Trăn trở của một sinh viên gửi Bộ trưởng Giáo dục

Trăn trở của một sinh viên gửi Bộ trưởng Giáo dục

Tác hại của thiếu hụt tư duy phê phán

Đối với giới trẻ, thứ nhất, việc thiếu đi tư duy phê phán sẽ làm suy giảm khả năng tiếp thu kiến thức. Suy giảm khả năng tiếp thu kiến thức bởi như cháu đã phân tích ở trên, khi không phải đặt câu hỏi hay phản biện, học sinh sẽ cảm thấy ít hứng thú hơn với giờ học vì lúc đó họ chỉ là một cái máy ghi chép, tiếp thu kiến thức một cách rất thụ động.

Thực tế chứng minh rằng những hoạt động mang tính tương tác lúc nào cũng thu hút được sự quan tâm, chú ý của chúng ta hơn những hoạt động khác. Minh chứng rõ ràng cho điều này là không mấy ai mất tập trung khi đang chơi điện tử cả nhưng khi nghe giảng hay xem phim thì khả năng người nghe hay xem mất tập trung cao hơn nhiều.

Thứ hai, kiến thức sẽ không lưu lại lâu trong đầu nếu được thu nạp một cách thụ động. Có hai điểm khác biệt lớn giữa một người học gạo và một người học năng động với tư duy phê phán. Người học gạo thường có khả năng đọc vanh vách mọi chi tiết đã được học còn người kia thì thường chỉ nắm được một lượng nhỏ các chi tiết nhưng nắm rất vững kiến thức cơ bản nên từ đó có thể suy luận rất tốt.

Người học gạo thường quên những thứ mình học rất nhanh còn người kia thì không. Vì sao? Vì người học gạo chỉ cố nhồi nhét mọi thứ để giành được điểm còn người kia vì thật sự đam mê tìm tòi, học hỏi nên họ năng động trong việc thu nạp kiến thức của mình, thậm chí họ phải phản biện lại các ý kiến đối lập để bảo vệ lập trường, quan điểm của mình và những gì mình đã được học. Thế nên không có gì lạ khi những người có tư duy phê phán tốt lại nhớ lâu hơn và vận dụng kiến thức đã được học một cách tốt hơn.

Cuối cùng, tư duy phê phán kém sẽ kìm hãm sự sáng tạo và phát triển. Chẳng phải nhà bác học nổi tiếng Albert Einstein đã nói rằng “một nhà sáng chế đơn giản là một cậu học trò không quá nghiêm túc việc học của mình” hay sao? Nói cách khác, nếu chúng ta không dám phản biện, không dám nghĩ xem liệu những gì mình được học có thật sự đúng hay không, nếu chúng ta không dám thử phá cách và đi con đường riêng của mình thì sẽ chẳng bao giờ có phát minh gì mới cả vì chúng ta đơn giản chỉ đang giẫm lên vết chân của cha anh mà thôi.

ham dự chương trình Họp mô hình Liên Hợp Quốc (Model United Nations) ở Stockholm vào năm 2012 ạ
Ngô Di Lân tham dự chương trình Họp mô hình Liên Hợp Quốc (Model United Nations) ở Stockholm năm 2012. Ảnh: NVCC.

Là những cá nhân đầy tham vọng, chúng ta luôn muốn tiến về phía trước, luôn muốn phát triển và làm được điều gì đó lớn lao. Đây sẽ là điều không thể có được khi thiếu tư duy phê phán hùng biện. Apple thành công là Steve Jobs có tư duy phê phán tốt, ông ta dám nghĩ khác đi và bước trên con đường của riêng mình. Thử hỏi Apple có thành công của ngày hôm nay hay không nếu người lãnh đạo của họ chỉ cố đuổi theo Microsoft mà không có những sáng kiến của riêng mình?

“Tre già, măng mọc”, những người trẻ ngày hôm nay sẽ là trụ cột của xã hội mai sau. Nếu lúc còn trẻ họ không phát triển tư duy phê phán, khó có thể hy vọng họ sẽ phát triển cách tư duy này khi đã trưởng thành, khi họ đã là rường cột của xã hội. Và đối với xã hội, các tác hại của việc thiếu tư duy phê phán còn nguy hiểm hơn nhiều lần.

Khi chúng ta không có thói quen tư duy phê phán và bắt đầu quen chấp nhận mọi thứ mình được dạy là chân lý thì hệ quả tất yếu sẽ là cả một hệ thống ỳ ạch và nặng nề. Sức ỳ của hệ thống có thể sẽ đe doạ sự sống còn của một quốc gia, một xã hội khi đối mặt với những yêu cầu phải cải cách để thích nghi với những chuyển biến đang diễn ra xung quanh. Điều này có thể thấy rõ trong những năm cuối cùng của Đế chế Trung Hoa dưới thời nhà Thanh.

Đối mặt với sự xâm lược của thực dân phương Tây và những chuyển biến trong hệ thống quốc tế, nhà Thanh đối mặt với hai lựa chọn để tồn tại: giữ nguyên hiện trạng hay cải cách theo phương Tây. Cải cách cuối cùng đã không diễn ra đủ nhanh và kịp thời để cứu vãn triều đại này bởi sức ỳ của hệ thống lúc đó đã quá lớn. Những người làm quan từ nhỏ tới lớn chỉ được đọc sách của các đức thánh hiền như Khổng tử mà không được dùng tư duy phê phán nên hệ quả là họ nghiễm nhiên cho rằng những gì mình đã được học là chân lý không thể thay đổi.

Chính vì thế, khi những cải cách thiết yếu mâu thuẫn với Khổng giáo thì họ chấp nhận không cải cách để bảo vệ “chân lý” của mình. Sự bảo thủ và thiếu tư duy phê phán cuối cùng đã dẫn đến cái mà người Trung Quốc thường gọi là “một thế kỷ ô nhục”. Đây là bài học đáng để chúng ta suy nghĩ trong lúc này, khi cải cách về mọi mặt: giao thông, giáo dục, y tế, kinh tế đang hết sức cấp bách.

Có lẽ bức tranh về nền giáo dục Việt Nam cháu vẽ ra tồi tệ hơn so với thực tế. Có lẽ cháu đã nói hơi quá lên và phóng đại những cái xấu lên nhiều lần so với mức thực tế. Và hơn gì hết, cháu mong đó là sự thật bởi như vậy thì vẫn còn chưa quá muộn, chúng ta vẫn còn cơ hội để thay đổi giáo dục. Hơn lúc nào hết, cháu mong Bộ trưởng hãy tìm mọi cách để đẩy mạnh tư duy phê phán trong nhà trường.

Ngô Di Lân (20 tuổi) đang là sinh viên năm thứ 2 ngành Quan hệ quốc tế ở ĐH Maastricht (Hà Lan). Từ lớp 1 đến lớp 8, Lân học ở Việt Nam. Năm lớp 9 em sang Thuỵ Điển học và sau đó nhập học ĐH Maastricht. Học kỳ này Lân đang học ở Mỹ theo chương trình trao đổi và tháng 8 quay về Hà Lan để năm sau thi tốt nghiệp.

Ngô Di Lân

2015: Trật tự thế giới mới

2015: Trật tự thế giới mới

Nguoi-viet.com

Việt Nguyên/Người Việt

Bốn mươi năm trước, Hoa Kỳ không giữ lời hứa với chánh quyền VNCH để Việt Cộng vi phạm hiệp định Paris 1973, kết quả là quân Cộng Sản tiến chiếm Sài Gòn và Miền Nam Việt Nam ngày 30 tháng 4, 1975.

Sau chiến thắng, đảng CSVN huênh hoang: Ðế quốc Mỹ đại bại, chiến tranh Việt Nam báo hiệu ngày tàn của Ðế Quốc Mỹ, chiến lược toàn cầu của Mỹ phải thay đổi, xã hội chủ nghĩa sẽ toàn thắng trên khắp thế giới với chủ thuyết tất thắng Mác Lê Nin.


Sức mạnh quân sự và văn hóa Hoa Kỳ vẫn tiếp tục trấn áp các quốc gia trên thế giới. (Hình: Getty Images)

Hoa Kỳ bỏ đồng minh VNCH năm 1975, tái phối trí để nhắm về khối Xô Viết. Thất bại ở Việt Nam là thất bại tạm thời của Hoa Kỳ. Việt Nam Cộng Hòa bị tư bản Hoa Kỳ bán đi như bán cổ phần của một công ty bị thua lỗ trong thị trường chứng khoán để giữ lại các cổ phần các công ty tốt. Huênh hoang sau chiến thắng, Cộng Sản Việt Miên Lào bị cô lập. Mười bốn năm sau các chính quyền Ðông Âu sụp đổ bắt đầu từ Ðông Ðức với bức tường ô nhục Bá Linh bị giật sập. Hai năm sau Xô Viết tan rã. Mười năm sau, biến cố 11/9 ở Nữu Ước đưa đến chiến tranh A Phú Hãn năm 2001, tiếp theo là chiến tranh Iraq năm 2003. Hoa Kỳ lún sâu ở Trung Ðông năm 2015, Nga với Putin làm lộng ở vùng Hắc Hải, Trung Cộng đang lên với quyền lực quân sự và kinh tế đi dọa các nước làng giềng ở biển Ðông và Nam Thái Bình Dương, một lần nữa thế giới lại đặt vấn đề “Ðế Quốc Mỹ đang giãy chết như Ðế Quốc Anh sau Thế Chiến Thứ Hai.”

Từ sau Thế Chiến Thứ Nhất, hơn 100 năm bộ mặt chánh trị Hoa Kỳ không thay đổi dù chánh quyền dưới sự lãnh đạo của các tổng thống đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa. Từ sau Chiến Tranh Lạnh, Hoa Kỳ vẫn đứng vững dù Xô Viết biến thành Nga hay chiến tranh nóng tiếp diễn trên nhiều phần đất trên thế giới dưới nhiều hình thức tôn giáo, chủng tộc, độc tài, v.v… Hoa Kỳ chỉ bị đứng khựng hay thối lui nhiều lần trong các thập niên 1960, 1970, 1980 ngoài thất bại ở Việt Nam năm 1975. Bước lùi rõ rệt nhất là ở Nam Mỹ từ Nicaragua, Venezuela, Brazil, Ecuador, Bolivia hay Mexico nhưng những bước lùi ấy nặng về chánh trị và ý thức hệ hơn là về kinh tế. Các quốc gia Brazil, Venezuela nghiêng về dân chủ xã hội chủ nghĩa nhưng không đối đầu được với nền kinh tế tư bản của anh Hoa Kỳ khổng lồ ở Bắc Mỹ nói chi là các nước nhỏ như Ecuador hay Bolivia. Ngay đến Mexico một nước lớn cũng không đứng độc lập được với Hoa Kỳ.

Sức mạnh quân sự và văn hóa Hoa Kỳ trấn áp các quốc gia trên thế giới. Giới trẻ yêu chuộng văn hóa Mỹ từ phim ảnh, văn chương cho đến âm nhạc. Hoa Kỳ vẫn giữ các căn cứ quân sự trên toàn thế giới với con số không ai rõ ngay cả đến ông Ron Paul cựu ứng cử viên tổng thống đảng Cộng Hòa chỉ ước tính 900 căn cứ quân sự Hoa Kỳ trên toàn thế giới trong 130 quốc gia ngược với thống kê khác trên 148 quốc gia với hơn 160,000 lính thường trực can thiệp bất cứ lúc nào bất cứ nơi nào khi quyền lợi của Hoa Kỳ bị thách thức, những căn cứ quân sự trong thới chiến tranh lạnh không bị hủy bỏ cũng như quân Hoa Kỳ vẫn chiếm đóng vùng phi quân sự giữa Nam và Bắc Hàn dù hàng không mẫu hạm ở Thái Bình Dương lúc nào cũng sẵn sàng can thiệp vào Bắc Hàn.

Khối Liên Hiệp Âu Châu với 28 thành viên tạo được một hệ thống liên quốc gia với các cơ sở tài chánh và chánh quyền như Hội Ðồng Liên Hiệp Âu Châu, Tòa Án Âu Châu, Ngân Hàng Trung Ương từ năm 1993 có cả công dân Âu Châu với đồng Âu Châu vẫn không độc lập với Hoa Kỳ. Chủ quyền của các nước Âu Châu chỉ đứng trên bề mặt. Sau Chiến Tranh Lạnh, Ðức trở thành quốc gia hùng mạnh nhất Châu Âu về mặt kinh tế và chiến lược với bà Angela Merkel làm thủ tướng vẫn bị Hoa Kỳ chi phối trên nhiều lãnh vực nhất là lãnh vực quân sự. Bà Angela Merkel đã nhũn nhặn từ chối lãnh đạo liên hiệp Âu Châu dù Ðức đang dẫn đầu Châu Âu về kinh tế. Bà đứng trung gian hòa giải giữa Hoa Kỳ và Nga, một phần bà học bài học của Hilter hồi Thế Chiến Thứ Hai một phần vì sức mạnh quân sự của Ðức đứng dưới cả Nam Hàn.

Anh vẫn tự hào độc lập với Hoa Kỳ, là đồng minh xuyên Ðại Tây Dương, nhưng qua các trận chiến ở A Phú Hãn và Iraq, thủ tướng Tony Blair đi theo sự lãnh đạo của Hoa Kỳ như một nước chư hầu.

Khối Âu Châu với đồng Euro tùy thuộc Hoa Kỳ khi cơn khủng hoảng tiền tệ xảy đến cho Hy Lạp. Trong hồi ký mới năm 2014, cựu Bộ Trưởng Tài Chánh Hoa Kỳ Timothy Geithner đã tiết lộ là các nhà lãnh đạo Âu Châu đưa giải pháp cứu Hy Lạp với số tiền rất nhỏ, Hoa Kỳ phải ra lệnh Âu Châu “bơm” 500 tỷ Euros vào kinh tế Hy Lạp. Với cơn khủng hoảng mới ở Hy Lạp của chánh quyền Syriza, liên hiệp Âu Châu tiếp tục làm theo những gì Hoa Kỳ yêu cầu.

Chiến tranh A Phú Hãn và Iraq, được gọi là chiến tranh chống khủng bố từ thời T. T. George W. Bush. Chiến tranh ấy cho thấy Hoa Kỳ lún sâu ở Trung Ðông. Chương trình xây dựng quốc gia A Phú Hãn và Iraq của Hoa Kỳ thất bại ngay từ bước đầu khi Hoa Kỳ giải tán quân đội Iraq sớm. Các nền tảng xã hội căn bản bị phá vỡ. Giống như ở Việt Nam trước 1975, chánh phủ Hoa Kỳ kết tội chánh quyền A Phú Hãn tham nhũng. Hoa Kỳ không thành công trong việc xây dựng quốc gia dân chủ tự do nhưng Hoa Kỳ đã thành công chia rẽ thế giới Hồi Giáo và Á Rập, chấm dứt tinh thần quốc gia của của khối Á Rập.

Chiến tranh chống khủng bố thất bại. Bin Laden bị giết nhưng nhóm quốc gia quá khích khủng bố Hồi Giáo ISIS xuất hiện lớn mạnh. Quốc gia Hồi Giáo Iraq (Islamic State of Iraq, ISI) sau thêm Syria vào thành ISIS đôi khi gọi là ISIL (Levant, bao gồm rộng hơn gồm cả Thổ Nhĩ Kỳ, Jordan, Do Thái, bán đảo Á Rập và Lebanon) cầm đầu bởi Abu Musab al – Zarqawi người Jordan phụ tá cho Bin Laden, khối Hồi Giáo Sunni chủ trương giết hết Hồi Giáo Shia. Zarqawi muốn thành lập quốc gia Hồi Giáo thay cho đế quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ) từ khi đế quốc nay sụp năm 1912. Ða số Hồi Giáo muốn có quốc gia Hồi Giáo kể cả Nam Dương (62% ủng hộ). ISIS đã kiểm soát được diện tích vùng Tây Iraq và Bắc Syria lớn hơn cả nước Anh, quân đội gia tăng dù Hoa Kỳ tăng gia đánh bom. Từ 15 tháng sáu, ISIS kiểm soát thành phố Mosul lớn thứ hai sau thành phố Baghdad, Iraq. ISIS cai trị bằng chánh sách đàn áp, công an trị cùng các biện pháp dã man như Cộng Sản vào thời kỳ quá độ Mao, Stalin, Hồ Chí Minh. Dân Iraq thích ISIS vì thuế đánh nhẹ 2.5%, không còn thấy hỗn loạn và tham nhũng như chánh quyền Iraq.

