Sợ

Sợ

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Con người ta suốt đời quanh quẩn trong một chữ “sợ.” Câu nói này không có gì là quá đáng, nếu bạn để ý quan sát trong nhóm người trung lưu, là thị dân ở chung quanh đây thôi.

Người phụ nữ sợ già, sợ xấu nên phải lui tới thẩm mỹ viện căng da, hút mỡ bụng, nâng ngực, sửa mũi, hay trang điểm, phấn son nhuộm tóc, mang lông mi giả, phun xăm lông mày, môi; sợ chồng chê nên phải “làm đẹp vùng kín…” Cũng có những người sống bằng những nỗi sợ của người khác là ông bác sĩ thẩm mỹ, những nhà trang điểm hay cả người thợ nhuộm tóc.

Sinh ra làm người, ai cũng sợ đói khát, sợ nghèo nàn, sợ chiến tranh, sợ chết chóc, sợ chia lìa. Có ai cho mình là người hoàn toàn không biết sợ. Với cảm giác thì sợ lạnh, sợ nóng, sợ đắng, sợ chua. Với vật thể thì có người sợ rắn, sợ gián, sợ giun, sợ…vợ, với tình cảm thì sợ buồn, sợ khổ. Người ngay thẳng thì sợ lưu manh, lường gạt, kẻ gian tà thường sợ cảnh sát, quan tòa và nhà tù. Trong xã hội bất an thì sợ tù đày, giam cầm, bắt bớ. Lo cho tấm thân thì phải biết sợ để kiêng cữ ăn uống, luyện tập cơ thể; sợ miệng tiếng mang họa thì giữ ý, nhịn lời; sợ người ta chà đạp đến danh dự của mình và cả của gia tộc thì phải biết giữ gìn nhân cách.

Sự sợ hãi lớn lao nhất là sự sợ hãi trước quyền lực. Bạo quyền thường tạo sự sợ hãi để khuất phục quần chúng, đã dùng roi điện, dùi cui, cùm kẹp, lưỡi lê, súng ống, nhà tù và cả xe thiết giáp như chiến xa Liên Xô vào Budapest năm 1956 hay của Trung Quốc dàn trận tại Thiên An Môn năm 1989.

Trong một xã hội độc tài sắt máu, chỉ những người không biết sợ mới trở nên anh hùng. Họ đối diện với sự đàn áp, trả thù, đánh đập và tù đày. Họ là những người như Đỗ Thị Minh Hạnh, Trần Khải Thanh Thủy, Tạ Phong Tần, Huỳnh Thục Vi, Điếu Cày, Phạm Thanh Nghiên, Việt Khang… sống dưới chế độ Cộng Sản mà dám thách thức đấu tranh trực diện với chính quyền có đủ quyền lực trong tay.

Trong khi chúng ta, những người đang sống trên mảnh đất tự do, được pháp luật bảo vệ, không ai dò xét, đàn áp mà lại sợ hãi, ngay cả những người vỗ ngực mang tiếng đấu tranh cho những người trong nước, đấu tranh cho dân chủ, tự do, nhân quyền.

Những buổi giới thiệu tác phẩm của một tác giả bình thường của hải ngoại, một tác giả chống Cộng, lại thường được chặn đường bằng những người mang danh chống Cộng. Tác giả vinh danh lá cờ vàng của tổ quốc ở trong hội trường, có đông đủ cử tọa, những người đã đóng góp công sức, xương máu và những năm tháng tù đày cho tổ quốc, thì bên ngoài cũng có những người mang lá cờ cùng màu sắc với bên trong, đang la ó, kêu gào chửi rủa, chỉ với một lý do: Họ đả đảo cái địa điểm tổ chức.

Họ dùng lá cờ và những lời mạ lỵ để hăm dọa, cản bước những người muốn đến tham dự một sinh hoạt văn học của một người quốc gia chân chính. Và chính vì lý do này, nhiều người đã …sợ.

Một ban nhạc có tiếng đấu tranh cho dân chủ, tự do và nhân quyền từ nhiều năm qua, kể cả những người trong cuộc đã từng là nạn nhân của chế độ trả thù của Cộng Sản trong nước, đã chùn chân vì một lời nhắn qua của một người vô danh, đứng trong bóng tối, không biết tên, biết họ, ném đá giấu tay. Chúng hăm dọa nếu ban nhạc này đến đây, sẽ có biểu tình lớn.

Cuối cùng là… buổi sinh hoạt có tính cách văn học, nói lên tội ác Việt Cộng này không có cái ban nhạc như đã ghi trong chương trình và trong thư mời độc giả, vì người chủ trì ban nhạc …sợ! Và chỉ vì sợ một lần, chúng ta sẽ phải sợ mãi mãi, và những người hăm dọa trở thành những người đắc thắng như thực sự họ có quyền lực vậy.

Buổi sinh hoạt giới thiệu tác phẩm mới này, cuối cùng cũng quy tụ được những người, có lẽ là những người… không biết sợ. Cuộc biểu tình theo lời hăm dọa không lớn lắm, nếu thời còn bé chúng ta bắt đầu dùng 10 ngón tay của mình để tập đếm trong giờ toán học đầu tiên của mình.

Cũng có nhiều người là cấp chỉ huy một thời oanh liệt, đụng trận đối đầu với cả một trung đoàn Cộng Sản xâm lược, đã nhiều lần mang thương tích ngoài mặt trận, không hề sợ Việt Cộng vì chuyên săn lùng và giết Việt Cộng, đã chùn bước vì sợ một lời kêu… “đả đảo” vô nghĩa của một người vô danh. Những người này đã nhân danh lá cờ chính nghĩa của chúng ta để áp lực, hăm dọa những người không làm theo và dám trái ý họ.

Nhiều người cho rằng “tránh voi không xấu mặt,” nhưng càng tránh, người ta càng lấn tới, càng tránh người ta tưởng rằng họ có chính nghĩa, chính nghĩa đó có nghĩa là bắt người khác phải theo mình, ai không giống tôi, họ là kẻ thù của tôi!

Chúng ta thông cảm và hiểu nỗi áp bức của những người trong nước, đang sống dưới chế độ công an trị, phải “giả dại qua ải,” chính Nguyễn Tuân xác nhận, ông gìn giữ được suốt đời là “nhờ biết … sợ,” vậy mà cũng phải ở tù 10 năm. Nhưng chúng ta đang sống trên đất tự do, không ai có quyền dọa nạt, uy hiếp, khủng bố bằng cách gọi điện thoại, hăm he hay tập họp để la lối, xỉa xói vào mặt người khác vì những lý do rất buồn cười, khó chấp nhận. Và, vì có người sợ, nên họ tiếp tục ngang nhiên sách nhiễu người khác.

Nếu ở đây, trong cái “ghetto” với những thế lực vô minh, chỉ dùng những lời hù dọa đã làm cho chúng ta lo sợ, như sợ những bóng ma mà chịu cúi mình, thì ở trong nước ai vào tù, ra khám, tranh đấu cho điều mà chúng ta thường gọi là tự do, dân chủ và nhân quyền?

Như vậy chúng ta còn dám tranh đấu cho ai hay nhân danh ai mà tranh đấu?

Bàn Tay Nào Sắp Xếp Cho Thiện Thắng ÁC?

Bàn Tay Nào Sp Xếp Cho Thin Thng ÁC?

Le Nguyen

Liên minh thế giới tự do dân chủ gồm các nước tư bản giẫy hòai không chết do Hoa Kỳ lãnh đạo đã kết thúc hệ thống nhà nước xã hội chủ nghĩa bằng con đường hòa bình, không kinh qua giải pháp đối đầu quân sự, một mất một còn thật ngoạn mục – như loài người đã thấy cái cách cộng sản chủ nghĩa sụp đổ. Do đó, việc kết thúc các chế độ cộng sản, dọn dẹp vài ba xác chết cộng sản còn sót lại không nhanh gọn như mong muốn nhưng nó cũng sẽ diễn ra…chắc chắn sẽ diễn ra cùng kịch bản, cùng với cung cách kết thúc nhẹ nhàng, êm đẹp như nó từng diễn ra ở thế kỷ trước. Thời đó lúc đế chế cộng sản hùng mạnh, mọi người bình thường ai cũng đều có suy nghĩ đánh sập hệ thống phi nhân, phá vỡ thành trì nhà nước xã hội chủ nghĩa là không thể, là nhiệm vụ bất khả thi nhưng nó đã diễn ra như phép lạ, đúng với nguyên tắc, quy luật tự nhiên của thiện thắng ác, chính nghĩa cuối cùng cũng sẽ thắng gian tà.

Những năm đầu của thập niên 90S của thế kỷ trước, các nước xã hội chủ nghĩa thi nhau sụp đổ hàng loạt, lan đến tận thành trì Xô Viết, cái nôi sản sinh ra hệ thống độc tài tòan trị xã hội chủ nghĩa và những nước cộng sản chưa sụp đổ, còn trụ lại trong đó có Trung Cộng. Thật ra trước đó, Trung Cộng đã manh nha làm theo ý tưởng của Đặng Tiểu Bình “mèo trắng hay mèo đen không quan trọng miễn là bắt được chuột” để cứu nguy nhà nước xã hội chủ nghĩa Trung Quốc đang chìm sâu trong lạc hậu, chậm tiến, đóí nghèo. Vì thế khi đứng trước tình thế nguy ngập của mô hình tổ chức xã hội chủ nghĩa, Trung Cộng vội vã chuyển đổi mô hình kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường theo tư bản chủ nghĩa với tên gọi xã hội chủ nghĩa mang màu sắc trung Quốc, nghĩa là làm kinh tế theo kinh tế thị trường như tư bản nhưng vẫn ôm chặt độc quyền lãnh đạo chính trị.

Trước tín hiệu thay đổi để cứu nguy chế độ của Trung Cộng, thế giới tự do hào hiệp mở cửa giao thương, làm ăn buôn bán trong tinh thần sống chung hòa bình, đôi bên cùng có lợi, với thiện chí giúp nhà nước Trung Cộng, giúp người dân Trung Hoa có đời sống sung túc, tạo ra số đông trung lưu tiếp cận nếp sống tự do, dân chủ văn minh làm động lực tác động, chuyển đổi thể chế độc tài sang dân chủ như quy luật phát triển tự nhiên của loài người có khuynh hướng hướng thiện, hướng về cái đẹp, về đời sống tốt đẹp hơn.

Thế nhưng khi Trung Quốc ăn nên làm ra, đời sống người dân có khá hơn, giàu có hơn và thành phần giàu có, thành phần trung lưu đã đủ sức làm cuộc thay đổi đất nước Trung Quốc nhưng lãnh đạo nhà nước Trung Cộng không dịch chuyển đồng bộ, không thực hiện tiến bộ về hướng tốt hơn theo quy luật phát triển tự nhiên của lịch sử xã hội loài người đã diễn ra trong quá khứ.

Thế giới dân chủ, tự do đã lầm lẫn, đã dự đóan sai về nhà nước cộng sản Trung Quốc bởi Trung Cộng giống như Việt Cộng là một nhà nước không giống ai nên nó đã không diễn ra, không chuyển đổi mô hình tổ chức về hướng tiến bộ, tốt đẹp hơn theo quy luật phát triển tự nhiên của lịch sử phát triển tổ chức bộ máy cai trị như xã hội loài người vốn có.

Có lẽ mọi người đều thấy cái không giống ai của Trung Cộng là khi giàu có, tiền bạc rủng rỉnh dư ăn dư để thì lộ ra bản chất nhà nước lưu manh, bá quyền qua việc tập trung ngân sách vào quốc phòng, là mua lẫn nghiên cứu, chế tạo vũ khí “khủng” hiện đại hóa quân đội và sử dụng sức mạnh kinh tế, quân sự khống chế, lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải của các nước nhỏ yếu chung quanh. Cũng như việc Trung Cộng không thể hiện là một nước lớn có trách nhiệm với nền hòa bình của thế giới mà còn tạo thêm bất ổn qua việc chủ động thay đổi hiện trạng vô nguyên tắc, tự ấn định đường biên giới trái với luật pháp quốc tế, tự vẽ lại đường biên giới luật định của các nước có chung đường biên giới đã được thế giới công nhận, thừa nhận!

Sự vô trách nhiệm không giống ai hay nói cách khác là tham vọng bá quyền không chỉ tồn tại trong tư duy của các lãnh đạo đảng nhà nước Trung Cộng mà tư duy không giống ai này còn hiện hữu trong giới trí thức, giới trung lưu trong xã hội Trung Quốc, là thành phần chủ lực, nồng cốt cho mọi cuộc thay đổi xã hội, kinh tế…kể cả thay đổi chế độ nhưng họ vẫn bình chân như vại, sống chết mặc ai và sự vô cảm, vô trách nhiệm của thành phần này hiển lộ qua các hình thái sau:

Thứ nhất là thành phần trí thức, trung lưu làm giàu qua việc đi tắt đón đầu cơ hội làm ăn với thế giới tư bản và nhờ vào môi trường giao tiếp nên biết khá rõ ưu, khuyết điểm của mô hình tự do trong các nhà nước dân chủ so với mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Đứng trước việc xấu, việc chưa tốt đó những công dân có trách nhiệm, nhất là giới trung lưu trí thức trong các nhà nước dân chủ, không phải là tất cả nhưng vẫn không hiếm người lên tiếng đấu tranh vì sự công bằng cho xã hội tốt đẹp hơn. Nhưng với công dân có ưu thế như giới trí thức, doanh gia trung lưu, cả đại gia trong nước Trung Cộng, họ không đấu tranh vì xã hội công bằng, vì một đất nước tốt đẹp hơn mà luôn trong tư thế tháo chạy với tài sản kiếm được trên lưng người dân kém may mắn để xây dựng tương lai ở các nước tư bản giẫy chết, vì họ biết chắc đời sống ở đó tốt đẹp vạn lần hơn ở nước Trung Hoa cộng sản.

Thứ hai là lớp trẻ thuộc thành phần con ông cháu cha trong giới lãnh đạo cộng sản đi du học bằng học bổng trong các chương trình viện trợ hoặc tự túc ở các nước dân chủ văn minh. Thành phần du học được thế giới dân chủ tây phương kỳ vọng là những hạt nhân, là động lực cho cuộc chuyển đổi độc tài sang dân chủ qua nhiều thập kỷ đã không diễn ra như lịch sử phát triển của xã hội loài người.

Dự đoán trên lý thuyết, sách vở của các lý thuyết gia tây phương đã không xảy ra với Trung Cộng, Việt Cộng bởi thành phần con ông cháu cha được ra ngoài học hỏi tổ chức khoa học của loài người văn minh tiến bộ, không góp phần tác động lên chế độ làm cuộc thay đổi mà lại sử dụng sở học, kiến thức củng cố chế độ thế tập “cha truyền con nối”, phát triển độc tài toàn trị tinh vi, độc đoán, rùng rợn hơn như mọi người thấy trong chế độ độc tài toàn trị Trung Cộng và Việt Cộng.

Nhiều thập kỷ phát triển liên tục đều đặn với những thành công nhất định về kinh tế của Trung Cộng nhờ giao thương buôn bán với các nước dân chủ giàu mạnh và tích lủy, thặng dư được nhiều ngàn tỷ đô la trong ngân hàng dự trữ trung ương, cùng với kim ngạch tổng sản lượng quốc gia (GDP) vượt mức 10 ngàn tỷ Mỹ kim tiến lên đứng hàng thứ hai thế giới chỉ sau Hoa Kỳ khiến cho nhiều nước trong giai đọan phát triển thèm thuồng, mơ ước.

Thành công bề ngoài của Trung Cộng tạo ra ảo tưởng mô hình xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc là mô hình nhà nước lãnh đạo kinh tế xã hội hiệu quả, là mẫu mực của thế giới thời đương đại, thậm chí là còn vượt qua được khủng hoảng chu kỳ như các nước tư bản đã từng gặp phải?

Với những thành quả trên “bề nổi” của Trung Cộng đạt được trong nhiều thập kỷ thực hiện mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc khiến cho không ít bình luận gia, chuyên gia phân tích bình luận thời cuộc tiên đóan với đà phát triển, tăng trưởng đều đặn và mạnh tay bỏ vốn đầu tư vào công nghệ quốc phòng, không bao lâu nữa Trung Cộng sẽ vượt mặt siêu cường Hoa Kỳ để trở thành cường quốc số một thế giới trong tương lai?

