Ai cũng phải chuyển mình

Ai cũng phải chuyển mình

Người Buôn Gió

Rút cục thì Nguyễn Phú Trọng, TBT ĐCSVN phải dẫn phái đoàn quan chức CS sang Hoa Kỳ để ký nhiều điều khoản hợp tác. Chẳng ai lạ gì sự tô vẽ của CSVN. Ngay cả những trận đánh thua tan tác, chết sạch sành sanh cũng được tô vẽ thành thắng lợi. Như thắng lợi mang tính chất chính trị, thắng lợi vì thăm dò được khả năng quân địch, thắng lợi có ý nghĩa đột phá….

Lặn lội bầu đoàn kéo đến nhà người ta cách nửa vòng trái đất, nhất là nhà của kẻ mình trước nay tuyên bố thù hận không đội trời chung.

Chỉ từng ấy cũng đủ để hiểu là cái vị thế đang ra sao. Không phải nói nhiều. Hãy cứ để cho bộ phận tuyên truyền của CSVN tìm cách xuyên tạc sự thật để giữ thể diện,  rằng Hoa Kỳ phải chấp nhận đàm phán, chấp nhận cộng sản, phải công nhận Việt Nam tiến bộ, dân chủ gấp ngàn lần tư bản….Sự thật thì ai cũng thấy rồi. Chẳng đôi co bóc mẽ những kẻ đã vào đường cùng làm gì.

Người hiểu biết cư xử, khi cho ăn mày tiền, không bao giờ họ đứng xa ném đồng xu vào cốc gã ăn mày. Họ lại gần, cúi xuống thả đồng xu nhẹ nhàng vào trong cốc.

Đã là Minh Quân ý chí muốn thâu phục thiên hạ,  không bao giờ hạ nhục hàng tướng địch đến dưới trướng mình, họ ân cần đối đãi tử tế như người bạn thân xa cách lâu ngày giờ quay lại cố hương.

Từ ngoài hè phố đến cung điện người ta đều cư xử như vậy.

Đến hơn nửa thế kỷ nay tư tưởng thù hằn, chống đối, nghị kỵ, không đội trời chung với Hoa Kỳ luôn ngự trị trong tim óc người CSVN. Thậm chí tư tưởng hận thù ấy còn được tuyên truyền cho thiếu nhi, học sinh lòng căm thù đế quốc Mỹ. Còn được dựng thành đài tưởng niệm bia căm thù trên khắp quê hương. Được khuyến khích sáng tác những tác phẩm văn học, nghệ thuật khích động lòng căm thù đó.

Càng như vậy, mới thấy sự chuyển mình của CSVN khi TBT Nguyễn Phú Trọng, kẻ thù Mỹ một cách cực đoan, lại dẫn phái đoàn quan chức cấp cao đến tận Hoa Kỳ để xin xỏ, nhờ vả là sự chuyển mình, thay đổi đáng ghi nhận.

Người thấy CSVN như thế, họ nói thế này.

Chẳng qua bọn CSVN sắp chết, chúng bám víu, cầu cạnh tìm lối thoát, chúng hết tiền, chúng đói khát, chúng van lạy tứ phương, bất chấp danh dự….

Với tôi, tôi cho rằng CSVN lần này can đảm. Cái can đảm là dám vượt qua những định kiến cố hữu, bắt tay với kẻ cựụ thù mà mình vẫn rêu rao , chỉ trích bao lâu nay..

Nếu nhìn công tâm, chắc bên trong nội bộ những người CSVN, họ cũng phải trăn trở, vật vã, cân nhắc…thậm chí là thanh trừng những ý kiến cản trở,  để đi đến quyết định hợp tác với Hoa Kỳ. Một quyết định quan trọng và lớn lao như thế, chỉ riêng sự túng bẫn thôi thúc là chưa đủ. Phải có thêm sự can đảm vượt qua chính tư tưởng, định kiến của bản thân mình. Lúc Hàn Tín luồn trôn anh hàng thịt, đó cũng là sự can đảm để vượt qua chính mình. Không phải bất cứ hành động cầu xin nào cũng là hèn nhát, không phải lúc nào sự hạ mình cũng do nhu cầu sinh tồn thôi thúc.

CSVN đã chuyển mình, tự thay đổi để thích ứng với thời cuộc mới. Chắc chắn CSVN phải nhận ra sự thay đổi, chuyển mình ấy mang lại cho họ lợi ích hơn việc không thay đổi. Và vì thế họ thay đổi, chuyển mình.

Ngay sau ngày người cộng sản bảo thủ số một Nguyễn Phú Trọng bắt tay thân thiện, cởi mở với tổng thống Obama trong phòng Bầu Dục. Hãng truyền thông quốc tế BBC phỏng vấn một cựu chiến binh VNCH có tên là Ngô Kỷ. Những ai ở Cali đều biết Ngô Kỷ là người chống Cộng không đội trời chung. Ông ta chống CSVN y như những người CSVN chống Hoa Kỳ. Nếu CSVN từng coi bất kỳ ai dính dáng đến Hoa Kỳ đều là tay sai của thế lực thù địch, thì Ngô Kỷ cũng coi bất kỳ ai kể cả đồng đội của ông ta là tay sai cộng sản nếu như không chống CSVN theo ý ông ta.

Ở một nét chống đến cùng, chống sắt máu, không đội trời chung. Ông Ngô Kỷ và ông Nguyễn Phú Trọng không khác gì nhau.

Thế nhưng ông Nguyễn Phú Trọng thay đổi, còn Ngô Kỷ thì vẫn thế.

Sở dĩ BBC chọn Ngô Kỷ phỏng vấn, là bởi Ngô Kỷ đại diện tiêu biểu cho tinh thần chống CSVN đến mức một mất, một còn. Không thể đứng song song cùng tồn tại. Hãy cứ dạo trên các trang mạng xã hội, diễn đàn, các tờ báo, các hội nghị để thấy tinh thần ấy không hề nhỏ một chút nào.

Có thể cái khác nhau là tinh thần ông Ngô Kỷ xuất phát từ chánh nghĩa quốc gia, là lá cờ vàng 3 sọc đỏ có từ thời vua Thành Thái, là vì một nước VNCH nhân bản, văn minh, tiến bộ, là ý chí của hàng triệu người Việt hải ngoại.

Nhưng thế cuộc đang diễn ra thế nào mới là điều đáng nói. Cái tinh thần mà ông Ngô Kỷ đại diện ấy, làm thế nào để chuyển biến nó thành hiệu quả là tiêu diệt được đảng CSVN, thành lập lại chế độ VNCH? Vận động quyên góp tiền bạc, lập quân đội như Hoàng Cơ Minh, Mai Văn Hạnh, Lê Quốc Tuý tiến về giải phóng quê hương.? Hay tuyên truyền vận động toàn dân đứng lên tổng khởi nghĩa lật đổ chế độ CSVN và phục dựng lại chế độ VNCH? Hoặc là nhờ các cường quốc tạo áp lực cô lập, cấm vận, phong toả khiến CSVN tan rã, tự sụp đổ để chế độ mới lên?

Chẳng biện pháp nào là hữu dụng cả, nó chỉ trên lý thuyết mà thôi. Chừng nào những người chống CSVN mà còn tư duy phải một mất một còn ngay với CSVN như đánh xóc đĩa, mở ra là phải có chẵn, có lẽ, có được, có thua ngay. Chừng đó những hoạt động nỗ lực của các bạn sẽ là gáo nước đổ vào xe cát. Lý thuyết là một gáo nước sẽ làm thấm đống cát, ngàn gáo nước sẽ làm trôi đống cát. Nhưng để có ngàn gáo nước là vấn đề của thời gian, mà bạn không biết bao giờ mới có đủ ngàn gáo nước.

Hoa Kỳ tiếp đảng trưởng CSVN Ngyễn Phú Trọng. Có nghĩa Hoa Kỳ công nhận ĐCSVN?

Đúng là vậy, nhưng chưa đủ. Công nhận ĐCSVN có nghĩa Hoa Kỳ sẽ còn công nhận hàng chục đảng phái khác ở Việt Nam. Nếu Hoa Kỳ muốn Việt Nam đa đảng, không có lý do gì Hoa Kỳ chiều lòng các đảng phái Việt Nam khác để tiêu diệt và xoá sổ Đảng CSVN. Các nước Pháp, Đức…đảng cộng sản vẫn được phép hoạt động như bất kỳ đảng phái nào. ĐCSVN vẫn hoạt động và các đảng khác cũng sẽ phải được hoạt động.

Và trong một quan điểm rõ ràng tiến bộ chung của toàn cầu như thế. Không có lý do gì mà Hoa Kỳ lại ủng hộ đảng này tiêu diệt, xoá sổ đảng khác. Các đảng phái phải phải học cách cạnh tranh lành mạnh để giành quyền lực chính trường.

Có lẽ đến lúc các đảng phái có tinh thần chống CSVN không đội trời chung, phải thay đổi quan điểm của mình. Thay đổi không phải là hèn nhát, không phải là từ bỏ bản thân mình, là thoả hiệp mắc mưu CSVN. Thay đổi là để phù hợp với một cuộc chiến mới, một tình hình thực tiễn đang diễn ra.

Điều cần thiết bây giờ là công khai thành lập đảng tại Việt Nam, có cương lĩnh, đường lối, hoạt động ôn hoà, dùng lý lẽ vận động quần chúng ủng hộ đảng mình. Một trong những đòi hỏi đầu tiên là đòi quyền chính danh của các đảng phái, tiếp tới đòi sửa đổi điều 4 hiến pháp…tiếp tới nữa thì đảng nào được nhân dân tin yêu, đảng đó nắm quyền.

Biết đâu nhân dân vẫn tin ĐCSVN, bầu lá phiếu cho họ nắm quyền giữa muôn trùng đảng khác. Cũng phải vui vẻ chờ lần sau.

Một số bạn sẽ nói, lập đảng phái công khai sẽ bị bắt tù hết ư?

Yên tâm đi, nếu các bạn bị bắt tù vì lập đảng phái ôn hoà. Đó sẽ là khúc xương ném giữa hiệp định toàn diện mà Hoa Kỳ và CSVN đang thực hiện. Nó sẽ làm cản trở, thậm chí là tan vỡ những gì mà Hoa Kỳ và ĐCSVN giao ước. Một khi hiệp định này tan vỡ, CSVN trở về con đường cũng quẫn, lúc đó chả ai biết nó sẽ sụp đổ hay tồn tại kiểu gì. Khi Đảng CSVN đã bước chân đi đến Hoa Kỳ thế này, con đường quay lại chẳng hề dễ chút nào. Họ sẽ phải lựa chọn là để cho các đảng khác hoạt động trong khi họ còn đầy đủ sức để lấn át để nắm quyền hơn là lựa chọn tiêu diệt các đảng khác, rồi cùng dắt tay đi đến thiên đàng CNXH sớm nhất bằng cách thăng thiên.

Nhưng không thể hoạt động với tiêu chí một mất một còn với ĐCSVN. Họ đã không còn thế với Hoa Kỳ, các bạn cũng nên nghĩ lại cho phù hợp thực tại.

THƯ GỞI CHÚA GIÊSU TỪ BỆNH VIỆN UNG BƯỚU

THƯ GỞI CHÚA GIÊSU TỪ BỆNH VIỆN UNG BƯỚU

Chúa Giêsu giầu lòng thương xót ơi,

Hôm nay con viết thư cho Chúa, bỗng nhớ trong thánh kinh có đoạn nói về việc Chúa mới sinh ra đã phải chạy trốn sang Ai Cập và các anh hài bị giết, làm trái tim con quặn thắt: “Ở Rama, vẳng nghe tiếng khóc than rên rỉ: tiếng bà Rakhen khóc thương con mình và không chịu cho người ta an ủi, vì chúng không còn nữa.” (Mt 2,18)

Mùa hè năm nay, nhóm thiện nguyện Tín Thác chúng con được một linh mục mà cuộc đời cũng khốn khổ như Chúa, hướng dẫn đến một nơi, mà nơi ấy tất cả các bà mẹ, kể cả các ông bố nữa, đã cạn nước mắt rồi. Họ không thể khóc như bà Rakhen được nữa. Hay nói đúng hơn là họ cố gắng nuốt những giọt nước mắt, để dành sức lực chăm sóc cho những đứa con mình, mà dù có đổ bao nhiêu tiền của công sức chạy chữa thì phía trước vẫn là một màn đen vô vọng…

Nơi ấy là Khoa Ung Thư Nhi của Bệnh Viện Ung Bướu Sài Gòn, Chúa đã đến đó chưa?

Theo con số thống kê mới nhất, ở Việt Nam mỗi ngày trung bình có 250 người qua đời vì ung thư, trong đó gần hai phần trăm là trẻ thơ, có nghĩa là gần một ngàn bốn trăm linh hồn bé thơ rời bỏ mặt đất này mỗi năm. Tội quá Chúa nhỉ!

Thôi, con mời Chúa đi với con. Khi chúng con tới nơi ấy thì quá đông, quá ngột ngạt! Cái đông đúc, chen chúc, bức bách và ngột ngạt tràn cả ra hành lang. Nhóm chúng con cố gắng len lỏi vất vả lắm mới đem quà vào trong các phòng bệnh được, thì nhận ra lúp xúp những bé thơ, với cái đầu tròn vo, trọc lóc. Giá như trong hoàn cảnh khác thì đó là sự ngộ nghĩnh. Nhưng nơi này đó là nỗi đau, là cùng tận nỗi đau Chúa ạ!

Con nhớ lại buổi sáng Chúa Nhật 18/1/2015, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp gỡ giới trẻ Philippines tại Sân Thể Thao Đại Học Đường Thánh Tôma ở thủ đô Manila. Một em gái đã được cứu khỏi đời sống bụi đời, đã hỏi ĐTC một câu hỏi rất thực tế và đầy thương tâm, rồi nghẹn ngào đến trào nước mắt khóc: “Có rất nhiều trẻ em bị cha mẹ mình bỏ rơi, có rất nhiều em trở thành nạn nhân của ma túy, đĩ điếm, và nhiều điều kinh khủng xẩy ra cho chúng. Tại sao Thiên Chúa lại để cho những điều ấy xẩy ra cho những trẻ em vô tội? Và tại sao lại có rất ít người giúp chúng con?”

