Ông Trương Tấn Sang nhắc nhớ Đảng Cộng Sản về hiểm họa Trung Cộng chăng?
Nghĩ gì từ hiện tượng ‘du học rồi… mất tích’ (Phần 1)
Trân Văn
16-2-2024
Nam Hàn là điểm đến ưa thích của du học sinh và lao động trẻ Việt Nam.
Không phải đến bây giờ du học sinh Việt Nam ở Nam Hàn mới nổi tiếng vì mượn danh nghĩa du học để có thể đến Nam Hàn cư trú bất hợp pháp.
Nhiều người Việt cư trú tại Nam Hàn thở dài trước tin Pusan National University (PNU) tạm ngưng tiếp nhận sinh viên Việt Nam đến học Hàn ngữ. Mỗi năm PNU tiếp nhận khoảng 400 du học sinh từ Việt Nam đến trường này để học Hàn ngữ nhưng đa số cùng bỏ học để ra ngoài đi làm bất hợp pháp. PNU sợ điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới họ nên đưa ra quyết định vừa kể (1).
Vào website của PNU để tìm thêm thông tin, ắt sẽ thấy ở phần cung cấp dữ liệu hỗ trợ ghi danh bằng tiếnh Anh có lưu ý được highlight: Nationals of Africa, Vietnam, Mongolia, and Uzbekistan, please confirm the possibility of application with the regional coordinator via email in advance – Công dân các quốc gia châu Phi, Việt Nam, Mông Cổ và Uzbekistan nên dùng email liên lạc với Điều phối viên của khu vực để biết có thể nộp đơn hay không (2).
***
Visa cấp cho người ngoại quốc đến Nam Hàn học hành được xếp vào loại D. Trong đó D-2 dành cho nghiên cứu sinh tiến sĩ (D-2-4), sinh viên cao học (D-2-3), sinh viên đại học (D-2-2), sinh viên cao đẳng (D-2-1). D-4 dành cho những người đến Nam Hàn học trung học (D-4-3) hoặc trau dồi Hàn ngữ (D-4-1). Nhìn một cách tổng quát, có visa loại D vừa được phép đến Nam Hàn cư trú, vừa có quyền đi làm bán thời gian.
Cách nay khoảng ba tháng, ông Cho Jung-hun, Dân biểu Hạ viện Nam Hàn đã yêu cầu chính phủ Nam Hàn phải xem lại chính sách tiếp nhận sinh viên ngoại quốc đến Nam Hàn học hành. Dựa trên dữ liệu do Bộ Tư pháp Nam Hàn cung cấp thì có khoảng 65.000 sinh viên ngoại quốc đến Nam Hàn bằng visa D-4-1 để trau dồi Hàn Ngữ và tính từ tháng 6/2023, có khoảng 26.000 (40%) trở thành cư trú bất hợp pháp.
The Korea Times cho biết, trong 26.000 người đến Nam Hàn trau dồi Hàn ngữ nhưng cư trú bất hợp pháp, người Việt Nam chiếm đa số (gần 23.000 người), kế đó là Uzbekistan (khoảng 1.100 người), xếp thứ ba là Mông Cổ (hơn 800 người). Số lượng du học sinh đến Nam Hàn bằng visa D-2 nhưng bỏ dở việc học rồi trở thành cư trú bất hợp pháp cũng không hề nhỏ, riêng với D-2-1 (học cao đẳng), tỷ lệ cư trú bất hợp pháp lên tới hơn 27%.
Đó cũng là lý do nhiều người Nam Hàn tin rằng, mục đích thực sự của nhiều người đến Nam Hàn trau dồi Hàn ngữ là để kiếm việc làm. Song song với việc tường thuật nhận định, yêu cầu của ông Cho Jung-hun, rằng chính phủ Nam Hàn phải cẩn thận hơn trong việc cấp visa cho sinh viên ngoại quốc và phải có hướng dẫn chi tiết hơn để ứng phó với du học sinh từng quốc gia, The Korea Times nhắc lại một số sự kiện liên quan đến những người Việt tới Nam Hàn bằng visa D-4-1: Hồi tháng 8/2023, một thanh niên Việt Nam bị Tòa án quận Suwon phạt tù vì bán thuốc lắc. Thanh niên 23 tuổi này đến Nam Hàn hồi tháng 7/2019 bằng visa D-4-1, lẽ ra phải rời Nam Hàn vào tháng 10/2021 nhưng không quay về Việt Nam… Khi làm việc trong một câu lạc bộ được người Việt ví von là “thánh địa ma túy”, anh ta bị bắt quả tang đang bán thuốc lắc…
Hoặc sự kiện 164/1.900 du học sinh Việt Nam đến Đại học Quốc gia Incheon học Hàn ngữ đột nhiên mất tích sau khi chương trình đào tạo khởi động chừng vài tháng. Do luật pháp Nam Hàn yêu cầu các cơ sở giáo dục phải báo cáo nếu du học sinh vắng mặt quá 15 ngày nên tháng 12/2019, Đại học Quốc gia Incheon buộc phải báo cáo chuyện mất tích hàng loạt này cho cảnh sát và báo cáo ấy kích hoạt một cuộc săn lùng khắp Nam Hàn (3)!
***
Chuyện xin visa sang Nam Hàn du học rồi bỏ học ra ngoài làm việc bất hợp pháp, thật ra không mới. Cuối năm 2019, sau khi Đại học Quốc gia Incheon báo cáo có 164 du học sinh Việt Nam mất tích, báo điện tử VnExpress đã thực hiện một phóng sự bằng tiếng Anh mà tính chất giống như giải thích cho thiên hạ thông cảm, rằng tại sao du học sinh Việt Nam lại bỏ học hàng loạt để đi làm bất hợp pháp ở Nam Hàn (4).
Những người trong cuộc đã giải thích với phóng viên của VnExpress rằng họ xin visa D-4-1 để đến Nam Hàn không phải vì hiếu học mà vì “thủ tục đơn giản và khả năng được cấp visa lớn” để có cơ hội đi làm kiếm tiền ở Nam Hàn. Dù đó chính là là cư trú bất hợp pháp nhưng những người trong cuộc vẫn chọn lối này vì hoàn toàn bế tắc, không tìm thấy lối ra cho cả hiện tại lẫn tương lai của họ ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, nếu tốt nghiệp đại học, có việc làm, họ cũng chỉ có thể kiếm được 250 Mỹ kim/ tháng nhưng tại Nam Hàn, họ có thể được trả từ 2.500 đến 4.000 Mỹ kim/ tháng. Chi phí cho việc thực hiện ý định quá lớn (vài trăm triệu) cộng thêm với hy vọng có đủ điều kiện để gầy dựng tương lai nên nhiều thanh niên Việt Nam hy sinh tất cả mọi thứ, kể cả sức khỏe cho công việc, phần lớn làm việc suốt tuần, kể cả ngày nghỉ…
Không phải đến bây giờ du học sinh Việt Nam ở Nam Hàn mới nổi tiếng vì mượn danh nghĩa du học để có thể đến Nam Hàn cư trú bất hợp pháp. Năm 2018, trong số gần 14.000 du học sinh cư trú trái phép tại Nam Hàn có 2/3 là thanh niên người Việt, dù điều đó có thể khiến họ bị phạt 5.000 Mỹ kim và sáu tháng tù. Việt Nam cũng là quốc gia mà du học sinh phải gửi vào ngân hàng Nam Hàn khoản tiền cao hơn, rút ra khó hơn nhưng…
(Còn tiếp)
Chú thích
(2) https://lei.pusan.ac.kr/leieng/56426/subview.do
(3) https://www.koreatimes.co.kr/www/nation/2024/02/113_360839.html
NIỀM VUI LỚN HƠN-(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)
(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)
“Bấy giờ, ngươi kêu lên, Chúa sẽ nhận lời; ngươi cầu cứu, Người đáp lại: ‘Có Ta đây!’”.
“Là ‘những sinh vật’ nửa vời, chúng ta bị lừa dối bởi đồ uống, tình dục và tham vọng… đang khi niềm vui vô hạn được tặng ban thì bạn và tôi lại chối từ. Khác nào một đứa trẻ ngu ngốc chỉ muốn tiếp tục nướng những chiếc bánh bùn trong khu ổ chuột vì không hiểu được lời đề nghị của cha nó về một kỳ nghỉ bên ông ở một khu du lịch biển. Chúng ta dễ hài lòng với những gì mình có, để rồi, đánh mất một ‘niềm vui lớn hơn!’” – Clive Lewis.
Kính thưa Anh Chị em,
Đừng đánh mất một ‘niềm vui lớn hơn!’. Ý tưởng của Lewis được gặp lại qua Lời Chúa hôm nay khi các đồ đệ Gioan hỏi Chúa Giêsu tại sao các môn đệ Ngài không ăn chay. Như đồ đệ của Gioan, khi nói đến chay tịnh, chúng ta nghĩ đến việc ép xác; một cái gì đó đòi cố gắng bên ngoài; thế mà nói đến chay tịnh, còn phải nói đến một niềm vui bên trong.
Qua bài đọc một, Isaia chỉ ra cách thức để có niềm vui đó. “Là mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức”; là “chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo; thấy ai mình trần thì cho áo che thân”. Ai làm như thế, khi kêu lên, Chúa sẽ trả lời, “Có Ta đây!”. Người ấy cảm nhận sâu sắc một ‘niềm vui lớn hơn’ của Đấng hoán cải con tim; và linh hồn họ có thể hoà nhập vào quỹ đạo xót thương của Ngài.
