Lời nguyện trôi theo mái tóc dài

“Lời nguyện trôi theo mái tóc dài,”

Cầu cho hoa lá thoát phàm thai.

Hồn lên vầng trán mây kềm toả,

Hình tượng nào đây? Thể xác ai?”

(Dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Mai Tá lược dịch

Nhiều lúc, người đọc sách thánh đã cắt ngắn truyện Tin Mừng một cách quá sớm, để rồi không định ra được ý-tứ của người viết nói thế nào? Về ai? Có ý gì?

Trình thuật hôm nay ta nghe được, lại là chương cuối của Tin Mừng Luca với 4 trích đoạn kể lại việc tông đồ Chúa đạt niềm tin về sự Sống lại. Ở hai đoạn đầu, Maria Magđala và Phêrô, đã đến mộ phần Đức Kitô, phát hiện ra Ngài đã trỗi dậy từ cõi chết.

Ở đoạn trích thứ 3 -“Đoạn Đường Emmaus”- Luca lại nói đến trường hợp Đức Kitô hiện ra với các đồ đệ đang tụ họp. Ở đây, trình thuật kết thúc ngay câu 48, khi Đức Kitô dặn các tông đồ phải trở nên chứng nhân cho việc Ngài sống lại. Trong khi đó, nếu đưa thêm hai câu tiếp, ta sẽ thấy: Đức Kitô nhắn nhủ các môn đệ hãy ra đi loan truyền Tình yêu cứu độ cho thế giới, bên ngoài.

Sở dĩ, Hội thánh kết thúc trình thuật hơi sớm là vì không muốn gộp chung báo trước việc Đức Kitô Thăng Thiên, tức Ngài về với “Cha” đang mong. Và làm thế, người đọc Tin Mừng thấy kết cục hơi đột ngột, không thông như giòng chảy ngọt ngào như toàn bộ chương cuối. Truyện kể “Đoạn Đường Emmaus” phản ánh điều mà mỗi người chúng ta vẫn thường làm trong buổi Tiệc thánh, mỗi Chúa Nhật.

Thật thế, nếu đưa câu 49 và 50 của chương 24 vào chung với đọan Tin Mừng hôm nay, ta sẽ nhận ra tình huống tương tự khi Ngài mới sống lại. Đặc biệt, các động từ trong truyện cho thấy Đức Kitô như  hiện diện với đồ đệ đang tụ họp vào mỗi buổi dự tiệc. Ngài trao ban chính mình Ngài cho các đồ đệ để mọi người nhận ra Ngài, ôm Ngài vào lòng.

Trong khuôn khổ buổi tiệc, Đức Kitô vẫn cùng ăn cùng uống với các đồ đệ. Ngài vẫn dạy mọi người hiểu thêm ý nghĩa thánh kinh; và, Ngài uỷ nhiệm mọi người hãy ra đi loan báo Tin Mừng Yêu thương cứu độ, coi đây như sứ mệnh cao cả gửi đến mỗi người.

Tiệc Phục sinh ban đầu đem lại kết quả cho mọi người cũng hệt như tiệc của lòng mến mỗi Chúa nhật. Chúng ta tụ tập đông đủ, ở đây và lúc này, là để tưởng nhớ; và, một lần nữa, chuyển biến sự kiện quan trọng này thành sứ mệnh sống còn. Đây là lý do Hội thánh luôn đề cập đến con số 40 ngày Chay tịnh, từ Lễ Tro đến lễ Vọng Phục sinh.

Thật ra, con số 40 ngày –(hoặc 45 nếu tính cho đúng)—có rơi đúng hôm nay hay sau ngày Đại lễ, thì mỗi Chúa nhật đều là ngày để ta trỗi dậy mà Sống lại và nhớ bài sai ra đi rao truyền Tình thương cứu độ của Đức Chúa. Và, điều này hợp với ý định của Hội thánh.

Cũng tựa như tiệc Phục sinh ban đầu có Chúa hiện diện, mỗi Chúa nhật đều là ngày Phục sinh ta cũng có Đức Kitô mời đến tham dự Tiệc rượu Lòng Mến.

Tham dự Tiệc Thánh, ta tiếp tục được hướng dẫn hiểu rõ thánh kinh. Tiếp tục sống tinh thần Tin Mừng trong cuộc sống đời thường. Có sống thương yêu đùm bọc theo tinh thần của Tin Mừng, ta mới tiếp tục có Chúa hiện diện. Ngài hiện diện với các thánh tông đồ, ngày Phục sinh. Ngài cũng còn hiện diện với chúng ta.

Và, Ngài vẫn thương yêu, đùm bọc mọi cộng đoàn kẻ tin, lớn nhỏ. Đặc biệt hơn, Ngài vừa chủ toạ vừa đồng bàn với ta trong tiệc lòng mến, mỗi khi ta ngồi lại với nhau, tụ họp và tưởng niệm. Ngài dặn dò, khích lệ ta vui vẻ ra đi loan truyền tình Thương yêu cứu độ. Ra đi, với niềm hăng say, quả cảm. Ra đi, với quyết tâm thực hiện tình thương yêu trong đời sống thường nhật.

Để giúp ta thành công, hãy vui nhận sứ mệnh này như món quà cao quý Đức Kitô trao cho ta qua các môn đồ, ngay từ đầu. Đó là: sự an bình và vui sống với người đời trần thế như chứng nhân của Tình yêu cứu độ. Có lẽ, đôi lúc ta cũng cần đến óc sáng tạo để cho sứ mệnh cao trọng này thêm sinh khí. Có sáng tạo và thêm sinh khí, ta mới vui sống, phấn khởi thực hiện điều Ngài giao phó trong xã hội đương đại đầy nhiễu nhương, ác cảm. Câu truyện của vị cao niên dưới đây sẽ minh hoạ cho óc sáng tạo, phấn khởi:

Chiều hôm ấy, vị cao niên nọ quyết định ở nhà để vui hưởng sự yên tĩnh. Nhà cụ ở, nằm sát cạnh trường học, nên thường xảy ra nhiều chuyện ồn ào, bất ưng. Chiều chiều, cứ thấy có 3 người trẻ lảng vảng, đập gõ inh ỏi vào các thùng tôn đựng rác. Không ai khuyên bảo, can ngăn bọn trẻ bỏ cái trò tinh quái, khó chịu ấy.

Vị cao niên nhà ta bèn nảy ra một ý kiến. Cụ gọi bọn trẻ đến và bảo: “Này, bác có ý kiến này: các cháu xem có làm được không, nhé. Nếu chiều nào các cháu cũng đến đây, lấy gậy đập mạnh vào các thùng rác cho thật to, để mọi người thưởng thức được loại nhạc Tếch-nô. Gõ xong, hết giờ, đến đây bác tặng cho mỗi đứa một chục đô. Các cháu nghĩ sao? Bọn trẻ nhận lời, chẳng bỏ lỡ cơ hội. Tiếng gõ đập của chúng càng lúc càng đinh tai, nhức óc.

Vị cao niên cứ để bọn trẻ gõ cho đến lúc trời nhá nhem mới gọi đến, bảo: “Tiếc quá, hôm nay bác đi lãnh mà tiền cấp dưỡng chưa vào sổ. Thôi, các cháu cầm đỡ mỗi đứa 25 cents, bác đưa thêm sau”. Tên đầu xỏ, tức giận trả lời: “Bộ, ông tưởng tụi tôi bỏ bao nhiêu thì giờ làm chuyện này để được có 25 cents thôi sao? Đúng, ông thuộc loại dở khùng dở điên. Này, ông cúi xuống mà nhặt lấy 75 cents đi, bọn này không thèm thứ tiền ấy đâu.

Và, ngày mai đừng có mong bọn này trở lại gõ tiếp đâu nhé…” Thế là vị cao niên thắng lớn. Ông tìm được sự yên tĩnh cần có, để an hưởng tuổi già.

Hôm nay, Đức Kitô cũng dạy ta hãy ra đi làm việc gì hữu ích cho mọi người. Đem tình yêu hài hòa đến với mọi người. Hãy sáng tạo đổi mới cách thực hiện, hầu mọi người hưởng an bình, vui sống. Vui, vì được nghe lời Chúa. An bình, vì đã có Tin Mừng Chúa bảo bọc.

Đó là sứ mệnh gửi đến mọi người. Cầu mong sao, ta sẽ khôn ngoan để biết cách tạo hạnh phúc và hoà bình, đến muôn người. Những người đang sống quanh ta. Bây giờ và mai hậu.

Trong tâm tình cảm-nghiệm ý-tứ của người viết truyện Tin Mừng, có lẽ cũng nên ngâm thêm lời thi-ca vẫn ca tụng một gặp gở nào đó, ở đời người:

“Còn mảnh hồn thương dạt bến nào?

Vành môi vực thẳm máu dâng cao.

Mùa trăng thủy thảo hoa đầy gối,

Ánh mắt không lời đọng biển sao.

(Đinh Hùng – Giọt Máu Sao Trời)

Mảnh hồn hay vành môi thương dạt bến nào” đi nữa, vẫn cứ là những “ánh mắt không lời” còn đọng ở biển sao cuộc đời người nhiều luyến tiếc. Tiếc rằng, sao Người không ở lại với ta cho thoả lòng cảm kích rất biết ơn. Ơn trời biển, nhờ đó mới nhận ra rằng Người vẫn ở với ta, hết mọi ngày cuộc đời, của con người.

Lm Richard Leonard sj –

Mai Tá lược dịch

Đôi khi ta muốn thoát ly,

“Đôi khi ta muốn thoát ly,
Đi thật xa khỏi khung trời này,
Lên rừng làm bạn vui với hươu nai
Đôi khi ta muốn thoát ly,
Đi thật xa khỏi cuộc đời này,
Xa lìa chuyện ganh đua với chê bai”.

(Lê Hựu Hà – Đôi khi Ta Muốn Khóc)

(Mt 5: 46-47)

Trần Ngọc Mười Hai

Có nhiều lúc ngồi buồn nghĩ rất nhiều thứ chuyện. Chuyện vui cũng có. Chuyện buồn còn nhiều hơn. Buồn vui cuộc đời, là chuyện thường ngày ở huyện nhà, trọn đời người. Một trong các chuyện buồn chán ấy, lại đã thấy, ở câu hát bên dưới hôm nay:

“Đôi khi ta muốn khóc khi thấy
Con người không biết thương đồng loại
Con người thường khoe khoang rất khôn ngoan
Đôi khi ta muốn khóc,
Khi thấy nhân loại tranh miếng ăn từng ngày,
Vui lòng chịu luồn cúi dưới chân ai.”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Nói gì thì nói. Hát gì thì hát. Nếu nghệ sĩ mình chỉ hát những điệu buồn dân-gian của cuộc đời, thật cũng chán. Cũng may là, trong cái chán của bài hát, ngoài ý lời ra, còn giòng chảy tiết-điệu làm người nghe nhạc bản đáng chán nào đó cũng bớt được những tâm tình chán nản đến quên đời. Quên cả những ngày đời mà người hát cứ phải giáp mặt, chạy đâu thoát.

Đó còn là ý/lời của câu hát tiếp theo sau:

“Trong mơ ta luôn khát khao,
Một thế giới yên vui đầy dẫy tình người.
Với bao con tim chân thành và nhân ái.
Trong mơ ta luôn khát khao,
Câu nói thương yêu không một chút lọc lừa
Để ta nghe thương cuộc đời hơn nữa.
Để ta nghe thương con người nhiều hơn xưa.

Đôi khi ta thấy chán chê,
Khi tình thương đã không tồn tại,
Nhân tình tựa như gió thoảng mây bay
Đôi khi ta thấy xót xa,
Khi nhìn anh chiến binh mù loà
Nghe cuộc đời khoe khoang với ba hoa
(Lê Hựu Hà – bđd)

Thế mới biết, hết chán rồi lại ngán. Chán ngán đến mê mệt. Chán đến độ buồn đời rồi chán sống. Thế đó là cuộc đời. Thế nhưng, lại có những buồn/chán đến độ rất nản, khiần nhiều người lại tìm thấy ở đâu đó có giòng chảy khiến người và mình, bớt đi nỗi buồn/chán phát khiếp. Đó, còn là tâm trạng của người nghệ sĩ cứ hát mãi câu sau làm đoạn kết cho bài ca rất đáng chán như:

“Trong mơ ta luôn khát khao một thế giới yên vui
Nghe cuộc đởi khoe khoang với ba hoa
Mai đây ta sẽ bỏ đi, đi thật xa khỏi khung trời này
Lên rừng làm bạn thân với hươu nai
Mai đây ta sẽ bỏ đi, đi thật xa khỏi cuộc đời này
Xa lìa chuyện ganh đua với chê bai
La là là la lá lá la la………..”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Thôi thì, đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta nghe câu truyện kể ở đoạn tiếp trước khi đi vào những chuyện thần sầu rất đáng chán, như chuyện triết-thần nhà Đạo mình. Kể những truyện là kể như sau:

Một người không rõ về vận mệnh, đem thắc mắc của mình đi bái kiến vị thiền sư nọ
-Thầy nói xem trên đời này có vận mệnh không?
-Có.
– Nhưng, vận mệnh của con ở đâu?
Vị thiền sư kêu anh ta xoè tay trái ra, chỉ anh ta xem và nói:
-Con thấy rõ chưa? Đường này là đường tình cảm, đường này là đường sự nghiệp, còn đường kia là đường sinh-mệnh.
Sau đó, vị thiền sư kêu anh ta từ từ nắm tay lại, cho thật chặt. Thiền sư hỏi:

-Con nói xem, những đường đó nằm ở đâu rồi?
Anh ta mơ hồ bảo:
-Trong tay con này.
-Con hiểu vận mệnh của con ở đâu rồi chứ?
Anh ta mỉm cười nhận ra, thì ra vận mệnh nằm trong tay mình.”
(trích truyện do bạn bè gửi)

Có thể là, bạn và tôi, ta chẳng tin chuyện “vận mệnh” với “số phận” như các bạn đạo thuộc tôn-giáo khác vẫn lấy đó làm lý-tưởng sống. Cũng có thể, tôi và bạn lại suy-nghĩ rất “lung” về đời người và người đời, nhiều lúc thấy đầu óc không mang mặc một tư-tưởng nào hết.

Cũng có thể, tôi và bạn, ta từng đa nghi hết tất cả. Và không còn tin vào những chuyện cao-siêu/nhiệm-mầu, rất khác lạ. Khác và lạ, là ở chỗ: cứ nghe mãi mà tai mình vẫn không thấy quen. Và cũng có thể, là tai tôi và tai bạn, nay có vấn-đề cần chỉnh-sửa để ta có thể nghe đủ mọi chuyện và mọi thứ. Cả những thứ lâu rày mình chẳng thích nghe.

Và đây, là một trong những thứ, mà bày tôi đây thường chẳng muốn nghe bao giờ hết. Đó, là truyện kể rất tinh mơ nhưng lại cũng xưa/cũ như bao giờ, vì cái ông có tên gọi là “Vũ Như Cẫn” rất quen thuộc ở đâu đó, trong đời thường. Tỉ như câu truyện kể rất khó nghe sau đây:

“Tôi đã tìm một người thầy thông thái và đạo hạnh xin chỉ bảo:

-Vì sao những người lương thiện như con lại thường xuyên cảm thấy khổ, mà những người độc ác lại cứ sống tốt như vậy?

Thầy thông-thái hiền hòa nhìn tôi rồi trả lời:

-Nếu một người trong lòng cảm thấy khổ, điều đó nói lên rằng trong tâm người này có tồn tại một điều ác tương-ứng. Nếu một người trong nội-tâm không có điều ác nào, như vậy, người này sẽ không có cảm-giác thống-khổ. Vì thế, căn cứ theo đạo-lý này, con thường cảm thấy khổ, nghĩa là nội-tâm của con vẫn tồn-tại điều ác, con không phải là người lương-thiện thật sự. Và, những người con cho rằng là người ác, lại chưa hẳn là người thật sự ác.