Và ĐTC đã trả lời: “Cái cốt lõi của câu em hỏi, hầu như không có câu trả lời. Chỉ khi nào cả chúng ta nữa có thể khóc về những gì em đã nói thì chúng ta mới có thể tới gần chỗ trả lời cho câu hỏi ấy. Tại sao trẻ em chịu khổ quá nhiều? Tại sao trẻ em lại chịu khổ? Khi tâm can có thể tự vấn và kêu lên thì bấy giờ chúng ta mới có thể hiểu được một điều gì đó.

”. Bước chân vào đây, chúng con cũng tự hỏi: “Tại sao trẻ em chịu khổ quá nhiều? Tại sao trẻ em lại chịu khổ?”

Không thể lý giải nổi lý do nào mà trẻ thơ mới chút xíu đã bị ung thư, và ung thư nhiều đến thế. Những chứng ung thư làm chúng con lạnh hết người: ung thư máu, ung thư võng mạc, và ung thư xương nữa…

Đời bệnh nhân ung thư khủng khiếp nhất là những cơn đau. Chúng con đã chứng kiến những cơn đau rúc rỉa thịt xương đó trong hành trình thiện nguyện, đau đau đến mức cuối cùng phải dùng đến moọc phin để làm tê liệt những giây thần kinh, để giảm đau trong chốc lát. Trong những giây phút thống khổ ấy, người thân chỉ biết ôm lấy bệnh nhân như muốn sẻ chia phần nào nỗi đau, và càng đau khổ hơn vì thấy mình bất lực, không thể làm gì hơn để giảm nỗi đau cho người bệnh. Thế mà những cơn đau ấy đổ xuống trẻ thơ. Hình dung thôi chúng con cũng thấy rùng mình sợ hãi!

Lúc đó chỉ còn biết khóc thương, khóc than và giơ tay lên khẩn nài: “Xin dâng lên lòng thương xót Chúa, những vết thương… xin Chúa thương tha thứ chữa lành, nhận chìm con vào lòng Chúa xót thương

Không dừng lại ở chỗ khóc thương sụt sùi, chúng con đã cố gắng trong khả năng có thể, mang tới cho 200 bé nơi đây chút quà, sữa tươi và một phong bao lì xì.

Chúa biết không, khi chọn quà cho các em, một bác sĩ đã tư vấn nên tặng các em sữa tươi cho nhẹ nhàng, bởi thể trạng của các em, nhiều trẻ loại sữa quá giàu đạm và chất bổ sẽ khiến các em không tiếp nhận và dội ngược ra, thì sẽ rất mệt. Trao bao lỳ xì cho các em vui, với cảm giác được thêm tuổi mới trong đời, nhưng thiết thực là để bữa trưa này, cha hoặc mẹ các bé có chút tiền mua hộp cơm có thêm miếng thịt, ăn cho có sức khỏe để chăm sóc người không còn sức khỏe.

Nhà nào có người bị bệnh ung thư là kiệt quệ, là sạch cửa nhà, bán mọi thứ trong nhà để chạy thầy chạy thuốc cho bệnh nhân. Tại nơi này có những người mẹ ròng rã bao năm tháng chỉ ăn cơm từ thiện thôi, Chúa ạ. Ăn uống thiếu thốn, suy dinh dưỡng, mẹ đi chăm con mòn mỏi yếu ớt xanh xao như tàu lá chuối, đứa con bị ung thư xương nằm thóp thoi trơ cái đầu trọc lóc, đến là khốn khổ.

Chắc Chúa còn nhớ, trong suốt mấy năm trời, nhóm thiện nguyện chúng con cũng trợ giúp 80 phần cơm mỗi ngày cho các bệnh nhân hoặc người nuôi bệnh. Bây giờ phải đi nhiều nơi để gieo rắc hạt giống lòng Chúa thương xót qua những chuyến công tác bác ái nơi vùng sâu vùng xa, cho nên chúng con chỉ tổ chức những chuyến thăm viếng như hôm nay được thôi, Chúa ạ!

Chúa gởi thêm nhiều người có lòng xót thương đến với chúng con để cùng chung tay góp sức xoa dịu nỗi đau của những con người nghèo khổ nhé! Con xin lỗi Chúa trước, nếu Chúa đưa đến những đại gia, những chức sắc, những người tiền bạc rủng rỉnh đi làm việc thiện mà muốn cho cả làng biết, muốn nêu tên trên bảng vàng, muốn khắc danh tính vào bằng tri ân, muốn được liệt vào danh sách các ân nhân… thì chúng con không nhận đâu đấy nhé! Dù họ có tiền rừng bạc biển, quyền cao chức trọng, thì cũng không có chỗ trong nhóm thiện nguyện nhỏ bé của chúng con đâu!

Nằm chèo kheo ở bậc nghỉ cầu thang là một người đàn ông gầy gò xương xẩu, ngủ khò khò bất chấp kẻ lại người qua, con cứ tưởng là Chúa đang nằm đó chứ! Bỗng anh giật mình ngồi phắt dậy, vồ cái túi lép kẹp dùng làm gối kê đầu, nhìn xung quanh ngơ ngác. Đợi người đàn ông định thần trở lại, chúng con đến lân la trò chuyện, mới biết anh tên Thành, quê mãi Vĩnh Long, có đứa con điều trị ở đây, cháu bị ung thư máu.

Lau giọt lệ, anh thở dài: “Mọi sự là vô vọng rồi, vì cơ thể cháu không tiếp nhận hóa chất truyền vô được nữa!” Đêm qua anh nhắn vợ lên thay phiên để anh về quê chuẩn bị sẵn sàng đón con về trong tình huống xấu nhất. Anh phải giấu vợ, sợ chị tuyệt vọng. Anh tới góc cầu thang ngủ vội lấy sức sau cả tháng thức trắng bên con, rồi sẽ bắt xe đi về dưới. Mấy sào ruộng anh đã bán hết để cứu con, mà công cốc hoàn công cốc. Anh bảo dù khó khăn đến đâu, cũng sẽ kiếm cái áo tử tế cho con khi đón nó về. Đau lắm, đau buốt trong tim mà giấu vợ, trìu mến ôm hôn con rồi ra đi. Chúa có thấy nỗi đau nào hơn thế không?

Kể cho Chúa nghe những đau đớn đó, lòng chúng con cũng trĩu buồn. Cảm ơn Chúa đã gởi những phần quà từ tấm lòng xót thương của những anh chị em từ khắp nơi, bớt ăn tiêu chi chút, dành dụm gởi về để chúng con lên đường trao tặng cho những mảnh đời rách nát, bệnh tật, nghèo túng…

Có chi tiết nhỏ này có lẽ sẽ làm Chúa vui hơn : ấy là chúng con đã hì hục ngồi trong góc cầu thang bơm những trái bong bóng to đẹp rực rỡ sắc mầu trao tặng các em. Những trái bóng đủ hình dạng sắc màu làm mắt đám trẻ sáng lên, quên đi cơn đau trong chốc lát. Nhìn thấy nhiều em cứ cà cái đầu trọc lóc vào trái bóng, ôm khư khư trái bóng như sợ nó bay mất, thương đến là thương. Thật xót xa khi hóa chất vào cơ thể các em chế ngự tế bào độc của chứng ung thư, thì cũng chính là tước đi hết mái đầu xanh của trẻ. Thương chúng quá!

Tuy nhiên, người mục tử ân cần dặn thiện nguyện viên chúng con khi đến nơi này hãy dằn lại nỗi đau lòng, ráng tươi lên, đem niềm vui nụ cười như một kỷ niệm đẹp cho các bé. Chúng con làm vậy được không Chúa?

Người mục tử linh hướng từng chia sẻ với chúng con: ra đi, đem niềm vui cho anh em nghèo khổ và trẻ thơ bệnh tật yếu đau, nhưng đồng thời cũng là để nhận thức ra cái cõi hạn hẹp nơi con người. Biết sự bất lực của mình mà gửi gắm sự cậy trông tín thác vào thiên Chúa. Ra đi cũng để thấy mình còn được Chúa thương rất nhiều. Còn thân hình đầy đủ, còn đi lại nói năng bình thường, còn sức khỏe… đó là món quà quý nhất Chúa trao ban mà con đâu biết trân trọng, đâu thấy mình hạnh phúc. Con cứ lao đầu tìm tiền tài danh vọng của cải chức tước địa vị… đến khi ngã quỵ vì ốm đau bệnh tật, lúc đó mới thấy tất cả là hư vô, là con số không, nếu không có sức khỏe.

Rời Khoa Nhi Bệnh Viện Ung Bướu, ám ảnh chúng con là nụ cười ngây thơ trên những gương mặt tròn trịa với cái đầu cũng tròn xoay, như những dấu chấm tròn vo giữa cuộc đời này. Những dấu chấm ngây thơ không hề biết rằng cuộc đời các em có thể chấm hết bất cứ lúc nào…. Hữu hạn mong manh quá đỗi. Bỗng thấy mắt cay xé, con nhớ lại lời ĐTC Phanxicô nói với giới trẻ: “Chúa Giêsu trong Phúc Âm đã khóc. Ngài đã khóc thương người bạn Lazarô qua đời. Người đã khóc cho gia đình mất đứa con gái của họ. Người đã khóc khi thấy người mẹ góa đem người con trai của bà đi an táng.Và Người đã động lòng đến chảy nước mắt, đã cảm thương khi thấy đoàn lũ dân chúng không có chủ chiên. Nếu các bạn không biết khóc các bạn không thể trở thành Kitô hữu tốt lành.

Vâng, Chúa Giêsu ơi! Con đang khóc đây!

Chúa cùng khóc với con nhé!

Thiện Nguyện Tín Thác

Bình Thạnh

2015

Mỹ đã gửi một thông điệp sai lầm cho Việt Nam

Mỹ đã gửi một thông điệp sai lầm cho Việt Nam

tuankhanh

RFA

Tuần này Tổng thống Obama sẽ có một cuộc gặp với người đứng đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng, ngay tại Nhà Trắng. Cuộc họp này là một sự kiện kỳ ​​lạ – một phần vì Trọng không phải là một người đứng đầu nhà nước, nhưng lại thay mặt cho người có vị trí cầm quyền cao nhất, theo hiến pháp của Việt Nam hiện nay – mà phần kỳ lạ khác do Việt Nam đã nỗ lực rất ít trong thời gian gần đây để xứng đáng được phần thưởng là một cuộc họp trong phòng Bầu dục (Oval Office) của Nhà trắng. Việt Nam vẫn còn là một nhà nước độc tài và phi dân chủ triệt để, cai trị bởi một đảng duy nhất, đứng đầu đảng đó hiện nay là ông Trọng, và việc sách nhiễu, tra tấn, và đàn áp tôn giáo là quy tắc hành động.

Tổng thống Obama hy vọng đạt được gì?

Trong khả năng của mình, Chính phủ Mỹ không bao giờ e ngại bộc lộ việc nâng cao mối quan tâm về quyền con người với Hà Nội. Tổng thống Obama đã từng công khai vinh danh các tù nhân chính trị trong các diễn văn. Các đại sứ và các đặc phái viên của ông cũng được chỉ thị để làm sao nhấn mạnh được mối quan tâm về quyền con người trong tất cả các trao đổi ngoại giao.

Vấn đề là các thông điệp đó rõ ràng là không nhận được tiếp nhận.

Cáh đây vài tuần, Tony Blinken, Cố vấn An ninh Quốc gia của Nhà Trắng, và hiện là thứ trưởng Ngoại giao, theo chỉ thị của Tổng thống Obama đã đến Hà Nội. Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao, Blinken đã nhấn mạnh với chính phủ Việt Nam về các vấn đề nhân quyền và bày tỏ quan ngại về việc bỏ tù hoặc sách nhiễu những người bất đồng chính kiến. Ông Blinken cũng kêu gọi Hà Nội chứng minh tốt hơn việc cam kết cải cách. Nhưng rồi, ông trở về Mỹ mà không nhận được một cam kết nào về nhân quyền, không có hứa hẹn nào, và cũng không có chuyện phóng thích tù nhân chính trị.

Chuyến đi của Blinken chỉ cách một tuần, sau chuyến đi của Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ, ông Tom Malinowski, người chịu trách nhiệm chính về các vấn đề nhân quyền, đến Việt Nam để tổ chức một cuộc đối thoại nhân quyền. Malinowski và phái đoàn của ông đã gặp gỡ với chính phủ và các quan chức cấp cao an ninh, bày tỏ sự quan tâm về vấn đề tù nhân chính trị. Nhóm của ông Malinowski cũng đến thăm các địa điểm giam giữ, gặp gỡ các nhà lãnh đạo tôn giáo. Malinowski cũng nói với chính phủ Việt Nam điều rất xưa cũ mà các đời đại sứ Mỹ cũng đã làm trong nhiều năm qua: đó là cải cách nhân quyền là  phần cần thiết của việc xiết chặt ngoại giao với chính phủ Mỹ.

Những chuyến đi đó không thể gọi là thành công – tuy vậy, chính quyền Obama vẫn đang trải thảm đỏ vào thứ ba.

Hà Nội không chỉ từ chối đưa ra các lới hứa hoặc cam kết nào trong quá trình đối thoại, mà trong chuyến thăm của ông Malinowski, các nhân viên an ninh mật vụ còn sách nhiễu các nhân vật bất đồng chính kiến ​​và một blogger nổi tiếng, Nguyễn Chí Tuyến (được gọi là Anh Chi). Ông Tuyến đã bị tấn công dã man bởi những tên côn đồ – là những công an viên mặc thường phục. Hình ảnh của blogger đó bị đập vào đầu cùng với khuôn mặt đẫm máu đã nhanh chóng được chia sẻ bởi giới bất đồng chính kiến trên internet. (On May 19, another activist, Dinh Quang Tuyen, was assaulted in Ho Chi Minh City / bản tin quốc tế về sự kiện này, có thể tìm thấy bằng từ khoá tiếng Anh trên).