Trung Ðông tan vỡ từ sau Thế Chiến Thứ Nhất lại tan vỡ hơn từ khi Hoa Kỳ can thiệp vào Iraq. Cách Mạng Mùa Xuân Á Rập bây giờ đã vào quá khứ. Syria có thể chia 3, Iraq cũng có thể thành 2 hay 3 quốc gia. Hoa Kỳ ủng hộ Hồi Giáo Shia ở Iraq chia rẽ Sunni. Xem Iran (đa số Hồi Giáo Shia) là quỷ chỉ có hại cho Hoa Kỳ vì không có sự ủng hộ của Iran Hoa Kỳ không cai trị được Iraq, chỉ có Iran ra lệnh cho lãnh tụ Shia Muqtada al – Sadr cộng tác với Sunni, không có sự cộng tác của Iran Hoa Kỳ không ổn định được A Phú Hãn và Iraq. Hiệp ước về nguyên tử với Iran ngày 2 tháng 4, 2015, có nhiều điều khoản khó thực hành nhưng hiệp ước phá vỡ chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Iran trong 36 năm. Chấm dứt chiến tranh lạnh với Iran, Hoa Kỳ bớt lệ thuộc vào dầu hỏa của Saudi Arabia và nội chiến Syria và Yemen ở Trung Ðông có thể kết thúc. Hoa Kỳ từ trước đến nay vẫn giữ tiêu chuẩn kép ở Trung Ðông, với hiệp ước nguyên tử Israel không độc quyền vũ khí nguyên tử, một vũ khí quốc gia nào cũng muốn nhưng có rồi không ai dám xài! Hoa Kỳ gây rối ở Trung Ðông mở cánh cửa cho Trung Cộng. Trong khi Putin đã bớt áp lực quân sự ở Ukraine vì giá dầu xuống và vì áp lực của Âu Châu, Trung Cộng thừa nước đục thả câu nhảy vào Trung Ðông. Sau khi TT Obama gia tăng thời hạn rút quân ở A Phú Hãn, TT Ghani qua Bắc Kinh được Tập Cận Bình gọi “Ghani là bạn cũ của Dân Trung Hoa,” thời đại cộng tác mới bắt đầu với 327 triệu Mỹ Kim viện trợ cho A Phú Hãn đến năm 2017. Công ty đồng (China Corporation Copper) ký khế ước 4.4 tỷ trong khi 70 công ty Mỹ chỉ có khế ước 75 triệu Mỹ kim. Trung Cộng biểu diễn quyền lực mềm với sức mạnh kinh tế gây lo ngại cho các quốc gia láng giềng đang phát triển nhưng cái họa da vàng Trung Quốc còn xa. Kinh tế Hoa Kỳ và Trung Cộng tùy thuộc lẫn nhau, giới lao động làm việc cho tư bản Mỹ nằm ở Trung Hoa. Tất cả con số về kinh tế cho thấy Trung Cộng vẫn thua xa Hoa Kỳ. Hoa Kỳ vẫn đứng đầu trên các lãnh vực dược phòng, không gian, điện toán, dụng cụ y khoa. 100 đại công ty trên thế giới không có tên công ty Trung Hoa. Công ty xuất cảng hàng đầu của TH do ngoại quốc làm chủ. Ở Hoa Kỳ số triệu phú là 42.5%, Nhật 10.6%, Trung Hoa 9.4%, Anh 3.7%, Thụy Sĩ 2.9%, Ðức 2.7%, Ðài Loan 2.3%, Ý 2%, Pháp 1.9%. Sức mạnh mềm thua Hoa Kỳ còn tiềm lực quân sự của Trung Cộng chỉ dọa các nước láng giềng như Việt Nam, chưa so được với tiềm lực quân sự của Hoa Kỳ.

“Trong cái mạnh, có cái yếu.” Trung Cộng đang lên nhưng Tập Cận Bình trong bụng đã có mối lo. Nền kinh tế lớn nhất thế giới là nền kinh tế đang có chiều đi xuống. Trong quí chót năm 2014, có nhiều hãng xưởng đã không trả tiền cho công nhân, biểu tình chống đối đình công 3 lần nhiều hơn so với cùng thời kỳ năm 2013. Kinh tế Trung Hoa có thể đi xuống nhanh hơn dự tính mặc dù hãng xưởng sản xuất vẩn đứng đầu thế giới, công nhân già nhanh kém sản xuất vì chính sách một con, nhiên liệu nguyên liệu ít dần mặc dù chánh quyền Trung Cộng khai thác tài nguyên ở Phi Châu. Tiền vay của các hãng lên cao hơn lợi tức trong khi Tập Cận Bình thành lập ngân hàng phát triển, quỹ xây dựng hạ tầng đường lụa, (Silk Road) ngân hàng xây dựng hạ tầng Á Châu tổng cộng 240 tỷ Mỹ Kim, với sự cổ võ của Henry Kissinger, để thay thế ngân hàng và quỹ tiền tệ thế giới.

Cầm đầu đảng Cộng Sản với hơn 80 triệu đảng viên, Tập Cận Bình được gọi là Tập Ðại Ðại, như đại ca của Mafia, giữ hơn 10 chức vụ từ chủ tịch nhà nước, tổng bí thư Ðảng, chủ tịch ủy ban quân quản, chủ tịch ủy ban ngoại giao, kinh tế, an ninh, quốc phòng, công an nhân dân, mạng thông tin. Sự rối loạn đến từ trong nội bộ. Như Người hùng của họ Tập là Tống Giang trong truyện Thủy Hử, có tinh thần cầm đầu đảng cướp Tập Cận Bình chống dân chủ hóa như Hoa Kỳ. Trong hai lần họp với phó Tổng Thống Joe Biden năm 2011 và 2012 Tập Cận Bình đã tuyên bố không chấp nhận giá trị dân chủ Tây Phương và nhân quyền. Thanh trừng nội bộ đảng, họ Tập nhà độc tài nhất từ sau Mao Trạch Ðông đã điều tra trên 10,000 cán bộ, trong năm 2014 hơn 100,000 đảng viên cao cấp mất chức vì tội tham nhũng nhưng thật sự tham nhũng chỉ là cớ để loại chân tay bè đảng không trung thành.

Trong nội bộ chủ tịch Tập Cận Bình cảnh cáo “Mỹ đang toa rập lật đổ chế độ CSTQ qua diễn tiến hòa bình” nên từ đầu năm 2015 Tập Cận Bình đã cho thấy bàn tay sắt, đóng mạng lưới chống đối nhiều hơn năm 2014, đối lập không có chỗ đứng trong “xã hội hài hòa.” Các cơ quan vô vị lợi NGO bị xem là tay chân của bọn Mỹ, các hãng Microsoft, Cisco, Intel là “chiến sĩ của chánh quyền Hoa Kỳ,” CIA và cơ quan dân chủ NED đứng đằng sau các cuộc biểu tình đòi Dân Chủ ở Hồng Kông (cách mạng Dù) và ở Ðài Loan. Tập Cận Bình độc tài đứng một mình vì “Xô Viết đã sụp đổ năm 1991 là vì không có kẻ nào mạnh đứng đối đầu chống lại bọn phản động.”

Ðối ngoại, với các nước láng giềng Tập Cận Bình như bọn cướp Lương Sơn Bạc. Cộng tác với Nga nhưng từ từ bỏ Putin sau khi Nga gây chiến tranh ở Ukraine, trục lợi qua chánh sách cô lập kinh tế của Putin, Tập Cận Bình quay mặt về Hoa Kỳ yêu cầu TT Obama “lập quan hệ song phương bình đẳng mới” nhưng TT Obama đã từ chối không chấp nhận chánh sách của Trung Cộng chiếm những hòn đảo và tranh chấp biển Ðông. Chánh sách cướp dần từ không phận, hải phận, xây giếng dầu, xây phi trường trên các đảo Hoàng Sa, Trường Sa, các đảo trên vùng Nam Thái Bình Dương, đã bị TT Obama chánh thức phản đối.

Hiểm họa độc tài của Tập Cận Bình đã khiến các đảng viên CSTQ trung kiên lo sợ, theo chu kỳ Trung Hoa sẽ có một cuộc cách mạng đẫm máu. Họ chủ trương thay vì đóng cửa với thế giới bên ngoài và đe dọa các nước láng giềng, Trung Hoa cần thay đổi chế độ bằng phương pháp hòa bình biến đảng CSTQ thành đảng xã hội cánh tả như các đảng xã hội ở các nước Tây Phương. Giai cấp trung lưu đang lên ở Trung Hoa không phải là đối tác đáng tin cậy cho đảng CS.

Thế giới cố dự đoán “Ðế quốc Mỹ đang giãy chết” nhưng như Frederick Hayek, kinh tế gia giải Nobel, nhận định: “kinh tế chỉ huy luôn luôn thất bại.” Con đường kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa của TC đang giẫy chết trước khi đế quốc Mỹ giẫy chết.

Cuộc tái định cư của cựu tù nhân chính trị

Cuộc tái định cư của cựu tù nhân chính trị

Nguoi-viet.com
Nhìn lại quãng đường tị nạn và hội nhập


Huy Phương & Võ Hương-An

(Chân Dung H.O. & Những Cuộc Ðổi Ðời)

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Cộng Sản Bắc Việt, tức nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, núp dưới ngụy danh Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, đã cưỡng chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa và cai trị đến nay vừa đúng 40 năm (1975-2015).

Trong 40 năm độc tài toàn trị, Cộng Sản Việt Nam (CSVN) đã lập nên nhiều “thành tích” đáng xấu hổ trong lịch sử dân tộc cũng như trước mắt quốc tế, trong đó có hai “thành tích” lớn tới mức đánh động lương tâm dân tộc các nước dân chủ văn minh, khiến họ phải ra tay can thiệp. Ðó là việc bỏ tù hàng trăm ngàn người thua cuộc trong các nhà tù khổ sai, ngụy danh là trại cải tạo, mà không xét xử; và tạo nên một xã hội áp bức trong đói kém, bần cùng, khiến cả triệu người phải bỏ nước ra đi để tìm tự do, bất kể hiểm nguy đến tính mạng.

Gia đình H.O. Phan Cảnh Cho và H.O. Hoàng Văn Ngọ được nhân viên
thiện nguyện Hội Tương Trợ Cựu Tù Nhân Chính Trị Nam Cali đón tiếp
ngày 20 tháng 7, 1993 tại phi trường John Wayne. Chú ý đến chiếc
rương sắt (X) phía dưới, vật dụng lên đường quen thuộc của nhiều
gia đình H.O. (Ảnh tài liệu do Huy Phương cung cấp)

Chưa có một nước nào trên thế giới mà sau một biến động quân sự và chính trị lại đưa tới những làn sóng di dân tị nạn ào ạt lên đến hàng triệu người như Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản, khiến thế giới phải phát sinh ra những từ ngữ mới để nói lên thực trạng bi thảm đó. Họ gọi những người liều chết ra biển lớn tìm tự do trên những con thuyền mỏng manh bất chấp sóng gió, hải tặc, là những boat people (thuyền nhân) và thời đại này của Việt Nam là the age of uprooting (thời đại trốc rễ). [1] Họ học được những từ ngữ mới, như trại tù khổ sai thì Cộng Sản gọi là trại học tập cải tạo, re-education camps và tù nhân được gọi là học viên! Thật là mỉa mai chữ nghĩa!

Lịch sử tị nạn Việt Nam hoặc lịch sử cộng đồng người Việt hải ngoại vào hậu bán thế kỷ XX là một đề tài lớn, đòi hỏi sự nghiên cứu lâu dài và rộng rãi. Cuộc tái định cư của cựu tù nhân chính trị (ex-political prisoners) hay cựu tù cải tạo (ex-reeducation camp detainees) và gia đình, thường được gọi một cách dung dị là “đi H.O.” (đọc: hát-ô).

“Tại sao và từ bao giờ chúng ta có mặt trên nước Mỹ?” Tại Hoa Kỳ, sau tháng 4 năm 1975, mới chỉ có khoảng 125,000 người Việt, là số tị nạn đầu tiên do Hoa Kỳ giúp di tản hoặc tự tìm đường thoát thân khi Sài Gòn hấp hối; đến năm 1980, con số này lên 231,000 người; và đến năm 2012, cộng đồng Việt Nam tại Mỹ lên đến gần 1.3 triệu, trở thành di dân Châu Á đông vào hàng thứ 4 của nước Mỹ, chỉ sau Ấn Ðộ, Philippines và Trung Quốc. Cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ chiếm hơn một nửa tổng số người Việt có mặt trên thế giới và 72% trong số này đã mang quốc tịch Hoa Kỳ.[2]

Thành phần tạo nên cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ gồm có:

– Thuyền nhân (vượt biên, vượt biển);

– Ðoàn tụ gia đình;

– Con lai;

– Cựu nhân viên chính phủ Mỹ, cựu nhân viên sở Mỹ;

– Cựu tù nhân chính trị (cựu tù cải tạo), thường được gọi là thành phần H.O.

Có thể nói rằng nước Mỹ là xứ sở của di dân và tị nạn. Ðầu thập thập niên 1990, sự nhập cư của lớp cựu tù chính trị và gia đình đã đẩy số người Việt di dân lên cao rõ rệt, và sau vài năm bở ngỡ, lúng túng ban đầu trong việc điều chỉnh cuộc sống mới trên đất mới, những gia đình H.O. bắt đầu đi vào ổn định nơi ăn chốn ở, học hành và công ăn việc làm. Lần hồi, bước vào thế kỷ 21, di dân tị nạn H.O. bắt đầu vươn vai đứng dậy, có những đóng góp cho quê hương mới cả về vật chất cũng như trí tuệ, khi lớp con cái H.O. được trang bị kiến thức đầy đủ ngang tầm cở bản xứ, đã hội nhập một cách tự tin và bình đẳng.

Mỗi một tù cải tạo là một số phận. Ðến khi được trở thành một H.O. và cùng gia đình đi tái định cư tại Hoa Kỳ cũng là mỗi H.O. một số phận. Có thể nói cuộc đời của mỗi H.O. mang dấu ấn hai lần “cải tạo” với ý nghĩa hoàn toàn trái ngược nhau.

Lần đầu, CSVN “cải tạo” trong ý đồ tiêu diệt bằng cách đầy đọa tù nhân cho chết dần chết mòn trong tù để khỏi mang tiếng tàn bạo, dã man, đối với thế giới. Nếu người tù may mắn sống sót trở về với gia đình thì ý chí tự do, quật cường cũng đã bị thui chột để chỉ còn là một kiếp sống thừa; thêm vào đó, chính sách cải tạo cũng gián tiếp bần cùng hóa gia đình tù cải tạo bằng sự phân biệt đối xử ngoài xã hội.

Lần “cải tạo” thứ hai, do Hoa Kỳ chủ trương, nhằm giúp đở tái tạo người cựu tù chính trị và gia đình, tái lập một cuộc đời mới, đầy đủ nhân cách và phẩm giá, với mọi điều kiện thuận lợi trong xã hội mới để khả dĩ vươn lên.

Trong khi cùng chịu chung một chính sách ngục tù nhưng mỗi một tù nhân là một số phận, mỗi một trại cải tạo là một thế giới, thậm chí, cái thế giới bé nhỏ đó khi thay đổi người điều hành hay thay đổi nơi chốn, cũng có thể trở thành là địa ngục trần gian hay một nơi giam giữ còn tính người, có thể sống qua ngày, nghĩa là có đa dạng tù đày.


Chú thích:

[1]: Hataipreuk Rkasnuam and Jeanne Batalova, Vietnamese Immigrants in the United States, http://www.migrationpolicy.org/article/vietnamese– immigrants- united- states

[2]: http://www.vietnam.ttu.edu/resources/vietnamese– american.php

Trăng đang nằm trên sóng cỏ,

“Trăng đang nằm trên sóng cỏ,”

Cỏ đùa trăng đến bên ao,

Trăng lại đẫm mình xuống nước,

Trăng nước đều lặng nhìn nhau.

Đôi ta bắt chước thì sao?””

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mai Tá lược dịch

Bắt chước thì sao”? Mấy năm về trước, tôi có dịp cũng đi xem nghệ sĩ bi hài thuộc Dòng Tên, là Michael Moynahan trình diễn vở kịch câm mang tựa đề “Bi hài và nỗi thống khổ”, kể về giờ phút cuối của Đức Kitô ở trần thế. Vào kịch, là sự xuất hiện của một anh hề với nụ cười quên tắt trên môi. Anh biểu diễn các màn tung bóng ngay trước mặt khán giả, rất đẹp mắt.

