Khủng Bố IS và Sự Đối Phó Của Hoa Kỳ

Khủng Bố IS và Sự Đối Phó Của Hoa Kỳ

Thứ Sáu 13 tháng 11 năm 2015 tại Paris, thủ đô nước Pháp, nhiều cuộc tấn công khủng bố đã xảy ra tại ít nhất 6 trọng điểm, do tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS) làm 129 người thiệt mạng, gần 400 bị thương (gần 100 trong tình trạng nguy kịch).

Hai ngày sau, Pháp đã sử dụng 10 máy bay chiến đấu thả 20 quả bom nhắm vào những sào huyệt của Nhà nước Hồi giáo như là bước khởi đầu trong quyết tâm tận diệt kẻ thù của quốc gia này nói riêng và của nhân loại nói chung.

IS – ISI – ISIS là những chữ tắt của Islamic State (Vương Quốc Islam Giáo), Islamic State of Iraq (Quốc Gia Hồi Giáo Iraq) và Islamic State of Iraq and Syria). Tiến trình hình thành của Nhà Nước Hồi Giáo này là một tiến trình phức tạp đầy màu sắc tôn giáo cuồng tín của nhiều sắc dân vùng Trung Đông. Trong hiện tại, IS là tên đơn giản để chỉ nhóm khủng bố Hồi giáo này.

Có nguồn tin cho rằng IS là do chính phủ Hoa Kỳ bí mật xây dựng để gây bất ổn ở Trung Đông, bắt nguồn từ hãng tin Sputnik (Nga) dẫn lời của nhà nghiên cứu lịch sử người Mỹ, ông Webster Tarpley, cho rằng thủ lĩnh của IS, Abu Bark al-Baghdadi là người có quan hệ thân cận với Thượng nghị sĩ John McCain. Ông Tarpley là chuyên gia lịch sử từng gây tranh cãi khi xuất bản một quyển sách về vụ khủng bố 11/9, với nội dung nhấn mạnh những tổ chức khủng bố trên toàn thế giới đều do chính phủ Mỹ đứng sau hỗ trợ. Đài Press TV (Iran) cũng từng phỏng vấn ông Tarpley về những lý do mà ông cho rằng chính phủ Mỹ góp phần tạo nên IS.

Nguồn tin này đã nhanh chóng đi vào quên lãng.

Thượng tuần tháng 1 năm 2015, IS đã mở đầu chiến dịch khủng bố nhắm vào nước Pháp bằng hành động bắn chết 12 nhà báo, họa sĩ của tạp chí trào phúng Charlie Hebdo với lời tuyên bố “chúng đang trả thù tạp chí này vì nhiều lần đăng tải các phiếm họa về nhà tiên tri”.

Tháng 9 năm 2015, trong cuộc phỏng vấn của tờ Paris Match, thẩm phán Trévidic đã cho biết nguy cơ nước Pháp bị tấn công khủng bố ở mức độ cao và chưa từng có tiền lệ “Nước Pháp đã trở thành kẻ thù số một của IS, là đích ngắm của một đội quân khủng bố với đủ loại hình thức” và rất bất ngờ, chỉ 2 tháng sau, dự đoán này đã chính xác 100%.

Qua hai sự kiện khủng bố xảy ra ở Pháp, chúng ta có thể thấy năng lực phòng chống khủng bố ở Pháp nói chung đang gặp vấn đề: không nắm được thông tin tình báo, không có được các giải pháp phòng ngừa hiệu quả…

Pháp quốc chỉ ĐỐI ĐẦU mà chưa ĐỐI PHÓ.

Đối Đầu là kình chống, đương đầu ra mặt chống lại, không phục, trong khi Đối Phó là ứng phó, đáp ứng tình

trạng tự nhiên hay do một tổ chức, cá nhân gây ra nhưđối phó với tình thế; đối phó với bất kỳ ai muốn gây sự.

Rút kinh nghiệm chống khủng bố từ biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001 tại Hoa Kỳ (New York, Washington D.C. và Pennsylvania) hơn 14 năm, Hoa kỳ đã không để xảy ra tình trạng bị tấn công trầm trọng nào khác. Nhóm khủng bố Hồi Giáo đã âm mưu và toan tính nhiều kế hoạch tinh vi khác nhau nhưng không thể thực hiện được. Hoa Kỳ đã cải tổ toàn diện xã hội để “Đối Phó“ với tình hình do nhóm khủng bố Hồi giáo chủ trương.

Với đầu óc thực tiễn, “ta làm những gì ta có thể làm , không nên làm những gì ta muốn”, chính phủ Hoa Kỳ không mất thời giờ đi năn nỉ hay ”giáo dục“ những kẻ cuồng tín lúc nào cũng nghĩ Hoa Kỳ và người da trắng Âu châu là “bọn bạch quỷ” cần phải tiêu diệt, chính phủ đã có những vũ khí hiện đại để bắn hạ những kẻ thù đến gần, đồng thời cũng có những phương cách “bẻ chân, bẻ tay, làm mù mắt, chọc thủng tai” của bọn khủng bố Hồi Giáo khiến bọn chúng không thể đột nhập vào Hoa Kỳ thực hiện giết người.

  1. Với “ Patriot Act ” (do Giáo Sư Luật Khoa Đinh Đồng Phụng Việt soạn thảo) chính quyền Hoa Kỳ được phép nghe lén điện thoại, xâm nhập email, trang cá nhân website… của bất cứ thành phần nào mà không cần án lệnh của tòa án. Nhờ việc nghe lén này mà giới chức an ninh tình báo của Hoa Kỳ đã phá vỡ biết bao âm mưu phá hoại ngay từ trong trứng nước.
  2. Nhận biết được, bọn khủng bố vào được Hoa Kỳ rồi khủng bố tự sát là do kẽ hở trong 2 nguyên tắc làm việc của FBI và CIA: CIA là cơ quan Trung Ương Tình Báo phụ trách bên ngoài Hoa Kỳ, trong khi FBI là cơ quan Điều Tra của Liên Bang trách nhiệm trong nội địa Hoa Kỳ và FBI chỉ bắt giữ khi có chứng cớ gây ra hay phạm tội hiển nhiên. Chính phủ Hoa Kỳ đặt ra Bộ An Ninh, đặt tất cả những cơ quan an ninh, tình báo …của nhiều cơ quan, dưới sự Quản trị và Giám sát của Bộ này.
  3. Tất cả những cá nhân hay cơ quan hội đoàn giúp đỡ tán trợ bọn khủng bố đều bị “freeze” các chương mục ngân hàng.  Tương tự như “rút máu” của một cơ thể con người, chắc chắn con người đó, sinh vật vật đó…”phải chết ngay lập tức”.

Sau biến cố tháng 9 ngày 11 năm 2001, một số người African – American hí hửng tưởng rằng Hồi Giáo trên đà chiến thắng nên ra tòa án xin đổi tên họ ra những là Mohammad , Ali, Saddam, … nhưng đồng thời họ cũng nhận ra những credit card của họ bị “invalid”. Khi họ khiếu nại, trung tâm Customer Service của ngân hàng trả lời là “quyền cấp phát thẻ tín dụng là quyền ưu tiên của Ngân Hàng chứ không phải là quyền của khách hàng”. Và “Ngân Hàng không muốn cho các thánh tử vì đạo vay dollars vì Ngân Hàng sẽ chẳng bao giờ đòi được nợ”.

  1. Tất cả những Visa và Passport cũ đều bị hủy bỏ, thay vào đó là những thẻ ID, những VISA, những PASSPORT mới có gắn chip điện tử nên chỉ cần mở ra là nhân viên Bộ An Ninh biết ngay công dân Hoa Kỳ đang ở quốc gia nào trên thế giới. Đây chính là những bằng chứng để bắt giữ, đưa vào nhà tù với tội danh “Phản Bội” thuộc hình sự đặc biệt những phần tử Hồi Giáo tại Hoa Kỳ trốn lén qua những xứ Hồi Giáo thụ huấn phương cách khủng bố phá hoại.  Hoặc là những phần tử xin đi du lịch Thổ Nhĩ Kỳ hay Arab Seoud dự tính trốn sang Syria đều bị bắt trước khi lên phi cơ rời khỏi nước Mỹ.

Nước Pháp không có kỹ thuật tân tiến như Hoa Kỳ, cho nên những tên khủng bố bị hạ sát trong đêm 13 tháng 11 vừa qua có một số tên gốc gác từ Syria hay công dân Pháp đã có lần đến Syria! Một thí dụ khác là một số người VN lãnh trợ cấp SSI trở về VN du lịch quá 28 ngày, khi trở lại Hoa Kỳ bị Sở Xã Hội cắt trợ cấp phải “xin tái trợ cấp”, tỏ ra rất ngạc nhiên không hiểu tại sao Social Worker lại biết chuyện về VN của họ: Social Worker ngồi tại văn phòng chỉ cần mở data base của Passport là biết ngay, không cần người lãnh trợ cấp “tự giác” báo cáo!

  1. Cơ quan NSA (dường như viết tắt của National Security Agency) của Bộ An Ninh có khoảng 15,000 đến 20,000 kỹ sư phục vụ chuyên nghe lén và đọc lén tất cả các cú gọi điện thoại và đọc lén tất cả những phương tiện internet trên toàn thế giới. Chuyến máy bay Air Bus của Nga bị rớt ở khu nghỉ mát trong bán đảo Sinai gần đây, trước khi phái đoàn các nước đến hiện trường điều tra, Ngoại trưởng Anh đã tuyên bố là cơ quan tình báo của Anh đã nghe lén được là bọn khủng bố đặt bom vào máy bay và quả bom nổ từ kho chứa hành lý. Trong khi Tổng Thống Putin của Nga, nguyên là xếp của cơ quan KGB, vẫn còn chưa có thông tin gì cả.

Các Kỹ sư Computer đã mã hóa những thứ tiếng Arab bằng barcode nên khi nghe lén, máy computer tự động chuyển dịch sang Anh Văn không cần Thông dịch viên nên rất nhanh chóng có được những tin tức chính xác. Mới đây một đao phủ thủ có tên là John Jihad bị máy bay không người lái của Hoa Kỳ hạ sát vì chỉ cần nghe giọng nói của tên này trên youtube khi bọn khủng bố hạ sát ký giả Bailey, cơ quan tình báo Anh đã xác định được lý lịch của kẻ có bí danh John Jihad.

  1. Người viết bài này chắc chắn là nước Pháp không thể có hệ thống Security Cameras dày đặc như Hoa Kỳ nên công việc truy tầm các tên khủng bố không thể hữu hiệu và nhanh chóng như của Hoa Kỳ. Điều này ứng vào 2 anh em người Mỹ gốc Nga đặt bom khủng bố giết hại người dân Hoa Kỳ trong cuộc chạy đua Marathon ở Boston 2 năm trước, chỉ trong vòng ½ giờ sau khi nổ bom , nhờ hệ thống security cameras , cảnh sát Boston đã biết những kẻ khủng bố là ai và họ đã đi vây bắt ngay. Anh trai của thủ phạm đã bị bắn chết và thủ phạm đã ra tòa lãnh án tử hình.
  2. Năm 2008, trên các nhật báo lớn của Hoa Kỳ, trang Technology có loan tin mà ít người chú ý: Chính phủ Hoa Kỳ ra lệnh cho tất cả các hãng chế tạo máy truyền hình bán vào Hoa Kỳ phải gắn một con chip điện tử hoạt động như một Camera thu hình tất cả những người ngồi xem trước máy (với góc quét hình gần 180 độ) rồi truyền ngược về Trung tâm Kiểm soát của Cảnh Sát. Thí dụ một đứa trẻ bị bắt cóc, bố mẹ đưa hình đứa bé cho Cảnh Sát nhờ truy tìm. Cảnh Sát Down Load hình vào Trung tâm Kiểm soát. Nếu đứa trẻ bị bắt cóc ngồi trong nhà hay trong khách sạn mở TV ra xem hay mở TV để chơi game thì Cảnh Sát sẽ tìm ra địa chỉ của đứa bé ngay lập tức. Cũng phương cách này, Cảnh Sát cũng sẽ mau chóng tìm ra địa chỉ ẩn trốn của những kẻ khủng bố. Chúng tôi cũng không rõ là hệ thống TV của Âu Châu nói chung và nước Pháp nói riêng có trang bị hệ thống này như của Hoa Kỳ hay không?
  3. Cách đây 6 tháng, cũng trên trang Technology, một nhóm Kỹ sư của Hoa Kỳ phát minh được một kỹ thuật mới, họ cũng tìm ra một con chip điện tử hoạt động như một Camera thu hình gắn luôn vào trong bóng đèn chiếu sáng trên các đường phố. Dĩ nhiên là giá thành rất rẻ nếu so sánh với hệ thống Security Cameras hiện nay.

Trên đây chỉ là những gì chúng tôi được biết, dĩ nhiên còn những phát minh mới hơn cũng sẽ được kiểm nghiệm sử dụng. Tuy vậy, tất cả cũng chỉ là những phương tiện của “phương pháp phòng thủ thụ động” mà chính phủ Hoa Kỳ đã thực hiện và thi hành.

Một phương thức tối ưu trong việc “Đối Phó” với Nhà Nược Khủng Bố Hồi Giáo IS cần đề cập, đó chính là mạng lưới “tình báo nhân dân” tức là yếu tố con người, tương quan chặt chẻ với chính phủ, đã được Tổng Thống Abraham Lincoln nhấn mạnh trong bài diễn văn năm 1864: Một chính phủ BỞI DÂN , DO DÂN và VÌ DÂN sẽ luôn luôn được nhân dân ủng hộ để sát cánh trong công cuộc BẢO VỆ AN NINH và  TOÀN VẸN LÃNH THỔ cho quốc gia Hoa Kỳ. 

Chu toàn trách nhiệm của một công dân trên đất nước tự do Hoa Kỳ, đi bầu – quan sát và phát hiện những hiện tượng khác lạ chung quanh – nghe ngóng – tự xem là một phần tử trong mạng lưới tình báo nhân dân, chính là những đóng góp tích cực để giúp chính phủ đối phó với Nhà Nước Khủng Bố Hồi Giáo IS vậy.

LÊ THÀNH QUANG

Philadelphia, Thứ Hai 16 tháng 11 năm 2015.

Anh chi Thu & Mai goi

Chúng tôi thách đố đảng CSVN!

Chúng tôi thách đố đảng CSVN!

