Những người cộng sản giàu có sẽ thúc đẩy cải cách?

Những người cộng sản giàu có sẽ thúc đẩy cải cách?

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-07-13

07132015-rich-communis-woul-pushi-politi-reform.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Các nhà lãnh đạo hàng đầu của đảng cộng sản Việt Nam. Từ phải hàng đầu Chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến tham dựdiễu hành kỷ niệm lần thứ 40 ngày 30 tháng 4 201

Các nhà lãnh đạo hàng đầu của đảng cộng sản Việt Nam. Từ phải hàng đầu Chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến tham dựdiễu hành kỷ niệm lần thứ 40 ngày 30 tháng 4 2015.

AFP

Chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của Tổng bí thư đảng cộng sản Việt nam được nhiều người quan sát trong và ngoài nước quan tâm. Sau đây là nhận định của nhà báo Ngô Nhân Dụng, từ Hoa Kỳ về chuyến viếng thăm này cũng như phỏng đoán của ông về tiến trình dân chủ hóa ở Việt nam.

Nhà báo Ngô Nhân Dụng: Việc ông Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ đánh dấu một sự thay đổi quan trọng, trong cái chính sách của đảng cộng sản Việt nam cũng như trong việc giao thiệp giữa Việt nam với Mỹ. Nguyễn Phú Trọng là vị Tổng bí thư đầu tiên sang Mỹ. Chưa bao giờ có một người gọi là đai diện cho đảng sang Mỹ. Với vai trò là Tổng bí thư đảng khi sang Mỹ ông Nguyễn Phú Trọng đã thay mặt cho tất cả đảng cộng sản. Và khi mà ông Nguyễn Phú Trọng nói, làm những cái việc như là ký những thỏa hiệp với Tổng Thống Mỹ, hoặc là khi ông nói rằng Việt nam (… nghe không rõ)… sự có mặt của nước Mỹ ở vùng biển Đông của nước ta để mà bảo vệ trật tự an ninh và quân bình của vùng đó, thì đó không phải là ý kiến của một cá nhân mà là chính sách của một đảng cộng sản.

Gần đây chính phủ Trung quốc hay nhắc đi nhắc lại rằng nước Mỹ không nên dính tới vùng biển Đông, vì nước Mỹ không phải là một nước ở vùng đó. Bây giờ ông Tổng bí thư đảng cộng sản lại nói rằng Việt nam hoan nghênh sự có mặt của Mỹ để giữ gìn trật tự và hòa bình ở biển Đông thì rõ ràng đây là một sự thay đổi quan trọng trong chính sách của đảng cộng sản.

” Theo tôi nghĩ thì những người hiện nay đang tích tụ tài sản họ không muốn tiếp tục một chế độ độc tài như cũ. Bởi vì trong chế độ độc tài bất cứ lúc nào cũng có thể có bất ngờ.

Nhà báo Ngô Nhân Dụng”

Kính Hòa: Như vậy nó có ảnh hưởng như thế nào đến quan hệ Việt nam Trung Quốc hiện nay?

Nhà báo Ngô Nhân Dụng: Chắc Trung quốc thế nào họ cũng phản ứng chống lại. Tờ Hoàn cầu thời báo, một ấn bản của Nhân dân nhật báo đã lên tiếng cảnh cáo rằng cái việc mà Việt nam tìm cách liên kết với Mỹ để chống Trung quốc thì chỉ có hại cho Việt nam mà thôi. Đó là một lời đe dọa. Tất cả những điều mà chúng ta chờ đợi bây giờ là phản ứng của đảng cộng sản Việt nam như thế nào trước lời đe dọa đó. Hoặc là họ sẽ có lời tuyên bố ngược lại một cách mạnh mẽ, hoặc là họ cứ để yên cho mọi chuyện cứ tiến hành. Việt nam sẽ từ từ thay đổi, Trung quốc tấn tới đâu thì sẽ phản kháng lại tới đó.

Đó là chuyện diễn tiến sau này, nhưng chắc chắn mối bang giao Việt nam với Trung quốc, hay là mối quan hệ giữa đảng cộng sản Việt nam và đảng cộng sản Trung quốc từ đây sẽ thay đổi chứ không còn như trước nữa.

Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng bắt tay nhau sau cuộc họp tại Phòng Bầu dục của Nhà Trắng ở Washington, DC, ngày 07 tháng 7 năm 2015

Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng bắt tay nhau sau cuộc họp tại Phòng Bầu dục của Nhà Trắng ở Washington, DC, ngày 07 tháng 7 năm 2015

Kính Hòa: Trong tuyên bố về Tầm nhìn chung Việt nam và Mỹ lại không có một câu nào về vấn đề nhân quyền. Phải hiểu chuyện này như thế nào?

Nhà báo Ngô Nhân Dụng: Ông Obama có nêu ra vấn đề nhân quyền với ông Nguyễn Phú Trọng chứ không phải là không. Tuy nhiên hành động của ông Tổng thống là dựa trên quyền lợi lâu dài của nước Mỹ. Và họ muốn thay đổi tình trạng của thế giới này cho phù hợp với quyền lợi của nước Mỹ, và những giá trị mà nước Mỹ vẫn tuân theo. Và đó là chuyện lâu dài. Họ biết là họ không thể thay đổi tình trạng nước khác với những áp lực thường xuyên được, và không thể nào mà không chơi với người ta mà khiến cho người ta thay đổi được. Họ là cái nước mạnh, cái nước giàu, và họ sẳn sàng chơi với tất cả mọi người, và họ nghĩ rằng khi mà họ giao thiệp với những nước khác thì họ sẽ giúp những nước khác thay đổi, chứ không nên làm những cái áp lực làm mất hòa khí. Theo tôi hiểu thì nước Mỹ nó không hề thay đổi gì cả.

Kính Hòa: Chuyến đi của ông Trọng có làm thay đổi chính trị nội tại của Việt nam hay không? Và có thúc đẩy sự thay đổi của Việt nam sắp tới hay không?

” Một chế độ dân chủ sẽ bảo đảm luật pháp được tôn trọng. Thành ra chính những đảng viên cộng sản, nhất là những người đã làm giàu trong những năm qua, họ cũng mong muốn làm sao thay đổi được chế độ. Họ cũng muốn có một cái luật pháp đàng hoàng nó bảo vệ cái tài sản của họ

Nhà báo Ngô Nhân Dụng”

Nhà báo Ngô Nhân Dụng: Cái chính trị nội bộ của đảng cộng sản Việt nam thì tôi nghĩ là không được quyết định từ những can thiệp từ bên ngoài. Nhưng cái việc mà đảng cộng sản thay đổi chính sách với nước Mỹ và với cả Trung quốc, thì cái đó có ảnh hưởng quan trọng đối với chính trị Việt nam, nhưng mà đây là cái chính trị hiểu theo nghĩa là sự tương quan giữa người cầm quyền và người dân Việt nam.

Tất cả những cái đó sẽ qua ngã kinh tế để tạo nên một áp lực lên giới cầm quyền Việt nam. Họ sẽ thấy rằng nếu họ thay đổi theo cái chiều hướng mở rộng dân chủ tự do cho đất nước thì chính họ và con cháu của họ sẽ được hưởng.

Trong thời gian mà đảng cộng sản đổi mới kinh tế đến giờ, thực chất là họ dựa vào cơ cấu thị trường và lợi dụng điều đó để làm giàu. Họ đã trở nên những đại gia giàu có lắm rồi.

Nhưng mà họ có thể bảo vệ được khối tài sản sau mấy chục năm làm giàu đó, có bảo vệ được hay không? Điều đó tùy theo tương lai của đất nước Việt nam sẽ như thế nào.

Theo tôi nghĩ thì những người hiện nay đang tích tụ tài sản họ không muốn tiếp tục một chế độ độc tài như cũ. Bởi vì trong chế độ độc tài bất cứ lúc nào cũng có thể có bất ngờ. Không ai biết chắc là tài sản của mình được giữ đến bao giờ. Không ai biết là cái người sắp lên cầm quyền sẽ làm gì để tước đoạt tài sản của mình.

Chúng ta xem cái cảnh ông Chu Vĩnh Khang bên Tàu. Ông ấy là một người giàu nứt đố đổ vách, thế mà ông Tập Cận Bình ông ấy tước bỏ gần hết.

Một chế độ dân chủ sẽ bảo đảm luật pháp được tôn trọng. Thành ra chính những đảng viên cộng sản, nhất là những người đã làm giàu trong những năm qua, họ cũng mong muốn làm sao thay đổi được chế độ. Họ cũng muốn có một cái luật pháp đàng hoàng nó bảo vệ cái tài sản của họ.

Kính Hòa: Xin cám ơn ông.

Con tạ ơn Cha vì những ơn Cha ban cho con,

Con tạ ơn Cha vì những ơn Cha ban cho con,
những ơn con thấy được,
và những ơn con không nhận là ơn.
Con biết rằng
con đã nhận được nhiều ơn hơn con tưởng,
biết bao ơn mà con nghĩ là chuyện tự nhiên.

Con thường đau khổ vì những gì
Cha không ban cho con,
và quên rằng đời con được bao bọc bằng ân sủng.

Tạ ơn Cha vì những gì
Cha cương quyết không ban
bởi lẽ điều đó có hại cho con,
hay vì Cha muốn ban cho con một ơn lớn hơn.

Xin cho con vững tin vào tình yêu Cha
dù con không hiểu hết những gì Cha làm cho đời con.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

http://dongten.net/noidung/2674

Cách thức phân biệt người quân tử và kẻ tiểu nhân của người xưa

Cách thức phân biệt người quân tử và kẻ tiểu nhân của người xưa

Điển tích Hàn Tín chịu nhục chui háng (Ảnh: internet)

Điển tích Hàn Tín chịu nhục chui háng (Ảnh: internet)

Ngụy Hi – người được xưng là “Thanh sơ tam đại gia” (một trong ba nhà văn lớn hàng đầu của triều đại nhà Thanh) đã từng nói:

“Ta không hiểu biết như thế nào là người quân tử, nhưng nhìn vào khả năng “chịu nhận phần thiệt” trong mỗi sự việc của người ấy là sẽ biết. Ta không biết được như thế nào là kẻ tiểu nhân, nhưng nhìn vào việc “tranh giành phần lợi” của người ấy là sẽ biết.”

Suy ngẫm kỹ càng, thật đúng nó là quanh co như vậy. Có thể chịu thiệt quả là không phải một việc dễ dàng. Cần phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng lớn mới có thể chịu thiệt thòi một cách cam tâm tình nguyện. Tiêu biểu là phải khoan dung độ lượng, chịu nhẫn nhục, co được giãn được (tức là biết ứng phó thích hợp với tình hình cụ thể) thì chính là một quân tử. Chẳng trách mà người xưa dùng tiêu chuẩn “có hay không có khả năng chịu thiệt” là yếu tố đầu tiên để nhận biết người quân tử và kẻ tiểu nhân.

Ngày xưa, có một vị thượng thư tên Lâm Thoái Trai, ông ta phúc đức rất nhiều, con cháu đầy đàn. Lúc ông ta sắp lâm chung, con cháu quỳ gối trước mặt ông xin thỉnh cầu lời giáo huấn. Lâm Thoái Trai nói: “Ta không có lời nào khác, chỉ khuyên bảo các con học “chịu thiệt” là được rồi”.

