Ông Phùng Quang Thanh tiếp Tướng Trung Quốc

Ông Phùng Quang Thanh tiếp Tướng Trung Quốc

Ông Phùng Quang Thanh tươi cười nắm chặt tay Phó Tổng Tham mưu trưởng Trung Quốc, Thượng tướng Tôn Kiến Quốc.

Ông Phùng Quang Thanh tươi cười nắm chặt tay Phó Tổng Tham mưu trưởng Trung Quốc, Thượng tướng Tôn Kiến Quốc.

VOA Tiếng Việt

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh hôm qua, 10/8, đã nắm chặt tay Phó Tổng Tham mưu trưởng Trung Quốc, Thượng tướng Tôn Kiến Quốc, sau khi quan chức hai nước tiến hành cuộc đối thoại chiến lược về quốc phòng.

Ông Tôn là quan chức nước ngoài đầu tiên được cho là gặp mặt ông Thanh, sau khi nhà lãnh đạo quân sự của Việt Nam trở về nước sau khi chữa bệnh ở Pháp giữa ‘cơn bão’ tin đồn.

Các bức ảnh đăng tải trên truyền thông trong nước cho thấy ông Thanh tươi cười đón tiếp Phó Tổng tham mưu trưởng Trung Quốc, và thay vì bắt tay theo kiểu thường thấy, hai bàn tay của ông Thanh và ông Tôn siết chặt lấy nhau, thu hút nhiều bình luận trên các trang mạng ở hải ngoại về mức độ thân thiết của đôi bên.

Trước đó, trong cuộc đối thoại chiến lược quốc phòng lần thứ năm giữa hai nước, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, được trích lời nói rằng cuộc họp “nhằm tạo sự tin cậy chiến lược, thu hẹp bất đồng, phát huy điểm tương đồng, góp phần thúc đẩy quan hệ giữa quân đội và nhân dân hai nước”.

”  Hai anh đu gi miếng vi nhau và hai anh đu gi trò vi nhau c thôi nên không có gì thc cht c. Mâu thun gia hai bên làm sao mà gii quyết được. Chng qua là trước tình hình thế gii phn ng vi Trung Quc như vy nên Trung Quc h buc phi t ra là h cũng biết điu, h cũng hòa bình, thế n thế kia thôi…”

Chuyên gia v quan h Vit-Trung Dương Danh Dy nói.”

Trong khi đó, Tân Hoa Xã trích lời ông Tôn, trưởng đoàn Trung Quốc, nói tại cuộc đối thoại rằng Bắc Kinh và Hà Nội “nên củng cố tình đoàn kết, mở rộng hợp tác và thúc đẩy quan hệ quân sự song phương”.

Nhận định về các tuyên bố của quan chức hai nước, chuyên gia về quan hệ Việt – Trung Dương Danh Dy nói với VOA Việt Ngữ:

“Hai anh đều giữ miếng với nhau và hai anh đều giở trò với nhau cả thôi nên không có gì thực chất cả. Mâu thuẫn giữa hai bên làm sao mà giải quyết được. Chẳng qua là trước tình hình thế giới phản ứng với Trung Quốc như vậy nên Trung Quốc họ buộc phải tỏ ra là họ cũng biết điều, họ cũng hòa bình, thế nọ thế kia thôi, chứ ý đồ của họ là muốn bá chiếm biển Đông, chiếm hết biển Đông và của các nước có liên quan nữa. Làm sao mà yên ổn được?”

Cuộc đối thoại diễn ra vài ngày sau khi Trung Quốc tuyên bố đã ngừng việc bồi lấp và xây đảo nhân tạo trên biển Đông, sau khi Việt Nam, Philippines và Mỹ đồng loạt bày tỏ quan ngại.

Ngoài mục tiêu thắt chặt quan hệ quốc phòng giữa hai nước, báo chí Việt Nam đưa tin, cuộc họp lần này diễn ra với mục đích “phản bác lại những luận điệu xuyên tạc sai trái của các thế lực thù địch về những vướng mắc trong quan hệ hai nước thời gian qua”.

Tân Hoa Xã cũng dẫn lời Phó Tổng Tham mưu trưởng Tôn Kiến Quốc nói rằng “Trung Quốc sẽ chung tay với Việt Nam để xử lý các khác biệt và tăng cường nỗ lực vì quyền lợi của người dân hai nước cũng như vì hòa bình và ổn định trong khu vực”.

” Phía Vit Nam thì cũng có th có mt s ít người nào đó có o tưởng vi Trung Quc, nhưng cá nhân tôi, tôi thy rng trong chuyn bin Đông, không có o tưởng gì vi Trung Quc c. Trung Quc chiếm đo ca người ta ri nó xây dng căn c quân s, xây dng sân bay thì làm sao hòa bình được?”

Ông Dương Danh Dy nhn xét.”

Về tuyên bố này, cựu quan chức ngoại giao Dương Danh Dy nói:

“Phía Việt Nam thì cũng có thể có một số ít người nào đó có ảo tưởng với Trung Quốc, nhưng cá nhân tôi, tôi thấy rằng trong chuyện biển Đông, không có ảo tưởng gì với Trung Quốc cả. Phía Trung Quốc chiếm đảo của người ta rồi nó xây dựng căn cứ quân sự, xây dựng sân bay thì làm sao hòa bình được?”

Đưa tin về cuộc đối thoại quốc phòng này, báo chí Trung Quốc nhấn mạnh tới những thỏa thuận mà Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã đạt được trong cuộc gặp với Chủ tịch Tập Cận Bình hồi tháng Tư vừa qua, coi đó là “kim chỉ nam” cho bất kỳ các cuộc họp bàn sau này.

Khi ấy, ông Trọng và ông Tập đã “đi sâu trao đổi thẳng thắn và đạt được nhận thức chung quan trọng, sâu rộng” về quan hệ song phương.

Ngoài ra, hai quan chức Việt – Trung cũng chứng kiến nhiều lễ ký kết các thỏa thuận, trong đó có “kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 2016-2020” hay việc hợp tác giữa Bộ Quốc phòng hai nước.

Tu là buông bỏ hay hoán chuyển?

Tu là buông b hay hoán chuyn?

Một bữa nọ, hai thầy trò cao tăng ngồi nói chuyện với nhau:

Đệ tử: Thưa thầy, đạo Phật khuyên người ta buông bỏ mọi thứ đúng không?

Sư phụ: Không đúng!

Đệ tử: Rõ ràng có câu “buông bỏ tất cả” đấy thôi?

Sư phụ: “Buông bỏ tất cả” để làm gì?

Đệ tử: Đúng thế, đệ tử cũng thấy rất nghi ngờ! Đệ tử thấy Phật giáo luôn nhìn vấn đề tiêu cực.

Nhiều người hỏi đệ tử: “Nếu mọi sự đều buông bỏ thì lấy đâu ra tiền? Quần áo?

Mọi người đều không làm việc thì thế giới này sao có thể tồn tại?”

Sư phụ: Mọi sự buông bỏ thì dẫn đến sụp đổ, cái gì cũng không buông bỏ thì cũng dẫn đến sụp đổ.

Đệ tử: Như vậy phải làm thế nào?

Sư phụ: Thay thế và hoán chuyển

Đệ tử: Nhờ thầy chỉ rõ cho con!

Sư phụ: Con có thể kêu một người ăn mày cam tâm cho con số tiền đang nắm chặt trong tay họ không?

Đệ tử: Không thể được.

Sư phụ: Con có thể dùng hòn sỏi đổi lấy số tiền trong tay người ăn mày không?

Đệ tử: Con nghĩ không được.

Sư phụ: Tại sao?

Đệ tử: Vì tiền đáng giá hơn.

Sư phụ: Vậy nếu dùng vàng để đổi thì sao?

Đệ tử: Vậy thì được.

Sư phụ: Tại sao?

Đệ tử: Vì vàng đáng giá hơn.

Sư phụ: Vì thế, cách buông bỏ đơn giản nhất chính là hoán chuyển.

Nguyên nhân khiến người ta không buông bỏ là vì không giành được thứ tốt hơn.

Dùng thức ăn chay thay cho thức ăn mặn, con sẽ buông bỏ được con dao mổ;

dùng bố thí thay cho giành giật, con sẽ buông bỏ được lòng tham;

dùng tín ngưỡng thay cho hư vô, con sẽ buông bỏ được nỗi trống rỗng;

dùng trí tuệ thay cho ngu dốt, con sẽ buông bỏ được cố chấp;

dùng chánh niệm thay cho tạp niệm, con sẽ buông bỏ được ngông cuồng;

dùng nhẫn nại thay cho báo thù, con sẽ buông bỏ được giận dữ;

dùng yêu thương thay cho tham lam, con sẽ buông bỏ được.. đau tim.

Tu hành không phải là buông bỏ, mà là để hiểu lẽ hoán chuyển.

THƯ GỬI MẸ LÊN TRỜI

THƯ GỬI MẸ LÊN TRỜI

Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J.

Mẹ Maria kính yêu,

Việc Mẹ được đặc ân lên trời cả hồn và xác là biến cố trọng đại và ý nghĩa cho toàn thể nhân loại. Trọng đại vì đó là phần thưởng tuyệt hảo mà Thiên Chúa đã dành riêng cho Mẹ; ý nghĩa vì Mẹ là người khởi đầu của Hội Thánh viên mãn, là niềm vui và hy vọng lớn lao cho dân thánh trong cuộc lữ thứ trần gian.  Trên quê trời, Mẹ tiếp tục mời gọi chúng con bước theo Thầy Giêsu để mai này chúng con cũng được cùng Mẹ hưởng niềm vui Thiên quốc.  Hôm nay (15/08) cả Giáo Hội chung chia niềm vui này với Mẹ để tán dương Thiên Chúa!

Còn nhớ ngày sứ thần truyền tin, Mẹ đã thưa tiếng “xin vâng” để trở thành Mẹ Thiên Chúa.  Mẹ chấp nhận thánh ý để cùng với Con của Mẹ lao tác trong chương trình cứu độ.  Chiêm ngắm hành trình Mẹ theo chân Thầy Giêsu, Con Mẹ, ai ai cũng nhận ra tình yêu và lòng tín thác tuyệt đối mà Mẹ dành cho Thiên Chúa.  Đúng như lời hát du dương của Mẹ: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, Thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi!”  Không vui mừng hớn hở sao được bởi Mẹ thật diễm phúc vì hoa trái trong lòng Mẹ là Đấng cứu độ trần gian.  Cả cuộc đời, Mẹ luôn ngân nga tiếng hát ấy với niềm vui thiêng liêng và lòng xác tín thẳm sâu!

Trên dương thế, Mẹ chẳng xa rời Đức Giêsu.  Mẹ và Thầy Giêsu như hình với bóng.  Lúc nào Mẹ cũng quảng đại cộng tác trong công cuộc cứu độ của Thiên Chúa.  Có thể nói Mẹ là đóa hoa hướng dương luôn hướng về ánh Mặt Trời.  Đóa hoa ấy luôn đầy tràn ân phúc vì Đức Chúa ở cùng Mẹ.  Nhờ đó, Thiên Chúa ban cho Mẹ vô nhiễm khi hoài thai, đồng trinh vẹn sạch khi làm mẹ và ơn thăng thiên cả xác lẫn hồn.  Mẹ cũng được gìn giữ khỏi bị hư nát trong mồ giống như Con của Mẹ.  Chúng con hãnh diện lắm, mừng vui lắm khi Mẹ được đưa lên trời cả hồn và xác!  Giờ đây Mẹ biết không, chúng con sung sướng chạy đến với Mẹ để nhờ Mẹ chuyển cầu cho chúng con trước nhan thánh Chúa.

Mẹ ơi!  Đã từ lâu Giáo Hội có những thánh lễ nói về giây phút chấm dứt cuộc đời dương thế của Mẹ đấy.  Mừng với Mẹ vì ai cũng tin rằng lần ra đi của Mẹ phải tốt đẹp, không chút đớn đau.  Rồi dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh, ngày 1/11/1950, Đức Piô XII long trọng tuyên bố: “Đức Maria, Mẹ Vô Nhiễm của Thiên Chúa trọn đời đồng trinh, sau cuộc sống trần gian này, đã được phúc vinh quang Thiên đàng cả hồn và xác.”  Mẹ ơi, Ngài còn nói với chúng con rằng: “Chúng ta hãy nài xin Mẹ rất thánh của mọi phần tử của Chúa Kitô mà Ta đã tín thác hiến dâng loài người cho Trái Tim Mẹ.  Ngày nay ở trên trời, thân xác và linh hồn Mẹ toả sáng trong vinh quang, hiển trị cùng với Con của Mẹ.” (“Corporis Mystici”, 29-6-1943).

Trái tim hiền mẫu của Mẹ luôn ước mong từng người con hãy tin yêu Chúa Giêsu.  Mẹ cầu mong chúng con cũng được hưởng niềm vui Thiên Quốc như Mẹ.  Ước gì chúng con luôn được ở trong Trái Tim nhân hiền của Mẹ.  Mẹ ơi!  Chúng con tin rằng thân xác sẽ sống lại trong ngày sau hết.  Nếu tin yêu Chúa Giêsu Kitô, chúng con chắc chắn sẽ được sự sống đời đời, Mẹ nhỉ!  Khi ấy, Mẹ-con mình sẽ trùng phùng vui sướng, hạnh phúc vô bờ!  Hơn nữa, khi chiêm ngắm Mẹ lên trời cả hồn và xác, chúng con còn xác tín rằng: thân xác sẽ được cứu độ.  Cho dẫu cuộc sống gian trần còn nhiều khổ đau thân xác và tâm hồn, nhưng nhờ Mẹ, chúng con sẽ được Thiên Chúa nhận lời đưa vào cuộc sống vĩnh hằng, thưa Mẹ!

Sau cùng, chúng con muốn cùng với Mẹ dâng lời “Ngợi khen” Thiên Chúa: “Linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa, … Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn!”  Chính Người đã ban cho Mẹ nên Hiền mẫu tuyệt vời trên dương thế, nên Đức Mẹ rạng ngời trên Thiên quốc.  Hôm nay và ở đây, Mẹ vẫn đang hát vang bài ca ấy để cầu mong từng người con dù sống dưới trần gian, nhưng hãy hướng tâm trí về Quê Trời.  Nơi ấy Mẹ đang vẫy gọi và cầu nguyện cho mỗi người chúng con!

Lạy Mẹ Maria, trên Thiên quốc, xin Mẹ đoái nhìn đến cuộc sống lữ hành của chúng con.  Xin Mẹ nhắc nhớ chúng con đừng quá mê man với cuộc sống chóng qua mà quên mất thực tại Nước Trời.  Bên ngai tòa Thiên Chúa, xin Mẹ cầu thay nguyện giúp cho chúng con có sức mạnh thần linh để chúng con một lòng tin yêu Thiên Chúa.  Được như thế, chắc chắn chúng con sẽ gặp được Mẹ, để Mẹ dẫn chúng con đến hưởng nhan thánh Chúa.  Amen.

Chúc mừng đặc ân Mẹ được Thiên Chúa đưa lên trời cả hồn và xác!

Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J.

Trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ

Trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-08-10

08102015-stone-stael-still-eroded-comma.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tượng đài Hồ Chí Minh được làm bằng hợp kim đồng có chiều cao là 7,2 m

Tượng đài Hồ Chí Minh được làm bằng hợp kim đồng có chiều cao là 7,2 m được đặt trước mặt UBND TPHCM.

kienthuc.net

Thần kinh khốn nạn

Blogger Nguyễn Tường Thụy ghi lại từ trang mạng của cơ quan tuyên giáo của đảng cộng sản Việt nam rằng hiện ở Việt nam có 158 tượng chủ tịch Hồ Chí Minh, và từ đây cho đến năm 2030 chính phủ Việt nam sẽ cho xây cất thêm 58 tượng ông Hồ Chí Minh nữa.

Tượng đầu tiên trong số 58 tượng này chính là nằm trong công trình quảng trường của tỉnh Sơn La với kinh phí dự trù là 14 ngàn tỉ đồng.

Thông tin về bức tượng tốn kém này làm nổ tung truyền thông Việt nam, không chỉ từ giới blogger độc lập mà cả từ truyền thông chính thống của nhà nước.

Câu bình luận đầy giận dữ của giáo sư Toán học Ngô Bảo Châu được loan truyền trên không gian blog theo tốc độ của ánh sáng:

“Trẻ con ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1400 tỷ để xây tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh”.

Tác giả Bạch Cúc cũng chia sẻ sự phẫn nộ trên trang Bauxite Việt Nam:

Tôi không hiểu tại sao đến giờ phút này người ta vẫn còn có thể trâng tráo và tàn nhẫn trên nỗi thống khổ của đồng bào mình đến vậy? Thay vì phung phí tiền thuế của dân để xây dựng những tượng đài xa hoa vô tích sự, thì sao người ta không xây dựng trường học, bệnh viện, triển khai những chính sách giúp dân an cư lập nghiệp, giảm thiểu số người buôn bán gánh bưng; người già, người khuyết tật đơn độc được vào nhà an dưỡng chứ không phải là lê la ngoài đường mưu sinh vất vả với xấp vé số!

Tác giả Võ Xuân Sơn viết trên trang của mình với một giọng văn gần như ngơ ngác, ông hỏi rằng tại sao chuyện món nợ công khổng lồ đang treo lơ lững trên đầu quốc gia, bao nhiêu người dân đang sống dưới mức nghèo khổ, ăn cơm không thịt,… mà người ta lại bỏ 14 ngàn tỉ để xây tượng đài?

” Trẻ con ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1400 tỷ để xây tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh

Giáo sư toán học Ngô Bảo Châu”

Theo blogger Nguyễn Tường Thụy thì nếu so sánh với số tiền mà nhóm NO-U, một nhóm dân sự độc lập tại Việt nam, dùng để xây dựng lớp học cho trẻ em nghèo trên vùng núi tỉnh Yên Bái thì số vốn mà tỉnh Sơn La dùng để xây tượng ông Hồ Chí Minh có thể dùng để xây được 14 nghìn lớp học như thế.

Blogger nhà văn Phạm Đình Trọng viết bài Hãy dừng ngay những tượng đài tham nhũng. Sau khi liệt kê những công trình tượng đài tiền tỉ khác đã làm xong như Bà mẹ Việt nam anh hùng tại Quảng Nam, Văn miếu khổng tử tại Vĩnh phúc,… Ông viết:

Chính quyền với những cá nhân từ cấp thấp đến cấp cao dấm dúi tham nhũng, không ai bảo được ai, không ai trị được ai. Đến nay chính quyền tham nhũng đó đã tiến tới tập thể công khai tham nhũng bằng việc ném hàng trăm, hàng ngàn tỉ tiền thuế mồ hôi nước mắt của dân vào những công trình không những vô bổ mà còn phản văn hóa nhân loại, phản đạo lí dân tộc, phản cả sự trung thực của lịch sử đất nước. Tiền đầu tư công trình càng lớn thì tiền lại quả để những người có chức, có quyền chia nhau càng lớn.

Nói về câu tuyên bố của giáo sư Ngô Bảo Châu, blogger Cánh Cò viết rằng ông đã tìm ra một loại hệ thống thần kinh mới mang tên Thần kinh khốn nạn.

Người đặt bút ký quyết định cho tỉnh Sơn La xây dựng bức tượng tiền tỉ của ông Hồ Chí Minh là Phó thủ tướng Vũ Đức Đam.

Cánh Cò bình luận về ông Đam dựa trên câu nói của giáo sư Ngô Bảo Châu:

Rõ ràng là GS Châu chơi chữ. Không thể nào một ông Phó Thủ tướng lại mắc bệnh thần kinh, có nghĩa là tâm thần không bình thường, ký những quyết định đi ngược lại với nhân văn, với đạo lý dân tộc. Ông chỉ có thể “khốn nạn” trong ý thức. Ông không xem trẻ em lê lết trong các mái trường không thua chuồng trại súc vật đầy dẫy tại các tỉnh biên giới mà Sơn La là một điển hình của sự nghèo túng cùng cực. Ông không hề nghĩ tới hàng chục ngàn hộ thiếu ăn quanh năm và đối với họ chỉ cần đủ ăn đã là hạnh phúc. Đối với họ Hồ Chí Minh chỉ là một cục đá được đẽo gọt chỉ để đứng nhìn sự thống khổ, kiệt quệ của họ, những người quanh năm không biết tới một mẩu thịt là gì.

Cánh Cò cho rằng loại thần kinh này đã nằm trong cơ cấu di truyền của hệ thống cộng sản, và những người cộng sản có loại thần kinh này tưởng tượng ra rằng người dân đang đói rách có thể ngắm tượng ông Hồ Chí Minh, người được tuyên truyền là cha già dân tộc, để thay cơm.

Còn một chút này

Cánh Cò kết luận rằng dự án bức tượng ngàn tỉ này không phải chỉ là sự lãng phí mà còn là sự phá hoại, phá hoại những tình cảm cuối cùng của người dân miền núi chất phác dành cho ông Hồ Chí Minh.

Những tình cảm đó được blogger Hiệu Minh ghi nhận như sau:

Hình ảnh cụ Hồ trong phần đông dân chúng là một người giản dị, sống có đạo đức và chẳng có chút gì cho riêng mình. Dù là tuyên truyền thì hãy để hình ảnh đẹp ấy sống mãi trong trái tim thế hệ sau.

Những người hay rao giảng trên bục về đạo đức Hồ Chí Minh không tham ô, trộm cắp, độc ác với đồng chí, thì Hồ Chí Minh sẽ muôn đời sống mãi mà không cần đến tượng đài và đền chùa, hao phí tiền bạc của người nghèo, hay những câu khẩu hiệu giăng đầy giữa phố đông người.

Nhưng có những người không đồng ý với hình ảnh một ông Hồ Chí Minh giản dị. Họ cho rằng ông chẳng giản di chút nào vì thuở sinh thời ông cũng đã để cho mọi người ca ngợi ông hết lời, dán hình ảnh ông khắp nơi, và thậm chí là ông viết sách ca ngợi chính ông nữa.

” Thấy bảo bà con trên đó mong lắm. Mong ngày mong đêm, muốn có cấy tượng đài rõ hoành tráng, với tượng Bác Hồ cao to lồng lộng, để dân khắp tỉnh cứ mỗi cuối tuần thì kéo nhau đến, đem mỳ luộc, bắp nướng ra ăn rồi ngắm cho thỏa nỗi ước ao…Trẻ em cởi truồng đến coi cũng cứ thích”

Trên blog của nhà văn Đào Hiếu, một tác giả khác viết một cách mỉa mai về cái gọi là tình cảm của đồng bào nghèo miền núi tỉnh Sơn La đối với việc xây tượng đài ông Hồ Chí Minh:

Thấy bảo bà con trên đó mong lắm. Mong ngày mong đêm, muốn có cấy tượng đài rõ hoành tráng, với tượng Bác Hồ cao to lồng lộng, để dân khắp tỉnh cứ mỗi cuối tuần thì kéo nhau đến, đem mỳ luộc, bắp nướng ra ăn rồi ngắm cho thỏa nỗi ước ao. Có mưa to, gió lớn, lũ ống lũ quét chi cũng hổng quản. Nhà cửa tạm bợ, trường lớp xụp xụp cũng không răng. Trẻ em cởi truồng đến coi cũng cứ thích. Vì rứa nên bà con mới kiến nghị với đảng bộ và chính quyền trên đó lâu rồi. Đòng chí bí thơ hay chủ tịch tỉnh đó nói rứa. Nguyện vọng bà con, chớ có phải các đòng chí lãnh đạo phịa ra mô.

Những dòng chữ mỉa mai này dường như là để trả lời cho một tuyên bố của một vị phó chủ tịch phó chủ tịch hiệp hội qui hoạch và phát triển đô thị Việt nam, Tiến sĩ Đào Ngọc Nghiêm. Ông Nghiêm nói rằng không thể nói rằng vì đói nên phải mua cơm trước, và tượng đài sẽ là động lực cho sự phát triển (sic.)

Cũng phải ghi nhận rằng có người cũng ủng hộ câu nói của ông Nghiêm, họ nói rằng tượng đài sẽ thu hút khách du lịch đến để tham quan thắng cảnh.

Cuộc chiến tuyên truyền

Blogger Người buôn gió lại nhìn nhận câu chuyện dựng tượng ông Hồ Chí Minh ở Tây bắc từ một góc độ khác. Theo ông Tây bắc vốn là nơi có sự đa dạng về sắc tộc và tính ngưỡng, đồng thời cũng là nơi mà Tinh lành và Thiên chúa giáo phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây, và điều này đã làm cho những người cộng sản lo sợ, và hình tượng ông Hồ Chí Minh được đưa vào vùng này như là một vũ khí tinh thần chống lại tôn giáo và tín ngưỡng,… Tuy nhiên Người Buôn gió nhận xét:

Không có ý xúc phạm vong linh của ông HCM. Nhưng sự thực là ở nơi nào tượng đài của ông xuất hiện, hình ảnh của ông được quảng bá, tư tưởng của ông được truyền tụng ca ngợi. Ở đó đạo đức đều băng hoại. Đây hoàn toàn không phải lỗi của ông. Mà do những kẻ lợi dụng biến ông thành một phương tiên chiến tranh tôn giáo, tín ngưỡng. Biến ông thành công cụ, vũ khí để xâm lược tư tưởng. Để đè bẹp, lấn át tôn giáo khác trong tâm trí người dân. Nhằm mục đích làm bền vững sự cai trj của mình bằng thủ đoạn.

” Những tượng đài to lớn hoành tráng xa xỉ được xây dựng nhiều chừng nào thì cái tư duy lụn bại và dấu hiệu nhũng lạm ngày càng phình to không thể che dấu được chừng đó. Cứ để thế đi, phản bác làm gì. càng nhiều tượng đài chừng nào, thì thể chế đó càng mau xuống hố chừng đó

Blogger Kinh Thư “

Nhưng mấy ai nhìn thấy tượng đài HCM là công cụ, vũ khí của ĐCSVN dựng lên để làm biến dạng bản sắc dân tộc của người miền núi.

Điều đó còn đáng phẫn nộ hơn. Sự huỷ hoại văn hoá, xâm chiếm tín ngưỡng, tôn giáo sẽ làm băng hoại nền tảng đạo đức con người. Khi đã mất đi bản sắc truyền thống, thay thế vào đó bằng một hình tượng nhất thời, cả dân tộc ấy sẽ chả còn gì là con người nữa. 1400 tỷ là con số lớn, nó sẽ còn lớn hơn nữa khi hàng năm phải vặn óc ra tổ chức những sự kiện để nhồi nhét hình tượng HCM tiếp tục vào đầu dân tộc Tây bắc qua cái sân khấu khu tượng đài này.

Người buôn gió hỏi rằng cần bao nhiều tiền để sau này khôi phục bản sắc văn hóa của người miền núi Tây bắc?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn cũng thấy rằng chiến dịch xây tượng đài ông Hồ Chí Minh là một phần của cuộc chiến tranh tuyên truyền của đảng cộng sản, nhưng nhận xét của ông có phần mềm mỏng hơn:

Tôi nghĩ tượng đài là một phương tiện tuyên truyền. Trong một thể chế toàn trị, người đứng đầu đảng hay Nhà nước (hay nói chung là lãnh tụ) là hiện thân của chế độ; yêu thương lãnh tụ cũng là yêu thương chế độ toàn trị. Để làm cho quần chúng yêu thương lãnh tụ, cần phải kiểm soát trái tim và đầu óc của họ. Việc kiểm soát phải qua bộ máy tuyên truyền. Mà, một phương tiện tuyên truyền hữu hiệu là kích thích thị giác, làm cho đám đông nhất trí với lí tưởng của nhà cầm quyền. Do đó, xây tượng đài lãnh tụ là một chiến lược rất “nhân văn” để kiểm soát tâm và trí của quần chúng.

Ông cũng nhận xét rằng không chỉ các quốc gia cộng sản mà các quốc gia độc tài tân thời cũng ham thích tượng đài lãnh tụ như là Irak thời ông Saddam, rồi các quốc gia Trung Phi hay Trung Á. Giáo sư Tuấn so sánh với sự tuyên truyền cho các nhà chính trị ở các quốc gia tư bản, và ông thấy rằng họ cũng có xây tượng đài nhưng ít tốn kém, và cái chính là họ cần sự thuyết phục chứ không phải kiểm soát tâm trí của dân chúng.

Giáo sư Tuấn còn có một nhận xét là nhiều bức tượng anh hùng dân tộc ngày xưa được xây dựng dưới thời Việt nam cộng hòa trước năm 1975 đã được thay thế bằng ông Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông. Nhưng điều quan trọng nhất về các tượng đài xã hội chủ nghĩa là tính chất vô hồn của nó:

Các nhân vật trong tượng đài XHCN thì thường được cho mập ú (không giống người Việt), lực lưỡng (như ông Tây), tay lúc nào cũng giơ cao, có khi tay cầm búa hoặc lưỡi liềm (rất ghê), có khi tay nắm lại như sắp đánh lộn, có khi tay mang súng trông rất hung dữ như sắp bắn ai, mặt thì lúc nào cũng vênh váo, v.v. Tóm lại, những bức tượng đó chẳng giống thần thái của người Việt chút nào cả.

Ông viết thêm là cái cánh tay giơ lên của ông Hồ Chí Minh ở Việt nam không khác gì cả cánh tay ông Mao Trạch Đông bên Trung quốc, hay ông Kim Nhật Thành bên Bắc Triều tiên.

Sắc sắc không không

Không rõ là cuộc chiến tuyên truyền bằng tượng đài của đảng cộng sản Việt nam, hay Trung quốc, hay Bắc Triều tiên có thành hay không, nhưng nhiều tượng đài lãnh tụ cộng sản đã bị kéo sập sau khi chủ nghĩa này bị thất bại ở châu Âu.

Blogger Kinh Thư viết rằng:

Những tượng đài to lớn hoành tráng xa xỉ được xây dựng nhiều chừng nào thì cái tư duy lụn bại và dấu hiệu nhũng lạm ngày càng phình to không thể che dấu được chừng đó.
Cứ để thế đi, phản bác làm gì. càng nhiều tượng đài chừng nào, thì thể chế đó càng mau xuống hố chừng đó. Khỏi nhọc công
.

Một tác giả lại so sánh cảnh hỗn loạn xây đền chùa thời Phật giáo mạt kỳ, và cảnh người cộng sản xây dựng tượng ông Hồ Chí Minh bằng hai khái niệm Vô tướng của đạo Phật và Hữu tướng của chủ nghĩa cộng sản:

Chùa nhiều, Phật lớn, không sư đạo

Đảng mạnh, Bác to, chẳng đảng viên

Một người khác thì mượn câu nói của người xưa để cảnh báo:

Trăm năm bia đá cũng mòn,

Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ!

Tại sao chế độ độc tài có thể tồn tại ở Việt Nam?

Tại sao chế độ độc tài có thể tồn tại ở Việt Nam?

Triết học Đường phố

Joseptuat

“Ôi! Cái đất nước gì mà quái lạ, chó mèo còn quan trọng hơn người.” “Ôi! Cái đất nước gì bất ổn! Tuần nào cũng có biểu tình, hôm thì nhóm này, mai lại tới nhóm khác xuống đường, chả yên bình tí tèo nào! Như vậy thì sao mà yên ổn làm ăn?”

Người Việt dưới chế độ cộng sản vẫn thường khó hiểu với những điều mắt thấy, tai nghe ở những đất nước tự do như vậy đó. Phần lớn người dân chúng ta quen với cảnh luồn cúi, vâng dạ với chính quyền, trong suy nghĩ mình chỉ là thân phận dân đen, rồi suốt ngày nhìn thấy trên bề mặt cảnh yên lặng mà không biết rằng nó có được là do sợ hãi, vô cảm, rồi lầm tưởng về mình và thế giới xung, nên thấy cảnh sinh hoạt của một xã hội tự do thì xem họ giống như một giống dân khó hiểu, nhiều người còn bảo là lạc hậu. Tôi ban đầu cũng thấy không quen với cảnh sinh hoạt của đất nước tự do, nhưng rồi ngồi ngoài quan sát, nghiền ngẫm thì mới phát giác ra rằng: giá trị của tự do mang đến cho con người thật tuyệt vời.

Chỉ có một xã hội có tự do, quyền con người được luật pháp tôn trọng và bảo vệ, thì quyền lợi của những con vật thú cưng mới được như vậy. Nói cho vui thì quyền lợi của mấy chú thú cưng chỉ là ăn theo quyền con người mà thôi. Không chỉ thể, khi xã hội có tự do người dân cũng trở nên nhạy bén và phản ứng tích cực hơn với các vấn đề xã hội, các vấn đề chính trị. Đặc biệt là tầng lớp trẻ, tôi thấy họ nhạy bén với các quyết định của chính phủ một cách tuyệt vời. Tôi đã chứng kiến những cuộc biểu tình của tầng lớp sinh viên về các quyết định của chính quyền như vấn đề kinh tế, hay ban hành những cải cách giáo dục có vẻ có lợi cho một nhóm người…

Nhìn người thì ngẫm tới mình! Khi bắt đầu có những nhận thức mới về tình hình xã hội, trong đầu tôi luôn có một trăn trở về sự tồn tại của ĐCS ở VN. Tại sao chế độ độc tài này có thể tồn tại khi mà thế giới ngoài kia đã và đang chối bỏ nó từ gốc tới ngọn? Tại sao người dân VN mình lại tuân phục chính quyền như vậy, trong khi phần lớn người dân trên thế giới được sống trong tự do, hiểu rõ quyền của mình, và hiểu rõ vị trí của chính quyền trong xã hội như thế nào? Cho đến hôm nay câu hỏi đó vẫn đeo bám, và thật khó để tìm một câu trả lời chính xác cho vấn đề trên. Tôi nghĩ nhiều người đã viết về nó, bàn về nó, ở đó tôi thấy họ vẽ lên chế độ này là một chế độ tàn ác, giỏi tuyên truyền mị dân. Có nhiều người bảo tại dân trí VN mình thấp, không hiểu về quyền lợi, và trách nhiệm của mình trong xã hội. Tôi nghĩ cả hai nguyên nhân trên đều đúng, nhưng nó chưa đủ đối với tôi, tôi chưa thấy thỏa mãn, vì thế tôi muốn góp một chút suy tư của mình, nhằm trả lời cho câu hỏi trên.

Trước khi bàn về sự tuân phục của dân VN với chế độ cộng sản, tôi muốn mời mọi người gọi đúng danh xưng cho chính quyền cộng sản, đúng như những gì nó đang thể hiện. Tôi không thích tính mập mờ, cái gì đúng với bản chất của nó, thì phải gọi đúng tên nó. Cái bàn mà gọi là cái ghế, con voi gọi là con chuột, con chim gọi là con thằn lằn thì không thể nào chấp nhận được. Mọi vật tồn tại đều có bản chất riêng của nó, vì thế hãy gọi đúng tên nó như nó là. Cũng không vì trong hiến pháp ghi rằng chính quyền này là chính quyền của dân, do dân, và vì dân, thì dù chính quyền muốn làm trời làm đất chi thì đó vẫn là chính quyền của nhân dân. Nếu con chuột khoác trên mình bộ lông con mèo, mà có thể gọi nó là mèo chứ không phải chuột thì đúng là nhầm lẫn tai hại, và ngớ ngẫn.

Vậy chính quyền cộng sản là chính quyền của dân, do dân, vì dân, hay là một chính quyền độc tài? Chưa hề có một chính quyền nhân dân nào, mà lại đi bắt bớ, khủng bố, bỏ tù những người khác quan điểm với mình? Không thể nào có một chính quyền nhân dân, mà lại cướp đi tự do, quyền con người của họ? Không thể nào có một chính quyền nhân dân, mà lại cai trị bằng nỗi sợ hãi, bằng bạo lực, bằng lừa dối? Và chưa bao giờ có một chính quyền nhân dân, lại bắt bớ những người chống ngoại xâm, và xem ngoại xâm là bạn, là hàng xóm? Cuối cùng là chính quyền này chưa bao giờ được nhân dân bầu lên, nó chỉ là chỉnh quyền chỉ định, đề cử từ Đảng Cộng Sản. Tất cả những gì đang thể hiện chỉ cho thấy bản chất của một chính quyền độc tài. Vì thế, tên của chính quyền độc tài sẽ được thay thể cho cụm từ chính quyền cộng sản trong bài viết này.

