Trên con đường một mình anh về

“Trên con đường một mình anh về”
nơi chốn tha hương.
Cơn đau xa người còn thấm môi hôn nhớ về ai.
Phút chia tay em nói lời tiễn đưa
Mắt anh buồn nhìn em, thôi đã mất.”
(Hoàng Trọng Thụy – Đoản Khúc Cuối Cho Em)

( Cv 3: 17-20)

Trần Ngọc Mười Hai

“Đoản khúc cuối cho em”, ư? Phải chăng, đây là lời nhắn gửi đến mọi người, hoặc muôn người? Chí ít, là những người lâu nay được đề-cao, nâng nhấc, kích bốc lên tận chín tầng mây trên đó, chốn đạo hạnh?
Sở dĩ bần đạo đây, hôm nay, nói lên những điều khó nói này là vì, vừa qua, bần-đạo đọc được “Bản Tin Giáo Xứ” của một họ đạo ở nước Úc, rất Sydney. Bản tin hôm ấy, tóm gọn chỉ mỗi lời nhắn không theo dạng “Đoản Khúc Cuối Cho Em”, mà là lời nhủ khuyên gửi đến các vị lâu rày lãng quên chuyện hỗ-trợ các bậc vị-vọng nay chìm vào chốn lãng quên, rất như sau:

“Hôm nay, ta thực-hiện quyên góp giúp các Linh mục về hưu có nơi ăn chốn ở, được chăm sóc sức-khoẻ bằng những hỗ-trợ cần-thiết để các ngài có cuộc sống xứng-đáng, khi về hưu.

Chúng ta mắc nợ các linh mục rất nhiều. Các ngài đã cống-hiến cả đời mình để phục-vụ Thiên-Chúa và nuôi dưỡng lòng tin của ta, cũng như đóng góp bằng nhiều cách cho cuộc sống cộng-đoàn. Hỗ-trợ Quỹ Tài trợ Linh mục về hưu, là cung-cách thực-tiễn qua đó ta chứng-tỏ lòng cảm-kích biết ơn các linh-mục thừa-tác từng cho đi chính đời mình hầu phục-vụ tha-nhân và cộng-đoàn niềm tin.” (X.Bulletin of Fairfield Parish 23rd Ordinary Sunday year B, 06/9/2015)

Lý-do khiến bần-đạo trích dẫn “Bản tin Giáo xứ” này, ở đây, không để nhắn bạn đạo nào ở đâu đó rằng: bà con ta đừng quên các linh mục già đầy tuổi tác đang sống ở viện dưỡng-lão đây đó, trên toàn quốc. Nhưng, vì lời lẽ “kích-bốc” theo kiểu “lời vàng” khá cũ của thời trước, nay lỗi thời.
Lỗi thời hơn, là quan-niệm của vị nào đó cứ coi các đấng-bậc thày cả như quan-viên sống trên đầu/trên cổ đám giáo-dân lúc này cũng đã biết nhiều và hiểu nhiều về những chuyện xảy ra trong/ngoài nhà Đạo, nay bê bết.
Lỗi thời mãi, lại là quan-niệm của một số vị cứ tâng-bốc các đấng bậc “thày cả” vẫn tự coi mình là “kẻ cả” có tư-thế và vai-vế hơn hẳn người dưới trướng trong Hội-thánh La Mã, rất Vaticăng.
Nay, quan-niệm “ở trên đầu/trên cổ giáo dân” đã mai-một không còn hợp thời và lẽ đạo nữa, đến độ Đức Phanxicô đã phải nhắn-nhủ con dân trong Đạo, những người vẫn đi đạo và giữ đạo nhưng không biết tình-hình trong Đạo. Lời nhắn-nhủ ấy như thế này:

“Các linh mục phải đồng-hành ngang hàng mọi người, chứ không thể ở trên hoặc ở trước họ.

Hôm 3/9/2015, Đức Phanxicô có chuyển đến các linh-mục thuộc Phong-trào Schoenstatt một lời nhắn cũng rất mạnh rằng: “Linh-mục ở Đạo ta không bao giờ nên ở trên hoặc ở trước mọi người. Thay vào đó, họ phải đồng-hành bên cạnh các vị ấy, mới được…

Thông-điệp, gửi các vị tham-gia buổi hội-thảo hàng năm của Phong-trào Schoenstatt này đây, hôm ấy, Đức Phanxicô có được sự đồng-thuận của những người trong cuộc, nên ngài đã mạnh-dạn trích-dẫn nhận-định của Lm Kentenich của Phong-trào, khi ông bảo: “Mọi người chúng ta, ai cũng nên mở tai mình ra mà đặt vào tâm-can của Chúa và đặt đôi tay lên nhịp đập của thời-đại… Đó là hai cột-trụ của đời sống linh-thao hôm nay, rất đích-thực.”

Đức Phanxicô, sau đó, đã rời buổi hội-thảo của Phong-trào nói trên nhưng không quên để lại đề-nghị khẩn-cấp để bảo rằng: “Chúng ta nên dâng-tiến chính mình để giúp đỡ các gia-đình, đặc biệt là gia-đình nào đang trong cảnh bức-bách, khó khăn, khổ sở. Đồng thời, cũng nên bỏ giờ ra mà ngồi toà cáo-giải nghe hối-nhân xưng-thú lỗi/tội của họ, đặc biệt trong năm thánh mừng vui này. Còn một điều nữa, cũng nên quan-tâm đến, là: ta hãy cầu-nguyện thêm cho Đức Giáo-Hoàng nữa.” (Xem News: Priests must walk alongside others, not in front: Pope”, trên tờ The Catholic Weekly ngày 13/9/2015 tr.10).

Đức Giáo-Hoàng nói thế, tức bảo rằng: nay là lúc con dân dưới trướng nên giúp giùm/đùm bọc lẫn nhau, chứ không nên kẻ trước/người sau, cứ thế mà giành nhau vị-thế trên dưới/trước sau, với người thường? Phải chăng, vì thế không nên cứ coi giáo dân như kẻ ở dưới trướng, cần đe nẹt?
Nói như Đức Giáo-Hoàng nhà mình, là nói theo kiểu nhà Đạo, lúc nào cũng hỗ-trợ nhau về mọi cách, chứ không thể đi đằng trước /bước lên trên rồi lại yêu-cầu người đi sau hoặc đi dưới cứ thế yểm trợ bằng công sức, tiền bạc và lời cầu nguyện kéo dài mãi không ngừng.
Nói như Đức Giáo-Hoàng, là cứ nói và nhớ lời bậc thánh hiền khi xưa từng nhủ khuyên/khuyên-nhủ các vị được đề-bạt hoặc thăng quan tiến chức, rất ở trên, bằng những lời rằng:

“Thưa anh em,
giờ đây tôi biết anh em đã hành động vì không hiểu biết,
cũng như các thủ lãnh của anh em.
Nhưng, như vậy là Thiên Chúa đã thực hiện
những điều Người dùng miệng tất cả các ngôn sứ mà báo trước,
đó là: Đấng Kitô của Người phải chịu khổ hình.
Vậy anh em hãy sám hối và trở lại cùng Thiên Chúa,
để Người xoá bỏ tội lỗi cho anh em.
Như vậy thời kỳ an lạc mà Đức Chúa ban cho anh em sẽ đến,
khi Người sai Đấng Kitô Người đã dành cho anh em,
là Đức Giêsu.”
(Cv 3: 17-20)

Nói theo kiểu các đấng bậc ở chốn chóp bu nhà Đạo thì như thế. Còn, nói và hát theo kiểu con dân ngoài đời, rất nghệ-sĩ, thì như sau:

“Đêm hôm nào mùa trăng thu chờ em đến bên tôi
Vùi thân rã rời hình bóng em theo chăn gối này
Thoáng hương xưa thôi cũng đành
Nói cho nhau lời cuối cùng
Dấu chân em rời căn gác buồn tênh.

Và ngày em đi, anh đưa môi tìm lên môi son cũ
Dấu vết ái ân tan theo như lời nói khi lìa nhau
Bàn tay như cố kéo những ước mơ đã mãi xa rồi
Nhìn tháng năm tàn phai, hình bóng thôi còn ai.
(Hoàng Trọng Thụy – bđd)

Thật ra thì, làm đấng bậc thủ-lãnh trong Đạo, là phải sống như một Kitô-khác, tức: rất giống Đức Kitô là Đấng nhân-hiền thánh hoá. Chí ít, là đấng bậc “thày cả” của “cả-và-thiên-hạ”.
Thật ra thì, làm thủ-lãnh đấng bậc ở Đạo Chúa, tức: không những phải chối-từ chuyện ngồi chiếu trên hay luôn đi trước đám giáo-dân trong đó nhiều người còn rành rẽ, thánh-thiện và khiêm-tốn hơn cả “thày cả”, nữa.
Thật ra thì, làm thủ-lãnh đấng bậc trong Đạo, là bắt chước Đức Kitô và/hoặc tuân-thủ Lời Ngài khuyên-dạy để sống xứng-đáng chức-năng/vai-trò bé nhỏ mà Đấng bậc nọ ở Sydney mới đây lên tiếng bằng một nhận-định ngắn gọn, như sau:

“Khi xưa Đức Giêsu Kitô làm tất cả mọi việc và nói tất cả mọi lời, Ngài đều nói và làm qua câu hát.

Nhiều lần, Ngài ra tay chữa trị hoặc “chữa lành” người tật/bệnh, Ngài lại còn cất tiếng hát khe khẽ, nhẹ êm trong đó có lời ca toàn là những yêu thương, trìu mến rất đầy đặn.

Nhiều khi, Ngài kể cho những người đi theo Ngài đôi ba câu chuyện hay ho/nho nhỏ, Ngài cũng lại cất lên giai-điệu tuyệt vời, tức: thứ âm-giai nhẹ mà khi nghe rồi, người nghe sẽ không còn quên lãng. Đó, là giai-điệu mà ta thường ngâm-nga suốt ngày không cần biết mình đang làm gì, sẽ ra sao.

Rất nhiều lần, khi Ngài bênh-vực quyền-lợi của người thấp bé/nghèo-hèn, thì tiếng giọng của Ngài lớn mạnh đầy quyền-uy, cho đến đoạn cuối kết thúc bằng cái chết thập-giá, trên đó Ngài lại hát mạnh hơn đến độ tiếng giọng của Ngài ngân-vang cùng khắp xuyên suốt vũ-trụ.

Môn-đồ nghe Ngài hát, lại cứ nghĩ: đây là bài ca họ chưa từng nghe bao giờ hết. Và, khi Ngài về với Cha Ngài, họ cũng bắt đầu hát như thế cho hết mọi người trong/ngoài nhóm/hội của mình. Dù bắt chước Ngài nhiều lần và nhiều cách, môn-đồ Ngài lại cũng không hát được những lời Đức Giêsu khi xưa từng hát. Đôi lúc, môn-đồ Ngài quên cả lời ca cùng sức-lực đến bể giọng. Tuy thế, về sau này, đồ-đệ Ngài vẫn cố hát hết mình. Và dù tiếng giọng của họ có yếu đi nhiều, thì chúng-dân tuy không nghe rõ tiếng các vị hát, vẫn nghĩ rằng đó là bài ca hay nhất họ từng biết.

Bài ca do môn-đệ hát, vẫn lan-tràn từ Giêrusalem sang đất miền khác đến độ: các bậc mẹ cha ở đây đó lại cũng hát vang cho con mình; và cứ thế lan-truyền xuống thế-hệ kế tiếp suốt nhiều thời.

Nhiều lúc, trong cuộc sống của các bậc thánh-hiền lớn/nhỏ, rất nhiều bài ca được hát bằng tiếng giọng tuyệt-vời. Cũng có khi, các vị lại hát sai/hát quấy do bởi lời ca/tiếng nhạc ở trong đó mạnh đến độ nhiều vị sử-dụng sức mạnh của nó để ra đi gây chiến, đè bẹp và khuynh-loát nhiều người khác.

Thành thử, người ta lại cứ bàn-cãi, đấu-tranh, giành quyền sở-hữu bài hát ấy, rồi còn bóp méo và phủ lên nó bằng những tầng dầy do con người thêm-thắt vào. Và, con người dù có làm tất cả mọi sự để được thế, họ vẫn không bắt chụp được chúng-dân khi tính giản-đơn, mỏng dòn và nhẹ êm nơi bài ca cho phép họ hát mãi như thế, suốt mọi ngày.

Một trong những chốn miền mà bài ca đạt tới, là đất miền cùng tận ở phía Nam mang tên Úc-Đại-Lợi. Ban đầu, bài ca này được hát vẫn không đạt, bởi nét đẹp của bản ca bị nhận chìm bên dưới âm thanh mạnh bạo của lằn roi vọt đập lên lưng tội-phạm đến từ Anh-quốc và rồi, do tiếng than khóc của Thổ-dân thấp cổ/bé họng sống ở đây. Duy có bài ca còn cao cả hơn người hát, vẫn được ca và hát trong nhà ở hoặc nguyện-đường làm bằng gỗ, cùng thánh-đường nguy-nga, khi ấy lan rộng sang tận đất miền khô khan và rộng lan.

Cuối cùng, bài hát ấy đã đến với tôi theo cách nhẹ êm, yêu thương xuất từ miệng mẹ cha cùng người thân-thuộc. Giống nhiều triệu người sinh sống trước thời của tôi, cả tôi nữa cũng bị lôi-cuốn/mê hoặc bởi bài ca mà tôi vẫn muốn hát, muốn vui say/nhảy mừng với cả thân mình của tôi.

Bài ca nay không thể dừng lại ở thế-hệ của chúng tôi được nữa rồi. Đổi lại, chúng tôi cũng phải trao ban nét đẹp tuyệt-vời của nó cho những người đến sau tôi. Và khi làm như thế, chúng tôi sẽ luôn nhớ, rằng: bài ca này có hai đặc-trưng/đặc-thù, rất khác-biệt.

Thứ nhất, là: trong khi chúng tôi hát bài ca ấy một cách bết-bát/tệ-hại, thì dù gì đi nữa, ta vẫn hát cho hết khả-năng của mình. Và, người khác cũng sẽ nghe được dù không chỉ mỗi tiếng-giọng yếu-ớt của ta mà thôi, nhưng phía sau ta và ngang qua ta, họ sẽ còn nghe được tiếng giọng mạnh mẽ và chắc-chắn hơn, vì đó là chính tiếng giọng của Ngài, Đức Giêsu Kitô của ta.

Hai nữa, là: ta sẽ luôn hát hoài, hát mãi bài ca ấy cho hay-ho nhiều hơn nữa, mỗi khi ta học hát với nhau –không chỉ một tiếng giọng ở đây đó, mà sẽ cùng hát những lời khác hẳn giai-điệu ta từng hát trước đây, nhưng cùng chung một tiếng, một giọng, thế mới tuyệt. Bởi, rồi ra, toàn-thể thế-giới sẽ thực-sự biết rằng: vẫn còn bài ca đẹp đẽ, tuyệt-vời nhất mà họ chưa từng nghe biết.” (X. Gm Geoffrey Robinson, 2015 Synod, the Crucial Questions: Divorce and Homo-sexuality, ATF Press Australia 2015, tr. 6-8)

Vâng. Ở ngoài đời, cũng có bạn trẻ nọ từng nhận-định về chuyện hát hò ở trong đời, có những lời như sau:

“Cuộc đời, là những tiếng hát mà mỗi người chúng ta sẽ tự hát lên theo cách riêng của mình: có tiếng trong veo, vút cao, có tiếng khàn đục, trầm lắng. Cụ thể hơn, cuộc đời còn là sự song-hành của một chuỗi những buồn/vui, được/mất mà mỗi người sẽ tự hát lên, kể từ lúc bản thân mình bắt đầu nhận thức được về thế giới chung quanh, cho đến khi thấy mình nhẹ tênh như một chiếc lá lìa cành, tìm về đất mẹ. Và bên cạnh ngàn vạn tiếng ca với những âm-sắc bộn-bề buồn/vui, được/mất khác nhau ấy, ai cũng có một khoảng bình-yên ru hồn nương náu, nơi mà “địa đàng còn in dấu chân, bước quên”. (X. Anthony Trần, Du Ký Đi Tây Duc in Altum số 86 Quý 2/2014, www.giadinhanphong.com)

Chính thế. Cả đời ta và đời người, cùng đời của đấng bậc vị vọng là “thày cả” ở thế-giới này cũng như đám dân đen bên dưới rồi ra cũng sẽ hát lên bài ca yêu-thương đồng-hành cạnh bên nhau. Sẽ không còn cảnh trên dưới/trước sau nữa. Bởi, ta và người trước/sau như một, sẽ cùng ca và cùng hát chỉ mỗi bài ca yêu-thương, là tất cả.
Và tất cả, đều sẽ sướng vui với giai-điệu đằm-thắm ấy như bậc thánh-hiền xưa nay từng khẳng-định và nhủ-khuyên.
Để minh-hoạ điều này, nay mời bạn và mời tôi, ta đi vào vùng trời truyện kể có ý/lời sau đây:
“Truyện rằng:
Trước cổng một nghĩa trang nọ, người ta thấy có một chiếc xe Roll Royce sang trọng dừng lại. Người tài xế tiến lại người giữ cổng và nói: xin anh giúp một tay cho người đàn bà này xuống xe vì bà ta yếu quá không đi được nữa. Vừa ra khỏi xe, người đàn bà tự giới thiệu và nói với người giữ cổng nghĩa trang:
– Từ hai năm qua, mỗi tuần, tôi là người đã gửi cho anh 5 đô-la để mua hoa và đặt trên mộ con trai tôi, nhưng nay các bác sĩ bảo rằng, tôi không còn sống được bao lâu nữa, nên tôi đến đây để chào từ biệt và cảm ơn anh đã mua hoa giùm tôi.
Thế nhưng, người đàn bà không ngờ rằng người giữ cổng nghĩa trang trả lời như sau:
– Thưa bà, tôi lấy làm tiếc rằng bà đã làm công việc ấy!
Người đàn bà cảm thấy như bị ai đó vả vào mặt. Nhưng bà vẫn còn đủ bình tĩnh hỏi lại người thanh niên:
– Tại sao lại lấy làm tiếc về cử chỉ đẹp như thế?
Người thanh niên giải thích:
– Thưa bà, tôi lấy làm tiếc vì những người chết như con trai bà, chẳng bao giờ còn thấy được một cánh hoa nào nữa!
Bị chạm tự ái, người đàn bà liền cao giọng:
– Anh có biết anh đã làm tổn thương tôi không?
Người thanh niên bình tĩnh trả lời:
– Thưa bà, tôi xin lỗi, tôi chỉ muốn nói với bà rằng có rất nhiều người đang cần đến những cánh hoa của bà hơn. Tôi là hội viên của một tổ chức chuyên đi thăm những người già lão, các bệnh nhân trong viện dưỡng lão, các bệnh viện. Chính họ mới là những người đang cần đến những cánh hoa của chúng ta, họ có thể nhìn thấy và ngửi được cánh hoa ấy.
Nghe thế, người đàn bà ngồi bất động trên chiếc xe sang trọng một lúc, rồi ra hiệu cho tài xế mở máy. Vài tháng sau người đàn bà trở lại nghĩa trang. Nhưng lần này không cần ai giúp đỡ, bà tự động bước xuống xe với một dáng vẻ vui tươi nhanh nhẹn hơn, và điều đáng ngạc nhiên hơn nữa, một nụ cười rạng rỡ, bà nói với người thanh niên giữ cổng:
– Chú đã có lý, tôi mang hoa đến cho những người già lão, bệnh tật. Quả thật, điều đó đã làm cho họ được hạnh phúc. Nhung người thực sự hạnh phúc chính là tôi. Cac bác sỹ không biết được bí quyết làm tôi khỏe mạnh lại. Nhưng tôi đã khám phá ra cái bí quyết ấy, tôi đã tìm ra lẽ sống.

Và người kể, nay thêm đôi lời bàn Mao Tôn Cương, đã nói rằng:

“Giúp đỡ người khác là giúp đỡ chính mình”. Đó cũng là khuôn vàng thước ngọc của Thượng đế “cho thì có phúc hơn là nhận lãnh”. Bởi vì, trao ban cho người tức là trao ban cho mình. Một ngạn ngữ Anh cũng nói một cách tương tự: “điều tôi tiêu đi là tôi có, điều tôi giữ lại là tôi mất, điều tôi cho đi là tôi được”. Đó là lý luận của tình yêu. Tình yêu lớn lên theo mức độ của sự trao ban. Có biết yêu thương thì con người mới thực sự triển nở, và tìm gặp lại chính mình. Có biết yêu thương thì con người mới biết vui sống, và tìm được hạnh phúc đích thực trong cuộc sống.

Kể thế rồi, nay mời bạn mời tôi, ta lại sẽ hiên ngang hướng về phía trước, cứ thế ngâm nga đôi lời ca được người nghệ-sĩ viết lên vào thời trước, những hát rằng:

“Trên con đường một mình anh về nơi chốn tha hương.
Cơn đau xa người còn thấm môi hôn nhớ về ai.
Phút chia tay em nói lời tiễn đưa,
Mắt anh buồn nhìn em, thôi đã mất.”
Đêm hôm nào mùa trăng thu chờ em đến bên tôi,
Vùi thân rã rời hình bóng em theo chăn gối này.
Thoang hương xưa thôi cũng đành.
Nói cho nhau lời cuối cùng,
Dấu chân em rời căn gác buồn tênh.
Và ngày em đi, anh đưa môi tìm lên môi son cũ.
Dấu vết ái ân tan theo như lời nói khi lìa nhau,
Bàn tay như cố kéo những ước mơ đã mãi xa rồi.
Nhìn tháng năm tàn phai, hình bóng thôi còn ai.
(Hoàng Trọng Thụy – bđd)

Hát thế rồi, nay mới thấy: cứ “nhìn tháng năm tàn phai, hình bóng thôi còn ai”, nay anh có đồng-hành ở bên trên hay phía trước hết mọi người, rồi ra cũng chẳng là gì hết. Bởi, nếu không cùng cất tiếng hát “Tình thương yêu mến mộ”, hoặc nếu không yêu thương, nhường nhịn và tương kính nhau, thì có giành giựt cho lắm từ danh vọng đến chức quyền đi nữa, tất cả cũng chỉ là phù-vân, chóng hết, rất tầm thường.

Trần Ngọc Mười Hai
Nhiều lúc cũng có tâm-tư trầm lắng
Rất như thế.

Thấy gì ở bên ngoài nhân việc Tạ Phong Tần đi Mỹ

Thấy gì ở bên ngoài nhân việc Tạ Phong Tần đi Mỹ

Mai Tú Ân

Tù Nhân Lương Tâm Tạ Phong Tần, một chiến sĩ đấu tranh dân chủ bị kết án tù 10 năm đã bất ngờ được chính quyền Việt Nam trả tự do trước thời hạn 5 năm, và được đưa thẳng lên máy bay bay qua Mỹ. Chị hoàn toàn không được hưởng một giây phút tự do nào trên quê hương Việt Nam mà chị đã dấn thân và phải trả giá bằng nhiều năm tù đằng đẵng. Chị cũng không có được phút giây viếng mộ mẹ già, không được đốt cây nhang kính viếng đến người mẹ đã tự thiêu một năm sau ngày chị bị bắt giữ bất công.

Hoàn toàn giống với TS Cù Huy Hà Vũ và Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải trước đó, cũng bị lực lượng AN áp tải thẳng từ nhà tù tới phi trường để bay sang Mỹ. Thậm chí anh Điếu Cày vẫn không kịp thay đôi dép nhựa…

Đó là sự đổi chác, hay là sự biến tấu của những cuộc “đầy ải” biệt xứ thì chúng ta không biết, mà chỉ biết chắc rằng, đã có một thoả thuận ngầm nào đó giữa chính quyền Việt Nam và chính quyền Mỹ. Và những màn “xuất ngoại” vừa vội vàng vừa lỗi thời và không giống ai của những tù nhân lương tâm nổi tiếng đó chỉ là thực hiện thoả thuận bí mật trên mà thôi.
Có lẽ chính quyền Mỹ, qua sự đấu tranh của đồng bào hải ngoại, của các tổ chức quốc tế và qua truyền thống nhân đạo của mình (như vụ HO chẳng hạn) đã lại đưa bàn tay nhân ái ra để giúp cho những người tù nhân lương tâm đang bị đày ải bất công trong các nhà tù CS. Tất nhiên là người Mỹ cũng đấu tranh để đòi “tự do vô điều kiện” cho các TNLT nhưng có lẽ họ đã làm hết sức có thể và kết quả chỉ là thế. Và nếu có điều gì để nói thì chúng ta chỉ nên nói lời cám ơn chân thành.

Và giờ đây người phụ nữ can đảm Tạ Phong Tần của chúng ta đã đến với nước Mỹ của tự do, của đồng bào ruột thịt chung đường với cô giống như cá về với nước, như con cháu về với gia đình…

Nhưng, chúng ta hãy trở về với thực tế. Thế giới tự do hoá ra lại không hẳn là nơi hoạt động đắc địa cho các chiến sĩ đấu tranh cho tự do. Những con người tốt nhất của phong trào đấu tranh trong nước (họ xứng đáng được gọi như thế bởi sự dấn thân, sự trả giá cho những lý tưởng của mình) thì khi qua nước ngoài thì dường như đều bị “ngợp” bởi sự công kích bất công, sự bới lông tìm vết, sự thù nghịch vô lý của một số thành phần, mà buồn thay lại là những người cùng chung chiến tuyến. Những người nổi tiếng như nhà báo Bùi Tín, nhà văn Vũ Thư Hiên trước đây, và Ts Cù Huy Hà Vũ, Blogger Điếu Cày vừa qua, người nhiều người ít nhưng đều là những người mà ở trong nước chúng tôi rất trân trọng, yêu mến nhưng họ đều vất vả, khổ sở khi phải đối phó, chống đỡ, thanh minh trước bao nhiêu búa rìu khi xuất ngoại…

Vẫn biết rằng quyền cá nhân phản biện là quyền dân chủ đương nhiên ở đất nước dân chủ, vẫn biết rằng số người công kích họ không phải là nhiều trong cộng đồng hải ngoại vốn công bằng, nhân hậu nhưng đó là những thành phần mạnh miệng, nhân danh đủ thứ và mạt sát đủ thứ khiến cho những chiến sĩ ấy của chúng tôi tổn thương, hoặc lạc lõng và ít nhiều đều giảm sức đấu tranh.

Tất cả hầu như đều bị chụp cho cái mũ ngớ ngẩn là CS, hay CS sang nằm vùng. Và không biết có phải ngẫu nhiên không khi hầu như tất cả họ đều là người xuất thân từ miền Bắc, hay ít nhiều dính líu đến chế độ CS. Chế độ mà họ đã và đang đấu tranh đến cùng. Đó là những người trí thức có tài, có tâm và có cả dũng nữa để dấn thân, và việc phải ra nước ngoài là việc chẳng đặng đừng. Nói một cách thật lòng thì đa phần những người dấn thân ở trong nước đều chấp nhận trả giá cho việc dấn thân, chứ không mấy ai hoan hỉ với việc “đi Mỹ” này.
Vậy mà giờ này vẫn có những cái tên, những con người “đồng chí hướng” với họ vẫn ra rả công kích bất công và vô lý , vẫn không ngừng bới lông tìm vết, không ngừng đòi hỏi để cuối cùng thì những người đó giống như những kẻ ngồi nhà bắc nồi để chờ ninh xương cọp làm cao hổ cốt, và lại lên tiếng mạt sát những người đã và đang ở trong hang cọp để bắt cọp.
Tất cả những điều đó không hạ gục được ai nhưng nó không chỉ buồn lòng những người ra đi, mà cả những người ở lại.

Mong rằng những điều không đáng có đó không đến với nữ nhi can đảm Tạ Phong Tần của chúng ta…

M.T.A

‘Diễu binh,’ chuyện như ‘diễu!’

‘Diễu binh,’ chuyện như ‘diễu!’

Nguoi-viet.com
Tạp ghi Huy Phương

Trước kia ở miền Nam, chúng ta chỉ nghe nói duyệt binh, diễn binh mà không nghe nói đến tiếng “diễu binh,” “diễu hành.”

Trong thời đại này, chúng ta phải hiểu “diễu binh” như thế nào? Mới đây nhân cuộc diễu binh ngày 2 Tháng Chín tại Hà Nội, có ký giả cắc cớ hỏi Trung Tướng Võ Văn Tuấn, phó tổng tham mưu trưởng quân đội, cũng là tổng chỉ huy cuộc diễu binh này, vì sao chúng ta “diễu binh” mà không diễn binh. Sau đây là câu trả lời:

“Duyệt binh là có vũ khí trang bị đi theo, như tên lửa, máy bay, xe tăng, đạn pháo… còn diễu binh chỉ có người diễu hành. Tạm thời, nhà nước đang sử dụng ‘diễu binh’ – tức là chỉ có con người mà không có vũ khí tham gia. Có nhiều nguyên nhân chúng ta tổ chức diễu binh chứ không phải duyệt binh, trong đó có việc tiết kiệm.”

Về mặt mày, thì ông Tuấn này “sáng sủa” hơn cả ông Lê Đức Anh và ông Phùng Quang Thanh nhiều, nhưng lối giải thích của ông này lại quá “tối tăm.”

Cô Phạm Trúc Sơn Quỳnh. (Hình: Facebook Phạm Trúc Sơn Quỳnh)

Như vậy, theo ông này “diễu binh” là chỉ có người, không có vũ khí kèm theo như xe tăng, đại pháo, hỏa tiễn! Nhưng trong lúc đó, báo chí, truyền hình Việt Nam đều loan tin hai cuộc “diễu binh” lớn của Nga ngày 5 Tháng Chín tại Moscow và của Trung Cộng ngày 3 Tháng Chín ở Bắc Kinh. Trong hai cuộc diễu binh này Nga va Trung Cộng đều phô trương các vũ khí hiện đại như phi cơ, hỏa tiễn tối tân nhất do chính các nước này sản xuất. Như vậy nói vì tiết kiệm mà Việt Nam chỉ có “diễu binh” mà không diễn binh là coi thường người đặt câu hỏi và khinh thường sự hiểu biết của quần chúng.

Trong tình thế này chính phủ CSVN không diễn binh mà chỉ “diễu binh” (không có vũ khí như lời ông Võ Văn Tuấn) chẳng qua là vì, không lẽ trong khi Tàu và Nga đang diễu võ dương oai, biểu dương vũ khí hiện đại do họ sản xuất, thì “bộ đội cụ Hồ” không lẽ đem AK47, B40, B41, pháo 130 ly, hỏa tiễn Sam, Stinger, giàn hỏa tiễn Kachiusa, Mig 15, xe tăng T54 thời “ta đánh là đánh (thuê) cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc” ra để hù thiên hạ!

Ông Võ Văn Tuấn cũng chưa phân biệt được “duyệt binh” và diễn hay “diễu binh.”

Sau nghi lễ khai mạc, trước khi cuộc diễn binh hay “diễu binh” bắt đầu, vị nguyên thủ quốc gia lên xe mui trần cùng với chỉ huy của lễ diễn binh, đi “duyệt” hàng quân trong tư thế nghiêm và bắt súng chào. Sau khi vị nguyên thủ quốc gia trở về khán đài, cuộc diễn binh (hay diễu binh) mới bắt đầu và lần lượt các đơn vị tiến qua khán đài, được quan khách trên khán dài danh dự và dân chúng hai bên đường vỗ tay hoan hô.

Điều này chúng ta đã thấy qua các hình ảnh “duyệt binh” của VNCH với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, và tại Bắc Kinh Tháng Năm, 2012 với Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào.

Khi ký giả hỏi về việc tại sao lại bắn 21 phát đại bác trong ngày Quốc Khánh mùng 2 Tháng Chín mà không phải con số khác, ông Võ Văn Tuấn cho rằng, “Đến bây giờ chưa có ở đâu lý giải được vì sao lại bắn 21 loạt đại bác nhưng có thể liên quan đến ý nghĩa một tuần nhân với 3. Giống như tượng Oscar khi người ta làm ra thì tình cờ giống ông chú tên Oscar của những người làm (!)”

Thật là khó hiểu khi ông tướng này so sánh “khập khễnh” 21 phát đại bác với với chuyện tượng Oscar. Nếu ông chịu khó vào Wikipedia mà tìm thì đâu đến nỗi!

Về chuyện cô gái xinh đẹp dẫn đầu cho khối Quân Y là Phạm Trúc Sơn Quỳnh, “nữ sĩ quan xinh đẹp khối trưởng khối diễu binh quân y, làm sốt cộng đồng mạng bởi khuôn mặt xinh xắn, tác phong mạnh mẽ, dứt khoát, các động tác điều lệnh chuẩn mực,” thì dư luận cho rằng được mượn từ bên Đại Học Thương Mại, và được mang cấp bậc trung tá (hai vạch, hai sao). Bộ Quốc Phòng khẳng định cô là quân nhân chuyên nghiệp mang cấp bậc thiếu úy, chứ không phải đi mượn về. Về cấp bậc trung tá đeo mang trên ngực cô, theo Trung Tướng Tuấn, cô là người đi đầu khối nên phải mang cấp bậc theo quy định thống nhất về cấp chỉ huy khi “diễu binh.”

Vào YouTube xem “diễu binh,” chúng ta thấy thêm một điều nữa là tất cả lính tráng trong hàng quân đều mang một loại huy chương và số lượng huy chương giống nhau, mỗi người ba cái. Quân đội thì có người già, người trẻ, có người có chiến công, nhưng cũng có người vô tích sự, vì sao phải dối trá đồng loạt như vậy, ông Tuấn có cho đây là “nguyên tắc diễu binh” không? Bốn mươi năm ngồi không, mà bây giờ có anh lính mặt non choẹt mang cấp tá và huy chương đầy ngực.

Theo kiểu nói bình dân Nam Bộ ngày trước, đây là “lon Lèo!” và “huy chương Lèo!” hay là đồ hàng mã, giả dối, lừa người!

Cùng mang huy chương giống nhau. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Như vậy, cô Sơn Quỳnh được dẫn đầu khối quân y, mang cấp bậc trung tá chỉ vì cô trẻ, đẹp, và có lẽ sĩ quan cấp bậc lớn nhất trong khối này già và xấu, quá gầy hay quá mập nên đã bị “cách ly” không cho tham dự “diễu binh” như bọn cai tù vẫn thường giấu những anh tù “cải tạo” ốm đói bệnh tật mỗi khi có phái đoàn cấp trên hay báo chí đến thăm viếng trại tù. Theo tôi, Sơn Quỳnh có khuôn mặt khá bụ bẫm, nhưng nhan sắc cũng thuộc loại tầm tầm, nếu vị chỉ huy lễ “diễu binh” cần đến những cô trẻ, đẹp để dẫn đầu khối cho đẹp mặt chính phủ và đảng, tôi xin giới thiệu với ông, ngay đất Hà Nội, thiếu gì diễn viên, người mẫu, sinh viên chân dài, hiện nay đang làm nghề nằm, nên dựng mấy cô dậy mà cho đi “diễu hành” là đẹp nhất!

Câu chuyện dối trá này làm chúng ta liên tưởng đến câu chuyện của Thế Vận Hội Olympic Bắc Kinh năm 2008. Trung Cộng đưa một cô bé xinh đẹp tên là Lâm Diệu Khả, 9 tuổi, trình diễn ca khúc “Ngợi ca tổ quốc” tại lễ khai mạc, thực ra chỉ hát nhép môi và diễn thay cho giọng của ca sĩ thực là Dương Bái Nghi, 7 tuổi. Ca sĩ trẻ tuổi này không được xuất hiện vì nhan sắc và dáng dấp không bằng Lâm Diệu Khả.

Sự dối trá “vĩ đại” này được Trung Cộng ngụy biện rằng họ quyết định dùng em Lâm vì ”chúng ta phải đặt lợi ích của đất nước lên trước!”

Màn trình diễn pháo bông tại đêm khai mạc cũng là giả tạo, vì được ghép nối thêm trước khi chiếu trên TV cho cả thế giới xem. Ban tổ chức cũng giải thích “làm điều đó để tạo thuận lợi và ấn tượng ngoạn mục cho các đài truyền hình!”

Vậy thì sự thật và sự lương thiện không hề được “cha con nhà nó” tôn trọng.

Việt Nam khoe, một nhà báo Úc đã viết: “Gộp hết tất cả lễ hội lớn của Úc, các cuộc diễu hành, từ lễ hội Mardi Gras ở đường Oxford cho tới lễ hội Moomba ở Melbourne, cộng lại tất cả những đám đông đã đến dự Thế Vận Hội Sydney, hay những trận đấu bóng đá, cũng không bằng sự kiện 2 Tháng Chín ở Việt Nam.”

Úc thua Việt Nam là phải, nên chi dân Việt giờ này mà còn đóng tàu vượt biển sang Úc. Có gì đâu mà hãnh diện! Kiểu nhà nghèo, con nợ thiên hạ mà đòi chơi bảnh!

Mới đây, World Bank công bố Việt Nam nợ nần lên đến $110 tỷ và chỉ riêng khoản chi trả tiền lời đã lên đến 7.2% tổng chi ngân sách nhà nước.

Mãi vui tìm cành hoa trên cánh bướm

“Mãi vui tìm cành hoa trên cánh bướm”

Ai đưa ta lạc đến nước non này.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc tử)

Mai Tá lược dịch

Câu nhận-định trên cũng từa-tựa một nhận-định ở đây, lúc này, trong trình-thuật.

Trình thuật thánh Máccô hôm nay hẳn sẽ làm người đọc hài lòng, không ít. Hài lòng, theo cách thế mà con dân đi Đạo, vẫn kiếm tìm. Hài lòng, chẳng phải vì ta đã có được Lời vàng rất thánh, Ngài bảo ban. Mà, từ nay ta sẽ không đọc và hiểu Lời Ngài theo nghĩa đen tuyền, thể-chất nữa.

Bởi, nếu tất cả những người anh, người chị trong Giáo Hội chỉ biết đọc và hiểu Lời Chúa một cách đen tuyền thể chất như thế, ắt hẳn rồi ra ai cũng tự biết mình sẽ phải làm gì, khi đọc xong văn bản. Đọc Tin Mừng –như bài trình thuật hôm nay vừa kể- mà lại hiểu theo nghĩa đen, e rằng ai cũng sẽ phải móc mắt, chặt tay liệng bỏ mọi cơ duyên lòng-thòng tội lỗi, khiến cuộc đời trở nên ô-trọc.

Sự thật, không phải thế. Có điều chắc, là: người đời vẫn ngang-nhiên cứ muốn sống. Cứ yêu và thở, dù đã làm những điều quái gở, rất nhiều lần. Vẫn sống, mà chẳng thấy mối mọt đục khoét đôi bàn tay, hoặc cả chuyện lửa cháy đêm đen vùng luyện tội, cũng thế.

Làm con dân Đức Chúa, ta tin rằng Ngài mặc-khải cho ta nhiều sự việc, rất đích-thực. Ngài mạc-khải ơn cứu-độ. Mặc khải Tình thương-yêu dạt-dào, chứ không phải lời sấm quả-đoán, rất tương-lai. Quả thật, Đức Chúa quyền-năng là Đấng truyền-đạt hiệp-thông, rất khéo léo. Như bậc Thầy trên bục giảng, Ngài sử-dụng ngôn-từ, ảnh-hình để diễn-tả cảnh-tình, Ngài muốn dạy.

Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu sử-dụng hình-ảnh sự dữ/ác thần một cách nghiêm-chỉnh. Và, thánh Mác-cô còn viết về sự dữ/ác thần cứ quẩn-quanh bên Chúa như thể-chất, xuất từ bên trong con người. Và, cả những thành-phần hữu-thể, thoát xác ra bên ngoài, nữa.

Trình thuật hôm nay khuyên ta nên dừng lại. Biết chấm-dứt hành-vi xấu xa tồi-tệ, vẫn cản-ngăn ta về với tình thương-yêu Đức Chúa. Hành-vi lỗi-phạm thường rơi vào hai đặc-thù chính-yếu ở nhân-trần, đó là: lề-thói thân-quen và thói-tục o-ép, thúc-giục.

Lề-thói thân-quen là chuyện thường tình, dễ gặp. Cũng có thể, đây là thói thường tình mà ta năng gọi là: thói quen tốt. Có lề thói như thế, cũng chẳng có gì khiến ta bận-tâm. Tựa hồ như: biết nói lời “xin vui lòng” và  “cảm ơn”. Cũng có thể, là những tập-quán tốt, khi khởi-sự thì rất đẹp, rất có lý. Phải đạo. Nhưng đến hồi kết-thúc, vẫn thôi-thúc ám ảnh, khôn nguôi. Tựa hồ như: lề-lối trau-chuốt cho thân thể, rất hợp tình. Thói-tật thân-quen thường xảy đến, có thể là: hành-động dối-trá, bất lương hoặc trộm cắp, khó bỏ. Hành-vi này, thường dẫn đến kết-cuộc tồi-tệ, suy sụp.

Cùng một lúc, hành-vi o ép/thúc-giục, lại thuộc một trật-tự khác. Đây là những hành-vi lập đi lập lại, cứ thế không dứt. Như: cố tật cờ bạc rượu chè, chè chén say sưa, rong chơi mua sắm, hút sách bạo động. Mê làm việc, nhậu nhẹt phá phách. Chích choác kích-dâm, đỏ đen/cá độ hoặc chuyện trò trên mạng liên-hồi không dứt. Nhất nhất, đều là biểu-hiện thời thượng của hành vi o ép, thúc giục.

Các lề-thói nghiện-ngập nói trên, vẫn dày vò tâm-can con người thời-đại, không ít. Điều này chứng-tỏ, đã có ảnh-hưởng lên sự tự tin, lòng quả-cảm. Hoặc, bản chất di truyền, của bản thể. Một trong những câu nói diễn-tả trạng-huống khó tả của lề-thói o-ép, thúc-giục, là: tâm-tình hát lên thành tiếng “không biết vì sao tôi buồn”…Buồn tình, buồn đời nên vội tìm đến chốn không ngủ yên. Cứ thế bế-tắc rồi lại rơi vào bế-tắc, trầm-luân lại tìm chốn trầm-luân.

Chính vì thế, chẳng lạ gì khi có nhiều người tự thấy vẫn cô đơn, bơ vơ, đơn lẻ. Dù, trên thực tế, họ đang ở giữa chốn phồn-hoa, vui nhộn. Thậm chí, có người còn tìm cách phá hủy vài cơ phận trong người mình, để lẩn tránh cô-đơn. Không tìm ra đoạn kết, của mọi việc.

Tin Mừng hôm nay nhấn mạnh, rằng: ta phải chấm dứt hành-vi tự-hủy và tìm đến giải-pháp chữa chạy, bằng ba phương-án tích-cực.

Trước hết, làm những gì có ích, có lợi để giữ mình. Có người lại tìm đến những giải-pháp khác thường. Quyết hàn-gắn cuộc đời bằng những gì thuộc phần sầu-lắng, nội-tâm. Khả dĩ sắp xếp lại mảnh vụn đời mình, về với nhau. Không cần biết việc ấy có được người khác chuẩn thuận hay không. Có thích hợp với niềm tin đi Đạo, hay không. Miễn là giải pháp ấy không đưa họ về với lề thói hủy hoại, là được rồi. Phương án này tựa như lập trường Chúa nói: “ai không chống ta là ủng hộ ta”. Ai không phản ta, là bạn ta.

Thứ đến, là phương-án chấp-nhận để người khác giúp mình. Chẳng ai lại có thể đơn-thương/độc mã, chiến-đấu mãi cả một đời người. Đây, là giải-pháp áp-dụng hiên-ngang 6 bước trong tiến-trình điều nghiên cai rượu, cai thuốc. Phương-án này được hiểu là thái-độ chia sớt gánh nặng. Để, chấm-dứt lề-thói không hay, của nhau. Bạn bè, người thân chẳng thể nào hiểu được hết những khúc-mắc nơi thái-độ của mình, nếu người ấy không có kinh-nghiệm chuyên-môn, để giải-quyết.

Bởi vậy, người mắc thói-tật nghiện-ngập vẫn cần lời khuyên thích-đáng của chuyên-viên, nhà nghề. Cũng cần nghe theo lời khuyên của những người có kinh-nghiệm chữa-trị. Và, sự giúp đỡ cũng như nương-tựa, đỡ-nâng nhận được từ người đạo-đức/chức-năng, rất chuyên-môn, như chén nước tươi mát được Chúa nói đến ở trình-thuật.

Thế kỷ 16, thánh I-Nhã thành LoyÔLa từng khuyên-dặn: nếu ta biết tự kiểm-điểm để xem tại sao, ở đâu, khi nào, làm cách nào và mình có thói-quen nào, hay theo ai, khiến mình dễ rời xa tình thương yêu của Đức Chúa, thì khi đó ta mới tìm được lý-do: sao ta làm thế? Và nhờ vậy, mới chuyển đổi thói quen đúc sẵn.

Thành thử, nếu cứ ngồi đó mà than “tình đời thay trắng đổi đen”, thì e rằng sẽ còn quá nhiều nước, để mãi mãi sẽ không kịp tát.

Và, nếu như ta cứ mải nói “không” với mọi chuyện, ta sẽ chẳng còn biết ra được chính mình, như là mình. Biết mình như là mình, hoặc biết mình là ai, chứ không phải: mình muốn mình là ai, mình muốn mình ra sao, cũng mặc!

Và, nếu cứ nóĩ  “không” với hết mọi chuyện, kể cả chuyện có được phương-án tích-cực, để giải-quyết yêu-đương hoặc thói-tật o-ép, ta sẽ không còn cơ-hội chọn-lựa cho cuộc sống được tốt hơn. Một chọn-lựa khả dĩ biết đặt sự sống lên trên mọi hủy-họai, chết-chóc. Và, cuộc sống sẽ đưa đời mình đi vào ngõ cụt khác.

Thành thử, vào với Tiệc thánh hôm nay, ta quyết-tâm tìm cho được phương-án tích-cực. Tích-cực hơn, để không còn nói  tiếng “không”, như thế nữa. Nhưng, sẽ tích-cực mà chọn-lựa cuộc sống, đặt lên trên hết mọi sự dữ/ác thần.

Trong cảm-nghiệm như thế, nay tạ hát lại lời thơ ngâm mãi vẫn ở trên, rằng:

“Mải vui tìm cành hoa trên cánh bướm,

Ai đưa ta lạc đến nước non này.

Mùi cỏ lạ thơm như mùi nhụy chớm,

Cùng tiếng tiêu đồng hợp-chất nồng say.”

(Hàn Mặc Từ – Duyên Kỳ-ngộ)

Duyên kỳ ngộ, hay “cành hoa trên cánh bướm, (đưa nhà thơ) lạc bước nước non này”, đều là tâm-tưởng của con người có được hạnh-phúc chốn nồng say, đầy những duyên. Vẫn mong rằng người nhà Đạo chúng ta cũng sẽ tìm được mối phúc hạnh ra như thế, ở trên đời.

Lm Richard Leonard sj biên soạn

Mai Tá lược dịch

Tin Mừng (Mc 9:38-43, 45:47-48)

Khi ấy, ông Gioan nói với Đức Giêsu:

Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta.

Đức Giêsu bảo:

Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.

Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn. Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt.”

Luật Báo chí sửa đổi chưa công nhận báo chí tư nhân

Luật Báo chí sửa đổi chưa công nhận báo chí tư nhân

Việt Nam nói cần sửa đổi Luật báo chí hiện hành sau 16 năm áp dụng, nhưng vẫn không cho phép có báo chí tư nhân.

Việt Nam nói cần sửa đổi Luật báo chí hiện hành sau 16 năm áp dụng, nhưng vẫn không cho phép có báo chí tư nhân.

Trà Mi-VOA

18.09.2015

Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam nhất trí với hầu hết nội dung của Luật Báo chí sửa đổi vừa được Bộ Thông tin Truyền thông trình lên ngày 17/9, theo thông tấn xã Bernama dẫn nguồn từ truyền thông trong nước.

Luật sửa đổi bao gồm 6 chương, 60 điều khoản. Trong số này có 31 điều mới và 29 điều sửa đổi – bổ sung nhằm phù hợp với thực tiễn mới, thi hành Hiến pháp năm 2013, bản hiến pháp mà Việt Nam nói là nêu bật cam kết của nhà nước trong việc bảo vệ quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận và tự do thông tin của người dân.

Báo Thể thao Văn hóa dẫn lời Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son phát biểu tại cuộc họp hôm thứ Năm rằng: “Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người, được thể hiện trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế năm 1966 về các quyền dân sự, chính trị của Liên Hiệp Quốc. Quyền tự do báo chí được hiểu là việc thực hiện quyền tự do ngôn luận của con người thông qua báo chí. Báo chí có vai trò là phương tiện để mọi công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình”.

Giới chức Việt Nam cho hay trong số các chủ điểm mới của Dự thảo luật so với Luật hiện hành có việc bổ sung thêm 1 chương quy định về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí theo tinh thần Hiến pháp 2013.

Báo chí của chúng ta là phương tiện thông tin, công cụ truyền thông, vũ khí tư tưởng quan trọng đặc biệt. Đảng và Nhà nước phải nắm chắc công cụ này.

Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son.

Một cựu đảng viên từng công tác trong Ban an ninh Nội chính thành ủy, chuyên nghiên cứu an ninh trong đó có vấn đề an ninh tư tưởng – văn hóa nay là một nhà báo tự do được nhiều người biết đến, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, nhận xét về nét mới của luật sửa đổi:

“Chỉ có 2 nét . Có bổ sung 1 chương mới hoàn toàn liên quan đến quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trong báo chí. Một quan chức trong Ủy ban Thường vụ Quốc hội có ý kiến là cần phải ghép thêm cả quyền tự do ngôn luận vào Luật báo chí vì không thể tách rời tự do ngôn luận của nhà báo với công dân vì nhà báo cũng là công dân. Có vẻ như việc này nằm trong lộ trình cải cách khung luật pháp do Mỹ và một số Tây phương yêu cầu, và là một đề xuất của các quốc gia trong chương trình Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát UPR tại Thụy Sĩ vào tháng 2/2014 trong đó có gần 20 ý kiến của các quốc gia đề nghị Việt Nam phải cải cách luật báo chí theo hướng tự do, cởi mở. Đó là nét mới của Dự luật báo chí, nhưng có điều là vẫn không có một từ ‘tư nhân’ nào trong Dự luật báo chí này, nghĩa là Việt Nam vẫn chưa chấp nhận cho tư nhân được phép ra báo chí”.

Việt Nam trong nhiều năm nay liên tiếp bị cộng đồng quốc tế và các tổ chức bảo vệ nhân quyền trên thế giới liệt kê vào danh sách các nước vi phạm tự do ngôn luận, không có tự do báo chí, với nền báo chí hoàn toàn đặt dưới sự kiểm soát của nhà nước.

Việt Nam nói Luật báo chí hiện hành sau 16 năm áp dụng cần sửa đổi vì những thay đổi thực tiễn của truyền thông mới và các hoạt động báo chí ngày nay.

Tuy nhiên, theo luật sửa đổi, báo chí vẫn chịu sự quản lý chặt chẽ của đảng Cộng sản cầm quyền, không có báo chí tư nhân.

Truyền thông nhà nước dẫn lời Bộ trưởng Thông tin Truyền thông khẳng định ‘Báo chí của chúng ta là phương tiện thông tin, công cụ truyền thông, vũ khí tư tưởng quan trọng đặc biệt. Đảng và Nhà nước phải nắm chắc công cụ này’.

Ông Son nói thêm rằng ‘Phải quán triệt báo chí của chúng ta là báo chí cách mạng đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng, quản lý của nhà nước’.

Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, một trong những tổ chức xã hội dân sự mới thành lập cổ súy cho quyền tự do báo chí trong nước, cho rằng dù chưa công nhận báo chí tư nhân, nhưng luật báo chí sửa đổi phần nào cũng mang lại tia hy vọng về một bước chuyển đổi tích cực hơn cho nền tự do báo chí tại Việt Nam.

Bây giờ có thể bắt đầu cải cách sửa khung luật về tự do báo chí, đôi nét mở cửa một chút cho tự do báo chí nhà nước nhưng chưa đề cập tới báo chí tư nhân, càng chưa đề cập đến mạng xã hội vốn bị coi là nhạy cảm, nguy hiểm chính trị. Nhưng có thể sau đại hội 12, với tỷ lệ những gương mặt ‘kỹ trị’, có thể cởi mở hơn một chút về mặt chính trị trong Bộ Chính trị, thì xã hội có thể hy vọng những gương mặt đó có thể chấp nhận nhiều hơn nữa dân chủ hóa, nhiều hơn nữa tính tự do trong báo chí.

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng.

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng dự đoán:

“Có một chút hy vọng cho tự do dân chủ tại Việt Nam, đặc biệt là tự do ngôn luận trong báo chí. Trước 2011 ở Miến Điện không thể nói tới báo chí tư nhân, nhưng tới 2013 không thể tưởng tượng là Tổng thống Then Sein đã cho ra luật tự do báo chí và cho phép báo chí tư nhân hoạt động. Ở Việt Nam, tôi cho là cũng đang diễn tiến theo một lộ trình chậm. Bây giờ có thể bắt đầu cải cách sửa khung luật về tự do báo chí, đôi nét mở cửa một chút cho tự do báo chí nhà nước nhưng chưa đề cập tới báo chí tư nhân, càng chưa đề cập đến mạng xã hội vốn bị coi là nhạy cảm, nguy hiểm chính trị. Nhưng có thể sau đại hội 12, với tỷ lệ những gương mặt ‘kỹ trị’, có thể cởi mở hơn một chút về mặt chính trị trong Bộ Chính trị, thì xã hội có thể hy vọng những gương mặt đó có thể chấp nhận nhiều hơn nữa dân chủ hóa, nhiều hơn nữa tính tự do trong báo chí. Biết đâu theo lộ trình, cùng với đà nhà nước cần chấp nhận mô hình công đoàn độc lập, có thể cuối năm 2016 vừa triển khai từng bước cho công đoàn được độc lập tại Việt Nam và đồng thời cũng có thể bắt đầu chấp nhận từng phần tư nhân hóa báo chí ở Việt Nam”.

Cựu cán bộ của Ban an ninh Nội chính thành ủy nói báo chí tư nhân đã xuất hiện tại Việt Nam từ cuối những năm 90 tới nay vẫn chưa được nhà nước công nhận, nhưng ông tin rằng không bao lâu nữa loại hình này sẽ được ‘chính thức’:

Nhà báo Phạm Chí Dũng:

“Báo chí tư nhân tại Việt Nam là một quy luật, không thể chống lại được. Tôi tin rằng chưa tới 3, 4 năm nữa báo chí tư nhân sẽ xuất hiện một cách chính thức ở Việt Nam”.

Việt Nam hiện đứng thứ 175/180 quốc gia trong bảng xếp hạng về tự do báo chí do tổ chức Phóng viên Không biên giới RSF thực hiện, sụt một hạng so với bảng đánh giá năm ngoái. Các lãnh đạo hàng đầu Việt Nam cũng có tên trong danh sách của RSF về ‘Kẻ thù của Internet’ và ‘Đe dọa ký giả’.

GHEN TỴ !

GHEN TỴ !

Kn 2, 12. 17-20;  Gc 3, 16 – 4, 3;  Mc 9, 29-36

Tác giả: Huệ Minh

Cái ác, sự ghen tương nó đã len lỏi vào cuộc sống của con người, vào đòi sống của con người từ những ngày tạo thiên lập địa.Cũng chính vì ganh tỵ với Thiên Chúa nên hai ông bà nguyên tổ đã đánh mất đi tình yêu của Thiên Chúa. Cái ác và ghen tương của ông bà đã để lại cho con cháu những bài học quý giá nhưng rồi dường như chẳng ai muốn học cả. Đơn giản bởi lẽ con người vẫn mãi mãi ghen tương.

Sách Huấn ca vừa nói vói ta : Những kẻ gian ác nói rằng: “Chúng ta hãy vây bắt kẻ công chính, vì nó không làm ích gì cho chúng ta, mà còn chống đối việc chúng ta làm, khiển trách chúng ta lỗi luật và tố cáo chúng ta vô kỷ luật. Vậy chúng ta hãy xem điều nó nói có thật hay không, hãy nghiệm xét coi những gì sẽ xảy đến cho nó, và hãy chờ xem chung cuộc đời nó sẽ ra sao. Vì nếu nó thật là con Thiên Chúa, Chúa sẽ bênh vực nó, sẽ giải thoát nó khỏi tay những kẻ chống đối nó. Chúng ta hãy nhục mạ và làm khổ nó, để thử xem nó có hiền lành và nhẫn nại không. Chúng ta hãy kết án cho nó chết cách nhục nhã, vì theo lời nó nói, thì người ta sẽ cứu nó!”

Người công chính bị người ác mưu hại và còn hơn nữa là thách thức Thiên Chúa.

Sự ác, sự ghen tuông tưởng chừng chỉ có ở thời Cựu Ước hay như ông bà nguyên tổ Ađam nhưng rồi cứ kéo dài mãi cho đến thời các môn đệ.

Đã là những người gần gũi, đã là những người thân tín, lẽ ra nhường nhịn nhau, thông cảm cho nhau nhưng rồi lại cứ phải hơn thua, tranh giành.

Hôm nay, sự tranh giành, tính toán hơn thua nhau ta thấy có tự trong hàng ngũ những môn đệ thân tín của Chúa Giêsu. Trên đường đi loan báo Tin Mừng nhưng rồi các ông đã sống sai Tin Mừng và xa rời Tin Mừng mà Thầy Giêsu đang muốn gửi đến cho nhân loại, muốn gửi đến cho các ông và nhất là qua các ông là những người gần gũi.

Ắt hẳn là con người, khi các môn đệ đã nhắm đến chỗ cao, chỗ hơn thì chính trong nội bộ đã gây chia rẽ với nhau rồi. Và khi nội bộ của những người loan báo Tin Mừng gây chia rẽ thì tiếng nói của Lời Chúa, những lời rao giảng về Chúa coi như ra rỗng tuếch.

Ngày nay, điều mà người ta vẫn dễ nhận thấy đường hướng của những người gây chia rẽ là ai trong cuộc sống. Nếu như không tỉnh táo con người sẽ dễ bị cuốn hút đi theo con đường gây chia rẽ đó.

Thật ra mà nói, nếu như con người chấp nhận cái tôi của mình, sự yếu đuối của mình và nhất là không chay theo tiền bạc cũng như quyền lực thì sự hơn thua, ganh tỵ, chia rẽ khó mà có chỗ ngự trị. Ngược lại, nếu như con người ta để cho cái tôi của mình ngày một lớn thì sự chia rẽ đó càng mạnh.

Ngày nay, phải nói rằng sự chia rẽ ngay trong nội bộ gia đình, cộng đoàn đã đến mức báo động đỏ cũng chỉ vì người ta hơn thua tranh giành nhau. Có khi chỉ vài tấc đất thôi nhưng người ta có thể thù oán nhau và hại nhau có khi là mất mạng.

Ngày nay, người ta dễ nổi nóng với nhau cũng như dễ hành xử với nhau trong tư cách là con hơn là người. Cũng dễ hiểu bởi đó là tác động của xã hội nhưng rồi không thể nào đổ lỗi cho xã hội để ta cuốn theo xú u hướng của xã hội như thế.

Đau lòng hơn cả là trong những cộng đoàn tu trì cũng như giữa các đấng các bậc với nhau. Có thể không nói ra nhưng những lời xầm xì của những người trong nhà, của cộng đoàn đã để lọt ra ngoài để cho người ngoài nhìn thấy chính nội bộ cộng đoàn tu trì gây chia rẽ hơn thua nhau.

Chuyện giản đơn là chức vụ, xét cho bằng cùng chức vụ cũng chỉ là cộng đoàn đưa lên để phục vụ cộng đoàn.

Phải nói rằng ngày hôm nay hơn bao giờ hết người ta ghen tuông với nhau đến tột cùng. Chính vì sự ghen tuông mà người ta hành xử với nhau có khi không còn là tình người, là tính người nữa.

Ghen tuông nó len lỏi vào con người rất khéo léo và ẩn nấp dưới cái vẻ đẹp là phục vụ. Cần nhìn lại, lắng đọng tâm hồn để xét về chính bản thân mình xem vai trò của mình trong cộng đoàn, trong gia đình, trong họ đạo … để rồi ta nhìn lại xem ta có tính hơn thua, giành giật hay không.

Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để ngày mỗi ngày chúng ta bớt đi cái tính hơn thua, tranh giành trong tâm hồn ta để ta mặc lấy tâm tình hiền từ, nhân hậu và nhẫn nại để đối xử với nhau. Có khi đó, tâm hồn ta mới bình an thật sự và những người sống quanh ta mới bình an.

Tác giả: Huệ Minh

ĐỜI TÔI TIẾN BƯỚC NHƯ MỘT CON LỪA

ĐỜI TÔI TIẾN BƯỚC NHƯ MỘT CON LỪA

Văn Hào, SDB

Nhà văn Bossuet đã viết: “Ai trong chúng ta không có thói tự kiêu, người đó là thượng đế.”  Câu nói của nhà văn ngụ ý rằng, tự bản chất con người chúng ta ai cũng có cái tôi ích kỷ, thích được người khác nể trọng và thán phục.  Trong xã hội ngày nay, chúng ta thấy nhan nhản những khẩu hiệu, như “Cán bộ là đầy tớ của nhân dân” hoặc sống “Yêu thương để phục vụ”… nhưng trong thực tế, nhiều khi đó chỉ là những khẩu hiệu lý thuyết, và lắm lúc những khẩu hiệu xem ra đao to búa lớn ấy chỉ là những sáo ngữ rỗng tuếch.  Tuy nhiên, nếu can đảm và thẳng thắn nhìn lại cách sống của chính chúng ta là các Kitô hữu, đặc biệt nơi các anh em linh mục, chúng ta sẽ thấy rất rõ cái tôi của mình, qua cung cách trịch thượng hoặc qua lối hành xử hách dịch mà chúng ta rất hay biểu tỏ ra bên ngoài.

Lời Chúa hôm nay nhắc lại cho chúng ta tiêu chí căn bản để trở nên môn đệ Đức Giêsu: “Ai muốn làm đầu phải làm người rốt hết, và làm kẻ phục vụ mọi người” (Mc 9, 35).  Khiêm tốn để phục vụ là bài học căn bản mà chúng ta phải học, học mãi, học cho tới suốt đời, để sao chép lại cách sống của chính Đức Giêsu như Ngài đã từng nói: “Anh em hãy học nơi tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11, 29).

Khiêm nhường, khởi đầu của mọi nhân đức.

Thánh Tôma Aquinô diễn tả có vẻ hơi cường điệu.  Ngài nói: “Khi chúng ta chết đi, cái tôi của chúng ta sau 15 phút mới chết hẳn.”  Cái tôi ích kỷ và kiêu căng vẫn luôn đeo bám dai dẳng nơi tất cả mọi người.  Tội đứng đầu trong bảy mối tội chính là tính kiêu ngạo.  Đây chính là tội đầu tiên đã du nhập vào trần gian, và đó cũng là tội mà Thiên Chúa ghét bỏ nhất.  Adam đã sa ngã vì kiêu ngạo muốn trở nên ngang bằng với Thiên Chúa.  Tháp Babel cũng là biểu tượng của sự kiêu căng khi con người muốn nổi loạn chống lại Thiên Chúa.  Luxiphe là một thiên thần biến chất cũng chỉ vì quá tự phụ.  Quả thật, khuynh hướng kiêu ngạo đã ăn sâu nơi bản tính con người, và trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta luôn phải đấu tranh liên lỉ để vượt thắng.  Trong thư gửi giáo đoàn Rôma, thánh Phaolô đã viết: “Vì một người duy nhất đã không vâng phục Thiên Chúa mà muôn người trở nên tội nhân” (Rm 5, 19). Con người đó chính là Adam.  Tội Adam hay gọi là tội nguyên tổ, khởi đầu của các giống tội, chính là kiêu ngạo và bất tuân.  Tính kiêu ngạo đã ăn sâu vào bản tính nhân loại nơi chúng ta.

Có một câu ngạn ngữ tây phương đã viết: “Cái tôi thì đáng ghét” (le moi est haissable).  Ai trong chúng ta cũng biết điều này, nhưng không phải giản đơn nếu chúng ta muốn khuất phục cái tôi đáng ghét đó.  Thánh Phêrô cũng khuyên dạy các tín hữu: “Anh em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho ai khiêm nhường.  Vậy anh em hãy tự khiêm tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa (1P 5, 5-6).  Qủa thật, khiêm nhường chính là cửa ngõ dẫn đưa chúng ta đi vào sự thánh thiện, bởi vì khiêm nhường chính là mẹ sản sinh các nhân đức khác (tư tưởng của Tennyson).

Khiêm nhường: linh đạo Thập giá.

Sự khiêm nhường mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta trong bài Tin mừng hôm nay không chỉ đơn thuần là một đức tính nhân bản, nhưng đây chính là linh đạo Thập giá.  Đó là con đường trọn lành mà Đức Giêsu đã gợi mở để mời gọi chúng ta dấn bước vào: “Ai muốn theo tôi, hãy bỏ mình vác thập giá mình mà theo” (Mc 8, 34).

Hai ngàn năm trước, Đức Giêsu đã đến trần gian để thực hiện sứ mạng cứu thế.  Ngài đã khởi đầu cuộc hành trình tại máng cỏ Bêlem và kết thúc sứ mạng nơi đỉnh cao Thập giá.  Bêlem và Golgôtha là hai thông số của một thực tại duy nhất: Tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người.  Để diễn bày tình yêu, Thiên Chúa cao cả đã tự nguyện mang lấy kiếp người hèn hạ.  Một Thiên Chúa đầy uy quyền và dũng lực lại ẩn dấu trong dáng dấp của một bé thơ mỏng manh và yếu ớt.  Một đứa trẻ mới sinh ra chưa có thể làm được điều gì.  Nó cần đến vòng tay che chở của cha, cần những giọt sữa yêu thương của mẹ để được lớn lên.  Trẻ Giêsu còn cần đến cả những hơi thở của những con bò con lừa giữa đêm khuya lạnh giá.  Vì thế, trong bài Tin mừng hôm nay, để nói về sự khiêm tốn, Chúa mượn lại hình ảnh của một đứa bé như một chuẩn mẫu: “Ai tiếp đón một em bé như em này vì danh thầy, là tiếp đón chính thầy” (c.37).  Một đứa trẻ trong xã hội Do thái khi xưa hoàn toàn không có một giá trị gì về mặt xã hội.  Nhưng Đức Giêsu luôn yêu quý trẻ thơ.  Ngài còn đề cao các em nhỏ và mời gọi các môn đệ phải nên giống trẻ thơ.  “Thầy bảo thật anh em, nếu anh em không trở nên như trẻ thơ, thì sẽ chẳng được vào nước trời.  Vậy ai tự hạ và nên như trẻ nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong nước trời” (Mt 18, 2-4).  Đứa bé còn là hình mẫu về sự nghèo khó mà Chúa nói đến.  Một đứa con nít không có vị thế gì trong xã hội.  Chúng chẳng bao giờ dám mơ tưởng sẽ làm ông này hay bà nọ.  Chúng cũng nghèo xác nghèo xơ, không có tài sản hay tiền bạc trong túi.  Tinh thần nghèo khó chính là mối phúc đầu tiên trong tám mối phúc mà Chúa Giêsu đã công bố trong bài giảng trên núi, và đây cũng chính là linh đạo thập giá, đi đôi với sự khiêm tốn nội tâm mà Chúa nói tới trong Tin mừng hôm nay.

Viễn ảnh thập giá xem ra rất mù tối đối với các học trò của Chúa Giêsu.  “Con người sẽ bị nộp vào tay người đời.  Họ sẽ giết chết Người, và sau ba ngày Người sẽ sống lại.”  Thánh Marcô xác nhận: “Các ông không hiểu lời nói đó (Mc 9, 32), bởi vì con đường theo Đức Giêsu còn rất nhiều trầy truột và gian nan.  Đối diện trước cái chết, Đức Giêsu đã bị người đời chửi rủa, mạt sát, và coi khinh.  Ngài vẫn không cự cãi một tiếng, không chống trả một câu.  Sự thinh lặng của Ngài không phải là một sự câm nín thụ động, nhưng đó là ngôn ngữ phong phú nhất để dạy chúng ta bài học khiêm tốn.  Trong bài đọc thứ nhất, tác giả sách Khôn ngoan cũng phác vẽ trước viễn ảnh Thập giá này: “Ta sẽ hạ nhục nó và tra tấn nó để biết nó hiền hòa làm sao, và để xem nó nhẫn nhục tới mức nào.  Nào ta sẽ kết án cho nó chết một cách nhục nhã” (Kn 2, 19-20).  Mầu nhiệm Thập giá hàm ngậm sự tự hủy luôn luôn là một thách đố đối với các học trò của Chúa Giêsu năm xưa cũng như đối với mọi người chúng ta hôm nay.  Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Philip cũng vạch dẫn con đường này, và Ngài mời gọi chúng ta nhìn vào linh đạo Thập giá như là khung căn bản định hình sự khiêm tốn nội tâm: “Đức Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên Thập tự (Phil 2, 6-8).

Vì vậy, sự khiêm tốn không chỉ đơn thuần là một đức tính nhân bản, nhưng chính là linh đạo Thập giá.  Chúng ta học sống khiêm nhường không phải theo gương của vị vĩ nhân này hay lối sống của nhà hiền triết nọ, nhưng chúng ta được mời gọi nhìn vào chính Đức Giêsu chịu đóng đinh để sao chép lại lối sống và tiếp bước dấu chân của Ngài.  “Anh em hãy học nơi tôi, vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.

Đời tôi tiến bước như một con lừa.

Đây là tựa đề một quyển sách Đức Hồng y Etchegarey đã viết khi suy tư về hành trình ơn gọi của mình.  Ngài vay mượn hình tượng một con lừa để mô tả.  Người đời vẫn thường nói: “Ngu như bò và dốt như lừa.”  Nhưng bò và lừa lại là hai vị thượng khách được ưu tuyển để đến cung chiêm Vua Trời đất khi Ngài mới hạ sinh.  Đức Hồng y cũng mượn lại hình ảnh con lừa chở Chúa tiến vào Giêrusalem để nói về hành trình ơn gọi của Ngài.  Người dân hai bên đường vỗ tay reo hò, trải áo và cầm cành lá trên tay để nghinh đón.  Con lừa vẫn không vênh mặt lên để tự mãn, vì những lời tung hô đó dành cho Chúa chứ không phải cho nó.  Nó mãi mãi cũng chỉ là một con lừa mà thôi.  Đường vào Giêrusalem đầy sỏi đá làm chân nó đau nhức, nó vẫn không một lời kêu than.  Con lừa vẫn cứ âm thầm lặng lẽ mang Chúa trên vai, và tiến bước một cách ngoan thuần.  Nó khiêm tốn bước đi để Chúa hướng dẫn, và suốt đời nó mãi mãi vẫn chỉ là một con lừa mà thôi.  Cuộc hành trình ơn gọi của mỗi người chúng ta cũng phải giống như vậy.  “Đời tôi tiến bước như một con lừa” chính là như thế.  Thái độ căn bản chúng ta cần phải có là khiêm tốn để Đức Giêsu hướng dẫn đời mình.  Chính Đức Giêsu đã nêu gương cho chúng ta, như Ngài đã thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, này con xin đến để thi hành thánh ý Cha.” Khi đi vào trần gian, Ngài đã đến “không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến ban mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người” (Mt 20,28).

Chủ nghĩa ‘cha chú’ (paternalism)

Thánh Phanxicô Assisi là gương mẫu cho chúng ta về tinh thần khiêm tốn và nếp sống khó nghèo.  Ông Stalin, một lãnh tụ vô thần, cho dù không tin vào Thiên Chúa, nhưng  khi đọc tiểu sử của thánh nhân đã thốt lên: “Nếu tôi có trong tay 10 người như Phanxicô, tôi sẽ làm thay đổi cả bộ mặt thế giới.”  Con người chúng ta ít nhiều ai cũng có bệnh sỹ diện, thích phô trương cái tôi của mình.  Căn bệnh trầm kha này không phải chỉ có nơi giáo dân, nơi các ông trương ông trùm, nhưng có ngay cả nơi các anh em linh mục.  Một Cha già đã chia sẻ rằng, khi các linh mục được mọi người kính trọng và gọi bằng cha, rất dễ quên đi ơn gọi làm con nơi mình.  Ngài nói tiếp “Nhiều cha lại cứ thích ‘chơi cha’ thiên hạ, qua lối hành xử trịch thượng và hống hách, thậm chí còn dùng tòa giảng để chửi bới giáo dân.  Đó là lối sống theo chủ nghĩa cha chú (paternalism) mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã kết án rất mạnh mẽ khi Ngài nói với giáo triều Rôma dịp Noel năm ngoái (ngày 22/12/2014).  Điều nhận xét trên không phải mang tính cách vơ đũa cả nắm, nhưng rất cần thiết cho mọi người, nhất là các anh em linh mục, để chúng ta biết can đảm và thẳng thắn nhìn lại chính mình khi thi hành tính năng mục tử.

Kết luận : Tôi tớ của các tôi tớ

Sau hết, chúng ta hãy nhìn lên Đức Maria như là khuôn mẫu nội tâm để chúng ta học nơi Ngài bài học khiêm nhu.  Mẹ vẫn luôn coi mình chỉ là “tôi tớ” của Thiên Chúa.  Bí quyết duy nhất của Đức Maria khi thực hành sự khiêm tốn và vâng phục là luôn thưa lời “xin vâng”, tuyệt đối để Thiên Chúa hướng dẫn đời mình.  Mẹ đã cảm nghiệm rất sâu lắngsự khiêm tốn ấy khi cất lên bài ca Magnificat: “Chúa hạ bệ những kẻ kiêu căng, Người nâng dậy những ai khiêm nhu.”  Bắt chước Đức Maria, người nữ tỳ (serva) của Thiên Chúa, Đức Thánh Cha Gioan 23 và Đức Phaolô đệ lục khi chuẩn nhận các văn kiện công đồng Vatican II luôn luôn đặt bút ký tên của mình với hàng chữ “servus servorum” (tôi tớ của các tôi tớ).  Còn các Kitô hữu, cách riêng các anh em linh mục, chúng ta đã hành xử và thực thi quyền bính được trao phó cho chúng ta, “những tôi tớ của các tôi tớ” như thế nào?

Văn Hào, SDB

Sự Diệu Kỳ.

Sự Diệu Kỳ.

Một đêm khuya, lâu lắm rồi, tôi lang thang trên mạng và bất ngờ “tầm” được tấm ảnh anh chiến sỹ VNCH quỳ cầu nguyện giữa ngôi thánh đường đổ nát, hoang tàn, và tôi đã chia sẻ trên FB.
Bất chợt cách đây vài ngày, tôi nhận được một lời mời của một người hẹn gặp tại Bmt, và tôi đã đến.
Trong buổi gặp gỡ, tôi thật ngỡ ngàng đến sững sờ: người hẹn gặp tôi chính là anh chiến sỹ trong ảnh, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, lúc đó anh mới ra trường, mang quân hàm Thiếu úy thuộc đội đặc nhiệm của Lữ đoàn Dù. Theo lời anh kể: Năm ấy, ngôi thánh đường La Vang, Quảng Trị sau một trận cuồng pháo của phía Bắc Việt nhưng cây thánh giá và tượng Đức Mẹ không hề bị một mảnh đạn pháo nào và một niềm tin vào Chúa, anh đã quỳ xuống… Tấm hình này hiện được trưng bày ở bảo tàng San Jose California USA.
Lời cuối cùng khi chia tay, anh nói: “Anh đạo Phật nhưng anh tin Chúa”


GÁNH NẶNG HAY NHẸ

GÁNH NẶNG HAY NHẸ

(TRIẾT LÝ CỦA PLATON)

Có câu chuyện như thế này:

Một người cảm thấy cuộc sống quá nặng nề, bèn đi tìm nhà triết học Platon cầu mong kiếm được con đường giải thoát.

Platon chẳng nói chẳng rằng, chỉ đưa cho ông ta một cái sọt bảo ông đeo lên vai, đồng thời chỉ vào một con đường lổn nhổn đất đá nói:

– Mỗi khi anh bước đi một bước thì nhặt một hòn đá cho vào sọt, xem thử cảm giác như thế nào.

Người này bắt đầu làm theo lời Platon, còn Platon thì bước nhanh đến đầu kia của con đường.

Được một lúc, người kia đã đi đến con đường. Platon hỏi anh ta cảm thấy thế nào. Người kia nói:

– Tôi cảm thấy càng lúc càng nặng!

Đây chính là nguyên nhân giải thích tại sao, anh cảm thấy cuộc đời ngày càng nặng nề. Platon nói:

– Mỗi người khi đến thế giới này, đều đeo một cái sọt rỗng, mỗi một bước đi trên con đường đời, anh ta đều nhặt một thứ gì đó từ trong thế giới này để bỏ vào sọt, cho nên càng đi càng cảm thấy mệt mỏi.

Người kia hỏi:

– Có cách nào có thể giảm bớt gánh nặng này không?

Platon hỏi ngược lại anh ta:

– Vậy anh có đồng ý vứt bỏ đi một trong các thứ như công việctình yêugia đình hay tình bạn không?

Người kia nghe xong, im lặng.

Platon nói:

Nếu thấy khó có thể vứt bỏ thì đừng nghỉ đó là gánh nặng nữa, mà nên nghĩ đến niềm vui mà nó mang lại. Cái sọt của mỗi người trong chúng ta,  không những chứa đựng ân huệ mà Ông Trời ban cho chúng ta, mà còn có trách nhiệm và nghĩa vụ. Khi anh cảm thấy nặng nề, có lẽ anh đừng vội buồn, có thể cái sọt của kẻ khác còn to hơn, còn nặng hơn của anh nhiều. Nếu cứ nghĩ như thế, chẳng phải trong sọt của anh… sẽ bớt nỗi buồn hay sao?”

Người kia nghe xong chợt hiểu ra.

Câu hỏi của Platon, ta cũng nên thường xuyên tự hỏi lòng mình:

“Tôi muốn từ bỏ những gì tôi đang gồng gánh được không? ”

GÁNH NHẸ NHÀNG

1. Gánh nặng cuộc đời

Đời… có biết bao nhiêu thứ nặng nề hằng ngày “hành hạ” ta, nếu ta “để tâm” đến nó, từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn. Nhưng nhiều khi chúng ta quên một điều khá quan trọng, đó là cuộc sống thường có hai mặt, mặt nổi và mặt chìm. Mặt được phơi bày và mặt bị ẩn khuất.

Nếu chúng ta chỉ thấy mặt nổi của một sự việc, và vì nó vừa ý hay không vừa ý ta, ta sẽ vấp phải sự kết luận vội vàng, và từ đó, ta cũng vội buồnvội vui.

Đời… cái vừa ý ta thì ít, mà cái không vừa ý ta thì nhiều, nên nhiều khi chúng ta dễ “chán đời! ”

Làm sao mà “yêu đời” được, khi nhìn chung quanh ta toàn là những điều làm ta mệt mỏi, gánh nặng, cô độc ?!…

Bình tâm suy nghĩ, ta sẽ thấy, một sự việc xẩy ra, có thể đối với người này là quá sức tồi tệ, nhưng đối với người khác là chuyện “bình thường”, có khi nó còn mang ý nghĩa tích cực nữa là khác.

Có một lần một người chòm xóm than phiền với một cụ già:

Nhà bên cạnh vừa mua dàn Karaoke. Trời ơi, con nhỏ gái trong nhà hát thiệt là kinh khủng, nó hát ngang như cua bò, còn thằng con trai thì gào thét đinh tai nhức óc. Nghe mệt mỏi làm sao!

Cụ già bình thản trả lời:

Tôi cũng thấy vậy, nhưng nếu mấy đứa đó mà đi ăn nhậu chơi bời, trộm cắp phá phách chòm xóm, thì còn đáng lo hơn. Đúng là việc chúng nó làm, chúng ta phải chịu đựng khổ sở, nhưng dù sao, nó cũng an toàn…

Như vậy, “gánh nặng cuộc đời” còn tùy thuộc vào ta nhìn nó ở góc cạnh nào.

Nếu ta chỉ nghĩ tới mình, niềm vui phải làm sao hoàn toàn theo ý riêng ta, chắc chắn gánh cuộc đời càng nặng trĩu.

Niềm vui đến chỉ từ sự ích kỷ, niềm vui đó không tồn tại dài lâu được. Vì niềm vui ích kỷ, nó luôn hẹp hòi, bé nhỏ, nó không thể chịu đựng được những cơn lốc cuộc đời, vốn đòi hỏi con người biết cùng nhau chống đỡ. Sống có nhau, vì nhau, biết hợp đoàn, đỡ nâng, chung sống, chia sẻ, bảo vệ nhau.

Niềm vui cô đơn như hoa nở một mình, phơi hương tỏa sắc trơ trọi một mình, rồi héo tàn một mình, đơn độc và vô nghĩa.

Voltaire đã nói: “Chỉ hay cho mình, tức là không hay cho ai nữa”. Chỉ mang gánh nặng một mình, dù đó là gánh vàng bạc ngọc ngà, mà không cho ai, vì ai, thì mang gánh nặng đó để làm gì?

Chính vì tha nhân, vì những người thân yêu, vì tình người, vì đồng loại, mà những gánh nặng cuộc đời được thăng hoa thành những niềm vui cao cả, tuyệt vời. Những gì tưởng chỉ là nước mắt khổ đau, hóa ra… chúng biến hóa một cách mầu nhiệm thành những nụ cười hạnh phúc.

2. Chối từ “gánh nặng cuộc đời”?

Thật sự có người đã tìm cách trút bỏ gánh nặng cuộc đời bằng cái chết! Thật ra, cái mà họ cho là “gánh nặng”, có khi chính là “hạnh phúc” Trời ban cho họ, thật đáng tiếc, họ không nhận ra, không hay biết!

Platon, trong câu chuyện trên, đã nói: “Cái sọt của mỗi người trong chúng ta, không những chứa đựng ân huệ mà Ông Trời ban cho chúng ta, mà còn có trách nhiệm và nghĩa vụ.”

Trong nghia & Cha ( Sưu tầm ).

Sự đền đáp đầy cảm động

Sự đền đáp đầy cảm động

Liz Woodward (24 tuổi) – một cô phục vụ bàn, trẻ, ở bang New Jersey – Mỹ, đã trả tiền bữa ăn sáng cho 2 lính cứu hỏa và bất ngờ nhận được sự đền đáp đầy cảm động.

Buổi sáng 23/7, anh Tim Young và Paul Hullings ghé vào nhà hàng Rt. 130 Diner ở quận Delran để ăn sáng sau khi trải qua 12 giờ vất vả chiến đấu với ngọn lửa tại một nhà kho thuộc khu vực Bắc Brunswick.

Theo trang báo Acbnews đưa tin, chứng kiến vẻ mệt mỏi của hai người lính cứu hỏa xả thân vì nhiệm vụ, Liz đã rất xúc động và quyết định dùng tiền túi để trả bữa sáng cho họ. “Đây là bữa ăn đầu tiên của họ trong 24 giờ qua. Điều tôi có thể làm là mua cho họ ít đồ ăn để đền đáp những gì họ đã làm được” – Liz nói.

Thay vì hóa đơn, Liz gửi đến hai lính cứu hỏa lời nhắn thể hiện sự cảm động của mình vì sự cống hiến của họ.

Rất cảm động, Tim đã chia sẻ lời cảm ơn của mình lên trang cá nhân kèm theo bức ảnh lời nhắn của Liz. Thông điệp này nhanh chóng gây được chú ý và nhận được gần 4.000 nghìn lượt share.

Tim Young chia sẻ câu chuyện xúc động trên trang cá nhân của mình và nhận được gần 4000 lượt chia sẻ.

Sau đó, Tim Young và Paul Hullings vô tình phát hiện cha của cô Liz Woodward, ông Steve, mắc chứng liệt tứ chi suốt 5 năm qua. Cô đang gây quỹ trên một trang web để quyền tiền mua tặng bố mình một chiếc ô tô dành riêng cho người đi xe lăn. Tim Young biết điều đó và muốn được giúp đỡ.

Khi yêu cầu giúp đỡ của Tim Young được phương tiện truyền thông Mỹ đăng tải, hàng chục nhà từ thiện đã quyên tiền vào tài khoản của Liz. Chỉ trong vòng vài ngày, tổng số tiền sau cùng lên tới 69.000 USD, vượt xa con số 17.000 USD dự kiến ban đầu.

Bố của Liz Woodward, ông Steve, mắc chứng bệnh liệt tứ chi suốt 5 năm.

Trong cuộc phỏng vấn với kênh truyền hình WPVI, ông Paul Hullings đến chia sẻ: “Chúng tôi không chỉ là nhân viên cứu hỏa. Chúng tôi cũng quan tâm người khác và muốn trở thành một phần cuộc sống của họ”.


 

 

 

 

 

 

T

 

Tim Young và Paul Hullings đến nhà thăm bố của Liz.

Còn Liz không ngờ hành động nhỏ của mình lại được đền đáp một cách bất ngờ và xúc động đến thế. Liz nói: “Tất cả những gì tôi đã làm là mời họ một bữa ăn sáng. Tôi không chờ đợi hơn một nụ cười. Điều này cho thấy, sự chân thành và thậm chí một hành động nhỏ cũng có thể làm thay đổi một cuộc đời”.

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

“Có đi chung với nhau lâu đâu!”

“Có đi chung với nhau lâu đâu!”

Một thiếu nữ đang ngồi  trên xe buýt:
Một bà già mang đủ thứ lỉnh kỉnh, miệng lẩm bẩm, đến ngồi  bên cạnh, xô mạnh cô.
Bất bình, anh thanh niên bên cạnh hỏi tại sao cô không phản đối và bảo vệ quyền lợi mình. Cô mỉm cười và trả lời:

“Đâu cần phải cãi cọ vì chuyện nhỏ như thế, có đi chung với nhau lâu đâu!   Trạm tới, tôi xuống rồi.”

Đây là một câu trả lời mà chúng ta phải xem như một khẩu hiệu viết  bằng chữ vàng để hướng dẫn cách cư xử hằng ngày của chúng ta ở khắp mọi nơi: “Đâu cần phải cãi cọ vì chuyện nhỏ như thế, có đi chung với nhau lâu đâu!”

Nếu chúng ta có thể ý thức rằng cõi đời tạm của chúng ta dưới thế thật ngắn ngủi, cãi cọ tầm phào vừa làm cho mất vui, vừa làm mình mất thời gian và sức lực cho chuyện không đâu.

Có ai làm mình tổn thương?
Bình tĩnh, có đi chung với nhau lâu  đâu!

Có ai phản bội, ức  hiếp, sỉ nhục mình?
Bình tĩnh, có đi chung với nhau lâu đâu!

Dù người ta có gây ra cho chúng ta buồn phiền gì chăng nữa, hãy nhớ rằng: có đi chung với nhau lâu đâu!

Chuyến đi chung của chúng ta trong cõi đời dưới thế này ngắn ngủi lắm và không đi trở ngược lại được.

Không ai biết chuyến đi của mình dài bao lâu!

Không ai biết mình có phải xuống ở trạm tới hay không!

VẬY HÃY BÌNH TĨNH,  CHUYẾN ĐI NGẮN LẮM!

ST

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi