau, George Phước tách ra và lập gánh Huỳnh Kỳ với sự tham gia của Phùng Há, Ba Vân, Năm Phỉ,… Theo nhiều tài liệu ghi nhận lại, đây cũng chính là gánh hát có quy mô lớn ở vùng Lục tỉnh Nam Kỳ và cô đào kép nổi tiếng Phùng Há là vợ của Bạch công tử.

Nếu Hắc công tử đốt hết số tiền của mình vào những thú chơi cá nhân để thể hiện bản thân thì Bạch công tử lại tỏ ra nho nhã hơn khi tiêu tốn rất nhiều tiền vì sự nghiệp cải lương. Thời đó những gánh hát khác đều đi bằng ghe chèo thì Bạch Công tử lại sắm một lúc tới 3 chiếc ghe có gắn máy dùng để chở đào kép đi lưu diễn và được trang bị như là du thuyền.Nhờ lưu diễn bằng ghe nên thời đó dù ở những vùng chợ quê xa xôi như Vĩnh Kim, Ba Dừa, Cái Thia… đều có gánh hát tới. Vì thế mà ông được xem là người có nhiều đóng góp cho nghệ thuật cải lương miền Nam khi đó, tạo điều kiện cho sân khấu cải lương phát triển. Tuy nhiên, đến năm 1930, do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, đời sống người dân hết sức khó khăn, nhiều gánh cải lương buộc phải giải tán, trong đó có gánh Huỳnh Kỳ. Khoảng 5 năm sau, Bạch Công tử cho tái lập lại nhưng không gây được tiếng vang. Vì vậy ông cho giải thể, chấm dứt sự nghiệp theo cải lương.

Ngoài được biết đến với gánh hát xa xỉ, câu chuyện đọ sức giữa ông cùng Hắc công tử cũng trở thành huyền thoại đất phương Nam. Đầu tiên là chuyện Bạch công tử mời Hắc công tử đến gánh hát của mình với ngụ ý khoe khoang. Trong lúc xem hát thì Bạch công tử vô tình làm rơi tờ 5 đồng khi móc túi lấy điếu thuốc lá, cậu đã cúi xuống tìm trong bóng tối. Thể hiện sự lịch thiệp của mình, Hắc công tử đã châm lửa đốt tờ 100 đồng, mượn ánh sáng để giúp “bạn” tìm tiền, khiến cho Bạch công tử bẽ mặt.

Với ý muốn “phục thù”, Bạch công tử đã thách thức Hắc công tử tham gia một cuộc thi “nấu đậu xanh”. Luật chơi vô cùng đơn giản, hai người thi nhau đốt tiền để nấu chín một kg đậu xanh, ai nấu chín trước thì thắng. Không rõ hai người đã đốt bao nhiêu cho cuộc chơi “điên khùng này nhưng kết quả Bạch Công Tử thắng.

Lúc còn hưng thịnh, Bạch công tử từng tuyên bố ông sẽ không bao giờ nhờ vả người khác, nên sau khi chia tay với Phùng Há, Bạch công từ ngày càng lún sâu vào nghiện ngập. Tài sản lần lượt bán hết, người ta thấy ông lang thang ở vườn Ông Thượng, mặc cho cơn nghiện và đói khát hành hạ, ông không hề ngửa tay xin xỏ hay nhờ vả ai. Đến cuối cùng lại mất trong cảnh nghèo túng.

Nhà công tử Bạc Liêu – Trần Trinh Huy

Công tử Đinh bỏ tiền mua vợ, công tử Điều tặng nhà cho “tình một đêm”…

Ngoài hai vị Hắc – Bạch công tử, thì còn rất nhiều vị công tử nổi tiếng ăn chơi lưu danh đất Nam Kỳ.

Tỷ như Trần Trinh Đinh – Một trong số những anh em của Hắc công tử, đây cũng là một tay chơi có hạng. Nắm trong tay cả một nhà máy xay xát lúa gạo lớn nhất Nam Bộ, nên tiền bạc đối với Đinh chẳng là cái thá gì cả. Đinh có thói quen khá lập dị khi diện xà rông đi khắp mọi nơi – đây là một trang phục truyền thống của người Khmer. Bắt nguồn cho việc này chắc phải kể đến chuyện Đinh cướp vợ của người tài xế, lần đó anh tài xế chở Đinh có dẫn theo một người vợ Khmer – nhan sắc của nàng vô cùng hấp dẫn, khiến cho Đinh như bị bỏ bùa, mê đắm đuối. Đinh đã mở miệng hỏi mua vợ của anh ta, điều này khiến cho anh ta vô cùng tức giận nhưng vẫn mở miệng ra một cái giá “trên trời” – tận 20.000 đồng. Thế mà Đinh vẫn chi trả thật và rước người đẹp về nhà, sống đến cuối đời.

Không kém những đồng bạn, công tử Điều lại nổi tiếng với thói chơi gái. Điều sẵn sàng chi trả cả trăm giạ lúa để có được một đêm trăng hoa cùng người đẹp thôn quê. Nhưng điều đặc biệt của công tử này là chỉ ân ái “một lần duy nhất”, dù cô gái đó có hấp dẫn đến đâu cũng sẽ không có lần thứ hai. Nổi tiếng nhất phải kể đến chuyện tình một đêm giữa công tử Điều và con gái ông Trần Thanh Bạch – Hoa khôi xứ Bạc Liêu thời ấy. Không chỉ có lúa, công tử còn hào phóng tặng cho người đẹp một khoản tiền đủ để xây một căn nhà rộng lớn. Nhưng vẫn giống với nhiều cô gái khác, Điều không bao giờ qua lại với nàng lần thứ hai.

Độ giàu nứt vách ở Bạc Liêu cùng với thói chơi ngông đến ngang tàn gọi tên công tử Cân – tên đầy đủ là Phan Kim Cân. Một lần cưỡi ngựa dạo chơi, Cân vô tình gặp được một cô gái xinh đẹp tuyệt trần ở phía bờ sông, chỉ một ánh nhìn đã khiến Cần bần thần cả người. Đến khi lấy lại tinh thần, Cần đã về nhà…mang súng và lái ca nô đến nhà nàng để “cướp người”. Cân không biết người mà cậu vừa “cướp” chính là cô con gái út trong nhà Bá hộ Bành Tòng Mậu – Một điền chủ lớn trong vùng. Bá hộ Mậu cho người đuổi theo để ngăn cản lại nhưng bất thành, đành lên báo quan rằng con gái của mình bị một tên lưu manh cướp đi. Câu chuyện ầm ĩ cả một vùng nhưng sau đó được giải quyết êm xuôi bởi khoản tiền bồi thường hậu hĩnh và thế lực lớn từ nhà công tử Cân. May mắn một điều nữa là cô nàng cuối cùng cũng đồng ý về ở với Cân và được công tử yêu thương chiều chuộng hết mực.

Mùa bình an

“Bà già khó chịu”. Ðó là biệt danh hàng xóm đặt cho bà. Bà biết hết chớ. Nhưng họ chỉ dám gọi sau lưng bà, nên bà cũng miễn chấp. Nguyên tắc sống của bà vẫn không thay đổi. Bà không muốn động chạm đến ai, và cũng không muốn ai động chạm đến mình.

Chiều muộn bà ra sân sau gom lá đốt. Ðang lơ mơ nhìn những sợi khói quyện bay theo gió, chợt bà phát giác ra cành cây thông nhà bên cạnh chĩa qua vườn nhà bà. Trời ơi, đáng lẽ bà phải thấy sớm hơn mới phải. Nhánh cây đã dài cả khúc rồi còn gì.

Bà ngó nghiêng qua sân nhà họ, không thấy chiếc xe nào. Chắc họ đi đâu đó chưa về. Thôi, để sáng mai nhắc nhở cũng chưa muộn.

Nghĩ là nghĩ vậy, nhưng suốt cả buổi tối bà cứ bồn chồn khó chịu. Sáng ra, nhác thấy bóng người trước thềm nhà hàng xóm, bà vội nhấc điện thoại than phiền:

– Ông bà xem tỉa giúp cành thông chìa qua nhà tôi nhé. Trái thông khô và lá rớt đầy cả góc sân nhà tôi đây nè. Phiền quá.

– Xin lỗi bà, tôi sẽ gọi người tới chặt ngay. Bên kia đầu dây, người hàng xóm nhã nhặn đáp. Nhưng bà đã kịp nghe thoáng tiếng thở dài rất nhẹ trước khi cúp máy.

Thật ra, khu phố bà đang ở, nhà nào cũng có khoảng vườn, việc cây cối chìa cành sang nhà bên cạnh, là lẽ thường. Riêng đối với bà, chuyện đó không bình thường chút nào. Vì nó “vi phạm” nguyên tắc của bà.

Ngay sáng hôm sau, chiếc xe cắt tỉa cây đã đến. Ðang hút bụi phòng khách, bà bỏ dở ra sân đứng canh chừng họ. Một người đứng trên thang dùng cưa máy để cắt cành cây, một người nắm sợi dây thừng chuẩn bị kéo cành về hướng an toàn. Ðộ rung của máy cưa làm lá và trái thông khô rớt tung toé. Bà lại gọi điện yêu cầu bên hàng xóm phải sang sân vườn bà quét dọn sạch sẽ “những tàn tích” đó.

Chưa kịp vào nhà, bà lại thấy hai chiếc xe bốn chỗ và một chiếc U- hall đỗ trước sân nhà hàng xóm bên trái. Nhiều người bước xuống, rồi khuân khuân vác vác. À, thì ra họ dọn nhà đến.

Chủ mới căn nhà là đôi vợ chồng trẻ và đứa con gái nhỏ. Còn có con chó nữa chứ. Ðã có trẻ con, còn thêm chó nữa! Thật phiền quá đi mất! Bà lẩm bẩm và đi vào nhà, không đáp lại lời chào niềm nở của cặp đôi hàng xóm mới.

Buổi trưa ngồi trong nhà nhìn ra ngoài, bà thấy con bé hàng xóm đang lúi húi nhặt những trái Lê rụng quanh gốc cây. Cây Lê này, khi vừa mới mua nhà, chính tay chồng bà đã trồng, vì ông biết bà rất thích ăn Lê. Mỗi mùa thu đến, bà chờ đợi cây đơm hoa kết trái, háo hức như trẻ con. Kể từ ngày chồng mất, bà không còn cảm giác đó nữa. Thậm chí, trái Lê chín vàng bị dơi ăn rồi rơi rớt đầy sân, bà cũng chẳng màng. Nhưng như thế, không có nghĩa là ai muốn lấy những trái Lê của bà cũng được. Nguyên tắc sống của bà vẫn bất đi bất dịch.

Bà nhủ thầm, khoan hẵng ra. Cứ đợi con bé đem Lê về, bà sẽ gọi điện mắng vốn nhà họ. Rằng, con nít cần phải được dạy dỗ cẩn thận, không được qua nhà hàng xóm lấy trộm. Rằng, cha mẹ cần phải trông nom con chặt chẽ….

Ô, lạ lùng chưa kìa. Con bé không ăn mà cũng không mang Lê về. Nó chạy đến bên thềm, đặt quả Lê xuống, rồi lại chạy đến gốc cây, nhặt quả Lê khác xếp ngay ngắn bên cạnh. Con chó cũng chạy theo nó, liếm mép và hít hít mũi vì mùi Lê thơm phức.

Một lúc sau, con bé dừng lại, vỗ vỗ đầu con chó và bảo:

– Về nhà thôi Pom. Ði chơi lâu mẹ la cho đấy.

Rồi Con bé vạch lỗ rào chui trở về nhà- Cái lỗ nhỏ xíu. Con chó cũng lách mình chui qua theo .

Bà mở cửa, bước ra. Một thoáng bần thần, bà cầm quả Lê lên tay.

Bây giờ thì bà biết tên con bé là Katy. Và con chó là Pom.

Ngày của bà bây giờ không đơn điệu nữa. Bà có cảm giác bồn chồn, hay nhìn ra sân. Mắt bà ánh lên tia sáng, khi thấy Katy và con chó Pom xuất hiện ở sân nhà.

Vừa chui ra khỏi lỗ rào, bao giờ con bé cũng cẩn thận giũ lại váy áo. Con chó Pom cũng lắc lư mình giũ giũ bộ lông xù.

Rồi hai đứa chạy đến gốc Lê. Katy vừa lúi húi nhặt trái, vừa dặn dò Pom:

– Không được ăn vụng nhé Pom.

– Lê của bà thơm quá phải không. Có thèm thì cũng không được ăn nhé.

Ừ, mùi lê chín thơm thật, nên Pom nhà ta cứ thè lưỡi liếm liếm mép.

Mấy ngày lễ, cả gia đình Katy đi vắng. Chắc họ lại có reunion ở đâu đó. Tự nhiên bà nghe buồn và cô đơn vô cùng. Lễ hội là thời gian vui vẻ, đoàn tụ của mọi người. Nhưng với bà, đó là khoảng thời gian sầu thảm nhất.

Tháng Mười Một, ngày chưa qua mà trời đã âm u. Một vạt mây xám che ngang bầu trời ảm đạm. Bà đứng khuất sau cây Lê, nhìn sang nhà đối diện. Ánh sáng lấp lánh từ những ngọn đèn treo ngoài mặt tiền lẫn những ngọn đèn rực rỡ từ bên trong hắt lên màu hạnh phúc. Tiếng nói cười vang lên tưởng chừng như có thể sưởi ấm cả không gian.

Gió thông thốc thổi những chiếc lá khô bay xạc xào quanh sân bà. Mắt bà thoáng cay cay.

Bà vào nhà, kéo rèm cửa sổ xuống và với tay bật điện. Ánh đèn vàng hắt bóng phủ một màu đìu hiu soi căn phòng cũ kỹ. Bà nhận ra một điều, ở ngôi nhà này, tất cả đều cũ kỹ và già nua theo năm tháng, giống như bà.

Bà ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế bành to, lấy quyển albums đã sờn đặt trên đùi. Tay bà run run vuốt ve từng tấm ảnh. Ðây là hình của Paul mặc quân phục khi còn chiến đấu ở Việt Nam. Ðây là ảnh cưới của ông bà. Ðây là…

Không biết duyên nợ gì mà ông bà gặp rồi yêu nhau. Bà đã chấp nhận làm vợ ông, để theo ông về đất nước xa lạ cách quê hương bà một bờ đại dương thăm thẳm.

Hai người đã sống những tháng ngày hạnh phúc, cho dù không có con cái, vì ông bị ung thư. Thân thể to cao vạm vỡ như cây tùng cây bách của ông bị gặm nhấm từng ngày. Xót xa bà nắm lấy bàn tay gầy guộc của chồng và bất lực nhìn ông trút hơi thở cuối cùng trong đau đớn.

Bà đã ngất đi không biết bao nhiêu lần trước thi thể bất động của chồng. Cũng không biết bao nhiêu lần, bà ngước nhìn trời cao, oán trách Thượng đế sao quá bất công với bà.

Từ cái chết của ông, bà sống khép kín. Nụ cười tắt trên đôi môi. Người phụ nữ có mái tóc dài đen nhánh, suốt ngày ca hát ríu rít như chim không còn nữa. Bà chẳng buồn giao tiếp với ai, nhốt mình trong ngôi nhà bằn bặt tiếng nói cười. Lẳng lặng bà đi ra đi vào một bóng. Nỗi đau khổ không vơi, mà chồng chất với thời gian, khi chỗ nào cũng phảng phất hình bóng của ông.

Ðêm im ắng. Có thể nghe được tiếng dơi vỗ cánh chao chát và tiếng gió rít lùa qua những cành khô.

Ðồng hồ gõ từng nhịp uể oải. Khuya lắm rồi mà bà vẫn còn chong mắt.

Những trái Lê bà đã nhặt để đầy chiếc rổ nhỏ trên bàn. Bà nhủ lòng, khi Katy về, bà sẽ cho con bé. Lâu lắm rồi, bà mới có cảm giác mong ngóng một ai đó.

Vừa chui qua cái lỗ nhỏ, Katy đứng thẳng lên giũ lại chiếc váy ren hồng. Xong, con bé chạy vội đến gốc cây Lê. Nhưng, ơ kìa, sao không có trái Lê nào hết vậy. Con bé ngơ ngác nhìn lên cây rồi lại nghiêng nghiêng người nhìn chung quanh. Ðôi mắt xanh biếc ngạc nhiên tròn xoe như hai hòn bi ve.

Bà bước ra. Tiếng cửa mở làm Katy giật mình. Pom sủa lên một tiếng, rồi im ngay, khi con bé đưa ngón tay lên môi suỵt suỵt.

Bà nói :

– Lúc cháu đi vắng, bà đã nhặt hết trái rồi.

Con bé tiu nghỉu:

– Thôi cháu về vậy.

– Khoan đã, đợi bà một chút.

Bà trở ra với rổ trái cây:

– Katy mang về mà ăn này.

Ðôi mắt xanh biếc lại mở to:

– Sao bà biết cháu tên là Katy? Cháu còn chưa quen bà mà.

– Ừ, bà còn biết con chó của cháu tên là Pom nữa kìa. Bà cũng biết cả việc hai đứa rất thích Lê, nhưng chưa bao giờ ăn vụng Lê của bà.

Hai bím tóc đung đưa khi con bé gật gù:

– Dạ, mẹ bảo ăn vụng của người khác là xấu lắm.

– Cháu ngoan lắm. Mai lại sang nhặt lê giúp bà nhé.

Khi mở cổng rào cho Katy và Pom, bà dặn dò:

– Muốn sang nhà bà thì đi bằng lối này. Ðừng chui qua lỗ rào, kẻo bị gai đâm xước đấy.

Vừa chạy vào nhà, Katy vừa gọi mẹ:

– Mẹ ơi, Mẹ ơi !

Con Pom phóng theo Katy, sủa gâu gâu inh ỏi, như muốn nói, con cũng về rồi nè mẹ ơi !

Ðang dở tay gói quà chuẩn bị cho người thân trong dịp Lễ Giáng Sinh và New Year, Megan giật mình ngước lên :

– Ở đâu mà con có nhiều lê thế?

Katy khệ nệ giơ rổ lê ra phía trước, liến thoắng:

– Là của bà cho con đó.

– Của bà à? Megan ngạc nhiên hỏi lại. Chuyện này là thế nào.

– Thật mà, mẹ. Katy cười tươi, quả quyết.

Megan áy náy nhìn vào gương mặt rạng rỡ của con:

– Con không được sang nhà bà nữa, nghe không?

– Ứ…Bà tốt lắm. Con thích bà lắm.

Megan nghiêm nghị:

– Không được cãi. Mẹ đã bảo không là không.

Không dưng bị mẹ la, Katy phụng phịu chực khóc. Con bé mếu máo trông thật tội nghiệp.

Megan nhẹ nhàng kéo con vào lòng. Cô không thể nói cho con bé nghe về Cái “bà già khó chịu” mà cả xóm đều không muốn dây vướng để tránh phiền hà. Cái “bà già khó chịu” mà cô đã cảm nhận ngay ngày đầu tiên dọn đến đây với cái quay ngoắt bất lịch sự khi cô lên tiếng chào hỏi. Với cô, hàng xóm là một điều rất quan trọng. Nếu sớm biết mình sẽ là láng giềng của “bà già khó chịu”, chắc gì cô quyết định mua ngôi nhà này, cho dù cô rất ưng ý nó.

Thôi thì đành cấm con bé vậy. Ðâu biết chuyện gì sẽ xảy ra …

Nhớ lời mẹ dặn, Katy không dám qua nhà bà, mà chỉ quanh quẩn trong sân nhà. Chốc chốc, con bé len lén nhìn những quả Lê chín vàng trên cây, rồi lại cụp mắt xuống. Con Pom chắc cũng nhớ mùi thơm những quả Lê, nên cứ cắn gấu váy của Katy mà kéo ra cổng.

Giằng co mấy lần như thế, Katy đành chịu thua con Pom. Cả hai đứa chạy ù sang nhà bà.

Vừa nhác thấy bóng Katy và con chó Pom, bà vội bước ra ngoài. Con bé hớn hở chào bà, rồi chạy đến gốc cây nhặt lê. Bà gom những quả lê, rửa sạch, lấy dao gọt vỏ, cắt ra đặt vào đĩa, gọi:

– Katy lại ăn Lê với bà này.

Con bé cầm lấy miếng Lê, cảm ơn bà và không quên xin phần cho con Pom:

– Bà ơi, bà cho con Pom ăn nữa nhé.

Bà gật đầu :

– Ừ, cho con Pom ăn nữa.

Lần đầu tiên được ăn lê của bà, con Pom sướng lắm, ngoe nguẩy đuôi mãi.

Ba bà cháu cùng ăn Lê với nhau thật vui vẻ. Vị lê ngọt mát tan trong miệng bà. Ðã bao nhiêu năm rồi, ngôi nhà mới vang ấm tiếng con người.

Hôm nay Katy chẳng thấy bà đâu. Con bé nhặt Lê xong rồi, mà vẫn không thấy bóng bà. Chần chừ một chút, Katy đành quay về. Con Pom cũng lẽo đẽo theo Katy. Hai đứa buồn xo vì không gặp bà và không được ăn Lê.

Ngày hôm sau, Katy lại dẫn con Pom sang. Con bé ngạc nhiên thấy những quả Lê hôm qua còn xếp ngay ngắn trên thềm. Sao bà không cất đi? Nhìn thấy cửa sổ mở, Katy nhón chân nhìn vào. Không thấy bà, con bé lên tiếng gọi:

– Bà ơi!

Con Pom cũng sủa gọi bà gâu gâu gâu một tràng dài.

Nhưng bà vẫn không ra.

Lạ lùng chưa.

Katy lại nhón chân gọi to hơn:

– Bà ơi, bà ơi!

Con Pom hít hít mũi như nghe thấy gì. Nó dùng chân cào cào tường và sủa lớn.

Trong nhà, nghe loáng thoáng tiếng Katy và tiếng sủa giật giọng của con Pom, Megan vội chạy ra. Nhìn sang sân hàng xóm, thấy hai đứa, cô hết hồn la lên:

– Katy về ngay.

Con bé hớt hải chạy về, níu tay cô:

– Mẹ ơi, mẹ sang gọi bà đi.

Megan giận lắm:

– Bây giờ còn muốn mẹ sang đó nữa hả? Ði vào nhà mau.

Con bé mếu máo theo sau mẹ, nhưng vẫn không chịu thôi, cứ nằng nặc xin mẹ sang gọi bà. Megan nén giận, hỏi lần hồi mọi chuyện. Thì ra, con bé vẫn lén mẹ sang chơi nhà hàng xóm. Hai bên bà cháu thân thiết nhau lắm. Nhưng từ hôm qua con bé không thấy bà. Hôm nay con bé và con Pom nháo nhào như vậy, mà bà vẫn không ra. Sực nhớ bà ấy ở một mình, cô cũng thấy lo. Nhưng cô cũng không dám tự ý vào nhà đó.

Megan đi sang nhà đối diện xin số điện thoại của bà. Khi đưa cho cô số, họ thắc mắc hỏi:

– Cô lại có chuyện gì với “bà già khó chịu” đó à?

Megan kể chuyện cho họ nghe. Mọi người cùng tán thành việc gọi điện cho bà ấy.

Chuông điện thoại gióng lên từng hồi, mà không có ai bắt máy. Bây giờ mọi người thật sự lo lắng:

– Chắc có chuyện gì rồi.

– Phải gọi báo cho 911 thôi.

Các nhà đối diện và lân cận đều tập trung trước cửa nhà bà. Lúc này mọi người không còn nhớ đến những phiền hà bà đã gây cho họ. Tất cả đều chung một tâm trạng thắc thỏm.

Xe cảnh sát trờ đến. Mọi người dạt sang một bên. Nhân viên cảnh sát phá cửa nhà xông vào. Họ tìm thấy bà đang trong tình trạng mê man.

Một lúc sau, xe cấp cứu chạy đến. Người ta khiêng bà lên xe đưa vào bệnh viện.

Sau ba ngày hôn mê, bà tỉnh lại. Bác sĩ quyết định chuyển bà sang khoa nội để theo dõi.

Từ giường bệnh, bà có thể nhìn thấy bầu trời ngoài kia. Vẫn với màu mây xám mênh mang, nhưng bà không cảm thấy buồn man mác như những cuối ngày ngồi trong nhà nhìn ra khoảng sân nhà hiu quạnh.

Có vài người hàng xóm đến thăm bà mang theo lời nhắn gửi của những người hàng xóm khác. Megan, mẹ của Katy cũng đến. Cô ấy bảo đã hết mùa Lê, mà Katy biết bà thích ăn Lê lắm, nên con bé cứ nằng nặc đòi mẹ phải đi chợ mua Lê vào cho bà.

Bà cảm thấy ấm áp vô cùng. Sự ấm áp tràn ngập cả tâm hồn, mà không có một loại máy sưởi nào làm được. Ðó là sự quan tâm, là tình người.

Bao nhiêu năm nay bà đã hoang phí đời mình trong những dằng dặc buồn phiền, khắt khe và ích kỷ. Chưa lần nào bà mở lòng ra với mọi người. Lần này ra viện, trở về, bà chắc chắn sẽ sống khác.

Megan giúp bà làm thủ tục xuất viện.

Khi xe vừa dừng lại trước nhà, vài người hàng xóm trông thấy, chạy ra đón bà.

Những ngày vắng bà, mọi người đã ngồi lại trao đổi với nhau. Ai cũng cảm thấy áy náy, vì chỉ muốn xa lánh bà để tránh phiền hà, mà không hiểu được sự cô đơn của bà. Nếu hôm nọ không có Katy và con chó nhỏ, chắc gì mọi người đã phát giác để kịp đưa bà đi cấp cứu.

Cuộc sống thật phù du. Cuối đời người có mang được gì qua thế giới bên kia. Sao không mở lòng ra với nhau khi mình còn có thể.

Peter, chủ nhà đối diện, lúc này mới nhìn thấy sự đối nghịch của hai nhà. Bên này sân, là đèn hoa rực rỡ. Bên kia là ngôi nhà rêu phong ẩm mốc. Anh quyết định giăng đèn phía mặt tiền và mua vòng hoa đỏ treo trước cửa nhà bà.

Nhà hàng xóm có nhánh thông chìa qua nhà bà lúc trước, cũng mua những chậu cây trạng nguyên đỏ thắm đặt trước thềm nhà bà.

Mọi người còn bàn nhau sẽ mở một “block party” vào dịp Giáng sinh và Năm mới này. Ðây cũng là dịp để hàng xóm gần gũi, cảm thông nhau hơn.

Bà bước xuống xe, bỡ ngỡ nhìn ngôi nhà rồi nhìn mọi người chung quanh. Mắt bà rưng rưng vì cảm động. Câu cảm ơn run run trên môi không thốt thành lời.

Katy chen mọi người để được nắm lấy tay bà. Con bé cười toe toét bày hàm răng vừa rụng mất một chiếc hôm qua.

Con Pom cũng cố luồn lách qua chân mọi người. Giây phút quan trọng thế này làm sao thiếu được sự hiện diện của nó.

______

Cờ bạc

Cờ bạc và lễ hội là một trong những đặc thù của nền văn hóa cổ truyền Việt Nam. Xã hội cổ Việt Nam xây dựng trên căn bản nông nghiệp. Người dân Việt, qua lịch sử, làm lụng rất chăm chỉ, vất vả và lam lũ. Công việc đồng áng mỗi ngày bắt đầu từ sáng sớm trước khi mặt trời mọc và chỉ ngừng lúc tối mịt không còn thấy gì cả; chứ không phài như thời buổi bây giờ chỉ làm 8 tiếng một ngày và 40 tiếng một tuần. Tết nhất, lễ hội là lúc duy nhất để nghỉ ngơi, xem hội, giải trí và… đánh bạc.

Tại Việt Nam, ngoại trừ một thời gian ngắn dưới thời kỳ Pháp đô hộ, tổ chức cờ bạc quy mô do tư nhân đề xướng, như sòng bài chẳng hạn, vẫn còn được xem là bất hợp pháp và bị cấm. Tuy nhiên, trong những ngày tết, ngày hội, dân chúng, và ngay cả trẻ con, được phép tha hồ vui chơi, đỏ đen. Người lớn thì đua thuyền, đấu vật, tổ tôm, tam cúc, tứ sắc, xóc đĩa, tài bàn, xì phé, xì dzách (bài 21)… Trẻ con thì đánh đáo, lắc bầu-cua-cá-cọp … Nhưng ngay sau ngày tết, ngày lễ hội, người thắng, người thua, nam phụ lão ấu đều trở về lại với công việc hàng ngày; và chờ mong ngày lễ hội kế đến. Cờ bạc không hề là một vấn đề kinh tế hay xã hội gì mà dân Việt phải quan tâm. Mọi người đều hoan hỉ, vui thú!

Ngày hôm nay, nhất là ở hải ngoại, bộ mặt của cờ bạc đã thay đổi toàn diện từ hình thức cho đến kích thước. Mỗi ngày, chứ không phải chờ đến dịp lễ hội, chúng ta nhìn và cảm thấy chuyện cờ bạc đỏ đen diễn ra từ phải qua trái: xổ số, keno, bingo, thẻ cạo (scratchers), số đề, cá độ thể thao, đua ngựa, cờ bạc trên mạng … và ngay cả chơi “stocks” trên thị trường chứng khoán.

Cờ bạc bây giờ đã biến thành một cơn bệnh xã hội. Nó diễn tiến từ từ qua nhiều giai đoạn. Cờ bạc không còn là cơ hội để mọi người có dịp “vui chơi, xả hơi” như ngày xưa; mà có thể là một “cơ hội” sẵn sàng phá hủy người đánh bạc một cách toàn diện; gây khổ lụy cho những người có liên hệ trực tiếp với cá nhân đánh bạc như: vợ, chồng, con cái, bố mẹ v..v.. Cơn ghiền đánh bạc có thể là cấp tính, mãn tính… tùy từng cá nhân và hoàn cảnh.

Sự tiến triển của bệnh ghiền cờ bạc khởi đầu từ một chuyện nhỏ, một cái thú thật đơn giản, chẳng hạn như là: may mắn thắng được một món tiền nhỏ. Cái may mắn đó có thể tái diễn thêm một vài lần. Sự tai hại của vài lần thắng “nhỏ” này là nó làm cho người thắng cảm thấy lạc quan một cách quá đáng vô căn cứ, háo hức và đi đến tham lam; muốn thắng lớn hơn. Chuyện nhỏ này cũng có thể bắt đầu từ một cái thua nhỏ. Người thua muốn gỡ lấy lại số tiền đã mất. Cả hai sự việc thắng nhỏ và thua nhỏ vừa kể sẽ dần dà đưa đẩy đến giai đoạn cuối gọi là “giai đoạn tuyệt vọng.”

Người ghiền cờ bạc càng lúc càng tự ý gia tăng thêm thời gian đánh bạc, cũng như số tiền để đánh bạc. Thua lớn, quay ra đổ thừa, đổ lỗi vớ vẩn cho những người thân vô tội chung quanh chẳng hạn như: “Con vợ mình số nó xúi quẩy quá!” hoặc “Thằng con mình nhìn mặt mũi nó sao hãm tài quá!” Thật ra, chính ngay bản thân mình là kẻ xấu xí, ngu xi, vô duyên, lảng xẹc mà mình đâu có thời giờ soi gương để mà biết mình đã biến thành thứ động vật gì? Ở cuối giai đoạn tuỵêt vọng này, một vở bi kịch đang chờ sẵn để mở màn: Mất việc, ly dị, nghiền rượu, nghiền ma túy, bị tù và… có thể đi đến tự vận.

Một người ghiền cờ bạc làm tổn thương, thiệt hại trầm trọng cả đến gia đình, nghề nghiệp và cộng đồng. Thời giờ dùng để chăm sóc gia đình đã ít, lại còn tìm mọi cách ăn cắp tiền, hoặc bớt số tiền cấp dưỡng, của thân nhân để đem đi đánh bạc. Trong công sở làm, thì không thể tập trung vào việc làm được [đã thua vài ngàn đô la đêm hôm qua, thì sáng nay còn tâm địa đâu để làm việc 15 đô la một giờ? Dùng thời giờ làm việc, thay vì để sản xuất, để nghĩ ra cách ăn cắp, thụt két, biển thủ, thâm thủng ngân sách của nhà nước hoặc của hãng, xưởng, công ty để lấy tiền gỡ thua bạc.

Người đánh bạc sẽ mơ uớc: “mơ ước may mắn được thắng lớn, trúng độc đắc…” Nhưng mơ ước vẫn chỉ là cái mơ ước không bao giờ thành sự thật. Thật đơn giản, chỉ có một định luật duy nhất là: “Làm việc chăm chỉ thì sẽ may ra gặp may mắn mà thôi!”

Con người vốn dĩ bản tính ham vui. Có ai là người không thích vui? Ai bảo đánh bạc không vui? Nhưng rất khó mà giữ, củng cố được cái cái vị trí gọi là “chỉ đánh bạc cho vui thôi!” Bởi vì cái ranh giới giữa “cho vui” và “cho tận mạng” chỉ là một khỏang cách rất ngắn. “Đánh bạc cho vui” luôn luôn là bước đầu để đi đến những thảm trạng, những đổ vỡ của cuộc đời. Nếu chỉ mới là “bệnh” thôi thì còn hy vọng may ra còn chữa trị được. Một khi cờ bạc đã biến thành “tật” rồi thì xong phim, hết thuốc chữa!

Kể từ cái vui lành mạnh của ngày sinh nhật: “Nhân dịp kỷ niệm này, mình làm một chuyến đi Las Vegas cho vui!” Thật là thích thú. Ba tuần sau là kỷ niệm ngày đám cưới được 5 năm: “Làm một chuyến Vegas nữa!” Tiếp đến, hai tuần sau cái ngày “kỷ niệm 5 năm” đó, không tìm được “kỷ niệm” nào gọi là ra hồn để lấy cớ trở lại Las Vegas; bèn tự phát minh ra một lý do mới toanh thật tài tình: “Làm thêm một chuyến Vegas, vì xe mới vừa ‘tuned-up’ xong!” Sau đó là hàng loạt những lý do không tên, khôi hài, chẳng hạn “Đi Las Vegas vì xe vừa thay nhớt xong!” “Vừa lãnh tiền của hội tương tế trả về việc chôn cất ông gìa xong!!!” Cuối cùng… rồi mặc dù chẳng có lý do nào cả; nhưng vẫn phải đi “Vegas” cho bằng được. Không đi chịu không được! Sẽ có chuyện lớn chứ không đùa đâu à!!!

“Ê ! Đời là một canh bạc mà !” theo như lý luận của một tay ghiền cờ bạc hết thuốc chữa, “Mà nếu mình có thua hết đi nữa, thì mình có mất cái gì đâu (?!) Mình từ Việt Nam qua đây trên răng dưới dép (!?) Vượt biển nhịn đói nhịn khát 10 ngày còn chưa chết; làm sao có thể chết ở xòng bạc được!?” Thưa quý vị, xin quý vị chờ một tí, đừng vội lạc quan và nghe theo lời của me-xừ “lu dzơ” này nhé! Chuyện là vào khoảng 1995-96 tôi thất nghiệp lâu quá, tôi phải bỏ Orange County, mò mẫm lên tìm việc ở San Jose đúng và lúc xòng bài “Bay-101” mới khai trương.

Xòng bài mở 24/7 [có nghĩa là 24 tiếng mỗi ngày và 7 ngày một tuần] cho dân Mít tha hồ náo nức xếp hàng nộp tiền. Một bố Mít đánh hăng quá kiệt sức, rồi vào chết ngồi ở trong “bathroom” từ hồi nào không ai hay? Nhân viên quét dọn “bathroom” của xòng bài phát giác ra – đây là chuyện có thật “một chăm phần chăm,” có đăng báo “The Mercury News” của vùng Vịnh [Bay Area] – San Jose hẳn hoi, không phải chuyện bịa đặt nói xấu dân Mít!

Dần dà, người đánh bạc không còn vui nữa; mà bắt đầu hơi buồn buồn; đến thật là buồn… Chuyến đánh bạc lần này là để giải cái buồn của tuần trước …và cứ thế mà tái tục. Cờ bạc đã trở thành bệnh rồi mà không hay? Cơn bệnh cờ bạc này còn gây cho người mang bệnh một cái “biến chứng phụ” nữa: đó là bệnh nói dối. Người đánh bạc luôn luôn có khuynh hướng thổi phồng số tiền và số lần thắng; đồng thời cũng dấu nhẹm các lần thua đậm!

Bác Sĩ Richard Rosenthal một nhà nghiên cứu về vấn đề “ghiền cờ bạc” đã vạch ra 3 lý do chính làm cho một người bình thường trở thành nghiền cờ bạc:

Tự lừa dối mình là chỉ đánh bạc cho vui

Đang ở trong tình trạng trầm cảm (“depressed”), chán nản, cảm thấy mình vô dụng

Sống trong [hay ở gần] khung cảnh, môi trương cờ bạc.

Cờ bạc vì di truyền cũng được đề cập tới. Nhưng liên hệ này chưa được chứng minh rõ ràng.

Ngoài việc làm suy giảm sức sản xuất, cờ bạc còn làm thâm thủng tín dụng (“credits”) mỗi năm cả bạc tỷ. Thống kê cho thấy cứ trong 3 người ghiền cờ bạc thì có 2 người sẽ phạm pháp (để lấy tiền trả nợ!) Vấn đề phạm pháp dĩ nhiên còn gây gánh nặng cho luật pháp, nhà tù. Các thiệt hại và phạm pháp ghi nhận được như là:

Mất việc làm.

Nợ nần, phá sản.

Biển thủ, lường gạt, gian lận.

Tù.

Sức khỏe suy kém, tâm thần bất ổn…

Thử lấy California làm thí dụ. Theo thống kê của năm 2000 (?), California có 12% dân số là Á châu. Thế mà 40% số người vào xòng bài (ở California) là dân Á châu đầu đen – trong đó dân Mít mình chiếm con số không nhỏ. Thật ra, không cần phải tìm đọc các bản báo cáo, thăm dò của các cơ quan khảo cứu – chỉ cần nhìn là đủ. Không kể gì gìa hay trẻ, đàn ông hay đàn bà, người Việt của mình thích cờ bạc! Đó không phải là chuyện bí mật quốc phòng hay là an ninh quốc gia cái con khỉ gì cả! Nói thẳng ra là có rất nhiều chủ gia đình Việt Nam mình ghiền cờ bạc. Và gia đình của chính những người ghiền cờ bạc này bị ảnh hưởng nặng nề nhất: Sự đe dọa của chủ nợ, hạnh phúc sứt mẻ, con cái bị bỏ rơi… Tội nghiệp nhất là con cái của họ.

Các chuyên gia về “bệnh ghiền cờ bạc” gọi chúng là “Casino Kids.” Đó là đám trẻ con bị bỏ lăn lóc, thiếu chăm sóc, thiếu ăn, thiếu uống, thiếu ngủ, thiếu tiện nghi, nằm ngồi trong các xe đậu tại các bãi đậu xe; hoặc lang thang một cách nguy hiểm loanh quanh các “casinos,” xòng bài vì luật lệ không phép chúng tháp tùng bố mẹ đi vào bên trong xòng bài. Phải lấy làm lạ là họ có thể đặt một cây bài vài trăm đô la; nhưng không dám mướn phòng để ở qua đêm chỉ tốn vài chục đô la! Đây là một phương trình không giải được!

Hãy mặc kệ các lời quảng cáo mời mọc hoa mỹ của các xòng bài. Tạm quên các chuyến xe “Bus” chở miễn phí mà còn cho thêm tiền túi đến các xòng bài. Chúng ta nên nhớ một điều luôn luôn là chân lý; đó là ở trên đất Mỹ này, không có bất cứ một cái gì gọi là miễn phí cả. Mình phải trả trước hay trả sau mà thôi! Chẳng hạn quí bạn ngồi đánh bài tại một bàn “xì dzách (21)” và được nhân viên xòng bài “xẹc” cho bạn uống một chai bia không phải trả tiền [đáng giá khỏang $1.50 nếu bạn phải mua ở chợ.] Đứng dậy sau ba mươi phút chơi bài, bạn thua hết $60.00. Hãy tính lại cho kỹ, bạn đã uống một chai bia đắt gía nhất ($60.00?) trong cuộc đời của bạn chứ đâu phải miễn phí! Vấn đề đánh bạc, sự may mắn không bao giờ kéo dài lâu; nhưng chắc chắn là những bất hạnh do đánh bài gây ra cho cuộc đời bạn sẽ dài vô cùng tận!

Việc hợp thức hóa [legalized] cờ bạc là một kỹ nghệ phát triển nhanh nhất của các chính quyền Tiểu bang, các Quận và các thành phố ở trên đất Mỹ hiện nay. Trên đất Mỹ chỉ có 2 tiểu bang, đó là Hawaii và Utah, là không cho hợp thức hóa cờ bạc mà thôi. Cờ bạc lấy đi từ trong túi chúng ta mỗi năm gần 100 tỷ đô la; hơn cả tất cả tổng số chi phí mà chúng ta chi tiêu cho vé xem xi-nê, vé xem thể thao và tiền chơi “video games,” cả 3 cộng lại với nhau. Trước đây, cờ bịch chỉ giới hạn ở một vài nơi hẻo lánh thuộc tiểu bang Nevada. Bây giờ bài bạc dưới mọi hình thức mọc lên chung quanh chỗ chúng ta sống như nấm dại mọc sau cơn mưa: Super Lottery Plus, Mega Millions, Fantasy, Keno, Daily Derby, Big Spin, Power Ball, Bingo, Scratchers, Indian Casinos, On-line Gamblings…

Tiền lời thu về từ các xổ số, trên nguyên tắc là để giúp các trương học, đã bị lạm dụng để xây nhà tù, văn phòng và cơ sở của chính phủ. Người nghèo bị cờ bịch của chính phủ móc túi nhiều nhất. Bởi vì nó tiện [nhưng dĩ nhiên là không có lợi!] và hấp dẫn: “chỉ một vài đô la mà có thể biến thành triệu phú.” Theo họ, dân khố rách áo ôm, đây là cái “cánh cửa duy nhất của hy vọng.” Thay vì dùng đồng tiền khó kiếm, mồ hôi nước mắt để mua thực phẩm, đồ gia dụng cần thiết cho gia đình; người nghèo lại dùng một số tiền lớn lao để mua “lottery,” mua cái “giấc mơ không bao giờ đến” ở ngay cái tiệm tạp hóa ở đầu ngõ; gần xịt mà. Đây chính thật là cảnh “chó cắn áo rách” diễn ra hàng ngày.

Cờ bạc rõ ràng là một cái gì rất tai hại, băng họai. Một cái đầu tư xấu xí mà người đầu tư sẽ chắc chắn lỗ lã. Như vậy mà tại sao chúng ta vẫn tiếp tục đầu tư, bỏ tiền vào cái lỗ hổng không có đáy đó? Có lẽ chúng ta cần phải học lại môn toán cơ bản được dậy ở lớp mẫu giáo, lớp một để hiểu biết thêm về lời giải của một bài toán đơn giản cộng-trừ-nhân-chia!

Để kết thúc bài chuyện phiếm nhạt nhẽo như nước ốc này, người viết xin phép được lập lại lời của một bố Mít đã nói và ghi ở trên: “Ê ! Đời là một canh bạc mà!” Vâng, mình và gia đình được đặt chân lên đất tự do bình yên là đã một lần trúng “độc đắc” trong canh bạc đó rồi. Có bao nhiêu người trên cuộc đời này có cơ hội trúng “độc đắc” hai lần??? C’mon!

Trần Văn Giang (HNPD)

 THẾ NÀO LÀ “VÔ SẢN CHÂN CHÍNH”

 

Quyền Được Biết

Này thì ‘vô sản chân chính’…;
Này thì “đạo đức cách mạng”…;

Này thì “sống, học tập, làm theo tấm gương đạo đức hcm”…;
Mời mấy tay ‘ní nuận chính trị cao cấp’ của đảng giòi bọ vào mà phản biện, hùng biện và NGỤY BIỆN!

Nhiều người cứ ngỡ rằng cái đám này chúng nó qua Anh, qua Mỹ học hành thì cũng tiến bộ để tạo nên một sự thay đổi chính trị cho Việt Nam, đặc biệt là giới chính khách Hoa Kỳ.

Bé cái lầm, không phải chúng nó nốc Coca, xơi Hamburger là Mỹ hóa đâu, bởi vì dễ gì bọn chúng nó đá đổ cái nồi cơm mà cha mẹ chúng nó và chính bản thân chúng nó đang ăn?!
Không tin hả chú Sam?

Cứ nhìn thằng Nguyễn Thanh Nghị con thằng thủ tướng Ba Ếch Nguyễn Tấn Dũng du học bên Mỹ ngày nay là Bộ Trưởng Bộ Xây Dựng csVN đấy!
Hay là thằng út của Thủ Dũng Nguyễn Minh Triết hiện nay là Bí thư đoàn thanh niên cộng sản đấy!

Bọn chúng còn nhiều lắm, cha mẹ bọn chúng ăn cướp, tham nhũng khi có quyền hành, sau đó chúng dùng tiền bẩn đấy đi du học, cái ngữ bọn này mà thay đổi được Việt Nam thì đúng là tư duy của mấy thằng thần kinh.

ĐÊM TÂM CA TÌNH THƠ THẬP GIÁ 2 TẠI HOUSTON TEXAS CÓ GÌ HAY?

Phan Sinh Trần

Tâm ca là loại hình ca nhạc còn khá mới mẻ ở Houston, vậy Tâm Ca có gì đặc biệt, theo sự hiểu biết còn thiếu sót của chúng tôi, thì đó là ca nhạc với cái sâu lắng của các bài nhạc tĩnh ca và tâm ca độc đáo mà chúng ta không tìm được ở mọi nơi thường có show ca nhạc. Buổi Tâm Ca Houston là buổi ca nhạc hiếm có , nó vừa có tính thính phòng vì được nghe trong tâm tình của một nhóm nhỏ vừa có tính thánh thiêng, nghe trong sự cầu nguyện với Chúa Mẹ.

Bầu khí Tâm Ca Houston, không khô khan, trái lại buổi diễn vừa dí dỏm, nghệ sĩ trình bày cách duyên dáng mà không phô trương hay tỏ ra ồn ào, họ tỉnh thức mà không náo động, âm thanh tuyệt hảo cao vút, sâu trầm, làm hài lòng các khán giả khó tính nhất.

 

Ta có thể nhìn tổng quan vườn thơ Thập Giá trong bài hát sau đây của nhạc sĩ Mai Lợi, ca sĩ Ngọc Quý trình bày:

HINH 22

Nếu em đến để tìm thi ca trọng đại

Thì về đi, kìa vườn nhà ai sai trái

Nếu em đến để tìm lời thơ vụng dại

Nếu em không ngại cỏ ướt sương mai

Em ghé lại vườn bảo tôi kể chuyện cây táo địa đàng

Em ghé lại vườn cùng tôi ôn lại chuyện cũ gian nan

Thì vườn thơ của tôi là trái tim nhỏ

Và ở đó tôi sẽ sẵn sàng trồng hoa sám hối thiết tha

Nếu em đến để tìm tình thơ Thập Giá

Thì vườn thơ của tôi là trái tim nhỏ

Và ở đó, chúng mình sẽ có tên nhau.

Cha là lầu chuông gỗ
Con là cánh chim nhỏ
Khi biển đời bão gió
Con có chỗ nghỉ chân

Đêm Tâm Ca ở Houston, World Theater trên đường Mason, Katy lần này có gì đặc biệt:

  • Có thêm một bài hát mới, xin như là biển cả.
  • Khán giả được nghe bài hát sám hối mà Thiên Tôn tâm sự là “mình đã nổi da gà khi hát” cho dù đã hát bài này lần thứ hai.

  • Nghe tâm sự của tác giả với những bài thơ tâm ca ngủ yên trong 50 năm,

thơ làm từ hồi còn là một thanh niên, thơ chưa hề được mọi người  biết đến và buổi đối thoại lý thú của tác giả với nhạc sĩ phổ 30 bài nhạc tâm ca Tình thơ Thập Giá, nhạc sĩ Vũ Học, người  đã có những bài nhạc tâm ca ngủ yên trong 30 năm vì sáng tác chúng chỉ để dành riêng cho mình hát mà thôi.

Cho đến ngày vườn thơ tâm ca được mở ra cho công chúng kể từ năm 2020 tại nhà tĩnh tâm Lê thị Thành, rồi lan đi California và nay là Houston. Chúng tôi tin và hy vọng là tâm ca Tình Thơ Thập Giá sẽ về đến Việt Nam trong tương lai.

  • Ca sĩ vừa hát vừa cảm động như Mai Thiên Vân, Thiên Tôn là chuyện bình thường. Còn khán giả thì sao? Họ cũng vừa nghe vừa thấm thía trong bầu khí yêu thương vời vợi, thật là tuyệt vời. Đó là sự cảm động trong hy vọng an ủi và phản tỉnh mà không ủy mị hay bi quan.

Chúng tôi tham dự và ra về trong suy nghĩ như sau:

Đây là tâm ca mà người tham dự có niềm vui và an bình mang về nhà.

Chưa chi, chúng tôi đã mong đợi ban tổ chức sẽ cho thưởng thức Đêm Tâm Ca lần 3 trong tương lai ở Houston.

Xin cám ơn nỗ lực của Dòng Tận Hiến, Ban Tổ Chức, Các Thiện nguyện viên và Mạnh Thường Quân thật nhiều.

Chúng tôi  còn ao ước hơn nữa mong sao tâm ca tương tự như “Tình Thơ Thập Giá” sẽ lan tỏa ra khắp thế giới, nơi đang còn mênh mang nỗi thất vọng và đau buồn.

From: Phan Sinh Trần

50 năm Hiệp định Paris : Việt Nam trên ván cờ chính trị thế giới

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

50 năm Hiệp định Paris : Việt Nam trên ván cờ chính trị thế giới (Nguyễn Hải Di, Nguyễn Gia Kiểng, Từ Thức, Lê Mạnh Hùng)

27/1/2023 là tròn 50 năm ngày ký Hiệp định Paris, để Mỹ rút quân khỏi cuộc chiến Việt Nam.

Nhìn lại Hiệp định Paris sau nửa thế kỷ, tôi phỏng vấn ông Từ Thức, ký giả của miền Nam có mặt theo dõi hội đàm từ đầu đến cuối ; sử gia Lê Mạnh Hùng ; và kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng, người sáng lập và đứng đầu Tập hợp Dân chủ Đa nguyên.

Hiệp định Paris có những lỗ hổng nào ?

Hiệp định Paris là hiệp định chấm dứt chiến tranh, ký ngày 27/1/1973. Các bên đàm phán chính thức là Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt), Việt Nam Cộng hòa (Nam Việt Nam), và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam).

Ông Nguyễn Gia Kiểng cho rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam “được coi như là một trong hai “bên miền Nam” trong khi ai cũng biết nó không có thực chất nào cả mà chỉ là một danh xưng rỗng nghĩa. Lực lượng cộng sản chiến đấu tại miền Nam hoàn toàn của Hà Nội và do Hà Nội điều khiển.

“Hai là hiệp định hoàn toàn không nói tới chính quyền cộng sản Bắc Việt, làm như là miền Bắc không có trách nhiệm gì trong cuộc chiến, trong khi chính quyền cộng sản Bắc Việt là kẻ chủ trương và điều động cuộc chiến đồng thời cũng là một trong hai bên đối thoại chính, cùng với Mỹ, trong hội nghị Paris.

“Ba là hiệp định quy định Mỹ sẽ rút hết quân khỏi miền Nam và hai bên miền Nam, đặc biệt là chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, sẽ không được nhận thêm vũ khí và sử dụng cố vấn hay chuyên viên quân sự nước ngoài trong khi Hà Nội không bị bó buộc gì cả, không phải rút quân khỏi miền Nam và vẫn tiếp tục nhận viện trợ quân sự từ bên ngoài”.

Ông nói thêm, những người hiểu lầm nhất về Hiệp định khi đó có lẽ là những người thuộc “lực lượng thứ ba”.

“Họ nghĩ rằng hiệp định này sẽ dành cho họ một chỗ đứng trước hết trong Hội đồng Hòa giải và Hòa hợp Dân tộc và sau đó trong một chính quyền miền Nam trung lập. Họ không hiểu rằng miền Nam đang đứng trước nguy cơ gần như chắc chắn sắp bị thôn tính. Trên thực tế họ chỉ tiếp tay làm cho Việt Nam Cộng hòa sụp đổ nhanh hơn”.

Ai vi phạm Hiệp định Paris ?

Năm 1973, Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, hai nhân vật chủ chốt trong đàm phán, được trao giải Nobel Hòa bình. Ông Lê Đức Thọ từ chối.

Ông Từ Thức nói “Hiệp định Paris 1973 đòi ngừng bắn trên toàn miền Nam ; việc thống nhất đất nước sẽ được thực hiện bằng phương pháp hòa bình, qua tổng tuyển cử, trong thời hạn do miền Bắc và miền Nam đồng thuận. Trên thực tế, ngay sau khi ký Hiệp định, Cộng sản đã đánh phá nhiều nơi, gia tăng quân sự để chiếm thêm đất ở những vùng “da beo”, thí dụ tổng công kích Bình Long, Ban Mê Thuột, và cuối năm 1974, đã chiếm trọn tỉnh Phước Long.

“Hiệp định Paris quy định miền Bắc phải ngưng việc đưa quân vào miền Nam. Trên thực tế, chỉ trong tháng 5/1973, Bắc Việt đã đưa thêm vào miền Nam 35.000 quân, 30.000 tấn võ khí”.

Hiệp định Paris cũng yêu cầu hai bên rút quân khỏi Lào và Campuchia, nhưng “Bắc Việt không những không rút quân, còn gia tăng hoạt động quân sự tại hai nước này”.

Sử gia Lê Mạnh Hùng thì cho rằng Hiệp định Paris “là một cách để Mỹ tháo chạy ra khỏi Việt Nam mà không mất mặt. Trên phương diện pháp lý nó không có cả tính chính đáng (legitimacy) vì cả bốn bên không bên nào thông qua. Việt Nam Cộng hòa, Bắc Việt và Giải phóng Miền Nam không nói làm gì, nhưng ngay cả đến Mỹ, Hiệp định này cũng không được Thượng viện Mỹ thông qua”.

Theo ông, “vì được thiết kế để cho Mỹ rút quân thành ra có thể nói không có điều khoản nào ràng buộc phía bên kia cả. Ngoài ra cũng không có biện pháp chế tài nào nếu bên kia vi phạm. Vả lại vì nó không có tính cách pháp lý thành ra ta cũng không thể lên án bên kia là vi phạm được”.

Nhưng Hiệp định Paris không chỉ nói ngừng chiến tranh và chấm dứt mọi can thiệp quân sự trực tiếp của Hoa Kỳ với vấn đề Việt Nam.

Ông Từ Thức nói thêm :

“Hiệp định Paris cấm mọi hành động trả thù, phân biệt đối xử. Sau khi Cộng sản chiếm miền Nam, tháng 4/1973, hàng triệu người bị bắt vào trại cải tạo, nhiều người mất mạng vì bị hành hạ, đói khát, mở đầu cho phong trào “boat people” của hàng triệu dân miền Nam liều chết vượt biển, tìm cách thoát khỏi chế độ”.

50 năm nhìn lại

Ông Lê Mạnh Hùng cho rằng “Trên quan điểm lịch sử, sau 50 năm nhìn lại, tôi nghĩ rằng trong tình thế lúc đó, Hiệp định Paris là một cái gì tất yếu phải xảy ra. Như Afghanistan trong năm 2021 cho thấy, khi Mỹ thấy cần bỏ chạy là họ bỏ chạy. Đối với Nixon và Kissinger, Việt Nam không còn quan trọng nữa khi họ đã mua được Tàu thành ra bỏ chạy ra khỏi Việt Nam là tất yếu, nhất là khi sự chống đối chiến tranh Việt Nam đang dâng lên ào ạt tại Mỹ.

“Điều đáng buồn độc nhất là tuy rằng về phía Việt Nam Cộng Hòa, người ta có biết chuyện đó, nhưng giới lãnh đạo cũng vẫn không hoàn toàn tin hẳn rằng nó nói bỏ là bỏ ! Vì vậy không có bao nhiêu chuẩn bị để có thể cầm cự lâu dài với những phương tiện mình có hoặc là tìm thêm nguồn cung cấp vũ khí tại nơi khác”.

Ông Từ Thức thì nói “Nhiều người ngạc nhiên trước sự thất thủ nhanh chóng của miền Nam năm 75, nhưng hãy tưởng tượng những gì xảy ra ở Ukraine ngày nay, nếu một sớm một chiều các nước Tây Phương cắt đứt viện trợ kinh tế, quân sự cho nước này ?”

Ông cho rằng “Hiệp định Paris là một ô nhục đối với những người tranh đấu cho quyền tự quyết của các dân tộc, một vết đen trong lịch sử Hoa Kỳ, vì đây là lần đầu cường quốc này đã bỏ rơi đồng minh, tháo chạy. Nixon và Kissinger chỉ có một mục tiêu, làm quà cho cử tri Mỹ bằng cách chấm dứt chiến tranh”.

Vì làn sóng phản chiến tại nhà, và để ngưng chiến và mang quân Mỹ trở về, Nixon đã chấp nhận rút toàn bộ quân Mỹ nhưng không nói gì đến quân đội Bắc Việt ở miền Nam.

“Nixon hứa với ông Thiệu sẽ tái oanh tạc, sẽ phản ứng mạnh, nếu Bắc Việt vi phạm những điều đã ký kết, nhưng đã khoanh tay khi Cộng sản gia tăng chiến tranh, vì đang gặp khó khăn chính trị, đặc biệt là vụ Watergate. Sinh mệnh của hàng triệu người dân miền Nam rơi vào quên lãng”.

Nixon, theo ông Từ Thức, muốn “hòa bình trong danh dự”, nhưng cuối cùng “chẳng có hòa bình cũng chẳng có danh dự, như tựa đề một cuốn sách của sử gia Larry Berman, No Peace, No Honor : Nixon, Kissinger and the Betrayal in Vietnam. Theo Larry Berman, đó là một hiệp định tự sát, một hòa bình ô nhục”.

Ông Nguyễn Gia Kiểng cho biết “Theo tôi hiệp định này đánh dấu một khúc quanh lớn của Mỹ trong đạo đức chính trị và chính sách đối ngoại. Đó là lần đầu tiên mà Mỹ rút lui và bỏ rơi một đồng minh, dần dần sự trở mặt đã thành một tập quán của Mỹ, dù là tại Liban, Iraq, Syria, Venezuela hay gần đây nhất tại Afghanistan.

“Điều mà tôi chỉ hiểu sau này khi các bí mật dần dần được tiết lộ là việc Mỹ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa có liên hệ mật thiết với việc Mỹ vừa bắt tay được với Trung Cộng. Theo tính toán của Nixon và Kissinger nếu Hà Nội thôn tính được Sài Gòn thì Việt Nam sẽ rơi hẳn vào quỹ đạo Liên Xô vì Đảng cộng sản Việt Nam lúc đó theo Liên Xô và chống Trung Cộng, như thế Bắc Kinh sẽ phải sáp lại hơn nữa với Mỹ vì Liên Xô đang là thù địch của họ. Tính toán này ít nhiều được các tổng thống Mỹ sau đó tán thành, cho đến khi Trung Quốc trở thành mối đe dọa cho thế giới.

“Hệ quả là đất nước ta hoàn toàn bị đặt dưới chế độ cộng sản. Đó là một tai họa lớn. Chúng ta đang là một nước rất chậm tiến với một đảng cầm quyền cư xử như một lực lượng chiếm đóng hung bạo”.

Ông Từ Thức nói “Bài học cay đắng là miền Nam nhỏ bé rơi vào trò chơi, tính toán chính trị của các thế lực quốc tế”.

Nhìn lại sau 50 năm, ông Nguyễn Gia Kiểng nói “Thật đáng buồn, nếu miền Bắc chấp nhận bắt tay hợp tác với miền Nam để dần dần tiến tới thống nhất đất nước trong hòa bình thì bây giờ Việt Nam ít lắm cũng phải phồn vinh gấp nhiều lần hiện nay. Nhưng Đảng cộng sản đã đặt quyền lực và chủ nghĩa Mác Lênin lên trên hết”.

Nguyễn Hải Di

Nguồn : Diễn Đàn Thế Kỷ, 27/01/2023

50 năm sau hiệp định Paris, một Việt Nam không còn lịch sử-Jackhammer Nguyễn

Báo Tiếng Dân

Jackhammer Nguyễn

28-1-2023

Bi kịch Paris

“Hòa bình ơi/ Tình yêu em như sông biển rộng/ Tình yêu em như lúa ngoài đồng/ Tình yêu em tát cạn biển Đông…” Lời bài hát này được nghe trên khắp các thành thị miền Nam Việt Nam, khi nó còn nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ Việt Nam Cộng hòa 50 năm trước.

Người sáng tác bài hát đó là nhạc sĩ Thông Đạt, tức Ngô Văn Giảng, nhưng tôi không biết ai là người hát nó đầu tiên trên radio hay TV, chỉ biết rằng nó xuất hiện sau ngày 27-1-1973, ngày hiệp định đình chiến bốn bên được ký kết tại Paris, thủ đô nước Pháp.

Tuy nhiên cuộc chiến không đình được, nỗi khát khao hòa bình trong bài hát nhanh chóng bị dập tắt. Chiến tranh tiếp tục trong hai năm tiếp theo, dẫn đến sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa. Với độ lùi thời gian nửa thế kỷ, cùng nhiều thông tin mới dần được công bố, nay đã rõ là việc ký kết hiệp định này có nguyên nhân lớn nhất là ý chí của người Mỹ, tìm kiếm một lối thoát trong vũng lầy Việt Nam của họ.

Việt Nam đã không còn là một tiền đồn chống cộng sản có giá trị nữa, chính sách mới của Washington bắt tay với Trung Hoa cộng sản nhằm phân hóa thế giới cộng sản bắt đầu. Tiền đồn của Mỹ bây giờ không phải là Sài Gòn nữa, mà là Bắc Kinh. Vũ khí không phải là ném bom nữa mà là những cái bắt tay thân mật bên cốc rượu Mao đài.

Cuộc chiến hai năm sau hiệp định Paris thực sự là nội chiến, là cuộc chiến giữa những người Việt với nhau, dù rằng cho đến 50 năm sau, cho tới bây giờ Hà Nội vẫn vô cùng “nhạy cảm” với hai từ “nội chiến”. Họ cũng “nhạy cảm” cả với ba từ “ý thức hệ”, lý do chính mà người Mỹ can thiệp vào Việt Nam. Điều trớ trêu và buồn cười nhất là tính chất ý thức hệ (đấu tranh giai cấp) là điều mà Đảng Cộng sản Việt Nam lớn tiếng hơn ai hết khi họ nắm quyền trên toàn quốc.

Việt Nam Cộng hòa sụp đổ vì sự yếu kém về tổ chức xã hội, nhà nước, của nó, không phải để chiến đấu, quân đội của họ dựa hoàn toàn vào người Mỹ, mà không sẵn sàng cho một cuộc chiến dựa trên sức mạnh của chính mình. Trong khi đó, xã hội và nhà nước miền Bắc, với mô hình toàn trị, thích hợp hơn rất nhiều lần để tiến hành một cuộc chiến. Vũ khí và tài lực từ Liên Xô vẫn tiếp tục cung cấp cho Hà Nội.

Bi kịch ngày 30-4-1975 của Việt Nam Cộng hòa là không thể tránh khỏi. Bi kịch đó kéo theo bị kịch tù cải tạo với hàng trăm ngàn người lao động khổ sai không án.

Bi kịch đó kéo theo bi kịch thuyền nhân với gần một triệu người liều mình đào thoát khỏi Việt Nam, trong đó không biết bao nhiêu người chết thảm khốc.

Lịch  sử và xóa bỏ lịch sử

Người cộng sản Việt Nam đã thắng cuộc chiến quân sự sau bi kịch Paris, nhưng họ đại bại trong cuộc chiến ý thức hệ.

Nước Việt Nam ngày nay không phải là một đất nước sống theo thiên đường cộng sản, “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, như trong các kinh điển Mác – Lê. Việt Nam ngày nay là đất nước của cụ già Nguyễn Phú Trọng sửa luật Đảng của chính ông ta để cầm quyền, là đất nước của hơn triệu công nhân bỏ chạy về quê vì đói trong đại dịch 2021, là đất nước của Phạm Nhật Vượng, chuyên thu gom đất đai giá rẻ để làm tỷ phú, và cũng là đất nước của những “thùng nhân” chết đông lạnh ở Anh.

Họ thất bại trong ý thức hệ, nhưng có thể họ đang thắng trong việc xóa bỏ lịch sử, ít nhất là đối với mấy chục triệu dân trong nước.

Tôi không nghĩ rằng có hơn 50% dân chúng Việt Nam trong nước biết Hiệp định Paris là cái gì! Dĩ nhiên họ cũng chẳng biết tới trại tù cải tạo khổ sai, không biết cả thảm họa thuyền nhân.

Ảnh: Bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký Hiệp định Paris năm 1973. Nguồn: Getty Images

Báo chí tuyên truyền của Đảng nói với họ rằng, có mấy triệu người Việt sống ở phương Tây, “lúc nào cũng hướng về tổ quốc xã hội chủ nghĩa” (sic). Nhưng tại sao mấy triệu người ấy có mặt ở phương Tây? Báo chí và sách vở của Đảng … cứ làm như không biết!

Mấy ngày gần đây, báo chí Việt Nam cũng góp lời ca tụng hai diễn viên được đề cử giải Oscar danh giá ở Mỹ, có liên quan đến Việt Nam, là ông Quan Kế Huy và bà Hồng Châu. Họ ca tụng vì cả hai người đều được xem là người Mỹ gốc Việt. Tuy nhiên báo Đảng cắt bén đi cái lý lịch thuyền nhân của họ.

Mà không chỉ trong câu chuyện với hai người này, những cái từ như là thuyền nhân, trại cải tạo… cũng biến mất tăm ở Việt Nam ngày nay, dù rằng nó là một giai đoạn lịch sử bi thương của dân tộc.

50 năm hiệp định Paris, Việt Nam đi từ một nền hòa bình tưởng tượng, cho đến một tương lai bất định, trên nền của một dân tộc 100 triệu dân bị xóa bỏ lịch sử.

Bài học quét lá

Dòng Tên Việt Nam

Một đệ tử mới xin gia nhập vào cộng đoàn tu trì, vị bề trên đáng kính đã giao cho cậu bổn phận quét lá các khoảnh sân quanh nhà mỗi ngày. Vị bề trên dạy cậu rằng:

-“Đi tu không phải là học để làm những điều phi thường. Nhưng là để học biết làm những điều tầm thường cách phi thường.”

Đệ tử nhiệt huyết gật gù đồng ý, cúi đầu chào vị bề trên rồi cầm cây chổi đặt sát góc tường để thi hành nhiệm vụ của mình cách vui vẻ.

Những ngày đầu đệ tử làm điều này với nụ cười trên môi, gặp ai bước vào khuôn viên tu viện cũng mỉm cười và chào hỏi. Nhưng việc được kéo dài trong vài tháng liên tục thì đệ tử chợt ngán ngẩm. Chỉ cần nghĩ tới chiếc cán chổi bằng thanh tre nhỏ đã phải sởn da gà. Dù không nói gì với vị bề trên, nhưng cậu tỏ lộ điều ấy qua chính nét mặt bực tức của mình. Khách vào tu viện cũng không còn thấy cậu mỉm cười hay chào như trước nữa, có khi khách đến thăm phải bước sát bên gọi tên thì đệ tử mới giật mình chào lại khách.

Một cảm giác chán nản vô vàn và một màu đen tối bủa vây quanh cậu sau mỗi sáng mở mắt ra nhìn cuộc sống. Vẫn tiếng chuông vọng đều gọi mọi người bước vào nguyện đường. Vẫn tiếng các bạn đồng môn nói cười đang khi làm việc bổn phận của họ cách thoải mái. Riêng cậu cảm thấy mình bị bó buộc và nặng trĩu bởi một tư tưởng nào đó khó tả.

“Quét! Quét! Quét!” Mỗi tiếng nói là mỗi nhát chổi đệ tử hằn lên mặt sân với thái độ khó chịu. Cứ ngỡ làm ở một góc chẳng ai nhìn thấy, cậu lại tiếp tục bộc lên ý tưởng: “Sao không chặt bỏ những cái cây quái quỷ này đi để khỏi quét! Quét gì quét hoài!”

Đệ tử không hay vị bề trên đã đứng sau lưng mình từ khi nào. Ngài chỉ thinh lặng với tràng chuỗi trên tay. Khuôn mặt ngài hiền từ và mỉm cười phúc hậu khiến những nếp nhăn hằn lên trán cũng giãn nở theo nụ cười. Vị bề trên đưa bàn tay vịn bờ vai đệ tử, cậu giật mình quay lại, một cảm giác sững sờ trước bề trên và nhất là cậu đoán bề trên đã nghe những gì cậu nói nãy giờ.

Gãi đầu ngại ngùng, cậu ấp úng :

-“Con! Con! Con xin lỗi…!”

Vị bề trên bước tới chỗ ghế đá đặt dưới gốc cây gần chỗ sân đệ tử thường quét, đệ tử rón rén đi theo sau. Một cơn gió thổi mát rượi mang lại một cảm giác dễ chịu. Vị bề trên hỏi :

-“Con! Nếu chúng ta chặt những cành cây này đi thì chắc chắn ta sẽ không còn bóng mát, sẽ không thấy dễ chịu như cơn gió vừa rồi mang đến con nhỉ! Rồi khách đến thăm tu viện sẽ ngồi hóng mát ở đâu? Và… có lẽ họ sẽ thấy vui lắm nếu khoảnh sân trước mặt họ sạch, họ biết có bàn tay ai đó đã dọn sạch khoảnh sân để họ có chỗ lý tưởng để ngồi. Con nghĩ người khách nào đó ngồi ở chiếc ghế này hoặc đi vòng quanh đây có vui không? Nghĩ tới đó con thấy việc mình làm có ý nghĩa lớn lao biết chừng nào con nhỉ!

Vị bề trên ngừng đôi lúc để cùng đệ tử nghe tiếng gió thổi qua các kẽ lá, cũng để cho đệ tử suy ngẫm đôi lúc. Lát sau ngài nói tiếp :

-“Đi tu không phải là học để làm những điều phi thường. Nhưng là để học biết làm những điều tầm thường cách phi thường con à!

From: Phan Sinh Trần