Cái mặt Việt Nam!

Cái mặt Việt Nam!

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Đã có lần bạn là người khách quý đến Honolulu, tại phi trường được một thiếu nữ xinh đẹp tươi tắn, choàng cho một vòng hoa sứ với câu chào Aloha cùng một nụ cười thân thiện. Nhưng không phải du khách nào trên thế giới cũng được sự chào đón như thế!

(Hình minh họa: Suhaimi Abdullah/Getty Images)

Tuần trước, báo chí lại loan tin, những người Việt Nam, đồng bào của chúng ta, từ Sài Gòn đến phi trường Changi, Singapore, bị từ chối nhập cảnh, nói rõ ra là bị đuổi về.

Singapore là một trong 48 quốc gia mà người mang visa Việt Nam vào không cần thị thực, nhưng lần này mặc dù có đầy đủ giấy tờ tùy thân, nhiều hành khách Việt Nam, phần lớn là phụ nữ, vẫn bị nhà chức trách Singapore từ chối cho vào xứ của họ. Những người Việt này bị đối xử như tội phạm, bị đưa vào phòng riêng, kiểm soát chặt chẽ giấy tờ, bị phỏng vấn và bắt tự đếm số tiền mang theo trước mặt nhân viên sân bay. Những người khách này buộc phải trở lại Việt Nam trên các chuyến bay đưa họ đến, hay lưu lại những khách sạn gần phi trường mà hãng hàng không Việt Nam phải đài thọ chi phí.

Lối hành xử này của Singapore cũng na ná như lối đối xử của chính quyền Việt Nam đối với những nhà hoạt động chính trị, nghi ngờ có hoạt động chính trị hay bất đồng chính kiến về Việt Nam lâu nay, mà không hề nói lý do.

Chính quyền Singapore cũng không hề nói lý do họ không cho những người Việt này vào nước họ, nhưng cái lý do này thì những người trong cuộc, hay toàn thể “khúc ruột ngàn dặm” trên khắp thế giới đều biết rõ, đều cảm thấy xấu hổ và đau lòng.

Hãng Jetstar Pacific, một trong hai hãng máy bay rẻ tiền có những đường bay ngắn cho biết, khi hành khách bị nhà chức trách từ chối nhập cảnh Singapore, người đó sẽ phải trả tiền ăn ở, tại sân bay. Phía Singapore thường buộc hãng hàng không phải ứng trước chi phí sau đó sẽ tính lại với hành khách. Chi phí cho mỗi khách bị từ chối nhập cảnh là khoảng hơn $200, chưa kể vé máy bay trở lại Việt Nam. Mỗi tháng, hãng này phải trả khoảng $20,000 cho những hành khách bị từ chối nhập cảnh tại Singapore.

Hãng Vietjet Air có hai chuyến bay Sài Gòn đi Singapore mỗi ngày. Trung bình mỗi tháng có 200 nữ hành khách bị Singapore yêu cầu quay về nước. Như vậy mỗi tháng Vietjet Air phải chi ra phí khoảng $750,000 cho những hành khách này mà không bao giờ đòi lại được tiền.

Phía Việt Nam mong phía Singapore cho họ biết danh sách những người Việt không được nhập cảnh vào Singapore để tiện việc ngăn chận, tránh sự tổn thất như trên, nhưng những người này đâu phải như những người làm chính trị có sổ đen của công an Việt Nam, mà chỉ là những cô gái, một ngày đẹp trời nào đó được rủ rê hay móc nối sang đây để… “đứng đường!” Trên các trang net, và ngay cả một phóng sự trên báo Thanh Niên trong nước, cũng công nhận rằng phần đông những cô gái đến với nghề này là hoàn toàn tự nguyện.

Chuyện không phải bây giờ mà cách đây vài năm Singapore đã loan tin cảnh sát tổng càn quét vào khu mại dâm Việt ở Geylang và Joo Chiat, bắt giữ hàng chục gái mại dâm người Việt lẫn bảo kê. Liên tục trong vòng một tuần, chỉ riêng tại khu Joo Chiat, 52 cô gái Việt đã bị bắt giữ. Các cô trang điểm diêm dúa, ăn mặc hở hang đón xe buýt hoặc xe taxi đến quán karaoke, vô từng bàn khách, ăn uống, rượu bia, lả lơi, ôm ấp, bán dâm tại bàn rượu hoặc đi ngủ đêm với khách, cố moi tiền bằng đủ mọi cách. Dân Singapore cho biết gái mại dâm Việt đã câu kéo khách bằng cách không mặc đồ lót và cho phép khách thoải mái sờ soạng. Sang Singapore là một nghề kiên trì, lần này bị đuổi lần sau lại lên máy bay sang nữa. Một cô gái cho biết cô đến rồi về nhiều lần, mỗi lần ở Singapore kiếm vài nghìn đô la.

Lối cấm cửa phụ nữ Việt Nam ở Singapore rõ ràng là nỗi đau đớn, nhục nhã. Rồi liệu, Bộ Ngoại Giao Việt Nam như lời yêu cầu có dám gửi công hàm đến Singapore để xin làm rõ trắng đen chuyện này không, hay nói ra chỉ thêm mất mặt! Làm người khác mất mặt cũng là một thứ làm nhục nhau. Ngày xưa làm nhục nhau thì kẻ sĩ thách nhau đấu súng hay rút gươm ra khỏi vỏ. Ngày nay, bị nhục thì đành ráng ngậm miệng mà đi.

Thể diện cũng có nghĩa là danh dự, ai làm mình mất thể diện là làm mất danh dự mình.

Nếu danh dự phụ nữ Việt Nam bị coi thường hay chà đạp là danh dự của cả dân tộc cũng bị coi thường. Ai có trách nhiệm trong việc đàn bà con gái Việt Nam bị cấm cửa và cái mặt Việt Nam trong thời gian gần đây, có thể nói xa hơn là dưới chế độ xã hội chủ nghĩa đã bị lấm lem đến mức tồi tệ.

Cái mặt Việt Nam ở Nhật mà đại diện là phi công, tiếp viên hàng không, người mẫu, du học sinh ăn cắp… không kể hết tên.

Cái mặt Việt Nam ở Thụy Điển rồi Anh, mà đại diện là Kiều Trinh, kẻ ăn cắp, đã rao giảng văn hóa trên truyền hình nhà nước, con cán bộ Trung Ương Đảng, đã được Bộ Y Tế Việt Nam chứng nhận là tâm thần và Tòa Đại Sứ Việt Nam can thiệp.

Cái mặt Việt Nam ở Phi Châu mà đại diện là nhân viên ngoại giao Vũ Mộc Anh, bí thư thứ nhất của Đại Sứ Quán Việt Nam tại Nam Phi, buôn lậu sừng tê giác.

Cái mặt Việt Nam ở Thụy Sĩ, ở Thái Lan mà đại diện là du khách ăn cắp.

Cái mặt Việt Nam ở Đài Loan mà đại diện là công nhân “xuất khẩu” ăn trộm chó làm thịt.

Cái mặt Việt Nam ở Nhật mà người Việt trộm dê làm thịt.

Cái mặt Việt Nam ở Malaysia: Khám phá một lần mà tống xuất 150 phụ nữ mại dâm về nước.

Cái mặt Việt Nam ở Nga, Tiệp Khắc, Ba Lan, Đông Đức với những nhóm băng đảng, buôn người có các tòa đại sứ Việt Cộng… chống lưng.

Chuyện mất mặt, bẽ mặt, xấu mặt hay mất thể diện thì cũng một nghĩa.

Hãnh diện thì ngẩng mặt, xấu hổ thì cúi mặt, vuốt mặt, quay mặt, giấu mặt đi.

Cái mặt chai lì, tê cứng, không biết xấu hổ, vô cảm là cái mặt mo, mặt mẹt, mặt trơ.

Những cái mặt… Việt Nam nên che đi là những cái mặt của Đặng Xuân Hợp, Vũ Mộc Anh, Kiều Trinh, vì họ đại diện cho chính quyền Việt Nam. Cái mặt đáng thương những người phụ nữ vì xấu hổ cũng phải che đi, tủi thân vì số kiếp phụ nữ Việt Nam, nhưng quả đáng thương hơn những đảng viên luôn luôn trơ mặt làm liều.

Quá đẹp là cái tên Việt Nam, hôm nay vang lừng khắp bốn biển năm châu.

Cờ đỏ sao vàng được minh họa cho hai chữ “ăn cắp.” (*)

Tiếng Việt được dùng để viết những thông báo răn đe người Việt chớ… ăn cắp.

Ai đã sáng tác ra cái câu nói dối trá, “Tôi mơ ước một buổi sáng thức dậy, thấy mình là người Việt Nam?” sẽ phải ân hận suốt đời.

Phần tôi, mỗi khi soi gương, tôi vẫn nhớ, “Tôi là người Việt Nam!” và cảm thấy thương cho tôi và thù ghét những con người đã làm cho hình ảnh Việt Nam xấu xa đi như hôm nay.

Cám ơn ký giả Xuân Dương ở trong nước với câu viết, “Một người, một gia đình, một dòng họ hay một dân tộc, khi sự xấu hổ bị đánh cắp thì không còn gì để mất!”

(*) Xem bài “Đẹp sao là lá cờ đỏ sao vàng” của Bùi Bảo Trúc.

Nữ trí thức TP.HCM bị Singapore tạm giữ vì tội trộm đồ siêu thị

Nữ trí thức TP.HCM bị Singapore tạm giữ vì tội trộm đồ siêu thị

Hang hieu

Các nghi phạm trộm cắp người Việt bị bắt giữ tại đồn cảnh sát Thái Lan. (Ảnh: The Nation).

Cơ quan chức năng Singapore vừa tạm giữ một nữ trí thức ở TP. HCM vì nghi ngờ trộm cắp trong siêu thị. Bà đi mua sắm tại siêu thị và cầm một món đồ trị giá khoảng 300 SGD nhưng lại không trả tiền. Nhiều khả năng, bà này sẽ bị đưa ra xét xử tại quốc đảo Sư Tử.

Ăn cắp ở nước ngoài về Việt Nam bán

Cơ quan chức năng Singapore vừa tạm giữ một nữ trí thức ở TP. HCM vì nghi ngờ trộm cắp trong siêu thị. Theo VTC News, bà này được TP HCM cử đi học ngoại ngữ ngắn hạn tại Singapore. Khi lớp học sắp kết thúc, bà đi mua sắm tại siêu thị và cầm một món đồ trị giá khoảng 300 SGD nhưng lại không trả tiền. Nhiều khả năng, bà này sẽ bị đưa ra xét xử tại quốc đảo Sư Tử.

Vụ việc 5 người Việt Nam ở Thái Lan bị bắt vì ăn cắp các món đồ hiệu trị giá tới hàng trăm ngàn baht (100.000 baht tương đương 3.000 USD) cũng đang gây xôn xao dư luận. Năm người này bao gồm 3 nữ và 2 nam, độ tuổi từ 24 đến 39.

Báo The Nation dẫn lời cảnh sát Thái cho biết, những người này lấy trộm 64 món đồ xa xỉ trong trung tâm mua sắm ở thành phố Chiang Mai rồi bọc chúng lại bằng giấy bạc để tránh sự phát hiện của cổng từ kiểm tra. Dự định sau khi lấy trộm, họ sẽ đem những món này về Việt Nam bán với giá rẻ hơn.

Trước đó, đã có nhiều người Việt ăn cắp bị phát hiện ở nước ngoài khiến nhiều người cảm thấy xấu hổ. Thậm chí, có trường hợp người Việt có học thức, có vai vế, cũng bị bắt giữ vì ăn cắp trong siêu thị hoặc ăn cắp tài sản của người bản xứ.

