Gặp Tướng bị ‘cải tạo’ 17 năm

Gặp Tướng bị ‘cải tạo’ 17 năm

Nguyễn Hùng BBC Tiếng Việt

Tướng Lê Minh Đảo (trái) và Trung tá Hải quân Hoa Kỳ Nguyễn Anh Tuấn nói chuyện với Nguyễn Hùng của BBC

J’ai quitté mon pays

J’ai quitté ma maison

Ma vie, ma triste vie

Se traîne sans raison

tạm dịch

Tôi đã rời bỏ đất nước tôi, Tôi rời bỏ ngôi nhà tôi, Cuộc đời, cuộc đời buồn của tôi, Lê thê chẳng phương cớ gì…

Tướng Lê Minh Đảo, cựu Tư lệnh nổi tiếng của Sư đoàn 18 của miền Nam tới tháng Tư 40 năm về trước cất tiếng hát (phút 31’30 trong video này) một trong những bài ông hay hát trong 17 năm đi ‘cải tạo’ ở các trại giam khác nhau trên khắp đất nước Việt Nam sau 30/4/1975.

Khi đó chúng tôi đang ngồi bên dòng sông Connecticut êm đềm vào một chiều đầu tháng Năm. Tướng Lê Minh Đảo vừa có những chuyến đi các bang ở Hoa Kỳ để nói chuyện nhân 30//4.

Đối với ông, sau ngày đó đất nước của ông đã không còn.

Trong thời gian đi cải tạo, Tướng Đảo cũng sáng tác nhạc phẩm ‘Nhớ mẹ’ mà đáng ra tôi phải đề nghị ông hát nhưng lúc đó không nhớ ra.

Cùng tham gia câu chuyện là Trung tá Hải quân Hoa Kỳ Nguyễn Anh Tuấn, người đã giúp thu xếp cuộc gặp và lái xe chừng hai tiếng rưỡi đưa tôi từ New York xuống Connecticut để gặp vị cựu Tư lệnh của Sư đoàn 18.

Tướng Đảo, người theo Công giáo trong thời gian bị giam cầm, bỏ buổi đi lễ nhà thờ Chủ Nhật để ở nhà chờ chúng tôi.

Trong bữa cơm tối sau đó, ông Đảo cũng kể lại câu chuyện ông tới với tôn giáo như thế nào vào khi mà ông có nhiều điều muốn làm nhưng lại đang bị giam cầm.

Vợ ông và chín người con cũng ở lại Sài Gòn cùng ông và hết sức vất vả trong cuộc sống. Ông nói thời gian đầu khi đi cải tạo, ông đã đọc bằng hết hai cuốn kinh Cựu ước và Tân ước, vốn do một bạn tù mang vào chót lọt, dù mắt ông bị giảm thị lực đáng kể do một dây thần kinh điều khiển mắt bị đứt.

” Giã từ miền Nam tang tóc con sống trầm luân kiếp sống lưu đày Hàng đêm con nghe thương tiếc xót xa đắng cay dâng ngạt tháng ngày

Ca từ trong bài Nhớ Mẹ của Tướng Lê Minh Đảo”

Từ đó, ông nói, ông âm thầm cầu mong Thiên Chúa cho gia đình ông có thể vượt biên thoát khỏi điều mà ông coi là “địa ngục” ở Việt Nam lúc bấy giờ.

Tướng Đảo nói ông có cảm giác lời khẩn cầu của ông được đền đáp khi vợ ông và chín người con vượt biên chót lọt hồi năm 1979.

Khi được đưa trở lại trại giam tại Sài Gòn hồi đầu những năm 1990, ông nói, ông lại thấy may mắn khi được giam cạnh phòng với một số cha tuyên úy.

Vị Tướng mà lúc đó người gầy tới mức có thể bò qua khe hở giữa tường và mái nhà, đã sang buồng giam của các cha tuyên úy để được làm lễ cho ông chính thức nhập đạo.

Ông nói gặp được các cha là ông đã mừng và giá như lúc đó là cha Tin Lành thì ông cũng đã theo Tin Lành.

Nhưng cuối cùng ông đã theo Công giáo, đạo mà trong lúc ông ở tù nhiều người con ông cũng theo đúng đạo này khi cô con gái út của ông mắc bệnh thâp tử nhất sinh trên đường vượt biên.

Tác giả của ca khúc ‘Nhớ Mẹ’ nói lời cầu nguyện của ông có thể gặp người mẹ đau ốm cũng thành hiện thực khi ông được trả tự do hồi năm 1992 và tự tay chăm sóc mẹ già vài tháng trước khi bà mất và trước khi ông được các con bảo lãnh sang Hoa Kỳ.

‘Kiếp sống lưu đày’

Bài ‘ Nhớ Mẹ‘ mà ông đồng sáng tác cùng Đại tá Đỗ Trọng Huề khi đi cải tạo có những câu:

“Những chiều buồn trên đất Bắc con hướng về Nam con nhớ mẹ nhiều

“Mẹ ơi bao nhiêu năm tháng cứ trôi cứ trôi cho bạc mái đầu

“Không gian rưng rưng như sắp đứt

“Gió về nghẹn ngào như tiếng nấc

“Còn đâu quê hương hoa gấm thơm làn tóc.”

Tướng Đảo, ảnh chụp khi ông còn trẻ, đồng sáng tác bài Nhớ Mẹ trong thời gian 17 năm đi cải tạo

Trong ca khúc ông cũng nói về những năm “đi đày” của mình trong các trại cải tạo:

“Giã từ miền Nam tang tóc con sống trầm luân kiếp sống lưu đày

“Hàng đêm con nghe thương tiếc xót xa đắng cay dâng ngạt tháng ngày

“Trăng sao tin yêu ai dối trá

“Đất trời hiền hòa ai đốt phá

“Và đem thê lương che kín núi sông này”

Ông Đảo nói trong những năm đi cải tạo có cán bộ cộng sản hỏi ông rằng ông suy nghĩ gì khi gây nhiều tổn thất “cho cách mạng” trong những trận đánh ông chỉ huy.

Vị Tướng nói ông hỏi lại rằng “Nếu một người tướng bên các anh trái lệnh thì các anh xử lý thế nào? Và chúng tôi không đem quân ra đánh miền Bắc mà các anh cho quân vào chiếm miền Nam,” ông nói.

‘Tị nạn cộng sản’

Tướng Đảo nói nhân phẩm và quyền con người của người dân miền Nam đã mất sau 30/4/1975 khiến họ phải “tìm con đường sống trong cái chết” bằng cách liều mình vượt biển trong giai đoạn mà người ta nói “nếu cột đèn có chân nó cũng đi”.

Ông nói: “Người tỵ nạn cộng sản ở khắp thế giới bây giờ, họ thành một cộng đồng bây giờ cũng trên ba triệu rồi.”

Tướng Đảo cùng vợ ông (bên trái) giờ sống ở Connecticut, Hoa Kỳ

“Có thể nói rằng một triệu [quân, dân, cán, chính bị đi cải tạo]. Tôi nói một triệu tại sao? Cái phần tụi tôi là mấy trăm ngàn đi đày ra ngoài Bắc. Còn tầng địa phương, xã, ấp này kia, nghĩa là nói tóm lại trung ương có chỗ giam của trung ương, địa phương có chỗ giam địa phương, rồi xã ấp có chỗ giam của xã ấp. Tất cả … những người nào mà họ thấy là có thể nguy hiểm cho chế độ [có thể lãnh đạo một cuộc nổi dậy có thể của những người dân phẫn uất vì sự hà khắc của cuộc sống mới] là họ giam.”

“Cái mà đau buồn nhất hiện thế hệ bây giờ là con người Việt Nam đã mất, cái văn hóa Việt Nam cũng mất hết tất cả. Bây giờ mình dòm thấy chúng ta xuống cấp, ngoài vấn đề kinh tế xuống cấp mình không nói, con người cũng xuống cấp, văn hóa cũng xuống cấp nữa. Cái đó là cái hậu quả của 30/4.”

Khi được hỏi người cộng sản đã được gì trong cố gắng “cải tạo” của họ, ông Đảo nói:

“Nói cải tạo để dùng cái mỹ từ cho nó đẹp chứ đi đày tụi tôi chứ cải tạo cái gì?

“Sự thật là ai cải tạo ai? Bây giờ phải nói rằng trình độ tụi tôi với tất cả cuộc sống của tụi tôi có cần những người cải tạo để đưa tụi tôi từ một [mức] con người biết đầy đủ tất cả nhân phẩm xuống thành con thú vật đâu?

“Nếu cải tạo cái đó thì tôi đồng ý, nghĩa là đày đọa tụi tôi thành con người vô tri, con người như con thú vật…

“Họ tiêu diệt chúng tôi rất là tinh vi. Thế giới không biết được đâu.

” Họ tiêu diệt chúng tôi rất là tinh vi. Thế giới không biết được đâu. Nhìn qua Polpot thấy giết, tắm máu này kia, không, Việt Nam ở ngoài nhìn không thấy tắm máu. Nhưng thật sự máu chúng tôi … từ trong cơ thể rỉ xuống chân, nó nhiễm xuống đất nó lan tràn mà không thấy hết.

Tướng Lê Minh Đảo”

“Nhìn qua Pol Pot thấy giết, tắm máu này kia, không, Việt Nam ở ngoài nhìn không thấy tắm máu.

“Nhưng thật sự máu chúng tôi … từ trong cơ thể rỉ xuống chân, nó nhiễm xuống đất nó lan tràn mà không thấy hết.

“Chết, chết đủ cách hết. Đói rét, đói chết, bệnh tật chết, bị hành hạ về lao động chết.

“Rồi nội thời tiết khắc nghiệt, không có cho tụi tôi một cái gì [chống lạnh] nữa.

“Tôi ngủ phải lấy nhật trình, cái giấy báo đó, tôi quấn quanh mình tôi vì hồi đi ra họ nói đi một tháng, không mang đồ lạnh gì hết cả.

“Rồi đem ra gặp miền Bắc khắc nghiệt … chúng tôi kiếm từ cái giẻ rách bố tời chúng tôi lót.

“Mà chưa nói còn cái ăn nữa. Cái ăn thì biết rồi, đói. Và cái đói có thể làm con người ta sanh ra đủ thứ bệnh tật…

“Chưa kể đến vấn đề lao động, lao động khổ sai. Lao động khổ sai chưa đủ. Về, thay vì chẳng hạn như họ đuối [sức] rồi…., để họ nằm họ nghỉ mai tiếp tục làm kiếp con trâu nữa.

“Nhưng không, dựng dậy bắt kiểm điểm, học tập, ngày làm không tốt, cái này, cái kia làm cho tụi tôi đuối sức hết chọi để rồi chỉ còn ngủ được vài tiếng đồng hồ, lả người ra, rồi mai tiếp tục cuộc sống như vậy.

“Đó là cuộc sống của chúng tôi trong những trại cải tạo như vậy.”

‘Nhà tù lớn’

Cựu Tư lệnh Sư đoàn 18 nói gia đình của các cựu sỹ quan Việt Nam Cộng hòa cũng chịu chung cảnh khốn khó của thân nhân bị đi cải tạo.

“Đâu phải tụi tôi ở tù không, vợ con ở nhà cũng ở tù,” ông Đảo nói.

“Tụi tôi ở nhà tù nhỏ còn dân chúng ở ngoài ở nhà tù lớn.

“Họ dùng hay lắm, tôi nói [họ] tinh vi thế này.

“Nói với vợ ‘Chị ngoài này ráng đi vùng kinh tế mới, ráng lao động vì chị ảnh hưởng tới ảnh … nếu chị bên đây chị không tốt là anh ấy không được ra.

“Còn đối với chúng tôi trong kia ‘Các anh phải lao động tốt, học tập tốt này kia, có như vậy mới sớm trở về với gia đình…

“Cộng sản [đòn] tâm lý giỏi lắm… nhưng mà họ dùng cái cao siêu tâm lý của họ để khống chế con người và dùng con người cho họ chứ không phải là dùng tâm lý để nâng con người [lên].

“Đối với họ dân là kẻ thù mà, dân miền Bắc cũng vậy chứ không chỉ dân miền Nam. Chỉ có họ và gia đình họ [là quan trọng] thôi.

“Họ làm điều xấu xa họ nhìn trong kiếng họ thấy mặt của họ nhưng họ tưởng cái mặt người khác.

‘Thương dân miền Bắc’

Tướng Đảo nói ông và những người bị tù đày ý thức được chuyện chỉ một nhóm nhỏ lãnh đạo Việt Nam phải chịu trách nhiệm về những gì xảy ra sau 30/4 và người dân miền Bắc “đáng thương hơn” người dân miền Nam.

“Khi chúng tôi ở tù chúng tôi có nhận thức rất rõ ràng. Chúng tôi thương tất cả đồng bào ở ngoài Bắc.

“Chúng tôi thương, chúng tôi thấy những bà già, hỏi ra nhỏ tuổi hơn tôi, lúc đó tôi bốn mấy tuổi, mà già, cằn cỗi như bà già trong miền Nam sáu, bảy chục tuổi, trên vai nặng đi trên triền núi vác những thân chuối về cho heo ăn. Nước nóng thế này, xuống phỏng thế này… tôi thấy thương quá.

Tướng Đảo giờ sống ở một khu thanh bình ở Connecticut nơi ranh giới giữa các nhà được đánh dấu bằng cây

“Tới bây giờ tôi về nhà vợ tôi hỏi tôi tại sao anh thương dân miền Bắc hơn dân miền Nam, tôi nói ‘Dân miền Bắc đáng thương lắm, họ đau khổ lắm, họ đau khổ hơn mình, họ đau khổ nhiều hơn mình hơn 20 năm trong chế độ cộng sản.

“Một người cộng sản đã nói với chúng tôi thế này: ‘Các anh biết các anh thua, tại sao các anh thua không? Không phải tại Mỹ bỏ cái gì hết cả. Là tại anh không dám cầm súng anh bắn vô dân anh. Còn tụi tôi có chuyện [cần] làm chúng tôi vẫn phải bắn’…

“Còn quân đội tụi tôi có tính nhân bản rất cao. Tại sao dân chúng cứ chạy theo tụi tôi không à, giải phóng tới đâu mà sao không chạy ngược ra Bắc… đó là tính nhân bản, người dân người ta biết ai thương họ.

“Chúng tôi không quên những gì người cộng sản đày đọa chúng tôi. Không quên nhưng mà không thù…

“Trả thù suốt đời này đời kia làm sao chúng ta xây dựng được đất nước.”

Mặc dù vậy ông nói ông sẽ chỉ quay về khi đất nước có chế độ “biết thương dân, lo cho dân”. Vị Tướng của Việt Nam Cộng hòa trước đây nói trách nhiệm về những sai lầm ở Việt Nam sau 30/4 có thể quy về cho “một số nhỏ” lãnh đạo.

“Kể cả những anh em vác súng gác chúng tôi, là công an, chúng tôi họ là người trẻ tuổi không biết gì hết cũng là nạn nhân hết,” ông nói.

“Chúng tôi quy trách nhiệm chỉ một số ở trên kia còn toàn dân đều bị sự áp bức, bị đè, bị khống chế để làm công việc đó.”

Miền Nam ‘không thua’

Nói về Cuộc chiến Việt Nam, Tướng Đảo nói chuyện Mỹ bỏ miền Nam trong khi Liên Xô và Trung Quốc tiếp tục hỗ trợ miền Bắc thì chuyện Sài Gòn sụp đổ là sự sắp xếp của những cường quốc lớn.

“Tôi không bao giờ tôi có sự suy nghĩ là dân miền Nam thua. Cũng như tôi không bao giờ trong tư tưởng tôi tôi nghĩ là quân lực Việt Nam Cộng hòa tụi tôi thua.

“Cái ván cờ này thua nói thật ra là cái ván cờ của vấn đề của những thế lực ở trên sắp xếp bắt bọn tôi phải thua để cho Cộng sản nắm.

“Nhưng mà tôi nói thật thua chiến tranh vừa rồi anh biết ai không?

Ông Đảo nói các cường quốc lớn đã quyết định kết cục cuộc chiến Việt Nam

“Tất cả nhân dân hai miền Nam, Bắc chúng ta đều thua cả. Thắng chăng, Tàu cộng nó thắng.

“Tàu cộng nó thắng vì giờ anh thấy đất nước mình… tôi cứ hình dung là một con nai và một con trăn gió.

“Con trăn gió là thằng cộng sản Tàu, còn con nai là Việt Nam mình bây giờ.

“Con trăn gió đã nuốt phân nửa con nai tới cái lưng [hồi] năm 1954.

“Rồi 1975 tới giờ nó nuốt tận cổ con nai rồi.

“Bây giờ con nai chỉ còn ló cái đầu và cái sừng ngáp ngáp thế này thôi.

“Tàu nó bất chiến tự nhiên thành.

“Tàu họ không bao giờ nghĩ rằng họ buông tha nước Việt Nam cả, hệ có dịp là họ đô hộ, thống trị, biến chúng ta thành một tỉnh, quận gì của họ…

“Cộng sản không muốn cũng không được … họ dùng thái thú Việt Nam họ cai trị.”

Tướng Đảo nói thêm ông bi quan về Việt Nam hiện nay:

“Nước Việt Nam bây giờ mất rồi. Đối với tôi là người chiến lược tôi nói mất.

“Biển, Biển Đông, Trường Sa, Hoàng Sa họ nắm, muốn đi đâu thì đi.

” Nước Việt Nam bây giờ mất rồi. Đối với tôi là người chiến lược tôi nói mất. Biển, Biển Đông, Trường Sa, Hoàng Sa họ nắm, muốn đi đâu thì đi. Cái hông, cái mái hiên của mình là Lào và Campuchia, những nước bạn mình, bây giờ họ khống chế hết tất cả, họ đi ra, đi vô, đường họ xuyên tất cả.

Cựu Tướng Lê Minh Đảo”

“Cái hông, cái mái hiên của mình là Lào và Campuchia, những nước bạn mình, bây giờ họ khống chế hết tất cả, họ đi ra, đi vô, đường họ xuyên tất cả.

“Anh dòm thấy không, 50 cây số sáu tỉnh Cao Bắc Lạng có bao nhiêu chục năm họ làm gì trong đó, họ đặt cái gì trong đó làm sao ai biết.

“Rồi điểm cao, nóc nhà của mình ở Tây Nguyên là bauxite, anh vô đó là công nhân hay là lính, đối với tôi là lính…

“Tĩnh thì di dân, động thì di binh, tất cả những cái đó nó nổ toang ra thì chúng ta biết.

“Tôi nói sơ những công trình kiến thiết từ đập, từ nhà máy, từ cái này kia cho Trung Cộng thầu.

“Nó lo lót cho tất cả những tay cán bộ ăn để được thầu.

“Tôi là nhà quân sự tôi nói ở trong cái vách đó, cái đập nước, họ để bao nhiêu trái mìn biết không.

“Những trái mìn nổ… nếu có chuyện gì họ bấm mìn nổ [từ xa] làm sao anh biết được.

“Rồi bây giờ gián điệp họ được quyền đi đầy trong nước không ai kiểm soát hết, họ đi họ vẽ điểm trọng yếu này kia…”

Đốt sách trẻ con

Trong khi Tướng Đảo đi cải tạo, Trung tá Nguyễn Anh Tuấn khi đó còn nhỏ. Nhưng ông cũng không giấu được sự xúc động khi nhớ về chuyện những cuốn truyện tranh của tuổi thơ ông đã bị lấy đem đi đốt (phút thứ 9’30 trong video).

Trung tá Nguyễn Anh Tuấn mới đây đã quay lại Việt Nam và đi ngang qua ngôi nhà trước đây của gia đình

Ông nhớ lại: “Lúc 30 tháng Tư, tôi 10 tuổi, ba tôi cũng phục vụ trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa.

“Ông kể lại sau khi ông cải tạo thì nghĩ rằng sau khi đất nước thống nhất lại thì sẽ có cơ hội để mà tiến thân nên ông đã quyết định ở lại sau năm 1975.

“Sau hai năm rưỡi trong tù cải tạo ba tôi trở về thì ông không kể nhiều. Những gì tôi hiểu về sự đau khổ của bậc cha mẹ, chú bác là những sách vở, rồi nói chuyện với những chú bác mà họ có thể cởi lòng ra để kể ra như Thiếu tướng [Đảo] đây.

” Tôi vẫn nhớ ngày [người ta] tới nhà tôi lấy những cuốn sách những comic books [truyện tranh] lúc tôi còn nhỏ để đem đi đốt.

Trung tá Hải quân Hoa Kỳ Nguyễn Anh Tuấn”

“Tôi vẫn nhớ những ngày phải đứng ở ngoài đường, đứng xếp hàng để mua đồ ăn cơm độn.

“Tôi vẫn nhớ ngày [người ta] tới nhà tôi lấy những cuốn sách những comic books [truyện tranh] lúc tôi còn nhỏ để đem đi đốt.

“Tới mãi năm 1978, sau ba tôi ra khỏi tù năm 1977, đã vượt biên ra tới Mã Lai rồi định cư ở thành phố Buffalo, New York. Thì tôi sống bên đây cũng ba mấy năm rồi.”

Tương lai

Nhìn về những năm trước mắt và đường hướng cho tương lai của Việt Nam, Trung tá Tuấn nói:

“Thế hệ của tụi tôi thấy đất nước mình cái sự đau khổ quá nhiều rồi.

“Nên anh chị em trong thế hệ một rưỡi này thì anh chị em tôi nghĩ là mình phải mở ra chương mới coi tương lai thế nào.”

Ông Tuấn nói ông lạc quan về tương lai của Việt Nam và hy vọng trong 20-30 năm tới hàng vạn người từng du học ở Hoa Kỳ và những nước phát triển khác sẽ đưa Việt Nam đi lên nhanh hơn nhiều so với hiện nay.

Trung tá đương nhiệm trong Hải Quân Hoa Kỳ nói kinh nghiệm từ các nước khác cho thấy Việt Nam sẽ phải có một ủy ban sự thật và hòa giải để những sai lầm trong quá khứ có thể được nhìn nhận thẳng thắn và trên tinh thần bao dung.

Trung tá Nguyễn Anh Tuấn (phải) nói ông lạc quan về tương lai của Việt Nam trong dài hạn

Ông cũng nói cần có sự ân huệ đối với những sai lầm của các nhà lãnh đạo trước đây và cả hiện nay để đi tới một sự hòa giải thật sự và Việt Nam có sự đoàn kết rộng rãi.

Tướng Đảo nói ông tôn trọng suy nghĩ của các thế hệ sau này nhưng khẳng định họ không thực sự hiểu người cộng sản.

Dù ông nói ông không thù những người đã tiến chiếm Việt Nam Cộng hòa và “đày” ông tới hơn 17 năm, dường như ông không chấp nhận một Việt Nam với sự tồn tại của những người cộng sản.

Đối với ông những người cộng sản tốt là những người “cộng sản phản tỉnh” như Tướng Trần Độ, nhạc sỹ Tô Hải, hay cựu quan chức Mặt trận Tổ Quốc Lê Hiếu Đằng.

Trong những ngày ở thủ đô Washington của Hoa Kỳ, tôi đã đi trên những xa lộ mang tên Tổng thống Jefferson Davis và cả viên tướng nổi tiếng Robert Lee của miền Nam, bên thua cuộc trong nội chiến Hoa Kỳ, vốn khiến hơn 360.000 người miền Bắc và gần 260.000 người miền Nam thiệt mạng, cách đây tròn 150 năm. Những lá cờ của Nam Hoa Kỳ trước đây vẫn tung bay ở bang Virginia, bang ranh giới Nam Bắc khi xưa, nằm ở ngay sát thủ đô.

Cờ của miền Nam, bên thua trận trong nội chiến khiến hơn 600.000 người chết cách đây 150 năm, tung bay gần thủ đô Washington

Chuyện đó đối với Việt Nam có lẽ còn quá xa vời nhưng hòa hợp và hoà giải sẽ có ý nghĩa hơn nếu những người như Tướng Đảo cảm thấy họ thoải mái khi trở lại quê hương.

Ông nói điều ông đòi hỏi không phải là sự khôi phục lại một chế độ đã mất mà là các quyền thực sự cho những người đang sống ở chính Việt Nam.

Quý vị có thể theo dõi toàn bộ phỏng vấn với Tướng Lê Minh Đảo và Trung tá Nguyễn Anh Tuấn trên kênh YouTube của BBC Tiếng Việt.

Nguyễn Hùng cũng chia sẻ trải nghiệm về chuyến đi tới Hoa Kỳ trong bài viết trên Facebook hôm 30/4/2015 tại đường dẫn này.

Ngước mắt nhìn trời,

Ngước mắt nhìn trời,

TGM. Ngô Quang Kiệt

Con người thường có hai thái độ sống đối nghịch nhau. Một bên là những người chỉ biết có việc đạo. Sống dưới đất nhưng lòng trí để cả ở trên trời. Không tha thiết gì với những người chung quanh. Không tham gia những sinh hoạt xã hội. Khinh chê tất cả những giá trị ở đời này. Ngược lại, bên kia là những người sống như chỉ biết có việc đời. Chỉ coi trọng những giá trị vật chất. Chỉ biết có đời này. Sống là còn. Chết là hết. Cả hai thái độ đều bất cập.

Việc Đức Giêsu lên trời và những lời Ngài truyền dạy trước khi từ giã trần gian giúp ta có một cái nhìn đúng đắn hơn đối với trời và đối với đất.

Đức Giêsu lên trời. Điều đó dạy ta biết ngoài cõi đời này còn có một nơi chốn khác. Ngoài cuộc sống này còn có một cuộc sống khác. Ngoài những giá trị đời này còn có những giá trị khác.

Trời là nơi hạnh phúc không còn khổ đau. Trời là nơi cuộc sống vĩnh viễn không bị tiêu diệt. Trời là nơi tất cả mọi giá trị đạt đến mức tuyệt đối. Trời là nơi con người trở thành thần thánh, sống chung với thần thánh.

Như thế trời là niềm hy vọng của con người. Con người không còn bị trói chặt vào trần gian. Định mệnh của con người không phải chỉ là đớn đau sầu khổ. Số phận con người không phải sinh ra để rồi tàn lụi. Trời cho con người một lối thoát. Trời mở ra cho con người một chân trời hạnh phúc. Trời cho con người cơ hội triển nở đến vô biên.

Trời nâng cao địa vị con người. Có trời, con người không còn bị xếp ngang hàng với súc vật. Súc vật sinh ra để tàn lụi. Con người sinh ra để triển nở, để vượt qua số phận, để đạt tới địa vị con Thiên Chúa. Có trời, con người sẽ được nâng lên ngang hàng thần thánh.

Tuy nhiên, trời không phải xây dựng trong mây trong gió, nhưng được xây dựng trong cuộc sống trần gian. Trời không phải là cõi mơ mộng viển vông, nhưng đã bắt đầu ngay trong thực tế cuộc đời hiện tại.

Chính vì thế mà hai thiên thần áo trắng đã bảo các môn đệ đừng đứng nhìn trời mãi làm chi, nhưng phải trở về mà lo chu toàn nhiệm vụ.

Chính vì thế mà trước khi lên trời, Chúa căn dặn các môn đệ hãy đi làm việc cho nước Chúa. Sống và làm việc ở trần gian, đó là một nhiệm vụ phải chu toàn. Hoàn thành nhiệm vụ ở trần gian, đó là điều kiện để đạt tới hạnh phúc nước trời.

Chính Đức Giêsu cũng đã chu toàn nhiệm vụ ở trần gian rồi mới lên trời. Nhiệm vụ đó là đi gieo Tin Mừng khắp nơi. Đi đến đâu là thi ân giáng phúc đến đấy. Đi đến đâu là gieo yêu thương đến đấy.

Hôm nay Chúa cũng sai các môn đệ và chúng ta đi gieo Tin Mừng khắp thế gian. Hãy đi làm mọi việc tốt đẹp cho mọi người.

Làm việc tốt đẹp ở trần gian đó là góp phần xây dựng nước trời. Góp phần xây dựng trần gian đó là dọn chỗ ở trên nước trời. Trần gian không phải là nơi cho ta bám víu vì không vĩnh cửu. Nhưng trần gian là cơ hội cho ta đạt tới nước trời.

Chính vì thế, người môn đệ của Chúa phải sống giữa trần gian, phải yêu mến trần gian, phải xây dựng trần gian. Vì trần gian là nơi Chúa sai ta đến làm việc.

Tuy nhiên người Kitô hữu làm việc ở trần gian mà lòng vẫn hướng lên quê trời. Yêu mến trần gian vì nước trời. Yêu mến trần gian để biến trần gian thành nước trời.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết nỗ lực xây dựng trần gian trong niềm mong đợi hạnh phúc nước trời. Amen.

TGM. Ngô Quang Kiệt

Nhà Băng & Nhà Nước

Nhà Băng & Nhà Nước

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Lần đầu tiên chúng ta có một vụ dân oan tài chính ngân hàng được đưa ra công luận. Rất mong nhận được sự quan tâm và chia sẻ của quý vị.

Lê Thị Công Nhân

Tôi không hay can thiệp vào chuyện của người khác, nhất là những việc có liên quan đến “cơm/áo/gạo/tiền.” Tuy nhiên, hôm nay tôi đành phải phá lệ vì vấn đề (sắp trình bầy) có thể phương hại đến sinh mạng của tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, một nhân vật được nhiều người qúi mến.

Ngày 8 tháng 5 vừa qua, trên trang Dân Luận có bài viết (“Vietcombank Tùy Tiện Khóa Tài Khoản Khách Hàng Theo Mật Lệnh Của Bộ Công An ”) của luật sư Lê Thị Công Nhân, với lời yêu cầu là ngân hàng này phải trả tiền cho thân chủ. Sự việc được bà trình bầy (và chúng tôi xin phép được tóm gọn) như sau:

Năm 1995 ông Thanh Giang mở tài khoản tại Vietcombank tại Sở Giao dịch chính trên phố Ngô Quyền. Khi có chi nhánhVietcombank Thanh Xuân 448 Nguyễn Trãi (nằm cùng phía trường Đại học Quốc Gia/Tổng hợp cũ, cách ngã tư Khuất Duy Tiến khoảng 200m) thì ông giao dịch tại chi nhánh này cho gần nhà.

Mọi việc bình thường đến cuối năm 2011, bỗng dưng chi nhánh này không cho ông rút tiền mà không có lý do chính đáng nào được đưa ra một cách nghiêm túc tối thiểu (tức là bằng văn bản). Cả chục lần ông tới chi nhánh đều quay về trong tức tưởi. Nhân viên ngân hàng luôn nói làm “Theo lệnh cấp trên.” thỉnh thoảng có nhân viên lại nói “Theo lệnh Bộ Công An…”

Họ bảo ông lên Trụ sở chính Vietcombank mà hỏi. Dù ông yêu cầu thế nào chi nhánh này cũng nhất quyết không lập bất kỳ biên bản làm việc hay ghi giấy giới thiệu ông đến gặp “cấp trên” hay “Bộ Công An” thần bí nào đó để làm việc, nếu như chi nhánh này không làm gì sai…

Ông rất mệt mỏi, phẫn nộ và bế tắc đến nỗi gửi chi nhánh 1 lá thư tuyên bố nếu chi nhánh không trả tiền cho ông và vẫn cứ im lặng khinh thường, vô luật với khách hàng như vậy thì ông sẽ đến chi nhánh ngân hàng này tuyệt thực cho đến khi nào họ giải quyết hoặc đến chết!

Biết tin này, chúng tôi rất shock và phẫn nộ, không tưởng tượng nổi ngân hàng Vietcombank lớn, chuyên nghiệp và uy tín nhất nước, giao dịch toàn cầu lại hành xử như vậy…

Ảnh: ndh.vn

Tôi cũng “shock” (luôn)̀ khi L.S. Lê Thị Công Nhân cho biết thêm rằng “chúng tôi  khuyến khích ông phải kiên quyết làm sáng tỏ vụ việc. Chúng tôi gồm: nhà văn Phạm Thành, học giả Nguyễn Hoàng Đức, kỹ sư Hoàng Văn Hùng, biên tập viên Nguyễn Lê Hùng, nhà báo tự do J.B Nguyễn Hữu Vinh và vợ chồng tôi Nhân-Quyền bé Lucas cùng đi với ông đến chi nhánh lạ lùng này để yêu cầu họ lần cuối cùng – có trả tiền cho ông Nguyễn Thanh Giang hay không. Nếu không trả thì phải làm giấy giới thiệu nói rõ phải đến chỗ nào để đòi.”

Với tất cả thiện chí, cũng như thành tâm, tôi khẩn khoản và mong mỏi cùng qúi vị có tên tuổi dẫn thượng nên ngưng ngay cái ý định “đòi tiền” (cho bằng được) vừa nêu – trước khi quá muộn. Vấn đề, như đã thưa, rất có thể phương hại đến tính mạng của T.S. Nguyễn Thanh Giang

Trên nguyên tắc, tôi hoàn toàn đồng ý với L.S Lê Thị Công Nhân là  “chả có chính chị chính em gì ở đây hết. Đơn giản là rút tiền của mình ở ngân hàng mà thế này thì sợ quá.”

Ôi thôi, chuyện gửi tiền và rút tiền ở những ngân hàng VN còn có nhiều vụ đáng “sợ” hơn nhiều! Xin đơn cử vài “vụ” nhỏ, vừa được tường thuật báo chí trong thời gian gần đây:

“Ngày 27.9.1983 ông Nguyễn Vĩnh Rượu (ngụ đội 1, HTX Hòa Quý, Hòa Vang) có đến Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh huyện Hòa Vang gửi tiết kiệm 90 đồng (tương đương 1 chỉ vàng). Tại bàn 19, ông Rượu được hướng dẫn gửi theo dạng tiết kiệm không kỳ hạn. Từ năm 1983 đến năm 1988, số tiền lãi vẫn được tính đều đặn. Tính đến tháng 11.1988, ông Rượu có 266 đồng trong quỹ gửi tiết kiệm.

Bà Nguyễn Thị Thạnh, con gái ông Rượu, cho biết: ‘Hồi đó gia đình tôi cũng nghèo khó nên làm gì có tiền gửi tiết kiệm. Số tiền này là tiền chính sách, hỗ trợ các gia đình thân nhân liệt sĩ vì gia đình tôi có 2 liệt sĩ. Cha tôi không biết chữ, lúc đi gửi cũng không nói với ai nên gia đình không hay biết.’

Năm 2001, ông Rượu qua đời. Mãi tới gần đây, khi lục tìm trong đống giấy tờ của người cha quá cố, người nhà của ông mới phát hiện quyển sổ tiết kiệm.

‘Khi cầm quyển sổ, thấy không có dấu đỏ gì nên tôi cũng sợ là sổ giả. Rồi nghĩ chắc ngân hàng này giờ đã giải thể nên gia đình cũng không đi hỏi. Nhưng càng để lâu càng thắc mắc nên giờ tôi mang sổ đến ngân hàng nhằm tìm hiểu cho rõ chứ cũng không hy vọng nhận được tiền” – bà Thạnh cho biết.

Cũng theo bà Thạnh, vào thời điểm đó số tiền này có giá trị rất lớn. Với 266 đồng có thể mua hơn một chỉ vàng hoặc nhiều tài sản có giá trị khác. “Nếu biết có quyển sổ này thì gia đình tôi đã đi rút từ lâu chứ không phải để lâu như vậy. Số tiền này trước đây là cả một gia sản chứ đâu ít’ – bà nói.

Sáng 31.3, bà Thạnh mang quyển sổ tiết kiệm đến Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Đà Nẵng (trụ sở trên đường Lê Duẩn) để nhờ tư vấn. Tại đây, bà được các nhân viên hướng dẫn sang Ngân hàng VietinBank (đường Nguyễn Văn Linh) giải quyết.

Sau khi kiểm tra quyển sổ, nhân viên VietinBank xác định đây là sổ tiết kiệm thật và sẽ tất toán cho khách hàng. Tuy nhiên, do còn vướng mắc về hàng thừa kế và phương án xử lý quyển sổ nên nhân viên ngân hàng đi phôtô, giữ lại một bản.

Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, ông Võ Minh, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Đà Nẵng, cho biết thời gian qua cũng có một số người đưa sổ tiết kiệm ‘tuổi đời’ 20-30 năm đến rút tiền và ngân hàng vẫn giải quyết cho khách hàng bình thường. ‘Phần lớn số tiền trong các sổ tiết kiệm rất nhỏ, qua lần đổi tiền lại càng nhỏ hơn. Ngân hàng Nhà nước đã dồn toàn bộ số tiền này qua một tài khoản riêng để giải quyết khi khách hàng đến nhận tiền’ –  ông Minh cho biết.

Chúng tôi đặt câu hỏi: Có hợp lý không khi vào thời điểm mở sổ, số tiền người dân gửi có giá trị khá lớn nhưng tới giờ nhận cả lãi lẫn gốc không đủ một cuốc xe ôm. Ông Minh cho rằng đây không phải là Nhà nước o ép người dân mà là do giá trị đồng tiền bị sụt giảm. Ngân hàng Nhà nước đã có hướng dẫn rất rõ ràng về việc chi trả này.”  (Tấn Tài. “Gửi Tiết Kiệm Một Chỉ Vàng Nhận Lại Một Ổ Bánh Mì Thịt”. Báo Một Thế Giới, số ra ngày 02/04/2015).

Thêm một trường hợp nữa cũng “rõ ràng” không kém:

“Đó là trường hợp của ông Lê Minh Toán tại Hàng Bài – Hà Nội. Từ năm 1982-1985, ông đã chắt chiu từ chính tiền lương của mình để gửi tiết kiệm 12 cuốn sổ với tổng giá trị là 4.100 đồng vào các quỹ tiết kiệm thuộc Ngân hàng Nhà nước trung ương.

Căn nhà người bộ đội xuất ngũ đang ở, mua ngày đó chỉ 3.100 đồng… Ở thời điểm ấy số tiền ông gửi đủ mua thêm một căn hộ nhỏ ở trung tâm Hà Nội. Thế nhưng sau 20 năm, cả gốc lẫn lãi số tiền mà ông gửi chỉ được 109.778 đồng, đủ ăn được vài ba tô phở.” (Lê Thanh. “Gửi Tiết Kiệm 20 Năm, Một Căn Hộ Còn Ba Tô Phở.” Báo Tuổi Trẻ, số ra ngày 10/03/2015).

Ông Lê Minh Toán đau xót số tiền lúc gửi đủ mua được căn nhà, nhưng sau 20 năm gửi tiết kiệm ngân hàng chỉ ăn được vài ba tô phở. Ảnh và chú thich: Tuổi Trẻ Online

Căn cứ vào hai sự việc trên tôi có thể xác quyết rằng Vietcombank không “tùy tiện khóa tài khoản khách hàng theo mật lệnh của bộ Công An,” như L.S. Lê Thị Công Nhân đã nghĩ. Ngay cả ở một quốc gia không có Tự Do/ Hạnh Phúc – chỉ có Độc Lập xuông thôi, như Bắc Hàn – cũng chả có Bộ nào lại (nỡ) phong toả số tiền chỉ đủ mua một ổ bánh mì hay ba tô phở của một người dân cả.

Có chăng thì chỉ là mật lệnh của Phủ Thủ Tướng, chỉ thị cho Bộ Y Tế phong toả tài khoản của T.S. Nguyễn Thanh Giang nhưng mà do thiện ý của ngài mà thôi. Trong hội nghị trực tuyến toàn quốc sáng hôm 8 tháng 5 năm 2015, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã long trọng tuyên bố: “Lo cho dân là phải lo mọi thứ!”

Chắc vì “lo” rằng T.S. Nguyễn Thanh Giang có thể chết ngất (rồi chuyển qua chết luôn) sau khi biết số tiền mình gửi ngân hàng từ năm 1995 đã trở thành một mớ giấy lộn nên mới có những sự việc (đáng tiếc) như trên, xẩy ra Vietcombank.

SINH NHẬT 60 (16-5-1955)

SINH NHẬT 60 (16-5-1955)

Song Như

Mới đó mà nay đã sáu mượi
Nhớ quá đi thôi tiếng mẹ cười
Trăng tròn trăng khuyết nuôi con lớn
Mẹ mãi bôn ba phận làm người…

Nước mắt mừng vui lúc sinh con
Nắm lấy tay chân biết no tròn
Biết trong cơ thể một nguồn sống
Biết đến sau này rạng sắc son…

Góp hết gia tài để con đi
Một chuyến phiêu lưu mẹ xá chi
Lòng con nặng trĩu đêm xa cách
Lệ thảm tuôn dòng mãi khắc ghi…

Mấy độ xuân tàn muốn về thăm
Mẹ bảo không sao mẹ sống trăm
Bao ngày lần lựa không về được
Mẹ khuất dương gian mãn kiếp tầm…

Đã biết bao lần sinh nhật con
Nhớ mẹ đê mê nhớ vẫn còn
Vang vang trong gió lời mẹ dặn
Sống phải nên người…ráng nghe con…

Liverpool.16-05-2015

Song Như

Kính dâng mẹ yêu…
Hôm nay là sinh nhật lần thứ 60 của con.
LKT.

Ngoảnh lại, Nàng Thơ đã ở bên,

“Ngoảnh lại, Nàng Thơ đã ở bên”,

Mỉm cười, Ồ khoé miệng trăm duyên.

Lời nào tả được tình lưu-luyến?

Buổi mới ân cần, với bạn Tiên!”.

(Dẫn từ thơ Thế Lữ)

Mai Tá, Giáo-dân lược dịch

Vừa rồi, chúng tôi định mua một cặp loa tốt, khả dĩ tạo được làn sóng âm thanh dịu dàng, dễ nghe. Cân nhắc kỹ, chúng tôi quyết định chọn nhãn hiệu “BOSE” vừa gọn nhẹ, lại vừa đạt chất lượng cao. Toàn hệ thống âm thanh trung thực chỉ nằm trong chiếc hộp nhỏ, nhưng có khả năng phát ra những âm thanh tuyệt cú, ngoài sự mong ước. So với giàn âm thanh hiện có, thì loa của hãng BOSE cho giọng trầm và ấm. Mạnh mẽ. Trung thực.

Với loa tốt, âm nhạc mới thể hiện tính hiện thực cần có, làm nền cho giọng kim bay bổng, lên xuống thật đúng ý của người biên sọan. Ngày nay, máy móc tân kỳ tạo cho âm thanh, tần số có được sự thanh tao, trong sáng. Nhờ vậy, công trình sắc sảo của nhà biên soạn mới được bộc lộ đúng cách. Dễ nhận.

Sách Công vụ Tông đồ hôm nay tập trung nhấn mạnh một điểm: quần chúng thời ban sơ, khi nghe đồ đệ Đức Kitô dẫn giải công việc Chúa làm, ai cũng hiểu biết đầy đủ sự việc diễn tiến theo ngôn ngữ rất riêng của mình. Nói theo ngôn ngữ thời nay, đây chính là sự thanh tao, trong sáng cần phải có mỗi khi ta rao giảng Lời Chúa. Với đồ đệ Chúa thuở ban đầu, ai nào được phú ban cho tài khéo ăn, khéo nói khả dĩ lôi cuốn người nghe?

Nhưng may thay, phần đông cử toạ đều có được đôi tai rất thính. Nhờ đó, họ biết lắng nghe và mau chóng lãnh hội sự thanh tao trong sáng, qua mỗi sự việc được dẫn giải. Đề cập đến tài lắng nghe và đón nhận Lời Chúa thời kỹ thuật thông số hôm nay, nhiều vị vẫn lẫn lộn giữa âm thanh đơn thuần với âm thanh nổi, giữa sự đồng bộ và đồng cảmvà đồng-thuận.

Với Hội thánh thời tiên khởi, ngày Thánh Thần Chúa hiện đến, ngày mà tín hữu Đức Kitô chẳng thấy khó khăn gì trong việc lắng nghe và đón nhận lời Ngài, hết. Ai cũng hiểu rằng, có nói cùng một thứ tiếng cũng không quan trọng bằng biết chăm chú nghe người khác nói. Lắng nghe từng giọng. Chăm chú vào từng động tác của mỗi người.

Hội thánh tiên khởi là một cộng đoàn phức hợp. Đa dạng. Tựa như hôm nay, mọi người đều được kêu gọi hãy lắng nghe người khác nói. Ngõ hầu thông hiểu nhau hơn. Cảm thông hơn về nhiều vấn đề. Về mọi chuyện.

Quả là, vào các năm tháng, ngày đầu của thời điểm Thánh Thần Chúa hiện đến, cộng đoàn kẻ tin đã nhận ra rằng: giữa thánh Phêrô và Phaolô đã có nhiều tranh cãi. Bất đồng. Bất đồng về các vấn đề của người Do Thái, của dân ngoài Đạo về vấn-đề trở lại. Nhiều vị đã cam đảm nhận đón cái chết nhục để chứng tỏ niềm tin của mình.

Tuy thế, cũng có người phản bội các thánh, vội quay đầu về với giới cầm quyền. Không còn tin vào lời các ngài nữa. Cùng là tín hữu Đức Kitô, nhưng có người tự hào cho mình thuộc phe Phaolô hoặc phe Apollô hơn là nghĩ rằng: dù thuộc cánh nào, phe nào rồi cũng qui về một mối. Tức: cuối cùng, cũng trở thành đồ đệ của Đức Chúa. Hết lòng. Hết mực.

Mải tranh cãi, đến nỗi có người cứ nghĩ là ngày tận thế đã gần kề. Rồi, chán nản. Mất niềm tin. Tuy nhiên, qua nhiều trường hợp trắc trở, âm sắc thâm trầm và ấm cúng của giòng nhạc hùng tráng vẫn vang rền. Thúc bách. Giọng thâm trầm ấm cúng ấy nhằm chứng tỏ rằng: Đức Kitô đã sống. Ngài đã vui lòng chấp nhận cái chết nhục. Và cuối cùng, đã sống lại vinh hiển. Về với Cha. Trong khi đó, thanh âm giọng kim bổng vút chát chúa của tranh cãi/bất đồng đã át đi thanh-âm trầm-ấm mà Đức Chúa đã phát đi.

May thay, hơn bốn thập niên trước, Công Đồng Vatican II đã hồi phục truyền thống cổ xưa của niềm tin trong Hội thánh bằng nhiều phương cách khác biệt, đột xuất. Quyết nối kết hoà mình với nền văn hoá địa phương mỗi vùng. Xem như thế, Lời Chúa được gửi đến với mỗi dân tộc có văn hoá riêng tư khác biệt, hài hòa. Hợp tác.

Ngày nay, chúng ta đều nhận thức: mỗi khi cất bước ra đi rao truyền Tin Vui An Bình của Chúa, vị thừa sai giảng thuyết đều cưu mang, trân quý mọi văn minh, văn hoá khác biệt, riêng tư của đất miền mà các ngài tạm dung. Và, các ngài vẫn cương quyết sửa đổi lề thói, tác phong “cha cố” chuyên áp đặt văn hoá cổ xưa của mình lên văn hoá, người bản xứ. Làm như thế, các ngài không bức bách, cũng chẳng đả phá tinh hoa, thuần thục của sắc dân bản xứ. Dù tinh hoa ấy đang đi dần vào chốn diệt vong.

Trong quá trình thực hiện quyết tâm này, nhiều nối kết được nảy sinh từ nền văn minh Kitô-giáo và văn hoá địa phương. Các nối kết, thành tựu ấy đã trở thành niềm tin thấm nhuần mầu sắc dân tộc. Đây là trạng huống kết tinh, mà Hội thánh tiên khởi đã tạo cho mình. Rất nghiêm chỉnh. Nhờ vào phong thái tinh tế, Hội thánh sở tại đã thực sự sống và rao truyền niềm tin, được uỷ thác.

Hôm nay, được Thánh Thần Chúa thánh hoá, chúng ta nhận ra rằng: để xây dựng và củng cố niềm tin của mình lên những gì người đi trước đã thiết lập. Chúng ta có bổn phận lắng nghe, và tìm hiểu nền văn minh, văn hoá đương đại của mỗi dân. Hãy đem niềm tin về với trao đổi, đối thoại cùng Tin Mừng của Chúa.

Chính vì thế, ta có thể quyết đoán thêm rằng: lòng quả cảm thật ra cũng là quà tặng từ Thánh Thần Chúa, vào ngày Ngài hiện đến với mọi người. Chúng ta không được phép rút vào bóng tối. Né tránh thế gian, hoặc coi rẻ loài người.

Nhưng, hãy ra đi tham gia đối thoại với thế giới, nhân trần. Tham gia, trao đổi và để tai trầm lắng đón nhận nhạc khúc giao hưởng mà Chúa biên soạn. Ở đây. Ngay lúc này. Có lắng nghe như thế, ta mới nhận ra thanh-âm sắc sảo đang xuất hiện trong cuộc sống thường nhật. Đôi lúc cũng trộn lẫn với âm-sắc thâm trầm, ấm cúng trải dàn nơi cuộc sống. Sự chết và sự sống lại vinh hiển của Đức Chúa thân yêu.

Tham dự Tiệc thánh mừng Thánh Thần Chúa hiện đến với ta hôm nay, hãy cầu mong sao ta có đôi tai rất thính. Biết lắng nghe và nhận rõ những gì Thần Khí Ngài đang thổi đến với ta. Thần Khí Ngài thổi vào đôi tai ta những âm sắc thâm trầm. Đầy thương mến. Hãy cầu mong sao cho ta biết sẵn sàng cống hiến cả đời mình, để rao truyền Tin Vui An Bình của Chúa với chốn phồn hoa. Đô hội.

Ở nơi ấy, vẫn hiện diện cùng khắp, nền văn minh/văn hoá của dân gian. Thị trường. Cầu và mong cho ta biết dấn thân, hoà mình với nền văn hoá đương đại. Hợp tình. Hợp lý. Làm như thế, ta sẽ phải sử dụng đôi tai, nghe nhiều hơn nói. Nghe nhiều, để có thể đón nhận các thanh-âm trầm-ấm, như làn gió thoảng vào hồn.

Nghe cho kỹ. Hiểu cho thông. Từ đó, ta sẵn sàng ra đi rao truyền Vương quốc của Đức Chúa bằng chính cuộc sống của mình. Ra đi để rao truyền niềm tin vui tươi. Rất thâm trầm. Muốn được thế, hãy để lòng mình trùng xuống mà đón nhận Lời Chúa. Ấm cúng. Thâm trầm.

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá, Giáo-dân lược dịch

Dịch thuật là Phản bội ?

Dịch  thuật  là  Phản  bội ?

Bài của : Đoàn Thanh Liêm

Từ lâu lắm rồi, lúc tôi còn đang theo học cấp trung học ở Hanoi, thì đã đọc được một câu tiếng Pháp : “ Traduire, c’est trahir”, nghĩa là “ Dịch thuật là Phản bội”.

Đại khái, tôi hiểu rằng đây là lời cảnh giác cho những dịch giả cần phải rất thận trọng mỗi khi chuyển dịch một bản văn, hay một cuốn sách nào từ nguyên tác sang một ngôn ngữ khác, để mà tránh được những sai sót khiến gây ra sự biến dạng trái ngược hẳn với chủ ý của tác giả nguyên thủy. Và do đó, về phần cá nhân mình, thì tôi luôn cố gắng làm việc hết sức chuyên cần nghiêm túc, mỗi khi phải đứng ra dịch thuật một bản văn nào từ tiếng Pháp, tiếng Anh ra Việt ngữ, hay ngược lại từ Việt ngữ sang Anh ngữ, Pháp ngữ. Nhất là đối các văn bản luật pháp, thì lại càng cần phải được dịch một cách chính xác trôi chảy, rõ nghĩa hơn.

Nhưng gần đây, thì tôi được biết đến một số bản dịch được xuất bản trong nước, mà vì lý do luôn có sự “nhậy cảm chính trị” sao đó, nên dịch giả và nhà xuất bản đã cố tình tự ý sửa đổi, cắt xén bớt đi nhiều đoạn văn trong bản nguyên tác, khiến gây cho người đọc hiểu lầm quan điểm đích thực và chính xác của tác giả.

Điển hình là bản dịch cuốn Hồi ký của ông Lý Quang Diệu, vị nguyên thủ tướng rất nổi tiếng của Singapore. Để bạn đọc có thể dễ dàng theo dõi câu chuyện, tôi xin đưa ra phóng ảnh mấy trang sách của cả hai cuốn nguyên tác bằng Anh ngữ và bản dịch Việt ngữ như sau đây : Xin xem hình 1, 2 .

blank

Hình 1

blank

Hình 2

Nguyên tác của cuốn Hồi ký viết bằng tiếng Anh có nhan đề là : “From Third World to First – The Singapore Story : 1965 – 2000” – Lee Kuan Yew”, dài 729 trang, khổ chữ nhỏ được nhà xuất bản Harper Collins ở New York ấn hành năm 2000.

Và bản dịch sang Việt ngữ do hai tác giả Phạm Viêm Phương và Hùynh Văn Thanh thực hiện, do nhà Xuất bản Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành vào năm 2001. Bản dịch này có nhan đề tiếng Việt là : Hồi ký Lý Quang Diệu (1965-2000), dài 936 trang, cũng khổ chữ nhỏ. Bản dịch này không hề có ghi chú đó là “bản lược dịch” hay “bản phỏng dịch”, nên người đọc có thể coi như đây là “bản dịch tòan văn” (texte intégral như người Pháp thường nói).

Và sau đây là chuyện “ tùy tiện cắt bỏ” trong bản dịch Việt ngữ :

1/ Chương 19 nhan đề : “Vietnam, Myanmar, and Cambodia : Coming to Terms with the Modern World” từ trang 309 đến trang 328 trong nguyên tác.

Thì như bạn đọc đã thấy trong hình 1 và 2, bản dịch đã cắt bỏ hẳn trên 3 trang đầu dài tới 2000 chữ của chương 19 này. Phần bị cắt bỏ khá dài này có thể tóm lược vào mấy ý chính như sau :

“ Năm 1977, một máy bay Dakota của Việt nam bị đánh cướp bay sang Singapore. Chúng tôi để cho bên Việt nam đem chiếc máy bay này về nước. Và chúng tôi đã truy tố kẻ cướp và xử phạt anh ta 14 năm tù. Nhưng chánh quyền Việt nam lại liên tục đe dọa, buộc chúng tôi phải trả người cướp về cho họ. Chúng tôi nhất quyết không thể nhượng bộ về chuyện này. Nói chung, thì sau khi chiến thắng  vào năm 1975, người cộng sản Việt nam đã tỏ ra kênh kiệu, ngoan cố. Họ cho mình là quan trọng, chẳng coi chúng tôi ra cái gì cả. Rõ ràng họ như là “một lọai người Phổ của Đông Nam Á” (Prussians of Southeast Asia)…

Năm 1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng qua thăm Singapore. Ông này vẫn tỏ ra vẻ “cứng rắn như đinh sắt” (tough as nails). Ông đưa lý do là Singapore đã được lợi nhiều từ cuộc chiến tranh Việt nam, do đó mà bây giờ Singapore có nghĩa vụ phải đóng góp vào việc tái thiết Việt nam… Làm sao mà chúng tôi lại có thể chấp nhận được cái lối lập luận như thế của người lãnh đạo Việt nam cơ chứ? Tôi phải trả lời ông Đồng rằng chúng tôi sẵn sàng buôn bán giao thương với Việt nam, chứ không có chuyện viện trợ chi cả. Ông Đồng tỏ vẻ không bằng lòng. Và chúng tôi chia tay, lịch sự nhưng lạnh nhạt (We parted civil but cold).”

2 / Như thế đấy, bản dịch ra Việt ngữ đã tùy tiện cắt hết cả một phần đầu của chương 19 này dài đến trên 2000 chữ. Việc làm này của các dịch giả và nhà xuất bản, không những đã tỏ ra bất chấp coi thường công chúng độc giả người Việt nam chúng ta, mà còn là một sự phản bội đối với tác giả Lý Quang Diệu, nhân vật được giới lãnh đạo Việt nam trân trọng mời làm cố vấn cho chánh quyền, sau khi ông đã về nghỉ hưu, không còn giữ chức vụ thủ tướng của Singapore nữa.

3/ Mặt khác, để cho được công bằng, người viết cũng xin đưa ra một chứng từ đáng tin cậy của nhà văn Phạm Xuân Đài như sau. Nhà văn thuật lại đại khái rằng : Hồi ông bị giam giữ trong trại tù cải tạo ở ngoài Bắc, thì do tai nạn mà bị trẹo xương đầu gối, phải chống nạng mới di chuyển được. Vì thế, mà ông không phải đi lao động bên ngoài trại, chỉ ở quanh quẩn trong trại. Vào thời gian này, ông có dịp đọc rất nhiều bản dịch các tác phẩm văn học quốc tế từ nhiều ngôn ngữ khác nhau, như tiếng Anh, Pháp, Trung hoa, Tây ban nha, Nga, Đức v.v… Ông nhận thấy tất cả các bản dịch này được thực hiện một cách rất trung thực, chu đáo, phơi bày hết sức rõ ràng được tinh hoa của tác phẩm nguyên gốc.

4/ Ấy thế, mà như đã ghi ra ở trên, khi động đến loại sách về chính trị thời sự, thì giới chức phụ trách về văn hóa ở Hanoi đã tỏ ra hết sức “dị ứng” (allergic) đối với các đề tài mà họ cho là “nhậy cảm” này (sensitive issues). Cho nên họ mới tự cho mình cái quyền cắt bỏ các đoạn văn trong Hồi ký của cựu thủ tướng Lý Quang Diệu như thế.

** Là một dân tộc vốn tự hào đã có trên “4000 năm văn hiến”, mà lại để cho xảy ra cái tệ nạn bừa bãi, đến độ trâng tráo, vô liêm sỉ trong lãnh vực văn hóa như thế này, thì thật là không thể nào mà bày tỏ hết được nỗi xót xa tủi hổ của tầng lớp sĩ phu trí thức Việt nam được nữa vậy./

California, Tháng Ba 2011

Đoàn Thanh Liêm

Paulo Freire và chủ trương “Giáo Dục Giải phóng Con người” (Bài 2)

II – Giáo Dục Giải Phóng Con Người : Nội dung & Ảnh hưởng

Đoàn Thanh Liêm

Trước khi đề cập đến nội dung của chủ trương “Giáo dục Giải phóng Con người” của Paulo Freire, người viết xin được kể sơ lược về cái duyên hạnh ngộ với nhà tư tưởng nổi danh này, xuất thân từ xứ Brazil là quốc gia đông dân nhất của Châu Mỹ La Tinh. Đó là vào cuối năm 1970, trong dịp tham dự một hội nghị quốc tế tại Paris, nhằm thành lập Institut Oecuménique au service du Développement des Peuples ( INODEP = Viện Đại kết Phát triển các Dân tộc), tôi đã được gặp đích thân Paulo Freire là một thuyết trình viên chính của Hội nghị, mà ông cũng còn được bàu là vị chủ tịch của INODEP nữa. Người tầm thước với bộ râu tóc dài đã điểm muối tiêu của người đã bước vào tuổi ngũ tuần, Paulo Freire có lối nói thật say mê sôi nổi, lôi cuốn như là một thi sĩ, mà lại diễn giải quan điểm lý luận của mình với niềm xác tín sâu sắc của một triết gia. Cử tọa gồm nhiều nhân vật đại diện từ khắp năm châu đều chăm chú theo dõi bài nói chuyện quan trọng, mà đày nhiệt tình của ông. Rồi qua năm 1972, lúc tôi đến Geneva để trao đổi gặp gỡ với một số vị tại văn phòng trung ương của Hội Đồng Tôn Giáo Thế Giới (WCC World Council of Churches), thì tôi cũng gặp lại Paulo Freire đang phụ trách về vấn đề giáo dục của tổ chức này.

Mùa hè năm 1971, vào dịp đến tham dự một cuộc hội thảo khác nữa tại Mindanao Philippines, thì tôi thấy sinh viên ở đây chuyền tay bán cho nhau cuốn sách “The Pedagogy of the Oppressed”, ấn bản địa phương đơn giản, chỉ có ruột sách, chứ không có bìa riêng theo kiểu tự làm lấy, cho nên giá rất rẻ, có 2 US$ một cuốn thôi. Và dĩ nhiên là tôi cũng đã mua vài cuốn để đem về cho các bạn ở Việt nam. Chuyện nhỏ này lại càng khiến tôi chăm chú theo dõi tư tưởng và đường lối giáo dục của Paulo Freire suốt từ hồi năm 1970 cho đến nay.

A – Nét chính yếu của tư tưởng và hành động của Paulo Freire.

Có thể nói Paulo Freire luôn nhất quán về cả phần lý thuyết, cũng như thực hành trong đường lối Giáo dục, nhằm giúp khối quần chúng bị áp bức tìm ra cho mình một phương cách cụ thể, hữu hiệu để tự giải thóat khỏi thân phận của người bị áp bức, bị tha hóa do các điều kiện khách quan của môi trường xã hội, cũng như chủ quan nội tại của bản thân mình. Quan điểm của ông có tính chất triệt để, dứt khóat là : Xã hội đương thời ở châu Mỹ La tinh, cũng như ở nhiều nơi khác đều do bao nhiêu bất công, áp bức bóc lột tạo ra nỗi lầm than cơ cực triền miên cho đa số quần chúng nhân dân. Và không khi nào mà giới thống trị lại chịu tự nguyện đứng ra chủ động việc cải thiện các định chế xã hội vốn bảo vệ các đặc quyền đăc lợi cho riêng họ.

Như vậy, chỉ khi nào chính cái đại khối quần chúng là nạn nhân của sự áp bức thống trị tệ hại đó, mà nhất quyết dấn thân vào công cuộc giải phóng kiên trì để tự cứu thóat lấy mình, thì xã hội mới có cơ may được xây dựng tốt đẹp, và con người mới phục hồi được nhân phẩm cao quý cho từng cá nhân được. Nói khác đi, chỉ khi nào chính quần chúng nhân dân mà được thức tỉnh giác ngộ về vai trò làm chủ nhân đích thực của xã hội, và cùng đồng lòng lăn xả vào cuộc tranh đấu giải phóng đó, thì họ mới có được một tương lai tươi sáng viên mãn, như từng mơ ước từ bao nhiêu thế hệ xưa nay.

Với niềm xác tín như thế, Paulo Freire đã nhập cuộc với xã hội quê hương mình, bằng cách phát triển phương thức giáo dục tráng niên, thúc bách cho các học viên cần phải có sự suy nghĩ với thái độ phê phán (critical thinking = conscientization) về hiện trạng xã hội, mà họ là nạn nhân của bao nhiêu áp bức bất công. Và rồi từ đó, chính họ sẽ ra tay hành động, nhằm biến đổi xã hội hủ lậu đó đi (transformative action). Do lối suy nghĩ và hành động cụ thể, cấp tiến như vây, mà ông đã bị phe quân nhân cầm quyền ở Brazil bắt giữ, rồi trục xuất đi ra khỏi nước vào năm 1964.

Trong thời gian sống lưu vong, ông có dịp đúc kết các suy nghĩ và hoạt động của mình, để rồi trình bày trong 2 cuốn sách xuất bản hồi cuối thập niên 1960, và được nhiều người đánh giá rất cao. Đó là cuốn sách đầu tiên có nhan đề  “ Education, the Practice of Freedom”, và đặc biệt là cuốn “The Pedagogy of the Oppressed”. Ta sẽ phân tích chi tiết rành mạch hơn về tác phẩm quan trọng này trong một đoạn sau. Và ông đã kiên trì tiếp tục tìm kiếm trong suốt cuộc đời còn lại, nhất là kể từ ngày được trở về lại quê hương vào năm 1980, để khai triển cho thêm phong phú hơn nữa cái chủ trương giáo dục có tính cách khai phóng và nhân bản cao độ này.

Tác giả Henry A Giroux nhận định về Freire rằng : “ Thực ra, ông là người đã kết hợp được điều mà tôi gọi là cả hai thứ ngôn ngữ phê phán với thứ ngôn ngữ khả thể” (In effect, Freire has combined what I call the language of critique with the language of possibility).

B – Giới thiệu tác phẩm “ Giáo dục của Người bị Áp bức”.

Trong cuốn sách 160 trang ngắn gọn, xúc tích với chỉ có 4 chương này, Paulo đã phân tích khá rành mạch, dứt khoát về chủ trương kiên quyết không thỏa hiệp với nền thống trị đàn áp, vẫn ngự trị lâu đời trong xã hội đương thời, đặc biệt là tại châu Mỹ La tinh là quê hương bản quán của ông. Và sau khi cuốn sách ấn bản tiếng Anh ra đời vào năm 1970, tác giả lại còn có nhiều dịp trao đổi với các thức giả khắp thế giới, và từ đó ông đã hoàn chỉnh hơn quan điểm và lý luận của mình, như được trình bày trong nhiều cuốn sách và bài báo xuất bản vào thập niên 1980-1990 nữa. Ta có thể tóm gọn tư tưởng của ông trong mấy khía cạnh chính yếu sau đây :

1 / Giáo dục đại chúng cốt yếu là một cuộc đối thoại giữa” người dậy” và “người đi học” ( a dialogue between the educator and the learner), trong đó phải có sự tương kính lẫn nhau giữa hai phía (mutual respect). Paulo Freire đặc biệt phê phán cái lối dậy học “nhồi nhét”, mà ông gọi là “banking concept”, tức là chỉ có người dậy chủ động chuyển mớ kiến thức vào đầu óc của học viên, y hệt như việc ký gửi các số tiền vào nơi chương mục tại ngân hàng (making deposits). Như vậy, thì người học viên hoàn toàn đóng vai trò “thụ động” của một đối tượng, chứ không hề được khuyến khích để chủ động phát huy óc sáng tạo và sự suy nghĩ có tính cách phê phán (critical thinking), để mà có thể tự mình khám phá ra hoàn cảnh bị áp bức của mình và rồi đưa đến một hành động thích đáng.

Thay vào đó, tác giả đề ra cái khái niệm “Giáo dục đặt vấn đề” (problem-posing concept of Education), trong đó cả hai phía người dậy và người học đều cùng hợp tác với nhau trong một quá trình hỗ tương (a mutual process), nhằm cùng nhau khám phá thế giới, và chung với nhau cố gắng vươn tới một mức độ nhân bản viên mãn hơn (their attempt to be more fully human).

2 / Cuộc đối thoại này không phải chỉ nhằm đào sâu sự hiểu biết, mà còn là một phần làm thay đổi nơi thế giới. Tự bản thân, sự đối thoại là một loại hoạt động có tính hợp tác bao gồm sự tôn kính (a co-operative activity involving respect). Quá trình này quan trọng, vì nó giúp tăng thêm sức mạnh cho cộng đồng và đồng thời lại xây dựng nên nguồn vốn xã hội  (enhancing community and building social capital), mà lại đưa dẫn chúng ta đến hành động cho công lý và phát triển nở rộ về phương diện nhân bản (human flourishing) nữa.

Cơ sở cụ thể cho hệ thống giáo dục căn cứ vào sự đối thoại này chính là nơi các“câu lạc bộ văn hóa” (culture circle), trong đó các học viên và người phối trí hợp cùng nhau bàn thảo về những” chủ đề khởi sinh” (generative themes), mà có ý nghĩa trong bối cảnh cuộc sống thực tiễn của người học viên. Các chủ đề này liên hệ tới thiên nhiên, văn hóa, công việc làm và các tương quan xã hội, thì đều được khám phá ra qua sự tìm kiếm chung nhau giữa nhà giáo dục với học viên. Rồi các chủ đề đó được sử dụng làm căn bản cho cuộc đối thoại trong phạm vi sinh họat nội bộ của câu lạc bộ. Từ đó, mà dần dần diễn ra quá trình cấu tạo được ý thức phê phán (critical consciousness) nơi các học viên tham gia, với tư cách là chủ thể của xã hội, mà chính họ đang cùng nhau ra sức xây dựng với quyết tâm của cả tập thể của mình.

3 / Tính chất độc đáo trong tư tưởng của Paulo Freire chính là việc ông đã khôn khéo tổng hợp đến độ nhuần nhuyễn được kinh nghiệm của những nhà tư tưởng tiền bối, và đem áp dụng vào đường lối giáo dục của ông. Điển hình là phép biện chứng của triết gia Hegel giữa “ông chủ và đày tớ”, thì đã được Freire áp dụng trong lối “giải thóat khỏi các hình thức độc đóan trong giáo dục”(liberation from authoritarian forms of education). Chủ thuyết hiện sinh của Jean Paul Sartre và của Martin Buber, triết gia Do Thái đã giúp Freire đưa ra khái niệm về “ sự tự biến đổi của người bị áp bức để tiến vào trong lãnh vực của tình trạng liên chủ thể tiến bộ” (the self-transformation of the oppressed into a space of radical intersubjectivity). Kể cả thuyết duy vật lịch sử của Karl Marx cũng ảnh hưởng tới quan niệm của Freire về lịch sử tính của các mối quan hệ xã hội (historicity of social relations).

Và chủ trương “Thần học giải phóng” cũng ảnh hưởng rõ rệt đến quan điểm của Freire, khi ông cho là “Tình yêu thương là điều kiện thiết yếu cho một nền giáo dục đích thực”. Rồi quan điểm cách mạng chống đế quốc của Ernest Che Guevara và Frantz Fanon, tác giả cuốn sách nổi tiếng “Les Damnés de la Terre”, cũng ảnh hưởng đến sự phân tích của Freire về tình trạng trầm đọng (sedimentation) của tư tưởng của giới áp bức thống trị, mà vẫn còn hằn sâu nơi não trạng của chính bản thân lớp người nạn nhân bị áp bức. Và rồi từ đó, ông đã dấn thân hết mình vào công cuộc tranh đấu chống lại chế độ thực dân đế quốc ở khắp mọi nơi.

C – Ảnh hưởng của tư tưởng Paulo Freire trên thế giới.

Có thể nói Paulo Freire là mẫu “con người tri hành hợp nhất” theo lối nói của Vương Dương Minh là nhà tư tưởng nổi danh của Trung quốc ngày xưa. Ông không chỉ đơn thuần là một lý thuyết gia, mà còn là một con người dấn thân hoạt động hết mình cho lý tưởng giải phóng con người. Chủ trương Giáo dục của ông tuy rất cương quyết dứt khoát, triệt để tiến bộ, nhưng đày tính nhân bản ôn hòa, khác hẳn với khuynh hướng quá khích, bạo hành của lớp người cộng sản Marxist tại châu Mỹ La tinh, cụ thể như Che Guevara, Fidel Castro. Vì thế mà đại bộ phận quần chúng nhân dân tại khu vực quê hương ông, vốn theo Thiên chúa giáo, thì đã tiếp nhận tư tưởng của Freire một cách nồng nhiệt, phấn khởi.

Tại Phi châu cũng vậy, trong nhiều dịp đến làm việc tại châu lục này, nhất là tại mấy nước trước đây cũng là thuộc địa của Bồ Đào Nha, như Angola, Mozambique, Guinea Bissau, Paulo Freire đã được đón tiếp một cách rất thân tình trân trọng, bởi lẽ ông cùng chia sẻ cái thân phận của người dân đã từng phải sống dưới sự thống trị hà khắc của các chánh quyền thực dân đế quốc trước kia, cũng như của các chế độ độc tài bản xứ trong giai đoạn độc lập tự chủ hiện nay.

Tại Á châu, ông cũng được đón tiếp tại nhiều nơi như Ấn độ, Papua New Guinea, và có nhiều dịp trao đổi với các giới chức hoạt động trong lãnh vực giáo dục, cũng như hoạt động cộng đồng.

Đã có nhiều quốc gia thiết lập các Viện Nghiên cứu Paulo Freire (Paulo Freire Institute = PFI) nhằm cổ võ và quảng bá tư tưởng của ông về lãnh vực cải cách giáo dục tráng niên, cũng như thúc đảy công cuộc tranh đấu cho công bằng xã hội trên phạm vi toàn cầu. Điển hình như PFI tại Nam Phi, tại Tây Ban Nha, tại Phần Lan, tại đảo quốc Malta, và dĩ nhiên tại Brazil là quê hương của ông.

Riêng tại Mỹ, thì có FPI đặt tại đại học UCLA ở thành phố Los Angeles California. Viện nghiên cứu này được thiết lập năm 2002 và rất hoạt động với việc xây dựng những mạng lưới liên kết giới học giả, nhà giáo,  nhà họat động xã hội, nghệ sĩ và các thành viên của cộng đồng. Thông qua các cuộc gặp gỡ trao đổi thường xuyên, tất cả các thành viên và các thân hữu của Viện FPI đều dồn nỗ lực vào việc xây dựng công bằng xã hội, và sử dụng giáo dục như là một phương tiện để tạo sức mạnh cho khối quần chúng bị áp bức, bị khuất phục tại khắp nơi trên trái đất.

Ngòai ra, cũng còn phải kể đến các Diễn Đàn Paulo Freire ( bi-annual PF Forums) được tổ chức mỗi năm 2 lần, nhằm mở rộng và nâng cao sự nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm của những thức giả vốn theo đuổi đường lối giáo dục tiến bộ do Paulo Freire đã dày công khai phá từ trên nửa thế kỷ nay.

D – Thay lời kết luận.

Có thể nói Paulo Freire là một con người tòan diện, vừa có trình độ suy tư lý luận rất thâm hậu, mà cũng vừa là con người dấn thân họat động suốt đời, không bao giờ mệt mỏi. Ông được quần chúng mến phục, không những do các tác phẩm sâu sắc về triết lý giáo dục, về phương pháp vận động khích lệ cho tầng lớp người bị áp bức bóc lột, mà còn vì cái nhân cách sáng ngời, cái tinh thần khiêm cung hòa ái, và nhất là vì tấm lòng tha thiết yêu mến tột cùng đối với nhân quần xã hội nữa.

Quả thật, Paulo Freire là một tiêu biểu rất xứng đáng, là niềm tự hào cho tầng lớp sĩ phu trí thức của xứ Brazil, cũng như của tòan thể châu Mỹ La tinh vậy./

California, Tiết Trung Thu Canh Dần 2010

Đoàn Thanh Liêm

Paulo Freire và chủ trương “Giáo Dục Giải phóng Con người”

Paulo Freire và chủ trương “Giáo Dục Giải phóng Con người”

( Paulo Freire : 1921 – 1997)

Paulo Freire sinh năm 1921 tại Brazil. Ông học Luật và Triết học, nhưng lại dấn thân vào công cuộc giáo dục đặc biệt cho giới tráng niên, nhằm gây ý thức cho đại chúng phải mạnh dạn tự giải thoát  mình ra khỏi tình trạng áp bức nặng nề, tàn bạo của xã hội đương thời. Vì có tư tưởng và hành động cấp tiến như vậy, nên ông bị giới quân nhân cầm quyền bắt buộc phải sống lưu vong ở nước ngoài, từ năm 1964, mãi cho đến năm 1980, ông mới có thể trở về quê hương mình được.

Tại nước Chi lê, ông đã làm việc cho tổ chức văn hóa Unesco của Liên Hiệp Quốc, và Viện Cải cách Ruộng đất của chánh phủ Chi lê. Ông còn được mời tới làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu về Phát triển và Biến đổi xã hôi thuộc đại học Harvard ở Mỹ (Center for Studies in Development and Social Change). Rồi sau này làm giám đốc chương trình giáo dục của Hội đồng Tôn giáo thế giới (World Council of Churches) tại Geneva, Thụy sĩ.

Năm 1970, ấn bản tiếng Anh “The Pedagogy of the Oppressed” (Giáo dục của Người bị Áp bức) của Paulo Freire đã gây một tiếng vang lớn trong giới giáo dục và hoạt động xã hôi khắp thế giới. Sau trên 40 năm, thì đã có hàng triệu cuốn được phổ biến rộng rãi qua nhiều lần tái bản, và hàng mấy chục bản dịch ra các thứ tiếng khác nữa. Ông là người đã cổ võ cho ý niệm “ Conscientizacao’ nguyên văn tiếng Bồ đào nha, mà bây giờ đã trở thành thông dụng khắp thế giới với tiếng Anh là “Conscientisation” (= Consciousness Raising, Critical Conciousness). Ta có thể diễn tả ý niệm này là :  Sự thức tỉnh Ý thức và Suy nghĩ có tính cách phê phán.

Quả thật, chủ trương giáo dục có tính chất cách mạng triệt để của ông đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các phong trào giáo dục và xã hội cùng khắp thế giới. Và tư tưởng triết học của ông cũng ảnh hưởng đến nhiều ngành học thuật như thần học, xã hội học, nhân chủng học, sư phạm, ngữ học thực hành và nghiên cứu văn hóa (applied linguistics & cultural studies).

Có thể nói : Paulo Freire là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất về bộ môn giáo dục vào cuối thế kỷ XX ( the most influential thinker about education).

Bài viết này nhằm giới thiệu tư tưởng độc đáo và dứt khoát của ông. Đồng thời cũng lược qua về ảnh hưởng của tư tưởng này trong thế giới hiện đại, đặc biệt là tại các quốc gia vốn xưa kia là thuộc địa của thực dân Tây phương ở Châu Mỹ La tinh, Châu Phi và Châu Á. Để bạn đọc có thể dễ dàng theo dõi quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Paulo Freire, là một nhân vật tiêu biểu của trào lưu thức tỉnh và vận động xã hội tại Châu Mỹ La tinh là quê hương của ông, người viết xin được dàn trải việc trình bày trong 2 bài như sau :

Bài 1 / – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh vào cuối thế kỷ XX.

Bài 2 / – Cốt lõi chủ trương “Giáo dục giải phóng” & Ảnh hưởng trong thế giới hiện đại.

I – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh.

Châu Mỹ La tinh (Latin America) là khu vực nằm ở phía nam của nước Mỹ, mà xưa kia hầu hết đều là các lãnh thổ nằm dưới sự cai trị của hai nước Tây ban nha và Bồ đào nha. Hiện nay khu vực này có chừng 30 nước với tổng số dân là trên 560 triệu. Chỉ có Brazil với dân số trên 190 triệu là nói tiếng Bồ đào nha. Còn lại, thì tất cả đều nói tiếng Tây ban nha. Trừ một số rất nhỏ xưa kia là thuộc địa của Pháp, Anh, Hòa lan, thì vẫn còn nói tiếng như tại “mẫu quốc” cũ của họ.

Có tới 70% dân chúng trong khu vực theo đạo Thiên chúa giáo La mã (Roman Catholic). Và chừng 15% theo đạo Tin lành.

A – Tình trạng bất ổn trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

Kể từ thập niên 1960 trở đi, khu vực này đã trải qua nhiều biến động về chính trị kinh tế, cũng như về mặt văn hóa xã hội thật sôi động, nhiều khi đưa đến những tranh chấp tàn bạo đẫm máu, do các chế độ độc tài thiên hữu, quân phiệt hay thiên tả gây ra. Nhiều cuộc đảo chính đã liên tục xảy ra, khiến cho xã hội luôn bất ổn định, và chế độ độc tài quân phiệt dễ có cơ hội được củng cố, và người dân bị dồn vào thế bị động, không thể hợp nhau góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển quốc gia được.

Lại nữa, vào giữa thời chiến tranh lạnh, nên phía Liên Xô đã tìm nhiều cách để gây ảnh hưởng của chủ thuyết cộng sản tại đây; điển hình là tại Cuba từ khi Fidel lên nắm chánh quyền năm 1959 và đã ngả hẳn về phía Liên Xô. Chúng ta hẳn đều còn nhớ việc Liên Xô cho đem thiết trí lọai hỏa tiễn tại Cuba nhằm hướng vào nước Mỹ, khiến xúyt gây nên cảnh chiến tranh giữa hai siêu cường Nga-Mỹ vào năm 1962, trước sự đối đầu nẩy lửa của hai lãnh tụ Kruschev và Kennedy.

Mà phía Mỹ, thì cũng tìm mọi cách can thiệp nhiều khi rất nặng tay tàn bạo, để bảo vệ toàn thể khu vực được gọi là“cái sân sau” (backyard) của riêng nước Mỹ; điển hình như có bàn tay của CIA trong việc lật đổ chế độ thiên tả của Tổng thống Salvador Allende tại Chi lê năm 1973. Rồi sau này vào thập niên 1980, thì phe Sandinista khuynh tả đã lên nắm được chánh quyền ở Nicaragua, với sự trợ giúp đắc lực của Cuba cộng sản cũng như của Liên Xô. Và chánh quyền Mỹ dười thời Tổng thống Reagan đã ra tay can thiệp mạnh bạo, để giúp phe đối lập Contras lập lại thế cờ tại đây. Đại khái đó là vài nét đại cương về ảnh hưởng của chiến tranh lạnh tại khu vực Châu Mỹ La tinh, từ hồi thập niên 1960 cho đến khi khối Liên Xô bị tan rã kể từ 1990.

B –  Sự nhập cuộc của Giáo hội công giáo La mã.

Về phía Thiên chúa giáo, thì do ảnh hưởng của tinh thần đổi mới của Công đồng Vatican 2, trong giới tu sĩ và giáo dân tại khu vực đã có sự chuyển biến rất mạnh mẽ trong sự nhận thức, cũng như trong hành động của Giáo hội công giáo. Điển hình như trường hợp của Tổng giám mục Helder Camara của Brazil; ông là người rát năng động trong việc phục vụ và tranh đấu cho khối đa số nghèo túng, đến nỗi bị chụp mủ là “vị giám mục đỏ” (the red bishop). Ông nói chua chát như sau : “Khi tôi cho người nghèo ăn, thì người ta gọi tôi là một ông thánh. Khi tôi hỏi tại sao người nghèo lại không có thực phẩm, thì người ta gọi tôi là một người cộng sản!” Giám mục Camara và cầu thủ Pele’ là hai người xứ Brazil mà được biết đến nhiều nhất trên thế giới.

Lại có trường hợp vị Giám mục cấp tiến Oscar Romero ở nước El Salvador, ông còn bị chánh quyền cho dùng tay chân ám sát, ngay giữa lúc ông  đang cử hành thánh lễ an táng cho bà mẹ của một người bạn vào năm 1980. Và đã có đến 250,000 người đến tham dự lễ an táng của vị mục tử kiên cường này, mà họ coi như là một vị thánh tử đạo (Martyr).

Cũng tại El Salvador, vào cuối năm 1980 đã xảy ra việc sát hại 4 nữ tu người Mỹ, do bàn tay của nhân viên công lực nhà nước. Sự kiện này đã gây sự phẫn nộ tột cùng của báo chí và công luận nước Mỹ, đến độ tạo thành áp lực buộc chánh phủ Mỹ phải có biện pháp răn đe mạnh mẽ đối với chánh quyền tàn bạo của El Salvador.

Cũng phải kể thêm về trường hợp của vị linh mục Camilo Torres ở nước Colombia, ông là một tu sĩ cấp tiến, được đào tạo tại đại học công giáo nổi tiếng Louvain bên nước Belgium ở Âu châu. Vì áp lực nặng nề từ phía chánh quyền Colombia, ông phải thóat ly theo hẳn phe du kích chống chánh phủ, và đã bị hạ sát vào năm 1966 trong một cuộc đụng độ với quân đội. Tên tuổi của Camilo Torres, cũng như của Che Guerava bị hạ sát năm 1967 tại Bolivia, thì đã trở thành một huyền thoại lôi cuốn giới trẻ trong toàn thể khu vực Châu Mỹ La tinh từ trên 40 năm nay.

Nhân tiện, cũng cần phải ghi lại cái thủ đọan cực kỳ độc ác là “làm mất tích” (disappearance), bằng cách thủ tiêu những người chống đối, mà cơ quan an ninh tại nhiều nước trong khu vực sử dụng, để đàn áp phong trào tranh đấu cho dân chủ tự do tại các nước này. Điển hình là tổ chức Các Bà Mẹ có con bị mất tích ở Argentina, đã liên tục trong nhiều năm tháng đến tụ hợp với nhau tại một quảng trường Plaza de Mayo trong thành phố thủ đô, để đòi hỏi chánh quyền phải cho công bố về các vụ mất tích này. Các tổ chức tranh đấu bảo vệ nhân quyền quốc tế như Hội Ân xá Quốc tế (Amnesty International) cũng đã thâu thập được khá nhiều chứng từ về các trường hợp “ người bị mất tích” (disappeared persons) tại nhiều quốc gia trong vùng, mà có nơi con số này lên tới nhiều ngàn người. Rõ ràng chế độ độc tài nào dù theo phe tả như cộng sản, hay theo phe hữu như chế độ quân phiệt, thì cũng đều tàn bạo độc ác như thế cả.

C – Nền Thần học Giải phóng.

Châu Mỹ La tinh này lại còn là nơi phát sinh một trào lưu tư tưởng đặc biệt sôi nổi sinh động, đó là nền “Thần học giải phóng”          ( Liberation Theology). Đó là cả một phong trào của các giáo sĩ và giáo dân phản ứng không khoan nhượng trước thực trạng xã hội đày rẫy bất công áp bức, bóc lột trong xã hội các quốc gia trong khu vực. Họ lục tìm trong Kinh thánh và trong Giáo huấn chân truyền của Giáo hội công giáo từ xưa nay, để xây dựng được một nhận thức đứng đắn, trung thực về vai trò dấn thân nhập cuộc của Giáo hội trong công trình giải thoát con người và xã hội khỏi các định chế chính trị xã hội hủ lậu, phản động và vô luân trong xã hội đương thời. Trừ một số nhỏ thiên về phía marxit cộng sản quá khích, còn đa số giáo sĩ và giáo dân đều giữ vững lập trường tranh đấu ôn hòa, bất bạo động của tôn giáo. Hệ thống tư tưởng tiến bộ này luôn được sự hưởng ứng của quần chúng giáo dân và giới chức sắc của giáo hội, mà tiêu biểu sáng ngời nhất là “Hội Đồng Giám mục Châu Mỹ La tinh (CELAM = the Latin American Episcopal Conference). Dưới sự thôi thúc của những vị lãnh đạo năng nổ, nhiệt tình như Helder Camara, Hội Đồng này đã biểu quyết thông qua chủ trương rất tiến bộ là : “ Giáo hội phải dứt khoát chọn lựa đứng về phía người nghèo” ( Church’s Option for the Poor).

D – Vai trò của giới trí thức và văn nghệ sĩ.

Trong khi đó, thì giới hàn lâm đại học (Academia), cũng như giới văn nghệ sĩ, đều sôi nổi góp phần vào công cuộc dấn thân phục vụ xã hội, mà điển hình là sự đóng góp thật là vĩ đại của Paulo Freire với chủ trương “Giáo dục Giải phóng Con người” như đã được trình bày rất khúc chiết trong cuốn “Pedagogy of the Oppressed”. Ta sẽ đề cập chi tiết vế tư tưởng này trong một bài sau.

Cũng cần phải ghi thêm về ảnh hưởng của phong trào trí thức tả phái phát xuất từ Âu châu, đặc biệt là từ thập niên 1950, đối với tư tưởng và hành động của học giới và văn nghệ sĩ tại Châu Mỹ La tinh. Khuynh hướng “Bài Mỹ” (Anti-Americanism) từ Âu châu đã làm tăng thêm sự hậm hực, ân óan vốn có sẵn từ lâu đời đối với sự thống trị và khuynh lóat của chánh sách bá quyền (hegemony) của nước Mỹ đối với tòan thể các quốc gia và lãnh thổ yếu thế, mà lại bị chia rẽ, phân tán ở phía Nam bán cầu (hemisphere). Lâu lâu, người ta vẫn nghe thấy dân chúng tại đây hô thật to cái khẩu hiệu “Yankees, Go Home” (Người Mỹ, Hãy Cút Đi!) mỗi khi có phái đòan cao cấp của Mỹ đi qua một số thành phố lớn. Điển hình là vụ phản đối rầm rộ, đến độ xô xát bạo hành đối với Phó Tổng thống Nixon của Mỹ trong chuyến viếng thăm Nam Mỹ vào năm 1958.

Lại nữa, chánh phủ Mỹ vì luôn bênh vực che chở cho giới tài phiệt Mỹ làm ăn buôn bán khai thác tại các nước trong khu vực, nên đã cho thiết lập và ủng hộ các chánh quyền cực hữu, độc tài mà được đặt tên một cách mỉa mai là “Banana Republics”, vì chuyên làm tay sai cho các đại gia chuyên môn khai thác trồng chuối để xuất cảng về Mỹ, hoặc khai thác các nguồn lợi thiên nhiên khác, để thu về được một số lợi nhuận khổng lồ cho các tập đòan kinh tế có độc quyền khai thác, mà điển hình là United Fruit.

Trước tình trạng bất ổn căng thẳng như thế, ta không lạ gì với sự chống đối quyết liệt như của những lãnh tụ mới đây như Tổng thống Hugo Chavez của Venezuela đối với nước Mỹ. Và qua đó, chúng ta có thể hiểu rõ thêm về phản ứng dứt khóat và triệt để của giới trí thức như Paulo Freire trong bối cảnh chung của khu vực Châu Mỹ La tinh vậy./

( Bài 2 :  Giáo dục Giải phóng : Nội dung và Ảnh hưởng)

THÁNG HOA ĐỨC MẸ

THÁNG HOA ĐC MẸ

Lm. Đoàn Quang, CMC

Là người Công giáo Việt Nam, nhất là những người đã lớn lên trong một xứ đạo miền Bắc, Trung hoặc Nam, có lẽ họ không lạ gì sinh hoạt tôn giáo trong tháng Năm, tháng Hoa Đức Mẹ.

Khi ngàn hoa xanh, đỏ, trắng, tím, vàng nở rộ trong cánh đồng, thì con cái Mẹ cũng chuẩn bị cho những đội dâng hoa, những cuộc rước kiệu, để tôn vinh Mẹ trên trời.  Những điệu ca quen thuộc trìu mến bỗng nổi dậy trong tâm hồn cách thân thương, nhất là bài “Đây Tháng Hoa” của nhạc sĩ Duy Tân với điệu 2/4 nhịp nhàng:

“Đây tháng hoa, chúng con trung thành thật thà.  Dâng tiến hoa lòng mến dâng lời cung chúc.  Hương sắc bay tỏa ngát nhan Mẹ diễm phúc.  Muôn tháng qua lòng mến yêu Mẹ không nhòa.

– Đây muôn hoa đẹp còn tươi thắm xinh vô ngần.  Đây muôn tâm hồn bay theo lời ca tiến dâng.  Ôi Maria, Mẹ tung xuống muôn hoa trời.  Để đời chúng con đẹp vui, nhớ quê xa vời.

– Muôn dân trên trần mừng vui đón tháng hoa về.  Vang ca tưng bừng ngợi khen tạ ơn khắp nơi.  Ánh hồng sắc hương càng tô thắm xinh nhan Mẹ.  Sóng nhạc reo vang tràn lan đến muôn muôn đời”.

Nếu có ai tự hỏi:  Tháng Hoa có từ đời nào?  Do ai khởi xướng?  Gốc tích như thế này:  Vào những thế kỉ đầu, hàng năm, khi tháng Năm về, người Rôma tôn kính sự thức giấc sau mùa đông dài của thiên nhiên bằng những cuộc tổ chức gọi là những ngày lễ tôn kính Hoa là Nữ thần mùa Xuân.  Các tín hữu Công giáo trong các xứ đạo đã thánh hóa tập tục trên.  Họ tổ chức những cuộc rước kiệu hoa và cầu nguyện cho mùa màng phong phú.

Có nơi người ta tổ chức các cuộc “Rước xanh.”  Người ta đi cắt các cành cây xanh tươi đang nở hoa, đưa về trang hoàng trong các nhà thờ và đặc biệt các bàn thờ dâng kính Đức Mẹ.  Các thi sĩ cũng như các thánh đua nhau sáng tác những bài hát, bài giảng ca tụng những ngày lễ đó cũng như ca tụng Đức Mẹ.

Đến thế kỷ 14, linh mục Henri Suzo dòng Đaminh, vào ngày đầu tháng 5, đã dâng lên Đức Mẹ những việc tôn kính đặc biệt và lấy hoa trang hoàng tượng Đức Mẹ.

Thánh Philipe đệ Nêri, cũng vào ngày 1 tháng 5, thích tập họp các trẻ em lại chung quanh bàn thờ Đức Mẹ, để cùng các bông hoa mùa xuân, Ngài dâng cho Đức Mẹ các nhân đức còn ẩn náu trong tâm hồn non trẻ của chúng.

Đầu thế kỷ 17, tại Napoli, nước Ý, trong thánh đường kính thánh Clara của các nữ tu Dòng Phanxicô, tháng Đức Mẹ được cử hành công cộng: Mỗi chiều đều có hát kính Đức Mẹ, ban phép lành Mình Thánh.  Từ ngày đó, tháng Đức Mẹ nhanh chóng lan rộng khắp các xứ đạo.

Năm 1654, cha Nadasi, dòng Tên, xuất bản tập sách nhỏ khuyên mời giáo hữu dành riêng mỗi năm một tháng để tôn kính Đức Mẹ Chúa Trời.

Đầu thế kỷ 19, hết mọi xứ trong Giáo hội đều long trọng kính tháng Đức Mẹ.  Các nhà thờ chính có linh mục giảng thuyết, và gần như lấy thời gian sau mùa chay là thời gian chính thức để tôn kính Đức Mẹ.  Trong việc này linh mục Chardon đã có nhiều công.  Không những ngài làm cho lòng sốt sắng trong tháng Đức Mẹ được phổ biến trong nước Pháp mà còn ở mọi nước Công giáo khác nữa.

– Đức Giáo hoàng Piô 12, trong Thông điệp “Đấng Trung gian Thiên Chúa”, cho “việc tôn kính Đức Mẹ trong tháng Năm là việc đạo đức được thêm vào nghi thức Phụng vụ, được Giáo hội công nhận và cổ võ”.

– Đức giáo hoàng Phaolô 6, trong Thông điệp Tháng Năm, số 1 viết:“Tháng Năm là Tháng mà lòng đạo đức của giáo dân đã kính dâng cách riêng cho Đức Mẹ.  Đó là dịp để “bày tỏ niềm tin và lòng kính mến mà người Công giáo khắp nơi trên thế giới có đối với Đức Mẹ Nữ Vương Thiên đàng.

Trong tháng này, các Kitô hữu, cả ở trong thánh đường cũng như nơi tư gia, dâng lên Mẹ từ các tấm lòng của họ những lời cầu nguyện và tôn kính sốt sắng và mến yêu cách đặc biệt.  Trong tháng này, những ơn phúc của Thiên Chúa nhân từ cũng đổ tràn trên chúng ta từ ngai tòa rất dồi dào của Đức Mẹ” (Dictionary of Mary, Catholic book Pub. 1985, p. 236).

Một câu truyện cũ đáng ta suy nghĩ:

Ở thành Nancêniô trong nước Pháp, có một gia đình trung lưu.  Vợ đạo đức, chồng hiền lành nhưng khô khan.  Vợ luôn cầu xin Chúa mở lòng cho chồng sửa mình , nhưng chồng cứng lòng mãi.  Năm ấy đầu tháng Hoa Đức Mẹ, bà sửa sang bàn thờ để mẹ con làm việc tháng Đức Mẹ.  Chồng bà bận việc làm ăn, ít khi ở nhà, và dù ông ở nhà cũng không bao giờ cầu nguyện chung với mẹ con.  Ngày lễ nghỉ không bận việc làm thì cũng đi chơi cả ngày, nhưng ông có điều tốt là khi về nhà, bao giờ cũng kiếm mấy bông hoa dâng Đức Mẹ.

Ngày 15 tháng Sáu năm ấy, ông chết bất thình lình, không kịp gặp linh mục.  Bà vợ thấy chồng chết không kịp lãnh các phép đạo, bà buồn lắm, nên sinh bệnh nặng, phải đi điều trị ở nơi xa.  Khi qua làng Ars, bà vào nhà xứ trình bày tâm sự cùng cha xứ là cha Gioan Vianey.

Cha Vianey là người đạo đức nổi tiếng, được mọi người tặng là vị thánh sống.  Bà vừa tới nơi chưa kịp nói điều gì, cha Gioan liền bảo:

– Đừng lo cho linh hồn chồng bà.  Chắc bà còn nhớ những bông hoa ông vẫn đem về cho mẹ con bà dâng cho Đức Mẹ trong tháng Hoa vừa rồi chứ?

Nghe cha nói, bà hết sức kinh ngạc, vì bà chưa hề nói với ai về những bông hoa ấy, nếu Chúa không soi cho cha, lẽ nào người biết được?

– Cha sở nói thêm: Nhờ lời bà cầu nguyện và những việc lành ông ấy đã làm để tôn kính Đức Mẹ, Chúa đã thương cho ông ấy được ăn năn tội cách trọn trong giờ chết.  Ông ấy đã thoát khỏi hỏa ngục, nhưng còn bị giam trong luyện ngục, xin bà dâng lễ, cầu nguyện, làm việc lành thêm cầu cho ông chóng ra khỏi nơi đền tội nóng nảy mà lên Thiên đàng.

Nghe xong lời cha Gioan, bà hết sức vui mừng tạ ơn Đức Mẹ. (Sách Tháng Đức Bà, Hiện Tại xuất bản, 1969, trang 10).

Nếu chỉ vì mấy bông hoa mọn dâng kính Đức Mẹ cũng được Đức Mẹ ban ơn cứu rỗi lớn lao như vậy, thử hỏi, những ai trong tháng Năm này tham dự dâng Hoa, rước kiệu, đọc kinh Mân côi, hơn nữa, họ dâng lên Mẹ những hoa tin, cậy, mến, hi sinh, đau khổ, bệnh nạn… chắc sẽ còn được Đức Mẹ ban muôn ơn trọng hơn nữa?  Vì Mẹ thích những bông hoa Xanh của lòng Cậy, hoa Đỏ của Lòng mến, hoa Trắng của lòng trong sạch, hoa Tím của hãm mình, hoa vàng của niềm tin, hoa Hồng của kinh Kính mừng lắm lắm.

Thánh Anphongsô Ligori quả quyết rằng: “Nếu tôi thật lòng yêu mến Mẹ, thì tôi chắc chắn được lên thiên đàng”.

Thánh Bênado diễn tả văn vẻ hơn: “Được Mẹ dẫn dắt, bạn sẽ không ngã.  Được Mẹ che chở, bạn sẽ không sợ.  Được Mẹ hướng dẫn, bạn sẽ an lòng.  Được Mẹ ban ơn, bạn sẽ đạt đích mong chờ”.

Lm. Đoàn Quang, CMC
NS.TTDM tháng 5-08 trg 4

ĐTC: Xin phép, cám ơn và xin lỗi là ba từ giúp chúng ta duy trì cuộc sống hạnh phúc gia đình

ĐTC: Xin phép, cám ơn và xin lỗi là ba từ giúp chúng ta duy trì cuộc sống hạnh phúc gia đình

Linh Tiến Khải

Xin phép, cám ơn và xin lỗi là ba từ giúp chúng ta bước vào trong tình yêu của gia đình, duy trì cuộc sống hạnh phúc và bình an trong gia đình và trong xã hội, vì chúng giúp tránh các rạn nứt có thể trở thành các hố sâu ngăn cách. Vì thế đừng bao giờ kết thúc ngày sống trong gia đình mà không làm hòa với nhau.

ĐTC Phanxicô đã nói như trên với hơn 50.000 tín hữu và du khách hành hương trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư hàng tuần hôm 13-5-2015.

Trong bài huấn dụ ĐTC đã khai triển đề tài Gia đình và ba lời nói viết trên cửa: Xin phép, cám ơn và xin lỗi. ĐTC nói:

Bài giáo lý hôm nay giống như cửa vào của một loạt các suy tư về cuộc sống gia đình, cuộc sống thực tế của nó với các thời điểm và các biến cố. Trên cánh cửa này có viết ba từ: “Có đuợc phép không?”, “cám ơn”, “xin lỗi”. Thật thế các từ này mở ra con đường giúp sống hạnh phúc trong gia đình. …

Chúng là các từ đơn sơ, nhưng thực thi chúng thì lại không đơn sơ như thế! Chúng gói ghém một sức mạnh lớn: sức mạnh gìn giữ gia đình cả qua hàng ngàn khó khăn và thử thách; trái lại việc thiếu chúng, từ từ mở ra các nứt rạn có thể làm cho nó sụp đổ.

Chúng ta thưòng coi các từ đó như các từ của “nền giáo dục tốt”. Đúng nền giáo dục tốt quan trọng. Một Giám Mục lớn là thánh Phanxicô de Sales, thường nói: “nền giáo dục tốt là một nửa sự thánh thiện”. Tuy nhiên hãy chú ý trong lịch sử chúng ta cũng nhận ra một khuynh hướng hình thức của các cung cách hành xử có thể trở thành mặt nạ che dấu sự khô cằn của tâm hồn và sự thờ ơ đối với tha nhân. Người ta thường nói: ”Đàng sau các cung cách tốt ẩn dấu các thói quen xấu”. Cả tôn giáo cũng không thoát khỏi nguy cơ này, khiến cho việc tuân giữ hình thức rơi vào tinh thần thế tục. Ma qủy cám dỗ Chúa Giêsu đưa ra các cung cách tốt và trích dẫn cả Thánh Kinh nữa. Xem ra nó là một thần học gia. Kiểu của nó bề ngoài đúng đắn, nhưng ý hưóng của nó là nhằm làm sai lệch sự thật của tình yêu Thiên Chúa. Chúng ta trái lại hiểu nền giáo dục tốt trong các phạm trù đích thực, nơi kiểu của các tương quan tốt đâm rễ sâu trong tình yêu sự thiện và trong sự tôn trọng tha nhân. Gia đình sống nhờ sự tinh tế ấy của tình yêu thương nhau.

Tiếp tục bài huấn dụ ĐTC khai triển từng từ một. Trước hết là “xin phép” hay hỏi “Có được phép không?” Khi chúng ta lo lắng xin một cách lễ phép, cả khi chúng ta nghĩ rẳng có thể yêu sách, là chúng ta đặt một sự bảo vệ đích thật cho tinh thần sống chung trong hôn nhân và gia đình. Bước vào trong cuộc sống của người khác, cả khi nó là một phần cuộc sống của chúng ta, đòi hỏi sự tế nhị của một thái độ không xâm lăng, canh tân lòng tin tưởng và sự kính trọng. Chuyện riêng không cho phép coi mọi sự là tự nhiên. Và tình yêu càng thân tình và sâu xa bao nhiêu lại càng đòi hỏi việc tôn trọng sự tự do và khả năng chờ đợi người khác mở cửa tâm lòng họ bấy nhiêu. Liên quan tới điểm này chúng ta hãy nhớ lời Chúa Giêsu nói trong sách Khải Huyền: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3, 20). Cả Chúa cũng xin phép để vào! Chúng ta đừng quên điều đó.

Từ thứ hai là “cám ơn”. Vài lần người ta nghĩ rằng chúng ta đang trở thành một nền văn minh của các cung cách hành xử xấu và các lời nói xấu, làm như thể chúng là dấu chỉ của sự thoát ly. Nhiều lần chúng ta cũng nghe nói công khai như thế. Sự tử tế và khả năng cám ơn được xem như một dấu chỉ của sự yếu đuối, có khi lại dấy lên ngờ vực. Phải chống lại khuynh hướng này ngay rong gia đình. Chúng ta phải đòi hỏi đối với việc giáo dục sống biết ơn, nhớ ơn: phẩm giá con người và công bằng xã hội đều đi qua đó. Nếu cuộc sống gia đình lơ là lối sống này, cả cuộc sống xã hội cũng sẽ mất nó. Thế rồi, đối với một tín hữu lòng biết ơn là trung tâm của đức tin: một kitô hữu không biết cám ơn là một người đã quên đi tiếng nói của Thiên Chúa. Chúng ta hãy nhớ câu Chúa Giêsu hỏi khi chữa mười người phong cùi và thấy chỉ có một người trong bọn họ trở lại cám ơn (x. Lc 17,18).

Lời thứ ba là « xin lỗi ». Đây là lời khó nói, chắn chắn rồi nhưng cần thiết. Khi thiếu nó, các nứt rạn nhỏ trở thành lớn hơn – cả khi không muốn – cho tới khi trở thành các hố sâu. Không phải vô tình trong lời kinh Lậy Cha Chúa Giêsu dậy chúng ta tìm thấy kiểu nói này: « Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con » (Mt 6,12). Thừa nhận dã thiếu sót và ước ao trả lại những gì đã bị lấy mất – tôn trọng, chân thành, yêu thương – khiến đáng được tha thứ. Và như thế là chúng ta ngăn chặn nhiễm trùng. …

Nếu chúng ta không có khả năng xin lỗi, thì có nghĩa là chúng ta cũng không có khả năng tha thứ. Trong gia đình nơi người ta không xin lỗi thì bắt đầu thiếu dưỡng khí, nước tù đọng. Biết bao nhiêu vết thương đối với lòng yêu mến, biết bao nhiêu xâu xé trong các gia đình bắt đầu với sự mất đi lời nói qúy báu này « Xin lỗi ». Trong cuộc sống hôn nhân người ta cãi nhau biết bao nhiêu lần… có khi điã chén bay nữa, nhưng tôi xin cho anh chị em một lời khuyên: đừng bao giờ kết thúc ngày sống mà không làm hòa với nhau. Và để làm điều đó thì chỉ cần một cử chỉ bé nhỏ, một cái vuốt ve…

Ba lời chìa khóa này của gia đình là những lời đơn sơ và có lẽ ban đầu chúng khiên cho chúng ta cười. Nhưng khi chúng ta quên chúng, thì không có gì để mà cười, có đúng thế không ? Có lẽ nên giáo dục của chúng ta bỏ bê chúng quá. Xin Chúa giúp chúng ta đặt để chúng trở lại vào đúng chỗ, trong con tim chúng ta, trong nhà chúng ta và trong cả cuộc sống chung xã hội nữa.

ĐTC dã chào các đoàn hành hương đến từ các nưóc Bắc Mỹ và Âu châu, cũng như các đoàn hành hương đến từ Đài Loan, Camerun, Mêhicô, Honduras, Argentina, Brasil. Ngài đặc biệt chào các thành viên Hội Tương trợ truyền giáo quốc tế Pháp hoạt động trong lãnh vực y tế và cổ võ truyên giáo trong các giáo phận và dòng tu.

Chào các đoàn hành hượng nói tiếng Bồ Đào Nha ĐTC nói 13 tháng 5 là lễ Đức Mẹ Fatima. Ngài xin tín hữu gia tăng các cử chỉ hằng ngày tôn sùng Mẹ và noi gương Mẹ và hãy tín thác cho Mẹ mọi sự để trở thành dụng cụ lòng thương xót và hiền dịu của Thiên Chúa đối với các thành phần khác trong gia đình cũng như bạn bè thân hữu. ĐTC mời đức ông người Bồ Đào Nha đọc một kinh Kính Mừng bằng tiếng Bồ kính Đức Mẹ.

Ngài cũng chào các trẻ em Ba Lan mới rước lễ lần đầu và chúc các em càng ngày càng yêu Chúa Giêsu hơn, tín thác nơi Chúa và sống thân tình với Chúa.

Trong các nhóm tiếng Ý ĐTC đặc biệt chào các linh mục sinh viên trường Thánh Phaolô của Bộ Truyền giáo đã xong chương trình học và chuẩn bị về nước làm việc. Ngài khích lệ các vị đừng bao giờ đánh mất đi lòng hăng say truyền giáo.

Chào giới trẻ người đau yếu và các đôi tân hôn ĐTC khuyên mọi người vun trồng lòng tôn sùng Mẹ Maria, siêng năng lần hạt mỗi ngày và cảm thấy Mẹ luôn gần gũi đặc biệt trong những lúc khó khăn.

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lậy Cha và phép lành tòa thánh ĐTC ban cho mọi nguời.

HƯỚNG LÒNG VỀ TRỜI CAO

HƯỚNG LÒNG VỀ TRỜI CAO

Tác giả: Huệ Minh

Lễ Thăng Thiên Năm B

Cv 1, 1-11; Ep 1, 17-23; Mc 16, 15-20

Mở lại những trang thơ của nhà thơ Hàn Mạc Tử, ta bắt gặp bài thơ : “Những giọt lệ”:

Trời hỡi, bao giờ tôi chết đi!

Bao giờ tôi hết được yêu vì

Bao giờ mặt nhật tan thành máu

Và khối lòng tôi cứng tợ si??

Họ đã xa rồi không níu lại

Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa….

Người đi một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?

Sao bông phượng nở trong màu huyết

Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?

Tâm tình sao mà da diết quá !

Người đi một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.

Người đi thì mặc kệ người đi chứ có mắc mớ gì đến ta, dính dáng gì đến ta mà hồn ta bỗng dại khờ ?

Nói như thế, ắt hẳn không thỏa đáng bởi lẽ là con người, bên cạnh lý trí, con người còn có những cảm xúc, tình cảm hết sức đặc biệt. Nhất là với những người thân quen, những ai đã hơn một lần gặp gỡ, hơn một lần sống chung, làm việc chung. Đặc biệt với người mà mình thương mến, khi xa cách sẽ có một cảm xúc khó tả và thật khôn lường.

Với những lẽ như vậy, ta hiểu được phần nào tâm trạng của các môn đệ khi xa cách Thầy mình. Khi chứng kiến cảnh Thầy lên trời, lòng cứ lâng lâng, cứ bâng khuâng nhìn mãi. Đang lâng lâng, đang bâng khuâng đó thì bỗng có hai người mặc áo trắng đứng gần các ông và nói rằng: “Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời? Ðức Giêsu, Ðấng vừa lìa các ông mà lên trời, sẽ đến cùng một thể thức như các ông đã thấy Người lên trời”.

Tiếc thương cũng rồi ! Đành thôi đã lên trời ! Còn đâu, ước mơ gì cũng thế !

Nếu ta là các môn đệ, ta cũng tiếc nuối, cũng nhớ nhung, cũng bâng khuâng nuối tiếc vì sự ra đi của Thầy Chí Thánh.

Nhìn vào cuộc đời các môn đệ, ta bắt gặp được những tình cảm hết sức tự nhiên, rất thật của con người. Các môn đệ tiếc nuối đó, đau đớn đó nhưng rồi nhờ ơn Chúa Thánh Thần, nhờ Đấng Bảo Trợ mà Chúa Giêsu hứa sẽ gửi đến đã đồng hành, đã cùng hoạt động nơi các ông. Các môn đệ tưởng chừng như mất phương hướng, tưởng chừng như buông xuôi đó nhưng lại mãnh mẽ lên đường để loan tin mừng Phục Sinh cũng như loan tin rằng Chúa đã lên trời để gọi là dọn chỗ cho những ai muốn đi theo Ngài.

Biến cố lên trời thật sự là một biến cố mất mát dưới cái nhìn của trần gian, dưới cái nhìn của tình cảm con người nhưng việc Chúa Giêsu lên Trời “có lợi hơn cho anh em” như Chúa Giêsu đã từng nói với các môn đệ. Hẳn nhiên không ở lại mãi ở dưới đất với các môn đệ được. Và nếu cứ ở mãi dưới cái cõi nhân gian này thì cũng chẳng có gì để bàn, để nói cả.

Đọc và suy mầu nhiệm thứ hai trong mầu nhiệm Mân Côi mùa Mừng như thế này : Thứ hai thì gẫm Đức Chúa Giêsu lên Trời, ta hãy xin ái mộ những sự trên Trời ! Lời gẫm, lời xin ấy xem ra đơn giản nhưng thật sự là khó bởi lẽ ái mộ thì ai cũng có thể ái mộ bằng lời nói, bằng cái miệng của mình nhưng để sống mầu nhiệm Nước Trời không phải là chuyện giản đơn.

Thật khó khi ta sống trong cái thân phận làm người mà Chúa lại mời gọi ta hướng lòng về Trời cao mà Trời cao đó chưa ai thấy, chưa ai nếm, chưa ai biết cả. Có chăng chỉ biết qua lời mà Thiên Chúa nói nơi Đức Giêsu là sứ giả của Thiên Chúa, là Con Một của Thiên Chúa mà thôi.

Lời của Chúa Giêsu, sứ mạng của Chúa Giêsu khép lại ở trần gian nhưng đã mở ra một cửa ngõ khác là cửa ngõ về trời. Như Chúa Giêsu đã hứa là Chúa đi và dọn chỗ cho chúng ta. Chính vì vậy, ta lại hoàn toàn tin tưởng và lại ngong ngóng hướng về Trời cao, nơi Chúa đã dọn sẵn cho mỗi người chúng ta.

Quả thật là khó khi ta sống trong cái thân xác này mà lại đòi hỏi lòng hướng về Trời. Quá khó để sống tâm tình đó vì lẽ trong ta mãi mãi có sự giằng co của sự thiện và sự ác, giằng co của cái bám víu vào thực tại trần gian và cái làm cho ta bay bổng lên cùng Thiên Chúa.

Ta thấy, như cánh diều biếc, càng nhẹ nhõm thì càng dễ vút lên trời. Ngược lại, con diều nặng nề sẽ không dễ dàng hay dù có lên trời đi chăng nữa cũng sẽ chòng chành và sẽ dễ rớt.

Nghĩ về con diều, nhớ về con diều để ta nhìn đến phận người của chúng ta. Cuộc đời của chúng ta cũng như những cánh diều biếc như vậy. Càng nhẹ nhõm, càng thanh thoát thì ta càng dễ đến gần Chúa và ở bên Chúa hơn.

Nhìn vào cuộc sống, đôi khi ta mãi mê thế sự trần gian nhưng ta quên điều chắc chắn của đời người đó chính là ai ai trong chúng ta không thể nào thoát ra khỏi cái chết. Chính cái chết đã bắt buộc ta phải bỏ lại những cái gì mà ta từng trân quý, ta từng ấp ủ trong đời, ngay cả người mà ta gọi là cha, là mẹ, là vợ, là chồng, là con cái … những người thân thương. Yêu lắm, thương lắm, nhớ lắm nhưng buộc lòng ta phải để lại chứ không ai có thể mang theo được. Và, dù người còn lại có yêu ta cỡ nào đi chăng nữa cũng không thể nào đi theo ta hay níu kéo ta được.

Thực tế là ta phải khép cuộc đời ta ở trần gian này tùy theo thánh ý Chúa cho ta sống bao nhiêu năm trên trần gian. Khi ta khép cuộc đời ở trần gian này ta bước qua ngưỡng cửa khác, ngưỡng cửa mới đó chính là ngưỡng cửa Nước Trời.

Nước Trời thật ra cũng dễ vào nhưng cũng rất ư là khó vào bởi lẽ Chúa Giêsu đã hơn một lần nói cho ta biết là phải vào cửa hẹp mới vào được Nước Trời, phải bỏ của cải thế gian, phải làm tôi Thiên Chúa, phải đáp ứng được những đòi hỏi của Nước Trời.

Ngày hôm nay, mừng kỷ niệm biến cố Chúa Giêsu lên Trời, ta không được dừng lại ở cái nhìn của trần gian, của con người xác thịt nhưng ta xin Chúa cho lòng ta hướng lên Trời thật sự. Lòng hướng lên Trời thật sự khi và chỉ khi ta bỏ bớt những đam mê của trần gian, những quyến rũ của trần gian.

Vẫn là con người mong manh mỏng dòn và yếu đuối, chính vì thế ta lại càng cần xin ơn Chúa hơn nữa để ta bỏ đi những gì là dính bén vào đời ta làm cho ta nặng nề và khó siêu thoát. Xin Chúa thêm ơn cho ta để dù sống trong cuộc đời này nhưng lòng ta luôn hướng về Quê Trời nơi quê hương đích thực của mỗi người chúng ta.

Huệ Minh

Quan chức Mỹ kêu gọi VN thả tù nhân chính trị

Quan chức Mỹ kêu gọi VN thả tù nhân chính trị

Ông Tom Malinowski nói nhân quyền tác động đến tiến trình đàm phán TPP

Một quan chức Hoa Kỳ thúc giục Việt Nam có những hành động thiết thực nhằm cải thiện hồ sơ nhân quyền trong những tuần tới, bao gồm việc trả tự do cho các tù nhân chính trị.

“Rõ ràng đây là một thời điểm quan trọng trong quan hệ giữa hai nước và nhân quyền là một trong những mục tiêu mà chúng tôi đang nỗ lực đạt được,” Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, ông Tom Malinowski, được hãng thông tấn AFP dẫn lời nói hôm thứ Sáu.

Ông Malinowski vừa hoàn tất chuyến thăm Việt Nam kéo dài một tuần, nơi ông đã có cuộc gặp với các lãnh đạo cao cấp của Việt Nam cũng như các nhóm xã hội dân sự, trong đó có các lãnh đạo tôn giáo.

Việt Nam đã có “một số tiến bộ mong manh” về vấn đề nhân quyền, nhưng “chúng tôi hoàn toàn không ảo tưởng” trước thách thức hiện nay, ông nhấn mạnh.

“Việt Nam vẫn là quốc gia độc đảng và tội phạm hóa mọi hình thức bất đồng chính kiến,” ông nói với báo giới.

Tuy nhiên ông cho rằng hiệp định thương mại bao gồm 40% nền kinh tế toàn cầu là “đòn bẩy quan trọng mà chúng tôi có thể sử dụng để khuyến khích Việt Nam đi theo hướng cởi mở hơn’.

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), với sự tham gia của 12 quốc gia, vẫn đang trong quá trình đàm phán.

‘Không được bước lùi’

Tôi đã để lại cho chính phủ Việt Nam một thông điệp rõ ràng, rằng cách họ giải quyết những vấn đề này, đặc biệt là trong những tuần tới, sẽ có tác động rất lớn đối với tiến trình đàm phán TPPTrợ lý Ngoại trưởng Mỹ về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, ông Tom Malinowski “Rõ ràng là đang có một cuộc tranh luận sâu rộng bên trong xã hội Việt Nam cũng như chính phủ Việt Nam về lộ trình của đất nước”.

“Đó là cuộc tranh luận về việc có nên và làm sao để xây dựng một hệ thống chính trị cởi mở và ít cứng nhắc hơn,” ông nói.

“Tôi đã để lại cho chính phủ Việt Nam một thông điệp rõ ràng, rằng cách họ giải quyết những vấn đề này, đặc biệt là trong những tuần tới, sẽ có tác động rất lớn đối với tiến trình đàm phán TPP”.

Việc tham gia đàm phán TPP đã khiến chính quyền Việt Nam phải “hạn chế” bắt giữ và buộc tội các nhà bất đồng, ông Malinowski nói.

Hiện vẫn chưa có nhà bất đồng chính kiến nào bị buộc tội trong năm nay, so với 61 trường hợp trong năm 2013 và 29 trường hợp hồi năm ngoái.

Washington cũng đang thúc giục Hà Nội trả tự do cho 100 tù nhân chính trị còn lại.

Tuy nhiên ông Malinowski nói vẫn còn nhiều trường hợp các nhà bất đồng chính kiến bị đe dọa, bắt giữ hoặc đánh đập.

Ông cho biết đã trình bày với giới chức Việt Nam lập trường của Washington rằng “không được bước lùi về phía sau”.

Việc gia nhập TPP cũng sẽ yêu cầu Việt Nam cho phép thành lập công đoàn độc lập, điều mà nước này đang cấm đoán.

Hôm thứ Năm, Thượng viện Hoa Kỳ đã thông qua dự luật đàm phán nhanh, cho phép Tổng thống Barack Obama xúc tiến đàm phán TPP.

Tuy nhiên, dự luật này vẫn phải được thông qua tại Hạ viện.