TẠ ƠN CHÚA

TẠ ƠN CHÚA

Trích EPHATA 653

Con tạ ơn Chúa vì chồng con cứ phàn nàn khi bữa cơm chưa dọn kịp, bởi lẽ anh ấy đang ở ngay bên cạnh con, chứ không phải ở bên một người đàn bà nào khác.

Con tạ ơn Chúa vì con con cứ càu nhàu khi phải phụ rửa chén đĩa cho con, bởi lẽ thằng bé đang ở nhà chứ không phải lêu lổng ngoài đường.

Con tạ ơn Chúa vì số thuế thu nhập mà con phải trả quá cao, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có một công việc tốt để làm.

Con tạ ơn Chúa vì có nhiều thứ phải dọn dẹp sau bữa tiệc nhỏ, bởi lẽ như thế nghĩa là con luôn được bạn bè quý mến đến chơi.

Con tạ ơn Chúa vì quần áo con bỗng chở nên hơi chật, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có đủ ăn.

Con tạ ơn Chúa vì cái bóng của con cứ nhìn con làm việc, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang sống tự do ngoài nắng.

Con tạ ơn Chúa vì sàn phòng cần quét, cửa sổ cần lau, máng xối cần sửa, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có một mái nhà để cư ngụ.

Con tạ ơn Chúa vì hóa đơn đóng tiền điện nước của nhà con quá cao, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang được sử dụng nhiều tiện nghi khá hiện đại.

Con tạ ơn Chúa vì người phụ nữ ngồi phía sau con trong Nhà Thờ hát sai, bởi lẽ như thế nghĩa là tai con vẫn còn nghe được rất tinh tế.

Con tạ ơn Chúa vì một đống đồ phải giặt ủi, bởi lẽ như thế nghĩa là con có đầy đủ quần áo để ăn mặc tử tế.

Con tạ ơn Chúa vì các cơ bắp của mình thấy mỏi mệt vào cuối ngày, bởi lẽ như thế nghĩa là con đang có sức để làm việc nhiều.

Con tạ ơn Chúa vì tiếng đồng hồ reo thật to vào sớm ban mai, bởi lẽ như thế nghĩa là con còn đi lại được, còn hít thở và cười nói, bởi lẽ như thế nghĩa là con vẫn đang còn sống mạnh khỏe.

Và cuối cùng, con tạ ơn Chúa vì đã nhận quá nhiều E-Mail gửi về, bởi lẽ như thế nghĩa là con vẫn còn có nhiều bạn bè đang nhớ đến con…

KHUYẾT DANH, bản dịch của cố giáo sư TRẦN DUY NHIÊN ( 1941 – 2009 )

Lá thư của tổng thống Lincoln gửi thầy giáo dạy con trai ông

Lá thư của tổng thống Lincoln gửi thầy giáo dạy con trai ông

 

Bức thư của cố tổng thống Mỹ Abraham Lincoln gửi thầy hiệu trưởng ngôi trường nơi con trai ông theo học. Được viết ra từ gần 200 năm trước, lại là ở nước Mỹ, nhưng bức thư vẫn giữ nguyên tính “thời sự” và gợi nhiều suy nghĩ cho chúng ta.

Con tôi sẽ phải học tất cả những điều này, rằng không phải tất cả mọi người đều công bằng, tất cả mọi người đều chân thật. Nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết cứ mỗi kẻ vô lại ta gặp trên đường phố thì ở đâu đó sẽ có một người chính trực, cứ mỗi một chính trị gia ích kỷ, ta sẽ gặp một nhà lãnh đạo tận tâm. Bài học này sẽ mất nhiều thời gian tôi biết, nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết rằng mỗi một đồng đô la kiếm được do công sức lao động của mình bỏ ra còn quý giá hơn nhiều so với 5 đô la nhặt được trên hè phố…

Xin hãy dạy cho cháu biết cách chấp nhận thất bại và cách tận hưởng niềm vui chiến thắng. Xin hãy dạy cho cháu tránh xa sự đố kị. Xin hãy dạy cho cháu biết được bí quyết của niềm vui chiến thắng thầm lặng. Dạy cho cháu biết được rằng những kẻ hay bắt nạt người khác nhất lại là những kẻ dễ đánh bại nhất.

Xin hãy giúp cháu nhìn thấy thế giới kỳ diệu của sách, nhưng cũng hãy cho cháu có đủ thời gian để lặng lẽ suy tư về sự bí ẩn muôn thuở của cuộc sống: đàn chim tung cánh trên bầu trời, đàn ong bay lượn trong ánh nắng và những bông hoa nở ngát bên đồi xanh.

Ở trường xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi trượt còn vinh dự hơn gian lận trong khi thi. Xin giúp cháu có niềm tin vào ý kiến riêng của bản thân, dù tất cả mọi người đều cho rằng ý kiến đó hoàn toàn sai lầm.

Xin hãy dạy cho cháu biết cách đối xử dịu dàng đối với những người hoà nhã và cứng rắn đối với những kẻ thô bạo. Xin tạo cho cháu sức mạnh để không chạy theo đám đông khi tất cả mọi người đều chỉ biết chạy theo thời thế.

Xin dạy cho cháu biết phải lắng nghe tất cả mọi người nhưng cũng cần phải sàng lọc những gì nghe được qua một tấm lưới chân lý để cháu chỉ đón nhận những gì tốt đẹp.

Xin hãy dạy cho cháu biết cách mỉm cười khi buồn bã. Xin hãy dạy cho cháu biết rằng không có sự xấu hổ trong những giọt nước mắt. Xin hãy dạy cho cháu biết chế giễu những kẻ yếm thế và cẩn thận trước sự ngọt ngào đầy cạm bẫy.

Xin hãy dạy cho cháu biết rằng có thể bán cơ bắp và trí tuệ cho người ra giá cao nhất, nhưng không bao giờ cho phép ai ra giá mua trái tim và tâm hồn mình.

Xin hãy dạy cho cháu ngoảnh tai làm ngơ trước một đám đông gào thét và đứng thẳng người bảo vệ những gì cháu cho là đúng. Xin hãy đối xử dịu dàng với cháu nhưng đừng vuốt ve nuông chiều cháu bởi vì chỉ có sự thử thách của lửa mới tôi luyện được những thanh sắt cứng rắn.

Xin hãy cho cháu biết rằng cháu phải luôn có niềm tin tuyệt đối vào bản thân bởi vì khi đó cháu sẽ có niềm tin tuyệt đối vào nhân loại.

Đây quả là một yêu cầu quá lớn, thưa thầy, nhưng xin thầy cố gắng hết mình. Nếu được như vậy thật là điều tuyệt vời đối với con trai tôi.

HOANG ĐỊA – THAO TRƯỜNG CỦA NHÂN ĐỨC

HOANG ĐỊA – THAO TRƯỜNG CỦA NHÂN ĐỨC

Quân Trần, SJ

Có một lần được đến, sống và làm việc tại một nhà tĩnh tâm ngay giữa sa mạc của nhà Dòng trong suốt mùa hè, tôi chợt nhận ra một thói quen vô thức của mình: cứ tìm đến một góc vắng vẻ nhất và ngồi đó trong thinh lặng.  Nhiều khi tôi dùng thời gian ấy như là một giờ tâm sự với Chúa, nhưng cũng lắm khi chỉ để hồn phiêu lãng với những chùm tư tưởng khác nhau.  Điểm lạ là nơi tôi đến chẳng có dáng của hoa thơm, cũng không có bóng của cỏ lạ.  Có chăng chỉ là cái nắng chói chang chiếu rọi trên những gốc xương rồng cằn cỗi.  May lắm thì được yên vị trong một căn chòi nho nhỏ đủ làm dịu đi đôi chút cái gay gắt của trưa hè.  Ấy vậy mà cứ ngày này qua tháng nọ, nó dường như trở thành một chốn rất đỗi thân quen.  Và muôn lần như một, câu nói trong sách Luca cứ vọng về: “Đức Giêsu thường lui vào một nơi hoang vắng mà cầu nguyện” (Luca 5:16).  Ừ nhỉ, có gì hấp dẫn hay lãng mạn nơi hoang địa cơ chứ?  Nhìn quanh nhìn quất chỉ toàn một màu của cỏ úa, ban ngày thì nóng cháy thịt da, về đêm thì lạnh buốt tận xương tuỷ.  Người đã tìm gì trong hoang địa?  Thế đó tôi bắt đầu một cuộc tìm tòi.

Hoang địa, nơi tôi luyện đức khiên nhường.  Một ngày lang thang qua khắp nẻo đường.  Một ngày rộng tay với muôn vàn ân phúc.  Thành công có, thất bại có.  Giữa sự ồn ào của lời khen tiếng chê, thật khó mà nhận ra tiếng nói âm thầm của con tạo, của trái tim.  Đi hay ở, làm hay không, có dễ đâu mà nhận định ý Ngài?  Ấy là chưa kể cái êm đềm của đời thường sẽ làm lòng người mau quên và đôi chân chợt mỏi, chỉ muốn dừng lại bám rễ, chỉ muốn hài lòng với một chút vinh vang mờ nhạt.  Vào hoang địa thôi!  Bởi nơi ấy sẽ chẳng vang vọng những lời khen tiếng chê, sẽ chẳng bị âm thanh hỗn tạp của cuộc sống bao phủ.  Nơi ấy, thành công sẽ chẳng có cơ hội tạo hào quang và thất bại sẽ không còn cơ may làm nên những làn mây ảm đạm.  Tất cả chỉ là hư vô, là trống rỗng.  Trong im lặng tuyệt đối đó, liệu có cần không cho bao vất vả hầu đạt được những hứa hẹn hão huyền?  Khi trước mặt ta, sau lưng ta, bên phải, bên trái, bên trên, và bên dưới ta chẳng còn ai khác hơn là chính mình, trốn đâu cho được.  Mà khổ nỗi khi phải đối diện với chính mình, ta mới nhận ra được một sự thật phũ phàng nhất: ta chỉ là hư vô trước mặt Chúa.  Ta chỉ là một công cụ không hơn không kém.  Những tràng pháo tay không dứt hay những lời rủa xả lê thê của hôm qua không nói lên được con người thật của ta.  Rồi ta chợt thấu hiểu lời mời gọi tuyệt vời của hoang địa: hãy trở nên khiêm hạ; hãy nhận ra nguồn gốc của mọi sự vốn chẳng xuất phát hoặc chấm dứt nơi ta.  Có lẽ vì thế mà Đức Giêsu mê không khí của sa mạc.  Quả vậy, nơi đó đã nhắc nhở Ngài một sứ vụ to lớn hơn: tất cả vì sự cả sáng của Danh Cha.

Hoang địa, nơi hình thành và nung nấu niềm tin.  Dẫu nắng có gay gắt cỡ nào đi nữa thì từng khóm xương rồng vẫn còn đó.  Dẫu muôn vàn ngọn cỏ có nhuốm màu của lá úa, thì bên dưới vẫn hàm chứa cái khao khát của mầm sống, của ý chí muốn tồn tại.  Có ai đi giữa sa mạc mênh mông mà lòng không thèm khát một vạt nước vọt lên từ giữa những dải cát vô tình?  Hẳn ta còn nhớ một đoạn của Thánh Vịnh: “Người xẻ đá giữa sa mạc hoang vu, khiến nước tuôn tràn cho dân được uống” (TV 78:15).  Có ai vật vờ giữa cơn lạnh cắt da của trời đêm mà không mong muốn một ánh lửa bập bùng sưởi ấm?  Cái khao khát được uống nước của ân sủng, được sưởi ấm với tình yêu sẽ trổi mạnh hơn bao giờ khi ta đi vào sa mạc của tâm hồn.  Và đằng sau cõi thinh không, đằng sau sự đối đầu với những giới hạn của bản thân, lòng ta chợt bừng lên một niềm tin, một thao thức, một ước muốn theo Ngài.  Ta biết ta đã không lẻ loi.  Ta tin Ngài đang cùng ta dấn bước.  Và niềm tin ấy được nung nấu qua bao thử thách của trời trưa và bao cô quạnh của đêm dài.  Nếu không bước vào hoang địa, nếu lòng vẫn bị phủ tràn với muôn ngàn tín hiệu, thì e rằng cơ hội để hình thành và tôi luyện đức tin sẽ bị nhiễu đi.  Ra vậy, Đức Kitô đã rất có lý khi tìm đến nơi hoang vắng.

