Việt Nam lại ‘ngậm bồ hòn làm ngọt’ với Trung Quốc

Việt Nam lại ‘ngậm bồ hòn làm ngọt’ với Trung Quốc

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Ông Đinh La Thăng, bộ trưởng Giao Thông-Vận Tải CSVN vừa phân trần với công chúng Việt Nam rằng, mua 13 tàu điện của Trung Quốc là chuyện thuộc loại “bất khả kháng.”

Dự án tuyến metro Cát Linh-Hà Đông lẽ ra phải hoàn tất vào năm 2012 nhưng
đến nay vẫn đang còn… xây dựng. (Hình: Bộ Giao Thông-Vận Tải)

Trước đó, công chúng Việt Nam tỏ ra hết sức giận dữ sau khi các viên chức Ngành Giao Thông-Vận Tải Việt Nam loan báo, sẽ bỏ ra 63.2 triệu Mỹ kim để mua 13 tàu điện (mỗi tàu có bốn toa) do công ty trang thiết bị tàu điện ngầm Bắc Kinh của Trung Quốc sản xuất, để dùng cho tuyến metro Cát Linh-Hà Đông.

Viên bộ trưởng Giao Thông-Vận Tải Việt Nam kêu gọi dân chúng thông cảm vì khi ký hợp đồng vay vốn ODA của Trung Quốc cho dự án xây dựng tuyến metro Cát Linh-Hà Đông, Việt Nam bị buộc phải mua các tàu điện do Trung Quốc sản xuất.

Ông Thăng nói thêm rằng, nhà thầu Trung Quốc thực hiện dự án xây dựng tuyến metro Cát Linh-Hà Đông “yếu kém, chúng tôi rất bức xức nhưng muốn thay thì lại vướng các điều kiện đã ký nên không thay được.”

Có thể xem dự án xây dựng tuyến metro Cát Linh-Hà Đông là một trường hợp Việt Nam phải “ngậm bồ hòn làm ngọt” khi nhận “hỗ trợ” từ Trung Quốc.

Chiều dài của tuyến metro này chỉ có 13 cây số, lẽ ra phải hoàn tất vào năm 2012 nhưng đến nay vẫn còn dở dang. Năm ngoái, nhà thầu Trung Quốc cam kết sẽ hoàn tất công trình vào tháng 6 năm 2015 nhưng gần đây, thời điểm khánh thành được thông báo là tiếp tục dời lại đến cuối năm song tin mới nhất cho biết, phải đến hết quí 1 năm tới mới có thể vận hành tuyến metro Cát Linh-Hà Đông.

Hồi hạ tuần tháng 11 năm ngoái, tại điểm xây dựng một nhà ga trong tuyến metro Cát Linh-Hà Đông, ở đoạn chạy qua quận Thanh Xuân, do cẩu bị đứt cáp, ba thanh dầm bằng thép đã rớt xuống đường, đè chết một người và làm hai người trọng thương.

Lúc đó, Bộ Giao Thông-Vận Tải Việt Nam đã ra lệnh cho nhà thầu Trung Quốc tạm ngưng thi công để kiểm tra toàn bộ quy trình giám sát bảo đảm an toàn. Nửa tháng sau, nhà thầu Trung Quốc được phép tiếp tục thi công và chỉ trong hai tuần lại gây thêm tai nạn khác.

Rạng sáng 28 tháng 12, năm 2014, giàn giáo trong công trình xây dựng tuyến metro Cát Linh-Hà Đông, ở đoạn sát bến xe Hà Đông đột nhiên sụp xuống lúc đang đổ bê tông. May mắn là tai nạn xảy ra vào lúc rạng sáng, đường chưa đông người qua lại nên không có tổn thất nhân mạng. Sắt thép, bê tông chỉ đè nát phần đầu của một chiếc taxi vừa trờ tới. Tài xế taxi và ba hành khách trong xe không bị thương. Theo một số chuyên gia, giàn giáo sập do bị dịch chuyển lúc đang đổ bê tông.

Công trình xây dựng tuyến metro Cát Linh-Hà Đông không chỉ thiếu an toàn, kém chất lượng mà còn nổi tiếng vì sự tráo trở của nhà thầu Trung Quốc. Nhà thầu Trung Quốc đã đòi nâng vốn đầu tư dự án từ 553 triệu Mỹ kim lên 892 triệu Mỹ kim. Tuy yêu sách này phi lý song chế độ Hà Nội vẫn bất chấp sự can gián của chuyên gia nhiều giới, vay thêm của Trung Quốc 339 triệu Mỹ kim để đáp ứng đòi hỏi của nhà thầu Trung Quốc!

Lúc đó, theo tường thuật của báo chí Việt Nam, tại cuộc họp với ông Chu Hằng Vũ, phó tổng giám đốc tập đoàn hữu hạn của Cục 6 Ngành Đường Sắt Trung Quốc, ông Đinh La Thăng, bộ trưởng Giao Thông-Vận Tải Việt Nam, nhận định, tuyến metro Cát Linh-Hà Đông là công trình giao thông tồi tệ nhất ở Việt Nam. Công trình này khiến dân chúng Việt Nam lo ngại về mức độ an toàn, chất lượng và phẫn nộ vì nhà thầu Trung Quốc không thèm đếm xỉa đến những yêu cầu của Bộ Giao Thông-Vận Tải Việt Nam.

Ông Thăng yêu cầu nhà thầu Trung Quốc phải tìm một người “có trình độ và lương tâm” để thay thế tổng chỉ huy công trường, đổi ngay công ty Trung Quốc đang giữ vai trò giám sát (công ty giám sát xây dựng thuộc viện nghiên cứu thiết kế công trình đường sắt Bắc Kinh). Cũng đến lúc đó, Bộ Giao Thông-Vận Tải Việt Nam mới đòi nhà thầu Trung Quốc phải sử dụng công ty giám sát do bộ này chỉ định và loại toàn bộ các nhà thầu phụ để trực tiếp ký hợp đồng với các tổng công ty xây dựng công trình giao thông của phía Việt Nam.

Viên bộ trưởng Giao Thông-Vận Tải Việt Nam khẳng định, nếu nhà thầu Trung Quốc không chấp nhận những yêu cầu đó thì ông ta sẽ đề nghị chính phủ Việt Nam loại họ để kiếm một nhà thầu khác. Cũng phải đến lúc đó, đại diện nhà thầu Trung Quốc mới nhượng bộ, mới xin lỗi hứa sẽ đáp ứng tất cả các yêu cầu của viên bộ trưởng Giao Thông-Vận Tải Việt Nam.

Tuy nhiên chuyện “cảnh cáo” nhà thầu Trung Quốc của ông Thăng bị cả báo giới lẫn cựu viên chức ngoại giao của Trung Quốc cho là kích động “bài Trung.”

Hồi đầu năm nay, Hoàn Cầu Thời Báo dẫn lời ông Tề Kiến Quốc, từng là đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, khuyến cáo, lẽ ra, ông Thăng không nên làm như thế đối với nhà thầu Trung Quốc, không nên làm sự việc trở thành rùm beng vì tai nạn ở các công trường tại Việt Nam là… bình thường. (G.Đ)

Xem thêm:

Vay tiền Trung Quốc: lợi bất cập hại (RFA)

Dự án đường sắt đô thị Hà Nội, tuyến Cát Linh – Hà Đông được thực hiện theo Hiệp định vay vốn ODA được ký giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 2003. Theo Hiệp định này, phía Trung Quốc tài trợ vốn kiêm luôn thầu thi công và giám sát.

HẠT GIỐNG ĐỨC TIN

HẠT GIỐNG ĐỨC TIN

LM John Nguyễn, Utica, New York

Khi được xem cuốn phim về cái chết của Đức cha Oscar Romero, Tổng giám mục El Salvador, nó làm cho tôi có nhiều cảm xúc và cảm phục về vị Giám mục đã hy sinh mạng sống của mình, để đứng lên bảo vệ, bên vực cho lẽ công bằng, cho người nghèo, cho những người bị áp bức bất công. Ngài như là hạt giống được gieo vào lòng đất để trổ sinh ra những bông hạt khác.

Biến cố xẩy ra vào lúc 6 giờ 25 chiều, ngày 24/3/1980, tại nguyện đường của Bệnh Viện khi Tổng giám mục Romero cử hành Thánh Lễ cầu hồn cho thân mẫu của một người bạn thân vừa mới qua đời.  Đức cha đọc cho cộng đoàn nghe đoạn Phúc âm Thánh Gioan:“Đã đến giờ Con Người được tôn vinh… Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.” (Gioan 12, 23-24), rồi ngài áp dụng Lời Chúa vào tình cảnh khốn cùng của người dân nước El Salvador, họ phải cam chịu dưới ách thống trị của độc tài quân phiệt.  Ngài tâm sự với cộng đoàn nhỏ bé đang dự lễ:Điều quan trọng là đừng yêu mình đến nỗi không dám dính líu vào những việc liều lĩnh mà lịch sử đòi hỏi nơi chúng ta. Kẻ nào tránh né sự nguy hiểm, kẻ ấy sẽ mất sự sống mình.  Nhưng bất cứ ai vì lòng yêu mến Chúa Kitô hiến thân phục vụ tha nhân, kẻ ấy sẽ được sống giống như hạt lúa mì chết, nhưng thật ra chỉ chết về mặt bề ngoài. Ngài nói thêm:Tôi tin trong sự chết có sự sống lại.  Nếu người ta giết tôi, tôi sẽ được sống lại trong lòng người dân El Salvador của tôi.

Kết thúc bài giảng, Đức Cha Oscar Romero tiến lên giữa bàn thờ chuẩn bị dâng thánh lễ thì có tiếng súng nổ, và một loạt đạn từ dưới cuối nhà nguyện bay vèo lên.  Tổng Giám Mục Romero trúng đạn, máu chảy lai láng và tắt hơi thở cuối cùng dưới bàn thờ.  Ngày nay, không chỉ người dân El Salvador mà cả những người công giáo trên toàn thế giới gọi Ngài là vị Giám mục của người nghèo.

Giáo hội ngày hôm nay cần chứng nhân hơn là thầy dạy, cần có những hạt giống tốt gieo vào thế gian thì Giáo hội mới có thể gặt hái được mùa bội thu, điều đó được tìm thấy trong dụ ngôn hạt giống của Chúa Giê-su.  Ngài diễn giải Nước Trời giống như hạt cải nhỏ bé âm thầm gieo xuống đất. Dù đêm hay ngày thì hạt giống ấy vẫn mọc lên thành cây to.