Quốc hội Mỹ đã đánh giá Hà Nội quá cao. Một phái đoàn lưỡng đảng của các thành viên của Quốc hội Mỹ, thuộc Uỷ Ban Các vấn đề Đối ngoại (House Foreign Affairs Committee – HFAC) đã được cử đến thăm Việt Nam trong khoảng thời gian tương tự như Malinowski, trong đó những nhân vật tầm cỡ như Eliot Engel, đảng Dân chủ và Matt Salmon, đảng Cộng hoà, thuộc tiểu ban về Á châu của HFAC. Phái đoàn này cũng đã nêu lên những lo ngại của mình về tình hình nhân quyền ở Việt Nam, và những ngôn ngữ này cũng được nhắc lại thêm từ một phái đoàn khác tới Hà Nội, dẫn đầu bởi các nghị sĩ, bà Nancy Pelosi và ông Sandy Levin. Họ cũng nói về vấn đề Việt Nam không đưa ra được một hứa hẹn cải cách nào, rồi sẽ làm tổn hại mối bang giao Việt-Mỹ.

Nhưng điều đáng nói là các cuộc đối thoại này dường như cũng không giúp Việt Nam tạo được bất kỳ hành động có ý nghĩa nào để thật sự cải thiện nhân quyền.

Các quan chức Bộ Ngoại giao vẫn nhấn mạnh rằng, áp lực, và những nỗ lực ngoại giao, vẫn trong tiến trình. Họ nói rằng các vụ truy tố người bất đồng chính kiến đã ít đi, và Hà Nội cũng đã phê chuẩn hai hiệp ước về quyền con người. Trong một bài bình luận trên tờ Politico vào ngày 8 tháng 6 (*), ông Malinowski nói rằng “Dưới ánh đèn sân khấu của các cuộc đàm phán TPP, Việt Nam đã trả tự do cho các tù nhân lương tâm, từ con số 160 người cách đây hai năm, xuống còn khoảng 110”. Ông cũng so sánh số người bất đồng chính kiến lên tiếng phản ứng một cách ôn hoà vào năm 2013 là đến 61, và chỉ có “một trường hợp” trong năm 2015.

Đúng là có những bước tiến nhỏ. Vâng, số lượng tù nhân chính trị ở Việt Nam quả đã giảm đi khoảng 50 người kể từ năm 2013, nhưng không phải ai trong số họ cũng may mắn nhận được từ thành quả của cải cách. Nhiều trường hợp, người được trả tự do chỉ đơn giản là hoàn thành thời gian thụ án của họ và ra ngoài, bị quản chế, buộc phải im lặng. Bất kỳ hoạt động chính trị hay thái độ bất đồng chính kiến nào cũng ​có thể đưa họ trở lại nhà tù. Trong mọi trường hợp, danh sách Bộ Ngoại giao đưa ra vẫn không đầy đủ: Human Rights Watch phân tích cho thấy có hơn 200 người bị đưa vào tù trở lại trong năm 2013, và tổng số tù nhân chính trị ở Việt Nam hiện nay có ít nhất là 135 người. Và trong khi bề ngoài, có vẻ như giới bất đồng chính kiến có bị kết án ít hơn, vẫn còn nhiều trường hợp mà chính phủ Việt Nam sử dụng như một phương thức mới, được chứng minh qua các đánh đập ông Nguyễn Chí Tuyến. Giới bất đồng chính kiến ​​Việt Nam hiện nay nói rằng việc bị hành hung bởi những tên côn đồ, thật ra là công an mặc thường phục, đang là một kiểu thông dụng.

Tóm lại, việc chỉ trích chính phủ tại Việt Nam tức phải đối mặt với mối nguy nan khôn lường; sự nguy hiểm chỉ đơn giản thay đổi hình thức mà thôi.

Tổng thống Obama lẽ ra không nên tưởng thưởng cho sự áp bức nhân quyền bằng cách gặp gỡ với Tổng Bí thư Trọng. Nhưng nếu phải làm, thì ông Obama cần phải đẩy mạnh hơn nữa trên các mối quan tâm về quyền con người – đặc biệt là nếu hai nước đang có kế hoạch công bố một cấp độ mới trong quan hệ ngoại giao.

Nếu không, thông điệp sẽ là: “Chúng tôi muốn bạn cải cách, nhưng chúng tôi cũng sẽ tưởng thưởng cho bạn ngay cả khi bạn không cải cách gì.”

John Sifton

(giám đốc bộ phận Châu Á của Human Rights Watch)

——————————————————-

(*) Nguyên văn: Op-ed: tức cách dùng chữ tắt của báo chí Mỹ, nguyên cụm là “opposite the editorial page”, tức nhận định, bình luận về một sự kiện vừa qua.

Tựa gốc: Wrong messages to Vietnam

Nguồn: Huffington Post

Xuân Vũ, Củ Chi & Wikipedia

Xuân Vũ, Củ Chi & Wikipedia

RFA

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

“People in the developing world don’t always understand how Wikipedia is created. It’s such a credible website, it comes so high up the search rankings—people think it’s just another encyclopedia.”

Nhiều người ở các quốc gia đang phát triển không phải lúc nào cũng hiểu cách thức wikipedia được tạo ra. Đó là một website được tin cậy, đến độ thứ hạng tra cứu thông tin qua nó đứng ở mức rất cao –  người ta nghĩ rằng nó là một dạng tự điển bách khoa.

Andreas Kolbe, Wikipedia editor

Cuối đời, tôi hơi hốt hoảng khi chợt nhớ ra rằng mình chưa được đi du lịch lần nào ráo trọi. Trước khi chuyển qua từ trần, có lẽ, cũng nên thử nghỉ hè một chuyến cho nó giống với (phần đông) thiên hạ!

Gọi điện thoại hỏi qua mấy hãng du lịch, và được khuyên rằng nếu không rành tiếng Anh tiếng Pháp thì đừng có bầy đặt qua Tây qua Úc làm chi (cho má nó khi) cứ qui cố hương cho nó chắc ăn. Thủ tục xin chiếu khán vào Việt Nam, bây giờ, thoáng lắm.

Những địa điểm họ đề nghị nên đến “tham quan” cũng đều vô cùng hấp dẫn:

  • Lăng Bác
  • Tượng Đài Mẹ Việt Nam Anh Hùng
  • Địa Đạo Củ Chi

Giữa tôi và ông Hồ Chí Minh không có mâu thuẫn gì lớn. Xích mích, đụng chạm, cãi cọ (nho nhỏ) cũng không luôn. Vào thăm lăng Bác âm u cho biết (nó âm u tới cỡ nào) cũng tốt thôi nhưng kẹt cái là phải ra tuốt luốt tận Thủ Đô Của Lương Tâm Nhân Loại thì xa xôi và lôi thôi quá. Đã thế, cứ theo dư luận thì nạn rạch hành lý của du khách ở phi trường Nội Bài “nổi cộm” hơn ở Tân Sơn Nhất rất nhiều lần (nên) tôi đành … thôi vậy!

Tượng Đài Mẹ Việt Nam Anh Hùng lớn nhất Đông Nam Á thì chắc chắn là một “kỳ quan” của thế giới rồi. Không được xem (qua) quả là điều đáng tiếc. Tuy nhiên, theo báo chí thì dù mới khánh thành nó đã bị bong gạch hết trơn rồi.

Lý do, theo ông Nguyễn Như Công, giám đốc Ban quản lý Dự án đầu tư xây dựng tỉnh Quảng Nam: “vì lượng người đổ về tham quan quá đông” nên cái nền chịu đời không thấu.

Ông Công khiến tôi trộm nghĩ (“không mợ chợ cũng đã đông rồi”) mình bon chen vào xem làm gạch của tượng đài vỡ nặng hơn nữa thì dám bị nghi rằng đây là “âm mưu phá hoại của bọn thù địch nước ngoài,” chứ chả phải đùa đâu.

Lôi thôi có thể bị mời vô phường hay vô đồn để “làm rõ” là bỏ mẹ, hay (dám) bỏ mạng luôn. Ngày nào mà không có người đã “tự tử” ở trụ sở phường, hay trong đồn công an Việt Nam, đúng không?

Thôi thì đi chỗ khác chơi cho nó lành. Tôi quyết định sẽ đi thăm Địa Đạo Củ Chi. Trước khi đến nơi tưởng cũng nên google thử chơi một cú. Wikipedia ghi rõ:

Địa đạo Củ Chi là một hệ thống phòng thủ trong lòng đất ở huyện Củ Chi, cách Thành phố Hồ Chí Minh 70 km về hướng tây-bắc. Hệ thống này được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đào trong thời kỳ Chiến tranh Đông DươngChiến tranh Việt Nam. Hệ thống địa đạo bao gồm bệnh xá, nhiều phòng ở, nhà bếp, kho chứa, phòng làm việc, hệ thống đường ngầm dưới lòng đất.

Hệ thống địa đạo dài khoảng 200 km và có các hệ thống thông hơi vào các vị trí các bụi cây… tầng cuối cùng cách mặt đất 8-10m. Ðường lên xuống giữa các tầng hầm được bố trí bằng các nắp hầm bí mật. Bên trên nguỵ trang kín đáo, nhìn như những ụ mối đùn, dọc đường hầm có lỗ thông hơi. Liên hoàn với địa đạo có các hầm rộng để nghỉ ngơi, có nơi dự trữ vũ khí, lương thực, có giếng nước, có bếp Hoàng Cầm, có hầm chỉ huy, hầm giải phẫu… Còn có cả hầm lớn, mái lợp thoáng mát, nguỵ trang khéo léo để xem phim, văn nghệ.

Trời, đất, qủi thần ơi – hồi đó – sao cán bộ cách mạng giỏi dữ vậy cà? Ở dưới tuốt địa đạo cả chục thước mà không ai bị  ngộp nước ráo trọi; đã vậy, họ còn làm kho chứa vũ khí, bệnh viện giải phẫu, và rạp để chiếu phim hay trình diễn văn nghệ nữa kìa.

Vậy mà bây giờ hễ cứ mưa là thủ đô Hà Nội trở thành Hà Lội, và thành phố Hồ Chí Minh (rực rỡ tên vàng) cũng bớt rực rỡ rất nhiều vì lụt lội – theo tin loan của báo Pháp Luật, số ra ngày 09 tháng 5 năm 2015: “Mưa nửa tiếng đường ngập như sông, xe cộ bì bõm trong nước cống… Trên đường đường Nguyễn Văn Quá (đoạn qua phường Đông Hưng Thuận, quận 12), sau cơn mưa lớn, tuyến đường này ngập ngụa nước đen ngòm, bốc mùi nồng nặc hơn 500m.”

Mưa Hà Nội. Ảnh: infonet.vn

Blogger Cao Huy Huân (VOA) còn cho biết thêm chi tiết: “ Theo thông tin từ Trung tâm Điều hành chương trình chống ngập nước, từ đầu năm 2015 đến nay, khu vực trung tâm TP được xác định còn 68 điểm ngập, so với năm 2011 số điểm ngập trên nhiều hơn 10 điểm. Công tác chống ngập thời gian qua cứ loay hoay với câu chuyện xóa, giảm điểm ngập này lại phát sinh điểm ngập khác, thời gian qua tại TP đã phát sinh tới 29 điểm ngập.”

Mưa Sài Gòn. Ảnh: wikivn.org

Khoảng cách rất gần giữa Sài Gòn và Củ Chi, và rất xa giữa “khả năng của chính quyền cách mạng” hồi thời chiến với thời bình khiến tôi hơi nghi ngại – nghi ngại về mức độ khả tín và khả xác của Wikipedia! Lò dò thêm một chập tôi tìm ra được một nguồn tài liệu khác viết về Củ Chi, qua ghi nhận của một nhà văn: Xuân Vũ.

Ông không có tên trong Wikipedia, tất nhiên, dù đã để lại cho đời “một gia tài văn chương đồ sộ gần 50 tác phẩm” – theo ghi nhận của nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh:

“Xuân Vũ (1930-2004) là một nhà văn mà các tác phẩm cả về lượng lẫn phẩm đều nổi trội. Ông viết nhiều thể loại, từ những hồi ký đến truyện dài, từ những truyện phong tục đồng quê của Nam Bộ thời xa xưa đến những truyện theo sát thời sự từ thuở kháng chiến chống Pháp đến lúc vượt Trường Sơn vào Nam…

Một bộ hồi ký gồm 5 cuốn mà Xuân Vũ viết qua ký ức của Dương Đình Lôi ‘2000 Ngày Đêm trấn Thủ Củ Chi’ cũng là một chứng tích của một cuộc chiến mà những chiến công tưởng tượng và những anh hùng là người có tên có tuổi thực nhưng được thổi phồng với những việc làm mà óc tưởng tượng cũng phải khó khăn lắm để sáng tạo ra.”

Tôi vào hệ thống thư viện ở thành phố San Jose, California, và tìm được ngay bộ sách này:

Title 2000 ngày đêm trấn thủ củ chi / Xuân Vũ & Dương Đình.
Author Xuân Vũ.
Publication Information Glendale, CA : Đại Nam, 1991-
Description v. <1-7 > ; 21 cm.
Note Volumes 1-4 published by Trời Nam ; Volumes 5-7 published by Đại Nam.
Subject Vietnamese War, 1961-1975 — Tunnel warfare.  

Vietnamese War, 1961-1975 — Vietnam — Củ Chi (Quận)

Củ Chi (Vietnam : Quận) — History.

Té ra trọn bộ tới bẩy cuốn lận, chớ không phải năm. Mẹ ơi, mấy ngàn trang sách thì đọc chắc tới tết hay dám tới chết luôn – không chừng. Mới coi qua đôi dòng “LÁ THƯ GỞI CHO MỘT NỮ ‘DŨNG SĨ’ ĐẤT CỦA CHI” mà tác giả viết thay cho lời tựa thấy cũng đủ thấy “chóng mặt” rồi:

Hoa Kỳ, ngày 24 tháng 8 năm 1991

Em Bảy Mô thân mến,

Bất ngờ anh bắt gặp một quyển sách tiếng Anh viết về địa đạo Củ Chi trong đó có đề cập tới em và hình em nữa. Xem xong quyển sách này anh cười phì vì nó hài hước và bịp bợm quá lẽ, anh không muốn nêu tên sách và tác giả ra đây vì họ không đáng cho anh gọi là nhà văn, mà họ chỉ đáng được gọi là những thằng bịp…

Anh tự hỏi tại sao tác giả quá ngây ngô để bị lừa một cách dễ dàng rồi trở lại lừa độc giả của họ một cách vô lương như thế. Nhưng cho dù họ bịp được toàn nhân loại đi nữa, họ cũng không lừa được anh và em, những kẻ đã từng đổ mồ hôi và máu trên mảnh đất này. Riêng anh thì đã tử thủ mặt trận: Hai ngàn ngày đêm, không vắng mặt phút nào. Để nói cho độc giả biết rằng bọn Cộng Sản đã bày trò bịp thế gian một lần nữa, sau vụ đường mòn xương trắng và khuyên những người nhẹ dạ chớ có mắc lừa, anh quyết định viết quyển sách này.

Họ bảo rằng bề dài địa đạo là hai trăm dậm. Em có tin không ? Sự thực Củ Chi có mấy khúc địa đạo còn tạm xài được trước khi Mỹ vô (1964) ? Quận Củ Chi là một quận nhỏ gồm mươi lăm xã cách Sài gòn hai chục cây số đường chim bay, nhưng nó là cửa ngỏ đi vào Sài gòn cho nên có hai bên Quốc Gia lẫn Cộng Sản đều tử chiến ở đây, một chiến trường khốc liệt nhất Miền Nam trong cuộc chiến tranh lần thứ hai của nước ta. Nếu tính bề châu vi thì quận Củ Chi đo được chừng năm mươi cây số. Như vậy bề dài của địa đạo ít nhất bốn lần chu vi Củ Chi. Họ còn viết rằng địa đạo đã lập thành một vòng đai thép bao quanh căn cứ Đồng Dù và người cán bộ mặt trận có thể ở dưới địa đạo nghe nhạc đang đánh ở trên căn cứ này. Cụ thể là ông Năm Phạm Sang ngồi đàn dưới địa đạo mà nghe Bon Hope diễn kịch ở trên đầu hắn.

Quyển sách ma này nói láo, nói bậy hoặc nói nhầm hầu hết về những gì đã xảy ra ở Củ Chi trong vòng năm năm (1965-1970) anh và em có mặt ở đó. Nhưng ở đây anh chỉ nhặt ra vài ba điểm quá ư ngu xuẩn của tác giả mà một người đã dám cầm bút viết nên sách dù kém tài đến đâu cũng không thể có được.

Ví dụ họ viết rằng anh Tám Lê và vợ là Thị Thắm mổ xẻ thương binh dưới địa đạo. Xin hỏi: “Làm cách nào để đem thương binh xuống đó ? ” Nên biết rằng miệng địa đạo chỉ hẹp bằng cái khay trầu thôi. Người thường tuột xuống đó còn phải lách chứ không dễ dàng. Thương binh, nếu nặng thì nằm trên cáng, còn nhẹ thì băng bó đầy mình làm sao tụt xuống được? Và nếu có tụt xuống được thì nằm ở đâu, dụng cụ gì, đèn đóm nào dùng cho cuộc giải phẫu.

Đó là chưa nói đến cái không khí ác độc ở dưới địa đạo. Người khỏe mạnh bất đắc dĩ phải xuống địa đạo thì chỉ trong vài tiếng đồng hồ là đã mệt ngất ngư rồi: vì không đủ dưỡng khí! Nếu bị kẹt vài giờ dưới đó thì con người đã trở thành miếng giẻ rách, còn khi bò lên được thì đã quên hết tên họ mình. Vậy sau khi được giải phẫu, thương binh phải sống dưới đó làm sao?

Du khách được ăn uống thử dưới địa đạo những món ăn của cư dân địa đạo trước đây. Ảnh và chú thích: wikipedia

Đó là chưa kể những việc lặt vặt khác như thương binh phóng uế hoặc thủ tiêu những băng đầy máu me. Những người chưa từng ở địa đạo nghe mấy vị này mô tả chắc sẽ nghĩ rằng cuộc sống dưới địa đạo khỏe khoắn như ở trong nhà lầu có máy điều hòa không khí.

Xin thưa câu chuyện không đẹp tai cho lắm: Một lần nọ khi chui xuống địa đạo chúng tôi bị quân Việt Nam Cộng hòa chốt trên đầu không lên được. Rủi thay một nữ cán bộ có đường kinh. Nếu ở trên mặt đất thì dù không kịp dùng băng vệ sinh người đàn bà vẫn không toát ra mùi gì (xin lỗi) nhưng ở dưới địa đạo gặp trường hợp này mọi người đều ngặt mình như sắp chết vì cái mùi uế tạp kia. Người chưa từng ở địa đạo không thể biết rằng đánh một cái rắm dưới đó chẳng khác nào bỏ một trái bom nguyên tử…

Em Mô thân mến,

Chúng ta hãy cùng nhau cúi hôn mảnh đất Củ Chi đau khổ của chúng ta hiện nay đang nhục nhã vì bị bọn Cộng Sản đem ra làm trò bịp thế gian…

Cái gì chớ “bịp” thì là nghề của “bọn Cộng Sản” mà, và Wikipedia (tiếng Việt) thì đúng là mảnh đất lý tưởng để cho mấy ổng múa gậy vườn hoang.

Bắc Kinh dọa Hà Nội: Gần với Mỹ hơn, sẽ bị trả thù

Bắc Kinh dọa Hà Nội: Gần với Mỹ hơn, sẽ bị trả thù

Nguoi-viet.com

BẮC KINH 8-7 (NV) – Bắc Kinh bắn tiếng cho Hà Nội biết là nếu tiến gần hơn với Hoa Thịnh Đốn, được hiểu là để đối phó Trung Quốc, thì coi chừng sẽ gặp phải các đòn trả thù từ phương Bắc.

Phó tổng thống Mỹ Joe Biden phát biểu trong khi ông tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng đứng nghe nhân dịp ông Trọng được đãi bữa ăn trưa ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ hôm Thứ Ba 7/7/2015. (Hình: AP Photo/Manuel Balce Ceneta)

“Cái mối quan hệ mật thiết hơn giữa Việt Nam và Hoa Kỳ mà một phần là nhắm (đối phó) với Trung Quốc, sẽ kéo theo các đòn đánh trả của Trung Quốc.” Bài bình luận của tờ Hoàn Cầu Thời Báo ngày 8/7/2015 viết. “ Điều này sẽ tạo ra ap lực cho cả ba phía mà khi nó diễn tiến, Việt Nam có thể là kẻ phải chịu nhiều thiệt hại nhất.”

Hoàn Cầu Thời Báo là một phó bản của tờ Nhân Dân Nhật Báo, cái loa tuyên truyền của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Cả hai tờ báo này cùng chia chung một trụ sở ở Bắc Kinh. Mỗi khi có bài bình luận gì, vì tế nhị, không đăng trên Nhân Dân Nhật Báo thì đẩy sang đăng trên Hoàn Cầu Thời Báo.

Mỗi khi có bất cứ biến cố, sự kiện gì liên quan tới Việt Nam mà họ đánh hơi thấy có thể bất lợi cho Trung Quốc, tờ Hoàn Cầu Thời Báo đều nhanh chóng có những bài bình luận hoặc chửi bới, hoặc đe dọa Việt Nam, kể cả quân sự, dù lãnh tụ hai nước mỗi khi gặp nhau đều hô hò “16 chữ vàng” và “tinh thần 4 tốt.”

Ngày 7/7/2015, tổng thống Mỹ Barack Obama tiếp ông tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng tại Phòng Bầu Dục trong Tòa Bạch Ốc dù ông không phải là người cầm đầu chính phủ hoặc tổng thống, chủ tịch nước như thông lệ tiếp khách. Cả hai ông thảo luận nhiều vấn đề, từ nhân quyền đến Biển Đông, hiệp định đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), trong mối quan hệ giữa hai nước.

“Báo chí tây phương đã diễn dịch quá đáng cuộc viếng thăm (của ông Nguyễn Phú Trọng) trong tầm nhìn địa chính trị. Họ coi cuộc thăm viếng như một nghi thức ngoại giao phối hợp giữa Việt Nam với Mỹ chống lại Trung Quốc và đây cũng là một chiến thắng của Mỹ trong chủ trương đối phó với Trung Quốc về mặt chiến lược.” Hoàn Cầu Thời Báo kể lể.

Với những nhận định như thế, Hoàn Cầu Thời Báo nói, một số nhà quan sát Mỹ và một số trí thức muốn gồm cả Việt Nam vào trong phe chống Trung Quốc. Tuy nhiên “Mục tiêu này có vẻ luôn luôn hiện ra ở chân trời, nhưng sẽ không bao giờ đến được.”

Theo Hoàn Cầu Thời Báo, Hoa Thịnh Đốn muốn Hà Nội phối hợp với họ trong chính sách xoay trục về Á Châu – Thái Bình Dương và tăng cường áp lực với Trung Quốc, trong khi Hà Nội hy vọng thân cận hơn với Hoa Thịnh Đốn có thể giúp họ đối phó với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông. Nhưng “điều này không hoàn toàn tượng trưng cho mối quan hệ Hoa Kỳ- Việt Nam.”

Báo này dọa rằng Việt Nam ngày càng bị áp lực chính trị từ Mỹ nên “tạo ra thử thách lâu dài cho sự ổn định” của chế độ Hà Nội. Hoàn Cầu Thời Báo nói trong khi là một trong những nước xuất cảng nhiều sang Mỹ nhưng cũng vì vậy mà phải “đối phó với sự xâm nhập chính trị của Tây phương.”

Tờ báo nêu ra một thực tế là trong khi Việt Nam coi Trung Quốc như một sự thử thách cho an ninh quốc gia thì họ lại “hưởng sức mạnh kinh tế nhờ Trung Quốc cũng như sự hậu thuẫn của hệ thống chính trị Cộng sản của Trung Quốc.”

Tờ báo đe rằng “Khi chiến lược căn bản của Việt Nam là cổ võ phát triển kinh tế xã hội như Trung Quốc và họ sẽ đạt được thành quả tối đa nếu chiến lược đó đừng đi ngược lại các tranh chấp Biển Đông.”

“Không nước nào được hưởng lợi khi mời Mỹ chen vào các cuộc tranh chấp với Trung Quốc. Thật ra, điều đó báo hiệu thất bại.” Tờ Hoàn Cầu Thời báo dọa.

Khác với tờ Nhân Dân Nhật báo, tờ Hoàn Cầu Thời Báo cho độc giả bình luận thoải mái. Trong phần bình luận của độc giả dưới bài bình luận nói trên, ít nhất có 25 lời bình luận đối chọi nhau từ bênh đến sỉ vả Bắc Kinh. (TN)

TÔI BẮT ĐẦU BIẾT… NÓI DỐI !

TÔI BẮT ĐẦU BIẾT… NÓI DỐI !

Thủa nhỏ, tôi được dạy rằng, phải sống trung thực không dối trá với bản thân
mình và với mọi người vì đó là con đường sáng duy nhất của kiếp người.
Khi đó, tôi chưa hiểu thế nào là trung thực, thế nào là dối trá mà chỉ biết rằng
những hành động nào của tôi làm vừa lòng người lớn, được khen là ngoan ngoãn thì
đấy là những hành động trung thực. Nhưng đến một hôm, tôi đã biết sự thật trong
những lời khen ấy.

Tôi bắt đầu biết nói dối, những lời nói dối chân thành nhất của đời mình. Tôi có
người bạn quanh năm lênh đênh trên con tàu nhỏ, đã cũ, đi câu mực, đánh cá trên
biển, vài tháng mới trở lại đất liền vài ngày.
Một lần, anh đi biển và thời tiết thay đổi đột ngột khiến biển động dữ dội.
Nhà anh chỉ còn người mẹ già ốm yếu. Vì quá lo lắng cho con trai, bệnh tim tái
phát khiến bà phải vào viện trong tình trạng hôn mê. Khi đó gió biển gào thét dữ
dội.

Các bác sĩ quyết định phải mổ ngay nhưng họ không thể tiến hành ca mổ trong lúc
bà mẹ lâm vào tình trạng hôn mê, suy kiệt tinh thần hoàn toàn.
Trong những lúc tỉnh táo ngắn ngủi, bà thều thào hỏi đã hết bão chưa, con trai bà đã về chưa?

Khi đó có một người làng bên cho biết đã tìm thấy mãnh vỡ của con tàu nhà bà dạt vào bờ biển.

Bà hỏi các bác sĩ nhưng không ai trả lời.
Tôi đứng ở đó và thật rồ dại khi trung thực kể cho bà nghe rằng cơn bão khủng
khiếp lắm, kéo dài vài ngày nữa mới thôi, con tàu đã bị vỡ, sóng xô vài mảnh vào
bờ, con trai bà (bạn thân của tôi) không biết số phận ra sao?
Các bác sĩ không kịp cản tôi.

Câu chuyện tôi vừa kể đã đánh gục những sức lực yếu ớt cuối cùng của bà. Bà nấc
nhẹ và thiếp đi. Bác sĩ bó tay. Tôi tình cờ phạm phải một tội ghê ghớm mà suốt
đời tôi không tha thứ cho mình. Sau khi tan bão người bạn tôi sống sót trở về do
một chiếc tàu khác cứu.
Anh không trách tôi mà chỉ gục bên mộ mẹ khóc nức nở.Sự trung thực ngu ngốc đã
vô tình khiến tôi phạm sai lầm khủng khiếp.

Trong truyện ngắn nổi danh ” Chiếc lá cuối cùng” của O.Henrry, một bệnh nhân tin
chắc mình sẽ chết. Cô đếm từng chiếc lá rụng của tán cây ngoài cứa sổ và tin
rằng đó là chiếc lá đồng hồ số phận của cô.
Khi chiếc lá cuối cùng rơi xuống, cô sẽ chết. Nhưng chiếc lá cuối cùng không bao
giờ rụng xuống. Cô gái bình phục, sống khỏe mạnh mà không biết rằng chiếc lá
cuối cùng đó chỉ là một chiếc lá giả do một họa sĩ muốn cứu cô vẽ lên vòm cây
trơ trụi.

Như vậy sự thật không phải được nhìn thấy bằng mắt, được cảm nhận bằng tri thức.
Nếu tôi không kể về cơn bão tôi thấy, mảnh ván tàu vợ tôi được nghe thì có lẽ
người mẹ ốm yếu ấy không chết.
Nếu như không có chiếc lá giả kia, cô gái sẽ chết vì bệnh tật và vì tuyệt vọng.
Sự thật trong đời sống con người phải đồng nghĩa với tình yêu nữa. Chỉ có điều
gì cứu giúp con người, làm cho con người mạnh mẽ lên, hướng con người về ánh
sáng… điều đó mới là sự thật.

Còn tất cả những hành động, những lời nói cho dù đúng với mắt mình thấy, tai
mình nghe, tri thức của mình hiểu nhưng chúng khiến cho người khác, hoặc cho
niềm tin cuộc sống, mất đi sức mạnh tinh thần dẫn đến việc hủy hoại đời sống thì
đều không phải là trung thực.Nếu chúng là sự thật, đó là sự thật của một con quỷ
không biết yêu thương con người.

Một lời nói dối trong tình yêu có thể cứu người và một lời nói thật phũ phàng có
thể giết người. Tất nhiên chúng ta sẽ chọn lời nối dối chân chính.
Tuy vậy để phân biệt khoảng cách giữa những lời nói này cũng là một điều khó
khăn và tùy thuộc vào từng hoàn cảnh đặc biệt. Bạn có biết nói dối thế nào để
lời nói dối ấy là lời nói dối chân thành, chứa đầy tình yêu thương con người?

Đơn giản thôi.Bạn hãy giữ lấy một trái tim tha thiết với cuộc đời và đồng loại.

Khuyết Danh

Anh chị Thụ Mai gởi

Suy Tư Về Việc Hoa Kỳ Chấp Thuận Hôn Nhân Đồng Giới

Suy Tư Về Việc Hoa Kỳ Chấp Thuận Hôn Nhân Đồng Giới

TRẦM THIÊN THU

Ngày 26-6-2015, Hoa Kỳ đã hợp pháp hóa việc hôn nhân đồng giới. Một tiếng sét ngang tai đối với người Công giáo. Chúng ta nên làm gì?

Hôn nhân truyền thống là điều tốt lành của Thiên Chúa, sự thiết lập này được thể hiện qua việc kết hợp của một người nam và một người nữ, nhờ đó mà xã hội phát triển. Nhưng người ta không tin như vậy. Đa số thất vọng với quyết định của Hoa Kỳ về việc chấp nhập hôn nhân đồng giới. Kinh khủng quá!

Cơn cám dỗ này là sự hôi thối sỉ nhục trong góc thánh thiện, là đào hố sâu dưới chân chúng ta, là cú đá ngược bất ngờ khiến chúng ta thất vọng. Nhưng chúng ta vẫn khả dĩ làm tốt hơn bằng cách ấp ủ Tám Mối Phúc:

Hãy vui mừng, không chỉ trong quyết định, mà còn vui mừng trong Chúa, và hãy tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh. Chúa Giêsu nói: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế” (Mt 5:11).

Vui mừng cái gì? Hãy chú ý những điều quan trọng: Thiên Chúa vẫn hiện hữu, không phải Ngài không biết, nhưng Ngài làm ngơ và chờ đợi chúng ta ăn năn sám hối; sự chết và sự phục sinh của Đức Kitô vẫn mãi là sức mạnh cứu độ đối với mọi người; Tin Mừng vẫn làn tỏa khắp nơi; Tòa án Tối cao hoặc Quốc hội Hoa Kỳ không thể chống lại Giáo Hội của Đức Giêsu Kitô, vì Ngài đã xác định với giáo hoàng tiên khởi: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16:18). Chắc chắn “không có gì tách chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô” (Rm 8:35). Nước Thiên Chúa sẽ ngự đến – và vẫn có những công việc để chúng ta làm trong Giáo Hội và trong xã hội ngày nay.

HÃY SÁM HỐI. Hiện nay một cơn cám dỗ khác đang nhắm vào các sức mạnh về chính trị, xã hội, triết học, tâm linh, để chống lại Giáo Hội và giáo huấn luân lý. Thánh Phaolô khuyên chúng ta khi tham gia cuộc chiến thiêng liêng: “Anh em hãy tìm sức mạnh trong Chúa và trong uy lực toàn năng của Người. Hãy mang toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa, để có thể đứng vững trước những mưu chước của ma quỷ. Vì chúng ta chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là với những quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm này, với những thần linh quái ác chốn trời cao. Bởi đó, anh em hãy nhận lấy toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa; như thế, anh em có thể vận dụng toàn lực để đối phóđứng vững trong ngày đen tối” (Ep 6:10-13). Chúng ta nên làm gì và có thái độ thế nào khi xã hội loại bỏ các giá trị đạo đức? Hành động trái ngược đã bộc lộ nỗi sợ hãi và dịnh kiến. Đam mê của chúng ta có nguồn gốc từ tội lỗi liên quan tình dục, lãnh đạm với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, thói tham lam, thói giả hình, tính vị kỷ,… Tu thân rồi mới tề gia, sau đó mới khả dĩ trị quốc và bình thiên hạ. Bắt đầu là điều khó, bắt đầu từ chính mình lại càng khó hơn. Nhưng ai cũng PHẢI bắt đầu. Tu thân là sửa tính nết, canh tân lối sống, sám hối tội lỗi: “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an” (Mt 5:5).

HÃY SUY NGHĨ LẠI. Hãy suy nghĩ về những gì mình đã làm, đang làm và sẽ làm. Hôn nhân đồng giới là trái tự nhiên, là “cặp đôi KHÔNG hoàn hảo”.

Một vấn đề đòi hỏi suy nghĩ nghiêm túc là việc ly hôn, ly thân và tái hôn. Kinh Thánh nói nhiều về hôn nhân. Sách Khôn Ngoan cảnh báo: “Họ quả không coi trọng mạng sống và xem thường cuộc hôn nhân trong sạch. Người này giăng bẫy sát hại người kia, người ta giết nhau bằng thủ đoạn hoặc làm khổ nhau vì chuyện ngoại tình. Nơi đâu cũng hỗn loạn: đổ máu và giết người, cướp giật và lừa đảo, nhũng lạm, bất tín, bạo loạn, bội thề. Vàng thau lẫn lộn, bội nghĩa vô ân, tâm hồn nhơ nhuốc, dục tình đồi bại, rồi hôn nhân hỗn loạn, ngoại tình và phóng đãng” (Kn 14:24-26). Thiên Chúa quả quyết: “Ta ghét việc rẫy vợ, và kẻ lấy thói bạo tàn làm áo che thân. Hãy coi chừng và chớ phản bội!” (Mlk 2:16). Và Chúa Giêsu dạy: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19:6; Mc 10:9). Đó là Ngài nói về hôn nhân lưỡng tính (một nam và một nữ) chứ không là hôn nhân đồng tính (một nam và một nam, hoặc một nữ và một nữ). Thế nhưng người ta nới lỏng Luật Chúa và không tôn trọng lời thề hôn nhân. Người ta coi thường Thánh Ân nên không muốn tuân giữ Thánh Luật. Sự mâu thuẫn đã làm đảo lộn trật tự xã hội vì người ta muốn thoát ra khỏi Giáo Hội. Giáo Hội cấm ly hôn chứ không cấm tái hôn, nhưng chỉ tái hôn khi một người không còn (qua đời) chứ không tái hôn sau khi ly hôn.

Ai khao khát sự công chính thì sẽ được mãn nguyện: “Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng” (Mt 5:6). Nhưng khao khát thì phải hành động chứ không “há miệng chờ sung rụng”.

HÃY SẮP ĐẶT LẠI. Chúng ta đang “sống lưu vong” và “lữ hành trần gian”. Một thanh niên Miến Điện đến Hoa Kỳ vài tháng trước. Anh ta nói rằng ở Miến Điện, các Kitô hữu bị hạn chế xây dựng nhà thờ và trường học. Hành vi thù địch về xã hội và chính trị đã khiến anh chống đối, anh phải trốn sang Indonesia. Tại đây, anh bị tù 7 tháng vì không có giấy tờ tùy thân. Nhờ tổ chức World Relief, anh được đến Hoa Kỳ, phải “vật lộn” với ngôn ngữ mới và văn hóa mới, trong khi phải nuôi sống gia đình với số lương bèo bọt. Nghĩa là anh ta phải sắp xếp lại mọi thứ để sớm thích nghi với hoàn cảnh mới với mọi thứ mới.

Đó là một dạng sống lưu vong, dù xã hội Hoa Kỳ vẫn cho phép tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, tôn trọng nhân quyền, cho phép công dân tham công việc gia quản trị. Tự do luôn có sẵn hầu như ở mọi nơi trên thế giới. Kiến tạo hòa bình là điều tốt chung: “Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5:9). Nói chung, chúng ta phải sắp xếp lại quan điểm và hoạt động chính trị.

HÃY VƯƠN XA. Vấn đề hôn nhân đồng giới đã được hợp pháp hóa ở Hoa Kỳ, chúng ta buồn nhưng chúng ta lại có cơ hội để xây dựng các mối quan hệ đơm hoa kết trái với những người ghét các Kitô hữu: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5:44; Lc 6:27). Về điểm này, người Công giáo chúng ta bị coi là mối đe dọa đối với chính trị. Chúng ta “mất mát” về vấn đề hôn nhân đồng giới, mối đe dọa đã không còn. Chúng ta hãy mong đợi những cơ hội mới để có dịp chia sẻ về Lòng Chúa Thương Xót: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5:7). Đó chính là Tin Mừng vậy.

HÃY TỰ HÀO. Thánh Phaolô động viên: “Hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hoà. Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an, sẽ ở cùng anh em” (2 Cr 13:11). Vả lại, chính Thiên Chúa đã kêu gọi chúng ta ngay trong bước ngoặt lịch sử này – Hoa Kỳ chấp thuận hôn nhân đồng giới. Trong quá khứ, Giáo Hội hồi thế kỷ IV có trách nhiệm suy tư vầ bản chất của Đức Kitô, Giáo Hội hồi thế kỷ XVI có trách nhiệm suy tư về mối quan hệ giữa đức tin và công việc, còn hiện nay, Giáo Hội có trách nhiệm suy tư về vấn đề giới tính. Điều chúng ta dạy và việc chúng ta làm trong thời đại chúng ta sẽ định hình tư tưởng của Giáo Hội và cuộc sống đối với các thế hệ tương lại.

Đây không chỉ là lời kêu gọi đối với các vị lãnh đạo quốc gia và Giáo Hội, mà còn đối với mỗi gia đình Kitô giáo. Dù chúng ta có đi vận động hành lang ở sảnh Quốc hội hay không để xem việc buôn bán người hoặc dạy trẻ em về tặng phẩm tình dục quý giá thế nào, chúng ta vẫn đang củng cố và định hình giáo huấn của Giáo Hội về giới tính.

Chúng ta đang bước vào tương lai chưa biết sẽ đáng quan ngại hay hay không, nhưng cần có lòng khiêm nhu và tự tin: “Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp” (Mt 5:4). Đức Kitô là Thiên Chúa Ngôi hai và vẫn là Hoa Tiêu điều khiển Con Tàu Giáo Hội. Phúc cho ai chân nhận điều này, vì họ sẽ được Nước Trời làm gia nghiệp đời đời!

MARK GALLI

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ ChristianityToday.com)

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Cám Ơn Em​

MỜI ĐỌC CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG:

Tấm ảnh xao lòng và câu chuyện rất cảm động

Thưa bạn,

Tuần qua tôi nhận được tấm ảnh này, rồi sau đó nhận được câu chuyện dưới đây. Cả hai đều không thấy ghi tên tác giả và cả hai đều khiến tôi rất xúc động. Tôi nghĩ cần chia sẻ với nhiều người,

xin được gửi đến bạn…

Cám Ơn Em​

Tôi sinh ra tại một vùng quê hẻo lánh. Ngày qua ngày, cha mẹ tôi phải ra sức cày cấy trên mảnh ruộng khô cằn để nuôi hai chị em tôi ăn học.  Một ngày kia tôi lén ăn cắp mười lăm đồng trong ngăn kéo của cha để mua một chiếc khăn tay mà những đứa con gái trong làng đều có. Cha tôi phát hiện, ông lấy chiếc roi tre treo trên vách xuống, bắt hai chị em tôi quỳ trước mặt và hỏi rằng ai đã lấy cắp. Vì sợ hãi, tôi đã không dám dứng lên nhận lỗi. Cha tức giận định đánh cả hai chị em, ông đưa chiếc roi lên. Em níu tay cha lại và nói:
– Thưa cha, con trót dại…
Em nói loanh quanh, không giải thích được đã dùng số tiền ấy vào việc gì. Cha giận đến tái mặt nghĩ rằng em đã ăn chơi lêu lổng và quất liên hồi chiếc roi dài vào lưng em cho đến khi cha gần như không thở được nũa.  Đêm ấy, mẹ và tôi đã dỗ dành em. Nhìn thân hình đầy những lằn roi của em, tôi oà khóc. Em vội vàng nói:
– Chị ơi đừng khóc, kẻo cha nghe thấy cha sẽ đánh đòn chị đấy!

Năm ấy em vừa lên 8 và tôi 11 tuổi.
Năm em tôi được tuyển thẳng vào trường trung học thì tôi cũng trúng tuyển vào đại học. Chưa kịp vui với niềm mơ ước được chạm vào cánh cửa đại học thì tôi đã đối diện với nỗi lo lắng về học phí. Cha mẹ tôi không đủ tiền để cho hai chị em ăn học cùng một lúc. Em tôi quyết định bỏ học nhưng cha mẹ và cả tôi đều không đồng ý. Tôi nói:
– Em cần phải tiếp tục đi học để tìm cách thoát ra khỏi cảnh nghèo khó sau này. Chính chị mới là người không nên tiếp tục vào đại học.

Nhưng em đã bỏ nhà ra đi với vài bộ quần áo cũ và một ít muối mè trong chiếc túi sách nhỏ. Em đã lén đến bên giường tôi và để lại một mảnh giấy nhỏ bên gối tôi với lời nhắn nhủ: “Chị ơi, được vào đại học không phải là điều dễ dàng. Em sẽ tìm việc làm để gởi tiền về cho chị.”.
Tôi trào nước mắt, chẳng nói lên lời.  Năm ấy em mới 17 và tôi tròn 20.

Với số tiền ba tôi vay được trong làng cộng với số tiền gởi về của em, cuối cùng tôi cũng học xong năm thứ 3 đại học. Một hôm đang ngồi học trong phòng, một đứa bạn chạy vào gọi tôi và nói:
– Có người cùng làng đợi cậu ngoài kia.
Tôi chạy ra và thấy em đứng từ xa, quần áo lấm lem dầu nhớt. Tôi hỏi em:
– Sao em không nói với bạn của chị, em là em trai chị chứ?
Em cười đáp lại:
-Em sợ mọi người sẽ cười chị khi nhìn thấy bộ dạng nhếch nhác của em.
Tôi lặng người, nước mắt tuôn trào.
Em mỉm cười, đôi mắt ánh lên lấp lánh. Em đưa tay vào túi áo lấy ra một chiếc kẹp tóc hình con bướm và nói:
– Em thấy mọi cô gái đều cài nó trên tóc, vì thế em mua tặng chị!
Tôi không kìm được niềm xúc động, ôm chầm lấy em nức nở. Năm ấy tôi đã 23 và em mới 20.

Khi lần đầu tôi đưa bạn trai về nhà ra mắt cha mẹ, mọi thứ trong nhà đều rất sạch sẽ và ngăn nắp, ngay cả miếng cửa sổ bị bể cũng đã được lắp lại. Mẹ cho tôi biết trong khi dọn dẹp và thay khung cửa sổ, em đã bị miếng kính đâm vào tay chảy máu.
Tôi chạy vào tìm em. Nhìn vết thương trên tay em, tôi cảm thấy như có hàng ngàn mũi kim đâm vào tim mình. Tôi lấy thuốc và bông băng để băng lại vết thương cho em. Em cười:
– Em không muốn anh ấy chê nhà mình nghèo khổ!
Năm ấy em 23 và tôi 26.

Sau khi lập gia đình, tôi về sống với chồng ở thành phố. Vài năm sau, chồng tôi trở thành giám đốc của một xí nghiệp. Vợ chồng tôi muốn đưa em vào làm nhưng em từ chối vì sợ mọi người sẽ xì xầm bàn tán những lời không hay về chồng tôi.
30 tuổi, em lập gia đình với một cô gái trong thôn.
Năm tôi 40, cuộc hôn nhân tưởng chừng như mỹ mãn của tôi bị đỏ vỡ vì sự xuất hiện của một người đàn bà khác. Em vứt hết chuyện gia đình đến chăm lo cho các con tôi, vực tôi dậy sau những đắng cay nghiệt ngã. Rồi một ngày cả hai chúng tôi đều già nua, tóc bạc gần hết mái đầu. Em ngồi bên tôi nhắc lại chuyện xưa: Ngày ấy, chị em tôi mỗi ngày phải lội bộ hơn hai tiếng mới có thể đến trường. Một hôm, em làm mất chiếc giày. Một phần sợ cha đánh em, một phần biết mẹ không có tiền mua giày mới, tôi đã nhường cho em đôi giày của mình. Và cứ thế, mỗi ngày hơn bốn tiếng đi-về, chân tôi phồng rộp lên và rướm máu vì những viên đá nhọn trên mặt đường nóng bỏng. Từ đó em hứa với lòng phải chăm sóc và đối xử với tôi thật tốt.
Nước mắt tôi chợt ứa ra vì hạnh phúc. Năm ấy em chỉ vừa lên 5 !

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

HÀNH TRANG NGƯỜI MÔN ĐỆ

HÀNH TRANG NGƯỜI MÔN ĐỆ

TGM Ngô Quang Kiệt

Ai đi xa cũng phải chuẩn bị hành trang.  Chuyến đi càng xa thì hành trang càng nhiều.  Chuyến đi càng quan trọng thì hành trang càng phải chọn lựa, tính toán.  Hôm nay Đức Giêsu sai các môn đệ đi một chuyến quan trọng: tiếp nối sứ mạng của Người đem Tin Mừng đến khắp các làng mạc xa xôi.  Để chuẩn bị cho chuyến đi quan trọng này, Đức Giêsu đã giúp các môn đệ sắp xếp hành trang.  Sau khi đã loại bỏ những loại hành trang cồng kềnh không cần thiết, có hại cho nhiệm vụ, Đức Giêsu đã trao cho các môn đệ những hành trang thực sự cần thiết và hữu ích cho sứ vụ Tông đồ.

Hành trang của người môn đệ là sự gắn bó mật thiết với Đức Giêsu. Các môn đệ chỉ được sai đi sau khi đã có một thời gian sống bên cạnh Người.  Thời gian sống bên Đức Giêsu cần thiết để các môn đệ hiểu biết, cảm thông và nhất là yêu mến, gắn bó mật thiết với Người.  Đây chính là hành trang quan trọng nhất.  Người được sai đi phải gắn bó mật thiết với Đấng đã sai mình.  Sự gắn bó mật thiết là nguồn mạch, bảo đảm tính trung thực, là chìa khoá thành công của sứ vụ.  Đức Giêsu đã nêu gương về điểm này khi luôn gắn bó mật thiết với Đức Chúa Cha, Đấng đã sai Người.  Sự gắn bó ấy giúp Người hoàn toàn kết hiệp với Đức Chúa Cha, trở nên một lòng một ý với Đức Chúa Cha, luôn cầu nguyện, luôn từ bỏ ý riêng để làm theo ý Chúa Cha.  Chính vì thế, sứ vụ của Người đã thành công tốt đẹp.

Hành trang của người môn đệ là tâm hồn đơn sơ phó thác. Khi chỉ thị cho các môn đệ: “không được mang gì khi đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo”, Đức Giêsu muốn các ông sống trong cảnh nghèo khó để hoàn toàn tin tưởng phó thác vào Chúa.  Tiền của, tiện nghi vật chất dễ tạo ra một thứ an tâm giả tạo, dẫn con người đến chỗ tự mãn, tự kiêu, tự phụ cho rằng mọi thành công là nhờ tài sức riêng mình.  Vì thế, dễ tha hoá, làm theo ý mình hơn là làm theo ý Chúa, sắp đặt chương trình cho Chúa hơn là tìm thực hiện chương trình của Chúa.  Nghèo khó sẽ giúp người môn đệ ý thức sự nghèo nàn thiếu thốn, sự yếu ớt của mình, ý thức đó sẽ giúp người môn đệ biết khiêm nhường, tin tưởng phó thác cho Chúa.  Tôi chỉ là hư vô, là cát bụi.  Mọi thành công đều của Chúa, nhờ Chúa.  Những thành công do tài sức con người sẽ mau tàn.  Chỉ có công trình của Chúa mới bền vững.  Vì thế đơn sơ phó thác là một hành trang rất cần thiết cho người môn đệ.  Không mang theo gì của loài người, chỉ mang theo niềm tin yêu phó thác vào Thiên Chúa, đó chính là mang theo tất cả.

Hành trang của người môn đệ là tình liên đới. Đức Giêsu không sai các môn đệ đi riêng lẻ, nhưng sai từng hai người một.  Người biết khả năng con người yếu kém, cần có tập thể nâng đỡ mới hoàn thành sứ mạng.  Lời chứng của một cá nhân chưa đủ sức thuyết phục.  Cần có sự đồng tâm nhất trí của một tập thể lời chứng mới thực sự đáng tin.  Hơn nữa, Đức Giêsu không sai các môn đệ đi làm việc với giấy tờ hay đất đai, nhưng sai các ngài đến với con người.  Các ngài phải sống giữa mọi người, nhờ mọi người giúp đỡ, chia sẻ cuộc sống với họ.  Phải liên đới với con người.  Tình liên đới không những cần thiết để giúp các ngài làm việc tông đồ một cách hữu hiệu.  Chính qua tình liên đới mà Tin Mừng dễ dàng được đón nhận.

Hành trang của người môn đệ là trái tim biết cảm thương.  Đức Giêsu sai các môn đệ đến với những người đau yếu bệnh tật, hoang đàng tội lỗi, bị quỷ ma hành hạ.  Tức là đến với những người kém may mắn ở đời.  Những người nghèo hèn yếu đuối. Những người bị xã hội bỏ quên.  Để đến với những người anh em bé nhỏ, người môn đệ phải có trái tim biết cảm thương.  Các ngài phải mang trái tim của Thiên Chúa luôn chạnh lòng thương khi nhìn thấy đám đông bơ vơ tất tưởi, túng thiếu, đói khát.  Phải sẵn sàng băng rừng vượt suối đi tìm một con chiên lạc.  Phải mở rộng vòng tay đón nhận đứa con hoang đàng trở về.  Phải sẵn sàng tha thứ cho kẻ tội lỗi thật lòng hối cải ăn năn.

Mỗi người chúng ta đều là môn đệ của Chúa.  Khi chúng ta lãnh nhận phép Rửa tội và Thêm sức, Chúa sai chúng ta đi rao giảng Tin Mừng của Người.  Tôi thấy anh chị em ở Giáo xứ Cửa Nam rất tích cực trong việc tông đồ.  Nhưng có lẽ anh chị em vẫn băn khoăn, không biết làm sao để việc tông đồ có kết quả tốt đẹp.  Hôm nay, Đức Giêsu cho ta biết, muốn việc tông đồ có kết quả, ta phải gắn bó mật thiết với Chúa, phó thác mọi sự cho Chúa, đồng thời phải có tình liên đới và nhất là phải biết cảm thương anh chị em đồng loại.  Một tay nắm lấy tay Chúa, một tay nắm lấy tay anh em.  Một tình yêu anh chị em trong tình yêu mến Chúa.  Liên kết mọi người trong tình yêu mến.  Với tình yêu mến, chắc chắn việc tông đồ của ta sẽ đi đúng đường hướng của Chúa.  Với tình yêu mến, chắc chắn việc tông đồ sẽ có kết quả tốt đẹp.

TGM Ngô Quang Kiệt

Kinh tế thị trường và sứ mạng của Tổng Bí thư

Kinh tế thị trường và sứ mạng của Tổng Bí thư

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-07-08

07082015-mrkt-on-sidel-of-nptrong-trip.mp3

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trước bữa ăn với Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vào ngày 07 Tháng Bảy 2015 tại Washington, DC

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trước bữa ăn với Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vào ngày 07 Tháng Bảy 2015 tại Washington, DC

AFP

Bên lề chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, phía Việt Nam mong muốn sớm được Hoa Kỳ công nhận là nền kinh tế thị trường.

Gần 40 quốc gia đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường trong đó có Nhật Bản và Úc. Tuy nhiên cho đến nay các nước EU và Hoa Kỳ vẫn cho là Việt Nam chưa đáp ứng các điều kiện để được công nhận là nền kinh tế thị trường.

Kinh tế quốc doanh không thể là kinh tế thị trường

Tháp tùng phái đoàn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng viếng thăm Hoa Kỳ, ông Hoàng Bình Quân Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương có bài phổ biến trên Washington Post với lời kêu gọi Hoa Kỳ công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam. Tiếng nói đối ngoại của Trung ương Đảng biện luận rằng, nền kinh tế Việt Nam cởi mở không kém một số quốc gia Âu Châu và đối với những lĩnh vực gọi là còn vấn đề, Việt Nam vẫn đang nỗ lực để có được những cải cách cần thiết.

TS Vũ Quang Việt, chuyên gia kinh tế từng nhiều năm làm việc cho  Liên Hiệp Quốc từ New York nhấn mạnh tới điểm cốt lõi mà theo ông đã khiến nền kinh tế Việt Nam không thể xem là kinh tế thị trường.

“ Việt Nam ngay cả trong Hiến pháp và các văn bản quyết định khác đều coi kinh tế quốc doanh là chủ đạo. Nếu quốc doanh chủ đạo thì có nghĩa là nó được hưởng rất nhiều ưu tiên. Cái đó là một trong 5 lý do mà người ta không chấp nhận kinh tế Việt Nam là kinh tế thị trường. Với chế độ cộng sản và với nền kinh tế họ coi là quốc doanh chủ đạo thì như vậy họ sẽ làm lợi nhất cho những người ở trong Đảng và những người cầm quyền, đặc biệt việc sử dụng đất đai…họ sẽ tạo ra những cơ sở để cho đảng viên những người liện quan đến Đảng, liên quan đến chính quyền được hưởng lợi ích và giới tư nhân khó lòng mà cạnh tranh lại những người đang nắm quyền…  ”

Thông thường, 5 điều kiện để các quốc gia được công nhận là nền kinh tế thị trường bao gồm sự minh bạch trong môi trường đầu tư kinh doanh, tuân thủ pháp luật đề ra, tiền tệ ổn định, đối xử công bằng giữa các khu vực doanh nghiệp, không phân biệt doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp nước ngoài và sau cùng là trong hoạt động kinh tế không có các khoản chi không chính thức.

” Việt Nam ngay cả trong Hiến pháp và các văn bản quyết định khác đều coi kinh tế quốc doanh là chủ đạo. Nếu quốc doanh chủ đạo thì có nghĩa là nó được hưởng rất nhiều ưu tiên. Cái đó là một trong 5 lý do mà người ta không chấp nhận kinh tế Việt Nam là kinh tế thị trường.

TS Vũ Quang Việt”

Trả lời chúng tôi từ Hà Nội, TS Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nhận xét về việc các nước EU và Hoa Kỳ vẫn còn chưa nhìn nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường trên thực tế. Theo ông, tiêu chuẩn về kinh tế thị trường của các nước EU và Hoa Kỳ tuy có khác biệt nhưng có thể tóm tắt:

“Tinh thần chung nó liên quan đến hoạt động phản ánh qua giá cả thị trường như thị trường đất đai, thị trường lao động, các vấn đề tỷ giá. Ngoài ra còn có câu chuyện doanh nghiệp nhà nước…Nếu nhìn tổng thể tôi cho rằng tính chất thị trường của kinh tế Việt Nam ngày một rõ hơn, rõ nhất nó thể hiện qua việc hội nhập của Việt Nam gắn với các hiệp định thương mại tự do và sắp tới có thể là Hiệp đinh thương mại tự do Việt Nam – EU và TPP Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương. Bởi vì bản chất những hiệp định này gắn với tự do hóa rất là kinh tế thị trường. Cho nên tôi nghĩ rằng nếu EU và Hoa Kỳ nhìn nhận kinh tế thị trường Việt Nam thì nó cũng phản ánh cái giá trị cải cách ở Việt Nam và đặc biệt như tôi nói là hội nhập. Thế còn gọi là bắt bẻ trong ngoặc kép 100% kinh tế thị trường hoàn hảo thì tất nhiên người ta cũng có điều này điều kia chưa thỏa mãn. Nhưng cũng phải nói luôn là những nền kinh tế gọi là thị trường thì cũng không phải là 100% thị trường tất cả.”

Được công nhận là nền kinh tế thị trường là điều kiện thuận lợi để các quốc gia phát triển kinh tế, tham gia các hiệp định thương mại tự do, gia tăng buôn bán và tránh bị xử ép khi có tranh chấp thương mại hay tranh tụng về chống bán phá giá.

Thể chế chính trị và kinh tế thị trường

Theo TS Vũ Quang Việt, sự kiện Việt Nam xác định theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không có nghĩa là Việt Nam không thể trở thành một nền kinh tế thị trường được quốc tế nhìn nhận. Điều quan trọng theo TS Việt, nền kinh tế Việt Nam cần được cải tổ đáp ứng các tiêu chuẩn chung về kinh tế thị trường. TS Vũ Quang Việt tiếp lời:

“Tôi nghĩ là câu chữ nó vô nghĩa, vì nước nào cũng vậy họ có chính sách đối với việc bảo vệ thành lập nghiệp đoàn, bảo vệ lương tối thiểu đối với tiền hưu trí … cho đến trợ cấp xã hội, ngay những nước tư bản đều có vấn đề như vậy hết, nếu Việt Nam có làm như vậy cũng là chuyện bình thường. Nếu Việt Nam cấm nghiệp đoàn, đây là điểm tôi chưa rõ TPP có đòi hỏi là Việt Nam mở rộng cạnh tranh các nghiệp đoàn, người ta muốn vào nghiệp đoàn nào cũng được hay người ta chỉ được vào nghiệp đoàn của nhà nước. Vấn đề Việt Nam chỉ cho phép một loại nghiệp đoàn thôi thì cũng là hình thức không kinh tế thị trường.”

” Việc công nhận kinh tế thị trường Việt Nam nó không hoàn toàn, không nhắm tới việc phải thay đổi về chế độ chính trị. Nhưng điều này rất rõ, Việt Nam thẳng thắn nói rằng VN cần cải cách mạnh mẽ cả về mặt kinh tế lẫn chính trị. Ví dụ sự sửa đổi Hiến pháp, ví dụ cách thức đẩy mạnh vai trò và tiếng nói của Quốc hội VN…thì đấy cũng là quá trình cải cách chính trị của VN.

TS Võ Trí Thành”

Nếu như Việt nam cải cách tích cực và nghiêm chỉnh để được phương tây công nhận là nền kinh tế thị trường thì có ảnh hưởng hay dẫn đến thay đổi thể chế chính trị và đây có phải là một mối quan ngại hay không. TS Võ Trí Thành giải đáp câu hỏi này:

“ Việc công nhận kinh tế thị trường Việt Nam nó không hoàn toàn, không nhắm tới việc phải thay đổi về chế độ chính trị. Nhưng điều này rất rõ, Việt Nam thẳng thắn nói rằng Việt Nam cần cải cách mạnh mẽ cả về mặt kinh tế lẫn chính trị. Ví dụ sự sửa đổi Hiến pháp, ví dụ cách thức đẩy mạnh vai trò và tiếng nói của Quốc hội Việt Nam…thì đấy cũng là quá trình cải cách chính trị của Việt Nam. Mặc dù có thể chế độ chính trị vẫn là ổn định và giữ tư cách gọi là chế độ một đảng.”

Theo TS Võ Trí Thành, kinh tế thị trường đem lại ý nghĩa rất là cụ thể nhưng cũng có ý nghĩa hình tượng tích cực. Thí dụ việc công nhận kinh tế thị trường Việt Nam có thể làm giảm thiệt hại trong những vụ kiện chống bán phá giá, bởi vì nếu là nền kinh tế phi thị trường thì người ta có thế áp đặt một nước thứ ba để lấy giá so sánh mà có thể không công bằng, việc này đã nhiều lần xảy ra. Ngoài ra nếu được công nhận là nền kinh tế thị trường thì cũng là điều thuận lợi cho Việt Nam trong vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài.

Trong câu chuyện với chúng tôi, TS Vũ Quang Việt người từng là chuyên gia Liên Hiệp Quốc về tài khoản thống kê nói rằng, nếu như Việt Nam hoàn tất đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương TPP với Hoa Kỳ và với các nước thành viên khác thì sẽ rất gần với việc được công nhận là nền kinh tế thị trường. Nhưng điều này còn tùy thuộc vào các điều kiện mà TPP đặt ra và kết cục là Việt Nam có đáp ứng các điều kiện đó để được hưởng lợi về ưu đãi thuế quan xuất nhập khẩu hay không.

TẠI SAO GIÁO HỘI CẦN PHẢI KHÓ NGHÈO ĐỂ RAO GIẢNG TIN MỪNG CÁCH THUYẾT PHỤC HƠN ?

TẠI SAO GIÁO  HỘI CẦN PHẢI KHÓ NGHÈO ĐỂ RAO GIẢNG TIN MỪNG CÁCH THUYẾT PHỤC  HƠN ?

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Khó nghèo là một bất hạnh lớn cho con người, xét theo khôn ngoan của người đời; là những người chỉ  biết quí trọng giầu sang về vật chất,và chỉ đi tìm danh lợi chóng qua ở đời này, nên khinh thường mọi giá tri tinh thần trong đó có giá trị của sự khó nghèo nội tâm.  Nhưng với người có niềm tin Thiên Chúa, tin có sự giầu sang vĩnh cửu trên Nước Trời, thì khó nghèo lại là một nhân đức cần  phải có để xứng đáng là những môn đệ lớn nhỏ của Chúa Kitô, Đấng đã thực sự sống khó nghèo từ khi sinh ra  trong hàng bò lừa cho đến khi chết trần trụi trên thập giá.

Thế giới ngày nay đang chìm đắm trong đam  mê  về tiền bạc và của cải vật chất,tôn thờ khoái lạc ( hedonism) khiến dửng dưng – hay lãnh cảm ( numb, insensitive) trước sự đau khổ, nghèo đói của biết bao triệu người là nạn nhân của bóc lột và bất công xã hội đầy rẫy ở khắp nơi trong thế giới tôn thờ vật chất, tục hóa  và suy thoái thê thảm về luân lý, đạo đức và lòng  nhân đạo..

Đức Thánh Cha Phanxicô, trong một diễn từ mới đây, đã thẳng thắn nói rõ là thế giới hiện nay đang sống với thảm trạng  “ tôn thờ tiền bạc ( cult of money ) và dửng  dưng với bao triệu người nghèo đói ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia Phi Châu.

Không nói gì đến các nước vốn nghèo sẵn ở Á và Phi Châu, ngay ở Hoa Kỳ là nước được coi là giầu có nhất nhì thế giới mà cũng có biết bao người vô gia cư ( homeless) nghèo  đói, sống vất vưởng trên  hè phố ở các đô thị  lớn như Los Angeles, Houston, Chicago, Nữu Ước… Họ nghèo đến nỗi không có nhà ở và hàng ngày phải  đến xin ăn ở các cơ sở từ thiện, trong khi những người triệu phú , tỉ phú không hề quan tâm đến họ.  Chính quyền liên bang cũng như  tiểu bang , cho đến nay,  vẫn không có biện pháp tích cực nào để giúp những người nghèo vô gia cự này.Nhưng mỉa mai và nghịch lý  là chánh quyền Mỹ cứ thi nhau đem tiền ra giúp các nước như Irak. Afghanistan, Pakistan, Ai Cập, Syria…vì quyền lợi chiến lược của Mỹ, mặc dù  dân các nước trên vẫn chống Mỹ và muốn đuổi quân đội Mỹ ra khỏi đất nước họ ! ( Irak và Afghanistan)

Trước thực trạng nói trên của Thế giới,  Đức Thánh Cha Phanxicô, từ ngày lên ngôi Giáo Hoàng,  đã tỏ mối quan tâm sâu xa đối với người nghèo khó ở khắp nơi trên thế giới và luôn kêu gọi Thế giới nói chung và Giáo Hội nói riêng phải  làm gì cụ thể để thương giúp những người nghèo khó mà Chúa Kitô đang đồng hóa với họ và thách đố chúng ta nhận ra Chúa  nơi những người xấu số  này để thương giúp họ cách thich hợp theo khả năng của mình.

Đức Thánh Cha nghiêm khắc phê phán thế giới “tôn thờ tiền bạc”vì người thấy rõ sự chênh lệch quá to lơn giữa người quyền thế giầu sang và người nghèo cô thân cô thế ở khắp nơi trên thế giới tục hóa này.Nên khi lên ngôi Giáo Hoàng ngày 13 tháng 3 năm 2013, ngài đã chọn danh hiệu “Phanxicô” cho triều đại Giáo Hoàng ( Pontificate) của mình để nói lên ước muốn sống tình thần nghèo khó của Thánh Phan xicô khó khăn Thành Assisi  và  nhất là tình thần và đời sống  khó nghèo thực sự của Chúa Giêsu Kitô, “ Đấng vốn giầu sang phú quí nhưng đã tự ý trở nên khó nghèo vì anh  em  để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh  em trở nên giầu có.” ( 2 Cor 8:9)

Như thế, gương khó nghèo của Chúa Kitô mà Đức Thánh Cha Phanxicô  muốn thực hành   phải là gương sáng cho mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hôi  noi theo, đặc biệt là hàng giáo sĩ và tu sĩ, là những người có sứ mạng và trách nhiệm rao giảng và sống Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô để  nên  nhân chứng cho Chúa , “Đấng đã  đến không phải để được người ta phục vụ nhưng là để  phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.” ( Mt 20: 28).

Đặc biệt trong thư gửi cho các Tân Hồng Y  ngày  13 tháng 1năm 2014 , Đức Thánh Cha Phanxicô  đã nhấn mạnh như sau :

“  cái mũ đỏ không có ý nghĩa là được thăng thưởng( promotion)  một danh dự hay hào nhoáng bề ngoài( decoration) mà chỉ đơn thuần là một hình thức phục vụ đòi hỏi mở rộng tầm nhìn và con tim…do đó  xin quí chu huynh nhận sự bổ nhiệm mới  này với lòng khiêm cung,  giản dị và vui mừng, nhưng vui mừng không theo cách người đời hay bất cách mừng vui nào xa lạ với tinh thần của Phúc Âm về sự khắc khổ ( austerity) tiết độ ( sobriety) và khó nghèo ( poverty)”.

Tai sao phải sống khó nghèo ?

Trước hết, phải nói ngay là khó nghèo  ở đây không có nghĩa là phải đói khát rách rưới, vô gia cư, lang thang đầu đường xó chợ thì mới được chúc phúc. Ngược lại, phải lo cho mình và cho người mình có trách nhiệm coi sóc được có phương tiện sống cần thiết tối thiểu như  nhà ở, cơm ăn  áo mặc, phương tiện di chuyển như xe cộ, vì ở Bắc  Mỹ và các quốc gia Âu châu , Úc châu thì linh mục phải có xe hơi thì mới làm mục vụ được, vì không thể đi bộ đến thăm bệnh nhân ở tư gia hay ở các bệnh viện.Nghĩa là không “lý tưởng  thiếu  thực tế” để chỉ  chú trọng  đến đời sống tinh thần mà coi nhẹ hay sao nhãng đời sống vật chất đúng mức cho phù hợp với nhân phẩm.

Nhưng  điều quan trọng nhất  là phải có  nhân đức  khó nghèo  và thực sự sống tinh thần nghèo khó mà Chúa Kitô   đã dạy các môn đệ và dân chúng xưa là “ Phúc cho ai có tinh thần (tâm hồn) nghèo khó vì Nước Trời là của họ. ( Mt 5:3; Lc 6 : 20)

Sự nghèo khó mà Chúa muốn dạy ở đây không có nghĩa là phải đói khát , rách rưới  về phần xác như  đã nói ở trên   mà chỉ có nghĩa là không được ham mê tiền bạc và của cải vật chất, tiện nghi sa hoa, danh vọng phù phiếm  chóng qua ở đời này    đến độ vô tình làm nô lệ cho chúng khiến  không còn chú tâm  vào việc mở mang Nước Thiên Chúa trong tâm hồn của chính mình và nơi người khác; cụ thể là các giáo dân được trao phó cho mình phục vụ  và  săn sóc về mặt thiêng liêng.

Người tông đồ mà không có nhân đức khó nghèo, không khinh chê tiền bạc và của cải  vật chất,  thì không thể rao giảng sự khó nghèo của Phúc Âm cho ai được. Không có  và không  sống tinh thần khó nghèo thực sự mà lại rao giảng nhân đức khó nghèo thì sẽ làm trò cười mỉa mai cho người nghe mà thôi. Chắc chắn như vậy.

Mặt khác,  sự thành công của sứ mệnh rao giảng Tin Mừng không căn cứ ở những  giáo đường,  nhà  xứ , Tòa Giám mục được xây cất sang trọng , lộng lẫy để  khoe khoang với du khách mà cốt yếu ở chỗ xây dựng được đức tin và lòng yêu mến Chúa vững chắc trong tâm hồn của mọi tín hữu  để giúp họ sống đạo có chiều xâu thực sự, chứ không phô trương  bề ngoài với số con số đông tân tòng được rửa tội mỗi năm, đông người đi lễ hàng tuần, đi rước ầm ỹ ngoài đường phố,  trong khi rất nhiều người  vẫn sống thiếu bác ái và công bình với nhau và với người khác.

Lại nữa,, người tông đồ lớn nhỏ – nam cũng như nữ-  mà ham mê tiền của để đôn  đáo chạy đi khắp đó đây, đi ra nước ngoài nhiều hơn là đi thăm con chiên bổn đạo chỉ vì mục đích kiếm tiền cho những nhu cầu bất tận,  thì sẽ không bao giờ có thể sống và thực hành được  tinh thần khó nghèo của Chúa Kitô, Đấng đã sống lang thang như người vô gia cư đến nỗi có thể nói được về mình là “ con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có  chỗ tựa đầu.” ( Mt 8: 20)

Thử hỏi Chúa có đóng kich “ khó nghèo” từ khi sinh ra trong hang bò lừa cho đến khi chết trần trụi trên thập giá hay không ?

Ai dám nói là có ?  Nếu vậy, thì Chúa quả  thực  đã  sống khó nghèo trong suốt cuộc đời tại thế  để nêu gương  nghèo khó trong tâm hồn  và trong cuộc sống cho hết mọi người chúng ta. Nghĩa là  các tông đồ của Chúa nói riêng và toàn thể dân Chúa nói chung phải thi hành  lời Chúa để đi tìm và  “ tích trữ cho mình những kho tàng ở trên trời nơi mối mọt không làm hư nát, nơi trộm cắp không đào ngạch và lấy đi được.” ( Mt  6: 20)

Nếu người tông đồ  mà chỉ chú trọng đi tìm tiền của và xây dựng nhà cửa cho sang trọng, thay vì  xây dựng cho mình và cho những người mình phục vụ một lâu đài nội tâm hoành tráng,  thì mọi lời rao giảng về khó nghèo của Phúc Âm  sẽ trở nên trống rỗng và không có sức thuyết phục được ai  tin và thực hành, nếu không muốn nói là làm trò cười cho người nghe.. Muốn thuyết phục thì chính mình phải sống và  xa tránh hay chống lại  những cám dỗ về  tiền bạc và của cải vật chất để không đôn đáo đi tìm tiền, làm thân với người giầu có để trục lợi, bon chen để được về những xứ giầu, không chịu đi coi những xứ nghèo ở thôn quê,  cũng như không muốn dâng lễ với bổng lễ ( mass stipends) thấp , thì chắc chắn sẽ không thể rao giảng Tin Mừng cách hữu hiệu cho ai được.Và  nhiên hậu, cũng sẽ  không hơn gì bọn Biệt phái  và luật sĩ  xưa kia, là   những kẻ chỉ dạy người khác sống nhưng chính họ lại không sống điều họ dạy bảo người khác, khiến Chúa Giêsu đã nhiều lần phải nghiêm khắc lên án họ là :“quân giả hình”, bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta , nhưng chính họ lại không buồn động ngón  tay vào.”( Mt 23: 4).

Như thế, không thể  làm nhân chứng cho Chúa  Kitô về tinh thần nghèo khó của Phúc Âm  mà Chúa đã nêu gương sáng từ khi  Người sinh ra cho đến khi chết đi  hoàn toàn trong khó nghèo và đau khổ để cho chúng ta được cứu rỗi và trở nên phú quí sang giầu trên Nước Trời mai sau.

Nói rõ hơn, giảng  tinh thần khó nghèo của Chúa cho người khác,  mà chính mình  lại sống phản chứng  bằng cách chạy theo tiền của,  dùng những phương tiện di chuyển sang trọng như đi các loại  xe đắt tiền như  Lexus, BMW, Mercedes, Ìnfinity, Volvo… đeo đồng hồ longines, Omega …làm thân với người giầu, không nhận dâng lễ cho người nghèo  có ít tiền xin lễ, mà  chỉ nhận  lễ có bổng lễ cao.. thì chắc chắn sẽ không thuyết phục được ai tin và sống điều mình rao giảng cho họ, chỉ vì chính  mình không sống điều mình rao giảng.  Dĩ nhiên đây không phải là cách sống của tất cả mọi  linh mục, giám mục  nhưng dù chỉ có một thiểu số nhỏ cũng đủ gây tai tiếng cho tập thể  nói chung vì “ con sâu làm rầu nồi canh” như tục ngữ Việt Nam đã nói.

Tóm lại, Giáo Hội của Chúa phải thực sự nghèo khó  theo gương Đấng sáng lập là Chúa Giê su-Kitô, Người đã thực  sự sống và chết cách nghèo khó để dạy mọi người chúng ta  coi khinh , coi thường sự sang giầu chóng qua ở đời này để đi tìm sự giầu sang đích thực là chính Thiên Chúa là cội nguồn  của mọi vinh phúc giầu sang  vĩnh cửu mà tiền bạc, của cải ở đời này không thể mua hay đổi chác được.

Chỉ có nghèo khó thực sự trong tâm hồn,  thì Giáo Hội mới có thể  để lách mình ra khỏi mãnh lực của đồng tiền, và   của cải vật chất, tách mình ra khỏi làm tay sai cho thế quyền để trục lợi cá nhân. Có như thế thì mới có thể   thi hành có hiệu quả  sứ  mệnh thiêng liêng của mình là  rao giảng Tin Mừng  cứu độ  của Chúa Kitô và   sự giầu sang đích thực  là  chính Thiên Chúa , Đấng  đã chuẩn bị sẵn cho chúng ta  hạnh phúc  mà “ mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe , lòng người chẳng hề nghĩ tới, đó là điều  Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người. ( 1 Cr 2 : 9

Nghĩa là  phải yêu mến Chúa  hơn yêu mến tiền của và mọi sự sang trọng  phú quí  chóng qua  ở trần  gian này , thì  mới  có thể rao giảng Tin Mừng  Cứu Độ  cách hữu hiệu cho người khác được.

Nước Thiên Chúa mà Giáo Hội có sứ mệnh mở mang trên trần thế này,  không hề phục vụ cho  nhu cầu  tìm kiếm tiền bạc , danh vọng  và của cải vật chất hư hèn  mà  chỉ cho mục đích  kiếm tìm hạnh phúc và bình an vinh cửu trên Nước Trời mà thôi.  Lại nữa, không có  giáo sĩ và tu sĩ nào  có lời khấn sang giầu mà chỉ có lời khấn khó nghèo mà thôi. Có khó nghèo thực sự trong tâm hồn thì mới dễ vươn mình lên cùng Chúa  là cội nguồn của mọi phú quý  sang giầu đích thực. Và đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã nói với anh thanh niên giầu có  kia  là  “ hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo , anh sẽ được một kho tàng trên trời , rồi hãy đến mà theo tôi.” ( Mc  10:  21)

Lời Chúa trên đây phải là đèn sáng  soi cho mọi người tín hữu trong Giáo Hội- cách riêng cho hàng giáo sĩ và tu sĩ-  bước đi qua  bóng tối đen thui  của   tiền bạc  và của cải vật chất, là những quyến rũ  đã và  đang mê hoặc con người ở khắp nơi, khiến họ say mê  đi tìm kiếm và  tôn thờ,  thay vì  tìm kiếm và tôn thờ  một mình Thiên Chúa là cội nguồn của mọi  phú quý  giầu sang đích thực mà thôi.

Chúa nói: “ ai có tai nghe thì nghe” ( Mt 13:43; Mc 4: 23; Lc 8:8)

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Tin Chúa, con được gì?

Tin Chúa, con được gì?

Ơn-Ta-Đủ-Cho-Con

Trắc trở trong tình yêu, chị ở một mình nuôi con. Dù còn đó những dị nghị từ dư luận, chị bình an dấn thân vào cuộc mưu sinh. Khó khăn vất vả làm thuê kiếm sống cho mình và cho con, chị không than vãn nửa lời. Thế nhưng, chị ứa nước mắt khi thấy con mình từng ngày lớn lên trong môi trường đầy dẫy gương xấu, thiếu vắng gương lành. Chị mường tượng thấy một viễn cảnh không tương lai của con mình. Chị muốn, muốn lắm cứu vãn con mình khỏi cảnh sống ấy, để đưa nó vào một môi trường tươi sáng, tốt lành hơn. Nhưng chị nhận ra tay mình quá ngắn, sức mình quá bé nhỏ, trong khi môi trường đầy rẫy những lôi kéo bỏ bê việc học, đua đòi bạn xấu, nghiện ngập game, thuốc, sống bất cần đời,…

Chia tay anh lúc mới mang thai con, chị băn khoăn không biết nên giữ hay nên bỏ. Một thân một mình lại đèo bòng thêm con, không biết tương lai sẽ ra sao. Tăm tối, nhưng chị vẫn quyết định cưu mang mầm sống ấy, vì dầu sao đó cũng là con mình. Chị cũng tin rằng chỉ có Chúa mới có quyền quyết định về sự sống và cái chết của một con người. Niềm tin ấy cho chị thêm vững vàng để cưu mang và đón nhận đứa con chào đời, dẫu làm thế chị phải nhắm mắt bịt tai trước bao lời đàm tiếu, mỉa mai.

Ngày con cất tiếng khóc chào đời, chị vui buồn lẫn lộn. Niềm vui được làm mẹ thật lạ lùng, chị chẳng thể tả xiết. Nhưng niềm vui ấy không thuần khiết mà được bao bọc bởi nỗi buồn lo về tương lai. Đứa bé rồi sẽ ra sao khi không biết đến mặt mũi người cha! Vẫn cùng một niềm tin đã cho chị sức mạnh để đón nhận con, nay cho chị thêm hy vọng vào một tương lai. Nỗi buồn rồi cũng phôi pha khi chị trông thấy con từng ngày khôn lớn. Chị hy vọng về một tương lai tốt đẹp của con, dẫu trước mắt không thiếu khó khăn về kinh tế.

Gửi con lại quê cho ông bà ngoại đã cao tuổi, chị lên thành phố kiếm việc làm mong có thể xoay trở đủ tiền nuôi con ăn học thành người. Tràn đầy ước mong và hy vọng, chị chẳng ngại dấn thân lao nhọc. Chuyên chăm làm việc, chị có thể chu cấp cho con miếng ăn, cái mặc có thể nói là tươm tất. Nhưng con người sống đâu chỉ cần miếng cơm manh áo. Chị thầm hiểu điều đó nên dù xa con, chị vẫn đều đặn dành thời gian gọi điện về thăm hỏi, khích lệ. Nhưng hỡi ôi, nước xa đâu mong cứu được lửa gần. Tuổi thơ non dại, trong khi môi tường xấu lôi cuốn rủ rê, con chị đã dần bị tiêm nhiễm bởi thói sống bất cần đời, thả trôi đời mình theo các đam mê nghiện ngập.

Học hành chẳng thấy lợi ích gì, lại thêm mệt thêm khổ; rong chơi thoải mái, luyện game thú vị hơn nhiều. Với tư duy thực tiễn nhưng nông cạn và bồng bột ấy, con chị bị cuốn lao vào vòng đam mê chơi bời lêu lổng, game thuốc từ lúc nào. Trốn học đi chơi; cần tiền tiêu xài, tìm đủ lý do để xin; xin không cho thì trộm cắp. Ban đầu là những thứ lặt vặt, rồi đến những món tiền lớn hơn,… một lần, vài lần, rồi thành quen, khó bỏ, không bỏ được!

Thương con, chị bỏ công việc về quê, mong tìm cách cứu vãn tương lai con mình. Ban đầu chị khuyên bảo con, dùng lời ngon ngọt yêu thương. Con chị dạ dạ vâng vâng, nhưng thói xấu khó chừa, chứng nào tật nấy. Khuyên mãi không được, chị chuyển qua răn đe, kỉ luật. Mẹ con trở ra xung khắc. Đau lòng, buồn tủi, chị chẳng biết ngỏ cùng ai, cậy nhờ ai! Đời chị như bế tắc. Đến với Chúa, chị thở than:

Lạy Chúa, con đã tin Chúa, đã đón nhận cái thai, gìn giữ sự sống của đứa con và nuôi hy vọng. Con đã chẳng dấn thân hy sinh chăm lo cho con cái bao năm qua sao? Vậy tại sao con của con giờ lại ra nông nỗi này? Nếu con đã không tin Chúa và đã không để con của con chào đời, thì giờ đây con đâu phải chứng kiến cảnh thấy nó hư đi mà không biết phải làm gì để cứu vãn. Đời con đã quá cô đơn buồn khổ, con không than, cũng chẳng trách. Thế nhưng, giờ đây đời con của con lại đang dần đi vào ngõ cụt của khổ đau, bóng tối của sự dữ! Chúa đang ở đâu? Tin Chúa, con được gì?…Trong khổ nhọc, chị thiếp đi.

Thức tỉnh, chị thấy lòng bình an và thẳm sâu trong tâm trí chị thấy một nguồn hạnh, bởi chị nhận ra:

Tin Chúa, trước tiên chị được một niềm tin vững vàng, một niềm tin có thể ủi an nâng đỡ và thêm sức cho chị ngay giữa lúc tưởng như tuyệt vọng;

Tin Chúa, chị giữ được sự sống của con mình và chị được hiểu thế nào là sự quí giá nhưng mong manh của sự sống từ khi còn là bào thai trong dạ mẹ;

Tin Chúa, chị đã hạ sinh được một người con và chị hiểu ra thế nào là tình mẹ đích thật, là ân nghĩa sinh thành khi chính chị vì yêu thương mà hết tình chăm lo cho con;

Tin Chúa, chị được một lòng yêu thương dạt dào, dẫu lòng yêu thương ấy bị khổ đau che mờ khuất, nhưng nó vẫn còn mãi bất chấp khổ đau; nó thêm sức cho chị vượt qua biết bao nghịch cảnh;

Tin Chúa, đời chị không vắng bóng khổ đau, không thiếu những lúc tưởng như bế tắc, nhưng khổ đau ấy không khiến chị gục ngã không thể chỗi dậy, bế tắc ấy không là đường cùng. Chị được thêm hy vọng và sức mạnh để tiếp tục sống và cố gắng sống tốt hơn cho mình và cho con, vì chị tin vào lời Chúa: “ Ơn Ta Đủ Cho Con!”

Vinhsơn Phạm Văn Đoàn, S.J.