Cách đây không lâu, 6 người Việt (gồm cả nam và nữ) ăn cắp quần áo hiệu Uniqlo bị cơ quan chức năng Nhật Bản bắt giữ. Nhóm người này đã hơn 100 lần thực hiện hành vi trộm đồ. Khi điều tra về tài khoản của một phụ nữ trong nhóm, cảnh sát phát hiện nhiều giao dịch hàng hóa trị giá tới 10 triệu yên (tương đương 1,9 tỷ đồng). Họ trộm đồ từ nhiều cửa hàng ở những khu vực khác nhau và bán hàng thông qua các trang mạng xã hội.

Điều đáng nói, đây không phải là vụ đầu tiên người Việt ăn cắp ở Nhật bị phát hiện. Hồi đầu năm 2014, một nữ tiếp viên hàng không của Việt Nam cũng bị phía Nhật bắt giữ vì bị tình nghi buôn lậu hàng mỹ phẩm, quần áo từ một đường dây ăn cắp tại các siêu thị Nhật và có thể đang tìm cách buôn lậu ra khỏi nước Nhật. Năm 2009, một cơ phó của Vietnam Airlines cũng từng bị trục xuất về nước cũng vì liên quan đến đường dây vận chuyển hàng ăn cắp từ Nhật về Việt Nam.

Vào tháng 12/2013, bốn thanh niên người Việt cũng bị phát hiện đang ăn cắp quần áo, mỹ phẩm tại một siêu thị ở Tokyo. Hàng ăn cắp gồm những sản phẩm của các thương hiệu nổi tiếng như mỹ phẩm Shiseido, quần áo hiệu Uniqlo.

An cap hang hieu tu Thai qua Nhat: Xau mat nguoi Viet-hinh-anh-1
Cảnh sát thu giữ số quần áo mà nhóm người Việt đã lấy cắp tại cửa hàng quần áo Uniqlo. (Ảnh: ANN News).

Thống kê từ Cơ quan Cảnh sát Quốc gia Nhật Bản cho thấy, số các vụ ăn cắp đồ bị bắt liên quan tới người Việt tăng mạnh tại nước này, từ 247 vụ năm 1998 lên 999 vụ năm 2012. Như vậy chỉ trong vòng 4 năm, số người Việt đi chôm chỉa rồi bị bắt giữ tăng gấp 4 lần, chỉ riêng tại Nhật.

Và 6 tháng đầu năm 2013, đã có 401 vụ liên quan tới người Việt, chiếm 40% tổng số vụ chôm đồ liên quan tới người nước ngoài tại Nhật.

Không chỉ ở Nhật, ở các quốc gia khác như Singapore, Đài Loan, Thái Lan… cũng đã có trường hợp người Việt bị bắt giữ vì ăn cắp trong siêu thị hoặc ăn cắp tài sản.

Theo báo Thanh Niên Online, cảnh sát Thái Lan ngày 25/3/2013 đã bắt một người Việt bị tình nghi là ăn cắp hơn 200 mặt hàng thuộc loại hàng hiệu ở trong trung tâm hàng thời trang cao cấp Central World, Bangkok. Những mặt hàng này bao gồm quần, áo, mũ, túi xách, được xác định có giá trị hơn 140 triệu đồng.

Tháng 8/2014, cảnh sát Malaysia đã bắt 3 đàn ông người Việt chuyên đột nhập các cửa hàng để ăn trộm. Ba người này được cho là có liên quan đến 9 vụ đột nhập các cửa hàng làm thất thoát hơn 57.000 USD.

An cap hang hieu tu Thai qua Nhat: Xau mat nguoi Viet-hinh-anh-2
Tấm biển cảnh cáo có thêm tiếng Việt.

Xấu hổ khi dùng hàng hiệu xách tay ăn cắp

Tại nước ngoài, không khó để bắt gặp những tấm biển cảnh báo hành vi ăn cắp bằng tiếng Việt tại những nơi công cộng như siêu thị, nhà hàng,…

Hồi tháng 6/2013, bức ảnh chụp biển cảnh báo hành vi ăn cắp vặt được viết bằng tiếng Việt, ở dưới là dòng chữ dịch sang tiếng Nhật, đã gây xôn xao cộng đồng mạng. Những lời cảnh cáo được viết bằng tiếng Việt cụ thể là: “Ăn cắp vặt là phạm tội. Nếu ăn cắp vặt thì bị phạt tù dưới 10 năm. Ngay khi phát hiện ăn cắp vặt thì chúng tôi sẽ thông báo cho cảnh sát ngay lập tức. Camera phòng chống tội phạm đang hoạt động. Tăng cường điều tra”. Bên dưới là phần dịch sang tiếng Nhật được viết nhỏ hơn.

An cap hang hieu tu Thai qua Nhat: Xau mat nguoi Viet-hinh-anh-3

 

An cap hang hieu tu Thai qua Nhat: Xau mat nguoi Viet-hinh-anh-4
Cảnh báo ăn cắp bằng tiếng Việt ở Đài Loan.

Sau đó, vào tháng 7/2014, trên mạng xã hội cũng đăng tải bức ảnh chụp biển cảnh báo ăn cắp trong một shop thời trang tại Nhật khiến nhiều người Việt xấu hổ. Bức ảnh được chụp tại một cửa hàng thời trang tại Wako-shi, tỉnh Saitama, Nhật Bản. Trên tờ cảnh báo có ghi dòng chữ: “Hệ thống camera giám sát đang hoạt động” bằng tiếng Việt.

Không chỉ ở Nhật Bản, mà các nước và vùng lãnh thổ khác như Thái Lan, Đài Loan cũng đều có biển cảnh báo về thói trộm cắp vặt của một số người Việt.

Những lời cảnh cáo được viết bằng tiếng Việt như trên, tại nhiều quốc gia đã khiến không ít người cảm thấy buồn và xấu hổ khi hình ảnh, đất nước mình đang trở nên xấu xí trong mắt người nước ngoài, bởi lòng tham của một số cá nhân.

Trước tình trạng này, nhiều người đã kêu gọi cộng đồng người Việt trong nước không dùng những hàng xách tay mà không rõ nguồn gốc. Việc làm này sẽ bớt được tình trạng ăn trộm, ăn cắp bởi không có người mua, thì việc trộm cắp để bán chui sẽ bị hạn chế dần và biến mất hẳn.

Theo VietnamNet

CÁI VA-LI

THE SUITCASE

CÁI VA-LI

A man died, when he realized it, he saw God coming closer with a suitcase in his hand.

Khi một người đàn ông nhận thức rằng mình đã chết, ông thấy Thượng Đế/Chúa đến gần hơn với một cái va-li trong tay.

God said: Alright son, it’s time to go.

Thượng Đế bảo:  Nầy con, đã đến lúc đi rồi.

Surprised the man responded: Now? So soon? I had a lot of plans…

Ngạc nhiên, người đàn ông trả lời:  Bây giờ sao? Mau quá vậy? Con có nhiều dự định…

– I’m sorry but it’s time to go.

_    Rất tiếc nhưng đã đến giờ đi rồi.

– What do you have in that suitcase? the man asked.

Người đàn ông hỏi: Thượng Đế có gì trong cái va-li đó vậy?

God answered: Your belongings.

Thương Đế trả lời:  Những gì thuộc về nhà ngươi.

– My belongings? You mean my things, my clothes, my money?

Những gì thuộc về con? Ý Thượng Đế muốn ám chỉ những đồ đạc, áo quần, tiền bạc của con?

God answered: Those things were not yours; they belonged to the earth.

Thượng Đế trả lời:  Những cái đó đã không phải của nhà người; chúng thuộc vào trần gian.

– Is it my memories? The man asked.

Người đàn ông hỏi:  Có phải nó là ký ức của con?

God answered: Those never belonged to you; they belonged to Time.

Thượng Đế trả lời:  Những cái đó đã không bao giờ thuộc về nhà người; chúng thuộc vào Thời Gian.

– Is it my talents?

Có phải là những tài ba của con?

God answered: Those were never yours; they belonged to the circumstances.

Thượng Đế trả lời: Những thứ đó đã không bao giờ là của nhà ngươi; chúng tuỳ thuộc vào những tình huống.

– Is it my friends and family?

Có phải là các bạn và gia đình?

God answered: I’m sorry they were never yours; they belonged to the path.

Thượng Đế trả lời:  Rất tiếc chúng đã không bao giờ là của nhà ngươi; họ thuộc vào con đường (mà nhà người đã đi qua).

– Is it my wife and son?

– Có phải là vợ và con trai của con?

God answered: They were never yours; they belonged to your heart.

Thượng Đế trả lời:  Họ đã không bao giờ là của nhà ngươi; họ thuộc vào trái tim của nhà ngươi.

– Is it my body?

_ Có phải là thân xác con?

God answered: that was never yours; it belonged to the dust.

Thượng Đế trả lời:  Cái đó đã không bao giờ   là của nhà ngươi; nó thuộc vào cát bụi.

-Is it my soul?

_ Có phải là linh hồn của con?

God answered: No, that is mine.

Thượng Đế trả lời:  Không, cái đó là của ta.

Full of fear, the man took the suitcase from God and opened it just to find out the suitcase was empty.

Đầy sợ hãi, người đàn ông lấy cái va-li từ Thượng Đế/Chúa và mở nó ra mà chỉ thấy nó trống trơn.

With a tear coming down his cheek, the man said: I never had anything???

Với một giọt nước mắt lăn xuống gò má, người đàn ông thốt lên:  Con đã chẳng có gì cả sao???

God answered: That is correct, every moment you lived were only yours.

Thượng Đế trả lời: Đúng đó, chỉ mỗi thời gian ngắn ngủi nhà người đã sống là của nhà ngươi.

Life is just a moment–A moment that belongs to you. For this reason enjoy this time while you have it.

Cuộc đời chỉ là thời gian ngắn ngủi–Một thời gian ngắn ngủi thuộc về bạn.

Don’t let anything that you think you own stop you from doing so.

Đừng đề bất cứ cái gì bạn nghĩ rằng bạn làm chủ ngăn bạn làm như thế.

Live Now!

Hãy sống bây giờ!

Live your life!

Sống đời của bạn!

Don’t forget to be happy; that is the only thing that matters.

Đừng quên sống hạnh phúc; đó mới là điều đáng quan tâm.

Material things and everything else that you fought for stay here.

Những gì vật chất và mọi thự khác mà bạn tranh đấu ở lại đây.

YOU CAN’T TAKE ANYTHING WITH YOU…

BẠN KHÔNG THỂ MANG BẤT CỨ GÌ THEO BẠN …

Share this reflection with anyone you love or appreciate. Enjoy every second you live.

Hãy san sẻ quan điểm nầy với bất cứ người nào mà bạn thương yêu hay quý báu.  Hãy hưởng thụ mỗi giây bạn sống.

(Người dịch:  Vương Đằng, 6/2015)

Bài Học Nhớ Đời

Bài Học Nhớ Đời

Một ngày kia, có một người đàn ông trung niên tướng mạo xấu xí, dẫn theo một cô gái vô cùng trẻ trung xinh đẹp, đến một cửa hàng chuyên buôn bán những chiếc túi xách hàng hiệu cao cấp.

Ông ta đã chọn một túi xách trị giá đến 18.000 USD cho cô gái. Khi trả tiền, người đàn ông lấy ra cuốn chi phiếu, chẳng ngần ngại điền số tiền tương ứng vào một tờ chi phiếu, nhân viên cửa hàng có phần khó xử. Người đàn ông nhìn thấu tâm tư của cô nhân viên, nên hết sức bình tĩnh nói với người bán hàng: “Tôi cảm thấy dường như cô đang lo sợ đây là một tờ chi phiếu khống, phải không? Hôm nay lại là Thứ Bảy, ngân hàng không mở cửa. Thôi thì tôi đề nghị cô hãy giữ tờ chi phiếu và cả cái túi xách này lại. Đợi đến đầu tuần tới, sau khi đổi được tiền rồi, thì xin cô hãy gửi túi xách này đến nhà của vị tiểu thư xinh đẹp này, cô thấy như vậy có được không?”.

Kết quả sẽ như thế nào? Xin hãy mau đọc tiếp…….

Cô nhân viên cửa hàng nghe xong hoàn toàn yên tâm, vui vẻ chấp nhận lời đề nghị này, lại còn hào hứng cam đoan rằng chi phí gửi túi xách sẽ do cửa hàng này đảm nhiệm.

Sáng Thứ Hai, nhân viên cửa hàng đem tấm chi phiếu đến ngân hàng thanh toán, kết quả tờ chi phiếu này quả thật là tờ chi phiếu lủng!

Người nhân viên vô cùng tức giận, liền gọi điện cho người đàn ông đó, người đàn ông nói với cô rằng: “Chuyện này có gì to tát lắm đâu, tôi và cô cả hai đều không bị tổn thất gì cả. Hôm Thứ Bảy đó, tôi cuối cùng đã chiếm hữu được cô gái đó rồi! Thật lòng cảm ơn sự hợp tác của cô”.

Câu chuyện này nói với chúng ta rằng:

Những gì mà chính bản thân ta “nhìn thấy tận mắt” cũng chưa chắc đã là thật.

Tham hư vinh thì phải trả một cái giá rất đắt. Cô gái xinh đẹp kia cho rằng cái túi xách trị giá hàng chục nghìn USD đó sẽ được giao đến tận cửa nhà vào sáng Thứ Hai, nên tự nhiên cũng đã buông lơi cảnh giác, cho rằng đầu tư như vậy thật là xứng đáng. Cô vốn đã không biết rằng bản thân mình đang chơi trò mạo hiểm, chẳng hề có bất cứ sự đảm bảo nào.

Một con cáo phát hiện một chuồng gà, nhưng con cáo đó vì quá mập nên không thể chui lọt qua hàng rào để ăn gà. Thế là nó nhịn đói suốt ba ngày, cuối cùng đã vào được. Tuy nhiên, sau khi ăn no nê rồi, chiếc bụng phình to nên lại không ra được nữa, đành phải bắt đầu nhịn đói lại ba ngày mới ra được. Cuối cùng nó xót xa than thở rằng, bản thân mình ngoài nhất thời sướng miệng ra, trên cơ bản hoàn toàn là phí công vô ích.

Đời người không phải cũng như vậy sao. Đến trần truồng mà ra đi cũng trần truồng. Không ai có thể mang theo tài sản và danh vọng mà mình đã vất vả kinh doanh một đời để theo cùng.

Dùng tuổi trẻ để kiếm tiền, nhưng tiền lại không mua lại được tuổi trẻ;

Dùng mạng sống để kiếm tiền, nhưng tiền lại không mua lại được mạng sống;

Dùng hạnh phúc để đổi lấy tiền, nhưng tiền lại không mua lại được hạnh phúc;

Dùng thời gian để kiếm tiền, nhưng tiền lại không mua lại được thời gian.

Cho dù dùng cả cuộc đời để có được tất cả tiền bạc của cả thế giới, nhưng tiền bạc của cả thế giới cũng không mua lại được cuộc đời của bạn.

Vậy nên những lúc nên làm việc thì hãy làm việc, những lúc nên nghỉ ngơi thì hãy nghỉ ngơi, vui vẻ làm việc, tận hưởng cuộc sống, trân quý tất cả những gì mà mình có được, hãy yêu thương những người mà bạn yêu thương, vui vẻ mà sống trọn từng ngày.

Sống một ngày vui vẻ là sống một ngày,

Sống một ngày không vui vẻ cũng là sống một ngày…….

Vậy tại sao chúng ta lại không trân quý hết thảy, vui vẻ mà sống trọn một ngày chứ!

(Nguyễn Giang Đức chuyển)

Anh chị Thụ Mai gởi

NGHỊCH LÝ CỦA ĐỜI TU

NGHỊCH LÝ CỦA ĐỜI TU

Image result for linh måc

Nhìn từ bên ngoài, người ta luôn thấy đời tu rất đẹp, hệt như một Thiên Đường tại thế. Suốt ngày cất cao giọng hát ngợi khen Chúa, vui vẻ với những công việc tầm thường như việc cắt cỏ trồng rau, không một chút bon chen với cuộc đời, không phải lắng lo chuyện gia đình, con cái, không ganh đua với danh vọng cao sang. Nhìn những vị tu sĩ cao niên đắc đạo, miêng lúc nào cũng nở những nụ cười tươi, không quần áo sang trọng, không vàng bạc trữ kho, nhưng tâm hồn lúc nào cũng bình yêu thư thái, lối hành xử luôn chậm rãi khoan thai, không hờn ai, không trách cứ, đó quả thực là điều nhiều người ước mong. Rồi những tấm gương hy sinh cả một đời giúp đỡ những người cơ nhỡ, người nghèo, hay những ai bị cuộc đời ruồng rẫy, họ làm việc như thể đó là niềm vui, cho đi mà chẳng mong gì đền đáp, bao lụy phiền của nhân tình thế thái chẳng thể bám víu trái tim họ. Đời tu quả là tươi đẹp, là dấu chỉ của Nước Chúa hiện diện ở trần gian.

Thế nhưng, chỉ có những ai sống trong đời tu mới có thể hiểu rõ được sống đời tu thật không dễ tí nào. Để có thể trở nên một cây cổ thụ sừng sững uy phong, nó đã phải trải qua không ít những gian nan thử thách. Cây nào chịu đựng được thì lớn lên; cây nào không đủ sức thì gục ngã. Đời tu tuy đẹp đấy, nhưng để có thể sống trọn vẹn lý tưởng này, chẳng con người nào có thể tự sức mình mà sống được. Ấy là bởi vì sống đời tu là sống giữa nghịch lý vô cùng căng thẳng của kiếp người.

Người đi tu là người sống giữa thế gian nhưng không được để mình bị thế gian đụng đến. Họ người có đôi chân chạm đất nhưng đầu thì hướng thẳng về trời cao. Họ phải sống trong cuộc đời nhưng lại bị xem là người ở cõi khác. Họ chọn đời hiến dâng không phải để trốn đời, hận đời, nhưng là để vào đời và yêu mến đời nhiều hơn. Người đi tu cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp như ai kia, nhưng phải chọn lấy cho mình phần kém nhất. Họ phải trải rộng tình thương của mình cho người khác, nhưng lại không được để một người nào đó được phép yêu mình. Họ phải yêu người nhưng không được giữ lại riêng cho mình một ai. Họ yêu nhưng không được nắm giữ.

Ai cũng mong muốn mình có một bến đỗ dừng chân, nơi một mái ấm nhỏ, có tiếng cười của con thơ. Nhưng người đi tu thì phải vượt trên mong muốn ấy. Họ có đôi bàn chân không bao giờ ngừng bước. Họ như ngọn gió ngao du khắp núi rừng, băng qua biển khơi. Chẳng nơi đâu là nhà nhưng cũng chẳng nơi đâu là xa lạ. Nơi họ đặt chân đến là quê hương, là cuộc sống của họ… Họ không được đậu neo ở điểm dừng nào, không được để lòng lưu luyến ai hay bất cứ nơi đâu, nhưng phải thanh thoát và tự do với mọi sự. Nơi con tim của người đi tu chất chứa đầy những tâm tư sâu kín. Họ có yêu ai không, không ai biết; họ có ghét ai không, chẳng ai hay; họ có nóng giận, buồn phiền với ai không, không ai tỏ. Dù bên trong có thế nào, điều mà họ thể hiện ra bên ngoài phải là niềm hạnh phúc, phải là niềm vui, phải là dấu chỉ của Nước Trời.

Đó là lý tưởng đẹp, nhưng cũng là điều không phải dễ mà sống được. Sống giữa căng thẳng luôn làm người ta như muốn xé nát con người mình làm đôi. Làm sao giữa dòng đời vạn biến, tâm mình vẫn không động, vẫn yên vui? Làm sao giữa một thế giới đang hô hào chuyện hưởng thụ vật chất, sống trụy lạc và tự do cá nhân, mình lại chủ trương chọn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục người khác? Có những tu sĩ đã vì những xu hướng và thúc bách cá nhân đưa đẩy, lại thiếu đi sự kết hiệp với Chúa nên đã dần dần đánh mất đi lý tưởng tuyệt vời và cao quý của đời tu.

Trong giờ phút này, chúng ta hãy dành ít phút cầu nguyện cho những vị tu sĩ ấy:

Trước hết, chúng ta hãy cầu nguyện cho những ai đang đứng trước chọn lựa giữa đời tu và đời sống bình thường. Xin cho họ được ơn soi sáng để có thể bình tâm chọn lựa điều nào hợp với thánh ý Chúa cho cuộc đời mình.

Chúng ta cũng xin Chúa đến kề bên và nâng đỡ những tu sĩ nào đang bị ngả nghiêng theo cơn gió cuộc đời. Xin cho họ biết chạy đến với Chúa khi tâm hồn có chút gợn sóng nhân gian để được ủi an và thêm sức, chứ đừng tìm bù trừ nơi những niềm vui thế tục, nơi những vật chất, tiện nghi. Xin Chúa giúp cho các tu sĩ biết tìm hạnh phúc nơi những hy sinh và thập giá, chứ không phải nơi bạc tiền và danh vọng.

Xin cho các tu sĩ nhận ra rằng biết bao linh hồn đang cần họ đi tới và chia sẻ; có rất nhiều người đang nhìn đến đời sống phục vụ vô vị lợi của họ mà thầm tạ ơn Chúa và nhờ đó có thêm nghị lực đứng lên làm lại cuộc đời. Xin cho họ đừng vì ích kỷ cá nhân và quên đi lời gọi mời cao quý Chúa đã dành cho họ.

Xin cho các tu sĩ, mỗi ngày nên giống Đức Giêsu Kitô vác thập giá – mẫu gương đời sống dâng hiến của họ hơn.

Chau Micae

Những chuyện vui nho nhỏ dọc đường.

Những  chuyện  vui  nho  nhỏ  dọc  đường.

Bài ghi ngắn của Đoàn Thanh Liêm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trong vòng 15 năm nay, tôi đã đi đến mấy chục vòng xung quanh nước Mỹ và 3 lần đến Canada nữa. Thường thường  tôi đi bằng máy bay từ California ở phía bờ biển miền Tây (West Coast) qua phía bờ biền miền Đông (East Coast), rồi thì dùng xe lửa hay xe bus hoặc nhờ bà con chở bằng xe riêng để di chuyển đến các thành phố lân cận trong vùng.

Mùa Xuân năm 2015 này, cũng như mọi năm tôi lại từ West Coast đi qua East Coast và kể từ giữa tháng Ba đến nay là giữa tháng Tư, tôi đã lần lượt đi qua 4 thành phố, đó là Philadelphia, New York, Boston ở Mỹ và hiện nay đang ở thành phố Toronto thuộc Canada. Trong bài viết này, tôi xin kể lại hầu quí bạn đọc một số chuyện vui vui nho nhỏ gặp bất ngờ ở dọc đường, lần lượt theo thứ tự thời gian như sau đây.

1 – Trên máy bay từ Denver đến Philadelphia vào ngày 18 tháng Ba 2015.

Bữa đó, máy bay tôi đi từ Santa Ana thì đỗ lại ở phi trường Denver để cho một số hành khách xuống và lại rước thêm số hành khách mới để đi tiếp tới Philadelphia. Trên đọan đường Denver đi Philadelphia này, người ngồi bên cạnh tôi là một phụ nữ Mỹ vào độ trên 30 tuổi. Sau khi chuyện trò xã giao ít lâu, tôi đã tự giới thiệu tên, tuổi của mình cho cô và được cô cho biết tên của cô là Catherine (Katie). Cô làm việc ở Portland Oregon và đang trên đường về thăm gia đình với mẹ cô hiện sinh sống tại một thành phố ở tiểu bang New Jersey gần kề với Philadelphia.

Tôi cho Katie biết là tôi là một luật sư ở Việt nam, tôi đã sống sót qua cuộc chiến tranh dài đằng đẵng mấy chục năm trời, rồi lại đến 6 năm trời trong nhà tù cộng sản nữa. Và cuối cùng, tôi cùng gia đình đã đến định cư tại California từ gần 20 năm nay. Tôi mở laptop cho Katie xem vài bài bằng tiếng Anh tôi mới viết gần đây, cô đọc xong rồi tò mò hỏi : “Bác thật may mắn là đã sống sót trải qua bao nhiêu gian truân nguy hiểm của chiến tranh, của chế độ độc tài và của bao nhiêu năm bị giam giữ tù đày khốn khổ như thế. Cháu xin có lời chức mừng bác, thật vậy đó. Bác viết là có được một nền giáo dục rất tốt, xin bác cho biết rõ hơn làm sao mà bác lại có được điều đó, trong khi chiến tranh kéo dài hàng mấy chục năm ở Việt nam? ”

Trả lời cho Katie, tôi nói : “Có đến mấy năm, tôi không thể đến trường học vì phải tản cư chạy lọan. Nhưng khi được đi học lại, thì tôi phải miệt mài ngày đêm với chuyện bài vở học tập để mà bù lại những năm tháng phải bỏ học như thế. Cô biết không, trong thời gian chạy lọan lúc 14 – 16 tuổi, tôi còn được học cả tiếng La tinh nữa đó. Điều may mắn này giúp tôi sau này khi lên Đại học, thì tôi phải học nhiều về môn Triết học và các môn Luật nữa v.v…” Nghe vậy, Katie cười và nói : “Mẹ cháu xưa kia cũng là một cô giáo dậy tiếng La tinh cho các học sinh bậc trung học đấy. Nếu mà bác gặp mẹ cháu, thì chắc hai người sẽ chuyện trò tâm đắc lắm đấy nhỉ?” Tôi cười xòa và nói : “Đã trên 60 năm, vì ít có dịp đọc sách viết bằng tiếng La tinh, nên tôi cũng quên đi mất nhiều lắm rồi …”

Đại khái chuyện trò trao đổi thật là hồn nhiên cởi mở giữa Katie với tôi kéo dài trong suốt chuyến bay từ Denver đến Philadelphia dễ mất đến gần 3 giờ đồng hồ. Thật cũng là một kỉ niệm vui vui ngộ nghĩnh vậy đó.

2 – Trên chuyến xe bus từ New York đến Boston vào ngày 1 tháng Tư 2015.

Xe bus Greyhound từ New York đến Boston kéo dài đến 4 tiếng đồng hồ. Dọc đường, tôi thấy tuyết còn đọng trắng xóa và khá dày trên các vạt rừng cây, nơi ven các sông hồ. Số hành khách khá đông, chiếm hầu hết 50 chỗ ngồi trên xe. Người ngồi bên cạnh tôi là một phụ nữ ở tuổi ngòai 50. Sau hồi chuyện trò ít lâu, tôi trao cho chị danh thiếp trong đó có ghi số điện thọai, email và tổ chức mà tôi tham gia sinh họat. Đó là Vietnam Human Rights Network (Mạng Lưới Nhân Quyền Việt nam). Chị cũng trao danh thiếp cho tôi, với tên gọi là Susan Stanley và số điện thọai, địa chỉ email v.v…

Vì đường dài, nên chúng tôi có bao nhiêu chuyện để cùng trao đổi về đủ mọi thứ đề tài với nhau. Từ chuyện riêng tư trong gia đình đến chuyện họat động ngòai xã hội. Tôi còn mở laptop để Susan đọc một số bài viết gần đây của tôi. Chị hỏi rất kỹ về hòan cảnh tù đày của tôi ở Việt nam vào những năm 1990. Qua đó mà câu chuyện giữa chúng tôi mỗi lúc lại càng thêm thân mật đặm đà hơn. Nhất là khi tôi nói đến chuyện văn chương thi phú, thì Susan càng chú ‎tâm nghe và hăng hái góp phần trao đổi nhận xét của riêng mình.

Điển hình như khi tôi nhắc đến câu thơ của Walt Whitman ở thế kỷ XIX : “ Behold, I don’t give lectures or a little charity, When I give, I give myself”. Hay cả một đọan thơ của Robert Frost hồi đầu thế kỷ XX : “ The woods are lovely, dark and deep, But I have promises to keep, And miles to go before I sleep, And miles to go before I sleep” – thì Susan phải thốt lên : “Sao mà anh lại thuộc kỹ thơ văn của các tác giả Mỹ đến thế nhỉ!”

Nhân tiện, tôi cũng cho Susan biết là hồi ở trong tù, tôi có làm được nhiều bài thơ, mà vì không có giấy bút để ghi lại, nên đã quên đi khá nhiều. Tuy vậy, sau khi qua Mỹ, tôi đã cố gắng nhớ lại và ghi ra được vài chục bài thơ ngắn. Cụ thể như bài thơ chỉ gồm 4 câu cảm đề từ thơ của Robert Frost ghi ở trên – mà hai câu cuối được dịch ra tiếng Anh thế này : “The long march is indeed exhausting, But still I am adamant and firmly committed to this earthly life” (Nguyên văn tiếng Việt như sau : “Đường xa vạn lý mỏi mòn, Vẫn nòi quân tử sắt son với đời”.

Đại khái như thế, chuyện trò giữa Susan và tôi cứ miên man dàn trải suốt cuộc hành trình, không lúc nào mà cạn đề tài cả. Cuối cùng, trước khi chia tay ở bến xe South Station của Boston, Susan mới mở túi lấy ra cuốn sách và nói với tôi : “Tôi đem cuốn sách này để mà đọc cho khuây khỏa dọc đường. Ấy thế mà gặp anh bữa nay chuyện trò vui quá, nên cũng chẳng cần phải mở sách này ra đọc nữa. Xin cảm ơn anh nhiều. Và hẹn sẽ tiếp tục trao đổi qua email hay phone nha…” Tôi nói : ” Susan Stanley = SS bây giờ là “Soul Sister” của tôi đấy (Tâm hồn đồng điệu). Susan cười thật dòn đáp lại : “Anh nói đúng quá, tôi thật tâm đắc với hai chữ Soul Sister này….”

3 – Trên chuyến xe bus từ Buffalo đến Toronto Canada vào chiều ngày 7 tháng Tư 2015.

Buffalo là thành phố thuộc tiểu bang New York nằm kề sát với thác Niagara nơi biên giới giữa Mỹ và Canada. Hành khách đi xe bus từ phía Mỹ, khi đến trạm kiểm sóat của Canada, thì tất cả đều phải xuống xe mang theo hành lí và xuất trình passport cho cảnh sát. Bữa đó, việc kiểm sóat giấy tờ cho 50 hành khách chỉ hết chừng 30 phút; tôi không thấy có người nào bị giữ lại và mấy nhân viên cảnh sát cửa khẩu đều tỏ ra lịch sự, vui vẻ thân thiện đối với mọi người.

Người ngồi bên tôi trong chuyến xe này là một cô gái cỡ tuổi 25. Cô cho biết mình là người Canada sinh trưởng ở Montréal, tên là Mélanie. Thế là tôi có dịp chuyện trò với cô bằng cả tiếng Pháp lẫn tiếng Anh. Dĩ nhiên là Mélanie nói thông thạo cả 2 thứ tiếng này, mà thường được gọi là lọai người bi-lingual. Cô cho biết từ vài năm nay thì qua dậy tiếng Anh cho các học sinh trung học tại Nam Hàn. Cô được cung cấp nơi ăn chốn ở tươm tất tại thành phố Quanjou ở phía cực nam của bán đảo Triều Tiên với dân số khỏang 1 triệu người. Ban trưa thì ăn ở nhà trường, các thầy cô giáo đều cùng ăn theo thực đơn như các học sinh. Cô rất thích các món ăn này mà cô gọi đó là thứ healthy food (thức ăn lành mạnh, tốt cho sức khỏe). Nói chung là cô có thiện cảm với người dân Đại Hàn vì trình độ văn hóa tương đối cao và lối sống đày tình người tại xứ sở này. Mélanie cũng học được tiếng Đại Hàn, đọc báo chí sách vở và nói chuyện được với người địa phương bản xứ. Nhưng cô lại sử dụng tiếng Anh nhiều hơn vì tại nhà trường các học sinh cũng như giáo chức thì đều nói thông thạo tiếng Anh.

Được hỏi về tình trạng liên hệ với Trung quốc, thì cô cho biết người Đại Hàn rất bực bội khó chịu vì phải chịu đựng nạn ô nhiễm bàu khí quyển do phía bên Trung quốc thổi qua eo biển từ phía Tây qua, nhiều khi ngột ngạt rất khó chịu. Mà tình trạng này đã kéo dài từ lâu, mà phía Trung quốc rõ ràng là bất lực không làm sao mà cải thiện tình hình tồi tệ của nạn ô nhiễm nặng nề như thế được.

Đến lượt Mélanie tò mò hỏi về chuyện của tôi ở Việt nam như thế nào mà bây giờ lại phải đến tỵ nạn trên đất Mỹ.Tôi cho cô biết là năm nay tôi đã bước vào tuổi 80, ngang tuổi với ông bà của cô đấy, phải không. Mélanie gật đầu “ Quả đúng vậy, ông ngọai của cháu năm nay 81 tuổi.” Tôi nói tiếp : “Chuyện tù đày của tôi nguyên do là vào năm 1990, lúc cộng sản ở Đông Âu sụp đổ, thì người cộng sản ở Việt nam rất hốt hỏang (panicked), họ mở chiến dịch bắt giữ những người có chính kiến bất đồng như tôi (dissident).

Tôi liền mở laptop cho cô đọc bài tôi viết “How I became a political prisoner in Vietnam”. Xem xong, Mélanie nói ngay : “Cháu thật không thể ngờ được là người cộng sản họ lại có thể độc tài tàn bạo như vậy được!” Tiếp theo tôi cho Mélanie coi Chứng chỉ của Amnesty International tuyên dương tôi là một Human Rights Hero trong Đại Hội mới đây ở New York. Tôi giải thích thêm : “Vì Amnesty đã góp phần cứu thóat tôi ra khỏi nhà tù ở Việt nam năm 1996, nên từ nhiều năm nay tôi tích cực tham gia họat động với Amnesty – do đó mà bây giờ họ mới tuyên dương tôi như vậy.” Mélanie gật gù và nói : “Thật là sự may mắn cho cháu được gặp một nhà Anh hùng về Nhân quyền như bác đấy.” Cả hai chúng tôi đều cười thật là vui vẻ, hồn nhiên, sảng khóai.

Đại khái câu chuyện dọc đường của tôi trao đổi với các bạn đồng hành trên máy bay, trên xe lửa hay xe bus từ nhiều năm nay, thì thật có nhiều chi tiết ngô nghĩnh lý thú tương tự như mấy trường hơp mới đây nhất được ghi vắn tắt lại trên đây. Tôi nghĩ mình có thể viết thành cả một cuốn sách về bao nhiêu chuyên đại lọai mà tôi đã gặp trong hơn 10 năm rong ruổi khắp nơi trên đất Mỹ, Canada, Âu châu, Úc châu.

Nhưng bài viết đến đây, kể đã dài rồi, tôi xin được tạm ngưng ở đây. Và xin hẹn sẽ viết tiếp thêm chi tiết nữa trong những dịp khác vậy.

Thành phố Toronto Canada, ngày 14 tháng Tư năm 2015

Đoàn Thanh Liêm

Đẹp sao là lá cờ đỏ sao vàng – Bùi Bảo Trúc

Đẹp sao là lá cờ đỏ sao vàng – Bùi Bảo Trúc

Đẹp sao là lá cờ đỏ sao vàng – Bùi Bảo Trúc

Phải nói ngay người vẽ cái poster đó vẽ rất khéo. Những ai không phải là người Nhật hay người Việt, không đọc được chữ Nhật và chữ Việt mà nhìn tấm poster ấy thì chỉ thấy lá cờ đỏ sao vàng quang vinh (?) của nước ta để rồi nghĩ ngay rằng (nội dung của tấm poster là) nước ta đang oai hùng tiến lên cùng năm châu thế giới.

Manbiki wa hanzai desu 万引き わ 犯罪 です
“ăn cắp là phạm tội”

Tấm poster này được một sinh viên Việt Nam học tại Đại Học Matsuyama Matsudo, Chiba tìm thấy ở trong khuôn viên của đại học. Nửa trên của poster là lá cờ đỏ sao vàng với ngôi sao phinh phính beo béo của nước ta, không thể lầm với bất cứ một ngôi sao nào trong các lá cờ của thế giới. Thực ra trong tấm poster đó cũng không hẳn là một lá cờ, mà là một khoảng mầu đỏ chẩy loang xuống nửa dưới của tấm poster. Khoảng mầu đỏ loang che gần hết hai chữ “Trộm cắp”. Một hình vẽ bàn tay, biểu tượng quốc tế cho chữ “STOP!”. Ngay phía dưới là hàng chữ Nhật mà kiến thức rất hạn hẹp về chữ Hán của tôi chỉ đọc được lõm bõm ba bốn chữ, nhưng chắc ý nghĩa của hàng chữ Nhật ấy chắc cũng không ngoài một lời nhắn là đừng ăn cắp. Ở cuối của tấm poster là hàng chữ Việt nguyên văn: “LAO ĐỘNG LÀ VINH QUANG”.

Chuyện ăn cắp thì ở đâu mà lại không có. Ăn cắp không chỉ thấy ở những người thuộc riêng một quốc tịch nào nghĩa là những người ăn cắp thì nước nào cũng có. Nhưng theo một bản tin của đài BBC mới đây, thì người Việt ở Nhật dính vào hơn 40% những vụ ăn cắp vặt. Các vụ này thường diễn ra tại các siêu thị, luôn cả các cửa tiệm bán quần áo, mỹ phẩm sang trọng. Thủ phạm là những thành phần lao động, du sinh, và luôn cả các phi công và tiếp viên hàng không. Tình trạng này diễn ra nhiều đến nỗi cảnh sát của một thành phố (Nhật) nọ phải đưa người sang Việt Nam để học tiếng Việt ngõ hầu giải quyết những trường hợp ngôn ngữ bất đồng giữa cảnh sát và những người Việt phạm tội ăn cắp. Ở một số nơi đã xuất hiện những poster có nội dung cảnh cáo những người trộm cắp viết bằng tiếng Việt hăm là hình phạt sẽ rất nặng. Điều an ủi duy nhất là, vẫn theo bản tin của đài BBC, thành tích ăn cắp của người Việt ở Nhật vẫn còn thua Trung Quốc.

Nhưng người ta phải đồng ý là không có một tấm poster cảnh cáo nào có nội dung độc địa (nhắm vào Việt Nam) như tấm ở Đại Học Matsuyama. Có thể nó cũng xuất hiện ở những nơi khác nữa chứ chẳng lẽ chỉ in ra vài tấm treo trong khuôn viên đại học thôi.

Người designer vẽ tấm poster đó rất khéo nhưng cũng rất đểu. Thay vì chỉ là mấy dòng chữ Việt cũng đủ để răn đe những người có toan tính bất lương, phạm pháp thì designer dùng ngay lá cờ và những hàng chữ Việt để đích danh nói thẳng với các công dân của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chứ không hề nhắm vào các lao động đến từ Phi Luật Tân, Nam Dương, Đại Hàn…

Lá cờ được ghép vào tấm poster nhưng không phải là môt lá cờ tung bay ngạo nghễ trong gió, mà là một khoảng mầu đỏ loang lổ.

Sau hết, cái đểu của người vẽ tấm poster đó ghép vào tấm poster đó là câu mà nhà nước vẫn đem ra để bảo ban, dậy dỗ những người dân cùng khổ của Việt Nam: “LAO ĐỘNG LÀ VINH QUANG”.

Người design tấm poster rất đểu khi đem câu này ra để mỉa mai, rỉa rói, xỏ xiên nhà nước Việt Nam… Này mấy anh kia, cứ hô hào, cổ vũ cho chuyện lao động là vinh quang thì hãy cứ nhìn lại coi người dân của các anh có làm đúng theo lời cổ vũ của mấy anh không. Họ có thực tâm tin rằng lao động là vinh quang không? Hay những công dân khốn khổ của nước Việt Nam mà các anh xuất cảng đi làm nô lệ ở khắp mọi nơi (nhưng không thấm nhuần đạo đức Hồ Chí Minh và những lời kêu gọi của các anh) chỉ là thứ hàng xuất cảng trây lười, chỉ biết trộm cắp sang nước Nhật của chúng tôi và làm bẩn, làm ô nhiễm đất nước của chúng tôi.

Tấm poster xuất hiện từ hồi cuối năm 2014 nhưng tới nay, đại sứ quán của nước ta vẫn chưa có bất cứ một phản ứng nào. Không có một công hàm phản đối gửi cho chính phủ Nhật đòi tháo gỡ những tấm biểu ngữ có nội dung lăng mạ người dân và đất nước Việt Nam.

Hay là chúng nó cũng đồng tình với những lời chửi cha chúng nó lên như vậy?

NhatAnCap

Đáng lẽ ra Bộ Ngoại Giao phải gọi đại sứ Nhật tới than phiền, đòi chính phủ Nhật phải ra lệnh cho thành phố Chiba dẹp bỏ, thu hồi những tấm poster đó và xin lỗi người Việt Nam và lá cờ đỏ sao vàng. Nhưng Bộ Ngoại Giao, Sứ Quán Việt Nam ở Tokyo không hề mở mồm, mặc cho người Việt và lá cờ (dơ dáy ấy) bị mặc tình bôi bẩn thêm.

Nhưng làm thế nào được, khi mà cả nước chúng nó toàn là một bầy trộm cướp, đạo tặc với nhau. Cứ tìm chữ kleptocracy (chế độ ăn cắp) trong internet là lại thấy có tên Việt Nam ngay lập tức.

Cái danh dự của Việt Nam sau năm 1975 bị bọn chó dại ném xuống đất đen biết đến bao giờ mới gột rửa cho sạch đây!

Bùi Bảo Trúc

Tị nạn giáo dục hay tị nạn chính trị?

Tị nạn giáo dục hay tị nạn chính trị?

GS Nguyễn Văn Tuấn

Hôm qua đọc được một bài báo mà cái tựa đề [nói theo tiếng Anh là] rất “revealing”: Thạc sĩ, cử nhân thất nghiệp: Có làm được việc đâu mà kêu ca (1). Bài báo liệt kê vài nhược điểm của tình trạng đào tạo trong các đại học Việt Nam, nhưng chủ yếu vẫn là vấn đề chất lượng. Dĩ nhiên, câu chuyện không mới, nhưng nó một lần nữa nhắc nhở vấn đề chất lượng đào tạo, và dẫn đến vấn nan “tị nạn giáo dục” như hiện nay. Nhưng tôi nghĩ trong thực tế thì đó là một cuộc tị nạn chính trị, chứ không hẳn là tị nạn giáo dục.

Vấn đề này đã được đề cập đến gần 20 năm trước đây. Lúc đó tôi bắt đầu có những tìm hiểu về vấn đề, và đọc được một báo cáo của UNDP (Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc). Trong báo cáo đó, tác giả nhận xét rằng sinh viên ra trường chưa đảm nhận được công việc mà đáng lẽ những người được đào tạo như thế phải làm được: “Hệ thống GD-ĐT [giáo dục và đào tạo] lâu nay của Việt Nam còn bất cập. Tỉ lệ người được đào tạo ra đạt tiêu chuẩn quốc tế là rất ít.” Một nghiên cứu của bà Maureen Chao thuộc Trường Đại học Seattle (Mĩ) vào thập niên 1990s, trong nhiều công ti liên doanh với Việt Nam, như Intel chẳng hạn, hầu hết sinh viên Việt Nam đều phải được đào tạo lại cả về chuyên môn lẫn kĩ năng giao tiếp!

Một trong những vấn đề mà ít ai đề cập đến là sinh viên VN tiêu ra khá nhiều thì giờ học những môn mà [nói theo ông Hồ Ngọc Nhuận] là “thầy không muốn dạy và trò thì không muốn học”. Đó là những môn cách mạng Việt Nam, lịch sử đảng, kinh tế mác lê, v.v. Chưa có một hệ thống giáo dục nào trên thế giới mà có chương trình quái đản như thế! Thật ra, sau này tôi tìm hiểu thi mới biết là bên Tàu họ cũng dạy như thế. Một em nghiên cứu sinh của tôi (nay đã đi Mĩ) kể rằng em ấy phải học mấy môn học vô bổ đó, và nó chiếm 20% chương trình. Một lần nữa, VN lại bắt chước cách tẩy não của Tàu. Một hệ thống giáo dục lẫn lộn giữa tuyên truyền chính trị và giáo dục thì làm sao đào tạo ra con người giỏi được.

Đến nay vấn đề vẫn chưa được giải quyết. Một bài báo trên tạp chí công nghệ thông tin cnet (do Zing dịch) cho biết “Sau khi tốt nghiệp, sinh viên Việt Nam phải được đào tạo thêm để đứng máy ở các dây chuyền sản xuất. Đây là thực tế được hàng chục nhà tuyển dụng xác nhận. Quá trình đào tạo này mất vài tháng, có khi vài năm” (2). Các nhà tuyển dụng còn phê bình hệ thống giáo dục VN không linh động, và không cải tiến nhanh để theo kịp tình hình phát triển kinh tế.

Nhưng các công ti lại thấy đó là cơ hội cho họ, để họ liên kết với đại học nước ngoài đào tạo lại các giảng viên và giáo sư Việt Nam (2). Nói cách khác, họ không tin tưởng vào hệ thống đại học VN, nên họ phải nhờ nước ngoài làm giúp. Đào tạo lại giảng viên, giáo sư Việt Nam? Trong thực tế, theo như bài báo cho biết, công ti Intel liên kết cùng một cơ sở khác “đã đào tạo 291 giảng viên người Việt Nam, trong đó có 71 giảng viên nữ, với các khoá học kéo dài 6 tuần cùng hàng trăm giáo sư khác.”

Có lẽ điều này cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên, bởi vì trước đây một vị trưởng lão trong làng giáo dục đã từng nhận xét rằng hệ thống đào tạo tiến sĩ trong nước còn có nhiều bất cập. Trong một bài viết năm 2007, Gs Hoàng Tuỵ cho rằng “Có những công trình khoa học, những luậnvăn tiến sĩ của ta ngay cả về những ngành học thuậtcó tính quốc tế như khoa học cơ bản, kinh tế,…,nếu xét theo tiêu chuẩn thông thường ở các nước thì thậm chí chỉ là những mớ giấy lộn. Đội ngũ GS của ta thì nhiều người hữu danh vô thực, số khá đông dưới xa chuẩn mực quốc tế bình thường nhất” (3).

Nhưng GS Tuỵ không phải là người duy nhất nhận định như thế; Gs Trần Văn Thọ cũng từng có nhận xét giống như thế trong ngành kinh tế. Anh Thọ viết: “Cách suy nghĩ về việc chọn đề tài ở VN chỉ làm cho luận án tiến sĩ thiếu tính học thuật và phần lớn thiếu tính độc sáng. Nội dung, trình độ của luận án do đó còn rất xa mới đạt được tiêu chuẩn tối thiểu của thế giới và người được cấp bằng trong trường hợp đó khó có thể thảo luận khoa học với chuyên gia nước ngoài trong cùng ngành” (4).

Đặt những nhận xét đó trong bối cảnh chung thì chúng ta sẽ có một bức tranh logic. Do cách đào tạo người thầy bậc đại học đã có vấn đề, nên từ đó dẫn đến hàng loạt vấn đề về trò. Tôi cũng từng viết trong cuốn sách về giáo dục là chất lượng đào tạo phải bắt đầu từ thầy cô. Chẳng có gì là một sáng kiến mới, mà rất ư hiển nhiên. Thầy cô là “thợ giảng” thì làm sao có thể đào tạo ra trò giỏi được. Nhưng nói như thế có thể không công bằng cho những bạn được đào tạo ở trong nước nhưng được đào tạo đàng hoàng. Nhưng con số “đàng hoàng” đó chẳng bao nhiêu, nên cả hệ thống phải ở trong tình trạng vàng thau lẫn lộn như hiện nay.

Nói một cách nôm na, thầy dỏm “sản xuất” ra một thế hệ dỏm I. Thế hệ dỏm I lại cho ra một thế hệ dỏm II, và cứ thế cả hệ thống theo thời gian là dỏm nhiều thế hệ. Nói như thế để thấy việc gác “đền thiêng” giáo dục rất quan trọng. Nhưng rất tiếc, việc đó đã bị lơ là cả 40 năm nay, nên để lọt và dung túng những kẻ bất tài có mặt trong cái đền thiêng giáo dục. Những kẻ bất tài đó đã làm cho nền giáo dục trở nên tầm thường hoá, có khi dung tục hoá. Và, hệ quả là cả nước phải hứng chịu tình trạng như ngày nay.

Nhớ ngày xưa, những người gác đền thiêng rất nghiêm (như Gs Phạm Biểu Tâm) nên còn giữ được phẩm giá giáo dục một thời. Xin nhắc lại thời đó Gs Tâm từ chối không cho con gái của ông Ngô Đình Nhu theo học y khoa chỉ vì cô ấy thiếu một chút xíu điểm. Dù có áp lực gián tiếp từ hệ thống chính trị (chứ không phải từ ông Nhu) nhưng Gs Tâm nhất định giữ vững quyết định. Còn sau 1975 thì có một thời gian dài người ta nhận sinh viên theo chế độ lí lịch, thì việc gác đền thiêng giáo dục coi như vô hiệu hoá.

Cái khó là có một số người dỏm và “ngồi nhầm chỗ” lại đang cầm trịch hệ thống giáo dục và đào tạo ở khắp nơi. Thành ra, việc cải cách giáo dục có thể xem là gần như vô vọng, không có lối ra. Có lẽ đó là một cái nhìn hơi bi quan, nhưng quả thật đã 20 năm qua từ lúc tôi quan tâm đến vấn đề cho đến nay, tôi vẫn chưa thấy tín hiệu gì tích cực để thay đổi cái nhìn đó.

Vì thế, xin đừng trách tại sao Việt Nam có hiện tượng “tị nạn giáo dục” ở nước ngoài. Người nước khác thì đi tị nạn chính trị, còn Việt Nam thì tị nạn giáo dục. Những người biết rõ nhất sự vô vọng của nền giáo dục chính là các quan chức trong chính quyền, vì con cháu họ thường được gửi đi tị nạn giáo dục. Thật ra, tị nạn giáo dục của Việt Nam cũng là một hình thức tị nạn chính trị, vì các em ấy khi ra nước ngoài là để giải phóng khỏi những môn học vô bổ và sau đó là xin định cư luôn ở nước ngoài. Khi định cư, các em ấy lại bảo lãnh anh em và cha mẹ sang tị nạn tiếp! Tị nạn khỏi nền giáo dục lẫn lộn giữa tuyên truyền chính trị và giáo dục. Do đó, nói là tị nạn giáo dục, nhưng phải hiểu là tị nạn chính trị.

Đặng Xương Hùng: Hội chứng Phùng Quang Thanh

Đặng Xương Hùng: Hội chứng Phùng Quang Thanh

FB Đặng Xương Hùng

Nếu như hội chứng Nguyễn Cơ Thạch là việc Trung Quốc dùng đòn trừng phat ông Thạch để uy hiếp các nhân vật khác trong giới lãnh đạo cấp cao. Đòn răn đe để sau đó không ai dám ngo ngoe chống lại Trung Quốc. Thì hội chứng Phùng Quang Thanh có thể hiểu là hiện có một quyền lực ngầm đang chi phối nền chính trị tại Việt Nam và nó sẽ gạt phăng ra khỏi lề những ai cản đường nó, và là một đòn răn đe với những ai muốn chống lại nó.

Hội chứng Nguyễn Cơ Thạch tồn tại 25 năm qua. Thậm chí tháng 5/2014 giàn khoan HD 981 vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam, không một quan chức cao cấp nào dám ho he lên tiếng mạnh. Hơn nữa, Trung Quốc còn khuyên « những đứa con hoang đàng hay quay trở về » và ông Phùng Quang Thanh còn tuyên bố với toàn thế giới rằng : tranh chấp ở Biển Đông là « mâu thuẫn trong một gia đình ». Rõ ràng Phùng Quang Thanh là một trong những nhân vật mắc hội chứng Nguyễn Cơ Thạch nặng nhất.

Hội chứng Nguyễn Cơ Thạch đang có chiều hướng suy giảm, nhất là sau chuyến đi ông Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ. Điều đó cho thấy tình báo Mỹ đã giải tỏa nỗi lo sợ của lãnh đạo Việt Nam trước o ép của tình báo Trung Quốc. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao đã nêu đích danh Trung Quốc trong những tuyên bố mới đây của mình.

Hội chứng Phùng Quang Thanh đang dần dần rõ nét. Nó trở thành hội chứng vì bất cứ một quan chức cấp cao nào quan sát những gì vừa xảy ra với ông Thanh đều rùng mình và rút ra cho mình một bài học. Một loạt những điều chuyển và tự rút lui khỏi chính trường đã chứng mình điều đó.

Hội chứng Phùng Quang Thanh ngày càng rõ nét, cho chúng ta thấy hai điều : thứ nhất, cuộc đấu đá trong nội bộ đảng là cuộc đấu tranh tàn khốc, một mất một còn giữa các nhân vật chóp bu và thứ hai, tranh chấp giữa hai phe : phe mắc hội chứng Nguyễn Cơ Thạch và phe ít bị, vẫn còn đang diễn ra căng thẳng và giằng co. Tuy phe ít bị đang tạm thời giành thắng thế.

Hội chứng ông Thanh bắt nguồn từ thời hai ông Sang, Trọng muốn phế truất ông Dũng. Cách phản pháo ác liệt của ông Dũng đã cho thấy hội chứng ông Thanh đã bắt đầu. Thất bại của ông Trọng trong việc đưa ông Nguyễn Bá Thanh và ông Vương Đình Huệ, lập Ban nội chính và Ban kinh tế để làm đối trọng với Thủ tướng, cho thấy cuộc đấu tranh quyền lực ai hơn ai dần rõ nét. Cái chết của hai ông Phạm Quý Ngọ và Nguyễn Bá Thanh khẳng định thêm tính không khoan nhượng của cuộc đọ sức quyền lực tàn khốc này.

Những sự vụ liên quan đến ông Phùng Quang Thanh trong thời gian gần đây là những triệu chứng cuối cùng để khẳng định có hội chứng. Hội chứng đã rõ khi không còn có ai dám bảo vệ và ủng hộ ông Thanh, chống lại thế lực ngầm kia nữa. Chỉ còn là những hình ảnh mờ ảo, gỡ gạc, những cái nhìn soi xét, thương hại.

Trận đấu ở những phút cuối đã ngã ngũ, tỷ số đã hoàn toàn bất lợi với cá nhân ông Thanh và phe mắc hội chứng Nguyễn Cơ Thạch. Hình như vì quyền lợi của cả hai phe, người ta đang làm mọi cách để ông và phe của ông gỡ bàn danh dự, và cũng không loại trừ khả năng áp lực của tình báo Trung Quốc quá mạnh, không dại gì phe ít bị không nhân nhượng một chút. Ông phải còn sống để làm hài lòng tất cả.

Hội chứng Phùng Quang Thanh đã làm người Việt Nam đột nhiên sướng lên ở một thời điểm, rồi chợt bừng tỉnh, chưa điều gì báo hiệu tương lai khá hơn cho dân tộc Việt Nam. Quyền lực ngầm kia một khi giành được quyền thế, nếu không thay đổi, nếu không quay lại với nhân dân, thì có khi còn tồi tệ hơn trước.

Không trông chờ vào ai, đó là thái độ thực tế nhất, người Mỹ cũng chỉ đón lấy nếu chúng ta đưa tay ra cần một sự trợ giúp. Cơ hội đến rất bất ngờ, đôi khi cơ hội đến theo dạng thách đố. Cần lắm những khối óc minh anh và thật sự dũng cảm để đưa dân tộc này ra khỏi những đêm dài tăm tối.

Tại sao các con sông đều uốn khúc mà không chảy theo một đường thẳng?

Tại sao các con sông đều uốn khúc mà không chảy theo một đường thẳng?

https://daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2015/01/tinhhoa.net-QzoYAY-20150126-tai-sao-cac-con-song-deu-uon-khuc.jpg

Trong giờ học, một vị thiền sư chỉ vào một bản đồ và hỏi: “Các dòng sông trên hình ảnh này có đặc điểm gì?”. Các môn đồ trả lời: “Chúng luôn lượn vòng thay vì chảy theo một đường thẳng”.

Vị thiền sư lại tiếp tục hỏi: “Tại sao như vậy? Nói cách khác, tại sao những con sông này không đi thẳng mà cứ phải đi đường vòng?”.

Mọi người bắt đầu thảo luận: “Vì khi đi đường vòng, sông sẽ được kéo dài nên chứa được nhiều nước hơn. Hoặc nhờ thế mà khi lũ mùa hè kéo đến, nước sông sẽ không bị dâng quá cao và tràn ra ngoài”.

Một người khác lại nói: “Bởi vì con sông trải dài nên lưu lượng nước trên mỗi khúc sông tương đối thấp, áp lực dưới đáy sông cũng giảm đi. Điều này góp phần quan trọng trong việc bảo vệ bờ sông,…”

“Tất cả mọi người nói đều đúng”, vị thiền sư nói, “còn bản thân tôi thì cho rằng sông không đi đường thẳng mà phải đi đường vòng, đơn giản chỉ vì đi đường vòng là chuyện bình thường, đi đường thẳng mới là chuyện khác thường. Bởi trên hành trình của mình, các con sông sẽ phải gặp nhiều và đa dạng trở ngại, có cái vượt qua được, có cái không. Nên con sông chỉ có thể đi vòng để tránh các chướng ngại. Mục đích cuối cùng là hòa vào biển khơi”.

Ông thiền sư đột nhiên trầm mặc hơn: “Cuộc sống của chúng ta cũng như vậy. Khó khăn, trắc trở trong cuộc sống là chuyện bình thường. Không bi quan, tuyệt vọng, không thở dài, buồn phiền hay bỏ cuộc mới là thái độ sống đúng đắn. Như dòng sông kia không khuất phục trước gian nan, thử thách, luôn kiên trì tiến về phía trước, tiến về biển khơi bao la”.

Không có con đường dễ dàng trong mọi hành trình, gian nan và thử thách chính là thước đo ý nghĩa của điểm đến, chỉ cần kiên trì vượt qua, chúng ta sẽ đến được nơi cần phải đến.

Nguồn: daikinguyenvn

Không quốc giáo, không giáo điều

Không quốc giáo, không  giáo điều

( No State Religion, No State Dogma)

Đoàn Thanh Liêm

Năm 1975, sau khi chiến thắng được miền Nam rồi, thì giới lãnh đạo cộng sản tại Hanoi bèn công khai đổi tên “Đảng Lao Động” thành ra “Đảng Cộng sản”, tờ tạp chí “Học Tập” là cơ quan nghiên cứu và lý luận cuả Đảng Lao Động cũng đổi tên thành tạp chí “Cộng sản” luôn. Và cả đến cái “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam” (National Liberation Front NLF) cũng được cho giải tán, dẹp bỏ mất tiêu luôn. Đó là chuyện nội bộ cuả đảng cộng sản, họ có quyền quyết định thay đổi tên tuổi cuả riêng họ, chúng ta không phải là người trong đảng cộng sản, thì cũng chẳng nên thắc mắc  gì về cái chuyện riêng tư đó trong tổ chức cuả riêng họ.

Nhưng mà, vẫn theo chuyện “thưà thắng xông lên”, họ đã cả gan đổi cả cái tên, cái danh xưng cuả quốc gia thành ra nhà nước “Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt nam” (Socialist Republic of Vietnam SRV), thì đó là điều mọi người công dân Việt nam chúng ta đều có quyền bất đồng, có quyền dị nghị. Vì rõ ràng là đảng cộng sản đã quá ư lộng quyền. Họ vẫn xưng mình là “đày tớ cuả nhân dân”, ấy thế mà họ dám ngang nhiên qua mặt “các chủ nhân ông, tức là toàn thể nhân dân”, mà thay đổi cả cái danh xưng cuả đất nước Việt nam thành ra là một quốc gia nằm dưới trướng cuả cái giáo điều “xã hội chủ nghiã”, với nền” độc tài chuyên chính vô sản”, với chủ trương “đấu tranh giai cấp, hận thù giai cấp”, “dân chủ tập trung” v.v…Đó là cái điều mà không bao giờ chúng ta lại có thể chấp nhận được.

Ở bên Pháp vào năm 1981, lần đầu tiên có lãnh tụ Đảng Xã hội là Francois Mitterand được bàu làm Tổng Thống, thì Giáo sư Raymond Aron có viết một bài báo gây chấn động trên báo Figaro, ông vìết thật đanh thép rằng  : “ Nước Pháp là nước Pháp, hay là Cộng Hoà Pháp quốc, chứ không có thêm một tĩnh từ nào khác” (Nguyên văn : La France, c’est la France ou la République Francaise, sans adjectifs! ) Tức là vị giáo sư lừng danh này muốn cảnh cáo cả phe tả phái và đảng Xã hội rằng : “Không được đem bất kỳ cái chủ thuyết nào mà gán vào danh xưng nước Pháp.” Lập trường này cũng có thể đem áp dụng cho nước Việt nam chúng ta, mà cho tới năm 2010 này vẫn còn bị đảng cộng sản gắn cho “cái đuôi con chồn xã hội chủ nghiã”!

Đầu năm 1990, sau khi chế độ cộng sản xụp đổ ở Đông Âu, thì tôi có viết một bản văn nhan đề là : “Năm Điểm Thoả Thuận Căn Bản” được coi như cái “guideline” cho việc soạn thảo bản Hiến pháp sau này. Bản văn được bắt đầu như sau :

Điểm 1 – Quốc gia Việt nam không công nhận một tôn giáo nào làm quốc giáo.

Quốc gia cũng không áp đặt một chủ thuyết nào làm giáo điều chính thức cuả Dân tộc.

Nhằm tôn trọng và bảo vệ Tự do Tín ngưỡng, Nhà nước không can thiệp vào chuyện nội bộ cuả các tổ chức tôn giáo.

(Toàn văn Bản “Năm Điểm” này sẽ được ghi trong Phần Phụ Lục đính kèm bài viết này).

Vì bản văn này, mà tôi bị công an bắt giam giữ vào tháng Tư 1990 và trong phiên xử vào ngày 14 Tháng Năm 1992, Toà án tại Saigon đã xử phạt tôi 12 năm tù giam về tội “Tuyên truyền chống chủ nghiã xã hội”. Và sau đó, họ đưa tôi đi “thi hành án” tại trại giam Z30D ở Rừng Lá thuộc huyện Hàm Tân Phan Thiết.

Năm 1996, nhờ sự vận động can thiệp cuả nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế như Amnesty International, Human Rights Watch, cũng như cuả nhiều Dân biểu, Nghị sĩ và các nhân vật văn hoá xã hội, và nhất là cuả chánh quyền Mỹ, mà tôi đã được trả tự do bằng cách công an chở tôi từ nhà tù Hàm Tân ra thẳng phi trường Tân Sơn Nhất, để cùng với gia đình qua định cư bên nước Mỹ. Đại khái vắn tắt cuả vụ án cuả tôi là như vậy.

Trong 10 năm nay, tôi để thời giờ nghiên cứu tìm hiểu về sự “Chuyển hoá Dân chủ” (Democratic Transition) tại các nước cựu cộng sản ở Đông Âu và cả ở nước Nga. Và tôi đã tìm ra được nhiều điều lý thú, khả dĩ có thể rút kinh nghiệm cho việc xây dựng tương lai đất nước và dân tộc Việt nam chúng ta. Để cho ngắn gọn, tôi chỉ xin trích dẫn một số điều khoản căn bản trong bản Hiến pháp, mới được ban hành trong thập niên 1990 và sau này, cuả một số nước cựu công sản, mà có liên hệ trực tiếp đến quan điểm cuả tôi như đã ghi nơi điều 1 Bản văn “Năm Điểm” đã trưng dẫn ở trên.

A/ Không có Quốc giáo (No State Church).

1-      Điều 40 khoản 2 Hiến Pháp nước Estonia : “Không có quốc giáo” (There is no State Church).

2-      Điều 14 khoản 1 Hiến Pháp nước Nga : “Không một Tôn giáo nào được thiết lập như một quốc giáo, hay như một tôn giáo bắt buộc (No Religion shall be established as a State or Obligatory One).

B/ Không có Ý thức hệ Nhà nước (No State Ideology)

1-      Điều 13 khoản 2 Hiến Pháp nước Nga : “ Không có một Ý thức hệ nào được thiết lập như là Ý thức hệ Nhà nước, hoặc như môt ý thức hệ bắt buộc (No Ideology may be established as a State or Obligatory One).

2-      Điều 5 khoản 2 Hiến Pháp nước Moldova : “Không có Ý thức hệ nào được công bố là Ý thức hệ chính thức cuả Nhà nước (No Ideology may be pronounced as an official ideology of the State).

3-      Điều 12 khoản b Hiến Pháp nước Uzbekistan : “ Không một Ý thức hệ nào mà được ban cấp quy chế cuả Ý thức hệ Nhà nước” (No Ideology shall be granted the status of State Ideology).

4-       Điều 11 khoản 2 Hiến Pháp nước Bulgaria : “Không có Ý thức hệ nào mà được công bố hay xác nhận là Ý thức hệ của Nhà nước”-  (No Ideology shall be proclaimed or affirmed as an Ideology of the State).

Mấy trích dẫn ghi trên thiết nghĩ cũng đã đủ để đánh giá được sự dứt khoát loại bỏ căn bệnh giáo điều cuả chế độ cộng sản trước đây. Người viết xin để bạn đọc tuỳ nghi phân tích và lượng định về sự thay đổi này trong các quốc gia cựu cộng sản ở Đông Âu và nhất là ở nước Nga. Và rồi đối chiếu với tình trạng ở Việt nam hiện nay./

Baltimore Tháng Năm 2010

Đoàn Thanh Liêm

Phụ   Lục

Năm Điểm Thoả Thuận Căn Bản

Điểm 1 – Quốc gia Việt nam không công nhận một Tôn giáo nào làm Quốc giáo.

Quốc gia cũng không áp đặt một chủ thuyết nào làm giáo điều chính thức cuả dân tộc.

Nhằm tôn trọng và bảo vệ Tự do Tín ngưỡng, Nhà nước không can thiệp vào chuyện nội bộ cuả các tổ chức tôn giáo.

Điểm 2 – Dân tộc Việt nam gồm nhiều sắc tộc có truyền thống văn hoá lịch sử khác nhau. Như vậy nền tảng cuả xã hội Việt nam phải được đặt trên cơ sở đa chủng tộc, đa văn hoá.

Điểm 3 – Phát huy truyền thống nhân bản và nhân ái cuả dân tộc, hệ thống chính trị và luật pháp Việt nam phải được xây dựng theo những nguyên tắc đã được ghi rõ trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Điểm 4 – Về phương diện kinh tế, vai trò cuả nhà nước là làm trọng tài để bảo đảm công bằng xã hội và trật tự xã hội. Như vậy, nhà nước không thể vừa đứng làm trọng tài, mà lại vưà là một bên đương sự trong các hoạt động kinh doanh làm ăn được (vưà thổi còi, lại vưà đá bóng).

Hệ luận cuả nguyên tắc này là : Hệ thống quốc doanh hiện nay sẽ được giảm bớt tới mức tối thiểu.

Điểm 5 – Thể hiện tinh thần hoà giải hoà hợp dân tộc, quốc gia sẽ ban hành lệnh khoan hồng đại xá đối với mọi vi phạm do cá nhân hay do tập thể gây ra.Nghiêm cấm mọi sự tuỳ tiện báo ân, báo oán.

Mọi khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại sẽ được xử lý theo đúng thủ tục luật pháp./

Làm tại Saigon Tháng Hai 1990.

Đoàn Thanh Liêm

Cái Đêm Hôm Ấy & Ngày Hôm Nay

Cái Đêm Hôm Ấy & Ngày Hôm Nay

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Dân đói kêu trời vang ổ nhạn
Quân gian dậy đất tựa đàn ong

Phan Đình Phùng

Tôi có chút giao tình với anh Trần Ngọc Thành nên mỗi khi gặp gỡ chúng tôi đều tìm một cái quán (thật) vắng để ngồi tâm sự vụn, và uống với nhau vài chục ly rượu nhạt. Phải là một nơi “thật” vắng vì sau khi cạn mấy chai đầy (dù là rượu nhạt) thế nào ông đại diện Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do cũng chợt nhớ đến giọng ca … thiên phú của mình:

  • Tui sẽ hát bài “Đi Đâu Cũng Nhớ Về Hà Tĩnh” để riêng tặng … Tiến nha!

Thoạt đầu, tôi rẫy nẩy:

  • Như rứa tội chết anh Thành à. Em nỏ biết Hà Tĩnh ở nơi mô đâu nà?
  • Can chi chuyện đó, trước sau gì rồi cũng sẽ biết thôi mà. Quê hương là của chung mọi người chớ nào có phải của riêng ai đâu…

Tôi sinh ra ở Sài Gòn, lớn lên ở Đà Lạt, và sống (sắp) tàn đời ở California . Cả ba vùng đất này đều là nơi tập trung của dân tứ xứ nên không thể coi là bản quán của bất cứ ai. Nhận (đại) nơi chôn nhau cắt rốn của anh em bạn bè làm quê (mình) luôn cũng … khoẻ, nhất là khi bằng hữu đã mở rộng lòng.

Với tâm cảm này, và sau khi nghe anh Trần Ngọc Thành hát (cỡ) trăm lần thì Hà Tĩnh “thấm” vô hồn tôi (rồi biến luôn thành “quê mình”) hồi nào không biết. Chỉ biết, từ đó, tôi … đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh. Thị xã này – qua ảnh – trông cứ y như một thành phố xinh xắn ở trời Âu. Ngó an bình, và phú túc thấy rõ.

Hà Tĩnh nhìn từ khách sạn BMC Plaza. Ảnh: panoramio

Nhưng ngó vậy, chớ không phải vậy đâu. Phần lớn những tin tức về Hà Tĩnh đều mang lại cho người đọc cái cảm giác (rất) bất an. Coi:

Quan chức ở tỉnh mô cũng rứa thôi, chuyện ni không có chi quan trọng nhưng loạt bài về chuyện lạm thu (thuế má) ở Hà Tĩnh trong tháng 7 vừa qua – trên báo Nông Nghiệp Việt Nam – mới thực sự khiến cho thiên hạ phải bàng hoàng và sửng sốt:

Sau đây là vài đoạn ngắn, trích từ  Báo Nông Nghiệp Việt Nam (số ra ngày 6 tháng 7 năm 2015) về cách thu thuế, và sự cùng quẫn của một gia đình nông dân, ở Hà Tĩnh:

Giữa mùa hạ ở Thường Nga, một xã nghèo miền thượng Can Lộc, trời xanh ngằn ngặt, nắng như thiêu như đốt. Nắng chết cỏ chết cây, đất đai, ruộng đồng đanh lại, cảm giác như bị cả một lò lửa khổng lồ nung đốt.

Vạn vật cỏ cây, con người im lìm chịu trận. Duy chỉ có tiếng loa truyền thanh từ trụ sở UBND xã vẫn cứ đều đặn hoạt động hết công suất. Giọng cán bộ truyền thanh giục giã, vang vọng, đanh thép len lỏi khắp trong làng, ngoài xóm, ra đến tận ngoài đồng vẫn còn nghe rõ: UBND xã yêu cầu nhân dân hoàn thành nghĩa vụ đóng nộp trong ba ngày chiến dịch…

Hạn chỉ trong vòng 3 ngày nhân dân phải đóng nộp đầy đủ, nhà nào thiếu, dù chỉ một cân thôi cũng phải chịu nộp phạt thêm 5%. Thực hiện chiến dịch thu nộp, mỗi hộ dân Thường Nga phải gánh hai phần đóng góp. Phần thu của xóm và phần thu của xã. Ở xóm bao gồm các khoản thu nội đồng, thu bê tông, thu hội quán.

Phần thu tại xã gồm: Thu quỹ giao thông thủy lợi phục vụ sản xuất, thu thầu hợp đồng, thu phí vườn đồi, phí kinh doanh chưa đến mức thu thuế tháng, thu HTX môi trường, quỹ khuyến học, hai loại quỹ, quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ QPAN, phạt quân sự, kế hoạch hóa, thuế đất phi nông nghiệp…

Gia đình ông Ngụ bà Hương có 8 sào ruộng, 6 nhân khẩu. Để có đủ cái ăn, mỗi vụ, ngoài phần ruộng được chia ông bà còn phải đấu thêm 3 sào của những gia đình chán ruộng. Quần quật đến nỗi, mùa gặt, nửa đêm bà Hương phải đeo ắc quy gắn bóng đèn để ra đồng. Vậy mà thóc lúa cũng không đủ chi phí đầu tư và nộp sản.

Bà Lê Thị Hương. Ảnh: báo Nông Nghiệp Việt Nam

Suốt cuộc trò chuyện, bà Hương liên tục khóc. Nhất là khi chúng tôi nhìn vào phương án thu của gia đình họ. Phần thu của xóm hết 558 nghìn đồng, phần thu của xã hết 928 nghìn đồng. Chưa phải thuộc diện nhiều so với các hộ khác, nhưng để có tiền đóng nộp họ phải bán hết những hạt thóc cuối cùng.

Trong nhà bà Hương hiện còn 5 tạ thóc. Ngoài hai tạ trừ ăn, ba tạ bán không đủ tiền trả nợ. Tiền lồng, tiền tuốt nợ từ vụ trước, gặt về, chủ nợ lăm le đến đòi mấy lần rồi nhưng lần nào bà cũng khóc xin khất để “ưu tiên” nộp sản cho xã trước “không người ta réo tên trên loa, người ta phạt 5%, người ta cắt giao dịch giấy tờ, quá tội”.

Hai tạ thóc “qui hoạch” cất ăn xem chừng cũng phải bán luôn vì nợ đòi gắt quá. Tiếng là 6 khẩu, nhưng hầu như chỉ có ông bà lao động. 4 đứa con, ngoại trừ đứa con gái thứ đã lấy chồng vào Quảng Bình, ba đứa còn lại không tật này cũng bệnh khác. Người con gái đầu tên Phan Thị Thích (35 tuổi), tính ẩm ương, mỗi lần lên cơn đều vác gậy rượt bà Hương đánh. Bệnh tình ngày một nặng nhưng không có tiền chữa trị. Thằng con út, hết đau gan lại gặp tai nạn giao thông, của nả trong nhà vốn không mấy thứ có giá trị lần lượt phải đem bán hết. Bây giờ nó bỏ nhà đi biệt xứ, không rõ ở đâu. Căn nhà trống tơ hơ, gần như không còn lấy một thứ gì khả dĩ bán thêm được nữa.

Tiếng loa và “giọng cán bộ truyền thanh giục giã, vang vọng, đanh thép len lỏi khắp trong làng, ngoài xóm” ở Hà Tĩnh – trưa hôm nay – khiến tôi nhớ đến bài ký sự (“Cái Đêm Hôm Ấy Đêm Gì”) của Phùng Gia Lộc, viết về cảnh thu thuế nơi một vùng quê (thuộc tỉnh Thanh Hoá) vào năm 1987:

Bỗng tiếng kẻng gõ giục giã liên hồi. Kẻng khắp xã: từ đội 1 đến đội 15, như một sự bùng nổ dây chuyền. Tiếng loa phóng thanh mở hết cỡ đọc bản tin, kế hoạch huy động lương thực của tỉnh và chỉ thị của tỉnh ủy về công tác lương thực.

Hoàng Văn Nhân, đội trưởng đội 12, đọc trên loa danh sách những nhà thiếu thóc chưa giao nộp cho hợp tác xã. Đèn đóm soi rừng rực ở các ngã đường. Chó sủa ơi là chó sủa. Cũng cái loa phóng thanh ấy, có tiếng ông chủ tịch xã gọi cán bộ về đội 12 hội ý. Ông trưởng công an xã Nguyễn Đình Định gào rát cổ trên loa, giọng giật giội gọi lực lượng dân quân, công an tăng cường về chi viện cho đội 12, tạo đà cho đội hoàn thành chỉ tiêu huy động.

Tôi rùng mình nghĩ đội tôi là đội trọng điểm, nên cán bộ xã, hợp tác xã, vón cục cả về đây. Họ sẽ gõ cho ra chục tấn thóc còn tồn sổ.

Gần một giờ sáng, công an, dân quân đã ập đến các nhà nợ thóc. Tiếng chó sủa vang, tiếng lợn kêu èng ẹch như bị chọc tiết ở các nhà gần quanh, làm thằng Út Văn khóc thét lên, ôm riết lấy mẹ. Thằng Thức cũng im thin thít, nằm co trong lòng tôi không dám cựa.

Bên nhà ông Ái, láng giềng cách vườn nhà tôi một hàng rào, công an và dân quân đang lùng sục. Tiếng ông bà Ái kêu xin và tiếng quát lác, tôi nghe rõ mồn một. – Cứ bắt lấy cái xe đạp! Phích, xô, bắt ráo!

Ở cổng nhà tôi đã có bước chân rình rịch, con chó mực đang có chửa bị quất, kêu ử ử. Cạch cạch cạch. Chị cò Lộc, mở cửa ra! Tiếng thằng bé trong buồng khóc thét. Thằng Thức đang ôm tôi, nghe em khóc cũng òa khóc toáng lên. Thằng Học mười hai tuổi đã học lớp tám rồi, mà cũng níu lưng tôi run bắn.

Nghe tiếng quát lần thứ hai, từ nhà bếp, tôi chạy lên. Một luồng đèn pin soi giữa mặt làm tôi lóa mắt, phải lấy tay che. – Có chuyện gì đấy, các bạn trẻ ơi? – Thu thóc, thu thóc chứ còn gì, ông đừng hỏi vờ.

Vợ tôi đã mở toang cửa, tay ôm thằng bé ngất lịm…

Phóng ảnh từ báo Nông Nghiệp Việt Nam

Nhà văn Phùng Quang Lộc đã qua đời từ lâu nhưng cảnh tượng hãi hùng của “cái đêm hôm ấy” thì vẫn còn ám ảnh những người dân quê Việt Nam – ở khắp mọi nơi – cho mãi đến bây giờ, dù gần 30 năm đã qua rồi.

Giữa khoảng thời gian này còn có một biến động lớn mà muốn quên cũng khó: “Cuộc Nổi Dậy CủaNông Dân Thái Bình,” vào năm 1997. Khi viết về tình trạng “lạm phát đầy tớ” ở “một xã rất nghèo, nơi có 2.000 hộ, với gần 1 vạn dân mà có tới… 500 cán bộ” – thi sĩ  Bùi Hoàng Tám đã nhắc đến lời cảnh báo (từ lâu) của nhà báo Hữu Thọ: “Nếu như sau Cái đêm hôm ấy… chúng ta biết lắng nghe, biết tôn trọng nguyện vọng của người dân thì chắc chắn sau này, đã không để xảy ra hiện tượng như ở Thái Bình.”

Tiện miệng, tôi xin được nói thêm: “Nếu như sau vụ nổi dậy ở Thái Bình, chúng ta biết lắng nghe, biết tôn trọng nguyện vọng của người dân thì chắc chắn sau này, đã không để xảy ra hiện tượng như tiếng súng hoa cải của anh em Đoàn Văn Vươn như ở Hải Phòng.”

Điều phiền là “chúng ta” không bao giờ “biết lắng nghe,” và cũng chả bao giờ “biết tôn trọng nguyện vọng của người dân” cả nên – tất nhiên – sẽ còn nhiều “Đoàn Văn Vươn” cũng như nhiều “Thái Bình” (khác nữa) sẽ tới và sắp tới!