Nam Phương – Hoàng hậu cuối cùng

 

Nam Phương – Hoàng hậu cuối cùng
By Ái Thư • 19 Dec 2023 • 
View in browser
Ảnh bìa sách: Nhà xuất bản Perrin. Đồ họa: Luật Khoa.
Bạn nhận được thư này vì đã đăng ký nhận thư tin của Luật Khoa, một tạp chí độc lập về pháp luật và chính trị. Bạn có thể quản lý tài khoản tại đây.

______

Cuốn sách “Nam Phuong – La dernière impératrice du Vietnam” (tạm dịch: Nam Phương – Hoàng hậu cuối cùng của Việt Nam) của nhà sử học người Pháp François Joyaux chuyên nghiên cứu về Viễn Đông, là một nỗ lực mô tả chân dung người “quốc mẫu” Việt Nam mang quốc tịch Pháp trong những ngã rẽ lịch sử. Nam Phương hoàng hậu không chỉ là một nội tướng cai quản hậu cung, mà bà còn đóng vai trò quan trọng trong các quyết định của vua Bảo Đại.

Tác phẩm được phát hành vào năm 2019, có lời đề tựa của hoàng tử Nguyễn Phúc Bửu Sao. Cuốn sách này nổi bật hơn cả khi mà hầu hết các công trình nghiên cứu lịch sử khác chỉ tập trung vào đàn ông với những câu chuyện kẻ thắng và người thua.

Hoàng hậu – người phụ nữ của gia đình trâm anh Nam Kỳ

Phần đầu cuốn sách mô tả lịch sử lãnh thổ Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, mà ở đó người dân Nam Kỳ được hưởng quốc tịch Pháp.

Jeanne Mariette Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan, còn được biết đến với tên thân mật Mariette, xuất thân từ một trong những dòng tộc Công giáo có ảnh hưởng nhất ở Nam Kỳ, một nơi vốn đã có sự giao lưu văn hóa của các thương nhân châu Âu. Bà sinh ra vào thời điểm Công giáo không ngừng được mở rộng tại Việt Nam nhưng cũng liên tục bị chính quyền nhà Nguyễn đàn áp.

Trong khi những phong trào chủ nghĩa dân tộc đầu tiên bùng nổ ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, thì ở miền Nam lại hình thành tầng lớp tiểu tư sản Tây hóa, đi cùng với đó là một nền kinh tế phát triển. Theo lời của tác giả, gia đình Mariette không ngần ngại chào đón những nhà thực dân. Sự giàu có của gia đình hoàng hậu đến từ ba yếu tố: người Pháp, Công giáo, và việc thực dân hóa An Nam ở vùng đồng bằng.

Một tiểu thư lá ngọc cành vàng mang quốc tịch Pháp 

Gia đình của hoàng hậu được du học từ sớm, không chỉ ở Pháp mà còn ở các nước Đông Nam Á. Từ khi sinh ra, bà đã mang quốc tịch Pháp do đặc thù lịch sử. Cha của bà Nam Phương thành thạo tiếng Pháp, một lòng với Công giáo, và có năng lực xuất chúng, nên đã trở thành cánh tay phải của một địa chủ lớn và rồi trở thành con rể của ông ấy. Ông ngoại bà là người có công xây dựng nhiều nhà thờ cũng như tài trợ cho các trại trẻ mồ côi, trường học, các công trình từ thiện, v.v.

Bà lớn lên cùng vú em người Senegal trong một môi trường giáo dục kiểu Pháp, bà ăn mặc và sống trong ngôi nhà mang phong cách châu Âu.

Năm 1925, vua Khải Định băng hà. Điều này chẳng ảnh hưởng gì lắm đến Sài Gòn, nhưng rồi sẽ tác động rất lớn tới cuộc đời bà Nam Phương trong tương lai. Thời điểm này, phu quân tương lai của bà là thái tử Vĩnh Thụy chính thức lên ngôi vua.

Năm 1927, bà sang Paris theo học tại tu viện Oiseaux, nơi người chị gái ruột Agnes từng theo học. Gia đình mong muốn bà học ở môi trường thành thị và phải nói được tiếng Pháp hoàn hảo. Tu viện này là một ngôi trường của giới tinh anh, đòi hỏi học viên phải có tính kỷ luật cao. Gia đình người chú Lê Phát Vĩnh góp phần chăm sóc Mariette trong khoảng thời gian này.

Mariette say mê lịch sử, hội họa, và âm nhạc. Tuy vậy thính giác của bà không được tốt. Điều này dẫn tới việc bà gặp khó khăn khi kết giao bạn bè. Bà là một người có phần rụt rè, song lại hiếu thuận, thông minh, và sống tình cảm. Cho dù là một con chiên của Thiên Chúa giáo, bà vẫn thấm nhuần những giá trị Nho giáo. Khi ở Roma, bà mặc trang phục Việt, giữ gìn những nét Việt nhiều nhất có thể.

Thời điểm đó, thái tử Vĩnh Thụy cũng đang theo học ở Paris. Ông được vua cha cử cho một giáo viên dạy Hán Nôm riêng. Bà Mariette và ông Vĩnh Thụy cùng rời Pháp vào năm 1932 sau khi kết thúc chương trình học, lúc này bà 19 tuổi.

Ngay cả khi được sinh ra và được giáo dưỡng trong một gia đình Tây hóa giàu có, có kết quả học tập rất xuất sắc, và vô cùng quyến luyến với Paris, thì người phụ nữ ấy cũng không có cơ hội theo đuổi giáo dục bậc cao mà buộc phải về nước.

Khi Mariette trở về nước, Đông Dương đã có nhiều sự đổi thay. Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 đã gây ra những hậu quả trầm trọng, cuộc nổi dậy ở Yên Bái năm 1930 đã khiến mảnh đất thuộc địa đảo điên. Bất chấp như vậy, Sài Gòn vẫn chẳng hề có biến động gì. Hầu như chẳng có sự kết nối giữa Sài Gòn và kinh thành Huế.

Cuộc hôn nhân Công giáo – Phật giáo sắp đặt

Người Pháp kiểm soát việc thành thân của Bảo Đại. Lịch sử trước đó đã khiến người Pháp cảnh giác với những ông vua Nguyễn “nổi loạn” như Hàm Nghi, Duy Tân. Việc chọn hoàng hậu vì thế mà vô cùng quan trọng.

Người chị của Mariette kết hôn với một thuyền trưởng người Pháp. Gia đình trông mong Mariette cũng sẽ cưới được một doanh nhân hay một người Pháp, nhưng rồi bà trở thành hoàng hậu.

Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier cho rằng kết hôn sẽ khiến hoàng tử ổn định. Theo tác giả, việc người Pháp chọn Mariette cũng là để phần nào hiện thực hóa công cuộc “Thiên Chúa hóa” mảnh đất Đông Dương của người Pháp.

Bà gặp Bảo Đại tại một bữa tiệc ở Đà Lạt, một khung cảnh hào nhoáng không phù hợp với tính cách của bà, nhưng do người chú một mực yêu cầu có mặt nên Mariette không thể nào từ chối.

Mariette và thái tử Vĩnh Thụy nói chuyện bằng tiếng Pháp. Bà cũng không ngại ngần nói với vị thiên tử, rằng bà có vấn đề về thính giác. Họ không chỉ môn đăng hộ đối, mà còn tâm đầu ý hợp. Đặc biệt, vị toàn quyền Đông Dương Pasquier hài lòng với việc lựa chọn Mariette bởi gia đình bà trung thành với chính quyền Pháp. Hoàng gia thì không hoàn toàn hài lòng vì người con gái ấy mang tôn giáo khác với gia đình.

Cuộc hôn nhân này phải hỏi ý kiến từ phía Vatican. Tòa Thánh chỉ chấp thuận với hai điều kiện: vua phải tôn trọng tự do tôn giáo của hoàng hậu, và con cái của họ phải được nuôi dạy theo cách Công giáo. Phía Vatican đặt nặng yêu cầu tôn giáo do họ từng mất nước Anh cũng vì lý do hôn nhân tôn giáo vào thế kỷ 16.