Tin Mừng cũng xác nhận ‘niềm vui lớn hơn’ này. Những người ‘đạo đức’ xầm xì việc Chúa Giêsu và các môn đệ Ngài nhởn nhơ ăn uống; Ngài cho biết, sự hiện diện của Ngài bù cho việc môn đệ ăn chay. Bên Ngài, họ không cần làm điều đó; vì lẽ, sự hiện diện thân mật với Ngài đủ cho họ kiềm chế bất cứ tình cảm rối loạn, bất kỳ cảm giác thèm khát nào.
Bạn và tôi được kêu gọi không chỉ để vui hưởng “mấy chiếc bánh bùn”, nhưng còn để hướng đến một ‘niềm vui lớn hơn’. Và nếu chỉ nhắm đến những mục đích cao cả, thì với ân sủng Chúa, chúng ta chỉ muốn luôn làm điều đẹp lòng Ngài. Bấy giờ, tự nó, những ham muốn xác thịt ngổn ngang dù có đó, vẫn không thể cản bước bạn và tôi tiến về phía trước. Hãy để Thánh Thần thiêu đốt và dẫn dắt mọi việc; bấy giờ, ăn chay và tất cả các hình thức khổ chế khác sẽ giúp chúng ta tập trung vào Chúa, vào tinh thần, vào ‘niềm vui lớn hơn’ hơn là vào những yếu đuối, cám dỗ và xác thịt mà chúng ta khiêm tốn nhìn nhận, “Lạy Thiên Chúa, một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê!” – Thánh Vịnh đáp ca.
Anh Chị em,
“Có Ta đây!”. Chúa Giêsu hằng hiện diện với chúng ta! Trong Thánh Thể, Ngài sẵn sàng đưa chúng ta đến một nơi còn hơn “khu du lịch biển” đang khi chúng ta lại dễ bị lừa phỉnh bởi vô vàn mời mọc của bản năng, của thế gian, và hài lòng với “những chiếc bánh bùn”. Vậy mà chính những mời mọc ‘tưởng chừng như vô hại’ đó lại thiêu rụi ước muốn quy hướng về Chúa. Mùa Chay, mùa điều chỉnh thái độ, không dễ dãi hài lòng với những gì bên ngoài và quyết tâm tìm cho mình niềm vui bên trong. Mùa Chay còn là mùa khát khao Chúa, mùa chiến đấu để Ngài luôn là chọn lựa số một của linh hồn. Được như thế, bạn và tôi mới có thể trải nghiệm một ‘niềm vui lớn hơn’, niềm vui Giêsu, niềm vui thiên đàng.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, đừng để con bị mê hoặc bởi “những chiếc bánh bùn” giá rẻ. Cho con khát khao Chúa, còn hơn một đứa bé khát khao chuyến nghỉ hè tại một khu du lịch biển!”, Amen.
(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)
From: Kim Bang Nguyen
Ta là cát. Ta sẽ về với bụi
Xế Bóng Cuộc Đời “Thôi Mình Đi Em Nhé… !’’ – Phan
Phan
Hồi mới qua Mỹ, lần đầu thấy tấm bảng ghi là Estate Sale cắm ở góc đường, tôi đoán là một hình thức bán bớt đồ cũ trong nhà. Như bày bán ở garage thì gọi là Garage Sale, bày bán ở sân sau nhà thì gọi là Yard Sale, dọn nhà thì người ta bán bớt những thứ không tiện đem theo với bảng cắm là Moving Sale, còn Estate Sale… chắc cũng tương tự.
Tự dặn là về phải tra tự điển, nhưng rồi tôi quên luôn! Nhớ lại những ngày mới đến Mỹ, ra đường thấy chữ gì không hiểu thì cứ nhủ lòng về tra tự điển, nhưng bao giờ cũng quên nhiều hơn là nhớ. Cho tới một hôm tình cờ nghe cô bạn Mỹ làm chung kể chuyện, tôi mới hiểu chính xác Estate Sale là bán sạch gia tài.
Cổ kể là vợ chồng cổ mua được bộ bàn ăn thuộc loại đắt tiền, còn rất mới, nhưng với giá chỉ một phần mười giá trị thực của bộ bàn ăn đó. Cô ấy cho biết bộ bàn ăn trị giá năm ngàn đô la Mỹ, dù nó chỉ còn mới được tám mươi phần trăm nhưng nếu phải mua với giá một, hai ngàn đô la Mỹ thì cổ cũng đồng ý mua. Vậy mà vợ chồng cô ấy mua được với giá chỉ năm trăm đô la từ một căn nhà treo bảng Estate Sale.
Cô ấy phải ghi xuống giấy ngày, giờ và địa chỉ của căn nhà đó. Rồi thông báo cho chồng cô ta biết trước mấy ngày để đến đúng hôm đó, hai vợ chồng dậy sớm mà đi xếp hàng. Khi lọt được vào ngôi nhà Estate Sale, cô nhanh chóng quyết định, nhưng phải kể là may mắn nên cô đã mua được bộ bàn ăn thuộc loại đắt tiền với giá quá rẻ. Trò chuyện thêm với cô bạn, tôi mới hiểu ra Estate Sale là bán toàn bộ đồ đạc trong nhà: từ ly tách muỗng chén, đến quần áo, giường ngủ, tủ trà, bệ thờ; tới cả tranh, tượng, đồ kỷ niệm…
Nhưng giá bán của Estate Sale không rẻ như Garage Sale, Yard Sale hay Moving Sale vì không phải là đồ thừa trong nhà. Lý do bán hết các thứ trong nhà vì chủ nhà phải vô viện dưỡng lão chẳng hạn; những người già neo đơn ấy không có thân nhân để có thể cho lại, nên họ bán hết, bán sạch, với giá cao hơn bán đồ cũ, đồ thừa của Garage Sale, Yard Sale hay Moving Sale… Người Mỹ đi Estate Sale như đi hội chợ, nhất là Estate Sale ở những khu nhà giàu. Ngay từ sáng sớm thiên hạ đã xếp hàng ghi tên, xe đậu dài hai ba “block” đường. Tới giờ mở cửa, người ta tranh nhau mua. Sau đó bưng bê nườm nượp, náo nức như được chia của.
Câu chuyện về Estate Sale như một hiểu biết thêm về đời sống Mỹ trong đầu óc mới tới định cư của tôi. Rồi thời gian và cuộc sống cá nhân quay cuồng theo cơm áo gạo tiền nên chả nhớ gì tới Estate Sale nữa. Cho tới một sáng cuối thu, dù đã 7 giờ nhưng mặt trời còn chưa ló dạng. Không gian yên ắng tới nỗi chỉ nghe mỗi tiếng đồng hồ tích tắc trên tường. Ngoài cửa sổ, sương còn phủ ngọn đồi sau nhà mờ ảo màu lá vàng phai. Không gian đẹp nhưng buồn quá, nhất là cái lạnh đã len lỏi về trên những ngón tay cảm giác điêu tàn. Tôi đi thay quần áo để lên đường, đi giúp một ông bạn già. Hôm nay ổng bán Estate Sale.
Tuy hẹn 9 giờ nhưng tôi đi sớm để có thời gian ngồi uống với ông bạn bình trà, bởi tôi nghĩ hôm nay có thể là lần cuối tôi gặp ông ấy. Nhớ lại, tôi quen biết ông chừng năm, bảy năm trước ở trung tâm sinh hoạt cao niên trong thành phố. Bữa đó chính ông đã đến bắt tay tôi trước, hỏi tôi có phải là Phan mà ông thường đọc đó không? Tôi có cảm tình ngay với một người lớn tuổi, hiền lành, đôn hậu. Tình thân chưa có nhưng lòng cảm mến thì nhiều, tôi cho ông số điện thoại để tiếp tục nói chuyện vào dịp khác bởi tôi đang bận với một cuộc phỏng vấn…
Rồi tình thân nảy nở sau những lần ông mời tôi đi uống cà phê, rất thỉnh thoảng, nhưng ông thực sự có hiện diện trong tôi như một người bạn mà tôi thường tự trách là ít thăm hỏi ông, hay mời ông đi uống nước. Giao tiếp với người già chỉ mất ít thời gian mà được lợi rất nhiều về kiến thức và kinh nghiệm sống. Biết thế, nhưng khi có thời gian rảnh thì tôi vẫn đi chơi với bạn trẻ nhiều hơn. Chỉ khi cần hỏi, là cần tới người già thì tôi mới nhớ tới ông, gọi ông, mời ông đi uống ly cà phê…
Tôi là một con người hiện đại qua cách tìm thông tin là biết hỏi ai; và ông bạn già là người thuộc thế hệ cũ sẵn sàng cho không kiến thức, kinh nghiệm tích lũy cả đời. Sự cho và nhận co giãn theo tuổi đời thì tôi co ông giãn. Đó là ý nghĩ hôm trời mới chớm thu, tôi gọi ông, mời ông đi uống ly cà phê vào một sáng cuối tuần. Hôm đó, tôi không có gì để hỏi ông mà chỉ là bỗng nhớ tới một người bạn mà quỹ thời gian của người đó không còn nhiều nên tôi dành thời gian rảnh rỗi cho ông. Hôm đó ông nói với tôi là “Anh cũng đã già…”. Tôi tin nhận xét của ông vì tôi đã vừa từ chối bạn bè trang lứa rủ nhau đi nông trại của một người bạn từ sáng sớm để hạ một con dê và nhậu tới chiều. Chắc chắn là một cuộc vui nhưng rồi cuộc vui nào cũng tàn. Bạn bè chưa già thì còn dịp khác để gặp. Nhưng ông bạn già hiu hắt như gió thu, hôm tình cờ gặp nhau ngoài chợ, lòng tôi bất an sau khi chia tay…
Hôm đầu thu đó, hỏi thăm ra mới biết, vợ ông đã qua đời hồi hè. Bà đi thăm con gái với cháu ngoại bên Cali, bị đột quỵ và mất luôn ở bên ấy. Ông muốn đưa bà về Dallas để lo ma chay vì bà đã sống ở Dallas mấy chục năm. Nhưng người con trai sống ở Dallas thì lại muốn em gái lo ma chay cho mẹ bên Cali cho tiện. Cái lý anh ta đưa ra là chết ở Mỹ thì lo ma chay ở đâu cũng chỉ là cái nhà quàn như nhau. Tôi chỉ quen biết ông như một người viết và một độc giả, chưa bao giờ tôi uống với ông một ly bia vì ông không rượu bia, không thuốc lá. Nhưng hôm đầu thu đó, ông tự tay mượn điếu thuốc đang cháy dở trên tay tôi; ông hút một hơi thuốc thật sâu, rồi trả lại. Tôi sợ ông sặc, nhưng ông đã không sặc.