Một người có thể vui vẻ mà sống, ít nhất nói rõ người này không phải là người ác thật sự.

Có cảm-giác như bị xúc-phạm, tôi không phục, liền nói:

-Con sao có thể là người ác được? Gần đây, tâm con rất lương-thiện mà!

Thầy trả lời:

-Nội-tâm không ác thì không cảm thấy khổ, con đã cảm thấy khổ, nghĩa là trong tâm con đang tồn-tại điều ác. Con hãy nói về nỗi khổ của con, ta sẽ nói cho con biết, điều ác nào đang tồn-tại trong con.

Tôi nói:

-Nỗi khổ của con thì rất nhiều! Có khi cảm thấy tiền lương thu nhập rất thấp, nhà ở cũng không đủ rộng, thường xuyên có “cảm giác thua thiệt” bởi vậy trong tâm con thường cảm thấy không thoải-mái, cũng hy-vọng mau chóng có thể cải-biến tình-trạng này; trong xã-hội, không ít người căn-bản không có văn-hóa gì, lại có thể lưng quấn bạc triệu, con không phục; một trí-thức văn-hóa như con, mỗi tháng lại chỉ có một chút thu-nhập, thật sự là không công-bằng; người thân nhiều lúc không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải-mái…

Cứ như vậy, lần lượt tôi kể hết với thầy những nỗi thống-khổ của mình.

Thầy gật đầu, mỉm cười, một nụ cười rất nhân-từ, đôn-hậu, người từ-tốn nói với tôi:

-Thu-nhập hiện-tại của con đã đủ nuôi sống chính con và gia-đình. Con còn có cả phòng ốc để ở, căn-bản là đã không phải lưu-lạc nơi đầu đường xó chợ, chỉ là diện-tích hơi nhỏ một chút, con hoàn-toàn có thể không phải chịu những khổ-tâm ấy.

-Nhưng, bởi vì nội-tâm con có lòng tham đối với tiền tài và của cải, cho nên mới cảm thấy khổ. Loại lòng tham này là ác tâm, nếu con có thể vứt bỏ ác tâm ấy, con sẽ không vì những điều đó mà cảm thấy khổ nữa.

Trong xã-hội có nhiều người thiếu văn-hóa nhưng lại phát tài, rồi con lại cảm thấy không phục, đây chính là tâm đố-kị. Tâm đố-kị cũng là một loại ác tâm. Con tự cho mình là có văn-hóa, nên cần phải có thu-nhập cao, đây chính là tâm ngạo-mạn. Tâm ngạo-mạn cũng là ác tâm. Cho rằng có văn-hóa thì phải có thu-nhập cao, đây chính là tâm ngu si; bởi vì văn-hóa không phải là căn-nguyên của sự giàu có, kiếp trước làm việc thiện mới là nguyên-nhân cho sự giàu có của kiếp này. Tâm ngu si cũng là ác tâm!

Người thân không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái, đây là không rộng lượng. Dẫu là người thân của con, nhưng họ vẫn có tư-tưởng và quan-điểm của riêng mình, tại sao lại cưỡng cầu tư-tưởng và quan-điểm của họ bắt phải giống như con? Không rộng-lượng sẽ dẫn đến hẹp hòi. Tâm hẹp-hòi cũng là ác tâm.

Sư phụ tiếp tục mỉm cười:

-Lòng tham, tâm đố-kỵ, ngạo-mạn, ngu-si, hẹp-hòi, đều là những ác tâm. Bởi vì nội-tâm của con chứa đựng những ác tâm ấy, nên những thống-khổ mới tồn-tại trong con. Nếu con có thể loại-trừ những ác tâm đó, những thống-khổ kia sẽ tan thành mây khói.”

Con đem niềm vui và thỏa-mãn của mình đặt lên tiền thu-nhập và của cải, con hãy nghĩ lại xem, căn-bản con sẽ không chết đói và chết cóng; những người giàu có kia, thật ra cũng chỉ là không chết đói và chết cóng. Con đã nhận ra chưa, con có hạnh-phúc hay không, không dựa trên sự giàu có bên ngoài, mà dựa trên thái-độ sống của con mới là quyết-định. Nắm chắc từng giây phút của cuộc đời, sống với thái-độ lạc-quan, hòa-ái, cần cù để thay thế lòng tham, tính đố kỵ và ích kỷ; nội tâm của con sẽ dần chuyển hóa, dần thay đổi để thanh thản và bình an hơn.

-Trong xã hội, nhiều người không có văn hóa nhưng lại giàu có, con hãy nên vì họ mà vui vẻ, nên cầu chúc họ càng giàu có hơn, càng có nhiều niềm vui hơn mới đúng. Người khác đạt được, phải vui như người đó chính là con; người khác mất đi, đừng cười trên nỗi đau của họ. Người như vậy mới được coi là người lương thiện! Còn con, giờ thấy người khác giàu con lại thiếu vui, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị chính là một loại tâm rất không tốt, phải kiên quyết tiêu trừ!”

-Con cho rằng, con có chỗ hơn người, tự cho là giỏi. Đây chính là tâm ngạo mạn. Có câu nói rằng: “Ngạo mạn cao sơn, bất sinh đức thủy” (nghĩa là: ngọn núi cao mà ngạo mạn, sẽ không tạo nên loại nước tốt) người khi đã sinh lòng ngạo mạn, thì đối với thiếu sót của bản thân sẽ như có mắt mà không tròng, vì vậy, không thể nhìn thấy bản thân có bao nhiêu ác tâm, sao có thể thay đổi để tốt hơn. Cho nên, người ngạo mạn sẽ tự mình đóng cửa chặn đứng sự tiến bộ của mình. Ngoài ra, người ngạo mạn sẽ thường cảm thấy mất mát, dần dần sẽ chuyển thành tự ti. Một người chỉ có thể nuôi dưỡng lòng khiêm tốn, luôn bảo trì tâm thái hòa ái từ bi, nội tâm mới có thể cảm thấy tròn đầy và an vui.

-Kiếp trước làm việc thiện mới chính là nguyên nhân cho sự giàu có ở kiếp này, (trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu). Mà người thường không hiểu được nhân quả, trồng dưa lại muốn được đậu, trồng đậu lại muốn được dưa, đây là thể hiện của sự ngu muội. Chỉ có người chăm học Phật Pháp, mới có được trí huệ chân chính, mới thật sự hiểu được nhân quả, quy luật tuần hoàn của vạn vật trong vũ trụ, nội tâm mới có thể minh tỏ thấu triệt. Để từ đó, biết làm thế nào lựa chọn tư tưởng, hành vi và lời nói của mình cho phù hợp. Người như vậy, mới có thể theo ánh sáng hướng đến ánh sáng, từ yên vui hướng đến yên vui.”

-Bầu trời có thể bao dung hết thảy, nên rộng lớn vô biên, ung dung tự tại; mặt đất có thể chịu đựng hết thảy, nên tràn đầy sự sống, vạn vật đâm chồi! Một người sống trong thế giới này, không nên tùy tiện xem thường hành vi và lời nói của người khác. Dẫu là người thân, cũng không nên mang tâm cưỡng cầu, cần phải tùy duyên tự tại! Vĩnh viễn dùng tâm lương thiện giúp đỡ người khác, nhưng không nên cưỡng cầu điều gì.

-Nếu tâm một người có thể rộng lớn như bầu trời mà bao dung vạn vật, người đó sao có thể khổ đây?

Vị thầy khả kính nói xong những điều này, tiếp tục nhìn tôi với ánh mắt đầy nhân từ và bao dung độ lượng. Ngồi im lặng hồi lâu… xưa nay tôi vẫn cho mình là một người rất lương thiện, mãi đến lúc này, phải! chỉ đến lúc này, tôi mới biết được trong tôi còn có một con người rất xấu xa, rất độc ác! Bởi vì nội tâm của tôi chứa những điều ác, nên tôi mới cảm thấy nhiều đau khổ đến thế. Nếu nội tâm của tôi không ác, sao tôi có thể khổ chứ ?

-Xin cảm tạ thầy, nếu không được người khai thị dạy bảo, con vĩnh viễn sẽ không biết có một người xấu xa như vậy đang tồn tại trong con!” (Theo VNE)

Suy cho cùng, thì cuộc đời người cũng có lắm chuyện khiến người đời cần suy nghĩ cho chín trước khi có quyết-định làm điều gì gây ảnh hưởng cho toàn-bộ cuộc sống của mình.

Nói khác đi, đời người bao giờ cũng có triết-lý của nó. Tin hay không tin. Chấp-nhận triết lý ấy hay không, vẫn là việc của mỗi người, từng giai-đoạn. Cũng có thể hôm nay, bạn và tôi không thấy có gì cần suy nghĩ hoặc đổi thay đời mình chú gì hết. Thế nhưng, triết-lý cuộc cuộc đời vẫn có đó, như một số vị từng nhận-định như sau:

Có những khoảnh-khắc cuộc đời khiến bạn nhớ người ta thật nhiều, đến nỗi bạn chỉ muốn chạy đến và ôm họ thật chặt. Hãy cho người đó biết bạn đã có suy nghĩ như thế!

Trao cho ai đó cả con tim mình không bao giờ là một sự đảm bảo rằng họ cũng yêu bạn, đừng chờ đợi điều ngược lại. Hãy để tình yêu lớn dần trong tim họ, nhưng nếu điều đó không xảy ra thì hãy hài lòng vì ít ra nó cũng đã lớn lên trong bạn.

Tương lai tươi sáng thường dựa trên quá khứ đã quên lãng, bạn không thể sống thanh thản nếu bạn không vứt bỏ mọi nỗi buồn đã qua.

Một điều đáng buồn trong cuộc sống là khi bạn gặp một người có nghĩa đối với bạn,để rồi cuối cùng nhận ra rằng họ sinh ra không phải để cho bạn và chỉ có thể để họ đi ….

Nhưng khi một cánh cửa đóng lại, một cánh cửa khác lại mở ra. Ðiều bạn cần làm là thôi không chờ đợi nơi cánh cửa đã đóng, hãy tìm một cánh cửa khác đang mở ra cho mình.

Đừng quên hy vọng, sự hy vọng cho bạn sức mạnh để tồn tại ngay khi bạn đang bị bỏ rơi.

Đừng để những khó khăn đánh gục bạn, hãy kiên nhẫn rồi bạn sẽ vượt qua.

Đừng chờ đợi những gì bạn muốn mà hãy đi tìm kiếm chúng.

Hãy mỉm cười trong cuộc sống. Nụ cười của bạn mang lại hạnh phúc cho người xung quanh và do đó cũng mang lại hạnh phúc cho chính bạn.

Đừng bao giờ nói không còn yêu nữa nếu nước mắt của người kia vẫn có thể giữ chân bạn.

Ðừng khóc vì mọi việc đã qua, hãy cười vì mọi việc đang chờ phía trước.

Đừng chạy theo vẻ bề ngoài hào nhoáng, nó có thể phai nhạt theo thời gian.

Đừng chạy theo tiền bạc, một ngày kia nó cũng sẽ mất đi.

Hãy chạy theo người nào đó có thể làm bạn luôn mỉm cười bởi vì chỉ có nụ cười xua tan màn đêm u tối trong bạn.

Hãy luôn đặt mình vào vị trí người khác, nếu điều đó làm tổn thương bạn thì nó cũng sẽ tổn thương người khác.

Người hạnh phúc nhất không cần phải có mọi thứ tốt nhất, họ chỉ là người làm cho mọi việc, mọi chuyện đều diễn ra theo ý họ.

Hạnh phúc thường đánh lừa những ai khóc lóc, những ai bị tổn thương, những ai đã tìm kiếm và đã thử. Nhưng nhờ vậy, họ mới biết được giá trị của những người chung quanh họ.

Tình yêu bắt đầu bằng nụ cười, lớn lên bằng nụ hôn và thường kết thúc bằng nước mắt.

Khi sinh ra, bạn khóc còn người xung quanh lại cứ cười. Hãy sống sao để khi bạn qua đời, mọi người khóc còn bạn, bạn lại cứ cười.

Hãy giữ những vật dù nhỏ nhất của bạn thân mình; bởi, biết đâu sau này nó sẽ là kỷ-niệm của bạn mình.

Hãy nói những lời yêu thưong nhất đến người mà bạn yêu thương ….

Bạn chưa cần đến 3 giây để nói “I love you”, chưa đến 3 phút để giải thích câu nói ấy, chưa đến 3 ngày để cảm nhận được ý nghĩa của nó, nhưng để chứng minh câu nói đơn giản ấy thì cả cuộc đời vẫn là chưa đủ.

Cũng vậy: Chỉ cần thời gian một phút thì bạn đã có thể cảm thấy thích một người. Một giờ để mà thương một người. Một ngày để mà yêu một người. Nhưng mà bạn sẽ mất cả đời để quên một người.

Không ai đáng giá bằng những giọt nước mắt của bạn. Và những người đáng giá sẽ không bao giờ làm bạn khóc.

Chỉ khi bạn thật sự mong muốn ai đó được hạnh phúc, thậm chí hạnh phúc đó không phải dành cho bạn, bạn mới hiểu rằng bạn đã yêu người đó thật sự mất rồi.

Có một sự thật là bạn sẽ không biết bạn có gì cho đến khi đánh mất nó, nhưng cũng có một sự thật khác là bạn cũng sẽ không biết mình đang tìm kiếm cái gì cho đến khi có nó.

Hãy làm những gì bạn muốn làm, mơ những gì bạn muốn mơ , tới đâu bạn muốn tới, trở thành những gì bạn muốn, bởi bạn chỉ có một cuộc sống và một cơ hội để làm tất cả những gì bạn muốn.

Hãy Gạt Những Âu Lo Cuộc Sống !

Yêu là mạo hiểm vì có thể bị từ chối. Nhưng không mạo hiểm thì đã là thất bại rồi vì trong cuộc sống điều nguy hiểm nhất là không thử thách điều gì .

Tình yêu là con dao. Nó đâm nát con tim hay có khi nó khắc sâu vào tim ta những vết khắc diệu kỳ và sẽ theo ta đến cuối đời.

Người ta vá áo bằng kim, còn bạn sẽ vá con tim bằng gì?

Tình yêu là một món quà – mà chỉ có thể đâm chồi nảy lộc khi được trao tặng đi.

Thế đó, là lập-trường/quan-điểm của người đời, trong đời. Thế còn, lập-trường của đấng bậc thày dạy nơi nhà Đạo thì sao? Để trả lời, đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta đọc thêm một lần nữa, ý-kiến của bậc thày dạy bần đạo ở Úc vẫn còn dạy-dỗ những điều về tình thương yêu cứu-độ chan-chứa nơi Đức Giêsu Kitô là bậc thày tối-cao của mọi người, trong Đạo.

Và đây là đôi ba ý chính rất sâu-sắc ở bài viết hôm nào mà bần đạo được hấp-thụ trong một buổi học hỏi về thần-học cao-siêu về Tình Thương cứu-độ, rất như sau:

“Nếu có ai hỏi: “Tình thương-yêu thật ra có nghĩa gì?” “Sự Công-chính từ đâu đến?”

thì câu trả lời, hẳn sẽ bao-gồm cả tình Thương-yêu thần-thánh, tức: sự Công-chính thánh-thiêng của Thiên-Chúa. Thành thử, ta nên dừng lại một chút, trước khi đặt mình vào với dữ-kiện của Kinh Sách và Thánh-truyền, để rồi sẽ suy thêm về Chúa với câu hỏi đặt ra từ bao giờ:

“Thiên-Chúa, Ngài là Đấng nào?”

“Ngài yêu-thương ta đến mức độ nào?”