Nếu chúng ta áp dụng cái chết đau thương của vị Giám mục đáng kính vào bài Tin mừng hôm nay, thì chúng ta hiểu rõ hơn về những gì Chúa Giêsu dùng dụ ngôn hạt giống để nói về Nước Trời, giống hạt giống đó phải chấp nhận tự hủy chính bản thân mình thì mới sinh ra nhiều bông hạt khác.

Chính nơi Đức Chúa Giêsu, Ngài đến trần gian để gieo hạt giống Tin mừng bằng chính đời sống và bằng cái chết của Ngài.  Hạt giống của Chúa là bằng lời rao giảng, bằng sự yêu thương, bằng lời an ủi, chia sẻ và cảm thông, bằng giọt máu để cứu rỗi nhân loại.  Hạt giống ấy dành cho những ai biết lắng nghe và đón nhận Lời Chúa.

Đức Giám mục Oscar Romero là dấu chỉ hạt giống cho Tin mừng, hạt giống đức tin hôm nay, ngài là chứng nhân cho Đức Kitô tự hủy, sống cho chân lý, cho lẽ công bằng, cho người nghèo bị áp bức…  Ngài nằm xuống để cho bao người khác được ngẩng đầu bước đi, cho Nước Chúa được lan tỏa khắp nơi.

LM John Nguyễn, Utica, New York

NGUỒN GỐC TÊN SÀI GÒN

NGUỒN GỐC TÊN SÀI GÒN

Trần Văn Giang

Lời mở đầu :

Sài gòn là thành phố lớn nhất Việt Nam, nằm cạnh sông Sài gòn ở tọa độ 110°45′ Bắc, 106°40′ Đông (hay là 10.75, 106.667); và cách Hà nội 1760 cây số về phía Nam.

Trước khi “bị” người Việt chiếm ngụ vào thế kỷ 16,  Sài gòn có tên là “Prey Nokor,” là một hải cảng chính của Cam Bốt.  Sài gòn từng là thủ đô của chính quyền thực dân Pháp ở Đông dương, và sau đó cũng là thủ đô của chính thể Cộng hòa miền Nam Việt Nam từ năm 1954 cho đến năm 1975.  Sau năm 1975, Sài gòn được đổi tên là Thành Phố Hồ Chí Minh (?)

Tên nguyên thủy theo tiếng Khmer

Tên nguyên thủy của Sài gon là “Prey Nokor” và là lãnh thổ của người Khmer (Cam bốt). Theo tiếng Phạn (Sankrit nagara), Prey Nokor có nghĩa là “thành phố rừng” (Prey = rừng; Nokor = đất, thành phố). Ngày nay nhiều người Khmer ở Cam bốt và cả dân sắc tộc Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu long nhiều khi vẫn còn gọi Sài gòn là Prey Nokor.

Sài gòn tên nguyên thủy theo tiếng Việt

Ngay sau khi người Việt ồ ạt đến mở mang và định cư tại Prey Nokor, thành phố này đã được người Việt gọi là “Sài gòn.” Có rất nhiều gỉa thuyết, tranh luận về nguồn gốc tên thành phố bằng chữ Việt (Sài gòn). Các tranh luận về lịch sử của danh từ “Sài gòn”sẽ được bàn thêm ở phần dười dây.

Trước khi thực dân Pháp đến Việt Nam, triều đình Huế dùng tên chính thức của Sài gòn là “Gia định.” Năm 1862, người Pháp bỏ chữ “Gia định” và thay vào đó bằng chữ “Sài gòn.”

Trên sử liệu (có lưu lại trên qua bản viết, in), người Việt đọc và viết chữ “Sài gòn” thành 2 chữ và 2 âm rõ rệt; tuy nhiên Pháp (và người tây phương) đã “tây phương hóa” 2 chữ “Sài gòn” thành một  chữ “Saigon” để cho họ dễ đọc và dễ viết.

Sài gòn theo quan điểm Việt Nam – Trung Hoa

Có người cho rằng chữ “Sài” được mượn từ tiếng Trung hoa (Tiếng Quan thọai đọc là “Chái”) có nghĩa là “củi, cành cây – firewood, twigs…)” còn chữ “Gòn” (tiếng Quan thọai đọc là “Gùn”) có nghĩa là “cọc, cây gậy – stick, pole, boles…) Chữ “Gùn” bị chuyển hóa dần thành ra “Gòn” tương tự như “bông gòn – cotton stick, cotton plant.”

Có người lại cho rằng tên “Sài gòn” phát nguyên từ các cây bông gòn người Khmer trồng chung quanh Prey Nokor mà ngày nay chúng ta vẫn còn thấy rất nhiều ở quanh vùng Cây mai, Trương Vĩnh Ký…

Có một điểm lạ lùng là người Hoa sống ở Việt Nam cũng như ờ Trung quốc không dùng tên gọi “Sài gòn” (tiếng Quảng đông đọc là “Chaai-Gwan; tiếng Quan thọai đọc là “CháiGùn”) để gọi “Sài gòn” (mặc dù, như đã nói ở trên, nhiều sử liệu có ghi là người Việt mượn tiếng Trung hoa để đặt tên cho Sài gòn). Chính người Hoa lại gọi “Sài gòn” “Sai-Gung” (tiếng Quảng đông) và “XĩGòng” (tiếng Quan thọai).

Sài gòn theo quan điểm của người Khmer

Có một số tài liệu của Cam bốt cho là chữ “Saigon” chuyển hóa từ “Sai Con;” Và Chữ “Sai Con” đã chuyển hóa từ tiếng 2 chữ Khmer “Prey Kor” có nghĩa là “Rừng cây Kapok” (prey = rừng; kor = cây kapok). Nên để ý và đừng lầm lẫn chữ “Prey Nokor”“Prey Ko” (Ko = rừng cây kapok; Nokor – thành phố, đất).

Quan điểm của người Khmer ẩn tàng một ý có mục đích thuyết phục là họ đã có mặt ở đó (Sài gòn) trước khi người Việt đến định cư; tuy nhiên quan điểm này không gỉai thích được là tại sao chữ Khmer “prey” lại đổi thành chữ “Sài.” Bởi vì, hiển nhiên, cách đọc của hai chữ này hòan tòan khác biệt với nhau!

Sài gòn theo quan điểm của người Quảng đông

Một gỉa thuyết đưa ra bởi học gỉa Vương Hồng Sển, một người Việt gốc Hoa ở Sài gòn, là nguồn gốc từ tiếng Quảng đông của danh từ “Sài gòn” lấy từ chữ “Chợ lớn” mà người Quảng đông đọc là “Tai-Ngon” có nghĩa là “bến tầu, cảng” (?)

Tên hiện nay của Sài gòn

Sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản (30 tháng 4 năm 1975), chính quyền CS đổi tên thành phố Sài gòn là Thành Phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) (?) Tuy nhiên, đa số người dân Sài gòn vẫn gọi tên thành phố với cái tên quen thuộc cũ: “Sài gòn.” Ngòai ra, hiện nay, tên “Sài gòn / Saigon” còn được dùng rất nhiều trong sách vở; được dùng cho các tên tựa sách, được dùng đặt tên cho các công ty thương mại.

Lịch sử đất (lãnh thổ) Sài gòn

Khởi đầu Sài gòn chỉ là một làng đánh cá rất nhỏ của người Khmer.  Người Khmer đã sống ở đó nhiều thế kỷ trước khi có người Việt đặt chân đến mở mang và định cư.  Người Khmer dùng “Prey Nokor” như một hải cảng thuộc về vương quốc Cam bốt.

Năm 1623, vua Chey Chetta II  (1618-1628) của Cam bốt đã cho phép những người Việt chạy lánh nạn “Trịnh Nguyễn phân tranh” đến tạm trú và định cư quanh vùng Prey Nokor.  Từ sau khi đó, có rất nhiều đợt di cư rất lớn của người Việt đến vùng Prey Nokor mà vương quốc Cam bốt không đủ mạnh để ngăn chặn họ.  Dần dà, Prey Nokor bị biến thành đất đai của người Việt; và sau cùng “Prey Nokor” biến thành “Sài gòn!”

Năm 1698,  triều đình Huế (Chúa Minh – Nguyễn Phúc Chu) sai tướng Nguyễn Hữu Cảnh vào trấn nhậm vùng đất Sài Gòn-Gia Định. Kể từ thời điểm đó, miền đất này chính thức trở thành một đơn vị hành chính thuộc lãnh thổ Việt Nam.  Nguyễn Hữu Cảnh tách vùng đất Sài Gòn-Gia Định (và sau đó là vùng đồng bằng sông Cửu long) ra khỏi vương quốc Cam bốt.  Cam bốt vì quá yếu nên không có một kháng cự nào.  Nguyễn Hữu Cảnh được xem như những người đi tiên phong trong giai đọan bành trướng lãnh thổ của Việt nam về phía nam và tây nam.

Năm 1859,  thành phố Sài gòn bị người Pháp chiếm đóng lần đầu tiên.  Cũng bắt đầu từ giai đọan thực dân, người Pháp đã xây dựng nhiều cơ sở, dinh thự theo cấu trúc của văn minh tây phương.  Vì vậy Sài gòn còn được gọi là “Hòn Ngọc Viễn Đông,” (the Pearl of the Far East) “Tiểu Paris” (Little Paris).

Năm 1954, quân Pháp bị Việt Minh đánh bại ở trận Điện Biên Phủ và họ rút lui khỏi Việt Nam.  Từ trước đó (năm 1950), thay vì công nhận chính quyền CS, người Pháp ngầm ủng hộ Bảo Đại lập chính phủ và chọn Sài gòn là thủ đô.  Kể từ năm 1950 Sài gòn và vùng Chợ lớn (nơi có số rất đông người Hoa tập trung) được gộp chung lại thành một đơn vị hành chánh gọi là “Đô thành Sài gòn.”

Sau khi Việt Nam chính thức được chia làm 2: Bắc Việt (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) và Nam Việt (Việt Nam Cộng Hòa). Sài gòn là thủ đô của miền nam Việt Nam dưới chính phủ Ngô Đình Diệm.

Sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt năm 1975, thành phố Sài gòn đặt dưới sự kiểm sóat của CS Bắc Việt.