Những người già Trung Quốc cũng thường hay nói “chịu thiệt là phúc”, bởi vì họ biết rõ “Phúc, Lộc, Thọ” ở thế gian con người đều là đổi từ đức mà ra, mà chịu thiệt lại có thể tích đức. Xưa nay, rất nhiều anh hùng, cũng đều do có thể chịu nhịn nhục, chịu thiệt mà làm nên đại sự. Nổi danh nhất chính là Hàn Tín có thể chịu nhục chui háng, có thể nói đó là “chịu thiệt” đến cực điểm, bởi vậy sau này Hàn Tín đăng đàn bái tướng, được Lưu Bang phong làm Tam Tề Vương.

Trái lại, nếu như luôn luôn khiến cho người khác phải chịu hại chịu thiệt, như thế thì người này chẳng phải là mất đức rồi sao? Làm nhiều việc xấu còn bị trời trừng phạt, thật sự là cái được không bù nổi cái mất.

Biên dịch: Mai Trà

Rồi thì cũng phải tin

Rồi thì cũng phải tin

Nhiều nông dân nghèo mất ruộng ở Việt Nam đi biểu tình đòi đất vì không được bồi thường thỏa đáng.

Nhiều nông dân nghèo mất ruộng ở Việt Nam đi biểu tình đòi đất vì không được bồi thường thỏa đáng.

Trần Phan

Ngày hôm trước, xem một video clip do các trang báo mạng tung ra. Video clip quay cảnh một phụ nữ, do không chịu giao đất cho chính quyền với cái giá rẻ mạt là 65 ngàn VNĐ/m2 để làm khu công nghiệp, trong khi ngăn cản đơn vị thi công đã bị chiếc xe máy xúc cán qua người. Nạn nhân nằm hẳn dưới bánh xích của chiếc xe.

Dù các trang báo mạng này có uy tín, thường đăng tin đúng sự thật, tôi cũng không thể tin nổi. Cảnh tượng quá dã man, và quá mất nhân tính để có thể tin.

Hi vọng về tính người và tình người còn rớt lại trong nước Việt Nam hiện nay đã bị vỡ vụn khi sáng nay đọc tin trên tờ Tuổi Trẻ số 183/2015 (8008), ngày 11/7/2015, trang 3: “Tranh chấp đất đai, máy xúc chèn 1 người dân”. Rốt cuộc rồi cũng phải tin một chuyện như thế này là sự thật!

Người viết rất mong sự thật được chính quyền minh bạch cho công chúng. Dựa theo tin tức của VOA và của báo Tuổi Trẻ về sự kiện thảm khốc trên, người viết xin thảo luận các điểm sau:

1) Ở các nước vẫn có sự kiện thảm sát dã man. Các sự kiện thảm sát do cá nhân tiến hành, chính quyền đứng về phía nạn nhân bị thảm sát và truy tìm, truy tố hung thủ. Trong sự việc đã xảy ra ở nước Việt Nam, chính quyền đứng về phía đối đầu với người dân bị mất đất. Chính quyền tiến hành cưỡng chế tịch thu đất, cho đơn vị thi công tiến vào vùng đất đang tranh chấp, và “chiếc máy xúc lao đến người dân đang đứng chặn, mọi người tán loạn lùi lại phía sau nhưng bà Châm bị ngã xuống đống cát gần đó nên không kịp tránh và bị bánh xích máy xúc chèn lên người”. Cho dù sự việc do đơn vị thi công tiến hành, chính quyền không thể né tránh là người chịu trách nhiệm chủ chốt, bởi vì hung thủ là người của chính quyền, do chính quyền và vì chính quyền.

2) Không chỉ vô trách nhiệm, tính chất mất nhân tính còn khủng khiếp hơn nhiều. Bài báo viết:

Ông Nguyễn Văn Công, phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dDân huyện, và ông Nguyễn Trọng Hiển, phó Trưởng Công an huyện, khẳng định không có chuyện máy xúc chèn qua người bà Châm. Ông Công còn nói: “Những hình ảnh trong clip của người dân không đúng, có thể do góc họ quay hay làm cách gì để ra như thế”. Dân chúng còn có thể tin cậy gì ở những người vô cảm tới vậy!

Ai cũng có thể phạm sai lầm. Cách mà một người xử lí hậu quả sẽ cho biết người đó thực tâm muốn sửa đổi sai lầm hay vẫn tiếp tục sai lầm đó trong tương lai. Phản ứng của chính quyền huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương tới lúc này cho thấy họ vẫn sẽ tiếp tục đối đầu với người dân tội nghiệp bị tước đoạt tài sản và cả mạng sống.

3) Huống chi, việc tranh chấp đất đai giữa chính quyền và người dân, có nguồn gốc từ việc “đất đai sở hữu toàn dân và do nhà nước quản lí”, đã xảy ra quá nhiều lần, trên rất nhiều địa phương từ Bắc vào Nam, và đã có quá nhiều hậu quả thương tâm mà người viết thấy không cần nhắc lại. Chỉ muốn hỏi Chính quyền của dân, do dân và vì dân này còn muốn thử nghiệm sức chịu đựng của dân tới bao giờ?

4) Một kinh nghiệm nhân loại mà nhiều người biết: giềng mối và đạo đức đất nước được giữ từ trên cao xuống (from the top), từ chính quyền trung ương ra. Giá trị sống Nhân (có tình người) và Hậu (để đức về sau) là tài sản vô hình và vô giá do đời trước để lại đời sau. Giá trị sống Nhân Hậu không chỉ được riêng dân tộc, mà cả nhân loại xem là giá trị sống cao quí nhất. Với cách cai trị như thế này, giá trị sống Nhân Hậu sẽ tồn tại trong xã hội Việt Nam được bao lâu nữa?

HỒI TƯỞNG LẠI THỜI GIAN HƠN 20 NĂM LIÊN TỤC PHỤC VỤ TÙ NHÂN TRONG CÁC TRẠI TÙ LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG TẠI OKLAHOMA

HỒI TƯỞNG LẠI THỜI GIAN HƠN 20 NĂM LIÊN TỤC PHỤC VỤ TÙ NHÂN

TRONG CÁC TRẠI TÙ LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG TẠI OKLAHOMA (In       Remembrance of Over 20 Years Serving Prisoners in Federal & State Penitentiaries of Oklahoma

PT. Nguyễn Mạnh San

Thời gian thấm thoát trôi mau như một cơn gió thoảng, vì mới ngày nào đây tôi lãnh nhận nhiệm vụ là một Tuyên Úy Trại Tù (Prison Chaplain), do Đức Tổng Giám Mục Công Giáo Oklahoma City Eusebius J. Beltran chỉ định tôi và kể từ ngày đó đến nay, tôi đã được phục vụ Anh Chị Em tù nhân, không phân biệt sắc tộc, tôn giáo, màu da, liên tục hơn 20 năm qua và trong công tác Mục Vụ Tông Đồ Trại Tù này đã được thi hành một cách tốt đẹp, là nhờ một phần tình nguyện, góp công góp sức, tận tình chung vai sát cánh với tôi trong nhiều năm qua của ông Nguyễn Văn Cường, cựu Phó Tỉnh Trưởng Hành Chánh Tỉnh Lâm Đồng, thời chính thể Việt Nam Cộng Hòa, trong nhiêm vụ là Thừa Tác Viên Trại Tù (Prison Minister), cũng do Đức Tổng Giám Mục Công Giáo Beltran chỉ định ông. Rất may mắn nhờ vào thời gian dài liên tục phục vụ tù nhân, mà bản thân tôi đã học hỏi được nhiều bài học kinh nghiệm sống quí giá trên đời, giúp tôi hiểu thấu thế nào mới thực sự là con người có lòng bác ái nhân từ? Thế nào mới thực sự là kẻ gian ác, nguy hiểm cho xã hội? Thế nào mới thực sự là tình ngay lý gian? Tất cả những câu hỏi vấn nạn này, qua sự tâm tình riêng tư của các tội nhân với tôi, cho tôi nhận biết có nhiều điều bí ẩn, éo le, gay cấn, mà cá nhân tôi chưa từng thấy có sách vở nào ghi chép lại những điều này, cho dù sau mấy chục năm tôi ngồi ghế nhà trường từ Việt Nam sang tới Hoa Kỳ.