Phải công nhận thành quả đạt được của Trung Cộng ngày nay là có sự hào phóng của các nước dân chủ văn minh, giàu mạnh góp phần và đến khi có vốn rủng rỉnh trong túi thì lãnh đạo nhà nước Trung Cộng không bày tỏ thiện chí sống chung hòa bình, chuyển đổi thể chế lại tỏ rõ ý đồ xấu như: trong nước thì tăng cường khủng bố những nhà bất đồng chính kiến, xiết chặt kiểm soát các tôn giáo ngoài nhà nước, ra tay đàn áp các dân tộc thiểu số đòi nới rộng tự do cho ngưòi dân của họ…; bên ngoài thì biểu dương lực lượng gây hấn, áp đặt chủ quyền trên biển Hoa Đông, Biển Đông, vẽ lại đường biên giới trên đất liền đã được xác lập, có quốc tế công nhận và sử dụng ưu thế kinh tế, quân sự, chính trị của nước lớn, chi phối công việc nội bộ của các nước nhỏ…

Trước sự hung hăng, tàn bạo của nhà nước côn đồ Trung Cộng trong đối nội lẫn đối ngoại khiến cho dư luận bất bình dẫn đến việc nghi ngờ thiện chí của các nước dân chủ đề cao giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền mà không có hành động kinh tế, quân sự cụ thể để trừng phạt hành động rừng rú vi phạm nhân phẩm, nhân quyền của nhà nước du côn Trung Cộng thì việc dọn dẹp tàn dư cộng sản không tiếng súng, không cần đến giải pháp quân sự là đều không thể và không ai tin là nó sẽ diễn ra!

Tuy nhiên, nếu bình tĩnh quan sát những diễn biến xảy ra gần đây liên quan đến Trung Cộng thì việc kết thúc độc tài Trung Cộng cũng chính là chấm dứt các chế độ cộng sản còn sót lại trong hòa bình, là có cơ sở bởi các nguyên nhân, yếu tố thuận lợi lẫn không thuận lợi như sau:

Một là rút kinh nghiệm từ việc hàng triệu người Việt Nam chạy nạn cộng sản lúc Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, thật sự đã là gánh nặng cho các nước dân chủ. Thử tưởng tượng nếu các nước dân chủ manh động, bất chấp luật pháp quốc tế, trang bị vũ khí cho lực lượng chống đối đấu tranh lật đổ độc tài Trung Cộng và Trung Cộng có chuyện gì không dám làm, chúng tương kế tựu kế ra tay tàn sát, tạo cớ đẩy vài chục triệu người xuống biển thì thế giới này sẽ ra sao?

Hai là những tài sản, của cải vật chất của các tham quan cộng sản ăn cắp, ăn cướp được đều chảy vào các nước tư bản giẫy chết. Thế thì cần gì phải vội kết thúc tàn dư cộng sản khi độc tài cộng sản còn sinh lợi cho họ trong lúc thời cơ chưa chín mùi, chưa đủ điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hoà thuận lợi để xóa sổ cộng sản?

Ba là thế giới tự do dân chủ chưa dốc toàn lực, chỉ ngấm ngầm hỗ trợ nhỏ giọt nuôi sống các lực lượng đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền bởi phong trào dân chủ Trung Quốc có những hạn chế nhất định vì người dân Trung Hoa không rơi vào tâm thế bức bối “tự do hay là chết” và không nằm trong vị thế chông chênh không còn chỗ để lùi khi dấn thân vào con đường đấu tranh dân chủ cho tổ quốc của họ.

Bốn là hiệp ước dẫn độ tội phạm xuyên quốc gia của Trung Cộng với cảnh sát quốc tế (Interpol) đang thu hẹp khoảng trống cho tội phạm, nhất là quan chức đảng viên cộng sản xóa bỏ tư duy hạ cánh an toàn trên các nước tư bản sau khi phạm tội tham nhũng, hối lộ và trong số 100 tham quan Trung Cộng đang bị truy nã trên toàn thế giới, đã có gần phân nửa sa lưới bị dẫn độ về Trung Quốc cũng ít nhiều tác động lên tư duy “hạ cánh an toàn” đã không còn an toàn của những tên quan tham.

Năm là tranh chấp trên biển Hoa Đông với Nhật và áp đặt 80% chủ quyền tùy tiện trên Biển Đông, buộc lực lượng hải quân hùng hậu của Trung Cộng phải hiện diện, trực chiến thường trực và hải quân Trung Cộng vô tình trở thành nút chặn các lực lượng đấu tranh dân chủ lẫn người dân bị đàn áp tháo chạy chạy xuống biển vượt thoát tìm tự do khi biến động xảy ra và các biên giới đường bộ hiểm trở cùng với nhiều hiểm nguy bất tiện cho vượt biên đường bộ tìm tự do, buộc họ phải ở lại chiến đấu tới cùng.

Sáu là việc Trung Cộng công khai khối nợ khổng lồ 28 ngàn 200 tỷ Mỹ kim, tương đương với 282% tổng sản lượng của Trung Cộng (GDP). Thực tế đó giúp cho các nước cộng sản còn sót lại thôi ảo tưởng về mô hình xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc, là mô hình phát triển lý tưởng và nợ khủng của Trung Quốc kết hợp với các mâu thuẩn, xung đột sắc tộc, tôn giáo, giàu nghèo…tiềm ẩn trong lòng chế độ tạo thành ngòi nổ, có khả năng tác động làm sụp đổ chế độ độc tài toàn trị Trung Cộng không tiếng súng.

Với những diễn biến trong nội tình Trung Cộng hiện nay, không khó để thấy việc kết thúc chế độ cộng sản Trung Hoa cũng là việc chấm dứt tàn dư cộng sản đã đến gần. Điều thuận lợi đang diễn ra cho thời điểm này và thời gian sắp tới để kết liễu các chế độ cộng sản còn sót lại không cần sử dụng đến siêu vũ khí chiến tranh của các siêu cường. Nhân tố chính để kết thúc Trung Cộng là lực lượng đấu tranh lãnh đạo nhân dân Trung Hoa đang tiến gần đến chỗ “tự do hay là chết” và con đường để lùi của người dân trung hoa đã bị nhà cầm quyền Trung Cộng “vô tình” dần khép lại cũng là một trong nhiều nguyên nhân, động lực làm cho chế độ sụp đổ, vỡ ra từng mảng nhỏ.

Những chuyển biến đang diễn ra hiện nay rất thuận lợi để kết thúc các tàn dư cộng sản còn sót lại và những điều thuận lợi này, không hẳn do các bộ óc thông minh, thánh thiện của con người xếp đặt(?) Có thể nó diễn ra do bàn tay vô hình của đấng tối cao sắp xếp theo quy luật tự nhiên: “…thiện thắng ác…chính nghĩa thắng gian tà…”

Mười điều răn của đời sống cộng đoàn

Mười điều răn của đời sống cộng đoàn

Một: Không phàn nàn lẫn nhau. Mỗi người là quà tặng, là biểu lộ tình yêu và chăm sóc của Chúa cho nhau. Tạ ơn Cha trên trời vì đã qui tụ chúng ta lại với nhau.

Hai: Đừng quên rằng mỗi người là một dụ ngôn tình yêu và hiệp thông của Chúa Thánh Thần, để làm cho con đường dẫn tới đức tin được dễ dàng hơn cho những ai chưa biết Chúa Giêsu Kitô (chiều kích truyền giáo).

Ba: Hãy sẵn sàng từ bỏ chính mình, chấp nhận thánh giá, và vác đỡ thánh giá cho nhau, bởi vì một cộng đoàn đích thực chắc chắn có khả năng từ bỏ và chết đi cho chính mình (chiều kích khổ chế).

Bốn: Cộng đoàn vệ tinh sở tại không phải là cộng đoàn duy nhất. Mỗi thành viên đều sống thuộc về Hội Dòng (Nhà Mẹ) và luôn luôn ở trong Hội Dòng, ra khỏi nhà nhưng không bao giờ ra khỏi cộng đoàn. Mỗi người sẽ sẵn sàng để được sai đến bất cứ nhà nào của Hội Dòng hay đảm trách bất cứ sứ vụ nào Hội Dòng trao cho.

Năm: Một cộng đoàn cầu nguyện chung với nhau sẽ luôn ở lại gắn bó cùng nhau. Hãy làm cho cộng đoàn sống như “cô dâu” đích thực và luôn cầu nguyện trong sự kết hiệp mật thiết với “Chú Rể Giêsu”. Hãy làm cho cộng đoàn trở nên phản ánh đẹp đẽ của Giáo Hội cầu nguyện, cảm thấy buồn lòng vì sự vắng mặt của một thành viên nào khỏi giờ cầu nguyện của cộng đoàn, và đừng quên cầu nguyện cho người anh em vắng mặt ấy.

Sáu: Nếu là con cái của Cha trên trời, chúng ta đừng sống như những người nô lệ, trái lại phải sống với tự do của những con người của Thiên Chúa và là anh em của nhau. Không một ai có quyền bẻ gãy tình huynh đệ nền tảng ấy. Trong cộng đoàn, mỗi người nên được tự do nói và bộc lộ đúng như mình suy nghĩ. Dĩ nhiên lời nói cuối cùng và quyết định tối hậu phải thuộc về Bề Trên. Điều đó sẽ dẫn đến vâng lời đối thoại và trưởng thành trong mối hiệp thông cộng đoàn. Người và ta, trên và dưới gặp được nhau, hiểu được nhau thì mọi việc đều được giải quyết dễ dàng và tốt đẹp.

Bảy: Tất cả phải tham dự vào việc quản trị cộng đoàn, chứ không phải chỉ một vài thành viên lấy mọi quyết định thay cho cả cộng đoàn. Mỗi người đều có quyền nói lên ý nghĩ và quan điểm của mình trong sự tôn trọng lẫn nhau vì ích lợi chung của cộng đoàn. Hãy thực thi tự do của con cái và ngôn sứ của Chúa, cả khi việc đó có thể làm cho bản thân phải đau khổ, miễn là nó làm gia tăng sự hiệp thông huynh đệ và phát triển cộng đoàn.

Tám: Đừng bỏ quên người nghèo, hãy mở rộng cửa nhà đón họ, biến họ thành những vị khách được ưu đãi của cộng đoàn, hãy dành cho họ một chỗ trong nhà, một chỗ nơi bàn ăn của chúng ta. Chúa Giêsu đến viếng thăm chúng ta qua họ. Chớ để bao giờ phải chịu đựng nỗi bối rối vì đã xua đuổi Chúa ẩn mình nơi người cùng khổ.

Chín: Hãy là một cộng đoàn gần gũi với dân chúng. Thường xuyên đối thoại với họ bằng cuộc sống và hành động, như Chúa Giêsu đã từng làm và ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh việc đi ra gặp gỡ. Tuy nhiên, đừng đánh mất căn tính của chúng ta khiến người ta khó chịu: “Tu gì vậy mà tu?” Hãy hòa đồng chứ không đồng hóa: Dân chúng cần đến chúng ta trong tư cách chúng ta là tu sĩ.

Mười: Hãy là một cộng đoàn vừa ở trong nhà vừa ở ngoài sứ vụ, vì cuộc sống chúng ta vừa chiêm niệm vừa hoạt động, vừa xuất thế vừa nhập thế. Hãy tránh mọi hình thức cá nhân chủ nghĩa để khỏi đánh mất những đặc tính tối ưu của tinh thần hiệp thông. Đối với một tu sĩ, một việc nhỏ mọn được thực hiện trong tinh thần hiệp thông có giá trị và ý nghĩa hơn một kế hoạch lớn lao với tinh thần cá nhân chủ nghĩa. Hiệp nhất trong sứ vụ là một dấu hiệu hùng hồn của Nước Chúa. Hãy sống tinh thần Hội Dòng là một đại gia đình gồm nhiều thế hệ, luôn biết đón nhận nhau, yêu thương tha thứ, quên bỏ lỗi lầm và xây dựng cho nhau: “Dập dìu kẻ trước người sau, sức riêng một ít góp vào lợi chung”.

With Prayers and Have A Blessed Day.

Fr. Quang Minh Dong

Our Lady

Trong quan tài buồn hồn nghe thêm trống vắng,

“Trong quan tài buồn hồn nghe thêm trống vắng”,
Tóc chưa xanh một lần nhưng tim nghe đã thương thân.
Trong cơn gọi hồn đời nghe xa xôi lắm.
Gót chân đi chưa mòn đường tình nay đã phai dần.

(Lê Hựu Hà – Phiên Khúc Mùa Đông)

(Ga 11: 36/Mt 27: 3-5)

Trần Ngọc Mười Hai

Quan tài buồn? Đã như thế, sao Elvis Phương lại hát: “Hồn nghe thêm trống vắng”? Hát rồi, anh còn thêm lời buồn của tác giả, những là: “Gót chân đi chưa mòn đường tình, nay đã phai dần”.

Vâng. Có thể là như thế. Như thế, tức là bạn và tôi, ta đã đồng ý với ca-từ cùng ý-tứ của người viết lời và nhạc, rất Lê Hựu Hà! Như thế, lại có thể là bạn hoặc tôi, ta chưa nghe câu nào khác, cũng nói về “quan tài buồn”, như câu: “Chưa thấy quan tài, chưa đổ lệ!” Bần đạo đây, cũng không biết câu nào có trước câu nào sau.

Nhưng, có câu nói “trại” mà bần đạo cứ nói đi nói lại với bà chị ruột lâu nay vẫn sống ở Orange County, xứ Bông Kỳ rằng: “Chưa thấy Hoa Kỳ, chưa đổ lệ!” Tội nghiệp. Bà chị của bần đạo thuộc loại chân-phương thứ thiệt cứ tưởng người em rất hay chê Hoa kỳ của chị nên hơi buồn là vì có lần chị cứ hỏi bần-đạo rằng: có nhiều người từng đi đi/về về cũng khá nhiều, mà sao chẳng thấy ai “đổ lệ” hết vậy?

Chỉ đổ lệ xót thương cho thân phận bạn hiền của Đức Giêsu ở truyện Tân Ước cứ hiểu là: hễ thấy quan tài tức ngôi mộ của ai đó bạn bè người thân tự khắc sẽ đổ lệ hơn một lần trong đời, như sau:

“Thấy cô khóc,

và những người Do-thái đi với cô cũng khóc,

Đức Giêsu thổn thức trong lòng và xao xuyến.

Ngài hỏi:

“Các người để xác anh ấy ở đâu?”

Họ trả lời:

“Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem.” Đức Giêsu liền khóc.

Người Do-thái mới nói:

“Kìa xem! Ông ta thương anh Lazarô biết mấy!”

(Ga 11: 36)

Đấy. Thấy chưa? Đức Giêsu, dù chưa thấy quan tài đựng xác Lazarô-bạn-hiền, nhưng Ngài vẫn “đổ lệ” mà khóc thương bạn. Có thể, Ngài cũng khóc và cũng thương, như ý/lời trong nhạc-bản ở bên trên, lại hát tiếp:

“Nước mắt ấy đã lau khô rồi.

Đôi môi ấy đã quen tiếng cười.

Cuộc tình lỡ đã phai nhạt rồi.

Người tình cũ đã xa ta rồi.

Tiếc nhớ mấy cũng thêm thừa.

Yêu đương biết nói sao cho vừa.

Cuộc tình đó để em vui đùa.

Đọa đày đó, giờ đã đến mùa.”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Bần đạo đây, không mấy chắc người viết nhạc dạo ấy có nghe biết ý-từ “đổ lệ những khóc ròng” ở Tin Mừng chưa, nhưng lời lẽ anh viết không khác ý-từ của câu truyện, do mình viết.

Nhiều tác giả khác cũng nói về hiện-tượng “đổ lệ” của ai đó, khi nghe qua lời kể về tiếng khóc đã nghe thấy, dù chưa giáp mặt quan tài, hay “Bông kỳ” của bầy tôi đây, thế mới lạ. Lạ ở chỗ, như Tân Ước từng ghi-chú rất rõ, như sau:

“Bấy giờ, Giuđa, kẻ đã nộp Người,

thấy Người bị kết án thì hối hận.

Hắn đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ mục mà nói:

“Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan.”

Nhưng họ đáp: “Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh!”

Giuđa ném số bạc vào Đền Thờ và ra đi thắt cổ.”

