Chương trình Phát triển Quận 6, 7, 8 Saigon đã chấm dứt như thế nào?

Chương trình Phát triển Quận 6, 7, 8 Saigon đã chấm dứt như thế nào?

Bài viết nhân kỷ niệm năm thứ 46 kể từ ngày thành lập

(1965 – 2011)

Đòan Thanh Liêm

Trong mấy năm gần đây, tôi đã viết nhiều bài về họat động của các bạn thanh niên sinh viên trong khuôn khổ sinh họat của chương trình phát triển cộng đồng tại các quận 6,7 và 8 Saigon vào hồi cuối thập niên 1960. Bài mới nhất viết hồi tháng Tám năm 2010 có nhan đề là : “Làm Men trong Bột”. Và kỹ sư Võ Long Triều, trong cuốn 1 Bộ Hồi ký của ông phổ biến trong năm 2010, cũng đã viết nhiều về chương trình này rồi.

Nhưng vì có một số bạn đọc thắc mắc muốn biết thêm chi tiết về giai đọan kết thúc của chương trình này, nên tôi thấy cần phải trình bày thêm về giai đọan cuối của chương trình, mà chưa được đề cập với chi tiết khả dĩ trong các tài liệu đã được phổ biến trước đây. Để giúp những bạn đọc chưa có dịp đọc các bài viết đó, tôi xin ghi vắn tắt lại những nét chính yếu của chương trình này, trước khi viết về giai đọan kết thúc của nó vào năm 1971.

I – Đại cương về sinh họat của chương trình phát triển cộng đồng tại các quận 6,7,8 Saigon khởi sự từ tháng 8 năm 1965.

Vào hồi tháng 6/1965, một số bạn trẻ chúng tôi cỡ tuổi 25 -30 họp bàn với nhau để thành lập một chương trình họat động tại quân 8 Saigon. Anh em sọan thảo một tài liệu về dự án phát triển tại địa phương quận này, và đem đệ trình nơi văn phòng của vị Thủ tướng Chánh phủ lúc đó do Tướng Nguyễn Cao Kỳ cầm đầu với danh xưng là “Chủ tịch Ủy Ban Hành phápTrung ương”.

Tướng Kỳ chấp thuận dự án này, và quyết định như sau :

A – Bổ nhiệm hai sĩ quan biệt phái là các Anh Hồ ngọc Nhuận và Mai Như Mạnh làm Quận trưởng và Phụ tá Quận trưởng Quận 8 Saigon.

B –  Đặt Chương trình Phát triển Quận 8 dưới sự bảo trợ của Bộ Thanh niên và Tòa Đô chánh Saigon. Lúc đó Bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng là Ủy viên Thanh niên điều khiển Bộ Thanh niên, và Bác sĩ Văn Văn Của là Đô trưởng Saigon

C –  Cấp ngân khỏan 10,000,000 VN$ (10 triệu) trích từ Ngân sách quốc gia để làm quỹ hoạt động của chương trình.

Như vậy là chỉ có hai người trong Nhóm chúng tôi giữ nhiệm vụ về hành chánh của Nhà nước, còn tất cả đều là các thiện nguyện viên. Nói theo ngôn ngữ hiện nay, thì đây là một sự hợp tác của Xã hội Dân sự với chánh quyền Nhà nước ở tại địa phương Quận 8 Saigon. Vì thế Ban Quản lý Chương trình có được sự độc lập tự trị, mà không bị ràng buộc chi phối theo quy chế của một cơ sở hành chánh thông thường. Bác sĩ Hồ Văn Minh và tôi Đòan Thanh Liêm giữ nhiệm vụ làm Quản lý và Phụ tá Quản lý của chương trình này.

Thế là vào trung tuần tháng 8, anh chị em chúng tôi khởi sự “ra quân” tại 5 Phường thuộc Quận 8 nằm bên kia cầu chữ Y, cầu Chà Và, cầu Nhị Thiên Đường, dọc theo mấy con kinh Tàu Hủ, Ụ Cây, kinh Đôi phiá nam của Chợ Lớn.

Công tác chính yếu của Chương trình là vận động quần chúng các khóm hẻm tham gia vào các dự án cải tiến dân sinh, cụ thể như khai thông ngập lụt, sửa đường trong các ngõ hẻm, tu sửa nhà vệ sinh công cộng, đặc biệt là chỉnh trang nhà cửa ở các khu ổ chuột, mở thêm các lớp học, các lớp dậy nghề, chăm sóc y tế v.v…Vai trò của các thiện nguyện viên là làm chất men, chất xúc tác nhằm khơi động quần chúng ý thức rõ ràng về các nhu cầu thiết thực của cộng đồng lối xóm (felt needs) và rồi cùng nhau góp công sức và vật liệu vào các công trình cải thiện môi trường tại địa phương, cũng như phát triển về giáo dục, về y tế, về sinh họat tương thân tương trợ lẫn nhau trong các thành viên của cộng đồng địa phương.

Qua năm 1966, chương trình lại mở rộng địa bàn họat động thêm nữa sang các quận 6 và 7, nâng tổng số dân mà chương trình nhằm phục vụ trong cả 3 quận lên đến gần 500,000 người. Chương trình lại được cấp thêm ngân khỏan 20 triệu đồng cũng trích từ Ngân sách quốc gia. Về vật liệu xây dựng như sắt, ciment và tôle, thì chúng tôi được cơ quan USAID cung ứng cho khá đày đủ theo nhu cầu của các dự án tái thiết và phát triển cộng đồng.

Còn các dụng cụ trang bị cho lớp dậy nghề như máy may, máy đan, máy đánh chữ, máy động cơ v.v…, thì chúng tôi đi xin nơi các cơ quan xã hội quốc tế có trụ sở ở Saigon.

Tính ra trong 6 năm họat động (1965 – 1971), chương trình đã cùng với đồng bào địa phương thực hiện được rất nhiều công tác cải tiến dân sinh, điển hình như sửa sang cả trăm ngõ hẻm lầy lội, tái thiết đến 8,000 đơn vị gia cư trong 20 khu vực bị tàn phá trong các cuộc tấn công năm Mậu Thân 1968… Đặc biệt là thành lập được 2 trường Trung học Cộng đồng tại quận 6 và 8, mà vào niên khóa 1974 -75, tổng số học sinh trong 2 trường này đã lên đến 3,000 em.

II – Chương trình được lệnh phải đóng cửa vào tháng 4 năm 1971.

Như đã trình bày ở trên, đây là một chương trình họat động xã hội, chủ yếu là để phục vụ tầng lớp đồng bào thiếu may mắn tại khu vực ven đô, mà phần đông là dân tỵ nạn từ các vùng mất an ninh ở miền quê phải đổ xô về thành phố. Chương trình không hề chịu ảnh hưởng của một nhóm chính trị hay tôn giáo nào, mà chỉ do các bạn trẻ cỡ tuổi 20-30 cùng hợp lại với nhau trong những công tác cụ thể, thiết thực sát cánh với bà con ở địa phương. Đặc biệt là kể từ cuối năm 1968 trở đi, thì anh chị em rất bận rộn với công việc chỉnh trang tái thiết tại 20 khu vực bị tàn phá nặng nề nhất trong cả 3 quận, với tổng số nhà phải xây cất lại lên đến 8,000 đơn vị.

Thế nhưng, do có sự mâu thuẫn căng thẳng giữa hai vị lãnh đạo quốc gia là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, mà chương trình chúng tôi nhận được lệnh của phía Tướng Thiệu là phải chấm dứt họat động kể từ tháng 4 năm 1971.

Nguyên do dẫn đến việc này là vào tháng 9 năm 1971 đó, sẽ có cuộc bầu cử Tổng thống và Phó Tổng thống, mà cả hai Tướng Thiệu và Kỳ đều tranh đua với nhau để mỗi bên đứng ra lập một liên danh riêng biệt. Và cả hai phía đều ráo riết tổ chức việc vận động để dành phần thắng cử về cho mình, nên đã sử dụng mọi đòn phép chính trị mua chuộc sự ủng hộ khắp nơi, chỗ này chỗ nọ.

Vì như đã ghi ở trên, chương trình phát triển này lúc khởi sự vào năm 1965 là do Tướng Kỳ với thẩm quyền là Thủ tướng đã chấp thuận cho chúng tôi họat động và còn cấp ngân khỏan điều hành nữa. Nên phía Tướng Thiệu lúc đó lại có thành kiến cứ coi chương trình này là của riêng Tướng Kỳ, hay cũng ngả về phe phái của Tướng Kỳ, và từ đó mà đưa đến việc ra lệnh cho chương trình phải chấm dứt họat động. Thời đó, Tổng thống Thiệu đã nắm hết quyền hành trong tay mình, và Phó Tổng thống Kỳ chỉ còn giữ tính cách tượng trưng về nghi lễ, không có thực quyền như lúc giữ vai trò của một vị Thủ tướng như thời kỳ 1965 – 67 nữa.

Trước chỉ thị của chánh quyền như vậy, Ban Điều hành của chương trình phát triển chúng tôi đâu có thể làm gì khác, ngòai việc phải tuân theo mà thôi. Cơ quan chính quyền trước đây cho phép họat động, bây giờ rút lại cái giấy phép đó, thì đó là thuộc phạm vi quyền hạn của nhà nước, mình chỉ là một nhóm thiện nguyện viên tư nhân thì làm sao mà cưỡng lại được?

III –  Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ chủ tọa Lễ Bế mạc Chương trình Phát triển.

Và, theo đúng chỉ thị của cấp trên, anh chị em chúng tôi đã tổ chức một buổi lễ khá long trọng vào thượng tuần tháng 4 năm 1971, với số tham dự gồm đông đủ các thân hào nhân sĩ địa phương cả 3 quận và rất nhiều giới chức quan khách – để tuyên bố kết thúc sự họat động của chương trình phát triển mà đã khởi sự từ năm 1965. Chúng tôi mời Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đến chủ tỏa Lễ Bế mạc này, vì dầu sao lúc đó Ông cũng là nhân vật lãnh đạo đứng hàng thứ hai của quốc gia, chỉ đứng sau vị Tổng thống mà thôi. Lại nữa vào năm 1965, chính Tướng Kỳ với cương vị là Thủ tướng chánh phủ đã cho phép chương trình họat động, nay đến lúc kết thúc, thì cũng nên mời Phó Tổng thống đến tham dự và chủ tọa buổi lễ, đó là điều cũng hợp lý, phải đạo và sòng phẳng vậy thôi. Lúc đó thì có một người bạn phê một câu bằng tiếng Pháp rằng : “Commencé par Kỳ, terminé aussi par Kỳ “ (Khởi sự bởi Kỳ, thì cũng kết thúc bởi Kỳ).

Sau buổi lễ này, chương trình trao lại các cơ sở, xe cộ, vật dụng và hồ sơ giấy tờ cho Tòa Đô chính Saigon Và chúng tôi chia tay nhau một cách êm thắm nhẹ nhàng, người nào cũng còn giữ lại được những kỷ niệm đẹp đẽ trong suốt nhiều năm tháng sát cánh bên nhau trong bao nhiêu công tác phát triển cộng đồng cùng hợp chung với bà con trong các khu xóm trong cả 3 quận. Ai nấy, mỗi người trở về lại với nghề nghiệp và cương vị riêng của mình.

Có điều đáng ghi nhớ là cho đến nay, sau 40 năm chia tay nhau, anh chị em chúng tôi vẫn tiếp tục còn gắn bó mật thiết với nhau trong tinh thần anh chị em ruột thịt một nhà, vì tất cả đều cùng theo đuổi một lý tưởng nhân ái là phục vụ đồng bào, nhất là các nạn nhân chiến cuộc hồi đó.

Hai trường Trung học ở quận 6 và 8 thì vẫn tiếp tục họat động bình thường, không hề bị ảnh hưởng của việc đóng cửa chương trình này. Lại nữa, trong hàng ngũ chúng tôi, thì có 2 người được bầu làm Dân biểu Hạ Nghị Viện, đó là các anh Hồ Văn Minh và Hồ Ngọc Nhuận. Và 3 người được bầu làm Nghị viên Hội đồng Đô thành Saigon, đó là các anh Mai Như Mạnh, Dương Văn Long và Lê Xuân Tảng. Hai người được bầu vào làm Ủy viên Hội đồng Văn hóa Giáo dục, đó là các Hiệu trưởng Võ Văn Bé và Uông Đại Bằng.

Và quan trọng nhất là hàng ngàn các cựu học sinh xuất thân từ 2 trường Trung học quận 6 và quận 8, nay đã vào lớp tuổi 50 – 57, thì các em vẫn nối tiếp cái tinh thần hy sinh phục vụ xã hội tại địa phương trong tầm tay với của mình. Đó là niềm hy vọng và an ủi cho tất cả anh chị em chúng tôi vậy.

Nhân dịp này, tôi cũng xin được bày tỏ lòng thương tiếc đến với các bạn đã ra đi, điển hình như các anh Trần Kim Hoa, Nguyễn Trọng Khánh, Lương Bá Cậy, Nguyễn Văn Bọt, Nguyễn Ngọc Phan, Đặng Kỳ Trân, Nguyễn Ngọc Thạch, Nguyễn Hữu An… Các bạn này đã cùng sát cánh với anh chị em chúng tôi trong suốt thời gian công tác tại các địa phương quận 6,7 và 8 Saigon giữa thời kỳ chiến tranh khói lửa kinh hòang thuở ấy.  Xin cầu chúc các bạn luôn thanh thản nơi cõi Vĩnh Hằng. R.I.P./

California, Trung tuần tháng Tám năm 2011

Đòan Thanh Liêm

Làm Men trong Bột

Làm  Men  trong  Bột

(Bài viết nhân kỷ niệm năm thứ 45 Ngày Thành Lập Chương Trình Phát Triển Quận 8 Saigon 1965-2010)

Đòan Thanh Liêm

Tháng 8 năm 1965, giữa lúc chiến tranh bắt đầu leo thang dữ dội tại nhiều nơi trên khắp lãnh thổ miền Nam Việt nam, thì một nhóm anh chị em trẻ cỡ tuổi 18 đến 30 chúng tôi hợp chung lại với nhau, để khởi xướng một chương trình xây dựng cụ thể tại một địa phương còn kém phát triển ở Saigon. Đó là một chuơng trình phát triển cộng đồng có danh hiệu là : “Chuơng Trình Phát Triển Quận 8 Saigon”.

