Desiderata: Một áng văn “lời hay ý đẹp”

Desiderata: Một áng văn “lời hay ý đẹp”

Đoàn Thanh Liêm giới thiệu

Max Ehrmann (1872-1945)

Trước năm 1975, ở Saigon tôi có dịp được đọc bản văn tiếng Anh mà có nhan đề bằng tiếng la tinh là “Desiderata” có nghĩa là “ Những điều mong ước”. Đây là một “bài thơ không vần” (poeme en prose) như người Pháp thường nói. Lời văn rất súc tích, gọn gàng, chứa đựng những lời khuyên nhủ rất thân tình, cụ thể và thẳng thắn. Tôi đã chép bài đó vào một cuốn vở. Nhưng lâu ngày hóa ra lạc mất. Nay cũng lại nhờ có internet, mà tôi đã tìm ra được, không những nguyên tác bản văn, mà còn cả nhiều chuyện ngộ nghĩnh xung quanh áng văn có thể được xếp vào lọai “bất hủ “ này nữa. Tôi xin đính kèm trong Phần Phụ Lục của bài này cả bản dịch tòan văn và cả nguyên tác bằng Anh ngữ nữa.

Xin trích dẫn vài đọan tiêu biểu như sau :

“ Hãy giữ bình thản tự tại ở giữa sự ồn ào vội vã, và nhớ đến sự an bình trong trạng thái thinh lặng”. “Bạn là một người con của vũ trụ này, không thua kém gì so với cây cối và tinh tú; bạn có quyền được có mặt nơi đây.” “Hãy vui thú với những thành tựu cũng như các dự án của bạn.” “ Hãy tránh xa người hay ồn ào lớn tiếng và hay gây hấn ; họ là lọai người hay gây phiền nhiễu cho tinh thần.” “Bạn cũng đừng nên hòai nghi yếm thế về tình yêu, bởi lẽ đối mặt với tất cả sự khô cằn và vỡ mộng, thì tình yêu vẫn tồn tại miên viễn như cây cỏ.” …

Tác giả bài thơ này là Max Ehrmann (1872-1945). Ông sinh tại thành phố Terre Haute, tiểu bang Indiana. Sau thời gian ngắn hành nghề luật sư, thì ông về nhà chuyên viết văn, làm thơ. Bài Desiderata này được suy đóan là được viết vào năm 1927, lúc ông đã được 55 tuổi. Nhưng phải đến giữa thập niên 1960, thì bài thơ mới được công chúng say mê ưa chuộng và phổ biến khá rộng rãi.

Có hai lý do khiến gây ra sự chú ý của công luận. Thứ nhất là nhờ người bạn thân thiết của vị Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc là Adlai Stevenson, vừa mới mất tại London vào năm 1965, thì có khám phá ra được là ông đại sứ để trong phòng làm việc riêng của mình một bản văn của bài thơ Desiderata này, mà ông dự định sẽ cho in vào trong tấm Thiệp Noel sắp tới để gửi cho các bạn hữu của ông. Mẩu tin này càng khiến cho công luận chú ý đến bài thơ.

Còn một lý do khác nữa, đó là không hiểu vì sao mà lại có một ấn bản khác của bài thơ lại ghi là “Được tìm thấy tại Nhà thờ cổ St Paul năm 1692”. Công chúng thắc mắc, vì ngôn từ tiếng Anh của bài thơ này là của thời hiện đại, chứ không thể là từ thế kỷ 17 được. Và qua các vụ tranh tụng trước Tòa án, cũng như bút chiến trên báo chí, thì gián tiếp càng làm cho công chúng chú ý hơn đến bài thơ này hơn nữa.

Nhiều bà mẹ đã đọc cho con cái nghe bài thơ, đến nỗi các cháu đều thuộc làu. Ngay cả đến cháu bé mới có 3 tuổi, mà đã vanh vách đọc lớn tiếng tòan bộ bài thơ, mặc dầu cháu chưa hề biết đọc được chữ viết.

Bạn đọc muốn biết thêm chi tiết nữa, thì xin cứ mở internet qua Google hay Yahoo, thì sẽ thấy tài liệu rất đày đủ, phong phú và chính xác liên hệ đến bài thơ “Desiderata này.

Người viết rất vui mừng được giới thiệu với các độc giả người Việt thêm một áng văn nổi danh khác nữa trong kho tàng văn học hiện nay của nước Mỹ.

California, Tháng Năm 2009

Đoàn thanh Liêm

Phụ Lục

Desiderata (1927)

by Max Ehrmann

Bản dịch : Đòan Thanh Liêm(2009)

Hãy giữ bình thản tự tại ở giữa sự ồn ào vội vã, và nên nhớ đến sự an bình có được trong trạng thái thinh lặng.

Hãy đối xử thuận thảo với mọi người, trong chừng mực tối đa có thể được mà không phải là sự đầu hàng.

Hãy nói sự thật của bạn một cách ôn tồn và rõ ràng; và lắng nghe mọi người khác, kể cả người ngu đần, dốt nát; họ đều có câu chuyện của họ.

Hãy tránh xa người hay ồn ào lớn tiếng và thích gây hấn; họ là lọai người gây phiền nhiễu cho tinh thần.

Nếu bạn mà so sánh mình với các người khác, thì bạn có thể đâm ra kiêu ngạo hay cay cú, bởi lẽ luôn luôn có người hơn hay kẻ kém so với chính bản thân bạn. Hãy vui thích với những thành tựu và dự án của bạn.

Hãy chú trọng đến nghề nghiệp riêng tư của bạn, mặc dù nó khiêm tốn đến mấy; bởi vì đó mới đích thực là sở hữu của riêng bạn giữa sự thăng trầm của thế sự.

Hãy thận trọng trong công việc làm ăn, vì thế giới đày dãy những lừa lọc dối trá Nhưng cũng đừng nên tự bịt mắt mình trước điều nhân đức; bởi lẽ vẫn có nhiều người tranh đấu vì lý tưởng cao cả, và bất cứ ở đâu thì cuộc sống cũng đày dãy lòng dũng cảm.

Hãy đích thực là mình. Đặc biệt không nên giả vờ tỏ ra sự âu yếm.

Mà cũng đừng nên hòai nghi yếm thế về tình yêu, bởi lẽ đối mặt với tất cả sự khô cằn và vỡ mộng, thì tình yêu vẫn tồn tại miên viễn như cây cỏ.

Hãy lịch lãm nghe theo lời khuyên của các bậc cao niên, và biết duyên dáng nhường bước cho tuổi trẻ.

Hãy bồi dưỡng sức mạnh tâm trí để che chắn cho bạn trong lúc họan nạn.

Nhưng đừng gây phiền muộn cho mình với những tưởng tượng đen tối.

Nhiều nỗi sợ hãi phát xuất từ sự mệt nhọc và nỗi cô đơn.

Vượt lên trên cả kỷ luật lành mạnh, hãy lịch sự nhỏ nhẹ với chính mình.

Bạn là một người con của vũ trụ này, không thua kém gì so với cây cối và tinh tú; bạn có quyền được có mặt nơi đây.

Và dù tỏ tường hay không rõ rệt đối với bạn, chắc chắn là vũ trụ này phải tỏ lộ ra cho con người.

Bởi vậy, hãy hòa hõan với Thượng Đế, dù bạn quan niệm Ngài bất kể như thế nào.

Và bất kể sự vất vả và ước vọng của bạn ra sao trong cái hỗn độn ồn ào của cuộc sống, bạn hãy ráng giữ được sự an bình trong tâm hồn.

Với tất cả nỗi nhục nhằn, vất vả, và giấc mộng đổ vỡ, thì thế giới này vẫn là tuyệt diệu.

Hãy vui lên. Hãy phấn đấu để mà được sống hạnh phúc.

Desiderata

(something desired as essential)

Go placidly amid the noise and the haste, and remember what peace there may be in silence.

As far as possible, without surrender, be on good terms with all persons.

Speak your truth quietly and clearly; and listen to the dull and ignorant; they too have their story.

Avoid loud and aggressive persons; they are vexations to the spirit.

If you compare yourself with others, you may become vain or bitter, for always there will be greater and lesser persons than yourself.

Enjoy your achievements as well as your plans.

Keep interested in your career, however humble; it is a real possession in the changing fortunes of time.

Exercise caution in your business affairs, for the world is full of trickery.

But let this not blind you to what virtue there is; many persons strive for high ideals and everywhere life is full of heroism.

Be yourself. Especially do not feign affection.

Neither be cynical about love; for in the face of all aridity and disenchantment, it is as perennial as the grass.

Take kindly the counsel of the years, gracefully surrendering the things of youth.

Nurture strength of spirit to shield you in sudden misfortune.

But do not distress yourself with imaginings.

Many fears are born of fatigue and loneliness.

Beyond a wholesome discipline be gentle to yourself.

You are a child of the universe, no less than the trees and the stars and you have a right to be here.

And whether or not it is clear to you, no doubt the universe is unfolding as it should.

Therefore, be at peace with God, whatever you conceive Him to be.

And whatever your labours and aspirations, in the noisy confusion of life, keep peace with your soul.

With all its sham, drudgery and broken dreams, it is still a beautiful world.

Be cheerful. Strive to be happy.

Max Ehrmannn, 1927

Hội Nghị lần thứ năm về biển Đông tại CSIS ở Washington

Hội Nghị lần thứ năm về biển Đông tại CSIS ở Washington

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2015-07-22

07222015-the-fifth-ann-csis-sshi-sea-confer.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Từ trái tiến sĩ Trần Trường Thuỷ, tiến sĩ Wu Shicun, cố vấn cấp cao Châu Á Bonie Glasser, tiến sĩ Scott Kennedy và  ký giả BBC Bill Hayton tại CSIS ngày 21 tháng 7, 2015

Từ trái tiến sĩ Trần Trường Thuỷ, tiến sĩ Wu Shicun, cố vấn cấp cao Châu Á Bonie Glasser, tiến sĩ Scott Kennedy và ký giả BBC Bill Hayton tại CSIS ngày 21 tháng 7, 2015

RFA

Hội Nghị về biển Nam Trung Hoa, diễn ra hôm thứ Ba tại CSIS Trung Tâm Chiến Lược Và Nghiên Cứu Quốc Tế ở Washington, sau khi Trung Quốc tiếp tục kế hoạch đắp đảo và lấn biển trong lúc các nước lân bang cũng như Hoa Kỳ lên tiếng yêu cầu Bắc Kinh giữ nguyên trạng khu vực đồng thời tôn trọng Công Ước Quốc Tế Về Luật Biển.

Đây là hội nghị lần thứ năm về biển Nam Trung Hoa, Việt Nam gọi là biển Đông, nơi Trung Quốc vạch đường lưỡi bò 9 khúc để giành phần lớn chủ quyền, có Hoàng Sa đã bị Hoa Lục chiếm giữ, có Trường Sa với nhiều đảo đã bị Bắc Kinh nắm quyền kiểm soát.

Trung Quốc gây căng thẳng ở biển Đông

Trung Quốc làm cho tình hình biển Nam Trung Hoa trở nên căng thẳng khi trong mấy tháng qua ráo riết cho bồi đắp cũng như xây dựng trên các bãi đá mà một số nước ASEAN, trong đó có Việt Nam, từng khẳng định chủ quyền của mình.

Đây là đề tài bao trùm, được trình bày nhằm làm mạnh thêm chứng cứ hoặc chống đỡ cho việc làm của Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa. Đó là các thuyết trình viên đến từ nhiều nơi như ký giả Bill Hayton đài BBC, bà Bonnie Glaser, cố vấn cao cấp về Châu Á trong Trung Tâm Chiến Lược Và Nghiên Cứu Quốc Tế CSIS, tiến sĩ Wu Shicun chủ nhiệm Học Viện Quốc Gia Về Biển Nam Trung Hoa, tiến Sĩ Trần Trường Thủy giám đốc điều hành Cơ Quan Nghiên Cứu Biển Đông của Việt Nam, tiến sĩ Jay Batongbacal giám đốc Học Viện Hàng Hải Và Luật Biển của Philippines, tiến sĩ Sienho Yee Viện Công Pháp Quốc Tế đại học Vũ Hán của Trung Quốc, tiến sĩ Phạm Lan Dung trưởng khoa Luật Quốc Tế Học viện Ngoại Giao Việt Nam.

“ Theo nhận định của cá nhân tôi thì tôi thấy các lập luận của các học giả Trung Quốc về mặt Luật Quốc Tế vẫn còn chưa được chặt chẽ lắm và đôi khi có thể là họ, không biết vô tình hay cố tình, cũng đưa vào đấy những yếu tố mà nó cũng chưa thật là chính xác lắm

Tiến sĩ Phạm Lan Dung”

Trong vài phút trả lời đài Á Châu Tự Do, tiến sĩ Phạm Lan Dung nhận định:

Cái mà tôi nhận xét là nếu trước kia Trung Quốc không đề cập nhiều đến những khía cạnh pháp lý trong các lập luận của mình thì gần đây trong các hội thảo, trong các trao đổi học thuật thì các học giả Trung Quốc đã bắt đầu tập trung hơn về những khía cạnh của Luật Quốc Tế và Luật Biển Quốc Tế. Đấy cũng là điểm tích cực khi họ quan tâm những vấn đề về luật, tuy nhiên theo nhận định của cá nhân tôi thì tôi thấy các lập luận của các học giả Trung Quốc về mặt Luật Quốc Tế vẫn còn chưa được chặt chẽ lắm và đôi khi có thể là họ, không biết vô tình hay cố tình, cũng đưa vào đấy những yếu tố mà nó cũng chưa thật là chính xác lắm.

Về tầm quan trọng và cần thiết về Hội Nghị Thường Niên Biển Nam Trung Hoa mà Trung Tâm Chiến Lược Và Nghiên Cứu Quốc Tế CSIS đứng ra tổ chức, cố vấn hành đầu của Trung Tâm, bà Bonnie Glaser:

Rằng hội nghị thật hữu ích trong nghĩa là những người tham dự bỏ công tìm tòi, nghiên cứu, đặc biệt trưng bày những hình ảnh chụp được bằng vệ tính, để công bố cho mọi người thấy điều gì đang xảy ra, từ đó cùng nhau thảo luận để tìm kiếm giải pháp, đưa ra những đề nghị làm thế nào giảm bớt tình trạng căng thẳng. Cần nói không phải tất cả mọi ý kiến đều đến từ phía các chính phủ mà điểm chính là các học giả cũng có vai trò và tiếng nói nhất định của họ.

Một chiến lược thử thách mới của Trung Quốc

Hội nghị có cái hay là mời gọi được mọi giới từ mọi phía, bà Bonnie Glaser nói tiếp, một số là đại diện của phía tranh giành chủ quyền, một số khác không nằm trong diện đòi chủ quyền nhưng có sự quan tâm sâu sắc đến tình hình an ninh và ổn định trên biển Nam Trung Hoa.

Nhắc lại ngôn từ “game changer” mà thuyết trình viên Việt Nam, tiến sĩ Trần Trường Thủy, viện đến trong bài nói chuyện của ông, cố vấn cao cấp Bonnie Glaser của CSIS nói rằng bà hiểu và đồng ý rằng tiến sĩ Trần Trường Thủy đã sử dụng rất đúng ngôn từ đó để bàn đến hành động bành trướng biển đảo của Trung Quốc, tạo một mối thử thách mới nhưng cốt lõi và căn bản đối với sự ổn định và hòa bình trong khu vực.

“ Việt Nam phải thực hiện, dù không muốn ra mặt chống lại Trung Quốc, nhưng phải có một bước pháp lý cụ thể như mọi người mong đợi và đó là điều Việt Nam cần phải quyết định dứt khoát

Theo bà Bonnie Glaser của CSIS”

Vẫn theo lời bà, điều Việt Nam phải thực hiện, dù không muốn ra mặt chống lại Trung Quốc, nhưng phải có một bước pháp lý cụ thể như mọi người mong đợi và đó là điều Việt Nam cần phải quyết định dứt khoát.

Ngỏ lời với Đài Á Châu Tự Do sau khi đã kết thúc phần nói chuyện của mình, tiến sĩ Trần Trường Thủy, giám đốc điều hành Cơ Quan Nghiên Cứu Biển Đông của Việt Nam:

Tôi nghĩ nó rất quan trọng ở góc độ là tiếp tục đưa được vấn đề Biển Đông để cho thế giới quan tâm mà nhất là phia Mỹ, và qua đấy có thể anh hưởng đến công luận nói chung, ảnh hưởng đến giới nghiên cứu cũng như giới hoạch định chính sách, điều này ảnh hưởng rất lớn đến chính sách của các nước và thực tế qua đấy gởi tín hiệu đến các bên liên quan, nhất là Trung Quốc, phải có hoạt động phủ hợp với lợi ích của cộng đồng quốc tề nói chung.

Hội nghị thường niên lần năm về biển Nam Trung Hoa kéo dài từ sáng đến chiều, có phần diễn văn đúc kết với những lời khuyến cáo nghiêm khắc từ các học giả hoặc chính khách Mỹ như giáo sư John Norton Moore giám đốc Trung Tâm Luật Và Chính Sách Biển thuộc phân khoa Luật đại học Luật Virginia, dân biểu Randy Forbes, chủ tịch tiểu ban chuyên trách biển và cũng là chủ tịch ủy ban quân vụ trong hạ viện Hoa Kỳ.

Vào giờ trưa trong các diễn giả có mặt ông Daniel Russel Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á – Thái Bình Dương. Trả lời một học giả đến từ Trung Quốc ông Daniel Russel khẳng định rằng Hoa Kỳ không đứng về phía nào trong tranh chấp này, tuy nhiên sự không ngã về bên nào ấy chỉ có ý nghĩa đứng giữa trước các bên tranh chấp, tuyệt nhiên không phải là đứng hẳn bên ngoài nhìn sự tranh chấp diễn ra.

Ông Daniel Russel cho biết Hoa Kỳ mong muốn các tranh cãi phải được giải quyết bằng các giải pháp ngoại giao và dựa trên luật pháp quốc tế. Hoa Kỳ không chấp nhận bất cứ sự hăm dọa hay cưỡng ép nào giữa một nước này đối với nước khác.

Ông Daniel Russel cũng nhắc lại việc bồi đắp các đảo mà Trung Quốc đã và đang tiến hành là hành động trái phép ở Biển Đông và điều đáng lo ngại hơn là Trung Quốc tiến hành việc bồi đắp, xây dựng này với tốc độ nhanh chưa từng thấy.

Thanh Trúc tường trình từ Washington.

Những Tín Hiệu Gửi Từ Kon Tum

Những Tín Hiệu Gửi Từ Kon Tum

Sổ Tay Thượng Dân K’ Tien

RFA

Khi bọn bành trướng Bắc Kinh tràn sang hồi năm 1979, một bộ phận không nhỏ dân tộc thiểu số, sống ở vùng biên giới, đã đồng loạt ngả theo, làm tay sai cho ngoại bang. Ðó chính là hậu quả của chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc.

Lý Hồng Xuân

Kon Tum và Pleiku, nhìn trên bản đồ, giống y như hai thành phố (chị em) nằm kề cạnh bên nhau. Tuy thế, “đường tình duyên” của hai “kiều nữ” này lại không chạy song song mà đi theo chiều hoàn toàn trái ngược.

Kon Tum tựa một cô gái không mặn mà nhan sắc. Thiên hạ chỉ biết đến có mỗi em Pleiku má đỏ môi hồng (thôi) theo như cách tán tụng của Phạm Duy, qua thơ của Vũ Hữu Định:

Phố núi cao phố núi đầy sương
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn

Anh khách lạ đi lên đi xuống

May mà có em đời còn dễ thương

Em Pleiku má đỏ môi hồng

Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông

Nên mắt em ướt và tóc em ướt

Nên em hiền như mây chiều trong

Xin cảm ơn thành phố có em

Xin cảm ơn một mái tóc mềm

Mai xa lắc trên đồn biên giới

Còn một chút gì để nhớ để quên

Pleiku còn được cả nước “nhớ mãi” qua hai câu thơ của Bút Tre:

Anh đi công tác Pờ-lây

Cu dài dằng dặc biết ngày nào ra

Kon Tum không có cái duyên tương tự với thơ văn nên dù phố núi cũng cao, phố xá cũng gần (và chắc chắn cũng có vô số những mái tóc rất mềm) nhưng vì thiếu bước chân của thi nhân nên … chả khiến ai nhớ thương, hay bâng khuâng gì ráo trọi.

Có người mới chỉ nghe tên địa danh Kon Tum (lần đầu) qua “Bài Giảng Mùa Chay” của linh mục Nguyễn Văn Đông, tại nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, vào ngày 4 tháng 3 năm 2001 :

“ Tôi xin tự hào khoe rằng, xứ tôi phụ trách cái gì cũng nhất, lớn nhất, có người dân tộc đông nhất, có nhiều đồng bào từ khắp mọi miền về nhiều nhất, có nhiều rừng núi nhất và nghèo nhất.”

Người cùi ở Kontum. Ảnh: Kontum Missionary and Friendship

Không chỉ là nơi “nghèo nhất,” Kon Tum còn là nơi bệnh nhân phong cùi đông nhất – và bị quên lãng một cách tệ hại nhất, giữa núi rừng heo hút – vẫn theo như lời của linh mục Nguyễn Văn Đông:

“Có lần, anh chị em có biết là tôi lội bộ 12 cây số để vào thăm một buôn người dân tộc, họ có tục lệ là đối với người bị phong cùi, làng sẽ cất nhà riêng trong rừng cho ở, không cho ở chung. Mà đồng bào nghèo quá, khổ quá, nên ngay cái nhà họ ở đã không ra cái gì, giờ thì lại cất nhà cho người cùi ở, thật là không gọi là nhà, phải gọi là ổ mới đúng, chỉ một mùa mưa đã nát. Mỗi lần đến thăm họ, tôi phải cúi đầu lom khom mới vào ‘nhà’ họ được. Thấy tôi đến họ mừng lắm anh chị em à. Họ cứ nhìn tôi họ cười, họ nói Bab đến thăm con là quý lắm, mừng lắm. Họ cười mà tôi khóc anh chị em ơi.”

Kon Tum còn khiến cho thiên hạ ứa nước mắt, hay “sửng sốt” (theo như nguyên văn cách dùng chữ của phóng viên VnExpress) vì cách qua sông của cư dân ở địa phương này:

“Nhớ lại, hồi tháng 5 năm 2010, chúng ta cũng từng sửng sốt khi báo chí đăng tải hình ảnh những người dân ở một làng không tên tại Đắk Nông, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum vượt sông Pô Kô bằng cách… đu dây.”

Đưa con đến trường. Ảnh: Tuổi Trẻ

Học sinh vượt sông Pô Kô. Ảnh: Tuổi Trẻ

Và mới đây, Kon Tum vừa “bị” tất cả các cơ quan truyền thông trong nước nhắc đến với rất nhiều … phẫn nộ:

– “Bắt Ba Đối Tượng Ném Đá Xe Khách” – Báo Nhân Dân 2/7/2015

– “Sẽ Khởi Tố Các Đối Tượng Ném Đá Vào Xe Khách Ở Kon Tum” –  Báo Tiền Phong 3/07/2015.

– “Phó Thủ Tướng Yêu Cầu Xử Nghiêm Những Vụ Ném Đá Xe Khách” – Báo Pháp Luật 3/07/2015.

– “Kon Tum: Kiên Quyết Làm Rõ Vụ Việc Và Xử Lý Nghiêm Các Đối Tượng Có Hành Vi Ném Đá Vào Xe Ôtô Khách”  – Tin Tây Nguyên 04/07/2015.

Riêng báo Giao Thông, tiếng nói của BGTVT, còn có bản tin (“Công An Mật Phục Bắt Gọn 5 Đối Tượng Chuyên Ném Đá Xe Khách”) đọc cứ như là chuyện phim trinh thám vậy:

Công an huyện Đăk Glei đã chỉ đạo, bố trí lực lượng mật phục, xác minh các đối tượng khả nghi. Qua đó, Công an huyện Đăk Glei đã xác định được 5 đối tượng là A Huấn (SN:2001), A Dũng (SN 2000), A Tùng (SN 2001), A Mười (SN 1999), A Khê (SN 2002) đều trú tại thôn Brông Mỹ, xã Đăk Môn khả nghi nhất. Qua đấu tranh, 5 đối tượng này đã khai nhận hành vi ném đá vào xe khách rạng sáng 1/6 sau khi đã uống rượu.

Ảnh: Báo Lao Động

Tôi xem tên tuổi, và hình ảnh sáu “đối tượng” mà lực lượng công an Kon Tum đã “bố trí lực lượng mật phục” để “bắt gọn” mà không nén được một tiếng … thở dài! Tất cả đều là những trẻ em bản địa, và trông hoàn toàn không có vẻ gì dính dáng đến rượu chè cả. Vóc dáng còi cọc của các em cũng khiến tôi ta chợt nhớ ra rằng Kon Tum là một trong 16 địa phương đã nộp đơn xin chính quyền trung ương cung cấp gạo cứu đói hồi đầu năm nay, năm 2015.

Thống kê (năm 2012) của Sở LĐ-TB&XH tỉnh Kon Tum cho biết:

Toàn tỉnh  có 183.148 trẻ em trong độ tuổi từ 0-16 tuổi, chiếm 39,7% tổng dân số; trong đó khoảng 25.643 em có hoàn cảnh đặc biệt (2.037 em khuyết tật, tàn tật; 2.169 em mồ côi không nơi nương tựa; 1.147 em bị tai nạn thương tích; hàng trăm em bị dị tật bẩm sinh hoặc bị bệnh hiểm nghèo…). Ngoài ra còn có trên 80.000 em sống trong diện hộ nghèo, hộ cận nghèo… cần được quan tâm, hỗ trợ về mọi mặt.

Thảo nào mà ở Kon Tum tệ đoan xã hội và trộm cắp … như rươi – theo như tổng kết tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh trong phiên họp (vào ngày 3 tháng 7 năm 2015) vừa rồi của ngành công an:

Qua 15 ngày đã phát hiện 22 vụ phạm pháp, trong đó giết người 02 vụ, cố ý gây thương tích 03 vụ, trộm cắp tài sản 11 vụ, cưỡng đoạt tài sản 01 vụ, trộm cắp + cưỡng đoạt tài sản 01, vận chuyển lâm sản trái phép 01 vụ, mua bán tàng trữ trái phép chất ma túy 03 vụ,… Cơ quan cảnh sát điều tra các cấp đã khởi tố 26 vụ – 34 bị can, hoàn thành hồ sơ chuyển Viện kiểm sát đề nghị truy tố 10 vụ – 20 bị can. Qua công tác bắt giam giữ, các lực lượng nghiệp vụ đã bắt 16 đối tượng (trong đó bắt tạm giam 10, bắt quả tang 05, bắt khẩn cấp 01), bắt và vận động đầu thú 07 đối tượng có Quyết định truy nã.

Nhà Rông Kon Tum năm 1898. Nguồn Ảnh: kontumquetoi

Kon Tum (nói riêng) hay Tây Nguyên (nói chung) không băng rã và tan nát qua đêm. Cũng không phải trong một sớm một chiều mà mảnh đất này (bỗng dưng) biến thành một nơi “lý tưởng” cho tội phạm sát nhân, trộm cắp, cưỡng đoạt tài sản, vận chuyển lâm sản trái phép, hay mua bán tàng trữ chất ma túy … Nhà văn Nguyên Ngọc đã lên tiếng cảnh báo về những bất ổn trong cách “phát triển” của Tây Nguyên tự lâu rồi:

1. Dân số Tây Nguyên tăng nhanh, đột ngột, với cường độ lớn… Đầu thế kỷ XX, các dân tộc bản địa chiếm 95% dân số. Đến năm 1975, tỷ lệ này là 50%. Hiện nay người bản địa chỉ còn 15-20% trên toàn địa bàn…

2. Sự tan vỡ của làng Tây Nguyên. Từ sau năm 1975, quyền sở hữu tập thể truyền thống của cộng đồng làng đối với đất và rừng nghiểm nhiên bị xoá bỏ, tất cả đất và rừng đều bị quốc hữu hoá. Như đã thấy ở trên, quyền sở hữu này chính là nền tảng vật chất, kinh tế của làng ; bị bứng mất đi nền tảng này, làng, tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên, tất yếu tan vỡ…

3. Môi trường bị tàn phá nghiêm trọng. Cho đến nay, trừ một vài vùng nhỏ như một ít khu vực quanh núi Ngok Linh, vùng Komplong…, có thể nói về cơ bản rừng Tây Nguyên đã bị phá sạch, hậu quả về nhiều mặt không thể lường.

4. Người bản địa bị mất đất. Việc mất đất, không phải trong một xã hội bình thường mà là từ tay người dân tộc bản địa sang tay người nơi khác đến là người Việt, đã khiến vấn đề đất đai trở thành vấn đề dân tộc. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp của sự mất ổn định nghiêm trọng đã và đang diễn ra ở Tây Nguyên.

5. Văn hoá Tây Nguyên bị mai một. Việc mất rừng, tan vỡ của làng, cơ cấu dân cư bị đảo lộn lớn và đột ngột, người bản địa bị mất đất và mất gốc rễ trở thành lang thang trên chính quê hương ngàn đời của mình… tất yếu đưa đến đổ vỡ về văn hoá.

Nhà Thờ Gỗ Kon Tum năm 1967. Nguồn Ảnh: kontumquetoi

Tuy thế, trong phiên họp của Hội Đồng Nhân Dân tỉnh Kon Tum (kỳ họp lần thứ 10, khóa X, nhiệm kỳ 2011-2016, tổ chức vào hai ngày 8 và 9 tháng 7 năm 2015) không một giới chức nào lên tiếng về chuyện thiếu đói, tệ trạng xã hội, và những mất mát cùng thua thiệt của sắc dân bản địa tại đây. Chỉ có mỗi “Vấn Đề Ném Đá Xe Khách Làm ‘Nóng’ Kỳ Họp HĐND Tỉnh Kon Tum” mà thôi – theo như cách đưa tin của Thông Tấn Xã Việt Nam:

Tại kỳ họp này, vấn đề ném đá xe khách được nhiều đại biểu quan tâm vì trong 2 tháng qua, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 11 vụ ném đá lên các phương tiện giao thông ở 4 huyện, thành phố trong tỉnh gồm Đăk Glei, Đăk Tô, Đăk Hà và thành phố Kon Tum.

Tại kỳ họp, các đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh đều khẳng định việc ném đá trên là hành vi nguy hiểm cần được ngăn chặn. Các vụ ném đá đã gây tâm lý bất an đối với lái xe và hành khách đi trên xe, đồng thời ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn…

Truyền thông, báo chí nhà nước, cũng như  Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh đều đồng tình làm ngơ trước những vấn nạn đau lòng của Kon Tum. Từ trung ương, Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng chỉ “yêu cầu phải xử lý nghiêm những vụ ném đá xe khách” chứ không bận tâm đến bất cứ chuyện gì khác nữa.

Sự vô tâm này chỉ mang lại cho mọi người sự an lòng nhất thời và giả tạo. Rồi ra, tất cả chúng ta – Kinh cũng như Thượng – sẽ phải trả giá rất không rẻ vì thái độ “giả ngây” này.

Đã có những biến động lớn ở Tây Nguyên vào năm 2001, 2004, và ở Mường Nhé năm 2011. Sẽ còn nhiều biến động khác nữa, trong tương lai gần, khi những tín hiệu gửi đi (bằng đá) từ những vùng đất này không được “giải mã” một cách nghiêm trang, và đứng đắn.

Ngày 9 tháng 7 vừa qua, báo Giáo Dục lại vừa loan tin nóng: “Trung Quốc Rót Tiền Cho Campuchia Làm Đường Đến Biên Giới Giáp Việt Nam.” Khi bị gạt ra bên rìa cuộc sống, và “buộc phải lang thang trên chính quê hương ngàn đời của mình” thì người ta không chỉ cầm đá mà còn sẵn sàng cầm súng, nếu có. Và vũ khí – từ nước lạ, nay mai – rất có thể sẽ được tuồn vào Tây Nguyên, theo biên giới phía Tây.

“Khi bọn bành trướng Bắc Kinh tràn sang hồi năm 1979, một bộ phận không nhỏ dân tộc thiểu số, sống ở vùng biên giới, đã đồng loạt ngả theo, làm tay sai cho ngoại bang. Ðó chính là hậu quả của chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc.” (Lý Hồng Xuân. Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn. Văn Nghệ: California 2000,177).

Bằng cách này hay cách khác, chắc chắn, “Bọn bành trướng Bắc Kinh” cũng sẽ tìm cách “tràn sang” lần nữa. Dù vậy, “những chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc” thì mỗi lúc lại càng “sai lầm” tệ hại hơn!

Xót xa chuyện dân mình học sử

Xót xa chuyện dân mình học sử

Khu tượng đài Quang Trung tại Gò Đống Đa.

Khu tượng đài Quang Trung tại Gò Đống Đa.

Cao Huy Huân

21.07.2015

Mấy bữa nay báo chí và dư luận Việt Nam sôi nổi lên tiếng về việc nhiều em học sinh, thậm chí là các bạn thanh niên, khi được hỏi về Nguyễn Huệ (lên ngôi vua lấy hiệu là Quang Trung), đã trả lời Nguyễn Huệ và Quang Trung là… hai anh em; hai bố con. Có em còn hồn nhiên cho là  “Quang Trung là tên hiệu của…Trần Quốc Tuấn”. Không ai xem đoạn clip mà không khỏi bàng hoàng, chỉ biết “cười ra nước mắt”. Đoạn clip phỏng vấn chỉ chừng chục em, nhưng gần như 100% các em đều trả lời sai một cách thậm tệ. Nếu các nhà báo phỏng vấn thêm vài chục, vài trăm em nữa, có lẽ dân mình cũng không có đủ nước mắt để… cười.

Tiên trách kỷ hậu trách nhân

Dư luận chẳng nên phí công bàn tán, thảo luận và “truy tìm” người chịu trách nhiệm. Có người trách các bạn trẻ bây giờ quá vô tâm, vô tình, học hành không đến nơi đến chốn. Nhưng thiết nghĩ “tiên trách kỷ”, tức trách nhiệm phải quy về việc giáo dục, dạy bảo con người. “Quang Trung và Nguyễn Huệ là hai anh em; hay hai cha con; hay hai đồng chí, đồng đội với nhau” chính là tác hại của một nền giáo dục nhồi nhét, nhồi nhét và nhồi nhét vô tội vạ.

Báo chí, chuyên gia, dư luận đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực và phát biểu để cảnh báo vấn nạn học thuộc lòng, học vẹt, học cho có nhiều chữ trong bụng (chứ không phải có sự nhạy cảm về kiến thức, biết tiếp thu đúng đắn kho tàng tri thức của thế giới) trong nền giáo dục Việt Nam. Rõ ràng các em được học về Quang Trung-Nguyễn Huệ từ tiểu học, rồi cấp hai và cuối cùng là cấp ba. Đó là chưa kể hàng loạt các hoạt động ngoại khóa, thi cử…liên quan đến cái tên Quang Trung-Nguyễn Huệ. Các em “được” học nhiều là thế, được dạy nhiều là thế để rồi trả lời sai đến bất ngờ, hay “không biết” khiến người thấy phải ái ngại, xót xa cho nhiều thế hệ trẻ chỉ biết gồng gánh trên vai chiếc cặp nặng trĩu sách vở, còn cái đầu thì… trống rỗng.

Ngồi bàn giấy soạn lịch sử

Tôi không nói ngoa. Nếu hỏi mấy em về Tần Thủy Hoàng, Tam Quốc Diễn Nghĩa, Lý Thế Dân hay các phim cổ trang Trung Quốc, không chừng các em còn thuộc lòng và nhớ rõ hơn rất nhiều so với “thảm kịch” môn lịch sử mà chúng ta chứng kiến. Nghĩ đến đây, lòng đã cay đắng càng thấy cay đắng hơn.

Nhưng đã nói đi thì cũng phải nói lại. Tại sao dân Việt lại rành lịch sử Trung Quốc đến thế? Tại sao nhiều thanh niên ngày càng rành về văn hóa Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ… thay vì những nét văn hóa “đậm chất truyền thống” nhưng hoàn toàn có khả năng hội nhập của Việt Nam? Đơn giản là vì những quyển sách được biên soạn ra, phần nhiều hướng các em đến việc học kiến thức chứ không phải truyền thụ đam mê. Hãy nhìn cách các em soạn đề cương và học thuộc lòng thâu đêm trước ngày thi; hãy nhìn cách kiểm tra miệng trước lớp dù là học sinh tiểu học hay học sinh trung học phổ thông; hay đơn giản hơn, hãy nhìn những đề kiểm tra theo kiểu “hãy nêu lại các mốc lịch sử của cuộc chiến tranh chống Xiêm, chống Thanh”… Tất cả chẳng gì ngoài học vẹt.

Tôi nhớ có khi học sinh học mãi không thuộc, đành chấp nhận điểm zero dù em có khả năng nhìn ý nghĩa của câu chuyện lịch sử theo một cách nhìn độc đáo và đậm chất sáng tạo nhưng không sai lệch. Tôi nhớ những ngày bạn bè tôi phải khổ sở viết chi chít chữ nghĩa vào các tờ giấy, lên cả tay, chân hay lên cả đùi thông tin ngày tháng năm sinh của Quang Trung và thời gian những cuộc chiến của vị anh hùng dân tộc này diễn ra. Tôi nhớ cảnh các em học sinh phổ thông khi nhận tin “không thi tốt nghiệp môn sử” đã thẳng tay vứt hết sách sử ra ngoài cửa sổ, bất chấp những thứ mà các em được dạy là lòng tự hào dân tộc, yêu thương tổ quốc.

Cái mà các em học sinh cần ở môn sử, chính là sự kích thích tính tò mò, tính thỏa mãn thông tin phù hợp với bối cảnh các em đang sống (chứ không phải kiến thức chung chung chỉ để học thuộc lòng). Cái các em cần nữa chính là những bài học cách đây hàng trăm năm nhưng vẫn có ý nghĩa với chính bản thân các em hiện tại. Và các em cũng cần hiểu (chứ không phải thuộc) những dấu son lịch sử để có thể tự mình kể lại cho người khác nghe bằng tâm huyết, lòng tự hào và niềm đam mê. Muốn thế, các em “không cần” những quyển sách chỉ toàn là chữ nghĩa và mang tính khuôn sáo; thay vào đó là những bộ sách giáo khoa nhẹ nhàng về dữ liệu tin nhưng phải rõ ràng về mục tiêu, về ý đồ, về thông tin cần thiết, kết hợp với phương tiện (phim ảnh, bản đồ,…) hỗ trợ thật sự đắc lực cho việc tìm hiểu về một nhân vật hay một sự kiện lịch sử.

Giáo viên sử vẫn rất ì ạch

Nếu một bộ sách khô cứng và nặng phần kiến thức giết chết sự hứng thú của các em, thì một đội ngũ giáo viên dạy sử cũng như những “con vẹt” góp phần dập tắt tất cả niềm hi vọng. Tôi nhớ mãi hình bóng của không ít thầy cô dạy sử gắn liền với cái ghế trên bục giảng, đọc để các em chép và yêu cầu học thuộc lòng. Đó là chưa kể rất nhiều thầy, cô dạy sử quên mất cái thiên chức của họ là truyền tải niềm đam mê, chứ không phải là đọc chép, và kiểm tra. Họ bảo “giáo viên dạy sử nghèo” và tự cho mình cái quyền ít tâm huyết hơn những giáo viên dạy toán, dạy lý, dạy hóa hay dạy tiếng Anh.

Thay vì họ tìm ra những sáng kiến để các em nhỏ thích học sử, thì phần đông giáo viên chấp nhận dừng lại ở chuyện “đọc-chép” không hơn không kém. Để rồi các em học về vua Quang Trung cũng chẳng biết ở đất Sài Gòn, Huế, hay Hà Nội… có nơi nào có đền thờ vua Quang Trung; tầm vóc nhân vật ra sao; tại sao lại tôn vinh nhân vật ấy; hay tại sao vị vua này được cả thế giới nhắc tên. Giáo viên mãi mê trả lời câu hỏi “cái gì?” mà chẳng bao giờ kích thích các em hỏi “tại sao?” hay “như thế nào?” – những câu hỏi gợi mở rất nhiều điều thú vị trong môn sử. Và rồi sản phẩm “học sinh giỏi cấp quốc gia” môn sử cũng chỉ dừng lại ở những em may mắn được trời phú cho một trí nhớ tốt (khi còn trẻ), để rồi dần trở nên mai một và yếu đuối khi về già.

Xin hãy nhìn sang các nước bạn dạy sử để rồi còn học hỏi. Các em học 1 tiết lý thuyết sẽ có 1 tiết thực hành. Đó là khi các em được tự do phát biểu quan điểm, ý kiến của mình về nhân vật hay sự kiện lịch sử để rồi cùng giáo viên thảo luận; Đó là khi các em được nói “em ngưỡng mộ nhân vật lịch sử” nào đó để rồi được giáo viên bồi dưỡng thêm thông tin và cách tiếp cận vấn đề; đó là khi các em được đến các viện bảo tàng để học về chiến tranh lạnh, chiến tranh thế giới, chiến tranh Việt Nam thay vì ngồi trong lớp và học bằng trí tưởng tượng.

Xin những người soạn sách lẫn người giảng dạy hãy thật sự nghiêm túc với môn sử trước khi yêu cầu các em học sinh phải đam mê một môn học đang trở nên đang nhàm chán và khô cứng ở Việt Nam.

Truyền thông nhà nước thiếu tính cách thuyết phục hay bưng bít?

Truyền thông nhà nước thiếu tính cách thuyết phục hay bưng bít?

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-07-22

07222015-stae-media-fail-to-persua.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

 

DPA không cải chính vẫn giữ tin đã đưa của mình, nhưng đưa thêm tin Việt Nam bác bỏ tin tướng Thanh đã chết.

DPA không cải chính vẫn giữ tin đã đưa của mình, nhưng đưa thêm tin Việt Nam bác bỏ tin tướng Thanh đã chết.

Screenshot

Truyền thông Nhà nước Việt Nam trong những ngày qua trích phát biểu của các tướng lĩnh trong nước nhằm bác bỏ tin mà hãng thông tấn Đức DPA loan đi hôm chủ nhật 19 tháng 7 cho biết bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh đã qua đời khi đang được chữa bệnh tại Pháp.

Tuy nhiên những người quan tâm hầu như không tin tưởng váo tin tức của báo chí trong nước vì họ cho rằng những bản tin đó thiếu tính thuyết phục.

Báo chí chính thống không đáp ứng nhu cầu thông tin của dân!

Tin tức về tình hình bệnh tật của hai vị quan chức Việt Nam trong thời gian gần đây là ông nguyên trưởng ban nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh vào đầu năm và bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh trong những ngày qua đều do các trang mạng loan tải trước. Sau đó hệ thống truyền thông trong nước mới vào cuộc nhằm bác bỏ những tin tức loan truyền trên các mạng xã hội.

Về vấn đề đưa tin của hệ thống truyền thông chính thống mà thống kê nói hiện lên đến chừng 800 đơn vị trong nước được nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng nhận xét như sau:

“ Cách đưa tin là đưa tin lừa dối ví dụ như vụ ở Cẩm Giàng xe ủi đè lên người dân mà từ chính quyền đến công an đều bai bãi chối không có chuyện đó. Hay vụ chặt cây ở Hà Nội vô cùng nghiêm trọng tàn phá môi trường mà nói là việc rất nhỏ và báo chí không đưa sự thật, toàn đứng về phía chính quyền để bưng bít thông tin, che giấu sự thật.

Thành ra bây giờ thông tin mạng, thông tin lề dân thắng thế là do đó tức báo chí chính thống, báo chí lề đảng đã bỏ trận địa, bỏ vị trí của mình là thông tin trung thực; cho nên người dân không chờ đợi, không đọc tin của chính thống nữa mà bắt buộc người ta phải tìm đến thông tin mạng. Và thông tin mạng vừa trung thực, vừa nhanh mà báo chí chính thống bao giờ cũng chậm. Bây giờ báo chí chính thống thua toàn diện đối với thông tin lề dân rồi.”

Nhà báo Phạm Thành, người trước kia cũng từng tham gia hệ thống truyền thông Nhà nước, có cùng đánh giá như của nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng về cách thức đưa tin của báo chí chính thống ở Việt Nam như sau:

“ Bây giờ thông tin mạng, thông tin lề dân thắng thế là do đó tức báo chí chính thống, báo chí lề đảng đã bỏ trận địa, bỏ vị trí của mình là thông tin trung thực; cho nên người dân không chờ đợi, không đọc tin của chính thống nữa mà bắt buộc người ta phải tìm đến thông tin mạng

Nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng”

“ Báo chí chính thống Việt Nam có thể trả lời ngay là không đáp ứng được nhu cầu thông tin của người dân đâu.

Cách đưa tin về ông Phùng Quang Thanh mất cũng giống hệt như những vụ họ đưa tin về những nhân vật trọng yếu bị tử nạn hay bị bệnh hay vì một nguyên nhân nào đó. Họ đưa tin một cách mập mờ và tất nhiên có chủ đích của họ. Họ đưa tin theo một kịch bản nào đó đã soạn sẵn, tính toán sẵn để đưa lên chứ hoàn toàn không đưa tin theo sự thật. Đó là căn bệnh trầm kha của các chế độ cộng sản nói chung và chế độc cộng sản Việt Nam nói riêng. Họ đưa tin như vậy thôi. Có thể nhìn lại vụ ông Nguyễn Bá Thanh chẳng hạn: ông ấy chết rồi mà mấy ông ở Ban Bảo vệ Sức khỏe Trung ương như ông Nguyễn Quốc Triệu, Phạm Gia Khải vần cứ nói anh ấy đã chữa bệnh, đã khỏe lên, đã ăn cháo, đã đi lại, thậm chí còn trích cả lời của anh Thanh ‘tôi vẫn khỏe, có chi mô!’. Nhưng thực ra một thời gian ngắn sau thì đưa xác ông về và chôn.

Họ cứ đưa tin có chủ đích, có lợi cho họ thôi chứ không tôn trọng sự thật. Họ không đi tìm hiểu đích thực sự việc để đưa. Tóm lại họ vẫn nói dối và xuyên tạc sự thật. Nên nhớ trong giáo trình của đảng dạy cho tất cả những người làm công tác tuyên truyền, dạy cho tất cả các đảng viên già hay trẻ câu nằm lòng như thế này ‘nói sai mà có lợi cho đảng thì được nói, và phải nói, nói nhiều còn nói đúng mà có hại cho đảng thì không được nói’.”

Linh mục An tôn Lê Ngọc Thanh, người lâu nay cũng tham gia làm báo ngoài hệ thống Nhà nước nói về cách thức đưa tin lâu nay của truyền thông ‘chính thống’ của Việt Nam:

“ Thật ra cách làm báo của Việt Nam chắc chắn không đáp ứng được nhu cầu của dân thông tin chính xác về ông đại tướng Phùng Quang Thanh, bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Nhưng trong thực tế phải thấy rằng họ không thể làm khác được vì mọi sự của họ đăng gì, không đăng những gì liên quan đến những vị ở cấp bậc bộ trưởng trở lên phải được Bộ Chính trị cho phép; tức phải được chính Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo trực tiếp và thậm chí đưa ra bài mẫu để họ dựa trên đó họ viết; chứ họ không thể thu thập nguồn thông tin độc lập hoặc có nguồn thông tin độc lập để có thể cung cấp cho dân chúng. Đây là tình trạng mà chúng ta nhớ xảy ra ở kỳ đổi tiền cách đây 30 năm: đêm hôm trước còn nói không đổi tiền mà sáng hôm sau đổi tiền! Họ cứ đổ thừa đó là do việc của Ban Tuyên giáo chỉ đạo như vậy và họ là báo công cụ nên làm như vậy.

Do vậy dân chúng cũng không nên kỳ vọng gì nơi báo chí lề đảng cả bởi vì thực tế nó chỉ làm công việc tuyên truyền và công cụ của nhà cầm quyền mà thôi.”

Thiếu tính thuyết phục

Trong vụ việc của bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh hiện nay báo chí trong nước trích dẫn phát biểu của phó tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, trung tướng Võ Văn Tuấn, cũng như của tướng về hưu Nguyễn Quốc Thước. Trung tướng Võ Văn Tuấn thì khẳng định sức khỏe của ông Phùng Quang Thanh đã hồi phục và cuối tháng 7 này sẽ về nước. Tướng Võ Văn Tuấn còn được báo chí trong nước trích dẫn nói là hãng tin đức DPA có tiếp xúc với Bộ Quốc Phòng Việt Nam để xin lỗi về bản tin ông Phùng Quang Thanh đã chết. Còn tướng Nguyễn Quốc Thước được trích dẫn nói có nói chuyện trực tiếp qua điện thoại với với thư ký của ông ta khi có ông ngồi bên cạnh.

“ Nên nhớ trong giáo trình của đảng dạy cho tất cả những người làm công tác tuyên truyền, dạy cho tất cả các đảng viên già hay trẻ câu nằm lòng như thế này “nói sai mà có lợi cho đảng thì được nói, và phải nói, nói nhiều còn nói đúng mà có hại cho đảng thì không được nói”

Nhà báo Phạm Thành”

Tuy nhiên những người quan tâm trong nước đều nêu thắc mắc tại sao lại không có một hình ảnh nào của ông Phùng Quang Thanh đưa lên truyền thông để chứng minh cho các phát biểu là ông đã hồi phục sau khi phẫu thuật khối u ở phổi tại một bệnh viện bên Pháp.

Nhà báo Phạm Thành nói về điều này:

“ Trong khi họ nói ông này vừa mổ ( xong), rồi ngồi dậy nói chuyện mà không đưa ra một hình ảnh: vật chứng cụ thể chứng tỏ ông Thanh vẫn còn đang sống trên đời này. Như tướng Thước nói vừa gọi điện nói chuyện với thư ký và có ông Thanh bên cạnh; đó là một cách nói mà không đưa ra được bằng chứng cụ thể ông Thanh đang ngồi đây, đang sống ở đây!”

Sự thật không thể che dấu

Theo linh mục Lê Ngọc Thanh thì trong hệ thống báo chí Nhà nước cũng có một số nhà báo có tấm lòng và họ cũng tìm cách để đưa thông tin sự thật đến cho phía gọi là ‘lề trái’, tức ngoài hệ thống của Nhà nước.

Nhà báo Phạm Thành thì cho rằng những cách đối phó lâu nay của truyền thông chính thống trước những tin tức bị phanh phui sẽ không thể nào hữu hiệu bởi sự thật thì không bao giờ có thể che giấu.

Hầu hết những người được chúng tôi nêu câu hỏi về tình hình báo chí trong nước đều cho rằng trong xu thế bùng nổ thông tin trên mạng Internet hiện nay thì việc bưng bít thông tin và tuyên truyền như cũ là phản tác dụng. Nhiều người dân ngày càng trưởng thảnh hơn khi đón nhận được những thông tin sự thật được đưa ra từ các trang mạng xã hội.

Ngả mũ với ông Phùng Quang Thanh

Ngả mũ với ông Phùng Quang Thanh

Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Trong cuốn Đèn Cù, nhà văn Trần Đĩnh kể lần đầu từ Hà Nội vào Sài Gòn ông chứng kiến một cảnh khiến ông suy nghĩ: Một đám tang đi qua, một thanh niên đứng bên đường dừng chân lại, bỏ mũ, cúi đầu. Lâu lắm Trần Đĩnh mới được thấy cảnh đó, dấu hiệu của một xã hội biết giáo dục trẻ em.

Trước năm 1954 trẻ em ở Hà Nội vẫn được dậy cử chỉ đó: Dừng chân, ngả mũ, để tỏ lòng kính trọng thi hài người đã chết. Vì vậy, khi viết về chuyện Tướng Phùng Quang Thanh đã chết hay chưa chết, đang gây dư luận sôi nổi, tôi xin theo lời các thầy giáo, huynh trưởng dạy mình từ thuở bé. Xin bỏ mũ trước. Nếu ông đã qua đời tôi cũng không thất lễ.

Trước khi nghe tin ông Phùng Quang Thanh tạ thế, nhà báo Phạm Chí Dũng đã nhận xét trên Người Việt rằng những tin tức trong vụ ông đi chữa bệnh quá nhiều mâu thuẫn. Báo chí nhà nước Việt Nam đăng hình Tướng Phùng Quang Thanh chụp với bộ trưởng Quốc Phòng Pháp, nhưng không loan tin tướng Thanh nói chuyện gì, ông làm gì ở Pháp. Phạm Chí Dũng nhận xét trong cả tháng qua, “Trên báo Nhân Dân và đặc biệt Quân Đội Nhân Dân là cơ quan ngôn luận của Bộ Quốc Phòng Việt Nam, người ta không thể tìm ra dấu vết hiện diện của viên tướng bốn sao.” Và, “Cùng với sự thay đổi đồng loạt hai cấp tướng tư lệnh và chính ủy của Bộ Tư Lệnh Quân Khu Thủ Đô vào đầu Tháng Bảy, 2015, tức chỉ ít ngày sau khi tướng Phùng Quang Thanh – người chịu trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp khối đơn vị vài chục ngàn quân này – bị MIA.” MIA nói về các quân nhân mất tích, không tìm thấy xác.

Ngày Chủ Nhật, 19 Tháng Bảy, hãng thông tấn Đức Deutsche Presse-Agentur (DPA) loan tin ông Thanh đã qua đời tại bệnh viện Georges Pompidou vào tối hôm đó; họ dựa vào một nguồn tin của một nhân viên Bộ Quốc Phòng. Ngày hôm sau, Trung Tướng Võ Văn Tuấn, phó Tổng Tham Mưu Trưởng nói với các báo trong nước rằng tin này sai. Tướng Võ Văn Tuấn xác định, “…tôi gọi điện thoại cho đại tướng Phùng Quang Thanh vào chiều 19 tháng 7. Đại tướng nói chuyện nghe giọng rất thoải mái…” Hôm sau, hãng DPA làm tin mới, cho biết chính quyền Việt Nam đã cải chính rằng Tướng Phùng Quang Thanh còn sống. Nhưng hãng thông tấn này không viết một lời nào phủ nhận tin đã viết hôm trước. Bản DPA tin mới còn nói thêm rằng họ nhận được tin ông qua đời “từ bệnh viện,” để người đọc thấy chắc chắn hơn.

Tướng Võ Văn Tuấn dùng các báo nhà nước để cải chính bản tin của DPA. Nhưng tại sao không cải chính một cách mạnh mẽ, rõ ràng hơn? Tin ông bộ trưởng Quốc Phòng một nước còn sống hay đã chết là một tin khá quan trọng. Nếu sai, đáng lẽ chính Bộ Quốc Phòng phải cải chính, trong một cuộc họp báo; ít nhất cũng làm một bản thông cáo chính thức. Báo trong nước chỉ thuật lời Tướng Võ Văn Tuấn mà không kèm theo một bài phỏng vấn đầy đủ để được nghe ông trả lời rất nhiều thắc mắc trong dư luận cả tháng nay. Đúng như nhà báo Phạm Chí Dũng kết luận, đây là một “Thất bại của hệ thống tuyên giáo đảng.” Cả Đảng Cộng Sản bị mất mặt vì lúng túng ném ra những thông tin chậm trễ, mơ hồ, trái nghịch, chỉ trong câu chuyện một người “mất tích” không biết chết hay sống.

Nhưng “hệ thống tuyên giáo đảng” bị tội oan. Cảnh “tang gia bối rối” diễn ra do nhiều nguyên nhân phức tạp, ngoài khả năng của các ông bà tuyên giáo. Người sống bên ngoài cũng thấy trong vụ này tất cả Đảng Cộng Sản đang lúng túng, có thể nói cả nhóm lãnh đạo đang “kẹt cứng.” Chắc họ không biết phải “xử lý tình huống” cách nào, cho nên đành lộ cảnh tang gia bối rối, mất mặt cũng đành chịu.

Guồng máy tuyên truyền của đảng phơi bày tình trạng lúng túng này. Mạng Infonet và báo Một Thế Giới cho biết Tướng Võ Văn Tuấn đã “khẳng định” rằng hãng tin DPA đã “xin đính chính.” DPA không hề đính chính; cho nên, hoặc ông Võ Văn Tuấn nói dối, hoặc có người ra lệnh các báo trên nói dối. Thông tấn xã của nhà nước còn trâng tráo hơn, viết một điều hoàn toàn sai sự thật, “DPA đã cải chính về sức khỏe Bộ Trưởng Phùng Quang Thanh.”

Các thủ đoạn che đậy, gian dối, “cả vú lấp miệng em” trên đây đã tập huấn lâu đời. Thói quen nói láo đã thấm vào xương tủy Đảng Cộng Sản từ thời còn làm báo in thạch bản ở trong hang. Nhưng đem dùng thủ đoạn đó trong thời đại Internet, năm 2015, chỉ khiến người ta khinh. Bởi vì nếu Đảng Cộng Sản muốn chứng tỏ ông Phùng Quang Thanh còn sống thì họ chỉ cần trưng ra một tấm hình ông đang cầm trên tay tờ báo Le Monde xuất bản ngày 19 hay 20 Tháng Bảy – dù ông đủ sức khỏe đọc được báo hay không! Giản dị hơn nữa, là nhờ vợ con ông lên tiếng cải chính với hãng DPA – mà theo tin của nhà nước thì gia đình ông đã qua Paris săn sóc ông từ tháng trước. Tại sao cả gia đình không ai nói một câu nào khi cả nước bàn tán không biết chồng, cha của họ đã chết hay chưa? Họ đâu phải người rưng nước lã?

Không ai trong Đảng Cộng Sản cải chính theo cách giản dị này. Lý do vì nó nằm ngoài khả năng cả đám người cầm quyền. Họ không thể làm gì được. Hoặc vì ông Thanh đã qua đời rồi. Hoặc vì gia đình ông không cộng tác. Hoặc cả hai.

Nhưng nếu Tướng Phùng Quang Thanh thật đã mãn phần thì tại sao guồng máy Đảng Cộng Sản lại phải lúng túng che đậy, để người dân coi càng khinh, càng ghét như vậy?

Người ngoài không biết đủ các tin tức trong đảng của họ với nhau, cho nên chúng ta chỉ có thể suy diễn, dựa trên các sự kiện được tiết lộ.

Một điều ai cũng biết là trong cuộc tranh giành quyền lực chuẩn bị đại hội đảng sang năm, họ đang đấu đá nhau tận mạng. Riêng ông Phùng Quang Thanh và người con, một đại tá chủ tịch nhiều công ty, đã bị lôi lên mạng phơi bày đủ các trò lạm quyền, tham nhũng làm giàu. Ông Thanh cũng bị gắn cho nhãn hiệu một người “thân Trung Quốc.”

Ở Việt Nam, muốn chửi ai thì cứ bảo người đó theo đuôi Trung Cộng. Nhưng chúng ta biết rằng chẳng ai trong Đảng Cộng Sản dám cưỡng lại Trung Cộng. Toàn thể Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bị Trung Cộng thao túng từ Hội Nghị Thành Đô 1992 đến giờ; không ai có thể ngoi lên ghế lãnh đạo nếu cưỡng lại. Nước Việt Nam bị Trung Cộng lấn áp đủ mặt: kinh tế, quốc phòng, chính trị, ngoại giao. Nguyễn Tấn Dũng mới lên chức thủ tướng đã dâng cho Trung Cộng món quà Bô Xít. Trương Tấn Sang qua Tàu ký thỏa ước hợp tác đủ trăm ngành không thiếu thứ gì. Từ khi Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng thì hầu hết các món thầu lớn đều lọt vào tay các công ty Trung Cộng, đường sá, phi trường, hầm mỏ tới điện lực. Nguyễn Phú Trọng, Phùng Quang Thanh chưa ai lập được những công trạng đáng khen thưởng như vậy.

Tất cả Đảng Cộng Sản Việt Nam “thân Trung Quốc,” không anh nào thoát được, nếu muốn sống. Họ tranh giành nhau các chức quyền trong đảng; nhưng không thể bước ra ngoài vòng giới hạn Bắc Kinh vẽ ra. Nằm trong cái giọ đó, các con cua tha hồ chen chân đạp lên nhau. Lâu lâu có anh được phép nói những lời bất kính với thiên triều cho dân chúng xì hơi. Không sao, miễn khi làm việc anh cứ làm theo ý các cố vấn. Lâu lâu có anh lại nói một lời nịnh bợ, vì cả Bộ Chính Trị đang lo bị thiên triều “hiểu lầm.” Trò phân biệt hai phe, “thân Trung Quốc” và “chống Trung Quốc” là một ảo tưởng bày ra để ru ngủ dân chúng. Nhiều người cũng thích được ru ngủ, vì nghe sướng tai hơn sự thật. Họ có thể tự an ủi rằng trên đầu mình không phải chỉ toàn những thằng bán nước ngồi.

Vì vậy, các vụ đánh Phùng Quang Thanh trên mạng gần đây hoàn toàn do tranh giành quyền lực ở bên trong đảng với nhau. Nếu ông Thanh qua đời vì bệnh nan y thì cuộc giành giựt này vẫn tiếp tục, chắc còn gay go hơn. Bởi vì một người chết đi để lại nhiều thứ mà những người còn sống sẽ được dịp chia nhau. Nhiều đám tang từng bị trì hoãn, chỉ vì họ không biết chia chác di sản ra sao. Xác Tề Hoàn Công để thối trong cung, vì ba ngàn năm trước bên Tàu chưa có phòng lạnh.

Trong số di sản ông Thanh để lại, nếu ông qua đời, có các chức vụ ông đã giữ và tài sản ông nắm trong tay. Những người còn sống chưa “nhất trí” được với nhau sẽ chia chác ra sao. Tướng Phùng Quang Thanh rất nhiều quyền, Bộ Chính Trị, quân ủy, chính phủ; ông còn được coi là người giàu nhất nước Việt Nam, chỉ thua Nguyễn Tấn Dũng. Ông ký giấy mua các thứ vũ khí, máy bay, chiến hạm, tầu ngầm, vân vân. Công nghệ quốc phòng Nga nổi tiếng là bao giờ cũng hậu tạ các khách hàng. Ông giành toàn quyền sử dụng đất đai của quân đội hay được quân đội trưng dụng, rộng bát ngát khắp nước và nằm trên nhiều địa điểm kinh tế “chiến lược.” Nhiều khu đã được thương mại hóa hay biến thành cư xá sang trọng, con trai ông thường trúng thầu. Những tài sản này trị giá nhiều tỷ Mỹ kim, còn tiếp tục sinh lợi hàng thế kỷ nữa, chưa biết ai sẽ hưởng.

Trong các xã hội bình thường có luật pháp thì gia đình ông Phùng Quang Thanh sẽ được hưởng gia tài của ông. Nhưng xã hội Việt Nam không bình thường, từ cách tạo dựng tài sản, thủ đắc cho tới sử dụng tài sản. Đây có thể là một lý do khiến gia đình ông, nhất là những người đang ở Paris bên cạnh ông, trong mấy ngày qua không cộng tác với bộ máy tuyên truyền của đảng Cộng sản. Họ chưa biết Đảng Cộng Sản sẽ chia cho họ thế nào khi ông Phùng Quang Thanh ra đi, hay đã qua đời rồi. Đảng Cộng Sản cũng chưa trả lời dứt khoát được, vì ngay việc phân chia giữa họ với nhau cũng chưa ngã ngũ. Việc chia nhau di sản quyền và tiền ông Phùng Quang Thanh để lại cũng liên quan đến tất cả những cuộc mặc cả khác, trước khi đảng họp đại hội năm tới. Dù sao, khi nào được tin ông Phùng Quang Thanh qua đời chúng tôi sẽ ngả mũ lần nữa, cầu nguyện và mừng ông thoát được cõi ta bà đại hội này.

Nhiều ẩn số về tình trạng Đại tướng Phùng Quang Thanh

Nhiều ẩn số về tình trạng Đại tướng Phùng Quang Thanh

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-07-21

07212015-make-it-clear-Namngueyn.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Ảnh minh hoạ

Ảnh minh hoạ

File photo

Việt Nam có vẻ đã huy động các kênh truyền thông nhà nước để bác bỏ tin Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã chết. Tuy vậy phát biểu của Trung Tướng Võ Văn Tuấn, Phó Tổng Tham Mưu trưởng Quân đội nhân dân VN được cho là chưa đầy đủ, không trưng dẫn hình ảnh tướng Thanh trong thời gian chữa bệnh và hồi phục.

Chỉ cần một vài giây phút hình ảnh của tướng Thanh

Trả lời phỏng vấn của Nam Nguyên vào tối 21/7/2015, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước nguyên tư lệnh Quân Khu 4 từng là Thủ trưởng của Đại tướng Phùng Quang Thanh đã làm rõ hơn về tình trạng của Đại tướng, một điều mà truyền thông trong nước không hiểu vô tình hay cố ý bỏ qua chi tiết này. Vị Trung tướng 89 tuổi nhưng rất dõng dạc, từ nơi nghỉ hưu ở Hà Nội cho biết, lần cuối cùng mà ông trực tiếp nói chuyện qua điện thoại với Đại tướng Phùng Quang Thanh là 18 ngày trước, tính đến 21/7/2015. Trung tướng Nguyễn Quốc Thước phát biểu:

“ Sự việc tôi biết được vào ngày 27 và từ ngày mùng 3 mỗi ngày tôi đều trao đổi tình hình với thư ký của Đại tướng như tôi đã nói trên mạng. Riêng ngày mùng 3/7 lúc 8 giờ tối bên mình tức là buổi chiều ở bên kia vì cách nhau 6 tiếng Bộ trưởng có điện thoại trực tiếp cho tôi, tôi nhắc lại ngày mùng 3 đấy nhớ. Bộ trưởng nói thế này, bác rất quan tâm tình hình sức khỏe của tôi anh em thư ký nói lại, hôm nay tôi trực tiếp mói chuyện với bác để bác yên tâm. Chúng tôi trao đổi với nhau đúng 7 phút đồng hồ, tất cả nội dung dõng dạc, nói rõ giống như chúng tôi ngồi nói chuyện ở Hà Nội vậy thôi. Tôi khẳng định rằng, những vấn đề tôi nói trên mạng những vấn đề tôi nói trực tiếp với thư ký của đồng chí Bộ trưởng hàng ngày và riêng ngày mùng 3/7 thì Bộ trưởng trao đổi với tôi trực tiếp, chứ không phải qua thư ký, thì tôi tin rằng, tất cả những việc người ta đưa lên mấy ngày hôm nay toàn là những việc để gây rắc rối cho đất nước chúng tôi.”

Báo chí do nhà nước quản lý, khi trích lời Trung tướng Võ Văn Tuấn, Phó tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam, bác bỏ tin của Thông Tấn Xã Đức DPA nói Tướng Thanh đã chết hôm 19/6, nhấn mạnh rằng sức khỏe ông Thanh ổn định, cuối tháng sẽ về. Chúng tôi nêu câu hỏi, thời gian từ nay (21/7) tới cuối tháng chỉ là 8 tới 9 ngày. Phải chăng lúc ấy tất cả những lời đồn đoán, thông tin thất thiệt sẽ bị xóa sạch vì sự thật sẽ chứng minh. Trung tướng Nguyễn Quốc Thước đáp lời:

“ Ngươi ta nói là khoảng cuối tháng lúc ổn định thì sẽ về chứ người ta không có nói ngày giờ nào cả. Riêng đồng chí thư ký nói với tôi là bác sĩ bảo khi nào ổn định tình hình sẽ về, thời gian không bao lâu nữa, chỉ có vậy thôi. Còn ai nói cuối tháng là việc của người khác chứ tôi nghe qua đồng chí thư ký là như vậy. Tôi mong rằng tất cả những ai quan tâm vấn đề này, vì lợi ích của đất nước vì sự ổn định của Việt Nam chứ đừng vì những việc này gây rắc rối cho Việt Nam…những động cơ, những hành động như vậy tôi hoàn toàn phản đối.”

Cuộc nói chuyện qua điện thoại từ Washington DC với Trung tướng Nguyễn Quốc Thước ở Hà Nội bị mất tín hiệu, dở dang câu hỏi của chúng tôi là chỉ cần một vài giây phút đưa hình ảnh của Đại tướng Phùng Quang Thanh đang đi bộ tập hồi phục ở ngoại ô Paris lên truyền thông nhà nước thì sẽ lập tức đánh tan mọi tin đồn đoán không hay về sức khỏe của ông Bộ trưởng.

DPA không cải chính chỉ thêm tin Việt Nam bác bỏ

Đảng và Nhà nước Việt Nam cho tới nay luôn giữ bí mật về tình hình sức khỏe của các giới chức lãnh đạo. Trường hợp Trưởng ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh trước đây và nay câu chuyện của Đại tướng Phùng Quang Thanh là những thí dụ điển hình.

Bô Thông tin Truyền thông, Bộ Quốc Phòng Việt Nam hay cao hơn là chính phủ đã chọn lối ứng xử không cần đưa tin về sức khỏe của lãnh đạo, trong trường hợp này một Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng vắng mặt tại nơi làm việc gần 1 tháng. Không hề có tin là ai tạm thay thế chức vụ quan trọng này. Theo tin ngoài luồng thì một Ủy ban của Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu đang thực tế điều hành chính sách Quốc phòng.

Trong dịp trả lời chúng tôi, TS Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập từ Saigon nhận định:

Tôi đồ rằng có lẽ có vấn đề gì đó bất bình thường, nói cách khác hoàn toàn không bình thường đối với ông Phùng Quang Thanh, vì vậy vậy người ta mới cố gắng giữ kín. Nhưng càng giữ kín lại càng xuất hiện quá nhiều tin đồn và cho tới bây giờ những tin đồn đó đang đẩy tình trạng ông Phùng Quang Thanh không phải theo kịch bản như lúc đầu dự đoán là vấn đề sức khỏe nữa, mà theo những kịch bản xấu hơn. Đó chính là vấn đề mà tôi nghĩ rằng hệ thống tuyên giáo họ đã thất bại và họ để càng lâu thì tin đồn lại càng mưng mủ và do đó số phận của tướng Phùng Quang Thanh lại càng thêm bí ẩn.”

Ngày 20/7/2015, Trung tướng Võ Văn Tuấn Phó tổng tham mưu trưởng khi trả lời báo Thanh Niên đã nói nguyên văn: “sức khỏe của Bộ trưởng Quốc phòng Đại tướng Phùng Quang Thanh bình thường, không có vấn đề gì và không cần đi thanh minh trước các tin đồn thất thiệt.”

Xin được nhắc lại, Hãng thông tấn Đức DPA trong bản tin phổ biến chiều Chủ nhật 19/07/2015 trích từ nguồn tin quân sự ẩn danh, nói rằng Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh đã qua đời sau gần một tháng điều trị tại bệnh viện Georges Pompidou ở Paris Pháp. Tiếp ngay sau đó báo chí Việt Nam phỏng vấn Trung tướng Võ Văn Tuấn, phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam và vị này đã bác bỏ tin của hãng DPA.

Khác với những gì truyền thông nhà nước cho rằng hãng tin Đức DPA đã cải chính. Trên thực tế DPA không cải chính vẫn giữ tin đã đưa của mình, nhưng đưa thêm tin Việt Nam bác bỏ tin tướng Thanh đã chết. Đặc biệt trong bản tin thứ hai DPA nói lả theo nguồn tin từ nhân viên Bệnh viện chứ không ghi là nguồn tin quốc phòng nữa.

Dù muốn dù không tình trạng thực sự của Đại tướng Phùng Quang Thanh sẽ chắc chắn được làm rõ trong thời gian tới. Ông còn sống hồi phục sức khỏe và về nước, hoặc như trường hợp ông Nguyễn Bá Thanh người ta đưa ông về nước để lo hậu sự.

Họ để Người ở đâu?

Họ để Người ở đâu?

Lạy Chúa, Chúa đã chịu chết và sống lại,
xin dạy chúng con biết chiến đấu
trong cuộc chiến mỗi ngày
để được sống dồi dào hơn.

Chúa đã khiêm tốn và kiên trì
nhận lấy những thất bại trong cuộc đời
cũng như mọi đau khổ của thập giá,
xin biến mọi đau khổ cũng như mọi thử thách
chúng con phải gánh chịu mỗi ngày,
thành cơ hội giúp chúng con thăng tiến
và trở nên giống Chúa hơn.

Xin dạy chúng con biết rằng
chúng con không thể nên hoàn thiện
nếu như không biết từ bỏ chính mình
và những ước muốn ích kỷ.

Ước chi từ nay,
không gì có thể làm cho chúng con
khổ đau và khóc lóc
chỉ vì quên đi niềm vui ngày Chúa phục sinh.

Chúa là mặt trời tỏa sáng Tình Yêu Chúa Cha,
là hy vọng hạnh phúc bất diệt,
là ngọn lửa tình yêu nồng nàn;
xin lấy niềm vui của Người
mà làm cho chúng con nên mạnh mẽ
và trở thành mối dây yêu thương,
bình an và hiệp nhất giữa chúng con. Amen.

(Chân phước Têrêxa Calcutta)

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Trần Văn Giàu và căn bệnh “Sùng bái Liên Xô”

Trần Văn Giàu và căn bệnh “Sùng bái Liên Xô”

Ghi nhận của : Đoàn Thanh Liêm

Ông Trần Văn Giàu, một đảng viên cộng sản kỳ cựu gốc miền Nam, vừa mới qua đời vào cuối năm 2010, ở tuổi đại thọ gần con số chẵn 100 năm (1911 – 2010). Báo chí của nhà nước cộng sản đã viết rất nhiều về ông với lời ca tụng tán dương hết mực. Và một số học giả ngoại quốc cũng đã từng viết về ông với một vài sự dè dặt.

Trong bài này, tôi không chủ ý viết lời khen chê nào đối với một nhân vật, mà mình đã không để tâm theo dõi tìm hiểu gì nhiều, mà cũng chưa hề bao giờ tôi đã gặp mặt, hay chuyện trò gì với ông ta nữa. Mà như trên nhan đề, tôi chỉ muốn ghi lại cái căn bệnh “Sùng bái Liên Xô”, mà nhiều nhà lãnh đạo cộng sản Việt nam trước đây đã mắc phải, và trong số những người đó, ông Giàu là một tiêu biểu khá rõ nét.

Thật vậy, ông Giàu đã có lần phát biểu một câu chắc nịch đại ý có thể được ghi lại như sau : “ Nói gì thì nói, chứ Liên Xô thì không bao giờ mà lại có thể sai lầm được”. Mà cả lãnh tụ Hồ Chí Minh của ông Giàu, thì cũng đã từng tuyên bố đại khái rằng : “ Tôi chẳng có tư tưởng lý thuyết riêng nào cả, mà các lãnh tụ Staline và Mao Trạch Đông đã suy nghĩ đày đủ chu đáo lắm rồi…” Còn ông Tố Hữu, thì đã có bài thơ ca tụng lãnh tụ Stalin vĩ đại lúc ông này từ trần vào năm 1953, với những  “câu thơ bất hủ” như sau :

“ Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương ông thương mười”.

Vào hồi đầu thập niên 1940, lại còn có một đảng viên cộng sản ở miền Nam – cũng vào cùng thế hệ với ông Giàu – thì còn lấy cả tên hai địa danh chiến tích nổi tiếng của Hồng Quân Liên Xô để mà đặt tên cho hai cô con gái của mình, đó là Huỳnh Thị Crimée và Huỳnh Thị Odessa. Cái tên gọi này được chính thức ghi rõ ràng trong giấy khai sinh hồi đó còn viết bằng tiếng Pháp trong sổ hộ tịch ở xứ Nam kỳ thuộc địa, chứ đó không phải chỉ là tên gọi trong chỗ riêng tư của gia đình.

Và như ta đã biết, kể từ thập niên 1920, tổ chức Đệ Tam Quốc Tế Comintern do Liên Xô lãnh đạo đã tài trợ cho không biết bao nhiêu cán bộ nòng cốt của đảng cộng sản Việt nam, để họ theo học tại Đại học Phương Đông ở thủ đô Moskva. Đó là những nhân vật với tên tuổi quen thuộc như Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Trần Văn Giàu, Bùi Công Trừng… Hồ sơ về các sự việc này đều còn được lưu giữ với nhiều chi tiết trong văn khố đồ sộ của cơ quan này.

Ngày nay, với sư “Giải mật” (Declassification) về các tài liệu vẫn thường được giữ kín trong các văn khố của nhiều quốc gia, đặc biệt là của Liên Xô, thì giới nghiên cứu lịch sử có thể cung cấp cho chúng ta hình ảnh mỗi ngày thêm chính xác hơn về sự yểm trợ tài chánh và sự chi phối của Comintern và của Liên Xô đối với chính sách và hành động của đảng cộng sản Việt nam, kể từ ngày đảng này mới được thành lập vào đầu thập niên 1930, cho đến các thập niên 50-60 sau này.

Điển hình là gần đây, công chúng Việt nam vừa mới được biết đến hai bức thư viết tay bằng tiếng Nga do chính ông Hồ Chí Minh ký năm 1952, để gửi cho lãnh tụ Stalin mà có đính kèm dự thảo chính sách cải cách ruộng đất đã được đảng cộng sản Việt nam soạn thảo, với sự cố vấn của người lãnh đạo cộng sản Trung quốc là Lưu Thiếu Kỳ.  Sự kiện này càng chứng tỏ rằng : “ đảng cộng sản VN đã theo rất sát với sự chỉ dẫn và lãnh đạo của bậc đàn anh Liên Xô”. Và đó là nguyên ủy của mọi tai ương khốn khổ cho dân tộc chúng ta từ hơn 60 năm qua, do lũ người cộng sản cuồng tín quá khích đã du nhập cái chủ thuyết “ bạo lực cách mạng đày hận thù đẫm máu” từ Liên Xô, Trung Quốc vào Việt nam để mà tàn phá tan hoang cơ đồ non nước chúng ta.

Công cuộc Cải Cách Ruộng Đất được phát động rầm rộ ở miền Bắc trong thập niên 1950, mà người cộng sản gọi là  một cuộc “Cách Mạng Long Trời Lở Đất”, thì đã gây ra biết bao đau thương chết chóc, khổ nhục cho cả hàng mấy chục vạn nạn nhân được xếp vào lọai “giai cấp địa chủ”. Sự việc này đã được nhiều người biết đến từ lâu rồi, tôi khỏi cần nhắc lại ở đây nữa.

Mà tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến một điểm chủ yếu sau đây : “Đó là đảng cộng sản Việt nam đã áp dụng đúng theo sự chỉ đạo của người anh cả Liên Xô và của người anh lớn Trung Quốc trong vụ cải cách ruộng đất cực kỳ dã man tàn bạo này”.

Và trước sự ta thán hốt hỏang, bất mãn của đa số quần chúng về sự tàn ác vô nhân đạo đó, thì vào năm 1956 giới lãnh đạo ở Hanoi mới làm bộ dàn cảnh sửa sai, bằng cách cử Tướng Võ Nguyên Giáp đứng ra “ xin lỗi quốc dân”, đồng thời “cách chức Tổng Bí Thư Trường Chinh và một vài cán bộ cao cấp khác”. Việc này chỉ nhằm tạm thời xoa dịu nỗi uất ức của các gia đình nạn nhân mà thôi. Chứ về thực chất, thì chính sách cải cách ruộng đất này là do tòan bộ giới lãnh đạo chóp bu của cộng sản Việt nam đã thông qua quyết định, và tuyệt đối áp dụng theo đúng sự lãnh đạo của các đàn anh Liên Xô, Trung Cộng.

Rồi tiếp liền theo sau đó, họ vẫn tung ra chiến dịch “Hợp tác hóa, Tập thể hóa Nông Nghiệp” cũng lại rất tàn bạo sắt máu, cũng lại rập khuôn theo đúng với chính sách của Liên Xô, Trung Quốc.

Trở lại với chuyện ở miền Nam vào các năm 1945 – 47, đúng vào cái thời ông Trần Văn Giàu còn đang nắm giữ việc lãnh đạo chánh quyền tại đây, thì đã xảy ra hàng lọat các vụ sát hại những người ái quốc theo khuynh hướng cộng sản Đệ Tứ Quốc Tế (còn gọi là phe trotskyst, tức là theo chủ trương của lãnh tụ Leon Trotsky, người bị Stalin cho tay sai tới ám sát vào năm 1940, lúc ông sống lưu vong ở Mexico). Điển hình là trường hợp bị thủ tiêu ngay tại khu vực phía bắc thành phố Saigon của các ông Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Hồ Văn Ngà… Cũng cần phải ghi lại việc thủ tiêu ám hại Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, người sáng lập ra Phật Giáo Hòa Hảo, cũng đã xảy ra vào năm 1947 tại khu vực miền Tây Nam Bộ. Các chuyện tàn ác động trời này, ông Giàu và phe cộng sản Đệ Tam của ông đã thực hiện đúng theo chủ trương của Liên Xô, mà ông coi là “không bao giờ mà lại có thể sai lầm được”, như đã ghi ở phía trên của bài viết này.

Tóm tắt lại : Những người lãnh đạo cộng sản nòng cốt vốn được cái tổ chức Đệ Tam Quốc Tế (Comintern) đào tạo từ lâu tại Moskva, như ông Hồ Chí Minh, Trần Văn Giàu…, thì họ đã áp dụng đường lối chính sách rập theo khuôn mẫu của Liên Xô dưới thời Stalin, mà họ đã thật tâm rất mực sùng bái, đúng như lời phát biểu công khai của họ trước công chúng. Mà cho đến ngày nay bước qua thế kỷ XXI rồi, thì giới lãnh đạo cộng sản ở Hanoi cũng vẫn còn tuyên bố “kiên trì đi theo đường lối Cách Mạng Tháng Mười của Liên Xô” nữa.Thật đây rõ ràng là một tai họa thảm thương cho cả một dân tộc Việt nam chúng ta vốn đã có lịch sử trên 4000 năm văn hiến vậy.

Hỡi ôi! Cái thời đại sao mà quá ư nhiễu nhương u ám mê hoặc!/

California, Tháng Giêng 2011

Đòan Thanh Liêm

Việt Nam – 70 năm dưới thể chế cướp bóc

Việt Nam – 70 năm dưới thể chế cướp bóc

Nhà văn Võ Thị Hảo

RFA

“Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa”.  Làm cán bộ mấy năm mà trong nhà có vài ba trăm tỉ đồng, thậm chí cả ngàn tỉ đồng thì lấy ở đâu ra nếu không tham nhũng”…

(Thiếu tướng Nguyễn Xuân Tỷ – đại biểu QH Bến Tre)

Trên đời này có nhiều loại cướp bóc nhưng không loại cướp bóc nào có thể hủy hoại cả một đất nước như loại dùng thể chế chính trị và bộ máy chính quyền làm công cụ cướp đoạt của người dân. Bao đau thương khổ nạn của loài người cũng chủ yếu từ đó mà ra.

Cướp bóc theo kiểu nói trên là những cuộc cướp bóc tầm quốc gia, qua những Hiến pháp, luật, thông tư chỉ thị, bảo hộ độc quyền, các loại thuế và phí… nhằm cướp bóc của dân. Những tội ác này được cả hệ thống truyền thông nô lệ và bộ máy đàn áp che giấu, mỵ dân. Ai dám nói sự thật hoặc phản đối sẽ phải hứng chịu bạo lực dưới nhiều hình thức. Bạo lực của bộ máy cướp bóc này được tung ra từ tất cả các khâu từ Đảng cộng sản, nhà nước, cơ quan, hội đoàn tới lập pháp, tư pháp, hành pháp. Bạo lực cũng thể hiện rõ nhất ở hệ thống công an và bộ máy hành chính các cấp.

Việc “rút xương tủy” của dân dưới nhiều hình thức để tham nhũng dưới danh nghĩa công dân phải đóng góp xây dựng tổ quốc là chiêu bài cướp bóc mà bộ máy độc tài luôn tận dụng.

Tăng thuế, phí và lạm thu

Chỉ tính riêng giá xăng dầu, kể từ đầu năm 2015 đến nay, giá đã tăng 3 lần liên tiếp. Theo các chuyên gia thì nguyên do tăng không phải do giá xăng dầu thế giới mà bởi nhà nước vô cớ tăng thuế môi trường lên 300%. Dù là nước xuất khẩu dầu, nhưng giá xăng tại VN đắt hơn Mỹ. Trong khi đó Mỹ có mức thu nhập cao hơn Việt Nam (2011) lên tới 31,7 lần. Mỗi lần tăng giá xăng, điện, tăng thuế và phí, giá thị trường tăng theo và dân càng khốn cùng.

Theo báo Tuổi trẻ, nhiều khoản thuế và phí lạm thu đã khiến cho nhiều gia đình ở Hà Tĩnh ngập chìm trong nợ vì họ đã đói ăn mà vẫn phải vay để nộp. Trưởng phòng tài chính huyện Can Lộc thừa nhận, có rất nhiều khoản thuế và phí vô lý. Sự lạm thu đang khiến người dân bị bần cùng hóa, nhiều người phải tha phương cầu thực.

Tình trạng này đã xẩy ra từ nhiều năm trước nhưng không khắc phục mà ngày càng lạm thu vô tội vạ. Báo cáo tại Quốc hội cho biết, ngay từ năm 2002, qua khảo sát thấy rằng các cơ quan cấp TƯ và địa phương có  quyền đặt định thu của dân ít nhất 432 khoản phí và lệ phí ngoài thuế. Việc đặt mức thu hết sức tùy tiện, lộn xộn, không thể quản lý nổi.

Nhiều chuyên gia kinh tế cho biết, mức thu từ thuế và phí tại VN ngày càng tăng vọt. Trong 5 năm vừa qua, nguồn thu từ thuế và phí của VN dẫn đầu khu vực, là 20% GDP. Báo cáo “Tổng quan môi trường thuế VN 2014” cho biết, tình trạng phí chồng lên phí và lạm thu đang khiến mỗi người dân phải gánh tỉ lệ chịu thuế, phí/GDP cao gấp 1,4-3 lần so với các nước trong khu vực, trong khi thu nhập bình quân đầu người VN vào hàng thấp nhất.

Thống kê của Bộ NNPTNT cũng cho biết nông dân phải gánh đến 131 khoản đóng góp, trong đó có 93 loại phí, lệ phí theo quy định và 38 khoản “đóng góp xã hội” khác.

Theo T.S Lê Đăng Doanh – nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế trung ương (CIEM), thì chính “thói quen” chi tiêu ngân sách như hiện nay là căn nguyên khiến gia tăng các loại phí và lệ phí đối của người dân, DN. Theo lý giải của TS Doanh, năm 2015 xuất hiện nhiều hình thức thu phí, lệ phí là nhằm bù đắp thiếu hụt của thu ngân sách Nhà nước.

Chẳng hạn đoạn đường  cao tốc Pháp Vân – Ninh Bình (chỉ dài 20km) cũng đã được Bộ này ban hành mức thu phí xe container 400 feet cao nhất lên đến 5 triệu/tháng. Hay ngày 8/4 tại cầu Đồng Nai đã áp dụng mức thu phí 15.000 – 120.000/vé/phương tiện… Đây chỉ là một trong số các ví dụ của việc Nhà nước đang dùng nhiều cách để tăng thu, bù đắp cho thâm hụt ngân sách.

Cái chết hàng loạt trong nhiều năm của các doanh nghiệp VN và sự nghèo khó khốn cùng của người dân VN chính là hệ quả của những hành vi cướp bóc qua thuế, phí, qua các chính sách bảo hộ doanh nghiệp độc quyền như xăng dầu, điện…

Thắng lợi của Đảng: đổi bằng xương máu dân

Nhân dịp Đảng CS VN kể công rầm rộ nhân dịp kỷ niệm 85 năm thành lập, người VN không thể không nhìn lại lịch sử 70  năm của thể chế độc tài cộng sản VN.

Căn cứ các sự kiện lịch sử, thì thấy đúng là Đảng „đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác“, nhưng Đảng thắng là dân thua. Đảng chỉ có nghĩa là một nhóm người có quyền lực chiếm được quyền lãnh đạo. Mỗi thắng lợi của Đảng đều đổi bằng hoặc xương máu và nước mắt của dân VN.

„Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa“.  Làm cán bộ mấy năm mà trong nhà có vài ba trăm tỉ đồng, thậm chí cả ngàn tỉ đồng thì lấy ở đâu ra nếu không tham nhũng“. Tội tham ô, tham nhũng mà không tử hình thì không hợp lòng dân, bởi tham nhũng không phải là những người nhỏ mà đều là người làm to có chức có quyền, đục khoét công quỹ, bóc lột nhân dân”.

(Phát biểu của thiếu tướng Nguyễn Xuân Tỷ, phó giám đốc Học viện Quốc phòng (đại biểu Bến Tre) Tuổi trẻ – 277572015)

Có thể thấy, hầu hết những thắng lợi của Đảng cộng sản và chính quyền VN ngay từ khi mới thành lập cho đến nay đã lấy phương châm „cướp“ làm kim chỉ nam cho mọi hành động.

Chúng ta có thể thấy vô số từ „cướp“, „giết“… trong các văn bản trang trọng của nhà cầm quyền độc tài cộng sản VN: “cướp của người giàu chia cho người nghèo“, „cướp chính quyền“, cướp kho thóc của Nhật“, „Trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ“…

Chính quyền cộng sản VN cũng do cướp mà có được và từ đó nhiều hành xử của nó đối với những người dân cũng theo „tôn chỉ cướp bóc“. Chẳng hạn việc quyền lực trong bộ máy đều trao cho các đảng viên. Chỉ một nhóm người trong đảng nhưng lại tự đoạt lấy quyền đại diện cho quyền lợi của công dân cả nước là  bất công và phản lại quyền con người.

Untitled-1-400.jpg

Ông Hoàng Văn Ngài bị tra tấn đến chết trong đồn công an Đak nông nhưng họ đã dựng hiện trường giả, đổ cho ông tự tử. Ảnh do thính giả gửi cho RFA

Cải cách Ruộng đất là cuộc đại cướp bóc làm đảo lộn toàn bộ tổ chức xã hội bằng cách phế bỏ quyền tư hữu đối với tất cả ruộng, đất, vườn, ao, hoa màu, trâu bò và công cụ sản xuất. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì nó không khác gì một cuộc diệt chủng áp dụng lên chính đồng bào của mình.

Người VN sẽ không bao giờ quên những cuộc giết người rùng rợn, do chính người VN, mà trước đây có thể là bạn bè, hàng xóm sống yên vui đầm ấm. Để không bị chính quyền đoạt mạng, con tố oan cha, chồng vợ tố oan nhau. Nguyên tắc hành động căn bản của các Ủy ban Cải cách ruộng đất là „Thà chết mười người oan còn hơn là để sót một địch“( Hồ sơ của Hội đồng CCRĐ –  Thư viện Pháp luật VN).

Theo con số thống kê chưa đầy đủ, sách Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945 – 2000, tập 2 xuất bản tại Hà Nội năm 2004, chỉ riêng cuộc CCRĐ đợt 5(1955- 1956) được thực hiện ở 3.563 xã, có khoảng 10 triệu dân và tổng số người bị sát hạt trong đợt này lên đến 172.008 người, trong đó có tới 123.266 người(71,66%) là giết oan!

Cải cách ruộng đất với hàng trăm ngàn cuộc đấu tố, giết lương dân vô tội đã khiến dân VN táng đởm kinh hồn, đành khuất thân làm nô lệ. Nông dân được chia đất từ chỗ cướp lại của địa chủ  nhưng sau đó thì việc tổ chức các hợp tác xã nông nghiệp đã cướp tất cả đất đai của họ vào tay chính quyền và nông dân lại trở thành vô sản đến tận bây giờ vì Luật, Hiến pháp vẫn quy định „đất đai là sở hữu toàn dân“.

Một trong những hành động cướp bóc quyền của dân lớn nhất gần đây là vào năm 2013, khi sửa đổi Hiến pháp, điều 4 Hiến pháp này quy định Đảng là lực lượng duy nhất lãnh đạo Việt Nam, trong khi ngay cả những Hiến pháp trước đó, mặc dù đã rất mất dân chủ, cũng không đủ can đảm để quy định một điều phi dân chủ và và vi phạm nhân quyền như vậy.

Xóa độc tài để giữ mạng Dân và mạng Nước

Chính vì sự lãnh đạo độc tài và theo phương châm cướp bóc đã khiến cho dân VN không những nghèo khó mà còn bị mất quyền làm người, có thể bị đoạt mạng sống bất kỳ lúc nào bởi nhân viên công quyền.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho rằng công an là đối tượng chính phải chịu trách nhiệm về việc có tới hơn 260 người chết trong lúc bị tạm giam chỉ trong vòng 3 năm gần đây.

Làm chết người nhưng kẻ giết người lại được bao che bởi chính các đảng viên cộng sản cấp trên và đồng nghiệp cùng hệ thống tư pháp, hành pháp.

Sự bao che ấy thực sự là hành vi bật đèn xanh cho nhân viên công quyền tha hồ cướp bóc, đánh giết dân. Điều đó tung ra một thông điệp ngầm: cơ quan công quyền, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là vua, là trời, để dân sống thì dân được sống, bắt dân chết là dân phải chết, bất cần pháp luật.

Sự bao  che ấy thể hiện quyền sinh sát của nhà cầm quyền trong việc đánh đập, giết dân hoặc giả dạng côn đồ để hãm hại, mạt sát, bỏ tù  những người đi kêu oan, người dám lên tiếng đòi nhân quyền và dân chủ…Sau khi đã làm cho dân khiếp sợ, biết rắng mình có kêu oan cũng vô vọng, nhà cầm quyền càng tha hồ cướp bóc. Và chính sự cướp bóc này đã khiến cho vận mạng VN, trước sự xâm lấn của TQ, trước sự tiếp tay của những kẻ bán nước, đang hết sức nguy ngập.

Ông là một người làm thơ được chính quyền vinh danh vì công lao trong việc tụng ca thể chế độc tài này và cho Đảng. Vì thế, ông  lên đến tận chức Phó Thủ tướng thường trực. Có lẽ con đường thành đạt của ông đã được xây bằng những bậc thang tụng ca mục đích tôn chỉ của nhà cầm quyền cướp bóc:

„Giết! Giết nữa, bàn tay không phút nghỉ

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong

Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng

Thờ Mao Chủ tịch, thờ Stalin bất diệt“

(Trăm hoa đua nở trên đất Bắc- trang 37- Nguồn: Truclamyentu.infor).

Bài thơ của ông mặc dù được nhiều người có uy tín đánh giá là „khát máu“, nhưng chỉ trong bốn câu văn vần này mà ông đã thâu tóm, khắc họa được phương thức hành xử của chính quyền độc tài này với nhân dân.và cũng cắt nghĩa được người VN khốn khổ vì đâu.

Rõ ràng là thể chế này cần phải xóa bỏ vì nó đã lỗi thời, mục ruỗng và càng vận hành càng gây nhiều hành vi cướp bóc. Thay đổi VN bằng một thể chế chính trị đa nguyên, dân chủ,  xóa bỏ sự độc quyền của Đảng cộng sản, liên kết với các nước dân chủ và văn minh là con đường để giữ mạng nước Việt và người Việt.

VTH

Những con ma ẩn mình chờ chết

Những con ma ẩn mình chờ chết

Blog RFA

CanhCo

20-07-2015

The Thorn Birds của nhà văn nữ người Úc, bà Colleen McCullough khi được dịch ra tiếng Việt trở thành “Những con chim ẩn mình chờ chết”.  Theo nhà báo Trần Trọng Thức thì “The Thorn” là một loài chim huyền thoại, cái chết của chúng đã thi vị hóa từ nhà thơ Phạm Thiên Thư trong Đưa em tìm động hoa vàng khi viết “Chim ơi chết dưới cội hoa, tiếng kêu rơi rụng giữa giang hà….”

Đảng cộng sản Việt Nam ngoài công việc chính trị “nặng nhọc” khả năng viết tiểu thuyết của họ không hề kém thế giới tư bản. Tựa quyển tiểu thuyết diễm tình của Colleen McCullough được cải biên rất hay, rất phù hợp với thể trạng cộng sản: Quyền sinh sát của tập thể lãnh đạo đối với đồng chí của mình là tuyệt đối. Họ cho sống thì sống họ bắt chết thì phải chết.

Khi họ bắt chết thì trăm phương ngàn kế nạn nhân sẽ trở thành một cái xác nằm im bất động dưới lòng đất hoặc sống mà như đã chết trong các nhà tù nổi tiếng. Họ có biệt tài đối phó với người đồng chí khiến nạn nhân có miệng mà như không lời, đến khi được thả ra khỏi nhà tù rồi vẫn còn sợ không dám thở mạnh huống chi là tố cáo.

Đó là người sống, những con người.

Còn những con ma thì sao?

Vâng, ma là tiếng dùng để chỉ con người đã chết, mà theo y học thì “chết” thông thường được xem là sự chấm dứt các hoạt động của một sinh vật hay ngừng vĩnh viễn mọi hoạt động sống, không thể phục hồi, của một cơ thể. Tim, phổi và não khi ngưng không hoạt động nữa thì bác sĩ sẽ xác nhận là đã chết. Và sau khi chết thì không thể gọi là người mà phải gọi là ma.

Đảng cộng sản Việt Nam không chấp nhận cách khám nghiệm của y khoa trước một xác chết mà nó phải được Đảng có chấp nhận cho nó chết thì mới được chết. Những con ma này trong tiểu thuyết nhiều tập có tên “Những con ma ẩn mình chờ chết”.

Sở dĩ chúng ẩn mình vì không thể lên tiếng công khai cho cái chết của chúng và vì vậy chưa được gia nhập vào thế giới ma. Những con ma ấy thường là cấp lớn nhất trong hệ thống lãnh đạo và do đó Đảng phải đắn đo ngày giờ phù hợp cho nó chết. Trong lịch sử Đảng “đương đại” con ma gây tốn giấy mực nhất là Nguyễn Bá Thanh, đã chết từ bên Mỹ và xác được chở về Việt Nam nằm đó chờ thủ tục được gia nhập “tập đoàn ma” tức là các đồng chí của ông ta. Ông ta nằm trong tư thế một thi hài nhưng Đảng nằng nặc nói là ông ta chưa chết.

Trước tiên thẩm quyền nhất là ông GS Phạm Gia Khải, bác sĩ riêng của Bộ chính trị, người chuyên bắt mạch cho toàn bộ cấp lãnh đạo khi họ đã vào một bệnh viện nào đó ở ngoại quốc. Vì bắt mạch từ xa nên có khi “nhiễu sóng”. Ông Khải bảo ông Nguyễn Bá Thanh sức khỏe tốt đang diễn tiến thuận lợi. Vài ngày sau ông Bá Thanh rất thuận lợi nằm trên máy bay riêng hạ cánh xuống phi trường Đà Nẵng.

“Tau khỏe mà có chi mô” là lời kể của một ông Đảng viên ưu tú tại thành phố khi ra đón ông Thanh để rồi vài ngày sau đó, phái đoàn cao cấp của Đảng lục tục xếp hàng phúng điếu, xác nhận ôngThanh đã chết, đã thành ma.

Con ma thứ hai cũng tên Thanh nhưng chưa được phép chết.

Phùng Quang Thanh sang Pháp chữa bệnh không ai biết. Tin đồn râm ran trên trang mạng xã hội ngày càng nhiều khiến GS Phạm Gia Khải lại được lệnh Đảng một lần nữa ngồi tại Hà Nội, bắt mạch một con ma tận Paris để rồi đưa ra kết quả rất khả quan: Phùng tướng quân đã hoàn toàn bình phục.

Tin đồn bổng trở thành tin nóng sốt khi hãng tin DPA của Đức chính thức thông báo ông Phùng Quang Thanh đã trở thành ma, tức là đã chết vào chiều ngày 19 tháng 7 năm 2015 tại bệnh viện Georges Pompidou tại Paris.

Đảng lại một lần nữa không cho ông Thanh Phùng chết vào lúc này, lúc mà bọn phản động đang chăm chăm nhìn vào hoạt động thay ngựa giữa dòng của Đảng. Lập tức Thứ trưởng Bộ quốc phòng Võ Văn Tuấn yêu cầu DPA cải chính vì ông Thứ trưởng xác nhận như đinh đóng cột rằng ông vừa gọi điện cho ông Thanh và ông ấy vẫn còn khỏe sẽ về Việt Nam vào cuối tháng này.

Hảng tin DPA ghi lại nguyên văn lời ông tướng Tuấn nói, và vẫn giữ ý chính của bản tin đã được loan đi vào ngày hôm qua, nguyên văn như sau:

“An earlier dpa report said the general died Sunday after receiving treatment at the hospital, citing a source at the hospital.”

“Bản tin của dpa trước đó tường thuật rằng Tướng (Thanh) đã chết vào ngày Chúa Nhật sau khi được chữa trị tại bệnh viện, trích từ một nguồn tin của bệnh viện”’

Có nghĩa là DPA chả cải chính gì sất mà nó còn mượn lời phát biểu của ông Thứ trướng quốc phòng để khoáy sâu thêm vào sự ngờ vực của dư luận về một con ma chưa được Đảng cho chết.

Con ma họ Phùng vậy là còn “ẩn mình” chờ chết.

Nhưng một con ma khác, lớn hơn và “vĩ đại” hơn sẽ không bao giờ được chết mặc dù ông có lăng có miếu đường bệ. Ông là Hồ Chí Minh, vẫn sống mãi trong lòng các Đảng viên và vì vậy ông sẽ không bao giờ chết.

Đảng không cho ông chết mặc dù khi lâm chung ông đã yêu cầu được hỏa thiêu và nhất là không được làm rầm rộ trên xác chết của ông. Nhưng Đảng muốn rầm rộ thì toàn dân phải rầm rộ. Đảng muốn ông chưa được chết thật sự thì dù ông là ma cao cấp nhất vẫn phải ẩn mình chờ chết.

Ông đợi hơi lâu, vì duy nhất chỉ có một sức mạnh khẳng định cho cái chết của ông chính là lịch sử. Lịch sử đến từ từ nên ông vẫn còn phải vật vạ ẩn mình.

Buổi tiếp chuyện với Linh mục Vitaly Borovoy

Chuyện  xưa  chuyện  nay (13)

Buổi tiếp chuyện với Linh mục Vitaly Borovoy

(tại Geneva, tháng Ba năm 1972)

Hồi tưởng của Đòan Thanh Liêm

Suốt tháng Ba, năm 1972, trong dịp đến làm việc với văn phòng của Hội Đồng Tôn giáo Thế giới” (The World Council of Churches = WCC) tại thành phố Geneva Thụy sĩ, tôi có cơ hội tiếp xúc với một số nhân vật trong các bộ phận chuyên môn của tổ chức quốc tế này. Trụ sở chính của WCC tọa lạc trong một khu vực khá rộng lớn phía ngọai ô của cái thành phố êm ả thanh bình có danh tiếng trong lịch sử Âu châu, trên Đại lộ Route de Ferney, là khu vực mà xưa kia vào thế kỷ XVIII văn hào nổi danh người Pháp Voltaire đã từng có thời gian dài cư ngụ tại đây. Dù đã là tiết xuân, nhưng tại vùng đồi núi ở đây, trời vẫn còn khá lạnh lẽo với nhiều ngày có tuyết đổ làm trắng xóa cả các bụi cây ven đường, nhất là mỗi khi trời nắng thì khối tuyết trên các đỉnh núi cao ngất lại phản chiếu ánh sáng mặt trời, coi thật uy nghi lộng lẫy.

Vào một buổi sáng, tôi đã có cuộc tiếp chuyện dài đến 2 giờ đồng hồ với vị Linh mục thuộc Nhà thờ Chính thống giáo nước Nga, tên là Vitaly Borovoy. Năm 1972 đó ông đã ngòai 55 tuổi, người tầm thước trong bộ áo tu sĩ dài màu đen phủ kín tòan thân, cổ đeo một thập giá mạ vàng khá lớn, và với bộ râu quai nón cũng khá rậm rạp vốn là hình ảnh đặc trưng của các Linh mục trong hàng ngũ Giáo phẩm Chính thống giáo (Orthodox Hierarchy). Linh mục đã từng làm việc trong bộ phận phụ trách về ngọai vụ của Giáo hội Chính thống giáo Nga. Ông nói tiếng Anh với giọng lắp bắp ngập ngừng, nhưng lại sử dụng từ ngữ khá chính xác.

Biết tôi từ miền Nam Việt nam tới, ông hỏi thăm về tình hình chiến tranh mỗi ngày một leo thang ở đó ra sao. Tôi nói với ông rằng suốt đời tôi từ khi có trí khôn vào năm 1941- 42 đến nay đã 30 năm rồi, tôi chỉ biết có chiến tranh tàn sát trên quê hương tôi mà thôi. Tôi đã chứng kiến nạn đói tại làng quê tôi vào năm 1945, làm chết bao nhiêu người bà con và bạn hữu, kể cả ông chú út là em của cha tôi nữa. Tôi thật đau lòng trước bao nhiêu tang thương đau khổ liên miên ròng rã đã bao lâu nay xảy đến cho những người thân yêu của tôi như vậy. Nghe tôi trình bày rõ ràng thành thật như thế, ông tỏ vẻ thông cảm và câu chuyện giữa hai chúng tôi đã mau lẹ trở thành thân mật và cởi mở, giống như giữa hai người anh em bà con trong cùng một dòng họ vậy.

Sau câu chuyện mở đầu thân mật đó, vị Linh mục bắt đầu tâm sự với tôi bằng lời lẽ thẳng thắn, quả quyết đại khái có thể tóm lược vào mấy điểm như sau :

1 – Thứ nhất, về phương diện đối ngọai, Giáo hội Chính thống chúng tôi không thể nào mà có thể có được một quan điểm công khai trái ngược với lập trường của chánh phủ Liên bang Xô Viết. Cụ thể như đối với cuộc chiến tranh hiện nay ở Việt nam, thì chúng tôi phải đứng về phe Xã hội chủ nghĩa mà bênh vực chánh phủ Hanoi, để chống lại chánh phủ Saigon và phe Tư bản do người Mỹ lãnh đạo. Dĩ nhiên là chúng tôi vẫn cố gắng để mà giữ được vị thế và sắc thái riêng biệt theo truyền thống lâu đời của Tôn giáo mình, chứ chúng tôi không phải là một thứ cơ quan trực thuộc chánh quyền hay là một thứ cơ sở ngọai vi của đảng cộng sản Liên Xô. Nhưng xin ông cũng thông cảm cho việc chúng tôi bị “kiểm sóat, khống chế” khá là ngặt nghèo trong cung cách giao dịch với thế giới bên ngòai, đặc biệt là trong lãnh vực chính trị và bang giao quốc tế.

2 – Thứ hai, về phương diện sinh họat nội bộ, thì từ khi chế độ cộng sản được thiết lập và củng cố vững chắc trên tòan thể nước Nga và các nước Cộng hòa khác thuộc Liên bang Xô Viết, thì Giáo hội Chính thống chúng tôi phải liên tục chịu đựng những sự hạn chế, đàn áp vô cùng là ngặt nghèo tàn bạo không làm sao mà kể cho xiết được. Trong hơn nửa thế kỷ nay, chúng tôi đã có đến hàng chục vạn thánh đường, các tu viện, cơ sở tôn giáo, các chủng viện, các cơ sở văn hóa xã hội bị triệt hạ đến mất hết cả dấu tích luôn. Và bao nhiêu đồ tượng ảnh quý báu được dát bằng quý kim vàng bạc, cẩm thạch đá quý tích lũy từ bao nhiêu thế hệ xa xưa trong các cơ sở phụng tự đó đều bị tịch thu và mang đi đâu chẳng còn ai mà biết được nữa.

Đó là về phương diện cơ sở và tài sản vật chất. Còn về tinh thần và nhất là về phương diện nhân sự tức là thành phần các tu sĩ, giáo sĩ, thì thật là thảm thương bi đát không một ai lại có thể tưởng tượng được nữa. Đã có hàng ngàn giáo sĩ bị hành quyết (executed), hàng nhiều ngàn bị bắt, bị đầy ải ở Siberia và trong các trại tập trung và hầu hết đều đã kiệt sức vì đói, vì lạnh, vì bị làm việc nặng nhọc quá sức chịu đựng của con người. Đó là chưa kể đến con số hàng triệu tín đồ bị hành hạ, bạc đãi, bị cưỡng bức phải di chuyển đi đến những vùng khô cằn hẻo lánh. Chưa bao giờ Giáo hội chúng tôi lại bị bách hại thảm thương tàn ác đến thế!

3 – Nói chung, thì nhà nước Xô Viết vẫn triệt để tìm mọi cách để tiêu diệt tôn giáo và thay thế vào đó bằng chủ thuyết vô thần. Nếu có được một sự nới lỏng, dễ thở nào đó cho sinh họat tôn giáo, thì chỉ vì nhu cầu giai đọan cấp thời mà thôi. Cụ thể như từ lúc nước Nga bị quân Đức Quốc Xã đến xâm lăng vào năm 1941, thì ông Stalin mới ra lệnh cho thuộc cấp trả lại một số cơ sở phụng tự, trả tự do cho một số giáo sĩ, tu sĩ và cho tín đồ được hành đạo tương đối thỏai mái. Nhưng đó chỉ vì muốn lấy lòng các tầng lớp dân chúng để cho họ cùng tham gia vào công cuộc bảo vệ tổ quốc mà thôi. Sau chiến tranh rồi, thì guồng máy kềm kẹp lại tiếp tục vận hành, mà lại càng dã man cuồng nhiệt hơn nữa.

Cả ngay dưới thời của ông Krushchev, thì nạn bài trừ và đàn áp tôn giáo vẫn còn rất ngặt nghèo sắt máu, có đến hàng vạn nhà thờ bị phá hủy hay tịch thu trong các năm dưới quyền của ông lãnh tụ này. Chỉ gần đây, dưới thời của ông Brezhnev, thì mới có sự nới lỏng đôi chút mà thôi.

4 – Ngày nay, nhờ áp lực mạnh mẽ của quốc tế mà Giáo hội chúng tôi cũng mới bắt đầu phục hồi lại được phần nào. Nhưng nói chung, mọi tôn giáo ở Liên Xô, kể cả Chính thống giáo, Tin lành, Công giáo, Hồi giáo, Phật giáo…, thì vẫn còn phải chịu nhiều sự khốn khó hạn chế đủ mọi bề.

Những điều tôi nói với ông lúc này, thì các sách báo ở phương Tây đều đã viết lên đầy đủ cả rồi, dựa trên những chứng từ đáng tin cậy của bao nhiêu người đào thóat từ nước Nga, hay do các nguồn tin do chính người dân ở Liên Xô tiết lộ ra cho các bạn hữu của họ ở nước ngòai. Tôi vừa là nạn nhân, vừa là chứng nhân để có thể xác nhận với ông về những sự việc thực tế hết sức phũ phàng đau đớn này.

Nhưng tôi cũng xin lưu ý ông là không nên công bố danh tính của tôi khi ông viết thuật lại những điều tôi tâm sự riêng tư với ông bữa nay, vì nếu nhà nước Liên Xô mà biết được chuyện “tôi nói không tốt về họ”, thì họ sẽ trách cứ và làm phiền cho văn phòng ngọai vụ của chúng tôi.

Tại nước Thụy sĩ này, tôi được chứng kiến sự thịnh vượng sung túc và cuộc sống thanh thản an bình của người dân, mà tôi càng cảm thương cho dân tộc Nga thật là bất hạnh của tôi. Tôi cũng thương xót cho bao nhiêu đồng đạo, bao nhiêu anh em tu sĩ của tôi đã bị tàn sát do bàn tay của người cộng sản. Và tôi cũng xót thương cả đối với một ít tu sĩ đã vì hèn nhát mà cam tâm làm tay sai cho công an mật vụ, để phản bội lại chính các anh em đồng đạo của mình nữa…

Vitaly Borovoy, vị Linh mục cao tuổi và có thâm niên nhất của Giáo hội Chính thống giáo nước Nga, – tính theo ngày được thụ phong năm 1944 – đã qua đời vào năm 2008, ở tuổi thọ 92 (1916 – 2008). Ông được đánh giá là người đã góp công rất lớn vào công cuộc giữ vững và phục hồi nếp sống tinh tuyền trong truyền thống lâu đời của Giáo hội Chính thống Nga.

*Sau cùng, người viết chỉ xin ghi thêm vài dòng vắn tắt về Giáo hội Chính thống Nga đã tồn tại trên đất nước này từ trên một ngàn năm nay, đã bám rễ sâu vào nếp sống văn hóa và tình cảm tâm linh của dân tộc Slave này. Và dù chế độ cộng sản trong suốt trên 70 năm đã dùng mọi phương cách bạo hành thâm độc nhằm tiêu diệt tôn giáo này, thì rốt cuộc chính các thủ phạm tàn ác là người cộng sản lại bị người dân Nga lọai trừ chối bỏ. Và các nạn nhân khốn khổ là những tín đồ tôn giáo nay đang trên đà phục hồi lại được cái truyền thống đạo hạnh và nhân ái ngàn xưa của cha ông mình.

Và công cuộc phục hồi này, dù vẫn còn khó khăn phức tạp, thì vẫn rõ ràng đang là một quá trình không thể nào mà có thể đảo ngược lại được nữa vậy (an irreversible processus)./

California, Tiết Trung Thu Ất Mão 2011

Đòan Thanh Liêm