Hoàng Thanh Trúc (Danlambao)  Chúng tôi ở đây là ai? Như Trần Quốc Toản khi xưa cầm quả cam trong tay. Họ, những tuổi trẻ Việt Nam ngày nay đang khảng khái cầm trong tay lời thách thức chế độ độc tài cộng sản Việt Nam hãy trả lại quyền làm chủ đất nước của toàn dân tộc đã bị tước đoạt suốt 70 năm qua. “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” (nước nhà hưng thịnh hay suy vong, mọi người dân đều có trách nhiệm) Họ, tuổi trẻ Việt Nam như đang thét lên… Đất nước không của riêng ai, mọi Công dân có quyền tham gia quản lý điều hành nhà nước và xã hội, (Điều 28- Hiến pháp) Không ai sinh ra nghiễm nhiên là lãnh đạo (không thể con quan nếu thích là được làm quan) Nhân tài, lãnh đạo, phải thông qua cạnh tranh chứng minh từ “Tự Do” ứng cử và “Dân Chủ” bầu chọn như quốc gia Myanmar…

Chúng tôi thách đố đảng CSVN dám làm (bầu cử) như Myanmar
 
Họ – Tuổi trẻ tri thức Việt Nam ngày nay hầu như biết rất rõ và tởm lợm quá rồi với biết bao tiền của mồ hôi nước mắt nhân dân bốc hơi qua những lần bầu cử bịp bợm giả hiệu là “dân chủ” chỉ cốt để hợp thức hóa cho: “đảng CSVN dành quyền cắt cử ứng viên CS- bắt dân phải bỏ phiếu có sẳn ứng viên và tổ chức Mặt Trận Tổ Quốc quán triệt (chọn lựa) ai được đắc cử theo cơ cấu ấn định do đảng CSVN đã duyệt trước.”(!?) mà nhà nước và đảng CSVN tung hô là “Đảng cử, dân bầu”?. (Đảng cử chọn rồi thì nhân dân còn bầu bán đếch gì nữa cho tốn kém!) Một màn hài kịch rẻ tiền.
Chúng tôi thách đố đảng CSVN dám làm (bầu cử) như Myanmar
Chúng tôi thách đố đảng CSVN dám làm (bầu cử) như Myanmar
Vì sao Tuổi Trẻ Việt Nam thách thức đảng CS(?)
Trong khối Asean, 2 quốc gia láng giềng của Việt Nam, Campuchia và Myanmar thua kém Việt Nam về mọi mặt nhưng tại Campuchia trong lần bầu cử Quốc hội khóa 5, chọn ra một chính đảng lãnh đạo đất nước nhiệm kỳ 2013-2018. Để bảo đảm cuộc bầu cử diễn ra tự do, công bằng cho các đảng phái tranh cử đã có trên 40.000 quan sát viên độc lập tình nguyện tại các tỉnh thành và trên trên 800 phóng viên báo chí trong nước cộng với gần 300 phóng viên quốc tế đăng ký tham gia giám sát chứng kiến.
Còn tại cuộc bầu cử Quốc Hội Myanmar ngày 8/11 vừa qua có 10.500 quan sát viên độc lập trong nước và nước ngoài gồm 1.118 đại diện các cơ quan giám sát bầu cử, ngoại giao quốc tế và 9.406 quan sát viên địa phương + 290 phóng viên đến từ 45 tổ chức truyền thông quốc tế chứng kiến giám sát…
Một bối cảnh mà không bao giờ đảng CSVN dám cho diễn ra trong các cuộc bầu cử tại Việt Nam – Đơn giản, dễ hiểu – Chế độ độc tài CS không cho phép bất cứ một đảng phái nào khác cạnh tranh với chính nó. Và như nói trên:
“đảng CSVN dành quyền cắt cử ứng viên CS- bắt dân phải bỏ phiếu có sẳn ứng viên chỉ định và tổ chức Mặt Trận Tổ Quốc quán triệt (chọn lựa) ai được đắc cử theo cơ cấu ấn định do đảng CSVN đã duyệt trước”. Vi phạm trắng trợn Hiến Pháp Việt Nam (Điều 27) Công dân đủ 18 tuổi và 21 tuổi trở lên có quyền bầu cử, ứng cử, vào Quốc hội, HĐND và Tuyên Ngôn Nhân quyền LHQ (Điều 21) Mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành xứ sở của mình, một cách trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn bầu cử một cách tự do.
Và vì vậy không bao giờ đảng CSVN chấp nhận sự có mặt của lực lượng phóng viên báo chí truyền thông quốc tế và quan sát viên độc lập trong nước hay nước ngoài, bởi chính họ (đảng CSVN) đang vi phạm pháp luật trong nước do họ đặt ra và công pháp quốc tế -LHQ- mà họ đã ký vào.
Chúng tôi thách đố đảng CSVN dám làm (bầu cử) như Myanmar
Chúng tôi thách đố đảng CSVN dám làm (bầu cử) như Myanmar
Một ngày, sau bầu cử đa nguyên tự do dân chủ tại Myanma – Tuổi trẻ Việt Nam: Chúng tôi thách đố đảng CSVN dám làm (bầu cử) như Myanmar– Một sự thách đố rất đơn giản mà tuyệt đại bộ phận (190 nước) các quốc gia văn minh tự do dân chủ trong Liên Hiệp Quốc tự động hành động thay vì đợi công dân mình phải thách thức.
Qua 70 mùa đông CS/XHCN khắc nghiệt, không còn cam chịu mãi trong giá băng, cộng đồng mạng Facebook tại Việt Nam đang cựa mình mạnh mẽ vươn lên nở hoa, những nụ hoa tự do dân chủ tươi trẻ tỏa hương khát vọng vì một dân tộc Rồng Tiên Âu Lạc không thể cúi đầu lạc hậu kéo mãi cặp búa liềm rỉ sét lầm lũi như trâu chậm uống nước đục, lẽo đẽo theo sau thiên hạ ngửi bụi nhân quyền, tự do, dân chủ.
11/11/2015

Tư tưởng sai lầm của Henry Kissinger

Tư tưởng sai lầm của Henry Kissinger

Ngụy Kinh Sinh * Lê Minh Nguyên (Danlambao) dịch – Vì là một nhà hoạt động chính trị quốc tế cho nên tư tưởng của Henry Kissinger chủ yếu là quan hệ quốc tế. Gần đây, một nhà nghiên cứu của Đại học Harvard đến từ Trung Quốc, ông Dương Bình (Yang Peng), đã đưa ra một số nhận xét khá có trọng lượng về quan điểm của ông Kissinger. Nhưng nhận xét này của ông Dương Bình đã không đủ sâu, và dường như có chút thương tình. Vì ông là một học giả thỉnh giảng đang ở trong vùng đất của Kissinger, cho nên việc giữ sự nhẹ nhàng và hạn chế khi nói về ông ta là một điều dễ hiểu. Vì vậy, tôi xin đưa ra một số phê bình nặng hơn về tư tưởng của ông Henry Kisinger vì nó rất quan trọng đối với cả người Trung Quốc và người Hoa Kỳ.
Trong cuốn sách World Order (Trật Tự Thế Giới), mà ông xuất bản gần đây, Henry Kissinger đã giải thích viễn kiến của mình từ kinh nghiệm ngoại giao và phản ảnh đã tích lũy trong nhiều thập niên qua. Viễn kiến này thực sự có cùng chung lối, hay nói một cách khác là được nặn ra cùng một khuôn “Các Giá Trị Châu Á” của Giang Trạch Dân (Trung Quốc) và Lý Quang Diệu (Singapore). Cả hai cho rằng tư tưởng ngoại giao hay cách suy nghĩ truyền thống của người phương Tây và người Trung Quốc không giống nhau.
Lý thuyết này cho rằng người phương Tây dùng tư duy pháp lý, ví dụ như duy trì các mối quan hệ giữa các nước theo pháp luật và nó là như vậy kể từ thời các Hòa ước Westphalia vào thế kỷ thứ 17. Người Trung Quốc quen suy nghĩ theo luật rừng xanh, chỉ chấp nhận mối quan hệ giữa quốc gia bá chủ và các nước chư hầu. Theo lối diễn tả tương đối hoa mỹ của ông Kissinger, luật rừng xanh được trình bày như là tư duy về sự phát triển lịch sử. Tổng quát, các nguyên tắc của phương Đông và phương Tây khác nhau – đó là một khái niệm đặc biệt của “Các Giá Trị Châu Á”.
Về mặt lịch sử nó có thực sự đúng không? Ông Dương Bình lịch sự đưa ra một ví dụ ngược lại. Ở Trung Quốc trong thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên, đã có một “Đại Hội Nghị Ngưng Chiến” (Big Conference to Cease the Wars) sau chiến tranh giữa các nước Tấn (Jin) và Chu. “Đại Hội Nghị Ngưng Chiến” (bao gồm hơn một tá các quốc gia) cho ra các hiệp ước hòa bình quốc tế đầu tiên trên thế giới. Nó duy trì hòa bình hơn một trăm năm, trong một vùng có tổng diện tích lớn hơn nhiều so với khu vực nói tiếng Đức. Nó xảy ra trên hai ngàn năm sớm hơn so với các “Hòa Ước Westphalia” mà Kissinger đã rất tự hào.
Liệu nó có đúng là trong hơn hai ngàn năm sau “Đại Hội Nghị Ngưng Chiến”, Trung Quốc chỉ có mối quan hệ giữa quốc gia bá chủ và các nước chư hầu, như Kissinger đã viết? Tôi phải nói rằng ông Kissinger không đọc sách và đưa ra những bình luận mù tịt vì không biết lịch sử. Bên cạnh mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước chư hầu, còn có các mối quan hệ hiệp ước giữa Trung Quốc và các nước láng giềng mà nó vẫn tiếp tục tồn tại trong hơn hai ngàn năm. Người Trung Quốc, dù được giáo dục bởi Đảng Cộng sản TQ, vẫn nhớ hòa ước nổi tiếng giữa triều đại nhà Đường và Tây Tạng, được khắc vào ba phiến đá dựng nơi công cộng tại ba địa điểm, trong đó có thủ đô Trung Quốc đời nhà Đường là Trường An và thủ đô Tây Tạng là Lhasa. Phiến đá Hòa ước tại Lhasa (Lhasa Doring) còn tồn tại cho đến ngày nay, và nó được phơi bày cho công chúng tự do xem bất cứ lúc nào, không giới hạn. Có thể nào công chúng được xem hiệp ước viết trên da thú của ông (Kissinger) một cách tự do không?
Bây giờ chúng ta hãy khảo sát lịch sử tư tưởng châu Âu, theo cái nhìn của Henry Kissinger, một lần nữa. Chúng ta không nói về hòa bình tương đối, được duy trì bởi các giới chức tôn giáo, vào thời kỳ Trung Cổ. Có phải châu Âu hòa bình sau Hòa ước Westphalia? Những cuộc chiến bên trong nước Đức chấm dứt. Tuy nhiên, luật rừng xanh vẫn có hiệu lực giữa các quốc gia. Đã có nhiều cuộc chiến nổ ra giữa nước Đức và các nước khác. Ngay cả hai cuộc thế chiến trong thế kỷ vừa qua đã được khởi xướng bởi người Đức. Tư duy về luật hiệp ước đã ở đâu? Tốt lắm là nó bằng với Trung Quốc. Bản chất con người thì như nhau. Không có cái gọi là “Các Giá Trị Đặc Biệt”.
Điều đầu tiên ảnh hưởng đến nền hòa bình giữa những quốc gia là sự phát triển lịch sử. Do bị ảnh hưởng bởi những thăng trầm trong nước, cán cân quyền lực giữa các quốc gia sẽ bị phá vỡ. Những nước mạnh hơn sẽ có động lực để vi phạm hòa bình, hầu hết là như vậy cho lý do của chiến tranh. Hòa ước Westphalia có được vì tất cả mọi người đã bị kiệt quệ vì các cuộc chiến tranh, và với việc các quốc gia của họ ở trong tình trạng suy thoái kinh tế, họ đã phải rút lại các động lực gây hấn. Các luật và các hiệp ước chỉ là những cái cớ.
Lý do mà “Đại Hội Nghị Ngưng Chiến” đã thành công ở Trung Quốc hơn 2,600 năm trước bởi vì tình trạng cũng tương tự như của thế giới từ thế kỷ trước. Giống như ngày hôm nay, nó tạo ra xếp sòng (overlords), hay cái gọi là “cảnh sát quốc tế” để duy trì trật tự. Nghĩa là, với sự trọng tài tương đối công bằng và với các biện pháp trừng phạt, họ ngăn chận các cuộc chiến có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào. Cái gọi là “luật quốc tế” của ngày hôm nay chỉ là như vậy (không răng). Thay vì thực (áp dụng ngay nếu vi phạm), nó phụ thuộc vào sự sẵn sàng đứng ra nhận lãnh trách nhiệm của những người thực thi. Như một vấn đề thực tế, Liên Hiệp Quốc chỉ là một vật trang trí, tự bản thân không có ý nghĩa thiết thực.
Điều này cũng giống như các luật khác xung quanh chúng ta – nếu không có các biện pháp trừng phạt và những người thi hành luật pháp, thì sẽ có không nhiều người thực sự muốn tuân thủ pháp luật. Nếu người phạm tội không bị trừng phạt và thậm chí còn được thưởng các lợi ích, tôi sợ rằng hầu hết mọi người sẽ không tuân thủ pháp luật. Tình trạng hiện nay ở Trung Quốc là một ví dụ (Việt Nam cũng thế – người dịch). Và bây giờ xã hội lớn của quốc tế cũng đang phát triển theo hướng này. Khi những người yếu cổ vũ sự suy giảm của Mỹ, họ đã quên thảm họa đau khổ sẽ như thế nào khi ngôi làng thiếu người cảnh vệ.
Vậy thì sự nảy sinh tư duy xâm lược của các nhà lãnh đạo hiện nay của Trung Quốc đến từ đâu? Đây chính là nét chung của tất cả các chế độ độc tài. Tư duy độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc đến từ đâu? Chính xác nó đến từ các bạn ở phương Tây. Nó không phải là tư duy của hiệp ước pháp lý truyền thống Trung Quốc.
Nói một cách khác, (khi xưa) tư duy truyền thống của Trung Quốc đặt nặng về các luật lệ và các hiệp ước, trong khi tư duy truyền thống phương Tây đặt nặng trên luật rừng xanh. Chỉ khi đi vào thời kỳ hiện đại thì tình trạng mới đảo ngược, khi luật rừng xanh được áp dụng bởi Đảng Cộng sản TQ ở Trung Quốc, trong khi hầu hết các nước phương Tây đi theo những ý tưởng mới của pháp luật và các hiệp ước.
Tại sao phương Tây đã thay đổi tư duy truyền thống của mình? Đó là bởi vì người dân của các quốc gia dân chủ họ yêu chuộng hòa bình, và họ quen thuộc với tư duy tương tự như luật và các hiệp ước. Cho nên, họ thường vấp phải sai lầm, nghĩ rằng những người khác cũng như mình, mà không biết rằng họ có thể khác mình. Đặc biệt, họ không hiểu rằng tư duy của những kẻ bạo ngược thì không phải là tuân thủ luật và các hiệp ước, nhưng là để bắt nạt với luật rừng xanh.
Những người bạn cũ của Đảng Cộng sản Trung Quốc như ông Henry Kissinger lớn tiếng bênh vực cho những kẻ bạo ngược: họ nói rằng họ muốn “Thao quang Dưỡng hối” (Tao Yang Guang Hui) – để ẩn mình chờ thời. Người Mỹ đã không hiểu được ý nghĩa thực sự của thành ngữ Trung Quốc nổi tiếng này, nghĩ rằng nó có nghĩa là đem cất các vũ khí vào trong kho và thả các con ngựa chiến về núi. Trong thực tế, ý nghĩa thực sự của thành ngữ này là: ẩn giấu các mũi tên vào trong túi, giả bộ như hòa bình và chờ đợi cho đến khi đúng thời điểm để tiêu diệt kẻ thù.
Đây là sự khác biệt cơ bản của hai cách tư duy. Ngay bây giờ, bàn tay của Tập Cận Bình đang thò vào mũi tên tẩm độc nằm trong túi của ông ta, ông khao khát muốn bắn thử nó vào các nước láng giềng. Thật vậy, ông không thể chờ đợi lâu hơn nữa. Không phải ông không thể chờ vì do môi trường quốc tế, nhưng vì do hoàn cảnh bên trong của Trung Quốc. Nếu không có lực lượng hình cảnh quốc tế sẵn sàng đứng ra nhận lãnh trách nhiệm bảo vệ hòa bình, hòa bình tất nhiên đã bị biến mất.
Bây giờ, chúng ta đã biết ai là kẻ đại nói dối quốc tế đang giúp đỡ (CSTQ) bằng cách cổ vũ sự quỵ luỵ. Nếu họ thực sự là những học giả có đầu óc tỉnh táo, thì họ đang phản bội lại người dân của họ để đổi lấy lợi ích cá nhân. Dĩ nhiên, có một truyền thống khác trong chính trị hiện đại của Mỹ, đó là: những kẻ siêu phản bội là những người được ngưỡng mộ. Truyền thống này đào tạo ra những học giả như vậy, những người nói dối với dân chúng Mỹ, đã trở thành thời thượng.
Nguồn: bit.ly/20VHmsr
Blog Lê Minh Nguyênbit.ly/1N8ijOS

6 THỜI ĐIỂM BẠN HIỂU THẤU QUY LUẬT CUỘC ĐỜI!

6 THỜI ĐIỂM BẠN HIỂU THẤU QUY LUẬT CUỘC ĐỜI!

Hàng ngày, chúng ta đều bận rộn với học hành, công việc mà quên mất rằng cuộc sống vẫn đang trôi qua ngoài kia, với những quy luật khắc nghiệt của nó.
Sáu thời điểm sau là lúc bạn hiểu thấu những quy luật này!

  1. Khi gặp hoạn nạn

Ngày thường, xung quanh ta là biết bao nhiêu anh em, bạn bè, ai cũng cười cười nói nói, thân thiết như chung một nhà. Đến khi ta gặp chuyện không may, có người nhiệt tình giúp đỡ, có người khoanh tay đứng nhìn, nhưng cũng không thiếu kẻ mượn gió bẻ măng.
Bởi vậy, chỉ trong hoạn nạn, ta mới phân biệt được lòng người ngay giả, biết được ai là người quân tử, ai là kẻ tiểu nhân. Có như vậy, ta mới hiểu thế nào là “chọn bạn mà chơi”.

  1. Khi lâm bệnh nặng

Chỉ khi nào ốm đau liệt giường, ta mới thấm thía hết tầm quan trọng của sức khỏe. Sức khỏe là tài sản quý giá nhất của con người, những thứ khác đều chỉ đáng xếp sau. Nếu không có sức khỏe thì giàu sang, phú quý cũng đều là vô nghĩa.
Chính vì thế, chỉ khi thoát cơn bạo bệnh, con người mới học được cách trân trọng sức khỏe, cũng như coi nhẹ của cải vật chất – những thứ mà ngày thường ta vẫn điên cuồng theo đuổi.

3. Khi bị mất chức quyền

Khi ta ở đỉnh cao danh vọng, chức trọng quyền cao thì luôn được săn đón bởi biết bao nhiêu người. Nhưng một khi quyền lực đã không còn trong tay thì cục diện hoàn toàn thay đổi. Những kẻ xu nịnh trước kia, nay nhìn thấy ta cũng coi như không quen biết. Những người tưởng chừng như anh em thân thiết bỗng cũng hóa xa lạ, lạnh lùng.
Vì thế, dù có được công danh, bạn cũng đừng nên vội đắc ý trước những lời ngợi ca, tâng bốc. Hãy học cách sống khiêm nhường để không bị sự tự cao che mờ mắt, khiến ta trở nên ích kỷ và thiển cận.

4. Khi đã về hưu

Nhiều người sau khi về hưu mới có thời gian ngồi ngẫm nghĩ lại cuộc đời mình. Tham gia công tác nhiều năm, vì ham chức ham quyền mà cấp trên chèn ép cấp dưới, vì muốn thăng quan tiến chức mà đồng nghiệp đấu đá lẫn nhau.
Thế nhưng, những thứ đạt được cũng chỉ là vật ngoài thân, người mất đi rồi cũng chẳng mang theo được.
Dù là lãnh đạo hay nhân viên, cấp trên hay cấp dưới, đến cuối cùng chẳng phải cũng đều về hưu sao? Sớm biết chẳng có gì khác nhau thì trước đây hà tất phải tranh đấu? Hãy làm tốt việc của mình, đối xử chân thành với người khác, đó mới là việc nên làm.

5. Khi rơi vào cảnh ngục tù

Con người có thể ngộ ra điều gì khi bị giam giữ trong bốn bức tường nhà ngục?

Đó chính là “ác giả ác báo”. Luật pháp không phải trò đùa, người làm việc xấu sẽ phải đền tội, chỉ là quả báo đến sớm hay muộn mà thôi.
Nếu một người không chịu tu thân dưỡng tính, chỉ chuyên hãm hại người khác để tư lợi cá nhân thì sẽ có ngày chịu sự trừng phạt. Giam giữ – hình phạt tưởng chừng như nhẹ nhàng nhất cũng chính là cách tước đoạt đi thứ quý giá nhất của con người, đó là sự tự do.

6. Khi sắp trút hơi thở cuối cùng

Trớ trêu thay, lâm chung là lúc con người trở nên thông suốt nhất.
Cuộc đời này quá ngắn mà cũng quá dài. Mọi ân oán tình thù đều chỉ như mây khói, ta hà tất phải cố chấp với chúng mà không học cách buông bỏ?
Khi đã hiểu được đạo lý ấy cũng là lúc con người có thể nhắm mắt xuôi tay, ra đi thanh thản.

S.T.

Dừng chân tại Baltimore Maryland

Dừng chân tại Baltimore Maryland

Bút ký

Đoàn Thanh Liêm

*     * Ngày 20 tháng Tư năm 2010, tôi đã từ Dallas Texas bay đến phi trường quốc tế Baltimore Washington (BWI) vào lúc 5.00 chiều và được cháu Hoà là ông xã cuả cháu Vui đón đưa về nhà tại thành phố Owings Mills ở phiá tây bắc cuả Baltimore, gần với biên giới tiểu bang Pennsylvania. Muà hè năm 2009, tôi cũng đã ở đây và được các cháu chăm sóc mọi chuyện thật là tươm tất chu đáo, trong bàu không khí thật là thân thương ấm cúng cuả gia đình. Đó là lý do tại sao tôi lại lấy nhan đề là “Dừng chân” cho bài viết này.

Sau mấy tuần lễ bận rộn ở Houston, New Orleans và Dallas, tôi cần phải nghỉ ngơi lấy lại sức, và giải quyết một số công việc còn tồn đọng cuả mình. Nhất là còn phải khai triển tiếp theo (follow-up) những điều tiếp thu được trong các kỳ đại hội tại Texas và Louisiana, cũng như là gửi thư và hình ảnh liên hệ đến các vụ việc đó cho các bạn hữu khắp nơi.

Cũng như năm ngoái, các cháu Hoà Vui đã dành cho tôi cả một căn phòng rộng rãi dưới tầng hầm (basement), với đủ tiện nghi về phòng ngủ, nhà vệ sinh và nhất là bàn máy computer – để tôi có thể làm việc và trao đổi thông tin cho gọn gàng thoải mái. Rõ ràng đây là thứ “căn cứ hậu cần” cho tôi trên bước “đường hành quân” tại khu vực miền Đông nước Mỹ, cách xa với bản doanh chính là California đến trên 4,000 cây số.

Trong dịp này, vào ngày Thứ Sáu 23 tháng Tư, các cháu còn chở tôi đến thăm anh hoạ sĩ Vũ Hối ở thành phố Laurel cũng gần với Baltimore. Nhà anh chị ở chung với con cháu rất đông, nhân số lên đến tất cả 16 người, ai nấy đều có công ăn việc làm, nên cuộc sống cũng thoải mái. Anh vẫn cặm cụi làm việc như ngày nào, mà lại hay được bạn hữu khắp nơi mời đến tham gia các buổi triển lãm với những tác phẩm độc đáo cuả anh về cả bốn thể loại : Thi, Thư, Ảnh, Hoạ, tức là có Thơ, có Thư hoạ, có Nhiếp ảnh vá có Tranh do chính anh sáng tác, thực hiện. Anh nhắc lại hai câu thơ tôi nhờ anh viết để tặng Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị hồi cuối năm ngoái 2009, và bảo tôi ghi ra một số câu thơ khác nưã cho anh trình bày qua lối Thư hoạ độc đáo (calligraphy) để gửi tặng bạn bè. Và tôi đã ghi ra một số câu thơ tôi làm hồi còn ở trại tù Z30D tại khu Rừng Lá Hàm Tân hồi năm 1994-95, để tặng các bạn tù chính trị như Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt, Trung Tá Phạm Đức Khâm. Tôi cũng viết vài câu thơ tặng Chị Jackie Bông và Nghệ sĩ Kiều Chinh, tất cả đều là các bạn thân thiết cuả cả hai chúng tôi. Rồi chỉ trong vòng hơn một giờ đồng hồ là anh Vũ Hối đã hoàn thành được tất cả 5 bức thư hoạ để gửi tặng các người bạn nói trên cuả tôi. (Chi tiết cuả mấy câu thơ này, tôi xin ghi trong Phần Phụ Lục kèm theo bài viết này). Anh còn yêu cầu tôi cứ việc gửi thêm các câu thơ tặng bạn hữu khác nưã, để anh thực hiện trình bày và gửi làm kỷ niệm cuả chung hai chúng tôi đến các người bạn đó. Thật rõ ràng là tôi có cái duyên hợp tác gắn bó rất là thân tình với anh bạn hoạ sĩ thật dễ mến này vậy đó.

Chiều Thứ Bảy 24, các cháu còn chở tôi cùng gia đình đi tham dự thánh lễ tại nhà thờ Sacred Heart cũng gần nhà. Sau buổi lễ, lại còn chở đi vòng quanh khu vực nông thôn trong vùng. Muà Xuân cây cỏ thật xanh tươi nơi các nông trại được chăm sóc khá lớp lang gọn ghẽ, với nhiều đàn ngưạ đua nhau gặm cỏ ven đường. Dọc theo đường làng quê, có nhiều chỗ dân chúng tụ họp rất đông đảo để cắm trại và xem biểu diễn đua ngựa (horse show), tạo thêm vẻ sinh động cho cảnh thiên nhiên vốn thật tĩnh lặng thanh bình, bao quanh khu vực đô thị thường náo nhiệt ồn ào như Baltimore, Philadelphia ở hai đầu phiá nam và phiá bắc. Vẫn còn muà Xuân, nên khí hậu thật mát diụ, ban ngày chỉ vào khoảng trên dưới 10 độ bách phân, với những cơn mưa rào nho nhỏ kéo dài có khi cả một vài ngày, khiến cho cây cối càng thêm tươi tốt, với vòm lá lung linh sáng loáng phản chiếu ánh mặt trời ban mai.

Cái cảnh thanh bình tĩnh lặng ở miền nông thôn này thật trái ngược hẳn với tình trạng xô bồ, phức tạp trong khu nội ô thành phố Baltimore, nơi có tỷ lệ cao nhất so với các thành phố lớn khác về loại tội phạm giết người, mà phần lớn do nạn nghiện ngập và buôn bán ma tuý phát sinh ra. Đó là vấn đề gây cho chánh quyền, cũng như dân chúng điạ phương nhiều nỗi bế tắc lo âu, nhức nhối mà từ nhiều năm nay vẫn chưa làm sao tìm được lối thoát khả dĩ vậy.

Nói về sức khoẻ cuả tôi, thì nhờ Trời và cũng nhờ đông đảo bà con chăm sóc cái ăn cái uống, cũng như nơi ở tĩnh mịch tiện nghi, nên ai gặp lại tôi cũng phải khen là hồi này coi bộ sắc diện có vẻ tươi vui, dáng đi vững chãi. Cô Uyên ở New Orleans, thì nói : “Trông anh mạnh khoẻ hơn cái hồi mấy năm trước, mà nhất là anh vẫn giữ được cái tạng thon thon với cái bụng thật là flat…” Bạn Phan Đình Minh ở Dallas, thì nói : “Anh Liêm coi thật là healthy…” Cháu Vui ở Baltimore, thì nói : “Coi bộ bác khoẻ mạnh rắn chắc hơn năm ngoái đấy…” Tôi thật mừng vì ai cũng vui lây vì thấy tôi khoẻ mạnh, lạc quan, yêu đời và say mê với công việc này nọ.

Sau chừng một tuần lễ dừng chân nơi đây, tôi lại sắp sưả đến vùng thủ đô Washington DC, để tiếp tục làm công việc nghiên cứu tại Thư Viện Quốc Hội Mỹ như vẫn thường làm mỗi năm vào các muà hè.

Xin hẹn sẽ trình bày tiếp trong các bài viết sau vậy nhé

Baltimore, 26 Tháng Tư 2010

Đoàn Thanh Liêm

Phụ Lục : Mấy câu thơ tặng bạn với thư hoạ cuả hoạ sĩ Vũ Hối

1/ Tặng Chị Jackie Bông :

“ Trời thu nắng nhẹ hiền hoà

Mây thu lãng đãng ngàn hoa phiêu bồng.”

2/ Tặng Chị Kiều Chinh :

“Let’s live fully

By loving totally

And enjoying peace & ecstasy

Deep in our inner-selves.”

3/ Tặng Anh Phạm Đức Khâm :

“Mưa nắng dãi dầu, thân sức kiệt

Vẫn lòng son sắt, dạ kiên trung”

4/ Tặng Anh Đoàn Viết Hoạt :

“ Tường đá rào cao kiên cố đó

Hồ dễ làm ta bỏ cuộc chơi?”

5/Tặng Anh Nguyễn Đan Quế :

“Tù mấy phen rồi, ai thắng ai?

Bạo quyền muôn thuở sợ công khai

Bịt mồm khoá miệng người công chính

Ta vẫn kiên cường, há thua ai?”

6/ Tặng Anh Nguyễn Bảo Trị :

“Đường xa vạn lý mỏi mòn

Vẫn nòi quân tử sắt son với Đời.”/

Lịch sử Dinh Độc Lập

Lịch sử Dinh Độc Lập

1. Vài nét về lịch sử dinh Gouverneur de la Cochinchine:

Năm 1858, Pháp đã phát động một cuộc tấn công vào Đà Nẵng, bắt đầu cuộc xâm lược của Việt Nam. Năm 1867, Pháp đã hoàn thành cuộc chinh phục của miền Nam Việt Nam (Đàng Trong), bao gồm các tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Để củng cố thuộc địa mới  được thành lập, vào ngày 23 tháng 2 năm 1868, Lagrandière, Thống đốc Nam Kỳ có những động thái đầu tiên là xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ mới và chọn một vị trí đắc địa nhất. Đó là một vùng đất cao nhất Sài Gòn, rộng 15 ha, có nơi làm công viên, vườn cây và những bãi cỏ xanh mướt, nhìn ra một không gian rộng thoáng.

Ngày 5.2.1865, tờ Courrier de Saigon (Thư tín Sài Gòn) đăng một thông báo của chính quyền thuộc địa dành một khoản tiền thưởng trị giá 4.000 franc cho các kiến trúc sư hay nghệ sĩ nào giới thiệu một đề án tốt nhất được chọn làm cơ sở xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ.

Khoản tiền thưởng không phải là nhỏ, song đến ngày 20.4.1865, vượt quá thời hạn chót 25.3.1865, chỉ mới có một đề án được gửi tới ban tổ chức. Sau đó không lâu, một đề án do một nhóm kiến trúc sư ở Singapore soạn thảo được chuyển đến Sài Gòn, song sau khi xem xét kỹ cả hai đề án, ban tổ chức không chấp thuận một cái nào.

Cuối cùng, cơ hội bắt tay xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ đã xuất phát từ một sự tình cờ. Trong một dịp ghé Hong Kong, hai đô đốc Pháp Ohier và Roze (cũng từng làm Thống đốc Nam kỳ) được giới thiệu với một kiến trúc sư người Pháp trẻ tên Hermitte, nguyên là học viên trường Mỹ thuật Paris.

Tại Hong Kong, Hermitte đã đoạt giải thưởng trong việc thiết kế đồ án Tòa Thị chính, vượt qua nhiều kiến trúc sư khác. Nắm bắt được những thông tin này, Roze và Ohier trở về Sài Gòn, thuyết phục đương kim Thống đốc Nam kỳ De La Grandìere chính thức nhờ Hermitte thiết kế và xây dựng dinh Thống đốc.

Một trong những biện pháp được sử dụng để lôi kéo nhân tài trẻ này là khoản thu nhập 36.000 franc/năm, cao hơn rất nhiều so với các viên chức Pháp đứng đầu các cơ quan tọa lạc tại Sài Gòn. Và những gì De La Grandìere làm đã có một hiệu ứng tốt: chỉ mấy ngày sau khi đến Sài Gòn, Hermitte trình một đồ án được viên Thống đốc chấp thuận ngay.

Chủ nhật ngày 23 tháng 2 năm 1868, trước đông đảo người tham dự, lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ đã diễn ra dưới sự chủ trì của Đô đốc De La Grandìere, với sự tháp tùng của nhiều sĩ quan và viên chức cao cấp của Pháp.

Người làm phép cho công trình là Giám mục Miche với một diễn từ gây xúc động cho cử tọa. Với sự phụ giúp của kiến trúc sư Hermitte, Thống đốc De La Grandìere làm lễ đặt viên đá đầu tiên được chôn sâu 2,6m bên dưới mặt đất, trên một tầng đất rất cứng chắc.

Đó là một viên đá hoa cương vuông vắn, mỗi cạnh 50cm, được mang từ Biên Hòa về. Trong thời gian xây dựng, Hermitte đã cho đào một hố móng sâu 3,5 mét, lấy đi 2.436 m3 đất đá và sử dụng khoảng 2 triệu viên gạch.

Đường Norodom nhìn từ dinh thống đốc Nam kỳ

Năm 1870, công trình đang thực hiện theo tiến độ đã định thì cuộc chiến tranh Pháp-Phổ nổ ra, hoàng đế Pháp Napoléon III bị bắt làm tù binh, nước Pháp thất trận. Sự kiện này ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ, do nhiều vật liệu phải được chuyển từ chính quốc sang. Công trình này được xây cất trên một diện tích rộng 12 ha, bao gồm một dinh thự lớn với mặt tiền rộng 80 m, bên trong có phòng khách chứa 800 người, và một khuôn viên rộng với nhiều cây xanh và thảm cỏ. Phấn lớn vật tư xây dựng dinh được chở từ Pháp sang. Tất cả đều được xây theo phong cách tân Baroque giống với kiểu của hoàng đế Napoleon III.

Cũng vì thế mà mãi đến năm 1875, kiến trúc đồ sộ này mới hoàn chỉnh phần trang trí. Sốt ruột về sự chậm trễ trong tiến độ xây dựng và hoàn thành cơ sở, ngay từ năm 1873, Thống đốc Nam kỳ Dupré đã dọn về đây để ở và làm việc trong lúc việc trang trí còn tiếp diễn. Dinh gỗ “Thủy sư Đề đốc” còn được lưu giữ, mãi đến năm 1877 mới bị phá hủy hoàn toàn.

Sau khi xây dựng xong, dinh được đặt tên là dinh Norodom và đại lộ trước dinh cũng được gọi là đại lộ Norodom, lấy theo tên của Quốc vương Campuchia lúc bấy giờ là Norodom (1834-1904). Từ 1871 đến 1887, dinh được dành cho Thống đốc Nam kỳ (Gouverneur de la Cochinchine) nên gọi là dinh Thống đốc.

Trước khi có dinh Thống đốc Nam kỳ là Dinh gỗ “Thủy sư Đề đốc” được xây dựng bằng gỗ đặt trên một khu đất rộng được giới hạn bởi các con đường Nguyễn Du-Tự Do-Gia Long-Hai Bà Trưng về sau (khu vực sau này là trường Taberd). (nguồn historicvietnam.com do Tim Doling viết)

Trong sảnh dinh thống đốc Nam kỳ

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Dinh Norodom trở thành nơi làm việc của chính quyền Nhật ở Việt Nam. Nhưng đến tháng 9 năm 1945, Nhật thất bại trong Thế chiến II, Pháp trở lại chiếm Nam bộ, Dinh Norodom trở lại thành trụ sở làm việc của Pháp ở Việt Nam. Sau năm 1954, người Pháp rút khỏi Việt Nam. Việt Nam bị chia cắt thành 2 quốc gia, miền Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, còn miền Nam là nước Quốc Gia Việt Nam (sau thành Việt Nam Cộng Hòa). Ngày 7 tháng 9 năm 1954 Dinh Norodom được bàn giao giữa đại diện Pháp, tướng 5 sao Paul Ely, và đại diện Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng Ngô Đình Diệm.

2. Vài nét về dinh Độc Lập thời đệ I Cộng Hòa:

Năm 1955, sau một cuộc trưng cầu dân ý, Thủ tướng Ngô Đình Diệm phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và lên làm Tổng thống. Ông quyết định đổi tên dinh này thành Dinh Độc Lập. Từ đó Dinh Độc Lập trở thành nơi đại diện cho chính quyền cũng như nơi ở của tổng thống và là nơi chứng kiến nhiều biến cố chính trị. Thời kỳ này, Dinh Độc Lập còn được gọi là Dinh Tổng Thống. Theo thuật phong thủy của Dinh được đặt ở vị trí đầu rồng, nên Dinh cũng còn được gọi là Phủ đầu rồng.

Dinh Độc Lập thời đệ I Cộng Hòa

Đến năm 1960 vào ngày 11 tháng 11 xảy ra cuộc đảo chính quân sự đầu tiên tại Việt Nam Cộng hòa, do đại tá Nguyễn Chánh Thi và trung tá Vương Văn Đông cầm đầu. Mục đích cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa bấy giờ là Ngô Đình Diệm. Ban đầu, quân đảo chính kiểm soát được một số vị trí quan trọng tại Sài Gòn do yếu tố bất ngờ, tuy nhiên nhanh chóng thất bại khi các thủ lĩnh quân sự không kiên quyết cũng như không có được sự ủng hộ quân chúng. Ngày 12 tháng 11, đại tá Huỳnh Văn Cao chỉ huy bộ binh và thiết giáp thuộc Sư đoàn 7 đóng ở Mỹ Tho cùng đại tá Trần Thiện Khiêm và trung tá Bùi Dzinh chỉ huy bộ binh và Pháo binh thuộc Sư đoàn 21 đóng ở Sa Đéc đã tiến vào Sài Gòn. Cuộc giao tranh sau đó chớp nhoáng nhưng khốc liệt với khoảng 400 người chết, trong đó có nhiều thường dân tò mò xuống phố để xem cuộc giao tranh. Lực lượng trung thành đã tiêu diệt gọn quân đảo chính.Sau khi cuộc đảo chính bị dập tắt, một số sĩ quân quân đội và chính khách đối lập liên quan đến cuộc đảo chính bị chính quyền Ngô Đình Diệm thanh trừng và đưa ra xét xử, tiêu biểu như vụ án nhà văn Nguyễn Tường Tam.

Tem hình dinh Độc Lập

Tôi còn nhớ sau cuộc đảo chính, quân dù của đại tá Nguyễn Chánh Thi rút đi ngược đường Công Lý hướng lên Tân Sơn Nhất, dân chúng sài Gòn đã mua bánh mì bỏ trong những giỏ cần xé lớn để dọc hai bên đường cho quân đảo chính.

Cảnh dân chúng tán loạn khi đi xem đảo chính

Đến năm 1962 lại xảy ra vụ ném bom dinh Độc Lập vào ngày 27 tháng 2 do hai phi công tên là Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa thực hiện. Mục đích của cuộc tấn công là nhằm ám sát Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm và gia đình ông, những người tham gia triều chính, trong đó có cố vấn Ngô Đình Nhu.

Vào lúc 7 giờ sáng, bầu trời Sài Gòn bị khuấy động bởi tiếng bom và tiếng súng máy nổ. Dinh Độc Lập chìm trong biển khói của cuộc tấn công từ hai chiếc máy bay ném bom A-1 Skyraider được Hoa Kỳ cung cấp.

Hai chiếc máy bay này đã ném bom và napalm. Nhiều quả rocket và nhiều loạt đạn súng máy cũng được bắn vào tòa nhà. Ngày hôm đó nhiều mây, hai viên phi công này đã bay với độ cao khoảng 150 m, đã hoàn thành một vòng tấn công tứ phía trước khi bay lên mây. Họ đã tấn công trong 30 phút trước khi lực lượng phòng không trung thành với Ngô Đình Diệm có thể đến và phản công.

Cuộc tấn công đã làm cho lực lượng bảo vệ Sài Gòn bất ngờ, bởi vì họ đã không biết là các chiếc máy bay này độc lập tác chiến hay có sự phối hợp với lực lượng dưới đất. Xe tăng và xe chở lính vội vàng đến tham chiến và pháo đất đối không khai mào trước, một chút nữa thì bắn trúng máy bay trung thành đang truy đuổi hai chiếc phản loạn.

Cuộc tấn công đã kết thúc trong một tiếng đồng hồ nhưng hai viên phi công đã không trút hết bom, nếu không đã có thể san phẳng Dinh Độc Lập. Máy bay của Quốc đã bị hư hỏng bởi tảo lôi hạm ở trên sông Sài Gòn và đã hạ cánh ở Nhà Bè. Cử thì đã đến Campuchia an toàn, tin rằng cuộc tấn công đã thành công.

Quả bom nặng 500 lb đầu tiên đã xuyên vào một căn phòng mà trong đó Diệm, một người hay thức dậy sớm đang đọc sách. Quả bom này không nổ và Diệm đã chạy xuống tầng hầm của Dinh Độc Lập cùng với Tổng giám mục Ngô Đình Thục, em trai Ngô Đình Nhu và vợ Nhu là Trần Lệ Xuân và con của họ. Trần Lệ Xuân bị gãy tay khi đang chạy xuống tầng hầm. Ba người phục vụ và lính gác chết, 30 người khác bị thương. Một nhà thầu người Mỹ leo lên nóc nhà để xem vụ tấn công đã bị rơi xuống và chết.

Tôi vẫn nhớ sáng hôm đó khi chuẩn bị đi học (lúc đó tôi học tư ở trường Michelet góc ngả tư Trương Minh Giảng – Hiền Vương) thì tiếng máy bay gầm rú trên bầu trời và một tiếng nổ lớn vang lên. Pháo cao xạ từ dinh bắn lên xối xả, đạn bay hết tầm rơi vào khu biệt thự kế bên tôi ở (230 Công Lý); mọi người chạy hết vào trong nhà tránh đạn.

 

Bà Trần Lệ Xuân đang xem bản thiết kế dinh Độc Lập mới

Do không thể khôi phục lại, ông Ngô Đình Diệm đã cho san bằng và xây một dinh thự mới ngay trên nền đất cũ theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người Việt Nam đầu tiên đạt giải Khôi nguyên La Mã.

Dinh Độc Lập mới được khởi công xây dựng ngày 1 tháng 7 năm 1962. Trong thời gian xây dựng, gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm tạm thời chuyển sang sống tại Dinh Gia Long. Công trình đang xây dựng dở dang thì ông Ngô Đình Diệm bị phe đảo chính ám sát ngày 2 tháng 11 năm 1963.

3. Vài nét về dinh Độc Lập thời đệ II Cộng Hòa:

Ngày 31 tháng 10 năm 1966, người chủ tọa buổi lễ là ông Nguyễn Văn Thiệu lúc đó là Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia. Từ ngày này, Dinh Độc Lập mới xây trở thành nơi ở và làm việc của tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu sống ở dinh này từ tháng 10 năm 1967 đến ngày 21 tháng 4 năm 1975.

Phí tổn xây dựng Dinh Độc Lập tốn khoảng 150.000 lượng vàng và mỗi quân nhân, nhân viên chính quyền thời ấy phải đóng góp mỗi người một ngày lương. Một vài số liệu về vật liệu đã sử dụng: bê-tông cốt sắt độ 12.000m3, gỗ quí 200m3, kính làm các cửa 2.000m2, đá rửa và đá mài 20.000m2…

Theo đồ án, tòa nhà có diện tích xây dựng 45.000 m2 (rộng 21 gian 85m, sâu 19 gian 80m). Diện tích mặt sàn sử dụng khoảng 20.000m2, gồm ba tầng chính, hai gác lửng, một sân thượng (có sân bay trực thăng) và một tầng nền. Tổng số các phòng trong toàn dinh là 95 phòng, không kể các khu vực vệ sinh, hành lang và khách sảnh. Các phòng lớn bố trí cho các công việc đối nội, đối ngoại nằm ở các tầng trệt và lầu 1, lầu 2. Trang trí trong dinh có nhiều bức họa của những danh họa có tiếng đương thời. Bức “Giang sơn cẩm tú” của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, bức “Khuê văn các”, “Vua Trần Nhân Tông” của họa sĩ Thái Văn Ngôn.

Đặc biệt ở phòng trình quốc thư có bức “Bình Ngô đại cáo” (của Nguyễn Trãi viết trong thời giúp Lê Lợi chống giặc Minh), một bức tranh sơn mài lớn gồm 40 bức tranh sơn mài nhỏ ghép lại, tả cảnh sinh hoạt của nhân dân Việt Nam dưới thời Lê của họa sĩ Nguyễn Văn Minh. Ngoài ra còn bức tranh “Giang Sơn Cẩm Tú” của KTS Ngô Viết Thụ; bức “Khuê Văn Các” (Vua Trần Nhân Tông) của họa sĩ Thái Văn Ngôn.

Khi thiết kế Dinh Ðộc lập, Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ muốn tìm một ý nghĩa văn hóa cho công trình, nên mọi sự xếp đặt từ bên trong nội thất cho đến tiền diện bên ngoài, tất cả đều tượng trưng cho triết lý cổ truyền, nghi lễ Phương đông và cá tính của dân tộc. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã kết hợp hài hoà giữa nghệ thuật kiến trúc hiện đại với kiến trúc truyền thống Phương Ðông. Toàn thể bình diện của Dinh làm thành hình chữ CÁT, có nghĩa là tốt lành, may mắn; Tâm của Dinh là vị trí phòng Trình quốc thư; Lầu thượng là Tứ phương vô sự lầu hình chữ KHẨU để đề cao giáo dục và tự do ngôn luận. Hình chữ KHẨU có cột cờ chính giữa sổ dọc tạo thành hình chữ TRUNG như nhắc nhở muốn có dân chủ thì phải trung kiên. Nét gạch ngang được tạo bởi mái hiên lầu tứ phương, bao lơn danh dự và mái hiên lối vào tiền sảnh tạo thành hình chữ TAM. Theo quan niệm dân chủ hữu tam Viết nhân, viết minh, viết võ, ý mong muốn một đất nước hưng thịnh thì phải có những con ngườ i hội đủ 3 yếu tố Nhân, Minh, Võ. Ba nét gạch ngang này được nối liền nét sổ dọc tạo thành hình chữ VƯƠNG, trên có kỳ đài làm thành nét chấm tạo thành hình chữ CHỦ tượng trưng cho chủ quyền đất nước. Mặt trước của dinh thự toàn bộ bao lơn lầu 2 và lầu 3 kết hợp với mái hiên lối vào chính cùng 2 cột bọc gỗ phía dưới mái hiên tạo thành hình chữ HƯNG ý cầu chúc cho nước nhà được hưng thịnh mãi.

Vẻ đẹp kiến trúc của Dinh còn được thể hiện bởi bức rèm hoa đá mang hình dáng những đốt trúc thanh tao bao xung quanh lầu 2. Rèm hoa đá được biến cách từ bức cửa bàn khoa của các cung điện Cố đô Huế không chỉ làm tăng vẻ đẹp của Dinh mà còn có tác dụng lấy ánh sáng mặt trời.

Ði vào bên trong Dinh, tất cả các đuờng nét kiến trúc đều dùng đường ngay sổ thẳng, các hành lang, đại sảnh, các phòng ốc đều lấy câu chính đại quang minh làm gốc.

Sân trước của Dinh là một thảm cỏ hình oval có đường kính 102m. Màu xanh rì của thảm cỏ tạo ra một cảm giác êm dịu, sảng khoái cho khách ngay khi bước qua cổng.

Chạy dài theo suốt chiều ngang của đại sảnh là hồ nước hình bán nguyệt. Trong hồ thả hoa sen và hoa súng gợi nên hình ảnh những hồ nước yên ả ở các ngôi đình, ngôi chùa cổ kính của Việt Nam.

Dinh có diện tích 120.000m2 (300m x 400m), được giới hạn bởi 4 trục đường chính đó là:

• Ðường Công Lý ở phía Ðông Bắc (mặt chính của Dinh)

• Ðường Huyền Trân Công Chúa ở phía Tây Nam (mặt sau của Dinh)

• Ðường Hồng Thập Tự ở phía Tây Bắc (phía bên trái Dinh)

• Ðường Nguyễn Du ở phía Ðông Nam (phía bên phải Dinh)

Dinh có 04 khu nhà:

• Khu nhà chính hình chữ T diện tích mặt bằng là 4.500m2, cao 26m, nằm ở vị trí trung tâm của khu đất. Ðây từng là nơi ở và làm việc Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn. Khu này có 03 tầng lầu, 2 gác lửng, 1 sân thượng, 1 tầng nền và 1 tầng hầm. Tổng diện tích sử dụng là 20.000m2 chia làm 95 phòng. Mỗi phòng có 1 chức năng riêng, kiến trúc và các trang trí phù hợp với mục đích sử dụng của mỗi phòng.

• Khu nhà 2 tầng diện tích 8m x 20m phía đường Nguyễn Du trước 1975 là trụ sở làm việc của Ðảng Dân chủ.

• Khu 04 nhà 2 tầng phía góc đường Nguyễn Du – Huyền Trân Công Chúa trước 1975 là khu nhà ở của tiểu đoàn bảo vệ Dinh Ðộc lập.

• Khu nhà trệt phía góc đường Huyền Trân Công Chúa – Hồng Thập Tự, trước 1975 là khu sinh hoạt của đội cận vệ phi hành đoàn lái máy bay cho Nguyễn Văn Thiệu, của bộ phận chăm sóc vườn cây.

Ngoài các khu nhà trên, ở góc trái Dinh phía đường Hồng Thập Tự còn có một nhà bát giác đuờng kính 4m, xây trên một gò đất cao, chung quanh không xây tường, mái ngói cong cổ kính làm nơi hóng mát, thư giãn.

Các bạn nhìn thấy những cây cao bên trong dinh, đó là những cây nhãn rừng. Trong dinh có rất nhiều sóc, chúng thường ăn trái này. Đó là hồi trước năm 1975 chứ không biết giờ này còn không.

Tôi còn nhớ vào năm 1970 vào dịp tất Trung thu, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có tổ chức lễ trước thềm của dinh. Lúc đó trường mình có dự, thầy Linh dẫn một ban hợp ca hát bài Trung thu gặp mưa do thầy sáng tác. Trùng hợp thay đêm đó trời mưa, học sinh các trường tràn vào sảnh chính của dinh dẫm lên sàn và thảm làm dơ hết.

Xen giữa 04 khu nhà trên là những bãi cỏ xanh mướt, vườn cây cổ thụ, những chậu cây kiểng quí và 04 sân tenis phía sau khu nhà chính.

Dinh Độc Lập lúc đầu chưa có bao bọc bởi hàng dây kẽm gai, chỉ có từ năm 1968 mới được rào thêm để bảo vệ an ninh cho dinh để tránh bị tấn công như trong vụ tết Mậu Thân và đường Huyền Trân Công Chúa cũng bị ngăn lại không cho xe qua lại.

Về sau có thêm những rào sắt đặt dài theo hàng rào dinh

Đường Huyền Trân Công Chúa bị chắn ngang bởi hàng rào bảo vệ

Dinh độc Lập được bao bọc bởi hàng rào kẽm gai bảo vệ dưới mặt đất nhưng trớ trêu thay nó bị tấn công từ trên không. Ngày 8 tháng 4 năm 1975, chiếc máy bay F-5E do Nguyễn Thành Trung lái, xuất phát từ Biên Hòa, đã ném bom Dinh, gây hư hại không đáng kể. Một trái bom rơi cạnh sân trực thăng trên nóc Dinh nhưng chỉ nổ phần đầu cắm xuống làm lún sạt một khoảng nhỏ. Lúc đó tại trường Lê Quý Đôn các lớp khối 10 trở xuống đang thi đệ nhị bán niên riêng lớp tôi thì bắt đầu vô lớp học toán với thầy Quãng Lan, thì chúng tôi bỗng nghe một tiếng rú của máy bay trên đầu và một tiếng nổ sau là tiếng pháo cao xạ. Chúng tôi chạy ra ngoài lớp thì thấy mấy thầy cô và các học sinh chạy tán loạn, tôi với anh Hồ Tuấn Ngọc lấy máy chụp hình chạy ra cổng trước băng qua đường và chụp một số hình. Rất tiếc giờ anh Ngọc không còn và các hình đó cũng thất lạc. Đây là lần thứ hai trong lịch sử dinh Độc Lập bị đánh bom.

Rồi lịch sử cái gì đến phải đến tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức nhường quyền lãnh đạo cho ông Trần Văn Hương nhưng ông này không ở trong dinh. Đến ngày 28 tháng 4 năm 1975, Dương Văn Minh lên làm tổng thống chỉ ở vỏn vẹn hai ngày trong dinh.

Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiếc xe tăng T 54 của Bùi Quang Thận húc sập cổng dinh chấm dứt chế độ Việt Nam Cộng Hòa.

Nguồn: ThaoLQĐ

LẬN ĐẬN

LẬN ĐẬN

LM Giuse Hoàng Kim Toàn

Nhìn những dòng người tấp nập đến và đi trên con đường, tôi nghĩ về những cuộc đời lận đận, lao đao.  Bao giờ mới thực sự hết lận đận lao đao và tôi nghĩ về cuộc đời.

Tôi nhớ về lời của bài hát “tiến thoái lưỡng nan” của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận.  Ngày xưa lận đận không biết về đâu.”  Có những cuộc đời đến lúc ra đi vẫn còn lận đận, vẫn hoài lao đao.  Tôi nghĩ đến những phận người khốn khổ, không phải khốn khổ vì người khác mang đến mà tự thân mình mang vào những khốn khổ.  Khốn khổ lao đao khi không biết rằng mỗi người đều có một thời, không đón nhận thay đổi của thời gian.  Cái lận đận của một tuổi già, sức kém mà vẫn hoài mong một thời chiến tích lập lại, cái lận đận của những mưu tính ôm giữ địa vị, vị thế dù biết mình không thể.  Lận đận vì những lo sợ hão huyền, không còn người biết đến, không còn gì để nắm giữ…  Tôi nghĩ đến những lận đận, cái lận đận của những con người chỉ thích tiếng khen, lời dịu ngọt tâng bốc, những lời giả dối mà không sẵn sàng đón nhận thực tế, những lời chân thành.  Không biết về đâu nên đâu cũng là con đường giống nhau, không dẫn tới đích.  Con người lận đận, loanh quanh không lối thoát trong khổ đau của hành trình.  Những lận đận của những con người quên mất mình có một thời: “Về thu xếp lại, ngày trong nếp ngày” (lời “Chiếc lá thu phai” của Trịnh Công Sơn).  Một thời của tuổi già tìm về yên tĩnh, rũ bỏ những âu lo, tìm về tháng ngày bình yên, đó chẳng là con đường tìm về, thu xếp lại những ngổn ngang cuộc đời trước khi về bên kia thế giới.

Tôi nghĩ đến bao tâm hồn hạnh phúc trước khi ra đi.

Tôi đã được phép giã từ.  Chúc tôi ra đi may mắn nhé, anh em! Tôi cúi đầu chào tất cả trước khi lên đường.  Này đây chìa khoá tôi gài lên cửa, và cả căn nhà cũng trao trọn anh em. Chỉ xin anh em lời tạ từ lần cuối thắm đượm tình thân.  Từ lâu rồi, sống bên nhau, chúng mình là láng giềng lối xóm; nhưng anh em đã cho tôi nhiều hơn tôi cho lại anh em.  Bây giờ ngày đã rạng, đèn trong xó tối nhà tôi đã tắt.  Lệnh triệu ban rồi, tôi đi đây” (93, Lời dâng, R. Tagore).

Này đây chìa khoá tôi gài lên cửa.”  Hay quá, con người cao thượng quá, trao lại cho người sau tất cả những gì cuộc đời mình đã gầy dựng được, chỉ xin giữ tình thân.  Cuộc đời không giữ gì cho mình lại là cuộc đời đầy tràn tất cả.  Cuộc đời nhìn nhận mình đón nhận tất cả hơn những gì mình kiến tạo, sao hạnh phúc quá. Tôi ước mơ tôi cũng hành động như thế trong mọi lúc trước khi ra đi, tôi ước mơ cái hạnh phúc thật đơn giản, thật sự quên mình trong thế giới bao la của tình người.

Con người rồi sẽ ra đi, rồi sẽ để lại tất cả những gì mình có, để lại ngôi nhà, của cải, vật chất mình đang nắm giữ…  Lận đận khi mình cố níu giữ, bám chặt dù không còn sức, lận đận khi vẫn còn tham vọng, đầy mưu tính.  Tôi ước mơ những cuộc đời lận đận, đừng làm khổ đời mình nữa, tôi ước mơ, con người sống đừng giả dối nhau, đưa nhau lên đài danh vọng rồi chôn vùi đời nhau trong lao đao.  Lận đận chạy chọt, tạo liên minh, gây chia rẽ, tìm chỗ bám víu, làm chi vậy, chỉ thêm khổ, mất thêm nhiều tình nghĩa, và lẻ loi trong hoạt động của phe nhóm.  Hãy nói cho nhau về sự thật cuộc đời, hãy để cho Lời Chúa được thực hiện trong cuộc sống: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8, 20).  Tại sao lại bám víu để rồi lận đận.

Thanh thản, an nhiên ra đi như một người vừa làm xong công việc của mình, khiêm nhường đón nhận: “Tôi chỉ là đầy tớ vô duyên, tôi chỉ làm việc bổn phận của tôi” (Lc 17,10).  Diễm phúc cho mỗi cuộc đời khi nhận ra mình là tôi bộc cho hạnh phúc nhân loại, và sẵn sàng như một người đã hoàn thành sứ mạng của mình: “Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin” (2 Tm 4,7)

Rũ bỏ lận đận để khỏi lao đao.  Tôi ước mong như bao tâm hồn mong ước: Ra đi trong niềm hân hoan vì cuộc đời này tôi đã sống qua bao hạnh phúc, qua bao đau thương vẫn thấy hạnh phúc.  Hạnh phúc của một con người vì thấy mình được yêu thương, hạnh phúc vì thấy mình đã nỗ lực dâng hiến cho con người được hạnh phúc.

LM Giuse Hoàng Kim Toàn

Biển Chết – Dead Sea – La Mer Morte.

Biển Chết – Dead Sea – La Mer Morte.
 
image
Switch to:  Text-Only,  Daily Digest •  Unsubscribe •  Terms of Use •  Send us Feedbac
Mất hơn 10 giờ bay đêm từ Bangkok (Thái Lan), rạng sáng, chiếc Boeing 747 chở hơn 400 hành khách mới hạ cánh xuống sân bay Ben Gurion ở Tel Aviv (Israel) bên bờ Địa Trung Hải. Anh Chali, hướng dẫn viên du lịch thuộc công ty Sharon Tours nói: “Cả ngày hôm nay chúng ta dành cho biển Chết. Các bạn sẽ được tắm ở một nơi mặn nhất thế giới và là nơi thấp nhất trên bề mặt trái đất, âm 400m so với mặt biển. Không cần phao, mọi người vẫn nổi trên Biển Chết”.
image
Vượt bao đồi núi khô cằn, gần trưa mới đi ngang qua thánh địa Jerusalem để bắt đầu “đổ dốc” vào lòng Biển Chết.
image
Độ mặn của muối và khoáng chất đặc biệt nơi đây có công dụng chữa bệnh nổi tiếng.
 
image
Trong nước có chứa hơn 35 loại khoáng chất khác nhau cần thiết cho sức khỏe và chăm sóc da toàn thân bao gồm Magiê, Canxi, Kali, Brôm, Lưu huỳnh và Iodine. Tất cả có tác dụng giảm đau, chữa trị hiệu quả các bệnh thấp khớp, vẩy nến, nhức đầu, đau chân, nuôi dưỡng và làm mềm da.
image
Biển Chết dài 76km, chỗ rộng nhất tới 18km và chỗ sâu nhất là 400m. Bề mặt Biển Chết nằm ở 4175m dưới mực nước biển nên là điểm thấp nhất của bề mặt trái đất.
image
Chỉ cần dang thẳng tay chân, ngẩng cổ lên để tránh nước mặn vào mắt, thì đã như cái bong bóng nổi phình trên mặt biển.
  image
image
Biển Chết đúng là một nơi du lịch tuyệt vời lỡ có sảy chân người ta cũng không bị chết chìm mà nổi bồng bềnh trên mặt nước một cách tự nhiên.
image
Mỗi năm, hàng trăm du khách đổ xô đến Biển Chết để được thả nổi cơ thể mình trên mặt nước. Điểm thấp nhất trên trái đất này luôn là nơi hấp dẫn du khách nhất.
image
Biển Chết còn được gọi là” Biển Muối”, khu vực chứa nước bị vây kín này có thể được xem là một hồ nước muối có độ mặn cao nhất trên thế giới. Biển Chết nằm giữa biên giới 3 nước Israel, Palestine và nằm sâu trong thung lũng Jordan, cách thành phố Amman khoảng 55 km về phía Đông.
  image
image
Biển Chết dài 76 km, chỗ rộng nhất tới 18 km và chỗ sâu nhất là 400 m.. Đây là một trong những khu nghỉ dưỡng sức khỏe đầu tiên trên thế giới, người ta sử dụng muối và khoáng chất từ Biển Chết để làm ra mỹ phẩm và các gói thảo dược tiêu thụ trên toàn thế giới. Từ xa xưa người ta đã biết khai thác nguồn muối và khoáng chất tại Biển Chết này để làm ra nhiều sản phẩm khác nhau, đặc biệt là kem để ướp xác ở Ai Cập. Như tên gọi của nó, Biển Chết không có một loài sinh vật nào có thể tồn tại được cả vì độ mặn rất cao. Độ mặn của muối và khoáng chất đặc hữu nơi đây có công dụng chữa bệnh nổi tiếng. Biển chết có nồng độ mặn là 38% trong khi đó độ mặn của nước biển ở các đại dương trên thế giới bình thường vào khoảng 2,5%. Chính vì hàm lượng muối trong biển rất cao nên sức đẩy của nước rất lớn. Lỡ có sảy chân người ta cũng không bị chết chìm mà nổi bồng bềnh trên mặt nước một cách tự nhiên, bơi lội ở đây cũng thật sự độc đáo không thể bỏ qua. Đây là nơi có một không hai trên thế giới mà bạn có thể thả mình trên mặt dưới để đọc một tờ báo.
image
Biển Chết mang không khí khô, giàu oxy mà không có bất kỳ một sự ô nhiễm môi trường nào, nhiệt độ tương đối cao ngay cả mùa đông cũng không thuyên giảm. Thực tế là các tia cực tím có hại được lọc một cách tự nhiên. Vì vậy bạn vẫn có thể tắm nắng mà không lo sợ bị cháy nắng. Vùng nước chữa bệnh tự nhiên nằm dọc theo bờ biển kết hợp với lớp bùn đen ở bên dưới là liệu pháp điều trị sức khỏe và vẻ đẹp lý tưởng. Ngoài ra khu bảo tồn thiên nhiên và sự đa dạng của khu vực danh lam thắng cảnh mang lại một sự kết hợp độc đáo cho khung cảnh. Những ốc đảo sa mạc khô cằn bên cạnh những hồ bơi và thác nước đông đúc với hệ động thực vật. Các di tích lịch sử của khu vực là một trong những nơi nổi tiếng thế giới cụ thể như Massada, Jericho, Ein Gedi, các pháo đài La Mã và các pháo đài ở sa mạc Judea.
image
Massada- Pháo đài của người Do Thái nằm ở hướng tây Biển Chết
image
image
image
Dọc theo bờ biển là những tòa nhà cao tầng, quán bar, vũ trường … Sắc trắng của các tòa các pha trộn với màu vàng của cát, màu xanh nước biển tạo nên một vẻ đẹp rực rỡ.
image
image
  image
image
Ven bờ biển còn có các đụn muối trắng hình thành từng cụm, nhô lên như những chiếc nấm trông rất đẹp. Đây là kết quả của nước biển bốc hơi trải qua nhiều năm.
image
Gọi là biển chết, vì trong lòng biển không có sinh vật nào sống nổi và biển không có lối nào thông ra các đại dương.
image
Mặc dù mang tên Biển Chết, nhưng nơi đây không chết bao giờ, luôn mang một sức sống mãnh liệt. Biển Chết tiếp đón hàng triệu lượt khách mỗi năm đến viếng thăm, nghỉ dưỡng và tắm biển với màn trình diễn thả nổi mình trên mặt nước.

Tan nát cây vĩ cầm đường phố

Tan nát cây vĩ cầm đường phố

ta-tri-hai-622.jpg

Nghệ sĩ Tạ Trí Hải

Citizen photo

Những năm gần đây mỗi lần Hà Nội hay Sài gòn có biểu tình chống Trung Quốc thì người ta lại thấy xuất hiện một ông già tóc trắng phau thường đi trước đám đông, trên vai luôn tựa một cây vĩ cầm cũ kỹ, kéo những bản nhạc yêu nước bất kể tiếng hô của người biểu tình lấn áp tiếng đàn nhỏ bé hiền lành của ông. Người nhạc sĩ lạ lùng ấy là Tạ Trí Hải, được người biểu tình cũng như hầu hết dân oan biết mặt biết tên, đặt cho cái danh hiệu rất dễ thương “nghệ sĩ đường phố”.

Lên tiếng bằng tiếng đàn

Ông không phản đối cũng không chấp nhận danh hiệu này mà chỉ nở nụ cười hiền lành khi nghe ai nhắc tới như một cách khen ngợi. Với ông, cây đàn không phải là kế sinh nhai mà là một vật thể gắn bó và chuyên chở tâm trạng của ông tới với mọi người. Cây vĩ cầm cũ kỹ ấy không khác một người bạn thân, vì thiếu nó sẽ không có Tạ Trí Hải, sẽ không có hình ảnh bụi bặm với người nhạc sĩ có địa chỉ là Bờ hồ Hà Nội và Nhà thờ Đức Bà Sài gòn. Căn cước của ông là đường phố, là những hẻm nhỏ tồi tàn của Sài Gòn, là những chiếc ghế đẩu thấp lè tè của các hàng chè Hà Nội. Cây đàn trên lưng, vài vật dụng lỉnh kỉnh của một người du mục trong thời đại @ đã làm ông nổi bật giữa đám đông mỗi lần trình diễn.

Hoàn toàn bác ấy không hề viết bài cũng không hề lên tiếng chỉ kéo đàn nhưng cũng hành hung ông ấy thì thế lực này đối với âm nhạc cũng trở thành kẻ thù.
-Blogger Phương Bích

Trên đầu là chiếc nón rộng vành, trang phục như một chàng cao bồi miền Viễn tây, nhưng ông không trình diễn như các ngôi sao mà cung cách đàn hát của ông mang thần thái của các tay chơi du ca của các bộ tộc sống đời du mục. Bạn trẻ tập trung chung quanh nghe ông đàn để thấy mình được thở thứ không khí trong lành của bầu khí quyển âm thanh chưa bị vấy bẩn bởi showbiz thương mại. Họ nghe và hát chung, đồng cảm với tiếng đàn của ông giữa trời thu Hà Nội hay nắng rát Sài gòn.

Khung cảnh một buổi đàn hát như thế thường có khoảng dăm chục người, nhưng đây là đám đông chọn lọc. Những chàng trai cô gái, thậm chí những người trung niên hay lớn tuổi tham gia với tâm thức hòa vào tiếng nhạc của ông để nhận lấy sự bình yên trong khoảnh khắc trước vây bủa của đời sống thường nhật bụi bặm đầy những băn khoăn lo lắng.

Tiếng đàn của người nghệ sĩ ấy không xuất sắc, không vượt trội nhưng nó mang tâm thế của một nghệ sĩ chân chính. Một nghệ sĩ không bị đè bẹp bởi đồng tiền hay sợ hãi. Ông đứng bên trên nỗi sợ áo cơm lẫn nỗi sợ bị áp bức. Lấy tiếng đàn lời hát làm vũ khí để chống lại thế lực kinh khủng mà người dân chung quanh ông lãng tránh: thế lực của phương Bắc, mua đứt những con người Việt Nam quên gốc gác và nhất là bị nhốt kín trong chiếc lồng hữu nghị.

Nếu cứ vô tư đàn giữa phố cho bạn trẻ chắc ông sẽ nổi tiếng hơn trên mặt báo dòng chính qua những bài viết vô thường vô phạt, nhưng ông không dừng lại ở đó mặc dù nó an toàn và có thể được nhà nước bảo vệ. Ông vượt ra bên ngoài cái vòng tròn định sẵn để nói với người đối diện với ông rằng họ đang bị bao vây, bị bức hại phải sống trong không khí Bắc thuộc nếu ngay từ bây giờ họ không dám đứng dậy và lên tiếng cùng với ông những gì mà phương Bắc đang làm.

Ông lên tiếng bằng tiếng đàn, và ông lên tiếng bằng lời nhạc đã được sửa đổi.

1324197563-400.jpg
Nghệ sĩ Tạ Trí Hải trong lần biểu tình chống Trung Quốc hồi năm 2011. Citizen photo.

Người chung quanh cho rằng đó là nhạc chế. Người suy nghĩ rộng hơn lại cả quyết rằng ông đang mơ được trở lại cái ngày mà trước đây hơn 40 năm ông chưa biết tới nhưng khi đã biết thì Saigon như một người tình dễ thương, chung thủy khó thể chia xa. Người Saigon yêu bài quốc ca của họ thì bây giờ ông chọn note nhạc của bài quốc ca ấy để gắn vào tính chất thời sự đang làm cho Việt Nam nhức nhối: vụ án Đoàn văn Vươn:

“Đoàn Văn Vươn ơi, anh hùng nước Việt nơi đấy. Một lòng vùng lên liều thân chống bọn cướp nước. Lừng danh vang nước Nam, lòng dân bao sướng vui làm cho quân Bắc Kinh cùng tay sai cướp ngày. Hoàng Sa thay cho bây mưu kế. Lừa dân mưu toan bịp thế giới. Đập tan áp bức bóc lột bất công còn đám quan tham hết hồn khiếp vía diệt hết lũ bán nước loài lang sói kia! quân cướp ngày ác tham ngập máu xương người. Văn Vươn ơi vùng lên diệt cướp ngày, Văn Vươn ơi kiên cường bất khuất cùng chin mươi triệu dân kết riêng vùng lên đấu tranh giành lấy quyền sống con người…”

Lời bài hát đơn giản như người nông dân Tiên Lãng nhưng cái hồn nhạc mà người Sài Gòn từng cùng nhau hát vang mỗi sáng thứ Hai đã làm tinh thần Đoàn Văn Vươn trỗi dậy. Cũng chính những bài hát loại này đã kéo người nhạc sĩ đường phố Tạ Trí Hải ngày càng gần đám đông thanh thiếu niên vốn vô tư không một giây để ý tới những thay đổi chính trị chung quanh, nó cũng kéo người đấu tranh gần lại với nhau qua những note nhạc có lửa này.

Và nó cũng kéo theo sự chú ý ngày một thù hằn hơn từ nhà cầm quyền, nhất là khi ông công khai hát những ca khúc hải ngoại bị cho là phản động, những ca khúc từng là tác nhân đẩy những người nghệ sĩ sáng tác nó vào tù.

Ngày chờ đợi đã tới

Cái ngày mà ông chờ đợi đã tới. Cái ngày quyết định số phận cây vỹ cầm cũ kỹ từng theo ông trong nhiều năm suốt cuộc hành trình âm nhạc đã tới. Với ông là vết thương trên tay cùng những thứ giúp âm thanh của ông vang xa bị vất xuống hồ Hoàn kiếm. Với chiếc đàn, đó là ngày trở về với cát bụi và lời than van réo rắt của nó vĩnh viễn bị chôn vùi.

Kẻ gây án là một gã trai cao to thường theo đuôi ông mỗi khi ông trình diễn. Lần này hình như anh ta đã được phép làm những điều mà thú tính trong con người anh ta thúc giục hàng ngày: tiêu diệt người nghệ sĩ đường phố Tạ Trí Hải.

Ông già đầu bạc với giọng hát sang sảng ấy vẫn không hết sang sảng khi kể lại việc chiếc đàn của ông bị khai tử, ông cho biết:

“Sau khi chuyện xảy ra 4 tay công an cơ động nó đến nó nói với tôi đã bắt được nó, thế bây giờ bác đến đồn công an để khai báo đi. Thế tôi mới bảo bắt được nó thì bây giờ nó ở đâu? Chúng mới bảo nó không có ở đây. Thế tại sao lại thả chúng nó? Nó trả lời là không được quyền bắt. Cả một lũ dối trá bịp bợm thế thôi, chúng nó si-nhan nhau để cho thằng này thoát mà.

Sau đó một số anh em biết tin kéo đến và có lội xuống hồ lấy được cái âm-li cùng một số dụng cụ khác ở dưới hồ gươm, cả bao đàn này nọ nó vứt hết tất cả. Về sau một xe công an đến thì chúng nó lặng thinh, nó đến một lũ. Lúc ấy tôi đứng đó tôi chửi toáng lên chúng nó. Mọi tối thì công an dày đặc còn hôm nay không biết tại sao chúng mày lặn đâu hết cả, đây có phải là cái trò chúng mày bày trò này ra để khủng bố tao không?

Tôi vạch ra hết! Tôi bảo tất cả lũ này, cái việc làm này là hành động tay sai bán nước chứ không có gì khác, tôi hiểu chúng nó lắm. Một năm nay rồi thằng trung tá công an, Phó đồn công an Hàng Trống hai năm trước tôi đã chửi vào tận mặt cho bàn dân thiên hạ biết bây giờ nó lên chức trưởng đồn công an thì cũng là ván cờ của chúng nó thôi. Nó trả đũa mình và nó thừa cơ kỳ vừa rồi Tập Cận Bình nó sang nó có nhiều cay cú bây giờ nó xử lý mình, có thế thôi.”

Bác kéo những bản nhạc nói về tinh thần yêu nước, thậm chí những bản nhạc của Trúc Hồ, của anh em tù nhân sáng tác trong tù. Những bài hát chống Trung Quốc làm cho nhiều kẻ không thích, nó khó chịu và nó bố trí người đánh.
-Nguyễn Tường Thụy

Bạn vong niên của nghệ sĩ Tạ Trí Hải rất đông có đủ mọi thành phần xã hội. Một số dân oan và người biểu tình khi nghe tin ông bị côn đồ phố cổ hành hung đã tới nơi để bảo vệ cho ông mặc dù đã quá muộn. Blogger Phương Bích, người lên tiếng khá sớm nói với chúng tôi về việc này:

“Hoàn toàn bác ấy không hề viết bài cũng không hề lên tiếng chỉ kéo đàn nhưng cũng hành hung ông ấy thì thế lực này đối với âm nhạc cũng trở thành kẻ thù.

Bác ấy hay sáng tác những bài hát coi như hát chế giống như các bài đồng dao. Tức là từ những bài rất là bình thường, những bài trước đây như bài quốc ca chẳng hạn thì ông ấy chế lại cho phù hợp với hoàn cảnh bây giờ thì nó làm cho chính quyền này nó tức giận nó trả thù bằng cách đó.

Hình ảnh của bác ấy dù bên trong thế nào chăng nữa nhưng bên ngoài thì luôn luôn được nhìn như người nghệ sĩ đường phố mà trong các cuộc biểu tình thì hình ảnh này khá đẹp nó cũng là cái mà làm cho họ tức giận nên em cho đấy là một cách trả thù thôi. Nhưng mà nó lại mang một cái tinh thần mới, một hơi thở mới làm cho người dân, người đấu tranh người ta rất phấn khởi mà ngược lại thì nhà cầm quyền rất tức giận. Vì chẳng có luật nào bắt bác ấy được mà phải dùng cái biện pháp ấy.”

Biện pháp mà Phương Bích nói cũng nằm trong khái niệm mà anh Lã Việt Dũng một thành viên trong nhóm NO U đồng tình:

“Tôi nghĩ là công an Hà Nội lúc này đang trong giai đoạn chuyển giao giữa thế hệ cũ và thế hệ mới. Trong khi chuyển giao thì có thể việc tùy cơ của họ từ trên xuống dưới không được chặt chẽ lắm như người ta thường nói là thượng bất chính thì hạ tất loạn và tôi nghĩ rằng ở dưới đang rất là loạn cho nên khi cụ Tạ Trí Hải đánh đàn ở bờ hồ thì thường xuyên có những người đi theo phá quấy.

Họ chưa bao giờ ra tay và lần này có thể vì như vậy nên họ không sợ bị cấp trên đe nếu mà họ ra tay hay ra lệnh cho một người ra tay. Hoặc đây là chỉ đạo từ bên trên đề có thể làm xấu hình ảnh NO U của anh em chúng tôi. Vừa qua thì như anh biết khi Tập Cận Bình sang Việt Nam thì anh em chúng tôi đã đi biểu tình chống Tập Cận Bình rất quyết liệt. Có thể họ bị một cái gì đó từ đâu đó tôi không biết, có thể từ phía Trung Quốc hay từ bên trên mà họ phải thực hiện các biện pháp lên anh em chúng tôi, có hai khả năng như vậy.”

Cái người thanh niên to cao nhưng lại dùng sức vóc ấy tấn công một cụ già có lẽ cũng khó tìm ra bởi công an, mặc dù cụ nhạc sĩ biết rõ mặt anh ta như biết rõ lòng bàn tay của mình, anh Lã Việt Dũng kể:

“Cụ Tạ Trí Hải cụ biết rõ người đấy. Bây giờ mà nói đem ra làm chứng thì không khó nhưng cụ chỉ nói cậu ấy là người thường xuyên được công an bảo kê cho việc theo quấy rầy cụ mỗi lần cụ chơi đàn ở bờ hồ.”

Nhà báo tự do Nguyễn Tường Thụy cho rằng việc này gói gọn trong âm mưu bịt miệng người chống Trung Quốc bằng biện pháp khủng bố, ông nói:

“Tôi nghĩ rằng bác Hải là người chỉ biết kéo đàn suốt ngày thôi. Lúc nào anh em đi biểu tình chống Trung Quốc hay anh em đi đấu tranh thì bác ngồi ở bờ hồ hay chỗ công cộng nào đấy bác kéo đàn. Bác kéo những bản nhạc nói về tinh thần yêu nước, thậm chí những bản nhạc của Trúc Hồ, của anh em tù nhân sáng tác trong tù. Những bài hát chống Trung Quốc làm cho nhiều kẻ không thích, nó khó chịu và nó bố trí người đánh. Tôi nghĩ rằng hiện nay nạn côn đồ hành hung những người chống Trung cộng hiện nay có dấu hiệu rất là táo tợn trước đây đã như vậy rồi nhưng mà dộ này những vụ ấy xảy ra nhiều hơn. Có lực lượng thân Tàu nó chỉ đạo làm những việc như vậy.”

Đâu đó khắp nước người tỏ lòng thương yêu quý trọng ông không ít, trong đó có nhà báo Phạm Việt Thắng. Bài thơ “Người nghệ sĩ già và cây đàn Violon” như một cách bày tỏ cảm xúc của ông đối với nhạc sĩ:

Người nghệ sỹ già nua

Bị đánh gãy tay và ném đàn xuống nước?

Người nghệ sỹ luôn đi đầu dậy trước

Trong mọi cuộc xuống đường

Bị “côn đồ” tấn công?

Không!

Côn đồ không nỡ đánh ông

Người nghệ sỹ già lặng lẽ

Réo rắt lời núi sông!

Tiếng đàn ông, tiếng đàn ông!

Vọng từ thuở hồng hoang mở cõi

Vọng hào khí Đông A, tiếng hô vang từ muôn vàn bô lão

Vọng từ Trường Sơn, lộng gió Biển Đông.

Tiếng đàn ông, tiếng đàn ông!

Khúc bi ca hát ru người ngã xuống

Cho đất nước hồi sinh

Lời hùng tráng hiệu triệu người đứng dậy

Vì đất nước quang vinh.

“Côn đồ” đánh ông gãy tay ư?

Tay sẽ khỏi!

Đàn bị ném xuống hồ ư?

Đàn mới thay!

Người nghệ sỹ già và những ngón tay còn lại

Cùng dòng người vô tận, hát mãi lời núi sông…

Phạm Việt Thắng

Cây đàn dù đã nát tan, đã vĩnh viễn về với cát bụi nhưng nó đã thực hiện đúng những điều mà người đóng nó ao ước: mang âm thanh đánh thức rung cảm của người nghe. Niềm rung cảm lớn nhất có lẽ bên cạnh tình yêu đôi lứa ra còn có rung cảm của tình yêu đất nước vốn thường trực và sâu thẳm trong lòng từng người một trên quả đất này…

Nhạc sĩ Anh Bằng: “Hãy nói về cuộc đời, khi Tôi không còn nữa…”

Nhạc sĩ Anh Bằng: “Hãy nói về cuộc đời, khi Tôi không còn nữa…”

nhac-si-anh-bang-622.jpg

Nhạc sĩ Anh Bằng

Courtesy photo

Dòng nhạc Anh Bằng”

Nền âm nhạc Việt Nam lại thêm một lần khoác chiếc khăn sô, cúi đầu tiễn biệt người nhạc sĩ mà mỗi khi nhắc về Hà Nội, người ta thầm thì ca khúc Nỗi lòng người đi; mỗi khi muốn nói về thân phận người trên con đường đi về bên kia thế giới, người ta hát lên “Khúc Thuỵ du”; mỗi khi nói về lính trận xa nhà, người ta hát lên “Nửa đêm biên giới”… Nói chung, khi nói về nhạc của ông, người ta hay gọi là “dòng nhạc Anh Bằng”.

Chương trình âm nhạc cuối tuần kỳ này, mời quí vị đến với những ca khúc bất hủ của ông, cố nhạc sĩ Anh Bằng, người vừa ra đi sau 8 năm chống chọi với bệnh tật.

“Hãy nói về cuộc đời

Khi tôi không còn nữa

Sẽ lấy được những gì

Về bên kia thế giới

Ngoài trống vắng mà thôi

Thuỵ ơi và tình ơi…” (Khúc thuỵ du)

Những lời ca, giai điệu ám ảnh của giây phút đi về cái nơi gọi là “ở chỗ nhân gian không thể hiểu” (Du Tử Lê) trong Khúc Thuỵ Du, được cố nhạc sĩ Anh Bằng phổ từ bài thơ cùng tên của nhà thơ Du Tử Lê, giờ đây vô hình trung trở thành bài ca tiễn biệt ông.

Ông viết từ nhạc hồi xưa, thường gọi là nhạc sến, rồi những bài nhạc lính cộng hoà. Nhưng bên cạnh đó, ông cũng có rất nhiều bài sang như ‘Khúc Thuỵ du, Nỗi lòng người đi…
-Nhà văn Nguyễn Đông Thức

Lại thêm một người nữa ra đi…

Lại thêm một tài hoa thuộc thế hệ vàng son của nền âm nhạc nước nhà từ biệt nghiệp dĩ…

Năm 1954, trong gần một triệu bước chân của người Việt di cư từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam, có một chàng thanh niên 28 tuổi tên Trần Anh Bường, mang theo một chiếc vali hành trang chất đầy nỗi nhớ quê hương quay quắt. Đường xa vạn dặm. Nỗi nhớ ấy khi đối diện với Sài Gòn xa lạ, đèn hoa rực rỡ đã trở thành ca khúc “Nỗi lòng người đi” được ký tên nhạc sĩ Anh Bằng.

“Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu

Bao nhiêu mộng đẹp yêu thương thành khói tan theo mây chiều

Hà Nội ơi nào biết ra sao bây giờ?

Ai đứng trông ai ven hồ

Khua nước trong như ngày xưa…” (Nỗi lòng người đi)

Nỗi lòng người đi không phải ca khúc đầu tay của cố nhạc sĩ Anh Bằng. Ca từ trau chuốt, đẹp như thơ đã nhẹ nhàng lột tả trọn vẹn tình cảm, thân phân phận của con người trong một biến cố lịch sử. Mấy mươi năm sau, ca khúc này vẫn tiếp tục đi vào lòng những thế hệ tiếp nối, nói lên nỗi niềm chung của những người xa quê. Để rồi cho đến tận bâ giờ, không cần phải là người Hà Nội, mà chỉ khi muốn nhắc về Hà Nội thì người ta sẽ hát lên bài hát này.

Nửa đêm biên giới

anhbang-400
Nhạc sĩ Anh Bằng. Courtesy photo.

Nhạc của cố nhạc sĩ Anh Bằng là dòng nhạc quê hương, thân phận và tình yêu. Ông dung hoà tất cả những lĩnh vực đó trong nhạc của mình bằng một trái tim nhẹ nhàng và bao dung. Ông viết về quê hương mình như chứng nhân của thời chiến tranh loạn lạc, kêu lên tiếng kêu trăn trở của người con đi lính trận xa nhà, nhớ mẹ trong những đêm đóng quân vùng biên giới.

“Mẹ ơi… biên cương giờ đây

Trời không… mưa nhưng nhiều mây

Nửa đêm nghe chim muông hú trong rừng hoang

Nghe… gió rung cây đổ lá vàng

Sương xuống mênh mang

Khèn trong…. buôn xa còn vang

Nhịp chìm… tiêu sơ nhặt khoan

Tưởng nhớ đến những phút sống bên mẹ yêu

Con… hát ca vui lều tranh nghèo

Ôi đẹp làm sao…” (Nửa đêm biên giới)

Rồi cũng chính ông, đã nói lên cả nỗi niềm nhung nhớ của người lính trận xa gia đình, xa người vợ hiền ngoan.

“Tôi đứng bên này sông, bên kia vùng lửa khói.

Làng tôi đây, bao năm dài chinh chiến,

từng lũy tre muộn phiền.

Tôi có người vợ ngoan.

Đẹp như trăng mười sáu, cưới rồi đành xa nhau…”(Chuyện giàn thiên lý)

Ông viết về tình ca nhẹ nhàng, chân thành mang lời thú tội của kẻ si tình. Những ca từ đẹp như thơ, nhưng không ngại ngùng để toát lên cái đẹp trần tục, cái đẹp nhân danh bản ngã của con người.

“Anh còn yêu em như rừng lửa cháy

Anh còn yêu em như ngày xưa ấy

Chiều xuống mờ sương

Cửa đóng rèm buông

Gối kề bên gối

Môi kề bên môi

Anh còn yêu em đường xanh ngực nở

Anh còn yêu em lồng tim rạn vỡ

Bạch đàn thâu đêm

Bạch đàn thâu đêm

Thầm thì tóc rũ

Anh còn yêu em…” (Anh còn yêu em)

Tình yêu trong nhạc của Anh Bằng khi thì cháy bỏng, nồng nàn với “rèm buông, ngực nở”, với “gối kề gối, môi kề môi”; khi thì thanh thoát như cõi thiên đường.

“Khi áng mây cao đừng trên nếp trán.

Anh chợt nghe tình vỗ cánh baỵ

Trái tim anh hờn dỗi trên vaị

Đêm hạnh phúc như hạt sương gầy

Bỗng mùa xuân về trên năm ngón.

Trên bàn tay lộc biếc lá non.

Anh đứng nghe âu yếm gọi tên em.

Khi em đến nằm ngoan trên cỏ biếc…” (Kỳ diệu)

Anh còn nợ em

Những nhà thơ trong nước, ông vẫn tìm tòi phổ nhạc, một sức lao động rất mạnh và lạ. Rồi đến khi cần, ông vẫn bày tỏ thái độ với những ca khúc mạnh mẽ lên án Trung Quốc, bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa.
-Nhà văn Nguyễn Đông Thức

Rồi cũng có khi ông hoá thân vào cuộc tình không trọn vẹn, thốt lên lời thú tội của kẻ tình si không thể thực hiện được điều mình đã hứa, dù là điều đơn giản nhất trong cuộc sống. Cái tài hoa của Anh Bằng là đây. Từ những hình ảnh đơn sơ, mộc mạc, và cách lặp lại mỗi câu hai lần trong một đoạn nhạc, cố nhạc sĩ đã nói lên nỗi niềm trăn trở của một cuộc tình nguyên sơ, cháy bỏng.

“Anh còn nợ em

Công viên ghế đá

Công viên ghế đá

Lá đổ chiều êm

Anh còn nợ em

Dòng xưa bến cũ

Dòng xưa bến cũ

Con sông êm đềm

Anh còn nợ em

Chim về núi nhạn

Trời mờ mưa đêm

Trời mờ mưa đêm…”(Anh còn nợ em)

Có lẽ vì vậy mà bất cứ một chủ đề nào thuộc về ca khúc do ông sáng tác, người nghe cũng dễ dàng soi thấy một phần cuộc đời của mình trong ấy. Nhạc của ông gần gũi, chan hoà với tất cả thế hệ. Với hơn 600 ca khúc để lại cho đời, một khối lượng sáng tác không nhỏ. Nhà văn Nguyễn Đông Thức, từ Sài Gòn cho biết ông rất nể phục và ngạc nhiên về sức sáng tác cũng như dòng nhạc đa dạng của cố nhạc sĩ Anh Bằng:

“Ông viết từ nhạc hồi xưa, thường gọi là nhạc sến, rồi những bài nhạc lính cộng hoà. Nhưng bên cạnh đó, ông cũng có rất nhiều bài sang như ‘Khúc Thuỵ du, Nỗi lòng người đi…”

“Qua Mỹ ông vẫn phổ thơ, phổ nhạc những bài thơ của tác giả ở Việt Nam, không có gì ngại ngần hết. Những nhà thơ trong nước, ông vẫn tìm tòi phổ nhạc, một sức lao động rất mạnh và lạ. Rồi đến khi cần, ông vẫn bày tỏ thái độ với những ca khúc mạnh mẽ lên án Trung Quốc, bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa.”

Thật như vậy, khi qua đến Hoa Kỳ năm 1975, không những ông tiếp tục cho ra đời rất nhiều những ca khúc giá trị và đi vào lòng người đến mãi tận hôm nay, mà ông còn là người sáng lập trung tâm Asia, một trong hai trung tâm ca nhạc lớn nhất của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Có lẽ giờ này ông đã hội ngộ với những bằng hữu của mình nơi xa xôi đó. Này là Phạm Duy, là Trầm Tử Thiêng, kia là Lê Uyên Phương, là Trịnh Công Sơn… Ông đang cùng mọi người hàn huyên về một cố đô xa vời vợi, một Sài Gòn hoa lệ, diễm tình chỉ còn là kỷ niệm.

Hành xử của Công an Hà Nội nói lên điều gì? (Phần 2)

Hành xử của Công an Hà Nội nói lên điều gì? (Phần 2)

J.B Nguyễn Hữu Vinh, viết từ Hà Nội

RFA

Condo_nhaDoDangDu_622.jpg

Nhóm côn đồ vào đánh những người đến thăm nhà em Đỗ Đăng Dư ngày 16/10/2015.

Citizen photo

Vụ án đánh luật sư

Cái chết của em Đỗ Đăng Dư đã làm nóng dư luận bởi sự khuất tất và oan khuất. Nhưng dư luận còn chú ý hơn vì những hành động của các cơ quan công quyền, các đám xã hội đen, côn đồ – mà những năm gần đây, hiện tượng công an đóng giả côn đồ hành động như côn đồ đã trở thành phổ biến – đã tiếp tục gây sự chú ý của dư luận xã hội. Chúng tôi đã từng là nạn nhân thường xuyên của lực lượng công an đóng giả côn đồ này.

Những vụ việc ngăn chặn, sách nhiễu, đánh đập người đến thăm gia đình nạn nhân Đỗ Đăng Dư đã làm dư luận chú ý. Ngay sau đám tang của em một ngày, một số người động lòng thương đến thăm gia đình em và viếng hương hồn oan khuất của em đã bị gây sự và chặn đánh vào ngày 16/10/2015. Đám người mặc thường phục đã vào tận nhà em rình rập, khủng bố những người đến thăm gia đình em mà không có bất cứ lý do nào.

Cũng theo hình thức đó, ngày 3/11, hai vị luật sư đến gia đình cũng bị một nhóm côn đồ tổ chức tấn công tạo nên nhiều thương tích, cướp lấy tài sản của họ…

Đặc biệt, những hành động đằng sau đó của hệ thống công an đã không thể không đặt ra những nghi ngờ về một sự khuất tất trong vụ việc này.

Trước hết, theo các luật sư cho biết, thì ngay sau khi các luật sư bị đánh, công an huyện Chương Mỹ đã không đến hiện trường, khi luật sư khai báo và làm biên bản, họ đã ghi không trung thực vào lời khai và biên bản như báo cáo của các nạn nhân, kết quả là các luật sư đã không ký vào biên bản. Riêng điều này, người ta có quyền đặt câu hỏi: Nguyên nhân nào mà các nạn nhân đã không được bảo vệ bởi lực lượng Công an và những động thái của Công an có ý nghĩa gì?

Ngay sau khi vụ việc xảy ra, LS Trần Đình Triển Phó chủ nhiệm, Trưởng ban Bảo vệ luật sư đến tận Công an Chương Mỹ, thì được bảo vệ cho biết các công an Huyện đã xuống hiện trường. Thế nhưng khi đến hiện trường, thì người dân cho biết không có bất cứ công an nào đến đó chiều hôm ấy. Trở lại CA Huyện Chương Mỹ, thì LS Triển được thông báo các cán bộ bận và không thể tiếp luật sư (!)

Tình trạng làm việc và cách làm của Công an Chương Mỹ là vậy trước một vụ án. Mặc dù tướng Nguyễn Đức Chung “đã cho hay sau khi vụ việc xảy ra đã chỉ đạo Công an huyện Chương Mỹ điều tra nghiêm túc”.

Trả lời báo chí, thiếu tướng Giám đốc Công an Hà Nội cho rằng: “Vấn đề ở đây là tình hình ở Chương Mỹ rất phức tạp, khi mọi người đến thì cũng nên thông báo để cho cơ quan công an có phương án bảo vệ. Đây là trách nhiệm của công an phải bảo đảm an ninh trật tự chứ đừng chủ động vào”. Điều này có nghĩa là ở đất nước Việt Nam ổn định và an ninh này, ngay tại Thủ đô vì hòa bình, mà người dân đến đây phải nhờ công an bảo vệ, nếu không thì bị đòn… đừng kêu?

Ngày 10/11/2011 Công an Hà Nội tổ chức một cuộc họp báo, nhưng các nạn nhân và đoàn LS Hà Nội không được mời. Thậm chí khi đến, họ còn không được cho vào (?). Nguyên nhân vụ việc được CAHN cho biết là vì “xe chạy gây bụi” nên các luật sư bị côn đồ đánh và chưa khởi tố vụ án hình sự. Điều này trái hẳn với điều ông Nguyễn Đức Chung, thiếu tướng, Giám đốc Công an Hà Nội đã trả lời báo chí rằng “Nhưng thông tin ban đầu thì 2 luật sư bị hành hung khi ra đường sau khi có va chạm giao thông”.

Từ chỗ nguyên nhân là va chạm giao thông đã bị các luật sư nạn nhân phản đối kịch liệt, nội dung đã được chuyển sang do “bụi”.

Nội dung cuộc họp báo đã bị các luật sư phản ứng dữ dội. Mạng xã hội được dịp nóng lên vì phát ngôn này của Công an Hà Nội, tạo những trận cười chảy nước mắt.

Tiếp đó, các nạn nhân luật sư đã nhận dạng được một gương mặt hung thủ là công an xã tên Cửu, nhưng sau đó, bằng một cuộc họp báo, Công an Hà Nội đã khẳng định viên công an này đi qua đó nhưng không tham gia đánh đập các nạn nhân. Người ta có quyền đặt câu hỏi: Tại sao là khách xa lạ từ nơi khác đến, các LS lại nhận ra một người trong hệ thống công an xã mà họ chưa từng gặp, chưa từng thù oán lại đến đánh họ? Chẳng lẽ các luật sư này đã chiêm bao thấy tên Cửu này?

Khi côn đồ được dùng như một giải pháp

NguyenvanPhuongbidanhLocHa-400.jpg
Nhóm côn đồ tấn công Nguyễn Văn Phương là những công an vừa mặc quân phục ở trong đồn Lộc Hà. Citizen photo.

Tại Việt Nam, một thời khi công nghệ thông tin chưa phát triển, người dân thấy công an như thấy cọp, thì công an muốn làm gì đều được, muốn bắt bớ, đánh đập hoặc làm gì thì cũng không ai dám hé răng nửa lời. Họ có thấy cũng coi như giả điếc, có chứng kiến cũng như không.

Thế nhưng, thời nay đã khác. Khi Internet phổ cập khắp mọi nơi, một chiếc điện thoại rẻ tiền từ một hang cùng ngõ hẻm nào đó cũng có thể cho cả thế giới thấy được sự thật đang diễn ra bằng hình ảnh, âm thanh sống động, thì mọi hành động bạo lực, vô đạo đức và nhân tâm sẽ khó khăn che giấu hơn. Nhiều hành động, việc làm càn rỡ bất chấp luật pháp và nhân tính đã được tung lên mạng, nhiều vụ việc đã được phơi bày trước công chúng và công luận, thì việc công an mang sắc phục làm những việc bất chấp luật pháp rất dễ bị phơi bày và khó chối.

Nhiều sự việc đã được đưa lên mạng, lực lượng công an chối quanh một cách ngây ngô, khiên cưỡng đã chỉ càng làm cho người dân nhận thấy bản chất của sự việc và cách nhìn của người dân đã thay đổi. Vụ viên công an đạp vào mặt người biểu tình yêu nước, Công an Hà Nội, tướng Nguyễn Đức Nhanh đã nhanh nhẩu cho rằng video đó được làm giả từ nước ngoài đã là một ví dụ điển hình cho sự chày cối và lý sự cùn bất chấp sự thật. Nhiều vụ việc khác đã buộc cơ quan công quyền phải vào cuộc chữa cháy cũng chỉ từ những chiếc điện thoại, máy quay phim nhỏ nhắn, rẻ tiền.

Giả danh côn đồ

Do vậy, lực lượng công an đã buộc phải dùng biện pháp khác: Giả danh côn đồ.

condothanhcongan-400.jpg
Bà Cao Thị Minh Toàn, Trường đồn CA Phường Trần Hưng Đạo, Thái Bình, sau khi đóng vai côn đồ chỉ đạo đánh đập công dân. (Ảnh minh họa). Photo: Blog J.B Nguyễn Hữu Vinh.

Những năm trước đây, khi muốn khủng bố nhà thờ, tu viện Thái Hà, Tòa TGM Hà Nội, từng đoàn người được huy động kêu gào cả đêm đòi giết người. Hình ảnh đó đã bị công luận trong nước và quốc tế lên án mãnh liệt. Nhà cầm quyền đã chối quanh: Đó là do “Quần chúng tự phát” – Lời Lê Dũng, phát ngôn viên Bộ ngoại giao. Tuy nhiên, người ta đã không khó để vạch trần con bài này và vạch rõ đây là cách để dẫn đất nước vào trình trạng vô chính phủ và không luật pháp. Và từ đó việc dùng cách này coi chừng không hiệu quả.

Những vụ bắt bớ người biểu tình yêu nước, khủng bố cá nhân những nhân sỹ, trí thức, người bất đồng chính kiến… nhưng không thể căn cứ trên bất cứ một cơ sở pháp luật nào, họ dùng côn đồ, những người không sắc phục xông đến bắt giữ, đánh đập không thương tiếc các nạn nhân. Điều này nhằm che đi sự vô luân và vô luật trước công luận và công chúng

Khi những hình ảnh, video được đưa lên, nhà cầm quyền ráo hoảnh: Đây là những nhóm nào, chúng tôi không biết. Thậm chí còn “sẽ điều tra’. Thế nhưng, cái gọi là điều tra, làm rõ của họ, thì dần dần người ta nghe như một bản nhạc cũ rích và nhàm chán. Chỉ có tác dụng bào mòn thêm chút còn lại nào đó gọi là niềm tin mà thôi. Bởi không ai lạ gì những “côn đồ” đó là ai.

Trong nhiều trường hợp, công an đóng vai côn đồ đánh đập, bắt giữ người dân, vào đồn hiện nguyên hình Công an với đầy đủ sắc phục. Việc đánh đập chúng tôi khi đến thăm nhà Trần Anh Kim ở Thái Bình là một minh chứng cụ thể.

Còn trong nhiều trường hợp khác, công an sắc phục đầy đủ trong đồn, ra ngoài thay áo đóng vai côn đồ để đánh đập công dân ngang nhiên. Vụ đánh đập Nguyễn Văn Phương, người biểu tình yêu nước trước trại Lộc Hà là một ví dụ điển hình.

Thực ra không ai lạ, bởi cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, huống chi là cả một hệ thống.

Được thể của nhà cầm quyền dung túng và tổ chức, gần đây một số người tự xưng là “Dư luận viên” đã xông đến nhà công dân tổ chức gây gổ, hò hét náo loạn và đánh người vì một cái cớ hoàn toàn bất chấp pháp luật. Chúng hành động và tuyên bố “Việc gì nhà nước không làm được, thì chúng ta làm” – Nghĩa là việc gì dưới danh nghĩa chính thức nhà nước không làm được vì sợ dư luận, thì họ, những người được tổ chức và trả tiền không chính thức sẽ làm, dù đó là những việc bất chấp luật pháp và nhân tính.

Khi một lực lượng, một nhà nước mà sử dụng các biện pháp, cách làm không chính danh, tự nó đã thể hiện sự yếu, sự kém, sự hèn và sự bất chính của mình.

Công an Hà Nội đã tự bộc lộ mình?

Lẽ ra, một vụ án đơn giản như cái chết của Đỗ Đăng Dư, cơ quan Công an Hà Nội chỉ cần xác định rõ, chứng minh rõ ràng và kịp thời về cái chết của em do đâu mà có, bằng những chứng cứ và cơ sở hẳn hoi để gia đình và xã hội biết. Thế nhưng, họ đã lúng túng và hành xử khuất tất để gia đình và xã hội đặt nhiều câu hỏi nghi vấn.

Những lúng túng, bất nhất của Công an Hà Nội như đã nói ở trên và cách hành xử đối với các nạn nhân là hai luật sư bảo vệ quyền lợi cho gia đình nạn nhân Đỗ Đăng Dư đã là cơ hội cho việc những nghi ngờ ngày càng lớn lên. Nói theo ngôn ngữ dân gian, thì câu ngạn ngữ “đường đi hay tối, nói dối hay cùng” đã có cơ hội chứng minh sự đúng đắn của nó.

Trước hết, các luật sư bảo vệ miễn phí cho gia đình Đỗ Đăng Dư đã phải khiếu nại khi không được cấp giấy bào chữa cho nạn nhân dù đã quá hạn. Luật sư Trần Thu Nam, nạn nhân trong vụ bị đánh đập, là người đã vào tận phòng mổ tử thi Đỗ Đăng Dư với Công an và Pháp Y quân đội. Lẽ nào vị LS này rỗi việc đi chơi và đến đó chứ không được gia đình đồng ý? LS Hà Huy Sơn, có giấy yêu cầu của mẹ Đỗ Đăng Dư vẫn không được chấp nhận là LS bào chữa (?).

Sau đó là hàng loạt sự khuất tất trong vụ đánh hai luật sư bị dư luận phản ứng. Tất cả đã nói lên điều gì qua vụ án này?

Ở đây, điều vướng mắc lớn nhất, là việc chết của cháu Đỗ Đăng Dư lại xảy ra trong đồn Công an Chương Mỹ, Hà Nội.

Mà xưa nay, hễ đã dính vào Công an, thì mọi việc đòi hỏi công lý sẽ trở nên khó khăn, thậm chí là vô vọng, mọi cái chết đều nhẹ nhàng dù chết trong đồn hay chết bởi một tên công an khát máu đánh người ngoài đường rồi để chờ cho đến chết, đều là chuyện nhỏ.

Người ta có quyền so sánh những vụ việc như sau:

– Cô người mẫu Trang Trần bị tòa tuyên án 9 tháng tù treo chỉ vì chửi công an.

– Năm công an đánh người ngã gục rồi bắt quỳ xem nhậu, đến khi phải đi viện chỉ bị cảnh cáo.

– Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 5-3-2013 vừa qua, TAND huyện Thanh Trì đã tuyên phạt bị cáo Huyền 12 tháng tù giam vì đã hắt xô nước mắm vào Công an.

– Nhưng viên Trung tá Công an đánh ông Trịnh Xuân Tùng gãy cổ, xong xiềng lại cho đến khi đi bệnh viện thì chết chỉ bị tuyên phạt 4 năm tù.

– Thiếu nữ tát cảnh sát giao thông bị phạt 9 tháng tù.

– Trung tá Công an đánh dã man, bầm dập một nữ công nhân vì nghi oan trộm điện thoại, chỉ bị giáng cấp.

Dường như, đã là công an, thì được xếp vào một thứ hạng cao hơn tất cả những thành phần dân chúng còn lại, họ có thể ngang nhiên vi phạm luật pháp, coi thường đạo đức, nhân cách… Nhưng họ sẽ chỉ bị xử lý kiểu gãi ghẻ mà thôi?

Ở xã hội Việt Nam, hễ những tội ác, những quan hệ với công an và dân thường trong xã hội xảy ra, thì nó rất ứng nghiệm và chứng minh rõ ràng một câu trong tác phẩm “Trại súc vật” của tiểu thuyết gia  George Orwell (1903-1950). Ở trong xã hội đó, hiến pháp, mọi luật lệ đều chung quy lại như sau: “Bảy điều răn được giảm xuống còn một câu duy nhất: “Tất cả các loài vật đều bình đằng, nhưng một số loài vật bình đẳng hơn những loài vật khác.”

Và những hành xử của Công an Hà Nội qua vụ cái chết của em Đỗ Đăng Dư, đã tự nó nói lên bản chất vụ án là gì.

Hà Nội, ngày 12/11/2015

J.B Nguyễn Hữu Vinh

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA

Ai xỏ mũi ai ?

Ai xỏ mũi ai ?

Người Buôn Gió

14-11-2015

Câu chuyện về chủ quyền biển đảo Việt Nam là đề tài nóng trong suốt một thập kỷ gần đây. Bắt đầu từ việc quốc vụ viện Trung Quốc tuyên bố thành lập thành phố hành chính với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam dưới cái tên Trung Quốc đặt là Tam Sa, Tây Sa.

Hành động này của Trung Quốc lập tức gây phẫn nộ trong nhân dân Việt Nam, ở hai đầu đất nước Việt Nam là Hà Nội và Sài Gòn lần đầu tiên đã nổ ra biểu tình nội dung phản đối hành vi ngang ngược trên của Trung Quốc. Đó là những ngày đầu tháng 12 năm 2007.

Từ đó đến nay, câu chuyện về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sau bao năm không được nhắc tới, bỗng cháy bỏng trong lòng người Việt Nam ở bất cứ đâu trên trái đất này. Không phân biệt mầu cờ, sắc áo. Ở trong nước liên tiếp nổ ra biểu tình phản đối hành vi xâm lược của Trung Quốc, như năm 2011 có đến 11 cuộc biểu tình diễn ra trong suốt cả mùa hè. Ở nước ngoài cộng đồng người Việt cũng tổ chức nhiều cuộc biểu tình như vậy. Người ta chứng kiến người Việt mang cờ vàng ba vạch đỏ và người Việt xuất khẩu lao động mang cờ đỏ sao vàng, tuy tổ chức các nơi khác nhau nhưng đều chung mục đích phản đối hành vi xâm lược của Trung Quốc đối với hai quần đảo Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam, nhà nước Việt Nam đều lên tiếng đề nghị Trung Quốc chấm dứt hành vi xây dựng trái phép trên hai quần đảo của Việt Nam, đề nghị Trung Quốc không gia tăng hành động gây sứt mẻ quan hệ hai nước.

Dường như hành động của nhà nước Cộng Sản Việt Nam có điều gì không ổn ở đây. Những lời đề nghị của họ đối với Trung Quốc như một cách đồng loã để làm giảm đi tính chất thật sự của hành động xâm lược. Có lẽ để không làm mất lòng Trung Quốc và trước sự phẫn nộ của dân chúng Việt Nam. Nhà nước Cộng Sản Việt Nam đã chọn một lối đi rất an toàn cho họ. Đó là lên án Trung Quốc vừa phải như đề nghị, mong muốn, và giảm nhẹ hình ảnh việc xâm lược thành xây dựng, chiếm giữ trái phép.

Mặt khác nhà nước Cộng Sản Việt Nam bắt bỏ tù những người biểu tình hăng hái nhất để làm giảm nhiệt các cuộc biểu tình. Một cách nham hiểm hơn, nhà nước CSVN tuyên truyền định hướng cho nhân dân nên bảo vệ chủ quyền bằng cách tìm bằng chứng xác nhận chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo bị Trung Quốc chiếm đóng trên.

Không hiểu Cộng Sản Trung Quốc xỏ mũi Cộng Sản Việt Nam đi vào mê lộ tìm bằng chứng chủ quyền hay là Cộng Sản Việt Nam xỏ mũi người dân Việt Nam bằng cách khuyến khích họ đấu tranh giữ chủ quyền bằng cách đi tìm bằng chứng?

Hàng loạt phong trào tìm hiểu lịch sử biển đảo được phát động, nhiều nhà khảo cổ, nghiên cứu cũng đam mê đi tìm bản đồ, bằng chứng này nọ để khẳng định chủ quyền Việt Nam với hai quần đảo trên. Dẫn đến việc Trung Quốc đưa ra bằng chứng của họ bằng bản đồ cổ xưa, Việt Nam cũng đưa ra bản đồ cổ xưa. Cứ lằng nhằng như thế kéo dài từ năm này qua năm khác, trong khi đó Trung Quốc gia tăng xây dựng thành phố trên đảo, trường học, bệnh viện, căn cứ quân sự , đường băng cho máy bay quân sự và hải đăng ….và Trung Quốc còn tiến bước nữa là đổ cát xây đảo ngầm thành đảo cạn.

Sau khi cả dân chúng đi vào mê lộ của việc tìm bằng chứng chủ quyền từ thời tám hoánh. Để rồi Nhà nước Việt Nam ngậm ngùi than vãn không thể đưa vấn đề này ra toà án quốc tế, vì ra chưa chắc chúng ta đã thắng!!! Lý do không thắng là do bằng chứng chủ quyền cổ xưa chúng ta có, Trung Quốc cũng có.

Chẳng hiểu sao nhiều người không nhận ra ý đồ thâm độc của CSVN hay CSTQ khi chọn cách giải quyết chủ quyền bằng tìm bằng chứng lịch sử cách đây vài trăm năm như vậy. Nếu như thế thì người Lã Mã có thể khoanh vùng chủ quyền của họ khắp vùng ven biển Địa Trung Hải, hoặc nếu Trung Quốc gọi biển Nam Trung Hoa là của họ thì người Ấn Độ sẽ có chủ quyền tất cả những hòn đảo và vùng nước trên Ấn Độ Dương.

CSVN hay CSTQ đang dẫn người dân Việt Nam đi vào lối tranh đấu mơ hồ, để họ có thể dễ dàng thoả hiệp với nhau.

Nhưng chẳng mấy ai nhận ra rằng, Việt Nam có một bằng chứng cực kỳ quan trọng, xác nhận chủ quyền của Việt Nam, khẳng định được tính chất xâm lược của Trung Quốc, những bằng chứng rất có giá trị trước toà án quốc tế. Đó là sinh mạng của những chiến sĩ Việt Nam đã ngã xuống trước họng súng của quân xâm lược Trung Quốc tại hai quần đảo này cách đây không lâu. Những bằng chứng gần nhất và sinh động nhất, rõ nét nhất và đầy đủ sự thuyết phục nhất.

Thật vô lý là làm sao cứ phải trưng bản đồ cổ này nọ. Trong khi chỉ cần lấy tư liệu về hành động xâm lược vũ lực , khát máu của Trung Quốc mới đây trình cho toà án quốc tế, đập vào mặt Trung Quốc là xong phần bằng chứng. TQ nói của họ từ xưa, thế Việt Nam có dùng vũ lực để chiếm không, có bắn giết dân quân họ đang sống trên đảo để chiếm đóng và tuyên bố chủ quyền như họ làm không.? Chỉ biết rằng chúng tôi đang sở hữu hoà bình, chúng tôi khai thác, sử dụng hàng trăm năm mà không đánh giết ai. Vậy bỗng nhiên chúng tôi bị Trung Quốc mang tàu, súng đến thảm sát dân quân chúng tôi rồi xây căn cứ quân sự và bảo là của họ.

Trưng ra những bằng chứng mới nhất bằng máu, nước mắt do Trung Quốc gây ra với quân dân Việt Nam. Những tội ác tàn bạo mang tính xâm lược, thôn tính, chiếm đoạt..là những bằng chứng rõ ràng và hùng hồn, đanh thép nhất để khẳng định chủ quyền. Thế nhưng CSVN đã làm ngơ bằng chứng giá trị này, xúi dục dân chúng đi vào việc hão huyền sẽ làm đau đầu, tốn công của toà án quốc tế, dư luận quốc tế qua việc, lấy những bằng chứng từ thời ông bà, ông vải ra.

Dường như CSTQ đã đặt cho CSVN chọn lựa đường lối giành lấy chủ quyền trong khuôn khổ cái gọi là ” vừa hợp tác vừa đấu tranh ” và trong khái niệm này thì CSTQ cho CSVN đấu tranh bằng cách đi tìm bằng chứng chủ quyền qua những giấy tờ, bản đồ xưa cũ từ 100 năm đổ về trước. Còn chuyện mới đây không được nhắc đến. Thêm nữa là CSVN chỉ được lên tiếng phản đối trong khuôn khổ những từ ngữ như đề nghị, chiếm giữ trái phép…không được gọi là xâm lược vũ trang. Về hành động Trung Quốc chỉ cho phép Việt Nam dùng ngư dân ra biển để khẳng định chủ quyền.

Và tranh chấp thế nào có thế nào đi nữa, CSVN cũng phải tuân theo đường lối 3 không đã cam kết với Trung Quốc. Không được liên minh quân sự với nước khác, không được cho nước khác đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam, không được dựa vào viện trợ của nước khác để chống Trung Quốc.

CSTQ có thể xỏ mũi được CSVN. Nhưng người dân Việt Nam đừng để CSVN tiếp tay cho CSTQ xỏ mũi mình. Xin thôi ngay việc tìm bằng chứng trong lịch sử xa xưa, nhưng hội thảo bàn về chủ quyền từ thời vài trăm năm trước, đó là việc làm chả đi đến đâu trong khi chính môn lịch sử ở Việt Nam còn đang khốn nạn. Hãy tập trung tìm những bằng chứng thời bây giờ ở các vụ xâm lược vũ trang, giết người cướp đất của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1974 đến nay. Hiện nay CSVN đang cố tình làm ngơ và không nhắc nhở gì đến những bằng chứng quý giá, thiết thực đó. Củng cố những tư liệu đó trước khi chúng bị CSVN xoá sạch phi tang hộ CSTQ. Trong các hội thảo quốc tế, các cuộc nói chuyện về chủ quyền biển Đông với quốc tế, chỉ cần trưng nhưng bằng chứng đẫm máu đó ra giá trị gấp ngàn lần những tấm bản đồ, chiếu nhà vua, sắc lệnh cổ xưa nào đó.

Làm thế, để quân xâm lược CSTQ nhận được thông điệp , dù chúng xỏ mũi được chế độ CSVN ngày nay. Nhưng không bao giờ chúng xỏ mũi được người dân Việt Nam đi theo hướng ” đấu tranh” mà chúng vạch ra như người ta xỏ mũi con trâu dắt đi theo hướng nào cũng được.