Đây là một chương trình họat động có tính cách tự nguyện của giới thanh niên, sinh viên và học sinh, mà được sự chấp thuận và yểm trợ của cơ quan nhà nuớc, cụ thể là Tòa Đô chánh Saigon và Bộ Thanh niên.  Nói theo ngôn ngữ ngày nay, thì đó là sự hợp tác của một thành phần thuộc lãnh vực Xã hội Dân sự với cơ quan Nhà nước, để cùng theo đuổi việc cải tiến dân sinh tại một khu vực ven biên thành phố thủ đô, nơi có nhiều đồng bào phải rời bỏ miền quê mất an ninh , để về tá túc tại những khu nhà ổ chuột, thiếu thốn mọi tiện nghi vật chất như đường xá, điện, nước và mọi dịch vụ công cộng thông dụng nhất của một đô thị bình thường.

Vì là một chương trình thí điểm của giới trẻ, vốn chỉ có lòng hăng say nhiệt thành muốn đóng góp công sức vào việc cải tiến xã hội một cách thiết thực cụ thể, nhưng tất cả lại chưa hề có kinh nghiệm họat động trong một môi trường với đông đảo quần chúng xa lạ, như ở một địa phương tương đối hẻo lành này. Vì thế, phải mất một thời gian dò giẫm, thử nghiệm, rồi các bạn mới tìm ra được phương cách thích hợp trong công tác vận động bà con ở địa phương cùng tham gia vào công cuộc xây dựng tại hạ tầng cơ sở, nơi mà người dân đang phải sinh sống trong các điều kiện hết sức khó khăn chật vật.

Công tác đầu tiên mà các bạn trẻ này làm để “ra mắt trình diện với đồng bào ở địa phương”, đó là việc hòan thành được một ngôi trường với 5 phòng học tương đối rộng rãi khang trang, tại phường Hưng Phú gần với khu Lò Heo Chánh Hưng. Ngôi trường này được xây cất gấp rút trong vòng 2 tuần lễ với vật liệu nhẹ, cột bằng gỗ, tường bằng ván dăm bào aerolith và mái lợp tôn, nhằm đáp ứng với việc “giải tỏa các lớp học ban trưa nóng bức”, bởi lẽ hồi đó trường ốc rất thiếu thốn, nên  nhiều nơi đã phải mở thêm các suất học từ 11 giờ sáng đến 2 giờ trưa, nhằm dậy thêm được một số học sinh. Công tác đầu tay này đã gây được sự phấn khởi của giáo chức, và nhất là của đông đảo phụ huynh học sinh tại địa phương, với hậu quả là các thân hào nhân sĩ, giới lãnh đạo tôn giáo đã bắt đầu tìm hiểu và có sự tin tưởng, thông cảm với nhóm thanh niên thiện nguyện từ các nơi xa mà đến góp phần vào công việc xây dựng tại khu vực, vốn xưa kia là lãnh địa của quân đội Bình Xuyên vào hồi đầu thập niên 1950.

Và rồi nhờ sự thông cảm và hợp tác của các bậc tôn trưởng tại địa phương như vậy, mà Chương trình Phát triển đã lần hồi lôi cuốn được đông đảo bà con cùng quy tụ lại với nhau, để thực hiện những công việc xây dựng tích cực, cụ thể như khai thông tình trạng ngập lụt, sửa sang các đường hẻm, cải thiện các nhà vệ sinh công cộng v.v… Qua những dự án hợp tác đại loại như thế, mà bà con lối xóm có dịp quen biết lẫn nhau và gắn bó thân thương với nhau, mỗi ngày một bền chặt, khắng khít hơn. Và các thiện nguyện viên từ nơi xa đến cũng gây dựng được sự tin tưởng, và thiện cảm của quần chúng nhân dân trong cộng đồng địa phương. Đó chính là mấu chốt của sự thành công trong việc “Gây được sự hưởng ứng tự nguyện của chính đồng bào là đối tượng phục vụ của Chương trình Phát triển ở Quận 8” vậy.

Sau trên một năm hoạt động, Chương trình Phát triển này lại được chánh quyền chấp thuận cho khuếch trương  thêm, kể từ năm 1966, sang các quận 6 và 7 lân cận, để phục vụ cho khối dân số tổng cộng trong cả 3 quận lên đến 500,000 người. Từ những công tác cải thiện môi trường với quy mô đơn sơ nhỏ bé, trong các khu xóm lầy lội, chật hẹp, tối tăm, Chương trình đã tiến tới việc thực hiện được những công trình chỉnh trang gia cư khá rộng lớn, điển hình như khu chỉnh trang xóm nghĩa địa thuộc liên khóm 14 &15 thuộc khu Xóm Đầm ở phường Hưng Phú Quận 8, với trên 130 căn nhà được phân phối trong 7 lô gồm các căn nhà sát vách với nhau. Rồi đến khu định cư Nam Hải dành riêng cho đồng bào tỵ nạn từ Phước Long chạy về, với  con số trên 300 căn nhà xây cất trên  khu bãi đổ rác Chánh Hưng của thành phố v.v…

Và nhất là công trình chỉnh trang tái thiết đến gần 20 khu vực nhà cửa bị tàn phá trong mấy đợt tấn công của quân đội công sản trong dịp Tết Mậu Thân năm 1968, tổng cộng lên tới gần 8,000 đơn vị gia cư trong cả ba quận 6, 7 và 8 Saigon. Điển hình như tại khu tái thiết ở phường Cầu Tre-Bình Thới thuộc Quận 6, thì có đến 1,200 đơn vị gia cư được xây cất lại.

Tất cả các khu chỉnh trang này đều được thực hiện theo phương thức “Phát triển Cộng đồng”, tức là người dân địa phương đóng vai trò chủ động chính yếu vừa góp công, vừa góp của, để thực hiện việc xây dựng lại nhà cửa cho chính mình. Cán bộ của Chương trình Phát triển chỉ đóng vai trò tổ chức cho bà con hội họp bàn thảo và quyết định với nhau trong việc phân phối căn nhà cho từng gia chủ. Và rồi hướng dẫn kỹ thuật cho việc xây cất theo họa đồ thiết kế đã được các chuyên viên kỹ sư phác họa sẵn.

Chứ đó không phải là những công trình xây cất thuần túy do Nhà nước thực hiện từ đầu đến cuối, như tại các khu cư xá của Tổng Nha Kiến Thiết, hay của  Khu Gia cư Liêm giá cuộc của Tòa Đô chánh Saigon.

Có hai công trình với quy mô và ảnh hưởng lâu bền nhất, đó là việc thành lập được Trường Trung học Cộng Đồng ở quận 8, rồi cả ở quận 6, với tổng số học sinh lên tới 3000 em vào niên khóa 1974-75. Chương trình Phát triển đã kêu gọi được sự hợp tác rất hăng say của giới phụ huynh và các thân hào nhân sĩ địa phương, để thực hiện được công cuộc phát triển giáo dục mà cho đến ngày nay, sau trên 40 năm  thì vẫn tiếp tục được duy trì để phục vụ cho các thế hệ trẻ mỗi ngày một thêm đông đảo. Các em học sinh lớp đầu tiên nhập học vào năm 1966 lúc đó ở tuổi 13-14, thì năm 2010 này đã ở vào lứa tuổi 57 – 58, với nhiều em đã lên tới chức ông nội, bà ngoại cả rồi.. Và đặc biệt các cựu học sinh này vẫn còn gắn bó thân thương với nhau trong tổ chức Hội Ái Hữu Cựu Học sinh với Ngày Họp Truyền Thống của trường xưa vào tháng 12 mỗi năm..

Ngoài ra, Chương trình còn yểm trợ rất nhiều lớp Dậy nghề do các Chùa và Nhà thờ ở địa phương tổ chức và điều hành, cụ thể như tại Chùa Huê Lâm ở quận 6, Chùa Bình Đông , Nhà thờ Rạch Cát ở quận 7, Nhà thờ Bình An ở quận 8 v.v…Về y tế, Chương trình còn tổ chức cả một xe Y tế lưu động để lo khám bệnh và cấp phát thuốc cho bệnh nhân tại một số khóm hẻm ở quá xa với trạm y tế.

Về thành phần nhân sự, thì tất cả đều tham gia họat động trong khuôn khổ chương trình với tinh thần tự nguyện. Có em là học sinh dưới 20 tuổi, còn đang theo học tại các trường trung học. Có em là sinh viên cấp đại học. Và cũng có những bạn lớn tuổi hơn, nhưng phần đông đều vào lứa tuổi trên dưới 30. Những người làm việc thường xuyên, thì được hưởng một số trợ cấp sinh họat tối thiểu, chứ không phải là một thứ lương bổng nào theo quy chế của cơ quan nhà nước. Các bạn trẻ này vốn đã từng được đào tạo trong các tổ chức thanh thiếu niên, như tại Phong trào Hướng Đạo, Sinh viên Phật tử, Sinh viên Công giáo, Thanh niên Thiện chí, Phong trào Học đường Phục vụ Xã hội v.v… Đó là những nhân sự cơ hữu công tác thường xuyên, mà tỗng số chỉ có vào khỏang từ 30 đến 40 người. Còn số thiện nguyện viên lâu lâu đến hợp tác trong một dự án ngắn hạn, mà cần thêm nhiều lao động vào một vài ngày nghỉ cuối tuần, thì có thể kể đến con số hàng ngàn người, số này do các đòan thể hiệp hội bạn hướng dẫn đến để tăng cường cho nhân số cơ hữu vốn luôn ít ỏi của chương trình phát triển.

Về phương tiện tài chánh và vật liệu, thì chương trình được chánh quyền cấp cho một số ngân khỏan trong 2 đợt đầu từ năm 1965 đến 1969, tổng cộng là 30 triệu đồng, trích từ ngân sách quốc gia, và trong đợt cuối vào năm 1970 thêm được 10 triệu nữa, trích từ ngân sách ngọai viện. Còn các vật liệu xây dựng chính yếu là sắt, tôle và ciment, thì do Cơ quan Viện trợ Mỹ USAID cung ứng cho khá đày đủ. Ngòai ra, chương trình cũng còn được sự trợ giúp về dụng cụ huấn nghệ như máy may, máy đan, máy đánh chữ, dụng cụ sửa radio, sửa máy nổ , về thuốc men và một số vật dụng linh tinh khác…từ các tổ chức từ thiện quốc tế như CARE, Catholic Relief Service, Asian Christian Service, Vietnam Christian Service, Adenauer Foundation, OXFAM…Các dụng cụ này được sử dụng vào việc trang bị cho các trung tâm dậy nghề, do các tổ chức tôn giáo ở địa phương trực tiếp điều hành.

*            *           *

Đẻ tóm lược lại, ta có thể ghi nhận vài nét chính yếu như sau đây :

1 / Trong suốt quá trình hoạt động sôi nổi từ những năm 1965 trở đi, các anh chị em thiện nguyện viên này luôn ý thức được vai trò chủ yếu của mình là : “Vận động quần chúng tự nguyện tham gia vào các công trình cải tiến dân sinh” tại chính địa phương của họ. Đây đích thực là vai trò “làm chất men, chất súc tác” được vùi vào trong môi trường của quần chúng nhân dân, nhằm gây được một “tác dụng dây chuyền”, theo lối “vết dầu loang”, để mỗi ngày một phát triển rộng thêm mãi ra. Thành ra lớp người cán bộ tự nguyện như vậy chính là một thứ tác nhân có khả năng góp phần khơi động được thành cả một “Phong trào quần chúng tham gia vào công cuộc phát triển xã hội ngay tại hạ tầng cơ sở, nơi địa phương của chính họ” (Mass Fermentation/Mobilisation at the grassroots). Một anh bạn đã phát biểu tóm gọn vai trò của anh chị em thiện nguyên viên một cách thật chính xác là : “Những người vận động cho công cuộc phát triển toàn diện và điều hòa” (animateurs de de’veloppement total et harmonise’) tại địa phương các quận 6,7 và 8 Saigon thời đó vậy.

2 / Nếu cần phải đánh giá chung về Chương trình Phát triển này đã hoạt động liên tục trong 6 năm, từ 1965 đến 1971, thì ta có thể nói rằng : “Đây mới chỉ là một lọai hình họat động tiêu biểu trong số đông những Mảnh Nhỏ Cố Gắng của cả một Phong trào Thanh Thiếu niên lúc đó, nhằm góp phần vào công cuộc Xây dựng Xã hội tại miền Nam Việt nam thời kỳ trước năm 1975”. Và theo như lối mô tả của Giáo sư Karl Popper thuộc Trường Kinh tế Luân Đôn (LSE = London School of Economics) trong cuốn sách thời danh xuất bản từ năm 1945 của ông, với nhan đề là : “The Open Society & its enemies”, thì đây chính là một cách thể hiện cái phương thức : “Piecemeal Social Engineering”, tức là  “Xây dựng Xã hội từng Mảnh một” vậy.