Hoang địa, nơi hun đúc lòng trông cậy.  Nhiều hôm ngồi tư lự ở góc vắng của nhà tĩnh tâm, tôi chợt thấy áo mình đẫm ướt mồ hôi.  Nắng và nóng quá đỗi.  Những cơn gió nhẹ thoảng qua bỗng nhiên trở thành một món quà quý giá.  Thoảng hoặc một vài giọt nước của một cơn mưa hiếm hoi biến thành báu vật.  Gió và mưa tuy hiếm nhưng vẫn đến đấy thôi.  Thiết nghĩ người lữ khách giữa hoang địa không vì sự hiếm hoi của chúng mà trở nên thất vọng.  Rất có thể họ còn đón nhận chúng cách trân quý hơn, tri ân hơn.  Cũng vậy, khi gặp gỡ nội tâm và Thiên Chúa giữa sa mạc khô cằn, lòng người lữ thứ luôn nung nấu những khát khao.  Chúng giống như quân canh mong chờ hừng đông đến hoặc như cái đấu ao ước được đong đầy, được lèn chặt.  Rồi hồn họ chợt vút cao ngong ngóng chờ trông con tạo.  Cái ‘kết hiệp’ tưởng như rất thường đã trở nên linh thánh hơn bao giờ.  Phải chăng Đức Kitô vào hoang địa ngày nào để nuôi dưỡng lòng trông cậy tuyệt đối vào Đấng mà Ngài hằng tuân phục tin yêu?

Hoang địa, chốn xuất phát của tình yêu, của hiến mình.  Lúc thanh vắng là lúc ta có thể đối thoại với chính mình.  Quả thế, khi thành công không là áp lực và thất bại chẳng là điều làm ta bận tâm, thì đấy là lúc ta trở nên chân thành nhất.  Ta sẽ tự hỏi chính mình xem ta có muốn tái đầu tư cho những gì ta đang đeo đuổi?  Ta sẽ tự vấn lương tâm xem hồn ta có thanh thản, tim ta có khao khát, có muốn tiếp tục yêu và sẵn sàng xả thân vì tình yêu?  Câu trả lời vào giây phút đó sẽ không mang hơi hướm của những lời chúc tụng bề ngoài hoặc những sợ hãi của bao thất bại ngập tràn.  Trong thinh lặng ta có cơ hội nhìn lại và chọn lựa cách kỹ lưỡng, để rồi khi trở về đời thường ta có một lời đáp rõ ràng hơn, mạch lạc hơn.  Hẳn ta còn nhớ, ta chỉ là một loài thụ tạo rất tầm thường.  Tình yêu ta dành cho nhau không phải lúc nào cũng ướm đượm hương thơm.  Trái lại, cũng có những phút giây ta ngậm phải những trái đắng và lòng ta thoáng xôn xao.  Thế nên lâu lâu có cơ hội nghiềm ngẫm về mối tình ta dành cho nhau cũng là một điều kỳ thú.  Đức Giêsu khi xưa đã yêu và yêu thật nhiều.  Nhưng tình yêu ‘nhân tính’ của Ngài không phải không gặp nhiều thử thách.  Và để đáp trả lời mời gọi tiếp tục yêu, để tìm lại cái đơn sơ, tinh tuyền và chân chất của con tim, hơn một lần Ngài đã vào hoang địa để suy nghĩ, để nguyện cầu.  Cũng chính qua những phút giây thần thánh đó, Ngài đã lựa chọn con đường yêu thương một cách tự do và mãnh liệt.  Bởi từ đáy thẳm tâm hồn, Ngài hiểu rõ Giêsu sẽ không còn là Giêsu nếu nơi Ngài thiếu vắng sự cho đi của trái tim.  Ngài đi vào sa mạc để rồi khi trở về lòng Ngài lại chân chất những ước mơ và thân xác Ngài lại một lần biến thành của lễ.

Hoang địa, nơi ẩn náu một kho tàng vô tận.  Bất chấp nắng hay mưa, nóng hay lạnh, từng đàn ong mật cứ vần vũ quanh đám cỏ hoang.  Những cánh chuồn, cánh bướm vẫn ưỡn lượn nhịp nhàng.  Về đêm tiếng dế rả rích tỉ tê như một điệu luân vũ tuyệt vời.  Cha giám đốc nhà tĩnh tâm cho biết bên dưới sự khô cằn của hoang địa lại là một cõi mênh mông trù phú của nguồn nước dồi dào cho bao thế hệ. Những làn nước mát trong mà tôi cùng bao người thao luyện viên tận hưởng đến từ một mạch ngầm quý giá.  Từng ngụm từng ngụm đi vào lòng mát lạnh.  Chưa bao giờ tôi lại quý nước hơn những ngày này.  Hỏi liệu có khi nào nguồn nước ấy vơi đi, cha cho biết có thể lắm, nhưng đã có bao chục ngàn con người dừng chân và nhà tĩnh tâm này đã đi vào năm hoạt động thứ 50 mà chưa ai phải vất vả kiếm tìm một nguồn nước mới.  Còn nữa cứ mải mê với cõi riêng của mình, hơn một lần tôi thấy bóng dáng của những chú nai tơ tuyệt đẹp, hay vẻ dềng dàng của mẹ con gấu đen hóm hỉnh, hoặc cái giả dạng tuyệt tác của các nàng rắn đất.  Chúng luẩn quẩn quanh tôi, chợt dừng lại ngõ sững rồi lại lững thững bước đi cứ như thể thế giới này lớn đủ, rộng đủ và hòa bình đủ cho mọi loài.  Xem ra cõi hoang vu đã dạy cho tôi những bài học mà chưa trường lớp nào từng dạy.  Nó cho tôi thấy một thế giới thật mà Thiên Chúa muốn tạo nên: một loại thế giới yêu thương nhau, chấp nhận lẫn nhau, vui vẻ chung sống và chia cho nhau những gì có thể.  Thế nên khi đi vào sa mạc của tâm hồn, tôi thấy lòng mình bừng lên những ước mơ.  Bởi bên dưới cái tưởng chừng khô cằn và nặng nề nhất lại là nơi tôi học hỏi nhiều nhất.  Có lẽ Đức Giêsu cũng có một tâm trạng giống tôi khi Ngài tìm vào nơi hoang vắng.

Nhà tĩnh tâm này, đã có bao con người đến rồi đi, đã có bao trái tim trở về, và đã có bao tâm hồn biến đổi.  Nếu nói đó là do công của các Cha linh hướng của trung tâm cũng chưa hẳn sai.  Nhưng sẽ không hoàn thiện khi ta không nhắc đến bối cảnh tuyệt vời của hoang địa, nơi mà mỗi thao luyện viên có dịp sống và lắng nghe tiếng thầm thì của tạo hoá qua những giây phút trầm mặc linh thánh.  Để rồi khi trở về với thế giới vội vã, họ biết đâu là con đường mà Thiên Chúa muốn họ đi, họ hiểu ý nghĩa của những vui buồn sướng khổ trong cuộc sống.  Họ đã được Thiên Chúa, qua thinh lặng của hoang địa biến đổi.  Họ không còn là họ của hôm qua, nhưng là của những lớp người mãi bước tới theo tiếng gọi của tình yêu.  Sa mạc cũng có lắm loại nhiều thứ.  Có loại là một thứ sa mạc nóng bỏng như tôi đã sống và làm việc trong mùa hè qua.  Nhưng cũng có thứ sa mạc lặng lẽ hơn, tinh tế hơn: thứ sa mạc của tâm hồn.  Thế nhưng dẫu ở đâu hay loại nào, chúng cũng đều là thao trường tuyệt vời cho bao nhân đức.

Bạn mến, có bao giờ bạn tìm đến với sa mạc nội tâm?  Có bao giờ bạn bắt chước Đức Giêsu dành một phần trong ngày để vào nơi hoang vắng?  Có bao giờ bạn ước ao được lớn dậy trong tình yêu và đời mình được nuôi dưỡng với bao nhân đức?  Nếu có thì đừng ngại đi vào hoang địa bạn nhé.  Vào đi, đừng sợ.  Chắc chắn khi vào rồi, bạn sẽ phát hiện ra nhiều điều mới lạ.  Khi ấy thói quen tìm nơi vắng vẻ mà tâm sự với Thượng Đế và trở về với lòng mình sẽ không bao giờ rời xa bạn nữa.  Và như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong, hồn bạn cũng sẽ trông mong được gần Chúa và tha nhân hơn bao giờ.

Quân Trần, SJ

http://www.donghanh.or

Cả hai “đồng chí, anh em” đóng kịch với nhau

Cả hai “đồng chí, anh em” đóng kịch với nhau

GS Nguyễn Văn Tuấn

Thỉnh thoảng tôi tự hỏi chính giới Tàu nghĩ gì về đồng nghiệp họ ở Việt Nam. Dù biết rằng qua báo chí chúng ta có thể hiểu là họ không đánh giá cao, nhưng tôi vẫn muốn biết xem họ nghĩ gì. Tình cờ đọc được một đoạn văn được xem là “tối mật” của Mao Trạch Đông viết về Việt Nam làm tôi suy nghĩ về mối quan hệ Việt – Tàu hết sức thú vị. Tôi nghĩ bất cứ ai đang phấn đấu làm bạn với Tàu cộng có lẽ phải ngượng ngùng khi đọc câu của họ Mao.

Họ Mao nói “Nước ta và nhân dân Việt Nam có mối hận thù dân tộc hàng nghìn năm nay. Chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình, đem tất cả vốn liếng của ta trao cho họ.Ngược lại chúng ta phải tìm mọi cách làm cho nước họ ở trong tình trạng không mạnh, không yếu mới có thể buộc họ ở trong tình trạng hiện nay. Về bề ngoài chúng ta đối xử với họ như đồng chí của mình, nhưng trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta.” Đọan văn đó được trích từ văn kiện “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” của Bộ Ngoại giao Việt Nam, và được công bố 4/10/1979 (1).

Có lẽ những ai từng theo dõi Tàu không ngạc nhiên về câu nói trên, vì trong cái nhìn của giới chính khách Tàu, Việt Nam là một kẻ phản bội, không thể tin tưởng. Trước khi phát động chiến tranh chống VN, Đặng Tiểu Bình tuyên bố với báo chí quốc tế rằng “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học”. Thật hiếm thấy một nguyên thủ quốc gia nào mà ăn nói du côn như Đặng, nhưng rất có thể y quá giận nên không kiềm chế được ngôn ngữ trước phóng viên quốc tế. (Trớ trêu một điều là tên này vẫn còn được khá nhiều người VN hâm mộ và thần tượng.)

Ngay cả thường dân Tàu dường như cũng không có thiện cảm với VN. Báo chí Tàu (nhất là tờ Hoàn cầu Thời báo) ra rả chửi Việt Nam, và đòi gây chiến tranh chống Việt Nam. Trước đây, trong một cuộc thăm dò ý kiến người dân Tàu bên China, kết quả cho thấy phần lớn dân Tàu nghĩ người Việt là phản bội, xảo quyệt, không đáng tin cậy. Trong cái nhìn của họ, Tàu là đại ân nhân của VN, vì Tàu từng giúp Bắc VN đánh Tây, đánh Mĩ. Chưa nói giúp vì động cơ gì, nhưng đó là cái nhìn của họ. Họ cũng nghĩ rằng khi thành công thì VN trở mặt. Họ lấy thái độ của ông Lê Duẩn là một ca tiêu biểu. Trước kia, khi cần vũ khí và tiền bạc của Tàu, thì ông Duẩn tỏ ra thân Tàu; đến khi thấy Liên Xô khá hơn, thì lại chạy theo Liên Xô và quay sang chửi Tàu thậm tệ. Có tài liệu còn cho thấy ông chửi thẳng vào mặt Mao (mà nhiều người xem là dũng cảm, nhưng tôi thì nghĩ thái độ đó không khéo chút nào). Tài liệu trên (1) được công bố dưới thời ông Duẩn. Nhìn như thế thì rõ ràng người Tàu có lí do để ghét Việt Nam.

Ngày nay thì lịch sử có vẻ tái lập. Chỉ cách đây vài tháng, trước ngày kỉ niệm cuộc chiến 1979, một lãnh đạo của đảng CSVN đã tuyên bố rằng VN vẫn chung thủy với Tàu trong cái “truyền thống đoàn kết quốc tế thủy chung” (2). Rồi mới đây nhất là một phát ngôn trung thành khác từ một tướng lãnh VN: “Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng thân thiện và điều đó không bao giờ thay đổi. Nhiều thế hệ đã qua, nhân dân hai nước đã thiết lập và duy trì mối quan hệ, cùng tồn tại, hình thành rất nhiều điểm tương đồng về văn hóa” (3).