(Mt 27: 3-5)

Thế nhưng, theo một số nhà chú-giải chuyên nghiên-cứu trình-thuật Tin Mừng lại cho là do cộng-đoàn mang tên Juđa Iscariốt được khai-quật vào năm 2006, đã biện-luận về ý-tứ của Lời Vàng ở trên theo cách khác:

“Lâu nay tôi vẫn ngờ-vực về tính-chất sử-học khi kể về trường-hợp Giuđa Iscariốt trong truyện Tân Ước như một kẻ “bội-phản”. Các ngờ-vực ở trên dựa vào 5 yếu-tố coi như nhu-liệu có thể định-vị được, đó là:

Thứ nhất, đọc Tân Ước nhiều lần cho thật kỹ, ta sẽ thấy rằng ký-ức về người đàn ông mang tên Giuđa hiện-diện trong nội-vi vòng-cung mật-thiết gồm các tông-đồ kề cận Đức Giêsu, lại không phải là quỉ dữ/ác thần và cũng không là kẻ bội-phản nào hết. Tin Mừng thứ tư do tác-giả Gioan ghi, đã qui-chiếu một vị tông-đồ mang tên Giuđa nào đó, chứ không phải Giuđa Iscariốt (đoạn 14 câu 22).

Còn trình-thuật do tác giả Luca ghi, thì trong danh-sách 12 tông-đồ, cộng thêm tên của ông Giuđa Iscariốt là một Giuđa nào khác được định-danh là bào-đệ của tông-đồ Giacôbê thôi (Lc 6: 16). Ông Giuđa này, thay cho ông Tađêo ghi ở danh-sách các tông-đồ do tác-giả Mác-cô thuật ở đoạn 3 câu 14-19; và tác-giả Mátthêu ghi ở đoạn 10 câu 2-4. Cộng thêm vào đó, lại cũng có thánh-thư mang danh-tánh của tác-giả Giuđa nào khác đã viết, lại được tín-hữu thời tiên-khởi đưa thêm vào bộ Tin Mừng ở Tân Ước.

Tác-giả sách này lại cũng mang tên Giuđê, tức cũng được định-vị một cách khác với danh-tánh của Giuđa; và thư này lại gọi ông là “người tôi-tớ của Đức Giêsu và bào-đệ Ngài là ông Giacôbê (Hậu)” (x. Tin Mừng Giuđê 1: 1) Như thế, tức là: các tín-hữu thời tiên-khởi cũng nhớ về một kẻ tin mang danh Giuđa hiện-diện trong nội-vi cung-vòng mật-thiết của Hội thánh vào thời đầu.

Điểm ngờ-vực thứ hai của chúng tôi, đến từ sự-thể bảo rằng: việc bội-phản Thầy mình, là do một thành-viên trong nhóm Mười Hai, nhưng lại không thấy ghi chép trong các cảo-bản do cộng-đoàn tín-hữu thời tiên-khởi cung-cấp. Danh-tánh của ông Giuđa, lần đầu tiên gặp thấy ở trình-thuật các tín-hữu của Đức Kitô do tác-giả Mác-cô được viết vào những năm đầu hồi thập-niên 80s sau Công nguyên.

Trước thời-kỳ này, ta còn có cộng-đoàn Phaolô được biết đến trong những năm tháng kéo dài từ thập-niên 50s đến năm 64, sau Công nguyên. Lại nữa, ta còn có Tin Mừng “Nguồn” với tên gọi là Quelle từng bị thất-truyền lại là nguồn-cội các trình-thuật mà hai tác-giả Mát-thêu và Luca đã rút ra từ đó rồi thêm vào các truyện kể ở trình thuật do tác-giả Mác-cô từng viết sớm hơn khi ấy.

Bản-văn truyện kể do tông-đồ Phaolô viết, ta lại thấy ý-niệm về sự “bội-phản” xuất-hiện trước cả khi Đức Giêsu bị đóng đinh và chỉ dùng như cung-cách định-vị năm tháng ngày-giờ cho bài mình viết chứ không ghi-chú nội dung chi-tiết chút gì hết. Cụm-từ ‘bội-phản’ được đề-cập trong Bữa Tiệc Ly do tông-đồ Phaolô kể, chỉ cốt để nói về chuyện khai-mạc bữa Tiệc Cuối Cùng mà thôi.

Tuy nhiên, khi ghi-chú như thế, tác-giả Phaolô lại đã đưa ra một tự-vựng từng được các dịch-giả bên tiếng Anh hồi thế kỷ thứ 7 sử-dụng và chuyển thành động-từ mang nghĩa “tạo- phản”, nhưng kỳ thực, ý của tông-đồ Phaolô chỉ muốn nói đến việc “chuyển-giao” chứ tuyệt-nhiên không mang mặc một nghĩa ‘tạo-phản’ hoặc ‘phản-tặc’ nào hết.

Cũng nên nhớ: trong toàn-bộ các cảo-bản do tông-đồ Phaolô viết, không thấy có bằng-chứng nào cho thấy rằng: ông từng biết rõ rằng: việc phản-bội ấy đã xảy ra, là do một thành-viên trong Nhóm 12 tông-đồ ra tay làm như thế. Tuy thế, bản dịch tiếng Anh khi viết các truyện kể thời sau đó lại đã chêm thêm ý-nghĩa của việc ‘giao-nộp’ vào trong đó.

Lý-do thứ ba khiến tôi ngờ-vực về tính-cách sử-học của truyện kể về ‘bội-phản’ này, là ở việc: tác-giả Mác-cô lại đã đưa vào trình-thuật do ông ghi, vào khoảng thời-gian từ năm 70 đến 75 sau Công nguyên, qua đó ông có nói rõ việc một người đồ-đệ lại đã nhúng bánh vào chung chén rượu của Đức Giêsu (Mc 14: 20).

Và rồi, tác-giả Mác-cô lại còn kể về việc ‘bội-phản’ này đã xảy ra vào giữa đêm hôm ở vườn Gethsêmani bằng một cái hôn-vào-má Ngài. Đây là lần cuối cùng, ta thấy tên của ông Giuđa được gọi là Iscariôt ở trình-thuật do tác-giả Mác-cô ghi lại.

Lý-do thứ tư khiến tôi ngờ-vực chuyện ‘bội-phản’ nói đây, được dàn-dựng theo cung-cách rất bi-ai/hoành-tráng vào giữa đêm hôm. Chuyện dàn-dựng, được lập nên theo cách rất gọn nhẹ đến độ các tác-giả Tin Mừng đều tin rằng đó là hành động đen tối nhất trong lịch-sử nhân-loại lại đã diễn ra giữa đêm tối đen như mực. Chuyện này trông giống như một nghi-thức phụng-tự nhiều hơn là sự-kiện lịch-sử.

Và lý-do khiến tôi ngờ tính-cách sử-học của bài viết, chính là tên tuổi của kẻ phản-bội được gọi là Giuđa, không là gì khác ngoài lối phát-âm bên tiếng Hy-Lạp của chữ Judah. Trong khi tên của kẻ phản-bội là tên ‘rất riêng’ tại đất nước của người Do-thái. Các lãnh-tụ đảng phái chính-thống ở nước này từng định-danh cho việc thờ-phượng do người Do-thái thực-hiện vào thời-điểm có các Tin Mừng được viết lên, về phong-trào Kitô-giáo ngày càng nổi lên quyết chống-đối mọi địch-thù của mình.

Xem thế thì, cách hay nhất để áp-đặt sự trách-móc/đổ tội cho cái chết của Đức Giêsu là trút-đổ tội này lên Do-thái-giáo ‘chính-thống’ bằng cách nối-kết việc đặt tên kẻ bội-phản với toàn-bộ đất nước Do-thái. Khi yếu-tố kết-hợp nỗ-lực đặc-biệt để miễn lỗi cho thực-dân người La Mã bằng cách mô-tả tính chân-thật của Quan Philatô bằng việc rửa tay sạch rồi nói: “Ta vô-can trong việc tắm máu người này”, thế là việc trách-móc/đổ lỗi đã được bãi bỏ.

Chính người La Mã mới là thủ-phạm giết Đức Kitô, nhưng mãi đến thập niên 80s sau Công nguyên, khi truyện-kể về Sự Thương Khó của Đức Giêsu được viết ra, thì các tác-giả Tin Mừng mới bị thúc-ép phải miễn-lỗi cho công-tố-viện người La Mã, là Quan Philatô và rồi đổ lỗi qui hết mọi tội  cho người Do-thái chính là dân-tộc giết Đức Chúa của mình. Và, đó cũng lại là lúc Giuđa bị gán cho là kẻ ‘bội-phản’ bị/được định-danh là một người trong nhóm Mười Hai từng là đối-tượng kéo dài hàng ngàn-năm sau này từ chủ-trương bài Do-thái qua hành-xử đầy tính bạo-lực bằng vào  việc giết-hại Nhân-vật trọng-đại ở Đạo Chúa.” (xem thêm Tgm John Shelby Spong, The Sins of Scripture, HarperCollins Publishers tr. 199-204)

Lại cũng có một số học-giả chuyên-môn về Kinh Thánh lại đã xác-quyết rất không yếu mềm, rằng:

“Nhiều ngàn năm cho đến nay, các tín-hữu Đức Kitô đều vẽ lên chân-dung của Giuđa Iscariốt hệt như thể ác-thần/sự dữ đã nhập vào người ông. Lại nữa, do động-lực ghét ghen và/hoặc do Satan thúc-đẩy cách sao, ông vẫn bị coi là kẻ bội-phản, thứ người mà triết-gia Dante đặt vào tầng lớp chót cùng nằm dưới đáy hoả ngục.

Tuy nhiên, Tin Mừng của tác-giả Giuđa Iscariốt lại  cho thấy chính tông-đồ Giuđa Iscariốt mới là người cận-kề đáng tin cậy nhất trong nhóm Mười Hai. Bởi, ngang qua ông, Đức Giêsu lại đã bộc-lộ toàn-bộ huyền-nhiệm sâu-sắc nhất cho riêng ông; đồng thời, ông chính là người được Thầy Giêsu có tin-tưởng lắm mới nói trước về cuộc thống-khổ của Ngài sắp diễn ra…” (x. Elaine Pagels & Karen L. King, Reading Judas, The Gospel of Judas and the Shaping of Christianity, Penguin Book 2007 tr. 3-5tt)

Hôm nay, khi được nghe nghệ sĩ đồng thời là người viết nhạc dám hát lên những ca-từ đầy nước mắt này, bần đạo bầy tôi chỉ muốn khóc. Khóc, không vì thương quá bạn hiền của Đức Chúa là Lazarô hoặc tông-đồ Giuđa Iscariốt rất cận-kề Ngài là thế nhưng vẫn bị hiểu lầm, cho bằng còn nhiều người vẫn cứ hát và nói những tiếng giọng ỉ ôi, ôi thôi là sầu buồn.

Đời mình và đời người, quả thật vẫn có các sự/việc rất đáng khóc, nhưng sao vẫn không khóc được mà chỉ hát lên có ba lời trần tình, như sau:

“Tiếc nhớ mấy cũng thêm thừa.

Yêu đương biết nói sao cho vừa.

Cuộc tình đó để em vui đùa.

Đọa đày đó, giờ đã đến mùa.”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Hát thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta cũng đừng suy-tư nhiều quá để rồi lạ sẽ khóc; mà hãy cùng nhau đi vào vùng trời “truyện kể” rất dễ nể ngõ hầu nay mai mình sẽ không còn khóc nữa mà chỉ suy-tư nhiều về các sự-kiện tuy dễ-khóc nhưng không buồn, như sau:

“Con người sợ những cái gì mập mờ, không rõ ràng. Khi gặp những cái không biết rõ, họ thường hay tưởng tượng, mà xu hướng thường là nghĩ đến những cái đáng sợ nhất.
Cũng có thể do bản năng tự vệ của con người, họ nghĩ ra như vậy để cảnh báo bản thân trước mối nguy hiểm nào đó.

Chuyện cận tử, thân trung ấm, lúc vừa mới chết thì hồn bay lơ lửng đâu đó, rồi vào đường hầm thấy toàn ánh sáng chóa lòa, gặp lại bà con đã chết từ lâu, kêu réo nhau la ới ới, chuyện đầu thai lại, chuyện tái sinh, chuyện ma quỷ, và còn nhiều thứ lắm lắm…có thật hay không có thật chẳng có ai biết được hết. Tin hay không là chuyện riêng của mỗi người.

Có người còn so sánh sự chết cũng không khác gì giấc ngủ mỗi đêm. Tối ngủ, mình chẳng còn biết gì hết, hổng khác gì như mình đã chết rồi. Sáng ra thức dậy như được tái sanh trở lại, sống thêm một ngày nữa. Mừng hết lớn.

Vậy sợ chết là sợ những gì mình không rõ, những gì bí mật mình chưa biết được.
Người ta sợ chết vì sợ thân xác bê bết máu me, nát bấy, xấu xí đi, sình thúi ghê tởm quá.

Trường hợp những giây phút trước khi phi cơ lâm nạn lao xuống đất chắc hành khách phải hãi hùng kinh hoàng tột độ. Đây là một thí dụ rõ rệt nhất về sự kiện sợ chết.
Có cả trăm câu hỏi được đặt ra nhưng chưa có câu giải đáp nào hết về sự chết. Mọi người cứ tưởng tượng thế nầy thế nọ cho nên thiên hạ vẫn còn lo và vẫn còn sợ chết.

Người đời thường nghĩ rằng hễ chết là hết, là trống không, là rơi vào vực thẩm âm u, là hư vô, tĩnh lặng. Chết rồi thì mình sẽ đi về đâu sau đó, rồi mình sẽ ra sao? Bởi vậy nên ai ai cũng đều sợ chết lắm.

Ai cũng phải có ngày chết hết. Đây là một sự thật. Chạy đâu cho khỏi. Đây là điều chắc chắn 100%, thật rõ ràng và là lẽ công bằng của trời đất..

Nhà chánh trị Benjamin Franklin (1706-1790) có nói một câu để đời: «Trên cõi đời nầy có hai việc không thể tránh khỏi được, đó là cái chết và thuế má.»

Nhận-định thế rồi, người kể hôm nay, lại nói tiếp đôi điều rất “vô thường” bằng một truyện kể khác, như sau:

“Cuộc đời thật vô thường, vậy phải biết trân quý sự sống. Thù hận, tranh đua, phân biệt, cố chấp, ganh tị, suy bì, hơn thua nhau từng tiếng, từng lời, từng chút một rồi cuối cùng cũng phải chết mà thôi.

Đến lúc đó thì ăn năn hối cải, than khóc, kể lể, luyến tiếc… làm chi cho mất công, muộn màng rồi bạn ơi. Tại sao hồi còn sống không biết sống cho hòa thuận, thương yêu nhau, giao hảo nhau trong tình người,biết thông cảm và tha thứ cho nhau?

Mọi người đều đến cõi đời nầy với hai bàn tay trắng, thì lúc ra đi cũng chỉ với hai bàn tay trắng mà thôi.

Tuy biết vậy nhưng vẫn lo, vẫn sợ. Ai ai cũng đều biết như vậy, nhưng hễ sao mỗi khi nghĩ đến chết thì thấy rờn rợn và hơi lo một chút. Bằng mọi giá họ phải níu kéo sự sống lại. Bỡi lý do nầy mà ngày nay khoa học đã sáng chế ra vô số kỹ thuật để kéo dài thêm sự sống… Nào là kỹ nghệ thuốc trường sanh, nào là kỹ nghệ ngâm xác trong khí lỏng liquid nitrogen để chờ ngày tìm ra thuốc trị liệu để tiếp tục…sống v.v…

Người ta sợ chết vì sợ mất người mình thương, sợ xa lìa người thân, bạn bè, xa lìa vợ con, chồng con, sợ không ai nuôi con mình, sợ rồi đây tụi nó sẽ…sống ra sao?, sợ mất đi cái tôi cùa mình, sợ mất hết tài sản của cải mà mình đã thật sự khổ công tạo dựng được trong suốt cả cuộc đời, cũng như sợ chưa thực hiện được những hoài bão mà mình hằng mong ước, và sợ bị lãng quên, v.v… (trích điện-thư của một bạn khác đạo từng gửi trên mạng rất ê hề, nhiều vô kể)

Biện-luận ra sao cũng đặng. Hát và nói thế nào cũng chẳng sao. Duy có điều, là: có kế hoặc hát nhiều cho lắm, ta cũng nên nhớ lại lời vàng của thánh-nhân hiền lành từng dặn dò mọi người bằng một chú thích, như sau:

“Đức Giêsu liền khóc.

Người Do-thái mới nói:

“Kìa xem! Ông ta thương anh Lazarô biết mấy!”

Có vài người trong nhóm họ nói:

“Ông ta đã mở mắt cho người mù,

lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư?

(Ga 11: 354- 37) 

Có khóc được, hoặc được khóc như Đức Giêsu khi xưa hay không, thiết tưởng ta vẫn nên ca và hát ý/lời của người viết nhạc từng ê a, ca rằng:

“Tiếc nhớ mấy cũng thêm thừa

Yêu đương biết nói sao cho vừa

Cuộc tình đó để em vui đùa

Đọa đày đó, giờ đã đến mùa.”

(Lê Hựu Hà – bđd)

Hát xong rồi, giờ đây hỡi bạn và hỡi tôi, ta cứ hiên ngang đứng thẳng để nghe tiếp những điều như thế diễn ra bằng các sự kiện trong đời, rất con người.

Trần Ngọc Mười Hai

Thật cũng chẳng hơn ai

Nhưng vẫn cứ phiếm để còn nhớ và thương

Những “quan tài buồn”

Thuộc tầm cỡ rất Giuđa Iscariốt.

Tình đã đến trong những ngày độc dược,

“Tình đã đến trong những ngày độc dược”,

trong những ngày rữa nát mọi tinh hoa

trong những ngày sự sống diễn ra

bằng điên dại dẫm bừa lên sự sống!…

nhìn nhau đi em để thấy những giòng xanh

hạnh phúc trần gian đang lăn từ khóe mắt.

(dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mai Tá lược dịch

Nhìn nhau đi, để thấy được giòng xanh hạnh phúc. Giòng xanh hạnh phúc ấy, có lẽ ta rất dễ thấy nơi dân gian cuộc đời. Một cuộc đời luôn có Chúa, có Mình và Máu Thánh. Trình thuật hôm nay, nói về quà tặng Chúa ban nơi Mình Ngài, bàn tiệc Thánh. Tiệc lòng mến, rất agapè.

Mừng tiệc thánh agapè mỗi tuần, cộng đoàn nơi tôi ở vừa tái cấu trúc nguyện đường cho an toàn, hợp lý. Một trong những điều tôi cảm thấy lạ, là: cửa Nhà Tạm Chúa ngự được làm bằng kính, rất sáng trong. Trong đến nỗi, ánh sáng bên ngoài có thể lọt vào, để lộ hiện nguyên hình chén thánh. Và đây cũng là lần đầu, tôi cảm thấy yếu tố này đã đánh động, thu hút lòng Đạo nơi tôi và chắc cũng là của một số anh em.

Phản ứng của anh em chúng tôi cũng đa dạng, đôi lúc thật lạ lùng. Người cho rằng: làm thế không trang nghiêm, thiếu tôn kính. Kẻ bảo là: lập trường cấu trúc cũng không tệ. Tựu trung, đa số đã bày tỏ sự đồng thuận, là: hãy nên để thế. Để như thế, vì Mình Thánh Chúa là Thực phẩm nuôi sống chúng ta, mỗi ngày. Mỗi ngày, ta nhìn thấy Ngài, rất muốn sẻ san. Ngài là thực phẩm, nên cũng cần mang dáng dấp chào mời, dễ bẻ vụn và phải đổ tràn ra bên ngoài bằng yêu thương, vô bờ bến. Đó, chính là động tác Chúa thực hiện vào Tiệc Thánh, chiều Thứ Năm. Hôm trước ngày khổ nạn. Và, đó cũng là việc ta vẫn làm mỗi tuần, ngày của Chúa.

Ngày của Chúa, nhiều vị thường diễn tả việc dự Tiệc thánh như thói quen nguyện cầu, dâng tiến. Tệ hơn, có người lại coi việc cử hành Tiệc như màn độc diễn của vị chủ tế trên bàn thờ. Giáo dân  tham dự chỉ với tính cách người dự khán, thôi. Nghĩa là, chỉ đến rồi đi. Đi xem lễ. Đến nhà thờ. Nhất nhất, để thực hiện tổng cộng những sáu điều Hội thánh khuyên răn. Không đi không đến e sẽ mắc tội. Và, là tội trọng.

Vốn mang trong người phong thái ấy, nhiều người vẫn hay đến trễ, về sớm. Chỉ đứng xa hoặc loanh quanh ở ngoài, hút thuốc nói chuyện hoặc liên tưởng chuyện làm ăn nào khác. Tuyệt nhiên, không mang dáng dấp tích cực, hợp tác nơi bàn tiệc.

Tiệc Thánh, trước tiên và nhất thiết phải là động thái tích cực của cả cộng đoàn. Bởi, tự bản chất, ý nghĩa của Tiệc là như thế. Chí ít, ta tham dự Tiệc là để thật sự ăn Mình Máu Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu, như được dạy. Nói cho cùng, tham dự Tiệc không là chuyện đơn độc riêng lẻ, nhưng là việc của cả cộng đoàn tình thương dự Tiệc lòng Mến rất đông. Rất tích cực.

Dự Tiệc ngày của Chúa, ta cùng nhau đến vì Thân Mình Ngài. Cùng đến, như những người thân yêu chung tình, cùng ăn cùng uống. Cùng chung sức sống. Đến để bày tỏ lòng biết ơn chân thành, đối với Ngài. Đến, vì “Thánh Thể” thật sự mang ý nghĩa một cảm tạ. Ta đến, không phải vì sợ phạm vào điều khuyên thứ ba Hội thánh luôn răn giữ. Ta đến, không vì sợ tội. Không vì sợ vi phạm giới răn Hội Thánh Chúa, khuyên giữ. Ta đến, cũng chẳng phải là giữ chỉ để giữ. Giữ vì sợ mắc tội. Giữ, nhưng không mảy may thuyết phục. Thành thử, có người cứ đến trễ và về sớm. Cũng chẳng thấy cần phải lưu lại đôi phút để hàn huyên, chia sẻ những tâm tình người đồng Đạo.

Đến dự Tiệc lòng mến, tuyệt nhiên không là đi “xem lễ”, như nhiều người lầm gọi. Bởi, đi xem là xem vị chủ tế độc diễn màn dâng tiến một mình, trên bục cao. Ngược lại, đến dự Tiệc Thánh là việc tham gia vào việc chung. Tham dự và gia nhập tiệc vui rất chung. Ăn chung uống chung, cũng một Mình Máu Rất Thánh của Chúa. Ăn và uống chung, rất công khai. Đầy hưng phấn.

Như Chúa từng bày tỏ:

Bằng vào việc này, mọi người sẽ biết các anh là môn đệ của Thầy, anh em hãy thương yêu nhau” (Yn 13: 35). Và:

“Xin cho chúng nên một để thế gian biết Cha đã gửi Con đến”

(Yn 17: 21-23)

Đến dự Tiệc, mà mang tâm trạng đơn độc lặng thinh, là chưa hiểu ý nghĩa của sự đồng tâm cộng lực,chung lòng mến. Đến dự Tiệc, là cùng mang tâm tưởng thâm sâu đượm tình mật thiết của cộng đoàn kẻ tin. Tiệc Thánh, không là thời điểm ta tác tạo nên cộng đoàn, mà thôi.

Nhưng, là thời gian giúp ta cử hành mừng kính đặc điểm cùng nhau chung phần vui hưởng của cộng đoàn. Thật đáng tiếc: hơn bốn thập niên thời hậu Công Đồng đã trôi qua, mà nhiều vị vẫn còn nhấn mạnh đến yếu tố tu đức cá thể. Chỉ nhắm mục đích tìm sự “rỗi linh hồn”, riêng mình ta thôi.

Vì thế, người dự Tiệc ngày của Chúa vẫn cứ hành xử như khách lạ, vừa đến thăm. Khách đến, thiếu vắng cả nụ cười, tối thiểu. Thiếu tình thương. Thiếu hợp tác, đùm bọc. Cả khi, lời “chúc bình an, tay nắm tay” trao cho nhau, cũng chỉ là động tác lấy lệ. Chỉ như phản xạ tự nhiên, rất quen làm. Khác hẳn tâm tình người dự tiệc mừng ngày sinh, rất thân thương.

Nói rộng hơn, dự Tiệc Thánh không chỉ đến để nhận bánh thánh hiệp thông, rất giản đơn. Mà, để chia sớt và cùng sẻ san một Bánh Thánh là Mình Ngài, một biểu-tượng. Cùng uống chén Máu cứu độ của chính Ngài. Mình và Máu Đức Chúa đã Phục sinh. Mình Thánh Chúa ta lãnh nhận, không chỉ riêng Mình Đức Kitô thôi, nhưng còn là thân mình của cả cộng đoàn, vẫn được coi như chi thể thân thương đã tháp nhập vào Thân Mình Đức Kitô, đang hiện hữu.

Qua sẻ san Mình và Máu Thánh Chúa, cộng đoàn tình thương mới nhận ra rằng: không chỉ riêng có Đức Kitô đến với ta, mà thôi. Nhưng, là cả Thân Mình Ngài có cộng chung chi thể, là cộng đoàn thân thương ta sống cùng, và sống với. Ở một số cộng đoàn, nhiều vị có thói quen bái gối trước khi đón nhận Bánh Thánh. Nếu đây là cử chỉ thông thường nhằm tỏ lòng tôn kính, tưởng cũng nên bái gối trước cộng đoàn đang xếp hàng đón nhận Thân Mình Chúa vào bên trong mọi người.

Nói tóm lại, hiệp thông nhận đón Mình Máu Chúa, không là riêng mình Đức Kitô đến với ta mà thôi. Mà còn là, cả cộng đoàn tình thương đã ở trong ta. Với ta.

Thành thử, khi nhận Bánh Hằng Sống vào lòng bàn tay và đáp lời “Amen”, ta đã nghiêm chỉnh nhận lời mời cùng nhau trở thành thân mình của Đức Chúa, ta vừa nhận. Thân Mình Ngài, đã bẻ vụn thành tình thương yêu. Máu Thắm của Ngài đã đổ tràn thành hy vọng. Nhờ đó, thế giới hôm nay được cứu thóat khỏi chính con người mình. Khỏi cái “mình” xấu xa, đớn hèn bấy lâu nay. Và từ đó, tìm được sự sống trọn vẹn nơi Đức Kitô.

Có Chúa ở với và ở cùng, khi đón Mình Máu Ngài, ta ngân vang lời thơ từ thi sĩ họ Hàn, rằng:

Ta há miệng cho Nguồn Thơm trào vọt:

Tứ thời Xuân! Tứ thời Xuân non nước!

Phút thiêng liêng nhuần gội ánh thiều quang,

Thiên hạ bình và Trời tuôn ơn phước

Như triều thiên vờn lượn khắp không gian.

Ta cao ngân giọng vô cùng thanh thoát

Khiến châu thân rung động thể tơ trăng.

(Hàn Mặc Tử – Nguồn Thơm)

Vâng, đúng thế. Nguồn Thơm đã thấm nhập vào châu thân rung động của chính ta. Của cả cộng đoàn. Và mãi mãi, ta sẽ vui vầy Tiệc Thánh. Tiệc mến yêu Mình Máu Chúa, rất agapè.

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá lược dịch

Đất Nước Nhìn Từ Lào Cai

Đất Nước Nhìn Từ Lào Cai

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Ở nơi ấy, cho đến giờ vẫn còn hàng vạn những em nhỏ vẫn còn ăn cơm độn ngô và sắn.

Bình Nguyên – Thiện nguyện viên của Chương Trình Bữa Cơm Có Thịt

Một cái gì đó đã phá vỡ lòng tin của con người rằng xã hội luôn luôn cố gắng đem lại sự tốt đẹp cho mình, và chính mình phải có bổn phận phải gìn giữ các công trình xã hội để mình và mọi người cùng hưởng. Người ta thẳng tay cắt dây điện để bán lấy chút tiền, có thể đốt hết một kho hàng hoá để phi tang cho một vật ăn cắp không đáng là bao… con người đối xử với xã hội thô bạo như vậy chỉ vì xã hội đã đối xử với họ tệ quá. (Phạm Xuân Đài. Hà Nội Trong Mắt Tôi. Thế Kỷ: Hoa Kỳ 1994).

Tôi chưa bao giờ được đặt chân đến Hà Nội nên cứ băn khoăn, và nghi ngại mãi về đoạn văn thượng dẫn. Thực lòng, tôi không tin rằng có ai đủ vô tâm để “thẳng tay cắt dây điện để bán lấy chút tiền” hay “đốt hết một kho hàng hoá để phi tang cho một vật ăn cắp không đáng là bao.”

Niềm tin mong manh của tôi, buồn thay, vừa mất sau khi nghe Tổng Công Ty Ðầu Tư Phát Triển Đường Cao Tốc Việt Nam (VEC) loan tin:

“Thời gian vừa qua, trên tuyến đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai do VEC làm chủ đầu tư, đã xảy ra hiện tượng mất trộm bu-lông … Qua kiểm tra, đơn vị quản lý vận hành (VEC O&M) phát hiện một số vụ việc vừa qua chủ yếu do các cháu nhỏ tháo trộm bu-lông, hộp đệm, trụ đỡ tôn lượn sóng …”

Mẫu tin này cũng được ghi lại trên face book với rất nhiều phản hồi. Xin ghi lại năm ba:

·  Bin Bin Đm đáng bao nhiêu mà khổ sở thế

·  Nguyên Tí Bần cùng sinh đạo tặc

·  Thanh Liêm dân ở đó đói lắm à ?

·  Quockhanh Nguyen Dung la do nhèo đói ma sinh ra vậy

·  trần phúc nguyên chắc mấy người ở đó nghèo túng quá nên mới làm liều … nghèo cũng khổ

Cứ theo Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Lào Cai thì nơi đây không phải là một nơi bần cùng, hay nghèo đói:

“Trong công cuộc tái thiết cuối những năm 90 của thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI, cả Lào Cai như một công trường lớn, những công trình đồ sộ hiện hình ở những nơi trước đây là rừng núi hoang vu hay bờ lau, bãi sậy… Lào Cai đã nuôi dưỡng, tạo sức bật cho nhiều doanh nghiệp và chính họ đã đóng góp sức mình khơi dậy tiềm năng, thế mạnh trên mảnh đất này.”

Tuy thế, trong thực tế, “mảnh đất tiềm năng” (tới cỡ đó) lại không có đủ khả năng nuôi dưỡng người dân của nó. Cũng như Yên Bái, Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu, học sinh ở nhiều trường học tại Lào Cai đều “hội đủ tiêu chuẩn” để được sự yểm trợ của Chương Trình Bữa Cơm Có Thịt.

Hãy nghe chính thiện nguyện viên của chương trình nhân đạo này nói về thực trạng của tỉnh lỵ này.

– Ông Bình Nguyên:

Ở nơi ấy, cho đến giờ vẫn còn hàng vạn những em nhỏ vẫn còn ăn cơm độn ngô và sắn. Hành trình đi tìm con chữ của các em sao nhọc nhằn quá, nhất là vào những ngày mùa đông giá rét của phương Bắc vô cùng khắc nghiệt. Thật xót xa khi nhiều người dân, các em nhỏ Việt Nam miền núi lại vẫn đang thiếu những bữa cơm có thịt cá đầy đủ chất dinh dưỡng, những cái áo ấm và tấm chăn ấm.

Bữa ăn của một học sinh trường Dền Thàng, Lào Cai. Ảnh: Dân Trí

– Bà Phạm Ánh Ngọc:

Các em tại trường tiểu học Pà Chéo phần lớn đều đi chân đất và áo quần mỏng manh. Cả đoàn nhìn nhau không nói được gì, lặng lẽ quan sát. Có một điều là không phải đứa trẻ nào cũng ăn hết phần thức ăn được phát. Từ đầu bữa đến cuối, nó ăn một chút thức ăn thôi, còn lại, nó để dành một góc cặp lồng.

Thấy chúng tôi có vẻ thắc mắc, cô giáo trầm ngâm nói, nó để dành mang về nhà ăn bữa tối. Ở đây có những nhà có khi hàng mấy tháng trời không có được ăn chút thịt nào. Từ ngày được ăn bữa cơm có thịt, học sinh đi học đầy đủ hẳn. Có những đứa thường xuyên như thế, ở lớp nó không ăn tý thức ăn nào, bảo để dành mang về nhà cho mẹ, cho em. Tôi thấy tim mình thắt lại, cổ họng ứ nghẹn, sống mũi cay cay, tôi chạy ào ra ngoài, lau vội giọt nước mà có lẽ là lẫn cả mưa.

Trẻ con ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Ảnh: Phạm Ánh Ngọc

Tôi không tin rằng những cô cậu học sinh chịu nhịn phần thịt trong bữa ăn của mình “để dành mang về nhà cho mẹ, cho em” – sau khi tan trường – lại có thể trở thành những đứa bé trộm cắp (bù long) nếu không có sự đồng tình của bố mẹ, và sự “khuyến khích” của những người mua bán vật dụng phế thải.

Tôi cũng không tin rằng giải pháp mà VEC đề xuất (“phối hợp chặt chẽ với địa phương và trường học trên địa bàn tuyên truyền học sinh tham gia bảo vệ tài sản đường cao tốc”) sẽ mang lại kết quả mong muốn. Vấn đề e không giản dị như thế, và nó đã được nhà văn Phạm Xuân Đài đề cập đến tự lâu rồi:

Một cái gì đó đã phá vỡ lòng tin của con người rằng xã hội luôn luôn cố gắng đem lại sự tốt đẹp cho mình, và chính mình phải có bổn phận phải gìn giữ các công trình xã hội để mình và mọi người cùng hưởng. Người ta thẳng tay cắt dây điện để bán lấy chút tiền, có thể đốt hết một kho hàng hoá để phi tang cho một vật ăn cắp không đáng là bao… con người đối xử với xã hội thô bạo như vậy chỉ vì xã hội đã đối xử với họ tệ quá.

Thế xã hội đã “đối xử” ra sao khiến cho người dân Lào Cai hôm nay (rồi) cũng đã trở thành “thô bạo” y như người Hà Nội vậy?

Xin đọc qua đôi dòng tin mới đây của báo Lao Động, số ra ngày  24 tháng 4 năm 2015:

“Vụ án Vinashin được xem là trọng án kinh tế, số tiền thất thoát rất lớn, riêng tiền thi hành án lên đến 1.200 tỉ đồng. Nhưng cay đắng thay, đến nay mới thi hành án được khoảng mấy chục tỉ đồng.

Mấy chục tỉ đồng của 1.200 tỉ đồng quả là quá nhỏ, nhỏ đến mức không đáng kể. Mặc dù phiên tòa kết thúc vào năm 2012, nhưng tiền tham nhũng thất thoát vẫn chưa gom về lại cho khổ chủ là Nhà nước. Biết đến bao giờ mới thu đủ 1.200 tỉ đồng đây!

Vụ án Vinashin tuy ồn ào, dữ dội ban đầu, nhưng sẽ không mấy ai còn nhớ đến số tiền phải thu lại là bao nhiêu, nhà nước có thu được không. Rốt cuộc, hàng nghìn tỉ đồng tham nhũng coi như mất gần hết. Những kẻ tham nhũng giấu hết tiền bạc của cải cho vợ con và cho mình, chờ ngày ra tù để hưởng.

Vụ Vinashin chỉ là một trong nhiều vụ án tham nhũng được phanh phui và xử lý theo pháp luật. Các vụ án khác cũng có chung tình trạng, đó là không thu hồi được tiền tham nhũng. Tòa tuyên phạt ông Phạm Thanh Bình bồi thường 500 tỉ đồng, nhưng ông không nộp một đồng thì quả là chuyện hài hước.”

Chuyện “hài ước” hơn nữa là Nhà Nước có khả năng tận thu của cải, khiến cho hàng triệu người dân lâm vào cảnh trắng tay, qua bao đợt “đánh tư sản mại bản” (vô cùng tàn khốc) nhưng lại hoàn toàn bất lực trong việc thu hồi mấy tỉ Mỹ Kim thất thoát – dù số tiền này vẫn nằm trong tay của gia đình những phạm nhân (đang) ở trong tù.

Khi qúi quan phụ mẫu chi dân đồng lòng, và toa rập, biến những con tầu trị giá hàng chục triệu Mỹ Kim thành sắt vụn thì trách chi chuyện người dân Lào Cai gỡ (gạc) mấy con bù long đem bán làm đồng nát.

Hoạt cảnh này đã được ông Hà Sĩ Phu hình dung ra từ hơn một phần tư thế kỷ rồi: “Thấy cái ‘ông dẫn đường’ cầm doi kia tớp được cái đùi gà thì chúng tôi cũng phải lẳng lặng nhặt cho vợ con mình con tép riu, chứ ngu gì mà chịu chết đói?” Chỉ có điều là vị sĩ phu (của đất Hà Thành) đã không tưởng tượng “nổi” là mấy ông dẫn đường “tớp” toàn tiền tỉ, chứ đâu có phải mấy cái đùi gà?

Từ già đến trẻ, từ lớn tới bé, từ miền xuôi lên miền ngược – tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân – mọi người đều sẵn sàng “thẳng tay cắt dây điện để bán lấy chút tiền, có thể đốt hết một kho hàng hoá để phi tang cho một vật ăn cắp không đáng là bao.” Đây phải chăng là thành quả (hay hệ quả) sau ba phần tư thế kỷ xây dựng XHCN ở Việt Nam?

Công lý

Công lý

Huy Đức

Dự thảo Luật Tố tụng Hình sự đang được thảo luận tại Quốc hội (tháng 5-2015) đã “tiếp thu” được vài nguyên tắc mà “loài người tiến bộ” đã từng áp dụng từ hàng trăm năm qua. Các đại biểu Quốc hội cũng bắt đầu nhận ra, cho dù nhu cầu chống tội phạm lớn tới đâu cũng không thể chấp nhận oan sai. Tuy nhiên, nếu không nhận thấy nguyên nhân sâu xa của oan sai thì không những không thể thiết kế một nền tư pháp có thể mang lại công lý mà trong vai trò chống tội phạm, nó còn có thể trở thành công cụ của từng băng nhóm.

Dân Trí hay Quan Trí

Không ngạc nhiên khi các tướng công an không ủng hộ quyền im lặng của bị can. Quyền ấy chắc chắn sẽ làm khó hơn cho tiến trình điều tra. Chỉ ngạc nhiên, sao các tướng – những người thực thi – lại được đặt ngồi trong cơ quan lập pháp.

Quyền không khai những điều có thể trở thành bằng chứng chống lại mình khi chưa có luật sư được người Mỹ đưa vào Hiến pháp năm 1789 (Tu chính án thứ Năm). Tướng Trịnh Xuyên cho rằng áp dụng nguyên tắc này sẽ không phù hợp với dân trí nước ta. Nói như thế thật là xúc phạm người dân Việt Nam, không lẽ sau 70 năm xây dựng CNXH, dân trí nước ta lại thua dân trí Mỹ 226 năm về trước.

Nếu Quốc hội đã “học Mỹ” khi đưa “quyền im lặng” vào luật Việt Nam chỉ xin quý vị hiểu lại cho rõ nguyên lý “nhà nước của dân”. Năm 2006, khi Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đến thăm nơi tưởng niệm Tổng thống Abraham Lincoln, tôi thấy ông đứng rất lâu trước câu nói của Lincoln: “Nhà nước của dân, do dân và vì dân”. Những nhà cách mạng Mỹ không chỉ là tác giả của câu nói này mà còn đã thể chế hóa thành công nguyên tắc này.

Khi giành được độc lập, khi đã cầm quyền thay vì quay lưng với nhân dân như nhiều nhà cách mạng khác, vị Tổng thống thứ Nhất của họ, ngay trong năm đầu cầm quyền, đã đưa vào Hiến pháp 10 tu chính án ngăn chặn Quốc hội ra các đạo luật ngăn cản các quyền tự do quan trọng nhất của người dân.

Các đại biểu đến từ phía Nam – hai Luật sư Trương Trọng Nghĩa và Trần Du Lịch – đã tranh luận khá thẳng thắn với các tướng công an. Nhưng rất tiếc chưa thấy hai ông chỉ ra hai nguyên tắc cơ bản để bảo vệ quyền im lặng: Nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc một người không thể bị coi là có tội khi chưa có một bản án có hiệu lực của tòa. Vì không coi trọng hai nguyên tắc này mà nhiều người dân chỉ cần bị dân phòng bắt đã bị đối xử như tội phạm.

Camera & Nhục Hình

Nhiều đại biểu Quốc hội đưa ra sáng kiến dùng camera đặt trong phòng hỏi cung để ngăn chặn điều tra viên sử dụng nhục hình. Camera liệu có tác dụng không khi “phòng hỏi cung” nằm trong tay cơ quan điều tra? Các vị nghĩ rằng các điều tra viên sẽ bật nó lên cho quý vị xem cách họ làm cho những người vô tội ký vào đơn nhận tội?

Có những cuộc tra tấn được điều tra viên trực tiếp tiến hành trong phòng hỏi cung như vụ 7 công dân vô tội bị ép nhận tội giết người ở Sóc Trăng. Nhưng, không phải điều tra viên nào cũng sử dụng nhục hình thô thiển vậy.

Theo Tiến sĩ Dương Thanh Biểu, nguyên Phó Viện trưởng VKS TC, ngay cả con người huyền thoại Tạ Đình Đề – người bảo vệ Hồ Chí Minh thời đang còn là “Lý Thụy ở Vân Nam” – trong hai lần bị “công an ta” bắt (1975-1976 và 1985-1988), nếu không nhận tội, không khai đúng ý” của người thẩm vấn cũng bị “chuyển phòng giam khác, bị giao cho đầu gấu”. Tạ Đình Đề kể với ông Biểu: “Khi nghe lệnh chuyển phòng, người tôi bủn rủn… Sang phòng giam mới, bị nhốt với bọn đầu gấu mới (tôi sẽ phải chịu đủ trò) tinh quái và độc ác”(Tạ Đình Đề – NXB Hội Nhà Văn 2014, trang 254).

Kinh nghiệm của ông Tạ Đình Đề không chỉ là câu chuyện của thập niên 1970s, 1980s. Khi gặp Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, bị án Hồ Duy Hải vẫn không dám kêu oan mà chỉ xin giảm án vì Ủy ban Tư pháp gặp xong rồi về còn Hải thì phải quay lại trại giam của công an Long An. Một khi hệ thống trại giam, đặc biệt là các trại tạm giam đang nằm trong tay các cơ quan điều tra thì chuyện ngăn chặn bức cung, nhục hình là vô vọng cho dù có gắn bao nhiêu camera trong phòng hỏi cung.

Độc Lập giữa Các Cơ Quan Tố Tụng

Không có nhà nước nào cơ quan lập pháp lại mang các vụ án ra đánh giá sai đúng trong các phiên toàn thể. Không phải tự nhiên mà tố tụng phải bao gồm nhiều định chế độc lập: điều tra, VKS, TA, luật sư. Quyền giám sát tố tụng nằm ở khả năng “độc lập, chỉ tuân theo pháp luật” của các cơ quan thực thi chứ không phải là ở quyền giám sát chính trị của cơ quan lập pháp.

Điều nguy hiểm nhất hiện nay là các công tố viên và thẩm phán bị cơ quan điều tra viên “lôi vào cuộc”, bị “cộng đồng trách nhiệm” ngay trong những ngày đầu. Các thủ tục tố tụng phải dựa trên chứng cứ chứ không phải là suy đoán của điều tra viên. Nếu kiểm sát viên độc lập và không quá sợ cơ quan điều tra, anh ta sẽ không phê chuẩn tạm giam một công dân nếu chứng cứ mà cơ quan điều tra đưa ra không thuyết phục.

Tòa án cũng có khuynh hướng bị lũng đoạn bởi cơ quan điều tra nên cách an toàn nhất trong công tác xét xử của họ là “án tại hồ sơ” và với những vụ phức tạp thì tòa dưới còn tham vấn tòa trên nhằm tránh án bị “cải, sửa” khi phúc thẩm để không “mất điểm thi đua”.

Không phải tự nhiên mà trong suốt nhiều năm ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang kêu oan, VKS lẫn TATC đều im, dù họ không trực tiếp dùng nhục hình bức cung. Vì cả VKS và TA đã “đồng lõa” với cơ quan điều tra ngay từ đầu, đứng chung xuồng ngay từ đầu, nên minh oan cho ông Chấn thì họ sẽ trở thành tội phạm.

Cũng như ông Chấn, 7 bị cáo ở Sóc Trăng được minh oan là vì kẻ thực sự gây án đã ra tự thú. Những người thực sự oan khuất chưa chắc đã nằm trong số được tòa tuyên vô tội. Không ai có thể biết chắc trong số hàng triệu “vụ án đẹp”, trong số hàng triệu bộ hồ sơ án hoàn hảo, hàng triệu bị can nhận tội kia có bao nhiêu thực sự oan sai. Những kẻ gây án thực sự đang ở trong tù hay vẫn ở ngoài vòng pháp luật.

Quyền Lực Tuyệt Đối

Trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, thật khó để nhận ra quyền lực cao nhất đang nằm ở đâu. Nhưng rõ ràng không có cơ quan nào có những quyền đáng sợ như Bộ Công an đang nắm.

Trong vụ án Năm Cam và những vụ án tướng Thành sử dụng tay chân ở Tiền Giang, người dân chỉ biết câu chuyện một băng đảng xã hội đen bị đánh tan. Ít ai biết sự lộng quyền của tướng Thành, biết cái cách thức ông ta khống chế TA và VKS không khác gì Năm Cam cả.

Vì tướng Thành đã trở thành “anh hùng của nhân dân”, trở thành “thần tượng của số đông”, nên người ta đã không tống giam ông cho dù những điều tra viên Tiền Giang bắt bớ, chia chác theo lệnh ông đều đã phải vào tù hoặc vào nhà thương điên để tránh vành móng ngựa.

Không tính thứ bậc trong Đảng, TA, VKS không dễ dàng độc lập trước một Bộ có trong tay quá nhiều công cụ. “Quyền lực có khuynh hướng tha hóa, quyền lực tuyệt đối thì tha hóa tuyệt đối” (Lord Acton). Không chỉ trong hệ thống tư pháp, không có nhà nước nào nuôi dưỡng nguy cơ chính trị bằng cách tạo ra một siêu bộ nếu không muốn các chính trị gia trở thành con tin của bộ ấy.

Chưa kể sự khuynh loát của quyền lực, không ai có thể một lúc hoàn thành quá nhiều chức năng. Vậy nhưng, Bộ Công an hiện nay đang nắm trong tay vai trò điều tra, cảnh sát và cả an ninh, tình báo.

Tình báo phải là một cơ quan độc lập và chỉ nhắm vào kẻ thù bên ngoài chứ không phải nhắm cả vào bên trong (Có thể có an ninh nội địa nhưng đến khi có một nhà nước thực sự của dân thì không cần cơ quan an ninh kiểu như hiện nay). Và, ngay trong vai trò cảnh sát thì cũng nên tách ra: Cảnh sát quốc gia và cảnh sát địa phương.

Cảnh sát địa phương phải thuộc thẩm quyền của các địa phương; quy mô và phương thức hoạt động tùy từng nơi mà tổ chức khác nhau. Không nhất thiết một huyện ngoại thành cũng có cảnh sát như một huyện ở vùng nông thôn. Những thành phố quá an ninh chỉ cần có vài ba trăm cảnh sát cho vui thay vì cũng nhiều tướng tá như nơi đầy trộm cướp.

Cảnh sát giao thông nên là một lực lượng riêng. Nếu cơ quan điều tra không cùng một mẹ với cảnh sát giao thông thì chắc sẽ mạnh tay hơn với nạn mãi lộ mà không sợ ngành tai tiếng.

Cảnh sát quốc gia thiết lập trật tự và sự thống nhất trên toàn quốc ở những vấn đề cảnh sát địa phương không với tới và nắm những lực lượng như cảnh sát cơ động, cảnh sát chống bạo động. Cảnh sát địa phương đảm trách vai trò giữ gìn trật tự và điều tra những án thuộc về trị an như cướp giật, trộm cắp, kể cả những vụ giết người thuần hình sự xảy ra trên địa bàn.

Nên lập cơ quan điều tra quốc gia để điều tra những vụ án có yếu tố băng đảng, những vụ tham nhũng và những vụ liên quan đến trách nhiệm thi hành công vụ.

Tòa Ba Cấp

Nên thiết lập hệ thống tòa án theo ba cấp xét xử: sơ thẩm, phúc thẩm và tòa phá án. Không tòa nào là cấp trên của tòa nào; các cấp xét xử chỉ tuân theo pháp luật. Không thể để chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp ủy, “nằm trên tòa án”. Các ứng cử viên thẩm phán phải chủ yếu nằm trong số các luật sư giỏi và uy tín nhất.

Tòa nên xét xử bằng tranh tụng: công tố buộc tội; luật sư bào chữa; hội thẩm nhân dân quyết định có tội hay không; thẩm phán lượng hình nếu hội thẩm nhân dân tuyên có tội. Với thủ tục này, mỗi phiên sơ thẩm chỉ cần một thẩm phán và 5-7 hội thẩm viên. Để đảm bảo khách quan, thẩm phán có thể không cần đọc trước hồ sơ, riêng hội thẩm thì không được đọc trước hồ sơ vụ án.

Vấn đề băn khoăn nhất là luật sư. Tuy nhiên ngay cả với bị cáo không có tiền “chạy” và thuê luật sư giỏi thì tình trạng pháp lý cũng không thể xấu hơn với cách tiến hành tố tụng hiện nay. Chỉ cần yêu cầu mỗi luật sư hàng tháng phải tham gia bào chữa miễn phí một số vụ theo chỉ định của tòa. Chỉ cần cho xã hội dân sự phát triển sẽ có nhiều luật sư tình nguyện bào chữa cho người nghèo và sẽ có nhiều tổ chức hỗ trợ pháp lý cho người nghèo.

Nhà nước cũng có thể dùng một ngân khoản để trả cho luật sư trong trường hợp đặc biệt. Đây là khoản chi cho công lý chứ không phải đơn giản cho bị cáo.

Đừng sợ mất vai trò của Đảng. Một đảng tốt là một đảng đảm bảo có một hệ thống tư pháp có thể cung cấp công lý chứ không phải là một đảng.Đ. khi muốn thì thọc tay vào vụ án. Các tướng lĩnh cũng không nên cố công bảo vệ đặc quyền cho công an. Quan nhất thời. Hãy nhìn gương tướng Quắc, tướng Trần Văn Thanh. Rất có thể có ngày quý vị trở thành nạn nhân của hệ thống tư pháp mà quý vị đang thiết kế.

H.Đ.

Nguồn: Facebook Truong Huy San

40 năm sau khi Sài Gòn sụp đổ, hòa giải dân tộc vẫn còn xa vời

40 năm sau khi Sài Gòn sụp đổ, hòa giải dân tộc vẫn còn xa vời

Asahi Shimbun

Tác giả: NAOJI SHIBATA

Người dịch: Trần Văn Minh

25-05-2015

Thành phố Hồ Chí Minh – Những hình ảnh về chiến tranh Việt Nam vẫn còn sống động trong ký ức của một giáo sư 54 tuổi, đang giảng dạy tại một trường đại học tư ở thủ phủ miền nam này.

Một người lính bị bắn và ngã xuống đất trước nhà của bà. Một vụ nổ trên đường phố, thổi tung các bộ phận cơ thể con người và làm cho đám đông chạy tứ tán. Sau đó lệnh đầu hàng được công bố.

Chiến tranh kết thúc ngày 30 tháng 5 năm 1975, với một chiếc xe tăng Bắc Việt tiến vào Dinh Độc Lập của miền Nam Việt Nam. Sự sụp đổ của Sài Gòn 40 năm trước đây được chính quyền miền Bắc gọi là “giải phóng” hoặc thống nhất Việt Nam.

Vị giáo sư, người viết blog về những gì mà nhà nước không muốn nghe, nói với tôi vào cuối cuộc phỏng vấn, rằng bà muốn giữ kín danh tính. Bà nói rằng bà không muốn có bất kỳ rắc rối nào đến với gia đình hay nơi làm việc của bà.

Quốc kỳ đỏ và cờ đỏ của Đảng Cộng sản Việt Nam được thấy tung bay tại rất nhiều góc đường của thành phố. Lá cờ đỏ cũng được cài theo tất cả các xe tắc xi. Tất cả biểu ngữ này đang tạo bầu không khí cho sự kiện đáng nhớ đánh dấu kỷ niệm lần thứ 40.

“Tôi chưa bao giờ giăng lá cờ đỏ tại nhà của tôi trong 40 năm qua”, vị giáo sư nói với một giọng thấp nhẹ khi tôi sửa soạn rời khỏi. “Tôi chỉ giả vờ như không để ý”.

Chắc hẳn bà phải có can đảm để không làm như thế ở đất nước này.

Dân chúng chưa đồng lòng

Mặc dù Sài Gòn đã được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh sau khi chiến tranh chấm dứt, tên cũ của thủ đô Nam Việt Nam vẫn còn tồn tại ở nơi cách [Sài Gòn] 13.000 cây số về phía đông.

Little Saigon, thường được biết đến như một địa hạt ở quận Cam, California, là nơi có cộng đồng người Việt lớn nhất ở nước ngoài, nơi có gần 200.000 người Việt.

Nhiều biển báo trong khu vực được viết bằng tiếng Việt. Một bảng hiệu ở lối vào khu vực ghi: “Chào mừng bạn đến Little Saigon”. Lá cờ vàng ba sọc đỏ, lá quốc kỳ của Nam Việt Nam, được thấy bay phất phới đây đó.

Tôi gặp một nhân viên cao cấp của một công ty của người Việt ở trung tâm khu vực. Người đàn bà 59 tuổi là em gái của vị giáo sư.

Bà cho biết bà đã chạy khỏi Sài Gòn vào ngày Sài Gòn sụp đổ và bị quân đội Mỹ bắt giữ. Cuộc sống thật khó khăn cho các thành viên của gia đình bà còn lại ở Việt Nam vì cha bà làm việc cho chính quyền miền Nam. Bà đã lần lượt mang sáu người em trai và em gái của bà, ngoại trừ vị giáo sư, đến Hoa Kỳ.

Bà làm việc cho một công ty Mỹ sau khi tốt nghiệp cao học. Bà đã đổi việc để làm việc cho người chủ hiện nay, mặc dù với điều kiện kém thuận lợi hơn, bởi vì bà muốn gắn bó với quê hương của mình.

Nhiều người Việt lưu vong có lẽ cùng chia sẻ quan điểm với hai chị em.

Người chị nói: “Họ nói thống nhất. Hệ thống chính trị đã được thống nhất, nhưng mọi người thì không – cho đến bây giờ. Lý tưởng của chủ nghĩa xã hội ở đâu? Tham nhũng và cách biệt kinh tế đang trở nên tệ hơn nhiều so với 40 năm trước đây. Chính phủ Nam Việt Nam cũng tham nhũng, nhưng ít nhất các phương tiện truyền thông có thể chỉ trích điều đó. Nhưng bây giờ không có tự do báo chí để chỉ trích nạn tham nhũng”.

Cách Little Saigon hai tiếng lái xe, cảng San Diego bên bờ Thái Bình Dương là nơi đặt hàng không mẫu hạm USS Midway. Được đóng từ thời Đệ Nhị Thế chiến và ngưng hoạt động vào năm 1992, tàu đã được chuyển đổi thành viện bảo tàng và mở cửa cho công chúng vào xem.

Máy bay chiến đấu và trực thăng quân sự được trưng bày trên boong tàu. Máy bay cùng loại cũng được trưng bày tại Bảo tàng Chứng tích chiến tranh ở thành phố Hồ Chí Minh. Nếu các máy bay trên hàng không mẫu hạm tượng trưng cho cuộc chiến tranh mà Hoa Kỳ đã chiến đấu cho tự do, máy bay ở viện bảo tàng được trưng bày như chiến lợi phẩm của một cuộc chiến tranh mà trong đó chủ nghĩa đế quốc đã bị đánh bại.

Một người cháu của Dương M. Nguyễn, Giám đốc điều hành của công ty DS Fibertech Corp, một nhà sản xuất máy móc chuẩn xác ở San Diego, ví tàu USS Midway như chiếc “Mayflower” của gia đình.

Ông Nguyễn, 70 tuổi, từng là một phi công trực thăng quân sự của miền Nam. Ông và gia đình rời Việt Nam một ngày trước khi Sài Gòn thất thủ. Gia đình ông so sánh hàng không mẫu hạm với con tàu đã đưa dân hành hương từ Anh đến Mỹ trong thế kỷ 17 bởi vì ông Nguyễn đến Hoa Kỳ sau khi tàu Midway, khi đó đang đậu ngoài khơi Sài Gòn, đã cứu ông.

Ông Nguyễn là một trong những người thành công nhất trong số khoảng 1,7 triệu người Việt sang định cư ở Hoa Kỳ. Ông bắt đầu làm việc với mức lương tối thiểu 2 USD một giờ. Hiện nay, ông có 75 nhân viên đồng hương của ông làm việc trong một công ty với doanh số 10 triệu USD hàng năm.

Nhiều người Việt Nam tha hương đã về thăm quê hương kể từ thập niên 1990, nhưng ông Nguyễn vẫn chưa lần nào đặt chân lên đất nước xuất thân của mình.

Ông nói, “Chúng tôi không muốn trở lại và chứng tỏ rằng chúng tôi là công dân Mỹ gốc Việt, là những người có đủ tiền để tận hưởng một kỳ nghỉ sang trọng trong khi có rất nhiều người Việt vẫn còn rất nghèo. Tốt hơn chúng tôi nên tiết kiệm tiền để giúp đỡ người nghèo, đặc biệt là các cựu chiến binh tàn phế ở Việt Nam”.

Vết thương cũ vẫn còn đau

Tôi đã đến thăm Văn Lê, một nhà làm phim kiêm nhà văn nổi tiếng với phim tài liệu chiến tranh của ông tại thành phố Hồ Chí Minh. Tôi hỏi một cựu chiến binh và cựu phóng viên Bắc Việt 66 tuổi những gì ông nhớ về ngày Sài Gòn sụp đổ.

“Trái tim tôi tràn đầy niềm vui từ ý nghĩ rằng chúng tôi không phải chiến đấu nữa, và về nỗi đau buồn thực sự là có quá nhiều người đã bị chết”, ông Lê nói thêm rằng chỉ có năm người sống sót trong số 300 người thuộc đơn vị của ông.

Nhà làm phim đã có những lời cay đắng nói về người Việt ở nước ngoài.

“Họ không tham gia vào xây dựng đất nước, và dù vậy họ nói xấu chúng tôi từ bên ngoài”, ông nói.

Không ít người có cảm xúc lẫn lộn về cuộc sống giàu có ở nước ngoài của những người chạy khỏi Việt Nam sau thất bại trong chiến tranh.

Tất cả những người tôi gặp ở Hoa Kỳ và Việt Nam đã có một quá khứ đầy ác mộng, mà chỉ có thể để cho lịch sử phán xét. Họ có những quan điểm khác nhau, nhưng họ đã chia sẻ một sự hiểu biết rằng bốn thập niên sau chiến tranh vẫn chưa mang lại hòa giải dân tộc. Chiến tranh Việt Nam cũng là một cuộc nội chiến, đã đẩy nhóm này chống lại nhóm kia trong một quốc gia với mục đích giết hại lẫn nhau.

Các bãi chiến trường đã trở thành các khu chợ, nhưng vết thương cũ vẫn còn đau. Là một sinh viên, cảm thông cho sự xung đột của người Việt Nam để giải phóng dân tộc, tôi thấy thương tiếc cho tình hình hiện nay của đất nước này.

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, nhà lãnh đạo mà sau đó tên ông được đặt cho thành phố Sài Gòn nói.

Độc lập đã đạt được. Nhưng tự do cho công chúng vẫn còn hạn chế, và con đường đi đến dân chủ có vẻ xa vời hơn bao giờ hết.

Một tai nạn trên Biển Đông có thể khơi mào chiến tranh Mỹ-Trung’

Một tai nạn trên Biển Đông có thể khơi mào chiến tranh Mỹ-Trung’

Máy bay chiến đấu F/A 18 của Hải quân Mỹ cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz ở Biển Đông.

Máy bay chiến đấu F/A 18 của Hải quân Mỹ cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz ở Biển Đông.

27.05.2015

Một chuyên gia về chính sách từng giảng dạy tại Đại học Yale của Hoa Kỳ cảnh báo một ‘tai nạn’ ở Biển Đông có thể dẫn tới chiến tranh Mỹ-Trung, và nguy cơ xung đột xảy ra giữa hai cường quốc này hiện nay cao hơn bất kỳ thời điểm nào trong 20 năm qua.

Trong một bài viết cho tờ The Commentator, Giáo sư Michael Auslin, từng giảng dạy môn Lịch sử tại trường Đại học Yale, nêu ra 3 tình huống mà ông nói có thể dẫn tới xung đột.

Tình huống thứ nhất, theo ông Auslin là một tai nạn máy bay đâm va vào nhau trên không phận Biển Đông, tương tự như vụ một chiến đấu cơ Trung Quốc và một phi cơ trinh sát của Hải quân Mỹ đụng nhau ngoài khơi đảo Hải Nam, gây ra một vụ tranh cãi quốc tế.

Giáo sư Auslin nói rằng trong bối cảnh Hải quân Mỹ đang xem xét tới việc điều tàu chiến tới phạm vi 12 hải lý cách các đảo nhân tạo do Trung Quốc xây dựng trong Biển Đông, và như thế tiến vào vùng biển mà giờ Trung Quốc tuyên bố là thuộc lãnh thổ có chủ quyền của họ, thì khó có thể tránh khỏi những hành động quấy nhiễu của các tàu Trung Quốc đối với các tàu Mỹ, có nguy cơ dẫn tới một tai nạn tàu va vào nhau, kéo theo phản ứng của cả hai bên.

Ông Auslin nói đó là điều mà Trung Quốc đã làm với tàu bè của các nước khác, và một tai nạn có thể dẫn hai nước tới chỗ đối đầu với nhau.

Giáo sư Auslin nói tình huống này rất dễ xảy ra, một khi Trung Quốc hoàn tất việc xây các phi đạo trên các quần đảo trong Biển Đông, tạo điều kiện cho các chiến đấu cơ tuần tra trong không phận của các đảo này.

Tình huống thứ nhì, theo Giáo sư Auslin, là Trung Quốc có thể cố tình tạo điều kiện cho một vụ đối đầu bằng cách chỉ thị cho máy bay của họ đeo sát máy bay của Mỹ, với hy vọng sẽ tăng nguy cơ xảy ra xung đột để buộc chính phủ của Tổng Thống Obama nhượng bộ, trong bối cảnh Hoa Kỳ còn đang phải ứng phó với nhiều thách thức ở Trung Đông và với Nga ở Châu Âu.

Tình huống thứ ba là nếu Trung Quốc chận đầu các máy bay của các nước đồng minh của Mỹ như Philippines chẳng hạn. Washington lúc đó có thể can thiệp một cách chính đáng, viện lẽ Mỹ có nghĩa vụ bảo vệ luật pháp quốc tế.

Giáo sư Auslin nhận định trong khi không có một cơ chế nào để giải toả căng thẳng, và trong bối cảnh giữa hai nước hiện thiếu sự tin tưởng lẫn nhau, và khả năng quân sự của Trung Quốc đang được tăng cường, thì càng ngày càng có nhiều rủi ro hơn đối với Hoa Kỳ trong việc đối đầu với tham vọng bành trướng của Trung Quốc.

Ông Auslin kết luận rằng trong 20 năm qua, chưa có lúc nào mà nguy cơ xảy ra xung đột giữa hai nước lớn này lại cao đến mức này.

Nguồn: WSJ, CNN, Defensenews

Hạnh Phúc Gia Đình

Hạnh Phúc Gia Đình

Giuse Thẩm Nguyễn

Gia đình là cơ cầu nền tảng của Giáo Hội và xã hội, vì thế gia đình có một vị trí rất quan trọng trong việc đào luyện và cung cấp cho Giáo Hội và xã hội những thành viên ưu tú trong tương lai.

Ý niệm về gia đình đã bị bóp méo khi mà có sự cho phép hôn nhân giữa hai người cùng phái. Danh từ vợ chồng thân thương đã bị thay thế bằng bên A và bên B trong một hợp đồng sống chung. Gia đình kiểu này không đáp ứng mục đích của gia đình lúc ban đầu là ” hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất…”(ST 1,28). Hai anh đực hay hai chị cái sống với nhau như vợ chồng thì làm sao có con được, có chăng là sự vay mượn, lấp liếm điền vào chỗ trống qua việc nhận con nuôi… mong thỏa mãn nỗi khát khao được làm cha mẹ.

Đó là cái nhìn về gia đình hiện nay mà xã hội chúng ta phải đối diện. Nhưng trong phạm vi chia sẻ cảm nghĩ về gia đình, tôi xin thu hẹp cái nhìn của mình vào gia đình, một gia đình Công Giáo mà thôi.

Tôi đã có dịp tham gia các cuộc hội thảo về gia đình. Buổi hội thảo nào cũng rất hay, cũng hữu ích cho các cặp hôn nhân. Các diễn giả trình bày về tâm lý người nam, tâm lý người nữ, cách giáo dục con cái, nhưng tôi có cảm tưởng là họ thiếu tâm lý Giê-su. Khoa tâm lý chỉ đưa ra cách giải quyết cái ngọn trong khi cội nguồn của hạnh phúc là chính Đấng Tạo Hóa thì bị quên lãng. Người ta chỉ có thể đem áp dụng kiến thức hôn nhân gia đình khi chúng ta có tình yêu nơi Chúa Giê-su. Vì Chúa là tình yêu, cho nên ta không yêu Chúa là Đấng Tạo Hóa thì ta không có khả năng yêu con người, một thụ tạo bằng tình yêu chân thật được. Do vậy mà tham gia hội thảo hoài, học hỏi mãi mà gia đình vẫn không có hạnh phúc?

Có lẽ những lý thuyết về tâm sinh lý, cách cư xử, điều nên làm, việc cần tránh… để có hạnh phúc thì ai cũng biết, nhưng từ cái biết, cái kiến thức đến việc thực hành có vẻ như rất xa. Các nhà tâm lý có câu “Con đường dài nhất của thế giới là con đường 18 inches từ cái đầu đến trái tim của bạn” hay là “ Khả năng biến đổi từ sự hiểu biết đến hành động là một quá trình vô cùng khó khan”. Vâng quả là khó khăn lắm đến nỗi có chuyện ngược đời là một nhà tâm lý kia khi thao thao thuyết giảng về cách bảo vệ hạnh phúc gia đình thì ông ta đang chờ ngày ra tòa ly dị vợ mình.!

Thật ra chúng ta chỉ có khả năng biến đổi, nhất là biến đổi mình để được yêu thương hơn, hạnh phúc hơn nơi Chúa Giê-su.

Là người Công Giáo, chúng ta biết rằng Giáo Hội khuyên chúng ta học hỏi và noi gương mẫu của gia đình Narazeth. Trong các lễ cưới, cha chủ tế thường hay lấy hình ảnh Thánh Gia làm khuôn mẫu cho đôi tân hôn. Vậy gia đình Thánh Giuse, Mẹ Maria, Chúa Giê-su có những bí quyết gì để chúng ta học hỏi.

Trong thời Thánh Giuse chắc là chưa có các nhà chuyên môn về tâm sinh lý, chưa có các chuyên viên về gia đình, chưa có sách học bí quyết sống hạnh phúc gia đình. Vậy thì trong hoàn cảnh đó gia đình Narazeth, tôi nghĩ sẽ không rành về tâm sinh lý, sẽ không đọc sách dạy khôn chuyện gia đình, sẽ không tham gia hội thảo như bây giờ.

Bởi đâu mà gia đình Thánh Gia hạnh phúc và nêu gương mẫu cho chúng ta. Trả lời của tôi cho câu hỏi này không biết đến từ đâu, có thể từ Kinh Thánh, từ lời dạy của Giáo Hội, từ những kinh nghiệm thực tế của cuộc sống? Nhưng tôi cảm nhận được rằng:

Gia đình Thánh Gia hạnh phúc vì có Chúa Giê-su hiện diện. Chính Chúa là nguồn yêu thương, chính Chúa là cội rễ của mọi nguồn an vui hạnh phúc. Chúng ta không tìm được hạnh phúc nơi gia đình vì gia đình mình vắng bóng Chúa Giê-su.

Vì không có Chúa nên gia đình luôn bất an tựa như con thuyền mong manh tròng trành, nhấp nhô giữa sóng đời. Tính ích kỷ, thói ghen tuông, lòng tham lam đố kỵ làm rạn nứt mối quan hệ gia đình. Sự thiếu cảm thông, thiếu hy sinh, thiếu quan tâm, thiếu tôn trọng đào sâu thêm những rạn nứt càng ngày càng trầm trọng hơn và hậu quả tất yếu là gia đình thành bãi chiến trường: những cuộc khẩu chiến, những thắng, thua, hơn, thiệt, chán nản, ngoại tình, hận thù và tan vỡ.

Khi chúng ta dọn đến một căn nhà mới, người Công Giáo thường mời linh mục đến làm phép nhà rồi sau đó là tiệc mừng. Nhưng làm phép nhà để làm gì? Phải chăng làm phép nhà là mời Chúa vào ở với mình? Khi có Chúa hiện diện, chúng ta sẽ dễ dàng nhìn nhau bằng ánh mắt yêu thương, sẽ ngọt ngào trong cách cư xử, sẽ nhận ra nhu cầu của người khác, sẽ biết cho đi hơn là nhận. Không những chúng ta cần Chúa hiện diện trong căn nhà mình đang sống (house), mà chúng ta cũng cần Chúa hiện diện nơi gia đình (home), nơi tâm hồn của mỗi thành viên trong gia đình. Ý thức về sự hiện diện của Chúa giúp chúng ta rất nhiều trong việc biến đổi cách sống mỗi ngày.

Gia đình Thánh Gia hạnh phúc vì có một gia trưởng là Thánh Giuse, một người công chính. Người công chính là người luôn trung thành thờ phượng Thiên Chúa, luôn tìm kiếm và thực thi theo ý muốn của Thiên Chúa. Khi biết mẹ Maria có thai, không phải là con của mình, Thánh Giuse không điên tiết, ghen tuông, hành động cục cằn thô lỗ, mà ngài âm thầm tìm hiểu sự thật qua cầu nguyện, lắng nghe ý Chúa. Ngài nghĩ tốt về Mẹ Maria, về người bạn trăm năm của mình. Khi được Thiên Thần báo mộng, Thánh Giuse chấp nhận và làm theo ý Chúa. Ngài làm thợ mộc để nuôi vợ là Maria và con là Chúa Giê-su. Ngài kiếm tiền bằng sức lao động của mình và dạy con bằng chính đời sống của mình.

Gia đình Thánh Gia hạnh phúc vì có người vợ, người mẹ dịu hiền và khiêm nhường là Mẹ Maria, một phụ nữ được Thiên Chúa chúc phúc. Mẹ Maria là một người mẹ can đảm,sẵn sàng chấp nhận hy sinh và thi hành ý muốn của Thiên Chúa. Mẹ Maria phục tùng chồng là Thánh Giuse và cậy dựa vào sự bao bọc của chồng. Nơi Mẹ toát ra sư yêu thương ngọt ngào làm cho Thánh Giuse quên hết sự vất vả lao động hằng ngày. Mẹ không than trách, không nhiều lời trước những biến cố trong gia đình.. Mẹ giữ lấy trong lòng những biến cố buồn vui ấy và gói ghém như món quà dâng lên Chúa.

Trong phúc âm, Chúa Giê-su đã nhiều lần nhắc đến việc Ngài đến thế gian để làm theo ý Chúa Cha. “vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 6,38).Trong hôn nhân, Thánh Giuse cũng luôn tìm hiểu và làm theo ý Chúa. Mẹ Maria cũng luôn chấp nhận và làm theo ý Chúa. Trong cuộc sống gia đình, để có được hạnh phúc chúng ta cũng phải tìm kiếm, chấp nhận và làm theo ý Chúa như trong Kinh Lạy Cha “Xin cho ý­­ Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Làm theo ý Chúa thì sẽ đẹp ý chồng, trong ý vợ, được ý con.

Quả thật, Giáo Hội đã rất khôn ngoan khi dạy con cái mình noi theo gương mẫu Thánh Gia để xây dựng hạnh phúc gia đình. Thiên Chúa là cha yêu thương sẽ ban cho chúng ta mái gia đình hạnh phúc nếu chúng ta biết mở lòng đón Chúa ngự vào. Người làm chồng hãy sống như Giuse, người làm vợ hãy sống như Mẹ Maria, người làm con hãy sống như Chúa Giê-su. Hạnh phúc gia đình nằm trong tầm tay, chúng ta chỉ cần giơ tay đón lấy.

Lạy Thánh Gia xin nâng đỡ và bảo vệ hạnh phúc gia đình chúng con. Amen

THIÊN ĐÀNG Ở ĐÂU?

THIÊN ĐÀNG Ở ĐÂU?

Đỗ Trân Duy

Đối với Kitô hữu, có lẽ ai cũng nghĩ rằng mình biết Thiên đàng ở đâu, dĩ nhiên là ở trên trời. Tin như vậy là đủ, chẳng ai cắc cớ thắc mắc thiên đàng ở chỗ nào trên trời. Vả lại ai có thẩm quyền trả lời cho một thực thể siêu hình đó. Cuối cùng chỉ những tay vô thần sừng sỏ nêu ra vấn đề này với thâm ý bắt bí tín lý Thiên Chúa giáo. Vấn đề xem ra không đơn giản, vì gần đây chính một số nhà tư tưởng Công Giáo cũng nói về “nơi chốn” của thiên đàng. Vậy chúng ta phải hiểu về chốn thiên đàng như thế nào? Bài viết này không dám trả lời cho vấn đề lớn đó. Đây chỉ là một chú giải nhỏ, phụ theo lời giảng của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mà thôi.

Thiên đàng hiểu theo truyền thống

Thiên đàng, theo đức tin truyền thống Việt Nam, là một nơi chốn cụ thể và được đồng hóa với cõi trời. Trong kinh “Lạy Cha” câu mở đầu nói rõ: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”.  Rồi những khóm từ như “Đức Mẹ lên trời”, “lễ Thăng Thiên”, “hoan hô Chúa trên các tầng trời”… tất cả đều xác định thiên đàng là cõi trời. Trong những truyền thống đức tin khác, như của Âu Mỹ, họ không dùng chữ “trời” mà dùng danh xưng “heaven” (thiên đàng). Cũng trong kinh “Lạy Cha”, câu mở đầu là “Our Father who art in heaven.” Theo tiếng Hebrew, heaven có nghĩa là “trên cao” (Catholic Encyclopedia). Tuy heaven không xác định là ở trên trời, nhưng vẫn được hiểu ngầm như vậy. Trong thánh kinh có rất nhiều trình thuật gợi ý như “Hãy nhìn lên thiên đàng mà xem các tầng mây cao hơn ông biết mấy!” (Yob 35:5). Thánh Stêphanô nói, “Này tôi thấy các tầng trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa” (CV 7:56). Thánh Gioan miêu tả cảnh phục sinh: “Rồi các ngài nghe một tiếng lớn từ thiên đàng: ‘Hãy lên đây’, và các ngài lên thiên đàng trong đám mây, trước mặt thù địch của các ngài” (KH 11:12). Sách Tông đồ công vụ miêu tả rõ hơn, “Khi Chúa Giêsu được đưa lên cao, các môn đệ nhìn theo Chúa cho đến khi một đám mây che kín mất Ngài” (CV 1:9).
Nếu chúng ta đi tìm lời nói của Đức Giêsu về vấn đề này, chúng ta không thấy có chỗ nào Người nói thiên đàng ở trên trời. Đức Giêsu cũng không đồng hóa Thiên Chúa với thiên đàng (hay trời). Lời cầu nguyện của vua Salômôn chứng tỏ người xưa cũng ý thức như vậy: “Có thật Thiên Chúa cư ngụ dưới đất chăng? Này, trời cao thăm thẳm còn không chứa nổi Ngài, huống chi ngôi nhà con đã xây đây!” (1 Vua 8:27)

Đại chúng cho rằng có thể suy diễn vấn đề trên qua nguyên tắc: thiên đàng là nơi Thiên Chúa ngự, vậy nếu biết Thiên Chúa ở đâu, ta sẽ biết thiên đàng ở đâu. Người ta cũng đã tưởng rằng chỉ có ba câu trả lời cho vấn đề ấy. Thứ nhất, thuở xưa người ta tin Thiên Chúa tạo ra vũ trụ nhưng Chúa là Đấng siêu việt vượt trên vật chất, nên không đồng hóa với vũ trụ. Thiên Chúa ở ngoài vũ trụ. Đến thế kỷ 18, con người khám phá ra vũ trụ vô cùng lớn, lớn đến mức dù ta có di chuyển với tốc độ ánh sáng, qua hằng ngàn năm, cũng chưa tới biên giới của nó. Con người không chấp nhận nổi có chỗ nào gọi là bên trên hay bên ngoài vũ trụ. Vả lại nếu Thiên Chúa ở bên ngoài vũ trụ, vậy vũ trụ càng lớn, Chúa lại càng ở rất xa con người. Làm sao con người có thể gần Thiên Chúa để cầu nguyện.

Câu trả lời thứ hai, người ta đặt Thiên Chúa vào bên trong vũ trụ. Do đó mà có niềm tin thiên đàng ở trên trời, tức là ở bên trong vũ trụ. Nhờ thế mà con người có thể gần với Thiên Chúa. Quan niệm này cũng không ổn, vì nếu ở trong vũ trụ Thiên Chúa phải là một sinh thể của vũ trụ. Có lý nào Thiên Chúa là một phần của vũ trụ mà vũ trụ ấy lại do chính Ngài tạo ra. Những niềm tin sơ thuần cho rằng Thiên Chúa ở bên ngoài hay bên trong vũ trụ đều đẩy trí thức đến ngõ bí vì kết quả vô lý của suy luận.

Câu trả lời thứ ba dựa vào tín lý. Trong lãnh vực này, chúng ta thấy có hai phe. Phe thứ nhất, đại diện là Joseph Campbell, tin rằng con người không thể nào biết được Thiên Chúa là ai. Vì vậy không nên đặt vấn đề sự hiện hữu của Thiên Chúa. Thánh kinh cũng nói: “Thiên Chúa vượt xa hơn và vượt trên tất cả những gì chúng ta có thể tưởng nghĩ về Ngài” (GLCG 2794). Thần học gia Paul Tillich phủ nhận lối diễn tả “hiện hữu của Thiên Chúa”. Ông cho rằng nói như vậy chúng ta đã mặc nhiên cho Thiên Chúa là một phần thực thể của thiên nhiên. Bởi vì “hiện hữu” có nghĩa là đang có và đang biệt lập đứng lơ lửng ở đâu đó ngoài mặt đất. Ông đổi ý niệm “hiện hữu” (exist) bằng ý niệm Thiên Chúa “thường hằng” (God is). Nhóm thứ hai cho rằng Thiên Chúa mang bản chất pantheism, nghĩa là mọi thứ đều ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở khắp mọi nơi (omnipresence) vì Ngài là Đấng vô hạn (immensity) (Council of Lateran, c. “Firmiter”; Vatican Council, Sess. III, c. 1.).  Như vậy vũ trụ ở trong Thiên Chúa. Tóm lại, như chúng ta thấy, với những nhận định trên, câu trả lời về “thiên đàng ở đâu” vẫn còn bỏ ngỏ.

Điểm thời sự không thể tránh

Trong buổi cầu nguyện với quần chúng ngày 21 tháng 7 năm 1999, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tạo nên vấn đề thời sự. Ngài nói: “Thiên đàng là một trạng thái sống (state of being) chứ không phải là một nơi chốn (place) theo nhận thức của ngôn ngữ loài người.”  Giáo hoàng nói rõ thêm,“Thiên đàng không phải là một khái niệm trừu tượng hay là một địa điểm cụ thể trong những cụm mây, nhưng là một lối sống, là mối quan hệ giữa cá nhân với Thiên Chúa Ba Ngôi. Đó là cuộc gặp gỡ Chúa Cha, diễn ra trong Chúa Kitô phục sinh, và hiệp thông với Chúa Thánh Thần.” (1) Đối với giới truyền thông ngoài Công Giáo, lời tuyên bố này quá bất ngờ vì đi ra ngoài nhận định về thiên đàng của truyền thống.

Mười một năm sau, 2010, dưới triều Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, Tòa Thánh cho phát hành cuốn YOUCAT (Youth Catechism – Giáo Lý Công Giáo cho Giới trẻ). Trong tập sách này, hiện thực của thiên đàng được lập lại và chính thức đưa vào mục giáo lý. Theo đó thiên đàng không phải là một nơi chốn mà là một trạng thái sống (a kind of life) trong ý thức về Thiên Chúa hiện diện. Sự hiện diện này không lệ thuộc vào không gian và thời gian (không-thời gian). (2) Như vậy cả hai đức Giáo Hoàng, những vị có thẩm quyền tông truyền, đều quan niệm về “nơi chốn” thiên đàng như nhau.

Sự tiếp nhận

Ngay sau khi Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phát biểu, không ít người sửng sốt và phản đối. Có người dè dặt cho rằng, “Có lẽ Giáo hoàng có một mạc khải tư nào đó về thiên đàng chăng.” Đa số tín hữu vướng mắc trong  những sự kiện như: Đức Mẹ hồn xác lên thiên đàng (trời), hay: đến ngày tận thế xác chết sống lại, kẻ lành lên thiên đàng… Họ cho rằng vì thể xác là vật chất, nếu không có nơi chốn thì thể xác sẽ tồn tại ở đâu. Ngoài ra những khóm từ gợi hình trong thánh kinh như: mở cửa thiên đàng, tầng trời mở ra, ngự bên hữu Chúa Cha… tất cả đều trình bày theo kinh nghiệm ở trong một nơi chốn.

Mặc dù thánh Phaolô đã giảng thân xác phục sinh là một thân xác thần linh (celestial bodies) không phải là thân xác huyết nhục. (1 Côr 15: 35-44) Thân xác Chúa Giêsu phục sinh là một điển hình. Chúa chợt “xuất hiện” để nói chuyện với hai đệ tử trên đường đến Emmaus, rồi “tan biến” khi tới nơi. Chúa cũng “hiện ra” giữa các môn đệ đang họp trong gian phòng cửa khóa kín, rồi cũng “biến mất” sau khi chúc lành cho họ. Xem thế, thân xác thần linh không cần một nơi chốn cụ thể để trú ngụ. Đa số tín hữu quen trong giới hạn của không gian 4 chiều, nên muốn giới hạn thiên đàng và Thiên Chúa trong không gian 4 chiều. Họ không thể tưởng tượng nổi một thân xác thần linh và một thiên đàng không có nơi chốn. Họ hoang mang đối diện với sự kỳ diệu của thực thể vô không-thời gian mà con người khó diễn tả và trí tưởng tượng phải dừng lại nơi giới hạn của nó.

Đàng khác cũng có rất nhiều người tiếp nhận lời giảng của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II một cách dễ dàng. Họ cho rằng Giáo Hoàng đưa ra một nhận thức thần học đúng, nhưng tạo ra dao động chỉ vì ngài thiếu phần chú giải đi kèm. Nhận xét này rất chính xác. Chúng ta có thể đặt chú giải cho nhận thức đó qua nhận định về bản thể của thân xác hiển linh. Có lẽ không hình ảnh nào cụ thể hơn là bánh và rượu trong thánh lễ. Nếu thân xác Chúa Giêsu bị giới hạn trong thể chất, và trong không-thời gian, làm sao chúng ta có Mình Máu Chúa Giêsu, trong dạng bánh và rượu, hiện diện cùng lúc ở khắp mọi nơi trên thế giới. Bàn về thân xác hiển linh của Đức Mẹ, chúng ta cũng biết Đức mẹ đã hiện ra và biến mất rất nhiều lần. Mỗi lần hiện ra chỉ vài người tuyển chọn mới có diễm phúc chiêm ngưỡng Đức Mẹ. Chẳng hạn lần hiện ra ở Fatima, mặc dù có rất nhiều người đứng tại chỗ Đức Mẹ hiện ra, nhưng chỉ có 3 em nhỏ nhìn thấy Đức Mẹ. Như vậy thân xác Đức Mẹ vừa là hữu hình vừa là vô hình tùy theo liên hệ với từng cá nhân. Nếu xác Đức Mẹ là thể chất vật lý, mọi người đều phải thấy như nhau. Rõ ràng là thân xác phục sinh không bị trói buộc bởi bất cứ một luật lệ vật lý nào. Suy ra mối kết hợp giữa cá nhân và Thiên Chúa (thiên đàng) là một trạng thái sự sống riêng tư, chứ không theo bất cứ luật lệ vật lý nào.

Chân lý bao gồm cả đức tin lẫn kiến thức, nên tín hữu chúng ta buộc phải học hỏi tìm hiểu. Ðó là lý do Thánh Phêrô đã dạy, “Hãy nỗ lực bổ sung đức tin với nhân đức, và bổ sung nhân đức với sự hiểu biết” (2 Phê 1:5). Năm 2000, ký giả vô thần Peter Seewald hỏi Hồng y Ratzinger “Thiên đàng ở đâu?” Hồng y trả lời, “Những từ như ‘mây’ và ‘thiên đàng’ chỉ là cách nói mà con người muốn tìm cho Thiên Chúa có một nơi chốn. Đúng ra cách nói ‘Chúa Giêsu lên thiên đàng’ chỉ có nghĩa là không còn nhìn thấy trên mặt đất chứ không phải không còn hiện diện trên mặt đất.” (3) Bởi vậy vẫn có người tuyển chọn có ơn phước nhìn thấy Chúa Giêsu, chẳng hạn thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, thánh Padre Pio…

Quan điểm thần học

Chúng ta hãy bắt đầu bằng một tín lý quen thuộc và đặt tín lý đó vào một tam đoạn luận đơn giản: Thiên Chúa ở khắp mọi nơi. Thiên đàng là nơi Thiên Chúa ngự. Vậy thiên đàng ở khắp mọi nơi.

Như vậy phải chăng giữa thiên đàng và con người không còn ranh giới? Theo thần học, đoạn lý luận trên vô giá trị, bởi vì đã không thấy thiên đàng là ơn phước. Thiên đàng không phải là kết quả của một điều kiện hay của một định luật vật lý. Mặc dù Thiên Chúa ở khắp mọi nơi nhưng Chúa tỏ lộ vinh quang của Người qua phương cách ơn phước đặc sủng. Theo thần học gia Gerhard Ebeling, “Không phải Thiên Chúa ở đâu, thiên đàng ở đó, mà là thiên đàng ở đâu Thiên Chúa ở đó” (not that God is where heaven is, but rather heaven is where God is). Vì là ơn phúc nên phải có sự kết hợp sống động giữa cá nhân và Thiên Chúa. Cũng không phải ai cũng có mức độ ơn phước giống nhau. Gọi là thiên đàng, hay trời, chỉ là cách biểu đạt bất toàn của ngôn ngữ loài người về trạng thái cá nhân “hiệp thông trong sự sống và tình yêu với Thiên Chúa Ba Ngôi” (GLCG 1024). Nói cách khác, không hề có một thiên đàng tĩnh, tồn tại bất biến ở nơi nào đó trong vũ trụ.

Tình kết hợp giữa cá nhân và Thiên Chúa biểu lộ giáo huấn vô cùng quan trọng về tính tự do của con người. Tính tự do đặt con người ở thế chủ động trước ơn phước của Thiên Chúa. Ta muốn liên kết với Thiên Chúa hay không là tùy ở ta. Bởi vì Thiên Chúa chỉ “hiện diện” ở những nơi đạo đức tốt lành. Thiên Chúa không “hiện diện” ở nơi tội lỗi sa đọa. Đức Giêsu đã nói, “Phúc cho những ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa (Mat. 5:8). Tuy nhiên lại phải hiểu rằng “hiện diện” không nằm trong bất cứ phạm trù nào thuộc không-thời gian. Lm Phan Đình Cho tóm tắt rằng thiên đàng phải hiểu là một ơn phước mà Thiên Chúa dành cho người tốt lành và hoả ngục là một thái độ con người tự do từ chối ơn phước đó. (4)

Vài sự kiện trong hạnh các thánh có thể làm rõ hơn về ý tưởng thiên đàng là một ơn phước của Thiên Chúa.  Các vị thánh cao trọng như Gioan Thánh Giá (John of the Cross), Têrêsa Lisieux, và thánh Têrêsa  Calcutta đã trải qua một khoảng thời “mất ơn phước vì bị Thiên Chúa bỏ rơi”. Thánh Gioan Thánh Giá gọi kinh nghiệm này là “đêm đen của linh hồn”. Thiên Chúa cố tình không “đến” với họ khiến tâm hồn họ lạc lõng, trống rỗng, tối đen và đau khổ. Thiên Chúa dành riêng cho một số vị đặc sủng ơn thử thách “đêm đen” này. (5) Nhưng đây là một chủ đề khác, chúng ta không muốn đi ra ngoài chủ đề hôm nay.

Trở lại với tín lý “Thiên Chúa ở khắp mọi nơi”. Thần học dạy rằng chúng ta phải thấy tín lý đó theo hướng nhìn về ơn sáng tạo và ơn cứu độ phổ quát. Thiên Chúa ở khắp mọi nơi có nghĩa Thiên Chúa nâng đỡ sự hiện hữu của vũ trụ. Bởi vì duy chỉ có Thiên Chúa là Hữu. Không gì có trước Hữu, nên Thiên Chúa là Đấng tự Hữu, Hữu Tuyệt Đối. Thiên Chúa đã tạo dựng nên vũ trụ từ hư vô. Nghĩa là mọi vật từ hư vô nhờ Hữu, qua Hữu mà được thành hữu thể. Vì từ Hữu mà ra, nên mọi hữu thể đều thuộc về Hữu, và hiện tính của Hữu có trong mọi hữu thể. Vì vậy mọi hữu thể đều ở trong Hữu. Nếu Thiên Chúa vắng mặt mọi thứ trở thành hư vô ngay tức khắc.

Nếu cảnh giới thiêng liêng nằm ngoài không-thời gian, thì hiển nhiên thiên đàng không nằm trong vũ trụ vật chất. Vì ngôn ngữ của lời cầu nguyện, bắt buộc chúng ta phải xưng hô với Thiên Chúa như một Đấng ở đối diện, nhưng không phải như vậy. Thánh Augustine đã nói những lời cảm khái, “Chúa ở bên trong và luôn luôn ở cùng tôi.” Thánh Phaolô đã có lần đứng giữa chợ trong thành Athens giảng đạo. Thánh nói, “Họ đã đi tìm Thiên Chúa, nhưng thực ra Thiên Chúa đâu có ở xa chúng ta. Chúng ta sống và sinh hoạt trong Thiên Chúa. Nhờ đó chúng ta hiện hữu” (CV 17:27). Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói, “Nếu Thiên Chúa là một đối tượng cụ thể có thể thấy được thì người đó không phải là Thiên Chúa.”

Điều mà hai Giáo Hoàng đưa ra đã được các thần học gia nói tới từ thời thánh Augustinô cho tới ngày nay. Thiên đàng là “điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không thể nghĩ tới, lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Ngài” (1cor 2:9). Vì vậy, hiện tại con người chỉ có thể “thấy” Thiên Chúa bằng đức tin mà thôi. Cho nên “thấy qua đức tin” là một trạng thái của sự sống. Cái thấy này khác với cái thấy trọn vẹn “mặt giáp mặt”, trong cõi vĩnh hằng, khi con người có thân xác phục sinh hiển linh. Khi đó con người không những kết hợp với Thiên Chúa, mà còn kết hợp với các thánh và với các thiên thần (GLCG 962). Thời điểm vĩnh hằng đó, đối với kinh nghiệm hạn hẹp của con người tại thế, chỉ có thể hình dung bằng cách đặt toàn bộ vào một nơi chốn. Theo truyền thống, ngôn ngữ loài người gọi “nơi chốn” đó là thiên đàng. Thiên đàng là một huyền nhiệm không thể nói rõ ra được.

Đỗ Trân Duy
————–
(1) Xin đọc “Heaven”, L’Osservatore Romano, Weekly Edition in English. 28 July 1999.
(2) Xin đọc các câu hỏi 52, 123, 158, 242, 285, và 518 về thiên đàng trong YOUCAT. 2011. Ignatius Press, San Francisco
(3) Xin đọc “Where is God?” P. 105, God and the World. 2002. Joseph Ratzinger. Ignatius Press, San Francisco.
(4) Phan Đình Cho. 2000. Câu hỏi 47, Giải đáp 101 câu hỏi về cái chết và sự sống vĩnh hằng. University Press. New York, USA.
(5) Mẹ Têrêsa Calcutta. Come Be My Light. 2007. Brian Kolodiejchuk chủ bút. Nhà xuất bản Doubleday. Đồng thời để hiểu rõ hơn ý nghĩa của “đêm đen” xin tham cứu bài “On A Dark Night” trong sách The Ascent To Truth. 1981. Thomas Merton. Nhà xuất bản Harcourt Brace & Company, San Diego, California.

Blogger Trương Duy Nhất mãn hạn tù

Blogger Trương Duy Nhất mãn hạn tù

Thân nhân blogger Trương Duy Nhất đã đến đón ông

Ông Trương Duy Nhất, chủ nhân trang blog ‘Một góc nhìn khác’, vừa được ra tù sau đúng hai năm thi hành bản án về tội ‘Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước’ theo điều 258 Bộ Luật Hình sự.

Ông Nhất được trả tự do vào lúc 8h sáng thứ Ba ngày 26/5 từ trại giam số 6 ở huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Ngay sau đó ông Nhất cùng vợ và con gái đã đáp máy bay từ Vinh trở về nhà ở Đà Nẵng.

BBC đã tìm cách liên lạc với ông và thân nhân nhưng chưa được.

‘Bị ném ra đường’

Đúng hai năm trước, vào ngày 26/5/2013, ông Nhất bị Cơ quan An ninh điều tra bắt giam tại nhà riêng. Gần một năm sau, Tòa án Đà Nẵng đã tuyên án ông Nhất hai năm tù giam theo Điều 258.

Trên trang Facebook của mình, nhà báo Huy Đức, người đã cùng vợ con ông Nhất đến đón ông tại nhà giam, cho biết ông Nhất ‘bị áp tải bởi 8 người mặc thường phục và 2 người cảnh phục trên một xe 12 chỗ’.

“Nhất nhao ra gọi vợ con thì bị khóa tay, ghì xuống,” ông Huy Đức thuật lại và cho biết ông Nhất ‘bị ném ra lề đường Hồ Chí Minh, cách trại 4km.”

Có những loại tù mà người ta cảm thấy ân hận hay xấu hổ, nhưng trường hợp của tôi thì tôi thấy tự hào.Lời cuối cùng của Trương Duy Nhất nói trước Tòa

Ông Nhất bị kết tội do đã viết 11 bài đăng trên trang blog của ông trong đó ông đã ‘chấm điểm thủ tướng’ và yêu cầu ‘tổng bí thư phải ra đi’.

Cáo trạng được đưa ra tại phiên xử ông Nhất cho rằng các bài viết này của ông ‘đã làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, chính quyền và làm mất uy tín cá nhân các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam’.

Ông Trần Vũ Hải, luật sư bào chữa cho ông Nhất, từng thuật lại với BBC sau phiên tòa rằng ông Nhất cho rằng ông ‘chỉ chỉ ra những khuyết điểm, sai lầm, những hiện tượng chưa đúng với hy vọng lãnh đạo Đảng và Nhà nước sẽ thấy ra, khắc phục, sửa chữa và rút kinh nghiệm’.

“Có những loại tù mà người ta cảm thấy ân hận hay xấu hổ, nhưng trường hợp của tôi thì tôi thấy tự hào,” luật sư Hải dẫn lại lời cuối cùng của ông Nhất nói trước Tòa trong phiên xử.

Xem thêm:

Nhà báo Trương Duy Nhất mãn hạn tù (Nguoi-viet.com)

Ông Trương Duy Nhất phản ứng lại công an sau khi
ông bị thả giữa đường. (Hình: Facebook Phạm Xuân Nguyên)

Blogger Trương Duy Nhất mãn hạn 2 năm tù (RFA)

” Tôi mong khi Trương Duy Nhất vừa bước chân ra khỏi tù thì những thằng ích kỷ ăn tàn phá hoại đất nước những thằng đang bắt dân vô tội thì nó phải vào tù thay tôi.
-Blogger Trương Duy Nhất”