Hoàng gia ở Huế không thể nào chấp nhận việc cải đạo của nhà vua. Hoàng thái hậu Từ Cung kịch liệt phản đối. Bà không chỉ khó chịu vì vấn đề tôn giáo, mà đó còn là vì một người nữ Tây học, mang quốc tịch Pháp, giàu có và không biết gì tới những lễ tắc hoàng cung. Sự thiếu thiện cảm của gia đình đi theo hoàng hậu suốt cuộc đời.

Các quan lớn trong triều đình cũng tỏ ý phản đối, trong đó có thể kể đến Thượng thư Bộ Lễ Tôn Thất Hân. Ông cảnh báo về sự can thiệp của tôn giáo vào chính trị sẽ khiến hoàng gia không trụ vững.

Từ Paris hoa lệ tới Tử Cấm thành

Vua Bảo Đại cuối cùng tuyên bố phá bỏ những rào cản truyền thống để tiến hành hôn lễ với Mariette vào năm 1934. Cái tên Nam Phương mang ý nghĩa hương thơm của xứ Nam, là do vua Bảo Đại đặt cho. Với việc sắc phong Mariette Nguyễn Hữu Thị Lan là hoàng hậu, vua còn phá bỏ quy định từ thời Gia Long: chỉ phong hoàng hậu cho người mẹ của vị vua kế tiếp. Trước đó, chỉ khi người vợ của vua có con trai nối dõi mới được phong. Minh Mạng có 142 người con từ 30 phi tần. Nam Phương là người vợ chính tắc duy nhất của vua. Như vậy Bảo Đại dám phá bỏ chế độ đa thê của hoàng gia. Điều đó cũng có nghĩa là con của Mariette sẽ lên ngôi. Năm 1936, thái tử Bảo Long ra đời.

Chính vua đã gửi thư tới Giáo hoàng, cho rằng cần phải xóa bỏ những rào cản Đông – Tây. Cuối cùng thì đôi vợ chồng hoàng gia cũng nhận được lời chúc phúc của Giáo hoàng. Qua mô tả và phân tích của tác giả, người phụ nữ thuộc dòng họ thế phiệt Mariette Nguyễn Hữu Thị Lan không hề có tiếng nói trong cuộc hôn nhân này.

Là người yêu thiên nhiên, hoàng hậu gắn bó với Đà Lạt. Quan chức phong kiến không quen với việc nhìn thấy một bà hậu chơi tennis, chơi golf, và bắn súng Tây.

Hoàng hậu hạn chế lễ nghi Phật giáo, lại thường xuyên trò chuyện với thái tử bằng tiếng Pháp, rồi còn cùng cầu nguyện mỗi ngày. Hoàng hậu nỗ lực để Bảo Long sớm chính thức thành thái tử, danh hiệu ấy giúp củng cố vị thế của chính bà.

Đóng góp của Nam Phương

Hoàng hậu không chỉ tham gia các hoạt động vốn được xem là dành cho nữ giới như y tế, giáo dục, mà còn tích cực tham vấn cho chồng về các chính sách dân sinh. Tuy nhiên, vai trò và ảnh hưởng của bà thường khá lu mờ.

Bà muốn thoát khỏi cái bóng cai quản hậu cung, khao khát được vi hành. Theo tác giả, bà có vai trò lớn trong việc xây dựng những trung tâm Công giáo tại Đà Lạt.

Việc bà cùng vua Bảo Đại tiếp đón vua Norodom Sihanouk của Campuchia hay vua Sisavang Vong của Lào ở Huế là những điều chưa từng có trong tiền lệ ở An Nam – vốn chưa bao giờ cho phép phụ nữ diện kiến cùng nhà vua trong những dịp như vậy.

Tác giả mô tả hoàng hậu qua cái nhìn của những chính khách và nhà báo Pháp. Các con của họ vừa được hưởng giáo dục truyền thống của hoàng gia, vừa được Nam Phương chỉ dạy theo lối Pháp.

Trong những thời khắc gian truân nhất, hoàng hậu vẫn luôn ưu tiên che chở cho những người con của mình. Bảo Đại tuyên bố độc lập khỏi Pháp và lấp đầy bộ máy bằng những nhân vật theo Nhật. Điều khiến hoàng hậu lo ngại có lẽ đó là một thứ rượu cũ bình mới: chỉ là thay tên gọi “bảo hộ” bằng “độc lập”.

Trở thành cựu hoàng hậu

Hoàng hậu không do dự chấp nhận mình là phu nhân của cố vấn chính phủ cách mạng Vĩnh Thụy, tự nguyện đóng góp trang sức của mình cứu trợ đồng bào nạn đói theo tiếng gọi của Việt Minh, nhưng đâu ngờ rằng của cải ấy được dùng để mua vũ khí. Và nhanh chóng sau khi nắm quyền, những người mà cựu hoàng hậu ủng hộ đã bắt giữ mục sư Công giáo. Ở cung An Định, bà sống trong sự kiểm soát của những người mà bà hết lòng ủng hộ. Và khi ngay cả không phải là đất bảo hộ của Pháp, hay đất độc lập theo cách của Nhật, thì tự do hay an toàn vẫn chưa thực sự đến.

Kể từ năm 1946, cựu hoàng hậu tự mình đạp xe trên những con đường Huế, trở nên thân cô thế cô hơn bao giờ hết. Người phụ nữ đã sống những năm gian truân nhất của cuộc đời vào cuối năm 1945, nhất là khi vua Bảo Đại đã tị nạn tại Trung Quốc năm 1946, để lại bà và năm người con ở Huế. Gia đình lớn của hoàng hậu, cũng giống như biết bao gia đình khác trên đất Việt, cũng tan đàn xẻ nghé vì những lý tưởng chính trị khác nhau, mà cụ thể là theo hay không theo Việt Minh. Những người bạn của bà, cũng bị Việt Minh bỏ tù hoặc biến mất.

Lựa chọn sống lưu vong

Là một tín đồ Công giáo, bất kể tình huống gì bà cũng nghĩ tới và tìm đến nhà thờ. Bà chấp nhận trở thành cố vấn cấp cao của Liên bang Công giáo miền Trung.

Trái với nhiều tài liệu của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này, vị hoàng hậu cuối cùng và người thân không hề cảm thấy an tâm và an toàn trước sự có mặt của Việt Minh.

Cựu hoàng hậu là linh hồn của kế hoạch Công giáo nhằm cứu vãn tình thế. Tuy thất bại, nhưng Nam Phương muốn phục hồi lại nền quân chủ với sự hậu thuẫn của giới Công giáo và với con trai bà là hoàng đế kế nhiệm.

Bất chấp sự phản đối của thái hậu về việc đi tị nạn ở nước ngoài, hoàng hậu đã tự cứu mình. Những người truyền giáo Quebec nói tiếng Pháp tại Huế đã cứu giúp gia đình Nam Phương. Thái tử Bảo Long đi trước, hoàng hậu và bốn người con còn lại đi sau. Sáu mẹ con đã an toàn rời khỏi Huế khi cuộc chiến Việt Minh và Pháp nổ ra.

Tháng 4 năm 1947, quân đội Pháp hộ tống bà tại Đà Nẵng, bà được đưa tới Đà Lạt bằng máy bay quân sự. Bốn tháng sau, bà được đưa tới Hồng Kông, bà gặp Vĩnh Thụy rồi qua Pháp sống lưu vong.

Từ năm 1948, Bảo Đại và người Pháp thương lượng rất nhiều về tương lai của Việt Nam. Bà đồng hành với chồng ở Geneve. Dù không thể về lại Việt Nam, bà vẫn hàng ngày cầu nguyện cho nền hòa bình của nước nhà, theo dõi sát sao tình hình chính trị Đông Dương. Bà vẫn là người chịu trách nhiệm cho việc nuôi dạy các con, đồng thời bắt đầu đầu tư tại châu Phi.

Khi Bảo Đại trở thành quốc trưởng sau hiệp ước Vịnh Hạ Long năm 1948 và trở về Đông Dương năm 1948, bà Nam Phương vẫn ở lại Pháp cùng các con. Trong những tháng ngày tại Pháp, bạn bè của cựu hoàng hậu chủ yếu người Pháp và rất hiếm có người Việt.