3 / Và cuối cùng, nhân dịp kỷ niệm năm thứ 45 ngày thành lập Chương trình Phát triển Cộng đồng này, người viết xin được bày tỏ lòng thương tiếc và quý mến sâu sắc đối với một số bạn và thân hữu đã lìa trần trong mấy năm gần đây, cụ thể điển hình như các bạn Đặng Kỳ Trân, Trần Kim Hoa, Luơng Bá Cậy, Nguyễn Trọng Khánh, Lương Văn Tròn, Nguyễn Ngọc Phan, Nguyễn Văn Bọt, Nguyễn Ngọc Thạch… Và các thân hữu như Nguyễn Hữu An, Trần Hữu Hải,Trần Đại Lộc, Đỗ Ngọc Yến…

Tuy các bạn đã đi xa, nhưng cái kỷ niệm thân thương gắn bó keo sơn ấy của tất cả tập thể anh chị em chúng ta, trong bao nhiêu ngày tháng miệt mài say mê với công tác xã hội sát cánh cùng với đồng bào tại các quận 6,7, 8 Saigon những năm xưa, giữa cuộc chiến tranh khói lửa mịt mù tàn bạo lúc đó, thì không bao giờ lại có thể phai mờ quên lãng đi được./

California, Tiết Trung Thu Canh Dần 2010

Đoàn Thanh Liêm

Lenin và chính sách “Tuyên truyền Tượng đài”

Lenin và chính sách “Tuyên truyền Tượng đài”

Trần Trung Đạo (Danlambao) – Trong thời gian qua, hầu hết bài viết dù phê bình việc dựng tượng đài Hồ Chí Minh ở Sơn La đều nhấn mạnh đến những yếu tố như tốn kém tiền bạc, nuôi sống tham nhũng, làm cho dân tình thêm đói khổ v.v… Những phê bình đó không sai nhưng chỉ là những tác hại về vật chất, các tác hại tinh thần do những tượng đài CS gây ra còn sâu xa và nguy hiểm hơn nhiều.

Tượng đài CS một vấn nạn của các nước cựu CS

Khi người dân giành lại được quyền tự do, tượng đài cũng là nơi họ trút hết những hờn căm, phẫn uất đã bị dồn nén, chịu đựng bao nhiêu năm. Để bày tỏ thái độ dứt khoát với quá khứ, phản ứng cụ thể nhất của phong trào dân chủ cũng là giật sập tượng đài. Chỉ trong tháng 11, 1990, tại Ukraine và các quốc gia vùng Baltic, 70 tượng đài Lenin bị giật đổ. Để ngăn chận làn sóng giật sập tượng Lenin, tháng 10, 1990 Mikhail Gorbachev, lúc đó còn là Tổng Bí Thư CS Liên Xô, ra sắc lịnh ngăn cấm việc phá hủy tượng Lenin. Nhưng đã quá trễ, phong trào giật đổ tượng đài các lãnh đạo CS đã lan rộng không chỉ các quốc gia Trung Á thuộc Liên Xô mà ngay cả tại quê hương Nga của y.

Từ cuối năm 1989, hàng ngàn tượng đài các lãnh đạo CS tại 15 nước thuộc Liên Xô cũ, các quốc gia Đông Âu, Mông Cổ, Ghana, Ethiopia, Afghanistan đã bị giật sập, đập phá hay hủy hoại. Tuy nhiên, số lượng tượng đài các lãnh tụ CS cũng còn lại khá nhiều bởi vì kéo đổ hết là một việc khó khăn, đơn giản vì chúng quá nhiều, quá tốn kém và trong nhiều trường hợp dân chúng chẳng còn quan tâm đến những khối xi măng vô tri không làm ai sợ hãi nữa.

Hành động kéo đổ tượng Lenin tại thành phố Kharkiv, Ukraine vào tháng Chín năm ngoái, do đó, không phải là mới lạ. Tượng đài Lenin ở Kharkiv cũng không phải là tượng đầu tiên mà là tượng thứ 390 bị kéo xuống chỉ trong vòng 2 năm 2013 và 2014. Trước đây, Ukraine đã từng là một trong vài nước đầu tiên phá đổ tượng đài Lenin vào đầu thập niên 1990. Việc kéo đổ tượng Lenin ở Ukranie lần này chỉ là cách để chứng tỏ là thái độ dứt khoát đối với Nga.

Số lượng tượng đài Lenin tại Nga còn lại nhiều nhưng không có nghĩa người dân Nga xem Lenin như là biểu tượng của ngước Nga. Dân chúng Nga yêu dân chủ kết án Lenin như một tội đồ dân tộc vì đã (1) xây dựng một chính quyền khủng bố có hệ thống để cai trị Nga suốt 74 năm; (2) tàn phá Đế Quốc Nga và giết sạch gia đình hoàng gia Tsar Hoàng; (3) ký hiệp ước bán nước Brest-Litovsk sang nhượng đất đai của Nga cho Đức và các cường quốc Trung Âu; (4) gây ra cuộc nội chiến Nga sau khi cướp chính quyền 1917 dẫn đến cái chết của 15 triệu dân Nga vô tội; (5) tịch thu tài sản dân chúng, tàn phá nhà thờ, tu viện; (6) ký hàng loạt mật lịnh ám sát nhiều trăm ngàn người dân vô tội, nông dân có đất dai, tu sĩ và tín đồ Thiên Chúa Giáo.

Nguồn gốc của chính sách “Tuyên truyền Tượng đài”

Gần như quốc gia nào cũng có xây một số tượng đài để tưởng niệm các danh nhân, các anh hùng dân tộc của quốc gia họ như George Washington, Abraham Lincoln của Mỹ, Simon Bolivar, Manuel Carlos Piar của Venezuela, Trần Hưng Đạo, Quang Trung của Việt Nam v.v… nhưng chỉ có dưới các chế độ CS, tượng đài các lãnh đạo CS được sử dụng như một phương tiện tuyên truyền gây tác hại vô cùng độc hại, nhất là đối với các thế hệ trẻ.

Sắc lịnh “Tuyên truyền Tượng đài” do Lenin đề xướng có một tên khá dài “Về việc dời các Tượng đài được Dựng lên để Vinh danh Tsars Hoàng và Quan chức và việc Phát triển Đề án Tượng đài Tưởng nhớ đến Cách mạng Xã hội chủ nghĩa Nga” (On Removing Monuments Erected in Honor of Tsars and Their Servants and Developing a Project for Monuments Dedicated to the Russian Socialist Revolution) được công bố ngày 12 tháng Tư, 1918.

Chỉ trong vòng một tháng, các tượng đài vua chúa Nga bị kéo sập hay bị dời đi. Thời đó Lenin còn sống nên tượng đài được dựng lên đầu tiên là tượng đài Karl Marx do điêu khắc gia E. V. Revde đúc và đặt tại Penza. Hội đồng Ủy Viên Nhân Dân ngày 30 tháng Bảy, 1918 chấp thuận một danh sách đảng viên CS gồm 69 tên được xây tượng đài tưởng niệm. Lễ khai mạc mỗi tượng đài được tổ chức trọng thể. Sau khi Lenin chết, bộ máy tuyên truyền đảng CS tập trung vào việc biến Lenin thành bất tử qua việc đúc hàng ngàn tượng Lenin đủ kiểu và đặt tại khắp nơi.

Để gia tăng sản xuất tường đài Nhà Máy Điêu Khắc Tượng Đài được chính thức khai mạc tại Leningrad năm 1922 để đúc tượng các “anh hùng lao động”, “anh hùng Sô Viết”, các lãnh đạo CS. Có nhiều năm nhà máy sản xuất đến 5000 tượng đài CS. Trả lời phỏng vấn của báo Christian Science Monitor tháng 11, 1990, điêu khắc gia Albert Charkin, tác giả của nhiều mẫu tượng Lenin cho biết những hình ảnh Lenin đơn giản, khiêm cung, thân mật, gần gũi chỉ là những hình ảnh giả tạo.

Người đời nguyền rủa Stalin nhiều hơn Lenin nhưng quên rằng tất cả tội ác của Stalin đều phát sinh từ nền móng của cơ chế toàn trị do Lenin dựng lên, trong đó có cơ quan mật vụ Cheka khủng khiếp do hung thần Felix Dzerzhinsky lãnh đạo. Chỉ trong vòng một tháng từ tháng Chín đến tháng Mười, 1918, ước lượng đã có 10 ngàn đến 15 ngàn người bị cơ quan Cheka thủ tiêu. Danh từ “Khủng bố Đỏ” xuất hiện trong giai đoạn này.

Tượng đài các lãnh đạo CS tại 5 nước CS

Tại Bắc Hàn, toàn quốc có khoảng 34.000 tượng đài Kim Nhật Thành. Một tượng đài cho mỗi 3.5 kilomet và cứ 750 người dân có một tượng đài họ Kim. Không giống như một số tượng Lenin làm bằng đá, tượng cha con họ Kim đúc bằng đồng rất tốn kém. Tháng Bảy vừa qua, hai bức tượng đồng của cha con họ Kim được khánh thành một cách trọng thể tại tỉnh Pyongan. Để củng cố đặc điểm kế nghiệp, Kim Jong Un sẽ lần lượt cho thay thế tượng ông nội y đứng một mình bằng tượng của ông nội và cha y đứng cạnh nhau.

Tại Trung Cộng, theo BBC, nhiếp ảnh gia Cheng Wenjun đã đi khắp Trung Hoa lục địa để chụp hình các tượng đài Mao Trạch Đông và ông ta ghi nhận khoảng 2000 tượng đài. Điều đáng lưu ý, một phần ba số tượng đài nằm trong khu vực các trường đại học. Nhân dịp kỷ niệm 120 năm sinh nhật của Mao, lãnh đạo Trung Cộng cho đúc một tượng Mao ngồi gác chân trên ghế bằng vàng và cẩm thạch, cao chỉ 80 cm, nặng 50 kilograms nhưng có giá thành lên đến 16 triệu đô la.

Tại Lào, tượng lãnh tụ CS Kaysone Phomvihane cũng có mặt trên nhiều công viên, cơ quan nhà nước. Năm 2004, Bắc Hàn đúc tặng Lào 200 tượng Kaysone Phomvihane bằng đồng để đặt tại các cơ quan đảng và nhà nước Lào.

Tại Cuba, mặc dù Fidel Castro chưa chết, tượng đài của y cùng với Che Guevara cũng đã được dựng nhiều nơi trên quốc gia hải đảo này.

Tại Việt Nam, theo số liệu của Bộ Văn Hóa-Thanh Niên & Du Lịch, Việt Nam hiện có 134 tượng đài Hồ Chí Minh, trong đó gồm 103 tượng đặt tại các trụ sở cơ quan, 31 tượng được dựng tại các quảng trường. Theo kế hoạch từ nay đến 2030 sẽ xây thêm 58 tượng họ Hồ, nâng tổng số lên 192 tượng.

Tượng đài CS không phải là biểu tượng văn hóa của một dân tộc

Để bênh vực việc xây tượng đài Hồ Chí Minh, ông Đào Ngọc Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch và phát triển đô thị Việt nam, phát biểu: “Tôi cho rằng, không nên đặt vấn đề xây dựng những tượng như thế đắt hay rẻ. Trước khi phán xét phải nhìn nhận tổng thể giá trị văn hóa. Tượng đài sẽ là động lực cho sự phát triển, nên không thể nói vì còn nhiều người đói thì phải mua cơm trước. Đôi khi văn hóa cũng phải đi trước.” Ông Đào Ngọc Nghiêm không hiểu văn hóa là gì mà nói sảng, tượng đài Hồ Chí Minh không có liên hệ gì đến văn hóa Việt Nam.

Văn hóa được định nghĩa khác nhau ít nhiều tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu nhưng tựu chung là đời sống vật chất và tinh thần đặc thù của một dân tộc. Trong tuyên bố về các dạng văn hóa thế giới vào ngày 2 tháng 11, 2001, UNESCO định nghĩa văn hóa là “tập hợp của các đặc điểm tình cảm, trí thức, vật chất, tinh thần riêng biệt của một xã hội hay một nhóm xã hội trong đó bao gồm cách sống, hệ thống các giá trị, truyền thống và niềm tin”.

Tạm gác qua chuyện đói no, chỉ bàn về văn hóa thôi thì tượng đài Hồ Chí Minh không phải là biểu tượng văn hóa hay một phần của văn hóa dân tộc Việt Nam vì hai lý do chính:

1. Tượng đài CS không mang tính văn hóa đặc thù

Với định nghĩa của UNESCO, các tượng đài CS, trong trường hợp này là tượng đài Hồ Chí Minh, không phải là biểu tượng văn hóa đặc thù của một dân tộc mà chỉ là sản phẩm tuyên truyền phát xuất từ một nguồn gốc CS do Lenin đề ra vào ngày 12 tháng Tư, 1918 tại Nga và đã đước áp dụng giống nhau một cách chính xác tại hầu hết các quốc gia CS.

Lấy hình tượng các lãnh tụ CS hôn nhi đồng làm một thí dụ. Để che giấu tội ác, bộ máy tuyên truyền Liên Xô giới thiệu một Stalin hiền từ yêu nhi đồng. Ngay sau đó, Hồ Chí Minh ở Việt Nam cũng yêu nhi đồng, Mao Trạch Đông ở Trung Cộng yêu nhi đồng, Todor Zhivkov ở Bulgary yêu nhi đồng. Kim Nhật Thành ở Bắc Hàn yêu nhi đồng. Lãnh tụ khác nhưng cách thức, nội dung và mục đích đều giống hệt nhau.

2. Tượng đài CS không tồn tại với thời gian và truyền thống dân tộc

Như lịch sử thế giới cận đại chứng minh và người viết đã phân tích ở trên, tượng đài các lãnh đạo CS được dựng lên vì mục đích tuyên truyền nên phải bị phá hủy sau khi cơ chế chính trị tồn tại nhờ tuyên truyền và khủng bố sụp đổ. Như hai tác giả W. Logan và K Reeves viết trong tác phẩm biên khảo Những nơi đau nhức và nhục nhã, đương đầu với một “gia tài nan giải” (Places of pain and shame: dealing with “difficult heritage”), chế độ CS sụp đổ để lại những tượng đài như một gia tài không ai muốn nhận.