Đặt quan điểm chung thuỷ này với nhận định “Chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình, đem tất cả vốn liếng của ta trao cho họ … Về bề ngoài chúng ta đối xử với họ như đồng chí của mình, nhưng trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta” trên đây, ai cũng có thể thấy có gì đó không “add up” (nói theo tiếng Anh), hay không ăn khớp. Câu nói của Mao còn sờ sờ ra đó, ngay trên báo chí “chính thống”. Câu nói của Đặng Tiểu Bình cũng còn đó trên giấy trắng mực đen. Những câu nói xách mé và xấc xược của các tướng lãnh Tàu cộng và bỉnh bút của Hoàn cầu Thời báo vẫn còn lưu lại đó. Trước những lời nói xấc xược và khinh bỉ của Tàu như thế mà những người ở vị trí lãnh đạo quốc gia lại thề thốt “thuỷ chung” với họ! Thật không thể nào hiểu nổi.

Chỉ có một cách giải thích là cả hai phía, Tàu và Việt Nam, đều đóng kịch. Chẳng ai tin ai cả, Tàu chẳng bao giờ tin Việt Nam, và Việt Nam lúc nào cũng nghi ngờ Tàu. Những ngôn từ hoa mĩ là chỉ nói cho có, chứ trong thâm tâm thì người nói nghĩ ngược lại. Thật ra, đó cũng chính là tình nghĩa đồng chí của những người cộng sản, ngay cả trong cùng một nước và cùng cộng đồng dân tộc. Bề ngoài thì cười cười, tay bắt, tay ôm, hôn hít (ghê ghê), nhưng trong bụng thì một bồ dao găm, muốn thanh trừng lúc nào cũng được. Đúng như Nguyễn Du từng tả: “Bề ngoài thơn thớt nói cười / Mà trong nham hiểm giết người không dao”.

___

(1) Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay – Kỳ 43: Từ văn kiện tuyệt mật chống VN đến 600 ngày tăm tối của Mao (MTG).

(2) Tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng, tính tiên phong của Ðảng, xây dựng Ðảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh(*) (ND).

(3) Tướng Vịnh: Quan hệ hữu nghị Việt-Trung không bao giờ thay đổi (VOA/ BS).

Truyền thông dưới các chế độ độc tài

Truyền thông dưới các chế độ độc tài

Blog Nguyễn Hưng Quốc

Nguyễn Hưng Quốc

Có hai mục tiêu chính mà tất cả các chế độ độc tài và độc tài toàn trị nhắm tới là: nhồi sọ và lừa dối. Nguyên tắc ở đây là, nói theo Hitler, cứ nói dối, nói dối đi nói dối lại mãi, một cách thật giản dị, đến lúc nào đó, người ta sẽ tin là thật…

Một trong những khác biệt lớn nhất giữa dân chủ và độc tài là ở phương diện truyền thông. Nói một cách vắn tắt, khác với các chế độ dân chủ, dưới các chế độ độc tài, truyền thông có hai đặc điểm chính: độc quyền và kiểm duyệt. Mức độ độc quyền và kiểm duyệt tuỳ thuộc vào mức độ độc tài. Tất cả các chế độ độc tài đều áp dụng, dưới những hình thức khác nhau, chính sách kiểm duyệt đối với các phương tiện truyền thông đại chúng. Nhưng chỉ có các chế độ độc tài toàn trị (totalitarianism) mới áp dụng chính sách độc quyền một cách triệt để.

Việt Nam là một chế độ độc tài toàn trị như thế: Với truyền thông, họ áp dụng cả phương thức độc quyền lẫn phương thức kiểm duyệt.

Ở miền Bắc, trong những năm đầu sau Hiệp định Geneva, ngoài báo chí nhà nước còn có báo chí tư nhân. Nhờ sự tồn tại của báo chí và nhà xuất bản tư nhân ấy, phong trào Nhân Văn Giải Phẩm mới được hình thành. Nhưng khi phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị đánh, tất cả các tờ báo và nhà xuất bản tư nhân đều bị bóp chết. Từ đó về sau, nhà nước hoàn toàn độc quyền trong lãnh vực truyền thông. Đến giữa thập niên 1980, với phong trào đổi mới, nhà nước cho phép tư nhân hoá kinh tế, nhưng cho đến tận bây giờ, họ vẫn từ khước việc tư nhân hoá báo chí và xuất bản. Tất cả các tờ báo, các đài phát thanh và truyền hình, cũng như tất cả các nhà xuất bản tại Việt Nam hiện nay đều hoàn toàn nằm trong tay nhà nước.

Độc quyền báo chí và xuất bản, giới lãnh đạo vẫn chưa an tâm. Cả báo chí lẫn xuất bản đều bị kiểm duyệt ngặt nghèo. Mọi bài báo cũng như mọi cuốn sách đều được dò xét từng câu từng chữ. Nhưng kiểm duyệt không vẫn chưa đủ. Bên cạnh việc kiểm duyệt chính thức, ở Việt Nam cũng như ở dưới mọi chế độ độc tài khác, đều có hai hình thức kiểm duyệt khác: hậu kiểm duyệt và tự kiểm duyệt. Hậu kiểm duyệt là hình thức kiểm duyệt sau khi tờ báo hay cuốn sách đã được in và được phát hành. Khi phát hiện ra một chi tiết có vấn đề về chính trị, người ta áp dụng biện pháp thu hồi ấn phẩm và trừng phạt tác giả. Ghê sợ trước những biện pháp trừng phạt như thế, hầu hết các tác giả đều tự đặt mình ở thế tự kiểm duyệt, nghĩa là tự mình cắt bỏ những chỗ gai góc, có thể bị xem như có vấn đề trong quá trình sáng tác. Trong bài “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ” viết năm 1987, nhà văn Nguyễn Minh Châu có nói đến cái thảm cảnh tự kiểm duyệt ấy: lúc nào cũng giấu giếm, cũng rào đón, cũng che chắn, vừa viết một câu trung đã phải vội vã chêm ngay vào một câu nịnh cho… an toàn dù phải trả giá bằng chính tác phẩm của mình, những tác phẩm chỉ có giá trị minh hoạ nhất thời.

Nhưng độc quyền và kiểm duyệt như vậy để làm gì?

Có hai mục tiêu chính mà tất cả các chế độ độc tài và độc tài toàn trị nhắm tới là: nhồi sọ và lừa dối. Nguyên tắc ở đây là, nói theo Hitler, cứ nói dối, nói dối đi nói dối lại mãi, một cách thật giản dị, đến lúc nào đó, người ta sẽ tin là thật. Và khi đã tin rồi thì mọi người dần dần trở thành những con chó của Ivan Pavlov: Cả tư tưởng lẫn cảm xúc, hành vi và mọi phản ứng của họ đều bị điều kiện hoá. Trong bài “Authoritarian regimes retool their media-control strategy”, Robert Orttung và Christopher Walker cho trong cái gọi là “mọi người” ở đây, có bốn đối tượng chính: Một là những thành phần “ưu tú” trong chế độ, tức các đảng viên và cán bộ các cấp trong hệ thống cầm quyền, để họ tiếp tục trung thành với chế độ. Hai là dân chúng nói chung để họ vừa kính trọng lại vừa sợ hãi, không dám chống lại chế độ. Ba là các thành phần đối lập cũng như các tổ chức dân sự: Với cả hai, hệ thống truyền thông độc quyền của nhà nước luôn luôn tìm cách bôi nhọ và cô lập, để dưới mắt dân chúng, họ hiện hình như những thế lực đen tối đe doạ đến sự ổn định và phát triển kinh tế. Bốn là với những người thường xuyên sử dụng internet, chính quyền sẽ sử dụng nhiều cách khác nhau để hoặc dựng tường lửa và/hoặc kiểm duyệt để không phải ai cũng có thể tiếp cận được với những thông tin bất lợi cho chế độ.

Tuy nhiên, ngoài mục tiêu lừa dối và nhồi sọ, bất cứ hệ thống truyền thông nào của các chế độ độc tài cũng đều nhắm tới một mục tiêu khác nữa: định hướng dư luận. Công việc định hướng này bao gồm hai khía cạnh chính: Một là “giáo hoá” và hai là làm lạc hướng.

Tạo nên những con người sùng bái một cách mê tín đối với giới lãnh đạo cũng như đảng lãnh đạo cũng là một cách “giáo hoá”. Tuy nhiên, đối với dân chúng nói chung, hình thức “giáo hoá” phổ biến nhất, nói theo Robert Orttung và Christopher Walker trong bài dẫn trên, là làm cho mọi người trở thành thụ động và vô cảm, không quan tâm đến chính trị cũng như đến số phận của đất nước nói chung: “Để duy trì quyền lực, các chế độ độc tài đều giữ đại đa số quần chúng ở ngoài chính trị.”

Một khía cạnh khác của truyền thông dưới các chế độ độc tài mà người ta dễ quên lãng là đánh lạc hướng sự quan tâm của quần chúng. Áp dụng cách thức này, khi chính quyền gặp vấn đề rắc rối, người ta bèn tung ra một sự kiện hay một tin đồn vu vơ nào đó nhằm khêu gợi sự tò mò của mọi người khiến mọi người đuổi theo sự kiện hoặc tin đồn ấy mà quên bẵng đi vấn đề chính của chính quyền.

Nhớ, cách đây mấy năm, khi kinh tế gặp khó khăn với hiện tượng nhiều đại công ty nhà nước, nổi bật nhất là tập đoàn doanh nghiệp Vinashin, bị phá sản để lại những món nợ khổng lồ, dẫn đến các cuộc tranh luận gay gắt về vấn đề trách nhiệm không những của cá nhân mà còn của các cơ quan nhà nước. Mấy tháng sau, khi không khí vẫn còn nóng hổi, các cơ quan truyền thông xúm vào loan tải tin tức về bệnh tình của “cụ” rùa ở hồ Hoàn Kiếm. Chính quyền lập “khu điều dưỡng” cho rùa. Các nhà “rùa học” ở Hà Nội liên tục lên ti vi nói chuyện về rùa. Dân chúng rình rập quanh hồ Hoàn Kiếm để cố chụp hình rùa. Mọi người đều quan tâm đến rùa và quên phắt đi chuyện kinh tế của đất nước.

Những chuyện như thế chắc đã, đang và sẽ lặp đi lặp lại nhiều lần…

THẾ NÀO LÀ GIÁ TRỊ CUỘC SỐNG

THẾ NÀO LÀ GIÁ TRỊ CUỘC SỐNG

Có một chú tiểu khá thông minh, chú luôn đặt những câu hỏi xung quanh cuộc sống. Một ngày nọ, chú hỏi sư thầy của mình:

– Thưa thầy, giá trị cuộc sống của một con người là gì ạ? Con hỏi vậy vì thường ngày thấy mọi người lên chùa đều cầu mong cuộc sống có giá trị.

Người thầy đi vào phòng rồi mang ra cho chú tiểu một hòn đá xấu xí và bảo:

– Con hãy mang hòn đá này ra chợ bán và hãy nhớ là dù có ai mua thì cũng không được bán và mang về cho ta.

– Tại sao lại phải vậy thưa sư phụ?

– Nếu con muốn biết giá trị cuộc sống là gì thì hãy làm như ta bảo.

Vì sự tò mò nên chú tiểu đã làm theo. Chú mang hòn đá ra chợ ngồi bán và trong suy nghĩ thì không hiểu tại sao nó lại liên quan đến giá trị của cuộc sống.

Chú ngồi bán hòn đá ở chợ cả ngày mà không hề có ai hỏi, mọi người còn thấy làm kỳ lạ không hiểu tại sao chú lại ngồi bán một hòn đá xấu xí mà không có giá trị gì. Ngồi cả một ngày, một người bán rong thấy vậy thương tình đã đến hỏi và trả giá hòn đá 1 đô la. Chú tiểu nhớ lời sư phụ dặn dù bất kỳ ai hỏi mua cũng không được bán. Mang hòn đá về, chú hỏi sư phụ:

– Hòn đá này có gì đặc biệt mà thầy lại bảo con mang bán. Cũng may đã có người hỏi mua với giá 1 đô la. Vậy giá trị cuộc sống là gì thưa thầy?

Sư thầy cười và nói:

– Tốt lắm, ngày mai con hãy mang hòn đá vào cửa hàng bán vàng và bán cho chủ cửa hàng vàng, nhớ là dù chủ cửa hàng vàng có mua thì cũng không được bán, rồi còn sẽ hiểu thế nào là giá trị cuộc sống.