Ông nhả khói chậm rãi và chìm vào tâm sự: “Tôi chưa bao giờ nói với anh, cũng không nghĩ tới chuyện nói với ai. Nhưng nỗi buồn trong tâm khảm tôi lớn dần như mầm bệnh ung thư tới hồi bộc phát. Tôi biết là trước sau gì cũng chết, tôi không sợ chết, chỉ buồn lòng người làm cha mà không biết dạy con mình. Vợ chồng tôi chỉ có hai người con. Lo được cho thằng lớn ăn học tới ra đại học không phải nợ tiền học đồng nào. Nó đi làm, lãnh lương cất riêng vào trương mục nhà băng của nó. Ngày ngày vẫn về nhà ăn ở, cha mẹ lo. Nó cho đó là lối sống Mỹ và nó chọn cách sống ấy. “Cha mẹ đừng tọc mạch vào thu nhập của con cái”. Nhưng khi nó muốn lấy vợ thì nó chọn lối sống của người Việt là dù sống ở đâu trên địa cầu thì chuyện cưới hỏi của con cái, cha mẹ người Việt cũng đứng ra lo cho con. Thế là vợ chồng tôi lo cưới vợ cho con trai.
Tôi không lấy gì làm buồn lòng vì cha mẹ tôi cũng đi cưới vợ cho tôi khi xưa. Nhưng rồi con tôi muốn mua nhà. Nó trình bày với vợ chồng tôi là nó mua nhà trăm rưỡi, cần mượn nhà băng một trăm ngàn, nếu trả trong ba mươi năm thì tổng số tiền nó phải trả cho nhà băng lên tới ba trăm ngàn. Nghĩa là một trăm ngàn vốn với hai trăm ngàn tiền lời trong ba mươi năm. Nó muốn cha mẹ giúp đỡ cho nó mượn một trăm ngàn để nó trả dứt căn nhà ngay khi mua, không phải trả tiền lời cho nhà băng. Nếu nó phải trả số tiền ba trăm ngàn trong ba mươi năm, thì mười năm cho một trăm ngàn. Nó sẽ trả cho cha mẹ một trăm ngàn trong mười năm là khả năng có thể.
Tôi bắt đầu thất vọng về con trai tôi. Vì gom hết tiền 401-K của cha mẹ thì đủ một trăm ngàn cho nó mượn. Vợ chồng đã về hưu thì tiền già gói ghém cũng đủ sống, nhưng tiền đâu lo cho con em nó còn trong đại học để khỏi mượn nợ? Tôi suy nghĩ nhiều đêm và chợt nghĩ đằng nào cũng mất con rồi! Đó là cái giá phải trả cho mưu cầu tương lai của con cái. Tôi đưa nó đến Mỹ chứ tự nó đâu đi một mình được. Tôi sinh ra nó chứ nó đâu tự xuất hiện trên đời này được…
Nhưng tôi thất bại trong chuyện dạy nó sống đùm bọc với người thân. Tôi có lỗi đã để nó hấp thụ lối sống ích kỷ của xứ sở này. Đằng nào tôi cũng mất con rồi. Nếu đồng ý cho nó mượn một trăm ngàn không tiền lời là tôi đã thẳng thắn nhìn nhận mình thua cuộc; không bao giờ dạy được con quay lại lối sống đùm bọc nhau của người Việt mình nữa. Nhưng từ chối nó… thì tôi mất luôn vợ! Vì mẹ nào chả thương con, thương càng mù quáng tình mẫu tử càng lên ngôi.
Nó trả lời cho tôi câu hỏi: “Tiền đâu để lo cho em nó?”. “Thì ba mẹ lấy tiền con trả hàng tháng để lo cho nó”. Tôi định hỏi câu hỏi quan trọng nhất theo kinh nghiệm của tôi là: “Nhưng con có chắc là con sẽ trả cho ba mẹ hàng tháng, hay trả vài tháng… rồi quên luôn?”. Tôi thương vợ tôi nên đã cho con trai tôi mượn một trăm ngàn. Vợ tôi mất tinh thần nhiều năm sau đó vì đúng là nó không trả.
Nhưng chúng tôi được trời phật cho lại đứa con gái muộn màng nhưng hết mực hiếu thảo. Nó là nguồn an ủi, niềm vui còn lại cho vợ chồng tôi. Lúc nào nó cũng vui vẻ nói là ba mẹ chết rồi thì tài sản cũng để lại cho anh em con thôi. Anh Hai cần trước thì anh Hai lấy trước. Ba mẹ đừng có giận anh Hai nữa, chỉ tổn hao sức khỏe cho ba mẹ thôi. Còn con, nợ học thì ai đi học ở Mỹ mà không nợ. Chừng con ra trường thì con trả. Ba mẹ đừng lo nữa.
Con bé lạc quan nói sao làm vậy. Về sau, nó lấy chồng bên Cali nên về Cali sống. Vợ tôi muốn bán nhà, dọn về Cali ở với con gái thì thằng con trai không cho đi vì bà nội phải ở Dallas để trông con cho vợ chồng nó đi làm… Đến cái chết đột ngột của mẹ nó. Tôi muốn đưa bà ấy về Dallas để lo ma chay vì bà ấy sống ở đây đã như là quê hương. Nó ngại tốn kém nên lý lẽ bất dung tình với cả cha mẹ. Tôi không buồn sao được anh…”.
Ôi, cái hôm đầu thu đó! Nhớ lại sao mà buồn. Và tại sao lại có hôm nay, tôi đến giúp ông bạn bán Estate Sale, bán hết gia tài một lần để giã biệt. Buổi chiều cuộc đời như không gian thu tràn ngập lá vàng bay, những nảy nở mùa xuân, khoe sắc hạ, thu úa, đông về…
Ông bạn già có sống tới trăm tuổi thì mùa thu thứ một trăm của cuộc đời cũng phải rời bỏ ngôi nhà không cần bật đèn giữa nửa đêm cũng biết lối đi; bán bỏ cả cái thìa khuấy ly cà phê mỗi sáng mà người gia chủ chắc là khuấy ly cà phê bằng cái thìa khác sẽ không ngon. Rồi bức tranh mua Garage Sale có vài đồng bạc hồi mới qua Mỹ, nhưng không có nó trên tường nhà thì cứ tưởng mình đang ở chơi nhà bạn, hay nhà bà con chứ không phải nhà mình; đến tiếng cái đồng hồ nhà mình cũng khác hẳn tiếng đồng hồ nhà khác mà chỉ có mình phân biệt được… lại còn nắm đất quê hương trên bàn thờ hồi ra đi mình mang theo để nhớ đường về. Nhưng nó nằm im lặng đã bốn mươi năm. Bây giờ người đem nó đi còn gửi lại nắm xương ở quê người thì nắm đất quê hương ấy trở thành oan nghiệt.
Cho không ai lấy, bán chẳng ai mua, mà ném qua cửa sổ thì hóa ra mình đã biến thành thú vật. Tôi ứa nước mắt trên tay lái, làm sao ông bạn tôi có thể sống sau hôm nay khi chính tay tôi bán hết những gì đã gắn bó với ông cả đời. Tôi, chính tôi, đã tiếp tay thần chết sớm bắt ông rời bỏ thói quen và kỷ niệm; rồi rời bỏ tới người thân; cuối cùng là rời bỏ cuộc đời… Nhưng nhớ lại tâm sự đầu thu của ông, ông đi dự đám tang của vợ bên Cali như người quen biết cũ, mấy chục năm vợ chồng còn lại cái trống không trong lòng già. Con trai ông đi dự đám tang của mẹ dửng dưng đến mức lúc về, anh ta nhắc ông là ba phải làm di chúc căn nhà lại cho con, vì ba đi đột ngột như má thì chính phủ lấy nhà…
Tôi nghĩ chắc anh ta không chỉ muốn lấy căn nhà đã trả hết mà muốn lấy luôn cả phần bảo hiểm nhân thọ của cha nên mới chọc giận ông đúng thời điểm tinh thần và thể lực của ông suy kiệt nhất sau mấy ngày đám tang bên Cali. Tôi biết anh ta và từng gặp mặt vì Dallas đâu có mấy nhà hàng của người Việt. Anh là ai trong gia đình lớn của anh, gia đình nhỏ của anh, trong xã hội anh đang sống… tôi không quan tâm tới địa vị hay tên tuổi của anh ở địa phương. Tôi chỉ biết là tôi đã có lỗi với một người không có lỗi gì với tôi là anh. Tôi đã đồng tình với ý kiến của con gái ông, dù chỉ nghe ông kể.