Tiếp đó, là cảnh đám quân binh bước đến, dẫn Đức Kitô ra trình diện bá quan thiên hạ; để rồi, bọn họ đóng đinh Ngài lên cây khổ giá hình chữ thập. Tay hề chứng kiến cảnh tượng đầy kịch tính ấy với nỗi niềm sao xuyến, hãi sợ. Khi thấy Đức Kitô thực sự đã chết, đám quân binh ra về, không đợi gì thêm.

Nhưng, tay hề vẫn nán lại, ngồi bệt xuống dưới chân khổ giá. Anh bắt đầu gỡ bỏ các dấu đinh còn sót nơi tay và chân Chúa. Xong, đặt thi hài Ngài nằm sõng lên đùi anh, hệt như bức la Pietà nổi tiếng của nhà điêu khắc Mi-Kê-Lăng-Gê-lô.

Tay hề xót xa, rơi nước mắt khi phải chứng kiến cái cảnh Đấng Công Chính bị đóng đinh trên khổ giá, hình chữ thập. Cùng lúc ấy, đám quân binh quay lại, thấy tay hề còn ngồi đó thẫn thờ khóc cho thân phận của Đức-Chúa-làm-người. Chúng vực xốc anh dậy, đóng đinh anh lên cây thập tự thay cho Chúa. Tay hề đau đớn, chịu đựng được một lúc, rồi cũng trút hơi cuối cùng trên thập tự bằng gỗ cứng. Sần sùi.

Khi quân binh đi rồi, Đức Chúa trỗi dậy, Ngài trở về với sự sống khác thường. Ngài hướng mắt nhìn tay hề đã cùng chịu cũng một thân phận khổ ải như Ngài, bèn đến gỡ bỏ các đinh khoen đóng xác, đỡ anh xuống. Ôm gọn anh vào lòng, cứ để như thế mãi chốn thiên thu, miên trường.

Xem trình diễn vở kịch câm hôm ấy, tôi thấy như có tiếng thở dài rơi lệ, ở đâu đó nơi người dự khán. Chẳng có ai trong họ, lại cứng lòng đến độ trơ như đá; hoặc, không nhỏ giọt lệ ướt mi, trước bi hài kịch đầy xót thương. Ai oán.

Thật ra, chữ “xót thương” là cụm từ lấy từ tiếng “Compati” của La ngữ, mang ý nghĩa chịu đựng. Khổ ải. Tuyệt nhiên, cụm từ này không mang ý nghĩa thương hại, đồng cảm; hoặc sớt chia nỗi buồn bực, gì hết. Cũng vậy, cụm từ “buồn bã”, “xót xa” bên tiếng Việt lại bao hàm lập trường xa cách.

Đứng ở ngoài. Chẳng có liên hệ mảy may nào dính dự đến kinh nghiệm bản thân; hoặc, những cảm xúc hướng vào bên trong. Cụm từ ‘xót thương’, mang nặng một ‘cảm xúc’ của những người đồng cam đồng chịu, cũng một thân phận. Thân phận, mà Vị Mục Tử Nhân Hiền đã tự gánh lấy cho Ngài. Và, đây cũng là ý nghĩa đích thực của mùa Phục Sinh, rất hôm nay.

Giả như, ta xứng đáng để trở thành những người dám dấn bước, theo chân Đức Kitô, hẳn là ta cũng sẻ san cùng một tâm trạng, ngày Thứ Sáu Chịu nạn. Tuy thế, Chúa Nhật Phục Sinh, nay mang ý nghĩa thật rõ nét. Đó là: Chúa Cha đã trung tín với Con Một Ngài thế nào, thì Ngài cũng một lòng chung thủy đối với ta, hệt như thế.

Những năm tháng gần đây, nhiều vị Giám mục, vẫn được gọi là Mục tử nhân hiền ở giáo hội địa phương. Các ngài cũng bị chĩa mũi dùi, nhìn xoi mói khía cạnh đời sống tu đức của mỗi vị. Việc bị quan tâm/lưu ý như thế, cũng chẳng có gì là lạ. Bởi, tất cả chúng ta, dù ở cương vị nào đi nữa, vẫn đang sống cuộc đời của đạo-hữu chân-chính dõi bước chân mềm, đi theo Chúa.

Theo Chúa, còn có nghĩa là: nhận lãnh trách nhiệm, về những gì mình đã làm, và cả những gì mình không chịu làm. Xét như thế, các mục tử ở giáo hội địa phương, cũng không nằm trường hợp ngọai lệ.

Quả thật, các mục tử nhân hiền ở địa phương đã phải trải qua nhiều thời kỳ cam go, buốt óc. Đàn chiên dân Chúa, nay được huấn luyện theo tiêu chuẩn khá cao. Chẳng ai còn chịu để cho đấng chăn dắt mình, bắt phải rập khuôn, duy trì não trạng của thú đàn, vô tri giác. Không. Ai trong chúng ta cũng muốn biết về vị mục tử chăn dắt mình. Ai cũng muốn nghe tiếng mời gọi thân thương của các vị đang chăn dắt.

Thân thương, là tình thân biểu lộ ra ngoài lòng thương yêu, ta cần có. Biết quan tâm phấn đấu, đòi thực hiện cho bằng được sự chính đáng, công bình đến với các nạn nhân, ở khắp nơi. Đặc biệt hơn, là: nạn nhân đang bị chính Giáo hội mình làm cho thương tật.

Hẳn là, ai cũng muốn cam kết rằng: những gì vị mục tử nhân hiền ở địa phương phán quyết hoặc hành xử, nhất nhất đều phải rập khuôn lời lẽ và cử chỉ hiền hậu của Đức Chúa, tức Vị Mục Tử Nhân Hiền rất đích thực.

Những năm về trước, hẳn chúng ta có cảm giác choáng váng, thất vọng khi thấy một số –cũng may còn rất ít -các vị mục tử ở địa phương lợi dụng danh thơm tiếng tốt của Giáo hội, đã nhân danh quyền lực và vị thế xã hội của Đạo mình, đã lấy đi gương lành đạo đức lẫn nghĩa vụ pháp lý, tài chánh để rồi đã khiến cho thành viên trong đàn chiên bé nhỏ, đang bị thương tổn.

Tin Mừng hôm nay, thánh Gioan nhắc nhớ ta về vai trò và bản chất cần có của các vị lãnh đạo trong Hội thánh Chúa. Đức Giêsu không so sánh các vị lãnh đạo ấy như ông hoàng bà chúa nơi cung điện cao sang, quyền quý hoặc như thống đốc, quan toàn quyền ở tiểu bang. Hình ảnh Chúa đưa ra hôm nay, là: vị mục tử thân thương, nhân hiền.

Mục tử, chính là người chăn dắt rất tận tình, thật dễ thương. Các vị này, dám ngủ lại với đàn chiên nhỏ bé của mình, cả vào chốn đồng hoang trống vắng, rất hiểm nguy. Mục Tử Nhân hiền mà Đức Ktiô ám chỉ, là người biết rất rõ chiên đàn của mình. Rõ đến độ, Ngài dám hy sinh cuộc sống của mình, cho bầy đàn mình chăn dắt.

Tham dự Tiệc thánh hôm nay, ta cầu cho chiên đàn mình có lãnh đạo xứng đáng với lòng ngưỡng mong. Cầu mong sao, các vị lãnh đạo có lòng nhân thân thương trong sáng, biết khơi dậy nơi ta cũng một tình cảm, như các ngài đã ứng xử với chiên đàn bé nhỏ, của mình. Có như thế, các ngài mới đích thực là Mục tử thân thương, nhân hiền.

Có như thế, mới là lãnh đạo “chính chuyên”. Công chính. Biết ân cần phục vụ. Phục vụ, để đàn chiên mình luôn vui sống. Sống an vui, hiền hoà. Ân cần, trước mọi nhu cầu thiết thực của đàn chiên bé nhỏ. Nhất là lúc này, khi bầy lang sói vẫn rình rập, ở đâu đó. Thứ sói lang mang hình thù, mã số rất thời thượng, những Dan Brown, Tom Hanks ở sân khấu-cuộc đời, đầy nhiễu nhương.

Lm Richard Leonard sj –

Mai Tá lược dịch

Ngồi, dưới trăng lắng im nghe lòng ta,

“Ngồi, dưới trăng lắng im nghe lòng ta”,

Thổn thức bao chuyện ngày qua… sầu đau

Hỡi người dấu yêu, sao đành nỡ quên…

Sao đành tình ta vỡ tan, như cánh chim lìa bay?

(Breakfast at Tiffany’s Moon River – Phạm Duy: Dưới Trăng)

(2Cor 13: 5-10)

Trần Ngọc Mười Hai

Thật ra thì, có “ngồi dưới trăng lắng im nghe lòng ta” cách mấy đi chăng nữa, đã chắc gì mình thấy lại được hồn mình đang “thổn thức bao chuyện ngày qua…sầu đau”, đâu chứ!

“Sầu đau” không, vẫn là chuyện của người viết khi ông lại đã hát thêm, rằng:

“Lòng, đắm say những khi ta gần nhau,

Ngồi dưới ánh trăng dịu êm ….cùng mơ.

(Dưới Trăng – bđd)

Ấy đấy, là vấn đề. Sầu đau hay buồn vương, chán chường vẫn là chuyện thời đại, của nhiều người. Những chuyện như thế, nay len lỏi vào tâm tư các vị xưa nay từng sống với quyền-cao-chức-trọng, cũng hệt thế.

Sầu đau hôm nay, có thể là chuyện vẫn xảy đến với nhà Đạo, khi nhiều vị ở đó vẫn quan-tâm đến chuyện phù-phiếm, chóng qua như so-sánh chuyện nổi-danh/nổi-tiếng hoặc nổi cộm được toàn thế-giới hâm-mộ, như hôm rồi nhà báo Úc, viết những giòng như sau:

“Sau 2 năm vẫn ‘trụ’ ở cương vị giáo-chủ cả một đạo, Đức Phanxicô nay đạt tỷ-lệ nổi tiếng/mến-mộ đến 90%, vượt xa Đức Bênêđíchtô 16 và coi là đấng được nhiều người ưu-chuộng nhất hành-tinh.

Đức Phanxicô dự-định ghé thăm thủ-đô Washington, New York và Philadelphia vào tháng 9 năm 2015, nên tin này đã làm người Mỹ tìm cách lập khảo-sát nhằm thu-thập số phiếu bầu ngài là “vị Giáo-hoàng được lòng người Mỹ nhất” lên đến 57% số phiếu bầu.

Theo hãng thăm dò dư-luận Pew Research Centre, thì tiếng-tăm của Đức Phanxicô nay gia-tăng rất nhiều nội hai năm qua. Từ ngày khởi-đầu triều-đại Giáo-hoàng, ngài khởi-phát chỉ mới 58% vào độ tháng 9/2013 nhưng đến năm 2014, tỷ-lệ này lên đến 66% và năm 2015 đạt 70%, ngay ngày đầu. Với người Công-giáo đi lễ đều đặn, thì các vị lại bầu cho Đức Phanxicô một tỷ-lệ đến 95% số phiếu tuyên-dương ngài là chủ chăn được người ưa-chuộng nhiều nhất. Và, trong số các người này, nhiều vị lại hoàn-toàn đồng-ý với ngài, trong mọi chuyện…

Theo nghiên-cứu/khảo-sát do công-ty Pew Research Centre thực-hiện từ ngày 18 đến 22 tháng Hai 2015 trên điện-thoại nhà và di-động đã chuyển đến 1504 người lớn tuổi trên toàn quốc đã nắm được con số trên.” (tin trên The Catholic Weekly 22/3/2015, tr. 15)

Bàn về chuyện người người rất ưa-thích Đức Phanxicô như thế quả quá đúng. Và ở đây, ta cũng không có gì để bàn cãi với tranh-luận. Thế nhưng, nếu cứ theo tin tức và bảng điểm do báo/đài truyền-thông Mỹ loan đi, thì chỉ như thế thôi.

Thế thôi, nghĩa là chỉ mỗi con số và con số nói lên cũng chỉ chút ít thực-tại, trong khi đó sự thật rất thực có thể lại rất khác. Thực-tại đích-thật khác, là ở chỗ: không thấy báo/đài nào chấm điểm hoặc so-sánh tính khiêm-nhu/lành-thánh của ‘đấng bậc’ ở chốn trời-cao-mây-trắng-toát-rất-tít-mù là Giáo hội Công-giáo của mình, hết.

Bởi, có làm thế cũng bằng thừa, vì: vào những tháng ngày gần đây, người đi đạo cũng nghe/biết nhiều về tình-hình phong thánh các đấng bậc lại đã gia-tăng nhiều đến độ có người gọi đó là “Lạm phát chất thánh”…

Gia-tăng như thế, nghĩ cũng phải, vì các ngài tuy chưa quá vãng hoặc đã xa lìa cõi thế-trần này những cũng được người đời gọi bằng danh xưng thật rất thánh quá mức đến nỗi các vị, khi được bầu làm giáo-chủ một đạo, là đạt ngay danh hiệu quí-hiếm: Đức “thánh” Cha, ngay thôi. Thế nghĩa là: các ngài dù chưa hoạt-động gì bao lăm cũng đã là thánh rồi, để rồi khi chết lại cũng trở-thành ‘thánh’, gấp đôi mà thôi.

Thôi thì, có gọi các ngài là Đức “thánh” Cha hay không, cũng đâu là chuyện quan-trọng. Điều quan-trọng với Giáo-hội hôm nay, là: Giáo-hội ta có còn đặt nặng khía-cạnh “quyền-lực” vào vị-thế của các đấng bậc đứng đầu một Giáo-hội hay không, mà thôi!

Bàn việc này, cũng nên tạt qua ý/lời của đấng bậc vi vọng cỡ bậc thầy thần-học ở chốn miền khá thấp nhưng lại là bậc thày của 4 đại học Công giáo ở Hoa-Kỳ đến 40 năm tròn, là Lm Kevin O’Shea CSsR, như sau:

“Bài Thương Khó do thánh Máccô ghi, khi nói Đức Giêsu bị giới quyền cao chức trọng người La Mã hạch-hỏi xem Ngài có đích-thực là Vua-dân-Do-thái, tức là người có quyền chức tương-đương nơi dân Ngài, không. Sở dĩ Philatô hỏi thế, là vì ông bị đám Do thái có quyền-chức là các thượng-tế trong đạo cứ bủa vây, xúi giục ông làm những việc như vậy. Thế nhưng, Đức Giêsu vẫn lặng-thinh không nói lời nào, là bởi như ngôn-từ của Trình-thuật Tin Mừng cho thấy: Ngài không trả lời theo hướng họ đưa ra, vì Ngài không thuộc hệ-thống cầm-quyền như họ.

Đức Giêsu muốn giải-thoát nhân-loại không vì mục-đích đưa nhân-loại ra khỏi chốn “lỗi tội” mà còn đưa ra khỏi mạng-lưới quyền-lực vốn dĩ muốn gài bẫy những người cùng một vai-trò, ở trong đó. Điều này cho thấy: có nhận-thức đích-thực từ ảnh-hưởng của cơ-chế xã-hội trong mọi quyết-định về chính-trị.

Đặc quyền/đặc lợi, là cha đẻ ra quyền-lực, mà quyền-lực lại đẻ ra bức-bách, bức bách đẻ ra sức mạnh. Đương nhiên cùng một lúc, hệ-thống quyền-bính không buộc phải trở-thành một thứ “dê tế-thần” cốt bào-chữa cho các hành-xử của người có vai-trò lãnh-đạo, ở cấp cao. Nhưng, chính họ là người có bổn-phận đứng lên chống lại áp-lực của xã-hội như thế, trước mặt mọi cơ-chế bất công.