Năm 1976, sau khi thống nhất quốc gia Viêt Nam xong, CS đổi tên chính thể của nước Việt Nam là “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” và đổi tên thành phố Sài gòn thành Thành Phố Hồ Chí Minh.  Thực ra, sau 30 tháng 4 năm 1975, thành phố Sài gòn (và Chợ lớn), tỉnh Gia định và 2 quận ở ngọai ô Sài gòn (thuộc 2 tỉnh khác nhau nằm sát Sài gòn) đã được gộp chung lại thành TP HCM.  TP HCM rộng 809 dặm vuông (hay là 2,095 cây số vuông) trải dài từ Củ chi (cách biên giới Việt Miên 20 Km) cho đến Cần giờ gần biển Nam Hải.  Khỏang cách từ điểm cực bắc (Phú Mỹ Hưng, quận Củ chi) cho đến điểm cực nam (Long Hoa, quận Cần giờ) là 120 cây số; và từ điểm cực đông (Long bình, quận 9) đến điểm cực tây (Bình chánh, Quận Bình chánh) là 46 cây số.  Mặc dù TP HCM là tên gọi chính thức trên giấy tờ hành chánh, nhưng đại đa số người dân sống ở Sài gòn vẫn gọi thành phố qua cái tên quen thuộc là Sài gòn.  Chữ “Sài gòn” còn thấy trên bảng hiệu của các cửa tiệm thương mại, ngay cả tại Hà nội, thí dụ như “Saigon thời trang,” “Kiểu Sài gòn…” bởi vì người Việt trong nước hiện nay nghĩ về chữ “Sài gòn” như là một cái gì tượng trưng cho “văn minh, thời thượng…”

Ngày hôm nay, trung tâm thành phố Sài gòn vẫn còn vẻ giữ tráng lệ với các đại lộ có những hàng cây xanh rợp bóng, thanh lịch, với nhiều dinh thự cơ sở có di tích lịch sử được xây dựng từ thời các đời vua Nguyễn, thời thực dân và thời VNCH như Đồn Cây mai (do danh tướng Nguyễn tri Phương xây dựng), nhà thờ Đức Bà và dinh Độc lập (tên mới là dinh Thống Nhất!)…

Xe của dân bị biến thành rác ở bãi nhà nước

Xe của dân bị biến thành rác ở bãi nhà nước

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam
2015-06-10

06102015-priva-mbike-in-poli-storage.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Hàng nghìn xe dầm mưa, dãi nắng tại một bãi giữ xe vi phạm trên địa bàn quận Long Biên, Hà Nội

Hàng nghìn xe dầm mưa, dãi nắng tại một bãi giữ xe vi phạm trên địa bàn quận Long Biên, Hà Nội

Photo courtesy Xaluan.com

Trường hợp xe của người dân bị cảnh sát giao thông thổi phạt, sau đó tạm giữ xe và mang về bãi xe của nhà nước bỏ mặc nắng mưa, xe nhanh chóng xuống cấp, khi bị thu là xe tốt, khi lấy ra là chiếc xe không thể xài được đang làm nhức nhối người dân.

Chuyện này có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính vẫn là sự thiếu trách nhiệm đã thành một căn bệnh trầm kha của ngành công an giao thông nói riêng và các ban ngành trực thuộc nhà nước nói chung. Trong thời gian gần đây, tình trạng xe bị tạm giam một thời gian trở thành khối sắt vụn đang làm nhức nhối người dân thủ đô Hà Nội.

Bãi tạm giữ xe cũng là nơi “luộc xe”

Một người tên Thành, sống ở quận Hà Đông, Hà Nội, chia sẻ: “Quá trình xử phạt phải có đầy đủ các thứ, như nơi cất giữ xe. Như việc bắt giữ xe máy là nhằm mục đích buộc anh mang tiền đến nộp phạt. Trái với mục tiêu xử phạt. Cũng như nhà tù là để chặn đứng hành vi của anh chứ không phải để hành hạ. Một khi anh hành hạ người tù cũng như hành hạ chiếc xe trong bãi tạm giữ như vậy thì không còn gì để bàn!”.

Theo ông Thành, trước đây hai tháng, con gái ông bị công an giao thông thổi phạt ở đầu cầu Thắng Long, sông Hồng và bị giữ xe vì lý do không mang theo bằng lái mặc dù cô gái này đã có bằng lái xe gắn máy, có đội mũ bảo hiểm và có giấy tờ xe hẳn hoi. Sau khi kiểm soát một số thứ trong xe, họ kết luận còi xe không đạt tiêu chuẩn, đèn xi-nhan không đạt tiêu chuẩn, mũ bảo hiểm cũng không đạt tiêu chuẩn và mẫu mã xe có sự thay đổi vì có dán thêm decal hình con chim phượng hoàng. Mức phạt lên đến hai triệu năm trăm ngàn đồng.

Vì thất nghiệp, gia đình cũng không mấy thoải mái về tài chính nên con gái ông Thành phải chấp nhận để xe trong bãi tạm giữ của công an, đợi nhận lương hằng tháng, tích lũy đủ mới nộp phạt và mang xe về. Không bàn về chuyện kiểm tra, thổi phạt vô cớ của cảnh sát giao thông khi con gái ông không hề phạm lỗi trong lúc tham gia giao thông, ông Thành muốn nhấn mạnh về tình trạng chiếc xe sau khi lấy ra khỏi bãi tạm giữ của công an.

Theo mô tả của hai cha con ông Thành thì không thể nào gọi đây là bãi tạm giữ xe được mà phải nói chính xác nơi hàng ngàn chiếc xe của dân đang bị phơi mưa phơi nắng để mục dần theo thời gian và là một cái bãi rác thải công nghiệp. Nghĩa là không riêng gì xe máy mà bất kì thứ gì bỏ vào đây đều có thể mục nát bởi cây cỏ um tùm, dộ ẩm cao, không có mái che, kẽm gai và dây leo quấn khắp nơi, xe cộ bỏ chồng chất, đùn ép nhau trong bãi khiến cho lớp vỏ sơn bên ngoài nhanh chóng bị bong tróc, hệ thống dây điện, ống dẫn xăng gặp nhiệt độ cao cũng nhanh chóng thoái hóa, chảy nhựa, làm cho xăng và dầu nhớt chảy ra loang lổ trên mặt đất.

Xe máy vẫn là phương tiện giao thông chính ở Việt Nam

Xe máy vẫn là phương tiện giao thông chính ở Việt Nam

Nói không may, chỉ cần ai đó vô tình để rơi tàn thuốc vào đây hoặc dây điện chập tạo ra tia lửa sẽ lập tức biến bãi xe thành một đám cháy để từ đó lan tỏa khu vực lân cận. Nhìn bãi tạm giữ xe của công an chẳng khác nào bãi rác công nghiệp. Đó là chưa muốn nhắc đến trò luộc xe của nhiều viên công an.

Trò luộc xe này diễn ra không mấy kín đáo nhưng chẳng ai dám nói gì. Một chiếc xe mới toanh với mọi phụ tùng đều chính hãng, khi vào bãi giữ xe, chỉ trong vòng nửa ngày sau, những phụ tùng chính hàng bị tháo mở, thay vào đó là những thứ phụ tùng lô, khi lấy ra, chiếc xe chạy èo ọp, cà rịch cà tàng chẳng giống thứ gì. Và bất kì người nào bị tạm giữ xe cũng vấp phải kinh nghiệm đáng sợ này.

Ông Thành đặt câu hỏi: Vì sao xe ở trong bãi cùa ngành công an mà lại để bị luộc? Ai có thể vào trong khuôn viên quản lý của công an để luộc xe của dân? Liệu công an giao thông và những viên công an có liên quan đến bãi tạm giữ xe này có liên đới, có toa rập với nhau để luộc xe của dân?

Đương nhiên là câu hỏi của ông Thành không có ai trả lời được ngoài các quan chức ngành công an, trong đó, ông Trần Đại Quang Bộ trưởng Bộ Công an và ông Đinh La Thăng, Bộ trưởng Bộ Giao thông vân tải phải là những người có trách nhiệm trả lời với dân bằng mọi giá.

Luật lệ chồng chéo

Một cựu cảnh sát giao thông không muốn nêu tên, đang sống ở phố Hàng Bạc, Hà Nội, chia sẻ: “Khi làm việc với công an giao thông thì người dân mình nên tự đề nghị họ viết thông tin về tình trạng chiếc xe vào biên bản, giấy tờ để sau này có cơ sở để làm việc với họ. Vì dù mình muốn hay không thì công an cũng nắm quyền trong tay về pháp luật. Cái mà mình có thể trông đợi đó là yêu cầu của người dân về việc minh bạch hơn trong mọi thứ, cần có thông tin rõ ràng, chiếc xe đó ở tình trạng như thế nào để sau này có bằng chứng mà đối chiếu. Luật mình quá chồng chéo…”.

Theo ông này, sở dĩ có chuyện bắt xe, nhốt xe vô tội vạ của công an giao thông, biến một chiếc xe đang đi trở thành chiếc xe hỏng hóc, phá hoại tài sản của dân như vậy là do luật pháp chồng chèo, tham nhũng và chiếm dụng đất vẫn là ung nhọt gây nhức nhối xã hội.

Ở khía cạnh tham nhũng thì miễn bàn, lợi dụng vào sự sơ hở của luật giao thông và người dân thiếu hiểu biết về pháp luật bởi mỗi năm có hàng ngàn văn bản dưới luật ra đời chẳng đâu vào đâu. Ngành công an nói chung và công an giao thông nói riêng đã hù dọa người đi đường để ăn đút lót, nhét tay hoặc làm những phiếu phạt sai luật để thu giữ xe, tạo ra nguồn thu.

Nếu như được nhét tiền hối lộ thì bản thân viên công an giao thông đứng đường sẽ có tiền tươi, trường hợp giam xe, chủ xe nộp tiền vào kho bạc, thì viên công an giao thông sẽ có tiền khác thông qua chuyện luộc phụ tùng xe của dân. Vì chỉ có hai khoản này mới bù lỗ cho số tiền đút lót cho cấp trên khi vào ngành hoặc mua chỗ đứng đường.

Và chuyện giam xe trong bãi là một chỉ tiêu bắt buộc, phải có một số lượng xe nhất định bị giam nhằm đảm bảo khoản thu cho ngân sách ngành và giữ bãi. Trong trường hợp ngược lại, nếu lâu ngày không có xe trong bãi, bãi sẽ bị nhà nước trưng thu để mở rộng xây dựng, bán cho các dự án. Chính vì vậy, chất đầy xe trong bãi, nằm chồng chất với nhau mặc cho mưa dầm nắng cháy, mặc cho chiếc xe rệu rã, hoen gỉ là cách tốt nhất để giữ bãi đất trống cho ngành, cho cơ quan.

Vô hình trung, những chiếc xe phương tiện làm ăn của người dân lại thực hiện đến hai chức năng: Bổ sung ngân sách ngành và ngân sách nhà nước; Làm phương tiện giữ bãi cho cơ quan công an để đến khi cần thiết, họ sẽ biến bãi đất này thành những chung cư hoặc một loại văn phòng nào đó có tính hợp lệ.

Ông cựu cảnh sát giao thông này đưa ra kết luận: Một khi tham nhũng và vô trách nhiệm còn hoành hành thì người dân mãi mãi là những con cá trên thớt!

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

PHÚC THẬT

PHÚC THẬT

Khá mệt vì sức khỏe hạn chế, bạn bè vẫn cố gắng ngồi bên nhau để nhâm nhi ly cà phê sáng. Ngồi với nhau vẫn là những câu chuyện tình đời, có khi là câu chuyện về những mảnh đời bất hạnh và có khi có cả những câu chuyện Tin Mừng.

Hôm nay, anh em lại chia sẻ với nhau về trang Tin Mừng. Tin Mừng hôm nay thật sự quá quen thuộc với mỗi người Kitô hữu. Từ bé, tôi cũng đã nghe đoạn Tin Mừng hôm nay : Bản Hiến Chương Nước Trời. Bảng Hiến Chương Nước Trời hay còn gọi là Tám Mối Thật.

Rất giản đơn để có thể hiểu, Chúa đi thẳng vào vấn đề chứ không phải quanh co theo kiểu cách thế gian thường dùng.

“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,vì Nước Trời là của họ.

Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.

Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.

Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.

Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.

Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.

Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.

Rất dễ hiểu để nhận ra rằng cái phúc mà Chúa nói cho con người đó chính là cái phúc của Nước Thiên Chúa chứ không phải như phúc của con người.

Chia tay anh em về nhà, trên chiếc võng trong phòng đu đưa qua lại, hình ảnh về trang Tin Mừng cũng như những chia sẻ của anh em về cái phúc Nước Trời lại trở lại với tôi trong suy nghĩ rất đời thường.

Chính bản thân tôi, đã hơn một lần hay nói cách khác là đã quá nhiều lần chạy theo cái phúc của thế gian. Vẫn cứ tưởng chừng rằng những lời khen, những lời ca tụng của người đời sẽ làm mình vinh quang, hạnh phúc … thế nhưng, tất cả những lời khen ấy, những cái phúc theo kiểu thế gian mà người ta dành cho nhau vẫn chỉ ở chót lưỡi đầu môi.

Nhiều lần, như một con thiêu thân, tôi cũng đã quên mình để bay vào những cuộc vui. Tưởng chừng những cuộc vui ấy nó sẽ mang lại cho mình sự bình an. Nhưng có lẽ ngược lại, cuộc vui tàn và tôi lại trở về nhà trong căn phòng cô đơn. Chợt nhận ra chỉ còn mình tôi và Chúa và chỉ còn mình Chúa với tôi chứ không còn ai khác.

Bộc bạch của nhạc sĩ Đức Huy cũng thấm thía : “Tìm một con đường, tìm một lối đi, ngày qua ngày đời nhiều vấn nghi … Rồi cuộc vui tàn, một mình bước đi. Nhiều lần tôi về, nhiều lần ướt mi … Tình Yêu chiếu ánh sáng vào đời, tôi hy vọng được ơn cứu rỗi …”

Đức Huy đã nói lên chân đích của cuộc đời, rồi cuộc vui nào cũng tàn cả. Những cuộc vui ngay cả với những bậc vị vọng trong Xã Hội cũng như Giáo Hội rồi cũng qua đi. Sau bức phông hào nhoáng của cuộc đời vương giả đó lại là một cuộc đời thật của mình.

Giật mình soi mình trước mặt Chúa và đáy lòng mình, tôi nhận ra rằng chỗ hào nhoáng, chỗ quyền quý cao sang không phải là của mình, đó là chỗ của những người khác. Chỗ của tôi là chỗ của những người khuyết tật, những phận đời kém may mắn, những mảnh đời gặp đầy rủi ro.

Nhìn lại mình, phận mình cũng thế ! gặp nhiều rủi ro nhưng may mắn hơn một số anh chị em tật nguyền đó là nhờ ơn Chúa mà tôi có được ngày hôm nay.

Giật mình tỉnh ra mới thấy được chỗ đứng của mình đó chính là chỗ đứng của những người nghèo khổ bất hạnh. Đứng về phía họ, ở bên họ và ở với họ có lẽ là hạnh phúc hơn với những nơi hào nhoáng sang trọng.

Chia sẻ với những nơi hào nhoáng đó cũng có gì khác hơn là góp phần đánh bóng tên tuổi cho những người hào nhoáng. Chia sẻ với những người nghèo, những nơi lặng thầm không ai biết nhưng có lẽ tình cảm đậm sâu hơn.

Giữa sự chọn lựa để đánh bóng tên tuổi cho người khác hay xoa dịu vết thương lòng cho người nghèo đây ? Thôi thì đứng về phía người nghèo để ít ra cũng được hưởng cái mối phúc quan trọng nhất mà Chúa mời gọi mỗi người chúng ta.

Không phải sống nghèo nhưng phải mang trong mình cái tâm hồn nghèo thật sự để rồi có Chúa đong đầy, có Nước Trời làm gia nghiệp.

Con người, ai cũng thế, có những lần mình chìm trong cái tôi của mình, mình chìm trong cái danh vọng của mình để quên đi căn tính đời mình, quên đi Nước Trời chính là nơi mà mình đi tìm.

Vẫn mang trong mình phần con nhiều hơn phần người, vẫn mang trong mình cái tôi quá lớn để vẫn đi tìm những cái phúc của trần gian. Chỉ có Phúc Nước Trời mới là phúc vĩnh cửu mà thôi.

Lạy Chúa, xin cho con vượt qua cuộc vui của thế gian sống tâm hồn nghèo khó thật sự và sống với người nghèo thật sự để con được hưởng Nước Trời như Chúa đã hứa.

Mic Thanh Châu

Hãy ‘cám ơn’ Trung Quốc

Hãy ‘cám ơn’ Trung Quốc

Tàu nạo vét của Trung Quốc trong vùng biển quanh đảo Đá Vành Khăn, thuộc quần đảo Trường Sa ở Biển Đông. Các chuyến bay trinh sát của Mỹ gần những bãi cạn mà Trung Quốc đang cải tạo cho thấy mấy mươi chiếc tàu đang ráo riết tiến hành hoạt động lấy đất lấp biển.

Tàu nạo vét của Trung Quốc trong vùng biển quanh đảo Đá Vành Khăn, thuộc quần đảo Trường Sa ở Biển Đông. Các chuyến bay trinh sát của Mỹ gần những bãi cạn mà Trung Quốc đang cải tạo cho thấy mấy mươi chiếc tàu đang ráo riết tiến hành hoạt động lấy đất lấp biển.

Nguyễn Hưng Quốc

10.06.2015

Từ đầu năm 2014 đến nay, Trung Quốc ra sức bồi đắp và tái tạo các bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa mà họ chiếm của Việt Nam vào năm 1988 thành những hòn đảo nhân tạo đủ lớn để làm căn cứ quân sự với hải cảng và phi trường cho các loại máy bay, kể cả máy bay phản lực. Báo chí Tây phương xem những hòn đảo nhân tạo này như một vạn lý trường thành bằng cát Trung Quốc sẽ sử dụng như những căn cứ quân sự nhằm chiếm cứ các hòn đảo còn lại ở Trường Sa và khống chế toàn bộ Biển Đông. Hầu như ai cũng nhận định giống nhau: đó là những việc làm nguy hiểm có thể đẩy các tranh chấp trong khu vực thành những xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và các quốc gia liên hệ gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei cũng như, sau các quốc gia ấy, là Mỹ và các đồng minh của Mỹ.

Những nguy hiểm ấy dĩ nhiên là có thật. Tuy nhiên, một mặt, tôi không mong chiến tranh sẽ bùng nổ, mặt khác, tôi lại cho những việc xây dựng ấy là điều may mắn cho Việt Nam.

May mắn thứ nhất là chúng thu hút sự quan tâm của quốc tế trước các âm mưu bành trướng của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trước, ai cũng biết Trung Quốc có tham vọng chiếm gần trọn Biển Đông. Họ không hề giấu giếm tham vọng ấy. Nó được công khai hoá qua con đường 9 đoạn hoặc con đường lưỡi bò mà họ công bố trước thế giới. Tuy nhiên, người ta vẫn xem lời tuyên bố ấy như những dự định và với dự định, cuộc chiến chỉ dừng lại phạm vi ngôn ngữ, hay nói cách khác, những cuộc khẩu chiến. Bây giờ, với việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo, người ta nhận ra dự định ấy không phải chỉ là một ước mơ. Nó đang được Trung Quốc biến thành hiện thực và hiện thực ấy khiến cho thế giới không khỏi lo lắng. Hệ quả đầu tiên là phần lớn các quốc gia thuộc khối ASEAN (trừ Lào và Campuchia) cảm nhận rõ hơn nguy cơ xâm lấn của Trung Quốc và từ đó, đoàn kết hơn trong nỗ lực chống lại dã tâm xâm lấn ấy.

May mắn thứ hai là chúng thúc đẩy Mỹ phải chính thức nhảy vào cuộc tranh chấp trên Biển Đông. Trong mấy tháng vừa qua Mỹ thường xuyên theo dõi sát sao mọi chuyển biến trong quá trình xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Trường Sa. Trong cuộc hội nghị thượng đỉnh về an ninh châu Á – Thái Bình Dương ở Shangri-la, Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter phê phán một cách thẳng thắn và gay gắt các hành động khiêu khích của Trung Quốc trên Biển Đông. Sự phê phán của Mỹ nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của hai quốc gia đồng minh là Nhật và Úc. Trong chuyến đi thăm Việt Nam ngay sau đó, Bộ trưởng Ashton Carter và Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Phùng Quang Thanh đã ký bản “Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng” nhằm định hướng cho việc phát triển quan hệ giữa hai nước trong tình hình mới. Liên quan đến quốc phòng, có hai sự kiện mới đáng chú ý trong quan hệ song phương ấy: Một là Mỹ sẽ viện trợ cho Việt Nam 18 triệu Mỹ kim để mua tàu tuần tra cao tốc của Mỹ; và hai là, cả Bộ trưởng Carter lẫn thượng nghị sĩ John McCain đều hứa hẹn Mỹ có thể sẽ nới lỏng hơn nữa việc bán vũ khí cho Việt Nam để Việt Nam có thể tự vệ trong các cuộc tranh chấp trên Biển Đông.

May mắn thứ ba là việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo tại Trường Sa sẽ làm thức tỉnh giới lãnh đạo Việt Nam. Lâu nay, bất chấp các âm mưu xâm lấn của Trung Quốc, chính quyền Việt Nam vẫn khăng khăng lặp đi lặp lại mấy khẩu hiệu dối trá và cũ rích về “4 tốt” (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt) và 16 chữ vàng (Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai). Năm ngoái, khi Trung Quốc cho giàn khoan Hải Dương 981 vào thềm lục địa Việt Nam, có lẽ chính quyền Việt Nam phần nào đã thức tỉnh. Từ đó, việc lặp lại các khẩu hiệu trên có chiều hướng giảm dần. Nhưng dù sao việc mang giàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam cũng ít nguy hiểm hơn việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo và quân sự hoá chúng: từ các căn cứ ấy, việc đánh chiếm các hòn đảo khác ở Trường Sa do Việt Nam làm chủ sẽ trở thành dễ dàng hơn rất nhiều. Đó là chưa kể đến việc, trên cơ sở sự hiện hữu của các hòn đảo nhân tạo ấy, Trung Quốc sẽ tuyên bố thành lập vùng nhận diện hàng không trên toàn bộ Biển Đông.

Khi cho việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo ở Trường Sa sẽ “thức tỉnh” giới lãnh đạo Việt Nam, tôi có hai hàm ý: Một, trước đó, họ chưa biết; và hai, họ quan tâm và tha thiết đến việc bảo vệ chủ quyền cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Với hàm ý thứ hai, có thể sẽ có một số người cho là tôi nhẹ dạ: theo họ, trên thực tế, giới cầm quyền Việt Nam đã đầu hàng hoặc thậm chí, bán đứng Biển Đông cho Trung Quốc. Tôi cố không tin như vậy. Một số người thì có thể, nhưng rất khó tin cả một tập thể đông đảo đến gần 200 người trong Ban chấp hành Trung ương đảng đều đang tâm làm việc đó. Tôi nghĩ, sẽ thuyết phục hơn, nếu chúng ta cho: Một, họ biết nhưng mức độ biết còn hạn chế, chưa thấy hết toàn cảnh những hiểm hoạ đến từ phương Bắc; hai, họ biết nhưng có ảo tưởng là cùng chia sẻ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc sẽ nhẹ tay, không đẩy họ vào thế đường cùng; ba, họ biết nhưng họ theo đuổi sách lược kềm chế và nhân nhượng với hy vọng có đủ thời gian để tìm liên minh cũng như trang bị thêm khí giới chuẩn bị cho những chiến tranh mà theo một số quan sát viên quốc tế, “không thể tránh khỏi”.  Thôi thì, rộng lượng, chúng ta thiên về khả năng thứ ba.

Tuy nhiên, sách lược kềm chế và nhân nhượng cũng phải có giới hạn của chúng: kềm chế và nhân nhượng đến mức nào? Trước, vào năm 2011, tôi đã đặt ra vấn đề ấy trong bài “Nhịn đến chừng nào?”.

Gần đây, trong bài “Phải ấn định một lằn ranh cho Trung Cộng”, nhà báo Ngô Nhân Dụng cũng đặt ra vấn đề tương tự. Ông viết: “người Việt Nam phải xác định một lằn ranh, nếu Trung Cộng bước qua thì sẽ phản ứng quyết liệt. Một chính phủ Việt Nam biết bảo vệ danh dự và chủ quyền dân tộc không thể để cho Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục lấn lướt. Phải xác định trước cả thế giới “lằn ranh” của lòng kiên nhẫn. Nêu rõ những hành động nào của Trung Cộng sẽ được coi là bước qua lằn ranh đó, công bố cho cả vùng Ðông Nam Á và các cường quốc có quyền lợi trong vùng biết rõ. Lằn ranh này được xác định là “bước đường cùng,” tới đó thì nước Việt Nam không thể chịu đựng với lòng nhẫn nhục. Phải báo trước nếu Bắc Kinh bước qua lằn ranh đó thì sẽ sinh chuyện lớn.”

Lâu nay, giới lãnh đạo Việt Nam vẫn lần khân trong việc công bố những giới hạn của sự kềm chế và nhân nhượng của họ. Sự kiện Trung Quốc xây dựng các hòn đảo nhân tạo buộc họ phải suy nghĩ đến những điều đó. Hoặc, nếu họ vẫn có ảo tưởng về lòng tốt của người bạn láng giềng cùng theo chủ nghĩa xã hội thì họ sẽ thức tỉnh và quay lại lo toan cho chủ quyền và tương lai của đất nước.

Tôi cho những sự kiện vừa xảy ra là một điều “may mắn” và chúng ta cần “cám ơn” Trung Quốc là vì thế.

THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

“Chỉ có Tình Yêu mới đáp đền Tình Yêu” – Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu

Trong một cuộc phỏng vấn, Mẹ Têrêsa Calculta đã phát biểu như sau:

Trong 20 năm phục vụ người nghèo, càng lúc tôi càng ý thức rằng: Cô đơn là căn bệnh khủng khiếp nhất của con người. Ngày nay, người ta đã tìm ra được thuốc chữa bệnh phong cùi. Bệnh nào cũng có thể có thuốc để chữa. Nhưng nếu người ta không biết chìa bàn tay ra để phục vụ và không có được một quả tim biết yêu thương thì con người sẽ không bao giờ chữa lành được căn bệnh khủng khiếp này.

Ai cũng đã hơn một lần hiểu được thế nào là cô đơn: một đứa bé rời gấu áo mẹ để cắp sách đến trường, một người ngoại quốc đặt chân đến một xứ sở xa lạ, một người bệnh nằm liệt giường lâu năm, một người tàn tật bị hạn chế trong các quan hệ với người khác v.v… Có lẽ không ai thoát khỏi sự cô đơn.

Chính Chúa Giêsu cũng cảm nghiệm sâu sắc niềm đau ấy. Mang lấy thân phận con người, chia sẻ khổ đau với con người, Ngài cũng không thoát khỏi cô đơn. Nỗi niềm ấy đã dâng cao trong nhiều giờ phút cuối đời Ngài khi bị treo lơ lửng trên không, làm trò cười cho những người xung quanh, Chúa Giêsu lại còn cảm thấy như bị chính Chúa Cha bỏ rơi. Ngài đã đi đến tận cùng sự cô đơn của con người. Nhưng cũng chính trong những giờ phút ấy, Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta chân lý tối hậu của Kitô giáo. Chân lý đó là “Thiên Chúa là Tình Yêu.” Qua thái độ tin phục và tín thác, Chúa Giêsu đã tỏ bày cho chúng ta thấy rằng: Chỉ trong Thiên Chúa Tình Yêu, con người mới tìm gặp được bản thân và thắng vượt được sự cô đơn.

***********************

Qúy vị và các bạn thân mến,

Hôm nay lễ Trái Tim Chúa Giêsu.  Năm 1698 – Tám năm sau ngày Thánh nữ Magarita Maria Alacoque, một nữ tu thuộc Dòng Thăm Viếng tại Pháp quốc qua đời, người ta khám phá được một tập sách có tựa đề: Tôn sùng Trái Tim Chúa Giêsu.  Tập sách đã khơi dậy những tâm tình sốt sắng của nhiều người Pháp đương thời đối với Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Năm 1765, theo nhu cầu của hàng giáo sĩ, Giáo Hội tại pháp đã cho thiết lập lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu.  Điều đáng ghi nhận là lễ này được phát sinh vào thời kỳ được mệnh danh là Thế kỷ của Ánh sáng.  Ánh sáng mà các triết gia của thế kỷ 18 đề cao chính là ánh sáng của khoa học và lý trí.  Nhiều người nhân danh lý trí để bác bỏ mọi tình cảm đạo đức và ngay cả niềm tin.  Do đó, lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu là một nhắc nhở cho con người thời đại về Tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu vượt qua mọi lý giải của khoa học và lý trí của con người.  Triết gia Pascal đã nói như sau: “Chính trái tim cảm nhận được Thiên Chúa, chứ không phải lý trí.”  Đức tin là thế đó!  Thiên Chúa cho anh trái tim chứ không phải lý trí để cảm nhận được Ngài.  Phép lạ của Con Một Thiên Chúa chính là trở thành người anh em của chúng ta, với một trái tim nhạy cảm đối với nỗi khổ đau của chúng ta.  Sự mới mẻ mà Chúa Kitô đã mang đến cho nhân loại là đã tỏ bày cho chúng ta một Thiên Chúa với một trái tim biết đập bằng những nhịp đập của trái tim con người.

Đó là tất cả lý do tại sao Giáo Hội không ngần ngại khẳng định trong Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng rằng: “Vui mừng và hy vọng, khổ đau và thử thách của con người cũng chính là vui mừng và hy vọng, khổ đau và thử thách của Giáo Hội.”  Giáo Hội chỉ có thể trung thành với Chúa bằng cách chia sẻ hoàn toàn cuộc sống của con người mà thôi.  Chỉ bằng một sự cảm thông và chia sẻ như thế, Giáo Hội mới có thể tỏ bày Trái Tim của Chúa Giêsu, hình ảnh trọn hảo của Thiên Chúa.  Trái Tim của Chúa Giêsu là một trái tim biết rung lên những nhịp của lắng nghe và cảm thông.

Với trái tim ấy, Ngài mời gọi chúng ta chờ đợi và nhận biết gương mặt của Thiên Chúa trong mỗi người anh em chúng ta, nhất là những người mà khổ đau làm cho biến dạng.

Với một trái tim ấy, Ngài cho chúng ta hiểu được rằng: Chính Thiên Chúa là Tình Yêu.

Với trái tim ấy, Ngài ban cho chúng ta sức mạnh cần thiết để đáp trả lại Tình yêu của Thiên Chúa bằng chính Tình yêu của chúng ta dành cho người anh em.

Với trái tim ấy, Ngài mời gọi chúng ta đặt tất cả tin tưởng và phó thác vào Tình yêu vô biên của Thiên Chúa.

***********************

Lạy Trái Tim Chúa Giêsu, Ngài đã cho chúng con một quả tim mới, một Thần khí mới, xin dạy

con biết yêu như Ngài đã yêu để đền đáp lại tình yêu mà trái tim Ngài đã dành cho con.

Sưu tầm

9 câu hỏi rất khó và 9 câu trả lời tuyệt vời

9 câu hi rt khó và 9 câu tr li tuyt vi

Một trí giả thích ngụy biện đến gặp Socrates nhà hiền triết xứ Hi Lạp và đặt nhiều câu hỏi khó với mục đích làm cho Ngài bối rối. Nhưng nhà hiền triết xứ Milet có thừa khả năng để trả lời. Sau đây là các câu hỏi:

1. – Trong các vật hiện hữu, cái gì xưa nhứt ?
– Thượng Đế, vì ở thời đại nào, Ngài cũng hiện hữu.

2. – Trong các vật, vật nào đẹp nhứt ?
– Vũ trụ, vì vũ trụ là công trình của Thượng Đế.

3. – Trong các vật, vật nào lớn nhứt ?
– Không gian, vì nó chứa tất cả những gì sáng tạo.

4. – Trong các vật, vật gì vững bền nhứt ?
– Hy vọng, vì khi con người mất hết, nó vẫn còn.

5. – Trong các vật, vật nào tốt nhứt ?
– Đức hạnh, vì thiếu nó không có một việc gì tốt đẹp.

6. – Trong các vật, vật chi di chuyển mau nhứt ?
– Tư tưởng, vì trong một giây nó có thể đến tận bên kia vũ trụ.

7. – Trong các vật, vật chi mạnh nhứt ?
– Nhu cầu, vì nó giúp ta san bằng các khó khăn to lớn nhứt.

8. – Trong các việc, việc chi dễ làm nhứt ?
– Khuyên bảo.

9. – Trong các việc, việc nào khó nhứt ?
– Tự biết mình.

SUY NGHĨ

Một câu chuyện ngụ ngôn rất hay. Trong đời tôi cũng đã có vài lần xảy ra tương tự như chuyện sau đây :

Vợ tôi, khi người còn khỏe mạnh, cùng tôi đi chùa lạy Phật. Vợ tôi và tôi vừa chấp tay lạy Phật thì nghe vị thầy tu đang giảng đạo-pháp thao thao bất tuyệt. Bổng có một bà cụ già bước đến bên vị tu sĩ hỏi xin thầy ngừng ở đây để cho bà hỏi thầy một câu. Vậy thì vị tu sĩ bỏ cuốn sách xuống và bắt đầu quở trách bà cụ nầy oang oang trên máy vi âm: “Tôi đang thuyết giảng mà sao bà làm tôi cụt hứng không còn nhớ tôi đọc đến chổ nào nữa”.. “Bà …bà… bà…v.v… Bà không được làm như vậy nữa nghe chưa?”

Tôi nghe lời mạt-sát của ông nầy rất chướng tai. Tôi giận cho thái-độ xỉ mạ của ông đối với người già cả. Tôi liền bảo nhà tôi ngưng lạy và lui ra để tôi vào gọi ông thầy chùa nầy hỏi vì sao ông mạt-sát người già cả. Phật, thầy nào dạy ông làm điều nầy? Ông đã tu được bao nhiêu năm mà ông không trấn tỉnh được sự sân-si? Tôi vừa nói vậy với vợ tôi thì vợ tôi bảo rằng: “Người ta đã sai, sân-si quá. Bây giờ anh cũng sân-si nữa thì chúng ta đi chùa làm gì?
Tôi nghe vợ tôi nói quá phải. Tôi đành theo nàng đi về nhà và lạy tượng Phật ở nhà. Tôi xin hứa với Phật rằng từ nay con không còn hành động trong cơn nóng giận nữa. Từ đó vợ tôi thương quý tôi nhiều hơn. Nàng bảo: “Sao dạo nầy trông anh hiền như Bụt vậy?” Tôi bảo nàng: Tôi nhớ chuyện đi chùa hôm ấy. Tôi đã thành Phật rồi .

Hòn Ðá Ném Ði

Văn hào Nga Leon Tonstoï có kể câu chuyện ngụ-ngôn như sau:
“Có một người hành-khất nọ đến trước cửa nhà của một người giàu có để xin bố-thí. Một đồng xu nhỏ hay một miếng bánh vụn, đó là tất cả những gì người ăn xin chờ đợi nơi người giàu có. Nhưng, mặc cho người khốn khổ van xin, người giàu có vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Ðến một lúc không còn chịu nổi những lời van xin của người hành khất, thay vì bố-thí, người giàu đã lấy đá ném vào con người khốn-khổ.
Người hành-khất lặng lẽ nhặt lấy hòn đá cho vào bị rồi thì thầm trong miệng: “Ta mang hòn đá này cho đến ngày nhà người sa-cơ thất-thế. Ta sẽ dùng nó để ném trả lại ngươi”.
Ði đâu, người hành-khất cũng mang theo hòn đá ấy. Tâm hồn ông lúc nào cũng cưu-mang sự báo thù.

Năm tháng qua đi. Lời chúc dữ của người hành-khất đã thành sự thật. Vì biển lận, người giàu có bị tước đoạt tất cả tài-sản và bị tống giam vào ngục. Ngày hôm đó, người hành-khất chứng kiến cảnh người ta áp giải người giàu vào tù ngục. Nỗi căm hờn sôi-sục trong lòng ông. Ông đi theo đoàn người áp tải. Tay ông không rời bỏ hòn đá mà người giàu đã ném vào người ông cách đây mười mấy năm. Ông muốn ném hòn đá đó vào người tù để rửa sach mối nhục hằng đeo đẳng bên ông. Nhưng cuối cùng, nhìn thấy gương mặt tiều tụy đáng thương của kẻ đang bị cùm tay, người hành khất thả nhẹ hòn đá xuống đất rồi tự nhủ: “Tại sao ta lại phải mang nặng hòn đá này từ bao nhiêu năm qua? Con người này, giờ đây, cũng chỉ là một con người khốn khổ như ta”.

Tha thứ là điều khó khăn nhất nhưng cũng là điều cao cả nhất.

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Mầu nhiệm tình yêu.

Mầu nhiệm tình yêu.

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

“Lúc đó tôi biết thế nào tôi cũng chết, nhưng tôi muốn con tôi được sống”. Đó là lời của bà Suzanna sau khi được cứu trong trận động đất ở Armêni vào tháng 12/1987. Trong số hàng ngàn người bị vùi lấp dưới đống gạch, có hai mẹ con bà Suzanna may mắn còn sống sót. Cô con gái bốn tuổi đòi uống nước. Tìm đâu ra nước khi hai mẹ con không có lối ra? Tình mẫu tử đã gợi lên cho bà một ý nghĩa táo bạo, đó là rạch ngón tay mình chảy máu để cho con mút. Đứa bé đã đỡ khát nhờ máu người mẹ. Nó đã sống cho đến khi cả hai mẹ con được cứu.

Câu truyện trên giúp chúng ta hiểu phần nào bí tích Thánh Thể. Chúa Giêsu đã chết để chúng ta được sống. Ngài chấp nhận chịu đổ máu qua cái chết thập giá và Ngài lấy Thịt Máu Ngài làm lương thực nuôi sống chúng ta.

Chính trong bối cảnh lễ Vượt Qua của người Do Thái, Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh Thể, bí tích của Giao Ước mới: Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn đệ, đó là cử chỉ thuộc nghi thức bữa tiệc Vượt Qua (x.Xh 12,26-27). Nhưng lời mời gọi: “Các con hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình Thầy”, Chúa Giêsu đã biến đổi ý nghĩa của cử chỉ thuộc lễ Vượt Qua cũ, và làm cho nó trở thành cử chỉ của riêng Ngài. Cả lời Chúa phán trên chén rượu cũng vậy: “Này là chén Máu Thầy, Máu Giao Ước mới sẽ đổ ra cho nhiều người được tha tội”. Lời này đã gợi lại Giao Ước Sinai, nhưng ở đây giao ước không còn được niêm ấn bởi máu chiên bò, mà là máu của chính Con Một Thiên Chúa, máu có hiệu lực thanh tẩy tội lỗi (Bđ. 2)

Hơn nữa, nếu trong lễ Vượt Qua, người ta cùng ăn thịt con chiên chịu sát tế, thì cử chỉ Chúa Giêsu bẻ bánh, trao cho, ám chỉ thân xác Chúa bị xâu xé, hiến cho người khác, và lời nói: “Máu Giao Ước mới sẽ đổ ra cho nhiều người…” lại càng làm nổi bật ý nghĩa hy tế của lễ Vượt Qua mới, tức là Bàn Tiệc Thánh Thể. Nói cách khác, dưới hình thức bánh rượu, Chúa Giêsu đã thể hiện trước, đã cảm nếm trước cuộc vượt qua của chính Ngài, tức là cuộc khổ nạn và Phục Sinh sẽ xảy ra hôm sau. Ngài biến cái chết thành hy lễ cứu độ đem là sự sống, thành quà tặng và lương thực siêu nhiên cho tất cả những ai tin vào Ngài. Nhờ đó, các môn đệ Chúa Giêsu khi ăn bữa tiệc này, đã được dự phần vào Giao Ước mới, được hiệp thông với Ngài trong biến cố chết và sống lại, được cùng với Ngài đi từ cõi chết vào cõi sống muôn đời. Và cũng từ đó, qua muôn thế hệ, mỗi lần cử hành Thánh Thể, một mặt Giáo Hội tái diễn và hiện tại hoá cuộc hiến tế của Chúa Giêsu để nhớ đến Ngài; mặt khác, Giáo Hội lại hướng về tương lai, hướng tới ngày Chúa đến t
rong vinh quang để đưa chúng ta vào dự bàn tiệc Nước Trời, bàn tiệc viên mãn đã được khơi mào từ Bàn Tiệc Thánh Thể hôm nay.

Theo lời Chúa truyền dạy: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (1Cr 11,24b), mỗi ngày và đặc biệt trong ngày Chúa Nhật, Giáo Hội cử hành Thánh Thể để nhắc con cái mình nhớ đến tình yêu của Đấng đã hiến mạng sống vì nhân loại, Đấng ấy vẫn đang hiện diện để trao ban cho nhân loại bánh sự sống là chính Mình Máu Ngài. Vì thế, khi tham dự Thánh Lễ, tôi không hiện diện như khán giả xem một vở kịch, cũng không phải chỉ nhớ đến một kỷ niệm trong quá khứ không liên hệ gì đến cuộc sống thực tế, nhưng là hiệp thông sự sống với Chúa Kitô, là chia sẻ hy tế thập giá của Ngài và cùng với Ngài tôi hiến dâng thân mình làm lễ tế sống động đẹp lòng Thiên Chúa (x. Rm 12,1). Do đó, khi tham dự Thánh Lễ, tôi không lập đi lập lại những cử chỉ, những động tác theo thói quen, nhưng tôi hiến dâng cho Chúa niềm vui nỗi buồn, những lo âu và hy vọng, những tâm tư thao thức của tôi. Nói chung là tất cả những gì đan dệt nên cuộc sông đời thường đều có thể trở thành hy lễ dâng lên Thiên Chúa, những hy lễ như dấu chỉ tình yêu của tôi nhằm đáp
trả Đấng đã yêu thương đến nỗi hiến ban chính Con Một yêu dấu cho tôi.

Mặt khác, Thánh Thể không chỉ tạo mối tương quan ân tình giữa Chúa và cá nhân tôi, nhưng còn mờ rộng, bao trùm mọi người. Thật vậy, bí tích Thánh Thể đã được Chúa Giêsu thiết lập trong bầu khí thân tình của một bữa ăn từ giã. Tấm bánh Chúa Giêsu đã cầm và phân chia cho các môn đệ chính là bánh của bữa ăn hằng ngày nơi Ngài sống. Chén rượu cũng vậy, và bánh ấy, rượu ấy, đã được biến đổi thành Mình Máu Ngài. Do đó mầu nhiệm Thánh Thể còn là mầu nhiệm chia sẻ, chia sẻ để mọi người cùng ăn cùng uống trong tình huynh đệ, và chính việc chia sẻ này đã được Chúa Giêsu dùng như dấu chỉ các môn đệ làm để nhớ đến Ngài: Hai môn đệ đi Emmau đã nhân ra Đấng Phục Sinh và chính lúc Ngài “cầm lấy bánh chúc tụng, đoạn bẻ ra trao cho hai ông…” (Lc 24,30-31).

Ý thức chia sẻ đòi buộc mỗi người chúng ta không được đóng khung nhưng buổi cử hành Thánh Thể bên trong nhà thờ, nhưng phải sống mầu nhiệm Thánh Thể, mầu nhiẹm yêu thương ngay trong cuộc đời mỗi ngày. Chúng ta cũng không thể cử hành Thánh Thể một cách trung thực, nếu chúng ta sống dững dưng ích kỷ, bưng tai bịt mắt trước nhưng anh em đói khát khốn cùng, đòi khát cơm bánh vật chất, nhất là đói khát công lý và tình thương.

Giờ đây, chúng ta sắp cùng nhau chia sẻ Bàn Tiệc Thánh Thể, chia sẻ Mình Máu Chúa Kitô, Đấng đã hiến cả cuộc đời mình nên của lễ tình yêu. Xin Chúa giúp chúng ta, một khi đã hiệp thông với Ngài, thì cũng biết thông hiệp với anh em bằng cuộc sống yêu thương phục vụ, Có như thế, Bàn Tiệc Thánh Thể sẽ trở nên điểm hẹn diệu kỳ, nơi đây chúng ta được nối kết với Chúa Kitô, thông chia cùng một sự sống với Ngài. Nơi đây, chúng ta nối kết với mọi người anh em, để cùng nhau xây dựng một thế giới công bằng, yêu thương, đang lúc chờ đợi Bàn Tiệc hạnh phúc vĩnh cửu trong vinh quang Nước Trời.

Quyền bầy tỏ trong sự kiểm soát của chính phủ

Quyền bầy tỏ trong sự kiểm soát của chính phủ

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok

RFA

06072012-the-right-to-express.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Sau chiến thắng của U23 Việt Nam, trong sự phấn khích cao độ, hàng nghìn người hâm mộ Hà Nội đã xuống đường tỏ nỗi vui mừng ngày 3 tháng 6, 2015

Sau chiến thắng của U23 Việt Nam, trong sự phấn khích cao độ, hàng nghìn người hâm mộ Hà Nội đã xuống đường tỏ nỗi vui mừng ngày 3 tháng 6, 2015

Photo courtesy kienthuc.net

Có những dịp đông đảo người Việt tràn ra đường để bày tỏ cảm xúc hay ý kiến riêng được chính quyền để diễn ra một cách tự do, thoải mái. Trong khi đó có những nhóm người dân tập trung lại bị cơ quan chức năng thẳng tay giải tán.

Tại sao lại có tình trạng như thế?

Đám đông tự do ăn mừng thắng lợi bóng đá!

Nhiều ngưởi hâm mộ bóng đá Việt Nam tại Hà Nội và Sài Gòn vào tối ngày 2 tháng 6 vừa qua lại được dịp đổ xô xuống đường với cờ xí, băng rôn, giải đeo trên đầu … để ăn mừng thắng lợi của đội tuyển bóng đá U23 Việt Nam 5-1 trước đội Malaysia trong trận tranh chiếc vé vào vòng bán kết Sea Games 28.

Vào những đêm ăn mừng chiến thắng của bóng đá như thế, các fan cuồng thường được thỏa thích phóng xe máy theo từng tốp mà không bị cảnh sát giao thông phạt vi phạm. Rồi những hoạt động gây ách tắc giao thông, làm náo động thành phố… cũng đều được lực lượng chức năng nhắm mắt làm ngơ để người hâm mộ được dịp bày tỏ sự sung sướng tột độ về chiến thắng mà những cầu thủ đội nhà đem đến cho họ. Đối với nhiều người đó cũng là một niềm ‘tự hào dân tộc’ vì thành tích vẻ vang trước đội mang ‘màu cờ, sắc áo’ của một quốc gia khác.

Thực lực đội nhà!

Để có được chiến thắng làm nức lòng người, nhiều nước đã phải đầu tư lâu dài cho các thế hệ cầu thủ từ khi còn nhỏ. Tiếp đó trong suốt quá trình đào tạo cho đến khi được tuyển chọn để đi thi đấu, ngân sách quốc gia cũng phải được chi ra cho việc rèn luyện, bồi dưỡng, thuê huấn luyện viên… với mục tiêu giành chức vô địch trước nước khác để mang vinh quang về cho nước nhà.

Một thành viên của CLB bóng đá No-U FC tại Hà Nội, anh Lã Việt Dũng nói về thắng lợi mà đội U23 Việt Nam đạt được vừa qua:

“Tôi thấy thắng lợi cũa đội U23 Việt Nam không phải đùng một cái họ thắng mà là một quá trình. Tất nhiên nó xuất phát từ việc đào tạo cầu thủ trẻ của Việt Nam, đặc biệt là Hoàng Anh Gia Lai, Học viện Hoàng Anh Gia Lai họ cũng đào tạo ra được một lứa cầu thủ bài bản. Nhưng theo tôi thấy về vấn đề chuyên môn thuần túy thì đó vẫn chưa là bền vững. Bởi vì Việt Nam còn đang trong vùng trũng của Đông Nam Á, mà Đông Nam Á còn là vùng trũng của thế giới nữa. Cho nên chiến thắng đối với đối thủ trong vùng chưa là gì cả so với thế giới. Thứ hai về phát triển của bóng đá Việt Nam thì chúng tôi chưa thấy có ‘chiều sâu và chiều rộng’ vì những đội bóng, doanh nghiệp làm được như Hoàng Anh- Gia Lai rất ít.

” Vào những đêm ăn mừng chiến thắng của bóng đá như thế, các fan cuồng thường được thỏa thích phóng xe máy theo từng tốp mà không bị cảnh sát giao thông phạt vi phạm. Rồi những hoạt động gây ách tắc giao thông, làm náo động thành phố… cũng đều được lực lượng chức năng nhắm mắt làm ngơ “

Theo tôi nghĩ vấn đề ở đây là kinh tế Việt Nam chưa được phát triển; và bản thân các doanh nghiệp tư nhân chưa có điều kiện để đầu tư vào bóng đá.

Các môn thể thao khác còn tệ hơn bóng đá. Mặc dù Sea Games đang diễn ra, có thể Việt Nam giành được khá nhiều huy chương vàng. Ngoại trừ bơi lội và những môn điền kinh cơ bản ra ( mà không được nhiều lắm) thì những môn như bi sắt, đấu kiếm không phải là những môn thể thao mang tính cơ bản của người Việt Nam. Nền thể thao Việt Nam còn phải cố gắng rất nhiều. Đó chưa phải gì là thành công cả!”

Cuộc biểu tình phản đối chính quyền TP Hà Nội chặt hạ 6.700 cây hồi tháng 4 vừa qua đã nhanh chóng bị công an đàn áp dã man

Cuộc biểu tình phản đối chính quyền TP Hà Nội chặt hạ 6.700 cây hồi tháng 4 vừa qua đã nhanh chóng bị công an đàn áp dã man

Cùng chia xẻ ý kiến của anh Lã Việt Dũng, nhiều người Việt Nam cũng thừa nhận việc chạm đến chiếc cúp vàng bóng đá trong khu vực vẫn còn là niềm mơ ước của họ. Có lúc tưởng chừng gần chạm vào lại bị vuột mất!
Trong lần tham gia Sea Games 28 do Singapore đăng cai năm nay, Việt Nam cũng chỉ đặt mục tiêu lọt vào nhóm các nước đứng đầu như trình bày của ông Hoàng Vĩnh Giang, phó chủ tịch Ủy ban Olympic Châu Á đồng thời là phó chủ tịch thường trực Ủy ban Olympyc Việt Nam sau đây:

“Việt Nam căn cứ vào khả năng của mình ở những môn trọng điểm đầu tư. Người ta tổ chức 36 môn, Việt Nam chỉ tham gia 26 môn thôi và mục tiêu cũng chỉ đạt tốp đầu!”

Sách lược khi cấm, khi thả!

Theo nhiều người thì việc bày tỏ vui mừng trước thắng lợi của đội bóng đá nước nhà như một niềm tự hào dân tộc thì không có gì là qúa đáng và đây là tình cảm tự nhiên của con người. Dân chúng những nước khác cũng hành xử tương tự khi đội đại diện cho quốc gia họ giành được những thành tích thể thao trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, theo những người luôn đau đáu với tình hình đất nước hiện nay tại Việt Nam, còn có những ưu tiên khác cần phải để cho dân chúng bày tỏ ý kiến một cách công khai như phải cùng nhau xuống đường để lên tiếng phản đối Trung Quốc có những hành động ức hiếp Việt Nam. Một nhà hoạt động tại Việt Nam, anh Nguyễn Lân Thắng bày tỏ ý kiến về thắng lợi của đội tuyển U23 Việt Nam và đưa ra nhận định về hành xử của chính quyền trước việc để cho người hâm mộ bóng đá được thoải mái có những hành vi bộc phát ăn mừng chiến thắng; trong khi lại mạnh tay đối với những nhóm tập trung lên tiếng vì bất công xã hội, vì đât nước lâm nguy:

“ Trước hết tôi cũng thấy rất vui khi đội tuyển bóng đá Việt Nam có một chiến thắng giòn giã trước Malaysia. Nhưng nhìn xa hơn một chút, những chiến thắng này chỉ trong lĩnh vực thể thao; cái điều mà theo tôi nghĩ người dân Việt Nam cần hơn là chiến thắng trong cuộc sống, chiến thắng trong lao động, trong chính những điều cần thiết hơn rất nhiều ở trong cuộc sống.

” Tất cả những hoạt động lễ hội, những hoạt động bóng đá rồi thể thao có số đông quần chúng tham gia thì họ không bao giờ can thiệp. Thế nhưng hễ như có hoạt động dù nhỏ thôi mà có sự phản kháng, phản đối của người dân đối với những chính sách, đến những đòi hỏi quyền lợi dân sinh rất bình thường thì người ta ngăn chặn một cách quyết liệt

anh Nguyễn Lân Thắng”

Thế còn việc Nhà nước để cho những hoạt động ăn mừng chiến thắng, rồi đổ ra đường, rồi chạy xe cả đêm… Vấn đề đó ở Việt Nam từ trước đến nay vẫn vậy: tất cả những hoạt động lễ hội, những hoạt động bóng đá rồi thể thao có số đông quần chúng tham gia thì họ không bao giờ can thiệp. Thế nhưng hễ như có hoạt động dù nhỏ thôi mà có sự phản kháng, phản đối của người dân đối với những chính sách, đến những đòi hỏi quyền lợi dân sinh rất bình thường thì người ta ngăn chặn một cách quyết liệt.”

Anh Lã Việt Dũng cũng có ý kiến về điểm này:

“Không những Nhà nước cho những hoạt động như vậy, mà họ còn mong và chờ những cơ hội như vậy để họ cải thiện hình ảnh. Ví dụ như trận bóng đá giữa Việt Nam và Malaysia vừa rồi tôi thấy có cả ca sĩ Phương Thanh rồi hoa hậu, á hậu được họ tài trợ sang. Những ai theo dõi bóng đá Việt Nam gần đây thì thấy có những câu lạc bộ cổ động viên mà tôi có cảm giác như là dư luận viên để đánh bóng thành công nhất thời của thể thao Việt Nam để người dân họ có thể quên đi những cái bất cập xã hội khác. Và cũng rất logic khi có một sự kiện chiến thắng thể thao như vậy, thì chính quyền bật đèn xanh, cổ vũ mọi người ăn mừng làm như Việt Nam ta đây cũng rất là giỏi, cũng rất yêu nước; trong khi những sự việc xảy ra mà những người có tâm tư, có quan tâm đến tình hình đất nước hơn một chút họ rất lo lắng như tình hình về Biển Đông, tình hình về kinh tế- chính trị- xã hội thì chính quyền Việt Nam lờ đi và thậm chí ngăn cản người dân bày tỏ ý kiến.”

Thực tế vào năm ngoái cho thấy ngay cả trong lúc tình hình căng thẳng giàn khoan 981 của Trung Quốc được ngang nhiên cho hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam; có những cuộc biểu tình ‘phản đối’ được cơ quan chức năng tổ chức trong trụ sở cơ quan, trong khi đó những cuộc tuần hành của người dân đã bị ngăn trở và cuối cùng bị dẹp.

KHIÊM CUNG

KHIÊM CUNG

Lễ phép là phép thuật giữa đời thường, và thường ...

(Giáo dục thời VNCH)

Mạnh Kim

Mở đầu: “Xin được mạn phép…”

Kết thúc:”Có điều gì sai sót, xin niệm tình thứ lỗi.”

Tôi vẫn tin, một cách cực đoan, rằng chỉ có nền giáo dục tử tế mới có những con người tử tế và biết cách khiêm cung, biết cách giới hạn lòng tự tôn và biết cách kiểm soát bản thân trước những lời khen. Chẳng có gì nhanh chóng đẩy chúng ta xuống vực bằng cách thỏa mãn sự vuốt ve lẫn sự tự vuốt ve. Giới học giả trước 1975 tại miền Nam gần như chẳng ai phách lối coi mình là cái rốn của vũ trụ, kể cả triết gia cực ngông Phạm Công Thiện.

Sự khiêm cung thể hiện ở ngay trong tác phẩm họ soạn hoặc dịch. Trong “Nam Hoa Kinh” (Tủ sách Tân Việt xuất bản, 1962), dịch giả – cụ Nhượng Tống – viết lời mở đầu: “… Tôi mong các bạn sẽ phân-tích và được chịu những lời dạy-bảo cao-minh. Tài học tôi có lẽ chưa đủ hiểu hết phần cao-siêu trong học-thuyết Trang và chưa đủ quyền nói đến những chuyện mà phạm-vi là “vô cực”…

Trong “Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam” (NXB Hiện Tại, 1959), Linh mục Mậu Hải viết lời giới thiệu cho tác giả-Linh mục Nguyễn Hồng: “… Nhưng trí một người có hạn, óc cá nhân có mức nên tác giả cũng như kẻ cầm bút viết mấy lời này vẫn thành thực thầm ước được nghe lời chỉ giáo của chư độc giả bốn phương”. Và trong “Việt Nam Văn học Sử yếu” (Trung tâm Học liệu, Bộ giáo dục VNCH, 1968), cụ Dương Quảng Hàm viết: “…. Quyển sách này còn có nhiều chỗ thiếu-thốn sơ-lược, sau này cần phải bổ-khuyết hoặc giải-thích thêm…, ngõ-hầu một ngày kia tìm thấy những hoa lạ quả quý hiện nay còn ẩn khuất trong đám cành lá rậm-rạp, thì thật là hân-hạnh cho chúng tôi lắm”.

Mà không phải trong giới nghiên cứu học thuật mới có sự khiêm cung. Trong khoa học cũng tương tự. Có thể thấy điều này trong giới khoa học thuộc cộng đồng Việt kiều. Chúng ta đã nghe nói đến kỹ sư Đinh Trường Hân (đoạt giải môi sinh của Nhà Trắng năm 2006, được tạp chí Public Works chọn là một trong 50 nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn nhất nước Mỹ năm 2006); từng nghe nói đến bà Lê Duy Loan (kỹ sư Texas Instruments-TI; với hàng chục bằng sáng chế; trở thành phụ nữ đầu tiên và là gương mặt châu Á đầu tiên được bầu làm viện sĩ TI – chức danh trước đó chỉ được trao cho bốn gương mặt nam trong lịch sử TI); từng nghe nói đến bà Dương Nguyệt Ánh (tổng giám đốc Phòng khoa học-kỹ thuật thuộc Trung tâm chiến sự Hải quân Hoa Kỳ, người thiết kế bom cực mạnh chuyên phá hầm bêtông); từng nghe nói đến ông Trung Dũng (tiến sĩ khoa học máy tính Đại học Boston; cử nhân toán và khoa học máy tính Đại học Massachusetts; từng xuất hiện trên các tạp chí Forbes, Financial Times, Wall Street Journal, San Francisco Chronicle cũng như trong quyển The American Dream của nhà báo kỳ cựu Dan Rather)… Chúng ta đã nghe về tài năng của họ. Điều chúng ta chưa nghe đến là thái độ vung vẩy ngạo mạn lố bịch của họ. Có lẽ điều đó không bao giờ xảy ra.

Gần đây, trong chương trình “Tôi Là Người Việt Nam”, cô Nguyễn Cao Kỳ Duyên cũng kể đến trường hợp ông Trịnh Tiến Trinh, người dù từng được giải “NASA’s Inventor of The Year 1992″ nhưng vẫn thấy… “mắc cỡ” khi được ông Nguyễn Ngọc Ngạn dùng từ “khoa học gia” gọi mình. Hoặc chuyện ông Đinh Xuân Anh Tuấn (bác sĩ, giáo sư, nhà nghiên cứu). Khi được ông Ngạn hỏi: “Ông vừa là một bác sĩ, vừa là một nhà giáo vậy ông muốn tôi xưng bác sĩ hay giáo sư?”. Ông Tuấn trả lời: “Thưa anh Ngạn, tôi chỉ là một bác sĩ khi đứng trước bệnh nhân và một giáo sư khi đứng trước học trò, còn ở đây anh cứ gọi bằng tên thường được rồi”.

Khiêm cung. Tại sao họ lại khiêm cung? Họ hẳn hiểu rằng chẳng ai có thể toàn bích và sự hiểu biết dù mênh mông của họ vẫn luôn có những giới hạn nhất định… Cá nhân tôi vẫn tin rằng, một cách cực đoan, chỉ có một nền giáo dục tử tế mới sinh ra những con người tài năng và khiêm cung.

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Xem thêm:

– Lời Phật dạy “Hãy thắng người hơn mình bằng đức tánh khiêm cung.”

Đức Khiêm Cung của người tu học

Chúa nói : HẪY BẮT CHƯỚC TA HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG TRONG LO`NG .