Chuyện 3 người!

Chuyện 3 người!

Có người nói, cuộc sống là một quá trình tìm kiếm tình yêu, mỗi một người đều phải tìm thấy 3 người. Người thứ nhất là người mình yêu nhất, người thứ hai là người yêu mình nhất và người thứ ba là bạn đồng hành trong suốt cuộc đời (bạn đời).
Trước tiên mình sẽ gặp được người mình yêu nhất, sau đó hiểu được cảm giác yêu. Chỉ có hiểu được cảm giác bị yêu, mới có thể phát hiện ra người yêu mình nhất. Khi đã trải qua cảm giác yêu và bị yêu, mới có thể biết được mình cần điều gì, và cũng sẽ tìm thấy người bạn đời thích hợp nhất trong suốt cuộc đời còn lại.

Thật đáng tiếc, trong cuộc sống thực tế hiện tại, cả ba người này thường không cùng một người, người bạn yêu nhất không chọn bạn, người yêu bạn nhất lại không phải người bạn yêu nhất, và người bạn đời luôn luôn không phải là người bạn yêu nhất, cũng không phải là người yêu bạn nhất, chỉ là người xuất hiện vào lúc thích hợp nhất.

Không ai muốn thay đổi tình yêu của mình. Khi anh ta yêu bạn, đó là lúc anh ta thật sự yêu bạn. Nhưng khi anh ta không yêu bạn thì cũng thật sự là không yêu bạn, anh ta không thể giả vờ không yêu khi anh ta đang yêu bạn, cũng như anh ta không thể giả vờ yêu khi không yêu bạn.

Khi một người không còn yêu mình muốn rời xa mình, mình cần hỏi lại bản thân có còn yêu anh (cô) ta nữa không. Nếu bạn không còn yêu người ấy nữa thì xin đừng bao giờ vì lòng tự ái mà không chịu rời xa người ấy. Nếu như bạn vẫn còn yêu người ấy, lẽ đương nhiên bạn sẽ hy vọng người ấy có được một cuộc sống hạnh phúc, vui vẻ, hy vọng người ấy được ở cùng người mình yêu, đừng bao giờ ngăn cản. Nếu bạn ngăn cản người ấy có được hạnh phúc thật sự của mình nghĩa là bạn không còn yêu anh (cô) ta nữa, và nếu như bạn không còn yêu thì bạn lấy tư cách gì chỉ trích anh ta bạc tình.

Yêu không phải là chiếm hữu. Bạn thích mặt trăng, không thể đem mặt trăng cất vào trong hộp, nhưng ánh sáng của mặt trăng lại có thể chiếu sáng vào tận trong phòng bạn. Cũng như bạn yêu một người, bạn vẫn có thể có được người ấy mà không cần chiếm hữu và khiến người yêu trở thành một hồi ức vĩnh hằng trong cuộc sống.

Nếu bạn thật sự yêu một người, phải yêu con người thực của anh ta, yêu mặt tốt cùng yêu cả mặt xấu, yêu cái ưu điểm lẫn khuyết điểm, tuyệt đối không nên vì yêu anh ta mà hy vọng anh ta trở thành con người mình mong muốn, nếu anh ta không được như ý bạn thì mình không còn yêu anh ta nữa.

Yêu một người nào đó thật sự không nói ra được nguyên nhân vì sao yêu, bạn chỉ biết rằng, bất cứ lúc nào, tâm trạng tốt hay xấu thì bạn cũng đều mong muốn người ấy ở bên cạnh bạn, không một yêu cầu… Xa cách cũng là một thử nghiệm tình yêụ Tình yêu chân chính sẽ chẳng bao giờ trở thành tình yêu oán hận.

Hai người yêu nhau, thích nhất là bắt bạn mình phải thề, phải hứa. Tại sao chúng ta lại bắt đối phương làm như vậy? Tất cả chỉ vì chúng ta không tin đối phương… Làm gì có chuyện biển cạn đá mòn, trời hoang đất lở, nếu có thì cũng không ai sống được đến ngày ấy…

Trong tình yêu, nói là một lẽ, làm là một lẽ. Người nói không dám tin điều mình nói và người nghe thì không tin điều mình nghe

Ngọc Nga sưu tầm

ĐỐI CHIẾU TÊN ĐƯỜNG SÀI GÒN XƯA & NAY

ĐỐI CHIẾU TÊN ĐƯỜNG SÀI GÒN XƯA & NAY

Posted on 01.08.2011 by hongoccan2015

TÊN ĐƯỜNG PHỐ SAIGON XƯA & NAY

Để nhớ một thời…

đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

nước còn cau mặt với tang thương…

(Bà Huyện Thanh Quan)

Tên đường phố Sài Gòn : xưa (thời Pháp thuộc) và nay (trước năm 1975) theo Alphabet

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

(Thăng Long thành hoài cổ – Bà Huyện Thanh Quan)

Trong niềm nhớ thương khôn nguôi về quê nhà của một người Việt Nam ly hương còn nặng tình hoài cổ, tôi xin cố gom góp trí nhớ còn sót lại để ghi ra tên những đường phố Sài Gòn thời xưa cũng như các cơ quan chính quyền, cơ sở văn hóa giải trí đặc biệt trên đó, vì e rằng đến một lúc nào mọi thứ sẽ mai một đi thì đáng tiếc lắm.

Cho nên dù biết rằng viết về những địa hình địa vật của một thời xưa cách nay năm, sáu chục năm bằng vào trí nhớ kém cỏi của cái tuổi gần thất thập cổ lai hi là cả một khó khăn trùng điệp nhưng lòng hoài cổ trong con người tôi vẫn cố vượt mọi trở ngại nhất là với sự góp ý bổ túc đầy nhiệt tình của quý niên trưởng và các bạn nên công việc đã hoàn thành cho dù chưa được hoàn hảo. Chỉ mong ước nhỏ nhoi là qua tài liệu nầy, chúng ta tìm lại hình ảnh ngày xưa của chính chúng ta trên khắp nẻo đường của Sài Gòn đẹp lắm ! Sài Gòn ơi ! Sài Gòn ơi ! Và hơn nữa chúng ta có thể chỉ dẫn cho đàn con cháu nghe thấy về thủ đô Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông, nơi mà cha mẹ, ông bà chúng đã từng một thời sinh sống và biết đâu chừng cũng là nơi đã từng gặp gỡ của ba má sắp nhỏ qua mối tình đầu.

Cũng xin chân thành cảm tạ sự đóng góp quý báu của nhiều anh chị nhất là chị Đỗ Thanh Vân (Đức Quốc), niên trưởng Trương Thới Lai (Canada), anh Cao Thiếu Lang (Canada), anh Nguyễn Đình Phúc (Canada), anh Bùi văn Tâm (Canada), anh Trần Kiêu Bạc (Mỹ), anh Trương Thúy Hậu (Mỹ)… Chính nhờ những sự bổ túc đó mà hành trình tìm về con đường của dư hương ngày cũ bớt nhiều thiếu sót. Và chúng tôi hy vọng vẫn còn tiếp tục nhận được những góp ý của quý bằng hữu bảng sưu tầm chúng ta thêm hoàn chỉnh hơn. Xin chân thành đa tạ.

Bây giờ mời các bạn cùng chúng tôi đi dạo một vòng quá khứ (back to the past) của một thời hoa mộng trên thủ đô yêu dấu từng đườc mệnh danh là Hòn ngọc Viễn Đông.

Nguyên Trần

Tên thời Pháp thuộc – Tên thời Đệ II Cộng Hòa

Boulevard Bonard – Lê Lợi (Trụ sở Quốc Hội – Nhà Hát Lớn, bệnh viện Sài Gòn, nhà sách Khai Trí, nước mía bò bía Viễn Đông, rạp Vĩnh Lợi, quán cơm Thanh Bạch, quán giải khát Pôle Nord, Hà Nội ice cream, quán kem Mai Hương, Thư Viện Abraham Lincoln, Nhà hàng Kim Sơn, Bồng Lai)

Boulevard Chanson – Lê văn Duyệt Ngã Bảy trở xuống (Trụ sở Tổng Liên Đoàn Lao Công, Chợ Đủi, trụ sở Tòa Đại Sứ Miên, nơi hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu góc Phan Đình Phùng, rạp Nam Quang – ngã tư Trần Quý Cáp, rạp Kinh Đô sau là văn phòng Usaid, trường trung học tư thục Trường Sơn, Câu Lạc Bộ Kỵ Mã Sài Gòn) – CMT8

Boulevard Charner – Nguyễn Huệ (rạp Rex, rạp Eden, passage Eden, Thương xá Tax, bánh mì pâté Đô Chính, phòng trà Queen Bee, Tổng Nha Ngân Khố, Kỹ Thương Ngân Hàng, Hôtel Palace,Hãng Charner)

Boulevard Galliéni – Trần Hưng Đạo (Bộ Lao Động, Nha Cảnh Sát Đô Thành, Sở Cứu Hỏa Đô Thành, rạp Nguyễn văn Hảo, Hưng Đạo, rạp Đại Nam, vũ trường Tour d’Ivoire, Bộ Tổng Tư Lệnh quân lực Đại Hàn, Bộ Tổng Tham Mưu cũ, sân bóng rổ Tinh Võ, Khiêu vũ trường Vân Cảnh, Arc en Ciel, Đêm Màu Hồng, trường tiểu học Tôn Thọ Tường, Nhà thờ Tin Lành)

Boulevard Kitchener – Nguyễn Thái Học trường tiểu học Trương Minh Ký, trường tư thục Huỳnh Thúc Kháng, rạp Nam Tiến, rạp cải lương Thành Xương, Chợ Cầu Ông Lãnh)
– Boulevard Norodom – Thống Nhất (Toà Đại Sứ Mỹ, Phủ Thủ Tướng, Rạp Norodom-Thống Nhất – xổ số quốc gia giúp đồng bào ta mua lấy xe nhà giàu sang mấy hồi – Trần văn Trạch, hãng nhập cảng xe Peugeot Jean Compte, Bộ Tư Pháp, hãng xăng Shell, Esso) – Lê Duẩn

Boulevard Paul Bert – Trần Quang Khải (Đình Nam Chơn, rạp Văn Hoa)

Boulevard de la Somme – Hàm Nghi (Đài Pháp Á, Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín,BanqueFranco-Indochinoise, Tổng Nha Thuế Vụ, chợ Chó,chợ Chim,trung tâm Cờ Tướng, tiệm incils quân đội Phước Hùng)

Rue – 11e RIC (Régiment d’Infanrerie Colonniale)- Nguyễn Hoàng (bến xe lục tỉnh, cư xá hỏa xa)– Trần Phú

– Abattoir – Hưng Phú (Lò Heo Chánh Hưng)

– d’Adran – Võ Di Nguy Phú Nhuận (Chợ Phú Nhuận, rạp Văn Cầm, rạp Cẩm Vân, cư xá Phú Nhuận) – Phan Đình Phùng

– Albert 1er – Đinh Tiên Hoàng (Sân vận động Hào Thành – Hoa Lư – Citadelle, Tổng Nha Thanh Niên, Asam Đakao, mì Cây Nhãn, Chè Hiển Khánh)

– Alexandre de Rhodes – Lục Tỉnh (trung tâm quân báo Cây Mai, bò 7 món Ngân Đình), đường Alexandre de Rhodes tới thời Cộng Hòa thay thế đường Paracels trước dinh Độc Lập – Alexandre de Rhodes

– Alexandre Frostin – Bà Lê Chân (hông chợ Tân Định, rạp Moderne sau đổi là Kinh Thành)

– Alsace Loraine – Phó Đức Chính (biệt thự chú Hỏa – Hui Bon Hoa)

– Amiral Dupré – Thái LậpThành (Phú Nhuận)Phan Xích Long

– Amiral Roze – Trương Công Định (Chùa Chà, chạy xuyên qua vườn Tao Đàn – Vườn Pelouse) – Trương Định

– d’Arfeuille – Nguyễn Đình Chiểu

– Armand Rousseau – Hùng Vương (Trường Trung Học Chu văn An,cư xá sinh viên Sài Gòn)

– d’Arras – Cống Quỳnh (Bệnh viện Từ Dũ, rạp Khải Hoàn, trường trung học tư thục Hưng Đạo-Giáo Sư Nguyễn văn Phú)

– Arroyo de l’Avalanche – Rạch Thị Nghè

– Audouit – Cao Thắng (rạp Việt Long, rạp Đại Đồng Sài Gòn, Chùa Tam Tông Miếu, bánh mì pâté Phò Mã, tư gia nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Lâm Tuyền)

– d’Ayot – Nguyễn văn Sâm(rạp Kim Châu) – Nguyễn Thái Bình

– Ballande- Nguyễn Khắc Nhu

– Barbier – Lý Trần Quán (chả cá Thăng Long)

– Barbé – Lê Quý Đôn (Trung Học Lê Quý Đôn-Chasseloup Laubat) – Hồng Thập Tự Nguyễn Thị minh Khai

– Blan Subé – Duy Tân (Viện Đại Học Sài Gòn, Đại Học Luật Khoa, công trường Chiến Sĩ, Con Rùa, Vương Cung Thánh Đường) – Phạm Ngọc Thạch

– Bourdais – Calmette

– Catinat – Tự Do (Bộ Nội Vụ, bánh mì pâté Hương Lan, Nhà Hàng Caravelle, Nhà Hàng Continental Palace, La Pagode, Brodard, Vũ trường Maxim’s, Hotel Restaurant Majestic, rạp Majestic, Tiệm quý kim Đức Âm, nhà may Cát Phương, Adam,Tân Tân, Phòng Thông Tin cho các cuộc triễn lãm) – Đồng Khởi

– Chaigneau – Tôn Thất Đạm (khu Chợ Cũ, rạp Nam Việt)

– Champagne – Yên Đổ (Cư xá Đắc Lộ, trường Anh Ngữ Khải Minh) – Lý Chính Thằng

Charles de Coppe – Hoàng Diệu (hiệu giày Gia, quán nhậuTư Sanh Khánh Hội – cari dê)

– Charles Thomson – Hồng Bàng (bệnh biện Hồng Bàng, đại học Nha Khoa) – Hùng Vương

– Chasseloup Laubat – Hồng Thập Tự (Trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia, Hội Hồng Thập Tự Việt Nam, Rạp Olympic, bàn ghế Phan văn Nhị, khu quán cháo vịt, Bộ Y Tế, Bộ Tài Chánh, Tổng Nha Ngân Sách Ngoại Viện, Cơ quan Tiếp Vận Trung Ương, Hông vườn Tao Đàn – vườn Ông Thượng – vườn Bờ Rô-Pelouse, Hông Dinh Độc Lập, Hông Thảo Cầm Viên, trường trung học kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ) – Nguyễn Thị minh Khai

– Colonel Budonnet- Lê Lai (Rạp Aristo – nhà hàng Lê Lai – tiệm bánh trung thu Tân Tân, cơm chay Vạn Lộc)

– Colonel Grimaud – Phạm ngũ Lão (Chợ Thái Bình, tòa soạn nhật báo SàiGòn Mới – bà Bút Trà, rạp Thanh Bình, ga xe lửa, quày bán vé Hàng Không Việt Nam)

– Cornulier – Thi Sách (nhà in Ideo)

– Danel – Phạm Đình Hổ – Denis Frères – Ngô Đức Kế (Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam)

– Dixmude – Đề Thám

Docteur Angier – Nguyễn Bỉnh Khiêm (Thảo Cầm Viên, hồ tắm Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tổng Nha Trung Tiểu Học & Bình Dân GiáoDục, trường Trung Học Trưng Vương, Võ Trường Toản, Nha An Ninh Quân Đội)

– Docteur Yersin – Ký Con

– Đỗ Hữu Vị – Huỳnh Thúc Kháng (Trường trung học kỹ thuật Cao Thắng, khu chợ Trời)

– Douaumont- Cô Giang (chợ, rạp hát Cầu Muối)

– Dumortier – Cô Bắc (hãng cao su Labbé)

– Duranton – Bùi thị Xuân (trường trung học Nguyễn Bá Tòng, trường Les Lauriers)

Eyriaud des Verges – Trương Minh Giảng (Chợ Trương Minh Giảng, rạp Văn Lang – Minh Châu -, cổng xe lửa số 6, Viện Đại học Vạn Hạnh) – Lê Văn Sĩ

– l’Église – Trần Bình Trọng( Hôtel Massage Hồng Tá)