“… con còn phải đi làm và lo lắng cho gia đình con. Con không thể chăm sóc cho ba mỗi ngày như má. Nhưng má mất rồi thì ba không thể ở một mình. Ba có chuyện gì, không ai biết, không ai hay… làm sao con yên tâm. Con xin ba giao hết nhà cửa cho anh Hai muốn làm gì làm. Ba về Cali với con. Ba phải ở viện dưỡng lão vì con không thể và không có thời gian để lo cho ba như má. Nhưng vài hôm con sẽ ghé thăm ba một, hai tiếng đồng hồ; con nấu được gì ngon, con đem vô cho ba ăn. Ba có chuyện gì, người chăm sóc cho ba sẽ báo ngay cho con, con vô ngay với ba…”.
Tôi có tào lao lắm không khi không lên tiếng về chuyện nhà người khác? Tôi nói với ông hôm đầu thu: “Chia buồn với ông về sự mất mát người thân nhất của ông mà tôi không biết, cho dù ông có cho hay thì tôi chắc cũng không có điều kiện bay qua Cali để viếng tang của bà. Thôi thì ngày nào còn sống hãy tính chuyện đời cho xong để êm xuôi khi ra đi. Ông bà đã giúp con trai không phải nợ tiền học. Tôi tính nhanh là đã cho anh ta năm chục ngàn. Ông bà cho anh ta mượn một trăm ngàn mua nhà và không hoàn lại. Vậy là ông bà đã cho con trai một trăm năm chục ngàn. Bây giờ ông bán căn nhà mà ông đang ở cũng cỡ một trăm năm chục ngàn. Số tiền đó cho hết con gái là công bằng với con cái. Ông về Cali sống với đề nghị của con gái là hoàn toàn hợp lý.
Số tiền bảo hiểm nhân thọ của vợ ông, gửi con gái để lo cho ông những ngày cuối đời. Thừa thiếu gì thì tôi tin là con gái ông không tính toán với ông. Còn phần bảo hiểm nhân thọ của ông thì di chúc lại cho con gái. Nhưng chỉ nhờ cô ta quản lý số tiền đó để về sau chia đều cho hết cháu nội, cháu ngoại của ông bà. Cứ đứa nào vô đại học thì được nhận một khoản tiền do ông bà để lại cho con cháu ăn học. Tôi biết, với đà lạm phát và trượt giá ở nước Mỹ thì số tiền học bổng miễn hoàn lại cho con cháu sẽ không nhiều, nhưng rất có ý nghĩa về mặt tinh thần với đời thứ ba của gia đình ông trên nước Mỹ…”.
Câu chuyện đầu thu mới đó mà đã cuối thu rồi! Ông bạn tôi đúng là người độ lượng như tôi đã tin ông như thế! Ông giao căn nhà cho con dâu để cho mướn kiếm thêm tiền chợ cho cháu nội ông được sống sung túc hơn. Ông di chúc lại căn nhà cho con dâu của ông chứ không bán. Giấy tờ xác quyết là tài sản riêng của con dâu, “để nhỡ… vợ chồng con xảy ra chuyện bất trắc gì sau khi ba mất, thì ba mẹ chỉ giúp được con một chỗ ở để nuôi mấy đứa cháu nội của ba mẹ. Cảm ơn con”.
Ông cho hết con gái khoản tiền bảo hiểm nhân thọ của mẹ cô ấy. Ông nghe tôi về khoản tiền bảo hiểm nhân thọ của ông. Ông chỉ còn giữ lại hàng hà kỷ niệm trong từng đồ vật mà tôi đang bán cho những người không quen biết. Thế nên mắt ông lạc thần trông theo từng kỷ niệm vĩnh biệt ông lần cuối khi bước ra khỏi cửa một mái ấm gia đình đã tới hồi kết. Đó là buổi sáng một ngày cuối thu mà tôi sẽ không bao giờ quên với hình ảnh một người đàn ông biệt xứ lúc cuối đời, tay khép lại cánh cửa nhà mình lần cuối, bình thản nói: “Thôi, mình đi nghe em…”, là di ảnh của bà mà ông kẹp ở nách để khóa cửa ra đi…
Ngoài đường, những trang trí cho ngày lễ Halloween đã lên đèn dọc lối đi. Tôi nhìn ông thả bộ ra xe mà thấy một kiếp người đến với cuộc đời cách nay tám mươi năm, chỉ có tiếng khóc là gia tài thì hôm nay là món cuối cùng Estate Sale. Ông trầm ngâm buổi sáng, thở dài buổi trưa, rồi ngấn lệ buổi chiều theo từng kỷ niệm vĩnh biệt ông ra đi. Nhưng cuối ngày ông lại mỉm cười với di ảnh vợ lúc khóa cửa. Cái nháy mắt tinh nghịch của ông với di ảnh bà là bằng chứng ông đến với cuộc đời này bằng một tiếng khóc nhưng khi ra đi ông đã đem theo một người tình.
Tôi nhìn theo ông ấy tan vào màn đêm phủ về. Nhìn lại mình sau một ngày tiếp tay thần chết, nách tôi kẹp chai rượu thần chết thưởng cho tôi nhưng quân sĩ của thần chết đã giao lộn vào nhà một người không uống rượu nên phải nằm chờ tới Estate Sale này. Tới Estate Sale của tôi, cũng là kinh doanh từ vốn liếng là tiếng khóc chào đời, tôi sẽ kẹp nách mang theo được gì lúc ra đi? Chỉ biết chai rượu thường nhưng để lâu năm cũng ngon như nước cam tuyền… từ đầu tiên mộng tới phiền muộn sau. Đâu đó là thơ Bùi Giáng. Uống xong ly rượu cùng nhau / Hẹn rằng mãi mãi quên nhau muôn đời… Khi hiểu được thơ Bùi Giáng thì cuộc đời coi như đã tàn thu. Còn bạn?
Phan
From: Giao Su Nguyen Phi Phuong
DÂN TỘC DUY NHẤT KHÔNG CÓ ĂN MÀY
Trong hơn 2000 năm, người Do Thái ly biệt quê hương và tản mạn đi khắp mọi khu vực của trái đất.
Mãi đến năm 1947, khi chiến tranh thế giới thứ 2 chấm dứt, người Do Thái mới trở về đất nước của mình.
Nhưng mà, là một dân tộc dù phải lang bạt hơn 2000 năm, nhưng Do Thái lại là dân tộc “độc nhất vô nhị” không có người ăn mày.
Người Do Thái cho rằng: Giáo viên vĩ đại hơn cả quốc vương. Họ vô cùng kính trọng giáo viên.
Dựa vào học tập, tri thức và sách, người Do Thái dù lang thang ở bất kể nơi đâu họ cũng đều có thể sinh tồn, hơn nữa còn phát triển mạnh mẽ.
Người Do Thái là một dân tộc có tín ngưỡng tôn giáo mạnh mẽ. Họ coi học tập là một phần của tín ngưỡng, học tập là một hình thức thể hiện sự tôn kính của mình đối với Thượng đế.
Mỗi người Do Thái đều cần phải đọc sách.
Talmud chính là nguồn gốc trí tuệ của người Do Thái. Talmud có nghĩa là “nghiên cứu” hoặc “nghiên cứu và học tập”.
Talmud cho rằng:
“Học tập là thứ giúp hành vi hướng thiện, là nguồn gốc của đức hạnh. Sự thành kính, lương thiện, ôn hòa, ưu nhã của một người đều là dựa vào kết quả của giáo dục.”
Người Do Thái coi sách là bảo bối của cả đời. Giá sách không được đặt ở đầu giường hay cuối giường nếu không sẽ bị coi là bất kính với sách.
“Trí tuệ quan trọng hơn tri thức”.
Như thế nào là tri thức?
Tri thức chính là thực tế khách quan và chân tướng của vạn sự vạn vật.
Còn trí tuệ là đem thực tế khách quan và chân tướng của vạn sự vạn vật tiến hành tổng hợp ra một phương án tốt nhất để giải quyết vấn đề.
Đối với con người, quan trọng nhất là cái gì?
Là đến từ trí tuệ, mà trí tuệ lại đến từ tri thức.
Mục đích của đọc sách là để mở rộng tri thức, sau khi đã chuẩn bị được nguồn tri thức phong phú, bạn sẽ học được cách suy xét.
Bạn sẽ minh bạch được đạo lý làm người hoặc là sẽ tìm được cách thức giải quyết vấn đề. Đây chính là trí tuệ!
Vì vậy, trí tuệ đến từ tri thức và quan trọng hơn tri thức!
Người Do Thái ủng hộ sáng tạo cái mới.
Họ cho rằng, việc sáng tạo ra cái mới chính là trí tuệ, phải dám hoài nghi, dám đặt câu hỏi bất cứ lúc nào, bởi vì tri thức càng nhiều sẽ càng sản sinh ra sự hoài nghi.
Người Trung Quốc thường hỏi con cái khi chúng tan trường là:
– “Hôm nay con làm bài thế nào?”
Còn người Do Thái sẽ hỏi con:
– “Hôm nay con có đưa ra câu hỏi nào không?
– “Hôm nay con có gì khác hôm qua không?”
Người Do Thái cho rằng, thông qua học tập mọi người có thể nhận thức chính mình và siêu việt chính mình.
Cách giáo dục của người Do Thái bao gồm cả đóng và mở.
Đối với nội bộ người Do Thái là cởi mở, còn đối với bên ngoài là đóng kín, để duy trì sự cạnh tranh sinh tồn của người Do Thái. Talmud là kinh thánh chuẩn.
Trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ 6 công nguyên, người Do Thái đã vận dụng nó 500 năm.
Hơn 2000 giáo sĩ Do Thái và các nhà khoa học đã biên soạn ra cuốn sách quý này. Nó là bảo bối sinh tồn của người Do Thái.
Trên thế giới, dân tộc Do Thái là dân tộc hiểu nhất về nghệ thuật của giáo dục. Có thể nói, người Do Thái là dân tộc thành công nhất về giáo dục.
Người Do Thái cho rằng giáo dục có thể cải biến đời người, số mệnh, cải biến hết thảy.
Vì vậy, trong hơn 2000 năm lang bạt trong lịch sử, hết thảy mọi thứ của họ đều bị cướp đoạt hết chỉ có sách và tri thức là không thể bị cướp mất.
Người Do Thái vô cùng coi trọng giáo dục, tri thức và sách.
Chỉ có tri thức là tài phú quan trọng nhất, là tài sản có thể mang theo bên mình và còn cả đời có thể hưởng dụng.
Vì thế, người Do Thái là dân tộc đầu tiên trên thế giới xóa mù chữ.
Từ trước năm 1947, ngay cả một mảnh đất lãnh thổ cũng không có. Thế nhưng, trong thời kỳ trung cổ, người Do Thái đã xóa mù chữ, vì vậy tố chất chỉnh thể của dân tộc này cao hơn của các dân tộc khác một bậc.
Dù với dân số ít ỏi, nhưng Do Thái là dân tộc đã giành được rất nhiều giải thưởng Nobel, với 169 người, chiếm 17.7% tổng số người giành được giải thưởng này của cả thế giới.
Chính những yếu tố này đã khiến cho người dân Do Thái dù phải phiêu bạt khắp thế giới hơn 2000 năm, nhưng lại là một nước duy nhất trên thế giới không có ăn mày.
ST
Fb Phuong Tran
From: haiphuoc47& NguyenNThu
5 BÍ MẬT CỦA TẾT – Nguyễn Quang Thiều
– Nguyễn Quang Thiều
Từ cách đây mấy năm, có một số người đã đặt vấn đề bỏ ăn Tết truyền thống và dùng tết dương lịch thay vào.

Lý do của họ thật đơn giản. Họ cho rằng Tết truyền thống hiện nay gây ra một số phiền lụy như lãng phí thời gian và vật chất, sinh ra một số thói xấu trong việc biếu xén quà cáp… và làm cho con người mệt mỏi.
Những hiện tượng mà họ đưa ra là đúng. Nhưng hình như họ mắc sai lầm đâu đó trong cách nhìn nhận bản chất của Tết truyền thống của người Việt. Thực chất, những phiền lụy ấy là sinh ra từ thái độ sống của những người lấy Tết như là một lý do chứ không phải là một sự kiện của văn hóa.Những sự kiện văn hóa được sinh ra từ đời sống tinh thần của con người và những sự kiện văn hóa ấy quay lại làm nên ý nghĩa của đời sống cho con người. Tết chỉ diễn ra trong mấy ngày nhưng lại chứa đựng những giá trị tinh thần bền vững của văn hóa Việt. Tết không phải đơn giản là sự kết thúc một vòng thời gian tính theo năm mà như là một tiếng lay gọi làm cho con người thức tỉnh bao điều. Và tôi nghĩ, Tết chứa đựng trong nó những bí mật làm cho con người sống tốt đẹp hơn.
Bí mật thứ nhất: KHƠI MỞ TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG
Mỗi năm, khi đến những ngày giáp Tết, là lúc lòng người dâng lên nỗi nhớ cố hương và những người thân yêu của mình. Người xa nhà mong trở về, người ở nhà mong người đi xa về. Trong thời gian suốt một năm, những ngày giáp Tết là những ngày nỗi nhớ thương ấy nhiều hơn tất cả những ngày khác.
Tôi từng gặp những người định cư ở nước ngoài trong những ngày giáp Tết mà họ không trở về cố hương mình được. Thời gian ấy đối với họ là khoảng thời gian mà ký ức họ ngập tràn những kỷ niệm về nơi họ sinh ra và lớn lên. Đó cũng chính là thời gian mà con người nghĩ về nơi chôn nhau cắt rốn nhiều nhất và da diết nhất.
Vào những ngày giáp Tết ở quê tôi, những gia đình có người thân đi làm ăn, học hành xa hoặc lấy chồng, lấy vợ ở xa đều mong ngóng họ trở về. Vào đêm giao thừa, những gia đình ấy vẫn mở cửa ngõ và lắng nghe tiếng chân ai đó vào ngõ. Có thể những ngày khác trong năm họ bận công việc, học hành… mà ít nhớ về cố hương.
Và cũng có thể có người bỏ quê ra đi vì nhiều lý do không có ý định trở về, nhưng khi Tết đến, lòng họ bỗng đổi thay. Lúc đó, tiếng gọi của cố hương, của những người thân yêu vang lên trong lòng họ hơn lúc nào hết. Và chính vậy mà có những người khi đã già thì tìm cách trở về cố hương.
Không ít những người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài mấy chục năm cuối cùng đã trở về để được sống và được chết trên mảnh đất cố hương mình. Khoảng thời gian kỳ diệu của những ngày giáp Tết đã chứa đựng trong đó những bí mật có khả năng đánh thức sự lãng quên của con người.
Bí mật thứ hai: KẾT NỐI VỚI QUÁ KHỨ
Vào ngày cuối cùng của năm cũ, hầu hết ở các làng quê, những người sống khăn áo chỉnh tề ra phần mộ của những người thân yêu đã khuất thắp hương và mời người đã khuất trở về ăn Tết cùng gia đình.
Có một sự thật là, trong cái thời khắc thiêng liêng đứng trước phần mộ của những người thân yêu trong ngày cuối năm gió lạnh, những người sống cảm thấy được hơi thở, giọng nói và nhìn thấy gương mặt của những người đã khuất.
Ngày cuối cùng ấy của năm cũ, một không khí lạ lùng bao phủ con đường từ nghĩa trang trên cánh đồng chạy về làng và bao phủ trong những ngôi nhà. Những mất mát, những thương đau và nhớ nhung những người thân yêu đã khuất như vụt tan biến. Những người sống cảm thấy ngôi nhà của họ ấm áp hơn.
Cái ngày cuối cùng của năm cũ ấy như mở ra một cánh cửa vô hình để những người sống và những người đã khuất gặp nhau cho dù chỉ ở trong cảm giác và cảm xúc. Nhưng những điều đó cho dù mơ hồ vẫn là một phần quan trọng trong đời sống của con người. Nó làm cho con người dâng lên tình yêu thương, lòng ơn kính với tổ tiên, ông bà, cha mẹ…
Và như một sự vô tình, không khí của ngày cuối cùng năm cũ ấy gieo vào lòng người sống những hạt giống của tình yêu thương và kết nối họ với quá khứ.
Bí mật thứ ba: SỰ BỀN VỮNG CỦA GIA ĐÌNH
Ai cũng có một gia đình. Và không ít gia đình hiện nay do xã hội thay đổi và do nhiều lý do của đời sống mà các thành viên trong gia đình sống tản mạn ở nhiều nơi khác nhau. Có không ít gia đình chẳng bao giờ có một ngày sum họp đầy đủ các thành viên của mình.
Đôi khi, với lý do này, lý do khác mà ông bà, cha mẹ, anh em, dâu rể, con cháu trong một gia đình không có dịp sum vầy với nhau. Nhưng Tết là dịp duy nhất với lý do hợp lý nhất để mọi người bỏ hết công việc sum họp với nhau.
Khi mẹ tôi còn sống, mẹ tôi mong Tết. Bà mong Tết không phải như tôi từng mong Tết đến hồi còn nhỏ cho dù Tết đến mẹ tôi phải lo lắng nhiều thứ. Mẹ tôi mong Tết để những đứa con của bà có ít nhất một ngày quây quần bên bà như khi chúng còn nhỏ.
Cho dù khi tôi đã có tuổi, nhưng tôi vẫn cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi có một ngày anh chị em cùng con cháu trở về làng và được ngồi ăn một bữa cơm bên cha mẹ trong ngôi nhà chúng tôi đã lớn lên. Khi cha mẹ mất đi, nhiều người mới nhận ra sự mất mát to lớn không gì bù đắp nổi.
Một hiện thực mà hầu như ai cũng nhận ra là đời sống hiện đại đã và đang xé một gia đình truyền thống ra từng mảnh. Và như vậy, tính bền vững của một gia đình sẽ bị lung lay. Hàng năm vào những ngày giáp Tết, tôi thích ngắm nhìn những người khăn gói về quê ăn Tết.
Không có gì quyến rũ họ ngoài việc họ được trở về nhà mình và sum họp với ông bà, cha mẹ, anh em, họ hàng, làng xóm. Hình ảnh ấy luôn làm tôi xúc động.
Bí mật thứ tư: SỰ HÀN GẮN
Có những rạn vỡ giữa người này người kia mà một hoặc cả hai người không có cơ hội để gặp nhau và nói một lời xin lỗi hay chia sẻ và xóa đi những hiềm khích, mâu thuẫn trước đó. Nhưng khi Tết đến, họ nhận ra đó là cơ hội tốt nhất cho họ.