Chính sách “Tuyên truyền Tượng đài” dù đã chấm dứt trên quê hương của tác giả nó tròn một phần tư thế kỷ nhưng chất độc tư tưởng vẫn còn gieo rắc lên các thế hệ Việt Nam cho đến hôm nay. Tiền bạc của cải dù thiếu thốn bao nhiêu cũng có ngày làm lại được, tương tự, các phương tiện khoa học kỹ thuật dù tiên tiến bao nhiêu cũng có thể học được nhưng giá trị văn hóa dân tộc rất khó phục hưng. Cuộc tranh đấu để chống lại các tư tưởng CS ngoại lai, vong bản, vì thế, là một cuộc đấu tranh đầy khó khăn, đòi hỏi nhiều hy sinh, kiên nhẫn và phải bắt đầu ngay hôm nay chứ không phải đợi đến khi chế độ CS sụp đổ.

Trần Trung Đạo

danlambaovn.blogspot.com

CẢM NGHIỆM ƠN CHÚA

CẢM NGHIỆM ƠN CHÚA

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

Nếu có ai hỏi: Làm thế nào để tiến bộ trên đường đạo đức, thay đổi nếp sống cũ, biết dấn thân mến Chúa yêu người hơn?  Tôi xin thưa: điều quan trọng nhất khởi đầu cho một nếp sống mới là: cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa trong đời mình.  Khi đã nhận biết mình được Thiên Chúa yêu thương, ta sẽ không thể làm điều gì khác hơn là mong muốn đáp lại tình yêu ấy.

Tình yêu kêu gọi tình yêu.  Tình yêu đáp trả tình yêu.  Chúa Thánh Thần, nguồn tình yêu của Thiên Chúa, sẽ giúp ta nhận biết tình yêu Thiên Chúa và soi sáng thúc giục ta đáp lại tình yêu ấy.

Sau khi Đức Mẹ ngoan ngoãn nói lên lời “xin vâng”, Chúa Thánh Thần xuống tràn đầy tâm hồn Đức Mẹ.  Đức Mẹ mở rộng tâm hồn đón nhận và để mặc Người hướng dẫn cuộc đời mình.  Từ đây, cuộc đời Đức Mẹ hoàn toàn biến đổi.  Đức Mẹ trở nên một dụng cụ ngoan ngoãn trong tay Chúa Thánh Thần, hiến dâng trọn vẹn tâm hồn và thân xác để đáp lại tình yêu vô biên của Thiên Chúa.

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy những tác động của Chúa Thánh Thần trên Đức Mẹ.

Tác động thứ nhất: sự vội vã.

Vội vã đây không phải là sự vội vàng hấp tấp.  Cũng không phải là nôn nóng lo âu.  Sự vội vã ở đây có nghĩa là sự nhiệt tình hăng hái.  Cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa trong tâm hồn, Đức Mẹ mau mắn, tha thiết muốn đáp trả.  Nếp sống của cô thôn nữ Maria đã thay đổi.  Từ một thôn nữ dịu dàng, sống êm đềm trong cuộc đời bình dị, Đức Mẹ giờ đây trở nên linh hoạt, nhanh nhẹn, hăng hái đền đáp lại Tình Chúa Yêu Thương.  Từ một thôn nữ vui với công việc nội trợ, khép mình trong làng xóm, Đức Mẹ đã mở cửa ra đi.  Sự mở cửa ra đi làm ta nhớ tới tác động của Chúa Thánh Thần trên các Tông đồ.

Tác động thứ hai: tâm tình tạ ơn.

Cảm nghiệm được tình Chúa thương yêu, lòng Đức Mẹ tràn đầy niềm cảm mến biết ơn.  Niềm tri ân cảm tạ đầy ứ trong lòng chỉ chờ dịp tuôn ra thành lời.  Cảm nghiệm về ơn lành vô biên của Thiên Chúa cũng là cảm nghiệm về sự thấp hèn bất xứng của mình.  Hai cảm nghiệm song song đó càng nâng cao, càng đào sâu niềm tri ân cảm tạ.  Cảm nghiệm ấy đã biến đổi Đức Mẹ, từ một cô gái kín đáo, âm thầm trở nên một thi sĩ, một ca sĩ lớn tiếng ca tụng Tình Yêu Thiên Chúa đối với kẻ nghèo hèn.  Chúa Thánh Thần đã biến Đức Mẹ thành ngòi bút thi sĩ như lời Thánh vịnh: Tim tôi dâng ý thơ tuyệt diệu.  Dệt bài ca dâng tiến Đức Vua.  Lưỡi tôi tựa bút rung vạn điệu.  Trong tay những thi nhân anh tài.  Khi nghe bà Isave chào, Đức Mẹ đã ứng khẩu tán tụng Chúa bằng bài kinh ca ngợi tuyệt diệu.

Tác động thứ ba: thái độ chia sẻ.

Tình yêu Thiên Chúa bao la đã đổ vào tâm hồn Đức Mẹ tràn đầy niềm vui.  Niềm vui thánh thiện và lớn lao đã thúc đẩy Đức Mẹ mau mắn lên đường đi thăm bà Isave.  Đức Mẹ không đến để khoe khoang, nhưng để chia sẻ.  Nhờ Đức Mẹ đến mà bà Isave và thánh Gioan Baotixita được chúc phúc.  Đức Mẹ cũng đến để chúc mừng bà chị họ đã được Chúa đoái thương.  Tâm hồn được Chúa chiếm hữu đã khiến Đức Mẹ trở nên quảng đại và hiệp thông, sẵn sàng chia vui sẻ buồn với những người chung quanh.

Tác động thứ bốn: dấn thân phục vụ.

Niềm tri ân cảm tạ, niềm vui thánh thiện thực sự sẽ không dừng lại ở những bài ca trên môi miệng. Cảm nghiệm về Tình Yêu Thiên Chúa trong trái tim sẽ mau chóng biến thành hành động.  Sự đền đáp tình yêu sẽ thúc đẩy người được yêu dấn thân phục vụ trong những việc làm cụ thể.  Chính vì thế Đức Mẹ đã không ngần ngại ở lại phục vụ bà chị họ trong ba tháng.

Mừng lễ Đức Mẹ lên Trời một cách có ý nghĩa nhất, đó là ta hãy noi gương Đức Mẹ: xin Chúa Thánh Thần đến tràn ngập tâm hồn ta như Người đã đến trong lòng Đức Mẹ, giúp ta cảm nghiệm được những ơn lành Chúa ban và giúp ta mau mắn đáp lại tình yêu thương đó.

Xin Đức Mẹ giúp chúng con biết ngoan ngoãn vâng theo ơn Chúa Thánh Thần soi sáng: để vội và ra đi, để hân hoan tạ ơn, để quảng đại chia sẻ và để dấn thân phục vụ anh em. Amen.

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

Xây dựng và sụp đổ

Xây dựng và sụp đổ

Nguyễn Đình Cống

Từ xưa đến nay việc xây dựng công trình hoành tráng có thể làm cho chủ đầu tư phát triển rực rỡ hoặc sụp đổ. Để đạt được sự phát triển thì phải có đủ cả hai điều kiện quan trọng là cơ sở kinh tế vững chắc và lòng người phấn khởi. Thiếu một trong hai, đặc biệt là thiếu cả hai, mà cứ cố xây dựng công trình hoành tráng vì duy ý chí, vì để lợi dụng một việc nào đó thì có nhiều khả năng bị sụp đổ. Không chỉ sụp đổ công trình mà sụp đổ cả sự nghiệp đến mức nước mất, nhà tan. Xin kể vài thí dụ: Nhà Tần ở Trung Quốc, sau khi thống nhất đất nước, tưởng sẽ thống trị thiên hạ lâu dài, không ngờ bị sụp đổ chỉ sau vài chục năm. Một trong những nguyên nhân làm thiên hạ chán ghét, chống lại là do nhà vua ra sức bóc lột và đàn áp nhân dân để xây cung A Phòng, một công trình hết sức hoành tráng. Vua Suryavarman xây dựng đền đài Angkor từ thế kỷ 12, làm cho đất nước Campuchia suy kiệt đến mức kinh thành bị bỏ hoang phế mấy trăm năm, nhân dân lầm than, đói khổ. Các vua Chămpa quá mê say xây dựng cung điện, nhân dân bị huy động kiệt quệ cả lực lượng và tài sản, dẫn đến sự mất nước Chiêm Thành.

Trong lịch sử Việt Nam, các đời Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê đều xây dựng cung điện một cách vừa phải. Sự khai quật Hoàng thành Thăng Long phát hiện ra di chỉ đời sau chồng lên di chỉ đời trước. Điều đó chứng tỏ: 1- Công trình đời trước chẳng có gì đáng giá để lại cho đời sau. 2- Đời sau không tiếp nhận và phát huy được công trình đời trước mà phá hủy gần hết để xây chồng lên (tôi biết nhiều người rất tự hào về di tích Hoàng thành nhưng không biết tự hào vì nỗi gì).

Vào thời Lê – Trịnh, vua Lê Tương Dực muốn xây Cửu Trùng Đài, một công trình hoành tráng, định để lại di tích cho hậu thế. Cửu Trùng Đài do kiến trúc sư Vũ Như Tô thiết kế và chỉ đạo thi công. Việc xây dựng đó đã vắt kiệt sức dân, hàng chục vạn người phải lao dịch trong đói rách, hàng ngàn người bị bỏ mạng vì tai nạn, ốm đau, bị đánh đập. Công trình đang thi công nửa chừng (theo giá bây giờ thì có lẽ đã tiêu tốn hàng ngàn tỷ) thì bị Trịnh Duy Sản chỉ huy binh lính và nhân dân phá bỏ (chính những người đang xây dựng đã quay lại đập phá), giết chết Lê Tương Dực. Vũ Như Tô cũng bị chém chết trong vụ này. Việc này gây ra hai luồng ý kiến trái ngược nhau, người hoan hô, kẻ tiếc nuối. Sau này nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã than thở “Cửu Trùng Đài không thành nên mừng hay nên tiếc. Tháp người Hời nguyên là giống Angkor…” (người Hời là người Chiêm Thành cổ). Tháp người Hời vốn giống với Angkor về kiến trúc. Angkor làm dân Campuchia kiệt quệ trong lịch sử (và hiện tại mang lại lợi trong du lịch), còn tháp người Hời mang lại sự sụp đổ của đế chế, sự mất nước của Chiêm Thành.

Gần đây Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam lại đang say sưa xây dựng nhiều công trình hoành tráng, không giống Cửu Trùng Đài, không giống Angkor, mà là các nhà bảo tàng, các tượng đài, các văn miếu. Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Hà Nội xây nhà bảo tàng hết trên 2300 tỷ (giá năm 2010, quy ra giá năm 2015 có thể gần 3000 tỷ). Một ngôi nhà mà giá thành phần xây dựng tính trên mỗi mét vuông sàn là đắt nhất thế giới. Tôi ước tính công trình này bị thất thoát và lãng phí gần 50%. Xây xong rồi, nó không những biến thành “Chùa Bà Đanh mới” mà còn tốn thêm nhiều tiền để duy tu và bảo vệ. Các công trình hoành tráng giá hàng trăm, hàng ngàn tỷ được xây dựng vội vàng với chất lượng thấp rất dễ dàng mang lại món lợi to lớn cho nhiều quan chức là người có quyền trong việc đề xuất và xét duyệt dự án và mang lại sự sụp đổ cho bản thân công trình, cho những người thực sự bỏ tiền ra để xây dựng, đó là những người dân đóng thuế. Xét cho cùng thì nhân dân mới là chủ đầu tư thật sự. Lợi ích từ rút ruột dự án thì quan chức hưởng còn sự sụp đổ thì nhân dân chịu.

Trong “LỜI TUYÊN BỐ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ CÔNG DÂN VỀ NHỮNG DỰ ÁN TƯỢNG ĐÀI TRĂM TỶ, NGÀN TỶ” đã chỉ ra sự xây dựng những công trình hoành tráng này thiếu cả hai điều kiện quan trọng là lòng dân và cơ sở kinh tế, vì vậy sự sụp đổ một cái gì đấy là điều khó tránh.

Ngoài việc tham gia ký tên và vận động bạn bè ký tên vào LỜI TUYÊN BỐ nói trên, tôi viết bài này mong thức tỉnh thêm những người lãnh đạo, có chức quyền ở các địa phương và trung ương, chớ vì món lợi được chia chác vài phần trăm đến vài chục phần trăm giá cuả dự án mà bán rẻ lương tâm cho quỷ dữ, để lại tội ác và tiếng xấu nhiều đời.

N. Đ. C.

Từ Bún Mắng đến Cháo Chửi

Từ Bún Mắng đến Cháo Chửi

Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Một ông khách thấy cửa hàng quảng cáo bán con chim nói được nhiều thứ tiếng, bèn thử hỏi chim bằng tiếng Pháp: “Comment allez-vous? Con chim vui vẻ đáp: “Ça va bien, merci.” Hỏi tiếp bằng tiếng Tây Ban Nha: “Como estas?” Trả lời ngay: “Muy bien!” Chuyển sang tiếng Anh: “How are you?” Chim nghiêng đầu lễ độ: “I’m fine, thank you!” Thích quá, ông khách nói tiếng Việt: “Khoẻ không?” Con chim gắt: “Đ.M. Hỏi gì hỏi mãi, sốt cả ruột!” Ông khách gật đầu khen: Nói thế mới là tiếng Việt.

Văn hào Dostoyevsky từng viết rằng một chữ trong tiếng Nga có thể diễn tả tất cả các tình tự của con người, ông xin lỗi không viết chữ đó ra, nhưng người Nga ai cũng đoán được.* Trong tiếng Việt cũng như  lúc mừng rỡ bất ngờ. Quý vị cũng đoán được tiếng nào rồi. Đó là một “bộ phận hữu cơ” của tiếng Việt chúng ta, tuy không cần dùng mỗi ngày nhưng không thể thiếu được. Bởi vì nhiều lúc không dùng thì không có tiếng nào khác tương xứng!

Gần đây, ông Lê Hồng Sơn mới ra chỉ thị cấm dân Hà Nội không được văng tục, chửi rủa, mắng mỏ nhau nơi công cộng. Nghĩa là không ai được nói năng một cách tự nhiên, vô tư thoải mãi nữa! Ông phó chủ tịch thành phố ra lệnh Sở Văn Hóa, Thông Tin, Du Lịch, Sở Giáo Dục và Đào Tạo, cùng với tất cả các quận, huyện, thị xã dưới quyền ông, phải “kiểm tra, xem xét, có biện pháp xử lý nhằm hạn chế cao” những hành vi mà ông gọi là “thiếu văn hóa.” Khi nghe tin lệnh trên được ban hành, bà Thảo, chủ nhân quán “bún mắng” ở Hà Nội nói: “Việc kiểm tra, xử lý thế nào tôi không biết! Chắc tôi sẽ không thay đổi!”

Muốn bà Thảo thay đổi, chắc ông Lê Hồng Sơn phải làm theo lối đồng chí Vladimir Putin, cựu sĩ quan công an KGB đang làm tổng thống nước Nga: Phạt tiền! Tháng Năm năm 2015 ông Putin đã ban luật cấm không được văng tục,  chửi thề trên báo, đài, phim ảnh, trong các sách in. Ai chửi mắng ngoài phố nếu bắt được sẽ phải nộp 2,500 đồng rúp tiền phạt (tương đương hơn 70 Mỹ kim). Các công ty phạm luật sẽ bị phạt 50 ngàn rúp. Các cuốn sách có lời lẽ thô tục sẽ phải để trong bao niêm kín, ai muốn nghe chửi bới phải bỏ tiền mua mới được mở bao lấy sách ra coi. Dân Nga cảm ơn ông Putin nhân đạo hơn các đồng chí cộng sản thời xưa. Thời Stalin, chỉ cần bị tình nghi viết những lời cấm kỵ thôi một tác giả cũng được bỏ vào bao niêm kín, không mở ra được. Đầu tháng Tám, luật Putin bắt đầu áp dụng cho các bloggers, chắc ông Lê Hồng Sơn sẽ theo gót.

Ông Lê Hồng Sơn phải ra lệnh “kiểm tra, xem xét, xử lý” chắc vì dân ngoài phố chửi  mắng hồ hởi quá. Có một quán “bún mắng” tại phố Ngô Sĩ Liên, một  quán “cháo chửi” tại  phố Lý Quốc  Sư. Những quán đó rất đông khách, dù  các bà chủ luôn mắng mỏ. Một bà đón khách như thế này: “Ăn bún gì? Tìm chỗ mà ngồi đi!” Hoặc, “Ăn xong rồi thì biến!” Một bà khác quở khách như con cháu trong nhà: “Nói gì mà nói lắm thế! Không ăn thì biến!” Hoặc là: “Hết cháo rồi! Đi đi!” Đó là những tiếng mắng mỏ được các bloggers thuật trên mạng, chắc chắn đã được sàng lọc cho nhẹ bớt 50%, thuật ngữ hàng chợ đã “chích ngừa” cả rồi. Muốn đạt được các danh hiệu “cháo chửi” và “bún mắng” thì chắc ngôn ngữ các cụ dùng phải đổ thêm rất nhiều mắm muối, ớt, tiêu, hành, tỏi hơn.

Văng tục, chửi thề đã thành nếp sống từ 70 năm qua, từ ngày dân Hà Nội được đảng “lãnh đạo.” Dạo một vòng 36 phố phường là được nghe liên tấu khúc các tiếng mắng, tiếng chửi, mới và cũ, phong kiến thực dân đến xã hội chủ nghĩa. Không riêng trên đường phố, trong trường học cũng vậy. Người Hà Nội vẫn kể một câu chuyện có ông thanh tra yêu cầu thầy giáo cấm học trò không được văng tục trong lớp. Thầy trả lời: “Vẫn cấm đấy chứ, nhưng cấm đ… được!” Sở Giáo Dục & Đào Tạo thành phố Hà Nội có thể sẽ báo cáo lên ông Lê Hồng Sơn rằng họ muốn “kiểm tra, xem xét, xử lý” nhưng cấm… không được!

Những luật lệ của ông Putin hay của ông Lê Hồng Sơn chắc sẽ không có hiệu quả. Cứ coi thí dụ, các thành phố Sài Gòn và Hà Nội đều nghiêm cấm phóng uế nơi công cộng, cấm xả rác ngoài đường, bao năm nay có cấm được ai không? Đảng vẫn hô hào chống tham nhũng, chống hối lộ, đi tới đâu chưa?

Văng tục là một hiện tượng bình thường trong tất cả các xã hội. Hai nhà tâm lý học Timothy Jay và Kristin Janschewitz cho biết trong tiếng Anh có mươi tiếng chửi thề rất thông dụng. Mỗi ngày một người Anh cứ nói 20 tiếng thì một tiếng nằm trong danh sách đó. Một cuộc nghiên cứu ở Anh quốc cho biết chỉ có 10% người lớn không bao giờ chửi thề. Số người thú nhận họ chửi thề thường xuyên là 90% đàn ông và 83% phụ nữ. Chửi thề, văng tục là một “phương pháp thư dãn tinh thần.” Chửi xong rồi, người ta bớt giận, bớt uất ức, quay sang chuyện khác. Mấy nhà nghiên cứu đã ghi chép 10,000 lần nghe các tiếng chửi thề, người lớn cũng như trẻ con, và họ công nhận một điều: Chửi xong, người ta trở thành hiền lành hơn, không tính chuyện đánh lộn nữa!

Nhưng tại sao người ta cần chửi thề, cần mắng mỏ? Một nhà nhân học, Ashley Montague viết cuốn Nghiên cứu Hiện tượng Chửi Thề, The Anatomy of Swearing, in năm 1967, nhận xét rằng những tiếng chửi mắng, dù không nhắm vào ai hết, đều phát lên vì những bực bội, uất ức đối với xã hội chung quanh. Văng tục là để giải tỏa một tâm trạng bất bình vẫn bị che giấu, bị kiềm chế, đè nén trong lòng.

Những lãnh tụ cộng sản đều thuộc dòng họ Nghiêm Văn Túc, cho nên không nhìn ra, hoặc không chấp nhận lối giải thích đó. Leon Trotsky, người sáng lập Hồng quân Liên xô, năm 1923 viết rằng chửi thề là phi nhân bản, là di sản của chế độ nô lệ, không thể chấp nhận dưới chế độ xã hội chủ nghĩa đỉnh cao tiến bộ loài người! Nhưng sau năm 1975 những đồng bào miền Bắc vào Nam ai cũng thấy một điều: Trẻ em miền Nam không văng tục, chửi bới thản nhiên, vô tư và năng nổ như trẻ em miền Bắc! Nếu Trotsky sống lại, ông sẽ phải công nhận rằng một chế độ nô lệ hóa con người thì tất nhiên cũng khiến người ta phải chửi thề, văng tục nhiều hơn, thường xuyên hơn. Văng tục là một cách “phản đối bất bạo động” khi đứng trước cường quyền. Nhất là khi chế độ cường quyền đó lại cố giữ cái mặt nạ đạo đức giả! Trong các ngôn ngữ Tây Âu, những tiếng văng tục nặng nề nhất đều nhắm xúc phạm các vị thần thánh.

Các quán “bún mắng” “cháo chửi” ở Hà Nội là một hiện tượng bình thường. Nó có vai trò “trị liệu,” giảm bớt những nỗi tức bưc trong lòng nói ra không được. Ở nước Mỹ thiếu hẳn loại quán ăn mắng chửi, cho nên ti vi họ phải bầy ra. Trong chương trình Seinfeld nổi tiếng kéo dài hàng chục năm vẫn ăn khách, người ta đã phải bày ra một quán “súp mắng.” Chủ quán cứ mắng khách hàng như tát nước vào mặt, có khi chỉ tay vào một người đang xếp hàng, quát: “Biến đi!” Người bị đuổi phải nhờ bạn bè xếp hàng mua “cháo” cho mình ăn! Họ gọi nó là “Quán Nazi!”

Ông Lê Hồng Sơn không thể cấm, mà chắc lệnh cấm của ông cũng không làm cho các quán Bún Mắng, Cháo Chửi ngưng hoạt động! Bởi vì “phàm vật bất bình tắc minh,” người dân biết giải tỏa những nỗi uất ức bằng  cách nào khác ngoài cách chửi thề?

Chú thích: *Nhiều người giải thích chữ Nga mà Dostoyevsky nhắc tới đọc là “khuy!”

Cậu bé lớp 8 đòi làm thay việc của Bộ trưởng Giáo dục

Cậu bé lớp 8 đòi làm thay việc của Bộ trưởng Giáo dục


Em Vũ Thạch Tường Minh phát biểu trong buổi hội thảo ra mắt sách Văn và Tiếng Việt lớp 6 của nhóm Cánh Buồm tại Hà Nội hôm 12/8. (Ảnh chụp từ clip trên youTube).

Em Vũ Thạch Tường Minh phát biểu trong buổi hội thảo ra mắt sách Văn và Tiếng Việt lớp 6 của nhóm Cánh Buồm tại Hà Nội hôm 12/8. (Ảnh chụp từ clip trên youTube).

Khánh An-VOA

14.08.2015

Phát biểu của một cậu bé lớp 8 trong buổi hội thảo ra mắt sách Văn và Tiếng Việt lớp 6 của nhóm  tại Hà Nội hôm qua (12/8) đã được lan truyền nhanh chóng trên mạng xã hội. Nhiều người gọi cậu bé là ‘Bộ trưởng Giáo dục tương lai’ của Việt Nam. Cậu bé đã nói gì? Tại sao có nhiều người tỏ ra đồng tình với nhận định của cậu bé đến thế? Khánh An tìm hiểu thêm chi tiết.

Nhấp vào để nghe phần âm thanh

Đoạn ghi âm được đăng tải lên mạng Youtube về buổi hội thảo ra mắt sách Văn và Tiếng việt lớp 6 của nhóm Cánh Buồm hôm 12/8, trong phần đặt câu hỏi, một học sinh đã đứng lên phát biểu như sau:

“Một điều mà con muốn nói với chính phủ Việt Nam, hay cụ thể hơn là Bộ Giáo dục, theo con, các vị bộ trưởng, thứ trưởng giáo dục không phải là nên áp dụng cả bộ sách này, mà là áp dụng cái lối giáo dục của bộ sách này vào giáo dục Việt Nam, bởi vì bây giờ giáo dục Việt Nam con thấy là, con không có tính từ nào khác nên con phải dùng tính từ này, là giáo dục Việt Nam bây giờ con thấy là quá ‘thối nát’ rồi. Mà suốt bao năm qua các vị cải đi, cải lại, cải tiến, cải lùi mà nó vẫn không thay đổi được kết quả gì cả. Nên bây giờ con muốn các vị bộ trưởng, thứ trưởng hãy thay đổi đường lối giáo dục của Việt Nam, có thể theo đường lối của Cánh Buồm cũng được, các vị có thể thay cả bộ sách giáo khoa cũng được. Các vị có thể nói là mất thời gian, nhưng con thấy là thời gian các vị cải tiến, cải lùi còn mất thời gian hơn. Giáo dục Việt Nam không cần cải cách gì nữa, giáo dục Việt Nam cần được cách mạng. Đó mới là điều các vị trong Bộ Giáo dục nên làm. Còn nếu bây giờ các vị không làm thì đến khi nào con thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục con sẽ làm”.

Giáo dục Việt Nam không cần cải cách gì nữa, giáo dục Việt Nam cần được cách mạng. Đó mới là điều các vị trong Bộ Giáo dục nên làm. Còn nếu bây giờ các vị không làm thì đến khi nào con thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục con sẽ làm.

Em Vũ Thạch Tường Minh, học sinh trường chuyên Amsterdam, nói.

Nhà giáo Phạm Toàn, người lập ra nhóm Cánh Buồm, một nhóm gồm nhiều nhà khoa học hoạt động độc lập đang làm công việc soạn thảo lại các bộ sách giáo khoa mới nhằm góp phần cách tân giáo dục theo phương pháp hiện đại, gọi phát biểu của em Vũ Thạch Tường Minh, học sinh trường chuyên Amsterdam, là một dạng “trưng cầu dân ý”.

“Những ý kiến của cậu bé bột phát một cách hồn nhiên, tức là một thứ ‘trưng cầu dân ý’ bột phát đấy. Xưa nay người ta vẫn nghĩ những đứa bé học ở những trường chuyên, lớp chọn như thế thì không có ý kiến gì về việc học nữa vì nó thỏa mãn rồi. Thế mà cậu bé này không thỏa mãn. Thứ hai nữa là cậu bé này đã nhìn ra không phải chỉ cho nó, rất nhiều trường chuyên lớp chọn khi học sinh vào đấy là tự thỏa mãn cuộc đời mình, cậu bé này vẫn nhìn ra xã hội nữa, phải nhìn ra xã hội thì mới thấy được ý nghĩa của bộ sách mà nhóm Cánh Buồm làm. Khi nào người ta hồn nhiên và không bị điều khiển bởi một động lực ngoài ý nghĩa giáo dục, ngoài sự học của con người, thì người ta đồng ý với nhóm Cánh Buồm. Nếu người ta nghĩ đến những thứ khác như uy tín, danh giá, tiền, quyền lợi…, thì người ta sẽ tự ái”.

Suy nghĩ của cậu bé không những được tán dương trong buổi hội thảo mà còn được chia sẻ rất nhiều trên mạng xã hội. Nhiều người nhận xét cậu bé có nhận thức chững chạc hơn rất nhiều người lớn, thậm chí có người đề nghị cho cậu làm thay công việc của Bộ Giáo Dục để con em họ được nhờ.

Nhà giáo Phạm Toàn và các em học sinh.

Nhà giáo Phạm Toàn và các em học sinh.

Nhà giáo Phạm Toàn cho rằng cậu bé đã nói thay nguyện vọng của nhiều người.

“Nguyện vọng của người dân là người ta muốn có một nền học vấn khác, nhưng đấy không phải là tất cả số đông người dân. Số đông người dân vẫn đang chịu sự ép dàn mỏng ra của ý thức hệ, của thói quen của nhà cầm quyền và thỏa mãn với bất kỳ cái gì của nhà nước đề ra”.

Nhà giáo Phạm Toàn nhận xét thái độ của đại đa số người dân Việt Nam vẫn là tìm cách thích nghi với hoàn cảnh hơn là thay đổi nó, một số người khác thậm chí còn tìm cách kiếm lợi trên những hoàn cảnh đó. Ông nói:

“Quan trọng nhất là những người hiểu biết, những nhà sư phạm phải tìm con đường càng ngày càng phải đúng hơn cả. Nếu cứ cắm cúi làm theo cách cũ thì sẽ làm tan hoang cả một tâm hồn dân tộc”.

Bây giờ giáo dục Việt Nam con thấy là, con không có tính từ nào khác nên con phải dùng tính từ này, là giáo dục Việt Nam bây giờ con thấy là quá ‘thối nát’ rồi. Mà suốt bao năm qua các vị cải đi, cải lại, cải tiến, cải lùi mà nó vẫn không thay đổi được kết quả gì cả. Nên bây giờ con muốn các vị bộ trưởng, thứ trưởng hãy thay đổi đường lối giáo dục của Việt Nam

Cậu bé lớp 8, Vũ Thạch Tường Minh, phát biểu.

Thực trạng của nền giáo dục Việt Nam lâu nay vẫn bị xã hội lên án vì những bất cập, lạc hậu, giáo điều và thiếu thực tế. Rất nhiều sáng kiến, cải cách đã được đưa ra những không cải thiện được tình trạng này nên nhiều người dân Việt Nam đã gọi đùa những “cải tiến” là “cải lùi”.

Chỉ riêng trong các bộ sách giáo khoa hiện hành thôi, đã có rất nhiều lỗi nghiêm trọng bị người dân phát hiện ra trong thời gian qua. Theo báo Đời sống & Pháp luật, chỉ tính riêng trong năm 2013 đã có 5 trường hợp sách giáo khoa, sách tham khảo bị phát hiện có in cờ Trung Quốc với “đường lưỡi bò 9 đoạn”.

Soạn lại bộ sách giáo khoa đúng đắn, nghiêm chỉnh cho các cấp bậc là mục tiêu chính của nhóm Cánh Buồm. Nhà giáo Phạm Toàn cho biết các thành viên của nhóm gặp nhau ở tâm huyết, lý tưởng dành cho nền giáo dục nước nhà, chứ không theo một tổ chức nào. Mọi người đều có công việc riêng để kiếm sống và việc soạn sách chỉ là tình nguyện.

Những nỗ lực của nhóm Cánh Buồm đôi khi cũng gặp phải sự phản kháng từ phía cơ quan chức năng, nhưng có một trường tiểu học đã chấp nhận áp dụng thực nghiệm bộ sách. Chỉ trong một năm, số lượng học sinh lớp 1 xin vào trường đã tăng lên gấp đôi, mặc dù học phí của trường này khá cao so với mặt bằng chung. Nhà giáo Phạm Toàn cho biết nhóm không có ý định ‘chạy chọt’ hay ‘vận động’ cho việc sử dụng sách rộng rãi, mà nhóm dành quyền lựa chọn đó cho chính người dân Việt Nam.

Thực trạng của nền giáo dục Việt Nam lâu nay vẫn bị xã hội lên án vì những bất cập, lạc hậu, giáo điều và thiếu thực tế. Rất nhiều sáng kiến, cải cách đã được đưa ra những không cải thiện được tình trạng này nên nhiều người dân Việt Nam đã gọi đùa những ‘cải tiến’ là ‘cải lùi’.

Nhà giáo Phạm Toàn nhận xét.

“Chúng tôi chỉ cần làm đúng đã, chúng tôi không cầu cạnh để thắng lợi vì chạy vạy, lobby này khác thì có thể có lợi nhưng về lâu về dài thì không có lợi. Chúng tôi cứ để thế này cho xã hội chọn lọc. Nếu Bộ Giáo dục chưa thừa nhận thì họ cũng phải cảnh giác khi họ làm những sản phẩm mới. Họ phải làm thế nào để họ không thua. Chứ còn [chúng tôi] không lobby, dứt khoát không lobby!”.

Với hơn 10 năm làm việc nghiêm túc, nhóm đã hoàn thành bộ Sách giáo khoa tiểu học và cho ra mắt bộ sách này hôm 12/8. Bộ sách có sự tham gia của nhiều soạn giả nổi tiếng và được thông qua một ban duyệt bản thảo gồm nhiều nhà nghiên cứu, giáo sư, tiến sĩ. Nhóm đang bắt tay thực hiện bộ sách dành cho lớp 6 trở lên, ngoài hai cuốn Tiếng Việt và Văn lớp 6 còn có hai cuốn Tự học Tiếng Việt và Tự học Văn. Đặc điểm của sách giáo khoa của nhóm Cánh Buồm là có thể sử dụng sách trong lớp học với giáo viên hoặc dành cho học sinh tự học.

httpv://www.youtube.com/watch?v=Jwq9TBYXIYc

“Bộ trưởng Giáo dục tương lai” bức xúc

Tri thiên Mệnh

Tri thiên Mệnh

Sức mạnh của trẻ thơ là tiếng khóc. Sức mạnh của đàn bà là phẩn nộ. Sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí. Sức mạnh của vua chúa là quyền uy. Sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo. Sức mạnh của bậc hiền trí là cảm hóa. Sức mạnh của người đa văn là thẩm sát. Sức mạnh của sa môn là nhẫn nhục .”

Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới xung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ

“Ra đời hai tay trắng. Lìa đời trắng hai tay. Sao mãi nhặt cho đầy. Túi đời như mây bay.”

Thành thật đối diện với mâu thuẫn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình”.

“Sự khác biệt giữa con người là do mức tiến hóa khác nhau qua các kiếp sống. Có khi nào ta thù ghét một kẻ kém ta đâu? Suy luận rằng: “vạn vật đồng nhất”, ta sẵn sàng tha thứ cho kẻ khác, vì họ không hiểu biết, không ý thức hành động của mình, vả lại họ và ta nào có khác nhau đâu. Khi ta hiểu rằng: “nhất bổn tám vạn thù”, ta nhìn vạn vật như chính mình, từ loài người qua loài thú, thảo mộc, kim thạch, và ý thức rằng mọi vật đều có sự sống, đều có Thượng đế ngự ở trong, ta sẽ cởi bỏ thành kiến, mở rộng lòng thương đến muôn loài”.

Là con Phật, nếu không nói được những gì Phật nói, hãy im lặng như chánh pháp, đừng nói những lời ác, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, làm tổn hại kẻ khác, nếu không làm được những gì Phật làm, hãy im lặng và lắng nghe, quán sát, học hỏi những thiện tri thức, đừng vọng động làm những điều thương tổn đến tha nhân”.

Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu. Anh càng nguyền rủa họ, tâm anh càng bị nhiễm ô, anh hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của anh”.

“Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác”.

“Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác. Nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí huệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi.”

Đức Đạt Lai Lạt Ma

Giấc mộng trường sinh

Giấc mộng trường sinh

Tác giả: Lm Vinh Sơn

1V 19,4-8; Ep 4,30 – 5,2; Ga 6,41-52

Tần Thuỷ Hoàng, hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc thời trước công nguyên, người đã truyền xây Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc (dài hơn 2000 dặm =3218 km. Tần Thuỷ Hoàng rất sợ chết, nghe các chiêm tinh kể về dân cư ở một hòn đảo thần tiên ở Biển Đông khám phá ra bí quyết trường sinh, liền phái một tàu thuyền chất đầy châu báu lên đường đi tìm các dân cư của hòn đảo ấy, hy vọng có thể dùng những báu vật để trao đổi lấy bí quyết trường sinh của họ…. Thế nhưng, Tần Thủy Hoàng cũng chết với giấc mộng sống đến muôn đời không bao giờ thực hiện được.

Phương Tây vào thế kỷ 16 sau khi Kha Luân Bố (Christophe Colomb) khám phá Mỹ Châu ít lâu, người ta đồn rằng ở Tân Thế Giới có một ngọn suối trường sinh, nhà thám hiểm người Tây Ban Nha tên là Ponce de Léon… liền sắm thuyền vượt biển sang Nam Mỹ đi tìm con suối huyền thoại thần tiên đó, nhưng đó cũng chỉ là giấc mộng hão huyền …

Chúa Giêsu trong diễn từ Thánh Thể ở Capharnaum nói về cuộc sống vĩnh cửu trường sinh khi Ngài đã tuyên bố: “Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời“ (Ga 6,47), lời hứa của giao ước mới đem lại sự trường sinh bất tử. Ai Tin thì được Thiên Chúa cưu mang trong đời sống mới và được cứu.

Đức tin mà Đức Giêsu rao giảng là một hồng ân của Chúa Cha, như Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Không ai đến được với Ta, nếu Cha là Đấng sai Ta, không lôi kéo người ấy.” (Ga 6,44). “Đức tin“ để nhận ra đức Giêsu là Đấng Messia, là Đấng Cứu Thế, được Thiên Chúa Cha sai đến, vượt trên mọi lý luận của con người. Chính Chúa Giêsu đã quả quyết, hành trình đi đến với Đấng Cứu Thế, là một ân huệ của « Chúa Cha là Đấng sai Ta » . Chúa Cha « lôi kéo » và « giáo hóa » con tim con người: « Ai nghe lời giáo hoá của Cha, thì đến với Ta » (Ga 6,45).  Đức tin là một hồng ân nhưng không của Chúa Cha ban cho những tâm hồn đơn sơ bé mọn, biết mở rộng tâm hồn để lắng nghe và biết để cho Chúa Cha « lôi kéo » và « giáo hóa ». Người Pharisieu thông thái, tự hào, không chịu mở lòng ra đón nhận ơn lôi kéo và giáo hóa của Chúa Cha, nên họ không nhận ra và tin vào Chúa Kitô, chính Ngài đã cầu nguyện cùng Chúa Cha : “con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Lc 10,21).

“Ai tin thì được sống đời đời”: Ai tin vào Đức Giêsu thì sẽ không còn phải chết trong tội nữa, nhưng sẽ được Người ban cho sự sống đời đời, như thánh Phaolô với kinh nghiệm người được Đức tin chiếm hữu, đã quả quyết trong thư Rôma: “Cũng như vì một người duy nhất đã sa ngã (là Adam), mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một người duy nhất (là Đức Giêsu), đã thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống” (Rm 5,18). Đức Tin làm được mọi việc như Đức Kitô đã nói: « Ai có Đức Tin thì làm được mọi việc… » « Dù Đức Tin chỉ bằng hạt cải… » (x. Lc 17,5-6).

Tin thì được sống. Rải rác khắp trang Tin Mừng, nói về sức mạnh của Đức Tin : Người Phụ nữ bị băng huyết cả chục năm với đức tin được chữa khỏi, Như viên đại đội trưởng Rôma với Đức tin của ông đã khiến Chúa làm cho con gái ông sống lại (x. Mt 9,18 -26; Mc 5,21 -43 ; Lc 8,40.55). Người Phụ nữ dân ngoại Canaan có người con bệnh gần chết, dù Chúa thử thách bà, nhưng tâm hồn bà vẫn tin mạnh mẽ vào Ngài, và con bà được chữa lành. (x. Mt 15,21-28 ; Mc 7,24 -30), người bị bệnh phong cùi với lòng tin cũng được khỏi (Mt 8,1-4; Mc 1, 40 -45 ; Lc  5, 12-13 ; 17,11-19)… Người mù thành Giêricô với tất cả niềm tin kêu cầu Chúa và anh được sáng (Mt 20,29 -34; Mc 10,46 -52 ; Lc 18,35-44)…

Người tin Chúa Kitô, người để Chúa Cha lôi kéo và giáo hóa, nhưng tôi sống Tin thật sự, hay là tôi để các thực tại quyền lực trần gian chiếm hữu. Tuy môi miệng tôi tuyên xưng “Tin” Đức Kitô, nhưng con tim và khối óc lại hướng theo tiền bạc, danh lợi, vì nó mà tôi có thể bất chấp tất cả, ghen ghét, hãm hại, chà đạp anh em bạn hữu để được những cái bánh to lợi lọc trần thế. Tâm tư của tôi của bạn như thánh Phaolô đã từng ví von: Chúa của họ là cái bụng tức là mọi sự quyến rủ thấp kém của thế gian (x. Pl 3,19).  Vì thế người sống niềm tin theo lời khuyên dạy của Thánh Phaolô : “Anh em hãy loại ra khỏi anh em tính gay gắt, tức giận, nóng nảy, khoac lác, chửi rủa, cùng mọi thứ độc ác… Anh em hãy ăn ở hiền hậu, thương xót và tha thứ cho nhau.” (Ep 5,31-32). Vâng, đó là sống Đức Tin sâu sắc, như Thánh Tông Đồ Giacôbê xác tín: « Đức tin không có việc làm là đức tin chết ». (Gc 2,17). Thật thế, người tin nhận Chúa Giêsu là Cứu Chúa của mình, chắc chắn cuộc đời của họ, mọi lời nói việc làm, được xây dựng và đặt nền tảng trên đức tin.

Tin vào Chúa Kitô, chứng nghiệm những gì mà Ngài đang rao giảng về Mình và Máu Ngài dâng hiến. Chính trong niềm tin đó, người tin hằng ngày được nuôi dưỡng bằng thịt uống máu của Ngài mang lại sự sống đời đời : « Ta là bánh trường sinh. Ai đến với Ta sẽ không hề đói; ai tin vào Ta sẽ không hề khát » ( Ga 6,35 ). Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống” (Ga 6,51 -52). Cho nên, Bí tích Thánh Thể là Bí tích của đức tin, vì chỉ có lòng tin là con đường duy nhất đưa ta đến bên, và với Bí tích mầu nhiệm thánh này. Cho nên, mỗi thánh lễ, sau truyền phép, khi thừa tác viên của Hội Thánh lập lại lời Chúa Giêsu: “Này là Mình Ta…, Này là Máu Ta…” bánh và rượu ngay lúc đó trở thành Mình Máu Chúa. Giáo Hội hoàn toàn xác tín: “Đây là mầu nhiệm đức tin”.

Trong đức tin, sống kết hiệp với Thiên Chúa qua Bí tích Thánh Thể, cuộc đời con người sẽ trở thành tràn ngập hồng ân, chính lúc đó, chúng ta mới cảm nghiệm được sấu sắc lời của Thánh Augustinô đã nói như sau: “Có đức tin là tin những gì chúng ta không thấy và phần thưởng của đức tin là thấy những gì chúng ta tin”.

Thật chí lý khi Victor Hugo nói:

“Đức tin cần thiết cho con người. Thật thống khổ cho ai không tin”.

Lm. Vinh Sơn, Sài Gòn 08/08/2015

Tình Mẫu Tử Bao La

Tình Mẫu Tử Bao La

Trước đệ nhất thế chiến 1914-1918, các xứ đạo tại Đức mở Tuần Đại Phúc.

Image result for duc me maria

Năm đó, một giáo xứ của giáo phận Aachen (Tây Đức), cũng mở Tuần Đại Phúc. Dịp này, Cha Sở mời Linh Mục Thừa Sai đến nói chuyện với giáo dân. Thánh đường chật ních tín hữu. Bổn đạo im lặng hướng mắt về tòa giảng. Vị Linh Mục Thừa Sai trạc ngũ tuần. Cha bắt đầu bài giảng như sau:

Một bà mẹ đau nặng gần chết. Tất cả con cái tề tựu quanh giường người hấp hối. Chỉ thiếu mặt người con út, đứa con trai hoang đàng. Đây là đứa con nhận lãnh nhiều tình thương nhất. Đáp lại, anh gây cho mẹ nhiều sầu khổ và đổ không biết bao giọt nước mắt. Giờ sau cùng đến, nhưng quí tử của bà đang bị giam tù, vì các tội ác của chàng. Dầu vậy người mẹ vẫn không quên đứa con út. Bà ao ước nhìn mặt con lần cuối. Các người con khác cố gắng thực hiện mong muốn của mẹ. Họ xin phép đặc biệt cho người em về thăm mẹ.

Phép xin được chấp thuận. Hai tay bị còng, đứa con út được bốn quân nhân hộ tống đưa đến cạnh giường người mẹ. Bà đã quá yếu. Bà không còn hơi để nói với con trai lời nào, dù chỉ một lời duy nhất. Nhưng tâm trí bà vẫn tĩnh táo. Bà chăm chú nhìn con yêu dấu lần cuối. Chỉ có thế. Chàng trai lại được bốn người lính đưa về nhà tù. Nhưng phép lạ đã xảy ra sau đó. Ánh mắt vừa sầu khổ, vừa yêu thương trìu mến của mẹ hiền có giá trị hơn ngàn lời sửa dạy trách mắng.

Một mình trong phòng giam chật hẹp, chàng quỳ gối nức nở khóc. Chàng hồi tâm về tất cả tội lỗi đã phạm. Chàng cũng bắt đầu cầu nguyện, van xin THIÊN CHÚA đoái thương tha thứ cho chàng. Sau đó chàng xin gặp Cha Tuyên Úy, vị Linh Mục mà trước đó không bao giờ chàng muốn thấy mặt, hoặc nghe nói đến tên. Chàng khiêm tốn xưng tội và thật lòng ăn năn thống hối.. Từ đó cuộc đời chàng biến đổi hẳn. Ơn thánh hoạt động và tìm được thửa đất tốt để nẩy mầm rồi sinh hoa kết trái.

Mãn hạn tù, người con trai hoang đàng trở lại gia đình và trường học. Xong bậc trung học chàng xin vào chủng viện. Mấy năm sau chàng được thụ phong Linh Mục. Nhưng vị tân Linh Mục không ngừng lại ở đó. Cha tình nguyện đi truyền giáo tại một xứ đạo nghèo bên Phi Châu…

Nói đến đây, vị Thừa Sai ngừng lại. Cha đưa mắt nhìn mọi người rồi chậm rãi nói:

– Anh chị em có biết chàng trai hoang đàng trở thành Linh Mục đó là ai không? Thưa chính tôi đây!

Bài giảng tiếp tục. Nhưng phần đầu đã gây tác động mạnh trên tâm lòng các anh chị em tín hữu có mặt trong nhà thờ hôm ấy…….

Câu chuyện xảy ra cách đây hơn 90 năm và vị Linh Mục đã là người thiên cổ. Câu chuyện thứ hai của vị Linh Mục vẫn còn sống: Cha Mansour Labaky, người Liban. Cha cộng tác với hai văn phòng chuyên giúp đỡ các trẻ bụi đời ở Paris, thủ đô nước Pháp. Cha nói về hiền mẫu trong công trình đưa Cha đến thiên chức Linh Mục như sau.

Năm đó tôi vừa xong bậc tiểu học. Tôi thưa với mẹ về ước muốn trở thành Linh Mục và xin phép mẹ gia nhập chủng viện. Mẹ vui mừng lắng nghe tôi trình bày. Mẹ tôi cảm động nói:

– Mẹ sẽ đồng hành với con trong thời gian con chuẩn bị tiến lên chức vụ Linh Mục.

Mẹ tôi chỉ nói có thế.

Thời gian trôi qua. Một tháng trước ngày tôi thụ phong Linh Mục, mẹ tôi chỉ cho tôi bình lúa mì và nói:

– Con yêu dấu, kể từ giây phút con chính thức báo tin muốn trở thành Linh Mục, mẹ quyết định sẽ dâng nhiều hy sinh để cầu xin Chúa giữ gìn con trung thành với ơn gọi. Mỗi lần làm một hy sinh, mẹ bỏ vào bình một hột lúa mì. Tất cả hạt lúa mì sẽ được xay, rồi tán nhuyễn thành bột và đúc thành chiếc bánh lễ, để con thánh hiến, trong ngày con dâng lên THIÊN CHÚA Thánh Lễ đầu tay. Con hãy nhận các hạt lúa mì này, ghi dấu tình mẹ thương con và cộng tác với con. Bao lâu Chúa cho mẹ còn sống, mẹ sẽ tiếp tục hợp tác với chức vụ Linh Mục của con, bằng những hy sinh trong cuộc đời khiêm tốn thường ngày của mẹ.

(“IL SEME”, 12/1990, trang 21 – Radio Vatican)

Lạy Chúa, Chúa đã gởi con đến với đời qua đôi dòng sữa một người mẹ, xin gìn giữ mẹ lúc người còn sống, xin dủ lòng xót thương khi người đã khuất núi. Xin cho những đứa con còn mẹ hôm nay luôn biết trân quý món quà vô giá đó. Xin cho những người con mất mẹ biết tìm chỗ tựa nương ủi an bên Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa. Amen

Đảng lên gân: không đa nguyên chính trị

Đảng lên gân: không đa nguyên chính trị

Nam Nguyên, RFA
2015-08-11

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cảnh báo về các thông tin đa nguyên đa đảng Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

nguyenphutrong-600.jpg

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Đại hội lần thứ 10 Hội Nhà báo Việt Nam ở Hà Nội hôm 9/8/2015.

Courtesy of CPV online newspaper

Tại Đại hội lần thứ 10 Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức ở Hà Nội, hôm 9/8/2015 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo truyền thông báo chí nhà nước cần tỉnh táo trước thông tin lợi dụng dân chủ đòi đa nguyên đa đảng, lợi dụng chống tham nhũng để bôi xấu chế độ và chia rẽ nội bộ. Câu hỏi đặt ra là Việt Nam sẽ cải cách bằng cách nào khi tiếp tục không chấp nhận đa nguyên chính trị?

Phát biểu của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng được đưa ra ít ngày, sau khi ông Ted Osius Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội xác định Mỹ không tìm cách thay đổi thể chế chính trị của Việt Nam. Đại sứ Ted Osius đã tuyên bố như vừa nêu trong cuộc họp báo vào cuối tháng 7 ở Hà Nội.

Theo lời ông Đại sứ, Chính sách của Mỹ là tôn trọng sự khác biệt trong hệ thống chính trị của các quốc gia khác. Cách  duy nhất  để có thể tăng cường lòng tin giữa hai nước là phải nói rõ sự tôn trọng của Hoa Kỳ đối với một hệ thống chính trị khác biệt.

Trong cuộc phỏng vấn của chúng tôi, TS Phạm Chí Dũng chủ tịch Hội Nhà báo độc lập một tổ chức nằm ngoài sự quản lý của chính quyền, nhận định:

“Điều đó lên giây cót cho chế độ chính trị ở Việt Nam và như vậy họ có thể đương nhiên nghĩ rằng, Mỹ chấp nhận triết lý chính trị của họ. Điều đó cũng lên giây cót cho ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, khẳng định lại không thể có đa nguyên đa đảng ở Việt Nam. Tôi cũng nghe những thông tin chuẩn bị cho Đại hội 12 là trong Đại hội 12 sẽ không diễn ra sự thay đổi lớn về triết lý chính trị. Đây là khái niệm mới được Hoa Kỳ cùng Việt Nam đưa ra và Việt Nam rất thích… Tôi hiểu là tất nhiên họ vẫn không chấp nhận đa nguyên đa đảng.”

Theo TS Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển IDS, tổ chức tư nhân duy nhất về nghiên cứu chính sách ở Việt Nam nhưng đã giải thể sau đó vì bị mất tính độc lập, thì nguyên nhân của tình trạng bê bết vì tham nhũng, kinh tế ách tắc là vì nhà nước không chấp nhận đa nguyên chính trị.

Trong dịp trả lời chúng tôi trước đây, TS Nguyễn Quang A nhận định:

“Do chuyện chỉ có độc đảng, không có cạnh tranh chính trị không có một thế lực độc lập lành mạnh nó luôn luôn canh chừng để vạch ra những việc làm bậy bạ của những người đương chức và nó luôn kè kè là đến cuộc bầu cử tới mà các ông làm bậy, thì dân bằng lá phiếu của mình sẽ đẩy các ông xuống và chúng tôi sẽ lên. Đây là một cơ chế hùng mạnh vô cùng, để buộc người ta bớt tham nhũng đi. Khi buộc người ta bớt tham nhũng đi thì các chính sách mới thực sự thúc đẩy nền kinh tế thị trường…”

Cái cách chính trị: chuyện viễn vông

Sự kiện Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kêu gọi báo chí cảnh giác trước luồng thông tin đòi đa nguyên đa đảng, thật ra không có gì mới vì đây là lập trường cố hữu của ông và của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Điều ngạc nhiên là vì qua chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng tới Hoa Kỳ vào đầu tháng 7 vừa qua, dư luận cho rằng Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã xích lại gần với Hoa Kỳ hơn và điều này sẽ tiến tới chấp nhận những cải cách về dân chủ nhân quyền.

Việt Nam sau hơn hai thập niên đổi mới đang bị tắc trong điều gọi là bẫy thu nhập trung bình, nền kinh tế khựng lại và không còn động lực phát triển. Trong câu chuyện với chúng tôi, TS Phạm Chí Dũng đồng thuận với những ý kiến cho rằng không thể thay đổi định chế kinh tế nếu nó không xuất phát từ sự thay đổi hệ thống chính trị. Ông nói:

“Một dẫn chứng gần gũi nhất là vừa rồi Việt Nam cùng với Liên minh Châu Âu đạt được sự thống nhất về Hiệp định thương mại tự do nhưng chỉ trên nguyên tắc mà thôi, chứ không phải là một sự ký kết thực chất và đi vào triển khai cụ thể như là phía Việt Nam mong muốn.

Vì sao lại như vậy, ít nhất có một lý do là Việt Nam chưa bảo đảm được sự thực thi hoàn chỉnh được một nền kinh tế thị trường đầy đủ như là các nước khối Tây Âu và người Mỹ họ yêu cầu.

Muốn thực thi được điều đó, có được khái niệm nền kinh tế thị trường đầy đủ thì thứ nhất phải bảo đảm được tính minh bạch. Việt Nam quá thiếu minh bạch, luôn luôn đứng gần chót bảng xếp hạng của Tổ chức minh bạch thế giới.

Thứ hai là luôn luôn ưu tiên cho các khối tập đoàn doanh nghiệp kinh tế lớn của nhà nước và gần như có sự cạnh tranh bất bình đẳng sâu xa và sâu sắc đối với khối doanh nghiệp tư nhân…

Tôi chỉ đặt ra dẫn chứng như thế để chúng ta thấy là không thay đổi những bản chất gốc rễ về thể chế kinh tế, thì sẽ không thể phát triển nền kinh tế và tất nhiên sẽ càng làm cho nền kinh tế Việt Nam bế tắc mà nền kinh tế hiện nay vốn đang đủ thứ bế tắc.”

Trong khoảng thời gian trước chuyến đi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Hoa Kỳ, hệ thống tuyên giáo Trung ương Đảng cũng liên tục cảnh báo về diễn biến hòa bình, về điều gọi là tự diễn biến tự chuyển hóa.

Ngay lúc đó nhiều nhà phân tích đã cho rằng, thật là viễn mơ khi trông đợi Đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận cải cách chính trị quan trọng, chỉ sau một chuyến đi dù là lần đầu tiên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Hoa Kỳ.

Sự quyến rũ từ các Hiệp định thương mại tự do như với Liên minh Châu Âu EU, hoặc Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP với Hoa Kỳ và các đối tác khác luôn gây sự trăn trở cho Đảng và nhà nước Việt Nam. Nhưng làm thế nào để cải cách chính trị, thực hiện dân chủ nhân quyền mà vẫn giữ được vị thế độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là câu hỏi khó có câu trả lời hoàn hảo.

Hãy trở thành sự thay đổi mà bạn muốn nhìn thấy trên thế giới này’- Gandhi

Hãy trở thành sự thay đổi mà bạn muốn nhìn thấy trên thế giới này’- Gandhi

Blog VOA

Trần Vinh Dự

H1

(Phát biểu tại hội thảo UNESCO’s Vietnamese Youth Competence tổ chức ngày 8/8/2015 tại Sài Gòn)

Xin cảm ơn ban tổ chức đã dành cho tôi cơ hội thú vị này để chia sẻ với các bạn.

Chúng ta đang sống trong một giai đoạn kỳ lạ của lịch sử nhân loại. Toàn cầu hóa đã trở thành sự thực. Thế giới giờ đây được kết nối với nhau một cách gần như hoàn hảo. Một diễn biến đơn độc ở một quốc gia sẽ nhanh chóng ảnh hưởng đến cả thế giới rộng lớn. Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Hoa Kỳ năm 2009 đã tạo ra một cơn địa chấn về tài chính trên toàn cầu. Năm 2014, bệnh dịch Ebola ban đầu bùng nổ ở Tây Phi chỉ cần vài tháng đã lan khắp thế giới. Thị trường chứng khoán Trung Quốc mới chỉ suy sụp vài tháng trở lại đây đã ngay lập tức đẩy Australia hay New Zealand, những quốc gia tưởng như chẳng mấy liên quan, vào khủng hoảng kinh tế.

Hàng loạt các thách thức lớn nhất hiện nay, bao gồm biến đổi khí hậu, dân số tăng, cạn kiệt tài nguyên, sức khỏe và bệnh dịch, hay hội tụ thông tin… là những vấn đề mang tính toàn cầu.

Nhìn xa hơn một chút vào tương lai, chỉ mới 3 tuần trước thôi, các nhà khoa học ở New York đã chế tạo thành công những robots có khả năng sơ khai về tự nhận thức. Một năm trước, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một trí tuệ nhân tạo (AI) đã vượt qua khảo nghiệm Turing (Turing Test). Với các bạn chưa biết Tuning Test là gì, nó là một khảo nghiệm để xác định xem một trí tuệ nhân tạo có thể giao tiếp với con người  theo cách mà con người không thể nhận biết được nó là AI hay là người thật. Giờ đây, người ta bắt đầu bàn tán nhiều về thời điểm kỳ dị của công nghệ (technological singularity) sắp đến gần, một thời điểm mà tương lai của loài người trở nên khó đoán, thậm chí trở thành một giống loài “lạc hậu” và sớm bị tuyệt chủng vì máy móc.

Và đối với các fan của khoa học viễn tưởng, giờ nhiều chuyện không còn là viễn tưởng nữa. NASA vừa mới tìm ra một “trái đất” mới, một hành tinh rất xa nhưng rất giống với trái đất. Điều đó làm tăng vọt khả năng có các giống loài thông minh khác đang sống đâu đó trong vũ trụ.

Rõ ràng là, loài người đang đứng trước một thời đại kỳ lạ. Chúng ta ngày càng trở thành một. Các thách thức lớn nhất không còn mang tính địa phương. Chúng ta cùng đối diện nó với tư cách là một: một loài, một sự tồn tại.

Về mặt địa phương, với tư cách là một quốc gia, chúng ta cũng đang đối mặt với quá nhiều thách thức. Tài nguyên thiên nhiên đang cạn kiệt nhanh chóng. Biến đổi khí hậu toàn cầu đang lấy dần đi một phần lớn đất đai nông nghiệp. Nếu các dự báo là đúng, đến cuối thế kỷ này, khoảng 40% diện tích đất ở miền Nam sẽ bị nước biển xâm nhập và không thể trồng cấy được nữa. Dân số nước ta vẫn đang tăng. Tỷ lệ thất nghiệp trong số các bạn trẻ đặc biệt cao, nhất là trong số các bạn có bằng đại học hoặc cao đẳng. Và với các bạn còn chưa nhận thức được, thời kỳ vàng của dân số Việt Nam đang qua rất nhanh.Điều đó có nghĩa là dân số VN đang già đi. Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ không thể tự hào là một đất nước với dân số trẻ, và điều đó kéo theo rất nhiều hệ lụy.

Thêm vào những thách thức đó, nền kinh tế của chúng ta đang bị mắc kẹt trong bẫy cân bằng thấp. Môi trường kinh doanh của chúng ta quá thiếu tính minh bạch và bị vấy bẩn bởi thủ tục hành chính rườm rà và tham nhũng. Hình ảnh quốc gia đang bị hoen ố bởi chính các hành vi của người Việt chúng ta, từ chuyện nhỏ như quên không nói lời cảm ơn, không biết xếp hàng, không biết nói nhỏ nơi công cộng, đến những chuyện tày đình như trộm cắp, buôn lậu, băng đảng nơi xứ người.

Về mặt cá nhân, người Việt trẻ cũng đang gặp một thời kỳ gian khó. Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ đi vào kỷ nguyên tự do lưu chuyển lao động trong khối ASEAN. Cuộc cạnh tranh trên thị trường lao động, vốn đã nghiệt ngã, sẽ còn trở nên nghiệt ngã hơn nhiều. Trong khi đó, hơn 80% học sinh tốt nghiệp PTTH ở Việt Nam năm nay có điểm tiếng Anh dưới 5 điểm. Hệ thống đại học và cao đẳng của chúng ta quá lạc hậu và những sinh viên ra trường hầu như không có kỹ năng gì để bắt đầu ngay vào làm việc trong một nền kinh tế hiện đại.

Với tư cách là một người Việt trẻ, các bạn nên làm gì? Tôi muốn có 2 gửi gắm quan trọng muốn chia sẻ với các bạn.

Gửi gắm thứ nhất là một câu nói của Mahatma Gandhi thời trước  “be the change you wish to see in the world” – hãy trở thành chính sự thay đổi mà bạn muốn nhìn thấy trên thế giới này. Nếu bạn muốn làm cho Việt Nam tốt lên, thì bạn phải tự mình tốt lên trước đã. Trong thời kỳ lạ lùng này, thách thức cũng đưa đến nhiều cơ hội. Nhờ có toàn cầu hóa mà chưa bao giờ trong lịch sử của Việt Nam, thế hệ trẻ có thể dễ dàng đến các nước phát triển để học tập, kiếm việc trong các tập đoàn toàn cầu, sống và trải nghiệm các nền văn hóa khác, và khám phá thế giới.

Mới cách đây 2 ngày, tôi vừa có dịp được tham gia buổi phỏng vấn cấp học bổng của Broward College Việt Nam cùng với một số giáo sư người Mỹ và Úc. Một trong những ứng viên là một nữ sinh vừa tốt nghiệp PTTH đến từ Lâm Đồng. Khả năng nói tiếng Anh của cô bé miền núi có thể nói là hoàn hảo. Bài viết của cô bé cũng hoàn hảo. Thái độ và phong cách của cô bé cũng đầy tự tin và chân thành. Khi được hỏi bằng cách nào mà cô bé có thể học được Anh ngữ tốt như vậy, cô bé trả lời rằng mình hoàn toàn tự học lấy. Cô bé đã được nhận học bổng tới 80% từ Broward College.

Một cô bé miền núi bé nhỏ có thể nghĩ được như thế, quyết tâm được như thế, thì không có lý do gì các bạn ngồi đây không làm được. Các bạn là những người trẻ tuổi và tài năng. Các bạn đừng mất công ngần ngại, đừng nhìn lại, hãy cố gắng, tìm kiếm một cơ hội, và khi tìm được, hãy nắm chắc lấy nó. Hãy biết nắm bắt lợi thế độc đáo này của toàn cầu hóa. Không có cách nào tốt hơn để tiến bộ bằng việc trải nghiệm nó trong những đất nước phát triển hơn, có thể là Hoa Kỳ, Úc, Nhật, Đức, hay một quốc gia nào đó khác.

Một điều cần ghi nhớ là bạn vừa là người Việt, nhưng cũng là một công dân của thế giới. Là một công dân toàn cầu không phải là việc tự nhiên. Chúng ta phải học. Điều đó là cần thiết vì các vấn đề toàn cầu không thể được giải quyết bởi các não trạng địa phương thiển cận. Tuy nhiên, một tầm nhìn toàn cầu không nên chỉ là một lựa chọn có tính toán, mà nó cần phải đến từ chính trái tim của các bạn, rằng con người, dù ở đâu, màu da, giới tính,tôn giáo, ngôn ngữ, hay bất cứ thứ gì khác biệt, cũng đều có quyền được tôn trọng và bình đẳng như nhau.

Gửi gắm thứ hai của tôi là một chút lý thuyết mà tôi chợt nhớ đến khi nhìn vào biểu tượng của chương trình ngày hôm nay. Biểu tượng của chương trình này là cánh bướm màu xanh. Một trong những học thuyết nổi bật được nhiều người nhắc đến của thế kỷ 20 là lý thuyết về sự hỗn loạn (chaos theory).Theo lý thuyết này, sự khác biệt rất nhỏ tại điểm khởi đầu có thể dẫn tới những kết quả khác biệt vô cùng lớn. Ví dụ hay được nhắc tới là sự vỗ cánh của một con bướm nhỏ cũng có thể làm lệch hướng một cơn bão lớn xảy ra vài tuần sau đó tại một đại lục xa xôi.

Ý tôi muốn nói là gì? Chúng ta đều muốn thế giới trở nên tốt đẹp hơn, nhưng chúng ta thường kỳ vọng người khác làm hộ chúng ta việc này. Một phần vì chúng ta nghĩ mình là người bình thường, và một người bình thường thì không thể làm gì ảnh hưởng đến tương lai của thế giới. Nhưng tôi muốn nói với các bạn rằng chúng ta không cần phải làm một vĩ nhân mới có thể thay đổi thế giới. Thế giới luôn luôn được thay đổi bởi những điều nhỏ bé mà hàng tỷ con người, trong đó có bạn và có tôi, đang hàng ngày, hàng giờ thực hiện.

Để phụng sự đất nước này, để giúp nhân loại tồn tại và phát triển, các bạn hãy bắt đầu ngay từ ngày hôm nay, bằng những việc làm tưởng như đơn giản và tầm thường của mình. Đừng vội nghĩ đến những chuyện lớn lao, hãy hình thành những thói quen mới và tốt hơn cho cá nhân mình, hãy dành một chút thời gian nhỏ mỗi ngày nghĩ về các vấn đề của xã hội, hoặc làm một việc nhỏ gì đó có ích cho cộng đồng. Những việc làm đó, giống như những cánh bướm bé nhỏ, sẽ có ngày tạo ra cơn bão lớn làm thay đổi thế giới.

Và điều đó không phải là một thứ lý thuyết hão huyền. Nó được chứng thực ngay trên đất nước chúng ta. Không có ai biết rằng sự lên tiếng ban đầu mấy tháng trước của các bạn trẻ, các bà nội trợ tại Hà Nội trên các mạng xã hội đã khiến thành phố này phải ngưng kế hoạch chặt hạ hàng nghìn cây cổ thụ ven đường, để giờ đây vào mùa hè, người dân Hà Nội vẫn còn được tận hưởng bóng mát còn sót lại của các tán cây đã tồn tại hàng trăm năm.

Hay mới gần đây, câu chuyện xây tượng đài “nghìn tỉ” trong khi các tỉnh phía Bắc chìm trong ngập lụt, một số nơi hoang tàn như Quảng Ninh, một biểu hiện nhãn tiền của việc phát triển không bền vững, trong khi trẻ em còn có trường hợp chết vì đói, hoặc vì tai nạn khi qua sông đi học mà không có cầu, hoặc không có trường lớp tử tế để học hành… đã làm cho hàng nghìn, hàng trăm nghìn người phải lên tiếng. Và giờ đây câu chuyện đó có vẻ như sẽ được tạm dừng.

Hay đơn giản hơn, câu chuyện những người thợ đào giếng cứu bé gái 7 tuổi bị lọt xuống giếng sâu 8m ở Bình Dương đã đem lại sự xúc động to lớn đối với cộng đồng người Việt. Hình ảnh những người thợ lưng trần, miệt mài đào bới trong 9 giờ liên tục để cuối cùng cứu sống được em bé trong tình huống nghìn cân treo sợi tóc không những là biểu hiện cao đẹp của nhân tính, mà còn tạo cảm hứng lớn cho những người quan tâm, theo dõi, để biết cái tốt vẫn còn hiện diện đâu đó, để tự thấy mình xấu hổ và cần phải sống có trách nhiệm hơn.

Chúng ta cần nhiều hơn những nỗ lực như thế, dù nhỏ bé, nhưng hàng ngày, hàng giờ đóng góp sức mình, để cùng nhau tạo nên những thay đổi lớn, để cuộc sống dần tốt đẹp hơn, hướng thiện hơn. Thế giới này đang rất cần thay đổi. Đất nước này đang rất cần thay đổi. Mong rằng từng người trong các bạn, vừa dưới danh nghĩa cá nhân, vừa đứng bên nhau thành một tập thể, hãy trở thành chính sự thay đổi mà bạn muốn nhìn thấy trên thế giới này. Và hàng ngày, hàng giờ, không ngừng góp nhặt, bằng những hành động nhỏ bé của mình, để tạo thành một cơn bão lớn đem đến sự đổi thay thực sự cho tương lai của đất nước.

Xin cảm ơn các bạn đã lắng nghe và chúc các bạn một cuối tuần thật tuyệt vời.