Thành-ngữ do thánh Máccô sử-dụng cốt để mai-mỉa/phản-bác lối khuynh-loát, cũng là ngôn-từ để nói rằng: thủ-lãnh cấp cao nơi công-quyền lại cũng là nô-lệ của nhiều thứ. Chương 10 câu 44-45 còn thấy đầy những ngôn-từ chính-trị mang tính hạt-nhân ban đầu, mà tiếng Hy-Lạp gọi là “protos”, vẫn ở cạnh chữ “nô-lệ”, tức “doulos”“diakonen”, tức “phục vụ”. Ngay chữ đầu đã có nghĩa trở-thành “nô-lệ” rồi. Quan-điểm này, thật triệt-để; do cụm từ “doulos” không chỉ nói về giai-tầng thấp ở cơ-cấu quyền-lực mà thôi, nhưng còn diễn-tả như sự trượt-vuột khỏi cơ-cấu nắm quyền và có uy-lực đầy mình. Từ-vựng ấy, cũng không diễn-tả giai-tầng cao xa nhất, hoặc giai-tầng thuộc loại thứ-yếu hoặc chót hết, hiểu theo nghĩa cơ-cấu quyền-lực. Đó, là thứ gì trái-nghịch hẳn. Là mặt trái, tức: thông-điệp đầy mỉa-mai/châm-biếm vốn dĩ nằm bên trong cơ-cấu quyền-lực rồi. Nói cách khác, đây thực sự là những người biến thành nô-lệ cho quyền-lực. Họ cần được giao cho đám thiếu quyền-lực nhất…” (x. Lm Kevin O’Shea, CSsR, Ơn Cứu Chuộc Nơi Ngài chan-chứa, Chương 2 phần 4, nxb Hồng Đức sẽ phát hành vào hạ tuần 4/2015)

Đề-cập đến vấn-đề Giáo-hội và quyền-lực, vẫn luôn là chuyện nóng bỏng, rất khó lòng. Khó, là bởi khi ai đó đã ở bên trong guồng máy có quyền và có lực rồi, thường sẽ có khuynh-hướng hỗ-trợ cả hai bên, tất tần tật. Nói thế, tức diễn tả cách nào đó để bảo rằng: đôi bên đều như nhau và ngang nhau.

Đề-cập chuyện thế-quyền và thần-quyền, là ta đi vào những chuyện nóng bỏng, càn dễ “cháy” hơn nữa. Cháy, cả trong lẫn ngoài. Cháy, từ trên xuống dưới, mà ngôn-ngữ đời thường vẫn bảo đụng vào sẽ “từ chết đến bị thương, thôi.”

Thật ra thì, đề-cập đến sự nổi tiếng khi nắm gọn vai trò chóp bu ở thế-quyền hay thần-quyền cũng đừng quên lời Đấng Thánh-hiền còn đó, vẫn gọi mọi người hãy đọc đi rồi tự xét, như sau:

“Anh em hãy tự xét xem

mình có còn sống trong đức tin hay không.

Hãy tự kiểm điểm.

Anh em chẳng nhận thấy là

có Đức Giêsu Kitô ở trong anh em sao?

Trừ phi anh em đã thua trong cuộc kiểm điểm này.

Tôi hy vọng rằng anh em sẽ nhận thấy

là chúng tôi đây không bị thua.

Chúng tôi cầu xin Thiên Chúa

cho anh em đừng làm điều gì trái,

không phải để tỏ ra chúng tôi thắng,

nhưng để anh em làm điều thiện,

cho dù chúng tôi như bị thua.

Vì chúng tôi không thể làm gì chống lại sự thật,

nhưng chúng tôi chỉ có thể hoạt động cho sự thật.”

(2Cor 13: 5-8)

Nhắc nhớ lời thánh-hiền xưa căn-dặn, hẳn cũng thừa. Thừa hơn nữa, là khi lời nhắn ấy lại gửi đến đấng-bậc vị-vọng trong giáo-hội rất thánh của Đức Chúa. Nhắc nhở đôi điều gửi đến những ai còn có tham-vọng “làm lớn” hoặc nổi-tiếng như cồn ở đâu đó, có lẽ cũng chỉ nên nhắc và nhở bằng truyện kể hoặc tin tức…mình, ở đời thôi.

Nhưng trước khi cứu xét những sự việc như thế, tưởng cũng nên trở về với lời ca mà người nghệ-sĩ ở nhà từng dịch ra lời Việt và hát thêm, rằng:

“Ngồi dưới trăng lắng im nghe lòng ta

Thổn thức bao chuyện ngày qua… sầu đau

Hỡi người dấu yêu, sao đành nỡ quên…

Sao đành tình ta vỡ tan như cánh chim lìa bay?

Lòng đắm say những khi ta gần nhau,

Ngồi dưới ánh trăng dịu êm cùng mơ…

Con thuyền trôi về đâu dưới trăng vàng?

Cớ sao một mình ta ngồi dưới ánh trăng lẻ loi,

buồn vấn vương… chán chường…”

(Dưới Trăng – bđd)

“Buồn vấn-vương, chán-chường” có là tâm-trạng của người đời ở đời, sau khi đứng ‘trụ’ chốn cao trong phong-trào nào đó, tức ‘tiếng tăm’ của mình đã nổi đình/nổi đám suốt một thời, nhiều năm tháng như cặp đôi “đồng tính” ở địa-hạt thời-trang, nay có vấn-đề như sau:

“Chuyện đạo-đức trong sinh-hóa tuần vừa qua, lại xảy đến từ sàn diễn thời-trang ở Milan, nuớc Ý cho tới buổi phỏng-vấn tập-san Panorama ở đây nói về cặp bài trùng tạo mẫu thời trang là Stefano Gabbana và Domenico Dolce đã đả-kích hôn-nhân đồng tính luyến ái, thụ thai ống-nghiệm IVF và chuyện thay mẹ đẻ để sinh-sôi nảy nở…

Dolce và Gabbana từng chung sống như cặp tình nhân đồng-tính đến 20 năm, nhưng đã chia tay cách nhẹ nhàng vào năm 2005, dù đạt thành-công như người chung-phần đối-tác trong thương-vụ. Khi được hỏi, quý vị có muốn làm cha theo cung-cách nào đó không, thì Dolce trả lời ngay rằng:

“Tôi là người đồng-tính luyến-ái, nên không thể có con được… chúng ta sinh ra có cha có mẹ, hoặc ít ra là như thế, còn các trẻ không có cha có mẹ theo nghĩa tự-nhiên như thế, thì tôi gọi là “trẻ con sinh tự phòng dược, hoặc trẻ chế-biến tổng-hợp, sinh từ buồng trứng thuê mướn, do chọn tinh-trùng từ danh-mục hàng-hoá…”

Không những thế, nhà tạo mẫu Domenico Dolce, 57 tuổi lâu nay tự nhận là người Công-giáo vẫn còn đi nhà thờ khá đều-đặn, lại nói:

“Không thể tính chuyện sinh con theo cách thuê mướn tử-cung hoặc dùng hoá-chất mà tạo thành được. Cuộc sống, là giòng chảy tự-nhiên có những điều trong đời, ta không được phép thay đổi nó, mới đúng. Nếu quý vị sinh ra từ cung lòng người mẹ và do tinh-trùng của người cha đích-thực hoặc ít ra phải như thế. Làm khác đi, thì đó chỉ là đứa con từ phòng dược, tức trẻ được chế-biến theo cách tơ sợi tổng-hợp, thuê mướn tử-cung của ai khác, hoặc tinh-trùng được chọn từ tập danh-mục thương-mại, mà thôi.”

Trong khi đó Stefano Gabbana lại bảo:

“Gia đình không là ‘mốt’ thời-trang. Gia-đình phải có nghĩa siêu-nhiên gần gũi thân-thương của người nhà…” Vào lúc đó, Dolce lại đã thêm ý của Gabbana: “Đồng-công kiến-tạo là động-thái của tình yêu. Ngay các chuyên-gia tâm-thần cũng đang phải đối đầu với ảnh-hưởng của cuộc thực-nghiệm do mình tạo ra, nữa.”

Chuyện xảy ra là, khi nghe biết câu chuyện như thế, thì thần-tượng đồng-tính luyến-ái người Anh là ngài Elton John, tức cha của hai đứa trẻ sinh từ bà-mẹ-thuê-mướn thay cho mẹ ruột đã phản-ứng một cách rất nóng-giận và bảo rằng: sao các anh lại dám qui về các đứa con thân-yêu tuyệt-vời của tôi, rồi đặt tên cho chúng là trẻ bé sinh từ tơ sợi tổng-hợp? Các anh thật đáng xấu hổ chỉ biết chĩa tay vào ống nghiệm IVF thôi. Tư-duy của các anh nay lỗi thời rồi, hệt như thời-trang do các anh tạo ra nay không còn ăn khách nữa. Từ nay, tôi sẽ không thèm mua đồ Dolce & Gabbana tạo mẫu về mặc đâu..” (X. Michael Cook, Dolce & Gabbana spark internet frenzy over IVF, BioEdge 21/3/2015)

Xem thế thì, chuyện nổi đình/nổi đám đầy tiếng tăm suốt nhiều năm, đã trở-thành vấn-đề với nhiều người, những hỏi rằng: được thế đến bao lâu. Nổi cồn như thế, có làm cho bản-thân người nổi tiếng thêm được chút hạnh phúc nào không? Hoặc, có giúp người nổi tiếng trở-thành lành/thánh lâu năm không?

Trả lời câu hỏi gay-go/hiểm hóc này, thật cũng khó. Khó, là bởi những người như bạn và tôi, có lẻ ta chưa bao giờ được thế. Nên, thay vì trả lời cho đích-đáng, có lẽ cũng nên đi vào vùng trời truyện kể, để xem: có thể may ra cũng có trường hợp tương-tự.

Quyết thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta đọc thử truyện kể sau đây, rồi sẽ thấy:

“Truyện rằng:

Ngày xưa, có một họa sĩ tên là Ranga, một người siêu việt, vẽ được rất nhiều kiệt tác đáng ghi nhớ khiến ai cũng dều khen ngợi.

Ông mở một lớp học mỹ thuật để dạy nghề cho mọi người và cũng để tìm đệ tử nối nghiệp. Ông không mấy khi khen ngợi ai, cũng không bao giờ đề cập đến thời gian của khóa hoặc. Ông nói, một học trò chỉ có thể thành công khi ông hài lòng với kỹ năng và hiểu biết của người đó. Ông truyền cho học trò những phương pháp đánh giá, ước định của ông, và chúng cũng độc đáo như những tác phẩm của ông vậy. Ông không bao giờ thổi phồng tầm quan trọng của những bức tranh hay sự nổi tiếng, mà ông luôn nhấn mạnh đến cách xử sự, thái độ với cuộc sống của học trò.

Trong một số lượng lớn học trò, Rajeev là một người có tài nhất, chăm chỉ, sáng tạo,nên anh ta tiếp thu nhanh hơn nhiều so với các bạn đồng môn. Ông Ranga rất hài lòng về Rajeev.

Một ngày kia, sau bao nhiêu cố gắng, Rajeev được ông Ranga gọi đến và bảo:
-Ta rất tự hào về những tiến bộ mà con đã đạt được. Bây giờ là thời điểm con làm bài thi cuối cùng trước khi ta công nhận con thực sự là một họa sĩ tài năng. Ta muốn con vẽ một bức tranh mà ai cũng phải thấy đẹp, phải khen ngợi.

Rajeev làm việc ngày đêm, trong rất nhiều ngày và đem đến trình thầy Ranga một bức tranh tuyệt diệu. Thầy Ranga xem qua rồi bảo:

-Con hãy đem bức tranh này ra đặt ở quảng trường chính, để tất cả mọi người có thể chiêm ngưỡng.

Hãy viết bên dưới bức tranh là tác giả sẽ rất biết ơn nếu bất kỳ ai có thể chỉ ra bất kỳ sơ suất nào trên bức tranh và đánh một dấu X vào chỗ lỗi đó. Rajeev làm theo lời thầy: đặt bức tranh ở quảng trường lớn với một thông điệp đề nghị mọi người chỉ ra những sơ suất.

Sau hai ngày, Ranga đề nghị Rajeev lấy bức tranh về. Rajeev rất thất vọng khi bức tranh của mình đầy dấu X. Nhưng Ranga tỏ ra bình tĩnh và khuyên Rajeev đừng thất vọng, cố gắng lần nữa. Rajeev vẽ một kiệt tác khác, nhưng thầy Ranga bảo phải thay đổi thông điệp dưới bức tranh. Thầy Ranga nói phải để màu vẽ và bút ngay cạnh bức tranh ở quảng trường và đề nghị mọi người tìm những chỗ sai trong bức tranh và sửa chúng lại bằng những dụng cụ để vẽ ấy.

Hai ngày sau, khi lấy tranh về, Rajeev rất vui mừng khi thấy bức tranh không bị sửa gì hết và tự tin đem đến chỗ Ranga. Ranga nói:

-Con đã thành công vào ngày hôm nay. Bởi vì nếu chỉ thành thạo về mỹ thuật thôi thì chưa đủ, mà con còn phải biết rằng con người bao giờ cũng đánh giá bừa bãi ngay khi có cơ hội đầu tiên, cho dù họ chẳng biết gì về điều đó cả. Nếu con luôn để cả thế giới đánh giá mình, con sẽ luôn thất vọng. Con người thích đánh giá người khác mà không nghĩ đến trách-nhiệm hay nghiêm-túc gì cả. Mọi người đánh những dấu X lên bức tranh đầu tiên của con vì họ không có trách nhiệm gì mà lại cho đó là việc không cần động não. Nhưng khi con đề nghị họ sửa những sơ suất thì không ai làm nữa, vì họ sợ bộc lộ hiểu biết – những thứ mà họ có thể không có. Nên họ quyết định tránh đi là hơn. Cho nên, những thứ mà con phải vất vả để làm ra được, đừng dễ dàng bị ảnh hưởng bởi đánh giá của người khác. Hãy tự đánh giá mình. Và tất nhiên, cũng đừng bao giờ đánh giá người khác quá dễ dàng.” (truyện kể do St sưu-tầm gửi lên mạng)

Kể thế rồi, nay mời tôi và mời bạn, ta cứ đi vào giòng chảy những nghĩ suy để rồi tự mình rút ra bài học để đời cho mình, cho người, và cả đấng bậc trên cũng như dưới, rất Nước Trời.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những ngày

Nhiều nghĩ suy

Về những tiếng tăm

nổi cộm một thời

rồi cũng xẹp

trong âm-thầm.

TẠI SAO ĐẤT NƯỚC TA NHƯ THẾ NÀY?

TẠI SAO ĐẤT NƯỚC TA NHƯ THẾ NÀY?

Phạm Văn Chính

18-04-2015

Đất nước giàu có tại thiên nhiên

Ban tặng “tiền rừng bạc biển”

Người dân cần cù lao động

Có cả một vựa lúa đồng bằng Sông Cửu Long

Và châu thổ Sông Hồng

Xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới

Đất nước ta có biết bao tài nguyên hầm mỏ, đa dạng đủ loại không thiếu một thứ gì trong lòng đất, than khoáng sản, sắt, nhôm, đồng, chì, kẽm, thiếc, titan, suốt dãy núi Trường Sơn từ Nam ra Bắc, có cả một hệ thống sông ngòi lớn nhỏ hoàn chỉnh, giao thông thuận tiện.

Có 3.000 km bờ biển, có một thềm lục địa vĩ đại chạy dài từ vịnh Bắc Bộ đến các đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Bộ. Có cả hệ thống đảo ven bờ từ Bạch Long Vĩ Bắc Bộ đến đảo Phú Quốc, Nam Bộ. Đảo Phú Quốc to ngang tầm với đất nước Singapore.

Có biết bao nhiêu nhân tài trí thức, các nhà khoa học, các kỹ sư, giáo sư đủ loại cấp bậc, từ tiến sĩ, phó tiến sĩ, bùng phát nhiều như lợn con.

Còn có các nhà khoa học, nhiều bộ môn như kinh tế học, có cả một bộ máy nhà nước hoàn chỉnh ở các cấp bộ như Nông-Công-Thương nghiệp, Môi trường, Y tế. v.v…

Thế mà đời sống của người dân vẫn cực khổ. Tại sao???

Về nông nghiệp

Như đã nói ở trên, lúa gạo xuất khẩu ở nước ta đứng nhất nhì thế giới. Thế nhưng, mức thu nhập của người nông dân quá thấp, các phương tiện truyền thông cho biết, mức thu nhập bình quân của người nông dân trên 500.000 đ một tháng, tương đương 25 USD.

Vì mức sống quá thấp đó đã khiến hàng trăm nghìn cô gái rời bỏ quê hương đi lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc. Thậm chí lấy cả những ông già tàn tật, miễn sao thoát khỏi quê hương đau khổ. Rất nhiều câu chuyện đau lòng liên quan tới chuyện lấy chồng nước ngoài khác có thể tìm thấy ở trên các bài báo chính thống.

Ở nhiều nơi, nông dân chặt bỏ nhiều loại cây như cao su, ruộng mía vì bị ép giá không có người mua. Đáng lẽ ra nhà nước phải có ban điều phối đứng ra giải quyết những bất cập phát sinh có hại cho nông dân.

Về công nghiệp

Nước ta đã có các nhà máy ra đời cách đây nửa thế kỷ, như nhà máy đầu đàn khu Gang thép Thái Nguyên, cơ khí Hà Nội còn gọi là “Trung quy mô”, nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, Lương Yên, cơ khí Mai Động, Đồng Tháp, Minh Nam, Giải Phóng, Pin Văn Điển, nhà Máy Cao su, thuốc lá, Xà phòng, nhà máy dệt 8/3, Diêm Thống Nhất v.v…

Ta hãy tìm hiểu xem, thành tích tiến bộ của các nhà máy này có hiệu quả không? Hàng thập kỷ nay, như mọi người đã biết, sản phẩm chính của các nhà máy gang thép Thái Nguyên là thép xây dựng chưa làm được các loại thép công nghiệp như trục ray tàu hỏa, các loại thép công nghiệp phổ thông các cỡ U-I-L lớn nhỏ và các loại tôn kích cỡ dày mỏng cán nguội, cán nóng rất cần thiết cho ngành cơ khí chế tạo vỏ ôtô, mái nhà, tàu biển, mỗi năm các xưởng đóng tàu biển phải nhập hàng triệu tấn để làm vỏ tàu.

Đó là thực trạng ngày nay của nhà máy “Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên do Trung Quốc giúp đỡ”. Còn nhà máy cơ khí Hà Nội hay gọi là Trung quy mô do Liên Xô trước đây giúp đỡ xây dựng, chuyên sản xuất các loại, máy cắt gọt kim loại như máy tiện, máy khoan, máy phay bào và các dụng cụ cắt gọt .v.v… Thời gian trôi đi lạc hậu đeo bám so với thế giới gần một thế kỷ, hiện nay không biết ở đâu? Làm gì?

Nhà máy Trần Hưng Đạo chiếm cả một khu rộng lớn bao gồm mấy tuyến phố, Bà Triệu, Thái Phiên, Mai Hắc Đế chuyên sản xuất máy Bông Sen lắp vào xe công nông 3 bánh, mấy năm qua nhà nước cũng đã cấm loại xe này lưu hành vì nó xả khói bụi gây ô nhiễm môi trường và hay gây tai nạn.

Còn các nhà máy Đồng Tháp, Minh Nam, Lương Yên hình như đã xóa sổ, còn lại các nhà máy cao su, xà phòng, thuốc lá, cơ khí Mai Động, Giải Phóng, Pin Văn Điển đang cầm cự chờ số phận.

Nhà máy Pin ra đời cách đây nửa thế kỷ cũng chỉ sản xuất được hai loại pin Con Thỏ to đại, chưa làm được các loại pin “cúc” mỏng nhỏ sử dụng trong các đồng hồ nhỏ và đồ chơi trẻ em. Tại sao vậy? Với tình trang trì trệ, lạc hậu như vậy, làm sao công nhân, người lao động khá lên được?

Về thương nghiệp

Buôn bán trao đổi xuất nhập khẩu tổng hợp đa dạng các mặt hàng nông, lâm nghiệp, ngư nghiệp, khoáng sản, giày dép, quần áo và các thiết bị máy móc thiết bị điện tử, y tế, giao thông, tàu bè, ô tô…

Về xuất khẩu

Nước ta là nước nông nghiệp, chiếm 80% nông sản lúa gạo xuất đi các nước trên thế giới hàng triệu tấn mỗi năm, để các “thương lái” điều hành lũng đoạn thị trường vơ vét làm giàu bắt bí nông dân, mua với giá rẻ, không khác nào “cấy lúa trên lưng” người nông dân không am hiểu nắm bắt thị trường thế giới, bán phá giá cho các đối tác nước ngoài với số lượng lớn. Thua ngay cả Thái Lan về giá cả, làm thiệt hại cho nông dân và đất nước.

Về rau quả xuất đi nước ngoài cũng bị động thua thiệt, chủ yếu xuất sang Trung Quốc. Như mọi người đã biết, hàng năm “đến hẹn lại lên”, ngót một nghìn xe chở dưa hấu và các rau quả khác mắc kẹt ở cửa khẩu Tam Thanh tắc nghẽn đường chờ làm “thủ tục” ở phía Trung Quốc, chờ lâu hàng hóa ứ đọng thối nát phải đổ đi dọc đường, năm nào cũng diễn ra như vậy, thiếu phân bổ không nắm được hợp đồng chặt chẽ với đối tác trao đổi số lượng “chính ngạch” là bao nhiêu? Còn lại “tiểu ngạch” là bao nhiêu?

Ngược lại ta nhập của Trung Quốc rau quả, khoai tây, tỏi những thứ rau quả này tẩm hóa chất quá mức an toàn có hại cho sức khỏe. Chưa kể hết được các loại thực phẩm nhiễm vi khuẩn gây bệnh như thịt gà-bò-lợn ướp lạnh không rõ nguồn gốc, kể cả các loại ngũ tạng gà lợn ôi thiu v.v… Còn về xuất khẩu mặt hàng dệt may quần áo, giày dép chủ yếu là hàng gia công cho nước ngoài vì ta không có nguyên liệu.

Thua thiệt nhiều trong lĩnh vực trao đổi mua bán hàng hóa do sự lệ thuộc ít hiểu biết thị trường thế giới cập nhật hàng ngày, bỏ qua những thông tin bổ ích, thiếu suy nghĩ không biết làm, hàng năm đã xuất thô bao nhiêu khoáng sản kim loại quý như titan, aluminum (nhôm) v.v… với giá rẻ, làm cho đất nước nghèo đi. Vậy còn gì nữa đây?

Có lẽ xuất khẩu lao động là khả thi nhất, vì có nhiều mối lợi xóa đói giảm nghèo, người đi lao động phải nộp một khoản tiền. Nhiều người thậm chí bán cả nhà hoặc vay ngân hàng để đóng lệ phí, để đi sang các nước “tư bản bóc lột”, cũng kiếm được một số tiền kha khá đổi đời gửi tiền về cho gia đình và không ít những người bị lừa trắng tay, rơi vào cảnh bần cùng không lối thoát.

Bất kỳ ở đâu khi tiếp các lãnh đạo nước ngoài, đại diện của ta luôn kèm theo quảng bá chào hàng, lao động dư thừa giá rẻ hấp dẫn, ký kết hợp tác lao động có cả triệu người sang các nước kể cả Thái Lan, Malaysia, Singapore, Síp, thậm chí cả các nước Trung Đông thuộc châu Á như Qatar, các nước ARập rất giàu có về tài nguyên dầu mỏ nhưng ngược lại rất nghèo về đạo lý tình người. Ở nơi đó rất cần nhiều lao động để lấn biển, mở sân bay rộng lớn tầm cỡ nhất nhì thế giới; ở nơi đó thiếu văn minh đúng nghĩa của nó đối xử với lao động quá tồi tệ không có an toàn lao động, tai nạn chết chóc xảy ra thường xuyên với mức lương quá thấp so xới sức lao động bỏ ra. Nhiều người đã bỏ mạng nơi đất khách quê người vì nơi ăn ở thiếu thốn, ốm đau bệnh tật, nơi đó quả thật là địa ngục trần gian, qua các tư liệu thông tin hình ảnh cho biết.

Về nhập khẩu

Nhiều thiết bị, máy móc ta không làm được phải nhập loại có giá trị cả triệu USD, do đó nhập siêu nhiều hơn là xuất.

Nhiều thứ nhập rồi bỏ đi làm sắt vụn, đồng nát như máy bay, tàu biển, ụ nổi Vinashin và nhiều thiết bị khác không kể xiết, chỉ kể một số sự việc được các thông tin truyền thông đăng tải vừa qua. Trong nước có nhiều biển cảng, riêng cảng Hải Phòng chứa trên dưới 10.000 container siêu trường, siêu trọng loại to đổ phế liệu rác thải bỏ đi; những người mang về chứa hàng chục năm nay, chắc hẳn phải có thế lực họ không am hiểu về chuyên môn, hám lợi, thiếu cái tâm.

Về môi trường

Sức khỏe và sự sống của con người là do môi trường trong sạch, trong đó có nước và không khí, đặc biệt quan trọng với sức khỏe con người. Đất nước đang đi vào công nghiệp hóa, các nhà máy mọc lên khắp nơi, khói bụi và nước thải bừa bãi làm chết biết bao con sông, hóa chất độc hại thấm sâu vào đất, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và các loại rau quả, sinh vật, cá, tôm, tép đều chết, đã xuất hiện nhiều làng ung thư, gây nên nỗi đau cho người dân ốm đau mắc bệnh ung thư. Trách nhiệm này thuộc về cơ quan chức năng bảo vệ môi trường chưa làm hết trách nhiệm với dân, các chế tài chưa mạnh không có sự đền bù cho dân ốm đau bệnh hoạn ở các làng ung thư, người dân biết kêu ai? Hầu như không có một cơ quan nào đứng ra bắt các nhà máy phải đền bù cho dân, làm sống lại các con sông chết (việc này ở miền Nam làm tốt hơn miền Bắc).

Về y tế

Đời người ai cũng ốm đau, ít nhất cũng vào viện đôi ba lần, những điều muốn nêu lên ở đây là viện phí quá đắt so với mức sống thu nhập của người dân. Trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam, đi khám qua loa vài cái xét nghiệm cũng mất tới 4- 5 triệu, chưa kể tiền thuốc, mức chi phí này vượt quá mức lương lao động trong một tháng của người dân. Nếu bệnh nan y phải phẫu thuật, hóa trị, xạ trị vv… ôi thôi khỏi phải nói! Số tiền chữa bệnh có thể lên đến hàng trăm triệu thậm chí cả bạc tỉ. Người lao động làm cả đời cũng không để dành được số tiền đó. Nói về thẻ bảo hiểm, có hỗ trợ gì đâu vì bệnh nhân hầu hết là trái tuyến, không có thanh toán.

Tôi đã từng là bệnh nhân phải vào viện K điều trị trong hoàn cảnh 4 người nằm một cái giường con, giá tiền nằm một ngày là 80.000 đ; giường quá nhỏ, ngồi cũng không đủ cho 4 người. Vậy ban quản lý hay giám đốc có biết không? Còn rất nhiều chuyện kiếm tiền của bệnh viện nói ra thì trang giấy này không đủ. Nói riêng về thiết bị máy móc quá cũ, hỏng luôn, bệnh nhân phải chờ đợi, tôi là người trong cuộc thấu hiểu rõ cách đối xử với bệnh nhân của bệnh viện, hầu như tất cả các bệnh viện đều quá tải. Tại sao vậy?

Ốm đau nhiều, vì môi trường, vì tai nạn, ít am hiểu phòng bệnh. Để giảm tải sự ốm đau, tốt nhất là ngành y tế có phương pháp tổng thể tuyên truyền khắp nơi trên các phương tiện truyền thanh, truyền hình từ bản làng đến các xã, huyện, thành phố, dán áp phích, tờ rơi nói về cách phòng các loại bệnh. Cách làm này ít nhiều cũng có kết quả.

Là người Việt Nam, tôi thấu hiểu trình độ dân trí hãy còn thấp, ít ai quan tâm đến báo chí tin tức thời sự, chính trị, khoa học, kinh tế, xã hội… bỏ qua các thông tin bổ ích trong đời sống, chỉ thích các loại phim truyện tầm phào, hài hước, chuyện vui, chuyện hài vv…

Nắm được tâm lý ý dân, Bộ y tế, Bộ giao thông liên kết với Bộ văn hóa, cho ra đời những tiểu phẩm chuyên nói về cách đề phòng các loại bệnh và luật giao thông an toàn nhờ các diễn viên hề nổi tiếng đóng trong các tiểu phẩm hay clip chiếu rộng rãi trên các kênh TV hàng ngày giảm bớt chương trình quảng cáo thương mại hóa, lợi thì ít, hại thì nhiều. Các tiểu phẩm này nêu cả sai trái của người tham gia giao thông, trên các phương tiện đi bộ, đi xe đạp, xe máy, ô tô, nếu làm được những điều kể trên thì tin chắc tai nạn giao thông sẽ giảm và bệnh viện không còn nỗi lo quá tải.

Nhớ lại thời Pháp thuộc xa xưa cách đây gần một thế kỷ (70 năm) đã cho chiếu bộ phim hoạt hình ở khắp thành phố, bến xe, chợ quán. Bộ phim nói về 3 loại bệnh xã hội phổ thông như: lao phổi, tiêu chảy, sốt rét và cách phòng chống. Những ai xem đều có ấn tượng sâu sắc không thể nào quên. Tại sao Bộ Y Tế không làm được việc đó?

Ngày nay hệ thống truyền thông bùng nổ, các dạng truyền thanh, truyền hình suốt ngày đêm (24/24 tiếng) phát hầu hết các chương trình sinh hoạt chính trị.

Kỷ niệm năm này, năm kia của đất nước cũng như các ngành bộ đua nhau kỷ niệm ngày thành lập 5-10-20 năm v.v… chưa kể một số phim truyện nước ngoài quá dài, hàng trăm tập xen kẽ vào quảng cáo nhiều, còn đưa ra chương trình văn hóa giáo dục công dân.

Có lẽ truyền hình Việt Nam đứng đầu về quảng cáo so với các hãng truyền thông trên thế giới như CNV- Nhật Bản (NHK World), Dicovery, National – Geogranphic – Pháp v.v…

Nếu không sớm bừng tỉnh, mở tầm mắt nhìn ra thế giới, tương lai Việt Nam sẽ đi về đâu? Nguyên nhân tại sao đất nước Việt Nam như thế này? Ở cái tuổi gần đất xa trời, sống trong tổ quốc, tôi đang tìm hiểu lý do tại sao?

Xin phép được nói rõ: Tôi là người dân (đúng nghĩa của dân thường) bị loại bỏ, không được làm ở cơ quan nhà nước, cũng không được học ở trường lớp nào, tự học nghiên cứu đa lĩnh vực khoa học, công nghệ, chế tạo, kinh tế, chính trị, văn hóa v.v… Lao động làm thợ ở các HTX thủ công từ thời bao cấp (HTX) cho đến khi HTX giải thể (tan rã). Về hưu tay trắng, không có lương hưu. Gần suốt cuộc đời “cầm búa”, đến nay mới cầm bút, viết bài này chắc chắn hãy còn nhiều thiếu sót, mong mọi người đóng góp thêm.

Phạm Văn Chính

37 Lý Nam Đế – Phường Hàng Mã

Quận Hoàn Kiếm – Hà Nội

ĐT: 097.52291

Vụ biểu tình chặn QL1A: Đừng xem thường người dân

Vụ biểu tình chặn QL1A: Đừng xem thường người dân

Nam Nguyên- RFA
2015-04-17

vdb041715.mp3

traffic-blocked-620

Xe ùn tắc trên quốc lộ 1A

RFA file

Your browser does not support the audio element.

Cuộc biểu tình bạo động chặn Quốc lộ 1A trong 30 giờ từ chiều 14 đến đêm 15/4/2015, làm kẹt xe hàng chục km ngang qua huyện Tuy Phong và Thuận Nam tỉnh Bình Thuận, đã gây chấn động dư luận toàn quốc. Điểm đáng chú ý, nguyên nhân của sự phản kháng giận dữ là vì môi trường sống của người dân địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng. Cư dân xã Vĩnh Tân huyện Tuy Phong đã phải hít thở bầu không khí ngập ngụa khói bụi xỉ than được xả thải từ Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2. Khiếu nại nhiều lần mà tình trạng ô nhiễm không giảm nên cuối cùng sự nổi giận của người dân đã bùng phát thành biểu tình và khi bị ngăn chặn thì bạo động đã xảy ra. Theo Vn Express, trong quá trình chặn quốc lộ 1A, nhiều người được cho là quá khích khi dùng đá, bom xăng (tức chai chứa xăng có nùi giẻ mồi lửa) tấn công lực lượng chức năng khiến nhiều người bị thương. Một khách sạn và 3 ô tô gần khu vực bị hư hại nặng.

Tương đồng: phản ứng của dân

Có điều gì tương đồng khi vụ biểu tình bạo động chặn QL 1A đã diễn ra không lâu sau các vụ đình công qui tụ 90.000 người ở Saigon để phản đối một điều khoản của Luật Bảo hiểm Xã hội; hay các vụ xuống đường ở Hà Nội để chống chính quyền chặt hạ cây xanh vô tội vạ. TS Nguyễn Quang A nhà hoạt động Xã hội Dân sự từ Hà Nội nhận định:

SB: “ Những phản ứng của người dân đối với quyền lợi của họ chứng tỏ người dân càng ngày càng ý thức về quyền và lợi ích của mình và họ đã cất tiếng nói lên. Nhà nước cần tạo ra những khuôn khổ pháp lý để cho người dân thể hiện tiếng nói của mình một cách hữu hiệu ôn hòa. Không có những khung khổ như thế, không có sự đối thoại như thế giữa người dân với nhà nước thì rất đáng tiếc, những việc cất tiếng nói đấy có thể có những hậu quả rất khó lường và có thể có hại cho tình hình chung của đất nước. Nếu những việc cất tiếng nói ấy dẫn đến bạo loạn, dẫn đến những thiệt hại không đáng có.”

power-plant

Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân, Bình Thuận

Ô nhiễm “khủng khiếp”

Báo điện tử Pháp luật (PLO) trong bài tường thuật ngày 16/4 ghi nhận “Cận cảnh bãi xỉ khổng lồ lộ thiên gây ô nhiễm khủng khiếp”.  Theo quan sát của nhà báo, nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 có bãi chứa vặng xỉ thải rộng tới 30.000 m2, khu vực này lộ thiên không có tường che chắn, bụi xỉ bay mịt mù vào nhà dân. Khi có gió lốc thì toàn khu vực xã Vĩnh Tân chìm trong bão bụi xỉ, trẻ em bị bệnh hô hấp khó thở. Người dân phản ánh, từ tháng 12/2014 bắt đầu bị bụi xỉ, thì toàn bộ cây trôm cây hoa màu đều không thể sống nổi. Ngay cả tôm cá trong ao cũng chết sạch.

Một người dân xã Vĩnh Tân Huyện Tuy Phong tỉnh Bình Thuận cũng nói với Đài chúng tôi câu chuyện tương tự:

SB: “ Người ta chặn xe do hệ thống lọc bụi lọc khí của nhà máy Vĩnh Tân thải bụi than ra mỗi ngày, nó đổ ra từng đống tro bụi xỉ rồi gặp gió lớn thuận chiều bay tới người dân làm cho người dân bức xúc…”

Được biết dự án Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 có tổng mức đầu tư 23.000 tỷ đồng, chủ đầu tư là Điện lực VN một Tập đoàn Nhà nước. Các thông tin trên mạng cho thấy trong 3 năm xây dựng thi công nhà máy này cho tới khi hoàn thành cuối năm 2013, Hội đồng Nghiệm thu Nhà nước đã trực tiếp kiểm tra nghiệm thu từng giai đoạn một, bảo đảm các yêu cầu về môi trường theo các tiêu chuẩn của Việt Nam và quốc tế. Tuy vậy hai tổ máy với tổng công suất thiết kết 1.244 MW mới lần lượt vận hành một thời gian khoảng hơn 1 năm, mà vấn đề xả thải đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

TS Phạm Sĩ Liêm, Phó Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Xây dựng từ Hà Nội nhận định:

SB: “ Công trình lớn như thế này tất nhiên phài có đánh giá tác động môi trường khi làm dự án chứ không phải là đợi xong mới xem. Nếu mà đã được nghiệm thu nhà nước thì tôi chắc rằng những thủ tục ấy là người ta đã kiểm tra. Thế nhưng trong thực tế thì nó lại diễn ra những điều như là vấn đề ô nhiễm môi trường, điều này chứng tỏ rằng việc có những kẻ hở nào đó mà họ không tuân thủ, hoặc ngay trong lúc vận hành họ bỏ qua những khâu nào đó. Ví dụ như tôi biết có nhiều khu vực thì có hệ thống xử lý nước thải nhưng người ta không dùng vì kinh phí tốn kém; họ xây ra đấy để nghiệm thu cho có chứ vận hành thì không làm. Những chuyện đó đều có cả, tôi không biết trong trường hợp này cụ thể là gì. Nhưng tôi chắc rằng trong việc vận hành có thiếu sót, có những việc không đúng theo như đã duyệt. Khi mà nhân dân đã có phản ứng như vậy thì các cấp chính quyền, đặc biệt là Bộ Tài nguyên Môi trường phải vào cuộc và nhanh nhất thì Cảnh sát Môi trường phải vào cuộc.”

Yếu tố Trung Quốc: lạc hậu, ô nhiễm

Lướt mạng ngược dòng thời gian, vietbao.vn bản tin trên mạng ngày 17/12/2010 đưa tin Ngân hàng Xuất khẩu Trung Quốc tài trợ 300 triệu USD tín dụng ưu đãi cho Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2, chưa kể vay thương mại và ODA cũng của Trung Quốc. Như vậy Tập đoàn Điện lực VN chỉ phải bỏ ra 15% tổng vốn đầu tư cho Dự án. Sự lệ thuộc nguồn vốn Trung Quốc cho nên hợp đồng tổng thầu EPC xây dựng Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 cũng được giao cho một công ty Trung Quốc là Tập đoàn Điện khí Thương Hải.

Câu chuyện Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 với các yếu tố Trung Quốc làm các chuyên gia bày tỏ sự lo ngại về công nghệ lạc hậu và ô nhiễm môi trường. TS Nguyễn Quang A nhận định:

SB: “ Vấn đề hết sức nghiêm trọng bởi vì các nhà thầu Trung Quốc viện vào chính sách của Chính phủ Trung Quốc cung cấp và dàn xếp về vốn và những người chủ đầu tư Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp quốc doanh thì hăm hở chấp nhận những nhà thầu như vậy. Rất đáng tiếc Việt nam có thể trở thành một cái bãi thử nghiệm cho họ và một cái bãi thực sự là để xả rác công nghệ.”

TS Nguyễn Quang A kêu gọi những người có trách nhiệm giải quyết tận gốc vấn đề ô nhiễm môi trường của Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 thay vì sử dụng công cụ truyền thông nhà nước để lý giải loanh quanh.

Đáp câu hỏi của chúng tôi là để giải quyết tận gốc vấn đề công nghệ lạc hậu của Trung Quốc, vấn đề ô nhiễm môi trường như trường hợp Vĩnh Tân 2 thì cụ thể có thể làm gì. TS Nguyễn Quang A tiếp lời:

SB: “ Việt Nam đã có những qui định về đấu thầu hoặc những qui định ngặt nghèo về các tiêu chuẩn. Nhưng rất đáng tiếc tất cả những gói thầu chìa khóa trao tay hay tổng thầu EPC…thì bản thân người chấm thầu, quyết định thầu tức các doanh nghiệp nhà nước, hay bản thân chính quyền VN đã không theo đúng những qui trình do chính họ đưa ra trong Luật Đấu thầu. Và họ chỉ tính đến cái giá mới đầu tưởng là rẻ, cuối cùng nó nảy sinh vấn đề như nhà máy nhiệt điện chúng ta đang nói tới, nó sẽ gây ra rất nhiều hậu quả. Hoặc như các nhà máy bauxite ở Tây Nguyên, những khoản đầu tư đó tưởng như là rẻ, nếu tính hết các khoản khác mà theo Luật Đấu thầu của VN bây giờ phải tính đến, thì những gói thầu đấy những nhà thầu kém chất lượng như của Trung Quốc không bao giờ thắng thầu được. Thực sự ở đây có vấn đề chính trị đứng đằng sau, cho nên dẫn đến kết quả đầu tư kém hiệu quả, tưởng như là rẻ nhưng thực sự rất là đắt đỏ .”

coal-dirt

Bụi xỉ than để bừa bãi, bay hết vào làng

Khó giải thích

Sau khi cuộc biểu tình bạo động chặn quốc lộ hơn 30 giờ trở thành một vấn đề quốc gia, theo VnExpress Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải vội vàng lên tiếng yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam giải quyết. Ông Hải yêu cầu các Bộ ngành hữu quan chỉ đạo thực hiện gấp rút giải pháp sử dụng tro, xỉ tại Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân làm vật liệu xây dựng không nung, phụ gia xi măng…

Tại sao tác động môi trường lại không thể tiên liệu trước mà phải đợi dân biểu tình mới chữa cháy. Đây là một sự thực khó lòng giải thích.

Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân hiện nay mới chỉ có một nhà máy Vĩnh Tân 2 được vận hành, theo kế hoạch từ nay tới 2019 ở khu vực huyện Tuy Phong Bình Thuận sẽ có thêm 3 nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân khác được xây dựng để góp phần ổn định nguồn điện cho các tỉnh thành lân cận. Trong 4 nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân chỉ có dự án Vĩnh Tân 4 đang xây dựng dự trù hoàn tất vào năm 2018 là có nguồn tín dụng tài trợ của Hàn Quốc và Nhật Bản và sử dụng tổ hợp nhà thầu Hàn Quốc-Nhật Bản-Việt Nam. Các Dự án Vĩnh Tân 1 và 3 cũng tương tự như Vĩnh Tân 2 lệ thuộc nguồn vốn và tổng thầu Trung Quốc.

BÌNH AN CHO CÁC CON

BÌNH AN CHO CÁC CON

Trên những chuyến xe khách, xe buýt, các bến xe… người ta thường thấy những hàng chữ “chúc quý khách thượng lộ bình an.”  Người tài xế Công giáo treo hình Đức Mẹ trên xe có kèm theo hàng chữ “Nữ Vương ban sự bình an.”  Người tài xế Phật giáo treo hình Đức Phật, dù có hay không có hàng chữ nào, trong lòng họ vẫn cầu mong Đức Phật ban bình an.

Theo Hán tự, chữ “bình” có nghĩa là bằng phẳng, đều hòa, hòa hợp, thoải mái, chữ “an”, theo cách viết là “người nữ ở trong nhà”, có nghĩa là được bảo vệ, an toàn.  Như vậy, bình an nói lên trạng thái tâm hồn, trạng thái nội tâm thư thái, an hòa, vui tươi, bình thản, vững chắc.  Do đó, bình an khác với hòa bình.  Hòa bình nói lên trạng thái bên ngoài: không còn cạnh tranh, không còn chinh chiến, xô xát, súng đạn, gươm đao.  Cho nên có khi có hòa bình nhưng không có bình an.  Nhân loại thì khao khát hòa bình, còn mỗi người thì khao khát bình an.

Chúa Giêsu sống lại từ ngày thứ nhất trong tuần đã hiện ra với các môn đệ và ban bình an cho các ông.  Lời đầu tiên của Chúa Phục Sinh là: “ Bình an cho anh em” (Ga 20,19-21).  Bình an là hồng ân của Chúa Phục Sinh ban cho các môn đệ (Ga 20, 26; Lc 24, 36).

Các sách Tin Mừng và Công vụ Tông đồ thuật lại: mỗi lần Chúa Giêsu hiện đến đều thấy các môn đệ hội họp trong nhà, cửa đóng then cài vì sợ người Do thái.  Khi Chúa hiện diện, sự sợ hãi của các môn đệ tan biến và các ông có được niềm vui, bình an, can đảm.

“Thầy ban bình an của Thầy cho anh em… anh em đừng xao xuyến, đừng sợ hãi” (Ga14, 27). Có một sự khác biệt cơ bản giữa bình an “thế gian ban tặng” và “bình an Đức Giêsu ban tặng.”

1. Bình an Chúa Giêsu là bình an trong tâm hồn

Chúa Giêsu Phục sinh là niềm vui lớn lao nhất của các Tông Đồ và của các phụ nữ đạo đức.  Niềm vui nhân lên gấp bội khi Chúa trao quà tặng Bình an.

“Bình an cho các con.”  Khi tâm hồn của các Tông Đồ hoang mang lo lắng buồn vui lẫn lộn về sự việc Chúa chết và sống lại, thì lời chúc lành của Chúa Giêsu rất đúng lúc để củng cố đức tin và đem lại an bình cho tâm hồn của các ông.

“Bình an cho các con.”  Sự bình an này không giống bình an của người đời ban tặng.  Sự bình an của người đời là tạm bợ và sẽ không tồn tại, bởi vì người đời chỉ dựa vào của cải vật chất để trấn an tâm hồn đầy bất an.  Người ta chúc nhau được bình an, nhưng không ai tìm được bình an trong cuộc sống.  Người giàu có thì cảm thấy bất an khi đêm về vì sợ kẻ trộm.  Người có địa vị thì sợ kẻ khác chiếm đoạt, lật đổ.  Người mạnh khoẻ thì sợ đau ốm.v.v… tất cả đều ở trong trạng thái mất bình an.

Có câu chuyện kể rằng: trong triều của một vua nọ có hai họa sĩ rất tài ba nhưng luôn ganh ghét đố kỵ nhau.  Một hôm nhà vua phán: “Ta muốn phán quyết một lần dứt khoát ai trong hai ngươi là người giỏi nhất.  Vậy hai ngươi hãy vẽ mỗi người một bức tranh theo cùng một đề tài, đó là bình an.”

Hai họa sĩ đồng ý.  Một tuần sau họ trở lại, mỗi người mang theo bức vẽ của mình.  Bức họa của người thứ nhất vẽ một khung cảnh thơ mộng: những ngọn đồi nhấp nhô bao quanh một cái hồ rộng với mặt nước phẳng lì không một gợn sóng.  Toàn cảnh gợi lên một cảm giác thanh thản, thoải mái.  Sau khi xem xong, nhà vua nói: “Bức họa này rất đẹp, nhưng trẫm chưa hài lòng.”  Bức họa của người thứ hai vẽ một thác nước.  Hình ảnh rất sinh động đến nỗi nhìn nó người ta như nghe được tiếng nước đổ ầm ầm xuống vực thẳm.  Nhà vua nói: “Đây đâu phải là một cảnh bình an.”  Họa sĩ thứ hai bình tĩnh đáp: “Xin bệ hạ nhìn kỹ hơn một chút nữa xem.”  Nhà vua nhìn kỹ và khám phá một chi tiết mà ông chưa chú ý: Trong một nhành cây nép mình sau dòng thác lũ, có một tổ chim. Trong tổ, chim mẹ đang ấp trứng, đôi mắt nửa nhắm nửa mở.  Chim mẹ đang bình thản chờ các con mình nở ra.  Nhà vua nói: “Ta rất thích bức tranh này.  Nó đã chuyển tải được một ý tưởng độc đáo về bình an, đó là vẫn có thể sống bình an ngay giữa những xáo trộn của cuộc đời.”  Và nhà vua đã trao giải nhất cho tác giả bức họa này.

Bình an không phải giống như yên ổn, vì yên ổn là ở bên ngoài còn bình an thì ở bên trong.

Bình an là tình trạng của một tâm hồn đang có tương quan tốt với Thiên Chúa và với tha nhân.  Thành tố quan trọng của bình an là sự công chính.  Bởi thế, không có bình an cho kẻ dữ.

Bình an là kết quả của lòng trông cậy vào Chúa và khi ước muốn làm đẹp lòng Chúa là điều quan trọng bậc nhất trong đời.  Đây là điều mà ta có thể có ngay giữa những xáo trộn, xung đột và những vấn đề rắc rối chưa giải quyết được.

Chỉ có Bình An của Chúa mới làm cho chúng ta được hạnh phúc.  Bởi vì bình an là thông hiệp với Thiên Chúa.  Chúa Giêsu đang hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa nên Ngài vẫn có thể nói về bình an ngay cả khi kẻ thù của Ngài đã đến gần và sắp giết chết Ngài.

“Bình an cho các con.”  Thế giới như đang sống trên một lò lửa.  Chiến tranh, khủng bố, thiên tai, động đất…  Thế gian chưa có bình an.  Cho nên sự Bình An của Chúa Giêsu vẫn luôn có giá trị đích thực cho nhân loại, cho những tâm hồn khắc khoải tìm kiếm bình an trong cuộc sống.

2. Hoa quả của Bình An

Có nhân thì có quả.  Có tranh chấp thì sinh ra hận thù, có ghét ghen thì sinh ra mưu mô thủ đoạn. Đó chính là chuyện nhân quả mà hằng ngày chúng ta đều thấy và biết.  Việc lành cũng như việc xấu, mọi thứ đều có nhân quả của nó.

Hoa quả của Bình An là: yêu thương, tha thứ,  bao dung,  quảng đại,  khiêm tốn,  nhẫn nại, nhịn nhục…

Khi trong tâm hồn có sự bình an của Chúa Giêsu Phục Sinh, thì chúng ta biết thông cảm với người làm ta bực mình, dễ dàng cảm thông với những người không yêu mến, sẽ khiêm tốn hơn trong lời nói trong cử chỉ thái độ của mình…  Hoa quả của bình an chính là tình yêu của Chúa Kitô thúc bách chúng ta làm việc thiện, thúc bách chúng ta vì anh em mà phục vụ như Chúa Kitô đã phục vụ, như các thánh Tông Đồ đã phục vụ Giáo Hội.

Hoa quả bình an thể hiện bằng tiếng cười, niềm vui, hạnh phúc trong gia đình, an hòa thư thái trong tâm hồn.

Hoa quả bình an cũng chính là sự thật.  Ta cảm thấy bình an khi mình sống ngay thẳng, sống theo sự thật.

Con người ta ai cũng muốn có bình an trong tâm hồn, nên luôn cầu chúc cho nhau được bình an.  Nhưng sẽ không có bình an thật, nếu tâm hồn không có tinh thần Phục Sinh của Chúa Kitô, tinh thần đổi mới con người cũ trở nên con người mới sống theo hướng dẫn của Thánh Thần.

Con người ta ai cũng cần sự bình an, có khi còn cần hơn cả cơm ăn áo mặc nữa.  Chúa luôn muốn ban bình an cho chúng ta.  Giáo hội cũng mong muốn như vậy.  Cho nên mỗi khi tham dự thánh lễ, linh mục thay mặt Chúa và Giáo hội cầu chúc: “Bình an của Chúa ở cùng anh chị em,” rồi linh mục nói với chúng ta: “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau.”  Có bình an của Chúa ở nơi mình, chúng ta mới có bình an để chia sẻ cho nhau.

Bình an là một hồng ân Chúa ban và cũng là một trách nhiệm.  Không phải chúng ta chỉ cầu khẩn và tìm kiếm bình an cho mình mà còn phải là “khí cụ bình an của Chúa,” góp phần tạo nên bình an cho mọi người và cho toàn xã hội.

Ước gì cuộc đời của tôi của bạn, trong mọi nơi mọi lúc, nhất là lúc cam go sợ hãi thử thách luôn nghe được lời chúc bình an của Chúa Phục Sinh: Bình an cho anh em.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

CÁCH HIỆN DIỆN CỦA ĐẤNG PHỤC SINH

CÁCH HIỆN DIỆN CỦA ĐẤNG PHỤC SINH

GM Vũ Duy Thống

Một trong những địa danh được nhắc đến nhiều nhất vào Mùa Phục Sinh, đó là ngôi làng Emmaus.  Mặc kệ các nhà khảo cổ với những công trình tìm kiếm xem ngôi làng đó nằm ở đâu trên thực tế địa lý.  Mặc kệ các nhà chú giải với những phân tích chi li xem địa danh Emmaus hợp bởi chữ gì và có nghĩa gì.  Mặc kệ các nhà hội họa với những cảm hứng khơi nguồn đã khéo tô điểm Emmaus nên một kiệt tác như bức họa nổi tiếng của Rembrandt.  Mặc kệ tất cả.  Người tín hữu chỉ có một cảm tình tốt đẹp là xem Emmaus như một địa chỉ tinh thần không thể quên được.  Bởi lẽ khởi đi từ đó, Đấng Phục sinh đã ưu ái cho thấy Ngài luôn có mặt bên cạnh con người và vẫn muốn hiện diện thường xuyên cho cuộc sống con người.  Khởi đi từ địa chỉ tinh thần ấy, người ta thấy ít ra có ba cách hiện diện của Đấng Phục sinh:

1) Đấng phục sinh có mặt trong những bước đồng hành chia sẻ

Bối cảnh của bài Phúc Âm là những ngày tiếp theo biến cố Phục sinh.  Hoàn cảnh của các môn đệ thật là bi đát.  Họ là người theo Chúa từ những ngày đầu cuộc sống công khai, những mong được tả hữu vinh quang khi Đấng Messia chinh phạt thế giới.  Nào ngờ Thầy mình lại chọn lấy con đường khác để cứu độ.  Ngài đã bị giết, bị chôn vùi trong huyệt đá.  Và lưu ảnh cuối cùng họ có về Thầy mình, đó chính là ngôi mộ hoàn toàn trống rỗng.  Vỡ mộng, thất vọng, cô đơn, họ như những môn sinh “chữ thầy lại trả cho thầy, trở về làng cũ học cầy cho xong”.

Mà đâu có xong.  Chính lúc tưởng chừng trống vắng không gì có thể lấp đầy được, Đấng Phục sinh đã âm thầm hiện diện bên họ, trong dáng dấp của một người khách lạ, trong thân quen của những bước đồng hành và trong ân cần của những lời thăm hỏi rất đỗi bình thường.  Ngay trong Phúc Âm hôm nay, liền sau biến cố Emmaus, khi hai môn đệ đang kể lại Chúa Giêsu ở ngôi thứ ba, thì Ngài đã tự bao giờ “đứng giữa” câu chuyện ở ngôi thứ hai để chào hỏi đối thoại ủi an.

Vâng, Đấng Phục sinh là như thế.  Tưởng vào trong vinh quang là bắt đầu nẻo đời xa cách, nào ngờ lại là lúc Ngài la cà thân thiện với con người hơn cả bao giờ.  Thiên Chúa đã gần gũi với đời người, cho con người trở nên phần đời của Thiên Chúa.  Chính khi đời người xem ra trống vắng nhất, Đức Kitô vẫn hiện diện đồng hành chia sẻ, để rồi khi con người biết chia sẻ cuộc sống cho nhau thì Ngài vẫn có đó trong sức mạnh đồng hành.

2) Đấng phục sinh có mặt bằng những lời củng cố tin yêu

Tâm trạng của các môn đệ hôm nay trong Phúc Âm cũng vẫn là thất vọng ê chề.  Sau lưng họ là Giêrusalem đen tối, trước mặt họ là những nơi xa cũng chẳng sáng sủa gì.  Quá khứ vừa mới khép lại, tương lai chưa kịp mở ra.  Chới với, chao nghiêng.  Nhưng chính lúc ấy, Đấng Phục sinh có mặt, bằng lời Thánh Kinh sống động và hóa giải, Ngài thanh luyện các môn đệ khỏi những tình cảnh thất vọng sợ sệt và đặt họ vào một đà sống mới.

Lời Chúa chính là lời hiện diện của Đấng Phục sinh.  Nhưng tất cả còn tùy thuộc vào cách đón nhận của ta.  Sẽ không có mặt của Đấng Phục sinh nếu ta chỉ coi lời Chúa như vật phẩm điểm trang, dẫu có kính cẩn ghi chép, trân trọng giữ gìn, đeo chặt trên trán như thói quen của mấy ông biệt phái.  Sẽ không có mặt của Đấng Phục sinh nếu ta chỉ xem lời Chúa như thứ lá chắn bung xung cho một mưu đồ, nghĩa là coi lời Chúa như phương tiện để tô vẽ lên mưu lợi riêng tư.  Nhưng sẽ là một hiện diện thường xuyên ở bất cứ đâu cho bất cứ ai, nếu lời Chúa được thực thi chân thành trong đời sống.

Hai môn đệ đi làng Emmaus đã thấy ấm lòng khi nghe lời Chúa.  Các môn đệ ở lại Giêrusalem trong Phúc Âm hôm nay cũng thấy phấn khởi khi được Chúa soi sáng củng cố và đặt vào tin yêu hy vọng của đời chứng nhân.  Nếu mỗi tín hữu hiểu và sống lời Kinh Thánh, họ cũng sẽ cảm nhận được sự hiện diện của Đấng Phục sinh như những ý lực trong ngày sống, như một sức mạnh để vươn lên, cho dẫu sống chứng nhân cũng là sống với Đức Kitô trên đường thương khó.

3) Đấng phục sinh có mặt giữa những tấm bánh bẻ ra cho đời

Nếu có phút giây nào để lại ấn tượng mạnh nhất trong bài Phúc Âm, đó phải là lúc Chúa Giêsu hỏi các môn đệ xem có gì ăn không, rồi Ngài lại tự nhiên ăn cá và mật ong trước bao cặp mắt sững sờ của họ.  Ngài hỏi thức ăn không phải vì Ngài đói và Ngài ăn không phải vì cơ thể Ngài cần.  Đấng Phục sinh mà không một định luật vật lý nào có thể ngăn cản được như trong việc Ngài thoắt hiện thoắt đi đâu cần phải có thực phẩm nhân gian để mà tồn tại.  Đấng Phục sinh có mặt giữa con người không giống như kẻ hồi sinh sau tai nạn để cần phải bổ dưỡng bù trừ theo kiểu “ăn giả bữa.”  Nhưng, nếu qua việc Chúa Giêsu bẻ bánh, hai môn đệ đi làng Emmaus đã nhận ra Thầy mình, thì qua việc ăn uống này Đấng Phục sinh đã củng cố lòng tin vốn đang chao đảo hoang mang của họ.

Đấng Phục sinh ăn trước mặt các môn đệ.  Đó là một khoảnh khắc đầy ấn tượng, nhưng đã làm nên lý chứng phục sinh và ý nghĩa cuộc đời, bởi có Ngài hiện diện, nên thôi hết buồn sầu để mở ra một lối sống mới trong niềm vui.  Thảo nào các môn đệ hôm đó đã nhận lệnh lên đường làm chứng về những gì các ông đã thấy đã hiểu đã tin.

Nếu có lần nào ta chiêm ngắm Chúa Kitô như tấm bánh bẻ ra để xây dựng một thế giới mới, thì có lẽ một cách vô thức ta đã quy chiếu vào khoảnh khắc bất ngờ này.  Và nếu đúng như thế thì qua việc rước Mình và Máu Đức Kitô hôm nay, ta cũng được mời gọi để trở nên những tấm bánh, những mẩu cá, những tảng mật ong sống động biết chia sẻ nâng đỡ, vun đắp chung xây cuộc sống tốt lành tại địa bàn dân cư nơi mình sinh sống.

Ba cách hiện diện nghe như quen mà vẫn cứ lạ, nghe như gần gũi mà vẫn cứ rời xa.  Cảm tưởng quen quen lạ lạ gần gần xa xa ấy có là vì Đức Kitô Phục sinh có mặt, nhưng không hữu hình như xưa để dễ dàng mắt thấy tai nghe nữa, mà đã hiện diện vô hình chỉ gặp được bằng tin yêu hy vọng.  Và thường thì vì ta quá vô tình không nhận ra Ngài trong những khuôn mặt cuộc đời, tình huống của ta và của những người quanh ta.  Nhưng hiện diện của Đấng Phục sinh không phải là một hiện diện thụ động chỉ để ta tìm gặp, mà còn là một hiện diện chủ động khi ta biết tích cực đồng hành chia sẻ, cũng như gieo lời Chúa vào môi trường sống, rồi từng ngày nỗ lực âm thầm trở nên những tấm bánh “ăn được” cho người lân cận.

Qua thánh lễ này, ta được đồng hành bên nhau, được chia sẻ lời Chúa và được rước lấy Thánh Thể. Xin cho đời ta được đổi mới nơi địa chỉ Emmaus tinh thần này, để tới phiên ta cũng sẽ trở thành địa chỉ tinh thần mới cho cuộc sống hôm nay.

GM Vũ Duy Thống

HAI SẮC HOA TI GÔN

HAI SẮC HOA TI GÔN
T.T.Kh

Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người ấy với yêu thương

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong,
Và phương trời thẳm mờ sương cát,
Tay vít dây hoa trắng lạnh lòng.

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
Thở dài những lúc thấy tôi vui.
Bảo rằng “Hoa dáng như tim vỡ,
Anh sợ tình ta cũng thế thôi.”

Thuở đó nào tôi có hiểu gì,
Cánh hoa tan tác của sinh ly,
Cho nên cười đáp: “Mầu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biết suy.”

Đâu biết lần đi một lỡ làng
Dưới trời đau khổ chết yêu đương.
Người xa xăm quá, tôi buồn lắm
Trong một ngày vui, pháo nhuộm đường.

Từ đấy thu rồi thu lại thu,
Lòng tôi còn giá đến bao giờ.
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
“Người ấy” cho nên vẫn hững hờ.

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng một người.

Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Nhung hồng tựa trái tim tan vỡ
Và đỏ như màu máu thắm phai

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi,
Một mùa thu cũ rất xa xôi.
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,
Chiều thu hoa đỏ rụng, chiều thu…
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,
Người ấy ngang sông đứng ngóng đò.

Nếu biết rằng tôi đã có chồng,
Trời ơi, người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ,
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng

********************************

Huyền thoại thi ca tiền chiến Việt Nam những năm 1937-38 bỗng nổi cơn ba đào với bốn bài thơ ký tên T.T.Kh rồi sau đó lặng lẽ tan vào cõi hư không mặc cho dư luận ồn ào xôn xao.  Chất hưng phấn làm hoa ti gôn nở rộ một thời được khai hoa nở nhụy bằng một câu chuyện “Hoa ti gôn” của ký giả Thanh Châu đăng trên báo “Tiểu Thuyết Thứ Bảy” xuất bản tại Hà Nội.  Là một truyện ngắn không có gì đặc sắc nhưng nhẹ nhàng và bay bổng, “Hoa ti gôn” kể về một chuyện tình buồn giữa một chàng họa sĩ và một thiếu nữ gia đình thượng lưu.

Sau đó không lâu, tòa soạn nhận được một bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn”, ký tên T.T.Kh do một người thiếu phụ trạc hai mươi, dáng bé nhỏ thùy mị, nét mặt u buồn mang đến.  Đó là lần đầu và cũng là lần cuối người thiếu phụ nầy xuất hiện.  Câu chuyện “Hoa ti gôn” đã khơi lại mối tình xưa của người thiếu phụ (T.T.Kh.) với một chàng nghệ sĩ, cả hai đã qua một thời yêu thương hẹn hò dưới giàn hoa ti gôn.  Rồi chàng ra đi biền biệt không hẹn ngày về.  Nàng ở lại vâng lời mẹ cha gạt nước mắt nên duyên cùng người khác – một người chồng luống tuổi – để rồi tan nát tâm tư mỗi khi nhớ lại những kỷ niệm êm đềm của thời quá khứ.  Bài thơ Hai sắc hoa ti gôn đã gây nên xúc động lớn trong lòng người yêu thơ bởi những câu thơ quá da diết.  Sau bài thơ nầy, toà soạn Tiểu Thuyết Thứ Bẩy lại nhận được bằng đường bưu điện ba tác phẩm khác cũng mang tên T.T.Kh.  Đó là các bài “Bài thơ thứ nhất”, “Bài thơ đan áo” (riêng đăng ở Phụ nữ thời đàm) và “Bài thơ cuối cùng”.

Từ đó về sau, người ta không còn gặp thơ của T.T.Kh nữa.  Không ai hiểu tại sao bài “Hai sắc hoa ti gôn” lại xuất hiện trước “Bài thơ thứ nhất” và cũng không hiểu tại sao tác giả lại lặng lẽ rời bỏ văn đàn không lời từ biệt để lại trong lòng người yêu thơ bao nỗi niềm thương nhớ luyến tiếc.

********************************

Bảy mươi năm trôi qua, nhân gian tốn bao giấy mực để tìm hiểu T.T.Kh là ai.  Người thì đoán Trần Thị Khánh, một nữ sinh Hà nội, người yêu của Thâm Tâm, một nhà thơ Việt Nam nổi tiếng với bài Tống Biệt Hành.  Kẻ lại bảo là Nguyễn Bính, rồi em gái họ nhà thơ Tế Hanh.  Người khác đoan chắc đó là Trần Thị Vân Chung, người yêu nhà văn Thanh Châu, tác giả truyện ngắn Hoa ti gôn.  Ai đúng ai sai, làm sao biết được khi tác giả tiếp tục thinh lặng “sống hờ hết kiếp, trong duyên trái đời”.

Làm sao có thể dệt nên chuyện tình buồn nếu chỉ có một người?  Thế là dư luận đổ xô đi tìm “người ấy” của T.T.Kh để hỏi xem “người ấy có buồn không?  Có còn nghĩ tới loài hoa vỡ”. Kẻ xầm xì nói đó là nhà thơ Thâm Tâm, người lại bảo là nhà văn Thanh Châu.  Nguyễn Bính, J. Leiba và bao nhiêu anh hùng thiên hạ khác nữa cũng nhận T.T.Kh. là người yêu của mình!  Ai đúng ai sai, làm sao biết được khi loài hoa ti gôn chỉ nở một lần, hoa rụng mang theo niềm bí mật của người yêu hoa.

Làm sao có thể dệt nên chuyện tình ngang trái nếu không có người thứ ba, là kẻ có nợ nhưng không duyên, có nghĩa nhưng không tình?  Thế mà thiên hạ chẳng ai buồn tìm hiểu người chồng “nghiêm luống tuổi” là ai?  Báo chí chẳng tốn một giọt mực, không một lời phân ưu.  Chẳng ai buồn thắc mắc đến danh tính của kẻ chiến thắng nhưng lại là chiến bại, kẻ “được” nhưng là “mất”.  Cũng như vợ mình, chân dung của ông vẫn là một ẩn số phụ bé nhỏ không lối đáp trong nghi án văn học T.T.Kh.

Bài thơ tình lãng mạn thời tiền chiến này đã đi sâu vào lòng tôi một thời.  Ngắm hoa ti gôn “sắc hồng tựa trái tim tan vỡ, và đỏ như màu máu thắm pha”, tôi ngậm ngùi xót thương người con gái bạc phận ôm mối tình dang dở lên xe hoa, theo lời mẹ cha nhắm mắt đưa chân sống “quang cảnh lạ, tháng năm dài.  Đêm đêm nằm tưởng ngày mai giật mình.” Tôi cảm thông tâm tình cay đắng người thiếu phụ buồn ngồi bên song cửa sổ miễn cưỡng “đan đi đan lại áo len cho chồng” mà mắt cứ dõi nhìn phương xa.  Tôi thầm trách “người ấy” đã làm tan nát thêm cõi lòng người yêu khi mang “bài thơ đan áo nay rao bán, cho khắp người đời thóc mách xem”. Xót xa, tiếc nuối…. là những tình cảm lưu luyến dành cho hai nhân vật trai thanh gái tú có duyên gặp gỡ nhưng không phận phu thê đã dệt nên những áng thơ tình bất hủ cho nền văn chương Việt Nam!

Cũng như người đời, tôi chưa một lần thắc mắc tâm tư người chồng đi bên lề cuộc đời vợ mình ra sao.  Ông buồn hay vui khi đêm đêm nằm ôm cái xác không hồn với cặp mắt ngơ ngác thất thần?  Ông nghĩ gì khi môi đụng làn môi băng giá?  Ông cảm thấy gì khi được vợ nhưng không được trái tim của nàng?  Cho đến một ngày tình cờ đọc Kinh Thánh, tôi ngờ ngợ như đọc được nỗi niềm cay đắng của ông, một người đứng bên lề cuộc đời người yêu qua những dòng chữ chua chát “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mc 7:6b). Ôi, Thiên Chúa của tôi, Đấng tạo dựng nên muôn loài muôn vật, giàu sang và uy quyền, lại chia sẻ chung số phận hẩm hiu với người chồng già bạc phận trong “Hai sắc hoa ti gôn” hay sao?  Tôi đã sống ra sao để Ngài phải thốt lên những lời ai oán ấy?

Từ “ngày vui pháo nhuộm đường” đó, cuộc sống tuy nhiều sầu muộn, tháng ngày đong đầy những chua cay nhưng T.T.Kh. không hề có ý định chạy trốn cuộc sống, cũng chẳng dự định trốn theo người yêu.  Nàng” vẫn đi bên cạnh cuộc đời” trong sự “ái ân lạt lẽo” của chồng với một thái độ lạnh lùng dửng dưng chấp nhận sự thật dù phũ phàng.  Tôi cũng thế, vẫn đi bên Thiên Chúa, vẫn thờ phượng Ngài, không có ý định bỏ đạo, càng không muốn chống đối Ngài.  Chỉ là một thái độ lạnh nhạt chấp nhận sự việc có Chúa bên đời như một tình cờ, như một sự ép đặt của mẹ cha.  Còn lòng tôi ư?  Người thiếu phụ có chồng “vẫn giấu trong tim bóng một người”, chỉ một người thôi!  Còn tôi, thờ phượng Ngài đó nhưng che giấu trong tim biết bao bóng hình, những mộng mơ với thế gian phù phiếm, những toan tính cho tương lai dù tương lai không thuộc về tôi và bao dự định dang dở….  Những bóng hình đó không ngừng đeo đuổi tôi đến nhà thờ những ngày Chúa nhật dù chỉ một tiếng, vẫn hiện diện trong những lời kinh ro ro thuộc lòng dù chỉ vài phút.  Như một thiếu phụ đoan trang khép mình trong lễ giáo, tôi tuân giữ những luật buộc một cách máy móc, dâng Ngài những của lễ dư thừa trong nhăn nhó.  Nhưng linh hồn tôi, trái tim tôi, tâm trí tôi… dật dờ đâu rồi trong một cõi xa xăm nào đó!

Đi bên chồng nhưng lại hỏi “người ấy” có buồn không, đó là tâm trạng của người xưa.  Còn tôi hôm nay đi bên Ngài đó nhưng vất vả lo toan cho những việc ở trần gian.  Miệng nói tôn kính Thiên Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự.  Nhưng bao sức lực, trí lực, tài năng, máu huyết của tuổi thanh xuân…. tôi đã dâng hiến cho thế gian hết rồi để mong tìm một chỗ đứng trong xã hội, một cuộc sống tiện nghi…..  Còn chăng chỉ là cái xác mệt mỏi vô hồn trong lòng nhà thờ mỗi ngày Chúa nhật buồn.  Xa thật hai cõi lòng của tôi và Ngài!  Phải chăng những lời trách móc “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mc 7:6b) là để chỉ tôi sao?

“Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời…, vẫn giấu trong tim…”,  “Vẫn đi”“vẫn giấu”, một sự ngoan cố đến lạ lùng của một phụ nữ yếu đuối.  Không có ý định từ chối cuộc sống và gia đình nhưng cũng không có ý định chôn hình ảnh xưa cố quên để sống, nàng đã cố bám víu lấy nó như một thứ lương thực nuôi sống hiện tại.  Tôi thấy thấp thoáng hình ảnh mình trong sự cố chấp bám dính quá khứ của người thiếu phụ.  Vẫn biết một ngày nào đó tôi sẽ phải rũ áo ra đi không mang theo được gì nhưng tôi vẫn ngoan cố xây đắp cho thật nhiều.  Vẫn biết đời sau mới là thiên thu vĩnh cửu nhưng tôi chỉ chăm lo hạnh phúc hời hợt của vài thu chóng qua.  Phải chăng đó là oan trái của kiếp người?  Phải chăng con rắn ngày xưa vẫn tiếp tục cám dỗ trong lòng mỗi người mãi không thôi?  Người thiếu phụ đã bám lấy cả hai và nàng đã phản bội cả hai: người yêu và chồng mà cuộc sống chỉ là “từng thu chết, từng thu chết”. Kết quả cuộc sống của tôi có khá hơn không khi tôi cùng bám vào cả hai:  Thiên Chúa và thế gian?

Còn gì xót xa não nùng cho bằng khi nghe những lời thở than của người vợ hiền “Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời.  Ái ân lạt lẽo của chồng tôi.” Phải chăng đó cũng là những tiếng trách móc của tôi về sự “ái ân lạt lẽo” của Thiên Chúa?  Như một ông chồng già giàu có nhưng keo kiệt, uy quyền nhưng bủn xỉn, Ngài quay mặt làm ngơ trước những lời van xin thống thiết của tôi: cái xin không được, cái không xin lại cho, cái muốn được thì mất, cái mất lại được.  Ngài đã bỏ tôi chới với một mình trong khổ đau, mặc tôi ngụp lặn trong cô quạnh không lời ủi an.  Trong nỗi đau không tình cờ đó, Ngài tiếp tục thinh lặng, bí mật và khó hiểu….. không một lời đáp trả.  Quả là lạt lẽo và vô tình làm sao!

Dù lời thơ ai oán, hồn thơ chất chứa niềm trách móc cam chịu của người vợ bị chồng “lạt lẽo, hờ hững”, nhưng tôi vẫn bắt gặp đâu đó một sự quảng đại nơi người chồng “nghiêm luống tuổi” môn đăng hộ đối.  “Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ, “Người ấy” cho nên vẫn hững hờ.” Chỉ là hững hờ thôi sao?  “Vẫn biết”, một sự khẳng định chắc chắn đến thế nhưng không có cảnh đòi li dị, không đuổi về nhà người vợ ngày qua đêm lại chỉ“thờ thẫn hồn eo hẹp” nhớ người xưa, không cưới năm thê bảy thiếp, không đánh đập hành hạ, mà cũng chẳng có chuyện “ông ăn chả bà ăn nem”, … không một hành động cụ thể nào cho sự trả thù.  Chỉ là một thái độ “hững hờ” của người quân tử!  Thái độ “hững hờ” hay nồng nàn, “lạt lẽo” hay sốt mến còn do thái độ cảm nhận của đối tượng nữa.  Tôi không thể nhìn thấy cuộc đời màu hồng khi đeo cặp kiếng đen.  Làm sao có thể tìm thấy một sự yêu đương nồng cháy khi “từ đấy thu rồi, thu lại thu.  Lòng tôi còn giá đến bao giờ?”   Ai có thể làm tan tảng băng nếu lối vô bị bít kín?  Ly nước đã đầy làm sao có thể rót thêm?  Làm sao có thể tìm được lòng sốt sắng yêu mến khi tôi đến với Thiên Chúa với tấm lòng giá băng qua những nghi thức thờ phượng hời hợt bên ngoài, với trái tim đầy ắp những tham vọng thế gian và cái đầu tính toán đầy những thành kiến.

Có đúng chăng sự “hững hờ”“lạt lẽo” của người chồng trong “Hai sắc hoa ti gôn” là kết quả cách sống thờ ơ của người vợ?  Có sai không thái độ giận dữ của Thiên Chúa “Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi!  Nhưng vì ngươi hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” (Kh 3:15-16) là kết quả cách sống dở dở ương ương của tôi?  Tôi còn có sự tự do lựa chọn cho mình một lối sống, nhưng người con gái đất Việt bảy mươi năm về trước thì không.  Vậy tôi và nàng ai đáng thương và đáng trách hơn?

Xuyên suốt bốn bài thơ của T.T.Kh, ngoài thái độ “hững hờ”“lạt lẽo” của người chồng, còn một thái độ tế nhị khác nữa, đó là sự chờ đợi!  Ông đã âm thầm đi bên cạnh cuộc đời vợ mình để chờ đợi sự quay về của người vợ hiền, nếu không quay về vì yêu thương thì cũng xin vì bổn phận.  Qua ông, tôi bắt gặp hình ảnh chờ đợi của Thiên Chúa, Ngài đã kiên nhẫn đứng bên lề cuộc đời của những người đã chọn Ngài là Chúa nhưng chỉ là môi miệng để ngày qua tháng lại tiếp tục mòn mỏi trông chờ.  Một Thiên Chúa đầy quyền uy nhưng thật tội nghiệp vẫn lặng lẽ đứng đó, không một lời giải thích cho thái độ tưởng như hờ hững, lạt lẽo của mình, với đôi cánh tay giang rộng để chờ đợi không chỉ thân xác, không chỉ hình thức, không chỉ môi miệng nhưng là một tình yêu đích thực từ trái tim, một cái xác có hồn, một sự dâng hiến trọn vẹn tuyệt vời của người yêu.

Ngược lại với sự quảng đại chờ đợi trong âm thầm nhẫn nhục của người chồng là một sự phản bội tế nhị của “người ấy”:

“Chỉ có ba người đã đọc riêng

Bài thơ đan áo của chồng em

Bài thơ đan áo nay rao bán

Cho khắp người đời thóc mách xem.”

Là giết đời nhau đấy biết không? (Bài thơ cuối cùng)

Bây giờ thì nàng đã rõ rồi tấm lòng yêu thương của người mà nàng hằng ấp ủ trong tim.  Trong khi người con gái “vườn Thanh” lo lắng “nếu biết ngày mai tôi lấy chồng.  Trời ơi! Người ấy có buồn không? với một niềm tin mạnh mẽ vào người yêu “nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ.  Người ấy ghi lòng vẫn nhớ em” và nỗi khắc khoải mong chờ được tái ngộ dù chỉ trong mơ “tiếng lá thu khô xiết mặt hè.  Như tiếng chân người len lén đến”. Thế mà người ấy lại nhẹ nhàng đem tình nàng “rao bán” trên mặt báo.  “Bài thơ đan áo” chỉ viết riêng cho chị chia sẻ nỗi lòng u uất của người con gái lấy chồng phương xa, giờ còn đâu nữa những tâm tư thầm kín của người thiếu phụ khuê các.  Người ta đã quên rồi lời hẹn xưa: “Cố quên đi nhé câm mà nín.  Đừng thở than bằng những giọng thơ”. Người ta thương gì “một mảnh lòng tan vỡ”, xót xa gì “một tâm hồn héo”, tiếc gì một đóa “hoa tàn dấu xác xơ”. Không ăn được thì đạp đổ!  Hạnh phúc của người yêu nào có nghĩa lý gì!  Thẳng tay, phũ phàng và dứt khoát “lại chính là anh, anh của em” đó!  Đâu rồi một tâm hồn nghệ sĩ cao thượng?  Đâu rồi nét quân tử của người yêu hoa?  Chả trách nào tiếng chim trong lồng tắt lịm từ đó!

Hình ảnh “người ấy” phải chăng là hình ảnh của thế gian: đẹp đẽ, lãng mạn, nên thơ… khi tình đang mặn nồng, thưở “nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn”. Nhưng khi lòng tôi thao thức với lời mời gọi thiêng liêng từ trong đáy tim thì thế gian cố níu kéo bằng những dụ dỗ ngon ngọt, những hình ảnh phù phiếm, sự hưởng thụ thân xác.  Và khi tôi nhất quyết quay gót trở về với Thiên Chúa thì bộ mặt thế gian biến đổi với những gian trá mưu mô xảo quyệt, với hành động trả thù bỉ ổi nhằm phơi bày tội lỗi thầm kín của tôi cho dù làm thế “là giết đời nhau”. “Đời chỉ đẹp khi tình còn dang dở!” Tình đã dang dở rồi đây nhưng người trong cuộc có thấy đẹp hơn, thơ mộng hơn không hay chỉ toàn cay đắng phũ phàng?

Thế gian là thế đấy!  Người tình là thế đó!  Mặc dù “oán hờn anh mỗi phút giây” nhưng lòng thì “giận anh không nỡ nhớ không thôi”! Thiên Chúa có lẽ quá thấu hiểu sự yếu đuối mù quáng của con người nên hai chữ TỈNH THỨC được lập đi lập lại nhiều lần trong giáo huấn của Ngài và ân sủng từ trời cao không ngừng tuôn đổ để giúp con người biết lựa chọn và sống với sự chọn lựa của mình một cách sáng suốt.

Chuyện tình nào rồi cũng có đoạn kết, mối tình tay ba nào cũng phải kết thúc bằng sự lựa chọn.  Như “Người chồng – Người tình” không thể cùng song hành với nhau trong cuộc sống “Người vợ“, thì Thiên Chúa cũng không thể cùng đồng hành với thế gian trong trái tim và linh hồn một người.  Tôi đang ở đâu trong mối tình tay ba giữa “Thiên Chúa – Thế gian –  và Tôi”?  Tôi sẽ chọn lựa ai, chỉ một trong hai?  Và sẽ sống với thái độ nào trong sự tự do lựa chọn đó?

Lang Thang Chiều Tím

From: ngocnga_12 & Anh chị Thụ Mai gởi

Lời mẹ dặn

Lời mẹ dặn

Phùng Quán

Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.
Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ
Ngày ấy tôi mới lên năm
Có lần tôi nói dối mẹ
Hôm sau tưởng phải ăn đòn.
Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn
Ôm tôi hôn lên mái tóc
– Con ơi
trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật.
– Mẹ ơi, chân thật là gì?
Mẹ tôi hôn lên đôi mắt
Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
Từ đấy người lớn hỏi tôi:
– Bé ơi, Bé yêu ai nhất?
Nhớ lời mẹ tôi trả lời:
– Bé yêu những người chân thật.
Người lớn nhìn tôi không tin
Cho tôi là con vẹt nhỏ
Nhưng không! những lời dặn đó
In vào trí óc của tôi
Như trang giấy trắng tuyệt vời.
In lên vết son đỏ chói.
Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
Đứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.
Người làm xiếc đi giây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêụ
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.