Tiền tài không phải là vạn năng.

Tiền tài không phải là vạn năng.

Tiền tài có thể mua phòng ốc để ở, nhưng không thể mua được một mái ấm gia đình; nó có thể mua một chiếc giường, nhưng không mua được một giấc ngủ thoải mái dễ chịu; nó có thể mua một chiếc đồng hồ, nhưng không mua được thời gian; nó có thể mua được quyển sách, nhưng không mua được tri thức; nó có thể mua máu huyết, nhưng không mua được sức khỏe. Vì vậy, tiền tài không phải là vạn năng.

10 thứ cho dù có gia tài bạc triệu cũng không mua được.

alt

Jordi Al Emany là người sáng lập một công ty tư nhân. Vừa qua ông đã đăng một bài trên mạng xã hội, nói rằng tiền tài không phải vạn năng, có 10 thứ cho dù có gia tài bạc triệu cũng không mua được. Bài viết đã nhanh chóng nhận được sự hoan nghênh trên cộng đồng mạng, mọi người đều tán thành.

Khi đang theo đuổi một cuộc sống hưởng thụ, ngàn vạn lần chúng ta cũng đừng nên bị mất phương hướng, chỉ vì ham muốn hưởng thụ vật chất, mà quên đi rằng có những thứ dù có tiền cũng không thể mua được.

Bắt đầu một năm mới là cơ hội tốt để mỗi người có thể suy nghĩ và thay đổi mục tiêu sắp tới của mình, để chúng ta có thể sắp xếp lại công việc và cuộc sống. Lúc này, chúng ta có thể tĩnh tâm suy nghĩ để tìm ra giá trị, nguyên tắc, và niềm tin thật sự của mình.

Chúng ta hãy cùng xem, rốt cuộc là những điều gì, mà cho dù là tỉ phú thế giới cũng không thể mua được?

1. Khỏe mạnh

https://daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2015/02/dat-lai-lat-ma.jpg

Đạt Lai Lạt-ma: Nhân loại, vì kiếm tiền mà hy sinh sức khỏe. Vì chữa bệnh mà hy sinh tiền tài. Sau đó, vì lo lắng tương lai nên không cách nào hưởng thụ hiện tại. Cứ như vậy mà không cách nào sống cho hiện tại. Khi còn sống, họ quên rằng cuộc đời là ngắn ngủi. Đến khi chết, mới phát hiện mình chưa từng một lần sống thật tốt.

2. Tình thương

https://daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2015/02/Tagore3.jpg

Tagore: Lúc thoát khỏi cảnh nghèo khó, chúng ta sẽ có được tiền tài của mình, nhưng để có được khoản tiền này, chúng ta đã mất đi bao nhiêu thiện tâm, bao nhiêu cái đẹp và bao nhiêu sức lực chứ!

3. Niềm vui

https://daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2015/02/Franklin-Benjamin-LOC-head.jpeg

Franklin: Tiền tài không thể khiến người ta vui vẻ, vĩnh viễn sẽ không, vì trong bản chất của nó không hề tồn tại cái gọi là vui vẻ. Người có được càng nhiều, lại càng muốn nhiều hơn.

4. Chính trực

Nhà tiểu thuyết người Anh – Douglas Adams: Lúc thật sự phục vụ người khác, điều cần thiết mà tiền tài không thể nào mua sắm hay đong đếm, đó chính là sự chân thành và chính trực.

5. Tôn trọng

https://daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2015/02/ayn_rand.jpg

Nhà triết học người Mỹ – Ayn Rand: Tiền tài là công cụ để tồn tại, thái độ của bạn đối với công việc cũng chính là thái độ của bạn đối với cuộc đời của chính mình. Nếu công việc kiếm sống là sa đọa, bạn đã hủy diệt ý nghĩa tồn tại của chính mình. Bạn đã từng cầm qua đồng tiền bất nghĩa chưa? Đã từng vì giành thêm chút lợi nhuận mà giễu cợt người khác chưa? Hoặc là hạ thấp tiêu chuẩn đạo đức của mình? Vì để có thể sống qua ngày bạn đã làm những việc không nên làm? Nếu là như vậy, tiền tài cũng không mang đến dù chỉ một chút niềm vui. Đồ vật bạn mua sẽ trở thành một loại sỉ nhục mà không phải là kính trọng; là một loại căm hận mà không phải thành tựu. Như vậy, bạn sẽ cho rằng tiền tài là một loại tội ác, bởi vì bạn không thể nào có được sự tự tôn từ nó.

6. Nội tâm thanh tĩnh

Doanh nhân nổi tiếng tại Mỹ – Richard M. DeVos: Tiền tài không thể nào mua được sự thanh bình trong nội tâm, nó không thể chữa trị mối quan hệ bị xé rách, hoặc làm cho cuộc sống không ý nghĩa trở nên ý nghĩa.

7. Đạo đức

Ký giả kiêm tác giả người Mỹ – George Lorimer: Thứ có thể mua được bằng tiền dĩ nhiên là tốt, nhưng không nên quên rằng điều không thể mua được bằng tiền sẽ càng tốt hơn.

8. Giáo dục

Phóng viên kiêm tác giả người Mỹ – Neil deGrasse Tyson:

Con người không dùng sự cảm thông và chia sẻ để cảm nhận tình cảm và ý nghĩ của người khác hay những sinh vật khác trên trái đất, có lẽ giáo dục chính quy của chúng ta nên thêm vào giáo dục sự cảm thông và chia sẻ. Thử tưởng tượng, nếu giáo dục gồm có đọc, viết, toán học, cảm thông và chia sẻ, thì thế giới này sẽ không còn như cũ nữa.

9. Trí tuệ

https://daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2015/02/508px-Steve_Jobs_Headshot_2010-CROP2.jpg

Steve Jobs: Tôi không phải vì kiếm tiền mà quay về Apple. Thần may mắn vẫn luôn quan tâm đến tôi; năm 25 tuổi, tôi đã kiếm được tài sản 100 triệu đô-la. Lúc ấy rất rõ ràng, rằng tôi sẽ không bị tiền tài nô dịch. Bởi vì tôi chắc chắn không có khả năng tiêu hết số tiền kia, hơn nữa, tôi cũng không dùng tiền tài để kiểm chứng trí tuệ của mình.

10. Giác ngộ tâm linh

Người vô danh: Tiền tài có thể mua phòng ốc để ở, nhưng không thể mua được một mái ấm gia đình; nó có thể mua một chiếc giường, nhưng không mua được một giấc ngủ thoải mái dễ chịu; nó có thể mua một chiếc đồng hồ, nhưng không mua được thời gian; nó có thể mua được quyển sách, nhưng không mua được tri thức; nó có thể mua máu huyết, nhưng không mua được sức khỏe. Vì vậy, tiền tài không phải là vạn năng.

Anh chị Thụ Mai gởi

Ước Gì Thế Giới có thật nhiều Simon Kyrênê

Ước Gì Thế Giới có thật nhiều Simon Kyrênê

Chúa Nhật Lễ Lá là một lễ vui, nhưng cũng là ngày tưởng niệm cuộc khổ nạn của Chúa.

Chúng ta chứng kiến hai đám rước trái ngược nhau :

Trong ngày Lễ Lá, Ðức Giêsu được đón rước vào thành, giữa tiếng hò reo vang dậy.  Ngài như vị Vua Mêsia lẫm liệt trên lưng lừa đi trên con đường của những nhành cây xanh mới chặt.

Sau đó ít ngày là đám rước lên núi Sọ.  Không có tiếng tung hô, chỉ có lời kết án.  Không có những nhành cây, chỉ có cây thập giá.

Ngày xưa, có ai tham dự cả hai đám rước đó không?

Chúng ta thường mệt mỏi khi nghe bài Thương Khó, và thấy mình dửng dưng, xa lạ, bàng quan.  Thật ra nỗi khổ đau và cái chết của Chúa là vì tôi, vì yêu mến tôi (x. Gl 2,20).

Cần nghe đọc bài Thương Khó một cách chậm rãi, và bước theo Chúa qua từng chặng đường.  Hãy ở lại với Chúa trong lúc khó khăn này.

Cần cảm nghiệm được nỗi cô đơn của Chúa.  Ba môn đệ thân tín đã bỏ rơi Ngài.  Họ ngủ say để mặc Ngài một mình khắc khoải.  Giuđa chỉ điểm bắt Ngài bằng một nụ hôn.  Các môn đệ sợ hãi bỏ Ngài mà chạy trốn.  Phêrô thề là không hề quen biết Ngài.

Ðức Giêsu cô đơn trước đám đông cuồng nộ.  Họ bị kích động đòi đóng đinh Ngài.  Họ coi Ngài còn thua Baraba là tên phiến loạn.

Không rõ đám đông Ngài đã nuôi ăn, nay ở đâu?

Ðức Giêsu đã đi đến tột cùng của nỗi cô đơn khi Ngài cảm thấy chính Cha cũng vắng bóng: Lạy Thiên Chúa tôi, tại sao Ngài bỏ tôi? »

Cần cảm nghiệm nỗi đau trên thân xác Chúa :

* Khuôn mặt ngời sáng của Con Thiên Chúa làm người nay bị khạc nhổ, bị tát, bị đánh túi bụi.

* Ðôi mắt với cái nhìn bao dung ấy nay bị bịt lại để làm một trò chơi trẻ con.

* Tấm thân đã gánh lấy nỗi đau của bao người giờ đây được phơi ra cho những trận roi cầy nát.

* Ðôi bàn tay đã chữa bệnh và chúc lành, nay co quắp và bầm tím vì những mũi đinh.

* Ðôi bàn chân từng rong ruổi khắp nẻo đường truyền giáo, nay không đủ sức nâng cả thân mình đang trĩu nặng.

Cần cảm nghiệm nỗi ô nhục của Chúa.

Danh dự và phẩm giá vẫn là điều đáng trọng.  Ðức Giêsu bị bắt làm hề, đóng vai Vua dân Do Thái, được mặc cẩm bào, được đội triều thiên, được cầm vương trượng.  Có vị vua nào được bái lạy như vị vua này không?  Ðức Giêsu bị lột áo trước khi bị đóng đinh.  Con Thiên Chúa đỏ mặt trước cái nhìn của thế giới!

Cuộc thương khó của Chúa vẫn kéo dài đến tận thế.

Thập giá của Chúa, của tôi, của anh em tôi, là một.  Chúa mời tôi vác thập giá của mình theo Chúa hàng ngày, và giúp tha nhân vác thập giá của họ.

Ước gì thế giới có thật nhiều Simon Kyrênê.

Cầu nguyn:

Lạy Chúa Giêsu,

vì Chúa đã bẻ tấm bánh trao cho chúng con,

xin cho những người nghèo khổ được no đủ.

Vì Chúa đã xao xuyến trong Vườn Dầu,

xin cho các bạn trẻ đủ sức đối diện

với những khó khăn gay gắt của cuộc sống.

Vì Chúa bị kết án bất công,

xin cho chúng con can đảm bênh vực sự thật.

Vì Chúa bị làm nhục và nhạo báng,

xin cho phụ nữ và trẻ em được tôn trọng.

Vì Chúa chịu vác thập giá nặng nề,

xin cho những người bệnh tật được đỡ nâng.

Vì Chúa bị lột áo và đóng đinh,

xin cho sự hiền hoà thắng được bạo lực.

Vì Chúa dang tay chết trên thập giá,

xin cho đất nối lại với trời,

con người nối lại mối dây liên đới với nhau.

Vì Chúa đã phục sinh trong niềm vui oà vỡ,

xin cho chúng con biết đón lấy đời thường

với tâm hồn thanh thản bình an.

Amen.

Chị Nguyễn Kim Bằng

Ba điều vui sướng nhất

Ba điều vui sướng nhất

Ngày xưa, có ông lão cứ vui cười ca hát suốt ngày.

Thấy lạ, có người hỏi:
– Tại sao ông vui tươi mãi như thế?

Ông lão đáp:
-Trời sinh ra muôn loài muôn vật, trâu chó dê ngựa… Người là sinh vật cao nhất,

“Tối linh ư vạn vật”. Ta được làm người. Ấy là điều vui sướng thứ nhất.

-Trời sinh có người tàn tật, đui què. Ta được lành lặn, ấy là điều vui sướng thứ hai

-Người đời thường vì sự giàu có, danh vọng mà phải gian khổ. Ta có ăn đủ một ngày ba bữa,

không lo lắng gì cả. Ấy là điều vui sướng thứ ba – Còn như sinh lão bệnh tử là điều không ai

tránh được. Ta cũng như mọi người, việc gì phải buồn.

– Nghĩ tới ba điều vui sướng ta có được, ta vui ca cũng là chuyện thường tình.

Thich Tanh Tue's photo.

Anh chị Thụ Mai gởi

NHIỆM TÍCH TÌNH YÊU

NHIỆM TÍCH TÌNH YÊU

Lm Jos. Trần Xuân Chiêu

Thứ Năm Tuần Thánh được bắt đầu bằng Thánh lễ Truyền Dầu, và ban chiều, khởi đầu Tam Nhật Vượt qua, Phụng vụ đưa mỗi người đến bữa Tiệc Li của Đức Giê-su, diễn tả việc Người rửa chân cho các môn đệ, tưởng niệm việc Chúa lập phép Thánh Thể và chức vụ Linh mục.  Như vậy có quá nhiều đề tài cho người ta khai thác, học hỏi.  Tuy nhiên, giờ đây mỗi người được mời đi sâu vào cội rễ của các tưởng niệm trên, đó là tình yêu của Chúa Kitô đối với loài người.

Nhiều người đặt vấn đề, có cần Chúa phải làm việc hèn hạ, là rửa chân cho các môn đệ không?  Có phải đây là kiểu xu nịnh, như nhiều người thường đi bằng hai đầu gối để đạt mục tiêu không?  Liệu Chúa có đối xử gì tệ bạc với Giuđa không, mà sao ông lại có hành vi tồi tệ và đê hèn, đến nỗi bán Thầy của mình với giá bèo bọt 30 đồng bạc?

1. Trong bữa Tiệc Li

Đức Giêsu đã cùng ăn bữa tối quan trọng với các môn đệ, để chuẩn bị cho việc ra đi của Người.  Tất cả những sự kiện báo trước đang diễn ra trong bữa Tiệc Li này, đó là Giuđa phản bội bán Thầy với giá 30 đồng bạc, đó là Phêrô môn đệ thân tín nhất sẽ chối Chúa 3 lần.  Đề tài chủ yếu trong Phụng vụ chiều nay cũng như tuần Tam Nhật Vượt qua là tình yêu.  Tất cả việc Chúa lập phép Thánh Thể, bí tích Truyền Chức Thánh, đặc biệt là cử chỉ khiêm nhường rửa chân cho môn đệ, đều xuất phát từ tình yêu cao vời của Thiên Chúa.

Đức Kitô đã thiết lập Bí tích Thánh Thể: Chúa đã nhập thể để đến với nhân loại, Chúa đã sinh ra trong nghèo hèn để cảm thông cuộc sống với con người, Chúa đã giảng dạy để kêu gọi và mở ra con đường dẫn tới hạnh phúc đích thực, Chúa chịu chết để cứu độ tất cả mọi người.  Nhưng như thế chưa đủ, Chúa muốn làm hơn thế, để chứng tỏ tình yêu của Người: đó chính là phép Thánh Thể, mà Chúa lấy chính Máu Thịt mình để nuôi loài người.  Tình yêu của Người luôn được tiếp tục bằng việc cung cấp thức ăn thiêng liêng cho nhân loại.  Chúa muốn đi sâu vào thân xác, thấm vào máu thịt, để biến dòng máu đen ngòm tội lỗi của con người, thành dòng máu tươi hồng trong sạch của Chúa, Chúa muốn con người có sức mạnh phi thường, để họ có đủ sức vượt dặm trường, chống lại những vật cản tiến về Nước Chúa.

Đức Kitô đã lập ra chức vụ linh mục: Ôi lạ lùng huyền nhiệm, Chúa đã nên lương thực qua đôi tay linh mục thừa tác viên để phục vụ, để ban phát hồng ân, để tha thứ lỗi lầm, để giải hòa với Chúa và với nhau.  Qua tác vụ linh mục, người tín hữu được lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa, làm của ăn tinh thần, được giao hòa với Thiên Chúa tình yêu, được ánh sáng và sức mạnh để thăng tiến cuộc sống con người.

2. Rửa chân cho các môn đệ

Trong bữa Tiệc Li, Đức Giêsu còn thể hiện cử chỉ rất đặc biệt:  rửa chân cho các môn đệ.  Bỏ qua mọi rào cản,  những kinh nghiệm đau thương, và những mất mát sẽ diễn ra, Đức Giêsu đã đứng dậy, cởi áo ra, lấy chậu nước và rửa chân cho các môn đệ.  Người ta rất ngạc nhiên, cũng như Phêrô đã rất ngạc nhiên, tại sao Chúa làm như vậy?  Đây là một việc làm của một tên nô lệ theo thói quen người Israel. Mỗi người có thể hiểu được việc làm này của Chúa vì nhiều lí do:

Trước hết là để ứng nghiệm những gì đã viết về Đức Kitô:  Chúa là Người Tôi Tớ Thiên Chúa trong sách Isaia, Đấng đã chuộc lại loài người bằng những hy sinh của Người.  Việc Chúa tự động đứng dậy rửa chân cho họ, cũng để chứng tỏ rằng Người tự nguyện chịu chết để cứu độ nhân loại.  Những từ “cởi ra” “mặc vào” nói lên việc Người chịu chết và sống lại, việc con người đánh mất Hồng Ân Chúa khi phạm tội, và Đức Kitô đã chuộc lại ơn làm nghĩa tử của Chúa.

Việc rửa chân là bài học giáo dục, Đức Giêsu muốn nêu cao tấm gương trong cách sống mà các môn đệ phải noi theo: Sống để phục vụ chứ không phải để được phục vụ, “Thầy nêu gương cho anh em, để anh em hãy làm cho nhau” (Ga.13, 15).

Rửa chân bằng nước còn nói lên việc thanh tẩy; Đức Giêsu muốn nói với con người rằng, Chúa đến để làm mới lại con người, thanh tẩy tội lỗi họ, để không những thân xác, chân tay, mà cả tâm hồn cũng nên trong sạch, loại bỏ những hiềm khích, đam mê, tội lỗi…

Việc rửa chân dạy loài người bài học khiêm nhường: Con người muốn làm lớn thống trị người khác, như hai anh em con ông Giêbêđê muốn chỗ nhất nhì trong Nước Trời.  Quyền lực vẫn là cái gì làm cho người ta cuồng nhiệt tranh giật, ngoài xã hội cũng như trong tôn giáo, xưa cũng như bây giờ, Đức Giêsu dạy các môn đệ muốn làm lớn, hãy trở nên đầy tớ trước đã.

Cuối cùng, Đức Giêsu muốn chứng tỏ tình yêu trổi vượt của Người với nhân loại:  Chúa muốn làm tất cả vì yêu.  Một thứ tình yêu mãnh liệt không đắn đo tính toán, đã khiến Người có thể làm những điều người ta không tưởng, đó là việc quỳ xuống rửa chân cho môn đệ của mình.

3. Tình yêu đáp trả

Qua những hành vi trên đây, Đức Giêsu kêu gọi mọi người hãy đáp trả tình yêu của Người dành cho họ:

Trước hết là hãy đón nhận: Qua việc cúi xuống rửa chân cho đầy tớ, Đức Giêsu muốn nhắc con người: những gì là trịch thượng, quyền thế, là cái tôi, là hạ cố, cần phải loại trừ:  Một Thiên Chúa quỳ xuống, để ngước mắt nhìn lên loài người, nhằm dạy người ta phải khiêm nhường đón nhận những ân sâu tận Trời của Chúa.  Chỉ khi con người biết khiêm nhường, họ mới gặt hái thành công, mới có thể đạt mục tiêu Nước Trời.  Thế gian chỉ biết hưởng thụ, chờ mong người khác hầu hạ.  Người ta thường bị cám dỗ bởi tiền bạc vật chất, ăn trên ngồi trốc.  Chúa không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ, vậy con người là ai, mà chỉ muốn người khác hầu hạ mình?

Hãy tôn vinh Thánh Thể Đức Kitô: Thánh Thể là kết quả tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người. Qua Thánh Thể, con người được nên một với Người, sống với Người.  Chính vì thế, Thánh lễ trở thành trung tâm Phụng vụ.  Đừng bao giờ bỏ lỡ cơ hội để tận hưởng lương thực thần hiệu này, hãy để Chúa sống với mình hằng ngày, hãy lắng nghe tiếng Chúa mời gọi:  Hãy đến mà ăn.  Đừng để Chúa cô đơn và nhục mạ bằng việc từ chối của mình.

Xin Chúa cho chúng con biết noi gương Người sống khiêm nhường, hi sinh và phục vụ để xứng đáng làm môn đệ Đức Kitô.

Lm Jos. Trần Xuân Chiêu

Một bài hay về hạnh phúc

Một bài hay về hạnh phúc

Nếu hạnh phúc là thứ dễ tìm thấy thì có lẽ con người chẳng phải nếm mùi khổ đau nhiều như vậy? Nếu hạnh phúc là thứ ẩn nấp để cùng con người tham gia trò trốn tìm thì cuộc sống này liệu có còn thời gian tìm kiếm?

1/. Hạnh phúc ở nơi đâu?

– Hạnh phúc nằm ở đôi môi của bạn?
Một đôi môi biết mỉm cười và biết nói lời yêu thương chính là cửa ngõ dẫn đến hạnh phúc an nhiên của con người.

Nếu bạn chỉ biết than vãn, chỉ biết oán trách những trớ trêu của cuộc đời, chỉ biết dùng lời nói để chê bai, mỉa mai, công kích người khác thì đừng hỏi “Vì sao tôi không thấy hạnh phúc”. Hãy nói về những yêu thương tốt đẹp, hãy mỉm cười với cuộc sống xung quanh, hãy dành những lời ngọt ngào cho những người bạn yêu quý và bạn sẽ thấy hạnh phúc nảy nở từ đôi môi.

– Hạnh phúc nằm ở sự tha thứ?

Chẳng có ai ôm trong lòng mối hận thù mà cảm thấy vui vẻ và thoải mái cả. Có thể, họ đã làm tổn thương bạn, họ đã phản bội lòng tin và hằn trong lòng bạn một vết thương sâu hoắm và nhức nhối nhưng hãy đặt tay lên ngực mình và dặn với chính mình “Cuộc đời này vốn không đủ dài để yêu thương chỉ sao lại phí hoài nó cho hận thù”.

Vì thế, bằng cách này hay cách khác, hãy quên đi những vết thương và quên đi người để lại vết thương ấy, bạn cho đi sự tha thứ cũng chính là cách bạn tự cho chính mình một món quà chứa đầy hạnh phúc và an nhiên.

Tôi không chắc chúng ta có thể lại tin, lại yêu người ấy như chưa có chuyện gì nhưng chỉ cần bản thân tha thứ được thì ta sẽ lại có thể mỉm cười khi giáp mặt nhau.  Như vậy, không phải sẽ tốt hơn sao?

– Hạnh phúc nằm ở chỗ Cho chứ không phải chỗ Đòi.

Hãy cho đi những thứ bạn muốn, rồi cuộc đời sẽ trả lại cho bạn những gì mà bạn muốn, có thể nó không đến từ người bạn cần nhưng chắc chắn rằng trong dòng đời sau này, sẽ có người cho bạn lại những điều như thế.

Đừng đòi hỏi điều gì khi bản thân không làm được. Sự hụt hẫng khi điều mình muốn không được đáp lại rất dễ đẩy bạn vào hố sâu của thất vọng.

Vì thế, đừng tự giết cảm xúc của mình chỉ vì những đòi hỏi cho thỏa mãn cảm xúc của bản thân, hãy học cách cho đi thật nhiều, cuộc sống này không để bạn chịu thiệt thòi đâu.

2/. Hạnh phúc vào lúc nào?

– Hạnh phúc là khi bạn biết Đủ?

Nói theo Đạo học là “Thái quá hay Bất cập đều là dở cả” (thái độ cực đoan là không tốt).

Yêu thương quá sinh ra gò bó, quan tâm quá sẽ khiến mất tự do, ghen tuông quá cũng mất vị tình yêu và cái gì cũng thế, chạm đến chữ Đủ sẽ chạm được hạnh phúc tròn vị.

Đừng chạy theo cái gì quá hoàn chỉnh và cũng đừng ép bản thân phải trở nên quá hoàn hảo, yêu thương vừa đủ, ấm áp vừa đủ, quan tâm vừa đủ và bên nhau vừa đủ có lẽ sẽ hạnh phúc hơn.

Do đó, chúng ta thấy hạnh phúc chẳng nằm ở đâu xa, mà nằm ngay nơi chính ta, và hạnh phúc cũng chẳng phải là cái đích đặt ra để chúng ta đi đến, mà là thứ luôn hiện hữu song hành bên ta trong cuộc sống, chỉ vì ta quá hướng ngoại mà không quan tâm quên mất nó đi thôi.
Vì thế, hạnh phúc của chúng ta hẳn phải do tự chúng ta xây lấy, chứ chẳng phải chạy theo một ai đó để xin ban. Thứ hạnh phúc xin ban chỉ là thứ hạnh phúc ảo, nó sẽ dần chết theo thời gian.

Nguồn: Góc Trái Tim

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Ai giải phóng ai?

Ai giải phóng ai?

Huy Vũ
2015-03-29

mien-bac-vn-truoc-75-413.jpg

Một anh bộ đội miền Bắc đứng gác bên này dòng sông Bến Hải trước năm 1975

Files photo

Ngày 30-04-1975 được Cộng Sản Bắc Việt rêu rao là ngày họ “giải phóng” dân chúng miền Nam khỏi sự “kìm kẹp” của Mỹ-Ngụy. Tới nay đã 40 năm trôi qua, ta thử nhìn lại xem ngày này: Ai giải phóng ai?

Để có câu trả lời khách quan cho câu hỏi này, có lẽ trước hết ta nên đi tìm định nghĩa của động từ “giải phóng”, sau đó điểm qua cảm nghĩ và nhận thức về cuộc sống vật chất và tinh thần của dân chúng hai miền Nam – Bắc vào thập niên 1970 của một số nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà giáo, cán binh v.v… là những người đã được đào tạo và hun đúc dưới mái trường XHCN khi họ có dịp vào miền Nam thăm viếng, công tác, hay sinh sống sau ngày 30-04-1975.

Qua một vài cuốn tự điển Việt-Việt, động từ “giải phóng” có thể được định nghĩa như sau: Bằng cách này hay cách khác làm cho hay giúp cho một số người nào đó thoát ra khỏi một tình trạng xấu xa tồi tệ. Nói khác đi, nếu đưa một đối tượng từ một tình trạng tốt đẹp sang một tình trạng tồi tệ, thì không thể gọi là “giải phóng” được.

Qua một số bài trên mạng, ta thấy một số tác giả đã bày tỏ quan điểm của họ về đề tài này:

Thư của một cựu “giải phóng quân”

Trong phần đầu thư, anh “cựu giải phóng quân” đã cho biết là anh ta đang tự giác “Ngụy Quân Hóa và Mỹ Cút Hóa” với lý do như sau:

“Ngụy-quân hóa vì cái gì của Ngụy tôi cũng thích, như nhạc Ngụy, sách Ngụy, nói chung là thượng vàng hạ cám gì của Ngụy đều… hiện đại. Mỹ-cút hóa là con cháu tôi bây giờ học tiếng Mỹ thay vì tiếng Nga, như đảng đã bái bai Kinh Tế Tập Trung đói meo chạy theo Kinh Tế Thị Trường béo bở, bỏ đồng Rúp ông Liên Xô để úp mặt vào đồng Đô “đế quốc” Mỹ…

“Mỹ-cút hóa vì con gái rượu của Thủ tướng Dũng thiếu gì con trai của các nhà lão thành Cách Mạng gạ gẫm cưa kéo mà cứ một hai “em chả, em chả”, cứ nằng nặc đòi lấy bằng được thằng con Ngụy đã cút theo Mỹ ngày Mỹ cút; Mỹ-cút hóa đến nỗi mấy đứa cháu tôi bây giờ mừng sinh nhật cũng hát bài Hép-Pi-Bớt-Đê (Happy Birth Day), hễ mở miệng là Ô Kê Ô Gà! Ra phố thì cứ đòi uống Cô Ca, ăn thì Mạc-Đá-Nồ (McDonald), Bơ-Gơ-Kinh (Burger King), Ken-Tơ-Ky-Phờ-Rai-Trích-Cần (Kentucky Fried Chicken)… con quan CS chỉ toàn muốn du học Mỹ Tư Bản….”

Sau đó anh CGPQ còn tỏ ra khâm phục và ca tụng quân dân miền Nam:

“Chả dấu gì Anh, sau khi thống nhất đất nước, tôi khoái Miền Nam của anh quá xá rồi xin chọn nơi này làm quê hương luôn đó anh.

“…. nhờ ở lại Miền Nam, sống giữa đồng bào Miền Nam mà tôi đã chuyển biến từ sai lầm đáng tiếc căm thù khinh bỉ Ngụy thành khoái cụ tỷ Ngụy, bái phục văn hóa “đồi trụy” Ngụy, và nhất là Quân đội Miền Nam các anh có anh hùng Ngụy… Văn Thà, trong khi Thủ tướng Miền Bắc của chúng tôi tự cho mình là chân chính lại ký công hàm bán nước, dâng Hoàng Sa và Trường Sa cho Tàu cộng…”

Phần cuối thư anh kết luận:

“….nhờ chiếm được Miền Nam mà Miền Bắc được giải phóng, sông có thể cạn núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy nay đã hiển nhiên không thể chối cãi.”

Nhà báo Huy Đức, tác giả “Bên Thắng Cuộc”:

Trong phần “Mấy lời của Tác Giả” cuốn “Bên Thắng Cuộc” HĐ cho biết sau ngày 30-04-1975 qua hình ảnh xe đò Phi Long từ miền Nam chạy ra Bắc đã khiến HĐ nhận ra được rằng dường như ở miền Nam có mức sống văn minh, phong phú và đa dạng:

“Những gì được đưa ra từ những chiếc xe đò Phi Long thoạt đầu thật giản đơn: mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe, cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra, con búp bê nhựa biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe buộc trên ba lô của một anh bộ đội phục viên may mắn.”

“Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh được các anh bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp bọn trẻ chúng tôi biết một thế giời văn chương gần gũi hơn Rừng Thẳm Tuyết Dầy, Thép Đã Tôi Thế Đấy. Những chiếc máy Akai, radio cassette, được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ em, chứ không chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”. Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi.”

Phan Huy, một thi nhân nổi tiếng ở miền Bắc:

Trong phần đầu bài “Cảm Tạ Miền Nam, PH viết:

“Tôi đã vào một xứ sở thần tiên
Nếp sống văn minh, dân khí dịu hiền
Cơm áo no lành, con người hạnh phúc.

Tôi đã ngạc nhiên với lòng thán phục
Mở mắt to nhìn nửa nước anh em
Mà đảng bảo là bị lũ nguỵ quyền
Áp bức, đoạ đày, đói ăn, khát uống.

Trước mắt tôi, một Miền Nam sinh động
Đất nước con người dân chủ tự do
Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô
Giận đảng giận đoàn bao năm phỉnh gạt.”

PH cũng đã mô tả cuộc sống ở miền Bắc cộng sản vô cùng tồi tệ:

“Sinh ra lớn lên sau bức màn sắt
Tôi chẳng biết gì ngoài bác, đảng “kính yêu”
Xã hội sơ khai, tẩy não, một chiều
Con người nói năng như là chim vẹt.

Mở miệng ra là: “Nhờ ơn bác đảng
Chế độ ta ưu việt nhất hành tinh
Đuốc soi đường chủ nghĩa Mac Lenin
Tiến nhanh tiến mạnh lên thiên đường vô sản.

Hai mươi mốt năm trên đường cách mạng
Xã hội thụt lùi người kéo thay trâu
Cuộc sống xuống thang tính bằng tem phiếu
Nhân phẩm con người chẳng khác bèo dâu.”

Trong phần cuối bài thơ, PH kết luận, ngày 30-04-1975 là ngày miền Nam đã giúp cho nhân dân miền Bắc thấy được bộ mặt gian trá và độc ác của bè lũ cộng sản:

“Cảm tạ Miền Nam phá màn u tối
Để tôi được nhìn ánh sáng văn minh
Biết được nhân quyền, tự do dân chủ
Mà đảng từ lâu bưng bít dân mình.

Cảm tạ Miền Nam khai đường chỉ lối
Đưa tôi trở về tổ quốc thiêng liêng
Của Hùng Vương, quốc tổ giống Rồng Tiên
Chớ không là Cac Mac và Le nin ngoại tộc.

Cảm tạ Miền nam mở lòng khai sáng
Đưa tôi hội nhập cùng thế giới năm châu
Mà trước đây tôi có biết gì đâu
Ngoài Trung quốc và Liên xô đại vĩ

Cảm tạ Miền Nam đã một thời làm chiến sĩ
Chống lại Cộng nô cuồng vọng xâm lăng
Hầu giúp cả nước thoát bầy ác quỷ

Dù không thành công cũng đã thành danh.”

Trong một bài thơ khác “Tâm sự một đảng viên” PH cho biết sở dĩ ông theo đảng cộng sản là vì quá tin vào lời tuyên truyền của họ:

“Rằng đảng ta ưu việt nhất hành tinh

Đường ta đi, chủ nghĩa Mac Lê nin

Là nhân phẩm, là lương tri thời đại.”

“Rằng tại Miền Nam, ngụy quyền bách hại

Dìm nhân dân dưới áp bức bạo tàn

Khắp nơi nơi cảnh đói rách cơ hàn

Đang rên siết kêu than cần giải phóng.”

Khi vào tới miền Nam, ông nhận ra rằng, đời sống của ngươi miền Nam hoàn toàn khác hẳn so với lời tuyên truyền của bác và đảng:

“Đến Sài Gòn, tưởng say men chiến thắng

Nào ngờ đâu sụp đổ cả niềm tin

Khi điêu ngoa dối trá hiện nguyên hình

Trước thành phố tự do và nhân bản.”

Sau khi đã nhận ra đời sống thật sự của nhân dân miền Nam và sự gian trá, phỉnh gạt của bác Hồ và đảng Cộng, PH cảm thấy hổ thẹn với lương tâm và  đã khóc:

“Trên đường về, đất trời như sụp đổ

Tôi thấy mình tội lỗi với Miền Nam

Tôi thấy mình hổ thẹn với lương tâm

Tôi đã khóc, cho mình và đất nước.”

Tiến sĩ Lê Hiển Dương, nguyên hiệu trường Đại Học Đồng Tháp:

Vào ngày 30-04-1975, ông Dương còn là sinh viên của trường đại học sư phạm Vinh và sau đó ông được cho vào miền Nam với nhiệm vụ:

“…mang ‘ánh sáng’ văn hóa vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tồi lầm than vì cứ liên miên bị Ngụy kềm Mỹ kẹp chứ đâu có học hành gì?”

Khi tới Thị trấn Cao Lãnh để nhận nhiệm sở, ông được cho ở tại khách sạn Thiên Lợi và đây là cảm nhận của ông khi sống trong khách sạn này:

“Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”, biết được thế nào là lavabo là hố xí tự hoại, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm cấp nhà nước của đại tướng Nguyễn Chí Thanh…”

“Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên can tội trộm cắp phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã…”

mien-bac-truoc-75-003-400.jpg

Miền Bắc trước 1975

Từ nhận thức về mức sống cách biệt giửa hai miền Nam và Bắc, cùng những sự việc đã liên tiếp xẩy ra ở miền Nam sau ngày 30-04-1975, đã buộc ông Dương suy nghĩ:

“Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền nam” … Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó… tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng miền Nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân… mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội…”

Châu Hiển Lý (bộ đội tập kết)

Trong bài “Cả Nước Đã Bị Lừa” ông Châu Hiển Lý đã nhận định vế “chiến thắng 30 tháng 04” của đảng cộng sản Việt Nam như sau:

“Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. “Tính hơn hẳn” của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.”

Phần cuối bài ông Lý viết:

“Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi” mà kết luận: “Tất cả đều là lừa bịp!”

Sau cùng ông kết luận:

“Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ … đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.”

Nhà báo Trần Quang Thành

Trong “Hồi Ức 30/4 của người Việt tại Đông Âu.” TQT, cựu phóng viên đài phát thanh Tiếng Nói và Truyền Hình cộng sản Việt Nam:

“Nhìn lại 40 năm cuộc chiến gọi là chống Mỹ cứu nước nhưng thực tế nó lại là một cuộc chiến về ý thức hệ của những người Cộng sản lừa dối nhân dân ta, thực tế nó là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Những người chóp bu của Cộng sản đã lừa dối nhân dân Việt Nam và lừa dối cả nhân dân toàn thế giới. Họ kích động tinh thần dân tộc của người dân miền Bắc là: miền Bắc là tiền đồn phía Đông Nam Á của phe Xã hội Chủ nghĩa. Nhưng thực chất bây giờ chúng ta mới hiểu đây là một cuộc chiến của những người Cộng sản Việt Nam tay sai cho 2 nước Cộng sản là Nga sô và Trung Cộng để mà thực hiện ý thức hệ Cộng sản bành trướng trên toàn thế giới  chứ không phải là một cuộc chiến tranh Vệ quốc như họ từng tuyền truyền là chống Mỹ xâm lược. Tôi thấy đó là một sự lừa dối và phản bội.»

Nhà văn Dương Thu Hương

Mới đây phóng viên Tường An, đài Á Châu Tự Do, đã có trao đổi với  nhà văn Dương Thu Hương về hồi ức của bà về ngày 30-04-1975:

PVTA: Thưa bà, cách đây đã lâu, trong một bài viết, bà có nói ngày 30/4, vào đến miền Nam bà đã ngồi trên vỉa hè và khóc. Nhân đây bà có thể giải thích về những giọt nước mắt ngày 30/4, 40 năm về trước không ạ ?

Bà DTH: Vào miền Nam tôi khóc vì sao? Là bởi vì tôi hiểu đạo quân chiến thắng ở miền Bắc phụ thuộc vào một chế độ man rợ. Rất nhiều dân tộc văn minh bị tiêu diệt bởi một chế độ man rợ hơn, bởi vì họ hung hăng hơn. Họ (phía bên thua cuộc) có thể văn minh hơn về văn hoá nhưng họ kém về phương diện tổ chức quân sự.

Tóm lại qua cảm nghĩ và nhận thức của các nhân vật trên đây, người ta có thể có được những kết luận sau đây:

–      Nhân dân miền Nam có tự do, dân chủ và no ấm.

–      Nhân dân miền Bắc nghèo khó và phải kéo cày thay trâu và nhân phẩm ngang hàng với bèo dâu.

–      Nhờ giải phóng miền Nam, nhân dân miền Bắc thấy được ánh sáng văn minh và trở về quốc gia dân tộc.

–      Nhờ “giải phóng miền Nam” mà người dân miền Bắc biết về thế giới văn minh và hội nhập vào thế giới này.

–      Đời sống của người dân miền Bắc vào thập niên 1970 thê thảm và lạc hậu đến nỗi người dân phải tranh giành nhau từng cục “phân bắc” để nộp cho hợp tác xã.

–      Xã hội chủ nghĩa là một xã hội tồi tệ và được phơi bày rõ rệt qua sự nghèo khổ của nhân dân miền Bắc và là một thời đen tối nhất trong lịch xử Việt Nam.

–      Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thực chất chỉ là cuộc chiến của những người cộng sản Việt Nam làm tay sai cho Nga Sô và Trung Quốc.

–      Chế độ miền Bắc là một chế độ man rợ.

–      Chế độ miền Nam là một chế độ văn minh.

Tóm lại, qua những kết luận trên đây thiết tưởng cũng tạm đủ cho người ta thấy rõ là, ngày 30-04-1975 không thể gọi là ngày miền Bắc cộng sản giải phóng miền Nam tự do được, mà phải gọi ngược lại là ngày miền Nam đã giải phóng miền Bắc ra khỏi sự kìm kẹp, giam hãm và đô hộ của đảng Cộng Sản Việt Nam. Đồng thời cũng đã giúp nhân dân miền Bắc nhận ra được rằng, chế độ cộng sản là chế độ man rợ, chẳng những đã chọc thủng con ngươi của họ, mà còn đâm thủng luôn cả màng nhĩ của họ nữa, khiến họ không nghe được và không thấy được những xã hội văn minh và tiến bộ ở thế giới bên ngoài. Do đó, họ đang bị đảng Cộng Sản Việt Nam giam hãm, kìm kẹp và đọa đày trong một “nhà tù khổng lồ” song vẫn cứ tưởng là đang sống hạnh phúc tuyệt vời trong “thiên đường cộng sản văn minh nhất hành tinh”.

Lý Quang Diệu: ‘Kiệt xuất’ do đâu?

Lý Quang Diệu: ‘Kiệt xuất’ do đâu?

TS. Đoàn Xuân Lộc Gửi cho BBC từ Anh quốc

Lý Quang Diệu có học, còn đa số lãnh đạo cộng sản Việt Nam đều không có điều này, theo tác giả.

Trong những ngày qua báo chí quốc tế đã có rất nhiều bài viết, bình luận về ông Lý Quang Diệu. Tất cả đều khen ngợi vị Thủ tướng đầu tiên của Singapore.

Dù không đồng ý với ông về một vài vấn đề, như nhân quyền, giới truyền thông và nghiên cứu tại các nước phương Tây cũng phải thừa nhận rằng ông Diệu là một lãnh đạo tài giỏi, một chính khách lỗi lạc và một chiến lược gia tầm cỡ.

Các nguyên thủ quốc gia – từ Tổng thống Mỹ Barack Obama, Thủ tướng Anh David Cameron đến Thủ tướng Nhật Shinzo Abe và lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình – đều đánh giá cao tài năng của ông.

Dư luận và báo chí Việt Nam cũng dành cho ông một sự ngưỡng mộ đặc biệt.

Hiếm có một chính trị gia nào nhận được sự khâm phục như vậy từ dư luận, báo chí quốc tế. Cũng ít có một lãnh đạo nào cùng lúc được cả giới lãnh đạo các nước phương Tây và Trung Quốc kính trọng.

Có thể nói, trong số những người lập quốc, thế hệ lãnh đạo đầu và thậm chí hiện tại của các quốc gia từng bị thuộc địa – trong đó có Việt Nam – không một ai sánh được với ông, làm nên được những kỳ công và được mến phục như ông.

Điều gì đã giúp ông Lý Quang Diệu trở thành một lãnh đạo kiệt xuất, được mến mộ như vậy?

Có học vấn cao

Có rất nhiều yếu tố giúp ông Lý Quang Diệu trở thành một chính khách lỗi lạc và học vấn là một trong những yếu tố ấy.

” Ông Lê Duẩn và những người ủng hộ ông lúc đó, như ông Lê Đức Thọ, không phải là những người trí thức mà chỉ là những người thuộc tầng lớp công nông, ít học

Cựu Đại tá Bùi Tín và TS Cù Huy Hà Vũ”

Dù sinh ra trong một gia đình gốc Hoa, ông nói tiếng Anh và được học tại các trường Anh nổi tiếng ở Singapore. Là người thông minh, ông luôn là một học sinh, sinh viên xuất sắc, thường xuyên đứng đầu tại các kỳ thi và được trao nhiều học bổng danh giá.

Ông đã được nhận một học bổng vào học kinh tế, văn chương Anh và toán tại Raffles College – nay là Đại học quốc gia Singapore. Đây cũng là nơi ông gặp bà Kha Ngọc Chi, người vợ tương lai của ông và nhiều đồng nghiệp, cộng sự của ông sau đó.

Việc học của ông bị gián đoạn trong thời kỳ Nhật chiếm đóng Singapore nhưng năm 1946, ông đã sang Anh vào học tại trường kinh tế London và sau đó chuyển tới trường Fitzwilliam, thuộc đại học Cambridge. Tại đây ông đạt những thành tích cao và được trao tấm bằng hạng ưu ngành luật vào năm 1949.

Trong số những người lập quốc hay thế hệ lãnh đạo đầu tiên của các quốc gia hậu thuộc địa, trong đó có Việt Nam, hiếm có ai được đào tạo bài bản, học vấn cao, và có điều kiện tiếp xúc nhiều với giới trí thức, học hỏi được những tiến bộ – đặc biệt liên quan đến chính trị, luật pháp – của các nước phương Tây như ông.

Chẳng hạn, dù có đến Anh, Pháp và Mỹ, Nguyễn Tất Thành hay Nguyễn Ái Quốc – sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh – không (được) theo học tại bất cứ một đại học nào ở ba quốc gia này.

Những thế hệ lãnh đạo tiếp theo của Việt Nam – từ Lê Duẫn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng đến nhiều người trong dàn lãnh đạo sau – ít ai được đào tạo đàng hoàng, hay có học vấn cao hoặc theo học tại các trường đại học ở các nước phương Tây.

Trong cuộc bàn luận về vụ ‘Xét lại chống Đảng’ do BBC thực hiện vào tháng hai năm nay, cả cựu Đại tá Quân đội Bùi Tín và Tiến sỹ Luật Cù Huy Hà Vũ cho rằng ông Lê Duẩn và những người ủng hộ ông lúc đó, như ông Lê Đức Thọ, không phải là những người trí thức mà chỉ là những người thuộc tầng lớp công nông, ít học.

Được học cao, được đào tạo bài bản tại những trường có uy tín của Anh là một lý do quan trọng tại sao ông Lý Quang Diệu vượt trội các nhà lãnh đạo ở các quốc gia hậu thuộc địa cùng thời với ông hay thậm chí sau ông, về nhiều mặt – đặc biệt về nhận thức, tầm nhìn.

Nhìn xa, trông rộng

Lý Quang Diệu

Ông Lý Quang Diệu là người ‘nhìn xa, trông rộng’, thực dụng, khôn ngoan, thức thời mà không giáo điều, cứng nhắc, theo tác giả.

Khi nói về ông Lý Quang Diệu, giới quan sát, nghiên cứu đều cho rằng ông là một người vừa khôn ngoan, nhạy bén, thức thời, vừa rất thực dụng.

Chẳng hạn, dù Singapore cũng từng bị thuộc địa và ông luôn muốn hòn đảo này thoát khỏi sự phụ thuộc, cai trị của Anh, ông không chỉ không phủ nhận mà còn biết tiếp thu, áp dụng những tiến bộ – đặc biệt về kinh tế, công nghệ – của Anh và các nước phương Tây khác.

Mặc dù phần lớn người Singapore – và chính bản thân ông cũng là một – người gốc Hoa, ông không chọn tiếng Hoa mà là tiếng Anh để làm ngôn ngữ chính cho đảo quốc này. Quyết định đó không chỉ giúp người dân Singapore dễ dàng tiếp xúc với các nước phát triển như Anh, Mỹ và học hỏi, tiếp nhận tri thức, công nghệ cao của phương Tây mà còn bắc cầu để những tập đoàn lớn trên thế giới đến với hòn đảo nhỏ này.

Là một trí thức, ông Lý Quang Diệu, rất coi trọng giáo dục, tri thức, trọng dụng người hiền tài. Ông chú tâm phát triển, trọng dụng nhân tài ở trong nước và luôn tìm cách thu hút chất xám, người tài từ các nước.

Đây là một điểm khác biệt lớn giữa ông và giới lãnh đạo Việt Nam. Ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi, các lãnh đạo Việt Nam thường không coi trọng – hay thậm chí sợ – tầng lớp trí thức. Việc giới văn nghệ, trí thức bị đàn áp trong vụ ‘Nhân văn – Giai phẩm’ trong những năm 1950 hay Viện nghiên cứu phát triển (IDS) buộc phải giải thể năm 2009 là hai ví dụ điển hình.

Một lãnh đạo Việt Nam được biết là rất mến phục ông Diệu và cũng được ông Diệu tôn trọng là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Điều đó cũng dễ hiểu vì cũng giống như ông Diệu, ông Kiệt là một người nhạy bén, rất coi trọng giới trí thức, văn nghệ.

” Nếu Singapore trở nên giàu mạnh vì có một vị lập quốc, một lãnh đạo có tâm, có tầm, phải chăng Việt Nam nghèo, tụt hậu vì thiếu một lãnh đạo đủ tâm, đủ tầm?

TS. Đoàn Xuân Lộc”

Hơn nữa, là một người hiểu biết rộng, thông minh ông Diệu không giáo điều, máy móc. Trái lại, ông rất thực dụng. Thay vì dựa vào một chủ thuyết nào đó để giúp Singapore tồn tại, phát triển, ông nhìn thẳng vào chính những điểm yếu, thế mạnh của Singapore và bối cảnh chính trị khu vực và cố phát huy, tận dụng tất cả những điểm đó, biến chúng thành cơ hội, thế mạnh cho đất nước mình.

Một điểm nổi bật khác, đáng trân trọng nữa nơi ông mà không phải nhà lãnh đạo nào cũng có đó là trung thực, mẫu mực, coi trọng luật pháp. Chính điều này đã giúp Singapore trở thành một quốc gia châu Á minh bạch nhất và luôn nằm trong 10 nước ít tham nhũng nhất thế giới. Có thể việc ông theo học ngành luật và tốt nghiệp xuất sắc về ngành này từ một trường đại học danh tiếng cũng tác động rất lớn đến tính cách này của ông.

Ông Diệu có nhiều tính cách, phẩm chất khác giúp ông trở thành một chính trị gia lỗi lạc. Nhưng nhãn quan biết nhìn xa, trông rộng của ông là một yếu tố quan trọng giúp ông làm nên bao điều ‘thần kỳ’ cho Singapore.

Từ một nước nghèo, kém phát triển, thiếu tài nguyên, lại phải đối diện nhiều bất ổn xã hội, chỉ trong một thời gian ngắn Singapore đã trở thành một quốc gia giàu có, văn minh, ổn định, bỏ xa tất cả các nước trong khu vực.

Chẳng hạn, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, vào năm 1960 – một năm sau khi ông lên nắm giữ chức Thủ tướng Singapore tự trị – ước tính thu nhập bình quân đầu người của Singapore là 395 USD. Con số đó ở miền Nam Việt Nam là 223 USD và miền Bắc Việt Nam là 74 USD.

Nhưng năm 2013, thu nhập bình quân đầu người ở Singapore lên tới 55,182 USD trong khi ấy ở Việt Nam chỉ là 1,910 USD.

Lý Quang Diệu

Cùng chia sẻ xuất phát chung là nước bị thuộc địa hóa, sự khôn ngoan của ông Diệu đã đưa Singapore vượt xa quốc gia cộng sản Việt Nam, theo tác giả.

Là một nước nhỏ, đa số người gốc Hoa nằm bên cạnh hai nước lớn (Indonesia và Malaysia Hồi giáo) và trong bối cảnh một châu Á nhiều xung đột, Singapore không chỉ tránh được chiến tranh, giữ vững được độc lập mà còn trở thành một đối tác quan trọng, không thể thiếu của các cường quốc. Thiết lập được mối quan hệ thân thiện và đặc biệt có lợi cho mình với cả Mỹ và Trung Quốc trong thời kỳ Chiến trạnh Lạnh – hay làm cầu nối giúp hai địch thù, đối thủ này đến với nhau – không phải là một chuyện dễ.

Trong khi đó, Việt Nam đã bị biến thành con cờ, nạn nhân trong các ‘cuộc chơi’, xung đột giữa các nước lớn như Liên xô – Trung quốc và Mỹ – Trung quốc.

Chính những khác biệt này làm không ít người đặt câu hỏi tại sao cùng từng là thuộc địa, kém phát triển Singapore trở nên phồn thịnh, hùng mạnh, trong khi các quốc gia khác trong vùng như Việt Nam, vẫn mãi cứ nghèo, yếu thế?

Nếu Singapore trở nên giàu mạnh vì có một vị lập quốc, một lãnh đạo có tâm, có tầm, phải chăng Việt Nam nghèo, tụt hậu vì thiếu một lãnh đạo đủ tâm, đủ tầm?

Nghèo do lãnh đạo?

Trong một lần trả lời BBC tiếng Việt gần đây, một nhà lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng không nên so sánh Việt Nam với Singapore vì hoàn cảnh (lịch sử) hai nước khác nhau và một trong những nguyên nhân chính được đưa ra để giải thích sự khác biệt ấy – và cũng gián tiếp biện hộ cho sự thua kém của Việt Nam so với Singapore – là khác với Singapore, Việt Nam phải trải qua chiến tranh.

Ít ai phủ nhận hoàn cảnh Việt Nam khác Singapore và chiến tranh gây nên nhiều hậu quả nặng nề cho Việt Nam. Nhưng cách lý giải như vậy có hoàn toàn thỏa đáng?

” Giới lãnh đạo Việt Nam quá yếu kém, không coi việc đưa đất nước trở thành hùng cường là một sứ mệnh thiêng liêng, mà chỉ biết xoay xở để sống, tồn tại.

TS. Vũ Minh Khương”

Khi bàn luận về vụ ‘Xét lại chống Đảng’ và hậu quả của nó, có ý kiến cho rằng nếu theo con đường hòa bình (hiệp thương, đàm phán giữa hai miền Nam Bắc) để thống nhất Đất nước do cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những người trí thức khác đề nghị lúc đó – thay vì dùng bạo lực (đấu tranh vũ trang) do phe của ông Lê Duẩn chủ xướng – Việt Nam có thể đã không phải trải qua một cuộc chiến dài, đẫm máu như vậy.

Nhận định này đúng hay sai để giới nghiên cứu và thời gian trả lời. Nhưng có thể nói, nếu giới lãnh đạo Việt Nam ít nhiều có được một nhãn quan như ông Diệu, Việt Nam chắc chắn đã có một hướng đi tốt hơn, giúp Việt Nam phát triển hơn, chủ quyền được bảo đảm hơn và vị thế của Việt Nam cũng được coi trọng hơn.

Chẳng hạn, nếu ngay sau biến cố 1975, Việt Nam biết áp dụng những chính sách phát triển kinh tế như Singapore đã làm sau 1965 – thay vì phải chờ mãi đến giữa những năm 1980 – khi không còn một chọn lựa nào khác – mới tiến hành cải cách kinh tế, Việt Nam chắc chắn sẽ không tụt hậu như bây giờ.

Trong một thế giới thay đổi từng ngày, 10 năm không phải là một thời gian ngắn. Trung Quốc đã có những thay đổi nhanh, phát triển mạnh phần lớn vì sau cuộc gặp với ông Lý Quang Diệu vào năm 1978, ông Đặng Tiểu Bình đã biết học từ Singapore và cho tiến hành cải cách kinh tế ở Trung Quốc.

Và nếu cải cách triệt để và toàn diện hơn trong gần 30 năm qua, có thể Việt Nam giờ cũng đã khác nhiều.

Được biết, ông Diệu – người đã từng gặp gỡ, cố vấn cho lãnh đạo Việt Nam – rất lạc quan về những tiến bộ của Việt Nam trong những năm đầu đổi mới nhưng về sau ông đã trở nên bi quan về tiến trình cải cách và tương lai của Việt Nam.

Lãnh đạo Việt Nam

Phải chăng Việt Nam sẽ mãi còn nghèo đói, tụt hậu do lãnh đạo thiếu ‘tâm và tầm’ và không dám từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, theo tác giả.

Ông Diệu và nhiều người khác tỏ ra bi quan vì – như Tiến sĩ Vũ Minh Khương nhận định khi trả lời phỏng vấn BBC gần đây – giới lãnh đạo Việt Nam ‘quá yếu kém’, không coi việc đưa Đất nước ‘trở thành hùng cường là một sứ mệnh thiêng liêng’ mà chỉ biết ‘xoay xở để sống, tồn tại’.

Một kiểu tư duy như vậy cho thấy họ không chỉ thiếu tâm huyết mà còn thiếu cả tầm nhìn.

Phải chăng vì thiếu cả tâm lẫn tầm, đến giờ – dù Chủ nghĩa Cộng sản, Chủ nghĩa Xã hội tập trung đã thất bại ở Liên Xô, Đông Âu và ngay cả tại miền Bắc Việt Nam trước 1954 và cả nước trước 1986 – dù chấp nhận kinh tế thị trường phần nào, giới lãnh đạo Việt Nam vẫn tiếp tục kiên định chủ nghĩa xã hội và mãi lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình?

Nếu đủ tâm, đủ tầm chắc chắn họ đã dám dẹp bỏ tất cả những gì kìm hãm sự phát triển của Đất nước, không cần phải viện đến một chủ thuyết xa lạ, lỗi thời nào đó và tự tìm ra một con đường phát triển tốt nhất, thích hợp nhất cho Việt Nam như ông Diệu đã từng làm cho Singapore.

Những ngày này lãnh đạo các nước trên thế giới sẽ tới Singapore để viếng và tham dự đám tang của ông Lý Quang Diệu – và cũng qua đó, cùng với người dân Singapore, bày tỏ sự khâm phục và ghi nhớ đóng góp của ông.

Đến bao giờ Việt Nam mới có được một vị lãnh đạo được người dân kính trọng và thế giới ngưỡng mộ như thế?

Bước tiến mới dân chủ hóa Việt Nam

Bước tiến mới dân chủ hóa Việt Nam

Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung Gửi cho BBC từ Sài Gòn

BBC

Hà Nội cây xanh

Phong trào dân chủ và xã hội dân chủ ở Việt Nam đang ‘trưởng thành’ từng ngày qua các diễn biến, theo tác giả.

Những ngày này, dư luận cả nước đang hướng sự chú ý về hai vụ việc chấn động tàn phá môi trường.

Ở Hà Nội là việc nhà cầm quyền chặt hàng loạt các cây cổ thụ, còn ở Đồng Nai là việc sông Đồng Nai bị lấp để phục vụ cho một dự án bất động sản.

Tác hại của những dự án này đã được các chuyên gia chỉ rõ trong nhiều bài báo.

Ở đây, tôi chỉ muốn nói đến khía cạnh pháp luật.

Cụ thể hơn là nói tới các nguyên tắc căn bản nhất của một xã hội thượng tôn pháp luật, dân chủ và công bằng, vốn đã bị vi phạm nghiêm trọng qua hai sự việc trên như thế nào.

Luật quan, luật dân

”  Qua cả hai vụ việc, nhà cầm quyền đều lừa dối người dân, tự cho rằng đã rất minh bạch dự án, đã tham khảo ý kiến người dân và đều được người dân đồng tình, nhưng sự thật, như chính báo chí trong nước đã chỉ ra, là hoàn toàn ngược lại

Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung

Đầu tiên và quan trọng nhất, khi những người có quyền muốn những người còn lại tuân thủ luật pháp, chính bản thân họ cũng phải tuân thủ luật pháp. Đối với việc chặt cây ở Hà Nội, các chuyên gia đã chỉ rõ chính quyền đã vi phạm nghị định 64/2010, luật Bảo vệ môi trường, luật Thủ đô. Còn đối với vụ lấp sông Đồng Nai, chính quyền đã vi phạm luật Tài nguyên nước và luật Bảo vệ môi trường. Thử hỏi, khi luật pháp ‘nghiêm’ không được áp dụng cho quan chức mà chỉ áp dụng cho dân thì sẽ còn ai tôn trọng luật pháp ‘nghiêm minh’ ấy nữa?

Qua cả hai vụ việc, nhà cầm quyền đều lừa dối người dân, tự cho rằng đã rất minh bạch dự án, đã tham khảo ý kiến người dân và đều được người dân đồng tình, nhưng sự thật, như chính báo chí trong nước đã chỉ ra, là hoàn toàn ngược lại.

Một xã hội công bằng phải dựa trên luật pháp chuẩn mực. Luật pháp làm ra phải được áp dụng như nhau cho tất cả mọi người, không ai được ngoại lệ và không ai được đứng trên luật pháp. Không thể đối xử với quan chức khác với dân thường. Nếu quan chức tự tung tự tác, muốn làm gì thì làm mà không sợ sự chế tài của pháp luật thì đất nước chẳng sớm thì muộn sẽ rơi vào cảnh hỗn loạn, vì “thượng bất chính, hạ tắc loạn”.

Thứ hai, người dân – những người được yêu cầu tuân theo luật pháp, tuân theo quyền lực chính trị, phải có tiếng nói. Nếu họ lên tiếng thì họ sẽ được chính quyền lắng nghe một cách tôn trọng. Ở vụ chặt cây tại Hà Nội, ông Phan Đăng Long, Phó trưởng Ban tuyên giáo Thành ủy Hà Nội đã thẳng thừng là ‘không phải hỏi’ ý kiến dân gì cả.

Vụ lấp sông Đồng Nai

Dự án lấp sông Đồng Nai để phục vụ ‘phát triển địa ốc’, ‘đô thị’ đang thu hút sự chú ý của dư luận trong nước.

Còn ông Nguyễn Quốc Hùng, phó chủ tịch UBND thành phố Hà Nội lại không thèm trả lời 21 câu hỏi của phóng viên báo chí trong một cuộc họp báo một chiều, độc thoại của ông và diễn ra chỉ vỏn vẹn chừng mười phút.

Sự việc lấp sông ở Đồng Nai còn kịch tính hơn khi phóng viên báo Thanh Niên xin lên sân thượng nhà những người dân ở gần hiện trường để chụp ảnh nhưng đều bị từ chối với lý do “Tôi sợ”. Thậm chí phóng viên còn bị người lạ theo dõi. Tại sao người dân lại sợ hãi khi các phóng viên muốn sự thật được phơi bày? Làm sao có thể có tiếng nói khi ngay cả việc được biết sự thật cũng không thể được?

Từ đó ta thấy, xã hội Việt Nam hiện tại có hai giai cấp. Giai cấp thống trị là các đảng viên cộng sản có chức quyền không do dân bầu, đứng trên luật pháp. Và giai cấp bị trị là tất cả những người còn lại chịu sự chi phối của một thứ luật pháp bất công. Điều này cũng phù hợp với chủ nghĩa Mác – Lênin với quan niệm nhà nước và luật pháp là công cụ đàn áp của giai cấp thống trị.

Cộng hòa chính danh

” Để xảy ra hai sự việc trên, cũng như dự án bô-xít Tây Nguyên, đều là do sự vắng bóng hoàn toàn ở Việt Nam của các quy chế của một nhà nước pháp quyền, dân chủ, cộng hòa chính danh

Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung”

Để xảy ra hai sự việc trên, cũng như dự án bô-xít Tây Nguyên, đều là do sự vắng bóng hoàn toàn ở Việt Nam của các quy chế của một nhà nước pháp quyền, dân chủ, cộng hòa chính danh.

Trong đó hai yếu tố quan trọng nhất là dân không có quyền bầu ra đảng cầm quyền lãnh đạo theo chọn lựa của họ, do đó đây là nhà nước cộng hòa mạo danh.

Và thứ hai là luật pháp không chuẩn mực, được làm ra để phục vụ lợi ích của một đảng, không có hệ thống tư pháp độc lập, từ đó gây ra bất công xã hội.

Những lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm cao nhất vì họ nhận là họ có quyền lãnh đạo “trực tiếp, tuyệt đối, và toàn diện” mọi mặt đời sống xã hội.

Họ không thể đổ thừa là cấp dưới làm sai và chỉ tạm đình chỉ công tác của một vài cán bộ cấp sở, phòng.

Ở các nước dân chủ, chỉ cần một vụ việc như vậy là đã có thể khiến đảng cầm quyền phải ra đi, nhường lại quyền lãnh đạo cho đảng thắng cử.

Những bộ luật để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình đều bị nhà cầm quyền trì hoãn hoặc bóp méo, như các bộ luật về quyền tự do biểu tình, tự do lập hội, tự do báo chí…

Thiếu vắng hành lang pháp lý để tự tập hợp lại, bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, để sửa đổi những bộ luật sai trái, để “biết”, “bàn”, “làm”, “kiểm tra”, những người dũng cảm lên tiếng phản đối những hành vi sai trái của nhà cầm quyền rất dễ gặp rủi ro như bị sách nhiễu, đàn áp, bắt giữ trái phép.

Lựa chọn cho Đảng

Cây xanh Hà Nội

Khách nước ngoài tham gia tuần hành bảo vệ cây xanh của người dân Việt Nam ở Hồ Thiền Quang, Hà Nội hôm 22/3/2015.

Dẫu còn đầy khó khăn như vậy, người dân Việt Nam đã không còn chấp nhận chịu đựng nữa mà bắt đầu phản kháng, không còn ở phạm vi cá nhân đơn lẻ mà đã bắt đầu đứng lại cùng nhau, lên tiếng cùng nhau để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

Hãy nhìn những tấm ảnh người dân cùng nhau xuống đường biểu tình để bảo vệ cây xanh; nhìn trên cả mạng xã hội và báo chí chính thống cũng phản ứng quyết liệt với chuyện chính quyền Hà Nội chặt cây, chính quyền Đồng Nai lấp sông, với những quan chức khinh thường dân.

Nhìn vào việc người dân tự thành lập các tổ chức xã hội dân sự, không chỉ mang tính xã hội mà cả tính chính trị, ta có thể thấy việc chuyển đổi sang một xã hội dân chủ, công bằng đã bước sang một giai đoạn mới.

”  Hãy bắt đầu bằng việc trả lại quyền làm chủ cho người dân qua nhà nước cộng hòa chính danh, và tạo dựng xã hội công bằng qua luật pháp chuẩn mực

Thạc sỹ Nguyễn Tiến Trung”

Nếu nhà cầm quyền chọn cách đàn áp sự phản kháng của người dân, cuối cùng họ sẽ tạo ra những con người dũng cảm đấu tranh chống bất công.

Nếu nhà cầm quyền chọn cách bưng bít thông tin, lừa dối dư luận, cuối cùng họ lại đánh mất niềm tin của người dân – cốt lõi cho sự tồn tại của bất kỳ chế độ nào.

Nếu nhà cầm quyền chọn tiếp tục tước đoạt quyền làm chủ của người dân, cuối cùng họ đã buộc người dân phải đứng lên thực hiện quyền làm chủ của mình, bầu ra đảng lãnh đạo mới.

Và nếu những người lãnh đạo đảng cộng sản hiểu và thấm thía câu ca dao từ cổ xưa truyền lại “Bao giờ giặc nổi can qua, con vua thất thế lại ra quét chùa” như là lời tổng kết của dân gian với các triều đại đến rồi đi trên đất nước này thì họ sẽ hành động khác.

Và hãy bắt đầu bằng việc trả lại quyền làm chủ cho người dân qua nhà nước cộng hòa chính danh, và tạo dựng xã hội công bằng qua luật pháp chuẩn mực.

MƯU CHƯỚC

MƯU CHƯỚC

TRẦM THIÊN THU

Có lần Chúa Giêsu đã xác định: “Con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại” (Lc 16:8). Sự khôn khéo ở đây mang nghĩa xấu, tức là mưu mô, mưu mẹo, toan tính và sắp đặt ngầm để thực hiện điều bất chính. Người ta gọi đó là mưu ma chước quỷ. Con người là sinh vật cao cấp nhất nhưng cũng nhiêu khê nhất vì luôn “biến hóa” với thất tình và lục dục (*).

Cổ nhân đã nói: “Hàm huyết phún nhân, tiên ô tự khẩu” (ngậm máu phun người, trước tiên là bẩn miệng mình). Thế nhưng kẻ xấu vẫn làm, bất chấp mọi thứ. Suy nghĩ xấu dẫn tới ước muốn xấu, ước muốn xấu dẫn tới hành động xấu. MÀU liên quan SẮC. Cái gì ĐEN thì TỐI. Thánh Phaolô khuyên: “Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu” (Rm 13:12). Đó là động thái đặc biệt của Mùa Chay Thánh.

Sau Đại Hồng Thủy, Thiên Chúa phán với ông Nô-ê và các con ông: “Đây Ta lập giao ước của Ta với các ngươi, với dòng dõi các ngươi sau này, và tất cả mọi sinh vật ở với các ngươi: chim chóc, gia súc, dã thú ở với các ngươi, nghĩa là mọi vật ở trong tàu đi ra, kể cả dã thú. Ta lập giao ước của Ta với các ngươi: mọi xác phàm sẽ không còn bị nước hồng thủy huỷ diệt, và cũng sẽ không còn có hồng thủy để tàn phá mặt đất nữa” (St 9:8-11). Lời hứa đó của Thiên Chúa là điều diễm phúc cho cả nhân loại, vì không còn cảnh “tẩy rửa” địa cầu như thời Cựu Ước.

Thiên Chúa không hứa suông, mà Ngài cho dấu chỉ cụ thể và rõ ràng: “Đây là dấu hiệu giao ước Ta đặt giữa Ta với các ngươi, và với mọi sinh vật ở với các ngươi, cho đến muôn thế hệ mai sau: Ta gác cây cung của Ta lên mây, và đó sẽ là dấu hiệu giao ước giữa Ta với cõi đất. Khi Ta cho mây kéo đến trên mặt đất và cây cung xuất hiện trong mây, Ta sẽ nhớ lại giao ước giữa Ta với các ngươi, và với mọi sinh vật, nghĩa là với mọi xác phàm; và nước sẽ không còn trở thành hồng thủy để tiêu diệt mọi xác phàm nữa” (St 9:12-15). Ngày nay, chúng ta thường thấy “cây cung” đó sau những cơn mưa to, và chúng ta gọi đó là Cầu Vồng, với bảy sắc màu lung linh rất đẹp, rất kỳ diệu.

Mỗi khi thấy Cầu Vồng, chúng ta lại được nhắc nhở về giao ước xưa, nghĩa là Thiên Chúa đã thứ tha, không trừng phạt nhãn tiền nữa. Nhưng đừng vì thế mà ỷ lại, cứ ung dung sống. Hãy noi gương tác giả Thánh Vịnh cầu xin: “Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết, lối đi của Ngài, xin chỉ bảo con. Xin dẫn con đi theo đường chân lý của Ngài và bảo ban dạy dỗ, vì chính Ngài là Thiên Chúa cứu độ con. Sớm hôm con những cậy trông Ngài, bởi vì Ngài nhân ái” (Tv 25:4-5).

Tạ ơn trong niềm hạnh phúc, nhưng cũng đừng quên sám hối. Mùa Chay là lời nhắc nhở: “Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu Ngài đã từng biểu lộ từ muôn thuở muôn đời. Tuổi xuân trót dại bao lầm lỗi, xin Ngài đừng nhớ đến, nhưng xin lấy tình thương mà nhớ đến con cùng. Chúa là Đấng nhân từ chính trực, chỉ lối cho tội nhân, dẫn kẻ nghèo hèn đi theo đường công chính, dạy cho biết đường lối của Người” (Tv 25:6-9). Quả thật, nếu Thiên Chúa chấp tội thì chẳng ai được cứu rỗi (Tv 130:3).

Thật hạnh phúc cho chúng ta vì được Bửu Huyết của Đức Giêsu Kitô tẩy sạch mọi vết tội. Thánh Phaolô nói: “Chính Đức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi – Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương – hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Thân xác Người đã bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh. Người đã đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm, tức là những người xưa đã không vâng phục Thiên Chúa, trong thời Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi, nghĩa là thời ông Nô-ê đóng tàu. Trong con tàu ấy, một số ít, cả thảy là tám người, được cứu thoát nhờ nước” (1 Pr 3:18-20). Nước thật kỳ diệu, rất mềm mà rất cứng, người ta có thể “cắt” nước nhưng không thể làm “đứt” nước.

Tứ nước của Đại Hồng Thủy tới Phép Rửa, rồi Nước (và Máu) tuôn trào từ Thánh Tâm Chúa Giêsu khi lưỡi giáo đâm vào: “Nước đó là hình bóng phép rửa nay cứu thoát anh em. Lãnh nhận phép rửa, không phải là được tẩy sạch vết nhơ thể xác, mà là cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô, Đấng đang ngự bên hữu Thiên Chúa sau khi đã lên trời, đã bắt các thiên sứ và toàn thể thần minh phải phục quyền” (1 Pr 3:21-22). Tội lỗi là điều ghê tởm, ô uế lắm, nhưng may mắn chúng ta được rửa sạch nhờ Bí tích Thánh Tẩy. Và vì yếu đuối, chiếc “áo trắng” của chúng ta lại vấy bẩn, nhưng lại được “giặt sạch” nhờ Bí tích Giao Hòa (Giải Tội). Tội chồng lên tội, nhưng rồi phúc lại chồng lên phúc. Xui mà lại hên! Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải tiếp tục ăn chay và sám hối. Ăn chay và đền tội không chỉ cho chính mình, mà còn cho cả người khác trong tình liên đới Kitô giáo.

Trình thuật Mc 1:12-13 nói ngắn gọn về cơn cám dỗ mà Chúa Giêsu chịu sau khi đã ăn chay ròng rã suốt 40 đêm ngày: “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người”. Trong Mt 4:1-11 và Lc 4:1-13 nói chi tiết hơn về cơn cám dỗ này: Cám dỗ thứ nhất về sự ăn uống, đệ nhất khoái trong tứ khoái của con người; cám dỗ thứ nhì về tính kiêu ngạo, “cái tôi” luôn là số dzách, nó có thể nổi dậy bất cứ lúc nào; cám dỗ thứ ba về danh vọng và địa vị, những thứ mà ai cũng muốn để chứng tỏ mình tài giỏi hơn người, chứng tỏ mình có “bản lĩnh”.

Đức Giêsu đã ăn chay trước khi khai mạc công việc rao giảng, điều đó cho thấy việc ăn chay luôn gắn liền với việc cầu nguyện. Việc cầu nguyện cần thiết trước khi hành động bất cứ điều gì. Một trong những điều quan trọng chúng ta cần cầu xin là “xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ” (Kinh Lạy Cha). Điều này đã được chính Chúa Giêsu dạy khi các môn đệ xin Sư Phụ dạy cách cầu nguyện.

Sau khi ông Gioan bị nộp, Đức Giêsu đến miền Galilê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Ngài nói: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1:15). Thời kỳ của chúng ta là thời kỳ cuối rồi. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta thấy ai mở miệng ra cũng than là “đạo đức xuống cấp” hoặc “suy thoái nhân bản”. Thật vậy, chưa cần va quẹt nhau, chỉ cần nhìn thôi, người ta có thể to tiếng hoặc ẩu đả nhau, thậm chí là rút dao đâm ngay, không hề gớm tay. Như vậy là người ta không muốn sám hối theo lời khuyên của Đức Kitô.

Người ta mưu mô và thủ đoạn, đủ dạng mưu ma chước quỷ. Văn minh tiến bộ thì tội lỗi cũng tinh vi hơn. Chắc chắn việc ăn chay, sám hối và đền tội càng cần hơn bao giờ hết. Ước gì mỗi chúng ta đều biết chân thành thú tội để được Thiên Chúa đại xá: “Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài” (Tv 51:6).

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết xa tránh và triệt tiêu mọi mưu ma chước quỷ, can đảm sống ngay thẳng trong tinh thần sám hối suốt đời, không chỉ trong Mùa Chay này. Xin Ngài nâng đỡ và bảo vệ chúng con trên suốt hành trình sám hối, đặc biệt trong Mùa Chay này. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

(*) Thất tình: Hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục. Lục dục: [1] Sắc dục: ham muốn nhìn thấy sắc đẹp; [2] Thinh dục: ham muốn nghe âm thanh êm tai; [3] Hương dục: ham muốn ngửi mùi thơm dễ chịu; [4] Vị dục: ham muốn món ăn ngon miệng; [5] Xúc dục: ham muốn xác thân sung sướng; [6] Pháp dục: ham muốn ý nghĩ được thỏa mãn.

Suy tư Mùa Chay

Suy tư Mùa Chay


Vũ Van An

Mùa Chay năm nay quả có nhiều chuyện để suy tư: tình hình Kitô hữu tại Trung Đông, tình hình anh em Công Giáo tại Ukraine, chuyện hôn nhân và gia đình…, nhưng điều quan trọng nhất vẫn là hồi tâm và đổi mới con người mình.

Có điều, dưới triều giáo hoàng của Đức Phanxicô, hồi tâm và đổi mới bao giờ cũng có chiều kích tha nhân, đi ra khỏi mình, gặp gỡ anh em, gặp gỡ bất cứ ai, nhất là những người thuộc các khu ngoại vi đủ loại, từ kinh tế tới tâm linh, dù cho phải bầm dập, thương tích.

Chính vì thế, trong sứ điệp Mùa Chay 2015, Đức Phanxicô kêu gọi ta phải hướng về người khác.

Đức TGM Aquila của Denver cho rằng về một vài phương diện nào đó, việc tràn lan các kỹ thuật truyền thông khiến người ta ít khi lưu ý tới người khác. Chỉ cần vặn nút máy truyền hình hay vào internet là thấy đủ mọi hình ảnh về các đau đớn và nhẫn tâm của con người. Nguyên số lượng khổng lồ các đau đớn cũng đủ làm ta chịu không nổi, đành tắt máy. Không có ơn thánh Chúa củng cố, ta chỉ có thể chịu được một số lượng bất nhân và đau đớn nào đó, trước khi khép lòng mình lại.

Nhưng trong sứ điệp Mùa Chay 2015, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đề cập tới một khía cạnh đáng lưu ý hơn, đó là việc “hoàn cầu hóa lòng dửng dưng”. Ngài cảnh cáo ta về hiện tượng khắp trên thế giới, càng ngày càng có nhiều người hơn tự ý để lòng mình ra nguội lạnh và dửng dưng, chỉ biết quan tâm tới tiện nghi và phúc lợi riêng của mình. Ngài kêu gọi ta đấu tranh triệt hạ lòng dửng dưng này.

Ba khí cụ cổ điển của Mùa Chay đủ để ta thực hiện thành công cuộc đấu tranh trên. Ăn chay và kiêng thịt hay tiết chế các ham muốn nói chung là cách hay nhất làm tâm hồn ta dịu lại, chùng xuống. Khi sung sức và thoải mái, ta rất dễ quên khuấy các đau khổ và bất công mà những người kém may mắn hơn ta đang phải chịu; nói cách khác, ta dễ dửng dưng. Nhưng khi ta tự ý từ bỏ điều gì đó, sự hy sinh này giúp ta dễ cảm nhận các đau khổ của những người kém may mắn và tạo ra cánh cửa để Thiên Chúa bước vào chữa ta khỏi cơn bệnh dửng dưng.

Ăn chay cũng giúp ta nhận ra mình quá lấy mình làm trung tâm, và nhận ra các khuyết điểm của mình, dẫn mình tới bí tích hòa giải, nơi Thiên Chúa phục hồi ta trở lại địa vị làm con cái của Người. Cảm nghiệm được trở về với gia đình Thiên Chúa này hiển nhiên sẽ làm cái giá băng của tâm hồn ta tan biến, giúp ta nhìn mọi người như anh chị em…

Thói quen gia tăng cầu nguyện trong Mùa Chay cũng giúp ta cởi mở cõi lòng và phá tan dửng dưng. Nó làm thế nhờ nối kết ta với Chúa và hướng ta về cõi sống đời đời mà ta vốn được dựng nên để thụ hưởng. Đây là cảm nghiệm của Thánh Augustinô. Trước nhất, nhờ nghe Thánh Ambrôsiô thuyết giảng, nhưng điểm ngoặt là lúc ngài nghe một đứa trẻ hát câu “Hãy cầm lên mà đọc”. Tin rằng đây là lệnh truyền của Chúa, ngài cầm lấy cuốn Sách Thánh, mở ra trúng đọan thư Rôma 13:13-14: “Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng”. Cảm động về lời khuyên này, Thánh Augustinô cương quyết rời xa con đường say sưa, hưởng dục và ghen tương, mặc lấy Chúa Kitô…

Đọc Sách Thánh hàng ngày, như lời khuyên của Đức Phanxicô, nhân Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Chay vừa qua, có thể dẫn ta tới cùng một cảm nghiệm như trên, giúp ta ra khỏi mình và sống cho người khác.

Đức GH Phanxicô cũng cung hiến cho ta một lối đấu tranh chống dửng dưng khác là liên kết ta với hiệp thông các thánh. “Cùng với các thánh… ta trở thành thành phần của hiệp thông này trong đó, dửng dưng bị đánh bại nhờ tình yêu”. Trong hiệp thông này, ta được dự phần vào chiến thắng của Chúa Kitô đối với hận thù, dửng dưng và cứng lòng.

Sau cùng, ta có thể đấu tranh chống dửng dưng bằng cách hiến tặng những ai nghèo về tinh thần và vật chất. Có lẽ điển hình dửng dưng hiển nhiên nhất là khi ta bước qua hay lái xe qua một người vô gia cư và làm ngơ họ. Một số trong chúng ta tự đặt một khoảng cách giữa ta và những người túng thiếu vì mình cảm thấy bất lực không giúp gì được họ. Nhưng nếu bạn dành cho họ một cuộc chuyện vãn không thôi, nguyên việc này cũng đã mở rộng cõi lòng bạn rồi.

Đức Phanxicô dạy rằng: nhờ các hành vi bác ái, ta cảm nghiệm được “lời mời gọi hồi tâm, vì nhu cầu của họ nhắc ta nhớ tới những bất trắc của chính cuộc sống ta và sự lệ thuộc của ta vào Thiên Chúa và các anh chị em ta”.

Mùa Chay là mùa chết lành sống khỏe

Kathleen Hirsch, một phụ tá giáo sư tại Boston College và là một nhà hướng dẫn tĩnh tâm, có một suy tư khác về Mùa Chay: Mùa này giúp ta chuẩn bị chết lành! Người chuẩn bị chết lành không hẳn là người sẽ chết sớm.

Bà kể câu truyện về một người giáo dân trong xứ đạo của bà. Cứ tạm gọi người nữ giáo dân này là Lan đi. Hai năm trước đây, Lan theo một đoàn hành hương qua Đất Thánh. Ở đấy, nàng tiết lộ với anh chị em cùng đoàn rằng 4 ngày trước đó, nàng được chẩn đoán mắc chứng ung thư tụy tạng và bác sĩ cho nàng hay sau khi viếng nơi Chúa Giêsu từng giảng dạy và làm phép lạ, nàng sẽ về nhà chờ chết.

Cả đoàn đặt tay lên nàng và trong suốt hành trình hành hương, họ luôn ở gần nàng. Về nước, họ tiếp tục gặp nhau và tiếp tục chăm sóc Lan, lái xe đưa nàng đi nhà thờ hoặc tới bệnh viện, đem đồ ăn tới cho nàng. Lan tiếp tục đi nhà thờ. Ngồi cạnh nàng, tác giả đau đớn nhìn nàng lảo đảo cố gắng đứng lên hay ngồi phịch xuống ghế hoặc với chai nước tu cho đỡ cơn khát do thuốc men tạo ra. Một ai đó luôn có mặt để giúp nàng lên chỗ rước lễ.

Nhiều tuần trôi qua, tác giả bắt đầu nhận thấy tuy cơn bệnh đang dần lấy đi cơ thể trước đây khỏe mạnh của nàng, nàng vẫn cố gắng xuất hiện ở nhiều nơi, có khi còn nhiều hơn trước. Nàng tới sớm để ngồi hàng đầu trong tuần lễ trang phục của London, tóc nàng chải gọn gàng, móng tay chăm sóc kỹ. Y phục được điều chỉnh cho vừa với cơ thể đang tóp lại dần của nàng.

Nhưng các thay đổi bên trong mới đáng kể. Lan trở nên rạng rỡ trông thấy, hơn trước nhiều. Một điều gì đó rạng sáng qua con người nàng. Khi nàng cười, đôi mắt xanh của nàng sáng lên, cả một thiên hà ánh sáng xuất hiện. Trước đây, vốn là một nhà chuyên nghiệp dè dặt, chọn người để quen thân, nay Lan trở thành người sẵn sàng ôm hôn, rất chân thực lưu tâm tới bất cứ ai khác. Nàng không muốn nói về chính nàng (“ồ, chuyện ấy đâu có thích thú gì”)…

Điều tác giả biết thêm là: 3 tháng đến rồi đi, rồi 1 năm rưỡi nữa qua và được tin nàng vừa qua thăm Thổ Nhĩ Kỳ. Tình cờ một hôm gặp nàng, tác giả bảo “Chị quả là một phép lạ đang bước đi”. Nàng chỉ ôn tồn đáp lại “Phép lạ ư, chữ ấy làm em sợ. Nó quá lớn đối với đời em lúc này. Hàng ngày, em cám ơn vì khi thức giấc thấy mình còn sống. Điều ấy đủ cho em rồi”.

Tác giả không cho biết thêm chi tiết nào khác, nhưng trích dẫn lời Henri Nouwen nói rằng Mùa Chay giúp ta lưu ý đến tầm quan trọng của việc chết lành. Nhà tư tưởng này cho rằng câu hỏi cần đặt ra là làm sao để đời ta mang ích lợi lại cho những người ta để lại sau lưng?

Tác giả cho rằng cần phân biệt điều đôi lúc đáng muốn và điều thực sự lâu bền. Vấn đề là phải tái sắp xếp. Các tập ghi chép, các máy cuộn tóc, những lọ nước hoa của tác giả sẽ kết thúc ở những bãi đắp đất (landfills) nơi những con mòng biển tha đi chiếc bóp đầm tác giả mang theo tới những cuộc khiêu vũ đầu đời hôn nhân. Nếu thời gian ở hoang địa, ta làm tốt, giống như Lan và những vị ẩn tu thời xa xưa, ta sẽ không làm thế vì nhịn những thỏi xôcôla thơm phức hay những ly rượu ngọt lịm trong 40 ngày, mà là vì ta đã học đôi chút về cách làm thế nào để chết lành.

Làm việc Mùa Chay cho đúng là chay tịnh những trò chơi điên khùng của cái tôi: hãnh diện và ghen tương, những vương miện rách nát, những chua cay châm chọc, những thèm muốn tính dục…

Về những tiết chế sâu sắc đó, nhà văn Gertrud Mueller Nelson, trong cuốn “Nhẩy Múa Với Thiên Chúa” (“To Dance With God”), có viết:

“Những điều thiện ác bị đơn giản hóa mà trước đây ta từng biết đến không còn giá trị nữa… Bỗng nhiên, ta đối diện với một hoàn cảnh tại cái nơi ta thấy mình yếu thế nhất và ta biết đây là thử thách. Ta đang hướng tới cái chiều đi xuống của cuộc đời và ta ý thức được cái chết của mình. Trên con đường này, ta chết cả hàng trăm cái chết nhỏ. Ta chết khi vươn tay ra với người khác, mà không hòng gì được tuyên dương hay đền trả. Ta từ bỏ việc kiểm soát người khác và dành cho họ cuộc sống mà họ vốn sinh ra để sống…

“Chỉ khi nào đã đi hết các chiều sâu của việc tự biết mình và ý thức được cái hỏa ngục mà chính ta đã tự tạo cho mình, chỉ khi ấy ta mới yêu thương bằng việc đồng hóa với người khác, chỉ khi ấy, ta mới có thể bắt đầu trỗi dậy”.

VIẾT LẠI CUỘC XỬ ÁN CỦA CHÚNG TA

VIẾT LẠI CUỘC XỬ ÁN CỦA CHÚNG TA

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Khi kể về cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu, Thánh Kinh tập trung rất nhiều vào cuộc xử án Ngài, mô tả dài và chi tiết.

Và mô tả đó thật vô cùng sâu cay.  Chúa Giêsu bị xử án, nhưng lại được viết ra như thể, tất cả mọi người đang bị xử án, chứ không phải Ngài.  Các nhà cầm quyền Do Thái, những người đã lên kế hoạch bắt Ngài đang bị xử án vì lòng ghen tức và bất lương của họ.  Nhà cầm quyền Rôma, những người nắm quyền quyết định trong vụ này, đang bị xử án vì sự mù quáng về đạo của họ.  Các đồng bạn và những người đương thời của Chúa Giêsu đang bị xử án vì sự yếu đuối và phản bội của họ.  Những người thách Chúa Giêsu thể hiện quyền năng thiêng liêng của mình để xuống khỏi thập giá, họ bị xử án vì đức tin thiển cận của họ.  Và, cuối cùng nhưng không phải nhẹ tội, là chính mỗi chúng ta đang bị xử án vì sự yếu hèn, ghen tương, mù quáng tôn giáo và đức tin thiển cận của mình.  Đoạn viết về cuộc xử án Chúa Giêsu đọc ra như một bản kể tội phản bội của chúng ta.

Gần đây, Giáo hội đã cố để giúp chúng ta nắm bắt được điều này bằng cách đọc các đoạn Thương khó trong ngày Lễ Lá và ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.  Ngày nay, trong nhiều nhà thờ, bản Thương khó được đọc theo cách phân vai, một người kể chuyện, một người đóng vai Chúa Giêsu, vài người khác đóng vai những người tham dự trong việc bắt giữ và xử án Chúa, và cả cộng đoàn đọc to lời của đám đông. Làm thế này không thể nào hợp lý hơn được nữa, vì một cộng đoàn trong bất kỳ giáo hội Kitô nào, và chúng ta, từng người trong cộng đoàn đó, bằng hành động hay lời nói, theo vô số cách khác nhau, đang họa lại hoàn hảo những hành động và lời nói của những người đương thời với Chúa Giêsu cùng với sự yếu hèn, phản bội, ghen tức, mù quáng tôn giáo, và đức tin sai lầm.  Chúng ta cũng vô số lần lên tiếng buộc tội Chúa Giêsu bằng chính lối sống của mình.

Ví dụ như, đây là cách chúng ta làm thế trong lời nói: Trong trình thuật theo thánh Matêô, trong cuộc xử án, Philatô ra trước mặt dân, những người chỉ mới năm ngày trước đã tung hô Chúa Giêsu là vua, nói với họ rằng, theo thông lệ vào ngày lễ Vượt qua, ông sẽ thả một tù phạm Do Thái.  Lúc đó, trong tù có một tên sát nhân hết sức bỉ ổi là Barabbas.  Philatô hỏi đám đông: “Ta sẽ tha cho ai, Giêsu thành Nazareth hay Barabbas.”  Đám đông la lên: “Barabbas!”  Philatô mới hỏi họ: “Vậy ta sẽ làm gì với Giêsu thành Nazareth?”  Đám đông đáp lời: “Dẫn hắn đi.  Đóng đinh hắn!”  Chúng ta có thể làm một phép ngoại suy rất rõ ràng thế này: Trong mọi lựa chọn luân lý của mình, lớn hay nhỏ, xét cho cùng, câu hỏi mà chúng ta phải đối diện cũng là câu mà Philatô đã hỏi đám dân: Ta sẽ thả ai cho các người, Giêsu hay Barabbas?  Lòng nhân từ hay thói bạo lực?  Bỏ mình hay quy kỷ?

Cũng đám dân đó đã nói với Philatô rằng: “Chúng tôi chẳng có vua nào cả, ngoại trừ Ceasar!”  Khi nói thế, họ đang chối bỏ niềm hi vọng của mình về Đấng Messiah để đổi lấy sự an toàn tạm thời.  Chúng ta cũng nói như thế, mỗi khi, vì lợi lộc của mình, chúng ta bán rẻ những lý tưởng cao hơn, và chọn lấy cái thứ yếu.

Cũng vậy, quá thường xuyên, chúng ta lặp lại những lời của đám dân đang thách Chúa Giêsu bị treo trên thập giá bằng những lời: “Nếu ngươi là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá, cứu lấy chúng ta, và cứu cả ngươi nữa.”  Chúng ta cũng nói như thế bất cứ lúc nào chúng ta cầu nguyện như thể đang thẩm xét sự hiện hữu và tốt lành của Thiên Chúa, nếu chúng ta có một câu trả lời theo ý mình thì đó là Chúa yêu chúng ta, còn không, chúng ta sẽ bắt đầu hoài nghi Ngài.

Dĩ nhiên, cũng như vậy với hành động của chúng ta:  Như các môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta có xu hướng ở bên Ngài khi mọi chuyện tốt đẹp, khi cám dỗ không quá mạnh, và không phải đối diện với những đe dọa thực sự, trực tiếp đến mình.  Nhưng cũng như môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta có khuynh hướng chối bỏ và phản bội khi mọi chuyện trở nên khó khăn và nguy hiểm.  Hơn nữa, như các người có quyền đến bắt Chúa Giêsu với đèn đuốc sáng, chúng ta cũng thường thích soi rọi ánh sáng của mình lên Đấng là Ánh sáng của mọi Ánh sáng, và như những người đến bắt Chúa Giêsu, chúng ta có khuynh hướng mang theo gậy gộc và gươm giáo, sẵn sàng giao tranh, khi đến gặp Vua Hòa bình.

Nói chung, khi đọc trình thuật về Cuộc Thương khó và Cái chết của Chúa Giêsu, khuynh hướng bộc phát của chúng ta là lên án gay gắt những người dự phần trong việc bắt giữ, xử án, và kết án Ngài: Làm sao họ không nhìn ra được mình đang làm gì?  Tại sao họ quá mù quáng và ghen tức như thế?  Làm sao họ chọn lấy một bảo đảm sai lầm thay vì chốn nương ẩn vĩnh hằng bên Chúa?  Làm sao họ chọn một kẻ sát nhân thay vì Đấng Messiah?  Làm sao mà các môn đệ quá dễ dàng chối bỏ Chúa?

Đã qua hơn 2000 năm, nhưng chẳng có nhiều thay đổi đâu.  Chọn lựa của những người trong cuộc xử án và kết án Chúa Giêsu, cũng chính là những chọn lựa mà chúng ta đưa ra ngày hôm nay.  Và gần như mọi ngày, chúng ta chẳng làm gì tốt đẹp hơn họ, vì, với sự mù quáng và tư lợi, chúng ta vẫn và quá thường xuyên, nói rằng: Dẫn hắn đi.  Đóng đinh hắn vào thập giá!  Thế đó.

Rev. Ron Rolheiser, OMI