Tại sao dân chúng Việt Nam lại tuân phục chính quyền độc tài?

Tôi nghĩ một chế độ độc tài có thể cầm quyền được khi và chỉ khi họ điều khiển được phần lớn người dân trong xã hội. Tôi không dùng từ kiểm soát, mà tôi dùng từ điều khiển, y như chúng ta điều khiển đồ chơi điện tử của mình. Tôi nghĩ chế độ này luôn chủ động trong các trò chơi chính trị với người dân, họ biết rõ dân chúng cần gì, ghét gì, lo gì, muốn gì bởi đơn giản họ ở trong đầu phần lớn người dân chúng ta. Nhưng làm thế nào chính quyền có thể điều khiển người dân?

Để có thể điều khiển dân chúng, thiết nghĩ họ cần điều khiển tư tưởng, hay nói chính xác là họ biến ý muốn của họ, quyền lợi của họ một cách nào đó chính là tư tưởng hợp lý trong chúng ta. Tư tưởng chúng ta sinh ra ý tưởng, ý tưởng tạo ra ý chí, ý chí thúc đẩy chúng ta hành động. Vậy tư tưởng đến từ đâu? Tư tưởng đến từ gia đình, nhà trường, xã hội, từ kinh nghiêm cuộc sống, từ tôn giáo. Tất cả những vật liệu trên tạo ra tư tưởng, nên chỉ cần chính quyền kiểm soát những thứ đó thì có thể tạo ra được một số lớn dân chúng theo ý muốn. Vậy thật sự thì chính quyền này cần những gì trong thành phần xã hội, để biến họ, quyền lợi của họ, sự tồn tại của họ thành tư tưởng hợp lý trong đầu người dân?

Nắm quyền giáo dục!

Giáo dục chính là điều đầu tiền để chính quyền tạo ra những con người tuân phục họ. Bởi thế, ở VN không có những trường học do tư nhân thành lập từ cấp tiểu học đến trung học phổ thông là như vậy. Đến cả đại học nếu có được thành lập cũng phải nằm dưới quyền kiểm soát của bộ giáo dục, và bị theo dõi rất chặt chẽ từ người của bộ này. Chúng ta thừa hiểu được tầm quan trọng của giáo dục trong tiến trình phát triển một con người, vì phần lớn những tư tưởng giáo điều được nuôi dưỡng, và lớn lên trong thời gian nay.

Nắm được giáo dục, cũng là nắm được 50% thành công để tạo ra những con người theo ý muốn của chính quyền. Không khó hiểu phần lớn những người VN trong giai đoạn cắp sách tới trường, lại thường rất sủng mộ Hồ Chí Minh, và tin tưởng vào ĐCS. Ở giai đoạn này, phần lớn học sinh VN bị nhồi vào đầu những điều vô lý nhưng lại được dạy là rất bình thường: Yêu tổ quốc, yêu đất nước là yêu đảng, nghe theo đảng. Chống đảng, dù có vì dân, vì đất nước, vì tổ quốc thì là phản bội tổ quốc, phản động, người xấu. Thế nhưng, đời sống một con người đâu thể mãi bó hẹp trong môi trường giáo dục, và cũng đâu chỉ tiếp nhận tư tưởng từ giáo dục nhà trường, ở ngoài kia cũng là một nơi để tư tưởng của họ được nảy sinh, phát triển. Vì thế, điều thứ hai cần làm để điều khiển tư tưởng, đó chính là kiểm soát báo chí, truyền thanh, truyền hình, và nay là cả Internet.

Kiểm soát thông tin!

Thông tin được tiếp nhận qua các giác quan, và cả từ kinh nghiệm sống. Khi chúng ta được đón nhận những thông tin đúng sự thật, chúng ta sẽ có được những tư tưởng đúng đắn, và sẽ có hành động hợp lý, và chính đáng. Nhưng khi thông tin bị bóp méo, bị kiểm duyệt, thì cái mà chúng ta tiếp nhận lại là những viên gạch, những thanh sắt nhốt chúng ta trong một vùng ý thức nào đó. Bởi thế, để có thể điều khiển người dân, chính quyền độc tài cấm các tờ báo, các truyền hình, truyền thanh tư nhân. Và hầu hết, các cơ quan truyền thông đều bị kiểm soát của ban tuyên giáo, một cơ quan đại diện cho tiếng nói nhất quán của ĐCSVN, hay đúng hơn là quyền lợi của giới lãnh đạo.

Đương nhiên, việc kiểm soát thông tin trong thời đại Internet đúng là một việc làm không hề dễ như chưa có nó. Để có thể làm mất ảnh hưởng của những thông tin trái chiều trên mạng xã hội, chính quyền lại chơi trò tung hỏa mù. Tung thật nhiều tin có tính chất mờ hồ lên mạng, khiến người đọc nhiều khi khó phân biệt được đâu thật, đâu giả. Và đó là cách làm cho tâm trí chúng ta nghi ngờ những tư tưởng của mình, và đa số chọn cách chờ đợi sự thật rõ ràng, mới bắt đầu hành động. Điều kì là ở con người là tư tưởng nhiều khi tự nó phát triển, cho cả khi bị nhốt kín trong 1 vùng không gian và thời gian nào đó. Để ngăn chặn những tư tưởng tự do này, chính quyền độc tài cần nỗi sợ hãi.

Cai trị bằng nỗi sợ hãi

Cai trị bằng nổi sợ hãi nói ra có vẻ trừu tượng, hiểu đơn giản là biến lực lượng công an, quân đội thành công cụ đàn áp người dân. Tư tưởng con người dù rất quan trọng để hình thành nên một nhân cách, nhưng hầu như nó luôn cúi phục các bản năng của mình. Một trong những bản năng đó, phải nói đến là bản năng sống. Trước khi chọn lựa một hành động gì, phần lớn chúng ta thường tự hỏi mình: cái này có lợi gì cho ta không? Nếu hành động điều này thì lợi ít hay hại ít? Nó làm tốn hại gì đến mình, gia đình mình không? Đó chính là sự trỗi dậy của bản năng sống khi chúng ta đứng trước những hành động mà mình chưa nắm bắt rõ vấn đề.

Không phải có những người bình thường họ rất yếu ớt, rất lười biếng, nhưng khi bản năng sống bị nguy hãi, hay ở trong những tình huống cận kề giữa sống và chết, chúng ta thấy họ thật mạnh mẽ, và phi thường đó sao. Đó chính là bản năng sống. Hiểu rõ được vấn đề đó, chính quyền này đã lan truyền nỗi sợ hãi trong dân chúng, cho thấy sự tàn ác của lực lượng an ninh, để bất kì kẻ nào muốn nổi loạn đều phải đắn đo suy nghĩ. Và hầu như, phần lớn chấp nhận im lặng để được yên thân.

Chống đối, dù chống đối hình thức nào đều bị đàn áp, khủng bố, trù dập. Những câu chuyện hàng ngày chúng ta đọc trên báo chí, trên mạng xã hội có thể nó tố cáo tội ác chính quyền, nhưng nó cũng giúp lan truyền nỗi sợ hãi đến dân chúng. Kiểm soát tư tưởng bằng nỗi sợ còn hưu hiệu hơn bằng văn học, thơ ca, âm nhạc, hay bất kì một hình thức tuyên truyền nào khác.

Bên cạnh độc quyền giáo dục, độc quyền thông tin, độc quyền sử dụng bạo lực để điều khiển tư tưởng người dân, chính quyền độc tài cần độc quyền sở hữu tài sản quốc gia, trong đó có đất, nước, xăng dầu, điện… Bởi đơn giản, khi những nhu cầu căn bản như ăn uống mà còn bị phụ thuộc vào chính quyền, thì dân chúng bắt buộc phải dẹp bỏ những tư tưởng chống đối. Tuy nhiên, có một vấn đề đặt ra là: từ khi chính quyền này mở cửa với thế giới bên ngoài, dẹp bỏ nền kinh tế tập trung, và chấp nhận nền kinh tế thị trường, dù còn rất méo mó vì phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì đã tạo ra một tầng lớp dân chúng có của ăn, của để.

Khi những nhu cầu căn bản không còn là vấn đề trong cuộc sống, bình thường chúng ta sẽ hướng đến những nhu cầu cao hơn. Để điều khiển đám dân chúng giàu có này, chính quyền lại lôi về những tư tưởng bên tây, bên tàu cho dân chúng đua đòi. Bọn họ lôi về những tư tưởng này, nhưng lại bóp méo chúng, biến chúng thành những tư tưởng có lợi cho sự tồn tại của họ. Không phải dân chúng VN ngày hôm nay, có một phần lớn người trẻ chỉ biết sống hướng thụ một cách điên rồ đó sao. Đua đòi cách sống của người Mỹ, người Nhật nhưng lại học trên bề mặt, áp dụng một cách khờ khạo đến ngu dại, mà chẳng hiểu rõ về chủ nghĩa thực dụng là gì? Hướng thụ là gì? Hay hiện sinh là gì?

Nhiều người thường đổ lổi cách sống hoang dại trên của một đại bộ phận dân chúng VN là của các nước tư bản, mà không hiểu đó lại là ý đồ của chính quyền, họ truyền tuyền tư tưởng này đến với đám người lắm tiền nhiều của qua phim ảnh, báo chí. Một mặt thì giả vờ lên án trên các diễn đàn, nhưng mặt khác thì khuyến khích họ sống như thế mới là thời đại, phong cách, cá tính…

Viết ra những dòng này không phải là đổ lổi hết tất cả mọi vấn nạn xã hội lên đầu chính quyền độc tài, một phần trách nhiệm cũng thuộc về chúng ta, những người luôn bị động trong cuộc chiến chống độc tài. Hãy hiểu rõ mình, và hiểu rõ kẻ thù đó vẫn luôn là phương châm của người viết, và hi vọng bài viết dù chỉ là một chút suy tư nhưng phần nào đó để các bạn có cái nhìn đúng về chế độ độc tài. Họ có thật sự ngu dốt, ngớ ngẩn, thần kinh như những gì chúng ta đang mạt sát họ từng ngày trên các trang mạng hay không? Hay đó lại chỉ là một trò chơi khác trong việc điều khiển các tư tưởng của chúng ta.

Đã đến lúc những người yêu tự do, yêu quyền con người, ủng hộ dân chủ phải thay đổi cách đối đầu với chính quyền độc tài. Đừng bị động để họ ra trò chơi, rồi để chúng ta tung hứng, mà hãy chủ động hơn trong vai trò phản biện của mình. Thiết nghĩ, chỉ có ở thể chủ động, chúng ta mới biết mình đang ở đâu trong cuộc chiến chống độc tài, và mới biết nên phát động phong trào, chiến dịch nào? Có tinh thần chống độc tài, yêu các giá trị tự do thôi chưa đủ, mà còn phải hiểu rõ về nó, và hiểu rõ về mình, thì mới hi vọng đến một ngày VN thật sự tự do, và con người VN mới sống đúng địa vị là một con người.

___

Mời đọc lại: Điều gì khiến các chế độ độc tài vẫn tồn tại? (BBC).

CUỘC SỐNG

CUỘC SỐNG

Không có thứ ta muốn,

Không muốn thứ ta có,

Không có thứ ta thích,

Cũng không thích thứ ta có.

Thế nhưng ta vẫn sống và yêu.

Đó là cuộc sống…

 

Bạn tốt nhất

Là người mà bạn có thể cùng ngồi đung đưa trước hiên nhà,

Không nói lời nào cả,

Vậy mà khi rời khỏi, bạn vẫn cảm giác như đó là cuộc trò chuyện thú vị nhất mà bạn từng có.

 

Ta thường chẳng biết mình có gì cho đến khi đánh mất chúng,

và cũng chẳng biết mình thiếu gì cho đến khi chúng đến.

 

Trao ai hết tình yêu thương của bạn không có nghĩa rằng chắc chắn họ cũng sẽ thương yêu bạn!

Đừng trông đợi tình yêu như một sự đáp trả;

Hãy chỉ đợi cho nó lớn lên trong tim họ,

Nhưng nếu không được như vậy, thì hãy vui vì nó đã lớn lên trong tim bạn.

 

Có khi chỉ mất một phút để phải lòng ai đó,

một giờ để bắt đầu cảm thấy thích,

và một ngày để bắt đầu yêu,

Nhưng lại phải mất một đời để có thể quên được họ.

 

Đừng tìm kiếm nơi vẻ đẹp bề ngoài; chúng có thể đánh lừa bạn.

Cũng đừng tìm kiếm nơi của cải vật chất; vì ngay cả những thứ đó rồi cũng sẽ ra đi.

Hãy tìm kiếm người có thể khiến bạn mỉm cười,

Vì chỉ cần có nụ cười thì ngày ảm đạm cũng trở nên tươi sáng.

Hãy tìm người có thể khiến trái tim bạn mỉm cười!

 

Cầu cho bạn

Đủ hạnh phúc để trở nên dịu dàng nhân hậu,

Đủ nếm trải để trở nên kiên cường mạnh mẽ,

Đủ nỗi buồn đế biết cảm thông,

Và đủ hy vọng để trở nên hạnh phúc.

 

Hãy luôn đặt mình vào hoàn cảnh của người khác.

Điều gì làm bạn tổn thương,

thì cũng có thể sẽ làm tổn thương họ.

 

Người hạnh phúc nhất

Không hẳn là người có được những thứ tốt nhất;

Mà chỉ là người biết tận dụng tất cả những gì đến với họ.

Hạnh phúc sẽ đến

Với những ai từng rơi lệ,

Từng tổn thương,

Từng tìm kiếm,

Và từng cố gắng,

Bởi chỉ có họ mới có thể hiểu được tầm quan trọng của những người đã từng chạm vào cuộc đời họ.

Khi bạn chào đời, bạn khóc và mọi người xung quanh nhìn bạn mỉm cười.

Hãy sống cuộc đời mình thế nào để khi chết,

Mọi người xung quanh than khóc, và bạn mỉm cười.

 

Hãy gửi thông điệp này

Cho người có ý nghĩa đối với bạn,

Cho người đã chạm vào cuộc đời bạn bằng cách này hay cách khác,

Cho người có thể khiến bạn nở nụ cười khi bạn thật sự cần nó,

Cho người có thể giúp bạn nhìn thấy mặt tích cực của vấn đề khi bạn thật sự thất vọng,

Và cho người mà bạn muốn họ biết rằng bạn trân quý tình bạn của họ.

 

Nếu không làm vậy, cũng đừng lo lắng,

Sẽ chẳng có điều tồi tệ nào xảy đến với bạn đâu,

Chỉ là bạn vừa lỡ mất cơ hội

Làm cuộc sống ai đó tươi sáng hơn với thông điệp này mà thôi…

Bùi Tín: Khi cây cổ thụ bị trốc rễ

Bùi Tín: Khi cây cổ thụ bị trốc rễ

VOA

Bùi Tín

Cây cổ thụ lớn nhất thế giới, Trung Quốc, có số dân đông nhất thế giới, đang bước vào thời kỳ cáo chung, thời kỳ rẫy chết, không có gì có thể cứu vãn khỏi số Trời đã định vậy.

Số Trời đây là quy luật đào thải của mọi sự vật trên đời, quy luật sinh – lão – bệnh – tử của mỗi đời người; quy luật sinh – hưng – thịnh – suy – vong – phế – diệt của mỗi chế độ, mỗi triều đại ngự trị trong xã hội loài người, không một con người nào, một chế độ chính trị nào thoát khỏi cái định mệnh khắc nghiệt cay đắng ấy.

Đây là một loạt quan điểm, nhận định, bình luận chính trị gần đây nhất của nhiều mạng thông tin có cơ sở ở Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản, Hoa Kỳ, của nhiều nhà bình luận chính trị Trung Quốc ở hải ngoại, của các mạng Minh Huei, Bo Xun (tiếng Hoa), cũng như của nhà báo – nhà bình luận Trung Quốc Gordan G. Chan, tác giả cuốn sách The Coming Collapse of China (Sự sụp đổ sắp tới của Trung Quốc), được tái bản nhiều lần.

Cũng mới đây mạng Đại Kỷ Nguyên, cơ quan ngôn luận của Pháp Luân Công Đạo Pháp do Đạo sư Lý Hồng Chí sáng lập, đã đi đầu trong phong trào Tam Thoát – Thoát Đảng, Thoát Đoàn, thoát Đội và Thoát mọi loại tổ chức khác của Đảng CS Trung Quốc mà Ông cho là tà giáo man rợ, là tội ác chống nhân loại.

Hiện con số người tuyên bố công khai Tam Thoát đã lên đến 221.000.000 người, làm biến đổi sâu sắc so sánh lực lượng giữa đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và đại khối nhận dân Trung Quốc lương thiện.Trên Đại Kỷ Nguyên hiện đang đăng bài “Đảng CS Trung Quốc vong » cho rằng ĐCSTQ không thể cưỡng lại số phận đã được định đoạt là giải thể, tiêu vong trong thời gian không xa. Chiến dịch “diệt hổ đập ruồi, săn cáo» đang ở hồi kết thúc, không thể nào xuống lưng hổ vì “kỵ hổ nan hạ» (cưỡi hổ thì khó xuống).

Màn chót ngay trước mắt là triệt con hổ Thượng tướng Quách Bá Hùng và con trai là tướng Quách Chính Cương, vì Quách từng là Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự TƯ, cánh tay phải của Giang Trạch Dân, bị tống giam khi đang cải trang làm phụ nữ để tìm cách thoát sang Hồng Kông.

Mạng Minh Huei còn nhận địng rằng sau cuộc họp Bộ Chính trị ở Bắc Đới Hà mùa hè này, Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Nước Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn sẽ gạt Trương Cao Lệ, Lưu Vân Sơn và Trương Đức Giang, cả 3 hiện nằm trong Ủy ban Thường Vụ Bộ Chính trị gồm 7 ủy viên ở chóp bu quyền lực, là thế lực cuối cùng phò Giang Trạch Dân, để ngay sau đó diệt chính Giang, coi là đòn ân huệ để giải thể luôn ĐCSTQ, chuyển sang mang một tên mới – “Đảng Xã hội Dân chủ” hoặc “Đảng Dân tộc Trung Hoa”, như trước đây Lý Thụy Hoàn, một ủy viên kỳ cựu của Bộ Chính trị đã gợi ý, sau khi đảng CS Liên Xô bị giải thể hồi cuối năm 1991. Hiện nay, Tập Cận Bình đang kết chặt với Vương Kỳ Sơn và Thủ tướng Lý Khắc Cường trong Thường vụ Bộ Chính trị, và với 2 Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự TƯ là 2 Thượng tướng Phạm Tường Long và Hứa Kỳ Lương, thay thế Từ Tài Hậu đã chết và Quách Bá Hùng vừa sa lưới.

Một bản tiểu sử dài của Giang Trạch Dân được phổ biến rộng rãi trong 6 tháng qua, chỉ rõ Giang xuất thân từ một gia đình đại Hán gian từng phục vụ phát xít Nhật thời Uông Tinh Vệ, đã tự nhận là con nuôi liệt sỹ, gia đình cách mạng CS nòi để leo lên đỉnh cao quyền lực và phá nát Đảng CS không có cách gì cứu vãn nổi.

Đại Kỷ Nguyên còn cho biết trong tháng 7/2015 Tập Cận Bình quy định tất cả các cán bộ đảng viên CS phải làm lễ tuyên thệ “trung thành với Hiến pháp”, từ bỏ lệ tuyên thệ trung thành với Đảng CS và học thuyết CS, từ đó đưa đảng vào “lãnh cung», tử vong vĩnh viễn.

Không phải ngẫu nhiên mà từ hơn một năm nay các Tòa án Trung Quốc tiếp nhận đơn của mọi công dân kiện cáo về việc người thân của họ trong Đạo Pháp Luân Công bị sát hại trong lao tù, các bộ phận cơ thể được rao bán khắp mọi nơi. Hiện nay đã có 80 vạn lá đơn kiện đích danh ông Giang Trạch Dân về tội ác này do chính Giang đề xướng và thực hiện qua bộ máy 610 – được thành lập ngày 10 tháng 6 năm 1999 – trên tinh thần Đảng CS theo Duy Vật chống mọi tà giáo Duy Tâm.

Tuy không phải từ những nguồn tin chính thức được tin cậy hoàn toàn, tôi vẫn thu thập, ghi chép, bình luận các thông tin trên đây với tất cả sự thận trọng dè dặt cần thiết, để các bạn đọc của VOA rộng đường tham khảo và theo dõi thêm.

Nếu như ĐCSTQ thật sự tiêu vong trong thời gian tới, khi cây cổ thụ Trung Quốc bị đổ trốc rễ, như số phận Đảng CS Liên Xô hồi cuối năm 1991, thì không ai có thể hình dung rõ sau đó hậu quả đối với tình hình Đông Nam Á và toàn thế giới sẽ ra sao.

Trung Quốc sẽ vẫn còn là một thực thể hay sẽ vỡ ra thành các mảnh lớn nhỏ khi nó có đến hàng trăm dân tộc với tiếng nói, nguồn gốc, tôn giáo khác nhau?

Chắc chắn sẽ là tin tốt lành cho nhân dân Việt Nam khi cái họa bành trướng tệ hại sẽ có cơ chấm dứt để nhân dân ta có thể sống hoàn toàn độc lập tự do, hòa hiếu, hợp tác và cùng phát triển với mọi nước xa gần.

Nước cờ Thoát Trung, gắn bó với các bạn bè dân chủ xa gần, bẻ lái chiến lược lúc này thật đúng lúc, đúng thời cơ, là cao kiến, hợp lòng dân, đúng theo vận nước vậy.

Đọc chuyện Tàu để hiểu chuyện Việt Nam

Đọc chuyện Tàu để hiểu chuyện Việt Nam

GS Nguyễn Văn Tuấn

Tôi (và chắc nhiều bạn khác) vẫn hay nghĩ rằng chỉ cần tìm hiểu tình hình bên Tàu cộng là chúng ta có thể hiểu và biết tình hình Việt Nam, kể cả những bất cập và sự kiện man rợ xảy ra trong quá khứ. Thật vậy, các bạn hãy đọc bài dịch dưới đây, các bạn sẽ thấy VN đã áp dụng một cách rập khuôn các thủ đoạn dã man của Mao Trạch Đông vào VN như thế nào.

Bài này cho rằng Mao Trạch Đông đã cho triển khai triệt để một số thủ đoạn để triệt tiêu đường sống (hay nôm na là bóp bao tử) của công chúng và buộc công chúng phải phục tùng ông. Có 5 thủ đoạn chính:

• chế độ hộ khẩu;
• chế độ tem phiếu;
• chế độ lí lịch;
• chế độ cải tạo; và
• chế độ cơ quan đơn vị.

Đọc qua 5 thủ đoạn này, có lẽ các bạn thuộc thế hệ của tôi sẽ kêu lên kinh ngạc: sao mà giống VN thế! Thực sự thì cũng không ngạc nhiên, vì VN chỉ rập khuôn theo Tàu mà thôi. VN không có cách mạng văn hoá, nhưng cũng có những chiến dịch tương tự ở qui mô nhỏ hơn. VN cũng có chế độ hộ khẩu, và cho đến bây giờ vẫn còn duy trì chế độ này dù không dã man như trước đây. May phước là chế độ tem phiếu đã đi vào dĩ vãng, nhưng cũng đủ để lại những di chứng kinh hoàng. Chế độ cải tạo đã gây biết bao kinh hoàng của người miền Nam sau 1975, và một số người miền Bắc trước đó.

Nhiều người nói rằng VN không còn chế độ lí lịch, nhưng sao khi tiếp xúc với bà con, bạn bè, đồng nghiệp, tôi thấy chế độ này vẫn còn tồn tại nhưng dưới hình thức khác. Rõ ràng là việc bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng vẫn dựa vào màu đỏ của lí lịch. Người công giáo không được phục vụ trong ngành công an (?) Còn Việt kiều, thì tôi nghe nói (chứ chưa có chứng cứ cụ thể) là Nhà nước phân biệt 2-3 nhóm. Nhóm miền Nam đi vượt biên là xấu nhất; nhóm miền nam đi du học trước 1975 là xấu chút chút; còn nhóm miền Bắc đi du học hay lao động nước ngoài là tốt. Như vậy là vẫn có sự kì thị có hệ thống và có tổ chức, chứ chủ nghĩa lí lịch chưa hết ở VN. VN sẽ chẳng bao giờ khá nổi với chủ nghĩa lí lịch chỉ dành ưu tiên cho đảng viên — tôi có thể tiên lượng khẳng định như thế.

Chế độ quản lí cấp vi mô như cơ quan đơn vị, theo tôi thấy, vẫn còn được duy trì. Chẳng hạn như sinh viên hay nhân viên tham gia biểu tình chống Tàu cộng là bị “hỏi thăm” ngay tại trường đại học hay cơ quan. Trường hợp tiêu biểu là Nguyễn Phương Uyên, em ấy chẳng bị bị đuổi học mà còn bị triệt tiêu đường học. Chưa thấy nước nào đối xử với công dân man rợ như thế. Có khi quan chức cấp trung tham gia kí các thỉnh nguyện thư chống Tàu bị cơ quan cô lập ngay. Do đó, các thủ đoạn mang nặng “Mao tính” này vẫn còn tồn tại ở VN, dù dưới hình thức khác và cường độ dã man có phần giảm chút so với trước đây.

Sự việc xảy ra trong quá khứ thì chúng ta chẳng muốn khơi dậy làm gì, nhưng không được quên (vì đó là một phần lịch sử). Tôi nghĩ những ai đang ra sức lấy điểm bằng cách áp dụng 5 thủ đoạn trên để đàn áp người dân yêu nước, đàn áp sinh viên, đàn áp đồng nghiệp, v.v. nên đọc bài dưới đây, và suy nghĩ lại việc làm của mình. Những ai đã sống đủ thời gian và trải qua những thời gian đau khổ sẽ chứng nghiệm một qui luật rằng: những kẻ làm những việc ác ôn trong quá khứ thì trong tương lai gần họ hoặc gia đình họ sẽ chịu những hình phạt nặng nề như những gì họ gây ra cho người khác, y như câu mà người phương Tây hay nói what goes around comes around (có lẽ dịch là “gieo nhân nào thì gặt quả đó”).

____

Nghiên cứu Lịch sử

06-11-2013

Cách mạng văn hóa là tội của ai?

Hidematsu Hiyoshi [1]

(trao đổi với giáo sư Mao Vu Thức)

Trong thời đại Mao Trạch Đông, dân chúng không có quyền tự do ngôn luận, tự do theo đuổi nghề nghiệp, tự do cư trú và tự do đổi nơi cư trú. Điều mà người dân có thể làm chỉ là sự phục tùng. Bởi vì “kẻ không phục tùng không có cơm ăn”, ai không phục tùng thì phải “đói mà chết dần”. Tất cả bi kịch cũng như mọi chuyện hoang đường xuất hiện trong thời Cách mạng Văn hóa không phải là trách nhiệm và lỗi lầm của nhân dân Trung Quốc (trong đó có giáo sư Mao Vu Thức[2]). Tạp chí Minh Kính số tháng 8 đăng bài “Kỉ niệm một vị nữ thánh” của Ngô Giá Tường.[3] Trong bài có nhắc đến chuyện kinh tế gia Mao Vu Thức phát biểu trong lễ kỉ niệm tròn 90 năm ngày sinh Vương Bối Anh[4] rằng “Bi kịch Cách mạng Văn hóa dù do lãnh tụ vĩ đại Mao Trạch Đông đích thân đạo diễn, cộng thêm nhóm tứ nhân bang cùng những kẻ tay sai trợ ác cùng lắm cũng chỉ mấy trăm người. Vậy mà cả nước sáu bảy trăm triệu người điên cuồng vào cuộc. Có một nửa trách nhiệm ở người dân.

Nếu Mao Trạch Đông và lũ bốn tên sang Hoa Kì làm việc đó thì khẳng định là làm không nổi”.[5] Giáo sư Mao có dũng khí phản tỉnh như vậy thực đáng ca ngợi. Vậy mà người viết bài này quả thật không dám đồng ý với phát biểu cho rằng nhân dân phải gánh một nửa tránh nhiệm về bi kịch Cách mạng Văn hóa và nếu như là ở Mĩ thì không thể tiến hành được cuộc cách mạng đó. Chúng tôi cho rằng quan điểm đó có vấn đề về logic rất đáng được trao đổi thêm.

“Kẻ không phục tùng không có cơm ăn”

Cách mạng Văn hóa sở dĩ có thể phát động và lôi cuốn dân chúng – việc này hoàn toàn có quan hệ với thể chế chính trị Trung Quốc. Dưới thời Mao, dân không chỉ mất quyền tự do ngôn luận. Đến quyền tự do chọn nghề nghiệp, tự do cư trú và di chuyển cũng chả có. Mỗi một người đều trở thành “chiếc đinh ốc” trong cỗ máy quốc gia. Còn Nhà nước thì trở thành người chủ nhân công duy nhất, người kinh doanh của tất cả các xí nghiệp. L.Trotsky nói từ 1937: “Trong những nước mà Nhà nước là người thuê nhân công duy nhất, phản kháng đồng nghĩa với việc “từ từ chết đói”. Nguyên tắc xưa cũ “kẻ không lao động không được ăn” đã bị thay thế bởi nguyên tắc mới “kẻ không phục tùng không được ăn”[6] (sách “Đường đến nô dịch”). Trong một xã hội như thế, việc mà dân chúng có thể làm chỉ có thể là phục tùng và phục tùng. Bởi vì “kẻ không phục tùng không được ăn”, kẻ không phục tùng thì sẽ đối diện với uy hiếp của cái chết phải “từ từ chết đói”.

Ta hãy xem tình cảnh xã hội Trung Quốc thời Mao. Chính quyền mới được thành lập sau 1949. Trong thập niên những năm 50 hàng loạt các cuộc vận động chính trị và trấn áp phản cách mạng do Mao phát động đã tiêu diệt triệt để giai cấp trí thức thân hào trong xã hội Trung Quốc truyền thống.
Những chức năng có tính truyền thống của xã hội Trung Quốc theo đó cũng tiêu vong. Trên một cơ sở như thế Mao đã sử dụng năm thủ đoạn kể sau để khống chế chặt chẽ xã hội dưới tay mình.

Thủ đoạn thứ nhất – Chế độ hộ khẩu

Chế độ hộ khẩu kiểu Trung Quốc phân tách thành thị và nông thôn. Nông dân suốt đời bị cầm cố ở nông thôn, các hộ dân quê không có cách nào để dời lên thành phố. Không có hộ khẩu thành phố thì không có chỗ làm, không có hộ khẩu thành phố thì không có phân phối lương thực, không có hộ khẩu thành phố không những không làm được bất cứ việc gì mà chính ra là không thể sinh tồn. Dân thành phố cũng bị cầm cố tại chính nơi cư trú của mình.

Việc chuyển chỗ ở giữa các thành phố cũng vì chế độ hộ khẩu mà chịu sự khống chế hoàn toàn. Chế độ hộ khẩu đó dẫn đến vấn đề bất bình đẳng về mức sống, việc làm, đi học giữa nông thôn và thành phố. Vậy nhưng chỗ giống nhau về quyền lợi chính trị mà dân nông thôn và dân thành phố được hưởng đều là “không có gì”.

Chế độ hộ khẩu Trung Quốc còn có một công năng khác, đó là thông qua hộ khẩu cưỡng chế những ai không phục tùng hay có kiến giải độc lập về nông thôn tiếp thu giáo dục lao động cải tạo. Sự khác biệt giữa thành phố và nông thôn kiểu như thế hoàn toàn là do con người tạo nên. Những ai có hiểu biết về thời kì lịch sử đó đều thấy rõ như thế

Thủ đoạn thứ hai – Chế độ tem phiếu phân phối

Mao Trạch Đông dùng chế độ phân phối tem phiếu để nắm chặt trong tay mình nguồn nhu yếu phẩm phục vụ đời sống nhân sinh. Bất cứ một số lượng tiêu dùng nhu yếu phẩm nào cần thiết cho sinh hoạt đều được phân phối, người dân không thể tự do có được các nhu yếu phẩm đó. Khi mua lương thực không những cần có sổ mà còn cần cả tem phiếu, có tiền cũng không mua được định mức quy định theo tháng. Điều cần phải chỉ rõ là, phiếu lương thực còn chia thành loại phiếu thông dụng toàn quốc, loại phiếu dùng ở địa phương các tỉnh và loại phiếu dùng cho các thành phố. Trừ loại phiếu lương thực thông dụng toàn quốc ra, hai loại sau chỉ có thể dùng trong phạm vi các tỉnh các thành phố.

Người ta không thể xoay trở được nếu như không có phiếu lương thực. Chỉ riêng với chế độ phiếu lương thực đã có thể khống chế được quyền tự do hành động của dân chúng. Nhưng chế độ phân phối của Mao gồm một nội dung hết sức rộng rãi. Tất cả đều được phân phối theo phiếu – có phiếu dầu ăn, phiếu vải, phiếu trứng, phiếu đường, phiếu thịt, phiếu máy khâu, phiếu xe đạp,… Đến tết có phiếu hàng tết.Đủ loại tem phiếu quán xuyến toàn bộ đời sống người dân Trung Quốc.

Thủ đoạn thứ ba – Chế độ hồ sơ lí lịch

Chế độ hồ sơ lí lịch không xa lạ đối với mỗi người dân Trung Quốc. Cho dù anh học ở trường, công tác ở các đơn vị cơ quan hay về hưu ở nhà (về hưu hồ sơ lí lịch được chuyển về khối phố hoặc công xã nơi đương sự sinh sống). Hồ sơ lí lịch theo liền với từng người cho đến hết đời. Chức năng của chế độ hồ sơ lí lịch không thua kém gì một sự theo dõi ngầm của cơ quan công an. Trường học và cơ quan sẽ ghi vào hồ sơ nếu đương sự bị kỉ luật.

Những nhận xét hay giới thiệu mà chính đương sự không được đọc thấy hay không được chính đương sự xác nhận cũng được phê viết vào hồ sơ lí lịch. Tính cách tiêu cực hay tích cực của những lời phê đó ảnh hưởng đến đến cuộc sống giữa xã hội của chủ nhân bộ hồ sơ. Những ai có dũng cảm phàn nàn, nêu ý kiến hay phát ngôn trái lạ đều bị ghi vào trong hồ sơ lí lịch. Còn như việc sẽ chịu xử lí như thế nào thì chỉ còn trông chờ vào may rủi. Chế độ hồ sơ lí lịch phi nhân tính đó trên thực tế đã tước đi quyền tự do ngôn luận.

Thủ đoạn thứ tư – Chế độ giáo dục lao động cải tạo

Giáo dục lao động cải tạo được nói là một loại xử phạt hành chính nhưng trên thực tế rất gống với xử phạt hình sự. Chế độ giáo dục lao động có tính tùy tiện, nó có thể do một đơn vị cơ quan quyết định. Như thế chế độ giáo dục lao động khiến cho các cơ quan đơn vị trở nên rất gần với một cấp tư pháp nhưng tùy tiện và vô pháp luật. Mặc dù nói là xử phạt hành chính và được gọi là “trị bệnh cứu người” nhưng những người bị bắt đi lao động không những mất quyền tự do nhân thân đồng thời họ cũng trở thành “tiện dân” của xã hội và chịu sự kì thị.

Nghiêm trọng hơn là khi mãn hạn lao-giáo rồi người ta vẫn có thể cưỡng chế người bị giáo dục bằng lao động đó ở làm việc tại chỗ. Trên thực tế đó là một thứ tù không kì hạn, suốt đời bị giam thân cảnh tù, mất hẳn tự do. Việc có thể tùy ý thực hiện chế độ lao-giáo đối với dân chúng là biểu hiện của sự khủng bố chính trị thời Mao.

Thủ đoạn thứ năm – Chế độ cơ quan đơn vị

Dưới thời Mao, “cơ quan/đơn vị” trên thực tế chính là chỗ để khống chế cá nhân. Quyền tự do theo đuổi nghề nghiệp bị tước bỏ, tất cả mọi người đều nhận công tác theo sự sắp xếp của nhà nước. Người ta không có quyền chọn công việc và cũng không có quyền từ chối công việc được phân công. Nhà nước không cho phép tùy ý từ chức hay đổi công tác. Mỗi một người suốt đời làm việc ở những vị trí công tác đã được phân công.

Tiền lương do nhà nước quy định. Tình trạng đi làm cả đời không có tăng lương là rất nổi bật. Một khi anh rời khỏi đơn vị hoặc bị đơn vị khai trừ đồng nghĩa với việc hoặc là anh đã ra khỏi cái xã hội mà Mao đang khống chế hoặc là anh bị cái xã hội đó khai trừ. Anh sẽ lâm cảnh đường cùng, mất hết nền tảng sinh hoạt. Trong cái chế độ cơ quan-đơn vị đó, để sinh tồn kiếm sống nuôi gia đình anh chỉ có thể phục tùng và phục tùng.

Nhân dân Trung Quốc không có tội và cũng không có trách nhiệm về Cách mạng Văn hóa.Thời đại Mao Trạch Đông chính là dùng những thủ đoạn như thế để khống chế toàn bộ xã hội Trung Quốc. Cộng thêm vào đó là hết cuộc vận động chính trị trị này đến cuộc vận động chính trị kia. Tất cả khiến cho nhân dân Trung Quốc thực không có lấy một cơ hội nào để thở lấy hơi nữa. Cách mạng Văn hóa trong suốt quá trình của nó xem ra rất là hỗn loạn nhưng cả xã hội vẫn được khống chế chặt trong tay Mao. Mà Cách mạng Văn hóa là một cuộc vận động chính trị nhằm giải quyết chuyện người thừa kế quyền lực.

Nói cách khác Mao phát động Cách mạng văn hóa là nhằm mục đích biến giang sơn của một đảng thành giang sơn của một nhà, chuẩn bị cho Giang Thanh tiếp nối quyền hành[7] (Xem Lưu Thông, “Mục đích của Cách mạng Văn hóa – Xác lập người thừa kế quyền hành”). Trong Cách mạng Văn hóa, từ trên xuống dưới, từ trong đảng đến người ngoài đảng tất cả đều bị cuốn vào trong đó. Người bị cuốn vào không biết nguyên do sự việc nhưng kẻ phát động thì từng bước hướng cuộc vận động đi đến mục tiêu đã dự định trước.

Nhiều lãnh đạo cấp cao bị cuốn vào mà không sao hiểu được nguyên do, họ lại còn đứng đó hô hào học tập. Họ cảm thấy chuyện dường như là “cách mạng gặp phải vấn đề mới”. Nhiều lãnh đạo bị lôi ra phê đấu bắt đầu công việc tự kiểm thảo đi kiểm thảo lại. Mao Trạch Đông bày đặt mê hồn trận, khiến cho đám đông những là “đối tượng của cách mạng” từ to đến nhỏ không biết phải như thế nào cho phải, suốt này hoảng hốt giữa rầm trời tiếng hô khẩu hiệu và tiếng hô đả đảo. Trong một không khí khủng bố chính trị như thế, quần chúng dân đen không chút quyền hành sống khác gì chết. Họ đến nói năng cũng phải giữ mồm, không cẩn thận là bị hàng xóm thậm chí chính vợ (chồng) con cái mình phản ánh, tố giác.

Trong thời buổi Cách Văn hóa, ai cũng run sợ cho bản thân, ngay cả người thân cũng không được tin. Lúc bấy giờ, “tin tưởng” đã trở thành từ đồng nghĩa của từ “nguy hiểm”. Bạn bè tri âm trở thành người cáo giác, người dám nói thẳng chẳng khác gì đang đào huyệt cho mình. Cả nước từ trên xuống dưới chỉ mỗi Mao là người hưởng quyền “tự do ngôn luận” ghi trong hiến pháp. Mọi công dân của cộng hòa quốc này đều đã bị tước bỏ quyền phát ngôn. Mọi hành động đều chờ chỉ huy của Mao, vạn vật sinh trưởng cũng nhờ sự tưới tắm của “lời dạy của chủ tịch” (ngữ lục).

Trong những năm tháng gọi là “cách mạng” đó, mở miệng là “muôn năm”, kiểm thảo ngày nào cũng có, tự sát trở thành ước mơ. Tất cả là để làm gì? Vận động quần chúng là để chặn đánh tâm lí phản nghịch của quần chúng. Vận động lãnh đạo cao cấp là để chống lại “lửa bất bình” nơi họ, làm cho họ cụp tai cúi đầu cam nô lệ. Mao gây bao án oan, bức đồng chí không ngừng tự kiểm thảo. Mao muốn tinh thần “tội tổ tông” thấm sâu vào thần dân. Chỉ như thế thì mới có thể khiến cho dự trù chính trị của mình thực hiện thông suốt. Ham sống sợ chết là thiên tính của con người.

Trong một xã hội mà không khí khủng bố nhuốm mùi tanh của máu, dân chúng xô dạt theo dòng lớn là chuyện không khó hiểu cả về tình lẫn về lí. Hẵng xem một người tài năng tót vời như Quách Mạt Nhược đã phải sống một cuộc sống run rẩy kinh hãi ra sao là đủ biết quần chúng thường dân vì sao lại phải “ngây cuồng”. Hẵng xem biết bao nhà văn nổi tiếng bỗng chốc tất cả cùng im lặng tập thể, gác bút tập thể là đủ thấy Mao Trạch Đông đã không chế thành công xã hội Trung Quốc đến mức nào. Cũng đủ để thấy dân chúng vì sao phải “ba phải a dua”. Bởi vì họ chỉ mỗi việc phải phục tùng, “ngây cuồng” hay “ba phải vào hùa” là kết quả của việc phải phục tùng. Không thế thì sẽ “dần dần chết đói”.

Dám chắc giáo sư Mao Vu Thức cũng ở trong đội ngũ đó. Đó quyết không phải là tội lỗi và trách nhiệm của nhân dân Trung Quốc (gồm cả giáo sư trong đó). Quả đúng như giáo sư đã nói: “Nếu Mao Trạch Đông và lũ bốn tên sang Hoa Kì làm Cách mạng Văn hóa thì khẳng định là làm không nổi”. Sở dĩ những việc tương tự Cách mạng Văn hóa không thể phát động nổi ở Mĩ là bởi vì chế độ chính trị quốc gia này không cho phép các nhà chính trị muốn làm gì thì làm. Điều còn quan trọng là, các nhân vật chính trị ở Mĩ là do dân chúng bỏ phiếu chọn ra.

Tất cả những người đó (bao gồm cả tổng thống) đều phải chịu trách nhiệm trước dân chúng. Thế nên chính trị gia tại Mĩ không thể hành động khinh suất hay tùy ý trái phản ý dân. Ai cũng biết chính trị Trung Quốc thời Mao và chính trị Hoa Kì không giống nhau. Vậy đương nhiên là ngón nghề của Mao làm sao mà thi hành được ở Hoa Kì! Bản thân Mao cũng biết rõ điều đó. Sau lúc Liên Xô hạ bệ Stalin, chính Mao từng nói nếu như ở các nước phương Tây thì đã không có chuyện kiểu Stalin.[8]

Thế nhưng Mao hoàn toàn không rút ra bài học gì cả. Sau vụ Watergate, Richard Nixon bị điều trần. Bill Clinton vì chuyện quan hệ ngoài hôn nhân mà bị quốc hội điều tra và ông đã buộc phải xin lỗi dân Mĩ.

Ngược lại Mao chưahề có một lời xin lỗi nào về những việc sai lầm của mình. Bành Đức Hoài[9] dũng cảm vì dân cuối cùng cũng chỉ là “Tôi không uống thuốc của Mao Trạch Đông” “Tôi không ăn cơm của Mao Trạch Đông”.[10] Một nguyên soái chiến công hiển hách cũng chỉ biết dùng cách đó để phản kháng thì còn yêu cầu được người dân phải làm thế nào?

Một chế độ tốt đẹp có thể khiến một người xấu không dám làm việc hư, một chế độ bất lương có thể khiến người tốt làm việc xấu.

Đây là lí do vì sao người ta yêu cầu phải cải cách thể chế. Giả sử, nếu xưa kia các bậc tiên hiền buổi đầu nước Mĩ kiến quốc không dựng nên chế độ dân chủ, nếu G.Washington sau 8 năm làm tổng thống không sáng suốt và dứt khoát rút lui khỏi đời sống chính trị, nếu không có việc những người kế thừa Washington thể chế hóa hành động của ông, nếu Washington thực hiện triệt để chế độ chính trị kiểu Mao thì hoàn toàn có thể khẳng định – việc xuất hiện thảm cảnh Cách mạng Văn hóa hay việc nảy sinh bi kịch tương tự bi kịch của những Trương Chí Tân[11], Vương Bối Anh là hoàn toàn có thể.

Vì vậy, tất cả những bi kịch hay những chuyện hoang đường xuất hiện trong Cách mạng Văn hóa chỉ có thể là trách nhiệm của kẻ phát minh Mao Trạch Đông. Nếu không sẽ là không công bằng đối với lịch sử và cũng là một điều sỉ nhục đối với người dân Trung Quốc – những kẻ không có chút quyền kinh tế và quyền chính trị nào trong tay.

Lê Thời Tân dịch từ nguyên bản tiếng Trung
(Nguồn: tạp chí Thế giới mới số 14-2013 (1031) ngày 22-4-2013)
đăng lại từ trang khoavanhoc-ngonngu.edu.vn
________________________________________
[1]Học giả Nhật gốc Hoa. Bài đăng trên 《明鏡月刊》nhan đề “文革”究竟誰之罪:與茅于軾先生商榷” (xin xem city.mirrorbooks.com).

[2]茅于軾 (Mao Yushi 1929- ), nhà kinh tế học Trung Quốc đương đại. Năm 1958 bị quy “phái hữu” đình chỉ công tác. Trong Cách mạng Văn hóa bị khám nhà và đấu tố rồi bắt đi lao động. Nhận Giải thưởng kinh tế học Milton FriedmanLiberty Prize của Mĩ năm 2012.

[3] 吳稼祥(Wu Jiaxiang 1955 – ), nhà nghiên cứu kinh tế học, từng thỉnh giảng tại Đại học Harvard. Sau sự kiện mùa xuân Thiên An Môn bị bắt giam. Mãn hạn tù năm 1992. Ngô là một trong những học giả đề xuất sớm nhất ý hướng cải cách xí nghiệp quốc doanh và thực hiện chế độ cổ phần ở Trung Quốc.

[4] 王佩英(Wang Peiying 1915-1970), nguyên là một nữ nhân viên ngành đường sắt, do phản đối Mao Trạch Đông mà bị bắt vào viện chữa bệnh tâm thần. Trong Cách mạng Văn hóa bị gán tội phản cách mạng, nhét gạch vụn vào mồm và giong phố đấu tố. Sau đó bị phán quyết “lập tức tử hình”. Cuộc xử bắn ngày 27/1/1970 được truyền hình làm gương. Năm 1980 sửa án sai, kết luận bị bệnh nhân tâm thần không nên kết án hình sự. Năm 2011 kết luận lại Vương vô tội và rút lại lời kết luận Vương mắc bệnh tâm thần.

[5] Xem Ngô Giá Tường, 《雖億萬人,吾往矣 – 紀念一位聖女》đăng trên《明镜月刊》số tháng 8/2010 (kì 6), tr.78.

[6] Xem Vương Minh Nghị dịch, 《通向奴役之路》, Trung Quốc Xã hội Khoa học Xuất bản xã, 1997, tr.116 (The Road to Serfdom của Friedrich August von Hayek có bản dịch tiếng Việt Đường về nô lệ của Phạm Nguyên Trường, Hà Nội, Nxb Tri thức –ND).

[7]Xem劉松,《文化大革命的目的-確立繼承人》introng日本大學大學院國際關係研究科《大學院論集》, kì 11, 2001, tr.61~85. Hoặc xem 關心 dịch,《毛澤東最後的革命》, Thinker Publishing (HK) Limited xuất bản, 2009, tr.328 (tức cuốn Mao’s Last Revolution của Mac Farquhar và Roderick – ND)

[8] Xem《鄧小平文選》, quyển 2, tr.333

[9] Bành Đức Hoài (1898-1974), nguyên soái, từng là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Chống lại chính sách Đại nhảy vọt của Mao từ Hội nghị Lư Sơn (1959). Bị quy tội phản đảng cách chức và kỉ luật. Trong Cách mạng Văn hóa bị đấu tố đánh đập rồi quy tội gián điệp. Bị thầm vấn hàng trăn lần. Mắc bệnh không được chạy chữa, chết ngày 29/11/1974. Trước lúc chết xin được gặp vợ đã li hôn đang lao động cải tạo ngoại ô Bắc Kinh nhưng bị vợ từ chối. Bình đựng tro cốt ghi thành họ tên khác. Được khôi phục danh dự năm 1978. Ghi chép trong tù xuất bản thành sách nhan đề “Bành Đức Hoài tự thuật” (ND).

[10] Xem 馬輅,佩璞,馬秦泉,《彭德懷廬山起禍》(Bành Đức Hoài – Tội khởi từ Hội nghị Lư Sơn), Nhã Lâm xuất bản xã, 1990, tr.36.

[11] Trương Chí Tân (1930-1975), đảng viên Đảng cộng sản Trung Quốc. Bị bắt tù từ 1969 cho đến 1975 vì dám phê phán sùng bái cá nhân và bệnh tả khuynh. Khác biệt giữa hai người phụ nữ Trương Chí Tân và Vương Bối Anh ở chỗ Trương trước sau không phủ nhận tư cách đảng viên của mình, trong lúc Vương sớm xin ra khỏi đảng. Trương trước lúc đem ra tử hình đã bị tra tấn đến phát điên nhưng vẫn bị cho là giả vờ trong lúc Vương khi đưa ra bắn bị xem là điên. Vương bị siết cổ khi đem ra pháp trường còn Trương bị cắt yết hầu trước khi xử tử. Năm 1978 Trương được khôi phục danh dự, năm 1979 công nhận liệt sĩ (ND).

Công việc bảo vệ sự sống tại Việt Nam

Công việc bảo vệ sự sống tại Việt Nam

Hoàng Dung, thông tín viên RFA

08092015-life-protct-activites.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tổ chức Y tế Thế giới-WHO, Việt Nam là một trong 3 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới.

Tổ chức Y tế Thế giới-WHO, Việt Nam là một trong 3 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới.

AFP

Hoạt động của một số các bạn trẻ tại Việt Nam với danh xưng ‘bảo vệ sự sống’ được tiến hành lâu nay; khi mà theo Tổ chức Y tế Thế giới-WHO, Việt Nam là một trong 3 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới.
Công tác đó tiến triển ra sao và mục tiêu giúp giảm bớt nạn phá thai trong nước đạt được mức nào?

Tiến triển của hoạt động ‘bảo vệ sự sống’.

Phong trào ‘bảo vệ sự sống’ phát triển mạnh mẽ trên thế giới và đã có từ lâu. Ở Việt Nam phong trào này mới được xây dựng và phát triển khoảng hơn 20 năm nay và khởi đi từ thành phố Huế và hiện nay thì đã có khắp cả nước.

Còn một bạn trẻ trong nhóm bảo vệ sự sống ở giáo xứ Thái Hà, thành phố Hà Nội cho biết.

“Nhóm bảo vệ sự sống tại Thái Hà thì từ năm 2009 đến nay các hoạt động về bảo vệ sự sống gồm có: truyền thông, tư vấn thuyết phục và các hoạt động an táng thai nhi vẫn duy trì đều đặn, trong đó gồm ¼ là người già và trung tuổi còn là lại các bạn trẻ. Hoạt động bảo vệ sự sống ở Hà Nội thì gồm có truyền thông, trong truyền thông thì có các hoạt động như thuyết trình ở các giáo xứ, giáo họ về bảo vệ sự sống chống phá thai, ngoài ra còn có các hoạt động quần chúng như các ngày lễ ngày 8 – 3, ngày Valentina ..tổ chức đi xe đạp phát tờ rơi. Ngoài ra có trang Web và Facebook. Còn có văn phòng tư vấn ở nhà xứ Thái Hà, do cha Quỳnh trực tiếp tư vấn hoặc cũng có thể qua Fanpage của nhóm, bên cạnh đó còn có các tình nguyện viên đến trực tiếp các bệnh viện để gặp gỡ các trường hợp nạo phá thai để tư vấn mong họ giữ lại các thai nhi. Còn có các ngôi nhà mở để các thai phụ để các bạn gần sinh đến đó để chăm sóc. Hoạt động cuối cùng là mỗi buổi tối có các bạn trẻ đến các bệnh viện xin các thai nhi về tắm rửa, khâm liện cho các em và an các thai nhi. Nhờ có những hoạt động”

” Nhóm bảo vệ sự sống tại Thái Hà thì từ năm 2009 đến nay các hoạt động về bảo vệ sự sống gồm có: truyền thông, tư vấn thuyết phục và các hoạt động an táng thai nhi vẫn duy trì đều đặn, trong đó gồm ¼ là người già và trung tuổi còn là lại các bạn trẻ

Một bạn trẻ trong nhóm BVSS”

Anh Trịnh Nguyễn một người trong nhóm bảo vệ sự sống Gioan Phaolo II ở Nghệ An nhớ lại.

“Em tham gia trung tâm BVSS Gioan Phaolo II từ năm 2008 khi đó em còn là sinh viên trường CĐSP Nghệ An, lúc đó phong trào đang trên đà phát triển mạnh, tuy nhiên đến năm 2011 khi một số thành viên nòng cốt của nhóm bị bắt như anh Fx Đặng Xuân Diệu, Pet Trần Hữu Đức, Ant Đậu Văn Dương, Jb Hoàng Phong…và bị quy chụp là tuyên truyền chống phá nhà nước cũng như hoạt động chống phá nhà nước, lúc đó nhà cầm quyền CS Nghệ An cũng quy chụp trung tâm BVSS Gioan Phaolo II là phản động và dùng nhiều cách để phá hoại nên trung tâm sau đó không lâu đã tan rã.”

Sự tan rã của nhóm bảo vệ sự sống Gioan Phaolo II đối với anh Trịnh Nguyễn như là một sự mất mát tinh thần vô cùng lớn.

Nhóm Bảo vệ sự sống ở Hà Nội tuần hành kêu gọi bảo vệ sự sống và chống phá thai

Nhóm Bảo vệ sự sống ở Hà Nội tuần hành kêu gọi bảo vệ sự sống và chống phá thai

“Sự tan rã của trung tâm đối với em, nó như là một sự mất mát rất lớn vì đó cũng là bao tâm huyết mà em và mọi người đã xây dựng, thực sự khi nghe tin đó em đã không cầm được nước mắt.”

Thành quả

Công việc bảo vệ sự sống là một việc cần sự dấn thân, tuy nó không lớn lao gì, nhưng việc đó cũng đã mang lại sự sống cho các em bé được cứu từ tay tử thần hoặc cũng giúp cho các em được chết như một con người.
Tuy thời gian trung tâm bảo vệ sự sống Gioan Phaolo II chỉ hoạt động trong một thời gian ngắn, nhưng những việc mà các thành viên trong nhóm làm được cụ thể như lời anh Trịnh Nguyễn sau đây.

“Thời gian em tham gia cũng được 3 năm từ năm 2008 – 2011, trong thời gian đó em cũng là thành viên như bao thành viên khác, nhưng em cũng đã cộng tác với mọi người để giúp cho nhóm đã cứu sống được hơn 30 em bé dưới bàn tay của tử thần và chôn cất được hơn 50.000 thai nhi bé bỏng bị bố mẹ của họ từ chối sự hiện diện của họ trên cõi đời này.”

Bạn trẻ trong nhóm bảo vệ sự sống ở Hà Nội tiếp lời.

” Thời gian em tham gia cũng được 3 năm từ năm 2008 – 2011, trong thời gian đó em cũng là thành viên như bao thành viên khác, nhưng em cũng đã cộng tác với mọi người để giúp cho nhóm đã cứu sống được hơn 30 em bé dưới bàn tay của tử thần và chôn cất được hơn 50.000 thai nhi

anh Trịnh Nguyễn”

“Từ năm 2009 đến nay Từ năm 2009 đến nay nhóm bảo vệ sự sống Thái Hà Hà Nội đã an táng cho khoảng 14.000 thai nhi tại nghĩa trang Thạch Bích và khoảng 33.000 thai nhi tại nghĩa trang Từ Châu. Nhóm cũng đang cưu mang và chăm sóc cho khoảng gần 200 em nhỏ ở các nhà mở.”

Tác động.

Phong trào bảo vệ sự sống ở Việt Nam còn non trẻ nên hiệu quả của nó có thể chưa cao, nhưng không thể phủ nhận được những công việc được thực hiện giúp cho thêm nhiều người đã quan tâm hơn đến việc bảo vệ các thai nhi, không phá thai bừa bãi.

Bạn trẻ trong nhóm bảo vệ sự sống ở Hà Nội cho biết.

“Tôi nghĩ là từ năm 2009 đến nay, thì hiệu quả của chúng tôi đạt chưa cao, nhưng trong phạm vi thành phố Hà Nội nó cũng góp một tiếng nói trong thảm trạng nạo phá thai để giúp bảo vệ sự sống cho các thai nhi”.

Tuy hiện nay trung tâm mẹ là trung tâm bảo vệ sự sống Gioan Phaolo II đã tan rã, nhưng bên cạnh đó lại còn đang có nhiều trung tâm khác đã được thành lập và hiện đang hoạt động rất mạnh ở Nghệ An.
Anh Trịnh Nguyễn cho biết thêm.

“Trong thời gian tham gia bảo vệ sự sống, ngoài việc đi đến các bệnh xin xin các thai nhi về chôn cất, đi tư vấn các thai phụ bỏ ý định phá thai, nuôi dạy các thai phụ cũng như chăm sóc các em nhỏ thì chúng em còn tổ chức các buổi thắp nến cầu nguyện cho BVSS ở các giáo xứ để giúp mọi người thức tình, từ đó nhiều nhóm BVSS  thành lập ở một giáo xứ ở GP Vinh, như nhóm ở GX Bột Đà, ở xứ Yên Lý, xứ Chân Thành và có một sự kiện đáng nhớ là vào tháng 7 năm 2009 nhóm chúng em đã tổ chức đi bộ 2 ngày với hơn 70km để cầu nguyện cho phong trào BVSS cũng như thức tỉnh mọi người cùng chung tay góp sức để BVSS, từ đó mọi người đã chú ý đến hơn đến chúng em và công việc bảo vệ sự sống”.

Theo Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, tỉ lệ nạo phá thai ở Việt Nam là khoảng 300.000 ca mỗi năm. Trong đó có khoảng 20% ở độ tuổi vị thành niên. Trung bình cứ mỗi một đứa bé được sinh ra thì có một bào thai bị phá bỏ. Việt Nam là nước đứng thứ 3 trên thế giới và đứng thứ nhất ở Đông Nam Á về tình trạng nạo phá thai.

Một Tấm Huân Chương Cho Sâu & Chuột

Một Tấm Huân Chương Cho Sâu & Chuột

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Còn nói đến Tạp Chí Cộng Sản thì càng tệ hại hơn. Ít ra anh báo Nhân Dân không ai đọc nhưng còn sử dụng được vào một số việc “tế nhị” khác. Còn anh cơ quan ný nuận của đảng thì chẳng dùng được vào việc gì…

Nguyễn Dương

Thông Tấn Xã Việt Nam vừa hân hoan loan một tin vui:

“Sáng 4-8, tại Hà Nội, Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 85 năm Ngày Tạp chí ra số đầu tiên (5-8-1930 / 5-8-2015) và đón nhận phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước – Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ hai.”

Giữa thời đại internet, báo bổ ở khắp mọi nơi – trên toàn thế giới – đang dẫy chết hàng loạt mà Tạp Chí Cộng Sản vẫn sống hùng, sống mạnh để  “đón nhận phần thưởng cao qúi” thì quả là một kỳ tích vô cùng đáng kể, và đáng nể.

Cả làng báo Việt Nam đều xuýt xoa chia mừng, và râm ran tán thưởng, chỉ riêng có mỗi ông Nguyễn Dương (nghe đâu là bạn bè của Trương Duy Nhất, hay chính thằng chả không chừng) là không biểu đồng tình. Ổng chê cái tạp chí này “là cơ quan đánh bóng lư đồng” và “chả có ma nào đọc” cả!

Châm chọc và mỉa mai đến vậy mà (chắc) vẫn chưa đã miệng nên đương sự còn viết cả một bài báo dài thòng (“Những Chiếc Lồng Son”) với rất nhiều lời lẽ cay đắng, cùng dè bỉu. Bài này tuy dài thiệt nhưng vì trang S.T.T.D bữa nay còn trống (hoàn toàn) nên xin được “ịn” lại toàn văn, nghĩa là “copy & paste” nguyên con,” để đọc … cho nó đã:

Sáng nay gặp mấy thằng bạn dân báo lề đảng “khạnh khẹ” nhau: Mày làm báo TW sướng thật, đi đến đâu cũng được ở nhà to, hưởng lộc lớn, chẳng bù cho bọn tao suốt ngày phải cắp cặp chạy theo. Tay kia không phải vừa: Bọn ông cũng đâu thua gì, cũng ăn trên ngồi trước thiên hạ.

Hỏi ra mới biết các chú báo đảng địa phương Sài Gòn đang phân bì thiệt hơn với mấy bác báo đảng TW vì các anh í  vừa được về ở nhà to, được trang bi xe cộ, phương tiện tác nghiệp tân thời hơn.

Nhà Khách Báo Nhân Dân Ở Tam Đảo. Nguồn ảnh: toa-soan-bao-nhan-dan-tam-dao-hotel

Số là tạp chí Cộng sản (TCCS), cơ quan lý luận và chính trị của TW đảng CSVN (cơ quan thường trực miền Nam, số 19 Phạm Ngọc Thạch, P6, Q3, Tp HCM) và báo Nhân dân (ND), cơ quan TW của đảng CSVN (cơ quan thường trú tại Tp HCM, số 40 Phạm Ngọc Thạch, P6, Q3, Tp HCM) vừa được dọn về nhà mới.

Đúng là không hẹn mà gặp, cả hai anh phát ngôn của đảng cùng chọn một con đường khá đẹp nằm ở trung tâm Sài Gòn để đặt bản doanh của mình. Tuy chỉ là cơ quan thường trực ở Tp HCM nhưng cả hai đều tọa lạc trong tòa nhà cao hơn chục tầng, mới xây dựng khang trang khiến người qua lại phải choáng ngợp.

Khi tôi đứng chụp hình trước cơ quan thường trú báo ND, một anh mặc áo quần tươm tắt chạy ra cự nự đầy vẻ nghiệp vụ báo chí “ông chụp hình đây làm gì?”

Ảnh: Nguyễn Dương

Tôi nói xạo: Thấy tòa nhà đẹp quá em chụp về in lịch. Hắn ta khoái chí cười hè hè. Mặc dù không được các ảnh mời “nhân dân” vào chơi xem nhà mới, nhưng tôi đoán chắc rằng trong đó là những căn phòng sang trọng với máy lạnh mở suốt ngày, bàn ghế bóng ngời, các bộ máy vi tính, laptop đời mới trưng bày la liệt.

Đúng là những con họa mi ở đây cả phần hồn lẫn phần xác được chăm lo nơi đến chốn, “nắng không đến đầu, mưa không đến tóc”. Thảo nào các chú chim trống, các ả chim mái ở đây lại “hót” hay đến thế.

Trong làng báo chí mọi người vẫn khẳng định: Làm báo ND là sướng nhất. Quanh năm suốt tháng chỉ việc đi dự hội nghị, khai trương, động thổ, trao huân chương… Đi đến đâu các anh báo ND đều được trọng vọng, ăn trên ngồi trước.

Các cơ quan từ TW đến địa phương họp hành, khai trương gì báo nào cũng có thể bỏ qua nhưng báo ND thì không bao giờ dám thất lễ.  Tôi có anh bạn trước đây chỉ làm báo địa phương làng nhàng, thế nhưng từ khi được chuyển qua làm phóng viên thường trú của báo ND là khác hẳn; ăn nói cũng khệ nệ, cha chú hơn, nhưng đổi lại chẳng còn bài viết nào ra hồn, tay nghề cũng lụn bại từ  ấy.

Thế nhưng, nếu cho đọc giả bình chọn thì có lẽ tờ ND là báo tào lao nhất, tẻ nhạt và… xạo nhất. Hầu như trên tất cả các sạp bán báo đều không thấy bóng dáng anh ND.

Nói không ngoa, báo chí cách mạng thời hoạt động bí mật còn kiếm dể hơn kiếm một tờ báo ND ngày nay. Viết đến đây tôi chợt nhớ đến một bài viết ngắn trên blog có tên laothayboigia, trong đó có câu: Từ khi các gia đình Việt dùng quen giấy vệ sinh cuộn, báo Nhân dân càng trở nên khó tiếp cận với quần chúng.

Còn ông hàng xóm của tôi đã gần 30 năm tuổi Đảng nói một câu rất “thiệt tình”: Bọn tau bây giờ đọc báo ND chỉ đọc mục… cáo phó.

Thử hỏi bao nhiều vụ tham ô, tham nhũng lớn có anh phóng viên báo ND nào mò ra đâu, bao nhiêu chuyện bức xúc, khẩn thiết của người dân các anh có lên tiếng đâu. Các anh chỉ nói theo kiểu “định hướng”, vuốt đuôi. Các anh chỉ giỏi lo chuyện trên trời, bận phân tích bao giờ kinh tế Mỹ sụp đổ, tỷ lệ thất nghiệp của châu Âu tăng cao so với cùng kỳ năm trước, lo Gaddafi còn trụ lại được bao lâu nữa…

Thực tế là ngày nay báo ND chỉ được “lưu hành” trong các cơ quan nhà nước, các chi bộ mà phần lớn là  moi tiền của ngân sách ra mua, đa số người ta đọc báo ND là đọc chùa, chứ chẳng mấy ai  bỏ tiền túi ra mua cả. Nực cười là báo làm ra không bán được nhưng bộ sậu báo ND vẫn sống khỏe, hưởng mọi bổng lộc của đảng ban phát, sống trên đầu trên cổ người khác. Tiền đó ở đâu ra??

Còn nói đến TCCS thì càng tệ hại hơn. Ít ra anh báo ND không ai đọc nhưng còn sử dụng được vào một số việc “tế nhị” khác. Còn anh cơ quan ný nuận của đảng thì chẳng dùng được vào việc gì vì ở đây chỉ toàn là những cây bút cỡ đại tá, tiến sĩ Nguyễn Văn Quang.

Phối cảnh Tòa nhà Tạp chí Cộng sản. Tọa lạc tại số 19 đường Phạm Ngọc Thạch,

phường 6, quận 3, TP HCM. Ảnh: PVV.COM

Những chuyện đơn giản mấy ảnh làm cho phức tạp lên với mớ lý luận chỉ để hù dọa mấy anh các bộ chưa xóa mù chính trị. Các anh cứ nhai đi nhai lại mớ tín điều cũ rích, ngồi mơ mộng bao giờ thì chủ nghĩa tư bản giãy chết.

Không quá khi nói rằng đây là cơ quan đánh bóng lư đồng, chân đèn. Các anh suốt ngày ca ngợi sự ưu việt, bách chiến bách thắng của CN Mác – Lê Nin, các anh tô son, vẽ thêm râu cho ông Mác, ông Hồ mà ngay các ông ấy có sống dậy cũng không nhận ra mình.

Xin thưa các anh TCCS. Sản phẩm các anh làm ra chẳng ma nào đọc đâu, từ Bộ chính trị cho đến mấy anh đảng viên quèn đều biết tỏng các anh nói xạo, là đồ ba trợn nhưng họ buộc phải nuôi các anh, vỗ béo các anh vì các anh là những con vẹt đầu đàn, các anh có nhiệm vụ là người lĩnh xướng cho dàn đồng ca của hàng triệu con vẹt khác.

Thú thật tự thâm tâm tôi các anh làm gì thì mặc xác các anh, hôm nay các anh cưỡi voi thì rồi ngày mai các anh cũng xuống chó. Thế nhưng thằng dân đen tôi không thể nào không uất khi đối lập với hình ảnh ăn trơn mặc trắng, nhà cao cửa rộng của các anh là cảnh bần cùng của người dân. Trong những chiếc lồng son của các anh các anh có thấy được nỗi cơ cực của người dân nghèo như thế này không:

– Bệnh viện quá tải, 7 bệnh nhân/giường: Thông tin này được ông Lương Ngọc Khuê – Cục    trưởng Cục Khám chữa bệnh (Bộ Y tế) đưa ra tại Hội nghị sơ kết công tác y tế 6 tháng đầu năm của khu vực phía Bắc, tổ chức ở Hà Nội ngày 13.9.2011 (Dân Việt).

– Quá tải bệnh viện, bệnh nhân nằm gầm giường, hành lang: Hầu hết bệnh viện tại TP HCM đều  trong tình trạng quá tải, bệnh nhân nằm kín các hành lang. Ở các bệnh viện nhi, trẻ em nằm một giường 4-5 cháu, thậm chí người nhà phải giành nhau một chỗ ở gầm giường để trải chiếu cho bé nghỉ (Vnexpress).

– Quá tải bệnh viện lên đến con số “khủng” 364% (Lao Động).

– Bệnh viện Báo động xuống cấp, quá tải. Bệnh nhân… mặc áo mưa truyền nước biển (ykhoanet.com).

– 30 HS nghỉ học chăn bò do… trường xuống cấp: Hơn 30 em học sinh đã tốt nghiệp tiểu học ở thôn Mai Hạ (xã Mai Đình, Hiệp Hòa, Bắc Giang) không được nhận vào trường huyện bạn – THCS Đông Tiến, với lí do cơ sở vật chất của trường đã xuống cấp (Tiền Phong).

– Một trường học đã hết chỗ để xuống cấp: Đó là trường Tiểu học Liên Trì, xã Bình Hiệp, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi). Ngôi trường này có 6 phòng học cấp 4 được xây dựng từ hơn 40 năm trước nên hiện đã hết chỗ để… xuống cấp. Trong số 6 phòng học thì đã có 3 phòng bị mưa lũ làm sập hoàn toàn, các phòng còn lại thì tường bị nứt toác, cửa sổ chắp vá đủ loại ván, nhiều thanh gỗ trên trần bị mối gặm gần hết làm mái ngói cong vẹo có nguy cơ chờ… sập. Hằng ngày 200 học sinh phải “bám trường, bám lớp” dù tính mạng luôn bị rình rập (Thanh Niên).

– Vừa học vừa lo… trường sập: Hơn 400 học sinh và giáo viên trường Tiểu học số 1 Triệu Phước (xã Triệu Phước, Triệu Phong, Quảng Trị) ngày ngày vừa học vừa nơm nớp lo sợ khi phải ngồi bên những chiếc bàn mục ruỗng chỉ chờ gãy, những tấm ngói thủng lỗ chỗ nhìn thấu mặt trời (Dân Trí).

– Một trường mầm non 40 tuổi xuống cấp trầm trọng (Đất Việt).

Nói vậy thôi chứ có bao giờ các anh chị gặp những “cảnh đời” như thế. Các anh chi có đau ốm gì thì đã có bệnh viện tư nhân, bệnh viện quốc tế lo, con cái của anh chị đều được “cơ cấu” vào các trường điểm, trường chuẩn quốc gia, quốc tế. Các anh chị cứ yên tâm mà luyện thanh, luyện giọng để cất cao tiếng hót ca ngợi đảng, ca ngợi chế độ.

Chào thân ái và sẽ quyết toán!

Người Cùng Khổ NGUYỄN DƯƠNG

(Nguồn: Trương Duy Nhất blog)

Trương Duy Nhất blog đã bị đóng từ lâu nhưng bài viết thượng dẫn thì có thể tìm thấy nơi nhiều trang mạng khác. Thiệt là một bài báo thấm thía. Chỉ tiếc là cách dùng từ, đôi chỗ (“những con họa mi” –  “những chiếc lồng son”) có hơi bị … cliché!

Ông Trương Tấn Sang chơi chữ tân kỳ hơn thấy rõ. Chủ Tịch Nước gọi những người làm báo – kiểu như báo Nhân Dân và Tạp Chí Cộng Sản – là một “bầy sâu,” chớ không phảì là “bầy chim họa mi.”

Tương tự, ông Nguyễn Phú Trọng cũng “tân kỳ” không kém. Ông mô tả đây là một … bầy chuột. Tuy thế, vì bầy chuột này có công trạng làm loa tuyên truyền cho chế độ nên không bị “ném” mà còn được tuyên dương – vẫn theo như bản tin (thượng dẫn) của TTXVN:

“Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đến trao Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ hai tặng tập thể cán bộ, công chức, viên chức người lao động của Tạp chí Cộng sản.”

Thỉnh thoảng lại mang huân chương đem trao cho cả bầy sâu hay lũ chuột, rồi kêu gọi chúng phải là “lực lượng đi đầu trong đấu tranh phòng chống tham nhũng” thì quả là một chuyện khôi hài – một kiểu giễu dai, và diễu dở!

Cầm tay em anh hỏi

“Cầm tay em anh hỏi
Đường nào lên Thiên Thai,
Đường nào lên Thiên Thai,
Đường nào lên Thiên Thai?
Nơi hoa xuân không hề tàn,
Nơi bướm xuân không hề nhạt,
Nơi tình xuân không úa màu bao giờ.”

(Nhạc: Hoàng Nguyên/Lời: Hồ Hoàng Phương – Đường Nào Lên Thiên Thai)

(Mt 14: 5-8/17: 3-4)

Trần Ngọc Mười Hai

Cầm gì thì cầm, tay hoặc chân của ai đó cũng chẳng sao. Thế nhưng, chớ có “cầm nhầm” thứ gì khác, kẻo không những chỉ mình em, mà cả thế giới đều lên tiếng.

Hỏi gì thì hỏi, hỏi-han hay han-hỏi điều gì, cũng đừng nên hỏi các đấng bậc nhà Đạo những câu như thế! Bởi, chưa cần nghe anh hỏi, Đấng bậc tôi tớ của các bầy tôi đây sẽ tranh nhau mà trả lời. Ngoại trừ các chi tiết về Lưu Nguyễn, rượu Đào, suối Ngọc ở đâu đó, như câu hát cứ liên hồi, rằng:

“Ngày xưa sao Lưu Nguyễn,

gặp đường lên Thiên Thai,

Nhạc vàng ai mê say,

Rượu Đào ai ngây ngây

Suối Ngọc reo dưới bước chân đi,

Tiếng Nhạc tiên quyến luyến xiêm y,

ôi làm sao lạc vào được Thiên Thai.”

(Hoàng Nguyên/Hồ Hoàng Phương – bđd)

Bởi, như lời bọn tôi vừa nói, anh hoặc em có hỏi cho nhiều, thì nghệ-sĩ ở đời cũng chỉ có thể bảo ban với em hoặc anh những điều rằng:

“Anh nào biết đường lên Thiên Thai,

khi trời đất còn vương thương đau,

khi hồn anh chưa biết sẽ về đâu

Anh nào biết đường lên Thiên Thai,

khi lòng còn như băng buốt giá

Và tình còn e ấp, nói không thành lời.”

(Hoàng Nguyên/Hồ Hoàng Phương – bđd)

Thế đó, là chuyện ngày xưa. Còn, hôm nay và mai ngày, chỉ cần anh cất tiếng hoặc ầm ừ đôi ba chữ, chứ chẳng cần biết anh có cầm tay hay cầm chân ai đó không, cũng sẽ có đấng bậc này nọ ví von Thiên Thai với Nước Trời, ngay tức thì.

Thế nhưng, trước khi đi vào chi tiết những gì chưa hỏi đã trả lời một “chia sẻ”; nay, mời bạn và mời tôi, ta nghe sơ những chuyện “chưa hỏi đã có đáp án” như sau:

“Hai chàng trai nọ cầm tờ giấy xét nghiệm ở bệnh viện ra cửa đọc mà chẳng hiểu, bèn ngơ ngác đầy chất hỏi han, như sau:

-Tình-hình cậu thế nào? Có khả-quan không thế?

-Không dám “khả quan” đâu! Bác-sĩ khám tớ xong bèn kết luận bằng chữ BT tức “bó tay” to đùng thế này làm sao khả với quan được cơ chứ!

-Không bằng tớ đâu! Tình-hình của tớ còn tệ lậu hơn nữa.

-Ấy chết! Cậu nói gì mà “lậu” với tệ? Thế, ỗng nói là cậu bị lậu sao?

-Lại cũng không dám đâu! Chả lậu liếc gì đâu. Chả là, ngài phê cho tớ mấy chữ RLTH có nghĩa “Ruột lòi tới háng”, thế có chết không cơ chứ!

Than vãn ỉu xìu xìu một hồi, hai chàng trai gặp cô y-tá đầy chữ nghĩa bèn ráp tới hỏi và han thêm lần nữa, bèn được câu “đáp án” rất sáng tỏ như thế vầy:

-Các anh “cầm nhầm” kết-quả rồi! Đâu nào “cho em xin”… Anh đây Bác-sĩ phê hai chữ BT có nghĩa là “Bình thường” chứ chẳng phải bó tay bó chân gì hết đó! Còn, anh đây mấy chữ RLTH có nghĩa là “Rối loạn tiêu hoá”, chứ chẳng có gì hết đó. Uống viết thuốc xôi là xong ngay…”

Quả là đáp-án của dân “chuyên-nghiệp” khi thấy thiên-hạ những hỏi han như thế. Riêng nghệ-sĩ xưa, hay đưa ra câu hỏi không rõ có tính chuyên-nghiệp không mà sao cứ hát mãi những lời rằng:

“Nhìn trong đôi mắt đẹp,
lòng chợt vui như say;
kìa đường lên Thiên Thai,
kìa đường lên Thiên Thai
Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây,
tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,
Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.”

(Hoàng Nguyên/Hồ Hoàng Phương – bđd)

Nghe hát rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta đi thẳng vào vấn-đề về hỏi-han “Đường Nào Lên Thiên Thai” hay “đường nào dẫn đến Nước Trời, ở đâu đó?

Hễ cứ hỏi, là có thưa. Những thưa cùng hỏi rất tận-tình như bao giờ. Thế nên, hôm nay đây, thay vì trả-lời câu: “Đường nào lên Nước Trời hoặc Thiên Thai? Thì, đấng bậc ở chốn chóp bu nhà Đạo lại nói về đức tính đích-thực của các kẻ tin đang sống ở chốn Nước Trời, như sau:

“Đức Phanxicô nói rằng muốn nên chứng nhân đích thực trong đời sống Kitô hữu đòi phải có 3 đặc tính.

Trong bài giảng thánh lễ sáng hôm qua 11.06 tại nguyện đường Santa Marta, Đức Giáo Hoàng nói đến 3 đặc tính đó là: “Hành trình, phục vụ, lãnh nhận nhưng không.

Hành trình.

Đức Giáo Hoàng nhắc đến bài đọc Tin Mừng trong ngày nói về việc Chúa Giêsu sai các môn đệ ra đi loan báo Tin Mừng. Là một môn đệ của Chúa đòi hỏi phải mang lấy sứ mạng ra đi loan báo Tin Mừng.

Nếu người môn đệ không đi ra và không làm cho người khác lãnh nhận bí tích Rửa tội thì người ấy chưa phải là môn đệ đích thực của Chúa Giêsu. Người ấy thiếu sinh khí truyền giáo. Anh ta không thể ra khỏi chính mình để mang lại những điều gì tốt lành cho người khác.

Các môn đồ của Chúa Kitô cần phải lên đường mang lấy Tin Mừng, cần có một hành trình nội tâm không ngừng tìm kiếm Chúa, qua đời sống cầu nguyện và suy niệm. Nếu người môn đệ không theo đuổi cách thức này, công cuộc rao giảng Tin Mừng sẽ nên suy yếu.

Phục vụ.

Đức Giáo Hoàng nói đến đặc tính thứ hai nơi người kitô hữu đó là phục vụ. Không phục vụ không phải là Kitô hữu. Một người môn đệ không biết phục vụ người khác thì không phải là Kitô hữu. Người môn đệ cần phải theo những gì Chúa Giêsu rao giảng như được mời gọi nơi hai trụ cột của Kitô giáo: 8 Mối Phúc Thật và ‘Chứng thư’ như được liệt kê trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu chương 25.”

Nếu cuộc sống của chúng ta không biết phục vụ thì không có giá trị gì trong đời sống Kitô hữu. Người môn đệ đích phải biết phục vụ người khác đặc biệt là những người bị bỏ rơi.

Lãnh nhận Nhưng-không.

Đức Giáo Hoàng nói đến đặc-tính thứ 3 cần phải có nơi đời sống Kitô hữu đó là ‘nhưng không’. Đức Giáo Hoàng nhắc lại những lời của Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng “anh em đã được nhận nhưng không thì cũng hãy trao ban nhưng-không”.

“Thật buồn khi thấy có những Kitô hữu đã quên đi Lời này của Chúa Giêsu. Thật buồn khi thấy trong các cộng đoàn, giáo xứ, các dòng tu, giáo phận đã quên đi điều này. Vì như thế hóa ra ơn cứu độ đến từ sự giàu có, từ sức mạnh của con người.”

“Niềm hy vọng của ta đặt nơi Chúa Giêsu Kitô. Ngài ban cho ta niềm hy vọng để không bao giờ thất vọng. Niềm hy vọng giúp chúng ta vững mạnh lên đường; niềm hy vọng giúp chúng ta ra khỏi cái tôi ích kỷ của mình để phục vụ người khác; niềm hy vọng làm cho chúng ta nên giàu có chứ không bó hẹp nơi thế giới vật chất chóng qua này”. (theo zenit)

Thế đấy, là cuộc sống ở Nước Trời rất như thế. Như thế và như vậy, giống hệt một khẳng- định của thánh-nhân hiền-lành nhà Đạo từng lập đi lập lại rằng:

Sau khi đã loan Tin Mừng cho thành ấy

và nhận khá nhiều người làm môn đệ,

hai ông trở lại LýtRa, Icôniô và Antiôkia.

Hai ông củng cố tinh thần các môn đệ,

và khuyên nhủ họ giữ vững đức tin.

Hai ông nói:

“Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa.”

Trong mỗi Hội Thánh,

hai ông chỉ định cho họ những kỳ mục,

và sau khi ăn chay cầu nguyện,

hai ông phó thác những người đó cho Chúa,

Đấng họ đã tin.”

(Cv 14: 22-23)

Sống ở chốn Thiên-Thai/Nước Trời, thì như thế. Còn, đường lên Thiên-Thai/Nước Trời thì sao? Và đây, mời bạn và mời tôi, ta nghe tiếp đoạn khác ở trình-thuật Tin Mừng thánh Mát-thêu như sau:

Bấy giờ Đức Giêsu nói với các môn đệ của Người:

“Thầy bảo thật anh em,

người giàu có khó vào Nước Trời.

Thầy còn nói cho anh em biết:

con lạc đà chui qua lỗ kim

còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.”

Nghe nói vậy,

các môn đệ vô cùng sửng sốt và nói:

“Thế thì ai có thể được cứu?”

Đức Giêsu nhìn thẳng vào các ông và nói:

“Đối với loài người thì điều đó không thể được,

nhưng đối với Thiên Chúa,

thì mọi sự đều có thể được.”

(Mt 19: 23-26)

Hỏi rằng: ta hiểu câu trên như thế nào? Phải chăng người muốn nói: muốn vào chốn Thiên-Thai/Nước Trời, phải trở nên nghèo khó, bé nhỏ, sống túng-thiếu chứ không sang giàu hoặc dư dật? Bởi, nếu đã giàu sang/dư dật rồi, lại sẽ khác.

Sống ở chốn Thiên-thai/Nước Trời, là sống tình-trạng thanh-thoát, trống-trải để rồi sẽ không có gì và sẽ chẳng còn gì để sợ mất và cũng chẳng có gì để phải lo “con bò trắng răng”. Dù, mối lo đó lại sẽ là mối lo và sợ những người giàu-có đến chiếm hữu/rút rỉa những gì mình có.

Sống tình-huống Thiên-Thai/Nước Trời, là có sống rất thật nhưng không chỉ cho mình mà cho người khác. Là, như thánh Phaolô khi xưa từng bảo: “Tôi sống nhưng không phải tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.

Sống tình-huống Thiên-Thai/Nước Trời là sống giống như câu ca vẫn tiếp-tục hát:

“Nhìn trong đôi mắt đẹp,
lòng chợt vui như say;
kìa đường lên Thiên Thai,
kìa đường lên Thiên Thai.

Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây,
tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,
Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.”

(Hoàng Nguyên/Hồ Hoàng Phương – bđd)

À thì ra, cả trong Đạo lẫn ngoài đời đều công-nhận: “Hồn anh lạc vào tận tim ai”, thế mới là Thiên-Thai/Nước Trời ở phía trước. Có vào tận “tim anh” hay “tim em” cũng sẽ không khó như “Lạc đà chui qua lỗ kim” đâu. Cái khó, là lòng người chẳng muốn “đưa hồn lạc” vào đâu đó, dù chốn đó có là Thiên Thai hay Nước Trời, nhiều con tim rất vang hoặc rất ngọc.

Bởi lẽ, Thiên Thai/Nước Trời, vẫn cứ là và sẽ là chốn miền ta cùng sống trong và sống với cộng-đoàn dân con Đức Chúa ở xã hội. Bởi lẽ, Thiên-Thai/Nước Trời ở đây, lúc này, chính là cộng-đoàn ta chung sống, trong đó có giúp giùm, đùm bọc, không ngại ngần.

Cộng-đoàn Thiên-Thai/Nước Trời, lại chính là Thánh-hội ở trần-gian, trong đó không còn ai chỉ mỗi lo-toan, tranh giành, kèn-cựa đạp nhau mà tiến chức, lên lương hoặc nắm trọn quyền. Ở chốn Thiên Thai/Nước Trời hôm nay hay mai ngày, là ở với cộng-đoàn có Thánh Thần Chúa soi sáng, ngự trị.

Cộng-đoàn Thiên-Thai/Nước Trời, vẫn là và sẽ là chốn thánh-thiêng, trong đó có vị thánh Đá Tảng rất Phêrô, từng kêu lên vui sướng, những câu nói rất trung-thực như:

Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay!

Nếu Ngài muốn,

con xin dựng tại đây ba cái lều,

một cho Ngài, một cho ông Môsê,

và một cho ông Êlia.”

(Mt 17: 3-4)

“Thật là hay! nếu Người muốn mà sao người người nay chẳng nhớ đến ai để rồi người người cùng tôi sẽ đóng lều để ở, mà chỉ nhớ có Môsê hoặc Êlya thôi? Thế đó là vấn đề. Chính đó, là nỗi chết. Bởi thế nên, Đức Giêsu lại đã phản-hồi bằng câu nói rất đáng nhớ, mà rằng:

Ông còn đang nói,

chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông,

và có tiếng từ đám mây phán rằng:

“Đây là Con yêu dấu của Ta,

Ta hài lòng về Người.

Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!”

Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng,

ngã sấp mặt xuống đất.

Bấy giờ Đức Giêsu lại gần, chạm vào các ông và bảo:

“Trỗi dậy đi, đừng sợ!”

Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa,

chỉ còn một mình Đức Giêsu mà thôi.”

(Mt 14: 5-8)

Xem như thế, tức như thể bảo: Thiên-Thai/Nước Trời không ở đâu khác, ngoài Đức Giêsu, là Con Thiên Chúa. Bởi, Ngài là tất cả trong mọi sự. Có nghe và làm theo lời Ngài dạy, tôi và người rồi ra, ai ai cũng đạt chốn Thiên Thai Nước Trời, vẫn mong muốn.

Để minh-chứng và minh-hoạ điều này, tức: chỉ một điều rằng: Thiên-Thai/Nước Trời là chốn miền ta đang sống hiện-tạiở đây, ngay lúc này không gồm tóm chỉ mỗi chuyện tốt đẹp mà thôi, nhưng vẫn có những chuyện không hay ho, thực-tế như trang nhật-ký của vị y-sĩ thuộc loại thượng-thừa, như sau:

“Đêm trực lúc 0 giờ

Một người đàn ông đến cấp cứu vì đau quặn bụng. Khi mình đến khám, ông ta cứ luôn miệng nói: Tôi quen anh giám đốc A. Tôi có làm ăn với chị trưởng phòng B. Có lẽ do ông ta nghĩ rằng, khi nói ra những mối quan hệ ấy, mình sẽ làm việc chu đáo hơn. Mình đã đáp lời rằng :

-Anh có thể thôi nói tên và chức vụ của người khác. Anh hãy nói về chính anh đi, tên, chức vụ và bệnh của anh.

Ông ta trố mắt ra nhìn mình, phải mất vài phút sau ông ta mới có thể bắt đầu khai bệnh.

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta cũng hay như vậy, bạn nhỉ? Cứ vỗ ngực tự hào chứng tỏ với nhau rằng : tôi là con ông D, cháu bà C, tôi quen biết ông E và có mối quan hệ thân thiết với bà F, thay vì chúng ta nói về chính mình. Nhưng một người trưởng thành thật sự lại là người luôn tự đứng vững trên đôi chân mình, can đảm chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình, không dựa vào ai cả, không đổ thừa ai cả.

0 giờ 30 phút

Một người phụ nữ 70 tuổi, được đưa đến phòng cấp cứu trong tình trạng suy kiệt nặng, da xanh niêm nhạt, thở ngáp cá, toàn thân khai mùi phân dãi. Khi mình xử trí cấp cứu xong, mình hỏi hai người con gái ăn bận rất bảnh bao và thơm tho : Bệnh nhân bị bệnh gì trước đây, điều trị ở đâu, và diễn tiến nặng bao lâu rồi?

Mình đã ngỡ ngàng khi nhận được một câu trả lời : Bệnh tim mạch và u hạch gì đó không rõ, mẹ tôi đã khó thở cả tháng nay rồi, nhưng tôi nghĩ không sao nên không đưa đi khám bệnh.

– Hai chị là con ruột?

– Ừ con ruột.

Mình im lặng thở dài khi kết quả xét nghiệm và MSCT trả về là bệnh Lymphoma ác tính di căn não, di căn phổi, đái tháo đường, suy thận… Làm sao mà cứu chữa? Mẹ thì chỉ có một trên đời.

Tuần trước mình có đi dự đám tang của một bệnh nhân rất thân. Và đã chứng kiến những giọt nước mắt ăn năn của người con út.

– Bác sĩ biết sao không, cả bốn tháng nay tôi chưa gặp mẹ, dù nhà tôi và nhà mẹ cách có vài bước chân. Ai ngờ trưa hôm thứ 7, nhận điện thoại báo mẹ đã mất rồi… Giá như tôi …

Thật, càng lớn tuổi, mình càng sợ trực cấp cứu. Không phải vì sức khoẻ vì chuyên môn hay vì áp lực phải tiếp xúc phơi nhiễm với những bệnh lây nhiễm hay vì có thể bị hành hung bất cứ lúc nào. Mà vì cứ phải chạm vào thật sâu bên sau mỗi con người dù mình không muốn…

1 giờ sáng

Bệnh nhân nam 23 tuổi, cơ thể gầy teo, nấm trắng đầy miệng đến cấp cứu vì tiêu chảy. Khi mình giải thích tình hình bệnh và đề nghị nhập viện thì bệnh nhân không chịu vì không có tiền.

– Em điện thoại kêu ba mẹ vào viện đi.

– Ba mẹ em li dị hồi em còn nhỏ xíu. Em sống với bà, mà bà ở tuốt dưới Vĩnh Long, em nói thiệt, em bị nghiện ma tuý đá và bị nhiễm HIV.

– Nhưng nếu em không nằm viện thì phải làm sao?

– Em cũng không biết nữa.

Nhìn cơ thể bệnh nhân chi chít những hình xăm, mái tóc nhuộm vàng khè … sao mà khác quá với cách bệnh nhân trả lời.

– Em chỉ nghĩ mình đau đến đây để bác sĩ cấp cứu…

Mình lại thở dài, dù tiếng thở dài chẳng làm đêm ngắn lại. Phần lớn những người sa ngã và lầm lạc thường được lớn lên trong gia đình không có hạnh phúc, cha mẹ ly dị, hay nghiện rượu, cờ bạc và thuốc lá. Có bao giờ mỗi bước chân đi, mỗi quyết định trong cuộc đời, chúng ta đều cẩn trọng? Sinh con rất dễ, nhưng nuôi dưỡng con lại rất khó! Khó vô cùng.

2 giờ sáng

Một thanh niên sỉn rượu đến để may những vết thương vùng mặt và lưng do bị chém. Khi điều dưỡng hỏi phần hành chính, thì anh ta nạt nộ đập bàn : Sao không khâu liền đi, cứ hỏi mấy cái vớ vẩn làm gì?

– Muốn khâu thì phải làm hồ sơ khai tên tuổi bị đánh ở đâu chứ, rồi còn phải kí tên yêu cầu khâu chứ.

– Tao (cóc) khai. Bây giờ tao hỏi tụi mày có khâu không thì bảo? Tụi mày có tin tao chém tụi mày bây giờ không?

Mấy anh bảo vệ nghe ồn ào, báo ngay cho công an. Và thanh niên sỉn rượu vừa thấy bóng công an lập tức bỏ chạy. Mới đó còn hùng hổ đòi đâm đòi chém …Thật, những người có xu hướng hung bạo và dễ kích động thường là những người sống trong sự sợ hãi và yếu đuối.

Vì sao khi đi trên phố mấy thanh niên trẻ hay nẹt bô rồ ga? Vì sao giữa đám đông mấy người trung niên kia ăn bận diêm dúa trang điểm cầu kì? Bởi vì trong sâu thẳm họ khát khao được chú ý, khát khao được công nhận… nhưng họ chẳng có gì đặc biệt, buộc họ phải hành động như thế. Họ lạc loài!

3 giờ sáng

Một người đàn ông, 50 tuổi được đưa vào cấp cứu vì đau đớn vùng hạ sườn phải. Ông ta la hét inh ỏi:

– Bác sĩ đâu rồi? Tụi bây chết hết rồi hả? Tao vào bệnh viện cả tiếng rồi mà chẳng thấy tụi bây đâu…

– Bác sĩ đây, anh mới vào mà, y tá còn chưa kịp lấy dấu hiệu sinh tồn…

Người nhà vội nói bệnh nhân và quay qua nói với mình : Bác sĩ thông cảm, tại ảnh bệnh ung thư đường mật di căn gan, di căn hạch giai đoạn cuối rồi nên đau đớn và hay la hết. Bệnh Viện C đã cho về, khuyên gia đình, bệnh nhân muốn ăn gì thì cứ cho…

Đêm dường như sâu hơn với tiếng thở dài.

Nỗi đau niềm thống khổ là có thật, luôn hiện diện bên trong mỗi con người. Ai cũng đau cũng khổ, có người nhờ nỗi đau mà vượt lên được chính mình, tìm ra được con đường giải thoát và an lạc, nhưng cũng có người bị chết chìm trong đó. Lẽ thường, khi người ta gần đến bên kia con dốc cuộc đời, cận kề cái chết, người ta sẽ buông bỏ hết những sân si, người ta sẽ chấp nhận và mỉm cười… Đằng này …

Bốn giờ sáng

Một người phụ nữ đến cấp cứu vì đau đầu ngủ không được. Trong khi mình đang viết bệnh án thì nghe bà ta kêu lên: Chú bác sĩ và cô y tá kia, mau trả điện thoại lại cho tôi.

– Bà coi lại cẩn thận đi, tụi con đâu có lấy điện thoại của bà.

– Cô nói gì? Chỉ có cô và chú bác sĩ kia lại gần tôi… Không cô thì chú kia lấy. Báo bảo vệ hay công an ngay đi.

Bệnh nhân ngồi bật dậy, khác với lúc mới vào nhăn nhó khó chịu mệt mỏi.

– Ôi mẹ ơi, mẹ nói cái gì kì lạ vậy? Con giữ điện thoại của mẹ đây. Tại con đi đóng tiền tạm ứng nhập viện nên mẹ không biết.

– Vậy hả? Tao tưởng hai đứa này nó ăn cắp.

Bé Khánh vừa định lên tiếng, mình vội ngăn lại và thì thầm: Thôi bỏ đi em.

Mình nhớ một câu chuyện trong Phúc Âm, có người đến hỏi: Nếu ai đó tát vào má con thì sao? Chúa Giêsu đã trả lời : Con hãy đưa luôn má còn lại cho người ta tát. Và nếu có ai xin con cái áo khoác bên ngoài, con cũng hãy cởi luôn cái áo khoác bên trong mà cho.

Thường chúng ta chỉ đến với Thượng Đế khi bị đau khổ, mất mát, muốn mà chưa được…Và khi chúng ta bị ức hiếp bị bắt nạt, chúng ta mong là luật công bằng, luật nhân quả được thực thi.

Nhưng Thượng Đế luôn im lặng. Ngài dạy: Hãy tha thứ, hãy cho đi nhiều hơn. Bởi chỉ những người yếu đuối, thiếu thốn, bị bỏ rơi … mới dùng đến bạo lực và đi xin. Ngài Đạt Lai Lạt Ma từng nói: Cây lúa nào hạt non hạt lép thì nó đứng thẳng vươn cao. Còn những cây lúa nặng trĩu hạt luôn oằn mình xuống dưới thấp. Cái Tôi của ai nhỏ bé thì tâm-lượng người đó mênh mông! (trích Nhật-ký của Giáo sư Tôn Thất Tùng)

Nghe kể chuyện thực-tế ở chốn Thiên-Thai/Nước Trời rồi, giờ đây mời bạn và mời tôi, ta đi vào vườn hoa văn-nghệ có những câu hát không xa vời thực-tế như câu ca do nghệ-sĩ trích ở trên cứ hát đi hát lại mãi rằng:

“Nhìn trong đôi mắt đẹp, lòng chợt vui như say;
kìa đường lên Thiên Thai, kìa đường lên Thiên Thai
Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây, tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,
Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.”

(Hoàng Nguyên/Hồ Hoàng Phương – bđd)

Hát thế rồi, hẳn bạn và tôi, ta đã tìm ra con đường lên Thên-Thai nay cứ sống sự thật cuộc đời, với đời và trong đời, giữa mọi người.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn cứ sống một đời rất thực;

Nhưng ít khi hỏi người, hỏi mình

tự bao giờ.

Em còn nhỏ làm sao mà biết được

“Em còn nhỏ làm sao mà biết được”

Áo cơm hành bủn rủn thiên tài.”

(Dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mai Tá, lược dịch

Áo cơm hành bủn rủn thiên tài, vẫn là Tình Yêu tuyệt vời, Lời Chúa phán. Áo cơm ấy, Tình-Yêu này, lại vẫn được diễn-tả theo kiểu cung cách rất thời thượng mà bậc thánh-hiền còn viết mãi đến hôm này.

Hồi đầu thập niên bẩy mươi, một trong các ấn bản của nhà sách Readers Digest thời bấy giờ đã thuật lại sự kiện về chiếc phản lực cơ lâm nạn rơi xuống vùng núi Andes, chỉ một ít người còn sống và họ phải ăn thịt lẫn nhau để tồn tại.

Trong buổi thảo luận về khía cạnh luân lý đặt ra với hiện tượng “khác thường này, các nhà thần học đã bàn về tư thế của Giáo hội bên sau hiện tượng ‘người ăn thịt người, để sống còn’. Câu hỏi mà tác giả bài viết lúc ấy đưa ra, là: Giáo hội quan niệm thế nào về luân thường đạo lý khi gặp trường hợp ‘người ăn thịt người’?

Dù có ai đưa ra luận cứ vững chắc nào để bênh vực cho tục ‘ăn thịt người để sống sốt’, thì cảnh tượng đứng đứng ngồi ngồi gắp từng miếng thịt của người đồng hành, đưa lên miệng, cũng đủ khiến ta lợm giọng, rất ghê tởm. Cũng như vậy, khi ta rước Mình Máu Cha, người ngoài Đạo có thể nghĩ và gán cho ta mũ chụp là “tội đồ, mọi rợ chuyên ăn thịt người khác”. Tức, tội đồ đi Đạo dám ăn cả thịt và uống cả máu Đức Chúa của mình.

Có lẽ, người ngoài Đạo cũng cho rằng: ta còn mừng kính việc ăn Mình và Máu Đức Giê-su, là ta còn mang tiếng trở thành kẻ ‘ăn thịt người’. Truyền thống Giáo hội xưa nay vẫn luôn thận trọng khi sử dụng ngôn từ chỉ việc Đức Giê-su hiện diện nơi Thánh Thể.

Dẫu có thế nào đi nữa, dứt khoát ta vẫn không phải là ‘kẻ ăn thịt người’. Trăm ngàn lần như thế. Bởi, có bao giờ ta ăn tim gan, phèo phổi hoặc xương, óc của Đức Chúa, bao giờ đâu. Giáo lý trong Đạo, tuy đề cập đến sự hiện diện đích thực, bằng xương bằng thịt, của Đức Chúa nơi Thánh Thể, rất thật.

Nhưng, ta có qui về Đức Giêsu đâu! Tín lý trong Đạo chỉ nói về Đức Kitô, Đấng đã hiến trọn con người của Ngài cho ta. Điều ấy có thật. Nhưng, Ngài muốn ta ăn thịt Ngài như cơm bánh hằng sống, thức ăn miên trường chủ yếu tháp nhập con người của ta vào với bản thể của Ngài. Hiển nhiên là như thế.

Ở đây, sự phân biệt danh phận và tên gọi của Đức Chúa là điều rất cần. Thánh Thể là Bí tích thánh thiêng về mầu nhiệm Phục sinh. Khi cử hành Tiệc Thánh Thể, ta vinh danh Đức Kitô đã sống lại, và hiện Ngài đang thực sự có mặt với ta, ở trong ta. Đây là sự có mặt trọn vẹn dưới dạng thức bánh và rượu. Hai chất thể phàm tục đã trở thành Mình thánh và Máu thánh của Ngài trong buổi Tiệc của Lòng Mến.

Truyền thống đạo giáo vẫn công khai tuyên xưng đặc tính chất loại của Mình Thánh. Như thế, không có nghĩa là đã giúp ta suy tư đầy cảm tính. Là Công giáo, ta tin Đức Kitô được Đức Chúa cất nhắc khỏi sự chết và Ngài đã sống lại thật và đang thực sự hiện diện với ta, bằng xương bằng thịt, ở đây, trong Tiệc Lòng Mến này.

Thế còn, vấn đề ý nghĩa ‘quà tặng’ của Thánh Thể, thì sao?

Nói cụ thể, chương 6 Tin Mừng thánh Gioan là thiên nghị luận bàn nhiều về Thánh Thể. Đằng khác, cũng trong chương này, thiên nghị luận của thánh sử là để đề cao sự thống khổ, cái chết của Đức Giê-su và sứ mạng của ta biết noi theo con đường Ngài đã đi.

Đức Giêsu, trong cương vị một Môsê mới, không chỉ ban tặng cơm bánh hằng sống cho con người, mà thôi. Ngài còn trao ban chính Thân mình của Ngài, qua sự thống khổ, cái chết và sự sống lại vinh hiển, nữa. Chính vì lý do này, Hội thánh Cha vẫn nối kết sự kiện Vượt Qua với việc cử hành Tiệc Thánh Thể. Đây là Tiệc của Lòng Mến, nơi đó ta ăn mừng và tôn kính Thân Mình rất thánh của Đức Chúa.

Vấn đề đặt thêm hôm nay, là: tại sao ta lại được trao ban cho quà tặng có một không hai ấy? Tiệc Thân Mình rất thánh của Đức Chúa không mang dáng dấp của một lễ hội dành cho một nhóm người nào đó, rất ưu đãi. Đây cũng không phải là việc sùng kính riêng tư, rất trầm buốn. Đây chẳng có nghĩa của một thứ gì đó nhằm đảm bảo cho ta ơn cứu rỗi riêng lẻ, của từng người.

Tiệc Thánh Thể mang ý nghĩa đích thực là ở chỗ: tiệc ta nhận lãnh Thân Mình Đức Chúa để bổ sức giúp cho kẻ tin vào Đức Kitô biết dấn bước ra đi, theo con đường khổ hạnh của Ngài. Ra đi, để biến đổi thế giới đương đại. Ra đi, luôn mang theo tình thương yêu dâng trào và sự công chính Chúa ban, vì Đức Kitô, nhân Danh Đức Kitô, cho Đức Kitô.

Hội thánh, người của Đức Chúa, vẫn luôn nối kết những gì ta sẽ hành động sau tiệc Thánh Thể với những gì ta cử hành việc ăn uống trong buổi Tiệc mừng. Điều này có nghĩa, là: người dự tiệc sẽ hối hả ra đi chăm lo nuôi sống những người đang đói thức ăn. Đang thiếu nước uống, trên thế giới.

Điều này còn có nghĩa: đa số chúng ta quyết giúp đỡ các người anh người chị khác, những nhóm người vẫn thực hiện công tác thiện nguyện, rất âm thầm. Điều này cũng có nghĩa, là: khi nghĩ đến các ứng viên ta sẽ bầu làm lãnh đạo hay thủ trưởng, ta buộc họ phải bận tâm lo toan cho nhiều người đau khổ, phiền muộn tại xứ sở, địa phương, và cả ở xã hội.

Trước đây, cố bề trên tổng quyền Dòng Tên, linh mục Pedro Arupe đã có lần bộc bạch rằng: Bao lâu, ở đâu đó trên thế giới, còn có người đói thức ăn, thèm khát nước uống, thì việc cử hành tiệc Thánh Thể của ta ở bất cứ nơi nào trên quả đất này, vẫn như còn thiếu thứ gì đó, theo một cách nào đó. Bởi, đôi lúc, ta vẫn cứ ảo tưởng cho rằng: Tiệc Thánh Thể có phép mầu thần thông của một ảo thuật gia, biến đổi được tất cả.

Đấy cũng là điểm nhấn mà Giê-su Đức Chúa đặt nặng trong Tin Mừng hôm nay, khi quả quyết: Ngài tặng ban Thân Mình Ngài cho sự sống của thế giới, đang tồn tại. Tiệc Thánh không biến ta thành những tay “tội đồ” ăn thịt người. Dứt khoát, không phải thế. Ngàn lần không là như thế. Tiệc Thánh còn có nghĩa thực tế, là: biến ta trở nên triệt để hơn. Triệt để, trong quyết tâm tiếp tục hiên ngang tồn tại làm con dân của Đức Chúa khắp nơi, trên địa cầu này.

Trong cảm-nghiệm tình thương-yêu rất như thế, ta lại sẽ ngâm tiếp lời thơ, rằng:

“Em còn nhỏ làm sao mà biết được,

Áo cơm hành bủn rủn thiên-tài.

Học thói người xưa ta cạo đầu bán tóc,

Chưa đủ tặng em nửa chiếc áo dài.”

(Nguyễn Tất Nhiên – Vài Đoạn Viết Ở Đinh Tiên Hoàng)

Cuối cùng thì, có cạo đầu bán tóc nhiều chăng nữa, cũng chỉ để chứng-tỏ tình thương yêu anh tặng cho em, cho mọi người. Cả một đời.

Lm Richard Leonard sj biên soạn –

Mai Tá, lược dịch

Tin Mừng (Ga 6: 51-58)

Khi ấy, Đức Giêsu nói với người Do Thái rằng: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”

Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” Đức Giêsu nói với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.”