blank

Phải nói có 2 điều quí trọng và quí giá nhất trong đời tôi, mà tôi đã học hỏi được và rút kinh nghiệm từ Anh Chi Em tù nhân, qua những năm tháng liên tục tôi vào trại tù thăm nom họ, đã tạo cho tôi được 2 đức tính: Kiên Nhẫn và  Im Lặng. Tôi học được tính kiên nhẫn là vì mỗi lần tôi vào thăm tù nhân, nhiều khi tôi phải ngồi chờ đợi hàng nửa giờ, cho tới khi nào cai tù (Rover) đem tù nhân từ xà lim (Cell) đến cho tôi gặp và sau khi tôi hỏi thăm sức khỏe, an ủi tinh thần, rao giảng Lời Chúa và đọc kinh cầu nguyện cho họ xong, thì nhiều khi tôi lại phải chờ đợi thêm hàng nửa giờ nữa, cho tới khi nào người cai tù quay trở lại, để đem họ trở về xà lim. Nhờ vào sự chờ đợi qua nhiều năm tháng vừa kể, nên đã giúp cho bản thân tôi đức tính kiên nhẫn ngoài sức tưởng tượng của tôi. Hơn thế nữa, nhiều khi tôi phải ngồi im lặng từ 10 cho đến 15 phút, để lắng tai nghe nữ tù nhân tâm sự, kể lể cho tôi nghe những nguyên do nào mà họ bị bắt giam, nhất là nhiều khi tôi phải ngồi im lặng rất lâu, đối diện với những nữ tù nhân, mà đương sự chỉ biết thút thít khóc, nghẹn ngào không nói được lời nào, vì đây là lần đầu tiên trong đời bị bắt giam, làm đương sự quá xúc động, nên tôi phải đợi chờ cho đương sự nín khóc, tôi mới có thể bắt đầu khuyên giải đương sư; chắc mọi người cũng thừa biết, là ai cũng thích nói cho người khác nghe, chứ chẳng có ai lại thích ngồi yên lặng để phải nghe người khác nói tràng giang đại hải hay phải ngồi im lặng để nghe tiếng khóc nức nở của người ngồi đối diện với mình, cho dù mọi người vẫn biết rằng: Nói ít nghe nhiều là một điều tốt nhất trong mọi hoàn cảnh, mọi trường hợp. Do vậy, nhờ những trường hơp thường xuyên phải ngồi im lặng như tôi vừa kể trên đây, nên đã tạo cho tôi thành một thói quen, là nói ít nghe nhiều. Hơn thế nữa, tôi còn học được bài học về lòng trung thành, sống chết có nhau của những Anh Chị Em Tù Nhân, trong giới giang hồ tứ chiến, chẳng hạn bây giờ cả hai người đã bị ngồi tù rồi, hay một người ở trong tù, còn người kia còn tại đào, nhưng họ vẫn tìm mọi cách để có thể liên lạc được với nhau, giúp đỡ người bạn trong tù bằng nhiều phương cách kín đáo. Có một điều đặc biệt nhất cho tôi, là được nghe những lời tâm sự nhiệt thành của nhiều Anh Chi Em Tù Nhân, mà họ không sợ nói ra những sự thật vê các hành động tội phạm của họ cho tôi nghe, có thể sẽ bị tiết lộ cho chính quyền biết, để làm bằng chứng buộc tội họ, vì họ hiểu rõ rằng, theo luật lệ hiện hành, những vị tuyên úy trại tù, như Linh Mục, Mục Sư, Phó Tế, chính quyền không được quyền mời những vị này ra trước tòa làm nhân chứng (Witness), để phải khai ra những điều gì mà tù nhân đã tâm sự cho họ nghe ( by US current law, a Prison Chaplain cannot be a witness to testify against a prisoner before the Court). Đối với những phạm nhân hình sự (Criminals), như phạm các tội: Cướp của giết người, tổ chức quy mô đi ăn cướp nhà băng, hiếp dâm, biển thủ, buôn bán sì ke ma túy, trồng cần sa tại tư gia, in bạc giả, giết vợ hay giết chồng với kế hoạch tinh vi vì hận thù hay ghen tuông, sáng chế tại tư gia những viên thuốc kích thích tình dục (Estercy) v.v.., mà người ta thường nói: Đi đêm có ngày gặp ma, hoặc không qua được lưới trời, nên những tội nhân này mới bị bắt vào tù. Thật sự, nếu ai đã từng có thời gian lâu dài gần gũi tù nhân, đều nhận thấy trong số những loại tội phạm vừa kể, có khá nhiều tội nhân có trình độ bằng cấp văn hóa cao, như đã từng là Thẩm Phán, Luật Sư, Bác Sĩ, Kỹ Sư v.v.., có một trí óc thông minh tinh xảo, bằng những mưu kế sắc bén, tính toán kỹ lưỡng trước khi họ hành động, chứ không giống như những tội nhân phạm tội ăn cắp vặt (Shop lifter) trong các cửa tiệm buôn bán quần áo hay trong các siêu thị bán đồ ăn, lái xe say rượu ngoài đường phố (DUI), mua dâm trong các ổ mãi dâm (Prostitute) , tổ chức cờ bạc bất hợp pháp (Illegal gambling) tại tư gia, hối mại (Bribery) nhân viên công lực  v.v..  Do đó, tôi đã thu thập được rất nhiều những câu chuyện tội phạm có thật xẩy ra, về những tệ đoan trong xã hội, giúp tôi am tường nhiều về những mặt trái cuộc đời của Anh Chị Em Tù Nhân, thuộc đủ mọi loại tội phạm; đặc biệt về những Anh Chị Em Tù Nhân trẻ tuổi gia nhập các băng đảng, nên tôi rất thông cảm họ vì nhận thấy đa số tội nhân thuộc thành phần này, trước kia họ là những trẻ mồ côi, không Cha không Mẹ, không có ai dậy dỗ họ hoặc là nạn nhân của những gia đình đổ vỡ, bị Cha hay Mẹ ghẻ đánh đập tàn nhẫn khi còn bé, lớn lên họ trở thành những kẻ mất niềm tin vào những người sống chung quanh họ, nên họ chỉ muốn trả thù đời bằng những hành động côn đồ, gian ác, vô lương tâm, hoặc khi còn trẻ tuổi, họ bị ảnh hưởng bởi chơi với những bạn bè xấu, tụ họp thành những băng đảng, sống ngoài vòng pháp luật, chỉ chuyên môn đi ăn cướp giết người lấy của. Do đó, tất cả những kinh nghiệm trong nhiệm vụ là một tuyên úy trại tù tình nguyện, phục vụ tù nhân liên tục vào những ngày nghỉ cuối tuần, trong suốt thời gian dài hơn 20 năm qua, đã cho tôi những bài học kinh nghiệm cụ thể, quí giá, để nhận biết rõ thế nào là một cuộc sồng tốt lành, hữu ích cho gia đình và cho xã hội. Nhờ vào những kinh nghiệm quí giá này, đã giúp cho tôi vượt qua được những sự khó khăn, trở ngại trong suốt hơn 32 năm tôi phục vụ trong Ngành Tư Pháp Hoa Kỳ, tại Tòa Án Liên Bang Hoa Kỳ của tiểu bang Oklahoma, đặc trách Luật Sư Đoàn Liên Bang và Nhập Tịch, cho đến ngày tôi về hưu vào lúc tuổi đời đã xế chiều, mang nhiều kỷ niệm đẹp trong tâm tư, nhưng giờ đây chỉ còn là những dư âm muôn vàn nỗi tiếc nhớ.

Tôi tin chắc rằng, trong những ngày còn lại của cuộc đời tôi trên trần thế này, tôi sẽ không bao giờ có thể quên được một vài vụ án tử hình (Death Rows) của người Mỹ, mang nhiều tình tiết éo le, ngang trái, mà trong đó có một vụ tử hình người Việt Nam duy nhất tại Oklahoma City và một vụ các tù nhân VN nổi loạn (Uprising) trong trại tù, mà trong những vụ này, tôi là người được may mắn, trực tiếp tư vấn về tinh thần (Spiritual counseling), chỉ dẫn các thủ tục pháp lý (Legal Procedures) cho các tù nhân. Sau đây tôi xin tuần tự tường thuật lại những chi tiết đặc biệt, đáng ghi nhớ nhất trong suốt hơn 20 năm qua tôi phuc vụ tù nhân, xin được chia sẻ cùng đọc giả về những gì tôi nghe tận tai, thấy tận mắt về Anh Chị Em Tù Nhân. Lẽ dĩ nhiên, tôi chỉ hoàn toàn đóng vai trò đưa tin (Massenger) đến cho quý đọc giả biết những dữ kiện đã xẩy ra trong mỗi vụ án, đã được liệt kê tội trạng rõ ràng trong hồ sơ truy tố bị cáo (Defendant) ra trước tòa xét xử, do Công Tố Viên (District Attorney) đệ nạp tại Phòng Tố Tụng (Court Clerk Office) và thuật lại những lời tâm sự của tù nhân và những lời tư vấn của tôi đối với các tội nhân trong cuộc, chứ hoàn toàn tôi không hề có ý định phân tích pháp lý của mỗi vụ án (Legal analises for each case), bênh vực cho bị cáo (Defense for the defendant) hay phê phán vụ án (Criticism on the case) đúng hay sai. Trước khi thuật lại những vụ án tử hình, mang nhiều tình tiết éo le ngang trái, tôi xin lược thuật lại vắn tắt một vụ án đánh cướp ngân hàng, mà bị cáo là một người được coi là thông minh, nhanh trí (Smart & quick-minded) với đầy ý chí cương quyết là sau khi mãn hạn tù, anh sẽ ghi tên đi học luật, để trở thành một luật sư với ý nguyện để giúp đỡ tù nhân nào nghèo, không có tiền thuê mướn luật sư tư, phải nhờ cậy đến luật sư công như sau:

Anh này vừa học xong bậc trung học, anh bị bạn bè lôi kéo ra nhập một băng đảng, chuyên đi ăn cướp nhà băng. Vì anh là người có ăn học, thông minh lại nhanh trí, anh dược anh em trong băng đảng tín nhiệm, bầu anh lên làm lãnh tụ và 2 lần anh điều nghiên kế hoạch đánh cướp nhà băng đều thành công, nhưng tới lần thứ 3 bị thất bại và bị bắt giam, lãnh án 10 năm tù ở, cộng thêm 5 năm án treo. Khi tôi gặp anh ở trong tù, thì chỉ còn hơn 1 năm nữa là anh mãn hạn tù. Trong thời gian nằm tù, anh cảm thấy bất mãn về lối làm việc chậm chạp, thiếu thiện chí của một số luật sư công (Public Defendant) bào chữa cho tù nhân nghèo, không có tiền thuê mướn luật sư tư (Private Attorney), anh liền nẩy ra ý định, là sau khi mãn hạn tù, anh nhất quyết theo học luật để trở thành một luật sư, cãi thí cho tù nhân nghèo. Tôi có hỏi anh lấy tiền đâu ra để học luật, thì anh cho biết là 2 lần anh đánh cướp nhà băng thành công, nên anh đã bỏ số tiền gần 4 trăm ngàn đồng cướp được của nhà băng vào trong một cái chum (Jar), đem chôn dấu cái chum đó xuống sâu dưới lòng đất, đằng sau vườn nhà anh, khi mãn tù anh sẽ đào nó lên. Khoảng 8 năm sau, tình cờ tôi gặp lại anh tại một tiêm ăn, anh cho tôi biết là anh đã lấy được bằng tiến sĩ luật khoa, nhưng anh không hội đủ điều kiện hạnh kiểm, để thi lấy bằng hành nghề luật sư (Bar Examination), vì anh là cựu tù nhân hình sự đang còn nằm trong tình trạng án treo và anh cho biết, anh đang làm việc cho một hãng luật sư tư (Law firm), vì không có bằng hành nghề luật sư nên anh chỉ chuyên ngồi nghiên cứu (Research) các vụ án đã xử, để viết những bài lý đoán (Pleadings) đưa cho luật sư ra tòa bào chữa cho thân chủ. Tôi cũng có hỏi anh ta là làm sao lấy được tiền trong chum đó ra, như anh đã nói với tôi khi anh còn bị giam giữ trong trại tù, vì nhà của anh đã bị tich thu và chính quyền đã cho đem đấu giá căn nhà của anh trước khi anh mãn hạn tù. Anh cho biết anh nhờ người bạn thân của anh đứng tên, mua lại căn nhà này cho anh và anh đã đào cái chum đó lên, trích ra một số tiền để trả nợ số tiền mà bạn anh đã ứng trước mua căn nhà này lại cho anh. Nhờ vậy, anh không cần phải mượn tiền nhà trường, để đi học lấy bằng luật, như ước vọng của anh khi còn ở trong tù và tiếp theo sau đây là Vụ án tử hình người Mỹ thứ nhất:

Người tử tội tên John, có vợ 1 con. Ông là một tín đồ Công Giáo rất ngoan đạo. Ông làm việc cho một hãng thương mại tư, chuyên sản xuất những thuốc diệt trùng sâu bọ và vì ông là một chuyên viên giới thiệu các sản phẩm hóa học của hãng mới chế tạo, nên thường xuyên ông phải đi xa ngoài tiểu bang, vắng nhà mỗi lần ít nhất từ 1đến 2 tuần lễ, để giải thích về sự công dụng tối đa của từng sản phẩm mới được chế tạo này, cho các đại lý của hãng ở những tiểu bang khác biết. Cứ mỗi lần vắng nhà như thế, vợ ông ở nhà với đứa con trai 5 tuổi, lại dẫn trai về nhà ngủ với bà và để giấu kín hành động ngoại tình này của bà, bà cho tiền đứa con đi mua kẹo bánh ăn và dặn nó đừng nói cho bố biết chuyện này khi bố nó trở về nhà. Đúng là đi đêm cho lắm thì cũng có ngày gặp ma. Một hôm ông nhận được lệnh phải trở về hãng gấp vì cần phải có mặt ông ở hãng, ông liền đáp máy bay trở về trình diện hãng trước tiên và giải quyết xong mọi việc, ông lái xe từ hãng trở về nhà, nhưng lại quên không gọi điện thoại báo tin cho vợ biết trước là ông đang trên đường về nhà, khi ông mở cửa bước vào nhà, nhìn vào trong phòng ngủ, thì thấy một tên trai trẻ đang nằm ôm vợ ông trên giường. Ông cố gắng lấy lại sự bình tĩnh, đi ra ngồi phòng khách, chờ đợi vợ ông ra gặp ông để hạch hỏi tội, trong khi đó tên trai trẻ kia, vội vàng mặc quần áo, lặng lẽ chuồn đi cửa sau mất dạng. Vì bị bắt quả tang với hành động ngoại tình, nên người vợ liền quỳ gối xuống trước mặt ông, khóc lóc thảm thiết, xin ông tha thứ và hứa sẽ không bao giờ dám tái phạm hành động này lần thứ hai nữa, ông đồng ý tha thứ cho vợ lần đầu. Thế nhưng khổ một nỗi là vợ ông đã ăn quen nhiều nhưng nhịn không quen và mới chưa đầy một tháng sau, ông trở về nhà bất thình lình, lại bắt gặp quả tang cảnh tượng vợ mình y hệt như lần trước, nhưng với thằng trai trẻ khác, cũng diễn ra trong phòng ngủ của hai vợ chồng ông. Ông cho tôi biết, đáng lý lần này ông định rút súng, tặng một phát đạn ân huệ cho đôi gian dâm phụ này về chầu diêm vương, nhưng bất chợt ông bình tâm suy nghĩ lại, vì thương đứa con trai còn nhỏ dại, không muốn cho nó bị mồ côi Cha Mẹ, phải đi ở với Cha Mẹ nuôi, vì ông suy đoán trước, là sau khi giết vợ và tình địch rồi, thì chắc chắn ông sẽ bị lãnh án tối đa tử hình hoặc chung thân khổ sai trong nhà tù, nên ông đành phải quyết định ly dị vợ và mặc dầu vợ ông phạm tội ngoại tình, nhưng tòa án vẫn phán quyết cho vợ ông được nuôi con, còn ông được quyền đón con về nhà ông vào những ngày cuối tuần.