Bà sống cô đơn, nhất là khi cuộc sống đa thê cũng theo Bảo Đại sang Pháp. Khi Thái tử Bảo Long tham chiến ở Algeria, cựu hoàng Bảo Đại sống ở vùng Alsace, còn Nam Phương sống tương đối ẩn dật ở vùng Chabrignac, Corrèze, cách thủ đô Paris khoảng 500 km.

Nhưng bà vẫn không xa rời chính trị Việt Nam và thường xuyên gặp gỡ các chính khách trong và ngoài nước khi họ tìm gặp bà ở Pháp. Theo lời tác giả, tài trí và nhân cách của có được sự nể trọng của những chính khách mày râu, như anh em Ngô Đình Diệm hay Cường Để. Nguyện ước của bà là một ngày nào đó sẽ lại thấy An Nam phục hồi và phục sinh (Annam ressuscité et rajeuni). Do đó, cựu hoàng hậu kịch liệt phản đối sự dựa dẫm vào Mỹ của nhà Ngô.

Tác giả kết luận rằng lịch sử cần phải có cái nhìn công bằng với cựu hoàng hậu tài sắc vẹn toàn và yêu nước. Bản thân bà cũng là một người lãnh đạo thực thụ, một chính khách nữ đáng khâm phục. Bà nên phải được phong là một người hùng của đất nước Việt Nam đương đại. Những người viết sử ngày nay cũng cần nỗ lực đòi lại công bằng cho những người phụ nữ bị lép vế trong lịch sử.

Bạn có thấy nội dung của Luật Khoa hữu ích?

Luật Khoa làm báo trung thực và không kiểm duyệt. Chúng tôi nói không với quảng cáo để bạn có trải nghiệm đọc báo tốt nhất. Và chúng tôi làm báo phi lợi nhuận.

Nếu bạn thấy Luật Khoa có ích, hãy cân nhắc ủng hộ các tác giả bằng cách nâng cấp lên gói Member ($2/tháng) hoặc Supporter ($5/tháng) để đọc tất cả các bài, nhận các số báo tháng (PDF, EPUB) và truy cập vào Thư viện Luật Khoa.

Còn nữa: Luật Khoa trích 1% số tiền của bạn để đóng góp cho chương trình bảo vệ môi trường của Stripe.


From: Bang Uong

Côn An bị tù vì hành hình làm chết tù nhân tại trại giam

Theo Đài RFA tiếng Việt

Ba cựu công an tỉnh Thái Bình vào ngày 28/12 nhận tổng cộng hơn 22 năm tù giam vì đã sử dụng nhục hình đối với người bị giam giữ.

Cụ thể ông Phạm Quang Hùng- nguyên Đội trưởng Đội Cảnh sát thi hành án hình sự & hỗ trợ tư pháp, Phó Trưởng Nhà tạm giữ Công an huyện Vũ Thư bị án 11 năm tù; ông Trịnh Thanh Hùng- nguyên Phó Đội trưởng Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Công an huyện Vũ Thư bị án 10 năm tù; ông Nguyễn Trọng Giáp- cán bộ Nhà tạm giữ Công an huyện Vũ Thư bị án 15 tháng tù.

Phiên xử ba cựu công an vừa nêu được Tòa án tỉnh Thái Bình tiến hành công khai.

Hai ông Phạm Quang Hùng và Trịnh Thanh Hùng bị khởi tố và bị bắt vào tháng 11/2022.

Ba cựu công an Thái Bình bị án tù vì tội “dùng nhục hình”

Lúc đó Công an Thái Bình cho biết hai người bị bắt do liên quan đến việc một nam nghi phạm tên Bùi Văn Bích sinh năm 1974, trú tại xã Trung An, huyện Vũ Thư chết bất thường tại nhà tạm giữ công an huyện Vũ Thư hồi cuối tháng 2/2022.

Sự việc được phát giác khi vợ ông Bích gửi đơn tố giác tội phạm đến các cơ quan tố tụng Trung ương, tỉnh Thái Bình về việc chồng bà là người đang bị tạm giam đã chết bất thường tại Công an huyện Vũ Thư. Đơn tố cáo nêu vào ngày 19/9/2021, Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đến nhà và yêu cầu hai vợ chồng bà đến trụ sở để điều tra về việc chồng bà. có dấu hiệu của tội môi giới mại dâm.

Sau khi Công an lấy lời khai, bà vợ được cho về nhưng ông Bích bị giữ lại cho đến tháng 2/2022. Trong suốt sáu tháng bị tạm giữ tại đồn công an, gia đình bà không được gặp ông Bích lần nào. Đến ngày 20/2/2022 bà vợ nhận được cuộc gọi từ Công an xã Trung An và được người này chuyển cho số điện thoại của một cán bộ Công an huyện Vũ Thư. Bà gọi cho người cán bộ này và được cho biết chồng ba bỏ ăn, ngất xỉu và được đưa đến Bệnh viện Đa khoa huyện Vũ Thư để cấp cứu và yêu cầu bà đến chăm sóc. Bà lập tức đến bệnh viện nhưng nhận được tin chồng bà đã tử vong.

Cáo trạng cho biết khi ông Bích bị giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vũ Thư, hai quản giáo Trịnh Quang Hùng, Trịnh Thanh Hùng trực từ ngày 27/1/2022 đến 5/2/2022 không báo cáo lãnh đạo để xử lý theo quy định mà tự ý chỉ đạo các bị can, phạm nhân khác cưỡng bức ông Bích. Còn ông Nguyễn Trọng Giáp, quản giáo ca trực ngày 4/2/2022 đã dùng tay đánh nhiều lần vào mặt, vào đầu ông Bích khi ông này đang bị khóa cố định trên ghế để thẩm vấn.

Tình trạng người dân chết khi đang bị giam tại nhà tạm giữ công an vẫn thường xuyên xảy ra. Theo con số thống kê mà RFA tổng hợp được dựa trên thông tin được công bố bởi truyền thông nhà nước, từ năm 2018 đến hết năm 2021, có ít nhất 16 trường hợp người chết trong đồn công an hoặc trại giam.

Việt Nam đã ký Công Ước Chống Tra Tấn của Liên Hợp Quốc vào ngày 7/11/2013 và được Quốc Hội Việt Nam phê chuẩn vào ngày 28/11/2014. Đây được cho là một trong chín công ước cốt lõi về quyền con người của Liên Hợp Quốc.

Nhiều năm gần đây, các tổ chức xã hội dân sự và nhân quyền quốc tế lên án tình trạng công an sử dụng bạo lực đối với người dân đang trở nên ngày càng nhiều tại Việt Nam. Tuy vậy, tại phiên điều trần với Ủy ban Chống Tra tấn của Liên Hiệp Quốc tại Geneva, Thụy Sĩ hôm 15 tháng 11 năm 2018, đại diện chính phủ Hà Nội đã bác bỏ các cáo buộc về những vụ nhục hình trong các trại tạm giam và đồn công an.

Trung Quốc nhấn mạnh tầm chiến lược của cộng đồng chung tương lai với Việt Nam

Theo Đài VOA tiếng Việt

Bộ Quốc phòng Trung Quốc hôm 28/12 cho biết rằng tuyên bố chung giữa Bắc Kinh và Hà Nội về việc xây dựng “cộng đồng chia sẻ tương lai” mang “ý nghĩa chiến lược”, theo Reuters.

Người phát ngôn của Bộ này, ông Ngô Khiêm, nói như vậy tại một buổi họp báo khi đề cập tới tuyên bố chung mà Trung Quốc và Việt Nam đưa ra trong chuyến thăm của Chủ tịch Tập Cận Bình tới Hà Nội giữa tháng này.

Người phát ngôn Bộ Quốc Phòng Trung Quốc Ngô Khiêm tại một cuộc họp báo ở Bắc Kinh hôm 31/8.

Tuyên bố chung, được công bố hôm 13/12, nói rằng hai quốc gia Cộng sản láng giềng nhất trí xây dựng “cộng đồng chia sẻ tương lai có ý nghĩa chiến lược, nỗ lực vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, vì sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của nhân loại.”

“Cộng đồng chia sẻ tương lai”, còn được Trung Quốc gọi là “cộng đồng chung vận mệnh”, là một khẩu hiệu chính trị được Đảng Cộng sản ở Bắc Kinh sử dụng để mô tả mục tiêu chính sách đối ngoại của Trung Quốc.

Ông Tập cho biết trong bài xã luận đăng trên tờ Nhân Dân của Việt Nam, ngay trước khi tới Hà Nội, rằng ông đề xuất khái niệm “Cộng đồng chia sẻ tương lai nhân loại” cách đây 10 năm.

Sách Trắng về “Cộng đồng chia sẻ tương lai toàn cầu”, do Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố hồi tháng 9 vừa qua, nói rằng đề xuất này của ông Tập nhằm “soi sáng con đường phía trước khi thế giới loay hoay tìm giải pháp” và “thể hiện sự đóng góp của Trung Quốc trong nỗ lực toàn cầu nhằm bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta và tạo ra một tương lai thịnh vượng tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người.”

Sách Trắng còn nói rằng “tầm nhìn này ngày càng được củng cố” trong một thập kỷ qua. Trong khi một số nước trong khu vực được cho là đã tham gia cộng đồng này nhưng Việt Nam luôn chần chừ vì không muốn quá phụ thuộc vào Trung Quốc, nước mà Việt Nam có tranh chấp chủ quyền, theo các nhà quan sát.

Trước chuyến thăm của ông Tập tới Việt Nam, các lãnh đạo Trung Quốc đã nhiều lần nói về việc Bắc Kinh sẵn sàng xây dựng cộng đồng này với Việt Nam. Trong chuyến thăm tới Hà Nội đầu tháng này để chuẩn bị cho chuyến thăm của ông Tập, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị nói với lãnh đạo ở Hà Nội rằng Trung Quốc và Việt Nam có chung khát vọng và vận mệnh.

Các chuyên gia nói rằng Việt Nam chấp thuận tham gia “cộng đồng chia sẻ tương lai” với Trung Quốc thay cho tầm nhìn “cộng đồng chung vận mệnh” do tính nhạy cảm của ngôn từ và do tâm lý chống Trung Quốc ở trong nước.

Còn Thạc sỹ Hoàng Việt, chuyên gia nghiên cứu Biển Đông và tranh chấp quốc tế, nói với VOA tuần trước rằng đây là một thỏa hiệp của Việt Nam với Trung Quốc để cân bằng mối quan hệ sau khi nâng cấp hai bậc với Mỹ thành đối tác chiến lược toàn diện.

Sau khi Việt Nam và Trung Quốc thống nhất xây dựng “Cộng đồng chia sẻ tương lai”, Bộ Ngoại giao Mỹ nói với VOA rằng Hoa Kỳ và Việt Nam cùng “chia sẻ mục đích và tầm nhìn về một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương an toàn, thịnh vượng và rộng mở.”

Mỹ đã ủng hộ mạnh mẽ Việt Nam trong việc duy trì trật tự trên Biển Đông theo luật pháp quốc tế và chống lại những hoạt động quân sự hóa của Trung Quốc trên vùng biển đầy tranh chấp này.

Diễn giải về “Cộng đồng chia sẻ tương lai” với Trung Quốc, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng hôm 14/12 cho biết hai bên nhất trí rằng phát triển quan hệ hai nước cần tuân thủ Hiến chương Liên Hợp Quốc, luật pháp quốc tế và chuẩn mực cơ bản trong quan hệ quốc tế. Bà Hằng còn nói rằng Trung Quốc và Việt Nam thống nhất “tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, kiên trì giải quyết các bất đồng thông qua biện pháp hòa bình.” Theo người phát ngôn Việt Nam, đó là “tương lai chung mà hai bên chia sẻ và hướng đến.”

Tại cuộc họp báo ở Bắc Kinh hôm 28/12, ông Ngô nói rằng Trung Quốc và Việt Nam sẽ tăng cường trao đổi về nghĩa vụ quân sự và vũ khí, theo Reuters. Tuy nhiên, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc không cho biết thêm chi tiết về những sự trao đổi này.

Bộ Quốc phòng ở Bắc Kinh hôm 13/12 cho biết Trung Quốc và Việt Nam đã nhất trí tăng cường hơn nữa hợp tác quốc phòng. Tuyên bố của Bộ này, đưa ra cùng ngày ông Tập kết thúc chuyến thăm Hà Nội, nói rằng Trung Quốc và Việt Nam “sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác phòng thủ biên giới, tiếp tục thực hiện các cuộc tuần tra chung ở Vịnh Bắc Bộ và các chuyến thăm lẫn nhau của các tàu chiến, đồng thời tăng cường cơ chế hợp tác và trao đổi giữa hải quân và lực lượng bảo vệ bờ biển của hai nước.”


 

Hang đá

Lê Vi

Hôm nay đúng ngày 24.12, tối nay có lễ trọng của người theo đạo Thiên chúa – lễ Noel.

Cứ theo lịch sử Thiên Chúa giáo (còn gọi là đạo Gia Tô) thì Đức Chúa Jesus (Giê Su) sinh ngày 25.12, cách nay 2023 năm. Ngày sinh của ngài đã được cả nhân loại thừa nhận là khởi thủy, mở đầu cho công lịch, dù rằng thế giới cũng tồn tại song song Phật lịch (Phật đản) hoặc lịch Hồi giáo (ngày của thánh Muhammad)…

Dẫu trong đám chúng ta theo hay không theo đạo Gia Tô, không thờ Đức chúa Jesus thì đạo của ngài vẫn gắn bó với mỗi người, ít nhất là ngày tháng năm sinh được ghi trong giấy khai sinh, chứng minh thư, thẻ căn cước, hộ chiếu, lý lịch, v.v.. đều căn theo lịch tính ngày tháng năm liên quan tới ngày sinh của ngài.

Hôm nay lễ Giáng sinh, mừng ngày ngài ra đời. Sinh có nghĩa là sinh đẻ, sinh ra; giáng nghĩa là từ trên hạ xuống, bay xuống. Tiên giáng trần là tiên từ trên trời hạ xuống trần gian, xuống cõi trần tục của người đời. Vua (bệ hạ) giáng lâm để nói về con người có uy như thần thánh xuống chốn nhân gian vậy. “Giáng thế” nghĩa là thánh thần tiên phật bụt xuất hiện trên thế gian cứu giúp chúng sinh. Chúa Jesus sinh ra ở trên đời bởi được Đức Chúa Trời cử xuống che chở cho con người, nên gọi cuộc sinh nở vĩ đại này gọi là Giáng sinh.

Ngày ngài Giáng sinh, 25.12, là lễ trọng, lớn nhất, đặc biệt nhất của người theo đạo Gia Tô. Ngày này, người ta còn gọi bằng những cách gọi khác như “lễ Thiên chúa giáng sinh”, “lễ Noel”, “Christmas”… Có lẽ do quan niệm và phong tục, nhưng cũng có thể do sốt ruột chờ đón lễ trọng, nên ngay từ tối 24.12 bên đạo đã làm lễ vọng, Noel diễn ra vào tối 24 chứ không phải 25 chính vì vậy.

Tương truyền, sau khi Đức mẹ Maria sinh ra ngài, ngài được nuôi nấng trong hang đá, nằm trong máng cỏ, có những con dê, cừu tới dâng sữa nuôi ngài. Hang đá đã trở thành thứ biểu tượng linh thiêng phổ biến nhất trên toàn thế giới. Hầu như mọi nhà thờ trên quả địa cầu này, dù thánh địa to hay nhỏ, đều có hang đá. Tháp chuông uy nghi để cứu rỗi linh hồn con người, còn hang đá là nơi để người ta tới chiêm bái, biết ơn, tưởng nhớ một vĩ nhân đã ra đời.

Tôi sống ở Sài Gòn đã gần nửa thế kỷ, mấy chục năm ở gần khu vực đặc biệt của đạo Gia Tô, đường Phạm Thế Hiển, nơi cộng đồng Thiên chúa giáo dày đặc, chứng kiến nhiều lễ Giáng sinh thật vui tươi, sống động.

Cũng cần nói thêm, năm 1954, sau khi cộng sản chiến thắng ở miền Bắc, hiệp định Geneve được ký kết, hơn 1 triệu người, hầu hết là tín đồ Công giáo đã bỏ quê hương bản quán để vào miền Nam. Đó là cuộc di cư vĩ đại chưa từng có kể từ thời Lạc Long Quân đem con xuống biển sinh sống. Nó chỉ sau cuộc di cư vĩ đại hơn với gần 3 triệu người bỏ nước ra đi những năm sau 1975. Lý do duy nhất của cả hai cuộc là chạy trốn cộng sản. Tất nhiên, theo người cộng sản tuyên truyền, việc người miền Bắc, nhất là giáo dân Thiên chúa chạy vào Nam là bởi sự xúi giục của các thế lực phản động, âm mưu của CIA… nhưng về sau này thì cả người đi lẫn người ở lại hiểu rằng đi là thượng sách. Cách đối xử của người cộng sản vô thần đối với đạo Thiên chúa, với giáo dân, với nhà thờ, cơ sở thờ tự, v.v.. sau năm 1954 cũng như sau 1975 đã cho người ta thấy nếu ở lại cũng không khác gì bỏ đạo, không khác gì bị chính quyền rút phép thông công.

Dân di cư 1954 vào Nam tập trung chủ yếu ở 2 khu vực: Miền Đông Nam Bộ, nhiều nhất là vùng Xuân Lộc, Biên Hòa, Gia Kiệm (đều thuộc tỉnh Đồng Nai) và Sài Gòn. Tại thành phố này, người di cư hầu như dồn về vùng ven kênh Đôi, phía tây nam thành phố, sống dọc theo đường Phạm Thế Hiển, và khu vực quận Gò Vấp, chỗ đường Thống Nhất, Phạm Văn Chiêu bây giờ, cứ vài trăm mét lại có một nhà thờ bề thế, hoành tráng. Phạm Thế Hiển là một trong số ít con đường dài nhất thành phố, bắt đầu từ cầu chữ Y kéo qua quận 4, quận 8 nối xuống tít huyện Bình Chánh. Tôi có lần đã sửng sốt khi chạy xe máy dọc con đường để khám phá nó, giời ạ, dài tới mức nhà đánh số tới hơn 3.000. Chưa có đường phố nào mà số nhà tới 4 con số, như Phạm Thế Hiển.

Cộng đồng giáo dân ở Phạm Thế Hiển quận 8 sống rất yên bình, ít tệ nạn xã hội, khác hẳn so với bên quận 4 lừng tiếng dữ dằn, chém người như ngóe. Cứ đi vài trăm mét lại có nhà thờ, lớn nhỏ khác nhau nhưng đều tạo cảm giác cuộc sống an yên, tâm hồn được giải thoát khỏi những vướng víu trần tục, đau khổ. Cứ mỗi mùa Giáng sinh, vùng đạo Phạm Thế Hiển sinh sắc hẳn lên, trở thành nơi cuốn hút người từ mọi nơi đổ về, nhất là đám trẻ. Suốt cả tuần trước ngày Giáng sinh, cứ nườm nượp nườm nượp, ngựa xe như nước áo quần như nêm, vui trong hồng ân của Thiên chúa. Hồi cầu Nhị Thiên Đường chỉ mỗn cây cầu cũ, có đêm tôi đi làm về không tài nào lách nổi qua cầu, đành phải quay lại ngủ bàn cơ quan, muỗi đốt một phen nhớ đời.

Nét đặc biệt nhất của khu đạo Phạm Thế Hiển là hang đá. Dẫu biết trong tâm hồn mỗi con chiên của Chúa đã có hang đá linh thiêng rồi nhưng mùa lễ trọng, người ta thi nhau trổ tài xây hang, làm hang. Không phải để ganh đua, hơn thua, con gà hơn nhau tiếng gáy (người theo đạo không mang thói tục tầm thường ấy như thường thấy ở người vô đạo) mà để cùng nhau tô điểm nước Chúa đẹp đẽ rộn ràng hơn. Nhà thờ có hang đá, tất nhiên rồi, nhưng hầu như mỗi nhà, gia đình mặt tiền phố, hoặc vài nhà liền nhau, đều làm hang đá, cùng nhớ ngày Chúa chào đời, tạo nên phố hang đá thật ấn tượng.

Trên những hang đá hoặc vòm cao mặt tiền nhà thờ thường có dòng chữ latin “Emmanuel”, tôi người ngoại đạo nên không hiểu nghĩa, có lần mạo muội hỏi vị linh mục nhà thờ Bình Thái đường Phạm Thế Hiển, quận 8, Sài Gòn nghĩa là gì. Ông đang bận chuyện trò với mấy giáo dân khi lễ đã tan, giải nghĩa rằng đó là “Chúa ở cùng chúng ta”. Chúa luôn hiện hữu trong mọi con người, trong cuộc sống hằng ngày.

Bài này chỉ nói tới hang đá nhà thờ, chứ nước ta cũng còn thứ hang đá nữa, đang dần dần phai nhạt, chả mấy người quan tâm. Mộ đá lại càng không bàn, nhất là khi lòng ta đang kính cẩn hướng về Chúa, nhà thờ, hang đá, Noel, Giáng sinh.

– Nguyễn Thông

Hình minh hoạ


 

NGUYÊN TẮC LÀM NGƯỜI

Gieo Mầm Ơn Gọi

NGUYÊN TẮC LÀM NGƯỜI

  1. Làm người…

– Sống giản dị, không giở thủ đoạn, không mưu tính thiệt hơn, không nghị luận chuyện của người đời.

– Mở to mắt, nỗ lực làm việc; khép mi lại, say giấc ngủ ngon.

  1. Làm người…

– Cười, hãy cười tự nhiên; khóc, cứ khóc thoải mái, không cần ngụy trang, không làm ra vẻ.

– Vui mừng, không cần quá bận tâm hình tượng; đau thương , hãy cứ tự nhiên say sưa một hồi.

  1. Làm người…

– Đi được chính, đứng được ổn. Không gây gổ với tiểu nhân, không đồng hành cùng ác nhân.

– Kết giao một người bạn tốt, nên trân quý muôn phần; kết giao một người bạn xấu, nên lặng lẽ rời xa.

  1. Làm người…

– Trước sau như một, đã nói là làm. Nói khoác không biết ngượng, sẽ khiến người chán ghét. Miệng mật ngọt mà dạ gươm đao, sẽ khiến người oán hận.

– Đối xử với bằng hữu, ít một chút hoa mỹ, nhiều một chút chân thành.

– Đối xử với cộng sự, ít một chút qua loa lừa gạt, nhiều một chút tận lực tận tâm.

  1. Làm người…

– Làm việc cần thành thật, kiếm tiền nên dựa vào lương tâm; đừng vì tiền tài mà bày mưu tính kế với huynh đệ; đừng bởi danh lợi quyền thế mà bán đứng bằng hữu tri kỷ.

– Nội tâm không thẹn thì không sợ nửa đêm quỷ ma gõ cửa. Hành vi chính trực, thì không sợ có người nghị luận ở phía sau.

  1. Làm người…

– Không khinh dễ kẻ yếu, không a dua kẻ mạnh; không xem nhẹ người nghèo, không oán hận người giàu.

– Đối với người lớn, tôn kính một chút; đối với con trẻ, kiên nhẫn một chút; đối với bạn đồng hành, chân thành một chút, đối với cha mẹ, hiếu thuận một chút.

– Chữ nhân viết thì dễ, nhưng làm được lại rất khó. Làm người thiện lương sẽ sống được tự tại; làm một người không tranh quyền thế, thời thời khắc khắc sẽ an bình.

Nhân sinh muốn không muộn phiền, cần làm người đơn giản…

– Đơn giản là một loại tinh thần, một loại cao quý, cũng là một loại khí chất. Vậy nên, hãy đơn giản khi làm người, đơn giản khi làm việc, đơn giản khi sinh hoạt.

– Chịu được cô đơn lạnh lẽo, nhân sinh sẽ càng có nhiều tích lũy. Hồng trần một bước, nước mắt một lần rơi. Mỗi lần rơi lệ, là một bước trưởng thành.

– Cuộc sống có rất nhiều muộn phiền đều bắt nguồn từ việc chúng ta không thể cảm thông cho người khác. Quá để ý đến chủ kiến của mình, không chịu thấu hiểu người khác thì tâm hồn sẽ bị tổn thương rất lớn.

Làm người cũng như cây, không nhất định cành lá tốt tươi, nhưng cần phải kiên cường đứng thẳng.

Làm người cũng như núi, không cần cao lớn nguy nga, nhưng nhất định phải sừng sững trang nghiêm.

Làm người cũng giống với nước, không nhất định triều dâng sóng dậy, nhưng nhất định phải trong suốt thanh tịnh.

St

MIỀN BẮC GIÁ LẠNH, NHỚ ĐẾN NHỮNG TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM TRONG CHỐN LAO TÙ CỘNG SẢN

Chau Trieu is with Thi Khieu Vu 

Thêm một Giáng sinh buồn bị chia cách, chúc bình an cho các gia đình TNLT Việt Nam .

MIỀN BẮC GIÁ LẠNH, NHỚ ĐẾN NHỮNG TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM TRONG CHỐN LAO TÙ CỘNG SẢN

Thời tiết miền Bắc đang trong những ngày rét đậm rét hại, nhiệt độ trong ngày lạnh xuống dưới 10 độ. Đối với người bình thường có áo ấm, đệm êm cũng phải co ro trong cái không khí lạnh buốt đó. Thì những TNLT đang phải chịu cái lạnh thấu xương trong nhà tù của chế độ còn khủng khiếp hơn gấp bội.

Chắc chắn khi những thời điểm lạnh như thời gian này, chế độ quần áo cho TNLT sẽ không đủ ấm, nếu gia đình không gửi thêm quần áo vào thì phạm nhân rất rét. Không những thế, các TNLT còn phải nằm trên nền xi măng, cái lạnh từ dưới thấu lên trên thấm vào cơ thể lạnh buốt. Nhiều phòng giam còn bị giám thị cố tình làm hư hỏng cửa sổ để gió lạnh lùa vào trong phòng hành hạ phạm nhân.

Các TNLT phải sống trong tình cảnh mùa đông thì lạnh giá, mùa hè thì nóng nực. Ngoài ra họ còn phải chịu đựng sự tra tấn về mặt tinh thần bằng nhiều thù đoạn khác nhau của trại giam.

Vì phải sống trong điều kiện tồi tệ như trên mà nhiều TNLT đã bị mắc các chứng bệnh về hô hấp, lao phổi, tim mạch, các bệnh về tâm thần… nếu có ra tù thì tình hình sức khỏe cũng xấu đi trầm trọng.

Trong những thời điểm giá rét như ở miền Bắc như này, chúng ta không quên đến những TNLT đang phải chống chọi với cái lạnh trong chốn lao tù của chế độ CSVN.

Gia Minh


 

Sống trên đời cái gì cũng có giá của nó

Gieo Mầm Ơn Gọi

– Cái giá của của năng lực là trách nhiệm.

– Cái giá của lười biếng là bất tài.

– Cái giá của ỷ lại là yếu kém.

– Cái giá của chần chừ là trải qua mất mát.

– Cái giá của tự do là cô đơn.

– Cái giá của vượt trội là kỷ luật.

– Cái giá của thành công là trải qua thất bại và không bỏ cuộc.

– Cái giá của hạnh phúc viên mãn tuổi già là trải qua bao thăng trầm tuổi trẻ.

Vậy nên, dù bạn ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, hãy nghĩ đến cái giá phải trả. Xem nó có xứng đáng, bản thân có trả được không rồi hẵng quyết định.

– Quyết định sống lười biếng, thiếu mục tiêu thì bạn có sẵn sàng trả giá cho cuộc sống vô vị sau này không?

– Quyết định sống hời hợt với người khác thì bạn có sẵn sàng trả giá cho sự đơn độc sau này không?

– Quyết định an phận, không chịu học hỏi thay đổi thì bạn có sẵn sàng trả giá cho sự yên vị cả đời ở vị trí hiện tại không?

Mỗi người chỉ sống một lần, hãy sống sao cho đáng. Bởi một khi đã quyết định là bạn đang đánh cược chính tương lai của bản thân!

ST


 

 Xuất khẩu gian lận-Dương Ngọc Thái

 Ba’o Tieng Dan

Dương Ngọc Thái

25-12-2023

Ít người biết Microsoft, Google và Meta có một điểm chung: Họ đều có đội dành riêng chống gian lận từ người Việt.

Cách đây vài năm tôi kêu gọi các công ty ở Silicon Valley tài trợ tổ chức một hội thảo an ninh mạng. Khi tôi vừa nhắc hai chữ Việt Nam, Microsoft cho ngay 20.000 USD, cử đại diện từ Seattle sang dự.

Gặp ở Sài Gòn, tôi tò mò hỏi sao họ cho nhiều tiền, còn cất công đến dự. Đại diện Microsoft trả lời: “We want to know the enemy”, tức chúng tôi muốn biết kẻ thù là ai.

Trong phút chốc, tôi bần thần ngỡ Việt Nam và Mỹ lại sắp chiến tranh, nhưng không, họ giải thích vì có quá nhiều gian lận từ Việt Nam nên họ muốn đến tận nơi tìm hiểu.

Đó là chuyện 10 năm trước. Mới đây, Microsoft thông báo phát hiện ba người Việt tạo hơn 750 triệu tài khoản giả, gây thiệt hại hàng triệu USD.

Bạn tôi, không phải dân máy tính, nhắn tin hỏi, “Sao tụi nó có thời gian tạo nhiều tài khoản vậy, chắc mỏi tay lắm?”.

Giả sử mất một phút để tạo một tài khoản. Nếu học hết cấp hai (tôi có nhiều bạn là dân vô học giống tôi nên phải giả sử cho chắc ăn), bạn tôi có thể làm một phép tính đơn giản để thấy tạo 750 triệu tài khoản sẽ mất 1.426 năm.

Tức ba người Việt kể trên phải bắt đầu tạo tài khoản từ khi mới đẻ, tạo liên tục, không có thời gian bú sữa mẹ nên bị suy dinh dưỡng, chết yểu, đầu thai lại tiếp tục tạo tài khoản, lập đi lập lại 10 kiếp người thì mới mong hôm nay có đủ 750 triệu tài khoản.

Làm vậy hơi khó và cần một tầm nhìn xa ngàn năm. Người Việt chúng ta khôn hơn nhiều. Tôi đoán ba anh bạn ở trên viết chương trình máy tính để tạo tài khoản tự động. Mỗi giây tạo 100 tài khoản, chừng 100 ngày là xong.

Tạo từng ấy tài khoản để làm gì? Gian lận. Click quảng cáo giả, nhận tiền khuyến mãi, phục vụ nền kinh tế ảnh hưởng (influence economy) như cày view giả, bán like giả, bán người theo dõi giả, bán đánh giá, bầu chọn giả. Nếu giao cho người Việt quản lý, Michelin sẽ không chỉ có ba sao, mà phải có tám chục sao.

Tôi từng gặp đội chuyên chống gian lận từ Việt Nam ở Google, nghe họ kể khả năng lách luật của người Việt mà thấy hết sức thân thuộc. Chẳng hạn công ty khuyến mãi 100 USD cho khách hàng mới, ngay lập tức xuất hiện hàng loạt tài khoản giả.

Tôi cũng đã trực tiếp chứng kiến khả năng “sáng tạo” của người Việt. Hồi tháng trước, một khách hàng của tôi đã tốn hàng trăm ngàn USD phí SMS vì ai đó từ Việt Nam lừa hệ thống của họ nhắn tin hàng loạt đến các đầu số trả phí (SMS pumping).

Một người bạn kể trong lúc phỏng vấn, đại diện Meta rất phấn khích khi biết anh ấy là người Việt. Họ nói có dự án rất phù hợp. Khi vào làm, bạn tôi mới biết đó là dự án chống gian lận từ Việt Nam.

Năm 2018, khi nhiều nhà báo và người có ảnh hưởng bị Facebook khóa tài khoản, tôi có tìm hiểu các thủ thuật lừa Facebook khóa tài khoản bất kỳ.

Tôi rất bất ngờ khi các “tài năng” Việt Nam đã nghĩ ra những 5 cách khác nhau, với những “chiêu” khó đỡ như nộp giấy chứng tử giả, khiến Facebook tưởng nạn nhân đã qua đời, không cho cập nhật trang nhà nữa.

Voltaire sẵn sàng chết để bảo vệ quyền được nói của người khác, còn Facebook không thể ngờ, để ngăn người khác nói, một số người Việt dám cả gan làm giả cả hộ khẩu của Diêm Vương.

Ngoài gian lận bằng tài khoản giả, người Việt cũng khét tiếng thế giới với những mánh khóe cướp tài khoản (account takeover). Những ngày cuối năm 2021, Facebook khởi kiện bốn người Việt đã chiếm tài khoản quảng cáo của doanh nghiệp, gây thiệt hại 36 triệu USD.

Tháng 7 năm 2022, hãng bảo mật WithSecure công bố một nghiên cứu cho thấy một nhóm người Việt đã dày công “nghiên cứu” trong vài năm để tạo ra một mã độc có tên rất cắt tóc là ĐUÔI VỊT (DUCKTAIL). Để làm gì? Chiếm tài khoản Facebook để cướp tiền quảng cáo.

Hồi tháng 9 năm 2023, nhà báo Amanda Florian ở tạp chí Vox đã thực hiện một điều tra bỏ túi với gần 100 nạn nhân mất tài khoản Facebook từ 14 quốc gia. Các bằng chứng cho thấy thủ phạm là một nhóm người Việt tuổi đôi mươi từ Việt Nam.

Người bạn ở Meta của tôi nói: “Bọn nó giỏi thật anh à, nghĩ ra bao nhiêu cách mà chính tụi em cũng không nghĩ ra được. Mình mới sửa hôm nay, hôm sau chúng lại nghĩ ra cách [gian lận] mới”.

Những người Việt bị Microsoft hay Facebook điểm mặt chỉ tên có chút khả năng, nhưng họ không phải tài năng, những gì họ làm không phải sáng tạo. Tài năng thật, sáng tạo thật phải tạo ra giá trị thật cho thế giới.

Chiếm đoạt tài khoản người khác rõ ràng là phạm pháp. Tạo và dùng tài khoản giả để trục lợi bản thân cũng không đem lại ích lợi gì cho thế giới, ngoại trừ khiến chi phí làm ăn với Việt Nam cao hơn so với các nước, vì làm gì cũng phải tiền kiểm, hậu kiểm. Chi phí này cuối cùng đổ xuống đầu người dân và doanh nghiệp trong nước.

Gần đây khi tôi gửi một kiện hàng về Việt Nam, hải quan Mỹ buộc tôi phải trình hóa đơn, khiến công việc trễ nãi, việc trước đây chưa từng xảy ra. Lý do? Có quá nhiều giao dịch gian lận từ Việt Nam. Cũng vì lý do an ninh, nhiều tập đoàn công nghệ lớn thế giới cấm nhân viên làm việc từ Việt Nam. Ngồi ở đâu trong Đông Nam Á cũng được, trừ Việt Nam.

Tôi tin không ai thích đất nước mình bị thế giới e ngại. Ai cũng muốn Việt Nam giàu mạnh, được thế giới tin tưởng, nể trọng. Muốn vậy, Việt Nam phải tạo ra thứ thế giới cần, tức phải trở thành một phần của giải pháp cho các vấn đề toàn cầu. Lừa đảo, gian lận trực tuyến là một vấn đề nhức nhối, nhưng Việt Nam không những chưa giúp được gì, mà còn đang làm mọi việc tệ hơn.

Tôi không có giải pháp, chỉ có vài suy nghĩ.

Tôi nghĩ muốn giải quyết vấn đề trước tiên cần phải thừa nhận có vấn đề: Việt Nam đang xuất khẩu gian lận, nếu không sớm giải quyết, uy tín quốc gia càng suy giảm, chi phí giao thương làm ăn với các nước càng tăng.

Để hiểu gian lận từ đâu ra, chúng ta cần nhìn vào lịch sử. Vì vị trí địa chính trị, người Việt buộc phải rất giỏi chiến tranh. Không quốc gia nào khác từng đánh thắng ba thành viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc. Mà Tôn Tử đã nói, “All warfare is based on deception”, tức chiến tranh là lừa dối. Thành ra, dẫu thích hay không, chúng ta phải thừa nhận với nhau người Việt thạo và dễ chấp nhận những trò mánh mun, gian dối.

Thực tế cuộc sống hàng ngày cũng khiến người Việt phải rất linh hoạt. Một người bạn kinh doanh lâu năm tâm sự ở Việt Nam làm sai dễ hơn làm đúng. Câu nói nổi tiếng của Lỗ Tấn “Trên đời làm gì có đường, người ta đi mãi thành đường thôi” về đến Việt Nam đã trở thành “Trên đời làm gì có đường không được đi, chỉ có đường không đi được”. Khi lách luật, mánh lới là cách sinh tồn, gian lận đã âm thầm trở thành phản xạ.

Cuối cùng, tôi xin chia sẻ một chút về bản thân, vì tôi nghĩ câu chuyện của tôi có thể là một gợi ý.

Tôi sinh ra và lớn lên ở quận 4. Bây giờ quận nhà đã khác, nhưng, nhiều năm trước, đây là vùng đất mà nhiều người Sài Gòn không dám lui tới. Thầy giáo dạy văn cấp hai của tôi kể chuyện cười khách đi máy bay thò tay qua cửa sổ, thụt tay vào thấy mất chiếc đồng hồ thì biết đang bay ngang qua quận 4.

Ở đâu cũng có người tốt, kẻ xấu, nhưng từ nhỏ tôi đã quen biết nhiều người làm những “nghề” không giống ai như móc túi, giật đồ, ăn trộm vặt, cờ bạc bịp. Ở đấy, lúc bấy giờ, không có khái niệm gian lận, chỉ có khôn và ngu. Ai khôn thì được, ai ngu thì mất, ráng chịu. Lừa được người khác là một thành tích.

Tôi lớn lên với một “background” như vậy, nên mọi thứ luật lệ đều chỉ là “opt-in”. Tôi may mắn chọn được một nghề (hay nghề chọn người?) mà tôi được trả tiền để nghĩ ra những ý tưởng xấu xa nhất. Công việc hàng ngày của tôi là tìm cách lừa người khác, để giúp họ không bị lừa. Đội của tôi nghĩ ra những cách đánh lừa hệ thống phần mềm, để giúp thế giới xây dựng những hệ thống vững chãi hơn.

Gian lận và chống gian lận kỳ thực là hai mặt của một vấn đề. Không thể chống gian lận, nếu không biết cách gian lận. Vậy thì Việt Nam đang sở hữu những bộ não chống gian lận thuộc hàng tốt nhất thế giới. Đây là thứ mà nhiều người cần, là giá trị thật mà Việt Nam có thể đem lại cho cả thế giới.


 

 Cải cách ruộng đất: Một thời kinh hoàng

 Ba’o Tieng Dan

Phan Thuý Hà

23-12-2023

Trong một lần đến thăm Phan Tử Lăng ở khu gang thép Thái Nguyên, ông Phạm Văn Đồng hỏi ông Lăng có bà con gì với Phan Tử Dương không, Phan Tử Dương là bạn học với ông ở Trường Quốc học Huế.

Phan Tử Dương là anh ruột Phan Tử Lăng, bị bắn chết dưới chân núi Nài trong đợt 4 cải cách.

Phan Tử Dương là thư ký toà sứ, được ông Phan Đăng Tài (em của Phan Đăng Lưu) cũng trong toà sứ, giác ngộ cách mạng, trở thành đảng viên, làm uỷ viên thư ký, có lúc đã làm đến phó chủ tịch tỉnh. Năm 1953 phát động giảm tô, ông bị cho nghỉ việc, về nhà làm ruộng. Tháng 5/1955 ông Dương đang cấy lúa với vợ con ngoài đồng thì dân quân đến trói bắt đi. Một đêm tháng 10/1955, học sinh cấp ba Phan Đình Phùng bị bắt đi ra chân núi Nài hô hào đả đảo, chứng kiến vụ xử bắn.

Cha của ông Phan Tử Dương, Phan Tử Lăng… là Phan Tử Phong, làm quan trong Huế; mẹ là bà Ký Tá.

Bà Ký Tá không biết chữ. Bà làm ruộng giỏi, có đầu óc buôn bán. Từ buôn thóc, buôn gạo, mở xưởng ép dầu, xây nhà cho thuê, tậu ruộng, bà có hơn 100 mẫu ruộng.

Trước năm 1945 bà có hai ngôi nhà hai tầng, một ngôi nhà ba tầng trên phố Phan Đình Phùng và hai, ba ngôi nhà ngói ở con phố bên cạnh. Tiêu thổ kháng chiến, những ngôi nhà đó bị phá sạch. Còn mấy ngôi nhà tranh. Và nguyên vẹn khu nhà ở – 47 Nguyễn Công Trứ (nay là đường Lê Bình).

Có thể nói bà Ký Tá là người phụ nữ làm ăn giỏi giang nhất tỉnh Hà Tĩnh thời bấy giờ.

Ông và bà mất trước khi cải cách. Vì thế Phan Tử Dương – con cả, phải chịu tội thay cha mẹ, và tội trước đây làm thư ký toà sứ.

Tháng 5/1955, cả gia đình phải rời khỏi 47 Nguyễn Công Trứ. Như tất cả mọi gia đình địa chủ khác. Họ đến ở một túp lều, cứ mưa to là nước tràn vào lều.

Phan Tử Thụ lúc đó mới học lớp 7. Ông không nguôi nỗi nhớ về ngôi nhà xưa ở 47 Nguyễn Công Trứ. Ông đã vẽ lại ngôi nhà theo trí nhớ. Trên khu đất khoảng 1.000m2 là các dãy nhà ngang dọc, lợp mái ngói, 50 – 60 gian. Ông vẽ chi tiết căn phòng ngủ của cha, của bà nội, nhớ cả những cái chăn màn. Hai chục năm trước ông và các anh chị về thăm chốn cũ, không còn gì nữa sau khi 15 hộ nông dân đến ở, người ta chỉ cho ông một cái giếng quây kín lại, không ai dám làm gì vì sợ giếng địa chủ. Không biết giếng đó giờ còn không.

Khi cải cách ông Phan Tử Lăng không ở quê nhà, nếu ở nhà, không ai biết (và có thể chắc chắn biết) số phận ông như nào.

_____

*Ghi chú: Tựa đề do Tiếng Dân đặt.


 

TUỔI XẾ CHIỀU

Ước Mơ Việt Tân

Rồi ai cũng phải về với cát bụi, có ai sống mãi trên nhân thế này đâu.

Và thời gian càng ngày càng ngắn lại, sức khỏe càng ngày càng yếu đi.

Sao không bắt tay làm ngay những điều mình mong ước, sao không đi đến ngay những nơi mà ta thích thú, sao không sắm ngay những vật mà ta từng mơ tưởng khi trong túi vẫn đủ tiền.

Sao không chào mọi người bằng cái vẫy tay, bằng một nụ cười bởi nhiều khi đó là lần đầu tiên ta gặp họ nhưng có thể cũng là lần cuối cùng bởi không còn duyên gặp lại,

Tuổi già nên tạo cho mình một đam mê sáng tạo: chụp hình, vẽ tranh, nặn tượng, làm gốm, làm vườn, trồng cây, viết nhạc, làm thơ, đi đây đi đó…tất cả trở thành gia vị cho cuộc sống mà thời trẻ bận rộn với manh áo, miếng cơm, lo âu cuộc sống ta không thực hiện được. Gắng đọc sách, đọc báo, vào mạng, viết mail để rèn luyện trí nhớ. Sống lâu mà chẳng nhớ gì, chẳng biết gì đang xảy ra cũng phí một quãng đời.

Đoạn đường trước mặt của mọi người ngày càng ngắn lại, sao không thể tha thứ, bao dung cho nhau những tỵ hiềm, những đụng chạm của một thuở. Sao không siết tay nhau khi còn sống.Sao không kiếm miếng ngon để thưởng thức hương vị của cuộc đời khi túi còn đủ tiền để trả cho món ăn ngon, đã đến lúc không nên hà tiện, keo kiệt để làm khổ thân mình, bởi khi ta mất đi mà vẫn còn tiền cũng là điều bất hạnh.

Nếu con cháu ngoan hiền thành đạt, có tình cảm với ta, có chăm sóc, thăm hỏi ta cũng là điều hạnh phúc. Bằng không, nếu chúng quên tình cảm gia đình, thì cũng đừng lấy điều đó làm buồn mà thất vọng.

Con cái muốn đi theo con đường nào, chọn ngành nghề gì, yêu ai và muốn lập gia đình với ai, ta chỉ nên khuyên nhủ, định hướng, không nên bắt chúng phải theo ý ta, sống vì ta. Bởi chúng có cuộc đời riêng của chúng và chúng ta chắc chắn sẽ không sống mãi với chúng nên phải để chúng quyết định đời mình.

Cũng không nên quá tin tưởng vào con cái mà giao hết số tiền dành dụm suốt cuộc đời cho chúng. Vì đó là mở đầu cho những bất hạnh mà ta phải chịu đựng sau này. Nếu khi đến tuổi mà cứ ôm khư khư các cháu, ta đã phí phạm thời gian còn lại ngắn ngủi của mình.

Người biết lo xa là khi tuổi trung niên đã chuẩn bị cho tuổi già, chuẩn bị để khỏi lệ thuộc vào con cái về vật chất, được như thế những ngày của tuổi già không phải trông mong vào những đồng tiền chu cấp của các con, được thoải mái và tự do trong sinh hoạt.

Người ta bảo tuổi già buồn, nhưng thật ra nếu biết cách sống và có sức khỏe, tuổi già là tuổi vui. Đó là tuổi đã làm xong những phận sự, chẳng còn nhiều trách nhiệm với cuộc đời, mọi lo toan cũng chẳng còn mấy chút. Giàu cũng giàu rồi, nghèo cũng nghèo rồi, chẳng còn sức lực và thời gian để thay đổi số mệnh.

Đau khổ, lo âu hay hạnh phúc, hoan hỉ đều do tâm ta mà ra. Cuối con đường của cuộc sống, an lạc, an nhiên mà đi, chăm sóc bản thân, chấp nhận cái đích cuối cùng của loài người, không âu lo, chẳng sợ hãi cái chết, hãy xem cuộc đời chẳng có gì là quan trọng nữa và tận hưởng nó đến giây phút cuối cùng, âu đó chính là con đường hạnh phúc. -/-

* HuỳnhMinh Hằng (st)

#ƯớcMơViệtTân


 

HÃY SỐNG NHƯ HÔM NAY LÀ NGÀY CUỐI CÙNG CỦA CHÚNG TA

Gieo Mầm Ơn Gọi

Đừng tính toán quá chi li, bởi thời gian còn lại của chúng ta mỗi ngày một ít đi.

Đừng cứ mãi than phiền trách móc, được gặp nhau vốn đã là điều tốt đẹp.

Đừng chỉ biết tranh cãi hơn thua, cùng đi chung một đoạn đường cũng là duyên… biết đâu ngày mai thôi mỗi người đã một hướng.

Không cần so sánh thấp cao với người khác, miễn thấy mình tiến bộ hơn hôm qua là được.Cũng không nhất thiết phải lo lắng quá nhiều, nhiều việc sức người không thay đổi được nên tùy duyên, vui sống.

Nhớ đối xử với bản thân mình tốt một chút, dè sẻn cả đời không dám tiêu xài lỡ nhắm mắt, xuôi tay… Muốn xài cũng muộn.

Đối diện với hiện tại vui vẻ một chút, vì cuộc sống vốn đã có rất nhiều chuyện phải lo rồi…!!!

Hãy sống như hôm nay là ngày cuối cùng của chúng ta.Tha thứ và yêu thương vô điều kiện, đừng bao giờ ngừng mỉm cười bởi vì… Cuộc sống thật sự rất ngắn ngủi.

Qua một ngày, mất một ngày.

Qua một ngày, vui một ngày.

Vui một ngày lãi một ngày…

Hạnh phúc do mình tạo ra. Hạnh phúc, bình an là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy.

Hạnh phúc và vui sướng là cảm giác và cảm nhận, khi tâm có chất liệu của hạnh phúc thì hoàn cảnh đau khổ, trái ý nghịch lòng đều là ”chuyện nhỏ” so với dung lượng hạnh phúc hiện hữu trong tâm.

St