Thường khi bước sang năm mới, người ta cho phép quên đi, bỏ qua những phiền lụy, những sai lầm trong năm cũ của chính cá nhân mình. Có một bí mật nào đấy của năm mới đã ban cho con người khả năng chia sẻ và tha thứ.
Bí mật ấy nằm trong những cơn mưa xuân ấm áp bay về, trong sự thao thức của lòng người chờ đợi, trong sự thiêng liêng của hương nến trên ban thờ mỗi gia đình, trong sự chào hỏi ân tình của mọi người khi gặp nhau, trong giờ phút thiêng liêng của sự chuyển mùa, trong sự tưởng nhớ những người thân yêu đã khuất…
Tất cả những điều đó đã làm lòng người rạo rực và đổi thay. Có những gia đình mà vợ chồng, anh em mâu thuẫn với nhau rồi cứ giữ sự im lặng lạnh giá ấy ngày này qua ngày khác. Nhưng khi họ cùng nhau ngồi xuống bên mâm cơm tất niên cùng chạm chén rượu, cùng mời cha mẹ ăn cơm thì mọi chuyện bắt đầu tan đi.
Trước kia, cứ vào những ngày cuối năm, những người làng tôi có chuyện xích mích hay sai trái với ai đó thường mang một quả bưởi, một nải chuối, một cặp bánh chưng hay dăm cặp bánh mật đến nhà người mà mình có xích mích hoặc có lỗi, xin được thắp nén hương thơm trên ban thờ tổ tiên người đó và nói lời thanh minh hoặc xin lỗi. Và như có phép lạ, sự xích mích, sai trái bám theo họ đằng đẵng cả một năm trời bỗng rời bỏ họ.
Người được xin lỗi cũng nhận ra rằng: chính thời khắc thiêng liêng ấy của đất trời và của lòng người đã làm cho người có lỗi thành thật. Và khi lòng thành thật của người có lỗi được mở ra thì sự tha thứ cũng mở ra theo.
Bí mật thứ năm: NIỀM HY VỌNG
Cuộc sống có biết bao thăng trầm. Trong chúng ta ai cũng có những năm nhiều nỗi buồn, ít may mắn. Nhưng ai cũng có một niềm tin rằng, ngày mai mọi điều sẽ tốt đẹp hơn, năm mới mọi điều sẽ may mắn hơn. Không ít người gặp những năm vận hạn thường tự động viên chính mình bằng một ý nghĩ: “Năm cũ sẽ qua đi, năm mới sẽ đến. Mọi điều sẽ tốt đẹp hơn”.
Đấy là một nguyện ước, đấy là một niềm tin. Nếu không có niềm tin ấy và nguyện ước ấy, không ít người sẽ bị những nỗi buồn, đau đớn và kém may mắn dìm xuống vực sâu của sự thất vọng. Trong suốt một năm, có người có thể sống triền miên trong buồn bã, bỏ mặc nhà cửa.
Nhưng rồi đến một ngày giáp Tết, họ đã đứng dậy, dọn dẹp nhà cửa với một niềm tin những điều tốt đẹp đang về với họ. Cũng trong dịp năm mới, mỗi người đều nhận được những lời chúc mừng tốt đẹp nhiều nhất trong một năm. Cho dù thế nào thì những lời chúc ấy cũng làm cho lòng người ấm lại và hy vọng vào một điều tốt đẹp phía trước.
Những gì mà tổ tiên đã làm ra và để lại cho chúng ta như những lễ hội, những phong tục tập … là để lạimột lời nhắc, một tiếng gọi thức tỉnh chúng ta trong cuộc sống. Không thể nói lễ hội hay một số phong tục là phiền lụy, là tốn kém… mà bởi con người đã lợi dụng những vẻ đẹp văn hóa ấy cho lợi ích cá nhân mình.
Lúc này, tôi như thấy những ngọn gió thay mùa ấm áp, những cơn mưa xuân nồng nàn đang trở về và những cành đào ủ kín những chùm hoa chuẩn bị mở ra đều chứa trong đó những bí mật giản dị nhưng kỳ diệu cho đời sống con người.
Nguyễn Quang Thiều.
From: NguyenNThu
Tình đồng chí vái nhau- Tác Giả: Hồ Phú Bông
Tác Giả: Hồ Phú Bông
11/02/2024
Chế độ như cái cây mục. Ảnh mang tính minh họa
Truyền thông VN đang hợp xướng ca ngợi “thành quả” của đảng và nhà nước năm 2023. Ngày 3 tháng 2, 94 năm thành lập đảng, đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng thêm bài “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng”. Họ tụng ca ngài “Tổng Bí thư đã mẫu mực toàn diện, cán bộ phải thực sự gương mẫu”. Tụng ca đảng “Đảng ta một lòng vì dân”, “Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật và tự giác”…
Ông Hồ Chí Minh cũng từng ca ngợi Mác, Lê, Mao. Tố Hữu từng ca ngợi Stalin và “Bác”. Bắc Hàn thì đang ca ngợi dòng họ Kim của Un… Truyền thông cộng sản ca ngợi lãnh tụ chỉ khác phong kiến ở chỗ là không dùng hai chữ Thiên tử.
Thiên tử là con Trời được thay bằng chữ Đảng. “Thiên tử vạn vạn tuế” thành “Đảng vô địch bách chiến bách thắng quang vinh muôn năm”! “Con Trời” vì hủ lậu nên bị văn minh đào thải. “Đảng” thì đang hủ lậu hơn gấp ngàn lần. Hủ lậu thối nát đến độ không ai không thấy.
Đó là lý do đảng trưởng tung chưởng “đốt lò”. “Đốt” mà vẫn giữ “tính nhân văn” tình đồng chí. “Đánh chuột mà không làm vỡ bình”.
Cái gốc của vấn đề là “củi”. “Củi” từ đâu ra? Cây, lá tốt tươi xanh mượt thì không có nhánh khô. Nhưng khi có nhiều nhánh khô, trên đọt héo úa thì chắc chắn rễ đã mục ruỗng. Do đó dù đem nhánh khô đốt đi, lửa cháy to cỡ nào cũng không thể cứu được cây.
Khi chế độ đã mục ruỗng, từ gốc đến ngọn, thì chế độ đó phải bị thay thế là đúng theo tiến trình văn minh. Chế độ dân chủ đã thay thế phong kiến. Cộng sản Đông Âu tan rã cũng diễn ra như thế.
Thế nhưng đảng và hệ thống truyền thông VN lại đồng loạt đem khoe công trạng “đốt lò”. Có đến “17.808 cán bộ bị kỷ luật trong đó có 19 cán bộ diện Bộ Chính trị và Ban Bí thư quản lý”.
Theo VOA thì có 24.000 đảng viên cán bộ bị kỷ luật mà chỉ có 2% do tham nhũng.
VOV thì chi tiết hơn https://vov.vn/chinh-tri/ky-luat-19-can-bo-dien-bo-chinh-tri-ban-bi-thu-quan-ly-trong-nam-2023-post1075114.vov “Trong năm 2023, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 606 tổ chức đảng, hơn 24.160 đảng viên (tăng 12% về số đảng viên bị kỷ luật so với năm 2022). Trong đó, thi hành kỷ luật 459 đảng viên do tham nhũng, 8.863 đảng viên do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 19 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Trong đó, lần đầu tiên có 6 cán bộ bị xử lý kỷ luật do vi phạm trong kê khai tài sản, thu nhập.”
Theo VOV nói trên thì đảng viên bị kỷ luật tăng 12% so với năm 2022 nhưng chỉ có 459 đảng viên bị tội tham nhũng mà có đến 8.863 bị suy thoái về tư tưởng. Còn theo VOA chỉ có 2% bị tội tham nhũng thì con số bị suy thoái tư tưởng phải chiếm tuyệt đại đa số của 98% còn lại.
Vì thế xem “đốt lò” cũng không khác xem đốt pháo bông Tết Giáp Thìn. Còn sự thật của “đốt lò” là tranh giành phe nhóm trong bóng tối.
Vấn đề là nguyên do nào đảng viên nòng cốt, kể cả nhiều ủy viên Bộ Chính trị, cũng bị suy thoái tư tưởng dễ dàng đến như vậy, đó là chưa nói đến chuyện “tự nguyện xin thôi chức vụ” để được “hạ cánh an toàn”!
Kể từ 30/4/1975 đảng đã áp dụng chương trình Giáo dục & Đào tạo trên cả nước để có “con người mới XHCN” và số “con người mới” này được sàng lọc rất kỹ lưỡng đảng mới giao cho chức vụ mà tại sao bị suy thoái tư tưởng?
Bộ Chính trị cũng đã từng bắt buộc toàn đảng “học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy” suốt cả 5 năm mà vẫn như “nước ngoi đầu vịt”?
Chính ông đảng trưởng chọn lựa nhân sự những người thuộc diện Bộ Chính trị và Ban Bí thư quản lý mà chưa hề nghe ông tự giác đứng ra nhận trách nhiệm. Trong khi việc nhận trách nhiệm và từ chức của bọn tư bản lại đơn giản và dễ dàng. Ví dụ trường hợp Thủ tướng Anh, Boris Johnson, vào thời điểm đang có uy tín rất cao đã từ chức vì tham dự tiệc tùng tại dinh với thuộc cấp, lúc dịch covid đang lây nhiễm, vi phạm lệnh của chính phủ cấm tụ tập đông người. Vì vậy việc từ chức của ông Johnson đưa đến chính trường nước Anh bị hỗn loạn trong một thời gian.
Còn nội dung các bài viết ca ngợi “Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật và tự giác” https://vietnamnet.vn/suc-manh-vo-dich-cua-dang-la-o-tinh-than-ky-luat-tu-giac-2245721.html và “Tổng Bí thư đã mẫu mực toàn diện, cán bộ phải thực sự gương mẫu” https://vietnamnet.vn/tong-bi-thu-da-mau-muc-toan-dien-can-bo-phai-thuc-su-guong-mau-2244503.html thì tại sao tất cả các tổ chức, cơ quan, ban ngành, đoàn thể về chính trị, kinh tế, xã hội, tôn giáo, quân đội, công an, văn hóa… đều vi phạm luật pháp nghiêm trọng? Liệu đảng lãnh đạo toàn diện và ngài đảng trưởng có đủ phẩm chất, có xứng đáng như thế hay không? Đã hẳn câu trả lời không có gì khó cả.
Câu hỏi khác là, có phải vì “chế độ ta dân chủ gấp vạn lần chế độ tư bản” nên mới xảy ra tình trạng hổ lốn thật sự nêu trên? Liệu Ban Tuyên giáo hay ai đó có dám trả lời không?
Chuyện châm biếm về văn chương thì có “văn chương mặc áo thụng vái nhau”. Còn hiện tình chính trị đảng CSVN thì đang có “hột xoàn, đô la và tình đồng chí vái nhau”!
( 10/2/2024, mùng hai Tết Giáp Thìn)
Hồ Phú Bông
Kể chuyện đêm giao thừa: Nỗi buồn của ông Nguyễn Xuân Phúc
Chính trị gia trong thể chế cộng sản là vậy, cho dù đương chức hoặc “về vườn đuổi gà”, vẫn ăn không ngon, ngủ chẳng yên, lo sợ đủ điều.
Mai Hoa Kiếm
9-2-2024
Từng ngồi ghế thủ tướng, chủ tịch nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng An ninh, Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, Nguyễn Xuân Phúc được xem là người ở trên tận cùng của đỉnh cao quyền lực. Tuy nhiên, song hành với ông ngoài tiền bạc, vật chất, niềm vui, hạnh phúc… nguyên thủ quốc gia quyền lực ngút trời như ông cũng không tránh khỏi cay đắng, tủi nhục, khi rời chính trường và ông đã phải ôm những nỗi buồn nuốt không trôi theo suốt cuộc đời mình.
Nỗi buồn thứ nhất
Vào những ngày giáp tết năm ngoái, ngày 17-1-2023, tức 26 tháng Chạp năm Nhâm Dần, Hội nghị Trung ương bất thường đã tước bỏ mọi chức vụ trong đảng đối với Nguyễn Xuân Phúc. Một ngày sau, quốc hội “đảng cử dân bầu” tiếp tục làm cú bất thường, bắt ông trả hết “áo mão cân đai” chủ tịch nước, để về làm thứ dân.
Đây là nỗi nhục có lẽ sẽ bám theo ông suốt cả cuộc đời, khi các “đồng chí” của ông chọn thời điểm để truất phế ông, loại bỏ ông đúng vào dịp Tết Nguyên đán, dịp mà người ta chỉ mang đến những điều tốt đẹp, may mắn cho nhau!
Những kẻ hàng ngày tay bắt mặt mừng, ôm hôn thắm tình đồng chí… nay đã quay lưng, tráo trở nhanh quá. Những kẻ cùng “nền tảng tư tưởng” với ông đã lần lượt bắt giam những người thân, ruột thịt trong gia đình ông: Trần Văn Tân, Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, Nguyễn Bạch Thuỳ Linh… Thậm chí chúng còn đe doạ bắt cả vợ con ông, để buộc ông phải viết đơn xin thôi chức, về vườn.
Có lẽ ông Phúc sẽ không bao giờ quên mùa Xuân chạm ngõ năm ngoái. Chỉ còn vài ngày nữa là tới lần thứ hai ông gởi lời chúc Tết đến cả nước, bỗng dưng “tổng đà chủ” Nguyễn Phú Trọng nhảy vào, giành mất cái quyền của nguyên thủ quốc gia, lên sóng truyền hình đêm giao thừa của ông.
Là “nhân sự đặc biệt” khoá 13, Nguyễn Xuân Phúc ngồi ghế chủ tịch nước chỉ hơn 21 tháng (5-4-2021 đến 18-1-2023), là điều hiếm có trong chế độ cộng sản!
Vợ chồng ông Nguyễn Xuân Phúc tại nhà riêng. Nguồn: Mai Hoa Kiếm/ dành riêng cho Tiếng Dân
Nỗi buồn thứ hai
Ở trong Bộ Chính trị liên tiếp ba nhiệm kỳ, Nguyễn Xuân Phúc không đủ thủ đoạn, mưu lược, lẫn tài ứng biến để cài cắm người của ông vào hàng ngũ lãnh đạo cấp cao. Vì thế, trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, không hề có “đệ tử” của ông Phúc. Cho nên, khi ông bị bao vây, bị phê bình chỉ trích, bị tấn công tới tấp nhằm tước bỏ quyền bính, thì không có ai đứng ra bảo vệ ông.
Trước và sau thời điểm ông Phúc bị đồng đảng đưa ra “làm thịt”, đám đàn em của ông cũng bị các “đồng chí” đem ra làm bia để nhả đạn:
– Nguyễn Văn Hùng, Phó Chủ nhiệm Uỷ Ban Kiểm tra Trung ương, bị dồn ép đến nhảy lầu siêu thoát hôm 21-11-2022, ở tuổi 59.
– Trần Văn Minh, Phó Chánh Thanh tra Chính phủ, bị bức tử, treo cổ tại nhà riêng vào ngày 4-3-2023, ở tuổi 56.
– Phan Việt Cường, bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam, đã phải rời bỏ nhiệm sở, xin nghỉ việc, về hưu non, khi còn hai năm nữa mới hết nhiệm kỳ. Cùng lúc, tập thể Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, các Phó bí thư, các Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ, lãnh đạo UBND tỉnh, giám đốc các sở ban ngành Quảng Nam đều bị dính kỷ luật. Kẻ bị khai trừ, người bị cách chức, cảnh cáo… không kể hết.
– Trần Đức Quận, bí thư Tỉnh uỷ và Trần Văn Hiệp, chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, hai “đệ tử ruột” và là đồng hương Quảng Nam – Đà Nẵng của ông Phúc cũng bị giăng bẫy, bị mời ra Hà Nội “họp đột xuất” rồi bắt giam luôn mà không cần báo cho hệ thống chính trị tỉnh Lâm Đồng biết tin.
– Nguyễn Công Khế, người bạn thâm tình với Nguyễn Xuân Phúc đã bị tống giam hơn ba tuần trước. Khế chơi với ông Phúc từ những năm đầu của thập niên 1980, khi ông Phúc chỉ là chuyên viên Văn phòng UBND tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Một sự trùng hợp lạ lùng là vụ án mà Khế bị dính, lại có bút phê của ông Phúc, khi ông làm bộ trưởng.
Nỗi buồn thứ ba
Cha ông Phúc là cụ Nguyễn Văn Hiền, sinh năm 1917, hiện sống tại Đà Nẵng. Cụ Hiền theo Việt Minh, sau tập kết ra Bắc, huy hiệu 75 năm tuổi đảng. Mẹ ông Phúc là bà Nguyễn Thị Đằng (1922-1966), là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Cả mẹ và chị gái ông đều là liệt sĩ. Ông Phúc còn có anh ruột Nguyễn Quốc Dũng, là Anh hùng Lực lượng Vũ trang.
Vợ ông Phúc là bà Trần Thị Nguyệt Thu, sinh năm 1962. Bà Thu là con gái của ông Trần Văn Dõng (1931-1968) và bà Võ Thị Cương, sinh năm 1934. Bà Cương theo du kích quân từ năm 18 tuổi. Sau này bà Cương mở hiệu may Kim Cương tại Cầu Vồng, đường Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn), Đà Nẵng. Vì làm giao liên và tiếp tế cho Việt Cộng, nên bà bị bắt giam, giai đoạn 1969-1971. Ông Dõng tập kết ra Bắc, sau quay lại chiến trường Quảng Nam và bị phục kích, hy sinh năm 1968, để lại cho bà Cương năm người con.
Kể dông dài như vậy để thấy ông Nguyễn Xuân Phúc có lý lịch “đỏ rực” như thế nào. Với truyền thống gia đình, bề dày công tác, bản lĩnh chính trị như vậy, nhưng ông vẫn bị đánh văng khỏi “tứ trụ” khi đang ở trên đỉnh cao quyền lực, chưa kể các “đồng đảng” của ông lựa đúng thời điểm giáp Tết để truất phế ông, thử hỏi có nỗi buồn nào lớn hơn?
Nỗi buồn thứ tư
Vợ ông, bà Trần Thị Nguyệt Thu có một chị gái tên là Trần Thị Nguyệt Phương, sinh năm 1960. Bà Nguyệt Phương là giáo viên đã nghỉ hưu, có chồng là doanh nhân thành đạt ở Đà Nẵng.
Trong đại dịch Covid 19, vợ chồng bà Nguyệt Phương cũng đã đóng góp nhiều tỷ đồng cho địa phương chống dịch. Mẹ của hai bà Nguyệt Phương và Nguyệt Thu, cụ Võ Thị Cương cũng ủng hộ “quỹ vacine chống dịch” 100 triệu đồng.
Vợ chồng bà Trần Thị Nguyệt Phương, em vợ và em cột chèo của ông Phúc. Nguồn: Tác giả gửi riêng cho Tiếng Dân
Bà Võ Thị Cương, mẹ vợ ông Nguyễn Xuân Phúc và số tiền ủng hộ quỹ vaccine 100 triệu đồng, cùng thư cảm ơn của MTTQ gửi gia đình bà. Nguồn: Ảnh độc quyền của Tiếng Dân
Đại án Việt Á liên quan test kit nổ ra. Cơ quan điều tra không dám công khai 80% cổ phần đáng ngờ trong công ty Việt Á, khiến dư luận xã hội có nhiều suy đoán. Cổ phần Việt Á là của sân sau quan chức, hay của các đồng chí “nước lạ”?
Chỉ biết rằng, sự lập lờ của đảng khi bắn thông tin ra ngoài, khiến bàn dân thiên hạ cứ đồn thổi, thêu dệt, gán ghép bà Trần Thị Nguyệt Thu là “trùm cuối”. Thực tế, thông tin này không đúng, nhưng ông Phúc không thể giải bày, bởi ông vừa lên tiếng phân bua “Gia đình tôi, vợ, các con tôi không tư lợi, tham nhũng, liên quan đến Việt Á, chưa bao giờ gặp giám đốc Việt Á… ” thì ông đã bị Tuyên giáo cho báo chí… bịt miệng! Điều này khiến ông ôm nỗi buồn vô tận.
Nỗi buồn thứ… n
Sẽ không kể hết được những nỗi buồn của Nguyễn Xuân Phúc, một người Quảng Nam, có mặt trong Bộ Chính trị ba khóa 11, 12 và 13 (Riêng người Quảng Nam có mặt liên tục trong Bộ Chính trị 6 khoá, từ khoá 8 đến khoá 13). Khi ông Phúc rời chính trường, đại diện Quảng Nam sẽ chấm dứt hiện diện trong Bộ Chính trị nhiều khoá tiếp theo, vì không có bất kỳ gương mặt nào nổi trội.
Trong một diễn biến khác, dàn cán bộ, đàn em của ông Phúc bị đánh te tua ngay trên đất Quảng Nam. Quảng Nam hết nhân sự, đồ đệ của Nguyễn Bá Thanh là Lương Nguyễn Minh Triết, sinh năm 1976, là ủy viên dự khuyết Trung ương khoá 13 đã … “buồn ngủ gặp chiếu manh”. Mới đây, Triết được Trung ương bổ nhiệm làm bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam, thay cho Phan Việt Cường, một đàn em của ông Phúc vừa bị mất chức.
Nguyễn Xuân Hiếu là quý tử của Nguyễn Xuân Phúc. Từ khi Hiếu ở Mỹ quay về Việt Nam, Hiếu vẫn loay hoay công tác Đoàn, chưa biết tương lai sẽ về đâu. Chức vụ “loằng ngoằng” của Hiếu hiện nay là Ủy viên Ban chấp hành, Phó Trưởng ban Đoàn kết tập hợp Thanh niên Trung ương Đoàn, Ủy viên Thường trực Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Hội LHTN Việt Nam.
Ảnh: Quý tử Nguyễn Xuân Hiếu. Nguồn: Mai Hoa Kiếm/ Tiếng Dân
Chính trị gia trong thể chế cộng sản là vậy, cho dù đương chức hoặc “về vườn đuổi gà”, vẫn ăn không ngon, ngủ chẳng yên, lo sợ đủ điều.
Quan địa phương thì sợ bị khởi tố, phải “nôn” ra cho quan trên, cống nộp lại tài sản cướp được bao nhiêu năm cho đồng đảng. Quan triều đình thì sợ bị “đánh bã”, chết bất đắc kỳ tử, sợ bị biến thành “củi” ném vào lò. Cán bộ cấp cao thì sợ các cuộc thanh trừng, giết người diệt khẩu.
Đáng sợ hơn, là bị đầu độc phóng xạ, để rồi dở sống, dở chết, người không ra người, ngợm không ra ngợm. Ông Phúc con giữ được mạng khi về với vợ con, kể ra cũng còn may hơn Trần Đại Quang, Nguyễn Bá Thanh…
Một câu hỏi nhân 45 năm cuộc chiến Biên giới Việt-Trung-Trương Nhân Tuấn
Trương Nhân Tuấn
13-2-2024
Cuộc chiến “Biên giới tháng hai” đến nay đã 45 năm. Trung Quốc gọi tên cuộc chiến là “hoàn kích tự vệ”, mục tiêu là “dạy cho Việt Nam một bài học”. Việt Nam gọi cuộc chiến 17 tháng 2 năm 1979 là cuộc chiến “xâm lược”: “Chiến tranh xâm lược ngày 17-2-1979 là đỉnh cao của những hành động thù địch của lãnh đạo Trung Quốc”.
Câu hỏi trước tiên đặt ra: Phía Trung Quốc có gọi tên đúng về cuộc chiến hay không? “Hoàn kích tự vệ” có nghĩa là “đánh trả để tự vệ”. Điều này Trung Quốc muốn nói Việt Nam đánh Trung Quốc trước và Trung Quốc chỉ đánh trả tự vệ.
Sự thật thế nào? Việt Nam “đánh trước” Trung Quốc hồi nào? Ở đâu? Lịch sử có được bạch hóa vấn đề này hay chưa?
Một tài liệu của CIA, Mỹ, được bạch hóa từ năm 2002 được nhà báo Vũ Quí Hạo Nhiên công bố năm 2009 trên báo Việt Tide. Một đoạn trong tài liệu của CIA cho rằng, Việt Nam đã chiếm đất của Trung Quốc khoảng 60 cây số vuông.
Câu hỏi đặt ra là, vị trí 60 cây số vuông đất (nói là Việt Nam chiếm của Trung Quốc) ở đâu? Việt Nam chiếm khi nào? Sau khi phân định lại biên giới tháng 12 năm 1999, vùng đất này thuộc về phía nào?
Ai thắng ai thua trong cuộc chiến?
Trung Quốc nói mục tiêu cuộc chiến là “dạy Việt Nam một bài học”. Vậy Việt Nam có học được “bài học” nào từ phía Trung Quốc?
Tôi thấy có rất nhiều tài liệu về cuộc chiến đã được các học giả quốc tế lẫn Trung Quốc được công bố. Nhưng một số điểm mờ về cuộc chiến vẫn không thấy tác giả nào giải mã.
Thí dụ: Việt Nam có chiếm 60 km² đất của Trung Quốc hay không? Điều này rất quan trọng, vì đây là nguyên nhân để Trung Quốc mở cuộc chiến “hoàn kích tự vệ” đối với Việt Nam.
Tại sao cuộc chiến không chấm dứt hẳn, sau khi Trung Quốc rút quân ngày 5 tháng 3 năm 1979? Trên trận địa (Vị Xuyên) tiếng súng vẫn nổ, máu vẫn rơi cho đến hết năm 1989?
Để đánh dấu 45 năm cuộc chiến, theo tôi truyền thông hải ngoại, VOA, RFA, BBC… nên tổ chức các cuộc hội luận để bạch hóa các vấn đề lịch sử này.
Từ tháng 12 năm 2020 Việt Nam đã ra luật về những điều liên quan đến “bí mật nhà nước của đảng”. Tất cả những vấn đề thuộc về lãnh thổ, hải phận, chủ quyền lãnh thổ, hải đảo… trở thành “bí mật cấp quốc gia của đảng”.
Ta thấy từ thời điểm đó, trong nước tuyệt đối không có một bài báo nào viết về các vấn đề này được công bố trên báo chính thức.
Người ở hải ngoại không lên tiếng thì ai trong nước dám lên tiếng?
Sự im lặng của tất cả sẽ trở thành thái độ đồng lõa với bóng tối.
Mùa Xuân Trong Lòng Người Hải Ngoại – Nguyễn Thế Giác
Nguyễn Thế Giác
(kính chúc quý vị có một mùa
Xuân như lòng mình mơ ước)
Nắng rót bên song, xuân võ vàng.
Quê người biết kẻ vọng quan san?
Ngửa tay đếm mấy mùa ly biệt.
Dụi mắt quên bao chuyện phũ phàng.
Đau đớn giống nòi đang ngụp lặn.
Trầm tư Dân Tộc chịu lầm than.
Tháng… năm… hậu chiến đời đen bạc.
Dốc túi bình sinh gặm ngỡ ngàng.
Ngỡ ngàng cho chữ S điêu linh.
Nam Bắc đâu còn cảnh chiến chinh.
Đất nước hoàn toàn về một mối.
Giang Sơn vĩnh viễn hiện nguyên hình.
Xóa đói giảm nghèo càng kiệt sức.
Tăng gia sản xuất vẫn cùng đinh.
Hải Ngoại mềm lòng nhìn cố quốc.
Thuở nào mới thấy được bình minh?
Bình minh rè rụt tận chân mây.
Từ đó… hoàng hôn mãi đến nay.
Hà Nội xót xa buồn phản bội.
Sài Gòn tức tưởi hận thơ ngây.
Nhan sắc lỡ trao tay tướng cướp.
Tiết trinh rủi biếu lũ quan thầy.
Xã hội rơi vào cơn khủng hoảng.
Con Hồng cháu Lạc nuốt niềm cay.
Nguyễn Thế Giác