– d’Espagne – Lê Thánh Tôn (Tòa Đô Chánh, Cửa Bắc Chợ Bến Thành, tiệm vàng Nguyễn Thế Tài -Thế Năng, tiệm incils quân đội An Thành, Rạp Lê Lợi, nhà may Văn Quân)

– Faucault – Trần Khắc Chân

– Frère Louis – Nguyễn Trãi từ Ngã Tư Cộng Hoà đổ vô Chợ Lớn (trung tâm đào tạo huấn luyện viên thanh niên thể thao, Nhà thờ Chợ quán)

– Frère Louis – Võ Tánh (Sài Gòn) từ Ngã Tư Cộng Hòa đổ xuống Ngã Sáu (cổng chính Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia, rạp hát Quốc Thanh, phở 79, nhà mồ Á Thánh Matthew Gẫm, trường nữ trung học tư thục Đức Trí) – Nguyễn Trãi

Frère Guilleraut – Bùi Chu (Nhà thờ Huyện Sĩ) – Tôn Thất Tùng

Filippiny – Nguyễn Trung Trực (Nhà hàng Thanh Thế với tuyệt chiêu suôn, nhà hàng Quốc Tế, Bồng Lai, Kim Sơn, rạp Les Tropiques, Văn Khoa cũ, Pháp Đình Sài Gòn)

Fonck – Đoàn Nhữ Hài

– Gallimard – Nguyễn Huy Tự (Chợ Dakao, chùa Ngọc Hoàng)

Gaudot – Khổng Tử (Chợ Bình Tây)

Georges Guynomer – Võ Di Nguy Sài Gòn (Khu Chợ Cũ)

– Guillaume Martin – Đỗ Thành Nhân (Q4, cầu Calmette)

Hamelin – Hồ văn Ngà

Heurteaux – Nguyễn Trường Tộ

Hui Bon Hoa – Lý Thái Tổ (Phở Tàu Bay, quán Hạ Cờ Tây)

– Jaccaréo – Tản Đà (khu tiệm thuốc Bắc)

– Jauréguiberry – Hồ Xuân Hương (Bệnh viện da liễu – Bạc Hà)

Jean Eudel – Trình Minh Thế – Ng(thương cảng Sài Gòn, kho 5, kho 10) – Nguyễn Tất Thành

Lacaze – Nguyễn Tri Phương ( Mì vịt tiềm Lacaze, hủ tiếu Mỹ Tiên, hủ tiếu Cả Cần, bánh bao bà Năm Sa Đéc, quán sò huyết lề đường)

– Lacotte – Phạm Hồng Thái (toà soạn nhật báo Dân Ta – ông Nguyễn Vỹ)

– Lacaut – Trương Minh Ký (Lăng Cha Cả – Linh mục Bá Đa Lộc – Pigneau de Béhaines) – Hoàng Văn Thụ

– De Lagrandière – Gia Long (Dinh Gia Long, Bộ Quốc Phòng, Thư viện Quốc Gia, rạp Long Phụng – phim Ấn Độ, tiệm bánh Bảo Hiên Rồng Vàng, tiệm Đồ da Cự Phú, tiệm quần áo trẻ em Au Printemps, tòa soạn nhật báo Tiếng Chuông – ông Đinh văn Khai, nhật báo Việt Nam của ông Nguyễn Phan Long 1936, nhật báo Tiếng Dội, Tiếng Dội Miền Nam, Dân Quyền của ông Trần Tấn Quốc và nhiều nhật báo khác) – Lý Tự Trọng

– Larclause – Trần Cao Vân (bộ Thông Tin)

– Lefèbvre – Nguyễn công Trứ

– Legrand de la Liraye – Phan Thanh Giản (Bệnh viện Bình Dân, Chợ 20, Trường Nữ Trung Học Gia Long, bệnh viện St Paul, Trường tư thục Phan Sào Nam, Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi – Đất Hộ, cư xá Đô Thành, rạp Long Vân, bánh xèo Đinh Công Tráng) – Điện Biên Phủ

– Le Man – Cao Bá Nhạ

– Léon Combes – Sương Nguyệt Ánh (văn phòng bác sĩ quang tuyến Lý Hồng Chương, võ trường Hàn Bái Đường ở góc Sương Nguyệt Ánh – Lê văn Duyệt 1954)

– Lesèble – Lý văn Phức

– Loucien Lecouture – Lương Hữu Khánh (đường rầy xe lửa Mỹ Tho, miền Trung)

– Luro – Cường Để (thành Cộng Hòa, Trường Đại Học Y, Dược Khoa,Văn Khoa, Nông Lâm Súc) – Đinh Tiên Hoàng

– Mac Mahon – Công Lý (Dinh Độc Lập, Dinh Hoa Lan, Phủ Phó Tổng Thống, Chùa Vĩnh Nghiêm, trường tư thục Quốc Anh,Thương xá Crystal Palace – Tam Đa, rạp Hồng Bàng) – Nam kỳ Khởi Nghĩa

– Marchaise – Ký Con

– Maréchal Fox – Nguyễn văn Thoại ( trường đua ngựa Phú Thọ, bệnh viện Vì Dân) – Lý Thường Kiệt

– Maréchal Pétain – Thành Thái (trường trung học Bác Ái) – An Dương Vương

– de Marins – Đồng Khánh (tửu lầu Á Đông, Đồng Khánh, Bát Đạt, Arc En Ciel – Đại Thế Giới) – Trần Hưng Đạo B

– Martin des Pallières – Nguyễn văn Giai

Massiges – Mạc Đĩnh Chi (Hội Việt Mỹ, Ty Cảnh Quốc Gia Quận Nhứt, nhà hàng thịt rừng Trường Can, phở Cao Vân, trường trung học Les Lauriers, bộ Canh Nông)

Mayer – Hiền Vương (Nguyễn Chí Nhiều dược cuộc, trung tâm phở gà, giò chả Phú Hương, rạp Casino Đa Kao) – Võ Thị Sáu

– Miche Phùng – Phùng Khắc Khoan (tư dinh đại sứ Mỹ trước đó là tư dinh của tướng Năm Lửa Trần văn Soái)

Miss Cawell – Huyền Trân Công Chúa

– Nancy – Cộng Hoà (Trung Học Pétrus Ký, Đại Học Khoa Học, Đại Học Sư Phạm, cửa hôngTổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia) – Nguyễn Văn Cừ

Nguyễn tấn Nghiệm – Phát Diệm – Trần Đình Xu

Noel – Trương Hán Siêu

Ohier – Tôn Thất Thiệp (hủ tiếu Thanh Xuân, Tài Nam Restaurant với món đuôn chà là chiên bơ rất mắc, Chùa Chà Và)

d’Ormay – Nguyễn văn Thinh (tòa soạn nhật báo Thần Chung – ông Nguyễn Kỳ Nam, Restaurant Admiral) – Mạc Thị Bưởi

– Paracels – Alexandre de Rhodes (Học ViệnQuốc Gia Hành Chánh cũ, Bộ Ngoại Giao)

Paris – Phùng Hưng (chợ thịt quay vịt quay)

– Pavie- Trần Quốc Toản (Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Viện Hóa Đạo – Việt Nam QuốcTự, trường tư thục Hồng Lạc, cục Quân Cụ, chợ cá Trần Quốc Toản) – Đường 3 tháng 2

– Paul Blanchy – Hai Bà Trưng (Chợ Tân Định, Tổng Cuộc Điện Lực, BGI – Brasseries et Glacières de l’Indochine, Phở An Lợi, cà phê Quán Trúc, vũ trường Mỹ Phụng, công trường Mê Linh,nhà thờ Tân Định)

– Paulin Vial – Phan Liêm

Pellerin – Pasteur (Viện Pasteur, Khu Phở Gà, Phở Minh, Nhà sách Khai Trí, rạp Casino Sài Gòn sau đổi thành rạp Rạng Đông, nước mía bò bía Viễn Đông)

Pierre Flandin- Đoàn thị Điểm (hông trường Nữ Trung Học Gia Long, hông Tổng Nha Ngân Sách Ngoại Viện)

– Laregnère – Bà Huyện Thanh Quan (Cư xá nữ sinh viên Thanh Quan, Chùa Xá Lợi)

– Renault – Hậu Giang

René Vigerie – Phan Kế Bính

– Résistance – Nguyễn Biểu (Cầu chữ Y)

Richaud – Phan Đình Phùng (Tổng Nha Kiến Thiết và Thiết Kế Đô Thị, Đài Phát Thanh Sài Gòn, Bảo sanh viện Hồng Đức, Kỳ Viên Tự, Trường Rạng Đông, chợ Vườn Chuối, Restaurant Sing Sing, nhà hàng La Cigale, sân vận động PĐP) – Nguyễn Đình Chiểu

– Roland Garros – Thủ Khoa Huân

– Sabourain – Tạ Thu Thâu (cửa Đông chợ SàiGòn, Nhà thuốc tây Nguyễn văn Cao, nhà sách & xuất bản Phạm văn Tươi)

– Sohier – Tự Đức

– Taberd – Nguyễn Du (Sở xuất nhập di trú, Nhà thương Đồn Đất- bệnh viện Grall, trung tâm văn hóa Pháp – Centre Cul turel Francais) – Lý Tự Trọng

– Testard – Trần Quý Cáp (Vũ trường AuBaccara, Đại Học Y khoa cũ, Trường Âu Lạc) – Võ Văn Tần

– Tong-Kéou – Thuận Kiều (bệnh viện Chợ Rẫy)

– Turc – Võ Tánh (Phú Nhuận)  (Văn Phòng Quận Tân Bình, Phở Quyền, Lăng Cha Cả, bệnh viện Cơ Đốc) – Hoàng Văn Thụ

– Verdun – Lê văn Duyệt Ngã Bảy trở lên (Ngã Ba Chợ Ông Tạ, rạp Thanh Vân) – CMT8

Vassoigne – Trần văn Thạch

– Yunnam – Vạn Tượng (Q5) bên cầu Ba-Lê Cao

– Quai de Belgique – Bến Chương Dương (Thượng Nghị Viện- Hội Trường Diên Hồng,Tổng Nha Kế Hoạch) – Võ Văn Kiệt

– Quai Le Marne – Bến Hàm Tử – Võ Văn Kiệt

– Quai Le Myre de Vilers – Bến Bạch Đằng (Hotel Restaurant Majestic, Phủ Đặc Ủy Trung ƯơngTình Báo, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, bến đò Thủ Thiêm, Cột Cờ Thủ Ngữ – Point des BlagueurS, tư dinh Thủ Tướng, Sở Ba Son – Arsénal – Hải Quân Công Xưởng)

– Quai de Fou-Kien – Bến Trang Tử

Tài liệu tham khảo : – Đặc Trưng Net – Đa Kao trong tâm tưởng

MÀU NẮNG SÀI GÒN

(Cảm đề khi sưu tầm bảng đối chiếu tên đường Sài Gòn)

Tôi nhớ Sài Gòn nắng chói chang

Những hàng cây ngả bóng bên đàng

Ngựa xe xuôi ngược về muôn nẻo

Tà áo thướt tha đưới gió ngàn

Cờ kéo (1) taxi bung rãi rác

Chuông reo (2) xe điện nhịp rình rang

Bồn Binh thổ mộ qua xe kéo

Hợp tấu rộn ràng vui ánh quang

Nguyên Trần (Toronto)

(1) Cờ kéo : khi lên taxi (hầu hết là chiếc Renault 4 có hai màu : xanh nửa phần dưới và vàng nhạt nửa phần trên), tài xế bẻ cờ đồng hồ tính tiền.

(2) Chuông reo : xe điện (tramway-street car) Sài Gòn reo chuông khi dừng lại ở các trạm. Nếu tôi nhớ không lầm thì thời bấy giờ có hai lộ trình chính :

– Thứ nhất là lộ trình Galliéni (Trần Hưng Đạo) chạy suốt con đuờng Trần Hưng Đạo từ Chợ Lớn vô Sài Gòn mà hai trạm chính là ga Nancy và ga Arras

– Thứ hai lộ trình Boulevard de la Somme (Hàm Nghi) chạy trên đường Hàm Nghi ngừng ga Chợ Cũ rồi quẹo xuống bến Bạch Đằng rẽ vô Hai Bà Trưng chạy tới chợ Tân Định.

Hai bên thành xe điện có nhiều mẫu quảng cáo khác nhau nhưng nổi bật nhất là 4 hiệu : – Một viên Cửu Long Hoàn bằng 10 thang thuốc bổ của nhà thuốc Võ văn Vân của ông bầu bóng tròn Võ văn Ứng – Thuốc dưỡng thai Nhành Mai – Dầu khuynh diệp bác sĩ Bùi Kiến Tín – Kem Hynos anh Bảy Chà.

Lúc đó tôi rất thích nhìn cần câu điện trên nóc xe chạm vào hệ thống dây điện xẹt lửa màu xanh xanh tím tím rất lạ và đẹp mắt. Bây giờ ở Toronto xe điện cũng chạy đầy đường và cũng xẹt lửa sáng ngời nhưng tôi thấy nó vô vị làm sao, có lẽ tâm lý là cái gì đã mất đi, đã vào kỷ niệm thì đều quý cả.

SÀI GÒN CỦA TA ƠI !

Chiều nay ngồi ngắm mưa bay

Chạnh lòng tôi nhớ đến Sàigòn xưa

Niềm đau nói mấy cho vừa

Mưa giăng giăng lối lưa thưa giọt buồn

Đâu còn những buổi hoàng hôn

Cà phê tình tự góc Pôle Nord sầu

Tự Do rực rỡ muôn màu

Maxim dìu bước em vào thiên thai

Duy Tân bóng mát trải dài

Queen Bee vang tiếng hát ai dặt dìu

Đường Trần quốc Toản thân yêu

Trường Hành Chánh trong nắng chiều nghiêng nghiêng

Bạch Đằng xóa nỗi ưu phiền

Chợ hoa Nguyễn Huệ ghe thuyền Chương Dương

Đường về Gia Định muôn phương

Dừng chân Phú Nhuận nghe thương nhớ nhiều

Đa Kao xe cộ dập dìu

Phố khuya Tân Định hắt hiu dáng gầy

Lăng Ông Bà Chiểu giờ đây

Còn đâu hương khói những ngày đầu Xuân

Từ Cây Thị đã bao lần

Loanh quanh đưa lối mãi gần Cây Mai

Qua Cầu Khánh Hội chia hai

Lối đi Thương Cảng dấu hài còn in

Quán ăn Chợ Lớn linh đình

Phú Lâm ngả rẽ tâm tình từ lâu

Nguyên Trần (Toronto một ngày nhớ về Sài Gòn)

Bài “Tên đường phố Sài Gòn xưa và nay” của Nguyên Trần là một công trình nghiên cứu công phu và rất  thú vị. Bài đã được bổ sung nhiều lần cho thật hoàn chỉnh. Nhóm chủ trương xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc version mới nhất của anh. Kính.

Yên Huỳnh post

Lời kêu gọi khẩn cấp: Tư vấn cho Kim Dâng Un

Lời kêu gọi khẩn cấp: Tư vấn cho Kim Dâng Un

nguyenhuuvinh

RFA

(Truyện vui cuối tuần)

Hỡi tất cả các đảng viên Cộng sản

Nhận thấy rằng:

Ngay từ khi đi học, tôi và các bạn – chúng ta đã được hệ thống giáo dục của “Đảng ta” giáo dục rằng: Trong thế giới ngày nay, tinh thần Quốc tế Cộng sản là hết sức cao cả. Tinh thần đó phải được coi là lớn lao nhất, quan trọng nhất của những người con yêu nước – tức là yêu Chủ nghĩa xã hội. Với tinh thần đó, dù phải hy sinh lợi ích của quốc gia, của dân tộc, thì cũng phải hy sinh cho tinh thần quốc tế vô sản cao cả.


Trong suốt thời kỳ cầm quyền, lãnh đạo dân tộc những năm qua, “Đảng ta” đã thực hiện một cách xuất sắc đầy vinh quang. Về vai trò, “Đảng ta” đã tự nhận trách nhiệm cho mình là “Tiền đồn của phe XHCN” của toàn thế giới. Về mặt tuyên truyền, “Đảng ta” đã cho nhân dân ta biết rằng: Đó là sứ mạng cao cả mà lịch sử đã “chọn chúng ta làm điểm tựa” – Tố Hữu.

Về vị trí, “Đảng ta” đã không ngần ngại tự xưng Việt Nam là một tên lính gác cho Hòa bình thế giới. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã từng nói: “Có người ví von, Việt Nam Cuba như là trời đất sinh ra. Một anh ở phía đông, một anh ở phía tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới. Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ“. (Phát biểu trong chuyến thăm Cuba năm 2009). Vì vậy, hiện nay Cuba hình như đang ngủ hẳn, thì Việt Nam chúng ta lại một lần nữa được “lịch sử giao phó” nhiệm vụ gác cả ngày cả đêm, không thể rời bỏ vị trí.

Chẳng hạn trước đây, khi bạn vàng Saddam Husein bị nguy ngập trước sự nổi dậy của người dân và cuộc tấn công của đồng minh, trên mạng đã xôn xao tin Phó Chủ tịch nước ta Nguyễn Thị Bình đã khẩn cấp sang thăm Iraq có thể là để tư vấn về vấn đề chiến tranh du kích. Tuy nhiên, việc sang đó hơi chậm nên Saddam Husein đã bị người dân lật đổ và dẫm giày lên mặt. Cuối cùng đã phải chịu án treo cổ. Lần này, càng cần rút kinh nghiệm làm sớm hơn.

Trước tình hình bán đảo Triều Tiên căng thằng, phía Triều Tiên đã chuẩn bị tinh thần giải phóng Miền Nam. Việc giải phóng miền Nam Triều Tiên là nhiệm vụ to lớn của người Cộng sản Triều Tiên. Nhằm thể hiện tinh thần yêu thương đối với người dân Miền Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) đang sống trong tủi nhục của nạn ngoại xâm, mất nước và chính phủ bù nhìn…

Tuy nhiên, trên mạng ít tìm thấy thông tin của phía Bắc Triều. Vì thế, các bạn đảng viên Cộng sản, các đoàn viên là cánh tay đắc lực của Đảng, cần có những đề xuất và ý kiến với đảng ta và đảng bạn. Hồ Chí Minh đã chẳng để lại di chúc rằng: “Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình” đấy thôi?

Nếu là cố vấn cho Kim Dâng Un bạn sẽlàm gì?

Riêng tôi, dù không là đảng viên Cộng sản, nhưng nếu là cố vấn cho Un, tôi sẽ tư vấn những việc sau:

Về quân sự, vũ khí:

– Lập lại (nếu chưa có) hệ thổng “Ủy” trong quân đội, để đảm bảo quân đội chỉ trung thành với đảng cộng sản, nhân dân là cái đinh, chết thì nó đẻ. Tuyên truyền rõ trong nhân dân rằng: “Quân đội trước hết phải trung thành với đảng. Bởi đảng đẻ ra quân đội trước khi có đất nước này”. Nếu trường hợp nào không thông, không tiêu diệt được để bịt mồm, thì mời chuyên gia ở Báo Quân đội Nhân dân của ta sang giải thích.

– Tiêu chí là: Thắng lợi là quan trọng. Khẩu hiệu là “Dù phải đốt cháy cả Dãy núi Taebaek (Thái Bạch sơn mạch – là một dãy núi kéo dài trên cả hai miền nam và bắc bán đảo Triều Tiên. Đây là dãy núi chính của bán đảo Triều Tiên) thì cũng phải giành cho được độc lập”.
(Lưu ý: Cấm tuyệt đối không cho thằng nào hỏi lại hoặc không trả lời câu hỏi: Đốt hết thì giành độc lập để làm gì?)

– Chuẩn bị đầy đủ cung nỏ, loại có thể bắn và tiêu diệt máy bay như Việt Nam đã từng có. Loại này nếu không có, thì sang mua của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

– Tăng cường huấn luyện nữ dân quân, cụ già, thiếu nhi dùng súng trường CKC bắn phát một để bắn rơi máy bay F105 của Mỹ khi chiến đấu. Cách huấn luyện có thể học tập ở Quân đội Nhân dân Việt Nam.

– Quân đội nhân dân Việt Nam cần cử ngay các anh hùng, dũng sĩ đã từng dùng súng trường CKC phát một bắn rơi máy bay địch như anh hùng Đinh Cà Méo ở Quảng Bình, Đinh Thị Hồng Thương ở Hà Tĩnh, các đội dân quân nữ… sang để giúp bạn. Loại này dù ta rất nhiều nhưng vẫn phải cử đi gấp không thì chết hết lại không có người mà huấn luyện.

– Tổ chức nhiều Công ty Quân đội làm kinh tế, thả cửa cho đám sỹ quan tham gia và kiếm tiền. Chúng nó có nhiều tiền thì mới cố giữ quân đội. Đặc biệt, trong các Công ty đó, duy trì chế độ cha truyền, con nối một cách quyết liệt, kệ cha thiên hạ thối mồm.

– Đặc biệt, cần quan tâm là Quân đội phải tham gia chống Diễn biến hòa bình trong nhân dân, đối tượng chính là nhân dân. Nhất là khi có mâu thuẫn giữa nhân dân và các nước anh em trong Phe XHCN.

– Công an có thể làm bất cứ việc gì mà không cần tuân theo luật pháp. Những đứa dân khó trị đưa vào đồn Công an cho tự tử.

– Công an cần nêu cao khẩu hiệu: “Còn đảng, Còn mình” khắp mọi nơi để củng cố tinh thần bảo vệ đảng cho họ.

– Lập ngay các đội quân khủng bố, giết người, ném lựu đạn không ghê tay mang tên “Đội tự vệ thiếu nhi” hoặc “Biệt động quân”… gửi sang Nam Hàn hoặc tổ chức tại chỗ để chiến đấu trong lòng địch hiệu quả nhất.

Về Chính trị:

– Liên tục kêu gào: Chúng tôi giải phóng miền Nam, nguyện làm tiền đồn cho phe XHCN. Có vậy mới được sự ủng hộ, giúp đỡ của các anh bạn vàng Cộng sản.

– Nhượng bớt (hoặc để chiếm không ý kiến) một số phần lãnh thổ, hải đảo và biên giới. Điều này dễ làm trong điều kiện chiến tranh không ai chú ý. Nhằm để các nước anh em, bạn vàng ủng hộ chắc chắn rằng đảng sẽ tồn tại vĩnh viễn.

– Lập ngay Ban Tuyên Huấn ở mọi cấp (Hoặc cũng có thể là Ban Tư tưởng và Văn Hóa) để hướng dẫn nhân dân được tin ai, tin cái gì… chỉ do đảng nói. Tăng cường việc cho các quan chứ nói văng mạng không cần sự thật, không cần sợ dư luận, không cần việc chịu trách nhiệm… những điều đó đã có đảng lo.

– Bắt giam, không cần xét xử hoặc xét xử lấy lệ những kẻ nào dám yêu Tổ quốc mà không yêu CNXH, dám đòi dân chủ, nhân quyền, dám phản đối đảng bán nước… không khoan nhượng.

– Làm hàng loạt khẩu hiệu nội dung như: Đảng CS Triều Tiên muôn năm, Đảng CS Triều tiên là người tổ chức, lãnh đạo mọi thắng lợi của dân tộc. Vì miền Nam ruột thịt, vì CNXH, mỗi người làm việc bằng hai, bằng ba”… dán khắp mọi nơi.

– Thu hồi tất cả mọi phương tiện nghe nhìn mà không được kiểm soát. Cấp giấy đăng ký các loại phương tiện đó, với điều lệnh: Cấm nghe đài địch.

– Tăng cường về sự lãnh đạo tài tình của đảng, như đã biết trước vấn đề này, vấn đề kia… Nhưng sở dĩ thất bại là tạm thời vì đảng chủ trương như thế…

– Tăng cường tuyên truyền về cha già dân tộc là thánh sống, là niềm tin yêu tất thắng, là đẹp nhất, là hi sinh nhất, là đạo đức nhất (Nếu có thể thì giấu vợ con đi và tuyên truyền người đã hi sinh đời tư cho Tổ Quốc – Khi cần thiết, có thể hy sinh đám thân nhân của người đi). Khẩu hiệu là “Toàn đảng, toàn quân, toàn dân một ý chí, học tập và làm theo đạo đức tư tưởng Kim Dâng Ủn”, kể cả bệnh viện Tâm thần.

– Thời gian qua, hệ thống tuyên truyền đã dựng lên nhiều hình ảnh đẹp về lãnh tụ, về Cha già dân tộc như: “Khi mới ba tuổi, đại tướng Kim Jong-un đã biết bắn súng. Năm chín tuổi, đại tướng Kim đã có thể bắn trúng mục tiêu di động. Cũng từ năm ba tuổi, đại tướng Kim đã học lái xe. Năm chưa tròn tám tuổi, đại tướng Kim lái chiếc xe tải chở hàng cỡ lớn, vượt qua đoạn đường khúc khuỷu với vận tốc bình quân 120 km/h và tới đích an toàn”. Tuy nhiên đó là những câu chuyện dùng để truyền miệng là chính. Cần có một số tác phẩm do chính người viết ra để ca ngợi mình.

Trong trường hợp cần thiết, kính đề nghị Cha già dân tộc Kim Dâng Un tự viết truyện kể về đời hoạt động của mình để nhân dân đọc mà truyền tụng. (Lưu ý: Có thể để Người lấy tên khác cho đỡ lộ hàng và bỉ mặt).

– Sáng tác ngay các bài hát cho Thiếu nhi, Thiếu niên, thanh niên, phụ nữ, phụ lão… cho đủ mọi giới ca ngợi “Bác Ủn” – cha già dân tộc. Chẳng hạn: “Đêm qua em mơ gặp Bác Ùn, dáng bác lùn, tóc bác dựng cao, em âu yếm hôn đôi môi bác…”

– Tăng cường tuyên truyền về nỗi thống khổ của nhân dân miền Nam ruột thịt đang bị bọn Mỹ xâm lược và bọn tay sai bán nước chà đạp và kìm kẹp. Người dân Miền nam đang ngày đêm rên xiết dưới gót giày xâm lược và lưỡi lê của bọn tay sai.

– Sáng tác nhiều tác phẩm về kẻ thù của dân tộc như ăn gan người sống, uống máu trẻ em, giết con trẻ, đầu độc tù nhân, giết cả làng bằng bom đạn… Nếu không có hình ảnh, có thể dùng hình ảnh của những cuộc cưỡng chế bên Việt Nam làm thí dụ.

– Sang Việt Nam, mua ngay Tuyển tập Tố Hữu, về khẩn trương thay tên nhân vật chính thành Kim Dâng Un, mọi nội dung khác có thể để nguyên. Sau đó tổ chức cho các nhà văn, giáo viên, nhà thơ… bình giảnh về nội dung như: “Miền Nam ơi, thuốc độc giấu trong cơm”… hoặc sáng tác các bài hát: “Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước, diện Đế Quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước”.

– Đặc biệt, cần phải có ngay những hình mẫu thiếu niên, thiếu nhi anh hùng như Lê Văn Tám ở Việt Nam trong thời chống Pháp, Nguyễn Bá Ngọc trong thời chống Mỹ… để trẻ em noi theo. Tăng cường những bài thơ như: “Ngu xuẩn nhất nhì, là tổng thống Mỹ” – Trần Đăng Khoa – để các em học sinh dễ nhớ, dễ thuộc.

– Trong trường hợp không có hình ảnh Lê Văn Tám, có thể dùng hình ảnh dân Việt Nam bị cướp đất tự thiêu những ngày qua đầy rẫy trên mạng.

Về Kinh tế:

– Thực hiện tập thể hóa toàn bộ nền kinh tế có chủ đạo của nhà nước. Cấp tem phiếu cho từng người dân, quản lý chặt chẽ bằng hộ khẩu. Nhằm giúp cho nhà nước biết nhanh nhất đứa nào có ý định phản loạn, sống ngoài nhà nước, hoặc có ý đồ phản loạn thì cắt ngay lương thực, thực phẩm, tem phiếu thương nghiệp… cho nó đói rã họng phải theo đảng đến cùng.

– Tuyên bố với thế giới: Tiến thẳng lên CNXH không qua tư bản chủ nghĩa. Quyết tâm đi tắt đón đầu, nhảy vọt, hiện đại hóa… Nghĩa là người dân càng nghe càng khoái nhằm thúc đẩy họ tiến lên theo đảng. Trong trường hợp cần thiết, có thể tuyên bố nền kinh tế là “Thị trường định hướng XHCN”. Tuy nhiên, khi đi gặp các nước tư bản, thì nên xin bằng được họ công nhận là Kinh tế thị trường mà không cần cái đuôi thổ tả kia.

– Bán tài nguyên thiên nhiên, tăng cường sự hiện diện của người dân, binh lính và các cơ quan từ các nước anh em xã hội chủ nghĩa để tăng cường đoàn kết và xin viện trợ.

– Thậm chí, khi cần bán bớt một số đảo, quần đảo của Miền Nam đang giữ cho bạn vàng, nhằm giữ bằng được viện trợ vũ khí, ca la thầu, lương thực… để lấy tiền giải phóng miền Nam. Để thực hiện điều này, cần nói với nhân dân là “Bạn giữ cũng như ta giữ”.

– Tăng cường các loại thuế, phí không cần ý kiến khả năng của người dân. Bất cứ người dân nào kêu ca, xếp ngay vào thế lực thù địch.

– Tăng cường các “quả đấm thép” – Tập đoàn kinh tế của nhà nước để khi làm ăn thất bại thì đấm vào mặt nhân dân.

Về Ngoại giao:

– Kiên quyết không đội trời chung với Đế Quốc Mỹ, chỉ có thể đội trời chung với kẻ thù truyền kiếp. Tiến tới lập đường dây nóng và mối quan hệ sắt son “4 tốt, 16 chữ vàng” với bạn của đảng, dù là kẻ thù của nhân dân, dân tộc.

– Tăng cường sự lãnh đạo của đảng trong đường lối ngoại giao, quyết tâm làm bạn với tất cả các nước, tuy nhiên, chỉ làm bạn thật với Bạn vàng mà thôi.

–  Kiên quyết không động binh, không làm mất lòng người bạn lớn XHCN Trung Hoa trong mọi trường hợp, kể cả có nguy cơ xâm lược và bị xâm lược. Cần xác định rằng, nếu bạn lớn không ủng hộ, thì đảng không có đất mà chôn.

Về giáo dục:

– Khẩn trương hoàn thiện “một nền giáo dục hoàn toàn Bắc Triều Tiên” cho các sinh viên, học sinh từ đại học đến nhà trẻ học tập Chủ nghĩa Mác – Lenin và đạo đức Tư tưởng Kim Dâng Un là quan trọng, các vấn đề khác như kỹ thuật, công nghệ, tài năng không quan trọng. Bởi không thấm nhuần được các thứ đó thì “có tài cũng vô dụng”. Bộ môn này được thực hiện bất cứ đâu, kể cả cá trường Tôn giáo.

– Đưa ngay vào chương trình giáo dục những câu chuyện dù là truyền thuyết, dù là tự kể, hoặc đặt ra… nhưng phải có tính đảng, nghĩa là phải chứa đựng bạo lực càng nhiều càng tốt. Chẳng hạn: “Bạn An giết được 10 tên địch, bạn Bình giết được hơn 6 tên, hỏi cả hai bạn giết được bao nhiêu tên?”. Hoặc những câu chuyện cỡ như Tấm hiền dịu, xinh đẹp nhưng vẫn giết Cám làm mắm cho mụ dì ghẻ ăn… những tác phẩm đó có tác dụng mãnh liệt tạo nên một xã hội chém giết mà không cần suy nghĩ và run tay. Kinh nghiệm về điều này đã có ở Việt Nam, khi thanh niên va chạm  xe máy là cầm dao cắt cổ luôn, hoặc thảm sát xảy ra thường xuyên  thời gian gần đây.

– Tăng cường “Cuộc cách mạng văn hóa tư tưởng ở miền Bắc” một cách sâu rộng nhất, xác định rõ mục tiêu là tiêu diệt tôn giáo bằng mọi cách từ thô sơ như phá chùa, phá đền, cướp nhà thờ… đến tinh vi như lập ra và hỗ trợ một số tôn giáo quốc doanh để quần chúng nhân dân ngu xuẩn cứ vậy đi theo.

– Tăng cường sự lãnh đạo của đảng khắp mọi nơi mọi chỗ, kể cả trong quan hệ nam nữ, trong vấn đề kế hoạch hóa gia đình… Đưa ngay một Đại tướng nổi tiếng sang phụ trách vấn đề này cho có uy lực.

– Cấm tuyệt đối việc tụ tập trái phép. Nhưng tăng cường kích động dân Mỹ và miền Nam, nhất là sinh viên đòi quyền tự do biểu tình, tự do tôn giáo, tự do bầu cử. Mục đích là ở các nước đó, họ biểu tình càng nhiều càng tốt.

– Tại miền Nam và các nơi khác ngoài Bắc Triều tiên, tăng cường đòi hỏi tự do tôn giáo. Thậm chí nếu cần, đưa vài sư sãi xuống đường, đổ xăng đốt rồi đưa hình ảnh tự thiêu lên diễn đàn tố cáo. Tăng cường các bài thơ kiểu “Emily con ơi” của Tố Hữu bên Việt Nam với những câu thơ nhức nhối như sau mới có thể kích động được người dân:

Giôn-xơn
Tội ác bay chồng chất
Cả nhân loại căm hờn
Con quỷ Vàng trên mặt đất
Mày không thể mượn nước sơn
Của Thiên chúa, và màu vàng của Phật
Măc Na-ma-ra
Mày trốn đâu? Giữa bãi tha ma
Của toà nhà năm góc…

– Liên tục cải cách, cải tiến, cải tổ ngành giáo dục, kiên quyết thực hiện bằng được nền “giáo dục hoàn toàn Bắc Triều Tiên”.

Thưa các bạn đảng viên cộng sản

Còn nhiều mặt, nhiều vấn đề cần tư vấn cho Kim Dâng Un, nhưng trong một bài viết ngắn, không thể liệt kê hết. Nhất là trong tư cách một cá nhân, không thể lĩnh hội hết bài học từ đảng quang vinh của chúng ta. Vì thế tôi kêu gọi các bạn hãy lên tiếng để ủng hộ Kim Dâng Un trong “Sứ mạnh chính trị to lớn mà lịch sử đã giao phó” là: Tiến hành Giải phóng miền nam, Thống nhất tổ quốc, đưa đất nước “tiến nhanh, tiến mạnh tiếng vững chắc lên Chủ nghĩa xã hội” như ở Việt Nam ta.

Nếu các bạn không làm kịp điều đó, tôi tin rằng một ngày không xa, trên Thiên đường XHCN chỉ còn mỗi Việt Nam, không có bạn bè láng giềng thì thật là buồn thảm.

Thậm chí, các bạn sẽ có lỗi trước vong linh của người, đã từng hy sinh để đưa Cộng sản vào đất nước này tác oai tác quái cho các bạn được hưởng chế độ thiên đường.

Hãy nêu cao ý chí và tinh thần của người Cộng sản các bạn nhé.

Tiến lên. Toàn thắng ắt về ta.

Hà Nội, 22/8/2015, Ngày Bắc Hàn tuyên bố Chuẩn bị xong hoạt động quân sự chống Hàn Quốc.

·       J.B Nguyễn Hữu Vinh

Những năm tháng còn lại trong cuộc đời …

Những năm tháng còn lại trong cuộc đời …

Không rõ tác giả.

Đời người thật ngắn ngủi. Nhớ lại vào lứa tuổi đôi mươi, ta lang thang trong khuôn viên mái trường , vui cười vô tư và bây giờ đã gần 50 năm trôi qua rồi. Đời người thoáng chốc đã già!

Bây giờ, những năm còn lại trong cuộc đời của một người, ta cần sống thanh thản, sống thoải mái, sống hạnh phúc. Vì qua một ngày, ta đã mất một ngày. Vì vậy, một ngày đến, ta vui một ngày. Vui một ngày…rồi không biết sẽ còn vui được bao nhiêu ngày nữa. Hạnh phúc là do chính mình tạo ra, vui sướng cũng do chính mình tìm lấy vì những niềm vui ấy đã ẩn chứa trong những sự việc nhỏ nhặt x​ẩy ra trong đời sống.

Hạnh phúc chỉ là những gì hiện đang ở chung quanh ta, trong tầm tay ta.

Về tiền bạc, Ta vẫn biết khi ta ra đời ta đâu có mang nó đến, và khi ra đi  ta cũng không thể mang nó theo.

Đồng tiền có thể mua một lâu đài to lớn, nhưng đồng tiền không mua được mái ấm gia đình.

Đồng tiền giúp ta mua được nhiều thứ tiện nghi trong cuộc sống, nhưng đồng tiền không mua được sức khỏe cũng như hạnh phúc trong đời sống.

Quãng đời còn lại thì quá ngắn ngủi, ta phải sống những ngày tháng cho đáng sống, ta phải làm cho cuộc đời thêm phong phú .

Không trách móc ai làm gì nữa. Họ làm sai với ta thì họ cũng đã bị lương tâm cắn rứt, và theo thời gian họ cũng đã biết ăn năn, hối hận rồi.

Vào trong internet , fb để gửi thư cho bạn bè, để chia sẻ một tin mới, một chuyện vui, một bản nhạc hay, một bài viết có giá trị, hay “chat” với người quen biết. Ta cần trao dồi bộ óc để trí nhớ vẫn còn sáng suốt. Nếu có người bạn cần giúp, ta cứ mở lòng nhân ái, tốt bụng với mọi người. Rảnh rỗi đi làm những việc từ thiện ngoài xã hội, giúp một tay tại những nơi tôn kính như nhà Chùa, nhà Thờ,… lấy việc giúp người làm niềm vui, đó là những thú vui trong tuổi già.

Hơn nửa đời, ta dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho chính mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho thanh thản, vui vẻ. Việc gì muốn thì làm, ai nói sao thì mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình. Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá kiêng cử thì không đủ chất bổ dưỡng, quá nhàn rỗi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu…

Cuộc sống tuổi già thật đa dạng, nhiều màu sắc nên ta cần có nhiều bạn bè, nhiều nhóm bạn bè hoặc tham dự vào những sinh hoạt trong các Hội đoàn ái hữu lành mạnh. Gặp bạn, nói ra những điều phiền muộn cho nhau nghe. Hãy tìm cách gặp gỡ bạn bè và người thân vì không còn nhiều thời gian nữa.

Một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi đến chỗ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng. Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh. Đừng bao giờ nói, hay nghĩ là: “ Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nữa”.

Đừng nói những lời hay những tư tưởng có ý tuyệt vọng.

Người già chỉ sảng khoái khi được có bạn tâm giao, đó là một liều thuốc bổ mà không Bác sĩ nào có thể biên toa cho ta mua được.
Có những thứ hiện đang chung quanh ta rất quí giá mà có nhiều tiền cũng không mua được, đó là người phối ngẫu hay  người tình của ta. Hãy luôn trân trọng họ.

Nếu có chút ít đồng tiền thì cứ tiêu xài những gì ta cần vì sẽ có lúc ta để lại cho người khác xài.

Nếu hôm nay ta còn khoẻ mạnh, còn ăn được những món ăn ta thích và ăn biết ngon là ta đã có một khối tài sản to lớn trong tuổi già.

Rồi ta tìm đến những người bạn cùng nhau uống tách trà nóng, ly cà phê buổi sáng, kể chuyện năm xưa hay trao đổi những kinh nghiệm trong cuộc sống hiện tại.

Tứ khoái của tuổi già là: Ăn, ngủ, thể dục và du lịch.

Ăn được ngủ được là Tiên. Ăn và ngủ đi đôi với nhau. Người lớn tuổi có nhiều thì giờ nghỉ ngơi, cần có chế độ ăn uống bổ dưỡng, cung cấp đủ calories cho cơ thể. Sự luyện tập thể dục là thỏi nam châm của cuộc sống và là kim chỉ nam của tuổi thọ. Đi du lịch để cho cuộc đời thoải mái, trí óc thanh thản và vui sống.

Khi về già, ta thường hay sống về quá khứ, hay nhớ lại chuyện xưa. nhưng sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói, xa vời rồi.

Hẹn nhau trong những buổi họp mặt để ta có nhiều người bạn tâm tình, kể lại những kỷ niệm đẹp trong quá khứ…vui cười thích thú.

Ta phải làm thế nào tuổi già mà tâm không già, thế là già mà không già. Nụ cười là liều thuốc bổ quí nhất.

Ta cần tránh đi những sự cãi vả, tranh dành hơn thua từng lời nói hoặc những tranh chấp vô ích với bất cứ ai.

Chính những lúc cãi vả, giận dữ đó đã đánh mất đi những niềm vui trong cuộc sống, không thích hợp trong tuổi của ta, nhất là những người đang đau yếu. Ta phải đối diện với bệnh tật một cách lạc quan, tự tin, đừng quá lo âu. Khi đã làm hết khả năng theo tầm tay, sẽ có thể ra đi mà không hối tiếc. Hãy để Bác Sĩ chăm sóc, luôn luôn giữ bình an trong tâm hồn.

Ta có thể nói là mình có hạnh phúc thật sự khi có sức khỏe tốt, chịu đi tập thể dục, có cơ hội du lịch thường xuyên, ngủ ngon, ăn uống ít , kiêng cử khi vào tuổi hoàng hôn.

Thiên đàng không phải đi tìm đâu cho xa mà thiên đàng do ta dựng lên và chui vào đó mà hưởng hạnh phúc. Sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quí trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghiã của nó làm cho cuộc sống vui hơn, giầu ý nghiã hơn.

Hoàn toàn khoẻ mạnh, đó là thân thể khoẻ mạnh, tâm lý khoẻ mạnh và đạo đức khoẻ mạnh…Tâm lý khoẻ mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao tiếp; Đạo đức khoẻ mạnh là có tình yêu thương, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung.

Người thích làm điều thiện sẽ sống lâu. Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai, bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong xã hội, thể hiện giá trị cuả mình đó là cách sống lành mạnh.Sinh, Lão, Bệnh, Tử

Sinh, Lão, Bệnh, Tử là qui luật ở đời, không ai chống lại được. Khi Tử Thần gọi đến thì vui vẻ mà đi. Cốt sao sống thanh thản,không hổ thẹn với lương tâm…

Và cuối cùng hãy luôn nhớ rằng cuộc đời của một người cũng chỉ là một con số không to lớn.

2016: Chu Kỳ Suy Thoái Kinh Tế Bắt Đầu

2016: Chu Kỳ Suy Thoái Kinh Tế Bắt Đầu

Alan Phan

image

Trung Quốc đối diện với biến động xã hội – VN Đồng mất hơn 10% giá trị – Suy thoái toàn cầu làm các dòng tiền lưu thông chậm lại.

(GNA: Sau đây là bản gốc của bài viết. Nhiều tờ báo khác đăng tải, nhưng đã biên tập kiểm duyệt nhiều ý chính)

Đầu năm nay, một người bạn cũ từ Thượng Hải ghé qua California thăm. Anh là đại gia có tiếng, liên quan đến nhiều dự án rầm rộ,  từ công nghệ cao, sản xuất hàng gia công đến bất động sản, chứng khoán. Dĩ nhiên, sự thành công của anh giống như các tư bản đỏ khác đều dựa vào một mạng lưới quan hệ rất chặt chẽ với chính quyền địa phương. Trong khi đó, chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” của Tập Cận Bình đang lan rộng khắp nước, nhất là từ khi Bạc Hy Lai và Chu Vĩnh Khang bị bắt.

Trong bữa ăn, hai vợ chồng tỏ vẻ lo âu, thiếu thần sắc. Dù tôi cũng đang bị cái bệnh suy thận hành hạ, nhưng ngoài việc sụt cân, tôi vẫn nghĩ mình may mắn hơn khi so với cặp tỷ phú đô la này. Sau những cập nhật về tin tức, bạn bè, cùng thời sự nóng bỏng của Trung Quốc, anh đi thẳng vào vấn đề…Anh đã chuyển ra khỏi Trung Quốc gần 40 triệu USD nhưng các tài sản khác còn kẹt lại trong nước vẫn lên đến cả chục tỷ (dĩ nhiên phải trừ đi số nợ nần và vốn góp từ nhiều người khác). Anh hỏi có cách gì để “internationalize” (quốc tế hóa) các tài sản này để đặt chúng ngoài tầm tay của chính quyền. Niêm yết sàn chứng khoán Âu, Mỹ…có khả thi?

Tôi không thể tiết lộ chi tiết những chiến lược và chiến thuật tái cấu trúc của một khách hàng; nhưng nói về vĩ mô, tôi nói với anh là “time is running out” cho anh, trong một bối cảnh Trung Quốc sẽ gặp nhiều hỗn loạn kinh tế và xã hội trong vài năm tới. Tôi nói đây chỉ là cảm nhận (perception) của một doanh nhân; không phải là một dự đoán (prediction) chính xác về bất cứ kịch bản nào. Nhưng chắc “thánh nhân đãi kẻ khù khờ” nên cái miệng ăn mắm muối, nói bậy bạ của tôi, lại thể hiện một tiên tri “chó ngáp phải ruồi”, khá hiện thực, nhất là trong vài tháng qua, với sự sụp đổ của sàn chứng khoán Trung Quốc và sự phá giá của đồng nhân dân tệ.

Trước hết, xin nói rõ hơn về khác biệt giữa “dự đoán” và “cảm nhận”. Dự đoán từ các chuyên gia, giới hàn lâm…thường dựa vào số liệu, sự kiện, phân tích rồi dự phóng theo nguyên tắc khoa học (định lượng hay định phẩm- quantitative or qualitative). Cảm nhận cũng dựa trên vài yếu tố đó, nhưng pha trộn khá nhiều cái trực giác mà người làm ăn gọi là “gut feeling”, một may mắn hay rủi ro có thể đẩy bạn lên cao hay chôn bạn xuống bùn.

Và tôi giải thích với người bạn Thượng Hải của tôi những nguyên nhân tôi cho rằng time is running out cho anh ta và có lẽ cho khá nhiều nền kinh tế trên thế giới. Hôm nay, cập nhật thêm tình hình kinh tế Trung Quốc hiện nay, tôi có thể kết luận hơi “shocking” với cảm nhận của mình.

a. Tôi nghĩ rằng cái gọi là “cuộc chiến tiền tệ” chỉ là một thủ thuật mà các lãnh đạo kinh tế thế giới vẫn dùng hàng ngày, dưới nhiều hình thức khác nhau. Âu Mỹ Nhật…thường kết tội Trung Quốc là cố tình giữ tỷ giá nhân dân tệ quá thấp, rồi quá cao… để thu lợi cho cán cân thương mại. Nhưng chính các quốc gia này cũng đã hành xử tương tự khi cần.

Sự phá giá của tiền Trung Quốc trong tuần qua chỉ là một cú đánh bắt buộc của chính quyền để cứu những công ty xuất khẩu và tạo thế cạnh tranh về giá cả. Tuy vậy, tôi nghĩ là chính sách này sẽ bị giới hạn nhiều về hiệu quả vì các nước có mặt hàng xuất khẩu tương tự cũng biết phá giá bản tệ của mình để giữ thị phần.

Sự can thiệp của chính quyền Trung Quốc trong việc tỷ giá cũng giống như những can thiệp vào thị trường chứng khoán…nó có thể giúp ổn định trong một thời gian ngắn, không thể áp dụng lâu dài. Một hậu quả nghiêm trọng mà lãnh đạo Trung Quốc chịu hy sinh là niềm tin của nhà đầu tư, đối tác nước ngoài…về dài hạn. Đây sẽ là một “tử huyệt” , khó hồi phục, khi so với bong bóng tài sản (chứng khoán, bất động sản, hàng tồn kho…) hay so với nợ công địa phương, nợ xấu, tín dụng đen…

b. Ảnh hưởng lớn hơn có thể làm phần lớn dân số trên thế giới “nghèo” đi một chút là đồng USD sẽ tăng giá mà cơ quan Fed không cần phải hạ lãi suất. Tôi nghĩ rằng tỷ giá nhân dân tệ với Mỹ kim sẽ “xuống” thêm khoảng 12% cho đến cuối 2016. Các bản tệ khác của Châu Á cũng sẽ mất khoảng 7% giá trị trong thời gian này (so với USD). Riêng Việt Nam, vì một nền kinh tế quá buộc chặt vào Trung Quốc, VN đồng sẽ lao dốc xuống hơn 10%, mặc cho nỗ lực hay lời cam kết của Ngân Hàng Nhà Nước. Những số nợ thanh toán bằng USD sẽ chịu thêm phí tổn và nhiều doanh nghiệp sẽ lao đao với tình huống mới.

c. Có thể nói lần này Trung Quốc sẽ xuất khẩu “giảm phát” toàn cầu. Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa sẽ không tăng trưởng dù giá có rẻ hơn chút đỉnh, vì người dân đã bị giảm thu nhập và nạn thất nghiệp sẽ gia tăng. Kỳ vọng vào đầu tàu Mỹ cũng sẽ không hiện thực vì hiện nay, kinh tế Mỹ đã có nhiều dấu hiệu mệt mỏi. Dow Jones và S&P indices đang chờ một điều chỉnh mạnh, có thể đến với việc “nổ bong bóng IT” của Silicon Valley.

Tuy không tệ hại và sâu đậm như cuộc khủng hoảng kinh tế của Châu Á năm 1997 hay thế giới năm 2007, kinh tế toàn cầu sẽ chuyển qua một chu kỳ suy thoái, rất khác biệt với những năm go-go của thập niên vừa rồi. Giống như các cuộc khủng khoảng trước đây, các dự án FDI và dòng tiền IDI sẽ ngưng chảy về các kinh tế mới nổi; mà tìm chỗ trú ẩn an toàn ở Âu, Mỹ, Nhật.

d. Khó tiên đoán hơn là những biến động xã hội và chính trị có thể xẩy ra ở Trung Quốc. Khế ước xã hội của Mỹ với người dân là một hệ thống pháp trị, tự do, bình đẳng với cơ hội thăng tiến cho mọi người, không kỳ thị chủng tộc, mầu da hay giàu nghèo. Khế ước xã hội của Trung Quốc (đảng cầm quyền) với người dân là nếu bạn được no cơm ấm cật thì phải tuyệt đối nghe lời chính quyền, cấm phê phán hay đòi hỏi dân chủ.

Nếu bây giờ chính quyền không có khả năng cung cấp phần cam kết của họ, thì việc gì sẽ xẩy ra? Chỉ những vụ cướp đất, ô nhiễm, thực phẩm độc hại, khoảng cách giàu nghèo… đã tạo nên những biểu tình phản kháng khắp nơi, thì chuyện mưu sinh đủ ăn đủ chơi…có thể là một ngòi thuốc súng để thay đổi toàn diện xã hội.

&&&&&

Sau bữa ăn tối đó, tôi và người bạn Thượng Hải tình cờ gặp một quản lý quỹ đầu tư Mỹ khi ra về. Sau phần nắng mưa rồi giới thiệu , ông Mỹ hỏi tôi,” hai anh thấy các khoản đầu tư ở Trung Quốc của tôi có an toàn không?” Tôi cười, nửa đùa nửa thật,” Stay out of China”….rồi nhớ là anh bạn Mỹ này có một cô bồ người Nga rất quyến rũ, tôi tiếp,” and Russia, too…”

Rồi quay lại anh bạn Trung Quốc,” Tiền chỉ là một công cụ. Nó sẽ đưa bạn đến chỗ nào bạn ước muốn; nhưng nó không thể thay bạn để lái xe ( Money is only a tool. It will take you wherever you wish, but it will not replace you as the driver – Ayn Rand) ….

Alan Phan

“We Are Here” – Tự truyện của thế hệ người Việt thứ hai

“We Are Here” – Tự truyện của thế hệ người Việt thứ hai

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2015-08-21

“We Are Here” – Tự truyện của thế hệ tị nạn thứ hai Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

site_197_Vietnamese_424689-700.jpg

Nguyễn Cát Thảo và tự truyện We Are Here ra mắt tại Úc năm 2015

Photo courtesy of sbs.com.au

Your browser does not support the audio element.

Nguyễn Cát Thảo, luật sư trẻ Australia gốc Việt, ra đời trong trại tị nạn Sikiew ở Thái Lan sau  khi ba mẹ cô vượt đường bộ từ Việt Nam sang Kampuchia rồi đến được Thái Lan năm 1979.

Ba tháng sau khi cô chào đời, gia đình Nguyễn Cát Thảo được Australia nhận cho định cư. Năm 2004, khi đang còn học Trung Học, Nguyễn Cát Thảo là người đầu tiên gốc tị nạn được chọn làm đại diện giới trẻ Australia đến diễn đàn Liên Hiệp Quốc ở New York.

Năm 2015, kỷ niệm 40 năm người Việt bỏ xứ đi tị nạn, Nguyễn Cát Thảo ra mắt cuốn tự truyện We Are Here mà cô ấp ủ bao năm:

Đó là giọng đọc của Nguyễn Cát Thảo với đoạn văn mở đầu mà cô nghĩ có thể nói lên lý do thôi thúc cô phải viết tập truyện We Are Here bằng Anh ngữ này:

Gia đình Thảo định cư ở Sydney, tiểu bang  New South Wales. Hiện Thảo là một luật sư. Từ nhỏ tới lớn Thảo đã chứng kiến sự hy sinh của cha mẹ. Những khó khăn không phải thuộc  về gia đình Thảo thôi nhưng mà thuộc về rất nhiều gia đình Việt Nam ở bên Úc và  cả cộng đồng Việt Nam mình ở khắp nơi trên thế giới.

Thảo đã chứng kiến sự đau khổ của những người phải rời khỏi quê hương mình và đến một xứ lạ mà mình không biết ngôn ngữ. Thảo thấy cha mẹ lớn tuổi mà phải nhờ một đứa trẻ 6 tuổi như Thảo phải dịch cho cha mẹ phải làm  đầy đủ cho cha mẹ, và sự khó khăn là mình phải hòa nhập vào xã  hội của một nước khác.

Lúc Thảo lớn lên rồi, tốt nghiệp cử nhân luật và cử nhân thương mại thì Thảo không biết bây giờ phải trả ơn cha mẹ như thế nào. Thế hệ sau này sinh ra  lớn lên ở Úc thì cách nào để duy trì lại câu chuyện của cha mẹ và câu chuyện cộng đồng Việt Nam của mình, cái sức sống và sự can đảm của dân tộc mình? Thảo viết cuốn sách We Are Here,  dịch ra tiếng Việt là Chúng Ta Đã Đến, để giữ lại cho thế hệ sau.

Thanh Trúc: Thảo có thể nói rõ hơn không, vì Thanh Trúc nhận thấy sau chương đầu trở đi  hình như Thảo chú trọng khá nhiều  đến tâm trạng của người trẻ lớn lên giữa nền văn hóa Việt trong gia đình và văn hóa Úc ở học đường cũng như xã hội?

Thảo thấy cha mẹ lớn tuổi mà phải nhờ một đứa trẻ 6 tuổi như Thảo phải dịch cho cha mẹ phải làm  đầy đủ cho cha mẹ, và sự khó khăn là mình phải hòa nhập vào xã hội của một nước khác.
Nguyễn Cát Thảo

Nguyễn Cát Thảo: Chương đầu tiên kể lại hành trình của cha mẹ Thảo đi vượt biên khỏi Việt Nam. Nhưng mà chủ để chính của cuốn sách We Are Here là về một thế hệ sau này chính là thế hệ của Thảo. Lớn lên ở Úc, ngôn ngữ Việt không rành bằng tiếng Anh, cái khó khăn cho thế hệ này là những giây phút cô đơn, là mình thấy tuy rằng mình đang lớn lên ở một môi trường rất tây phương nhưng mà những sự mâu thuẫn về văn hóa, những đòi hỏi bởi xã hội bởi gia đình, những giây phút mình không biết bản thân mình như thế nào. Thảo muốn chia sẻ với độc giả sự khó khăn của một đứa em là Thảo và lớn lên trong môi trường như vậy là như thế nào. Thảo hy vọng cuốn sách We Are Here có thể chia sẻ và là nguồn thảo luận thêm với gia đình mình.

Thanh Trúc: Năm 2007 Nguyễn Cát Thảo khởi sự cuốn tự truyện We Are Here, mãi đến 2014 mới hoàn tất, có thể cho biết vì sao phải mất những 7 năm như thế?

Nguyễn Cát Thảo: Tại vì thứ nhất viết lại tất cả, nói chung là những khó khăn của một gia đình, là có nhiều ký ức mà cha mẹ Thảo đã bỏ quên, đã không muốn nhớ, vì nó quá đau khổ. Cho nên, để tìm những ký ức đó, Thảo phải đi hỏi không những cha mẹ không nhưng cũng hỏi bà con, ông ngoại, bà nội và những người còn sống. Cái đó cũng mất rất nhiều thời gian.

Hình ảnh của cha mẹ, lúc mẹ may đồ đến 3 giờ sáng, những cái kim đâm vào ngón tay mẹ, mẹ ngủ gục tại máy may vì làm quá sức. Ba thì về từ nhà máy lúc 2, 3 giờ sáng, thì cũng rất khó  khăn cho Thảo để sống lại những hình ảnh đó trong quá trình viết cuốn sách này.

Nếu mà những ký ức đó đơn giản thì Thảo nghĩ Thảo có thể viết trong một thời gian  ngắn, nhưng vì phải sống lại là quá đau khổ đi nên nó mới kéo dài bảy năm trời.

Thanh Trúc: Trong cuốn We Are Here, viết lại cuộc sống của những người Việt Nam đến định cư bên Australia có khó như là đào bới trong ký ức của gia đình mình hay không?

Nguyễn Cát Thảo: Thảo nghĩ kinh nghiệm của gia đình Thảo cũng là kinh nghiệm của rất nhiều gia đình Việt Nam ở Úc nói riêng và cộng đồng Việt hải ngoại nói chung. Tuy rằng có nhiều khó khăn, như vậy mà ba mẹ Thảo và những gia đình Việt Nam lúc nào cũng giữ tư cách, tự trọng và minh bạch. Thảo thấy những quan điểm sống về  trách nhiệm bản thân, gia đình và xã hội,  hành động của mình là đại diện cho dân tộc của mình, thì Thảo thấy phải ghi lại. Thảo viết cuốn sách Chúng Ta Đã Đến là chúng ta đã đến nơi có tự do và mình có thể được yên bình.

site_197_Vietnamese_412363-400.jpg

Nguyễn Cát Thảo và tự truyện We Are Here

Thanh Trúc: Trong lúc viết tập tự truyện này, như Thảo nói, Thảo cũng phải nghiên cứu tìm tòi số liệu phải không?

Nguyễn Cát Thảo: Xem lại thống kê của những người được sống sau hành trình vượt biên là không có nhiều, nhất là những người đi đường bộ. Sau khi nghiên cứu Thảo người đi vượt biên bằng thuyền cỡ 50% sống, vượt biên bằng đường bộ như cha mẹ Thảo là 10% sống, vậy là 90%  đã chết, Thảo  mới thấy  10% sống này mới là phép lạ, cái phép lạ là chúng ta đã đến nơi này.

Thanh Trúc: Cuốn sách We Are Here, Chúng Ta Đã Đến, được nhà xuất bản nào ở Australia phát hành cho Thảo?

Nguyễn Cát Thảo: Nhà xuất bản ALLEN&UNWIN,  cũng là nhà xuất bản rất uy tín đã xuất bản cuốn sách Harry Potter rất nổi tiếng. ALLEN&UNWIN   hợp tác với Thảo vì họ nhận xét câu chuyện này đáng để  kể và chia sẻ.

Thanh Trúc: Tập  truyện Anh ngữ về đời tị nạn và hội nhập của thế hệ thứ nhất, dưới ngòi bút của người thuộc thế hệ thứ hai như Thảo, được những bạn đồng trang lứa đón nhận ra sao?

Thế hệ sau này sinh ra lớn lên ở Úc thì cách nào để duy trì lại câu chuyện của cha mẹ và câu chuyện cộng đồng Việt Nam của mình, cái sức sống và sự can đảm của dân tộc mình?
– Nguyễn Cát Thảo

Nguyễn Cát Thảo: Rất là nhiệt tình, Thảo thấy rất xúc động là những người thế hệ thứ nhì, thế hệ như Thảo, đã đọc đã viết email cho Thảo. Những email đầy cảm xúc nói với Thảo là sự khó khăn về ngôn ngữ đã tạo ra một bức tường giữa cha mẹ và con cái, và mối quan hệ  giữa cha mẹ với con cái trở thành một quan hệ về giao dịch, không có chiều sâu. Ví dụ “ăn  cơm chưa”, “đi học thế nào”  vậy thôi. Họ cũng chẳng hỏi cha mẹ về cái lai lịch của mình, về câu chuyện của mình ở Việt Nam, hồi thời trẻ cha  mẹ mình như thế nào như là Thảo kể trong cuốn sách We Are Here.

Thanh Trúc: Vậy là We Are Here đã đóng góp phần nào trong việc đưa hai thế hệ thứ nhất và thứ nhì lại gần nhau, hiểu nhau hơn, phải không?

Nguyễn Cát Thảo: Thì sự đóng góp nhỏ của Thảo thông qua cuốn sách này là mới là đầy ý nghĩa và Thảo cũng rất là xúc động. Ở Úc thì Thảo đã nhận được rất nhiều email từ những người trẻ, sinh ra  và lớn lên ở Úc, nói với Thảo rằng  cuốn sách của Thảo thúc đẩy họ mong muốn, thúc đẩy họ tìm hiểu chính cái lịch sử của gia đình họ, tạo cách có thể gần gủi và hiểu cha mẹ của họ hơn.

Thanh Trúc: Thảo sinh ra trong trại tị nạn Thái Lan, lớn lên rồi đi học ở Úc, làm cách nào mà Thảo nói tiếng Việt giỏi như vậy?

Nguyễn Cát Thảo: Thứ nhất Thảo vô cùng cám ơn ba mẹ vì ba mẹ giáo dục Thảo là Uống Nước Nhớ Nguồn, tuy rằng sống ở hải ngoại mà luôn luôn mình phải nhớ nguồn của mình ở đâu. Mình là người Việt Nam nhưng cũng phải biết là mình đang sống ở Úc. Thảo là người Úc nhưng Thảo cũng là người Việt Nam, ba mẹ đã hướng dẫn cho Thảo biết những cái tốt đẹp của văn hóa Việt Nam như thế nào để mình luôn luôn tự hào về dân tộc Việt Nam của mình. Thảo giữ được ngôn ngữ và phong tục Việt Nam vì cha mẹ của Thảo.

Thanh Trúc: Hãy kể lại một chút về chuyện Nguyễn Cát Thảo từng đại diện giới trẻ Australia đến Diễn Đàn Liên Hiệp Quốc ở New York 11 năm về trước, khi đó Thanh Trúc đã phỏng vấn em rồi, nhớ không?

Nguyễn Cát Thảo: Năm 2004 Thảo được chọn là người đại diện cho tuổi trẻ người Úc ở diễn đàn Liên Hiệp Quốc tại New York. Năm đó Thảo là người đầu tiên gốc tị nạn và người Việt Nam đầu tiên được bổ nhiệm vào vị trí này. Đó cũng là cơ hội rất đặc biệt và Thảo đã học hỏi  được rất nhiều lúc làm việc cho Liên Hiệp Quốc ở New York.

Thanh Trúc: Bây giờ Thảo là luật sư, Thảo có nghĩ mình đã thành công trong cuộc sống hay chưa, những chuyện gì Thảo sẽ làm trong những ngày tới?

Nguyễn Cát Thảo: Hiện tại Thảo cũng là thành viên tư vấn hoặc là giám đốc vài tổ chức từ thiện hoặc tổ chức phát triển cộng đồng. Nhưng cái điều ba mẹ dạy cho Thảo và Thảo muốn nhấn mạnh rằng một cuộc sống ý nghĩa và sự thành công là một cuộc sống mình có thể đóng góp cho xã hội.

Thảo nghĩ Thảo có tham vọng làm những chuyện lớn nhưng mà thật ra những việc Thảo muốn thực tập hàng ngày là phải luôn luôn có một tư tưởng giúp người khác, đóng góp cho xã hội và sống không phải cho riêng mình. Có thể một chuyện rất nhỏ nhưng mình phải thường xuyên làm, giống như cái consciousness (ý thức) cái practice (tập luyện) hàng ngày. Điều quan trọng là cách sống hàng ngày có trách nhiệm cho bản thân, cho  cộng đồng, cho xã hội hay không.

Thanh Trúc: Cảm ơn Nguyễn Cát Thảo về bài phỏng vấn nhân đề cập đến tập truyện We Are Here Chúng Ta Đã Đến mà Thảo mất 7 năm để viết xong.

Liên lạc góp ý với Thanh Trúc: nguyent@rfa.org

Hãy Sống Với Lòng Biết Ơn

Hãy Sống Với Lòng Biết Ơn

Hãy biết ơn Mặt Trời đã cho ta sự sống.

Hãy biết ơn từng vạt nắng đang lung linh nhảy múa trong vườn để ta cảm nghiệm được sự ấm áp của thiên nhiên.

Hãy biết ơn Mặt Trăng kia đã cho ta bao đêm dài thơ mộng mà qua đó bao bài hát, bài thơ trữ tình nảy nở.

Hãy biết ơn từng con suối nhỏ để cho ta nghe được tiếng thủ thỉ của núi rừng.

Hãy biết ơn từng cơn gió nhẹ làm lòng ta tươi mát.

Hãy tạ ơn biển đã cho ta nguồn dinh dưỡng, từng chuyến viễn du đầy thi vị và những cuộc phiêu lưu mạo hiểm làm phong phú hóa tình cảm con người.

Hãy biết ơn cả tiếng chim ca vì đó là tiếng nhạc của Trời.

Hãy tạ ơn cả những con sông đang ôm ấp những bờ kênh thửa ruộng, cho phù sa tuôn tràn màu mỡ, cho lúa tốt trổ bông, cho tôm cá đầy đồng, cho xóm làng tụ hội, cho chợ búa mọc lên, cho thương buôn trên bến dưới thuyền, cho giao thông thuận tiện, cho mạch sống làng quê ngày thêm phong phú.

Hãy biết ơn từng bài ca dao, từng tiếng chuông chùa êm ả để thấy hồn dân tộc vẫn còn năm sâu trong tâm khảm.

Hãy tạ ơn tiếng ru của mẹ để con biết rằng vòng tay đó chính là Thiên Đường.

Hãy cám ơn mẹ già:

Cho dù áo rách sởn vai,

Cơm ăn bát vơi bát đầy

mà vẫn  kiên trì nuôi con cho đến ngày khôn lớn.

Hãy cám ơn các bậc Thầy vì những vị đó đã khai mở trí tuệ cho ta “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”.

Hãy tạ ơn đời.

Hãy cám ơn cả những người đã dối gạt ta để ta hiểu được thế nào là lòng trung tín.

Hãy cám ơn cả người xỉ vả, chụp mũ, bôi lọ, đánh phá ta để ta có dịp huân tập hạnh nhẫn nhục và hiểu được thế nào là sự tha thứ.

Hãy biết ơn những gì gọi là bạo lực vì qua đó ta liễu ngộ đước chân lý vĩnh cửu của tình thương.

Hãy biết ơn cả những thiên tai, thảm họa để cho thấy cuộc sống này qúy giá.

Hãy tạ ơn những người đã nằm xuống để cho ta được sống.

Hãy biết ơn người chiến sĩ đang ngày đêm canh gác, xả thân nơi chiến địa, biển đảo để ta được sống yên bình, mưu cầu hạnh phúc.

Hãy cám ơn sự vấp ngã vì qua đó ta trưởng thành.

Hãy biết ơn cả những người thợ vì họ là những vị thần sáng tạo.

Hãy tạ ơn cả những đang phục vụ ta, những người đang làm những nghề nghèo hèn nhất vì không có họ ta phải chân lấm tay bùn.

Hãy cám ơn người nông phu đã:

Vài ngàn năm đứng trên đất cày

Minh đồng da sắt không thay màu (Phạm Duy)

để dân tộc này có chén cơm hạt gạo.

và cũng:

Dã ơn cái cối cái chày.

Đêm khuya giã gạo có mày có tao (Ca Dao)

Hãy biết ơn cả tiếng gà gáy trong những buổi trưa hè, tiếng võng đưa kẽo kẹt, tiếng sáo diều ngân, tiếng trẻ nói bí bô, tiếng con sáo hót, tiếng ai hát đúm, hát dân ca, hát văn, hát ru, hát hò quan họ để thấy hồn Việt Nam thiêng liêng, bất tử.

Hãy cám ơn cây Đa đã cho ta bóng mát, là nơi dừng chân trên con đường làng dài mệt mỏi.

Hãy cám ơn cả cái Đình để xóm làng mở hội, văn hóa lưu truyền, gái trai hò hẹn.

Hãy cám ơn cả cái Miếu vì qua đó ta thấy các tiên hiền, liệt sĩ, danh nhân vẫn còn ở với chúng ta.

Hãy cám ơn mái Chùa đã đứng đó qua vài ngàn năm để lưu giữ hồn dân tộc.

Hãy cám ơn cả những chuyện thần tiên “Tấm Cám” để con trẻ hay ăn chóng lớn, người già quên đi bao nỗi nhọc và gái trai nuôi bao mộng đẹp.

Hãy cám ơn cả chiếc nón đã che mưa nắng cho cả dân tộc. Thuơng thay “chiếc nón bài thơ” đã lưu giữ hồn thi ca của dân tộc mà bây giờ vẫn còn đây:

Qua đình ngả nón trông đình,

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu (Ca dao)

Hãy biết ơn tất cả dù là một hạ mưa, hạt cát, hạt muối, bó rau, miếng khoai, miếng cà, miếng sắn, con tôm, con tép…

Hãy biết ơn và tạ ơn tất cả.

Lòng biết ơn là lòng Từ Bi là bài Kinh Sám Hối sâu xa và mầu nhiệm.

Kẻ sống với lòng biết ơn chính là kẻ sống với Chân Hạnh Phúc và là kẻ có tâm hồn cao thượng nhất.

Đào Văn Bình

(California Tháng 11, 2008)

NGHE TIẾNG CHÚA NÓI

NGHE TIẾNG CHÚA NÓI

Tĩnh tâm là những ngày nhìn lại linh hồn mình, xét xem tôi đang đi về đâu, ý nghĩa cuộc đời, để rồi chìm sâu hơn nữa trong đời sống tìm kiếm ơn thánh.  Trong những ngày này, người tĩnh tâm thường đặt câu hỏi làm sao tôi có thể nghe tiếng Chúa nói.

Trong cuộc sống, người ta rất thường phân vân, đâu là tiếng Chúa, đâu là tiếng của chính mình.  Khi phải quyết định một vấn đề gì đó hệ trọng, họ tới nhà thờ cầu nguyện, mong nghe được tiếng Chúa dạy.  Họ cầu nguyện nhưng phân vân, rồi vẫn không biết làm sao quyết định.

Nghe là một nghệ thuật không dễ.  Học một ngôn ngữ bao giờ cũng cần có thời gian.  Phải nghe nhiều lần mới quen.  Nghe trong định nghĩa bình thường là âm thanh vật lý vang lên, rồi truyền qua những làn sóng mà đến các thần kinh của tai.  Thần kinh ghi những ký hiệu này, cất trong ngăn kéo của máy tính não bộ.  Khi gặp lại âm thanh ấy thì não bộ cho nó một nhận định và một giá trị.  Việc nhận định càng dễ nếu bão bộ càng quen âm thanh này.  Nghĩa là âm thanh ấy được lập đi lập lại nhiều lần.

Tập nghe để phân biệt âm thanh này với âm thanh khác cũng đã khó.  Nhưng nghe âm thanh là tiếng nói của lòng thì bước sang một chiều sâu hơn nữa rồi.  Vì tiếng nói của lòng không là âm thanh vật lý, nó thiêng liêng, vô hình.  Cũng tiếng cười, nhưng ý của nó có thể không làm vui, mà là mỉa mai, riễu cợt.  Hiểu tâm hồn nhau là một tiếng nghe đòi nghệ thuật trong đó có yêu, có hy sinh, có tế nhị, có mình muốn thuộc về người đó.  Vì thế mà có khi sống bên nhau chẳng hiểu ngôn ngữ của nhau.

Mẩu đối thoại giữa ba người, Đức Kitô, ông Tôma và Philipphê cho thấy sự lúng túng về loại ngôn ngữ này.

Chúa nói: “Thầy đi đâu thì anh em biết đường rồi”

Ông Tôma thưa: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu làm sao chúng con biết được đường?”

Đức Kitô đáp: “Thầy là đường, là sự thật, là sự sống.  Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.”

Ông Philipphê đáp: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chũng con mãn nguyện.”

Đức Kitô đáp: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philipphê, anh chưa biết Thầy ư?” (Yn 14:1-9).

Chúa nói là Chúa đi đâu thì các ông ấy biết đường rồi.  Nhưng tôma lại thưa các ông ấy không biết Chúa đi đâu.  Các ông muốn biết Chúa Cha, Chúa Yêsu lại bảo ở với nhau lâu vậy rồi mà chưa biết được ư.

Cuộc đối thoại cứ như mỗi người nói một nẻo.

Đọc lại mẩu chuyện đối thoại ấy để thấy nghe là một công trình phải luyện tập, phải có thời gian, phải quen nhau nhiều.  Nghe người nói với người đã không dễ, bây giờ nghe Chúa nói là tiếng nói vô âm thanh thì làm sao nghe.

Khó, nhưng không có nghĩa là không nghe được.  Tiếng nói tình yêu thường là tiếng nói bằng con tim hơn bằng ngôn ngữ.  Khi hai người thương nhau, họ nói một thứ ngôn ngữ riêng, không theo định nghĩa của tự điển nữa.  Họ nói bằng ánh mắt.  Họ hiểu bằng tâm tư.  Họ ngỏ ý bằng một chút hờn.  Họ muốn người khác bắt ý bằng một chút giận.  Đó cũng là một thứ ngôn ngữ không có âm thanh.  Như vậy, ngôn ngữ của Chúa cũng có thể nghe, cũng có thể hiểu.  Một biến cố đau khổ xẩy đến có thể như cái trách của Chúa gởi cho ta một nhắc nhở.  Một chút cắn rứt lương tâm có thể so sánh như một sự dỗi hờn của hai người đang thương nhau.

Trở lại vấn đề nghe là một nghệ thuật phải luyện tập, ta thấy yếu tố quan trọng nhất là phải quen với ngôn ngữ ấy.  Vì thế, cứ đợi khi có một vấn đề gì đó rồi mới hỏi Chúa thì e rằng khó hiểu được ngôn ngữ của Ngài.  Dụ ngôn người chăn chiên và đàn chiên cho ta hình ảnh khá rõ về nghệ thuật nghe này. Ta có thể chia đàn chiên làm ba loại: Một loại không quen ngôn ngữ của chủ, một loại chỉ nghi ngờ tiếng nói của chủ, một loại nhận ra tiếng chủ ngay.

Không Quen Ngôn Ngữ

Tiếng gọi trong đêm là tiếng gọi gian nan.  Không biết ai gọi.  Không biết từ đâu đến.  Một lúc nào đó bất ngờ có tiếng gọi tên mình.  Trong đêm tối, con chiên này bừng dậy.  Kẻ cắp giấu mặt cho khỏi bị nhìn.  Tên trộm nào cũng ưa bóng tối.  Bầy chiên đang ngủ ngon, bỗng có tiếng gọi.  Hạng chiên không quen ngôn ngữ của người chăn là loại không khi nào gần chủ, không nói chuyện với chủ.  Trong đàn chiên, chúng là những con chạy ở cuối đàn.

Đúng ra, nó không phải là những con chiên theo chủ mà là chỉ lẽo đẽo theo đàn chiên để sống nhờ.  Bởi đó, trong đêm, khi kẻ trộm giả vờ tiếng người chăn mà gọi thì chúng không thể phân biệt được.

Một người không có đời sống cầu nguyện nhiều cũng giống như vậy.  Trong đêm tối của xã hội, họ không phân biệt được đâu là tiếng nói của sự thật, đâu là ngôn ngữ nguỵ biện đánh lừa lương tâm.  Hạng chiên không bao giờ gần chủ thì khi gặp thử thách trong tiếng gọi giữa đêm khuya chúng sẽ bị kẻ cắp đánh lừa.  Một linh hồn thiếu đời sống nội tâm kết hiệp qua cầu nguyện, họ cũng dễ bị lừa như thế trong những phán quyết của tiếng nói lương tâm.  Loại lương tâm này khi thấy một lời mời quyến rũ, say mê là hành động ngay, không phân biệt được phải trái.

Nghi Ngờ Tiếng Người Chăn

Loại thứ hai này khá hơn.  Những con chiên này phân vân nhiều khi nghe tiếng gọi.  Chúng sẽ suy nghĩ chứ không vội chạy theo, nhưng rất khó mà quyết định.  Loại chiên này đôi khi gần chủ nên cũng nghe tiếng chủ, nhưng vì không gần chủ nhiều, nên lúc nghe, lúc không.  Có nói chuyện với chủ, nhưng ít thôi.  Không quen tiếng chủ lắm nên trong đêm khuya chúng phân vân, lưỡng lự, khó phân biệt nổi.  Giống người mới bắt đầu học một ngôn ngữ, hiểu lầm, hiểu không hết ý của người nói là chuyện thường.  Nếu con chiên này nghe tiếng gọi trong đêm mà vẫn ở lại trong đàn cũng là cầu may, chứ không có một thái độ tri thức dứt khoát.

Người lâu lâu mới cầu nguyện, có việc mới chạy tới Chúa cũng giống như vậy.  Có nghe tiếng Chúa mà không rõ lắm.  Họ phân vân không biết có phải tiếng Chúa hay là mình nói mà thôi.  Vì thế, những quyết định của họ rất nửa chừng.  Tâm hồn họ không hẳn là muốn ở lại trong tội, nhưng cũng chẳng hân hoan lên đường.  Một khi không dứt khoát thì không đủ năng lực hành động, nên đời sống thiêng liêng mệt mỏi.

Nhận Ra Tiếng Chủ

Không tên trộm nào lừa được loại chiên sau cùng này.  Tiếng gọi bất chợt vang lên trong đêm.  Nó giật mình dậy, nghe xong, nó nhận định rồi tiếp tục giấc ngủ bình an.  Nó biết ngay tiếng giả đó là của bóng tối.  Loại chiên này ngày nào cũng nói chuyện với chủ, ngày nào cũng nghe âm thanh người dẫn mình đi, nên chúng quá quen rồi.  Không tiếng nói nào bắt chước tiếng chủ được.  một tiếng gọi vang lên, nó phân biệt ngay đấy là tiếng chủ hay tiếng người lạ.

Ma quỷ cũng như những tên trộm chiên, chúng đợi đêm tối là lúc lương tâm phải lựa chọn những hướng đi mà đến xúi giục ta.  Bóng tối có những luận cứ tinh vi, những lý do xem ra rất chính đáng. Người có đời sống kết hiệp với Chúa thì nhận ra ngay đâu là con đường phải đi.  Họ có những quyết định chính xác, đúng.  Bóng tối khó mà lừa được những tâm hồn này.

Để nghe tiếng Chúa, yếu tố đầu tiên phải lưu tâm là một trái tim sạch tội.  Điều này ta cảm nghiệm rõ là sau mỗi lần nhận bí tích hoà giải, ta thấy tâm hồn thanh thản, vui tươi.  Vì thế, nếu một tâm hồn muốn hỏi Chúa, muốn nghe tiếng Ngài, linh hồn đó cần phải thanh tẩy linh hồn, đến gặp gỡ Chúa trong bí tích hoà giải trước đã.  Giữ một trái tim sạch tội, rồi sau đó mới hy vọng dễ nhận định tiếng Chúa nói qua lương tâm.

Trước một quyết định quan trong trong đời sống, như ngày truyền chức, ngày nhận một sứ vụ quan trọng, Giáo Hội khuyên những người này phải tĩnh tâm.  Các tu sĩ theo luật, hàng năm phải tĩnh tâm.

Tĩnh tâm là những ngày cầu nguyện đặc biệt hơn, nhiều hơn.  Cứ hàng tháng, hàng năm lập đi lập lại nhiều lân tĩnh tâm như thế để tâm hồn ấy quen cách nói chuyện.  Khi quen rồi, lúc phải quyết định một điều gì trong đời sống, tâm hồn này dễ vững tâm, bình an.  Khi cuộc sống đi sai đường sẽ dễ nhận ra.

Tĩnh tâm là phương pháp sư phạm học nghe ngôn ngữ thiêng liêng, vì thế ai cũng cần.  Nhiều người không nhận định rõ nên đếm xem mình đã tĩnh tâm bao nhiêu lần để so sánh với người khác và tự cho mình một thứ “tốt nghiệp” qua những lần tĩnh tâm ấy.

Có người đi tĩnh tâm để cho biết là gì rồi sau đó thôi không tĩnh tâm nữa.

Tĩnh tâm không phải là chỉ để giải quyết một vấn đề mà là hành trình tập nghe.  Tiếng Chúa có sức mạnh.  Chẳng ai nghe đủ và nghe hết, bởi đó, không thể có vấn đề tĩnh tâm như một thứ “tốt nghiệp”, một thứ chứng chỉ là tôi đã đi tĩnh tâm rồi, tôi biết rồi, tôi không cần đi nữa.

Chúa dành một thời gian rất dài, 40 ngày trong sa mạc để cầu nguyện.  Trong đời sống hoạt động, Chúa tiếp tục tìm nơi thinh lặng để cẩu nguyện.

“Sau khi giải tán đám đông, Người đi riêng lên núi mà cầu nguyện” (Mt 14:23).

“Trong những ngày ấy, Đức Yêsu đi ra núi cầu nguyện, Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa” (Lc 6:12).

Chúa cũng bảo các tông đồ phải cầu nguyện.

“Anh em phải tỉnh thức và cầu nguyện, hầu đủ sức thoát khỏi điều sắp xẩy đến và đứng vững trước mặt Con Người” (Lc 21:36)

Nghe là một nghệ thuật không thể qua một buổi sớm, đến một buổi chiều mà quen.  Vấn nạn con không cầu nguyện, chỉ khi cần đến Chúa, con mới đên hỏi Chúa đôi câu.  Không quen ngôn ngữ của Chúa nên con cho rằng Chúa không nói.

Lạy Chúa, vấn đề là con phải học nghe, chứ không phải là Chúa có nói hay không?

LM Nguyễn Tầm Thường, S.J

Tại sao chúng ta nghèo?

Tại sao chúng ta nghèo?

Nguyễn Hưng Quốc

Trong cuộc gặp gỡ với 40 doanh nhân trẻ vào chiều 12 tháng 8 vừa qua, sau khi nghe những lời than thở về những bất cập trong các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tại Việt Nam của họ, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đặt câu hỏi: “Tại sao chúng ta tốt mà vẫn cứ nghèo?” Rồi ông nhấn mạnh: “Nhất định phải đổi mới mạnh mẽ hơn.”

Trong câu hỏi của Vũ Đức Đam có một nhận định chính xác: Việt Nam nghèo. Chúng ta không những nghèo hơn các nước phát triển trên thế giới mà còn nghèo hơn hầu hết các quốc gia trong khu vực. Trong khu vực, chỉ giới hạn trong khối ASEAN, chúng ta nghèo hơn Singapore, Brunei, Malaysia, Indonesia, Philippines, Miến Điện và Thái Lan, đã đành. Chúng ta còn có nguy cơ bị hai nước láng giềng vốn thường bị xem là nghèo hơn và yếu hơn, Campuchia và Lào, qua mặt.

Nhưng toàn bộ câu hỏi của Vũ Đức Đam, “Tại sao chúng ta tốt mà vẫn cứ nghèo?” lại sai.

Sai ở nhiều điểm.

Thứ nhất, cách đặt vấn đề sai. Chuyện tốt hay xấu không có quan hệ gì đến chuyện giàu nghèo. Để giàu, người ta cần óc sáng kiến, năng lực lao động, sự cần cù cùng với một số điều kiện thuận lợi và may mắn nữa chứ không dính líu gì đến tính cách hay đạo đức. Trên thế giới, không ai đặt vấn đề như vậy với các tỉ phú hay với các cường quốc kinh tế.

Thứ hai, sai ở mệnh đề “chúng ta tốt”. Cái gọi “chúng ta” ở đây là ai? Là những người tham dự cuộc hội thảo ư? Căn cứ vào đâu để khẳng định họ tốt? Rộng hơn, “chúng ta” đây là người Việt Nam nói chung chăng? Lại càng mơ hồ. Không có dân tộc nào là tốt cũng như không có dân tộc nào là xấu. Dân tộc nào cũng bao gồm những người tốt và những kẻ xấu. Một sự khái quát hoá, cho dân tộc này tốt hơn những dân tộc kia không những sai lầm về logic và thực tế mà còn dễ có nguy cơ dẫn đến những thái độ kỳ thị chủng tộc, điều mà giới học thuật Tây phương cho là cấm kỵ.

“Chúng ta” ở đây là đảng Cộng sản hiện đang cầm quyền chăng? Khẳng định như thế không những sai mà còn là sai lầm một cách lố bịch. Từ sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô và Đông Âu, khi những sự tàn ác của các đảng Cộng sản ở những nơi ấy bị vạch trần, người ta thấy rõ là không có chế độ cộng sản nào là tốt cả. Tất cả đều giả dối, độc tài và tàn bạo. Số nạn nhân bị giết chết hoặc đoạ đày cho đến chết dưới tay của Stalin và Mao Trạch Đông còn nhiều hơn tổng số người bị giết chết dưới tay phát xít Đức trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Riêng ở Việt Nam, chế độ cộng sản cũng đã gây ra biết bao nhiêu tang thương, từ các chiến dịch cải cách ruộng đất ở miền Bắc đến các phong trào đánh tư sản mại bản và xua người dân đi kinh tế mới ở miền Nam, từ các vụ thảm sát ở Huế trong Tết Mậu thân đến các trại cải tạo sau năm 1975. Đó là chưa kể đến cuộc chiến tranh kéo dài cả hai mươi năm mà họ gây ra đã khiến cho ít nhất ba triệu người bị mất mạng ở cả hai miền. Như vậy là tốt ư?

Nếu cái nghèo của Việt Nam hiện nay không xuất phát từ chuyện tốt hay xấu, nó xuất phát từ đâu? Câu trả lời, thật ra, với đa số người dân Việt Nam, khá hiển nhiên: do chế độ Cộng sản. Điều này đúng không những chỉ ở Việt Nam mà còn ở phạm vi toàn thế giới: Có quốc gia cộng sản nào thực sự giàu có? Rõ nhất là ở những quốc gia bị chia đôi: Đông Đức nghèo hơn hẳn Tây Đức; Bắc Hàn thua xa Nam Hàn. Riêng tại Việt Nam, trước năm 1975, điều kiện sinh sống ở miền Nam cũng bỏ xa miền Bắc.

Nhưng điều gì khiến chế độ Cộng sản làm kiềm hãm sự phát triển đất nước? Có ba lý do chính: các chính sách sai lầm, tham nhũng và độc tài.

Trước phong trào đổi mới, các chính sách sai lầm về kinh tế và xã hội, đặc biệt cái gọi là chính sách giá – lương – tiền, đã biến Việt Nam thành một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới. Lạm phát tăng cao. Dân chúng bị ngập chìm trong đói khổ, không có đủ cơm ăn; trong nhiều năm liền, phải ăn bột mì và bo bo do Nga viện trợ. Sau thời đổi mới, được ít nhiều cởi trói, kinh tế phát triển khá nhanh, nhưng không nhanh đủ để giúp Việt Nam tiến bộ so với các quốc gia láng giềng. Các đại công ty hay tập đoàn kinh tế quốc doanh liên tục thua lỗ, có khi bị phá sản, để lại những gánh nợ nặng nề kéo dài tận đến các thế hệ mai sau. Ngay trong cuộc gặp gỡ với các doanh nhân trẻ ngày 12 tháng 8 vừa qua, trước mặt Vũ Đức Đam, nhiều người cũng lên tiếng phê phán các chính sách sai lầm của chính phủ khiến công việc làm ăn của họ gặp rất nhiều khó khăn. Những sự sai lầm trong chính sách này khiến các nỗ lực gọi là đổi mới tại Việt Nam chỉ là những sự vá víu, lẩn quẩn, từ cái sai này đến cái sai khác theo kiểu tổng kết của dân gian: “Sửa sai rồi lại sửa sai / Sửa thì cứ sửa, sai thì cứ sai.”

Nguyên nhân thứ hai làm kiềm hãm sự phát triển kinh tế tại Việt Nam là tham nhũng. Tham nhũng thể hiện ở hai khía cạnh: Một là, mọi quyết định về kinh tế đều không xuất phát từ lợi ích chung mà chỉ tập trung vào quyền lợi của một số cá nhân. Phong trào xây tượng đài hoặc các công trình kiến trúc ào ạt ở Việt Nam là một ví dụ: Người ta xây dựng như vậy không phải vì công việc ấy thực sự cần thiết mà chỉ vì, với những công trình xây dựng ấy, người ta có thể kiếm chác để bỏ tiền vào túi mình. Lớn hơn, chính sách đề cao vai trò của các công ty quốc doanh mặc dù hiệu quả kinh tế của chúng rất kém cũng xuất phát từ cùng một lý do: để dễ chia chác quyền lợi. Hai là, với tệ nạn tham nhũng, người ta khai khống và rút ruột các công trình xây dựng để cuối cùng, tất cả các công trình xây dựng đều có kết quả cực kém: Nhiều con đường mới xây xong đã lún; nhiều công trình mới dựng xong đã bị đổ, v.v… Hậu quả của nạn tham nhũng tràn lan này là cán bộ càng lúc càng giàu trong khi đất nước thì càng lúc càng nghèo nàn và kiệt quệ.

Nguyên nhân thứ ba và cũng là nguyên nhân quan trọng nhất là độc tài. Giành độc quyền lãnh đạo, chế độ Cộng sản loại trừ hai yếu tố quan trọng nhất cho sự phát triển. Một là, loại trừ những trí tuệ và tài năng không nằm trong hệ thống đảng trị. Hai là, nó cũng loại trừ sự minh bạch và cùng với nó, sự phản biện của các trí thức độc lập. Hậu quả của cả hai sự loại trừ này là, một, chính quyền chỉ quy tụ được những kẻ bất tài, hoặc phần lớn là những kẻ bất tài; và hai là, nó mất khả năng tự điều chỉnh và đổi mới thực sự.

Nói một cách tóm tắt, để trả lời cho câu hỏi của ông Vũ Đức Đam, “tại sao chúng ta nghèo?”, chúng ta có thể khẳng định dứt khoát: Chúng ta nghèo, cứ nghèo mãi là vì sự thống trị độc tài và độc đoán của đảng Cộng sản. Biện pháp khắc phục, do đó, không phải là “đổi mới” mà là dân chủ hoá.

Một bài học hiển nhiên trên thế giới: Không có quốc gia dân chủ thực sự nào mà nghèo cả.

Một cuộc cách mạng vô nghĩa

Một cuộc cách mạng vô nghĩa

Blog RFA

Lê Diễn Đức

19-08-2015

H1

Vào ngày 17 tháng 8 năm 1945, công chức Hà Nội được lệnh của Khâm Sai Phan Kế Toại tổ chức một cuộc mít tinh ở trước Nhà Hát Lớn Hà Nội.

Hàng ngàn người với lá cờ vàng ba sọc đỏ (có sọc giữa dứt quãng, cờ Quẻ Ly) xuống đường mừng ngày độc lập, sau khi Đế quốc Nhật Bản tuyên bố “trao trả độc lập cho Việt Nam”.

Hoàng đế Bảo Đại trong ngày 11 ttháng 3 năm 1945 đã tuyên bố độc lập và thành lập chính quyền mới, với chính thể quân chủ lập hiến do Trần Trọng Kim làm Thủ tướng. Tên nước được gọi là Đế quốc Việt Nam.

Bỗng nhiên một lá cờ đỏ sao vàng rất lớn được thả từ ban công của nhà hát xuống, một người leo lên khán đài cướp micro để hô khẩu hiệu ủng hộ Việt Minh và hát bài Tiến Quân Ca. Cuộc biểu tình của công chức biến thành cuộc biểu tình của Mặt Trận Việt Minh.

Nhạc sĩ Tô Hải, một người còn sống ở Sài Gòn, nhân chứng sống cho sự kiện ấy, mô tả lại, như thế.

Hai ngày sau, tức là 19 tháng 8, Việt Minh đứng ra tổ chức một cuộc mít-tinh lớn, cũng ở trước nhà hát Lớn Hà Nội. Sau đó, đoàn người đến chiếm phủ Khâm sai đại thần. Khâm Sai Phan Kế Toại đầu hàng, cờ quẻ Ly bị hạ xuống, cờ đỏ sao vàng được kéo lên.

Sau khi Việt Minh cướp được chính quyền tại Hà Nội và nhiều nơi khác, Thủ tướng Đế quốc Việt Nam Trần Trọng Kim ở Huế nộp đơn xin từ chức.

Ngày 22 tháng 8, Việt Minh gửi công điện yêu cầu Bảo Đại thoái vị. Bảo Đại chấp nhận và tuyên bố “Đáp ứng lời kêu gọi của Ủy ban cách mạng, tôi sẵn sàng thoái vị. Trước giờ quyết định này của lịch sử quốc gia, đoàn kết là sống, chia rẽ là chết. Tôi sẵn sàng hy sinh tất cả mọi quyền lợi, để cho sự đoàn kết được thành tựu, và yêu cầu đại diện của Ủy ban (Việt Minh) sớm tới Huế, để nhận bàn giao”.

Hoàng đế Bảo Đại lúc bấy giờ đã nói một câu nổi tiếng: “Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị”.

Thế là cách mạng tháng 8 thành công! Một cuộc cách mạng không có xung đột vũ trang, chẳng có tên thực dân Pháp hay phát xít Nhật nào trên đường phố Hà Nội, không một người chết. Việt Minh đã cướp chính quyền dễ như trở bàn tay, bằng lợi dụng được tình thế giao thời hỗn loạn của lịch sử khi phát xít Nhật đã đầu hàng đồng minh vô điều kiện và đang lúng túng chờ quân đồng minh tới giải giáp.

Và chỉ sau khi Hoàng đế Bảo Đại thoái vị, Hồ Chí Minh cùng với các nhà lãnh đạo khác của Đảng Cộng Sản Việt Nam mới từ Tân Trào trở về Hà Nội và ngày 2 tháng 9 độc tuyên ngôn độc lập. Nhà nuớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời.

Mặc dù tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi, mang tiếng là Chính phủ thân Nhật, bù nhìn, nội các của Thủ tướng Trần Trọng Kim đã làm được những quan trọng như :

– Thả hàng ngàn tù chính trị bị Pháp giam giữ trước đó bao gồm đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương và các đảng phái quốc gia, đồng thời cho phép các tổ chức, hội đoàn chính trị được hoạt động công khai.

– Tuyên bố nước Việt Nam đôc lập, và hủy bỏ Hiệp ước Bảo hộ 1884 (Hòa ước Patenôtre).

–  Thống nhất về mặt danh nghĩa, đưa đất Nam Kỳ trở lại với nguồn cội Việt Nam.

– Thay chương trình học bằng tiếng Pháp chuyển sang học bằng tiếng Việt. Hành chánh được cải tổ với việc dùng chữ Việt trong tất cả các giao dịch của chính phủ…

Việt Minh là tên gọi tắt của Việt Nam Độc lập Đồng minh, liên minh chính trị do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập ngày 19 tháng 5 năm 1941 với mục đích “Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật – Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập”.

Ngày 11 tháng 11 năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán để đối phó với chủ trương tiêu diệt đảng của Pháp, Trung Hoa Dân Quốc và các đồng minh của họ, nhưng thực chất vẫn nắm vai trò lãnh đạo. Đến tháng 3 năm 1951 khi Việt Minh bị giải tán và Đảng Cộng Sản trở lại đúng với vị trí của họ.

Mục đích của Việt Minh trong sáng, rõ ràng đã đánh đúng vào lòng yêu nước, tinh thần chống Pháp, Nhật, nên tập hợp được lực lượng quần chúng đông đảo. Khi Pháp trở lại Đông Dương, Việt Minh tiếp tục cuộc vận động, lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc kháng chiến 9 năm và làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.

Theo Hiệp định Geneva 1954, Việt Nam bị chia thành hai phần, từ vĩ tuyến 17 trở ra thuộc miền Bắc Cộng Sản, từ vĩ tuyến 17 trở vào thuộc Việt Nam Cộng Hoà.

Đảng Cộng Sản Việt Nam giành độc quyền cai quản trên toàn miền Bắc, thực hiện Cải cách Ruộng đất vô nhân đạo làm chết oan hàng trăm ngàn người, bắt nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp, thực thi chính sách kiểm duyệt, quản lý hộ khẩu, phân phối lương thực, chất đốt, cải tạo công thương, v.v… Một nhà nước không được dân bầu ra thông qua bầu cử tự do như Cương lĩnh của Việt Minh đã xác định.

Một chế độ bạo lực và khủng bố ngự trị trên toàn miền Bắc. Tất cả những tiếng nói bất đồng chính kiến hay phản kháng chế độ đều bị vùi dập và đàn áp dã man. Một bộ máy tuyên truyền, giáo dục khổng lồ của chế độ sử dụng hết công suất nhồi sọ con người ngay từ khi còn bé.

Giờ đây người ta mới hiểu ra rằng, tại sao ngay từ cuộc cách mạng tháng Tám, Việt Minh đã lấy cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ. Rõ ràng đây một cuộc khởi nghĩa cướp đoạt quyền lực và tiếm quyền có ý thức nhằm áp đặt hệ thống chinh trị cộng sản chuyên quyền.

Cũng với chế độ này, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Đảng Cộng Sản Việt Nam nhuộm đỏ toàn quốc. Với chiêu bài đánh đuổi ngoại xâm, họ đã đưa dân tộc vào một cuộc chiến đẫm máu và dai dẳng và cưỡng chiếm miền Nam.

Cụ Lê Hiền Ðức, một người đi theo cách mạng từ lúc còn nhỏ, một công dân chống tham nhũng nổi tiếng, đã viết bài “Phản cách mạng đã rõ ràng” sau khi chứng kiến vụ cưỡng chế đất đai của nông dân Văn Giang, Hưng Yên:

“Cuộc cách mạng mà lớp người chúng tôi đã tham gia 60-70 năm trước nay đã bị phản bội một cách trắng trợn, triệt để. Công hữu, sở hữu toàn dân chỉ là chiêu bài để tư hữu hoá, tư nhân hoá, biến của chung thành của riêng”.

“Ðảng Cộng Sản và Nhà nước CHXHCN Việt Nam thừa nhận ở Việt Nam, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đất đai rất tròng tréo, rắc rối, có nhiều thiếu sót và mâu thuẫn nhau. Nhưng ai là tác giả của chúng? Chính là họ. Ai được hưởng lợi từ chúng? Cũng chính là họ”.

Ông Huỳnh Nhật Tấn, cựu Phó giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng, đã phải cay đắng nói: “Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay“.

Công nhân, giai cấp mà ĐCSVN gọi là đội quân tiên phong, trở thành lực lượng bần cùng của xã hội, bị các ông chủ tư bản bóc lột nặng nề, đồng lương không đủ sống, điều kiện làm việc khắc khổ.

Cuộc cách mạng tháng Tám trở nên vô nghĩa và mục đich của nó bị đảo ngược. Những kẻ cầm quyền mặc sức tham nhũng, ăn chặn. Bằng đồng tiền ăn cắp và ăn cướp, họ sống xa hoa trên sự nghèo đói của người lao động. Bất công, bất bình đẳng và suy thoái đạo đức xã hội nghiêm trọng, tệ hại còn hơn chế độ thực dân cũ.

Giống như đất nước Ba Lan sau Chiến tranh Thế giới II, thoát hiểm hoạ phát xít Đức thì bị hoạ cộng sản chụp xuống. Chế độ cộng sản dối trá, tàn nhẫn, tước đoạt quyền tự do của con người đến mức sau khi lật đổ nó vào năm 1989, Hiến pháp dân chủ cấm mọi hình thức tuyên truyền và hoạt động của chủ nghĩa Cộng sản.

Tất cả những điều tôi phân tích trên đây tương tự như nhận định của luật sư Nguyễn Văn Đài (trên trang Facebook), một nhà hoạt động dân chủ, đang sống ở Hà Nội:

“Làm cách mạng để xây dựng lên chế độ độc đảng toàn trị, không có tự do, dân chủ và nhân quyền. Đó là một cuộc cách mạng vô nghĩa và thất bại. Bởi chúng ta đã thay thế sự cai trị văn minh của giặc ngoại xâm bằng sự cai trị độc ác, tàn bạo, tham lam của giặc nội xâm”.

19/08/1991: Đảo chính tại Liên Xô

19/08/1991: Đảo chính tại Liên Xô

Nghiên cứu Quốc tế

19-08-2015

Nguồn:Soviet hard-liners launch coup against Gorbachev,” History.com (truy cập ngày 18/8/2015).

Biên dịch & Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng

Ảnh: Một chiếc xe tăng T-80 đứng trước Quảng trường Đỏ, đằng sau là Tháp Nabatnaya của Điện Kremlin. Nguồn: Wikimedia Commons.

Vào ngày này năm 1991, Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev bị đặt dưới sự quản thúc tại gia trong một cuộc đảo chính do các thành viên cấp cao trong chính phủ cùng lực lượng quân đội và cảnh sát tiến hành.

Kể từ khi trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản năm 1985 và Tổng thống Liên Xô năm 1988, Gorbachev đã theo đuổi nhiều cải cách toàn diện trong hệ thống Xô viết. Kết hợp perestroika (cải tổ) nền kinh tế – trong đó chú trọng hơn vào các chính sách thị trường tự do – và glasnost (cởi mở hay công khai hóa) trong ngoại giao, ông đã cải thiện đáng kể quan hệ với nhiều nền dân chủ phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ.

Nhưng trong khi đó, trong nội bộ Liên Xô, Gorbachev phải đối mặt với nhiều chỉ trích mạnh mẽ, trong đó có các chính trị gia thủ cựu theo đường lối cứng rắn và các quan chức quân sự, những người cho rằng Gorbachev đang đưa Liên Xô đến bờ vực sụp đổ và đánh mất quyền lực của đất nước. Mặt khác, những nhà cải cách thậm chí còn cấp tiến hơn – đặc biệt là Boris Yeltsin, tổng thống của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa quyền lực nhất là Nga – cũng chê trách rằng Gorbachev hành động không đủ nhanh.

Cuộc đảo chính tháng 8 năm 1991 được tiến hành bởi những người có đường lối cứng rắn trong chính quyền Gorbachev, cũng như các lãnh đạo quân đội Liên Xô và Ủy ban An ninh Quốc gia (KGB), hay cảnh sát mật. Trong căn nhà nghỉ dưỡng của mình ở Crimea, Gorbachev bị quản thúc và ép phải tuyên bố từ chức, nhưng ông đã từ chối. Tuyên bố rằng Gorbachev bị bệnh, các lãnh đạo cuộc đảo chính, đứng đầu là cựu Phó Chủ tịch Gennady Yanayev, ban bố tình trạng khẩn cấp và cố gắng kiểm soát chính phủ.

Sau đó Yeltsin và những người ủng hộ ông trong Quốc hội đã can thiệp, kêu gọi người dân Nga tấn công và phản đối cuộc đảo chính. Khi quân đội cố gắng bắt giữ Yeltsin, họ đã vấp phải sự phản kháng của người dân có và không có vũ trang đang phong tỏa các con đường dẫn tới Quốc hội. Yeltsin leo lên một chiếc xe tăng và nói qua loa phóng thanh, đề nghị quân đội không quay lưng chống lại người dân và lên án cuộc đảo chính là “triều đại khủng bố mới.” Quân đội đã rút lui, một số người lính chọn tham gia phe phản đối đảo chính. Sau khi hàng ngàn người tràn lên các đường phố để phản đối, cuộc đảo chính sụp đổ chỉ trong ba ngày.

Gorbachev được thả và bay về Moskva, nhưng chế độ của ông đã bị giáng một đòn chết người. Trong ít tháng sau đó, ông giải tán Đảng Cộng sản, cho phép các nước Baltic độc lập, và đề xuất một chế độ liên bang lỏng lẻo hơn, dựa nhiều hơn vào cơ sở kinh tế giữa các nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa còn lại. Tháng 12 năm 1991, Gorbachev từ chức. Tranh thủ sự ủng hộ sau khi đập tan cuộc đảo chính, Yeltsin nổi lên từ đống đổ nát của Liên Xô cũ như một nhân vật quyền lực nhất ở Moskva và trở thành lãnh đạo của Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) mới được thành lập.

CÂU CHUYỆN CÁI TÂM CỦA CON NGƯỜI

CÂU CHUYỆN CÁI TÂM CỦA CON NGƯỜI

Buổi trưa, tại sân ga của một thành phố lớn, một người phụ nữ tầm ngoài 30 tuổi đang mướt mồ hôi để vác lên vai túi hành lý lỉnh kỉnh của mình. Trên khuôn mặt của người phụ nữ ấy hằn lên sự vất vả, cực nhọc của một người lao động thấp kém. Chị đang đưa ánh mắt dường như vô vọng của mình khắp sân ga như để tìm kiếm một thứ gì đấy nhưng sau đấy lại tỏ vẻ thất vọng. Trông chị rất đáng thương.

Trên sân ga, người qua lại tấp nập. Ai đi qua người phụ nữ ấy đều ném về phía chị những cái nhìn ái ngại và thương cảm. Không ai có ý định dừng lại để giúp đỡ chị. Ðặc biệt là những người ăn mặc sang trọng, họ đều đi qua chị với tốc độ rất nhanh, dường như là họ nghĩ nếu đi chậm lại thì chắc chắn người đàn bà đó cũng kéo họ lại để lạy lục, nhờ vả việc gì đó.

– Anh để ý đấy nhé, không biết chừng chị ta sẽ nài nỉ xin tiền hoặc sẽ tìm cách kết bạn với mình để bị chị ta tra tấn trên suốt chuyến đi bằng những câu chuyện vừa dài vừa vô duyên, hoặc như chị ta sẽ mượn mình chiếc khăn mùi xoa để lau mồ hôi mà lau xong thì mình không dám xin lại hay như mượn bình nước uống rồi tu ừng ực thì vài ngụm đã hết veo. Ðúng là người nhà quê.  Một người phụ nữ ăn mặc trông có vẻ sang trọng bĩu môi và nói với người đàn ông cũng có vẻ sang trọng bên cạnh mình.

– Xin chào… xin…

Quả nhiên người phụ nữ tiến lại gần đám đông đang đứng đợi tàu. Nhưng dường như không đợi chị nói hết câu, mọi người đều xua tay và lắc đầu và nhanh chóng lảng ra chỗ khác. Không nản chí, người phụ nữ này lại men theo các cánh cửa sổ của các toa tàu rồi nhảy hẳn lên các toa chưa đến giờ xuất phát. Ði đến toa nào chị cũng mang một khuôn mặt như muốn cầu cứu, trông thật đáng thương và câu duy nhất thốt ra từ miệng người phụ nữ đáng thương này là: “Xin mọi người giúp đỡ cho tôi.”

Những người ngồi trên tàu tỏ ra rất khó chịu với người phụ nữ này. Có người thì xua tay ra hiệu xua đuổi, có người vừa thấy bóng dáng chị ở đầu toa vội lấy tờ báo che mặt giả vờ ngủ. Trên khuôn mặt của người đàn bà ấy lộ rõ vẻ thất vọng, chán nản.

“Mình đâu phải là thằng ăn trộm mà sao mọi người lại xử sự như thế nhỉ?” Người phụ nữ xót xa nghĩ.

Chị ta lại đi qua các toa tàu nhưng không ai muốn nghe chị trình bày hoàn cảnh của mình. Ðúng lúc đó, chị nhìn thấy một chàng trai có dáng vẻ rất thư sinh đang ngồi đọc báo. Chàng trai đang đọc báo rất chăm chú và dường như cậu ta không để ý đến mọi thứ xung quanh.

Nhẹ nhàng đi về phía chàng thanh niên, người phụ nữ cất tiếng nói:

– Xin lỗi cậu, cậu có thể giúp đỡ tôi được không?

Chàng trai bỏ tờ báo xuống, nhìn quanh một lúc rồi nhìn người phụ nữ nông thôn nọ:

– Xin lỗi, chị đang hỏi tôi ạ?

Người phụ nữ gật đầu.

– Xin anh giúp đỡ tôi với, tôi lên thành phố để tìm người bà con, nhưng tìm không ra, tiền bạc lại bị kẻ gian móc hết rồi. Muốn về quê nhưng không biết làm thế nào, cậu có thể mua giúp một tấm vé để tôi về quê không?

Sau khi nghe người phụ nữ đáng thương nói xong, nét mặt chàng thanh niên trông rất lưỡng lự. Dường như anh ta vừa muốn giúp vừa lại không muốn giúp người đàn bà đáng thương đó. Sau một thời gian im lặng, chàng trai bèn đưa tay vào túi quần của mình, khó khăn lắm mới móc ra được một đống tiền lẻ, ngại ngùng đưa cho người phụ nữ.

– Chị cầm lấy đi. Tôi… tôi chỉ còn có chừng này, không biết đủ hay không. Tôi cũng vừa mua vé để về quê nên không còn nhiều. Tôi lên thành phố này để kiếm việc, hy vọng tìm được một công việc kiếm được kha khá, nhưng khi lên thành phố, với tấm bằng trung cấp trong tay thì tôi không thể tìm ra được một việc gì để làm. Chị cầm tạm vậy.

Người phụ nữ rưng rưng cầm lấy những đồng tiền lẻ của chàng trai, khó khăn lắm chị mới thốt lên được hai tiếng “Cám ơn”.

Vừa quay gót đi về phía cuối toa thì chị nghe tiếng gọi với theo của chàng thanh niên nọ. Cậu ta hớt hải đi về phía chị và nói:

– Như thế này vậy, chị cùng quê với em, hay chị lấy tấm vé của em đi vậy.

– Thế còn cậu thì sao? Người phụ nữ ngạc nhiên hỏi.

– Số tiền em vừa đưa cho chị chỉ có thể mua đủ tấm vé xuống ga thứ ba xuất phát từ ga này, như vậy cách nhà em cũng không xa lắm, em có thể đi bộ mà. Chị cứ cầm lấy vé đi, em là con trai, thế nào mà chẳng được. Còn phụ nữ như chị thì không thể đi bộ về nhà trong đêm tối được. Thôi, chúc chị thuận buồm xuôi gió. Nào, đưa cho em đống tiền lẻ nào!

Nói xong, không kịp để người phụ nữ phản ứng gì, chàng trai vội cầm lại số tiền lẻ trong tay người phụ nữ và đưa lại cho chị tấm vé của mình. Sau đấy anh vội vàng đi ra khỏi tàu và đến quầy bán vé. Rất nhanh sau đó, chàng thanh niên lại lên tàu.

Người phụ nữ tiến lại gần phía chàng trai và cất tiếng hỏi:

– Sao cậu lại làm như thế, cậu không hối hận à?

Chàng trai lắc đầu:

– Không, chị ạ.

Trong ánh mắt của người phụ nữ đáng thương nọ ánh lên một niềm vui khôn xiết. Chị cầm tay chàng trai và nói:

– Anh bạn trẻ, xuống đây với tôi một lát.

Người phụ nữ kéo chàng trai ra khỏi nhà ga, vẫy một chiếc taxi, tự động mở cửa xe và quay lại nhìn chàng trai:

– Cậu lên xe đi. Hôm nay cậu chính thức là nhân viên của tôi.

Hoá ra, người phụ nữ này là con gái của một ông chủ tập đoàn sản xuất đồ chơi nổi tiếng. Ðể đi tìm một người trợ lý đáng tin cậy, chị đã phải hoá trang và đứng ở sân ga suốt 3 ngày qua.

Chị nói rằng: “Các bạn cho rằng tôi thật ngốc nghếch khi phải làm khổ mình như thế, nhưng thật ra nó thật sự xứng đáng. Khi đứng ở sân ga trong 3 ngày đó, tôi mới nhận ra rằng: Tìm được một người thực sự tốt trong cuộc sống xô bồ này quả là khó. Có thể, chàng thanh niên đó không có trình độ, hiểu biết nhiều như những người tốt nghiệp đại học hoặc cao hơn nữa. Nhưng điều đáng quý nhất và đáng trân trọng nhất là cậu ấy có cái ‘tâm’. Có cái ‘tâm’ trong cuộc sống thì mới có cái ‘tâm’ trong công việc được. Ðấy là thứ mà công ty tôi cần”.

Các bạn thấy đấy, một tấm vé để đổi lấy cả một sự nghiệp sáng lạn. Có thể nhiều người nghĩ đây chỉ là việc ngẫu nhiên, nhưng thực ra trong sự ngẫu nhiên đó lại có tính tất yếu của nó. Rất nhiều người đã có mặt ở trên sân ga, nhưng chỉ có chàng trai đó mới nhận được niềm hạnh phúc bất ngờ như vậy. Không phải ngẫu nhiên mà anh ta có được một cơ hội tốt đẹp đến như thế mà điều quan trọng là anh đã biết chia sẻ chữ ‘tâm’ của mình cho mọi người xung quanh.

Ðây là một câu chuyện hoàn toàn có thật mà tôi đã nghe được từ giám đốc của tôi.

Quang Ngọc