“Ngài có công-bằng chính-trực đích-thực không?”

Vấn-đề đây, lại đề ra một số phương-án để ta theo, tức: những phương-án tương-tự như ở Kinh-Thánh, tâm-lý-học và kinh-tế/tài chánh của nhiều người….

Quan-điểm mà quý vị đây đưa ra, lại mang ý-niệm về sự công-chính vốn duy-trì quan-hệ giữa Thiên-Chúa và loài người; nhưng đúng thực lại là: giữa Đức Giêsu và dân con từng phạm lỗi ở trong Đạo. Thật ra thì, đây không là sự công-minh/chính-trực theo kiểu người phàm, như ta hiểu.

Từ nơi đây, ta cần nhận-chân ra rằng: Thiên-Chúa, với tư-cách là Chúa, Ngài chẳng cần sự gì hết. Nhận-định này, đã kéo theo hệ-quả là: không gì khả dĩ thúc-ép từ bên trong hoặc đè nặng lên Chúa, để Ngài làm bất cứ điều gì đặc-biệt, hòng cứu-chuộc ta ra khỏi trạng-huống những lỗi và tội. Chúa có tự-do làm bất cứ thứ gì Ngài muốn, như tạo-dựng hoặc cứu-chuộc mọi sự. Ngài hành-xử theo cách rất “hào-phóng”. Hào-phóng đây, có nghĩa: tạo lợi-ích cho mọi người. Hào-phóng -ngay chính từ-vựng này từng diễn-tả- đã liên-kết mọi sự tốt-lành mà bên tiếng La-tinh, thiên-hạ có thói quen gọi đó là “Bonitas”, tức: Sự Tốt-lành của Chúa, ở tầm-kích rất siêu-phàm.

Bản-chất của Chúa, lại có nghĩa: Ngài rất “tốt lành và siêu-việt”, nên từ phần thâm-sâu của từ-vựng, tính “hào-phóng” của Chúa, ta không thể cắt-nghĩa bằng ngôn-từ mà người phàm thường sử-dụng được. Bởi, đó là bí-nhiệm của Chúa và về Chúa. Là, thứ gì đó mà loài người, thật ra, không thể nắm bắt được điều gì thuộc về Chúa.

Từ-vựng “hào-phóng” -dù là ngôn-từ thuần-tuý của con người- vẫn có thể nối-kết với các dự-phóng đưa về phía trước, hầu đưa ta đến được với nó. Thành ra, ta bảo là: Chúa tự đặt Ngài vào vị-thế đầy hào-phóng, tức Ngài khấng-mang điều gì đó ngay nơi bản-chất của Ngài, để Ngài hành-xử một cách hào-phóng, tốt lành. Thiên-Chúa nối-kết một cách công-minh với chính Ngài, để mọi sự được ra như thế. Điều đó, ta gọi là sự Công-chính, tức bản-chất rất công-minh của Đức Chúa. Bởi, theo nghĩa thâm-sâu nơi bản-chất Ngài, Chúa có khuynh-hướng làm thế, nên sở dĩ Ngài mang tính hào-phóng là do bởi chính sự hào-phóng của Ngài, mà ra. Ở đây, tiếng La-tinh thường diễn-tả rất rõ bằng thành-ngữ “bonum diffusivum suis”, tức: từ-vựng mang cùng một ý-niệm.” (x. Lm Kevin O’Shea CSsR, Ơn Cứ Chuộc Nơi Ngài Chan Chứa, nxb Hồng Đức 2015, chương 4 phàn 3)

Tựu- trung, câu chuyện về tình thương-yêu của Thiên-Chúa đối với con người, lại dọi về đoạn Kinh Sách qua đó bậc thánh hiền từng diễn-tả bằng nhửng lời vàng như sau:

“Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình,

thì anh em nào có công chi?

Ngay cả những người thu thuế

cũng chẳng làm như thế sao?

Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi,

thì anh em có làm gì lạ thường đâu?

Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao?

Vậy anh em hãy nên hoàn thiện,

như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.”

(Mt 5: 46-47)

Xem thế thì, mấu chốt quan-trọng tạo hạnh-phúc của cuộc đời là chính là “nên toàn-thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng toàn-thiện”. Xem thế thì, trở nên hoàn-thiện như Cha trên trời là Tình-yêu, tức bậc con cái phải có lòng yêu-thương hết mọi người. Có thế mới nên hoàn thiện như Cha mình. Xem thế thì, hẳn bạn và tôi, ta cứ hiên-ngang hát lên cả những bài tưởng-chừng-như-buồn, hoặc sầu não, vẫn không sao. Quyết thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta cất tiếng, hát rằng:

“Trong mơ ta luôn khát khao

Một thế giới yên vui đầy dẫy tình người

Với bao con tim chân thành và nhân ái

Trong mơ ta luôn khát khao

Câu nói thương yêu không một chút lọc lừa

Để ta nghe thương cuộc đời hơn nữa

Để ta nghe thương con người nhiều hơn xưa.” (Lê Hựu Hà – bđd)

Hát thế rồi, hẳn bạn và tôi, ta sẽ thấy không buồn/phiền nữa. Nhưng vẫn dũng-cảm ra đi mà phổ-biến những gì mình học được từ đấng thánh-hiền, để cuộc đời mình sẽ tươi vui, rất mãn- đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Đã quyết tâm như thế

Và sẽ quyết như thế, đến cuối đời.

Lãnh đạo CSVN không phải là người Việt

Lãnh đạo CSVN không phải là người Việt

FB Trần Trung Đạo

09-04-2015

Tháng 5 năm ngoái, khi Trung Cộng đưa giàn khoan HD-981 đến sát bờ biển Việt Nam, lãnh đạo CSVN phản đối. Không chỉ phản đối riêng tại Việt Nam mà họ còn xúi giục du học sinh VN tại các nước mang cờ CS biểu tình chống Trung Cộng.

Nhiều người nghĩ rằng CSVN phản đối vì Trung Cộng xâm phạm lãnh hải Việt Nam.

Không phải. Trung Cộng xâm phạm lãnh hải Việt Nam hàng trăm lần trước đó nhưng CSVN im lặng. CSVN phản đối chỉ vì lãnh đạo Trung Cộng đã làm nhục lãnh đạo CSVN một cách công khai, lộ liễu trước dư luận Việt Nam và quốc tế, vượt qua giới hạn của những thỏa thuận ngầm giữa hai đảng. Trung Cộng rút giàn khoan và sóng gió tạm ngưng.

Trong bài “Để thắng được Trung Cộng” viết ngày 18 tháng 5, 2014, khi sự kiện HDD-981 còn nóng bỏng, tôi có viết:

“Rồi mai đây, sau trận đánh ghen HD-981 này, lãnh đạo CSVN lại lên đường sang Bắc Kinh triều cống, lại 16 chữ vàng, lại ca ngợi tình đồng chí, nghĩa anh em thắm thiết. Cơn hờn giận giữa hai đảng CS theo thời gian có thể sẽ nguôi ngoai nhưng trên các vùng biên giới, trong lòng biển Việt Nam, máu của ngư dân Việt Nam, của người lính biển Việt Nam sẽ không ngừng chảy. Dân tộc Việt Nam lại bị đảng dắt đi vòng vòng trong ngõ cụt tối tăm như đã và đang đi suốt 39 năm qua.”

Thực tế đang diễn ra đúng như vậy. Tuần này, TBT Nguyễn Phú Trọng dẫn một phái đoàn đông đảo sang triều cống Trung Cộng và lập lại lời thề trung thành với đảng mẹ.

Nhưng không phải hôm nay thôi, mà từ 1990 (Hội nghị Thành Đô), 1958 (Công hàm Phạm Văn Đồng), 1954 (Hội nghị Geneva), 1950 (Trung Cộng là nước đầu tiên công nhận VNDCCH), 1946 (Liên Xô và Trung Cộng tổ chức huấn luyện cán bộ CSVN), và nhục nhã nhất, vào ngày 30-1-1950, Hồ Chí Minh, sau khi đi bộ 17 ngày, đến chính thức triều cống Trung Cộng và tháng Tư năm đó y cũng đã dâng cho Trung Cộng bốn yêu cầu trong đó có yêu cầu Trung Cộng gởi cố vấn quân sự sang Việt Nam.

Từ phái đoàn cố vấn chính trị đầu tiên do La Quý Ba cầm đầu cho đến 1973 có đến 320 ngàn quân Trung Cộng tham chiến tại Việt Nam dưới nhiều hình thức.

Quan hệ giữa Trung Cộng và CSVN được Chu Ân Lai ví như “cùng chung máu thịt”.

Máu thịt đây dĩ nhiên không phải là máu thịt của 74 anh hùng Hải Quân VNCH bảo vệ Hoàng Sa, không phải là máu thịt của 64 thanh niên Việt Nam bị thảm sát ở Trường Sa, không phải là máu thịt của hàng ngàn ngư dân Việt Nam đã chết dưới tay hải quân Trung Cộng suốt mấy chục năm qua, không phải là máu thịt của ba ngàn thanh niên Việt Nam bị thiêu xác ở Lão Sơn, không phải là máu thịt của nhiều chục ngàn thanh niên Việt Nam đã chết trong chiến tranh biên giới 1979, và không phải là máu thịt của một phần mười dân tộc Việt khắp ba miền đã chết vì tham vọng CS hóa Việt Nam của đảng CSVN và CS Quốc Tế.

“Cáo chết ba năm quay đầu về núi” nhưng lãnh đạo CSVN thì không. Lãnh đạo CSVN sẽ quay đầu về Trung Nam Hải, Bắc Kinh, vì chúng không phải là người Việt.

‘Không nên gọi 30/4 là ngày giải phóng’

‘Không nên gọi 30/4 là ngày giải phóng’

Nam Phong Gửi tới BBC từ Huế

  • 11 tháng 4 2015

Tôi sinh ra và lớn lên sau ngày 30/04. Trong khi phần lớn đất nước chìm trong khó khăn, hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác, trong khi phần lớn người dân thiếu ăn, thiếu mặc, đói khổ trong giai đoạn 1980-1990, thì tôi đã sống một cuộc sống đầy đủ và sung túc, vì ông bà tôi là những đảng viên cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông tôi là một người chân thành và có niềm tin sâu sắc với lý tưởng cộng sản. Ông có một người chị ở phía bên kia, và sau này di tản sang Mỹ. Ông không bao giờ liên lạc với bà, và đó là nỗi ân hận lớn nhất trong những ngày cuối đời của ông.

Là một ‘hạt giống đỏ” tôi lớn lên với niềm tin chân thành về những gì được dạy dỗ, về lý tưởng cộng sản với hình mẫu Pavel Korchagin – Hình mẫu chuẩn mực cho mọi thiếu niên lớn lên dưới mái trường XHCN khi đó.

40 năm rồi, bên chiến thắng vẫn ăn mừng, vẫn diễu binh, vẫn pháo hoa…bên kia vẫn là ngày quốc hận, ngày mất nước..vết thương dân tộc vẩn rỉ máu.

Vì vậy, sự kiện 30/04 đối với tôi và các bạn tôi khi đó là một cái gì đó rất đẹp, rất anh hùng, cũng rất vẻ vang. Với thế hệ chúng tôi, Việt Nam đã đánh bại siêu cường số 1 thế giới làm “chấn động năm châu. rung chuyển địa cầu”.

Nhưng sau sự kiện bức tường Berlin, mẹ tôi trở về Việt Nam (vì là con của cán bộ cao cấp, mẹ tôi và các bác, cậu của tôi đều lần lượt học ở Đông Đức, Liên Xô, Bungari…).

Với những gì đã được chứng kiến ở nước Đức và Đông Âu, mẹ tôi không tán đồng quan điểm với ông tôi. Mẹ tôi từng kể với tôi rằng, những người bạn Đức của bà nói rằng ”Mỹ là những người bạn tốt, cả thế giới muốn chơi với nó mà người Việt Nam mày lại đuổi nó đi.”

Bà kể cho tôi về những người Đức cộng sản và không cộng sản khi thống nhất đất nước đã ôm hôn nhau như thế nào. Bà kể về những người lính biên phòng Đông Đức đã tự sát chứ nhất định không bắn vào những người phía Đông muốn chạy sang phái Tây như thế nào.

Đó là bước ngoặt trong suy nghĩ của tôi! Mỹ mà tốt à? Tại sao người ở phía Đông lại chạy sang phía Tây chứ không phải ngược lại? Thế giới của tôi bắt đầu có nhiều màu sắc hơn, không còn chỉ có hai màu, cộng sản và phản động nữa.

Những ngày tháng cuối cùng của chiến tranh chỉ là giao tranh giữa những người Việt (Trong ảnh là lính VNCH trong trận Xuân Lộc)

Tôi bắt đầu tìm đọc những tác phẩm viết về ngày 30/04/1975. Đọc những tác phẩm bị coi là “phản động” ở Việt Nam. Các tác phẩm của Dương Thu Hương, Trần Độ, Vũ Thư Hiên, Nguyễn Gia Kiểng…

Thông tin từ những tác phẩm này đã khiến tôi mở to mắt. Ngày 30/04 làm gì còn người lĩnh Mỹ nào ở Sài Gòn. Vậy sao còn gọi là kháng chiến chống Mỹ? Sao có thể gọi là “giải phóng”?

Và tôi khóc thương cho số phận dân tộc Việt. Khóc thương cho hàng triệu người Việt ở cả hai phía đã ngã xuống trong cuộc chiến “huynh đệ tương tàn”. Khóc thương cho cả triệu người Việt vĩnh viễn nằm lại gữa biển khơi.

Một ngày nào đó, 30/04 trở thành ngày thống nhất, một ngày lễ cho cả dân tộc. Tổ quốc treo cờ rủ quốc tang cho những người đã ngã xuống ở cả hai phía.

Và tôi khóc thương cho lòng yêu nước nhiệt tình nhưng ngây thơ của người Việt đã bị các cường quốc lợi dụng. Đất nước trở thành bãi chiến trường. Người Việt trở thành sỹ tốt xung phong. Việt Nam thành bàn cờ, nhưng người chơi là người Nga, người Trung Quốc và người Mỹ không phải là người Việt. Một bên chiến đấu để “giải phóng” và “nhuộm đỏ thế giới”. Một bên chiến đấu để bảo vệ “thế giới tự do”.

“Đại thắng mùa xuân” và “giải phóng miền Nam”. Đât nước thành một đống đổ nát, hoang tàn. Trường Sơn thành một nghĩa trang khổng lồ.

Những người mẹ mất con. Khăn trắng trên đầu trẻ thơ. Và một hết thương hằn sâu trong lòng dân tộc. 40 năm rồi, bên chiến thắng vẫn ăn mừng, vẫn diễu binh, vẫn pháo hoa…bên kia vẫn là ngày quốc hận, ngày mất nước… vết thương dân tộc vẩn rỉ máu.

Một ngày nào đó, 30/04 trở thành ngày thống nhất, một ngày lễ cho cả dân tộc. Tổ quốc treo cờ rủ quốc tang cho những người đã ngã xuống ở cả hai phía.

Một tượng đài nhỏ thôi, giản dị thôi nhưng tinh xảo. Và một nghĩa trang của những người lính ở cả hai phía cho thế hệ trẻ có thể tỏ lòng thành kính cho những người đã ngã xuống vì dân tộc. Hy vọng là như thế!

Còn thống nhất lãnh thổ mà không thống nhất được lòng người thì có ích gì? Nhất là khi phương Bắc, kẻ thù truyền kiếp đang trỗi dậy. Bài học mất nước của Hồ Quý Ly còn đó.

Bài viết về Y Tế Mỹ: Hành Trình Đi Về Cõi Chết

Bài viết về Y Tế Mỹ: Hành Trình Đi Về Cõi Chết

Phượng Vũ

“Ôi ! cát bụi phận này
Vết mực nào xóa bỏ không hay..”.

(TCS)

“Không ai muốn chết. Thậm chí cả những người muốn tới thiên đường cũng không muốn phải chết để lên được đó. Và cái chết là điểm đến của tất cả chúng ta, không ai có thể trốn thoát…”. Từ ý tưởng trên của Steve Jobs, tôi chợt nhớ đến lời bài thánh ca :”Khi Chúa thương gọi con về, lòng con hân hoan như trong một giấc mơ” (theo ý thánh kinh) nhưng trên thực tế, người ta đã sửa đùa lại: “Khi Chúa thương gọi con về, ngu sao về, ngu sao về?” Nó nói lên 1 thực tế đứng trước cái chết, bản năng sinh tồn trỗi dậy, con người bỗng cảm thấy “Sao mà yêu quá đời này!” nên ai tự tử nhảy xuống sông mà biết bơi, chắc chắn sẽ lo lội lên bờ liền! Ai cũng biết chết là 1 điều chắc chắn sẽ xảy đến cho mỗi người, không ai thoát được và cái chết có thể đến bất chợt, tình cờ như “vết mực nào xóa bỏ không hay”nhưng nguời ta lại cố tình “giả đò ngó lơ” coi như không quen biết nó. Ngày xưa người ta thường tránh nhắc về cái chết, và sợ nói về nó, nhưng trong xả hội văn minh hiện nay, người ta đang nhắc đến nó với luật trợ tử, an tử (như là 1 tin hot). Người ta đòi hỏi phải có 1 cái chết phẩm chất (quality of death). Tin tức phổ biến mới đây cho thấy ở Đức, người ta vừa thông qua luật An Tử để BS có thể giúp nguời bệnh (nhất là những bệnh nhân ung thư hoặc mắc bệnh nan y bất trị gây đau đớn nhiều) có thể chết từ từ và nhẹ nhàng bằng cách cho tiêm thuốc giảm đau tăng liều dần dần để người bệnh bớt đau, bình an rồi từ từ đưa đến cái chết êm đềm. Riêng ở CA đã có 3 dân biểu đệ trình dự luật An Tử. Trước những sự kiện nóng hổi của thời đại hôm nay, chúng ta nghĩ gì về cái chết? và đã chuẩn bị cho mình một cái chết như thế nào chưa? Xin mời các bạn cùng tham dự buổi nói chuyện về “Hành trình cuối đời” của linh mục Nguyễn Thanh Sơn

Tình trạng y tế :

Tinh trạng y tế của Mỹ nói riêng và của thế giới nói chung mỗi ngày một tiến bộ vượt bực . Những phương pháp chẩn bệnh và dự đoán bệnh càng ngày càng tiến triển nhiều như máy MRI ( giá cả vài triệu đô), nhưng bịnh viện nào cũng có thậm chí có BV còn có vài cái, nên chi phí y tế cũng tăng rất cao. Bây giờ bịnh nhân đến phòng mạch BS khám bệnh sẽ được gửi đi lấy test để hổ trợ BS trong việc chẩn đóan bịnh chính xác hơn. Hiện nay người ta có nhiều phương pháp khác nhau để hổ trợ sức khỏe cho con nguời: Trị bệnh, nén bệnh, ngừa bệnh, giữ sức khỏe, dưỡng sinh nhân tạo…diệt bệnh.

Trong thời đại này, đặc biệt tại Hoa Kỳ, số người được sống và chết tự nhiên trong hoàn cảnh an bình ngày càng hiếm. Phần lớn người ta ra đi dần mòn lỡ loét ở viện dưỡng lảo với các thứ bệnh mãn tính hay trong khu đặc biệt ICU (Intensive Care Unit) của bịnh viện, đang khi hồi sinh nhân tạo, hay trên bàn mổ v. v… Riêng ở Mỹ 10% tổng sản lượng quốc gia đổ vào y tế, nhưng phần lớn chi phí khổng lồ này lại dồn về 30 ngày cuối đời ( nó chiếm 90 % tổng số chi y tế).Điều này cho thấy những ngày cuối đời rất quan trọng và nền y tế càng văn minh, người ta càng chú trọng đến giai đoạn này để chuẩn bị cho người bệnh được phục vụ cao nhất , được có thời gian “êm đềm” nhất, trước khi “chia tay cùng đời sống này”! Nó mang 1 ý nghĩa nhân bản sâu sắc kiểu V.N. thường nói “nghĩa tử là nghĩa tận” Nhưng chênh lệch đáng nói là chỉ có 10 % dân số được hưởng sự phục vụ này.

Tư tưởng sai lầm:

– Nhiều người hiểu lầm phúc âm sự sống nghĩa là làm hết sức mình để kéo dài cuộc sống. Chống lại sự chết bằng bất cứ giá nào, dù là chỉ để nằm trên giường thoi thóp. Kiểu Việt Nam mình thường nói “Còn nước, còn tát”, nhưng tát được cái gì? và mục đích tát để làm gì? Cái chết có lẽ là phát minh tốt nhất của sự Sống. Nó là tác nhân thay đổi của cuộc sống. Nó xóa cái cũ để mở đường cho cái mới. Người sống được hết mình luôn sẵn sàng chết bất cứ lúc nào. ( Mark Twain). Quả vậy, tôi biết có những bịnh nhân ung thư can đảm đối diện với cái chết, chờ đợi nó mà không hề sợ hãi hoăc âm thầm tự đi tìm nó (Ca sĩ Q.D)
–– Khi trong nhà có người bệnh, người ta đi cầu khấn đủ nơi, đủ chổ để xin phép lạ chữa lành để tin rằng mình thánh thiện. Thực ra người đạo đức tốt lành không sợ chết. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II đã kêu gọi mọi người chấp nhận sự chết như là một quy trình tự nhiên “Có sinh có diệt”. Ngài cũng đã từ chối những phương pháp hô hấp và trợ sinh và Ngài đã qua đời an bình tại nhà, không gắn bất cứ ống khí quản hay mổ dưỡng sinh nhân tạo nào. Alfred Adler cũng đã nói: “Cái chết thực sự là lời chúc phúc lớn lao dành cho nhân loại, không có nó không thể có sự tiến bộ. Những người bất tử sẽ không chỉ ngăn trở và làm thối chí người trẻ tuổi, họ còn thiếu đi sự kích thích cần thiết để sáng tạo.” .

Cách nhìn về đau khổ:

– Sống theo nhân phẩm, dùng những ngày cuối đời sống trong an bình, được gặp những người thân yêu. Tâm tình cho hết những điều “không nói được”, những điều làm lòng ta đau đớn, kẻo muộn rồi :

“Có những niềm riêng một đời câm nín
Nên khi xuôi tay còn chút ngậm ngùi.” (LTH)

Bây giờ là lúc tâm tình cho hết để lòng khỏi “ngậm ngùi”, rồi nhẹ nhàng ra đi bình an.

– Có một số người theo Công Giáo cho rằng chấp nhận đau khổ để “vác thánh giá theo chân Chúa” (ví dụ phải chịu đựng vợ/chồng, con cái. phải chịu đựng ốm đau bệnh tật dày vò…). Không ! điều này không đúng. Ta cần phải tìm cách vượt qua đau khổ, không ai muốn “ôm” thánh giá, “ôm” đau khổ hay đau đớn hết! kể cả Chúa (Ngày xưa ở vườn cây dầu, Chúa cũng đã từng xin Chúa Cha “cho con khỏi uống chén đắng này”).   Tôi hoàn toàn tán đồng quan điểm này: Chúa yêu ta nên mới dựng nên ta, do đó Chúa dựng nên con người để cho con người được sống hạnh phúc chứ đâu phải để chịu đựng khổ đau. Chúng ta đứng ngoài nổi đau đớn nên ta khuyên nhủ dễ dàng vì chúng ta chưa trãi qua những cơn đau đớn, chúng ta chưa “nếm” nó, chưa có kinh nghiệm gì về nó.Nhà thơ N.Du đã từng nói 1 câu vô cùng thấm thía: “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”

Đ.G.H Francis mới đây trong cuộc trả lời phỏng vấn về việc ngài có thể bị ám sát, ngài đã trả lời thành thật:

“Chúa là Đấng coi sóc con. Tuy nhiên, nếu ý Chúa muốn con phải chết và họ gây ra cho con một cái gì đó thì con xin Chúa một hồng ân đó là đừng làm cho con bị đau đớn. Vì con là một con người rất nhát sợ khi bị đớn đau về thể lý”.

– Sự chết chính là đau khổ tột đỉnh, cho nên chịu vác thánh giá là chấp nhận sự chết. Chúa Jesus nói “Chịu vác thánh giá là chết với ta” (Tín lý thần học). Cuộc sống là bí ẩn, sự chết là chắc chắn.”Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ cùng sống với Ngài”. Trong bản tuyên ngôn về “tự kết”, Bộ Giáo Lý Đức Tin không những coi việc khước từ những phương pháp kéo dài sự sống vất vưỡng là đúng lương tâm mà còn khuyến cáo là việc lệ thuộc một số phương pháp chữa trị theo khoa học cũng là vô luân.

Những thắc mắc liên quan đến “Hành trình về cõi chết”:

Khi tim bị ngưng đập, con người lập tức đối diện với cái chết, có 3 cách :

– Đi tự nhiên (AND) và Lệnh không hô hấp (DNR) ( 2 cách này tương tự nhau)

– Lệnh hô hấp (CPR)

+ Khi nào cần hô hấp nhân tạo (CPR) máy trợ thở hay mở đường khí quản ?:

– để cho các phương pháp chửa trị có cơ hội giúp bịnh nhân hồi phục

– để có thời giờ chửa bịnh và dự lượng

– để điều quản người hiến cơ phận ( Organ donors)

– để cho gia đình có thời giờ chuẩn bị hay chờ đợi găp người thân ( mua thời gian)

Ngoài ra không phải bất cứ trường hợp nào tim ngưng đập đều cần CPR, với kinh nghiệm tuyên úy trong bịnh viện, cha cho biết CPR không phải nhẹ nhàng giống như trên tivi biểu diễn. Đôi khi rất đau lòng khi nhìn một ông Mỹ to nặng 200 lbs dẫm đạp lên 1 bà cụ VN gấy yếu nhỏ xíu, vì người ta cần phải dùng tới sức mạnh, có khi cần tới cả điện giật để làm cho trái tim như quả bóng xì hơi phải bật lên để đập lại. Có thể cứu được lúc đó, nhưng sẽ chết vài ngày sau, nhất là đối với các cụ già yếu. Có nên phải trả giá sống thêm vài ngày trong hôn mê hay thoi thóp mà thân thể bầm dập, có khi vỡ hết cả lồng ngực, phổi, da bị tím bầm khắp nơi do vỡ mạch máu ?

Nói tới đây tôi chợt nhớ khi làm volunteer cho TT St Alsem, một buổi sáng mọi người trong phòng đang tập thể dục, bỗng nghe 1 tiếng “rầm” ngoài hành lang, 1 ông cụ 80 tuổi đang đi bỗng nhiên bị té và bất tỉnh (ông cụ là thân sinh của ca sĩ Don Hồ). Lập tức 911 được gọi tới, họ làm CPR rồi đưa ông cụ vào nhà thương. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao những nhân viên đi theo xe cứu thương (để làm CPR) luôn là những người trẻ, khỏe mạnh. Tuần sau tôi đại diện TT đến nhà quàn gửi vòng hoa và chia buồn với gia đình. Khi gặp Don Hồ, tôi hỏi thăm về diễn tiến bệnh tình của ông cụ. Don Hồ cho biết:

– Ba em có tỉnh lại nhưng rất yếu, rồi sau đó lại tiếp tục làm CPR thêm mấy lần nữa. Em rất dau lòng khi nhìn cảnh họ làm CPR cho ba, cuối cùng ba em vẫn đi. Nếu em biết như vậy em đã không để ba phải làm CPR để ba đi nhẹ nhàng và bình an thì tốt hơn

Ngay cả việc dùng máy trợ thở hay mở đường khí quản cũng vẫn có những mặt không tốt của nó, nhất là việc bị nhiễm trùng và những phương pháp này thường gây tốn kém rất lón! ( Đó là điều lý giải tại sao 90% ngân sách y tế khổng lồ lại chui vào đây). Có 1 bà cụ khoe với cha tuyên úy là các con bà đã cho áp dụng đủ mọi cách để cứu bà sống lại (bill gửi về giá cả triệu đô). Bà cụ tự hào mạng sống của mình giá cả triêu đô, để bà cụ sống thêm 5,6 tháng nữa. Đó có phải là cái giá đáng phải trả không? chưa kể là tiền chi phí này có thực do các con cụ trả không ? hay phần chắc là do quỹ Medi- Medi trả. Gây hao tốn quá lớn cho ngân sách y tế quốc gia có phải là điều nên làm, nếu thực sự biết nghĩ tới những thành phần khác trong xả hội cũng đang có nhu cầu về y tế. Có nhiều người xài tiền theo kiểu “Của người Bồ tát, của mình lạt buộc”, nghĩa là xài tiền túi của mình thì cân nhắc tiết kiệm tối đa, còn xài tiền của người khác, của công quỹ thì rộng rãi, từ bi như “bồ tát”, nghĩa là xài thoải mái, vô tội vạ vì mình có bỏ ra đồng xu nào đâu!. Tôi nghĩ đây cũng là 1 việc ‘lỗi đức công bằng” nhất là phải tự hỏi mình đã đóng góp bao nhiêu cho đất nước này mà lại muốn nhận quá nhiều như vậy?

+ Khi nào cần đặt ống dinh dưỡng ở mũi hay ở bụng?

– Không có bệnh nặng bất trị

– Có khả năng tiêu dùng dinh dưỡng ( able to process nutrition), nếu thận không có khả năng lọc, người sẽ bị phù to lên

– Không phải ở thời gian cuối đời

Các cụ già hay bị lộn giữa thở và nuốt, đôi khi bị sặc cũng gây chết người. Ngoài ra đặt đường ống qua mũi cũng dễ gây nhiễm trùng khí quản, thường chỉ 2 tuần, đó là chưa kể việc gây khó chịu, vướng víu cho các cụ.

Còn mổ đặt ở bụng thì các cụ già rồi, cái “mớ bòng bong” trong bụng nhiều khi cũng rối tinh. BS mổ xong không biết tìm chỗ nào cho đúng để bỏ ống dinh dưỡng đúng chổ, có khi vì vậy mà lại sinh ra “tai nạn” chết người. Thống kê (2009 – 2010) cho thấy tỷ lệ người sống lâu trong những ngày cuối đời cao hơn, nếu được để yên.

Nhắc tới vụ đặt ống trợ thở và ống dinh dưỡng, tôi lại nhớ đến trường hợp của má tôi. Má tôi bị bệnh đau ở 2 bàn chân, nó gây cho bà khó chịu và đau đớn rất nhiều. Uống thuốc hoài không hết, BS cho biết chỉ còn cách mổ thôi, nhưng bà bị bệnh tiểu đường nên BS cảnh giác là sau khi mổ, tiểu đường có thể gây biến chứng nguy hiểm đến tánh mạng. Các con cố gắng cản ngăn không cho bà mổ, nhưng bà cứ nằng nặc đòi tôi phải gửi tiền về để bà đi mổ. Tôi phải ĐT về nói chuyện với má :

– Con không tiếc tiền gửi về cho má đi mổ, nhưng BS đã cảnh giác má mổ có thể khỏi, nhưng có thể má sẽ đi luôn, má đã suy nghĩ kỹ chuyện này chưa?

– Con ơi! má suy nghĩ kỷ lắm, má già rồi. Nếu Chúa cho sống thì sống mạnh khỏe, còn sống mà đau đớn như vầy má cũng không ham. Con cứ gửi tiền về cho má đi mổ, nếu Chúa thương cho má bình phục thì tốt. Còn không, nếu có chết má cũng chấp nhận, và không tiếc nuối gì nữa.

Trước đó mấy tháng tôi đã mua vé máy bay để mấy mẹ con về VN thăm ngoại vào dịp hè. Tôi muốn các con tôi gắn bó với quê hương, với nguồn cội bằng thực tế và tiếp xúc chứ không bằng hình ảnh hay nghe nói. Thời đó email chưa phổ biến, ĐT vừa đắt vừa khó khăn. Sau khi má mổ tôi gọi ĐT về theo dõi, hỏi thăm từng ngày, thấy tình hình diễn tiến khả quan tốt đẹp tôi cũng mừng. Nghe chị tôi kể lại, má tôi thấy khỏe còn vui vẻ lên kế hoạch khi nào mấy mẹ con tôi về sẽ làm tiệc lớn ăn mừng má mổ thành công. Nghe vậy tôi yên tâm lo chuẩn bị mua sắm hành trang cho mấy mẹ con về VN. Một buổi chiều tôi từ trường về nhận được tờ điện tín với những ký hiệu không thể đọc được, tôi hốt hoảng chạy ra bưu điện : “Má bị hôn mê, sắp chết”. Tôi bàng hoàng, dù đã biết cảnh giác của BS từ trước, tôi quay quắt không biết có nên tự trách mình đã đồng ý cho má đi mổ không?. Tôi gọi ĐT về nhà và được biết chỉ còn 1 hôm nữa là má xuất viện, bỗng dưng tiểu đường gây biến chứng rồi tình hình xấu đi rất nhanh và má rơi vào hôn mê. BS điều trị bó tay và cho chuyển qua BV khác để có phòng săn sóc đặc biệt: tiếp ống dưỡng khí và ống dinh dưỡng. Nhà cần tiền gấp để lo chi phí ở BV mới, tôi phải vội chạy ra nhà băng rút tiền để gửi về nhà. Cả đêm hôm đó tôi gối đầu trên nước mắt trăn trở không biết tôi đã làm đúng hay sai khi chìu theo ý má để má đi mổ? Tôi đã cẩn thận ĐT nói chuyện trực tiếp với má, nghe má trả lời phân tích có lý có tình nên tôi mới chìu theo ý má để má vui. Tôi quan niệm khi ba má ở tuổi già, còn có thể làm được gì cho ông bà vui lòng, tôi luôn làm tối đa, để sau này khỏi ân hận. Tôi biết người già nhu cầu vật chất không cao, ăn uống cũng chẳng được bao nhiêu, nên nhu cầu niềm vui tinh thần là quan trọng nhất nên tôi luôn cố gắng dành thời gian cho ba má. Tôi về VN làm sinh nhật, làm lễ thượng thọ cho ba má, dẫn ba má đi chơi những nơi ba má thích, sau này thì chỉ còn ngồi ăn cơm chung với ba má,lắng nghe ba má tâm tình kể chuyện buồn vui…Tôi làm những chuyện này thấy ba má vui nên lòng cũng vui , vì biết đó là” niềm vui của tuổi già” chứ không phải như có nguời nói “để sau này con cái bắt chước trả hiếu lại như vậy”. Tôi không kỳ vọng để khỏi bị thất vọng về con cái ở xứ Mỹ ( Don’t expect too much from people, the less you expect, the less disappointed you will be ). Sau này tôi nhớ đã đọc được trên Net câu nói nghe đau lòng nhưng thực tế: “Các bằng hữu ơi, cần phải ghi nhớ là chúng ta đều là những con người của cái thế hệ cuối cùng hiếu thuận với cha mẹ, lại cũng là những con người của cái thế hệ thứ nhất bị con cái bỏ rơi”

Với ý muốn đem niềm vui và dành thời gian nhiều cho ba má ở tuổi già, nên thời đó tôi về VN “như đi chợ” (có lẽ tôi bị nghèo vì khoản này), nhất là những lúc ba má ốm đau. Bây giờ phải chi má còn tỉnh, tôi sẽ rán bay về! Tôi không thể xin phép nghỉ đi VN bây giờ rồi tháng tới lại đi với các con . Nếu tôi không đi, chúng sẽ bỏ vé máy bay không đi luôn. Tôi ứa nước mắt nhủ thầm : ‘Má ơi, con sắp đem mấy đứa cháu ngoại về thăm má, sao má không chịu đợi tụi con hả má?” nhưng rồi nghĩ lại tôi cũng thấy lòng được an ủi khi nhớ lại lời ba má thường nói với tôi :”Ba má cám ơn con gái đã quan tâm và làm cho ba má vui thỏa hết các nguyện vọng của tuổi già. Bây giờ ba má có chết cũng vui lòng không có gì luyến tiếc. Nếu sau này vì ở xa mà không gặp ba má lúc ra đi thì con cũng không nên áy náy làm gì, ba má hiểu lòng con”. Tối nào tôi cũng ôm ĐT goi về VN nói chuyện với ba, tôi thương ba quá, vì sau khi má đi rồi ba sẽ cô đơn nhiều hơn trong lúc tuổi già xế bóng. Sau hơn 1 tuần tiếp dưỡng khí và dinh dưỡng tình hình má mỗi lúc một tệ hơn, ba tôi kể:

-Tội ngiệp má lắm con ơi! nguời chằng chịt những dây nhợ kim chích khắp nơi, bây giờ lại còn bị phù to lên nữa. Ba còn xót ruột vì mỗi ngày phải tiêu tốn biết là bao nhiêu tiền của con vô trong vụ này

– Ba đừng xót ruột vì tiền, nếu cứu được má con rất sẳn lòng dù có phải đi vay nợ. Ba nhắc chị X hỏi BS kỹ lại xem těnh trạng của má có cňn chút hy vọng gě không?

Hôm sau chị tôi cho biết tình trạng bệnh má, BS chịu thua rồi, rút ống ra thì vài tiếng sau bà sẽ đi. Còn để ống thì không biết đến bao giờ? Có thể bà sẽ ra đi bất chợt lúc nào không biết.

Tôi đau lòng trước tình trạng hiện nay của má, tôi nhớ má đã nói với tôi :”Má chấp nhận chết, không tiếc nuối gì cả”, chắc má không muốn nằm chờ chết dai dẵng khổ sở kiểu này. Đôi khi cần phải tỉnh táo để quyết định, tôi cầu nguyện, suy nghĩ và hôm sau gọi ĐT nói chuyện với ba:

-Ba ơi, tình trạng của má không còn hy vọng gì nữa. Con đề nghị rút ống ra, đem má về nhà, con cháu tụ họp tâm tình nói chuyện với má, đọc kinh cầu nguyện cho má để má ra đi bình an ở nhà, ba thấy sao?

– Ừ ba thấy con nói hợp lý, chứ để má như vầy hoài ba thấy tội quá! bây giờ tay chân má có vài chỗ bị phù, nứt rướm máu.

Nhưng không ngờ đề nghị “rút ống” của tôi bị cô em phản đối quyết liệt : “Như vậy là chị ấy muốn giết má. Chị ấy tiếc tiền nên muốn giết má cho sớm. Giết người là lỗi luật Chúa, là phạm tội…người ta nói “còn nước, còn tát”…” Trời ơi ! tôi nghe kể lại mà tim nhói đau như có ai bóp nghẹt, khi bị gán cho cái tội “muốn giết má” Chúa ơi, nghe sao mà “lòng đau, rạn vỡ”! Ba tôi và chị tôi nghe phạm tội “giết người” thì sợ quá, không dám có ý kiến. Tôi không hề sợ phạm tội giết người, tôi tin Chúa nhân từ thấu hiểu lòng tôi : Tôi không muốn má ra đi bất chợt trong phòng bịnh viện cô đơn lạnh lẽo,với đủ thứ giây nhợ, kim chích chằng chịch, máy móc chung quanh. Ai cũng sợ cái chết, nhưng chết trong khi thân xác mình bị hành hạ và tâm hồn không được bình an thì lại càng đáng sợ hơn. Tôi muốn má được về ngôi nhà thân yêu của mình, nằm nhẹ nhàng bình yên đó nghe con cháu vây quanh nói lời từ biệt, tôi sẽ gọi ĐT về nói chuyện với má, tôi tin má sẽ nghe được lời tôi nói ( có 1 mối giây linh thiêng để người dù hôn mê vẫn nghe được người thân yêu nói với mình, tôi đã có kinh nghiệm này), rồi mọi người cầu nguyện cho má để má ra đi nhẹ nhàng bình an. Nhưng bây giờ tôi không được quyền có ý kiến, tôi chỉ biết im lặng nhẫn nhịn và cầu nguyện.

Vài hôm sau có một Soeur, bạn của cô em đến thăm, nhìn thấy tình trạng của má tôi, bèn nói với cô em: “Sao Chúa đã muốn gọi bà về, không để cho bà ra đi nhẹ nhàng mà còn rán “níu kéo” chi để bà phải chịu đựng khổ sở như vầy! Tội cho bà quá!”. Lúc đó cô em tôi mới ngộ ra và chịu cho rút ống.

Tôi kể lại chuyện này vì có nhiều người đức tin chưa trưởng thành hiếu sai lệch, cứ tưởng là sự sống Chúa ban càng kéo dài càng tốt và chống lại cái chết cho tới cùng. Cha giảng thuyết đã nhấn mạnh : “Tất cả những gì trái với tự nhiên để cắt ngắn sự sống hay để kéo dài sự sống đều là trái với tín lý giáo hội” Bạn thân tôi theo đạo Phật cho rằng nếu đã tới giờ ra đi, mà không đi được thì linh hồn sẽ rất đau khổ, như bị “đọa”, tôi chỉ nhìn thân xác với đủ loại kim, ống, dây nhợ, rồi lỡ loét cũng đủ thấy quá khổ đau rồi.Ngày nay vì lý do nhân đạo và luân lý người ta khuyên không nên kéo dài sự sống, hãy để người bệnh ra đi thuận theo tự nhiên là tốt nhất

Khi nào từ chối những phương pháp trị liệu?

– Khi quá nặng nề, người bệnh bị công kích nhiều, hay bất cân xứng ( tốn quá nhiều tiền)

– Khi cần giảm bớt các triệu chứng đau đớn, khó chịu

– Binh viện làm gì khi sự chết gần kề? – Làm giảm đau và bớt áp lực tâm lý. Hiện nay các trường đại học y khoa ở Mỹ, các BS chuyên khoa về những ngày cuối đời được đào tạo riêng để họ rành về tâm lý, an sinh

+ Khi nào dùng chuyên khoa An Trị (when is Palliative care approriate?).

Khi không còn chữa bệnh được nữa, An Trị trở nên một tiến trình giúp bệnh nhân ra đi một cách an bình và tự nhiên, giúp xoa dịu nỗi đau của bịnh nhân. Chuyên khoa này mới có ở Mỹ khoảng 10 năm nay : Cho bịnh nhân có quyền chọn cách an trị, chọn ưu tiên cho cơ thể và tâm trí thoải mái hơn là chữa bịnh:

– Lúc đầu mới nhập viện: Chữa bịnh – An Trị ; Lúc sau thì ưu tiên đảo ngược : An trị – Chữa bịnh

– Khi sự chết gần kề An trị càng được nâng cao (kill the pain not kill the patient)

+ Khi nào cư trị? (When is hospice approriate?)

Trong vòng 6 tháng của thời kỳ cuối đời tạo một không gian êm đềm giúp bệnh nhân thoải mái tối đa, không sợ hãi, luôn trông cậy. Đây là lúc quan trọng của vai trò tôn giáo để giúp bệnh nhân yên lòng ra đi về thế giới mới. Mục vụ bịnh nhân (Pastoral Care) là “Trung tâm điểm của giáo hội Công Giáo” nhưng còn quá nhiều thiếu sót, nên cần sắp đặt lại ưu tiên cho người bệnh, kẻo đi ngược lại với truyền thống giáo hội. Ngày xưa giờ chót của Chúa, ngài cũng kêu gọi môn đệ hãy thức tỉnh với ngài, hãy ở cùng ta vì lòng ta buồn sầu đau đớn. Đây là lúc nguời bệnh cần sự ủi an và nâng đỡ tinh thần nhiều nhất về phương diện tâm linh.

Người thân có đồng hành với bệnh nhân không? Đây là giai đoạn quan trọng trong đời, người bệnh cần đến sự có mặt, cần đến tình thương của những người thân yêu ở cận kề bên để người bệnh cảm thấy ấm áp với tình thân chung quanh, chứ không phải đợi chết xong rồi lo làm ma chay đình đám, khóc lóc thương tiếc.

Bạn đã để lại “Di chúc y tế” chưa?

Theo thống kê chỉ có 5% dân Mỹ để lại “Di chúc Y Tế”, Việt Nam thì chắc còn ít hơn nữa 1%?

Ai cần để lại “Di chúc y tế?’ Thưa tất cả mọi người, vì không ai biết mình sẽ ra đi lúc nào? ngay cả người trẻ tuổi, cha cho biết hiện nay bịnh viện UCI có tới 8 unit ICU (hơn 1/3 bịnh viện) Những người vào ICU rồi, đa số đều “ra đi không trở lại” và tỷ lệ người trẻ chiếm hơn 70%, cỡ khoảng 50 tuổi là nhiều nhất. Cha cho biết dạo này người trẻ bịnh chết nhiều lắm. Vậy “Di chúc y tế” không phải chỉ cho người già mà cả người trẻ vừa và rất trẻ cũng đều cần như nhau.

Khi được đưa vào bịnh viện câu hỏi đầu tiên là bạn đã có “Di chúc sức khỏe” (Advance Health Care Directive) chưa? Nếu có rồi thì moi việc sẽ tuân theo ý kiến của bạn trong đó mà thi hành ( vì đây là luật) Ở Mỹ mọi thứ đều phải ghi xuống giấy, ký tên rõ ràng chứ không thể nói bằng miệng được. Nếu không có nó bạn sẽ gặp nhiều rắc rối mà bạn không ngờ tới: trước những quyết định quan trọng về điều trị, không biết ai là người có thẩm quyền chính, nhiều phiền phức tranh chấp có thể xảy ra. Ngoài ra bạn còn có thể bị “dụ dỗ” với những cách điều trị mà bạn không hề thich trước đó, hay có thể bạn sẽ bị “cư xử” với những điều mà bạn không hề muốn như trường hợp : con gái duy nhất của danh ca Whitney Houston mới 22 tuổi vừa nhận được gia tài của mẹ để lại khoảng vài chục triệu đô chưa được bao lâu thì cô bị stroke, hôn mê, cô không để lại di chúc y tế, nên tình trạng sức khỏe của cô không ai thay cô quyết định được hết ( kể cả thân nhân của cô ). Vậy bạn hãy khôn ngoan chuẩn bị cho mình một kế hoạch để đến một noi mà chắc chắn bạn sẽ đến và phải đến như một “hẹn hò lần cuối” không từ khước được

Bạn có thể lên http://www.agingwithdiginity.org để order “Five Wishes” (5 nguyện vọng), có bản tiếng Việt và điền vào ngay hôm nay. Năm nguyện vọng là một dụng cụ truyền thông tốt cho bạn và gia đình, bạn bè và bác sĩ để nói về mong muốn của bạn. Nó bảo vệ người thân tránh sự lựa chọn khó khăn khi không biết mong muốn của bạn. Ngoài ra bạn có thể hiến tặng bất kỳ cơ phận thân thể mình như một kỷ niệm để lại cho đời, sau khi bạn đã “chia tay với đời sống này”. Nó độc đáo ở chỗ cho phép bạn nói với những người thân yêu của bạn những điều mà bạn khó nói bằng lời, và giúp cho bạn bày tỏ ý kiến bạn muốn được ghi nhớ hay lễ tưởng niệm ra sao? bạn muốn mặc bộ áo nào ? hoặc bạn có thể nêu tên 1 bài hát, 1 bài thơ… mà bạn yêu thích đặc biệt và muốn được nghe nó trong buổi tiển đưa bạn…vì đây là buổi “hẹn hò lần cuối” của bạn với cuộc đời, hãy để nó diễn ra như ý bạn thích. Lúc này đây bạn có thể tự do bộc lộ tình yêu chất chứa trong tim bạn vì “Tình yêu là thứ duy nhất chúng ta có thể mang theo mình khi ra đi, và nó khiến kết thúc trở thành dễ dàng”

Cầu chúc bạn có một “hẹn hò lần cuối” đẹp như mơ, êm đềm, như ý và lãng mạn :

“Xin vĩnh biệt mọi người.
Tôi ra đi lần cuối không bao giờ trở lại.

Tôi đã choàng vào vòng hoa tươi.
Đã khoác vào chiếc áo tân hôn.
Đây là giờ tôi đến với Người.
Mang theo chỉ có mỗi con tim.”

(T.C. phỏng theo thơ Tagore)

Phượng Vũ

( Buổi nói chuyện của L.M. Nguyễn Thanh Sơn)

Giảng sư trường Y khoa Đại Học UCI, Tiến sĩ Thần Học Luân Lý

Linh mục Trưởng Phòng Tuyên Úy Bịnh viện UCI

GẶP GỠ ĐỨC KITÔ PHỤC SINH

GẶP GỠ ĐỨC KITÔ PHC SINH

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Trong suốt tuần Bát Nhật, từ đêm vọng Phục sinh tới hôm nay, Chúa nhật II Phục sinh, các bài đọc đã trình bày cho ta nhiều lần Đức Kitô phục sinh hiện ra.  Từ những lần thấy Đức Kitô phục sinh hiện ra ấy, các môn đệ đã có những cảm nghiệm sau đây:

1. Cảm nghiệm đầu tiên là, Đức Kitô đồng hành với họ trên mọi nẻo đường.

Đức Kitô phục sinh không còn bị giới hạn trong không gian.  Người có thể cùng lúc xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau.  Người xuất hiện trong vườn, gần mồ chôn Người.  Người xuất hiện bên bờ hồ, nơi các môn đệ đang chài lưới.  Người xuất hiện ở làng Emmau, cách Giêrusalem một quãng đường dài.  Người xuất hiện trong phòng đóng kín cửa, nơi các môn đệ tụ họp.  Sau này, Người còn xuất hiện ở mãi tận Damas, bên nước Syrira, nơi Phaolô lùng bắt người theo đạo.  Không gian xa xôi không làm chậm bước Ngài.  Không gian khép kín không ngăn được bước Ngài.  Đức Kitô phục sinh ra khỏi mồ có mặt trên mọi nẻo đường của cuộc sống.

Đức Kitô phục sinh cũng không bị giới hạn trong thời gian.  Người xuất hiện với Maria khi trời còn đẫm sương khuya.  Người xuất hiện bên bờ hồ với các môn đệ khi bình minh vừa ló rạng.  Người xuất hiện trong phòng tiệc ly ngay giữa ban ngày.  Người xuất hiện ở Emmau khi trời sụp tối.  Trong mọi lúc của cuộc đời, Đức Kitô luôn có mặt.  Không có thời gian nào Người không ở bên ta.

Đức Kitô phục sinh không còn bị giới hạn, trong một cảnh ngộ cuộc sống nhất định.  Trong vườn, Người xuất hiện như người làm vườn.  Bên những người chài lưới, Người xuất hiện như một bạn chài chuyên nghiệp, rành rẽ đường đi của đàn cá.  Trên đường Emmau, Người xuất hiện như một khách hành hương, đồng hành với hai linh hồn buồn bã, e ngại đường xa.  Người xuất hiện để khích lệ các môn đệ đang lo buồn sợ hãi.  Người xuất hiện để soi chiếu niềm nghi ngờ tăm tối của Tôma.

2. Cảm nghiệm thứ hai là, Đức Kitô phục sinh khơi dậy niềm bình an, tin tưởng.

Biết các môn đệ đang buồn sầu, bối rối, bấn loạn sau cái chết của Thầy, Đức Kitô phục sinh mỗi lần hiện ra, đều chúc các ông: “Bình an cho các con.”  Người còn thổi hơi vào các ông và nói: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần.”

Cử chỉ thổi hơi nhắc cho ta nhớ lại việc sáng tạo.  Khi ấy vũ trụ còn là một khối hỗn mang, vô định hình.  Rồi Thần Linh Chúa bay là là trên mặt nước.  Nhờ đó mọi vật dần dần có hình hài vóc dáng, đi vào trật tự, ổn định.

Sau cuộc khổ nạn của Đức Kitô, tâm hồn các môn đệ cũng tan nát như một khối hỗn mang, vô định hình.  Đức Kitô thổi hơi ban Thánh Thần trong một tạo dựng mới, đem lại trật tự ổn định, uốn nắn các môn đệ thành những con người mới, tràn đầy bình an của Chúa Thánh Thần.  Sau khi gặp Đức Kitô phục sinh, Maria buồn bã trở nên vui tươi, hai môn đệ Emmau u sầu tuyệt vọng trở nên phấn khởi, các môn đệ chài lưới mệt mỏi rã rời được hồi phục sức lực, các môn đệ sợ sệt bối rối ẩn núp trong phòng được bình an, Tôma nghi nan bối rối được vững niềm tin mến.  Đức Kitô phục sinh chính là niềm bình an cho các ông.

3. Cảm nghiệm thứ ba, cũng là cảm nghiệm quan trọng nhất, Đức Giêsu phục sinh làm cho cuộc đời có ý nghĩa.

Sau khi Đức Kitô bị hành hình, cả một bầu trời sụp đổ.  Các môn đệ tuyệt vọng.  Họ sống trong lo sợ, buồn bã, chán chường.  Không, họ không còn sống nữa vì cuộc đời đối với họ chẳng còn ý nghĩa gì. Họ như đã chết với Thầy.  Chỉ còn nỗi lo sợ, nỗi buồn, niềm tuyệt vọng sống trong họ thôi.  Đức Kitô là linh hồn của họ.  Linh hồn đã ra đi.  Xác sống sao được.

Khi Đức Kitô phục sinh trở lại, những xác chết bỗng hồi sinh, những bộ xương khô bỗng chỗi dậy, mặc lấy da thịt, trở lại kiếp người, những trái tim nguội lạnh trở lại nhịp đập, ánh mắt nụ cười lại rạng rỡ tươi vui, vì cuộc sống từ nay có một linh hồn, cuộc sống từ nay có một ý nghĩa.

4. Cảm nghiệm cuối cùng là Đức Kitô phục sinh sai họ đi loan báo Tin Mừng Phục sinh.

Đức Giêsu Phục sinh đã biến đổi toàn bộ cuộc đời các môn đệ.  Đức Kitô phục sinh là Tin Mừng lớn lao trọng đại đem lại ý nghĩa cho cuộc đời.  Nên các môn đệ không thể không loan báo Tin Mừng lớn lao đó.  Maria lập tức chạy về loan tin cho các môn đệ, mời Phêrô và Gioan đến xem ngôi mộ trống.  Hai môn đệ Emmau lập tức trở về Giêrusalem bất chấp trời đã tối đen.  Phêrô chạy bay ra mồ dù còn sáng sớm và còn bị nỗi sợ người Do Thái ám ảnh.  Và sau này, Phaolô, sau khi ngã ngựa, đã trở thành một người loan báo Tin Mừng không biết mệt mỏi.

Hôm nay chính Đức Kitô Phục Sinh nói với các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con.”

Tất cả những người đã thấy Đức Giêsu Phục Sinh đều trở thành những sứ giả loan báo Tin Mừng Phục Sinh.  Tất cả các môn đệ đều đã lấy máu mình mà làm chứng cho lời rao giảng.  Vì Đức Kitô phục sinh là một Tin Mừng không thể không chia sẻ.  Vì lệnh sai đi của Đức Kitô là một lệnh truyền không thể chống cưỡng.  Như Thánh Phaolô sau này đã nói: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng.”

Hôm nay Đức Giêsu Phục Sinh cũng đang hiện diện bên ta.  Người luôn ở bên ta trong mọi thời gian. Từ buổi bình minh khi ta mới chào đời cho đến lúc mặt trời chói lọi của tuổi thanh niên.  Từ lúc xế chiều của đời xế bóng cho đến lúc bóng đêm tuổi già phủ xuống đời ta.

Người vẫn ở bên ta trong mọi không gian: trong nhà thờ, nơi trường học, ở sở làm, nơi giải trí, trong gia đình, trong chòm xóm.

Người vẫn ở bên ta trong mọi cảnh ngộ vui buồn của cuộc đời.  Người ở bên em bé mồ côi đang khóc đòi vú mẹ.  Người ở bên em học sinh đang miệt mài đèn sách.  Người ở bên cô thiếu nữ đau buồn vì bị tình phụ.  Người ở bên chàng thanh niên lạc hướng giữa ngã ba đường.  Người ở bên những cuộc đời bế tắc không lối thoát.

Chỉ cần quay đầu, dừng bước là gặp được Người.  Hãy khao khát đón chờ Người.  Hãy tỉnh thức lắng nghe tiếng bước chân Người.  Bước chân Người rất nhẹ nhàng, không ồn ào.  Đừng bỏ lỡ cơ hội gặp Người.

Gặp được Người, lòng ta sẽ bình an, linh hồn ta sẽ hồi sinh, cuộc đời ta sẽ sống, sống mãnh liệt, sống phong phú, sống dồi dào.

Lạy Đức Kitô Phục Sinh, con đang chìm trong cái chết dần mòn. Xin hãy đến và cho con được Phục Sinh với Người.

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Ai giải phóng ai?: Những đóng góp của Đế chế Pháp, Mỹ Ngụy và Đảng Cộng Sản cho Việt Nam

Ai giải phóng ai?: Những đóng góp của Đế chế Pháp, Mỹ Ngụy và Đảng Cộng Sản cho Việt Nam

THĐP

Ku Búa

08-04-2015

Ảnh: Leon_Ting

32 thứ đế chế Pháp đã đóng góp cho Việt Nam

Chúng ta đã được dạy rằng Đế Chế Pháp đã xâm lược và đô hộ Việt Nam. Họ đã bốc lột đất nước và người dân Việt Nam để làm giàu cho nước họ. Họ không cho chúng ta tự do ngôn luận và cai trị với phương pháp ngu dân. Đó là lý do tại sao Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã ra đi tìm đường cứu nước. Để giải phóng đất nước và dân tộc khỏi sự cai trị ngu đần và bốc lột của Đế Chế thực dân Pháp.

Nhưng trong bài viết này, với tư cách là một người đang được thừa hưởng sự hòa bình, tôi xin nêu ra những gì mà Đế Chế Pháp đã đóng góp cho Việt Nam. Theo phân tích của tôi, Đế Chế Pháp đã khai sáng đất nước Việt Nam từ 4000 năm đen tối trong 1 thế kỷ mà họ đã cai trị ở đây. Dĩ nhiên, chế độ nào cũng có mặt tích cực và tiêu cực, nhưng nếu chúng ta chỉ coi Pháp là một đế chế xâm lược mà phủ nhận những gì họ đã đóng góp cho Việt Nam, đó là một sự thiếu hiểu biết và ngạo mạn. Sau đây là 32 điều và thứ mà Đế Chế Pháp đã đóng góp cho Việt Nam và sẽ bắt đầu với thứ quan trọng nhất.

  1. Quốc Ngữ (Latin hóa quốc ngữ Việt Nam) – hãy tưởng tượng người Việt Nam sẽ như thế nào nếu giờ vẫn sử dụng chữ Hán và Nôm. Đó là một điều mà không ai muốn xảy ra.
  2. Hạt cà phê – Hiện tại Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 trên thế giới, chỉ sau Brazil. Cà phê đóng góp tầm 3% cho kinh tế Việt Nam.
  3. Phin cà phê – Một biểu tưởng độc đáo của Việt Nam.
  4. Cà phê đá – Một loại nước uống gần như không thế thiếu vào buổi sáng. Một trong những biểu tượng ẩm thực của Việt Nam.
  5. Cà phê sữa đá – Tương tự. Cũng là 1 thứ tui phải uống vào mỗi buổi sáng. Có khi 2-3 ly 1 ngày.
  6. Văn hóa cà phê – Việt Nam tìm thêm sức sống trong những giọt cà phê là cũng nhờ Đế Chế Pháp giới thiệu.
  7. Đường rầy xe lửa xuyên Việt. Nhờ Đế Chế Pháp mà Việt Nam đã được kết nối từ nam ra bắc, hiện giờ vẫn là một trong những phương tiện vận chuyển.
  8. Quốc Lộ 1A – Khởi hành bởi thực dân Pháp. Hiện tại thì là con đường chính kết nối ba miền bắc trung nam của Việt Nam.
  9. Điện.
  10. Xe đạp.
  11. Xe máy.
  12. Xe hơi.
  13. Cao su.
  14. Bánh mì – Một biểu tượng ẩm thực và văn hóa.
  15. Nhà thờ Đức Bà – Một trong những biểu tưởng của Việt Nam, nhưng lại là một sản phẩm của Đế Chế Pháp.
  16. Thành Phố Đà Lạt – Một trong những thành phố thơ mộng nhất thế giới, được khám phá và xây dựng bởi người Pháp.
  17. Nhà Thờ Con Gà (Đà Lạt) – Khánh thành 1942. Một trong những biểu tượng của Đà Lạt.
  18. Cao Đẳng Sư Phạm Đà Lạt (tên cũ: Trường Grand Lycée Yersin) – Thành lập năm 1927, thiết kế bởi kiến trúc sư Moncet. Một trong 1000 công trình xây dựng độc đáo trong thế kỷ 20. Một trong nhưng biểu tượng của Đà Lạt và du lịch Việt Nam.
  19. Khách Sạn Dalat Palace – Một trong những khách sạn 5 sao ở Đà lạt. Xây năm 1916, hoàn thành năm 1922.
  20. Thành Phố Sa Pa – Một thành phố du lịch thơ mộng của Việt Nam.
  21. Thành Phố Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông.
  22. Bến Nhà Rồng (Bảo Tàng TP Hồ Chí Minh) – Hoàn tất năm 1863. Cũng tại nơi đây, một chàng thanh niên Việt Nam tên Nguyễn Tất Thành đã bắt đầu cuộc hành trình xa quê hương để tìm đường cứu nước (làm phản động thời bấy giờ).
  23. Nhà hát lớn thành phố Hồ Chí Minh – Mở cửa năm 1990. Một trong những biểu tưởng của Sài Gòn.
  24. Bưu điện trung tâm Sài Gòn – Một trong những công trình kiến trúc vĩ đại ở Việt Nam.
  25. Thành Phố Vũng Tàu – Một thành phố biển thơ mộng và là một nơi người Sài Gòn đến nhiều nhất nhờ vị trí địa lý.
  26. Bạch Dinh (Vũng Tàu) – Xây dựng thời Pháp từ 1898 tới 1916. Một trong nhưng biểu tượng cảu thành phố Vũng Tàu.
  27. Trường Petrus Ký Sài Gòn (hiện này là trường chuyên Lê Hồng Phong – TPHCM).
  28. Cầu Trường Tiền (Huế) – Một biểu tưởng của Huế.
  29. Khách Sạn Metropole Hà Nội (hiện này là Sofitel Legend Metropole Hanoi).
  30. Cầu Long Biên Hà Nội. Một trong những biểu tưởng của Hà Nội.
  31. Sự khởi nghiệp của Hồ Chí Minh – Trong thời đế chế Pháp, Pháp đã cho ông lên thuyền đi qua Pháp. Pháp đã đón nhận ông trong âm thầm và cho phép ông làm phản động trong âm thầm. Để ông có bước khởi nghiệp vững chắc vì không bị ai quy cho cái tội phản động. Sau khi về nước, một lần nữa Pháp lại cho ông làm phản động để sau này các cháu ngoan của ông lại bắt bỏ tù những đứa phản động giống ông ngày xữa. Có điều gì đó ông đúng.
  32. Âm nhạc tây phương.

Những đóng góp của Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) cho Việt Nam

Chế Độ VNCH không hoàn hảo và đã phải trải qua thời gia đình trị dưới sự cầm quyền của Ngô Đình Diệm. Nhưng nếu xét về tự do ngôn luận và phát triển kinh tế thì chế độ VNCH đã góp phần không thua kém Đế Chế Pháp trong việc hiện đại hóa Việt Nam.

  1. Tự do ngôn luận là một điều bất khả xâm phạm. Các thành viên của các tổ chức chính trị có thể lên tiếng phản đối chính quyền công khai mà không bị bắt.
  2. Hệ thống chính trị tam quyền phân lập (Đệ Nhị Cộng Hòa 1967-1975). Khái niệm dân chủ theo cơ sở tam quyền phân lập thời đó rất xa lạ, VNCH là một ví dụ hiếm hoi.
  3. Đường lộ ở Tây Nam, tới bây giờ vẫn còn. Và nhiều đường lộ khác nữa.
  4. Giáo dục cao học đa ngôn ngữ và được quốc tế công nhận. Rất nhiều tri thức Việt Nam tốt nghiệp trong thời VNCH sau 1975 di dân vẫn được các nước khác ông nhận bằng cấp. Nhưng nếu tốt nghiệp dưới thời hậu VNCH thì không.
  5. Những bài nhạc cổ điển, chữ tình, nhạc “sến”, tới bây giờ vẫn còn được hát như nhạc Trịnh Công Sơn. Một điều khó xảy ra nếu những nhạc sĩ đó sống ở miền Bắc Việt Nam.
  6. Xe hơi La Dalat. Dưới thời VNCH Việt Nam đã sản xuất được xe hơi. Công Ty Xe Hơi Sài Gòn đã thành công trong việc nội địa hóa công nghệ và vật chất hơn 40% để sản xuất hơn 5,000 chiếc xe hơi La Dalat từ 1970 tới 1975. Đây là điều không tưởng trong một đất nước vẫn còn chiến tranh. Tới bây giờ ngành công nghiệp xe hơi Việt Nam đã thua cả Campuchia.

Những đóng góp của Đảng Cộng Sản cho Việt Nam

  1. Tượng mẹ Việt Nam Anh Hùng ở Quảng Nam, tốn 411 tỷ, đây là một công trình Mount Rushmore của Việt Nam.
  2. 50,000 tiến sĩ và 100,000 thạc sĩ các ngành nghề.
  3. Giá bất động sản cao nhất khu vực và có thể trên thế giới khi tính theo thu nhập đầu người. Một người Việt Nam bình thường phải đi làm 30-40 năm mới có đủ tiền để mua một căn nhà.
  4. Văn hóa xe máy, Việt Nam là nước có xe máy nhiều nhất với số lượng đăng ký trên dưới 30 triệu. Cứ 3 người Việt Nam thì có 1 chiếc xe máy.
  5. Số người chết vì tai nạn giao thông nhiều nhất, trung bình mỗi năm có 9,000-10,000 người chết vì tai nạn giao thông.
  6. Đồng tiền có nhiều con số “không” nhất hiện tại, chỉ sau Zimbabwe. $1 Đô La Mỹ đổi lấy hơn 21,000 Việt Nam Đồng.
  7. Giá xe hơi cao nhất về giá thị trường và dựa theo thu nhập bình quân. Trung bình 1 người Việt Nam phải đi làm 30 năm để có được một chiếc xe hơi. Giá xe hơi ở Việt Nam thường cao hơn giá thị trường thế giới gấp 3 lần vì thuế nhập khẩu cũng như chi phí vận chuyển và lợi nhuận.
  8. Việt Nam hiện tại có thể nói đã trở thành một dân tộc thiểu số lớn nhất nhì ở Đài Loan và Hàn Quốc. Hàn Quốc có hơn 60,000 phụ nữ Việt lấy chồng Hàn và Đài Loan có hơn 100,000 phụ nữ Việt lấy chồng Đài Loan. Nếu cộng thêm số lượng con cái từ những hôn nhân đó và số lượng lao động Việt Nam đang làm việc ở xứ sở tại, dân tộc Việt Nam là thiểu số đông nhất.
  9. Giá thuốc lá và bia rượu rẻ nhất thế giới.
  10. Xin các bạn đọc bài “23 điều vô lý chỉ có ở Việt Nam”.

Vậy theo các bạn, ai đã giải phóng ai?

Mỹ lo Trung Quốc ỷ mạnh hiếp yếu ở Biển Đông

Mỹ lo Trung Quốc ỷ mạnh hiếp yếu ở Biển Đông

Một tàu hải giám Trung Quốc truy đuổi một tàu của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam năm 2014.

Một tàu hải giám Trung Quốc truy đuổi một tàu của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam năm 2014.

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tuyên bố Washington lo ngại việc Trung Quốc đang dùng sức mạnh và tầm vóc của mình để gạt ra các nước nhỏ hơn cùng có tuyên bố chủ quyền các khu vực ở Biển Đông.

Phát biểu tại một buổi họp công nhân chuyến thăm Jamaica hôm qua, ông Obama nhấn mạnh Washington quan ngại rằng Bắc Kinh không nhất thiết tuân thủ các quy định và chuẩn mực của quốc tế, buộc các nước phải chịu dưới thế của Trung Quốc.

Những dự án của Trung Quốc khẩn trương bồi đắp, cải tạo đất xung quanh các bãi đá ở quần đảo Trường Sa trên Biển Đông khiến các nước khác cũng có tuyên bố chủ quyền tại đây như Việt Nam và Philippines báo động.

Ông Obama nói: “Chúng tôi cho rằng việc này có thể được giải quyết qua con đường ngoại giao, nhưng chỉ vì Philippines hay Việt Nam không lớn như Trung Quốc không có nghĩa là những nước này có thể bị hất qua một bên.”

Tổng thống Obama nhấn mạnh Hoa Kỳ không có quan điểm riêng biệt về các tranh chấp chủ quyền, chỉ mong muốn tất cả các bên sử dụng các cơ chế sẵn có trên quốc tế để giải quyết tranh chấp.

Trung Quốc bênh vực việc họ cải tạo đất đai tại các đảo có tranh chấp, nói rằng chỉ thực hiện công tác ‘xây dựng và bảo trì.’

Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Hoa Xuân Oánh, tuyên bố: “Hoạt động xây dựng và bảo trì của chính phủ Trung Quốc tại một số nơi ở quần đảo Trường Sa chỉ chủ yếu nhằm cải thiện những chức năng liên hệ của các đảo, cải thiện tiêu chuẩn sinh sống và làm việc của đội ngũ nhân sự trú đóng tại đây, đảm bảo tốt hơn chủ quyền hàng hải và lãnh thổ của Trung Quốc, giúp hoàn thành tốt hơn công tác tìm kiếm-cứu hộ, ngăn ngừa thảm họa, cứu trợ, nghiên cứu khoa học biển, theo dõi khí tượng, bảo vệ môi trường, an ninh hàng hải, các dịch vụ sản xuất đánh bắt, và những trách nhiệm-nghĩa vụ quốc tế mà chúng tôi đang thực hiện. Hoạt động xây cất liên hệ là vấn đề hoàn toàn nằm trong phạm vi chủ quyền của Trung Quốc, công bằng, hợp lý, hợp pháp, không ảnh hưởng và cũng không nhắm mục tiêu chống lại bất kỳ quốc gia nào, không thể chê trách vào đâu được.”

Phát biểu với báo giới hôm qua, người phát ngôn Bộ Ngoại giao  Mỹ, Jeff Rathke, cho biết giới chức hoa Kỳ lo rằng Trung Quốc có thể tiến hành quân sự hóa các đảo mà họ bồi đắp nhằm củng cố tuyên bố chủ quyền của họ tại những vùng có tranh chấp.

Tổng thống Obama nói bất chấp những tranh chấp với Bắc Kinh, sức mạnh kinh tế của Trung Quốc đóng một vai trò tích cực trên thế giới và rằng Hoa Kỳ hoan nghênh các khoản đầu tư hỗ trợ của Bắc Kinh trên toàn cầu.

Các hình ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc có phần chắc đang xây dựng các đường băng tại những nơi từng là khu vực có cây cối rậm rạp, xây cảng cùng các nhà kho dự trữ nhiên liệu.

Vì Chúa đã phục sinh

Lạy Chúa phục sinh,
vì Chúa đã phục sinh
nên con thấy mình chẳng còn gì phải sợ.

Vì Chúa đã phục sinh
nên con được tự do bay cao,
không bị nỗi sợ hãi của phận người chi phối,
sợ thất bại, sợ khổ đau,
sợ nhục nhã và cái chết lúc tuổi đời dang dở.

Vì Chúa đã phục sinh
nên con hiểu cái liều của người Kitô hữu
là cái liều chín chắn và có cơ sở.
Cái liều của những nữ tu phục vụ ở trại phong.
Cái liều của cha Kolbê chết thay cho người khác.
Cái liều của bậc cha ông đã hiến mình vì Đạo.

Sự Phục Sinh của Chúa là một lời mời gọi
mang một sức thu hút mãnh liệt
khiến con đổi cái nhìn về cuộc đời :
nhìn tất cả từ trên cao
để nhận ra giá trị thực sự của từng thụ tạo.

Sự Phục Sinh của Chúa
giúp con dám sống tận tình hơn
với Chúa và với mọi người.
Và con hiểu mình chẳng mất gì,
nhưng lại được tất cả.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

http://dongten.net

NỖI OAN TÔMA

NỖI OAN TÔMA

GM Vũ Duy Thống

Đối với phần đông tín hữu Việt Nam, danh xưng Tôma khơi gợi về một thái độ, rất riêng tư nhưng cũng rất điển hình, chẳng những không tích cực mà xem ra còn để lại nhiều tai tiếng.  Gặp một tâm hồn cứng cỏi trước những biểu cảm của niềm tin, người ta đã khéo ví von “cứng lòng như Tôma;” thấy ai biểu lộ do dự hoặc nghi ngờ trước những sự kiện tôn giáo, người ta đã vội đưa vào gia phả “con cháu thánh Tôma.” Kể cũng oan.

Thật ra, đi liền với danh xưng Tôma lại là một bài học dẫn đến niềm tin, và cũng còn đó lời gọi sống sao cho mối phúc thứ chín, như người ta gọi về lời Chúa Giêsu kết thúc trang Tin Mừng hôm nay “Phúc cho kẻ không thấy mà tin,” được trở thành hiện thực trong đời mỗi Kitô hữu.

1. Lạy Chúa Tôi, Lạy Thiên Chúa Của Tôi

Niềm tin của Tôma vào Đấng Phục Sinh là cả một chặng đường trong đó yếu tố trước hết chính là cộng đoàn: “Chúng tôi đã được thấy Chúa.” Chính vì chứng từ của cộng đoàn này mà Tôma đã tự đặt vấn để rồi sau đó mới đi tới đức tin.  Ngay việc các môn đồ hội họp vào ngày thứ nhất trong tuần cùng với lời chúc bình an của Đấng Phục Sinh, làm bối cảnh hình thành truyện Tôma, cũng cho thấy vai trò của cộng đoàn trong việc khai sinh đức tin nơi một người.

Nhưng yếu tố chủ động hơn phải được tìm thấy trong phản tỉnh của cá nhân ông.  “Nếu tôi không thấy… tôi không tin. Câu nói tự phát ấy đã trở thành tai tiếng khiến nhiều người nghĩ rằng Tôma là một kẻ cứng đầu cứng cổ, đòi hỏi, nghi ngờ.  Nhưng thực ra, ông là người thực tiễn.  Chính nhờ ông lên tiếng mà ta mới thấy rõ hơn thế nào là trăn trở của đức tin thuở ban đầu và thế nào là nỗ lực cá nhân làm cho niềm tin có được bản sắc riêng không thể lẫn với người khác.  Nếu hôm trước Tôma đòi thấy mới tin, thì tám ngày sau, qua tiếp xúc cá nhân với Đấng Phục Sinh, ông đã tuyên xưng không phải bằng công thức chung nữa, mà bằng một cách rất riêng làm thành đỉnh cao tuyên tín Phục Sinh: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi.

Và niềm tin chỉ có thể đạt được kết quả khi có yếu tố quyết định chính là hồng ân Thiên Chúa, như một bao trùm từ khởi sự cho đến hoàn thành.  Nguyện vọng của Tôma xem ra ngược ngạo, nhưng đã được Đức Giêsu thanh luyện, để cuối cùng khi dâng lời tuyên tín, cũng là lúc ông được dẫn vào một nhận thức mới mẻ hoàn toàn.  Thay vì phải thấy mới tin, ông nhận ra rằng phải tin mới thấy trọn vẹn: thấy Đấng Phục sinh và con người Giêsu cũng là một, thấy Đấng Phục sinh rốt cuộc là Chúa và là Thiên Chúa của mình, và thấy niềm tin vượt lên tất cả sẽ trở thành hạnh phúc.

2. Đừng Cứng Lòng, Nhưng Hãy Tin

Chuyện lòng riêng của Tôma cũng là chuyện lòng chung của muôn lòng tín hữu.  Từ nỗi oan Tôma, ngày nay người ta hiểu hơn rằng niềm tin không phải là một yếu tố đơn thuần, mà là một tổng hợp giữa ơn thánh và nghị lực con người, trong đó có cộng đoàn và mỗi cá nhân.

Chỉ dựa vào ơn thánh, người ta có nguy cơ rơi vào thái độ coi mọi sự là bởi Chúa nên không cần phải đào sâu tìm hiểu nữa.  Có biết đâu tin như thế là không còn tin nữa, mà một cách nào đó đã là cả tin.  Vì tin tất cả nên cả tin, hay vì cả tin nên tin tất cả?  Chỉ dựa vào lý trí, người ta lại có nguy cơ khác là thái độ muốn giới hạn tri thức về thực tại và tiêu chuẩn của kinh nghiệm khả giác hoặc khả năng suy luận: những gì không hiểu, không đo lường sờ chạm, đều bị chối từ.  Có biết đâu tin như thế cũng không còn là tin nữa, mà xem ra lại gần với sự bất tín!  Nếu chỉ dựa vào cộng đoàn thôi, người ta còn có thêm một nguy cơ nữa là thái độ tiêu cực.  Bên ngoài có vẻ ngoan ngùy, nhưng thực chất là dấu hiệu của một niềm tin hời hợt.  Lúc đạo giáo hưng thịnh xem ra không có vấn đề, nhưng khi sự đạo phải bước vào thầm lặng thì biết đâu bởi vì dễ tin nên cũng dễ bỏ niềm tin trước bất cứ ai?

Thành ra, phải xem trường hợp Tôma như một kinh nghiệm, và cần xem chặng đường niềm tin của ông như một kinh điển cho niềm tin đang dấn bước đi trong cuộc sống.  Đừng cứng lòng! Phải chăng là lời gọi hãy xa đi những thái độ không phù hợp, để chẳng những tránh được khủng hoảng, mà dường như còn nghe lại từng ngày lời ân cần đã một lần ngỏ với Tôma ở cuối chặng đường gặp gỡ: “Nhưng hãy tin!”

3. Phúc Cho Kẻ Không Thấy Mà Tin

Cũng từ nỗi oan Tôma, tín hữu hôm nay cảm nhận hơn niềm vui trong đức tin của mình.  Niềm vui của Tôma là được thấy Chúa nên tin, còn niềm vui của đời tín hữu lại là tin để được thấy Chúa.  Tin như thế là một hạnh phúc.

Trong hạnh phúc ấy, sau này các tông đồ đã qui tụ cho Chúa những kẻ tin, và những kẻ tin sơ khai đã vui mừng cử hành niềm tin của mình một cách sống động, không những qua nghi thức phụng vụ, mà còn qua cách sống cộng đoàn biết chia sẻ và phục vụ lẫn nhau, và niềm hạnh phúc, cuối cùng, sẽ là sức mạnh chiến thắng.

Nhưng với kẻ tin hôm nay, tất cả vẫn còn ở phía trước.  Bổn phận của ta là phải khổ công vun đắp niềm tin của mình sao cho thắm đượm hồng ân Thiên Chúa mà vẫn không quên nỗ lực đóng góp của con người, sao cho chan hòa với nhịp sống cộng đoàn mà vẫn không triệt tiêu bản sắc cá nhân.  Và một khi niềm tin muốn khơi dậy niềm tin, thì cái bổn phận kia đã trở thành trách nhiệm loan báo hạnh phúc cho những người đồng thời.

Tuy nhiên, phải thú nhận rằng niềm tin hạnh phúc ấy còn lắm nhạt nhòa.  Đó đây trong nhịp sống chung Giáo Hội cũng như trong nếp sống riêng mỗi tín hữu, vẫn có thể có những lúc ngại tin hoặc chậm tin vào điều mình không thấy.  Nhất là phải hy sinh những hạnh phúc chính đáng thấy được để vươn đến một thứ hạnh phúc ở ngoài tầm nhìn khả giác.  Quả là vất vả.  Nhưng chính lúc ấy, Tôma xuất hiện như một người bạn tri âm, như một người thầy đã từng trải nghiệm.  Và lời Đức Giêsu nói với ông lại trở thành lời vỗ về đem lại sức mạnh.  Nghe trong mối phúc thứ chín có lời dặn dò: muốn thấy điều mình tin, hãy bắt đầu bằng cách tin điều mình không thấy; và chừng như cũng có lời ước hẹn: tin điều mình không thấy sẽ được thấy điều mình tin.

Ngày nay nỗi oan Tôma vẫn còn đó.  Một mình ông chịu tai tiếng để sau này người ta biết đường mà tránh.  Một mình ông chịu quở là cứng lòng tin để tín hữu hiểu rằng phải vượt trên những điều nhìn thấy mới gặp được lối đi hạnh phúc của niềm tin.  Và như thế, liệu ta có thể bảo rằng nỗi oan Tôma là một nỗi oan hạnh phúc?  Cùng với mầu nhiệm đức tin khi bánh rượu được truyền phép hôm nay, ta sẽ lặp lại lời tuyên xưng của Tôma.  Để xin thêm đức tin cho những tấm lòng còn nghi ngại, củng cố đức tin cho những người đang yếu đuối, và xin được hạnh phúc cho mọi kẻ tin.

GM Vũ Duy Thống

Châm Ngôn Về Tuổi Tác

Châm Ngôn Về Tuổi Tác

Hãy để tuổi của bạn ngày một già đi, nhưng đừng để điều đó xảy ra với trái tim của bạn.

1.“Nếp nhăn đơn thuần là dấu hiệu nơi mà nụ cười luôn hiện hữu” – Mark Twain.

2.“Bà tôi bắt đầu đi bộ 5 dặm mỗi ngày khi bà bước vào tuổi 60. Bây giờ bà đã 90 tuổi và chúng ta không thể biết được địa ngục của bà ở đâu?” – Ellen DeGeneres.

3.“Bất cứ ai khi dừng việc học tập và trau dồi kiến thức thì người đó sẽ già, dù là ở tuổi 20 hay tuổi 80. Bất cứ ai duy trì việc học tập thì đều giữ được tuổi trẻ. Điều vĩ đại nhất trong cuộc sống là luôn giữ được đầu óc tươi trẻ” – Henry Ford.

4.“Khi tôi trưởng thành, tôi sẽ chú ý ít hơn tới những gì mà mọi người nói. Tôi chỉ quan sát những gì mà họ làm” – Andrew Carnegie.

5.“Tuổi già giống như một chiếc máy bay xuyên qua cơn bão. Nếu một lần bạn cất cánh thành công, thì không có điều gì là bạn không thể làm được” – Golda Meir.

6.“Trong tuổi trẻ, bạn sẽ thấy ngày thì luôn ngắn và năm rất dài. Khi về già, bạn sẽ thấy năm sẽ ngắn đi và ngày dường như dài hơn” – Pope Paul VI.

7.“Hãy có thời gian cho cả công việc và hưởng thụ; khiến mỗi ngày vừa hữu ích vừa thoải mái, và chứng tỏ rằng bạn hiểu giá trị của thời gian bằng cách sử dụng nó thật tốt. Và rồi tuổi trẻ sẽ tươi vui, và tuổi già không có nhiều hối tiếc, và cuộc đời sẽ là một thành công tươi đẹp” – Louisa May Alcott

8.“Sự già đi xuất hiện tốt nhất ở 4 thứ: khúc gỗ lâu năm để nhóm lửa, rượu cổ lâu ngày để uống, người bạn lâu năm để tin tưởng và những tác giả lâu đời để thưởng thức tác phẩm” – Francis Bacon.

9.“Có dòng suối của tuổi trẻ: nó ở trong tâm trí bạn, tài năng của bạn, sự sáng tạo bạn mang đến cho đời và cuộc sống của những người bạn yêu. Khi bạn học được cách lấy nước từ nguồn này, bạn sẽ thực sự đánh bại tuổi tác” – Sophia Loren

10.“Tuổi trẻ là một món quà của tạo hóa, nhưng tuổi già lại là một công việc mang tính nghệ thuât” – Stanislaw Lec.

11.“Trí óc già nua cũng như những chú ngựa già nua; bạn phải để chúng luyện tập nếu bạn muốn chúng hoạt động được tốt” – John Adams

12.“Tình yêu chúng ta có trong tuổi trẻ chỉ là hời hợt so với tình yêu mà một người đàn ông già nua dành cho người vợ già của mình” – Will Durant

13.“Bốn mươi đối với trẻ là già, mà năm mươi đối với già là trẻ” – Victor Hugo
14.“Sự khôn ngoan không nhất thiết phải đi kèm vời tuổi tác. Đôi khi tuổi tác chỉ thể hiện tất cả những gì vốn có của nó” – Tom Wilson.

15.“Không một ai đơn thuần trở nên già đi bởi những năm mà họ sống. Chúng ta sẽ ngày một già bởi những gì đã cống hiến cho những ý tưởng. Thời gian có thể làm nếp nhăn xuất hiện trên da bạn, nhưng nó sẽ khiến chúng ta có thể từ bỏ những nhiệt huyết trong tâm hồn – Samuel llman.

16.“Bí mật để duy trì tuổi trẻ là hãy sống trung thực, ăn uống từ tốn và luôn nói dối về độ tuổi của bạn” – Lucille Ball.

17.“Sẽ có những lúc đặc biệt khi bạn nhận ra rằng tuổi trẻ của chúng ta đã đi qua, nhưng vài năm sau đó, chúng ta biết rằng điều đó là quá muộn” – Mignon McLaughlin

18.“Không phải người ta ngừng theo đuổi giấc mơ vì mình già đi, người ta già đi vì ngừng theo đuổi giấc mơ” – Gabriel Garcia Marquez

“Một ngày nào đó bạn sẽ đủ già để bắt đầu đọc lại những câu chuyện cổ tích một lần nữa” – C.S.Lewis.

Sưu Tầm

Lâm Kim Trọng gởi

“CON CÁI KHÔNG BAO GIỜ LÀ MỘT ‘LẦM LỖI’”!

“CON CÁI KHÔNG BAO GIỜ LÀ MỘT ‘LẦM LỖI’”!

Chuyển ngữ: Trần Mỹ Duyệt

Vatican City, April 08, 2015 (Zenit.org)

Trích từ bản dịch của ZENIT huấn từ của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong buổi triều yết chung tại quảng trường Thánh Phêrô

Mến chào toàn thể anh chị em!

Hôm nay, kết thúc loạt bài giáo lý về gia đình, chúng ta hướng về

con cái, những hoa quả tuyệt vời

do phúc lành mà Thượng Đế đã ban cho người nam và người nữ. Chúng ta đã nói về hồng ân cao cả của con cái.

Tuy nhiên, hôm nay chúng ta bắt buộc phải nói về

“những câu chuyện buồn” mà nhiều em đang phải trải qua.

Có quá nhiều trẻ em bị loại bỏ ngay từ trong trứng nước, bị coi thường, bị tước đoạt tuổi thơ và tương lai của các em.

Một số, có thể nói là, hầu hết đã tự biện minh rằng đem chúng vào thế giới này là một lầm lỗi.

Điều này rất đáng xấu hổ!

Làm ơn, xin đừng trút bỏ những lỗi lầm của chúng ta trên con cái!

Con cái không bao giờ là một “lầm lỗi”.

Sự đói khát của các em không phải là một sai lầm, cũng như sự nghèo túng của các em. Sự mỏng dòn của các em, tình trạng bị bỏ rơi các của em cũng vậy — quá nhiều em bị bỏ rơi trên các đường phố.

Cả tình trạng dốt nát hoặc thiếu khả năng của các em cũng thế — có nhiều em không biết đến trường học là gì.

Đó là những lý do để chúng ta thương các em hơn, với lòng quảng đại lớn lao hơn.

Chúng ta đang làm gì trong những tuyên ngôn long trọng về nhân quyền của con người và của các trẻ em, nếu chúng ta trừng phạt các em vì những lỗi lầm của người lớn?

Đối với những người có trách nhiệm để điều hành, giáo dục — nhưng theo cha, tất cả chúng ta là những người lớn có trách nhiệm đối với các em, và mỗi người trong chúng ta hãy làm những gì mà anh chị em có thể làm để thay đổi tình trạng này.

Cha đang nói đến “cuộc khổ nạn” của các em.

Mỗi một em bị bỏ rơi, gạt ra ngoài lề xã hội, sống trên vỉa hè ăn xin và bằng với tất cả phương cách, không học hành, không có sự săn sóc thuốc men, đang kêu lên đến Chúa và tố cáo hệ thống mà những người lớn chúng ta đã xây nên.

Và, bất hạnh thay, những trẻ em này là mồi ngon cho tội ác,

cho những kẻ khai thác các em vào những đường dây bất chính hoặc trục lợi, hoặc huấn luyện các em cho chiến tranh và bạo động.

Trong các nước được gọi là giầu có, dù thế, trẻ em cũng đang sống trong những thảm kịch khiến các em gặp phải khó khăn do thảm họa của gia đình, thiếu giáo dục và những điều kiện sống nhiều lúc vô nhân đạo.

Trong những trường hợp này, các em bị xúc phạm đến thân xác và linh hồn!

Tuy nhiên, Chúa Cha là cha trên trời không bỏ quên một em nào trong các em! Không giọt nước mắt nào của các em bị lãng quên.

Và Ngài cũng không bỏ qua những trách nhiệm của chúng ta, trách nhiệm xã hội của con người, của mỗi người chúng ta, và của các quốc gia.

Một lần Chúa Giêsu đã trách mắng các tông đồ vì các ông đã xua đuổi các trẻ em mà cha mẹ chúng đã dẫn đến với Ngài, để Ngài chúc lành cho các em.

Đoạn Tin Mừng đầy xúc động:

“Bấy giờ các em được mang đến với Người để Người đặt tay trên chúng mà cầu nguyện. Các môn đệ lên tiếng trách móc dân chúng; thế nhưng Chúa Giêsu đã nói: ‘Hãy để trẻ em đến cùng Thày, đừng ngăn cản chúng; vì ớc trời thuộc về những ai giống như chúng’. Và Người đã đặt tay trên chúng rồi ra đi” (Mathêu 19:13-15).

Sự tin tưởng của những cha mẹ này và câu trả lời của Chúa Giêsu dễ thương biết bao!

Cha mong ước biết bao cho đoạn Tin Mừng này trở nên câu truyện thường ngày của các em!

Điều xác thực là, cảm ơn Chúa, những trẻ em gặp những khó khăn trầm trọng thông thường có những cha mẹ phi thường, quảng đại sẵn sàng hy sinh.

Dù vậy, không nên để những phụ huynh này bị cô đơn. Chúng ta phải nâng đỡ nỗ lực của họ, chia sẻ với  họ những giây phút vui vẻ và cái hạnh phúc được quan tâm, để họ không trở nên mồi ngon cho những phương thức trị liệu lập đi lập lại.

Trong bất cứ trường hợp nào, khi đó là vấn đề liên quan đến trẻ em, chúng ta không chỉ nghe những luận điệu bao che của luật pháp, thí dụ:

“Dù sao, chúng tôi không phải là một cơ quan an sinh duy nhất”;

hoặc “Một cách riêng tư, mỗi người được tự do hành động theo ý mình”;

hoặc “Chúng tôi không chấp nhận điều này, nhưng chúng tôi cũng không thể làm gì hơn.”

Những lời lẽ như vậy không đúng trước một câu hỏi liên quan đến các em.

Rất thường xuyên những hệ quả của đời sống bị căng thẳng bởi sự bấp bênh hoặc công việc rẻ mạt, của những giờ giấc khác thường, của phương tiện di chuyển hạn hẹp, đều đổ trên các em…

Nhưng các em cũng trả giá cho những cuộc phối hợp thiếu trưởng thành, và những chia rẽ vô trách nhiệm:

Các em đã trở thành những nạn nhân đầu tiên.

Các em đau khổ do thành quả của nền văn minh bởi những quyền lợi chủ quan quá khích,

và rồi khiến các em trở nên những đứa trẻ ranh mãnh nhất.

Các em thường xuyên hấp thụ sự bạo động mà các em không thể “tiêu hóa” nổi, và dưới cặp mắt của những người lớn tuổi,

các em bị bắt buộc để trở thành dầy dạn với sự suy đồi.

Ở thời đại chúng ta cũng như trong quá khứ, Giáo Hội lấy tình từ mẫu mà phục vụ các em và gia đình các em. Giáo Hội đem lại cho cha mẹ và con cái của thế giới chúng ta phép lành của Thiên Chúa, sự dịu hiền từ mẫu, kiên định chối từ và kết án mạnh mẽ.

Chúng ta không nên đùa giỡn với các em.

Hãy nghĩ xem xã hội hội sẽ ra sao để quyết định thiết lập một và tất cả những nguyên tắc này:

“Sự thật là chúng ta bất toàn và rằng chúng ta có nhiều khuyết điểm.

Tuy nhiên, khi một nghi vấn về trẻ em đến với trần gian, thì không có sự hy sinh nào của người lớn được xem là quá đắt đỏ hoặc lớn lao,

nhằm tránh cho một em khỏi phải nghĩ rằng

em là một lầm lỗi, rằng em không có giá trị

và rằng em bị bỏ rơi trước những vết thương của cuộc đời và của sự ngạo mạn của con người.”

Tuyệt vời biết bao một xã hội như thế! Một xã hội như vậy đáng được tha thứ, những lỗi lầm vô số kể — nhiều lắm, thật vậy.

Thiên Chúa phán xét đời sống chúng ta bằng cách lắng nghe những gì các thiên thần trình lại cho Ngài về các trẻ em, các thiên sứ mà “hằng chiêm ngưỡng nhan Chúa Cha Đấng ngự trên trời” (xem Mátthêu 18:10).

Chúng ta phải luôn luôn tự hỏi:

Các thiên thần của các em sẽ nói gì với Thiên Chúa về chúng ta?

[Original text: Italian]

[Translation by ZENIT]

http://www.zenit.org/en/articles/general-audience-on-the-passion-suffered-by-children

Mời tiếp tục vào thăm trang nhà: www.giadinhnazareth.org