Vì tò mò, chú tiểu lại làm theo lời sư thầy. Hôm sau, chú mang hòn đá đi vào một cửa hàng vàng, vừa đi vừa nghĩ, tại sao sư phụ lại bảo mình mang hòn đá này vào bán trong cửa hàng vàng trong khi cả ngày qua chú ngồi ngoài chợ bán mà không ai mua, dù mua cũng không đáng giá. Dù rất ái ngại nhưng vì tò mò nên chú quyết định làm theo lời sư phụ.

Và thật bất ngờ, khi chú mang vào bán trong một cửa hàng vàng, chủ tiệm đã trả giá hòn đá là 500 đô la. Rất bất ngờ vì một hòn đá qua một ngày từ chỗ bán không ai mua giờ lại có giá như vậy, nhớ lời sư phụ dặn chú tiểu đã không bán và mang về.

Chú vội vàng hỏi tại sao lại như vậy và giá trị cuộc sống là gì mà tại sao một hòn đá từ không giá trị qua một ngày lại có giá trị rất lớn như vậy

Sư phụ cười và nói:

– Nếu con muốn hiểu giá trị cuộc sống là gì thì ngày mai con hãy mang hòn đá này tới một tiệm đồ cổ và bán, nhớ là dù với bất kỳ giá nào thì con cũng không được bán và mang về cho ta. Con sẽ hiểu giá trị cuộc sống là gì.

Chú tiểu càng tò mò hơn. Hôm sau, chú mang hòn đá tới một tiệm đồ cổ. Sau một hồi xem xét thì chú tiểu vô cùng ngạc nhiên khi chủ hiệu trả giá hòn đá là cả gia sản hiện có. Chú nhất quyết không bán và vội về kể lại với sư phụ:

– Vậy hòn đá này là gì, mà từ một thứ không giá trị không ai mua giờ nó có giá cả một gia tài.

– Đó chính là giá trị cuộc sống – Sư thầy nói.

Giá trị cuộc sống của mỗi con người đều do chính chúng ta quyết định, cũng giống như chú tiểu do dự khi mang một hòn đá không có giá đi bán. Giá trị cuộc sống là do chính chúng ta tạo dựng và đặt ra. Vậy hãy tự đặt mình vào nơi mà mọi người hiểu ta và đó là nơi giá trị sống được tôn trọng.

Cuộc sống ở trong tất cả mọi sự việc, từ những điều to lớn cho đến điều đơn giản, thậm chí là ở trong những điều mà chúng ta không hề quan tâm đến. Cuộc sống luôn “nói chuyện” với chúng ta thông qua những điều giản dị nhất và không ngờ đến nhất. Đừng bỏ lỡ bất kỳ khoảnh khắc nào trong cuộc sống của bạn!

Mint
(Dịch từ Fructuous)

Thần kinh khốn nạn.

Thần kinh khốn nạn.

canhco

RFA

Đó là hệ thống thần kinh mới, vừa được Giáo sư Ngô Bảo Châu, một nhà khoa học của Việt Nam tìm ra sau khi ông Vũ Đức Đam, trên cương vị Phó thủ tướng ký thế cho Thủ tướng chính phủ quyết định chấp thuận cho UBND thành phố Sơn La kinh phí 1.400 tỷ để xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh trong thành phố.

GS Ngô Bảo Châu viết trên Facebook của ông: “Trẻ con ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1400 tỷ để xây tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh”.

Rõ ràng là GS Châu chơi chữ. Không thể nào một ông Phó Thủ tướng lại mắc bệnh thần kinh, có nghĩa là tâm thần không bình thường, ký những quyết định đi ngược lại với nhân văn, với đạo lý dân tộc. Ông chỉ có thể “khốn nạn” trong ý thức. Ông không xem trẻ em lê lết trong các mái trường không thua chuồng trại súc vật đầy dẫy tại các tỉnh biên giới mà Sơn La là một điển hình của sự nghèo túng cùng cực. Ông không hề nghĩ tới hàng chục ngàn hộ thiếu ăn quanh năm và đối với họ chỉ cần đủ ăn đã là hạnh phúc. Đối với họ Hồ Chí Minh chỉ là một cục đá được dẽo gọt chỉ để đứng nhìn sự thống khổ, kiệt quệ của họ, những người quanh năm không biết tới một mẩu thịt là gì.

Họ túng đói và lê lết như những con thú hoang trong khi chính phủ của ông Vũ Đức Đam đang phải đối phó với nợ công, phải ăn xin tứ phương từ Mỹ với miếng bánh TPP, từ Trung Quốc với những khoản vay thắt cổ, từ Nhật với ODA dễ nuốt và ngay cả từ Việt kiều hải ngoại với câu chữ không biết hổ thẹn là gì, lại bỏ ra 1.400 tỷ xây một hình tượng đang mục nát trong trái tim quần chúng.

Với những sự thật không thể chối cãi ấy câu hỏi đặt ra tại sao chính phủ lại tiếp tục ký những quyết định trái với lòng dân, trái với lương tri của con người mà bất cứ một chính phủ, một nhà độc tài nào cũng đều tránh né?

Chỉ có thể xem đó là những thái độ khốn nạn. Sự khốn nạn lâu ngày thành nếp nghĩ, thành cách hành xử quen thuộc. Việc coi thường luân thường đạo lý trong huyết quản đã tạo nên một loại gene mới trong cơ chế cộng sản. Loại gene ấy biến thành hệ thần kinh chủ đạo, từ tư duy cho tới phản ứng, nó nằm song song với các hệ thần kinh khác như buồn, vui, giận, ghét. . . hệ thần kinh khốn nạn chỉ khác ở chỗ, nó tự đứng riêng và tự đánh bóng hay tôn tạo chính mình. Nó phản ứng với hệ thần kinh bình thường một cách bất bình thường. Khi nhân dân đói nó cho là nhân dân đủ ăn và GDP của họ ngày một cao hơn. Khi trẻ em thiếu trường, thiếu lớp nó cho đấy chỉ là một bộ phận rất nhỏ trong tổng thể phát triển của đất nước. Khi người dân phản ứng vì bị đẩy vào đường cùng nó cho là sự xúi giục của bọn phản động và phản ứng của nó không kém bất cứ cách hành xử côn đồ nào.

Thần kinh khốn nạn tự nghĩ ra những kịch bản chỉ có trong giấc mơ của những kẻ sở hữu nó. Nhân dân vẫn yêu thương Hồ chủ tịch và họ có như cầu nhìn tượng của ông thay cơm. Nhân dân hãnh diện khẳng định ông là ánh sáng dẫn họ trên con đường….vạn dặm! Nhân dân sáng suốt tin rằng ông là ngôi sao không hể tắt và có ông thì người dân sẽ thấy đời đáng sống biết dường nào.

Một trong những người sở hữu thần kinh khốn nạn, Trần Bảo Quyến, Phó Giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Sơn La cả quyết rằng: “sau khi xây dựng tượng đài, Sơn La sẽ có cơ hội quảng bá về du lịch. Đây sẽ là điểm đến thú vị cho người dân đến tham quan và tìm hiểu về lịch sử Tây Bắc nói chung và Sơn La nói riêng. Hiện, Sở cũng đang nâng cấp nhà tù Sơn La và một số địa danh văn hóa khác”.

Nếu chú ý người dân sẽ lo sợ vô cùng khi tượng đài được xây dựng song song với việc nâng cấp nhà tù. Tham quan hay vào đó nằm nếu chống đối đề án thì có gì khác nhau?

Trần Bảo Quyến cho rằng: “Đã là tình cảm của nhân dân Tây Bắc không thể cân đong đo đếm được. Do đó, cá nhân nào nói lãng phí là chưa đúng”.

Đúng, nó không hề là một đề án lãng phí. Nó không lãng phí mà là phá hoại. Phá hoại tới tận đáy cái nền của nhân bản. Tiêu diệt những gì ít ỏi còn lại trong lòng người dân đối với hình ảnh Hồ Chí Minh. Người miền núi vốn không được học hành tử tế họ chỉ biết ông Hồ là người cha già dân tộc theo tuyên truyền của bộ máy Đảng. Sau gần một thế kỷ người cha ấy chia cho đám con ruột là quan lại triều đình xây dựng những công trình để tư túi trên các đề án khốn nạn. Chỉ cần thông minh một chút là họ biết mình bị bóc lột, bị chà đạp tới xương khi con cái họ quần không có mà mặc, gia đình họ không có gạo đủ ăn phải lê lết trên những con ruộng bậc thang, đẹp thì có đẹp nhưng leo trèo trên ấy để kiếm từng hạt lúa thì người Kinh đã bỏ chạy từ xưa.

Chỉ tiếc một điều đồng bào miền Tây Bắc không mấy người có hệ thần kinh khốn nạn như quan đầu tỉnh Trần Bảo Quyến và do đó họ không thể tự bào chữa cho mình lý do họ quá yêu bác Hồ nên nhà nước cần phải dựng tượng của ông cho họ ngắm thay cơm.

Con cá gỗ còn tạm dùng để đánh lừa mình chứ tượng ông Hồ to quá mà lại làm bằng đá thì làm sao đem vào mâm cơm của họ để mà chấm, mà mút cho chén bắp trong bữa ăn thường nhật đậm đà hơn một chút?

tintuchangngayonline.com

http://thanhnientudo.com/2015/08/07/than-kinh-khon-nan/

NHỮNG ĐIÊU CHƯA BIÊT VỀ MAO TRẠCH ĐÔNG

NHỮNG ĐIÊU CHƯA BIÊT VỀ MAO TRẠCH ĐÔNG
“Mao: The Untold Story”
Hình ảnh

Bùi Tín – Phỏng dịch và tóm tắt

Phần XIII: Chân dung con người thật của Mao

1-. Nhìn chung con người thật của Mao là thế nào. Chân dung tinh thần của nhân vật lịch sử này ra sao? Jung và Jon để gần 10 năm trời, đi hàng chục vạn dặm, hỏi chuyện hàng nghìn nhân chứng sống, tra khảo hàng mấy nghìn trang tư liệu hiếm, trong hàng chục kho lữu trữ cực quý để vẽ nên chân dung tinh thần của Mao. Có gì quý hơn là những trang ghi tốc ký và ghi âm những buổi đối thoại của Staline, Dimitrov, Khrouchtchev…với các nhân vật Trung Quốc như Vương Minh, Chu Ân Lai, Mao, Lưu Thiếu Kỳ… Có gì thú vị hơn là những mẩu chuyện sống động Jung và Jon thu được từ miệng cô bán đậu phụ bên đầu cầu sông Đại độ hơn 60 năm trước nay là bà cụ hơn 90 tuổi, hay cuộc trò chuyện với nhân vật Trương Học Lương hay Trương Quốc Đào khi đã trên dưới một trăm tuổi.

2-. Mao Trạch Đông đã có hàng tỷ cuốn Mao tuyển, hàng tỷ tỷ cuốn sách đủ thứ tiếng, tranh truyện, bài thơ, vở ca kịch, luận văn lịch sử, chính trị viết về mình. Ngoài dân Trung quốc lại con bao nhiêu đảng phái, nhóm vũ trang Mao-ít ở rừng rậm hay thành phố Á Phi Mỹ la-tinh sùng bái Mao như thần như thánh. Nhân vật vĩ đại, đại cứu tinh, anh hùng dân tộc, siêu nhân, nhà chính trị khổng lồ. Thế mà Jung và Jon cho ta một chân dung khác lạ, một Mao chưa từng biết rõ, từng chân tơ kẽ tóc, như ta thường nói, một Mao như là bằng xương bằng thịt, làm cho tỷ tỷ tài liệu và nhận thức cũ chỉ là cái bóng mờ ảo của Mao, chỉ là tấm ảnh bị lóa lòa méo mó hoàn toàn giả tạo, không thật. Khối người sẽ giật mình. Ta đã bị lừa. Khối người sảng khoái, vỗ đùi đen đét: à ra thế, sự thật đây rồi. Mà có gì thích hơn, mừng hơn, sướng hơn là tìm ra sự thật, sự thật đúng như có thật, sự thật bướng bỉnh và trần trụi.

3-. Sự thật Mao là con người ra sao. Có thể nhìn, ngắm Mao trên nhiều góc độ khác nhau. Mao như là một con người bình thường, với những tình cảm yêu ghét buồn vui. Mao như một nhà lãnh đạo cộng sản, như một lãnh tụ, đòi hỏi tài năng lãnh đạo, đạo đức gương mẫu, quan hệ với đồng chí, đồng bào. Mao như một nhà lý luận với những trước tác và quan điểm, tư tưởng, sáng tạo của mình. Mao trong cuộc sống gia đình riêng, với cha mẹ, vợ con, cháu, anh em họ hàng gần xa của mình.