Sau hơn 10 năm sống cảnh độc thân tại chỗ và lúc này con trai ông đã 16 tuổi, bất chợt ông nhớ lại một câu nói trong Kinh Thánh: Đàn ông sống một mình không tốt, nên trong một chuyến đi công tác xa tại tiểu bang California, ông gặp một cô gái gốc Mỹ lai Mễ, cô này mới 18 tuồi, xinh đẹp như nàng tiên giáng trần, có thân hình gợi cảm như nữ thần tình ái Venus, vì mê sắc đẹp tự nhiên, không trang điểm phấn son của cô, ông liền ngỏ lời muốn cưới cô làm vợ. Cô cho ông biết là cô đã có một người bạn trai rất thân, hơn cô 2 tuổi, cũng tỏ tình yêu cô và anh ta muốn cô chờ anh 2 năm nữa khi anh ra trường, anh sẽ cưới cô làm vợ, nhưng cô vẫn chưa nhận lời đề nghị này. Nay mới gặp ông lần đầu tiên, cô đã cảm thấy yêu mến ông, mặc dầu ông lớn hơn cô tới 2 con giáp, nhưng ông là người hào hoa phong nhã, giầu có, nên cô bằng lòng lấy ông làm chồng, nhưng với điều kiện cho phép cô thỉnh thoảng được giao tiếp với người bạn trai này của cô trước mặt ông, chỉ trong tình bạn hữu mà thôi. Ông bằng lòng ngay với điều kiện này của cô đưa ra và ông còn nói thêm, là người bạn trai này gặp cô trước mặt ông hay vắng mặt ông ở nhà, cô cứ việc thù tiếp anh ta, ông sẽ không ghen tuông gì cả, nhưng ông nhấn mạnh ngoài người bạn trai này ra, cô không được phép giao tiếp với bất cứ người đàn ông già trẻ lớn bé nào khác. Ông tâm sự cho tôi biết, thực ra ông lấy cô này hoàn toàn chỉ vì sắc đẹp quyến rũ mê hồn của cô như một pho tượng sống động, tuyệt tác lõa thể, biết thốt ra những lời yêu đương chìu mến bên tai ông, sau những giờ ông đi làm về nhà mệt mỏi; chứ thực sự không phải ông lấy cô ta vì ham muốn tình dục, vì sau ngày ông ly dị người vợ đầu tiên, không hiểu tại sao ông bị mắc chứng bệnh liệt dương (Impotent), kéo dài cho tới nay đã hơn 10 năm rồi. Vậy giả thử sau khi lấy cô về làm vợ, nếu cô ta có ăn nằm với người bạn trai trẻ này, thì ông cũng cảm thông cho hoàn cảnh sinh lý đòi hỏi của lứa tuổi dậy thì và sẵn sàng tha thứ cho cô, trong khi thể xác ông ở trong tình trạng bất lực, không thể nào đáp ứng nhu cầu tình dục đòi hỏi của cô được, nhưng miễn sao cô không được phép ngủ chung chạ với bất cứ những tên già trẻ nào khác, ngoại trừ người bạn trai của cô mà ông đã cho phép, ông mong rằng đừng giống như trường hợp người vợ đầu tiên của ông, đã lỗi phạm nhiều lần ăn nằm với nhiều tên trai trẻ, nên ông đành phải ly dị và nếu cô cũng lỗi phạm như vậy, thì ông không thể nào cứ tiếp tục tha thứ cho cô được.

Thế rồi chỉ một tháng sau, ông tổ chức đám cưới với cô thật linh đình, ở một nhà hàng sang trọng, nhưng không được tổ chức Nghi Lễ Hôn Phối lần thứ hai trong Thánh Đường, vì nghi thức hôn phối với người vợ trước của ông chưa được Tóa Án Hôn Phối Công Giáo ban bố án lệnh triệt tiêu. Ông tặng  cho cô dâu một chiếc nhẫn cưới hột xoàn và một chiếc xe hơi convertible sport đắt giá mới toanh. Nhưng cuộc tình duyên lần thứ hai này của ông kéo dài mới được gần một năm, thì 2 lần ông đi công tác xa về nhà bất thình lình, đều bắt quả tang vợ ông ngủ với trai và mỗi lần như thế với tên trai trẻ khác nhau, chứ không phải là cậu trai trẻ bạn của vợ ông trước khi cô lấy ông, mà ông đã cho phép được quyền đến thăm vợ ông, như mới kể ở trên đây. Lần đầu tiên ông bắt gặp vợ ngủ với tên thứ nhất, ông đã định tặng cho nó một phát đạn, nhưng đến khi bắt gặp vợ ngủ với tên thứ hai, thì khiến ông suy nghĩ lại, là làm sao có thể bắn chết một lúc cả hai tên được, vì bắn tên thứ nhất chết, chưa kịp bắn tên thứ hai, thì có thể ông đã bị bắt giam vào tù rồi, nên ông quyết định là phải giết vợ mình, để trừ tận gốc tội ngoại tình của vợ, ai bảo nàng ham mê tình dục với những chàng trai trẻ. Ông đặt kế hoạch giết vợ bằng cách cho tiền người bạn trai của vợ ông đến giết nàng, trong khoảng thời gian ông đi công tác xa nhà 2 tuần. Ông nghĩ làm như thế, chính quyền không biết ông là kẻ chủ mưu giết vợ và lại dễ dàng cho anh chàng bạn nàng, đến nhà tỏ tình thân mật như mọi khi với vợ ông, mà nàng sẽ không hề có ý nghi ngờ anh này âm mưu đến giết nàng. Sau phút ái ân với vợ ông, thừa lúc cô ngủ thiếp đi, anh dùng túi nylon chụp kín từ đầu đến cổ nàng, rồi kéo 2 đầu sợi giây, đã gắn sẵn vào túi nylon, xiết thật chặt, làm nàng nghẹt thở, từ từ rẫy chết trong im lặng, không ai nghe thấy tiếng nàng la lên kêu cứu. Chỉ vài ngày sau, nhà chức trách tìm ra manh mối, cà hai người đều bị bắt giam và qua lời thú tội của chàng trai này, kẻ chủ mưu giết vợ là người chồng, nên ông bị lãnh án tử hình.

Gần 10 năm trời, ông ở trong tù chờ kết quả kháng cáo lên các tòa án liên bang cấp cao hơn, để hy vọng được giảm án xuống còn chung thân, nhưng cuối cùng các đơn kháng cáo của ông đều bị tòa án tối cao Hoa Kỳ bác bỏ và gần đến ngày ông bị hành quyết bằng cách cho chich thuốc độc (Injection), thì ông bị đau nặng và chết một cách nhanh chóng, có lẽ nhờ sự ăn năn sám hối thật lòng của ông suốt gần 10 năm trong trại tù và suốt hơn 2 năm ông bi giam cầm trong trại tạm giam (Jail) là nơi tôi phục vụ, cứ mỗi lần tôi đến an ủi ông, đọc Phúc Âm cho ông nghe, cho ông rước Mình Thánh Chúa, thì ông đều tập họp được ít nhất từ 5 đến 10 anh em tù nhân khác, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc đến nghe tôi thuyết giảng Lời Chúa, trong số này có một anh thanh niên người Ấn Độ theo đạo Phật, xin tôi lập thủ tục cho anh được rửa tội theo đạo Công Giáo, rất tiếc chưa kịp hoàn tất thủ tục rửa tội cho anh, thì anh bị thuyên chuyển đến trại tù liên bang ở tiểu bang Pennsylvania.

Khoảng vài tháng trước khi ông lìa trần vì bệnh, tôi được gặp lại ông một lần chót. Trong dịp này tôi có tỏ bầy lòng biết ơn sâu xa của tôi đối với ông, vì trong suốt thời gian hơn 2 năm ông bị giam cầm trong trại tạm giam Oklahoma County jail, mỗi cuối tuần tôi vào thăm tù nhân tại đây, chính ông là người đã quy tụ được một số anh em tù nhân khác đến nghe tôi rao giảng Lời Chúa, nhờ thế những anh em này đã tỏ lòng ăn năn sám hối tội lỗi của mình, để cùng nhau đọc kinh cầu nguyện xin Chúa tha tội cho họ. Nhân dịp này, ông cũng tâm sự cho tôi biết, giá ông cứ coi vợ ông như một bông hoa hồng xinh tươi, tỏa ra mùi hương ngào ngạt, mọc trong vườn hoa công cộng, để bất cứ ai muốn đến ngắm nhìn bông hoa và muốn thưởng thức mùi hương thơm của bông hoa thì đến, như ông đã cho phép chàng trai trẻ bạn của vợ ông được độc quyền đến thưởng thức mùi hoa thơm của nàng, thì ngày nay đâu đến nỗi ông phải lãnh bản án tử hình. Có một điều đau đớn hơn nữa cho ông, là trong khi ông ở tù được 5 năm, thì người con trai yêu quí duy nhất của ông 21 tuổi và là con trai của người vợ đầu tiên mà ông đã ly dị, cũng bị ở tù cùng trại tạm giam với ông, về tội bán cần sa ma túy, mà tôi đã viết lại câu chuyện tình cảm rất ly kỳ của cậu con trai ông, yêu một nữ tù nhân là một thiếu phụ đã có 2 con, hơn cậu 9 tuổi, ở cùng trong trại tạm giam với cậu, nhưng chưa bao giờ hai người thấy mặt nhau, mà chỉ nói chuyện hàng đêm với nhau qua ống thoát nước cầu tiêu, từ lầu 5 xuống lầu 4 và từ lầu 4 lên lầu 5. Câu chuyện này có tựa đề là: Tình Đầu Cũng Là Tình Cuối, trang 311, trong cuốn Tuyển Tập Pháp Luật Hoa Kỳ Thực Dụng (Sách tặng không bán) và trên trang mạng điện tử cũng như trên một số báo chí cách đây hơn 2 năm. Rồi sau 3 năm ông qua đời, cậu con trai ông, không biết vì lý do bí ẩn gì, cậu đã treo cổ tự vận trong trại giam, trong khi người yêu của cậu vẫn còn trong tù. Có một điều đặc biệt tôi cần nói ra đây, là cậu con trai này đẹp trai như nam tài tử James Dean và người yêu của cậu cũng có giáng điệu đẹp hồn nhiên như nữ tài tử Julie Andrews, Tuy hai người chưa bao giờ thấy mặt nhau, nhưng nhờ sự thăm viếng nhiều lần của tôi với cặp tình nhân không chân dung này, họ đã yêu cầu tôi miêu tả hình dáng của mỗi bên cho họ nghe và họ đã hứa hẹn với nhau qua ống tháot nước cầu tiêu là, sau khi mãnh hạn tù, họ sẽ làm đán cưới với nhau. Thôi cũng là điều phúc đức cho ông John, đã được Chúa gọi ông về sớm với Ngài trước khi bị hành quyết, chứ nếu ông còn sống tới khi ông nghe được tin con mình treo cổ tự vận, thì có lẽ ông sẽ bị đứng tim (heart attack), chết theo con mình, vì khi ông còn sống, ông vẫn thường nói với tôi và với các bạn tù nhân của ông trong trại tạm giam Oklahoma County Jail, là cậu con trai duy nhất này của ông, ông coi nó là một bảo vật quí giá nhất trên đời ông.

Đảng Cộng Sản từ khước vai trò lãnh đạo đất nước

Đảng Cộng Sản từ khước vai trò lãnh đạo đất nước

Nguoi-viet.com

Nguyễn Hưng Quốc
(Blog VOA)

Về phương diện chính trị, ở Việt Nam hiện nay có một nghịch lý: Một mặt, Đảng Cộng Sản tự khẳng định một cách công khai, chính thức và dõng dạc trong Hiến Pháp là đảng duy nhất lãnh đạo đất nước; mặt khác, trên thực tế, chưa bao giờ Việt Nam lại thiếu sự lãnh đạo như là bây giờ.

Lãnh đạo chứ không phải là cai trị. Đó là hai điều hoàn toàn khác nhau. Cai trị chỉ cần dùng sức mạnh để dập tắt mọi sự phản kháng của những người bị trị để giữ nguyên tình trạng hiện có trong đó người cai trị vẫn là những người cai trị và những người bị trị vẫn tiếp tục bị trị. Nói cách khác, cai trị là nỗ lực kéo dài một quá khứ. Lãnh đạo thì khác: Lãnh đạo hướng tới tương lai. Lãnh đạo là dẫn dắt một tập thể hướng tới một chân trời mới trong tương lai. Cai trị cần sự vâng phục trong khi lãnh đạo cần sự đồng thuận. Cai trị được xây dựng trên bạo lực và áp chế trong khi lãnh đạo được xây dựng trên sự khai sáng và tin tưởng. Cai trị cần ngục tù và súng đạn trong khi lãnh đạo cần ánh sáng và trí tuệ.

Trong quá khứ, Đảng Cộng Sản, với một mức độ nào đó, từng đóng vai trò lãnh đạo. Những người lãnh đạo biết rõ họ tin gì và muốn gì. Dân chúng cũng biết rõ các nhà lãnh đạo tin gì và muốn gì: Họ tin vào chủ nghĩa xã hội và muốn đất nước, hoặc thoát khỏi ách Pháp thuộc hoặc được thống nhất. Những điều họ tin và họ muốn chưa chắc đã chính đáng, có khi, ngược lại, chỉ dẫn đến chiến tranh tang tóc và họa độc tài hà khắc. Nhưng có hai điều quan trọng nhất là: một, dân chúng biết rõ giới lãnh đạo tin gì và muốn gì, và hai, một số bộ phận không nhỏ trong dân chúng chia sẻ những điều họ tin và muốn ấy.

Còn bây giờ?

Trong các kỳ đại hội đảng, người ta cũng có những bản báo cáo về những thành tựu trong quá khứ cũng như những kế hoạch năm năm, nhưng tất cả đều được viết theo những công thức chung chung, mơ hồ và rối rắm. Người ta vẫn nói đến chủ nghĩa xã hội và tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng tất cả đều không có một nội dung cụ thể nào cả. Không ai có thể hiểu chủ nghĩa xã hội sau khi bị phá sản ở Liên Xô và các nước Đông Âu ấy có diện mạo ra sao. Còn cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh đến nay vẫn chưa có một đường nét rõ rệt. Ngay cái gọi là kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà người ta thường lặp đi lặp lại trong các nghị quyết cũng như trong ngôn ngữ tuyên truyền cũng không ai biết là gì. Từ các văn bản chính thức ở các đại hội đảng ấy, dân chúng hoàn toàn không thể hình dung con đường mà Đảng Cộng Sản muốn dẫn dắt mọi người đi sẽ đến đâu. Không. Hoàn toàn không thể biết. Ngay chính Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng cũng không biết khi thừa nhận có khi đến tận cuối thế kỷ 21 người ta mới có thể đạt đến chủ nghĩa xã hội. Lâu. Lâu quá. Trong hiện tại thì tất cả đều mù mịt. Trước sự mù mịt ấy, mọi danh xưng lãnh đạo đều mất hết ý nghĩa.

Mà chưa bao giờ dân tộc Việt Nam cần sự lãnh đạo như là bây giờ.

Ở đâu cũng thấy bế tắc.

Về giáo dục, ai cũng than là chưa bao giờ xuống cấp như bây giờ: học trò đạo văn, các thầy cô giáo cũng đạo văn. Không đạo văn thì cũng nhai lại những kiến thức cũ mèm. Quan hệ giữa thầy trò cũng càng lúc càng tệ hại: thầy cô thì coi học sinh như những khách hàng mình vơ vét được bao nhiêu trong các lớp dạy kèm được thì vơ vét còn học sinh thì cũng chả coi trọng gì các thầy cô giáo; có học sinh còn đánh gục các thầy cô giáo ngay trong lớp học. Nhà nước có chính sách gì để ngăn chặn tình trạng xuống cấp ấy không? Không.

Về đạo đức thì càng lúc càng suy đồi, quan hệ giữa người và người càng lúc càng lạnh lẽo, tâm lý vô cảm trước những nỗi đau của người khác càng lúc càng phổ biến. Cái gọi là tình hàng xóm hay tình người vốn là nét son mà người Việt Nam trước đây thường tự hào đến giờ biến mất. Nhà nước có chính sách gì để diệt trừ nạn vô cảm ấy và khôi phục lại truyền thống tốt đẹp ngày trước không? Không.

Về kinh tế thì nợ công càng ngày càng chồng chất kéo theo những di hại có khi đến cả mấy thế hệ, mức phát triển càng lúc càng chậm chạp, về nhiều phương diện, có khi còn thua cả Campuchia và Lào. Về xã hội, nạn tham nhũng tràn lan, lớn ăn lớn, nhỏ ăn nhỏ, làm gì cũng cần tiền đút lót; người ta mua bán chức quyền cho nhau, bất kể tài năng và tư cách. Nhà nước có chính sách gì để giải quyết các khó khăn và đẩy mạnh sự phát triển kinh tế cũng như giảm trừ nạn tham nhũng không? Không.

Về nhân quyền, tất cả những quyền căn bản của con người đều bị vùi dập. Tự do ngôn luận: không. Tự do biểu tình: không. Tự do lập hội, dù chỉ là những hội dân sự rất ư bình thường: không. Xuống đường để chống đối các chính sách của nhà nước bị cấm đoán, đã đành. Ngay cả xuống đường để chống Trung Quốc một cách chính đáng cũng bị ngăn cấm, hơn nữa, khủng bố. Nhà nước có chính sách gì để cải thiện tình trạng ấy không? Không.

Nhưng quan trọng nhất là những bế tắc trong lãnh vực chính trị. Cả chính trị đối nội lẫn chính trị đối ngoại đều bế tắc. Về đối nội, ai cũng biết cái nhãn chủ nghĩa xã hội chỉ là một chiêu bài dối trá, nhưng vất bỏ cái chiêu bài ấy, Việt Nam sẽ có một thể chế như thế nào? Không ai biết cả. Cả chính quyền có lẽ cũng không biết. Người ta chỉ đe dọa: đa đảng và đa nguyên chỉ dẫn đến hỗn loạn. Nhưng các nước dân chủ trên thế giới thì sao? Sao không có hỗn loạn? Tại sao dân chủ chỉ gây hỗn loạn ở Việt Nam mà thôi? Về đối ngoại, có một trọng tâm khiến mọi người đều nhức nhối: chính quyền Việt Nam sẽ giải bài toán Trung Quốc ra sao? Sẽ theo hùa Trung Quốc và mặc kệ các sự xâm lấn ngang ngược của Trung Quốc hay sẽ tìm cách chống lại Trung Quốc để bảo vệ độc lập và chủ quyền trên biển và đảo? Gần đây, Việt Nam có vẻ muốn thắt chặt quan hệ với Mỹ nhưng quan hệ ấy sẽ được đẩy xa đến mức nào? Việt Nam sẽ tìm kiếm điều gì ở Mỹ? Đó chỉ là một trò đu dây để mua thời gian hay một thực tâm muốn có đồng minh để đối đầu với Trung Quốc? Tất cả những thắc mắc ấy không có ai trả lời cả. Ở điểm dân chúng cần sự lãnh đạo nhất, những người gọi là lãnh đạo lại kín như bưng. Mà chưa chắc họ đã có một chính sách nào cụ thể.

Bởi vậy, có thể nói không có gì quá đáng khi cho Đảng Cộng Sản hiện nay đang từ khước vai trò lãnh đạo của mình. Họ chỉ còn là những nhà cai trị độc đoán và hung bạo. Vậy thôi.

HẠT GIỐNG

HẠT GIỐNG

Trích EPHATA 649

Vào một đêm nọ, người phụ nữ nằm mơ. Chị thấy mình bước vào một siêu thị. Khách hàng tấp nập. Có một quầy hàng đặc biệt, người ta chen chân không lọt. Chị ngạc nhiên thấy Chúa Giêsu đứng bán ở quày hàng này.

Chờ đợi đến phiên mình, chị hỏi: “Chúa mà cũng bán hàng sao ? Chúa bán cái gì ở đây vậy ?”

Chúa trả lời: “Ta bán mọi sự con đang ước muốn trong trái tim con”.

Chị nói liền một hồi: “Thưa Chúa, con muốn có bình an, có tình yêu, có hạnh phúc, có khôn ngoan và tự do không sợ hãi”.

Suy nghĩ một lúc, chị lại thêm: “Không chỉ cho con mà thôi nhưng còn cho chồng, cho con và cho những người thân yêu của con nữa…”

Chúa mỉm cười và nói với chị: “Hỡi con yêu dấu, ở đây, Ta không bán hoa trái mà chỉ bán… hạt giống thôi”.

Lm. ANTHONY DE MELLO

HÃY ĐỌC KHI BẠN ĐANG MUỐN BUÔNG XUÔI VÀI THỨ

HÃY ĐỌC KHI BẠN ĐANG MUỐN BUÔNG XUÔI VÀI THỨ

Trích EPHATEA 649

Câu chuyện 1:

Một cô gái đến tìm một nhà sư, cô hỏi: “Thưa thầy, con muốn buông một vài thứ mà không thể, con mệt mỏi quá”. Nhà sư đưa cho cô gái một cốc nước và bảo cô cầm, đoạn ông liên tục rót nước sôi nóng vào cốc, nước chảy tràn ra cả tay, làm cô bị phỏng, cô vội buông tay, cốc rơi xuống đất vỡ tan… Lúc này nhà sư từ tốn nói: “Đau rồi tự khắc sẽ buông ! Vấn đề là, tại sao phải đợi tổn thương thật sâu rồi mới buông ?”

Câu chuyện 2:

Một chàng trai đến tìm nhà sư, anh hỏi: “Thưa thầy con muốn buông xuôi vài thứ nhưng con do dự quá, con mệt mỏi vô cùng…” Nhà sư đưa anh ta một cái tách và bảo anh cầm, đoạn ông rót đầy tách trà nóng vừa mới pha xong. Chàng trai nóng quá nhưng anh vẫn không buông tay mà chuyển từ tay này sang tay kia cho đến khi nguội đi rồi uống và cảm nhận thấy rất ngon. Lúc này nhà sư từ tốn nói: “Cứ đau là buông thì con đã bỏ lỡ những cái tốt đẹp sau đó rồi ! Vấn đề là tại sao cứ đau là phải buông trong khi còn có thể làm cho nó tốt đẹp lên ?”

Từ một E-Mail của CỘNG ĐOÀN HIỆP THÔNG

Giá trị cuộc sống

Giá trị cuộc sống

Tại vùng trang trại xa xôi, có một người nông dân năm nào cũng trồng được những cây ngô rất tốt.

Năm nào ông cũng mang ngô tới hội chợ liên bang và năm nào ngô của ông cũng đạt giải nhất. Ai cũng cho rằng ông có những bí quyết riêng độc đáo. Có một lần, một phóng viên phỏng vấn ông và phát hiện ra rằng người nông dân luôn chia sẻ những hạt giống ngô tốt nhất của mình với những người hàng xóm ở các trang trại xung quanh.

– Tại sao bác lại chia những hạt giống tốt nhất đi, trong khi năm nào họ cũng đem sản phẩm đến cùng hội chợ liên bang để cạnh tranh với sản phẩm của bác? – Phóng viên hỏi.

– Anh không biết ư? – Người nông dân thật thà đáp – Gió luôn thổi phấn hoa và cuốn chúng từ trang trại này sang trang trại khác, từ cánh đồng này sang cánh đồng khác. Nếu những người hàng xóm quanh tôi chỉ trồng được những cây ngô xấu thì việc thụ phấn do gió rõ ràng sẽ làm giảm chất lượng ngô của chính trang trại của tôi. Tức là, nếu tôi muốn trồng được ngô tốt, tôi cũng phải giúp những người xung quanh trồng được ngô tốt đã!

Cuộc sống cũng như vậy. Những người muốn được hạnh phúc phải giúp những người sống quanh mình hạnh phúc. Những người muốn thành công phải giúp những người quanh mình thành công. Giá trị cuộc sống của bạn được đo bằng những cuộc sống mà bạn “chạm” tới.

Sưu Tầm

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Bài diễn văn chấn động của nữ sinh 17 tuổi: Hai ngàn năm nữa, tổ quốc tôi, ông là ai?

Bài diễn văn chấn động của nữ sinh 17 tuổi: Hai ngàn năm nữa, tổ quốc tôi, ông là ai?

Một trường trung học phổ thông tại Trung Quốc, tổ chức hội diễn văn với chủ đề “Tổ quốc thân yêu”, dưới đây là bản thảo bài diễn văn của nữ sinh thể hiện những nhận thức rất lí trí và sáng suốt, vượt xa phần đông thế hệ thanh niên Trung Quốc hiện tại. Liệu cô gái này có thể thay đổi Trung Quốc?

Bài diễn văn chấn động của nữ sinh 17 tuổi: Hai ngàn năm nữa, tổ quốc tôi, ông là ai?

Tiểu Thiện chuyển ngữ

Một trường trung học phổ thông tại Trung Quốc, tổ chức hội diễn văn với chủ đề “Tổ quốc thân yêu”, dưới đây là bản thảo bài diễn văn của nữ sinh thể hiện những nhận thức rất lí trí và sáng suốt, vượt xa phần đông thế hệ thanh niên Trung Quốc hiện tại. Liệu cô gái này có thể thay đổi Trung Quốc?

Dưới đây là toàn bộ bài nội dung bài diễn văn:

“Kính thưa các thầy cô, bạn bè thân mến!

Tôi tên Vương Khả Nhi, là học sinh lớp 10A6, tiêu đề bài diễn văn của tôi hôm nay là “Nếu tôi sống thêm hai nghìn năm nữa, thì tổ quốc của tôi, ông sẽ là ai?”. Tôi không có những ngôn ngữ hùng hồn như mọi người, cũng không có nhiệt huyết dâng trào như những người khác; đối với hai từ “tổ quốc”, cái tôi có chính là suy nghĩ độc lập của riêng cá nhân tôi, tôi cảm thấy rằng xã hội chúng ta không thiếu những người đứng đầu về tri thức, mà cái thiếu chính là những người có tư duy vậy.

Tôi đang nghĩ rằng: Nếu như tôi có thể sống thêm hai nghìn năm nữa, thì thử hỏi tổ quốc của tôi sẽ là ai? Vào thời nhà Hán, tổ quốc của tôi chính là nhà Hán, chính là Đại Hán đã tiêu diệt hết thảy những kẻ xâm phạm bờ cõi. Vào triều đại nhà Đường, tổ quốc của tôi chính là Đại Đường, triều đại hưng thịnh bậc nhất khiến cho hàng nghìn nước khác đến viếng thăm. Vào thời Tống, tổ quốc của tôi là triều đại nhà Tống, triều đại đứng đầu về khoa học kỹ thuật, kinh tế phồn vinh. Vào triều đại nhà Nguyên, vó ngựa Mông Cổ đã chà đạp giày xéo chúng tôi thành những người dân thấp kém, vậy thì tổ quốc của tôi chính là Đại Nguyên sao? Và tôi phải yêu thương nó sao? Vào thời nhà Thanh, người Mãn giết người ngoài biên ải, để đầu không để tóc, để tóc không để đầu, cuộc tàn sát tại Dương Châu cũng ảm đạm thê lương không khác gì cuộc tàn sát tại Nam Kinh, vậy thì tổ quốc của tôi chính là Đại Thanh sao? Tôi phải yêu thương nó sao?

Thời gian lâu dần, tôi đã dần dần nhận ra rằng, nếu như có ai cưỡng đoạt mẹ của các vị, vậy thì mọi người đều nhận kẻ đó là cha của mình sao, chúng ta không có lòng tự trọng đến như thế sao? Có những lúc tôi cũng nghĩ rằng, nếu như lúc đầu Nhật Bản chiếm lĩnh Trung Quốc chúng ta, hỡi các bạn, có phải hôm này chúng ta sẽ hô lớn lên rằng “thiên hoàng vạn tuế” hay sao?

Nếu như tôi sống thêm hai nghìn năm nữa, thì thử hỏi xem, ai sẽ là tổ quốc của tôi đây, thật khiến cho tôi rất mơ màng khó hiểu .

Trong lòng tôi có một tổ quốc, đó chính là một nơi công bằng, công chính và không có sự bất công nào cả; trong lòng tôi có một tổ quốc, đó chính là nơi để cho bạn chiến thắng, chiến thắng một cách đường đường chính chính. Còn thua thì sao, chính là thua một cách tâm phục khẩu phục. Trong lòng tôi có một tổ quốc, đó là nơi mà ông lúc nào cũng có thể dang rộng đôi cánh che chở cho tôi; trong lòng tôi có một tổ quốc, bất luận cuộc sống của tôi vất vả gian khổ đến thế nào, thì tổ quốc cũng sẽ khiến cho lòng bạn tràn đầy hy vọng về một tương lai không xa.

Nước Mỹ sinh ra Washington, còn nước Anh thì sinh ra Churchill, nhưng họ đều đã ra đi vĩnh viễn; trách nhiệm hôm nay đây, không thể trông cậy vào họ nữa, mà là nằm ở thế hệ trẻ chúng ta. Trí tuệ của thế hệ trẻ chính là trí tuệ của quốc gia, thế hệ trẻ hùng mạnh chính là quốc gia hùng mạnh, thế hệ trẻ độc lập chính là quốc gia độc lập, thế hệ trẻ đứng đầu thế giới chính là quốc gia đứng đầu thế giới. Trong tay thế hệ trẻ chúng ta nhất định sẽ được cầm tờ báo nói về tổ quốc tân tiến văn minh bậc nhất của chúng ta, ông sẽ để cho mỗi người đều yêu mến ông sâu sắc từ tận đáy lòng, ông sẽ khiến cho nước Mỹ phải ngưỡng mộ về chế độ dân chủ của chúng ta, khiến cho nước Đức phải ngưỡng mộ về những thành tựu khoa học kỹ thuật của chúng ta, khiến cho Nhật Bản phải ngưỡng mộ đất nước dân giàu nước mạnh của chúng ta, khiến cho Singapore phải ngưỡng mộ về môi trường sạch đẹp của chúng ta. Nhìn xem ngày đó, tổ quốc của tôi, tất nhiên sẽ là một bầu trời rực sáng, một tổ quốc khiến cho con cháu muôn vàn đời sau cũng không thể nào quên được.

Người Trung Quốc cổ nuôi dưỡng ba giấc mộng Trung Hoa: Giấc mộng thứ nhất gọi là giấc mộng minh quân, chính là hy vọng có được một hoàng đế tốt, hy vọng tất cả vấn đề đều được giải đáp và hiện thành. Tất cả mọi đều tốt đẹp đến từ sự ban ơn của kẻ thống trị. Giấc mộng thứ hai gọi là giấc mộng thanh quan, nếu như hoàng đế đã không thể trông cậy được nữa, thì người dân hy vọng sẽ có một vị thanh quan, thanh liêm chính trực, còn có thể trực tiếp nói lời can gián lên bề trên, mà không sợ xúc phạm đến những người có quyền có thế. Giấc mộng thứ ba gọi là giấc mộng hiệp khách, nếu như thanh quan cũng không thể trông cậy được nữa, thì hy vọng sẽ có một vị hiệp khách thay dân báo thù rửa hận.

Ba giấc mộng của người Trung Quốc thời nay: Giấc mộng thứ nhất gọi là giấc mộng tự do, chính là thoát ra khỏi sự chuyên chế của bộ máy chính trị một đảng độc tài, không còn bị đàn áp bức hại bởi những kẻ thống trị cậy quyền cậy thế cũng như bè lũ quan lại quyền quý hống hách lộng hành, giấc mộng thứ hai gọi là giấc mộng nhân quyền, chính là tất cả người dân đều có thể hưởng quyền lợi bình đẳng, không còn có bất cứ tầng lớp nào có đặc quyền cao hơn quảng đại quần chúng nhân dân để rồi khiến cho những người dân thấp cổ bé họng chỉ có thể uất ức căm hận mà chẳng làm được gì. Giấc mộng thứ ba chính là giấc mộng chính trị dân chủ, cũng chính là chế độ dân chủ toàn dân, tất cả người dân trong cả nước cùng nhau lập ra hiến pháp căn bản dựa trên cơ sở người người bình đẳng, đồng thời sẽ theo đó mà làm việc.

Ba giấc mộng thời xưa chính là “giấc mộng kê vàng” giữa ban ngày, mang tính bị động tiêu cực đối với nhân dân, là chính sách ngu dân mang lại ác mộng nghìn năm, chỉ có thể khiến cho dân chúng trở thành những con cừu ngoan ngoãn, mặc cho kẻ thống trị làm mưa làm gió, xâu xé giết hại, thống trị vĩnh viễn.

Ba giấc mộng thời nay chính là yêu cầu tất yếu của văn minh thương nghiệp, là một xã hội dân chủ khai sáng mà người người đều đã thấy rõ, là biểu hiện của toàn dân thức tỉnh, là kết quả mà tất cả kẻ sĩ và những người nhân nghĩa đều đang mong chờ, và ngày ấy nhất định sẽ đến”.

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

CĂN TÍNH NGƯỜI MÔN ĐỆ CỦA THẦY GIÊSU

CĂN TÍNH NGƯỜI MÔN ĐỆ CỦA THẦY GIÊSU

Am 7, 12-15; Ep 1, 3-14; Mc 6, 7-13

Hẳn nhiên, ai cũng biết rằng phàm là người thì cần phải có cơm ăn, áo mặc và những dụng cụ để phòng thân. Cơm, áo, gạo, tiền … là những mối lo âu thiết thực nhất hay nói đúng hơn đó là nỗi sợ của con người. Đơn giản dễ hiểu đó là thực chất nếu như con người thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu tiện nghi cơ bản cho cuộc sống thì con người không sống được cũng như chẳng làm được gì.

Ta thấy vật chất, tiền bạc … rất gần và rất cần cho con người cũng như những người gọi là môn đệ đi theo Chúa. Cần và cần nhiều nữa là khác thế nhưng hôm nay ta bắt gặp hình ảnh hay nói cách khác là lời mời gọi hay nói đúng hơn là lệnh truyền của Thầy Giêsu : Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền đồng để giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo (Mc 6, 8.9).

Người môn đệ sống như thế nói thẳng ra là “chết chắc” vì chẳng có cái gì gọi là phòng thân cả. Sống như thế nghĩa là sống chỉ biết ngày hôm nay, ngày mai có ngày mai lo !

Thoạt đầu, khi nghe những lời ấy ta cảm thấy khó chịu, cảm thấy sốc thế nhưng Nước Thiên Chúa là như vậy đó ! Nước Thiên Chúa là Nước không phải thuộc thế gian để người người lo phòng thủ, lo vun vén cho mình được càng nhiều càng tốt.

Nói hơi lý thuyết một chút, lời mời gọi của Thầy Giêsu gởi các môn đệ quả là chí lý, là có căn cơ, có cơ sở chứ không phải là lời mời gọi vu vơ. Căn tính của người môn đệ, của thành viên Nước Thiên Chúa, của công dân Nước Trời là như vậy. Nước Trời, Nước Thiên Chúa dành cho những tâm hồn đơn sơ, bé mọn và mãi luôn tín thác vào Thiên Chúa. Người đó sẽ không hề phải phụ thuộc vào thế gian, không phải quỵ lụy thế gian cũng như không hề có ý định hay ý định vun vén thế gian vào lòng mình.

Thật ra, thật giằng co khi con người sống ở giữa thế gian mà lại mời gọi họ từ bỏ những gì thuộc về họ, thuộc về thế gian. Đơn giản dễ hiểu là con người cần tiền, cần vật chất, cần quyền, cần danh để sống giữa cuộc đời. Nay lại bảo phải từ bỏ e rằng khó.

Chính khi nghe lại lời mời gọi này, ta lại bắt gặp hình ảnh của ta về căn tính người môn đệ chân chính của Chúa.

Nếu như cuộc sống của ta, ta cảm thấy bình an, ta cảm thấy đủ với những gì ta đang có thì ta thật hạnh phúc bởi lẽ ta đã thấy đủ. Khi ta tạm gọi là “dừng cuộc chơi” nghĩa là khi ta ý thức được chuyện không phải thủ cái gì cho đời ta cả.

Chắc có lẽ, chính có ta mới lượng giá được căn tính người môn đệ có ở trong ta như thế nào ?

Có khi ta biện minh rằng ta cần cái này cái kia cho cuộc sống để rồi ta chạy đi tìm, đi sắm, đi trang bị. Nực cười là ta quá lo lắng để ta đi tìm những cái để thủ cho đời ta mà những thứ đó chính ta tự nghĩ ra.

Giản đơn nhất để thấy điều đó là thi thoảng ta chịu khó dọn cái phòng của ta. Thật ngạc nhiên khi ta thấy cứ ngày mỗi ngày cái phòng của ta chật lại và đường đi hẹp lại vì ta vun vén quá nhiều. Ta không chỉ lo cho ngày mai mà lo cả lo cho ngày mốt, ngày kia, ngày kìa nữa … có những thứ mà ta cố sắm nhưng chẳng bao giờ xài đến, chẳng bao giờ đụng đến cả.

Hay là, ta thử dừng lại để ta dọn lòng ta thử. Khi dọn lòng, ta sẽ thấy lòng ta vẫn còn đó bề bộn, vẫn còn bừa bãi bởi những thứ làm cho ta nặng nề không thanh thoát đủ để bước lên đường rao giảng Tin Mừng như Chúa mời gọi. Có khi lòng ta còn nặng nề bởi sự sân hận, bởi sự ganh ghét anh chị em đồng loại.

Có lẽ, hài nhất và thực tế nhất đó chính là chuyện Chúa bảo là anh em không được mặc hai áo. Hai áo ở đây ta có thể hiểu được cả về cái áo vật chất và cả cái áo tâm hồn của ta.

Chúa đã trang bị, Chúa đã cho ta cái áo thật tinh tuyền nhưng rồi ta lại tự trang bị cho ta những cái áo giáp. Những cái mà ta tìm, ta trang bị xem ra không phù hợp với cái y phục tiệc cưới Nước Trời mà Chủ tiệc cưới mời gọi. Những cái áo mà ta trang bị nó được thêu dệt nên bởi sự giả tạo, sự giả dối của ta nhằm che mắt thiên hạ cũng như mắt Chúa. Thế nhưng, duy chỉ mình Chúa mới là người nhìn thấy suốt lòng ta, thấu suốt những chiếc áo của đời ta.

Về chiếc áo vật chất theo cách hiểu bình thường như Chúa nói đó. Chúa mời gọi mỗi người hãy sống hết lòng đơn giản, đừng trang bị cho mình hai áo cũng như những chiếc áo lụa là gấm vóc … Hãy mặc lấy cho mình một chiếc áo thôi, còn mọi chuyện khác Chúa sẽ quan phòng và Chúa sẽ an bài.

Nhắc đến chuyện này, tôi cũng cảm thấy ngượng về chính bản thân mình. Có khi tôi cũng tự nghĩ rằng mình sống giản đơn, ít quần áo nhưng xem ra còn nhiều hơn bậc thầy của mình mấy bậc.

Tôi có một người thầy, phải nói rằng Thầy là mẫu gương cho sự thanh thoát, nhẹ nhàng từ “cấu hình” cho đến “hình thể”. Cấu hình của Thầy thật mỏng manh, mảnh mai… nhìn vào Thầy, ai ai cũng thấy được một sự hãm mình về chuyện ăn uống. Và thật là như thế ! Thầy giản đơn từ cách ăn cho đến kiểu mặc. Nhìn tới nhìn lui, Thầy chỉ có đúng 3 bộ đồ trong người chứ không tìm thấy hơn nữa.

Quả chăng, Thầy chính là người gần nhất để tôi soi rọi đời mình. Nhìn Thầy, có khi chợt nhận ra rằng mình còn vun vén hơn Thầy của mình nhiều.

Và hôm nay, bắt gặp trang Tin Mừng mà Thầy Giêsu nói về căn tính người môn đệ, tôi không còn giật mình nữa mà giật bắn cả mình và thót cả tim khi nhìn lại bản thân mình về vật chất. Có khi đã được nghe nhiều, nói nhiều, dạy nhiều nhưng những bài học đó cũng như lời mời gọi của Thầy bị tôi bỏ ngoài tai. Chính vì bỏ ngoài tai lời của Thầy Giêsu nên tôi cứ mãi miết lo lắng cho mình về sự đời. Nhưng, nhìn thực tế, Chúa có để cho ai phải đói, phải không có cơm ăn áo mặc đâu mà ta lại cứ mãi lăn tăn. Chính vì ham hố, chính vì thiếu niềm tin vào Thầy Giêsu để rồi ta cứ lăn tăn đi tìm, trang bị cho mình những thứ phù du, nay còn mai mất.

Ta sẽ mang theo được gì khi đi đến mộ phần ?

Cũng nghe nhiều nhưng mới đây, nghe một bác dược sĩ già đam mê âm nhạc đã diễn tả lòng mình qua ca khúc quen thuộc của cố nhạc sĩ họ Trịnh :

“Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi

Để một mai vươn hình hài lớn dậy

Ôi cát bụi tuyệt vời

Mặt trời soi một kiếp rong chơi

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi

Để một mai tôi về làm cát bụi

Ôi cát bụi mệt nhoài

Tiếng động nào gõ nhịp không nguôi

Bao nhiêu năm làm kiếp con người

Chợt một chiều tóc trắng như vôi

Lá úa trên cao rụng đầy

Cho trăm năm vào chết một ngày”

Tất cả cũng trở về cát bụi, tất cả cũng chỉ là phù vân để rồi ta cứ mãi chạy đi tìm và lấp đầy lòng ta cát bụi và phù vân.

Tạ ơn Chúa vì ngày hôm nay Chúa lại nhắc nhớ ta về thân phận con người, cách riêng về căn tính của người môn đệ.

Xin Chúa thêm ơn cho ta để ta rũ bỏ tất cả những gì là vướng bận ta không trở thành người môn đệ chân chính. Xin cho ta có một tâm hồn trẻ bé để luôn luôn tín thác đời ta trong tay Chúa vậy.

Tác giả: Huệ Minh

THẾ GIỚI ĐANG ĐI VỀ ĐÂU ?

THẾ GIỚI ĐANG ĐI VỀ ĐÂU ?

Tác giả: Lm. PX. Ngô Tôn Huấn

Câu hỏi đặt ra không liên quan gì đến vấn đề chính trị, kinh tế,  quân sự  của thế giới , mà chủ yếu là suy tư về vấn đề luân lý và đạo đức ( moral & ethics) của thế giới hôm nay mà thôi

Thật vậy, những ai quan tâm đến luân lý , đạo đức thì phải ngao ngán trước thực  trạng suy đồi  nghiêm trọng về  cả hai mặt này  của thế giới hôm nay, đặc biệt là ở những quốc gia có truyền thống Kitô Giáo, như Ý , Đức, Pháp , Tây Ban Nha, Ái Nhĩ Lan ( Ireland) Anh Quốc,  Canada  và Hoa Kỳ. Đây là những quốc gia có đông người theo Kitô Giáo  ( Công Giáo, Chính Thống, Tin Lành, Anh Giáo) nhưng nay lại sống phản Kitô giáo ( anti-Christianity) cách rõ nét  khi cho phép những thực hành vô luân vô đạo như  làm ngơ cho sách báo, phim ảnh  khiêu dâm  được tự do lưu hành, cho  li dị, phá thai và hôn nhân đồng tính ( same sex marriage)

Đây là một thực trạng đáng buồn, đáng xấu hổ cho những ai thành tâm muốn sống cốt lõi của niềm tin Kitô Giáo và hãnh diện là tín hữu Kitô.(Christians)

Sở dĩ thế, vì  con người khác thú vật  nhờ  có đời sống tâm linh, có ý thức luân lý ,đạo đức,  khác biệt  với loài vật  chỉ có bản năng và hoàn toàn vô tri.Và đó là lý do tại sao vấn đề luân lý, vấn đề thưởng phạt chỉ đặt ra  riêng cho con người mà thôi.

Nhìn vào thực trạng của thế giới hôm nay, người ta phải đau buồn vì  các quốc gia  có truyền thống Kitô Giáo nói trên đang tiến nhanh, tiến mạnh   trên đường suy thoái đạo đức và luân lý,  khi họ làm ngơ –hay tệ hại hơn nữa-  là cho phép những thực hành  mà tự bản chất là phi luân, vô đạo,  như cho phép kỹ nghệ dâm ô ( pornography) tự do tung hoành, gây tác hại tinh thần cho giới trẻ và người lớn,  cho  phá  thai, li dị , và nay là  hôn nhân đồng tinh,  (same sex marriage) như một thách đố có tác dụng phá đổ nền tảng gia đình dựa trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ.

Gia đình -từ ngàn xưa-  là nên tảng của mọi xã hội con người, là hy vọng của mọi dân tộc, – và cách riêng- là  tương lai  của Giáo Hội. Gia đình chỉ có ý nghĩa trọn vẹn khi có người làm cha, làm mẹ, làm chồng làm vợ. Con cải phải có cha có mẹ thì mới  thực sự cảm nhận mình là con cái.

Vậy mà nền tảng gia đinh dựa trên những tương giao căn bản cần thiết nói trên đang bị các xã hội bệnh hoạn  trên đây phá đổ, khi họ cho  định nghĩa lại ý nghĩa và mục đích của hôn nhân để  cho phép hôn nhân đồng tính.

Điều này, trước hết,  hoàn toàn đi ngược lại mục đích của Thiên Chúa khi tạo dựng con người có nam có nữ và truyền cho họ mệnh lệnh phải sinh sôi nẩy nở cho thật  nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất. ( St 1: 28).

Đây là nên tảng luân lý, đạo đức và là mục đích của hôn nhân giữa một người nam và một người nữ từ khi có con người trên mặt đát này.

Vậy mà nay các  xã hội bệnh hoạn  nói trên cho phép  hai người nam hay hai người nữ kết hôn, và gọi đó là hôn nhân như hôn nhân của một người nam và một người nữ từ xưa đến nay, thì làm sao chu toàn được mục đích nói trên của hôn nhân theo ý muốn của Thiên Chúa;  nếu các quốc gia có truyền thông Kito Giáo nói  trên  còn tin có Thiên Chúa là  Đấng tối cao, đã tạo dựng muôn loài muôn vật hữu hình và vô hình  ?

Nếu tin có Thiên Chúa thì phải thi hành những gì Ngài mong muốn cho con người sống và làm để được chúc phúc ngay từ ở đời này trước khi được cứu độ để vào Nước Trời vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu mai sau.

Do đó, cho muc đích sống theo đường lối của Thiên Chúa, con người phải sống một đời sống luân lý và đạo đức, để phân biệt mình với những kẻ vô thần ( atheists), không tin có Thiên Chúa và luân lý phổ quát ( universal moral).

Liên can đến vấn đề hôn nhân đồng tính, nếu cha mẹ của những người đang tán thành hôn nhân đồng tính, cũng  là những người đồng tính,  thì làm sao sinh ra được họ,  để giờ đây họ nhắm mắt bịt tai  công nhận hôn nhân giữa hai người đồng tính ? cha mẹ của họ phải là một người nam và một người nữ kết hôn đúng nghĩa với nhau thì mới sinh ra họ, và xã hội con người ở khắp nơi mới tồn tại cho đến ngày nay.

Nay vì muốn chiều theo ý muốn ngang trái của một thiểu số người sinh ra với khuynh hướng bất thường về phái tính ( abnormally sexual tendency), người ta đã tán thành và cho phép hôn nhân đồng tính như một định chế tương đương với hôn nhân truyền thống giữa một người nam và một người nữ, như thực trạng của xã hội loài người từ xưa đến nay.

Chúng ta không lên án những người sinh ra với khuynh hướng khác thường nói trên. Nhưng chúng ta không thể công nhận  việc công khai  sống chung của họ là  hôn nhân,  như đại đa số những người bình thường  khác , đã kết hôn cho mục đích duy trì nòi giống, và chu toàn trách nhiệm của hôn nhân theo ý muốn của Thiên Chúa,  là Đấng đã tạo dựng con người có nam có nữ và đã se kết họ trong giao ước  hôn nhân để công tác với Chúa trong chương trình sáng tạo nhằm  có đông con người sinh ra trong trần thế này.

Chúa Kitô , khi xuống trần gian làm Con Người, cũng đã chọn sinh ra trong một gia đình có mẹ thật là Đức Trinh Nữ Maria, thụ thai nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, và có cha nuôi là Thánh Cả Giuse. Đức Trinh Nữ Maria và Thánh Giuse chắc chắn là những  người bình thường về mọi mặt như mọi con người khác.  Hai ông bà kết hôn vì phong tục tập quán của xã hội Do Thái và cũng vì thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa chọn cho Con Một của mình là Chúa Giê su- Kitô  sinh r a bởi Đức Trinh Nữ Maria nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Nhưng trước mặt người đời, Mẹ Maria không thể có con mà không có chồng. Vì thế, Thánh Giuse đã được chọn để đóng vai người chồng của Mẹ Maria trước mặt người đời. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, hai ông bà đều là những người yêu mến đức đồng trinh và muốn tôn vinh Thiên Chúa với đời sống khiết tịnh vẹn toàn của mình.

Thánh gia thất Chúa Giê su, Mẹ Maria và Thánh Giuse  là khuôn  mẫu cho mọi gia đình nhân loại. Gương mẫu cho mọi con cái , cho những người làm cha ,làm  chồng, làm  vợ  và làm  mẹ .Đây là thánh ý của Thiên Chúa cho những ai được ơn gọi sống bậc hôn nhân để làm cha, làm chồng, làm vợ và làm mẹ để nuôi dạy con cái  là kết quả và là muc đích của hôn nhân thánh thiện theo kế hoạch của Thiên Chúa, được Chúa Giê su nâng lên hàng bí tích với lời dạy sau đây:

Để trả lời những người Biệt phái đến hỏi Chúa Giê su xem người ta có được phép li dị không , Chúa đáp: Các ông không đọc thấy điều này sao ? “Thuở ban đầu, Đấng tạo hóa đã làm ra con người có nam có nữ, và Người đã phán : vì thế người  ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt . Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân li.” ( Mt 19: 4-6)

Trên đây là giáo huấn của Chúa Giê su mà Giáo Hội có bổn phận truyền dạy cho con cái mình  tôn trọng và thi hành để được cứu rỗi.Giáo huấn này không ai được phép  cắt nghĩa cách khác và thay đổi vì bất cứ lý do nào.

Mới đây, trong dịp tiếp kiến các Giám mục của Công Hòa Đô-mi-nícan  ngày 28 tháng 5 vừa qua , Đức Thánh Cha Phanxi cô đã nói với các giám mục như sau:

Chúng ta hãy tiếp tục phô bày vẻ đẹp của hôn nhân Kitô giáo : kết hôn trong Chúa là một hành động của đức tin và đức ái: qua đó người phối nhẫu với tự do ưng thuận, trở thành phương tiện chuyên chở  phép lành và ơn phúc của Thiên Chúa cho Giáo Hội và xã hội. ( Let us continue to present  the beauty of Christian matrimony : to marry in the Lord is an act of faith and love, in which the spouses- through their free consent , become a means of passing on the blessing and grace of God for the Church and society. ( L ‘Osservatore Romano , number 23, Friday , June 5, 2015)

Như thế, hôn nhân Kitô giáo không thể là hôn nhân giữa hai người nam hay hai người nữ có khuynh hướng đồng tính được, mà phải là hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, theo ý muốn của Thiên Chúa, Đấng tạo dựng con người có nam có nữ;  và cũng là truyền thống đã có từ bao thế hệ  qua trong mọi nền văn hóa, phong hóa của mọi dân tộc trên thế giới từ xưa đến nay.

Đây là vấn đề có liên quan mật thiết đến luân lý và đạo đức, là nền tảng của đời sống con người,  chứ không phải là vấn đề tôn trọng quyền sống của cá nhân  ai  như người ta đang nại ra để cho phép hôn nhân đồng tính.

Đó là vấn đề luân lý, đạo đức, vì luân lý phổ quát dạy mọi người là phái tính ( sexuality) chỉ tự nhiên giữa một người nam và một người nữ tự do kết hôn với nhau theo truyền thống và phong hóa của mọi dân tộc.

Dó đó, hai người nam hay hai người  nữ mà có liên hệ phái tính với nhau thì đây là điều trái tự nhiên ( unnatural) và vô luân ( immoral)

Tác giả Sách Lê vi đã lên án sự  phối hợp phái tính trái tự nhiên nói trên như sau:

khi người đàn ông nào nằm với một người đàn ông như nằm với đàn bà, thì cả hai đã làm điều ghê tởm…” ( Lê vi 20: 13)

Như vậy, công nhận cho hai người đàn ông hay hai đàn bà kết hôn có nghĩa công nhận sự vô luân về phái tính;  hay nói khác đi, công nhận sự chung đụng xác thit giữa hai người nam hay hai người nữ  là  điều cũng tự nhiên như sự chung đụng của một người nam và một người nữ kết hôn trong mọi gia đình nhân loại từ xưa đến nay ?

Nếu thế thì những việc vô luân khác như thủ dâm ( masturbation) loạn dâm =loạn luân ( incest)  ấu dâm   ( child prostitution) và thú dâm (sodomy), thông dâm ( fornification)  ngoại tình ( adultery)…  đều không còn là những hành vi vô luân nữa, vì chúng đều xuát phát từ những khuynh hướng hay ước muốn vô trật tự và vô luân  ( inordinate, immoral))  của con người !, tương tự như huynh hướng đồng tính bất thường  mà người ta đang cho phép người có khuynh hướng này kết hôn, tức là công nhận việc ăn nằm của họ là không có gì ngăn trở về luân lý !!!

Đây rõ rệt là một suy thoái nghiêm trọng về luân lý hôn nhân, và luân lý phổ quát ( universal moral)  của các xã hội bệnh hoạn nói trên. Chắc chắn Giáo Hội sẽ không bao giờ cho phép hay công nhận loại  hôn nhân đồng tính này ,  vì nó vừa sai trái nặng về mặt  luân lý – và nghiêm trọng hơn nữa- là đi ngược lại với ý muốn của Thiên Chúa về  ý nghĩa và mục đích của bí tích  hôn phối mà Giaó Hội có bổn phận bảo vệ và thi hành không chút nhân nhượng.

Giáo Hội không lên án những người có khuynh hướng đồng tính, nhưng không thể cho phép họ sống chung như vợ chồng được, vì việc sống chung này là điều trái tự nhiên và vô luân. Do đó, những ai đang sống trong tình trạng này thì không được đến  với hai  bí tích hòa giải và Thánh Thể, mặc dù họ vẫn có thể đến nhà thờ để cầu nguyện và tham dự Thánh Lễ cùng với các giáo dân khác.

Sau hết, một điểm thắc mắc không thể bỏ qua là những đứa trẻ được các cặp hôn nhân đồng tình này nhận làm con nuôi, thì chúng sẽ nghĩ gì về việc chúng chỉ có hai bà mẹ hay hai người cha trong gia đình? Và gương xấu này sẽ tác hại  ra sao khi các trẻ đó lớn lên với hai người cha  hay hai người mẹ??? Nếu chúng cũng là những đứa trẻ sinh ra với khuynh hường tính dục khác thường như người nuôi dạy chúng, thì không nói làm chi. Những nếu chúng- mà đa số chắc chắn như vậy-  là những trẻ sinh ra với mọi khuynh hướng bình thường,  thì việc sống chung với những người bất bình thường kia  sẽ là một tai hại lớn cho chúng về mặt tình thần, tình cảm và luân lý. Như thế, những kẻ cho phép hôn nhân đồng tính sẽ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về  những tai hại tinh thần, tình cảm và ý thức luân lý của các trẻ được nuôi dạy trong môi trường đồng tính.

Vây những kẻ đang nhắm mắt công nhân hôn nhân đồng tình sẽ trả lời thế nào về nan đề  nói trên, liên quan đến   các trẻ em được các người đồng tính nhận nuôi dạy trong các gia đình bất bình thường của họ ?

Tóm lại, định nghĩa lại hôn nhân để công nhận hôn nhân giữa hai người nam hay hai người nữ là một suy thoái nặng nề về luân lý và đạo đức cần phải  quan tâm và lên tiếng trước thực trạng đáng buồn của thế giới tục hóa hiện nay.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn