Sướng và Khổ

Sướng và Khổ

Có một đề thi dành cho các thí sinh thuộc mọi lứa tuổi như sau: “Bạn hãy chứng minh bạn khổ.”

Thí sinh thứ nhất, một người đàn ông chừng sáu mươi, chứng minh: “Tôi lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo. Bố mẹ tôi quanh năm ‘bán mặt cho đất – bán lưng cho trời’. Vì nhà nghèo nên tôi phải nghỉ học sớm để đi làm kiếm tiền mưu sinh. Nghĩ mà tủi thân!…”

Thí sinh thứ hai, một phụ nữ trẻ, dẫn chứng: “Tôi là người kém sức khoẻ. Từ nhỏ đã hay đau yếu. Mỗi lần trái gió trở trời là tôi lại xụt xịt. Rất khó chịu!…”

Thí sinh thứ ba, một thanh niên tuổi chừng hăm mấy, viết ngay không chần chừ: “Tôi chẳng có tài cán gì. Giữa đám đông bạn bè, tôi chẳng biết ca hát. Mấy đứa bạn cứ trêu chọc bảo tôi giọng ngang như cua bò. Bực tức và chán ghê!…”

Thí sinh thứ tư toan đặt bút xuống viết thì khựng lại. Rồi anh suy nghĩ có vẻ rất căng thẳng. Cuối cùng, quyết định nộp giấy trắng.

Kết quả cuộc thi: Ba thí sinh đầu tiên được 1 điểm an ủi vì đã có… công viết. Còn thí sinh thứ tư thì phải lên gặp thầy để trình bày rõ lý do tại sao lại để giấy trắng.

Trong giờ sửa bài, giáo sư nhận xét chung:

– Các bạn không được điểm cao vì bài các bạn không thể hiện được tư duy sâu sắc. Các bạn chỉ liệt kê những điều không như ý xảy ra trong cuộc đời. Ai cũng làm được như thế. Thực ra nó không đủ chứng minh rằng các bạn khổ vì góc nhìn đó quá hẹp.

Rồi giáo sư quay sang thí sinh thứ tư và hỏi:

– Tại sao bạn để giấy trắng?

– Thưa giáo sư, thoạt đầu tôi cũng có khuynh hướng vội vàng liệt kê như các bạn kia. Nhưng tôi chợt giật mình…

– Sao bạn lại giật mình?

– Dạ, xin cho phép tôi đứng lên trước mọi người để trình bày được dễ dàng hơn.

Thế rồi cậu khập khiễng bước lên trên. Quay xuống nhìn mọi người, cậu nở một nụ cười thân thiện. Người ta thấy mặt cậu một bên bị nám đen. Cậu nói:

– Hồi tôi còn nhỏ, bố mẹ phải đi làm ngoài đồng, chỉ có chị tôi và tôi ở nhà. Một hôm, chị đang nấu cơm thì bị cháy nhà. Như quý vị thấy, tôi bị phỏng nặng, bây giờ vẫn còn dấu cháy trên mặt. Năm tôi lên bảy, bố tôi qua đời. Một buổi tôi đi học, một buổi tôi phải đi bán vé số ở khu chợ gần nhà để phụ mẹ. Cách đây ít năm, trên đường đi nhà thờ về, có một chú kia nhậu say lái xe tông vào tôi khiến chân tôi bị tật từ hồi đó. Bây giờ mỗi khi trời trở lạnh, chân tôi cũng khá đau. Gần đây, tôi thú thật là tôi yêu một người con gái, nhưng tôi thế này thì làm sao xứng với người ta được!

Trong phòng lúc ấy có nhiều người. Giọng cậu yếu ớt nhưng ai cũng nghe rõ vì bầu khí lặng im đến lạ thường.

– Nhưng sao bạn không viết những điều đau khổ này vào bài thi?

– Dạ không, vì tôi giật mình. Tôi giật mình khi tôi chợt nhớ lại lời của bạn tôi trong nhà thờ hôm Chúa Nhật. Anh ấy nói với mấy người nghèo khổ rằng: “Anh em thật có phúc.” Thế là tôi khựng lại để suy nghĩ.

Rồi tôi nhận ra: để chứng minh tôi thực sự khổ thì tôi phải chứng minh cho được rằng tôi không có gì để hạnh phúc.

Mọi người càng chăm chú. Vị giáo sư lên tiếng:

– Hay! Xin lỗi bạn, tôi không phải là Kitô hữu, vậy cho tôi hỏi anh bạn gì gì đó của bạn nói như thế nào về việc may phúc khiến bạn thay đổi cách nhìn như thế?

– Dạ thưa giáo sư, bạn tôi tên là Giêsu. Anh ấy nói: “Mắt anh em thật có phúc vì được thấy những điều đang thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe những điều đang nghe. Nhiều người mong mỏi được như anh em mà không được.” (Mt 13:16-17).

Thưa giáo sư, lúc ấy tôi chợt nhìn thấy và nghe được nhiều điều may mắn trong cuộc sống của tôi.

Tôi có mẹ, có chị. Nhà chúng tôi tuy chẳng kín cổng cao tường nhưng đùm bọc nhau ấm áp. Tôi có trái tim biết rung động. Tôi có lòng quảng đại. Tôi có lương tâm. Tôi có bạn bè nói chuyện. Tôi có nhiều người cầu nguyện cho tôi. Tôi được đi học. Tôi có trí khôn để nhận ra trong cái xui có cái hên, tức là trong nghịch cảnh có ân sủng.

Ví dụ, vì lớn lên trong cảnh khó khăn, tôi thấy mình biết cảm thương với người nghèo hơn. Vì mang tật nguyền trên mình, tôi hiểu được nỗi đau của tha nhân. Vì thấy mình giới hạn, tôi đặt niềm tin vào Chúa nhiều hơn. À, cuối tuần nào tôi cũng được cùng mẹ và chị đi Lễ với bà con chòm xóm để nghe Lời Chúa.

Vì thế tôi không thể chứng minh là tôi khổ.

Sưu tầm

KHIÊM TỐN : CHÌA KHÓA CỦA HẠNH PHÚC VÀ THÀNH CÔNG

KHIÊM TỐN : CHÌA KHÓA CỦA HẠNH PHÚC VÀ THÀNH CÔNG

( GS HỒ CÔNG HƯNG )

thay hung

Khiêm tốn là đức tính thiết yếu trong đời sống gia đình cũng như xã hội, nhưng dường như ít được lưu tâm.
Con người vốn là con vật xã hội, nghĩa là chỉ có thể thành người giữa những người khác. Vì thế cuộc đời mỗi người được dệt nên bằng những mối quan hệ rất đa dạng từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Các mối tương giao này nếu được xây dựng hài hòa sẽ đem lại hạnh phúc cho bản thân và cho người khác chung quanh. Tuy nhiên, bạo lực dưới mọi hình thức, như một căn bệnh xã hội đang lây nhiễm khắp nơi và trong mọi giới, làm cho môi trường sống mất an vui. .
Bạo lực còn là nguyên nhân chính làm cho rất nhiều gia đình mất hạnh phúc và đổ vở, đặc biệt nơi giới trẻ. Theo Trung tâm Tư vấn Tình yêu – Hôn nhân – Gia đình, Hội Liên hiệp Thanh niên VN, thực trạng ly hôn ở các gia đình 8X (sinh 198..) đã đến mức báo động. Khảo sát hồ sơ ly hôn ở các tòa án quận huyện trong hai năm trở lại đây, người ta thấy tuổi thọ hôn nhân bình quân của thế hệ này dao động trong khoảng chỉ… 30 tháng. (1)
Các nhà tư vấn tâm lý cho rằng nguyên nhân của tình trạng trên là do giới trẻ hôm nay không biết rèn luyện cho mình những kỹ năng ứng xử cần thiết trong cuộc sống. Tháng 12 vừa qua, báo Tuổi Trẻ mở mục diễn đàn “Đâu rồi, chuyện tử tế?”, với tiêu chí hướng tới việc xây dựng thói quen ứng xử có văn hóa trong thanh thiếu niên. Người đọc không khỏi liên tưởng đến bộ phim tài liệu “Chuyện tử tế”, nổi tiếng một thời (1985) của NSND Trần Văn Thủy. Theo nhà đạo diễn này, tử tế có trong mỗi con người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc nên con người trước tiên phải biết sống tử tế với nhau. Nhưng thiết nghĩ, kỹ năng ứng xử hay chuyện tử tế thật ra phải phát xuất từ một đức tính căn bản và thiết yếu hơn mà dường như gia đình và học đường ngày nay ít quan tâm trong việc giáo dục con người: lòng khiêm tốn. Nếu thói kiêu căng tiềm ẩn nơi bản tính con người từ lúc sinh ra như một nhu cầu sinh tồn, thì lòng khiêm tốn lại là một đức tính cần được rèn luyện từ khi nhỏ đến suốt đời người. Bởi vì khiêm tốn là chìa khóa đem lại hạnh phúc và thành công trong cuộc sống của mỗi người (và của cả xã hội).

1. Bạo lực tràn lan trong xã hội ngày nay là một thực trạng gây nhức nhối đối với các bậc phụ huynh và những nhà giáo dục.

Mỗi ngày chỉ cần giở tờ báo ra là có thể đọc thấy tin vài vụ bạo lực đưa đến gây thương thích, thậm chí đổ máu chết người mà nguyên nhân nhiều khi chỉ là “chuyện rất nhỏ”. Hai chiếc xe máy va quẹt nhau, một câu nói hay dáng đi gây khó chịu, một cái nhìn bị cho là “đểu”, một vụ giành gái trong quán Kaoraoke v.v… thế là một người có thể bị đâm mất mạng và một kẻ phải vào tù hỏng cả cuộc đời. Xin đơn cử trong ngày 26.11.2014, trên báo điện tử vnExpress.net, có các tin sau: “Hai gia đình hổn chiến vì tiếng đài (radio) mở to”, “Phó công an đánh hàng xóm vì bênh vợ”, “Hai chú tiểu (10 và 8 tuổi) bị đánh đập dã man trong chùa ở Phan Rang”, “Người đàn ông bị đâm chết sau va quẹt xe, gần bến xe Miền Đông”…

Cũng trong ngày hôm đó, ở Hà Nội diễn ra cuộc hội thảo “Trường học an toàn, thân thiện và bình đẳng – Thực trạng và giải pháp”. Trong buổi hội thảo này, Viện nghiên cứu Y – Xã hội phối hợp với tổ chức từ thiện Plan Việt Nam đã công bố kết quả nghiên cứu về bạo lực giới từ tháng 3 đến tháng 9.2014 với 3.000 học sinh của 30 trường THCS, THPT trên địa bàn Hà Nội. Kết quả, khoảng 80% học sinh cho biết từ trước đến nay đã bị bạo lực giới trong trường học ít nhất một lần, 71% bị bạo lực trong vòng 6 tháng qua…

Một tháng sau, ngày 25.12, báo Thanh Niên có bài “Dửng dưng với bạo lực học đường”, nhắc đến nhiều vụ nữ sinh đánh nhau mà chỉ cần lên google.com gõ “nữ sinh đánh nhau” thì “trong 0,26 giây đã có 761.000 kết quả liên quan đến thông tin, hình ảnh, clip nữ sinh đánh nhau”. Các chuyên gia cho rằng nguyên nhân chính là do trường phổ thông hiện nay quên dạy làm người. Và tờTuổi Trẻ hôm đó viết bài “Học sinh THCS đánh nhau nhiểu hơn”. Rồi tuần báo Khoa Học Phổ Thông cũng lên tiếng “Bạo lực học đường đang có chiều hướng phức tạp”.Tiếp sau, nhiều phụ huynh phản ánh chính con cái họ là nạn nhân, dẫn đến tổn thương tâm lý, có người còn đưa trường hợp lạ đời: Con bị đánh chỉ vì… học giỏi!

Theo nghiên cứu của Ts Nguyễn Minh Hoà (Đại học KHXH&NV Tp HCM), dựa trên số liệu của tòa án các quận huyện ở thành phố, 63% số người đứng đơn ly hôn là các bà vợ, mà hầu hết vì không chịu được bạo hành gia đình (2). Báo Phụ Nữ còn nêu nhiều vụ chồng “đánh đập vợ như thởi Trung Cổ” (12.1.2015). Tình trạng ly hôn nơi giới trẻ trong những năm gần đây cũng tăng rất nhanh. Theo Cục Thống Kê thành phố, tỷ lệ ly hôn ở độ tuổi dưới 35, năm 2008, 2009, 2010 và 2011 lần lượt như sau: 46,8, 58,5, 59,7 và 49,2%. Các nhà tư vấn tâm lý cho rằng đa số các đôi tân hôn này từng được nuông chiều trong gia đình và đã tự coi mình như “trung tâm vũ trụ” lúc còn độc thân. Và, sau khi kết hôn, tính vị kỷ đó đã khiến họ có thái độ thiếu quan tâm và khoan dung đối với người khác.

Chưa hết. Cũng trên mục “Đâu rồi, chuyện tử tế?” của báo Tuổi Trẻ, nhiều đọc giả nữ còn nhắc đến tệ nạn những kẻ núp sau bàn phím máy tính để “ném đá”, nói theo ngôn từ dân mạng, có khi “hùa nhau ném đá”. Họ tự tiện vào Facebook của khổ chủ, lấy ảnh đưa lên mạng làm trò đùa với những lời bình luận thô tục đầy ác ý, xúc phạm đến người khác, mà nạn nhân là phái yếu rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương, đáng được tôn trọng hơn hết. Đây là trò vô văn hóa, nếu không muốn nói là mất dạy, dường như đang được xã hội coi như “chuyện bình thường”.
Đó là chưa kể những vụ cướp của giết người, diễn ra ngày càng táo tợn và dã man với thái độ rất bình thản và lạnh lùng. Nhiều học giả đã đặt câu hỏi không biết trong lịch sử dân tộc ta vốn “dĩ hòa vi quý”, có thời nào mà con người lại độc ác với nhau như hôm nay.

2. Thói kiêu ngạo phát sinh từ một nhu cầu sinh tồn nên tiềm ẩn suốt đời nơi mỗi người và thể hiện dưới nhiều hình thức.

Trẻ sơ sinh vừa ra khỏi lòng mẹ, cất tiếng khóc chào đời. Theo y học, tiếng khóc đầu tiên là dấu hiệu an toàn làm bé nở phổi, có ích cho sự phát triển sau này. Đồng thời cũng là phản xạ tự nhiên của bản năng, là tin hiệu nhắc nhở “có tui đây” trên cõi đời này. Mà thật vậy, một trẻ thơ ra đời là trung tâm đem lại niềm vui cho cha mẹ và cả đại gia đình nội ngoại.

Trong quá trình phát triển, đứa trẻ cảm thấy mình được thừa nhân một cách rõ rệt nhờ tình thương và sự chăm sóc của người thân, đặc biệt của bà mẹ. Vì thế, để chu toàn thiên chức làm mẹ, người nữ được Trời phú một bộ não bén nhạy hơn nam giới trong việc nhận biết tiếng khóc của con mình. Nhưng đến một độ tuổi nào đó, nếu mọi đòi hỏi của bé được đáp ứng dễ dàng thì cái tôi nơi trẻ cũng bắt đầu phát triển. Từ đó, việc dạy dỗ dần trở trên khó khăn, đưa đến những biểu hiện của thói tự tôn và kiêu căng. Theo nhà giáo dục nổi tiếng thế giới người Ý, nữ bác sĩ Maria Montessori, 6 năm đầu là thời kỳ quan trọng nhất của đời người, vì trong thời kỳ này diễn ra quá trình phát triển nhân cách và trí tuệ một cách mạnh mẽ nhất. Đến năm sáu tuổi, một đứa trẻ luôn được nuông chiều, lớn lên sẽ dễ hư hỏng và ra đời thành người gàn bướng cố chấp, tự ái vặt, không làm chủ cuộc đời mình. Đa số thanh thiếu niên phạm pháp và nghiện ngập hút sách đều thuộc diện này. Có thể nói, như một qui luật, cha mẹ nào quá e ngại vì con mình khóc khi còn nhỏ thì mai sau sẽ khóc nhiều vì con.

Đặc biệt, nếu đứa trẻ chẳng may sinh ra và lớn lên trong một gia đình mang nặng não trạng hơn thua, chỉ coi con mình là số một, quen che đậy và dung dưỡng hành động xấu của con, thói tự tôn huynh hoang nơi trẻ không được cha mẹ lưu tâm uốn nắn mà còn khích lệ, thì tính kiêu căng lại càng tăng trưởng, thể hiện dưới nhiều hình thức: bệnh nổ, chảnh, phách lối, xấc láo, vô ơn, đua đòi, khoe khoang, chơi ngông, háo thắng v.v..

Vì thế kiêu căng trước tiên là thói hư tật xấu của những “ông bà trời con” muốn gì được nấy trong gia đình, có thể gọi là một thứ bệnh ấu trĩ, rồi tiếp tục tiềm ẩn nơi con người trưởng thành, dù thuộc giới nào (3), như căn bệnh mãn tính, cho đến suốt đời. Đặc biệt nơi người có nhiều tiền của, nổi tiếng hay có quyền lực, phát sinh nhiều biến tướng đa dạng như áp đặt quan điểm chủ quan một cách độc đoán bất chấp sự thật, phát ngôn những lời tự mãn dao to búa lớn, phô trương sự xa hoa phù phiếm, chức danh hay bằng cấp (kể cả bằng giả, bằng dởm và bằng ma), bệnh chạy theo thành tích ảo, thi đua thực hiện các công trình hoành tráng nhất nước, thậm chí nhất châu lục và thế giới, trong khi đất nước còn nghèo v.v… Suy cho cùng, âu đó cũng là những cách lên tiếng “có tui đây” của căn bệnh ấu trĩ mà thôi!

3. Lòng khiêm tốn là một đức tính tập thành và phải tập từ khi nhỏ cho đến suốt đời

Trước tiên, khiêm tốn không phải là tự hạ mình xuống hay cho mình kém cỏi hơn người, theo định nghĩa thường gặp trong nhiều sách tự điển. Thật ra đó chỉ là biểu hiện của mặc cảm tự ti. Khiêm tôn chủ yếu là thái độ sống phù hợp với sự thật. Mà sự thật là “vô nhân thập toàn”, ai cũng có khuyết điểm và sai lầm. Sự thật là khả năng và sự hiểu biết của mỗi người đều có giới hạn, nên cần phải thường xuyên học hỏi. Sự thật là mọi người sinh ra đều có quyền sống như nhau và có phẩm giá cần phải được tôn trọng. Vì thế giáo dục lòng khiêm tốn trước tiên cũng là giáo dục lòng yêu quí và tôn trọng sự thật, bắt đầu từ trong gia đình.

Thói kiêu căng làm cho trẻ luôn cố gắng gây ấn tượng về những giá trị mà thật ra mình không hề có. Từ đó, dần dần nảy sinh tình trạng mà triết học gọi là “ngụy tín” (mauvaise foi), nghĩa là tự lừa dối mà mình không biết. Vì thế người thiếu lòng khiêm tốn chẳng những khó nhận biết sự thật mà còn rất sợ sự thật.

Giáo dục trong từ Education của phương Tây có nguyên ngữ La-tinh là ex-ducere, (làm cho xuất ra) có nghĩa giúp trẻ phát huy những giá trị tiềm ẩn nơi mình. Triết lý phương Đông cũng quan niệm như vậy trong câu “xuất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo”. Tính ở đây là toàn thể tiềm năng do Trời phú cho một người (thiên mệnh chị vị tính). Như vậy, “bá nhân bá tính”, mỗi người nhận lấy cái tính khác nhau, thì không thể có việc so sánh hơn thua, mà chỉ nổ lực phát huy cái tính đó.

Đối với con cái chẳng may bị khiếm khuyết về thể chất hay tinh thần, cha mẹ cần tạo nơi nó lòng tự tin để vượt khó, không chút mặc cảm, đặc biệt dạy cho con biết rằng kẻ có lòng nhân xứng đáng làm người và đáng đươc quí trọng hơn hết. Hay nói theo đạo diễn Trần Văn Thủy, “hãy hướng con trẻ và cả người lớn đầu tiên vào việc học làm người – người tử tế, trước khi mong muốn và chăn dắt họ trở thành những người có quyền hành, giỏi giang hoặc siêu phàm…”. Bởi vì thiếu sự tử tế, “một cộng đồng dù có những nỗ lực tột bực và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn”.

Có lẽ cũng trong tinh thần đó, bắt đầu năm học 2014-2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định không cho điểm và xếp hạng ở bậc tiểu học, giáo viên chỉ có nhận xét để phát hiện những cố gắng của học sinh và động viên khích lệ các em phát triển năng lực và phẩm chất đạo đức một cách tự nhiên, tránh được áp lực về điểm số và thành tích. Có người cho đây là một bước đột phá trong phương pháp giáo dục mà thật ra đã được áp dụng từ lâu ở nhiều nước.
Giáo dục trong gia đình vừa là một khoa học và một nghệ thuật để giữ sự cân bằng giữa yêu thương và uy quyền. Cha mẹ theo dỏi thái độ của con đối với trẻ cùng trang lứa, đặc biệt trẻ nghèo để kịp uốn nắn sửa đổi. Nhất là dạy cho con tránh thói ba hoa và tự đồng hóa giá trị mình với các vật dụng mình có, đồng thời biết chia sẻ niềm vui với bạn giỏi giang hơn mình và đồng cảm với bạn kém may mắn. Tuy nhiên, những lời khuyên răn đó chỉ có tác dụng giáo dục thật sự khi đi kèm với gương sáng của cha mẹ. Cha mẹ có lỗi với nhau hay với con cái, cần biết chân thành nói lời xin lỗi.

4. Lòng khiêm tốn là chìa khóa của hạnh phúc

Cuộc sống của mỗi người, dù ở lứa tuổi nào, đều nhằm mục đích mưu cầu hạnh phúc cho bản thân. Và để đạt được mục đích này, sức khỏe, sắc đẹp, bằng cấp, tiền tài, quyền lực và danh vọng chỉ là phương tiện, nghĩa điều kiện cần chứ chưa đủ, bởi vì hạnh phúc xuất phát từ cái tâm con người.
Hạnh phúc là thái độ tâm lý thoải mái trước những sự việc xảy ra cho mình, là cảm nhận bằng lòng với những gì mình đang có. Theo các nhà tâm lý, trong suốt cuộc đời mỗi người, hầu hết các sự việc (90%) không phải do bản thân mình chủ động gây nên, mà chỉ đón nhận. Vì thế thái độ đón nhận mới quan trọng để đem lại đau khổ hay hạnh phúc..
Thời bao cấp, lương thực còn khó khăn, vào dịp trước Tết, người viết đặt mua từ Chợ Đào, gạo nàng thơm đặc sản để làm quà cho bạn bè và người thân. Có người nhận quà đã mắng vốn thẳng thừng: Bộ nó tưởng tui đói sao cho gạo? Một biểu hiện rõ ràng của mặc cảm tự ti. Thay vì vui vẻ với món quà tình nghĩa để gia đình có nồi cơm trắng bốc thơm trong ngày đầu năm mới, người đó đã tự gây đau khổ cho mình và làm cho người khác mất vui, khi suy diễn kẻ cho có ý khinh khi mình.

Nhờ nhận thức đúng về giá trị thật của mình, người khiêm tốn thoát được mặc cảm tự tôn và tự ti vốn là nguyên nhân gây nên dằn vặt, đau khổ, vở mộng nơi người cao ngạo vì mình không được thừa nhận như mình tưởng. Nếu kẻ kiêu căng thường than phiền vì những điều không vừa ý thì người khiêm tốn, trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng thấy được ơn nghĩa hay cơ hội để học hỏi. Vì thế lòng khiêm tốn giúp con người biết sống giản dị và chan hòa nên luôn cảm nhận được hạnh phúc trong tầm tay, ở từng giây phút hiện tại của cuộc đời. Chỉ cần biết mình mạnh khỏe cũng đủ hạnh phúc rồi, như dân gian thường nói “Ăn được ngủ được là tiên”. Trong tình yêu và hôn nhân cũng vậy, người khiêm tốn biết bao dung và tôn trọng lẫn nhau làm cho mối giao ước giữa hai người được bền vững, bởi vì sự khinh thường là kẻ thù số một giết chết tình yêu. Và trong gia đình hạnh phúc, không có lý lẽ hơn thua mà chỉ có sự nhường nhịn và yêu thương.

Chứng kiến sự thành đạt của bạn bè, người thân, hàng xóm…, thay vì đố kỵ ganh ghét, người khiêm tốn biết chia sẻ niềm vui, để cùng vui với kẻ vui. Và chi có lòng khiêm tốn mới giúp con người biết đồng cảm với nổi đau của đồng loại trong thân phận làm người. Trong Kinh Thánh, Thiên Chúa hứa đem lại hạnh phúc cho người biết đồng cảm: “Phúc cho kẻ có lòng thương xót vì họ sẽ được xót thương” (Mt, 5, 2-12).

Thử so sánh thái độ của người kiêu ngạo và kẻ khiêm tốn trước bệnh hoạn. Người kiêu căng che giấu bệnh của mình, thậm chí không muốn người thân gọi điện hay đến thăm hỏi. Trái lại người khiêm tốn đón nhận bệnh tật, kể cả cái chết với thái độ bằng lòng, thanh thản, hay nói theo Nhà Phật, coi Sinh, Lão, Bệnh, Tử như qui luật tất yếu của cuộc sống (4).

Tóm lại, có thể nói hạnh phúc trên cõi đời này dường như chỉ dành cho người có lòng khiêm tốn.

5. Lòng khiêm tốn là điều kiện để thành công, trong phạm vi cá nhân cũng như trên bình diện xã hội

Dân gian có câu “thất bại là mẹ thành công”, vì nhờ rút được bài học kinh nghiệm để có thể thành công trong lần sau. Nhưng chỉ có người khiêm tốn mới nhìn nhận mình thất bại, còn kẻ kiêu ngạo thường cố chấp, đổ thừa cho người khác hay cho những điều kiện khách quan, chứ không chịu thừa nhận sự yếu kém của mình. Vì thế sự thất bại là hậu quả tất yếu của tính kiêu ngạo và khiêm tốn là đức tính không thể thiếu để thành công trên đường đời
Người viết có anh bà con mở tiệm sửa xe và máy nổ ở một thị trấn nhỏ đìu hiu trên QL27. Người chủ luôn nghĩ bà con phải cần đến mình, mỗi lần sửa xe là như ban ơn cho khách. Hậu quả khách giảm dần và tiệm phải đóng cửa. Sau đó ít lâu, một đứa cháu cũng mở ở đó một tiệm sửa xe như thế mà lại rất thành công, chỉ vì nghĩ một cách đơn giản khách hàng nuôi sống mình. Ông chủ mới này còn cất công đến từng nhà có xe, xin đến ủng hộ. Sự thành công là kết quả của một thái độ biết người biết ta, vừa khôn ngoan và khiêm tốn.
Khiêm tốn cũng là đức tính của các bậc vĩ nhân từng cống hiến cho sự tiến bộ của nhân loại, Nhân trận đại dịch hạch ở Hong Kong năm 1894, bác sĩ Alexandre Yersin (1863-1943) được cử từ Việt Nam sang và ở đây ông khám phá trực khuẩn dịch hạch trong điều kiện khó khăn, phải lén dựng lều tranh trong nghĩa trang để nghiên cứu. Sau đó, một nhà bác học khác đã.cướp công kết quả của ông. Yersin không màng danh vọng nên không hề lên tiếng đòi công lý, nhưng cuối cùng giới khoa học thế giới đã thừa nhận công trình của ông và trực khuẩn gây dịch hạch mang tên ông “Yersinia pestis”. Đúng như lời người xưa: “Chí nhân vô kỷ, Thần nhân vô công, Thánh nhân vô danh” (Trang Tử) (Chí nhân không xá mình, thần nhân không kể đến công mình, thánh nhân không màng đến tiếng tăm, tên tuổi)

Trên tạp chí Nghiên Cứu & Phát Triển sô 3-4 (110-111) tháng 7.2014 của Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên-Huế, trong bài “Tổng thuật thói hư tật xấu người Việt”, tác giả Trần Văn Chánh nhắc đến câu nói của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn: “Thói xấu lớn nhất của người Việt là rất sợ nói về thói xấu của mình”. Sau đó, ông nhận xét từ 60 năm nay, đọc khắp các sách biên khảo và giáo khoa, không đâu thấy có một chữ nào nêu tính xấu của người Việt, nước Việt. Ngay cả khi tái bản các tác phẩm cũ, nhà xuất bản cũng cắt bỏ hết những đoạn “nói xấu” về người Việt. (5). Trái lại, chỉ toàn thấy ca tụng đất nước rừng vàng biển bạc, con người cần cù, thông minh, cao cả, đẹp đẽ, kiên cường, anh hùng, trong sáng… (6) Thậm chí có nhà văn còn bịa tên tác giả nước ngoài viết cả cuốn sách ca ngợi hết lời “Người Việt cao quý”. Một hiện tượng văn hóa dường như chưa từng có trên thế giới (7).

Thiết nghĩ giấu diếm, che đậy những thói hư tật xấu và sự yếu kém của mình là “chuyện không tử tế”, thể hiện tính cao ngạo. Ngược lại cần khiêm tốn và trung thực nhận ra, rồi quyết tâm khắc phục chúng mới là điều kiện tiên quyết và thiết yếu để một dân tộc tiên bộ, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu.

Kết luận; Lòng khiêm tôn cần được giáo dục từ trong gia đình và học đường

Khi bạo lực xảy ra thường xuyên và tràn lan trong xã hội nhiều hơn lúc nào khác, thì chắc chắn phải có những nguyên nhân sâu xa mà những người có trách nhiệm điều hành đất nước không thể làm ngơ hay phân bua lấp liếm. Việc truy tìm nguyên nhân của hiện tượng bạo lực trên, xin nhường cho các nhà nghiên cứu tâm lý xã hội và lịch sử (8).
Ở đây chỉ xin đề cập đến phạm vi hạn hẹp mà vinh quang của công việc giáo dục con người trong gia đình và nhà trường.
Bạo lực dù dưới hình thức nào cũng đều xúc phạm đến phẩm giá con người, phát sinh từ thói cao ngạo đưa đến lòng tự ái, thù hận, đố kỵ, ganh ghét … Đặc biệt người sử dụng vũ lực gây tác hại đến thân thể người khác thật ra là kẻ yếu thế, không còn biết lý lẽ và trở về với bản năng thú tính. Vì thế kiêu ngạo dù ở Đông phương hay Tây phương hay trong bất cứ tôn giáo chân chính nào, đều được coi như đầu mọi tội lỗi và là nguyên nhân khiến con người không thể hạnh phúc và thành công trên đường đời. Trái lại người khiêm tốn chẳng những biết tôn trọng đồng loại mà còn nổ lực đem lại hạnh phúc cho người chung quanh, nhất là những người kém may mắn. Thái độ tôn trọng trẻ con, phụ nữ, kẻ già, người khuyết tật luôn được đánh giá như thước đo trình độ văn minh của một xã hội
Điều đáng mừng là trong xã hội chúng ta ngày nay, hơn bao giờ hết cha mẹ lo cho con cái rất nhiều. Tiếc rằng các lo toan đó chỉ nhắm đến những điều phụ, kể cả mộng ước (hảo huyền?) con mình trở thành một Đặng Thái Sơn hay một Ngô Bảo Châu, mà quên đi cái chính yếu là làm sao cho con cái được sống hạnh phúc trên cõi đời này. Muốn được như vậy, trên hết mọi việc, cha mẹ trong gia đình và thầy cô ở nhà trường cần chú tâm dạy cho trẻ thành “người tử tế”, nghĩa là có lòng nhân hậu và khiêm tốn.
Bước đầu xin mạo muội đề nghị một giải pháp thật dễ dàng. Trong các giao tiếp, trước tiên ở gia đình và học đường, tập cho con em chúng ta thói quen nói với nhau, tùy hoàn cảnh tương ứng, ba từ đơn giản: Xin lỗi (Sorry, Pardon), Cảm ơn (Thank you, Merci) và Xin vui lòng (Please, S’il vous plait).
Mong lắm thay!

Hồ Công Hưng

(tháng 1.2015)
___________________________________
(1) Báo động tình trạng 8X ly hôn, Báo Phụ Nữ 6.2008
(2) “Hôn nhân – Gia đình trong xã hội hiện đại” (Nhà xuất bản Trẻ, 2000, tr. 80)
(3) Ngay trong giới cái bang (ăn xin) là thành phần thấp nhất trong xã hội, cũng phân chia cao thấp, cái bang nhiều túi phải hơn cái bang ít túi. Và trong chuyện nhậu nhẹt, điều chả hay ho gì, các lưu linh thời nay cũng tranh hơn thua về tửu lượng, nên không ít người “ra đi” giả từ bạn nhậu sớm.
(4) Theo nguyên ngữ, khiêm tốn trong tiếng Anh (humility) hay tiếng Pháp (humilité) bắt nguồn từ humus của tiếng La Tinh có nghĩa là đất cát, nhắc nhỡ con người từ cát bụi rồi sẽ trở về cát bụi như lời bài hát khá nổi tiếng của Trịnh Công Sơn: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, Để một mai tôi về làm cát bụi”. Hay trong ca khúc “Trở về cát bụi” của Lê Dinh: “Người nhớ cho, ta là cát bụi, trở về cát bụi. Xin người nhớ cho!”.
(5) Trong quyển Việt Nam sử lược, xuất bản năm 1919, ở phần đầu sách, tác giả Trần Trọng Kim đã đưa ra những nhận xét về tính tốt, xấu của người Việt, nhưng trong bản in tái bản năm 1999, NXB Văn Hóa Thông Tin đã cắt bỏ hết những đoạn “nói xấu” về người Việt.
Có thông tin Gs Trần Quốc Vượng và Gs Cao Xuân Hạo khi còn sống từng có ý định viết một cuốn sách về “Người Việt xấu xa” tương tự như nhà văn Bá Dương viết tác phẩm “Người Trung quốc xấu xí”, xuất bản tại Đài Loan và được tái bản tại Trung Quốc trong thập niên 80 thế kỷ trước. Nhưng cả hai đã qua đời trước khi thực hiện ý định trên.
(6) Trong bộ phim “Chuyện tử tế” nêu trên, đạo diễn Trần Văn Thủy kể chuyện ông đi quay phim về công việc lao động nặng nhọc của một ông thợ làm gạch. Ông thợ chạy ra quát tháo và đuổi đoàn làm phim đi. Ông ta nói “Tại sao các ông không quay cảnh thực xem chúng tôi đang sống như thế nào? Các ông chỉ tô vẽ những điều không có thật, còn chúng tôi sống như thế nào thì mặc kệ”. Đó là dấu ấn của nền văn nghệ minh họa, khi người nghệ sỹ sáng tác theo đơn đặt hàng, theo những gì mà “người ta” muốn. Để làm mặt này sáng đẹp hơn, họ phải tạm lờ tịt cái mặt kia của đời sống đi, coi như không thấy. Nhưng như thế là không tử tế.
(7) Ai cũng biết Do Thái là dân tộc thông minh, từng sản sinh nhiều nhân vật xuất chúng trong mọi lãnh vực. Với số dân khoảng 15 triệu (trên khắp thế giới), chỉ bằng 0,2 – 0,3 % dân số toàn cầu, nhưng lại chiếm 32% giải Nobel. Ở nước Mỹ hiện nay, 1/3 triệu phú, 20% giáo sư tại các trường đại học hàng đầu là người Do Thái. Đầu xuân 2014, người viết có dịp tham quan Do Thái một tuần lễ, đi khắp đất nước nhỏ bé này, để chứng kiến nhiều điều kỳ diệu. Đi theo đoàn là một anh chàng Do Thái gốc Đức, tên là Roni, nói trôi chảy 7 thứ tiếng, từng dạy đại học, nhưng thích nghề hướng dẫn du lịch hơn. Trong một lần trao đổi về sự thành công của người Do Thái, giải đáp một câu hỏi của người viết, ông quả quyết chưa hề có một văn bản hay tài liệu nào nhắc đến việc dân tộc ông tự cho mình là “đỉnh cao trí tuệ loài người”. Trong phương pháp dạy con của người Do Thái, việc giáo dục lòng khiêm tốn, từ trong gia đình, được đặt lên hàng đầu như điều kiện để học hỏi và tiến bộ. Người Do Thái thường tự nhủ: Thất bại không phải vì mình nhỏ yếu mà vì tự cho mình lớn mạnh
(8) Chỉ xin nhắc quan điểm của nhà văn Nga Maxim Gorki (1868-1936), ông tổ của trường phái hiện thực xã hội chủ nghĩa, trong cuốn “Những suy tư không hợp thời” (Untimely Thoughts, Pensées Intempestives) viết năm1918, nhưng mãi đến năm 1988, tức 70 năm sau, mới được xuất bản ở Liên Xô cũ. Mặc dù là bạn của Lênin và Stalin, tác giả đã can đảm phê phán cuộc “Cách mạng nửa với”, “đã mang chứng bệnh ngoài da vào bên trong nội tạng”, tạo nên môi trường đấu tranh chính trị làm nảy sinh rất nhanh “các loại cây gai của sự thù địch độc hại, các nghi kỵ xấu xa, các sự lừa dối trơ trẽn, vu khống, các thói háo danh bệnh hoạn và sự khinh thường nhân cách…”. Gorki còn viết thêm: “Đối với tôi, lời kêu gọi “Tổ quốc bị lâm nguy” không đáng sợ bằng lời kêu gọi “Hởi các công dân! Văn hóa bị lâm nguy!”

Người Việt thích nổ

Người Việt thích nổ

Nguyễn Hưng Quốc

Năm 2011, nhân các thảm họa xảy ra tại Nhật, giới cầm bút hay nói đến văn hóa ứng xử của người Nhật, từ đó, ít nhiều liên hệ đến người Việt.

So sánh người Việt và người Nhật, chắc chắn chúng ta thua nhiều thứ. Nhưng có một điều chúng ta nhất định không thua: tật nổ.

Tôi không nói đến từng cá nhân. Từ góc độ cá nhân, ở đâu chúng ta cũng có thể bắt gặp những kẻ khoác lác. Người Việt Nam chưa chắc đã hơn. Thậm chí còn thua nữa là khác. Ở đây, tôi muốn nói đến người Việt với tư cách một tập thể.

Sống ở Úc khá lâu, tôi chỉ nghe người Úc, từ giới chính trị gia đến giới trí thức hay giới bình dân, hay nói Úc là một quốc gia may mắn (lucky country), nhưng thường thì người ta nhấn mạnh thêm: May mắn, chưa đủ; Úc cần phải trở thành một quốc gia giàu kỹ năng (clever country), hoặc, hơn nữa, một quốc gia giàu sáng kiến (smart country). Đất rộng và nhiều tài nguyên thiên nhiên, chưa đủ; người Úc cần có chiến lược thật sáng suốt để khai thác và tận dụng những của cải Trời cho ấy.

Ở Việt Nam thì ngược lại. Ở đâu chúng ta cũng nghe những tiếng nổ um trời. Trên báo chí. Trên tivi. Trên các đài phát thanh. Về địa thế thì Việt Nam nằm ở điểm giao lưu của hai nền văn hóa cổ kính và lớn nhất châu Á: Trung Hoa và Ấn Độ. Về thiên nhiên thì “rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”. Về lịch sử thì đánh thắng hết đế quốc này đến đế quốc khác. Về đảng và lãnh tụ thì là “đỉnh cao trí tuệ của nhân loại”. Còn về con người thì toàn là anh hùng, ra ngõ là gặp ngay anh hùng, khiến cả thế giới đều ngưỡng mộ; ngưỡng mộ đến độ nhiều người ngoại quốc cứ mơ ước có một phép lạ nào đó biến mình thành… người Việt Nam.

Nhiều người đã phê bình cái tính thích nổ ấy. Sớm, thẳng thắn và cay đắng nhất là Nguyễn Duy trong bài thơ “Nhìn từ xa… Tổ quốc” sáng tác năm 1988, trong đó có mấy câu:

xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày?
[…]
Xứ sở thông minh
sao thật lắm trẻ con thất học

lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương
[…]
Xứ sở thật thà
sao thật lắm thứ điếm
điếm biệt thự – điếm chợ – điếm vườn…

Tuy nhiên, ở đây, tôi sẽ không bàn đến khoảng cách giữa những điều người ta tuyên truyền và thực tế. Tôi chỉ muốn tập trung vào một sự nghịch lý khác: trong sự khoác lác của người Việt, đặc biệt của bộ máy tuyên truyền, có cái gì như thiếu tự tin, nếu không muốn nói thẳng ra là tự ti. Mà thật ra, về phương diện tâm lý, sự khoác lác thường xuất phát từ sự tự ti hơn là tự hào thực sự. Và vì tự ti cho nên khi khoác lác, người ta hay cầu cạnh đến một số thế lực khác, chủ yếu là từ người ngoại quốc.

Chuyện báo chí Việt Nam đánh bóng tên tuổi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cách đây mấy năm là một ví dụ điển hình (1). Người Việt khen nhau, người ta thấy chưa đủ. Người ta cần một người ngoại quốc. Nếu không có người ngoại quốc có thẩm quyền thì người ta bắt đại một ông chuyên về rác và các loại chất phế thải. Nếu không có thật thì người ta bịa. Tiêu biểu nhất là vụ Vũ Hạnh bịa ra cái tên A. Pazzi, một người Ý, khi in cuốn Người Việt cao quý ở Sài Gòn vào năm 1972. Sau này, Vũ Hạnh tiết lộ là động cơ chính thúc đẩy ông viết cuốn sách ấy là để kích động lòng tự hào dân tộc, từ đó, gián tiếp tiếp sức cho phong trào phản chiến và chống Mỹ do cộng sản chủ trương lúc ấy. Nhưng để kích động lòng tự hào dân tộc mà lại phải mượn một cái tên ngoại quốc, kể cũng mỉa mai quá, phải không?

Những chuyện mượn danh và uy tín của người ngoại quốc để tự khen mình hoặc để chứng minh điều gì đó là đúng nhan nhản trên sách báo và ở các hội trường tại Việt Nam. Trong viết lách, nhiều người cho việc trích dẫn một tác giả Việt Nam khác là xoàng. Trích dẫn, phải trích dẫn một tác giả ngoại quốc mới là sang. Không đọc được ngoại ngữ thì trích dẫn qua trung gian của một tác giả Việt Nam khác nhưng lại giấu nhẹm tên tuổi tác giả Việt Nam ấy đi!

Chán.

***

Chú thích:

  1. Xem bài ““Báo chí nước ngoài” ca ngợi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng? Thật ra chỉ là một trò lừa bịp!” của Nguyễn Tôn Hiệt trên http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=11922 và bài “Thông Tấn Xã Việt Nam biến rác thành vàng để lừa bịp nhân dân” cũng của Nguyễn Tôn Hiệt trên http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=11928.

Báo TQ công kích VN ngay sau chuyến thăm của ông Trọng

Báo TQ công kích VN ngay sau chuyến thăm của ông Trọng

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng

VOA Tiếng Việt

14.04.2015

Ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hoàn toàn thân Trung Quốc rồi, không có gì thay đổi đâu, trừ phi sau này có những người khác lên làm Tổng bí thư …  Các nhà lãnh đạo Việt Nam hiện nay thân Trung Quốc quá và sợ Trung Quốc quá nên nó làm cái gì cũng không dám phản đối

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

Một ấn phẩm của tờ Nhân dân Nhật Báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, mới lên tiếng cho rằng Việt Nam đang lợi dụng cả Bắc Kinh và Washington để phục vụ cho mục đích riêng và điều đó sẽ đẩy Hà Nội vào “tình thế nguy hiểm”.

Trong một bài bình luận đăng ngày 13/4, tờ Hoàn cầu Thời báo viết: “Hà Nội không những đang lợi dụng sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ để hưởng lợi, mà còn đang tìm cách dùng ảnh hưởng của bên này để chống lại bên kia. Điều đó có nghĩa là Việt Nam đang lợi dụng Trung Quốc để chống lại nỗ lực của Mỹ nhằm tiến hành một cuộc cách mạng màu ở Việt Nam, và lợi dụng Hoa Kỳ để chống lại các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc”, tờ báo viết.

Tờ báo từng nhiều lần đả kích Việt Nam còn cho rằng Hà Nội đang sử dụng chiến thuật “hai mặt” mà không có ai chống lưng, và điều đó rốt cuộc sẽ  làm cho Việt Nam “lâm vào tình thế nguy hiểm”.

Bài của Hoàn cầu Thời báo được đăng tải ít lâu sau khi Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng kết thúc chuyến thăm cấp cao tới Trung Quốc mà phụ bản của tờ Nhân dân Nhật Báo nói rằng gồm “gồm 1/3 Bộ Chính trị của Việt Nam”.

Ông Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, nói với VOA Việt Ngữ rằng lời lẽ của tờ báo thuộc nhà nước Trung Quốc không có gì lạ:

“Trung Quốc phải ngang ngược như thế mới là Trung Quốc chứ. Nó phải xỏ xiên, đểu cáng như vậy mới là Trung Quốc chứ. Trung Quốc họ sẵn sàng, họ không từ một thủ đoạn nào để ép mình đâu”.

Hoàn cầu Thời báo viết rằng Bắc Kinh coi 2015 là “một năm quan trọng để thực thi một loạt các chương trình do ban lãnh đạo đề ra”, thế nên “Trung Quốc không muốn sự bất đồng về vấn đề lãnh hải với Việt Nam cản trở” điều đó. “Việt Nam nên trói mình vào tầm nhìn lớn này,” tờ báo viết.

Phụ bản của Nhân dân Nhật báo nói thêm: “Đảng cộng sản cầm quyền (ở Việt Nam) không sẵn lòng và không thể đi tới mức cực đoan là đối đầu trực diện với Trung Quốc về tranh chấp lãnh hải”, và rằng “Việt Nam mong muốn hòa giải hơn là Trung Quốc”.

Khi được hỏi liệu có phải Việt Nam hiện đang ở thế kẹt giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, nói với VOA:

“Ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hoàn toàn thân Trung Quốc rồi, không có gì thay đổi đâu, trừ phi sau này có những người khác lên làm Tổng bí thư. Hiện nay ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hoàn toàn ngả về phía Trung Quốc, không có cái gì đứng giữa hai nước đâu. Các nhà lãnh đạo Việt Nam hiện nay thân Trung Quốc quá và sợ Trung Quốc quá nên nó làm cái gì cũng không dám phản đối. Đến Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh cũng lo sợ về chuyện nhân dân Việt Nam ghét Trung Quốc thế. Ông Nguyễn Phú Trọng cứ đi thôi, nhưng mà đi cũng không có gì thay đổi đâu”.

Trong chuyến thăm cấp cao kéo dài 3 ngày tới Trung Quốc, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thừa nhận rằng trở ngại lớn nhất giữ hai nước hiện nay “chính là sự tin cậy chính trị chưa cao, chủ yếu là do bất đồng trong cách ứng xử, giải quyết vấn đề trên Biển Đông”.

Ngay trong khi lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam đang có mặt ở Trung Quốc, hôm 9/4, Bắc Kinh khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa)”.

Trả lời câu hỏi về các hình ảnh vệ tinh do Trung tâm Nghiên cứu chiến lược Quốc tế ở Mỹ công bố, cho thấy Trung Quốc đang bồi đắp và xây dựng ở bãi đá mà Việt Nam gọi là Vành Khăn, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh tuyên bố rằng “việc xây dựng đó hoàn toàn thuộc chủ quyền của Trung Quốc và hợp pháp”.

Theo bà Oánh, sau khi xây dựng xong, các hòn đảo sẽ còn phục vụ nhu cầu “phòng thủ quân sự”. Trong khi đó, Tổng thống Mỹ Barack Obama bày tỏ quan ngại rằng Trung Quốc đang “cậy nước lớn” để mạnh tay với các nước nhỏ hơn trong vấn đề biển Đông. Ngay sau đó, chính quyền Bắc Kinh đã lên tiếng phản pháo phát biểu đó.

Việt Nam chưa liên tiếng đáp trả lại những lời chỉ trích của báo chí Trung Quốc cũng như các tuyên bố về biển Đông mới đây của quốc gia láng giềng phương Bắc.

Loa & Pháo Hoa

Loa & Pháo Hoa

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Buồn tất cả. Chỉ cái loa là vui!

Nguyễn Chí Thiện

Tôi vừa đọc xong một bài viết hơi buồn: “Gửi Tiết Kiệm Một Chỉ Vàng Nhận Lại Một Ổ Bánh Mì Thịt”. Xin tóm lược:

Vì gia đình có ba thân nhân là liệt sĩ nên năm 1983 ông Nguyễn Vĩnh Rượu nhận được 90 đồng tiền chính sách, hỗ trợ. Ông mang số tiền này gửi vào qũy tiết kiệm, loại không kỳ hạn và có lời.

Ba mươi hai năm sau, vào ngày 31 tháng 3 năm 2015, gia đình ông Rượu mang sổ tiết kiệm đến Ngân hàng VietinBank và nhận lại được hơn 20.000 đồng. Tính luôn “cả lãi lẫn gốc không đủ một cuốc xe ôm,” theo như nguyên văn trong bài báo của ký giả Tấn Tài:

“Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, ông Võ Minh, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Đà Nẵng, cho biết thời gian qua cũng có một số người đưa sổ tiết kiệm ‘tuổi đời’ 20-30 năm đến rút tiền và ngân hàng vẫn giải quyết cho khách hàng bình thường. ‘Phần lớn số tiền trong các sổ tiết kiệm rất nhỏ, qua lần đổi tiền lại càng nhỏ hơn. Ngân hàng Nhà nước đã dồn toàn bộ số tiền này qua một tài khoản riêng để giải quyết khi khách hàng đến nhận tiền’ –  ông Minh cho biết.

Chúng tôi đặt câu hỏi: Có hợp lý không khi vào thời điểm mở sổ, số tiền người dân gửi có giá trị khá lớn nhưng tới giờ nhận cả lãi lẫn gốc không đủ một cuốc xe ôm. Ông Minh cho rằng đây không phải là Nhà nước o ép người dân mà là do giá trị đồng tiền bị sụt giảm. Ngân hàng Nhà nước đã có hướng dẫn rất rõ ràng về việc chi trả này.”

Sổ tiết kiệm của ông Rượu giờ chỉ còn giá trị làm “kỷ niệm”. Ảnh và chú thích: T.TÀI

Thiệt là “rõ ràng” hết biết luôn! Vậy mà tác giả bài viết thượng dẫn vẫn cẩn thận chụp lại phóng ảnh sổ tiết kiệm của ông Nguyễn Vĩnh Rượu, do Ngân Hàng Nhà Nước cấp, cùng với lời chú thích rằng nó chỉ còn giá trị để làm … “kỷ niệm.”

Tất nhiên, đây là một kỷ niệm (rất) buồn của người dân với nhà nước Việt Nam

Tuy thế, theo VTV:

“Vào 21h hôm nay (28/3), những màn pháo hoa rực rỡ đã thắp sáng bầu trời Đà Nẵng chào mừng kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng Thành phố.

Chương trình bắn pháo hoa kéo dài 15 phút với 100 giàn pháo, trong đó có 2.000 quả pháo tầm thấp. Đây là lần đầu tiên chương trình bắn pháo hoa nhân các dịp lễ, tết tại Đà Nẵng không chỉ ‘dồn’ hết về dọc hai bờ sông Hàn ở khu vực trung tâm Thành phố như những năm trước đây, mà còn diễn ra ở các vùng xa để phục vụ người dân. Những điểm bắn pháo hoa tại Đà Nẵng lần này gồm: trên cầu Nguyễn Văn Trỗi; sân vận động quận Ngũ Hành Sơn; trước trụ sở UBND quận Liên Chiểu và trước trụ sở Ủy ban MTTQ huyện Hòa Vang. Nhờ đó, không chỉ người dân và du khách tại Đà Nẵng mà cả người dân Quảng Nam và các khu vực lân cận cũng nô nức đón xem pháo hoa.

Thời tiết vào đêm diễn ra pháo hoa tương đối quang tạnh, thuận lợi để người dân mãn nhãn với những màn pháo hoa đầy màu sắc, cùng hòa vào không khí vui tươi phấn khởi mừng kỷ niệm Ngày giải phóng thành phố.”

Chiêm ngưỡng những tràng pháo hoa nổ rợp trời. Ảnh & chú thích: Lao Động

Trong số hàng ngàn người dân Đà Nẵng “hòa vào không khí vui tươi phấn khởi mừng kỷ niệm Ngày giải phóng thành phố” và “chiêm ngưỡng những tràng pháo hoa nổ rợp trời,” tôi e không có những người thân trong gia đình ông Nguyễn Vĩnh Rượu. Không lẽ họ lại “tươi vui phấn khởi” sau một cuộc chiến tương tàn, với vài ba thân nhân đã trở thành liệt sĩ mà (chung cuộc) “chiến lợi phẩm” chỉ là … một ổ bánh mì kẹp thịt?

Theo VNEXPRESS thì Đà Nẵng/Quảng Nam “là địa phương có nhiều bà mẹ Việt Nam anh hùng nhất với 11.234 người.” Tính rẻ ra thì địa phương này, ít nhất, cũng phải có 11.234 gia đình liệt sĩ. Liệu có bao nhiêu người trong số những gia đình này vừa tươi vui phấn khởi,” vừa gặm bánh mì kẹp (thịt) vừa  … “chiêm ngưỡng những tràng pháo hoa nổ rợp trời” để “mừng kỷ niệm Ngày giải phóng thành phố” của mình?

Hẳn không mấy ai vô tâm đến thế.

Tuy thế, trước đó hai ngày, cũng theo VTV:

“Đúng 21h ngày 26/3, bầu trời thành phố Huế đã rực sáng với những màn pháo hoa đầy màu sắc. Khoảng 1.000 quả pháo được bắn tầm cao, kéo dài suốt 15 phút, thu hút sự chú ý của hàng nghìn người dân và du khách.

Đây là một trong chuỗi các hoạt động ý nghĩa được tổ chức, nhằm tạo không khí rộn ràng, vui tươi cho người dân cố đô nhân kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Thừa Thiên Huế.”

Thành phố Huế lung linh trong sắc pháo hoa. Ảnh và chú thích: Tạp Chí Sông Hương

Trong “không khí rộn ràng, vui tươi cho người dân cố đô nhân kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Thừa Thiên Huế” và trong số “hàng nghìn người dân và du khách” ngắm nhìn “thành phố Huế lung linh trong sắc pháo hoa” (chắc) cũng không có mấy thân nhân liệt sĩ, cũng như thân nhân của những gia đình nạn nhân đã bị qúi vị liệt sĩ trói tay rồi đập chết (mấy mươi năm trước) đâu.

Về “số liệu về các hố chôn tập thể” trong vụ “Thảm Sát Huế Tết Mậu Thân,” Wikipedia: ghi nhận như sau:

“Trong những tháng và những năm tiếp theo sau Trận Mậu Thân tại Huế, bắt đầu từ ngày 31 tháng 1 năm 1968, và kéo dài tổng cộng 26 ngày, hàng chục ngôi mộ tập thể được phát hiện trong và xung quanh Huế. Nạn nhân bao gồm phụ nữ, nam giới, trẻ em và trẻ sơ sinh. Số liệu từ các nguồn khác nhau có sự không thống nhất.

Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đưa ra danh sách 4.062 nạn nhân được xác định là đã bị bắt cóc hoặc bị giết. Theo các báo cáo của Việt Nam Cộng Hòa, nhiều thi thể được tìm thấy ở tư thế bị trói buộc, bị tra tấn và đôi khi bị chôn sống.

Theo báo cáo tổng kết của Douglas Pike, lúc bấy giờ là nhân viên Cục Tâm lý chiến của cơ quan thông tin Hoa Kỳ, năm 1970:

‘Câu chuyện (về Huế) chưa chấm dứt. Nếu ước đoán của giới chức Huế được coi như gần đúng, khoảng 2.000 người vẫn còn mất tích. Tổng kết về người chết và mất tích như sau:

  • Tổng số dân sự tử vong: 7.600 – chết lẫn mất tích
  • Chiến trường: – 1.900 bị thương vì chiến cuộc; 944 thường dân chết vì chiến cuộc
  • Nạn nhân của những vụ giết tập thể:

1.173 – số tử thi tìm trong đợt đầu sau cuộc chiến, 1968

809 – số tử thi tìm trong đợt nhì, kể cả tìm thấy ở đụn cát, tháng 37 năm 1969

428 – số tử thi tìm trong đợt thứ ba, trong khe Đá Mài (khu Nam Hoa) – tháng 9 năm 1969

300 – số tử thi tìm trong đợt thứ tư, khu Phu Thu, tháng 11 năm 1969

100 – số tử thi tìm thấy các nơi trong năm 1969

1.946 – mất tích (tính đến năm 1970)’

Theo soạn giả Matthew White ghi lại trong Atrocities: The 100 Deadliest Episodes in Human History (Tàn khốc: 100 sự kiện tử vong cực cao trong lịch sử nhân loại) thì vụ thảm sát ở Huế năm 1968 được ông trích dẫn từ các nguồn khác nhau cho rằng “đã có 2.800 người bị giết và 3.000 người mất tích do Việt Cộng thực hiện”.

Theo Gareth Porter, một học giả Mỹ, các ước lượng ban đầu của Bộ Di dân và An sinh Xã hội Việt Nam Cộng hòa, số dân thường thiệt mạng do giao tranh và bom pháo là 3.776, trên tổng số dân thường bị thương, chết hoặc mất tích là 6.700 người, chứ không phải các con số 944 và 7.600 do Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đưa ra. (Các con số 944 và 7.600 này đã được Pike Douglas dùng trong thống kê của mình.)”

Ảnh: http://i.ytimg.com/vi/1CaSTPIRP0o/maxresdefault.jpg

Vẫn theo Wikipedia:

Thảm sát tại Huế Tết Mậu Thân (tiếng Anh: Hue massacre) là tên gọi một sự kiện trong Chiến tranh Việt Nam khi phát hiện nhiều ngôi mộ tập thể chôn tử thi trong chiến trận Huế. Việc phát hiện hố chôn xảy ra khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mở cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân và đóng ở Huế một tháng, sau đó bị triệt thoái trước sự phản công của Quân lực Việt Nam Cộng hòaQuân đội Hoa Kỳ.[

Cho đến nay, tài liệu từ cả phía Việt Nam và Mỹ vẫn quy trách nhiệm cho nhau về nguyên nhân và tính xác thực của sự kiện này. Trong khi đó, các nhóm phản chiến và nhiều học giả phương Tây khẳng định rằng số lượng và hoàn cảnh của những người bị giết đã bị khuếch đại và ngụy tạo để phục vụ mục đích tuyên truyền trong chiến tranh. Nguồn từ phía quân Giải phóng thì ghi nhận họ đã chôn nhiều thường dân chết do hỏa lực hạng nặng của Mỹ cùng với binh sĩ tử trận của chính họ.”

Tôi tạm thời “chưa” bận tâm (lắm) về chuyện “trách nhiệm” của phe nào trong vụ thảm sát hàng chục ngàn người trong vụ Mậu Thân. Tôi chỉ (trộm) nghĩ rằng tại một vùng đất đã xẩy ra một trong “100 sự kiện tử vong cực cao trong lịch sử nhân loại” thì chính quyền địa phương, hàng năm, nên tổ chức một buổi lễ tưởng niệm những nạn nhân – bất kể bên nào.

Không làm được như vậy, đã đành, mà còn thực hiện “những màn pháo hoa đầy màu sắc … nhằm tạo không khí rộn ràng, vui tươi cho người dân cố đô nhân kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Thừa Thiên Huế” thì e đây là một chuyện (rất) thất nhân tâm – nếu chưa muốn nói là ngu xuẩn – nhất là khi ngân qũi quốc gia (phần lớn) nếu không đến từ kiều hối, từ tiền viện trợ, tiền bán rừng, bán khoáng sản thô hay tiền vay mượn của nước ngoài.

Công du Bắc Kinh, Việt Nam được gì?

Công du Bắc Kinh, Việt Nam được gì?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-04-14

04142015-what-vn-got-th-cn-visi.mp3

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (trái) Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, trao đổi cùng ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tại Bắc Kinh, Trung Quốc, ngày 07 tháng tư, năm 2015

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (trái) Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, trao đổi cùng ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tại Bắc Kinh, Trung Quốc, ngày 07 tháng tư, năm 2015

AFP

Your browser does not support the audio element.

Chuyến đi Bắc Kinh của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và phái đoàn đã kết thúc bằng các bài viết ca tụng sự hợp tác của hai nước từ các kênh chính thức của Trung Quốc, tuy nhiên trên hệ thống truyền thông dòng chính của Việt Nam hầu như không có bài viết quan trọng nào ca ngợi những gì mà phái đoàn đạt được, nhất là về vấn đề Biển Đông. Mặc Lâm ghi nhận ý kiến từ các chuyên gia, trí thức trong và ngoài nước về sự kiện kiện này.

Lo nhiều hơn vui

Trước khi chính thức sang Hoa Kỳ nhân dịp kỷ niệm 20 năm bang giao Hoa kỳ Việt Nam, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã dẫn một phái đoàn hùng hậu sang Bắc Kinh. Đây là lần thứ sáu ông Trọng sang Trung Quốc nhưng có lẽ đây là lần ông được tiếp đón hết sức trọng thể với nghi thức ngoại giao dành cho một nguyên thủ quốc gia mà Bắc Kinh ưu ái dành cho ông. Những nghi thức lễ tân đặc biệt đã cho thấy thái độ xoay chuyển đầy ý nghĩa của lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam.

Người ta còn nhớ chỉ vài tháng trước đây khi Trung Quốc mang giàn khoan HD-891 vào khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam ông Trọng từng yêu cầu nói chuyện với ông Tập Cận Bình nhưng không được đáp ứng. Lần này, sự hào phóng của Trung Quốc được truyền thông nước này hết lời tâng bốc cho thấy cục diện đã khác. Phải chăng Trung Quốc muốn lôi kéo Việt Nam trở lại quỹ đạo của họ trước khi bị Hoa Kỳ kéo ra khỏi vòng quay mà hơn nửa thế kỷ qua Đảng Cộng sản Việt Nam không cách nào thoát ra được?

Tuy nhiên, căn cứ trên những gì mà truyền thông Trung Quốc đưa ra trong 4 ngày công du Bắc Kinh của TBT Nguyễn phú Trọng, trí thức Việt Nam tỏ ra thất vọng và lo lắng nhiều hơn trước. Theo Tân Hoa Xã cho biết hai nước đã đồng ý trên nguyên tắc hoạt động của “Nhóm bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển” các lĩnh vực ít nhạy cảm, tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển Vịnh Bắc Bộ, sớm khởi động khảo sát chung tại vùng biển này trong năm 2015.

” Đây là chỉ dấu cho thấy sự hợp tác để cùng khai thác, một đặc điểm hợp tác mà Trung Quốc luôn nắm cán đối với Việt Nam trong nhiều thập niên qua bởi sự lệ thuộc quá sâu vào hệ thống chính trị cũng như nguồn vốn, khoa học kỹ thuật của Việt Nam cách nhau quá xa so với Trung Quốc.”

Đài phát thanh CRI của TQ cũng bình luận về con đường tơ lụa trên biển và cho rằng quan hệ Trung-Việt chiếm vị trí quan trọng trong bố cục lớn về ngoại giao xung quanh của Trung Quốc trên nguyên tắc cùng thương lượng, cùng xây dựng, cùng chia sẻ. Nhận xét về vấn đề này PGS TS Hoàng Ngọc Giao cho biết:

-Về câu chuyện “con đường tơ lụa trên biển” thì tôi thấy tham gia vào con đường tơ lụa trên biển của họ cũng lại là cái trò dùng kinh tế để che đậy các mưu đồ về chiến lược, về quân sự, địa chính trị. Một mặt thì họ xây đảo, mặt khác họ tung tiền ra gạ các nước trong khu vực làm con đường tơ lụa trên biển, họ bỏ ra mấy chục tỷ đô la thế nhưng mà nếu đứng từ lợi ích dân tộc để phân tích thì ta được lợi gì trong “con đường tơ lụa”? trong khi vấn đề chủ quyền biển đảo của chúng ta vẫn đang dần dần bị họ gậm nhấm. Họ đang gậm nhấm, họ xây cả một đảo Gạc Ma, rồi đảo Chữ Thập đảo Gaven…họ làm cả căn cứ quân sự lớn trên đấy. Không phải mai mốt nữa mà rõ ràng hiện nay sự hiện diện đấy nó không chỉ là xâm chiếm mấy cái đảo mà nó án ngữ toàn bộ đường ra Biển Đông của mình.

Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết vào ngày 08 tháng 5 là các tàu Trung Quốc bảo vệ giàn khoan 981 đặt sâu trong vùng biển thuộc chủ quyền  của Việt Nam đã sử dụng vòi rồng để tấn công các tàu tuần tra Việt Nam và liên tục đâm chúng, làm bị thương sáu người.

Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết vào ngày 08 tháng 5 là các tàu Trung Quốc bảo vệ giàn khoan 981 đặt sâu trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam đã sử dụng vòi rồng để tấn công các tàu tuần tra Việt Nam và liên tục đâm chúng, làm bị thương sáu người.

Mai mốt tàu thuyền ngư dân của mình sẽ ảnh hưởng. Trước khi họ chưa có sự hiện diện thường xuyên ở đấy thì họ đã cấm đánh bắt cá, họ làm khó ngư dân mình, họ cướp tàu, họ đánh đắm tàu mình…khi mà họ có sự hiện diện thường xuyên thì toàn bộ vùng đo làm sao còn nơi sinh sống cho ngư dân? Đấy là chưa kể nếu họ lập vùng thông báo bay kiềm soát về hàng không nữa thì như vậy vể mặt địa chính trị. An ninh mà nói thì đó là một đe dọa thực sự rất lớn đối với chủ quyền biển đảo của chúng ta.

” Họ đang gậm nhấm, họ xây cả một đảo Gạc Ma, rồi đảo Chữ Thập đảo Gaven…họ làm cả căn cứ quân sự lớn trên đấy. Không phải mai mốt nữa mà rõ ràng hiện nay sự hiện diện đấy nó không chỉ là xâm chiếm mấy cái đảo mà nó án ngữ toàn bộ đường ra Biển Đông của mình

PGS TS Hoàng Ngọc Giao”

Bên cạnh những thỏa thuận thúc đẩy đầu tư mà Việt Nam khẩn khoản đề nghị, Trung Quốc cho biết sẵn sàng đưa những tập đoàn kinh tế hàng đầu của nước này sang Việt Nam trong đó có tập đoàn sản xuất thiết bị viễn thông Huawei. Theo dõi vụ này GS Nguyễn Văn Tuấn từ Sydney đưa ra mối quan tâm của ông:

-Tập đoàn Hoa Vi (Huawei) là một tập đoàn chính phủ Trung Quốc được xem là có những thương vụ không rõ ràng. Chính phủ Úc, Canada và theo tôi biết cả chính phủ Mỹ cũng vậy đã tẩy chay tập đoàn này không cho họ đầu tư cơ sở vật chất ví nó có thể đe dọa an ninh đất nước của họ. Thế nhưng ở Việt Nam chúng ta thì tình hình rất khác, chúng ta chào đón công ty đó có vẻ rất nồng nhiệt và theo thực tế như tôi biết thì công ty này đã tứng làm ăn với Việt Nam trong quá khứ, rất nhiều bộ phận viễn thông, trang thiết bị viễn thông cũng nhập từ Hoa Vi cả…thành ra tất cả những cái đó nó làm cho mình quan tâm đến an ninh của Việt Nam

Trí thức trong nước đặc biệt quan tâm tới cụm từ “nhận thức chung” mà Thông cáo chung đã nêu lên. Bàn về vấn đề này, GS Nguyễn Ngọc Trân nguyên đại biểu Quốc Hội cho biết nhận xét của ông:

-Cái nhận thức chung là hai bên cùng thức hiện chứ không phải nhận thức chung thì chỉ một mình Việt Nam thực hiện mà Trung Quốc cũng phải thực hiện nữa. Như ông Thủ tướng có trả lời các đại biểu quốc hội ở Kiên Giang tại kỳ họp thứ 7 của Quốc hội vừa rồi là “mình hợp tác vừa đấu tranh với Trung Quốc buộc họ cũng phải thực hiện theo những điều ước mà luật pháp quốc tế vá Công ước về Luật biển năm 1982 có DOC và COC.

Công trình xây dựng của Trung Quốc trên Đá Gạc Ma, ảnh chụp từ vệ tinh ngày 15/11/2014.

Công trình xây dựng của Trung Quốc trên Đá Gạc Ma, ảnh chụp từ vệ tinh ngày 15/11/2014.

Chuyến thăm vừa rồi của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là một hoạt động đối ngoại của mình nó không phải là toàn bộ hoạt động đối ngoại của mình trong vấn đề Biển Đông mình phải vửa hợp tác vừa đấu tranh. Đấu tranh trên cơ sở nào. Đấu tranh không có nghĩa chỉ đối đầu mà thôi còn có vấn đề hợp tác, vấn đề nhận thức chung nhưng mà không đủ, còn phải có luật pháp quốc tế, phải có Công ước luật biển mà đây chính là cơ sở đề mình cùng với những nước khác có cùng quyền lợi chung trên Biển Đông.

Riêng PGS TS Hoàng Ngọc Giao thì đặt câu hỏi:

-Nhận thức chung hay còn gọi là nhận thức chung của lãnh đạo, thế bây giờ nhân dân chả biết nhận thức chung của lãnh đạo cao cấp là gì? chả thấy công bố gì cả. Hai bên nhận thức chung với nhau như thế nào thì đây cũng là một dấu hỏi lớn.

Hành động coi thường của Trung Quốc

Mặc dù nói lời ngon ngọt với Việt Nam như vậy nhưng khi phái đoàn của TBT Nguyễn Phú Trọng đang trên đường về nước thì Trung Quốc công khai vén bức màn xây dựng các căn cứ quân sự trên đảo Vành Khăn nơi họ chiếm của Việt Nam trước đây. GS Nguyễn Văn Tuấn nhận xét:

” Thái độ của Trung Quốc rõ ràng chơi với mình không đẹp. Trong khi họ đón ông Tổng bí thư có thể nói là rất trọng hậu thế nhưng khi đoàn của ông Tổng bí thư chưa về tới Việt Nam thì họ đã xây dựng nhiều công trình ở đảo Vành Khăn như chúng ta đã biết

GS Nguyễn Văn Tuấn”

-Thái độ của Trung Quốc rõ ràng chơi với mình không đẹp. Trong khi họ đón ông Tổng bí thư có thể nói là rất trọng hậu thế nhưng khi đoàn của ông Tổng bí thư chưa về tới Việt Nam thì họ đã xây dựng nhiều công trình ở đảo Vành Khăn như chúng ta đã biết. Khi được hỏi tại sao họ làm như vậy thì họ trả lời rất ngênh ngang tuyên bố đó là đảo của họ nên họ muốn làm gì thì làm! Thực ra những đảo đó họ đã cướp từ Việt Nam, nếu dùng chữ “cướp” thì có lẽ cũng không quá đáng.

Cái cách mà họ nói như vậy tôi thấy điều thứ nhất, nều nói nhẹ một chút thì nó rất bất lịch sự với đoàn của Việt Nam. Nếu nói nặng hơn một chút thì tôi nghĩ rằng thì đó là thái độ xem thường mình. Tôi rất ngạc nhiên phía Việt Nam không thấy ai lên tiếng trên báo chí, công luận nên tôi rất ngạc nhiên. Tôi nghĩ mình nên có thái độ song phẳng và bình đẳng hơn ví tất cả các việc làm của họ thì phía Việt Nam đều im lặng, thậm chí không dám nhắc đến, ai cũng bức xúc nhưng nhà nước cứ giữ im lặng thì thái độ và hành vi này làm cho Trung Quốc họ lấn tới.

Tất nhiên khi nói cứng rắn bình đẳng không có nghĩa là mình đòi hỏi họ phải làm tất cả những chuyện mình muốn nhưng ít ra mình cũng phải lên tiếng để cho họ thấy rằng mình có chủ quyền và phải tôn trọng mình chứ không thể lấn lướt tới hoài như vậy được

Từng là Vụ trưởng của Ban biên giới chính phủ có lẽ PGS TS Hoàng Ngọc Giao không lạ gì sự trở mặt của Trung Quốc trong khi tranh chấp với Việt Nam, ông cho biết:

-Đây là một chiến thuật của Trung Quốc trong quan hệ với Việt Nam họ vừa xoa lại vừa lấn tới, họ vừa xoa vừa đánh mình. Có hai ý mà tôi thây không ổn, ông Tập Cận Bình ông ấy nói rằng hai bên phải có cách tiếp cận mới, có ý tưởng mới cho cái quan hệ Việt Trung. Chúng ta thấy gì? Quan hệ Việt Trung cho đến nay họ xâm lấn biển đảo của mình, họ gây nhiều chuyện với mình, với ngư dân mình thế mà bây giờ lại kêu gọi cách tiếp cận mới, ý tưởng mới. Có nghĩa những cái gì đã xảy ra thì không đề cập lại. Đó là chiến thuật mà nói rõ hơn là một âm mưu theo cái kiều vừa đấm vừa xoa, dường như phớt lờ đi chuyện tồn tại. Họ dùng cái từ “kiểm soát tranh chấp ở trên biển”. Thế nào là kiểm soát? Cùng nhau kiểm soát là thế nào? Phải giải quyết chứ?

Phải chăng cùng nhau kiểm soát là giữ nguyên cái hiện trạng này đừng để chuyện tranh chấp này được giải quyết, còn họ thì cứ có lợi. Theo tôi điều này không ổn.

Giới chuyên gia về vấn đề Biển Đông lo ngại rằng những gói kinh tế mà Trung Quốc đem ra nhử Việt Nam sẽ làm cho một số lãnh đạo tin rằng lần này họ có thiện chí hơn trước, tuy nhiên so với những gì mà Việt Nam mang về từ Bắc Kinh thì không ai có thể lạc quan, vì kinh nghiệm quá nhiều vào những gì mà Trung Quốc đã từng làm trong vấn đề Biển Đông.

Bạn sẽ dạy con trẻ thế nào về sự thật và lịch sử Việt Nam?

Bạn sẽ dạy con trẻ thế nào về sự thật và lịch sử Việt Nam?

– Tin nổi bật, Blog Thành Viên

VRNs (14.4.2015) – Sài Gòn  – Cấp 1, cấp 2, cấp 3 tôi là một trong số những đứa học trò cưng của môn sử bởi vì tôi luôn “thuộc làu” những bài học lịch sử bằng tất cả tình yêu quê hương, yêu đất nước VN hào hùng với những trang sử đầy ắp chiến công, chiến thắng. Chỉ có điều hơi khó khăn khi phải thuộc nằm lòng những con số chính xác: Quân ta đã bắn chết bao nhiêu tên địch, bắn rơi bao nhiếu chiếc máy bay, thu gom được bao nhiêu loại vũ khí…Khổ lắm, với tôi những con số cứ rối loạn, rối tung cả lên nhưng không thuộc lòng là không được nếu muốn bài thi đạt điểm cao tuyệt đối…

Rồi lịch sử trong những trang sách giáo khoa đã nuôi dưỡng trong tôi sự thù hận, tôi hận bọn Mỹ, bọn Ngụy ghê ghớm. Tuổi thơ đầy ắp những dấu hỏi sao bọn Mỹ, bọn Ngụy lại ác đến thế? Khi phải đọc và thuộc lòng những đoạn mô tả hình phạt tra tấn khủng khiếp bọn Mỹ Ngụy dành cho các chiến sĩ cách mạng là hầu như tôi đều sợ đến mức nổi da gà, rùng mình và ám ảnh mãi với những hình ảnh khủng khiếp…Chúng khiến cho tâm hồn tôi, tuổi thơ tôi nhuốm đầy máu bạo lực, sự sợ hãi và cả sự hận thù sâu sắc…

Một bài toán dạy con trẻ tính bạo lực. Ảnh FB Bạch Cúc

Một bài toán dạy con trẻ tính bạo lực. Ảnh FB Bạch Cúc

Rồi tôi yêu Hồ Chủ Tịch, yêu tha thiết vì Bác giỏi quá. Tôi không hiểu sao Bác có thể nói được 29 thứ tiếng…Đêm đêm tôi nằm mơ thấy Bác, tôi thuộc lòng những “Câu chuyện kể về Bác Hồ” với niềm tự hào và vinh dự ngất ngưởng khi được chọn đi thi kể chuyện về Bác…
Khoảng cấp 3, tôi nhớ mãi một cuộc tranh luận ngắn giữa ba mẹ và người chị ruột của tôi. Chị ấy là giáo viên dạy sử, trong bữa cơm gia đình chị ấy dõng dạc tuyên bố đất nước Việt Nam thật thanh bình, không có chiến tranh, không có khủng bố và nói chung các nước trên Thế Giới đầy ắp sự bất an, chỉ có Việt Nam là số một an toàn và hòa bình… Tôi nhớ rõ ràng cảm giác nghẹn sững sờ của cha mẹ tôi, ông bà cố nói một vài câu phản biện lại điều đó nhưng trước cử chỉ hùng hồn và sự khẳng định mạnh mẽ của chị, ông bà đành chốt câu cuối thế này: Cha mẹ sống qua hai chế độ, cha mẹ biết và hiểu rõ nhất chế độ nào tốt, chế độ nào không tốt. Chỉ có điều có nói bây giờ con cũng không chịu tiếp nhận, có lẽ rồi trong tương lai con sẽ nhận ra sự thật và sẽ hiểu…Có điều gì đó băn khoăn, hoài nghi trong lòng tôi, có những dấu hỏi to dần, to dần và chưa có lời giải đáp…

Thằng nhỏ con tôi đi nhà trẻ về ngêu ngao bài hát ” Ai yêu Bác Hồ Chí Minh bằng các em nhi đồng”, rồi đêm đó nó nằm mơ thấy Bác y như mẹ ngày xưa. Sáng sớm nó hồ hởi nói với tôi với một giọng vô cùng hạnh phúc là mẹ ơi con mơ thấy Bác Hồ, con yêu Bác Hồ lắm…Trong lòng tôi bỗng quặn lên một nỗi niềm khó tả, nó như giọt nước tràn ly khiến tôi hét lên một câu vô nghĩa và nói một điều chẳng hay ho gì với thằng nhỏ, rồi những ngày sau đó, con tôi luôn nắm áo tôi và hỏi, mẹ ơi mẹ nói Bác Hồ như vậy nghĩa là sao?…

Bạn sẽ dạy cho con bạn, cho trẻ nhỏ về lịch sử Việt Nam thế nào đây? Bạn sẽ nói sự thật hay nói theo những điều dối trá theo sách vở mà bao năm qua nó đã hủy hoại nhận thức của bạn, và kế tiếp là hủy hoại thế hệ con của bạn? Bạn dạy thế nào? Dạy bằng cách nào khi ở trường con bạn vẫn phải học và trả bài thuộc làu làu theo giáo trình lịch sử? Bạn làm ngơ hay cố gắng giải thích? Con bạn sẽ tin bạn hay tin cô giáo, tin nhà trường vì sự sợ hãi và áp lực của việc học tập?…
Bạn có muốn những thế hệ tiếp theo sẽ là những con cừu y chang bạn? Bạn có muốn con bạn khi bắt đầu trưởng thành, khi tới thời điểm nhận ra chân lý và sự thật thì đồng thời cũng là lúc cảm thấy vô cùng tức giận, thấy hụt hẫng và hoàn toàn mất niềm tin? Tôi từng cảm thấy buồn giận cha mẹ mình, tôi tự hỏi sao cha mẹ không dạy tôi sự thật mà cha mẹ là người biết rõ nhất. Sao cha mẹ không chia sẻ sớm với tôi về lịch sử đất nước này, dân tộc này và định hướng cho tôi tự tìm hiểu, tự so sánh và tự tìm ra chân lý bằng tư duy của chính mình. Tôi đã bị bịt mắt quá lâu trong một đường hầm đen tối để rồi tôi hoang mang, hụt hẫng, đau đớn khi phải lần mò từng bước, lần mò tìm lại từng chút ánh sáng của sự thật để trở thành như ngày nay, tôi thật sự tiếc vì đã mất quá nhiều thời gian…

Bạn hãy dạy cho con trẻ, những thế hệ sau bạn biết tôn trọng sự thật và chân lý…Đừng chần chừ, đừng ngại ngần, đừng sợ hãi khi nhắc đến sự thật bởi sự thật là chân lý. Dù bạn có cố né tránh hay che đậy sự thật thì sự thật vẫn vây quanh bạn, tác động đến bạn và nhắc nhớ cho bạn biết rằng, bạn đã hèn nhát với chính bản thân mình và đang rất tàn nhẫn với các thế hệ mai sau…
Muốn đất nước thay đổi bạn phải thay đổi, điều thay đổi dễ dàng nhất là hãy dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, chấp nhận nó và đồng hành giúp con bạn, giúp những người trẻ tiếp nhận sự thật càng sớm càng tốt. Nếu tất cả các bậc làm cha làm mẹ trên toàn nước Việt Nam này can đảm nói sự thật với con mình và giúp con quay lưng với dối trá thì tôi tin rằng đất nước này sẽ sớm thay đổi, thật thế!

FB Bạch Cúc

Gió mới cho ngày 30/4

Gió mới cho ngày 30/4

Đỗ Kỳ Đăng Gửi cho BBC từ thành phố Seattle, Hoa Kỳ

2015 đánh dấu 40 năm kết thúc cuộc chiến Việt Nam

Chiến tranh Việt Nam (1954-1975) là cuộc chiến huynh đệ tương tàn.

Theo tôi, ước mơ cho một cuộc sống tốt đẹp và một tương lai tươi sáng của người Việt Nam khắp ba miền đã bị lợi dụng bởi những chính trị gia với những con bài chủ nghĩa xã hội hay tự do dân chủ. Khởi đầu từ những ước muốn được thay đổi, người dân Việt đã chọn những con đường khác nhau để đi tới ước mơ đó. Nhưng những ước mơ đã bị đánh cắp. Những tương lai hứa hẹn đã được thay thế bằng những nỗi đau, những mất mát, những hận thù truyền đi nhiều thế hệ, những kỳ thị và phân biệt tồn tại qua hai thế kỷ.

Tôi là một du học sinh Việt Nam chưa đầy 18 tuổi, sinh ra trong một nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa bởi một gia đình Việt Nam Cộng Hòa. Tôi có những người ông đứng cả hai bên chuyến tiến trong cuộc nội chiến đó. Tôi cũng có những người bà trở thành góa phụ, một mình chèo chống nuôi nấng các con. Tôi có những người bạn có bố làm công an cho chính quyền hiện tại. Tôi cũng có những người bạn có bố vượt biên và bị bắt bỏ tù.

“Đừng thay nhau giành lấy cây búa để tự làm đau mình, hãy cùng nhau tìm cách làm sao cho tương lai Việt Nam được huy hoàng.”

Ngày 30 tháng 4, tôi nên có cảm tưởng gì đây?

Ai đúng, ai sai, ai gây ra cuộc chiến, v.v. là chuyện của lịch sử. Mà lịch sử thì luôn có tranh cãi, và tranh cãi được tạo ra bởi con người. Khi người ta vẫn khư khư ôm lấy niềm tin của mình một cách tuyệt đối như một tâm linh tính ngưỡng, cuộc tranh cãi sẽ không có hồi kết. Cuộc nội chiến hai mươi năm có thể trở thành một cuộc khẩu chiến một ngàn năm. Cuối cùng chúng ta, những người Việt Nam, sẽ được gì? Nên nhớ rằng khi chúng ta lỡ tay dùng tay cầm búa đánh vào ngón tay cầm đinh thay vì cây đinh, cái tay cầm búa sẽ buông búa ra và xoa vào cái tay cầm đinh chứ tay cầm đinh không giật cây búa lại để trả thù. Đừng thay nhau giành lấy cây búa để tự làm đau mình, hãy cùng nhau tìm cách làm sao cho tương lai Việt Nam được huy hoàng.

Câu hỏi cấp thiết nhất mà chúng ta cần giải đáp là làm gì để phát triển Việt Nam thành một con hổ của châu Á và giải quyết hằng hà các vấn đề chướng tai gai mắt mà chúng ta đã nghe đi nghe lại đến phát chán từ báo đài.

Cải cách tư duy thế hệ trẻ bằng những cách làm khác?

Giới trẻ Việt Nam là chìa khóa. Giới trẻ là mục tiêu. Đa số giới trẻ không quan tâm chính trị, họ không quan tâm tự do dân chủ, không quan tâm Đảng và nhà nước, không quan tâm quyền bầu cử, không quan tâm kinh tế vĩ mô.

Giới trẻ thích thời trang, thích xem hài, thích chân dài, v.v. Vì sao? Chính trị quá chán. Chính trị là việc của những ông già thích nói, nói, nói và nói. Nói liên miên, nói chuyện trên trời dưới đất, chuyện đâu đâu, chuyện không liên quan gì tới giới trẻ cả! Nói chuyện chính trị kiểu Đảng và nhà nước thì ai cũng đã nghe đầy tai rồi. Nói chuyện kiểu khác thì nhiều bạn trẻ coi là phản động, rồi tạo ra một mớ lùm xùm chửi nhau inh ỏi trên Internet.

” Muốn đánh thức giới trẻ khỏi cảnh thờ ơ chính trị phải làm đúng cách. Thứ nhất là tin chính trị phải thiết thực. Thứ hai là phải vui và hấp dẫn. Thứ ba là càng súc tích cáng tốt. Thứ tư là phải khách quan và trung lập.”

Điều mà giới trẻ quan tâm là việc làm. Việc làm gắn liền với giáo dục và kinh tế. Nếu những vấn đề về việc làm cho nhiều đối tượng từ sinh viên đại học cho tới công nhân trẻ sẽ giúp họ quan tâm hơn về hệ thống giáo dục và nền kinh tế.

Muốn đánh thức giới trẻ khỏi cảnh thờ ơ chính trị phải làm đúng cách. Thứ nhất là tin chính trị phải thiết thực. Thứ hai là phải vui và hấp dẫn. Thứ ba là càng súc tích cáng tốt. Thứ tư là phải khách quan và trung lập.

Một điều nữa là vấn đề ăn uống, sức khỏe của Việt Nam. Đây là điều báo chí lề phải có thể làm được để giúp thay đổi tình hình. Nếu các vị cứ tiếp tục đăng và nhấn mạnh tính trầm trọng của những vấn đề về ăn uống, thực phẩm với thuốc trừ sâu quá nhiều, v.v. cùng với những lời bình luận là chính phủ thiếu những cơ quan khách quan, hiệu quả, và những luật bảo vệ người tiêu dùng như những nước khác. Giới trẻ sẽ lên tiếng và chính phủ phải hành động.

Một điều quan trọng không kém để phát triển giới trẻ là phải cải cách tư duy của họ, cho họ tiếp cận thông tin, kiến thức nhiều nguồn, và phải có hệ thống thư viện hiệu quả toàn quốc.

Phải tạo cho người Việt Nam có tư duy phê phán, phải biết sử dụng nhiều nguồn để tìm hiểu, xác minh thông tinh chứ không thể mãi nghe theo một chiều và tin ngay vào nó được. Khi nghe thông tin thì họ phải thắc mắc về nguồn thông tin, số liệu được thống kê bởi ai, khảo sát bao nhiêu người. Khi đọc một bài bình luận thì họ phải thắc mắc tác giả là ai, có trình độ chuyên môn, hiểu biết tới cỡ nào, khách quan cỡ nào.

Các nhà yêu nước nên tài trợ các khóa huấn luyện tư duy này. Các nhà dịch thuật hãy dịch những sách kinh doanh, kinh tế, khoa học, công nghệ, lối sống, tư duy từ những tác giả phương Tây càng nhiều càng tốt. Các trang báo lớn hãy tạo một mục giới thiệu sách như các tờ New York Times, Wall Street Journal, Guardian vẫn thường làm. Hãy sử dụng diễn viên, ca sĩ, danh hài để giới thiệu và bình luận sơ bộ về sách. Chúng ta cần có hệ thống thư viện toàn quốc với sách hay, sách mới cập nhật. Có thể thực hiện một thư viện trực tuyến với ebook để tiết kiệm chi phí.

Có như vậy mới truyền cảm hứng và điều kiện công bằng cho mọi người trẻ Việt Nam có thể tiếp xúc với các nguồn tri thức khác nhau để khám phá và theo đuổi đam mê của mình khắp các ngành nghề từ khoa học-kỹ thuật tới công nghệ, truyền thông, hay kinh doanh nghệ thuật.

Có như vậy thì Việt Nam mới phát triển để trở thành một nơi đáng sống, một đất nước đáng tự hào và xứng với tiềm năng của mình.

Chuyện ngày 30 tháng 4 chúng ta có thể quay lại bàn sau cũng đâu có muộn!

Giấc mơ 40 năm chưa thành

Giấc mơ 40 năm chưa thành

Tidoo Nguyễn Gửi cho BBC từ Sài Gòn

Nhiều người miền Nam lên tàu chạy trốn vào cuối cuộc chiến năm 1975

40 năm đánh dấu sự kiện quân đội Bắc Việt chiếm lĩnh và cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập, và cũng là 40 năm đánh dấu ngày tôi ra đời trong ngày đầu tiên của chế độ mới.

Nền giáo dục của chế độ mới dạy tôi rằng ngày 30 tháng 4 là ngày “Thống nhất đất nước”, “Ngày giải phóng miền Nam” bằng chiến thắng vẻ vang. Nhưng khi lớn lên tôi nhận thức được rằng mình phải tìm hiểu sự thật về sự kiện ngày 30 tháng 4.

Mãi cho đến đầu thế kỷ 21 tôi mới tiếp cận được với internet và tìm hiểu sự thật lịch sử qua những tài liệu bằng tiếng Anh trên những trang web nước ngoài, qua những đoạn phim tài liệu về những ngày cuối cùng của Sài Gòn được đăng tải trên Youtube. Và gần đây nhất là được xem bộ phim tài liệu đầy đủ mang tên “Last days in Vietnam”.

Vào ngày 3 tháng 4 năm 1975, khi chiến tranh đã đến hồi hỗn loạn, tổng thống Mỹ Gerald Ford tuyên bố tất cả trẻ em mồ côi Việt Nam ngay lập tức sơ tán bằng máy bay ra khỏi Sài Gòn. Ước tính có 3.000 trẻ em, bao gồm 150 trẻ sống sót trên máy bay C-5 bị rơi, đã được sơ tán ra khỏi miền Nam Việt Nam vào khoảng ngày 3 tháng 4 cho đến 26 tháng 4 năm 1975. Cuộc sơ tán đó là chiến dịch không vận trẻ em Việt Nam hay còn gọi là Operation Babylift.

Tôi đã tham gia vào những cộng đồng “Operation Babylift” trên Facebook, đọc những câu chuyện của những đứa trẻ ấy, và tìm hiểu những thông tin liên quan đến chiến dịch không vận trẻ em Việt Nam trên báo mạng. Qua đó tôi đã biết được những đứa trẻ nàyđã và vẫn tiếp tục dằn dặt với những câu hỏi : “Tại sao tôi là con nuôi?”, “Tại sao bố mẹ đẻ bỏ rơi tôi?”, “Tại sao tôi là người Châu Á duy nhất trong khi các thành viên trong gia đình là da trắng?” Cũng không ngoại trừ trường hợp có người trong số đó muốn đánh đổi tất cả để trở thành người da trắng.

Mỉa mai thay, tôi đã từng mơ ước rằng mình là một trong những đứa trẻ của chiến dịch không vận trẻ em Việt Nam, được đưa ra khỏi đất nước Việt Nam để làm con nuôi cho gia đình ở nước ngoài trong chiến dịch đó. Nếu được như vậy thì cuộc đời của tôi đã không phải chịu đựng nhiều cơn đói khát, đau đớn trong quá khứ và đầy lo âu ở hiện tại.

Những năm đầu đời của tôi cũng là những năm tháng đất nước bị “ngăn sông cấm chợ”.

Thời đấy tôi không mong ước gì hơn ngoài việc được ăn no. Bữa ăn mà tôi mơ ước chỉ cần có cơm và muối ớt. Thế nhưng cơm và muối ớt là những bữa ăn vô cùng hiếm hoi trong gia đình tôi. Hàng ngày, chúng tôi hái những quả mít non, quả chuối xanh, cắt những mụt măng sau nhà hay đi lượm mót từng hạt mít mà người ta bỏ đi để đem về luộc lên ăn. Chúng tôi ăn cả vỏ khoai mì, cây chuối non để sống. Những hôm “nguồn tài nguyên” cạn kiệt, chúng tôi không có gì để ăn đành nhịn đói ngủ qua đêm.

Cái mặc thì cũng không kém phần khó khăn như cái ăn. Quần áo cũ đứa lớn mặc không còn vừa thì đứa nhỏ hơn sử dụng lại. Tôi là con trai mà phải mặc quần áo của chị tôi. Vì vậy tôi thường là tâm điểm bị đem ra làm trò cười khi đến lớp học trong bộ quần áo của con gái. Chúng tôi không nhận được bất cứ sự trợ giúp nào từ chính phủ.

Tôi không còn mơ ước được sống ở nước ngoài mà mong ước đất nước Việt Nam có sự thay đổi lớn để lấy đi những nỗi lo của tôi và trả lại một xã hội có trật tự như miền Nam Việt Nam nói chung và như Sài Gòn nói riêng của những ngày tháng cũ.

Năm 1978, mẹ tôi chết trong nghèo khó vì không có tiền chữa bệnh, bỏ lại 6 đứa con, 3 gái và 3 trai. Tôi là con trai út trong nhà. Chúng tôi sống cùng người cha đẻ. Tuy nhiên, không phải người bố đẻ nào cũng thương con. Ông ta thường xuyên đánh đập và hành hạ tôi mà không cần lý do gì. Cho đến khi tôi 18 tuổi , thoát khỏi ngôi nhà để đến Sài Gòn sống thì mới tránh được những cơn đòn thừa sống thiếu chết của ông. Chính phủ không có bất cứ tổ chức nào để bảo vệ trẻ em bị ngược đãi.

Đất nước mở cửa đã hơn 25 năm, tôi đã đi làm cho những công ty nước ngoài. Ước mơ được ăn no của tôi đã thành hiện thực và không còn chịu đựng những cơn đau thể xác từ việc ngược đãi của người cha đẻ. Tuy nhiên, đêm đêm những cơn ác mộng vẫn ập về với hình ảnh bị hành hạ, bị đói khát. Và những nỗi lo về cuộc đời vẫn còn đó. Nếu chẳng may tôi thất nghiệp thì sẽ không có trợ cấp của chính phủ. Tôi chỉ có thể nhận được bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần vì tiền bảo hiểm đã bị trừ vào lương hàng tháng. Tuy nhiên, hiện nay bảo hiểm xã hội đang có nguy cơ vỡ quỹ, dẫn đến điều khoản vô lý của Luật bảo hiểm xã hội mới là không trả trợ cấp bảo hiểm một lần!

Ngoài ra, tôi đang đối đầu với những căng thẳng trong môi trường sống đang bị đe dọa, giao thông càng ngày càng hỗn độn, tệ nạn xã hội tràn lan, cướp giật hoành hành v.v.

Mặc dù vậy, tôi không còn mơ ước được sống ở nước ngoài mà mong ước đất nước Việt Nam có sự thay đổi lớn để lấy đi những nỗi lo của tôi và trả lại một xã hội có trật tự như miền Nam Việt Nam nói chung và như Sài Gòn nói riêng của những ngày tháng cũ.

40 năm đã đi qua, 40 năm nhìn lại với những ước mơ của tôi đã thay đổi theo thời gian. Tôi chỉ có một ước mơ hiện tại rất đơn giản mà đáng lẽ ra cuộc sống của một con người phải có. Chẳng lẽ cả đời này tôi không đạt được ước mơ ấy hay sao?

KINH NGHIỆM GẶP CHÚA

KINH NGHIỆM GẶP CHÚA

Đông Khê

Tôi không viết “Tiểu Sử”, vì tiểu sử của tôi không có gì đáng nói.  Tôi chỉ viết Lời Tâm Sự.

Tuổi mới lớn: NỖI BUỒN THỨ NHẤT:

“Một ngày đưa Mẹ vào Bệnh Viện
“Nghe người ta nói: “Mẹ cô điên”
“Mẹ ơi, nhát búa đập vào đầu
“Mẹ biết lòng con bao đớn đau

NỖI BUỒN THỨ HAI:

“Đám cưới Heo quay với Rượu vàng
“Nhà trai trổi nhạc đón dâu sang
“Bao nhiêu long trọng và Nghi Lễ
“Mà một cuộc đời phải nát tan

Vợ chồng tôi có 3 con.  Năm tôi 36 tuổi, chồng tôi bỏ nhà theo vợ bé bằng nửa tuổi tôi.

Tôi không có đạo.  Là con gái út của một gia đình nho phong, tôi ngơ ngác nhận ra rằng bằng cấp không làm nên đạo đức, vì chồng tôi đậu Cử Nhân Văn Khoa và Luật Khoa.

Tôi choáng váng: đất trời sụp đổ?  Nhưng:

“Thà không tri giác như cây cỏ
“Lỡ có tâm hồn với nước non

Tôi vận dụng tất cả ý chí để đương đầu với hoàn cảnh.  Tôi luôn luôn nhớ tôi là cây cột duy nhất của nhà nầy, là Xương Sống của gia đình.  Ba con chỉ có tôi là nơi nương tựa. Tôi tâm niệm phải nuôi con nên người.  Chúng phải no cơm ấm áo, học hành thành đạt.  Tôi không nhìn thấy tôi ở đâu cả, tôi chỉ thấy ba cuộc đời ấu thơ trước mắt và trong tim mình.

“Anh làm xô lệch gối chăn xưa.
“Tôi tiếc đời tôi phấn hương thừa,
“Một mình, tôi nuôi đàn con dại
“Lầm lũi bước đi tháng, năm dài.
“Nước mắt chảy vào trong,
“không để mình sầu mộng,
“tôi nuốt hết đơn côi.
“Tránh nhìn cả gương soi
“tôi chối bỏ nhan sắc mình còn đó

Đi làm, săn sóc con, mỗi ngày tôi chỉ “thở” khi ngồi trên Cyclo đến sở và về.  Người cô phụ nhìn thời gian trôi qua, năm nầy rồi năm khác, từng năm, lại từng năm.

“Thế gian vẫn lắm nẻo mòn
“Đường qua phố vắng vẫn còn đọng mưa

NỖI BUỒN THỨ BA:

Con gái chết, 7 tuổi, sau 3 ngày mắc bệnh sốt xuất huyết.  Mặc dầu cháu ở với mẹ, (ba cháu đã bỏ mẹ con tôi từ năm năm qua) trong giờ hấp hối, 4:00 AM, cháu quay mặt qua bên phải hỏi, “Ba đâu?” và quay bên trái, “Ba đâu?”  Lòng tôi đau như muối xát.  (Chú thích: Tình huyết nhục thiêng liêng dường ấy, xin đừng phá thai!)  Cháu trút hơi thở cuối cùng trên tay tôi, 4:05 AM, chỉ có hai mẹ con trong bệnh viện.  Chính đau thương nầy, sau này, với Ơn Chúa, đã thúc đẩy tôi đi làm thiện nguyện để xoa dịu đau thương của người khác.

“Thương con trong huyệt lạnh
“Nhớ con dưới mồ sâu
“Con ơi, sầu tử biệt
“Bao giờ còn thấy nhau?

Tôi khóc ngất:

“Khi đặt con nằm lòng đất lạnh
“Mẹ muốn thét lên đến tận trời!

Những ngày Việt Nam khói lửa, tôi không dám ngủ riêng, tối nào cũng kéo tấm nệm mỏng nằm ngủ dưới đất cạnh giường hai con, đề phòng nếu có bom đạn thì mẹ con sống cùng sống, chết cùng chết theo nhau.

Một thân vò võ, vừa làm mẹ, vừa làm cha, mỗi ngày, tôi cắm cụi sống với bổn phận, trách nhiệm, công việc.  Phải thú nhận tôi bám vào đó mà sống, không dám buông lơi, sợ mình sực nhớ đến nỗi cô đơn của đời cô phụ.

Nỗi khó khăn nhất của người thiếu phụ tóc hãy còn xanh, phải một mình đảm nhận trọng trách nuôi các con không phải là đời sống vật chất, mà là đời sống tinh thần.  Thiên nan vạn nan, con đường dài hiu quạnh.  Nhưng không phải là không vượt qua được.  Khi có một Lý Tưởng cao hơn sự mưu ích cho riêng mình, con người có thể quên mình.  Vì sao?  Vì Thượng Đế không bao giờ bỏ quên con người.  Giữa vũ trụ, vẫn có một sức thiêng làm đòn bật, giúp con người vượt thắng hoàn cảnh, dù đen tối đến đâu.  Chứng cớ là có một ngày đời sống tâm linh của tôi bắt đầu.

GIÂY PHÚT TRÙNG PHÙNG

Quá bận bịu với nhiệm vụ nuôi con, với đau thương chất ngất tháng ngày, tôi không nhận ra Thiên Chúa, mặc dù Ngài luôn luôn có mặt.  Không biết nguyện cầu, tôi không hiểu rằng Ngài vẫn có chương trình giải thoát cho mỗi thương đau thế trần.

Không bao giờ bỏ kẻ khổ đau, Thiên Chúa tìm mọi cách mời gọi tôi đón nhận Ngài để Ngài bước vào đời tôi, giúp tôi thoát khổ.  Trong dịp cùng hai con đi nghỉ mát – thật ra là đi tìm quên – tôi nằm trên thảm cỏ nhìn thác nước rơi trong bóng đêm.  Từ ánh đèn dưới chân thác, những luồng nước phun lên cao, với nhiều màu sắc khác nhau.  Một gợi ý từ đâu hiện ra trong trí tôi: Như mỗi luồng nước có một vẻ đẹp riêng, một màu sắc riêng, tôi có thể dùng tình cảm, tâm trí, năng lực của mình để phục vụ một Lý Tưởng khác:  Đổi Tình Yêu ra Tình Nhân Loại, lấy Tình Thương làm Hạnh Phúc .

Tôi không đủ sức, cũng không đủ lời để mô tả giờ phút ấy!  Giờ phút gặp gỡ Đấng Tạo Dựng nên mình, Người đã dùng chính hơi thở của Ngài để chuyền cho tôi sức sống!  Màn mây như thấp xuống.  Tôi nghe toàn thân mình mất trọng lượng, trở thành nhẹ tênh.  Không một tiếngđộng, không một bóng hình, mà tôi biết chắc một thân thương gần gũi đang bao trùm tâm hồn tôi, che phủ tôi.  Ràn rụa nước mắt, tôi ngước nhìn trời xanh.  Bầu trời im vắng, như chính tôi không thốt nên lời.

Khổ Đau càng nặng, thì Lòng Biết Ơn lại càng sâu.
Như người vừa tỉnh cơn mê, tôi bàng hoàng thổn thức:

“Tình Cha sâu lắng, mênh mông quá
Con lặng cúi đầu, nước mắt dâng.”

Tôi quyết định rửa tội để theo Người đã yêu tôi, đã chết cho tôi, đồng hành với tôi trong vui buồn cuộc sống.

Linh Mục đổ nước trên đầu tôi, và đọc những lời kinh.  Tôi không biết kinh gì, vì tôi đang bận đọc “Lời Kinh” của lòng mình: “Cha ơi, hôm nay, con mang trong mình Dấu Ấn của Cha.  Cha ơi, con sẽ là con Cha mãi mãi.” Ngẩng đầu lên, tôi mỉm cười một mình, giọt nước mắt rơi xuống bàn tay.

“Lạc loài từ độ năm nao
“Tìm về với Chúa trăng sao sáng ngời
“Biển ơi, biển có bồi hồi
“Có nghe rộng mở một Trời Yêu Thương?

Hết rồi, những năm tháng “chết lịm hồn, vì thiếu vắng Đức Tin.”

“Tình Cha như phép Nhiệm Mầu
“Như hoa nở muộn trên đầu mái hiên,
“Tình Cha là chiếc đ
ũa tiên
“Mang con trở lại với niềm an vui

Biệt tài của Thiên Chúa là đổi Nguy thành An, biến Họa thành Phúc.

Chồng tôi vẫn biền biệt, con gái đã qua đời, nhưng đời tôi có một ý nghĩa mới: tôi sống trong Tình Yêu Thiên Chúa, một Tình Yêu bất diệt, không đổi thay.  Một Tình Yêu sống động mỗi ngày. Ngài lắng nghe, dịu dàng, tha thiết, cảm thông và tha thứ, che chở và phù trợ, an ủi và đỡ nâng.  Lòng tôi ấm áp.

Tôi vẫn nhớ con gái mỗi ngày nhưng tôi tin con đang ở bên Chúa, và Mẹ con tôi sẽ gặp lại nhau, sau này.

Tôi vui và hay khôi hài.  Biết ơn Ngài quá đỗi, tôi muốn làm một cái gì cho Cha mình.

“Bởi lẽ Phúc Âm là Ngọn Nến
“Lửa hồng xin đốt ở trong con

Từ khi về hưu, và con cái trưởng thành, tôi ở một mình, đi làm thiện nguyện.  Lửa hồng của Tình Yêu Thiên Chúa dùng tôi như chiếc thuyền nan bé nhỏ chuyên chở Tình Thương của Ngài đến những người khổ đau, người bệnh hoạn nơi Bệnh Viện, tù nhân nơi Khám Đường, những kẻ Khốn Khó nơi xóm nghèo.  Tôi say sưa với công việc này vì qua họ, tôi thấy Chúa, Thiên Chúa của lòng tôi, và tôi thấy tôi ngày trước, bơ vơ, cô đơn, thèm khát tình thương, một Tình Thương, không phải lời Ân Ái.

Đức Kitô là ai?

Bây giờ, các Bạn đã thấy Đức Kitô là ai, đối với tôi.

Ngài là Tình Yêu, là Lẽ Sống, là tất cả của lòng tôi trìu mến, gắn bó, tin yêu.

Tuy nhiên, yêu Thầy thiết tha là thế – vì rất dễ hiểu: không có Thầy, chắc chắn tôi không tài nào sống nổi đời mình, tôi vẫn nhiều vấp phạm.  Từ ngày theo chân các sơ Têrêsa, tôi hiểu Bác Ái không biên giới.  Tôi cũng nhận ra rằng những tội tôi phạm thường là tội thiếu lòng Bác Ái.  Vì thiếu lòng Bác Ái, đời sống tôi chưa đẹp lòng Chúa như tôi ao ước.

Một trong các điều luật của Hội “Giáo Dân Thừa Sai Bác Ái” (Lay Missionary of Charity, thành lập bởi Mẹ Teresa Calcutta) mà tôi theo là Cầu Nguyện với sách: “Giờ Kinh Phụng Vụ”.

Lần đầu mở sách GIỜ KINH PHỤNG VỤ tôi chỉ thấy chán nản.  Dài quá.  Kinh sáng, kinh trưa, kinh chiều.  Thánh Vịnh, Kinh Sách, Lời Chúa, Đáp Ca, Thánh Ca, thôi thì đủ thứ.  Tôi nghĩ thầm: “Thứ nào cũng tương tợ nhau, viết gì mà lắm thế.”  Tôi ngồi đếm có ngày 14 trang luôn.  Tính làm biếng trong tôi nổi dậy và tôi thấy ngại ngùng.

Nhưng tôi hiểu đọc Thánh Vịnh là cùng cầu nguyện với Giáo Hội, nên tôi ráng thử.  Tôi đọc chút chút xem sao.  Mỗi sáng đi lễ, tôi nói với Chúa: “Xin Chúa cho con siêng năng đọc Giờ Kinh Phụng Vụ, sao con ngán quá.”

Từ từ, tôi đọc nhiều lên và dần dần bị lôi cuốn.  Càng đọc, tôi càng yêu thích lối cầu nguyện sâu xa này.  Tôi ham mê, thích thú đọc, có khi còn tiếc sao đã đến trang cuối rồi.  Đọc Thánh Vịnh, con người gần gũiThiên Chúa, vì Thiên Chúa hiện diện trong các mẫu chuyện sống động, vì Thánh Vịnh mô tả tâm trạng con người trong đời sống thực tế.

Những lời ca ngợi Thiên Chúa toàn năng và nhân từ, lời than vãn phận mình, lời tha thiết ăn năn, lời thành khẩn xin ơn, tất cả là hình ảnh thiết thực của cuộc sống hôm nay, ngay trong đời này. Chẵng những người đọc cảm thấy chính mình trong đó, mà còn cảm thấy Chúa đang lắng nghe, đang nói với mình từng lời.

Tôi quên mất ngày xưa, dân Do Thái cầu nguyện với những Thánh Vịnh này, tôi chỉ còn thấy chính tôi với Thiên Chúa mặt đối mặt, qua những lời Thánh Vịnh than vãn và ngợi khen.

Đặc biệt nhất là Thánh Vịnh rất có ích: Khi buồn khổ, bối rối, Thánh Vịnh 51 giúp lòng tôi lắng dịu.  Ngày bão Katrina, tôi đọc Thánh Vịnh 29 và tìm lại được Bình An.  Có những câu tôi thuộc lòng, vì chúng là chính tiếng nói của lòng tôi: “Muôn ngàn đời, Chúa vẫn trọn Tình Thương.”  Không ai ngờ được Thánh Vịnh có mặt từ ba ngàn năm trước, mà giờ đây đọc lên nghe như chính tâm can mình thốt ra bằng lời: “Ngày con kêu cứu, Chúa đã thương đáp lại, đã gia tăng nghị lực cho tâm hồn.”

Có hai câu mà tôi đắc ý nhất: “Xin bác ái là mưa sa tưới gội, cho lòng con hoa thắm nở bình an.”  Tôi mê hai câu này vì, như trên đã nói, tội tôi phạm thường là vì thiếu bác ái, nên tôi coi hai câu này là phương thuốc chữa bệnh cho mình.

Cứ thế, tôi đi vào đi ra, làm việc gì cũng nhẩm đi nhẩm lại hai câu này suốt ngày.

Lạy Chúa, con tạ ơn Ngài, – dù bác ái trong con, vẫn chưa phải là đủ – nhưng vì Tình Yêu Chúa bao dung, Ngài đã bù đắp, và cho con Bình An.

Đông Khê

Định nghĩa lòng thương xót

Định nghĩa lòng thương xót

– Tin nổi bật, Bài Giảng

VRNs (12.04.2015) – Đồng Nai – Hôm nay lễ lòng thương xót Chúa. Thiết tưởng chúng ta cần hiểu lòng thương xót nghĩa là gì? Thương xót nghĩa là sự biểu lộ lòng xót xa đồng cảm với những hoàn cảnh khó khăn. Lòng thương xót đối với Chúa còn là sự khao khát muốn làm vơi đi những nỗi đau khổ đó. Như vậy, lòng thương xót của Chúa là sự biểu lộ tình thương trước những hoàn cảnh khó khăn của dân Chúa.

Lòng thương xót của Chúa không như con người. Vì con người thương xót nhưng có chọn lựa, có tính toán. Cùng hoàn cảnh nhưng chúng ta thương người này và có thể ghét người kia. Thế nhưng, lòng thương xót của Chúa thì trải rộng cho mọi người. Không toan tính. Không chọn lựa. Ngài yêu thương con người bất kể tình trạng luân lý của họ. Bởi vi, Chúa vẫn yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân.

Thế nên, lòng thương xót của con người chúng ta thì giới hạn. Chúng ta có thể xót thương kẻ cơ hàn. Xót thương những người già yếu, bệnh tật bị bỏ rơi. Xót thương những trẻ nhỏ bị lạm dụng, bị bóc lột nơi cha mẹ hay người nuôi dưỡng. Và chắc chắn  chúng ta sẽ chẳng bao giờ xót  thương những phường tội lỗi như: trộm cắp, mại dâm, hay tham ô. Chúng ta thường không thương xót họ mà có khi còn nguyền rủa họ.

Lòng thương xót Chúa thì không giới hạn. Ngài yêu thương mà không cần nhìn xem họ là ai? Ngài chỉ bận tâm đến nhu cầu của con người và ra tay nâng đỡ. Thánh Kinh bảo rằng: Nếu Chúa chấp tội nào ai rỗi được. Thế nhưng, Chúa đã không chấp tội con người, Ngài cũng không giáng phạt theo như tội ta đã phạm. Lòng thương xót của Chúa trải rộng trên con người. Trên người lành cũng như người dữ. Ngài luôn biểu lộ lòng thương xót cho bất cứ ai đến với Ngài. Lòng thương xót ấy không dừng lại ở nơi kẻ yêu Ngài mà còn dành cho cả kẻ ghét Ngài, xỉ nhục và kết án Ngài. Chính trong đau thương khổ nhục mà Ngài vẫn xót thương những kẻ đang hành hạ Ngài khi Ngài cầu nguyện cùng Cha: Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.

Có lẽ với bản tính con người, chúng ta sẽ thù hận kẻ giết hại chúng ta một cách oan uổng. Có lẽ chúng ta cũng kinh tởm kẻ vô ơn, phản bội với chúng ta. Thế mà, Chúa Giê-su dường như không còn nhớ đến tội lỗi của con dân thành Giê-ru-sa-lem. Ngài đã tha thứ cho kẻ làm nhục Ngài. Ngài cũng tha thứ cho những môn đệ đã bỏ Ngài trong tuần thương khó.

Vâng, khi Chúa sống lại Ngài không tìm ai để trách móc, kêu oan. Và dường như Ngài cũng không bận tâm đến lỗi lầm của các môn sinh. Ngài đã trao bình an cho các môn sinh mỗi khi hiện ra với họ. Ngài biết trong lòng các ông còn một nỗi buồn vì phản bội, vì bỏ rơi Thầy trong gian nguy. Ngài biết sau khi Chúa sống lại lòng các tông đồ còn rối bời hoang mang lo sợ, bất an vì mặc cảm tội lỗi, mặc cảm phản bội Thầy. Chúa đã biết điều đó nên đã đi bước trước để ban bình an cho các ông.

Sứ điệp lễ lòng Chúa thương xót là sứ điệp của yêu thương. Thiên Chúa vẫn tiếp tục xót thương dân Người. Lòng thương xót của Chúa không bị tội lỗi của con người cản trở mà vẫn đong đầy cho những ai đến với Ngài. Lòng thương xót Chúa vẫn xoa dịu những ai đang bất an vì tội lỗi. Lòng thương ấy vẫn đang chữa lành cho những ai đang đau khổ bệnh tật tâm hồn hay thể xác. Lòng thương xót ấy vẫn là căn tính của Thiên Chúa rất yêu thương và xót thương dân Người.

Ước gì mỗi người chúng ta biết tín thác vào lòng thương xót Chúa cho dẫu chúng ta còn mang đầy những vết thương của yếu đuối lỗi lầm. Hãy để cho lòng thương xót Chúa chữa lành những tật nguyền của chúng ta. Ước gì khi chúng ta đã hưởng nếm lòng thương xót vô bờ của Chúa thì cũng biết trao ban lòng thương xót ấy cho anh em. Xin Chúa ban cho chúng ta cũng có một tấm lòng bao dung để gạt qua những thành kiến , những đố kỵ, ghen tương mà đón nhận nhau trong yêu thương chia sẻ. Xin Chúa giúp chúng ta cũng trở thành một chứng nhân cho lòng thương xót của Chúa bằng tình yêu hiến dâng phục vụ tha nhân. Amen

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Khu Vườn Mộ và Mồ Thánh: đâu mới là nơi Đức Giêsu sống lại?

Khu Vườn Mộ và Mồ Thánh: đâu mới là nơi Đức Giêsu sống lại?

– Tin nổi bật, Tin Công Giáo Thế Giới

150412_khumothanh

VRNs (12.04.2015) – Sài gòn – CBN giới thiệu, hàng triệu Kitô hữu trên thế giới đã tổ chức mừng Phục Sinh, Chúa Giêsu Kitô sống lại vào Chúa Nhật 5 tháng 4. Ở Jerusalem, hàng ngàn Kitô hữu hành hương đã viếng thăm Khu Vườn Mộ (The Garden Tomb) mà nhiều người cho rằng đó chính là khu vườn của Joseph Arimathea nơi đã chôn cất Đức Giêsu Kitô và sau đó ngài đã phục sinh.

Tuy nhiên, một số người tin rằng Nhà thờ Mồ Thánh ở Jerusalem mới là nơi thật sự diễn ra cuộc tử nạn và phục sinh, không phải ở Khu Vườn Mộ. Hoàng Thái hậu Helena của Constantine đã giúp xây dựng đền thờ này vào năm 326 A.D (sau Công nguyên).

Richard Meryon, giám đốc Khu Vườn Mộ giải thích rằng ‘Những gì chúng tôi có ở đây nơi Khu Vườn này là một sự diễn tả hoàn hảo của Kinh Thánh trong đoạn cuối của 4 sách Tin Mừng”. Ngày nay, cứ mỗi năm có khoảng gần một phần tư trong một triệu người du lịch đến Jerusalem ghé thăm Khu Vườn Mộ này.

Nói với CBN News, Steve Bridge người hướng dẫn của khu vực cho biết, họ đã xây dựng mảnh đất giống như những bằng chứng địa lý được nói đến trong Kinh Thánh. Bridge hướng dẫn viên nói, “Đức Giêsu đã bị đóng đinh ngoài tường thành thành phố nơi được gọi là Golgotha. Và chính tại nơi ngài bị đóng đinh là khu vườn thuộc về một người đàn ông khá giả có tên là Joshep Arimathea”.

Theo ông Bridge, những nghiên cứu khảo cổ đã là những chứng cứ chủ chốt ủng hộ tuyên bố này của đền thờ, nhưng chứng cứ của Khu Vườn Mộ cũng có thể thuyết phục. Trong sách Tin Mừng của thánh Gioan có viết “…nơi mà Đức Giêsu bị đóng đinh có một thửa vườn…” (Ga 19, 41), ông nói, nếu bạn có một khu vườn thì phải cần rất nhiều nước, điều này sẽ còn cần hơn nữa đối với khu vực khô hạn Trung Đông này.

Khu Vườn Mộ chứa một trong các hồ nước lâu đời nhất và lớn nhất ở Jerusalem. Nó được khoảng 2.000 năm tuổi và giữ khoảng 200.000 gallon nước.

Vì vậy, theo Bridge ngôi mộ họ có ở đây là một điển hình của một ngôi mộ đá lăn của người Do Thái, ở thế kỷ đầu tiên. Nó có niên đại ít nhất 2.000 năm”.

Khu Vườn Mộ hay Nhà Thờ Mồ Thánh đều là nơi Chúa Giêsu Phục Sinh, những Kitô hữu hành hương đến đây và mang theo họ sự khẳng định về niềm tin. Và với Mùa Phục Sinh này Khu Vườn Mộ cũng muốn nhấn mạnh đến việc con người phục sinh chứ không phải nơi chốn. Hiện tại Khu Vườn đang thuộc quyền quản lý của Hiệp hội Khu Vườn Mộ (Jerusalem) thuộc Anh giáo.

Pv. VRNs