Vậy thì qua hơn 800 trang sách ”Những điều chưa biết về Mao”, tác giả vẽ nên cho ta thấy một chân dung Mao ra sao? Tất nhiên chỉ trong khuôn khổ cuốn sách này. Không nên thêm thắt tô vẽ thêm điều gì khác.

4-. Về con người. Mao hiền lành hay ác độc. Mao vì người, vì nhân dân, vì giai cấp vô sản cùng cực hay vì ta, vì bản thân mình? Mao luôn có ước vọng và mưu đồ cho Trung Quốc phát triển nhanh, thật nhanh, trở thành một siêu cường rồi thành cường quốc vô địch của thế giới. Nhưng đi sâu vào ý đồ ấy vẫn nổi lên tham vọng cá nhân là động lực chính, quyền lực cá nhân Mao vẫn là mục tiêu chính. Cái ác ngự trị trong con người Mao rật đậm đặc. Trong chiến tranh Triều tiên, Mao tính đến cái chết của hàng chục vạn binh lính trong bom đạn như một bài tính giữa phiên chợ đầy hàng hóa. Thật đáng sợ.

Mao còn tính đó là dịp đẩy hàng triệu binh lính cũ của Quốc dân đảng vào chỗ chết, mình khỏi mất công thủ tiêu; rồi vấn đề trao đổi tù binh, Mao đòi đối phương trả về không thiếu một binh sỹ từng bị bắt và đầu hàng để Mao trị tội bằng hết. Thật may mà đòi hỏi của Mao không được chấp nhận.Các cuộc khủng bố trắng ở Giang Tây, Hồ Nam, rồi ở Diên An, rồi trong Đại nhảy vọt và Cách mạng Văn hóa đều được Mao trực tiếp chỉ đạo, từ treo người, xẻo tai, cắt gân chân, cho đến đầu độc Vương Minh, hành hạ vợ chồng Lưu Thiếu Kỳ, tra tấn Bành Đức Hoài, Hạ Long đều được thực hiện bởi mối thù cá nhân tàn ác nhất. Mao tỏ ra dửng dưng khi số người chết do đói kém lan tràn ở nông thôn những năm 1960, 1961 và 1962 lên đến gần 30 triệu đồng bào mình, tất cả chỉ vì những chính sách phiêu lưu nhảy vọt, làm lò cao, công xã nhân dân của Mao gây nên.

5-. Mao không ngớt nói đến nhân dân, buộc đảng viên luôn tự phê bình, cán bộ luôn kiểm thảo tìm ra tội lỗi để sửa chữa, dạy đảng viên về tinh thần hy sinh cao độ, vì dân vì tập thể, vì vô sản toàn thế giới, nhưng Mao lại sống một cuộc sống hoàn toàn vì cá nhân mình, cho cá nhân mình, một cuộc sống ích kỷ cao độ, hoàn toàn đạo đức giả. Nói một đằng làm một nẻo đã thành nếp sống của Mao. Mao bảo người khác, dạy người khác làm điều hay, điều phải nhưng bản thân thì không làm, còn làm trái lại. Mao không bao giờ tự phê bình, nhận ra sai lầm của mình để sửa chữa. Như Đại nhảy vọt, cách mạng văn hóa sai rành rành rõ ràng nhưng Mao vẫn sỹ diện kéo dài. Trong cuộc trường chinh, Mao chuyên nằm trên võng gần như suốt cả năm. Nơi Mao ở được thiết kế công phu theo sở thích riêng của Mao. Mao chuyên ăn cơm riêng trong phòng riêng của mình, với hàng chục người đứng phục vụ, với những cao lương mỹ vị quý hiếm nhất. Mao sống cuộc sống như một hoàng đế xưa. Xung quanh phải diệt hết chó mèo, ếch nhái, gà qué để không ảnh hưởng giấc ngủ. Đoàn tàu đặc biệt của Mao đến đâu là cấm xe cộ ở quanh hàng buổi. Mao ưa thức đêm, ngủ ngày, buộc cận thần phải theo thời gian biểu của mình. Nửa đêm Mao triệu tập bộ chính trị đến ngồi quanh ghế đệm Mao ngồi hay quanh giường Mao nằm.

6-. Đặc tính của Mao là đa nghi, vì biết mình làm nhiều điều bất công, thất đức, quái ác nên luôn sợ bị trả thù ám hại. Do đa nghi nên Mao trừng trị tra khảo oan ức biết bao đồng chí của mình. Vì nghi Hạ Long có âm mưu cùng Liên xô hãm hại Mao hành hạ tra tấn Hạ long và hàng trăm người từng quen thân Hạ Long. Mao nhiều lần nghi Đặng Tiểu Bình lật đổ mình nên loại bỏ Đặng khi bắt đầu cách mạng văn hóa, sau còn quản chế và giam lỏng Đặng 2 lần nữa, mà thật ra Đặng không có âm mưu lật Mao. Mao còn nghi Liên xô có ý định kéo quân sang bằng bộ binh, xe tăng, cả ném bom bằng không quân, cho đến cả bom nguyên tử, để bắt dựng hàng hàng ”núi nhân tạo”, nhiều lúc xuống hầm sâu, đi tránh về phía Nam. Càng về già Mao lo sợ bị ám sát, hay giật mình khi nghe tiếng động lạ, thấy người lạ, cho nên quy định ai đến gần phải nói to vừa phải – to quá hay thầm thì đều làm Mao hoảng sợ, – phải báo trước, có người dẫn vào.

7-. Đặc tính khác rất sâu đậm ở Mao là giữ thù riêng, thù cá nhân rất dai dẳng. Ta thường gọi là thù dai. Mao quyết trả thù cá nhân đến cùng. Chu Ân Lai phục vụ Mao hết mình, như một kẻ nô lệ, thế mà Mao nhớ mãi chuyện từ những năm 1930 Mao đã bị Chu thi hành kỷ luật vì Mao để quân lính cướp phá dân như thổ phỉ, để hành hạ Chu, không cho Chu mổ, bắt Chu phải chết trước mình và bắt Chu kiểm điểm về một bài báo từ năm 1932. Mao còn thâm thù Vương Minh, Bành Đức Hoài và Lưu Thiếu Kỳ và tìm cách hành hạ 3 người này cho đến chết với những cực hình rùng rợn nhất mới hả dạ.

8-. Ở Mao cũng nổi lên sự dối trá, dối trá có hệ thống, có nghệ thuật. Tất cả những chuyện Mao kể cho Edgar Snow về cuộc đời hoạt động của mình và về cuộc trường chinh thì phần lớn là thêu dệt và bịa đặt. Trái với điều Mao kể, Hồng quân không hề có chuyện có nhiều chiến công đánh Nhật hơn là quân Quốc dân đảng. Trong cuộc trường chinh việc đánh quân Quốc dân đảng cũng rất ít vì chính Tưởng Giới Thạch gián tiếp quy định hành trình và khu vực dành cho Hồng quân. Trận đánh oai hùng Mao kể diễn ra rực lửa ở cầu Đại độ là chuyện hoang đường do Mao bịa đặt trăm phần trăm, bị nhân chứng còn sống là bà cụ bán đậu phụ ở quán hàng ngay đầu cầu ngày xưa bác bỏ.

9-. Trong cuộc sống gia đình, Mao tỏ ra rất ít tình cảm. Mao tỏ ra tự thương mình nhất, tự yêu mình nhất. Bà vợ thứ nhất là ”cô La” (họ La) cưới khi Mao 15 tuổi cô La gần 20 tuổi, đến khi 22 tuổi thì cô La chết. Bà vợ thứ hai là Dương Khai Tuệ, sinh năm 1901, con thày giáo của Mao ở Trường Sa (Hồ Nam), có học, sanh với Mao 3 con trai là Mao Ngạn Anh, Mao Ngạn Thanh và Mao Ngạn Long; Ngạn Anh sang Nga học về làm phiên dịch cho Bành Đức Hoài ở Triều tiên, chết trong một trận ném bom của Mỹ. Ngạn Thanh bị bệnh tâm thần bẩm sinh, sang Nga cùng Ngạn Anh rồi ở lại trong trại tâm thần (mới chết gần đây theo báo Nga, thọ gần 80 tuổi); con út là Ngạn Long chết khi 4 tuổi ở Thượng Hải.

Dương Khai Tuệ bị Quốc dân đảng bắt ở Trường Sa rồi bi giết ngày 14-11-1930. Năm 1990 ở Trường Sa phát hiện 8 lá thư của Dương Khai Tuệ viết trước khi chết được giấu và bảo quản kỹ gói trong giấy dầu gắn trong tường, lời rất tình cảm, thương nhớ Mao và 3 con, mong Mao từ bỏ chủ nghĩa cộng sản hung bạo.

Vợ thứ ba của Mao là Hạ Tử Trân, bí danh là Quế Viên, xuất thân gia đình tiểu thương tiểu chủ, lấy Mao năm 1928 khi 18 tuổi, có với Mao 7 con, kể cả 2 lần xẩy thai trên đường hành quân, đến mức có lần Mao bảo vợ mình sinh đẻ như gà. Hạ cùng dự cuộc trường chinh với Mao, đi ngựa, đi bộ, nằm võng, mặc quân phục hồng quân, mũ két có sao đỏ, cầm súng, có lần bị thương nặng ở vai. Hạ sống với Mao ở Diên An. Khi Mao có tình ý với Giang Thanh là diễn viên ca kịch từ Thượbg hải mới đến Diên An vào năm 1937, Mao liền cho Hạ đi sang Nga để dưỡng bệnh khi Hạ vừa có mang, để lại con gái nhỏ tên là Li Mẫn (Ly Min) sinh năm 1936, còn gọi là ”Kiều – Kiều” – ”Chiao Chiao”.

Ở Moscow năm 1938 Hạ sinh con trai, rất giống Mao, đặt tên là Lyova, được 6 tháng thì chết vì sưng phổi. Năm 1939 Hạ biết Mao lấy vợ khác khi tình cờ xem phim thời sự do Karmen quay từ Diên An gửi về trong đó Giang Thanh được giới thiệu là ”Bà Mao”, Hạ lên cơn tâm thần rồi sức khỏe suy sụp. Năm 1940 Mao cho ”Chiao Chiao” sang Moscow ở với mẹ. Chiao Chiao mừng nhưng bệnh mẹ cô ngày càng nặng, hay đánh mắng con khi lên cơn. Về sau hai mẹ con về Trung quốc, Mao không gặp Hạ, không cho Hạ đến Bắc kinh, bà sống cô đơn ốm yếu cho đến chết (1984) khi 74 tuổi. Chiao Chiao có hồi đến Bắc kinh gặp Mao, Mao muốn cô quan tâm đến chính trị nhưng cô không theo ý muốn ấy, thế là Mao cấm cửa, không cho cô đến gặp nữa. Vợ thứ tư là Giang Thanh, trên đã nói về con người này. Giang ở với Mao lâu nhất, gần 40 năm. Mê mệt nhau rất sâu sắc rồi cay đắng vì nhau cũng nhiều, làm hại nhau cũng lắm, đi đến ghét bỏ và thù hận nhau cho đến chết. Giang là công cụ chính của Mao trong cách mạng văn hóa, Mao cho Giang vào bộ chính trị, đứng đầu Tiểu tổ cách mạng văn hóa với quyền sinh quyền sát kinh người, để rồi Mao không thèm nhìn mặt Giang và đồng tình triệt hạ trừng phạt Giang sau khi mình chết yên ổn. Đầu năm 1977, Giang cùng ”lũ 4 tên ” bị bắt, khai trừ khỏi đảng, ra trước vành móng ngựa, Giang bị tội tử hình rồi chuyển xuống chung thân; bà tự sát trong tù, thắt cổ vào năm 1991.

Giang có với Mao một con gái, đẻ ở Diên An ngày 3-8-1940, đặt tên là Lý Nạp (Li Na). Li Na được nuông chiều, kiêu ngạo, trong cách mạng văn hóa Giang và Mao cho Li Na làm chủ bút báo quân đội. Li Na tự phụ hống hách, có lần bắt tướng tá lớn tuổi dơ tay chào mình kiểu nhà binh. Li Na khó lấy chồng, 31 tuổi đành lấy một anh hầu hạ Mao, cả Mao và Giang không đồng tình, không dự đám cưới, cho là anh ta thuộc loại hèn kém; khi Li Na sanh con trai, Giang không bao giờ bế, Mao cũng không ưa gì cháu ngoại.

10-. Về bạn bè hầu như cả cuộc đời Mao không có bạn, chưa nói gì đến thân thiết. Bạn theo đúng nghĩa, hợp với mình, để tâm sự, trao đổi tâm tình. Mao như chẳng viết thư cho ai. Việc gì cũng tự mình giải quyết. Mao chỉ có ”bạn” theo mưu đồ riêng, kết liên minh với kẻ này để cô lập, hãm hại kẻ khác, ”bạn” theo từng thời kỳ, giai đoạn. Tin cậy Bành Đức Hoài cử Bành làm tư lệnh quân tình nguyện rồi quay lại coi Bành là tử thù. Gắn với Lưu Thiếu Kỳ, cử Lưu làm chủ tịch nước rồi quay lại dùng cực hình với Lưu. Liên minh với Lâm Bưu, đề cao Lâm, nâng Lâm thành người kế thừa mình, rồi quay sang đe dọa trừng trị Lâm đẩy Lâm phải chạy trốn. Không một ai là bạn dài lâu của Mao. Đây cũng là một nét khác thường trong chân dung tinh thần của Mao.

11-. Về mặt hoạt động sinh lý Mao có những nét độc đáo. Bành đã nhân xét Mao có cung tần mỹ nữ quanh mình như những hoàng đế Trung hoa dâm dật nhất. Trong hàng ngũ cán bộ quan chức cộng sản thời nay, không ai có hoạt động sinh lý gấp gáp, vô độ, bất kể đạo đức, bất cần dư luận như Mao. Mao cho tuyển những cô văn công quân đội, văn công binh chủng không quân, 17, 18 tuổi, bằng con bằng cháu mình, ít hơn Mao đến 35, 40 tuổi cũng không từ.

Mao còn cho thiết kế ngay trong Đại lễ đường Nhân dân một phòng riêng của mình để giữa những cuộc họp trung ương, giữa đại hội đảng vẫn có thể hú hí với gái trẻ khi muốn, Mao còn hướng dẫn đóng giường gỗ quý dài rộng, lót nệm lông quý, có độ nghiêng, để cùng một lúc làm tình với 2, 3 cô, với các loại tư thế khóai cảm nhất. Về mặt này, có thể coi Mao là quán quân quốc tế của mọi thời đại. Cá nhân ích kỷ về sinh lý của Mao càng thêm nặng khi dưới chế độ Mao, việc quan hệ nam nữ cực kỳ nghiêm khắc, một vợ một chồng là triệt để, cán bộ viên chức phần lớn chỉ được gần nhau 12 ngày đêm mỗi năm.

12-. Cũng không thể bỏ qua một nét nữa không giống ai của Mao, đó là một số nét hủ lậu kiểu nông dân cổ lỗ. Mao không đánh răng bằng bàn chải và xà phòng đánh răng; chỉ xỉa răng và lấy bã chè xúc miệng. Mao hầu như không tắm chỉ lấy khăn nhúng nước ấm lau mình. Mao không quen ngồi bệ vệ sinh để đi cầu, mà chuyên ngồi xổm như khi còn ỉa ngoài đồng. Mao không muốn học một ngoại ngữ nào, hoàn toàn mù ngoại ngữ giữa thời toàn cầu hóa; ngay tiếng bạch thoại đúng kiểu Bắc kinh Mao cũng ngọng, nói theo giọng Hồ nam. Mao không hề đi một nước nào khác ngoài 2 lần đến Moscow gặp Staline và họp các đảng cộng sản năm 1949 và năm 1957.

Có lẽ do sự hủ lậu, khép kín, tự mãn như thế mà tư tưởng của Mao cũng cổ lỗ tăm tối, thiển cận theo, như chủ trương dựng lò cao ở sân nhà nông dân và đánh trống chiêng phèng la và hò hét để diệt chim sẻ, nhằm vượt nước Anh và vượt Nhật bản sau đó.

13-. Nhưng nét trội nhất trong con người của Mao mà ít người biết đến là gì? Ngay từ trang mở đầu và đến trang bìa sau cùng của cuốn sách, Jung và Jon đều đưa ra con số 70 triệu người chết mà Mao đã trực tiếp và gián tiếp gây nên, mà Mao phải chịu trách nhiệm trước lịch sử Trung quốc và lịch sử loài người.

Tác giả không đưa ra con số ấy một cách tùy tiện, phỏng đoán. Trong cuốn sách, mỗi sự kiện, mỗi nhận định, mỗi con số đều được cân nhắc, thẩm tra, có bằng chứng, nhân chứng hẳn hoi, như trong một công trình lịch sử và khoa học chính xác. Tác giả đã thống kê và cộng lại vô vàn nạn nhân của thanh trừng và chiến tranh, khủng bố trắng và cải cách ruộng đất, đại nhảy vọt và cách mạng văn hóa, chiến tranh Triều tiên, biên giới Trung – Xô và chiến tranh Trung – Việt năm 1979, nạn nhân của nạn đói hoành hành triền miên hàng chục năm, mấy triệu nạn nhân diệt chủng của Pôn Pôt theo học thuyết của Mao, và vô vàn nạn nhân của các đảng, các nhóm từng suy tôn Mao là bậc thày, từ châu Á sang châu Phi và Mỹ la tinh, áp dụng học thuyết đấu tranh giai cấp là động lực cơ bản của xã hội loài người, chính quyền từ đầu ngọn súng…

Cuộc sống con người là của quý nhất. Một mạng sống là vô giá. Riêng Mao chịu trách nhiệm về 70 triệu mạng sống bị hủy diệt. Có ai trên cuộc đời này, cổ kim đông tây, có ai tham gia giết người nhiều đến vậy, kinh khủng đến vậy. Hit-le thua xa. Staline kém xa. Tần thủy hoàng như bé lại.

Lời kết của cuốn sách chỉ có 2 câu ngắn, chưa đến 3 dòng rưỡi:

”Ảnh và thi hài của Mao vẫn ngự trị tại quảng trường Thiên An Môn, giữa trái tim của thủ đô Trung Quốc. Chế độ cộng sản hiện tại vẫn tự nhận kế thừa Mao, và vẫn ra sức kéo dài huyền thoại về Mao”.

Một lời kết luận tra vấn sự mụ mị của mỗi người bất cứ ở đâu đến nay vẫn còn mù quáng lầm lẫn và hoang tưởng về Mao.

Chủ tịch Sơn La: “Chưa có tượng đài là thiệt thòi cho chúng tôi”

Chủ tịch Sơn La: “Chưa có tượng đài là thiệt thòi cho chúng tôi”

Facebooker Tuấn Khanh: “Vâng, dân tộc này cũng đã biết mình vô cùng thiệt thòi khi phải sống cùng các bạn!

Facebooker Nguyen Hoang Anh: “Hoá ra họ không thấy thiệt thòi vì dân đói khổ, trẻ em không có cơm ăn áo mặc, không được học hành mà chỉ vì không có quảng trường, tượng đài! Loại lãnh đạo này còn ngày nào dân khổ ngày ấy!

Soha News

06-08-2015

Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La Cầm Ngọc Minh (phải) trả lời PV sáng nay, 6/8

Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La Cầm Ngọc Minh (phải) trả lời PV sáng nay, 6/8

Ông Cầm Ngọc Minh – Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La cho biết, quy hoạch chi tiết quần thể tượng đài sẽ công bố ngày 10/10, đồng thời khẳng định 1.400 tỷ chỉ là con số dự kiến.

Trả lời PV báo Trí thức trẻ trong sáng nay, ông Cầm Ngọc Minh – Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La cho biết, quy hoạch chi tiết quần thể tượng đài Bác Hồ sẽ được công bố vào ngày 10/10/2015, nhân dịp kỉ niệm 120 thành lập tỉnh Sơn La.

Đây cũng là thời điểm được chọn để làm lễ động thổ quần thể khu tượng đài giá trị nghìn tỷ, vốn đang được sự quan tâm rất cao của dư luận.

Tại buổi phỏng vấn, vị Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La cũng tái khẳng định quan điểm của tỉnh, là sẽ cân đối trên tinh thần tiết kiệm nhất về quy mô cũng như kinh phí cho đề án này.

“Trong cả nước đã có rất nhiều tỉnh có quảng trường, tượng đài, Sơn La là chưa có cũng là thiệt thòi cho chúng tôi. Con số 1.400 tỷ mới chỉ là con số khái toán, chưa phải là con số cuối cùng của đề án này.

Trên tinh thần cầu thị, chúng tôi chắc chắn sẽ còn phải đi tham khảo mô hình tượng đài và quảng trường từ các tỉnh khác để sao cho có phương án xây dựng tiết kiệm nhất nhưng cũng không bỏ qua các hạng mục quan trọng”.

Tượng đài Bác Hồ với nhân dân tỉnh Hà Giang được xây dựng ở Hà Giang

Tượng đài Bác Hồ với nhân dân tỉnh Hà Giang được xây dựng ở Hà Giang

Trước đó, cũng trong buổi phỏng vấn với PV báo Trí thức trẻ, ông Minh đã lý giải về con số 1.400 tỷ đồng trong đề án nhắc tới, là bao gồm việc xây dựng một loạt công trình với diện tích khoảng 20 ha bao gồm:

Quảng trường, tượng đài Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc, mặt bằng Trung tâm hành chính của tỉnh, khu tái định cư và giải phóng mặt bằng, đền thờ Bác Hồ và bảo tàng (sau năm 2020)…

“Trước mắt sẽ ưu tiên xây dựng và hoàn thiện hai công trình quảng trường, tượng đài Bác vào dịp 7/5/2019 để kỷ niệm sự kiện 60 năm Bác Hồ về thăm đồng bào các dân tộc Tây Bắc”, ông Minh thông tin.

Ông Minh cũng cho biết thêm, việc xây tượng đài sẽ phân kỳ đầu tư, trong đó có cả hình thức xã hội hóa, chứ không thể dùng toàn bộ ngân sách. Tuy nhiên, chủ trương vẫn trên tinh thần tiết kiệm, đảm bảo hiệu quả và đúng quy định.

Yêu cầu Sơn La báo cáo về đề án 1.400 tỉ đồng

Ngày 5-8, Văn phòng Chính phủ truyền đạt ý kiến của Thủ tướng Chính phủ, yêu cầu UBND tỉnh Sơn La báo cáo về thông tin báo chí nêu liên quan đến đề án xây dựng quần thể tượng đài Bác Hồ với đồng bào Tây Bắc.

‘Khó nuốt’ với dự án xây tượng đài ‘nghìn tỷ’ Hồ Chí Minh?

‘Khó nut’ vi d án xây tượng đài ‘nghìn t’ H Chí Minh?


Một tượng đài Hồ Chí Minh tại Vinh.

Một tượng đài Hồ Chí Minh tại Vinh.

Khánh An-VOA

05.08.2015

Một dự án xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh với mức chi phí lên đến hàng nghìn tỷ đồng ở tỉnh Sơn La, Việt Nam, đang là tâm điểm chú ý của dư luận trong vài ngày qua. Những phản ứng của công chúng đã có tác động đến giới lãnh đạo liên quan đến dự án này.

Công trình ‘Tượng đài Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc’ đã được thông qua ở tỉnh Sơn La có tổng mức đầu tư là 1.400 tỷ đồng. Công trình dự kiến sẽ được khởi công vào tháng 10 tới bao gồm các hạng mục như đền thờ Hồ Chí Minh với tượng đài cao từ 5 – 8 met, đài tưởng niệm anh hùng liệt sĩ, bảo tàng tổng hợp, quảng trường…

Phát biểu trên báo Dân Trí hôm 4/8, ông Cầm Ngọc Minh, Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La nói “việc xây dựng tượng đài có ý nghĩa lớn về mặt giá trị văn hóa và lịch sử, do đó Ban Bí thư đã cho phép xây dựng và xin ý kiến các Bộ, Ban, ngành để thực hiện và Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý”.

Phản đối rầm rộ

Nhưng ngay sau khi báo chí loan tin về việc xây dựng tượng đài, đã có rất nhiều ý kiến phản đối của người dân ở ngay cả trên các phương tiện truyền thông chính thống lẫn các trang mạng xã hội tại Việt Nam. Đây cũng là một trong những sự kiện hiếm hoi mà sự phản đối xuất phát từ cả luồng dư luận có xu hướng ủng hộ chính quyền lẫn luồng dư luận có xu hướng ủng hộ dân chủ.

Con số rút ruột các công trình là thường có tỷ lệ 30 – 33%. Đó là một con số kinh khủng. Nếu xây 1 tỷ thì họ rút khoảng 300 triệu rồi. Mà đây là 1.400 tỷ thì con số họ rút ruột không biết là bao nhiêu nữa?

Ông Phạm Minh Hoàng.

Ông Phan Tất Thành, một cựu chiến binh Việt Nam, nói:

“Dân đói, dân khát, dân nghập lụt, mà bỏ tiền ra xây tượng ông Hồ, ông Hồ không vui đâu. Ông không bằng lòng đâu. Nếu mà ông Hồ còn sống, ông ấy sẽ phản đối, sẽ dừng ngay. Bây giờ ông ấy mất rồi thì các con, các cháu ông hãy vì ông, hãy theo ông ấy, hãy thể hiện mình học tập ông ấy mà dừng những cái vô bổ lại”.

Rất nhiều người thuộc đủ mọi tầng lớp đã phản đối công khai dự án xây dựng tượng đài ‘nghìn tỷ’ trên các trang mạng xã hội. Lý do chính yếu mà hầu hết những người phản đối đưa ra là sự lãng phí của công trình trong điều kiện người dân địa phương đang còn rất nghèo đói, thiếu thốn.

Ông Phạm Minh Hoàng đưa hình phản đối dự án lên mạng.

Ông Phạm Minh Hoàng đưa hình phản đối dự án lên mạng.

Ông Phạm Minh Hoàng, cựu Giảng viên Đại học Bách Khoa TP.HCM, người đã chụp hình mình với tấm bảng ghi ‘Tôi phản đối dùng 1400 nghìn tỷ xây dựng tượng đài ông Hồ tại Sơn La” và đưa lên mạng xã hội, cho biết dự án lãng phí này đã tạo ra sự phẫn uất ở nhiều người dân nhưng họ không dám nói ra. Bản thân ông cũng thế.

“Không phải ngạc nhiên mà là cực kỳ phẫn uất. Tôi không thể nào tưởng tượng được là họ có thể làm chuyện ấy. Cho đến hôm nay, tôi nghĩ là đã có khoảng một trăm tám mươi mấy tượng đài ông ấy rồi, chưa kể những bảo tàng, một số công trình khác, thì tôi thấy số tiền ấy quá lớn. Bây giờ còn xây thêm một tượng đài 1.400 tỷ nữa. 1.400 tỷ xây được rất nhiều thứ. Có thể tưởng tượng là một tượng đài đó tương đương với cây cầu Mỹ Thuận, là cây cầu huyết mạch của đồng bằng sông Cửu Long. Dùng số tiền này như (số tiền) xây một cái cầu vậy thì tôi nghĩ đó là một sự hoang phí ngoài sức tưởng tượng”.

Nhu cầu rất lớn, thì làm gì các quan chức cũng có nhu cầu lớn hết. Nhưng ở tỉnh Sơn La hiện có 36.000 dân đói ăn. Đó là báo cáo tình hình kinh tế, chính trị của tỉnh Sơn La 6 tháng đầu năm đấy. 36.000 dân đói ăn! Tôi tin là 36.000 dân này không đồng ý xây tượng ông Hồ đâu.

Cựu chiến binh Phan Tất Thành.

Báo Tiền Phong ngày 23/4/2015 nói theo đánh giá của các nhà quản lý trong buổi hội thảo lấy ý kiến về “Quy hoạch tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đến năm 2030”, thì ‘nhu cầu nhân dân các tỉnh thành muốn xây dựng tượng đài Bác vẫn rất lớn, nên Chính phủ giao cho Bộ Xây dựng quy hoạch đến năm 2030’. Phát biểu về nhận định này, ông Thành nói:

“Nhu cầu của ai chứ? Nhu cầu của các quan chức. Nhu cầu rất lớn, thì làm gì các quan chức cũng có nhu cầu lớn hết. Nhưng ở tỉnh Sơn La hiện có 36.000 dân đói ăn. Đó là báo cáo tình hình kinh tế, chính trị của tỉnh Sơn La 6 tháng đầu năm đấy. 36.000 dân đói ăn! Tôi tin là 36.000 dân này không đồng ý xây tượng ông Hồ đâu”.

Chuyện ‘lại quả’

Một trong những ý kiến phổ biến mà dư luận cho là nguyên cớ sâu xa của dự án tượng đài cũng như nhiều công trình khác là vấn đề ‘lại quả’ hay ‘rút ruột’ dự án. Ông Hoàng cho biết:

“Lúc tôi hỏi ý kiến của người xung quanh, họ bảo ‘Nếu không xây thì họ lấy gì mà ăn?’. Con số rút ruột các công trình là thường có tỷ lệ 30 – 33%. Đó là một con số kinh khủng. Nếu xây 1 tỷ thì họ rút khoảng 300 triệu rồi. Mà đây là 1.400 tỷ thì con số họ rút ruột không biết là bao nhiêu nữa?!”.

Cựu chiến binh Phan Tất Thành cũng thừa nhận chuyện ‘lại quả’ này đã trở thành “luật bất thành văn” trong các công trình.

“Cái này thì phải hỏi ông Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Bộ trưởng Bộ Giao thông. Chứ còn luật bất thành văn ở cái đất nước này, mà người ta đang tìm mọi cách, người ta muốn lắm, muốn xóa đi lắm, muốn bỏ đi lắm nhưng không thể bỏ được là cái “lại quả”. Những công trình công ích, công trình giao thông, công trình này nọ thì thường bị thất thoát khoảng 25 – 30%, đó là tôi nói một tỷ số khiêm tốn đấy, là bị “lại quả”. Cái mà ở hiện trường chỉ có khoảng độ 70% là tốt lắm rồi”.

Ông Thành nói chuyện ‘lại quả’ này là một vấn nạn lớn.

“Nhưng có điều thế này, ở Việt Nam, có những điều mà ai cũng biết. (Nhưng) nói ra thì lại hỏi: ‘Chứng cứ đâu?’. Thì chịu! Chứng cứ đâu? Thỉnh thoảng thử bắt vài ông thật nòng cốt vào thì nó lòi ra chứng cứ thôi”.

Khó nuốt?

Với quá nhiều ý kiến phản đối từ công luận trong vài ngày qua, hôm 5/8, báo Việt Nam Net đưa tin Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu UBND tỉnh Sơn La báo cáo về việc đầu tư đề án xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh.

Một cư dân mạng tên Chuong Phan nhận định về tin này là: “Cùng nhau nuốt khó trôi”.

Cũng trong ngày 5/8, VTC trích lời ông Cầm Ngọc Minh, Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La, đính chính rằng “Không có chuyện xây dựng tượng đài lên tới 1.400 tỷ đồng”. Ông Minh nói với VTC rằng những ý kiến nêu như thế là không hiểu sự việc vì mức chi phí trên dành cho nhiều công việc khác nhau của dự án. Ông cũng cho biết Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý dự án này trước đó và ông sẽ gửi báo cáo cho thủ tướng theo yêu cầu mới nhất.

Bắt Không Được (Nữa) Thì Tha

Bắt Không Được (Nữa) Thì Tha

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Chúng tôi có quyền hội họp riêng tư, có quyền lập hội, gây quỹ, có quyền đấu tranh, có quyền đình công đòi hỏi các quyền lợi chính đáng, phù hợp mức lương, tương xứng với công sức lao động.

Đoàn Huy Chương aka Nguyễn Tấn Hoành

Từ Toà Bạch Ốc trở về, bác Trọng đã nhận được rất nhiều tràng pháo tay và không ít những lời tán thưởng:

Dân Việt vui ra mặt và vui như Tết – chỉ trừ mỗi ông Bùi Tín. Nói nào ngay thì nhà báo lão thành của chúng ta cũng có vui nhưng (xem chừng) không được vui gì cho lắm; đã thế, ông còn khuyến cáo mọi người là nên có Một Sự Dè Dặt Cần Thiết:

Quả thật mối quan hệ giữa «Hoa Kỳ – Dân chủ» với «Việt Nam – Độc đoán» đã có một bước cải thiện đáng kể so với trước. Nhưng đó là những bước tiến bộ khó khăn, còn rất hạn chế, chậm chạp, đầy trắc trở, rất xa dưới tiềm năng, càng còn rất xa so với nguyện vọng của đông đảo người dân bình thường, của giới trí thức dân tộc, của tuổi trẻ tinh hoa của đất nước, nhất là của lực lượng dấn thân cho dân chủ.

Sống trong một xã hội cộng sản thì mọi sự dè dặt, tất nhiên, đều cần thiết. Tuy biết thế nhưng vốn bản tính nông nổi (và ham vui) nên chỉ cần nghe thiên hạ “hoan hô” rầm rầm là tôi đã … mừng muốn chết luôn!

Mừng nhất là khi thấy có bài viết (“Công Đoàn Của Ai?”)  trên tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, số ra ngày 24 tháng 7 năm 2015, của ký giả  Tư Giang. Bằng giờ này năm ngoái mà đặt một câu hỏi (móc họng) như vậy thì đi tù là cái chắc.

Ở Việt Nam cái gì mà không của Đảng. Công Đoàn, đương nhiên, cũng vậy. Đảng đại diện cho giai cấp công nông mà. Ai mà không biết ông Đặng Ngọc Tùng, Chủ Tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam – đồng thời – cũng là  Ủy Viên Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN!

Vậy mà báo ra đã hơn tuần rồi vẫn chưa thấy bài bị gỡ xuống, và cũng không nghe ai bị phê bình, kiểm điểm, hay kỷ luật gì ráo trọi? Ngoài câu hỏi “tế nhị” vừa nêu, ông Tư Giang còn trích dẫn nhiều lời lẽ (nghe) hết sức “lạ tai” của giới quan chức Việt Nam:

  • Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ Trưởng Thương Mại: “ILO có hàng loạt tiêu chuẩn về lao động và công đoàn được nhắc lại trong TPP. Trong số đó, đáng chú ý nhất là nhóm công nhân cơ sở có quyền tự do thành lập công đoàn; các công đoàn cơ sở có quyền tự do liên kết hay không liên kết; cán bộ quản lý doanh nghiệp không được quyền tham gia vào ban chấp hành công đoàn; công đoàn cơ sở được độc lập trong hoạt động nội bộ và quản lý tài sản.”
  • Ông Thang Văn Phúc, nguyên Thứ Trưởng Bộ Nội Vụ: “Công đoàn của chúng ta mới chỉ là mậu dịch quốc doanh thôi, chứ chưa phải là đại diện thật cho người lao động. Phải trả về đúng vị trí cho người lao động”.
  • Ông Võ Trí Thành, Viện Phó Viện Nghiên Cứu Quản LýKinh Tế Trung Ương: “Tổng thống Hoa Kỳ nói với lãnh đạo Việt Nam về điều này không chỉ một lần. Và chắc chắn chúng ta sẽ phải giải quyết vấn đề này”.

Thiệt là khác xa với miệng lưỡi của ông Mai Đức Chính, Phó Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, cách đây chưa lâu: “Nếu muốn làm điều này thì trước tiên phải hủy bỏ điều 10 Hiến pháp quy định tổ chức CĐ là đại diện hợp pháp duy nhất của giai cấp công nhân và CNVC-LĐ Việt Nam. Mà điều này cũng tương tự như việc làm của các thế lực thù địch trước đây đòi hủy bỏ điều 4 Hiến pháp về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một nhận thức hết sức nguy hiểm.”

Nói theo cái kiểu (phản động) của nhà văn Trần Đĩnh là Đảng đang “loạng choạng lùi” trước thằng Thời Đại. Cách nhìn thế sự của tác giả Đèn Cù, rõ ràng, không “khớp” với tâm cảm “hồ hởi” và “phấn khởi” của cả nước hiện nay. Nếu gọi đây là một bước lùi “ngoạn mục” của Đảng thì chắc dễ nghe hơn và cũng hợp thời hơn – Thời Hội Nhập mà, cha nội!

Tinh thần lạc quan của tôi, tiếc thay, không được mọi người chia sẻ. Thiên hạ, không ít kẻ, cứ có voi là đòi luôn Hai Bà Trưng (nữa) mới chịu cơ. Đảng đã lùi (đẹp) đến thế rồi mà vẫn còn “xỉa xói” và “đay nghiến” mãi:

  • Blogger Ôsin: “Thật nực cười khi, chỉ khi chịu sức ép của ‘các nước tư bản’, ‘đảng của giai cấp công nhân’ mới (có thể) thừa nhận các quyền căn bản của công nhân.”
  • Thạc sĩ Trần Kiên:Tôi đã từng rất ngạc nhiên khi được biết quyền tự do đi lại và cư trú, đặc biệt là quyền tự do xuất nhập cảnh dành cho chính công dân Việt là điều kiện tiên quyết mà Chính phủ Việt Nam phải chấp nhận để nhận được các khoản vay từ World Bank. Luật doanh nghiệp thống nhất với việc tạo một sân chơi bình đẳng giữa nhà nước và tư nhân mà nhà nước thiết lập cũng là một điều kiện khác do tư bản áp đặt. Nên cũng không có gì ngạc nhiên khi tham gia TPP Việt Nam sẽ phải hiện thực hóa quyền lập hội cho chính dân Việt vốn chết lâm sàng từ năm 1957.”

– Blogger Nguyễn Vạn Phú : “… điều mỉa mai là Việt Nam phải trông    chờ vào một hiệp định ký với  các nước tư bản để các nước tư bản này gây sức ép buộc Việt Nam phải bảo vệ công nhân của mình, không để giới chủ bóc lột quá đáng!”

Thôi bỏ đi Tám, sao mà giận dai dữ vậy?

Riêng tôi, nói thiệt mà, tôi hoàn toàn và tuyệt đối không dám “nực cười” hay “mỉa mai” gì ai ráo  trọi. (Thằng nào nói láo xe cán chết liền). Tui mừng thiệt và mừng lắm lận. Đảng lùi bước nào, tui mừng bước đó. Có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ. Ngay cả chuyện Đảng chỉ làm bộ lùi thôi, tôi cũng đủ … vui rồi! Sau bao nhiêu thập niên cứ nằng nặc “tiến mạnh, tiến vững chắc lên XHCN” (rồi) khi khổng khi không Đảng bỗng lùi – một cái “rẹt” – như vậy, hỏi ai mà không vui chớ?

Nhân dịp vui này, tôi chỉ xin được phép nêu lại tên tuổi của vài ba người bạn trẻ – những người đã từng vận động, hoặc hoạt động cho Công Đoàn Độc Lập Việt Nam ở giai đoạn tiên phong – hiện đang bị cầm tù hay bị “dấu kín” ở một nơi nào đó:

Lê Trí Tuệ mất tích tại Campuchia vào ngày 16 tháng 5 năm 2007. Ảnh: RFA

– Lê Trí Tuệ: Sinh năm 1979, thành viên của Khối 8406, Phó Chủ Tịch Công Đoàn Độc Lập Việt Nam. Ngày 20 tháng 10 năm 2006, ông tuyên bố thành lập Công Đoàn Độc Lập. Ông bị bắt vào ngày 29 tháng 03 năm 2007, bị ép buộc phải lên tiếng công khai giải tán công đoàn này. Lê Trí Tuệ từ chối và bỏ trốn sang Cambodia, sau khi bị đánh đập tàn tệ nhiều lần ngoài đường phố. Ông đột ngột “biến mất” khỏi cõi đời này, kể từ hôm 16 tháng 5 năm 2007 đến nay! Theo bản tin của HRW, gửi đi vào ngày 4 tháng 5 năm 2009: “Người ta nghĩ rằng công an Việt Nam đã bắt cóc ông Lê Trí Tuệ, một trong những sáng lập viên của Công Đoàn Độc Lập Việt Nam.”

– Đoàn Huy Chương a.k.a. Nguyễn Tấn Hoành: Sinh năm 1985, thành viên sáng lập Tổ Chức Công Đoàn Độc Lập, bị bắt (lần thứ hai) vào ngày 23 tháng 2 năm 2010, và bị kết án bẩy năm tù vì tội “phá rối an ninh nhằm chống lại chính quyền nhân dân.” Hiện ông đang bị giam giữ tại trại  giam Phước Hòa, Huyện Tân Phước, Tỉnh Tiền Giang.

– Nguyễn Hoàng Quốc Hùng: Sinh năm 1981, thành viên của Khối 8406, hội viên của Phong Trào Các Nạn Nhân Của Sự Bất Công. Ngày 27 tháng 10 năm 2010, ông bị TAND tỉnh Trà Vinh kết án chín năm tù, cùng với tội danh với Nguyễn Tấn Hoành. Hiện hai ông đang bị giam giữ trong cùng một trại.

Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương. Ảnh: huynhngocchenh.blogspot

Trong thư của ba mươi mốt dân biểu Úc Châu kêu gọi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng phóng thích hai ông Đoàn Huy Chương và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, viết ngày 29 tháng 8 năm 2014, có đoạn như sau:

Mặc dù họ đã bị khép án vi phạm an ninh quốc gia, chúng tôi hiểu rõ những việc làm của họ đơn giản chỉ nhằm hỗ trợ quyền công nhân trong cuộc đình công.

Thêm vào đó chúng tôi cũng nhận được những tường trình cho thấy ông Đòan và ông Nguyễn đã bị đối xử khắc nghiệt, có giai đọan còn bị biệt giam.

Xét rằng Việt Nam là một hội viên của Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, do đó có trách nhiệm cổ vũ và bảo vệ quyền làm người trên tòan thế giới, nay chúng tôi tìm kiếm sự cộng tác, chúng tôi cùng kêu gọi ông thả ngay hai nhà họat động này.

Vào tháng 8 năm 2014 thì ông Dũng có thể phớt lờ lá thư thượng dẫn nhưng đến tháng 8 năm nay thì “tình hình” đã khác hẳn rồi. Cái thời mà Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Động, đồng thời, cũng là  Ủy Viên Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN sẽ không còn nữa!

Không thể vừa “cho phép” giới công nhân thành lập Công Đoàn Độc Lập lại vừa cứ tiếp tục giam giữ những thành viên sáng lập của họ. Bắt không được (nữa) thì đành tha … làm phước vậy!

Tha thì cũng dễ thôi, cái khó là làm sao mà “thả” được một người (e) không còn sống nữa, như trường hợp của Lê Trí Tuệ – theo như tường trình của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, vào năm 2008: “Ông Lê Trí Tuệ hiện vẫn biệt tích… và theo một số lời đồn mật vụ của chính quyền Việt Nam đã giết ông ta.” (The US State Department noted grimly in its 2008 report on human rights in Vietnam that “Le Tri Tue was still missing … amid rumors that Vietnamese government security agents had killed him.”)

BÁNH BỞI TRỜI

BÁNH BỞI TRỜI

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Cuộc đời tiên tri Êlia là một cuộc chiến đấu anh dũng và kiên cường.  Một mình người phải chiến đấu chống lại cả một dân tộc bỏ đạo do hoàng hậu Dêdaben cầm đầu.  Người khiển trách dân chúng vì họ đã nghe theo hoàng hậu mà bỏ Chúa.  Người thách thức 400 sư sãi của thần Baan trong một cuộc dâng của lễ cầu mưa.  Người đã chiến thắng.  Nhưng chính vì chiến thắng.  Người bị hoàng hậu săn đuổi, phải chạy trốn vào sa mạc.  Hôm nay, đói khát đến lả người, vị tiên tri dũng mãnh rồi cũng cảm thấy mệt mỏi rã rời.  Người mất hết sức lực thể chất lẫn tinh thần.  Chẳng thiết sống, người xin Chúa cất người ra khỏi thế gian phiền nhiễu đầy bất trắc.  Người mất hết sức phấn đấu.  Người chỉ muốn an nghỉ trong Chúa.  Nhưng Chúa sai thiên thần đem bánh cho người.  Ăn được bánh bởi trời, tiên tri mới đủ sức vượt qua sa mạc, sau cùng đi tới núi của Thiên Chúa.

Tương tự như thế, đời sống ta cũng là một chuyến đi về nhà Thiên Chúa.  Để đến với Thiên Chúa, ta phải vượt qua sa mạc cuộc đời đầy chông gai cạm bẫy.  Đường đi rất xa và rất khó khăn.  Những chiến đấu có thể sẽ khiến ta mệt mỏi rã rời.  Ta sẽ chẳng đủ sức đi trọn con đường nếu không được nâng đỡ, an ủi.  Để giúp ta đủ sức chiến đấu và đi trọn con đường khó khăn thử thách tiến về nhà Cha. Thiên Chúa đầy tình yêu thương đã ban cho ta tấm bánh bởi trời. T ấm bánh bởi trời mà Chúa Cha ban cho ta chính là Đức Giêsu Kitô, người Con duy nhất của Người.  Món quà của Chúa Cha ban được thực hiện dưới hai hình thức: Lời Chúa và Phép Thánh Thể.

Đức Giêsu Kitô là Lời Ban Sự Sống của Thiên Chúa.  Lời Thiên Chúa là Lời Ban Sự Sống.  Chính Đức Giêsu đã khẳng định điều này khi Người trả lời ma quỉ cám dỗ: “Người ta sống không nguyên bởi bánh.  Nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.”  Thật vậy, chính Lời Chúa làm cho sự sống xuất hiện.  Nhờ Lời quyền năng của Thiên Chúa, vũ trụ được tạo thành.  Lời Chúa là lẽ sống của Đức Giêsu, nên trọn đời Người luôn đi tìm thực hiện thánh ý Chúa Cha: “Lương thực của Thầy là làm theo ý Đấng sai Thầy.”  Xưa kia, Thiên Chúa nói qua trung gian các tổ phụ và các tiên tri.  Nay, Đức Giêsu là Lời của Thiên Chúa trực tiếp nói với nhân loại.  Lời Người ban sự sống cho Ladarô, cho con trai bà góa thành Naim.  Lời Người tha thứ tội lỗi cho Mađalêna, cho người phụ nữ ngoại tình, cho Giakêu.  Lời Người hoán cải người phụ nữ xứ Samaria.  Người đưa tất cả những người tội lỗi trở về con đường sự sống.  Lời Người đã giúp cho bao thế hệ tìm thấy lẽ sống.  Lời Người ban cho họ một sự sống mới, tươi trẻ, phong phú, dồi dào hơn.  Chính vì thế, thánh Phêrô đã lên tiếng tuyên xưng: “Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con biết đi theo ai.  Chỉ Thầy mới có những Lời ban sự sống đời đời.”

Ban Lời hằng sống chưa đủ với tình yêu thương của Người, Đức Giêsu còn ban cho ta chính bản thân Người trong bí tích Thánh Thể. Thật là một tình yêu sâu xa tha thiết.  Khi nuôi dưỡng ta bằng chính thịt máu Người, Đức Giêsu không những muốn kết hiệp mật thiết với ta trong từng thớ thịt, từng dòng máu, mà Người còn muốn ban cho ta sự sống đời đời.  Bí tích Thánh Thể là lương thực thần linh.  Lương thực thần linh ban sự sống thần linh.  Qua bí tích Thánh thể, sự sống thần linh dần dần thấm nhập bản thân ta.  Đây là một tiến trình thần hóa chầm chậm.  Ta trở nên một thân thể với Đức Giêsu. Ta sống cùng sự sống của Người, sự sống đời đời trong hạnh phúc của Thiên Chúa.

Thánh lễ chính là bữa tiệc trong đó Thiên Chúa dọn ra hai bàn tiệc.  Bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể.  Cả hai bàn tiệc cũng đều là chính Đức Giêsu.  Trong thánh lễ, ta nghe lời Chúa dạy dỗ ta. Lời Chúa chỉ cho ta con đường ngay thẳng, con đường hạnh phúc, con đường đưa ta về với Chúa. Thánh Thể Chúa ban sức mạnh giúp ta đủ sức đương đầu với những khó khăn thử thách của cuộc đời. Bởi thế, khi tham dự thánh lễ, ta cần lưu ý lắng nghe Lời Chúa.  Chúa muốn nói riêng với từng người. Hãy lắng nghe để tìm ra điều Chúa muốn nhắn gửi.  Hãy lắng nghe để tìm ra lẽ sống.  Hãy lắng nghe để biết con đường phải đi.  Lời Chúa là con đường đưa tới sự thật và sự sống.

Hãy rước lễ một cách kính cẩn sốt sắng.  Phép Thánh Thể chính là một quà tặng của tình yêu Thiên Chúa.  Hãy hưởng nếm sự ngọt ngào được kề cận Thiên Chúa.  Hãy múc lấy nơi Thánh thể nguồn sức mạnh để thắng vượt những thử thách trong cuộc đời.  Hãy để Thánh Thể uốn nắn, biến đổi ta để ta ngày càng nên giống Người hơn.  Hãy nếm cảm hương vị thiên đàng ngay khi còn tại thế.

Lạy Chúa là Cha vô cùng yêu thương, con cảm tạ Cha đã ban cho con chính Con Một yêu quý của Cha làm bánh trường sinh nuôi dưỡng và đưa chúng con vào sự sống đời đời.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt