NIỀM VUI TRONG THÁNH THẦN

NIỀM VUI TRONG THÁNH THẦN

Bài Tin Mừng hôm nay chứa chan niềm vui.  Bà Elizabeth vui mừng vì được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm.  Đức Maria vui mừng vì được Thiên Chúa đoái thương.  Thánh Gioan Baotixita vui mừng vì được tha tội ngay từ khi còn trong lòng mẹ.  Những niềm vui ấy hoà chung, biến buổi gặp gỡ thành một lễ hội vui mừng tạ ơn Thiên Chúa.  Nguồn gốc của những niềm vui ấy là ơn Chúa Thánh Thần.  Chính Chúa Thánh Thần đã giúp chuẩn bị các tâm hồn đón nhận niềm vui ơn cứu chuộc.  Ta thấy được ơn Chúa Thánh Thần qua những dấu hiệu sau đây.

NIEM VUI

Dấu hiệu thứ nhất: ơn khiêm nhường.

Tâm hồn có Chúa Thánh Thần sẽ trở nên khiêm nhường.  Khiêm nhường vì biết thân phận mình hèn yếu, bé nhỏ, tội lỗi.  Khiêm nhường vì biết tất cả những ơn nhận được không phải do công trạng của mình nhưng là do lòng thương xót của Chúa.  Vì thế, khi nhận được tin làm mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria đã xưng mình là “nữ tỳ của Thiên Chúa.”  Bà Elizabeth khiêm nhường tự hỏi: “Bởi đâu tôi được phúc đón tiếp Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm tôi.”  Và Đức Maria đã trả lời bằng một bài ca khiêm nhường ngợi khen Thiên Chúa vì tình yêu thương đã đoái thương đến phận hèn nữ tỳ của Chúa.

Dấu hiệu thứ hai: ơn bác ái.

Thánh Thần là tình yêu.  Đến đâu là đốt lên lửa bác ái ở đấy, Ngài đã rợp bóng trên Đức Maria và lập tức Đức Maria được tràn đầy lòng bác ái, đã nghĩ đến bà chị họ.  Đức Maria không nghĩ phải nghỉ ngơi tĩnh dưỡng và chuẩn bị cho bản thân trong thời kỳ sinh nở sắp tới, nhưng đã nghĩ phải ra đi giúp bà chị họ neo đơn, yếu mệt.  Đây là một lòng bác ái mạnh mẽ, nên Đức Maria vội vã lên đường ngay, không chần chừ, không tính toán.  Lòng bác ái không chỉ hướng về những người thân trong gia tộc mà còn mở rộng ra cho cả dân tộc, cả đồng loại.  Nên trong bài Magnificat, Đức Maria đã nhớ đến công ơn tổ tiên và nhớ đến cả dân tộc.

Dấu hiệu thứ ba: ơn quên mình.

Được ơn Chúa Thánh Thần tác động, tâm hồn sẽ quên bản thân mình.  Trước hết quên mình để hoàn toàn vâng theo thánh ý Thiên Chúa.  Đức Maria đã hoàn toàn quên mình khi thưa với thiên thần: “Này tôi là nữ tỳ của Thiên Chúa, tôi xin vâng như lời thiên sứ truyền.”  Không những quên mình cho thánh ý Chúa, Đức Maria còn quên mình vì tha nhân.  Ngài quên mình cũng đang mang thai, cần được nghỉ ngơi, cần được chuẩn bị, chỉ nghĩ đến bà chị họ thai nghén ốm yếu, nên đã bỏ nhà ra đi thăm viếng.  Ngài quên mình là khách mời trong tiệc cưới Cana, nên đã xuống bếp giúp đỡ việc bếp núc, và hoà vào cả nỗi lo của chủ nhà thiếu rượu.  Ngài quên mình nên đã theo Đức Giêsu và can đảm đứng dưới chân thập giá, cùng chịu đau đớn nhục nhã với Con.

Dấu hiệu thứ tư: ơn phục vụ.

Lòng bác ái, sự khiêm nhường và sự quên mình được kết tinh ở cao điểm phục vụ.  Tâm hồn được Chúa Thánh Thần tác động sẽ tìm phục vụ như tìm niềm vui, niềm hạnh phúc.  Vì thế Đức Maria không quản thân phận là Mẹ Thiên Chúa đã đến phục vụ cho bà Elizabeth.  Đức Maria cũng không nề hà mình đang thời kỳ thai nghén đã vui vẻ phục vụ người họ hàng cần sự giúp đỡ.  Là Mẹ Thiên Chúa, Đức Maria đã tự nguyện trở nên tôi tớ để phục vụ con người.  Đó chính là kết tinh của ơn Chúa Thánh Thần.

Với tất cả những đặc điểm của ơn Chúa Thánh Thần, cuộc gặp gỡ giữa Đức Maria và bà Elizabeth, cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và Thánh Gioan Baotixita còn trong bào thai đã trở thành cuộc gặp gỡ của niềm vui: niềm vui ơn cứu độ.  Nhờ những chuẩn bị của Chúa Thánh Thần, hai người mẹ và hai bào thai đã họp thành cộng đoàn biết đón nhận và trao tặng ơn cứu độ.  Đã tập họp thành Nước Thiên Chúa, đã là cộng đoàn đầu tiên đón nhận được ơn cứu độ, tiên báo cho Giáo Hội và Nước Thiên Chúa.

Chỉ còn vỏn vẹn mấy ngày nữa là đến lễ Giáng Sinh, ta hãy noi gương Đức Maria, nài xin Chúa Thánh Thần biến đổi tâm hồn ta nên xứng đáng đón nhận Chúa Cứu Thế.  Ta hãy xin Đức Maria dạy ta biết sống theo ơn Chúa Thánh Thần trong khiêm nhường, bác ái, quên mình và phục vụ, để ta được niềm vui đón nhận ơn cứu độ.

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

Giới thiệu sách mới : Cuộc Hội Tụ lớn lao

Giới thiệu sách mới : Cuộc Hội Tụ lớn lao

 Đoàn Thanh Liêm

*Nguyên tác tiếng Anh :   The Great Convergence

                             Asia, the West and the Logic of One World

*Tác giả : Kishore Mahbubani, người Singapore gốc Ấn Độ.

*Nhà xuất bản Public Affairs New York ấn hành năm 2013,

*Sách dày315 trang, giấy trắng, khổ chữ 12, bìa cứng.

I – Giới thiệu vắn tắt về tác giả và nhà xuất bản.

 1/ Tác giả Kishore Mahbubani hiện là Khoa trưởng của Lee Kuan Yew School of Public Policy tại National University of Singapore (NUS). Ông theo học tại Singapore và Canada và đã từng giữ chức vụ Đại sứ của Singapore tại Liên Hiệp Quốc trong nhiều năm. Có thời ông đã giữ chức vụ Chủ tịch Hội Đồng Bảo An của Liên Hiệp Quốc.

Ông cũng đã cho xuất bản 3 cuốn sách có nhan đề “ Can Asians Think ? Understanding the Divide between East and West” xuất bản năm 2001, – “ Beyond the Age of Innocence : Rebuilding Trust between America and the World” xuất bản năm 2005, – “The New Asian Hemisphere : The Irresistible Shift of Global Power to the East” xuất bản năm 2008. Và cuốn sách được giới thiệu trong bài viết này là tác phẩm thứ tư của ông ấn hành vào đầu năm 2013.

Ông còn tham gia viết nhiều bài báo cho các tạp chí và nhật báo có uy tín như Foreign Affairs, Foreign Policy, Financial Times. Tờ Foreign Policy liệt kê ông là một trong 100 nhà tư tưởng hàng đầu về những vấn đề có tầm vóc tòan cầu (top 100 global thinkers) trong các năm 2005, 2010 và 2011.

Tên gọi của ông Kishore Mahbubani sinh năm 1948 tại Singapore – rõ ràng là khác biệt với tên của đa số người Singapore có nguồn gốc từ Trung quốc. Trong cuốn sách, tác giả cho biết lai lịch của gia đình là xuất phát từ tiểu lục địa Ấn độ – do cha mẹ thuộc lớp người di dân tỵ nạn đến Singapore thời kỳ sau chiến tranh thứ hai – để tránh thóat cuộc tàn sát đẫm máu giữa người theo Ấn Độ giáo và Hồi giao với kết cục là khu vực này bị chia thành 2 quốc gia đối địch là Ấn Độ và Pakistan.

2/ Nhà xuất bản Public Affairs khởi sự thành lập từ năm 1997 ở New York, với logo gồm 3 chữ BBS nhằm vinh danh ba nhân vật có sự đóng góp lớn cho ngành sách báo ở Mỹ. Đó là các ông Benjamin C. Bradlee người lãnh đạo lâu năm của tờ Washington Post, ông Robert L. Bernstein giám đốc điều hành của nhà xuất bản Random House và cũng là sáng lập viên của tổ chức Human Rights Watch, ông I.F. Stone chủ nhân của tuần san I.F. Stone’s Weekly, tác giả cuốn sách nổi tiếng The Trial of Socrates. Nhà xuất bản Public Affairs đã cho ra đời nhiều cuốn sách có giá trị được giới độc giả khắp thế giới hoan nghênh tìm đọc.

 II – Trình bày mấy nét chính yếu trong cuốn sách.

 Là một nhà ngọai giao kỳ cựu và cũng là một học giả có tiếng tăm trên thế giới, tác giả Kishore Mahbubani đã trưng dẫn ra những sự kiện lạc quan về tình hình thế giới, đại khái như sau : Nạn nghèo khó cùng cực đã giảm bớt – Không còn chiến tranh lớn giữa các quốc gia – Giai cấp trung lưu càng ngày càng đông đảo hơn – Sự cải thiện về mức sống chỉ riêng trong thời gian 30 năm gần đây vào cuối thế kỷ XX sang đầu thế kỷ XXI – đã rộng lớn hơn là trong suốt 300 năm trước đó.

Nhưng cục diện chung của thế giới cũng đòi hỏi đặc biệt là khối Âu Mỹ gồm Hoa kỳ và Tây Âu phải có những nhượng bộ đáng kể để mà thích nghi được với mối tương quan lực lượng mới do sự lớn mạnh của những quốc gia ngòai khối Tây phương (Non-Western World) – điển hình là Trung Hoa, Ấn Độ, Brazil và Nigeria.

Cụ thể là phải cải tổ cơ cấu của Hội Đồng Bảo An của Liên Hiệp Quốc và các định chế quốc tế căn bản như Quỹ Tiền Tệ Thế Giới (IMF = International Monetary Funds), Ngân Hàng Thế Giới (WB =World Bank).

Tác giả đưa ra một hình ảnh thật sinh động là : Thế giới ngày nay giống như một con tàu lớn mà có đến 193 khoang cabin tức là 193 quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc. Nhưng mỗi chủ khoang cabin chỉ chăm lo riêng cho cabin riêng biệt của mình – mà không có ai chịu lo chung cho tòan thể con tàu. Tức là cần phải có một thứ thẩm quyền tòan cầu (A Global Governance) – để mà giải quyết những vấn đề sinh tử liên hệ đến vận mạng của trên 7 tỷ con người hiện sống chung trên hành tinh trái đất đang gặp phải nhiều nguy cơ mỗi ngày một trầm trọng hơn mãi.

Về mặt bố cục, sách được phân bố trong 7 chương với phần Dẫn nhập ở đầu và phần Kết luận ở cuối. Mỗi chương có tiểu đề riêng như sau :

1 – Nền Văn minh Tòan cầu Mới.

2 – Lý thuyết Một Thế giới.

3 – Tính Vô lý Tòan cầu

4 – Bảy Mâu thuẫn Tòan cầu

5 – Địa Chính trị có làm lệch hướng sự Hội tụ chăng?

6 – Bức Rào ngăn cản sự Hội tụ.

7 – Quy tụ về Thẩm quyền Tòan cầu.

Kết luận : Bởi vì Tất cả Cái gì Hướng thượng thì đều Hội tụ lại với nhau. Câu văn này làm ta nhớ lại lời phát biểu của nhà khảo cổ học người Pháp lừng danh từ hồi đầu thế kỷ XX là Teilhard de Chardin – với nguyên văn tiếng Pháp như sau : “Tout ce qui monte, converge”.   Vào mùa hè năm 1967, Viện Đại học Đalat có tổ chức một cuộc Hội thảo khá quy mô với chủ đề là : “Tìm cách xác định những Mục tiêu Quốc gia” (Our National Goals) – thì Ban Tổ chức có cho trưng bày tại Đại sảnh đường một bảng khẩu hiệu thật lớn ghi nguyên văn lời phát biểu này của nhà khoa học de Chardin.

 III – Đánh giá của giới thức giả quốc tế về tác phẩm.

 Cuốn sách này được nhiều học giả và giới chức quốc tế đánh giá cao, điển hình như mấy nhân vật sau đây :

*Ông Kofi Annan, nguyên Tổng thư ký LHQ ghi nhận : ” Kishore Mahbubani đưa ra lời nhắc nhủ thú vị rằng nhân lọai sẽ mạnh mẽ nhất khi chúng ta cùng làm việc với nhau vì lợi ích chung của tất cả mọi người”.

*Giáo sư Joseph S. Nye, tác giả sách “The Future of Power”, thì viết : “Trên hết, tác giả tìm cách hòa giải 12% dân số thế giới sinh sống tại phương Tây với tuyệt đại đa số ở ngòai phương Tây. Kết cục đây là cuốn sách tốt và quan trọng.”

*Ông Pascal Lamy, Tổng Giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization = WTO) thì nhận định : “”Đây là cuốn sách cần phải đọc đốí với những ai quan tâm đến vấn đề chính trị quyền lực và tương lai của sự cai trị tòan cầu (global governance).

*Ông Fareed Zakaria, tác giả sách “The Post-American World”, thì viết : “Cuốn sách có tính khích động, quyến rũ và thông minh. Tác giả đem lại một viễn tượng sâu sắc về tình hình tòan cầu, bắt nguồn từ Á châu, nhưng cũng tìm hiểu cả Âu châu và Mỹ châu nữa…”

IV – Xin ghi thật tóm tắt một số điểm đáng chú ý nhất trong cuốn sách quan trọng này.

Nói chung, thì cuốn sách nêu ra những vấn đề có tầm vóc thật lớn lao quan trọng cho tòan thể nhân lọai vào những năm đầu của thế kỷ XXI. Những vấn đề được nêu ra ở đây, thiết nghĩ cần được sử dụng như là những gợi ý cho các cuộc trao đổi thảo luận rộng rãi cả trong môi trường hàn lâm đại học, cũng như trên các diễn đàn truyền thông đại chúng. Để bạn đọc dễ dàng theo dõi câu chuyện, người viết xin lần lượt trình bày qua những tiểu mục sau đây :

1 – Người nói có sách, mách có chứng.

Là một nhà ngọai giao kỳ cựu và hiện là một giáo sư và tác giả có tiếng tăm, nên trong cuốn sách này tác giả đã trưng dẫn rất nhiều tài liệu tham khảo khả tín và cập nhật cho đến tháng 9 năm 2012 mới đây – chủ ý nhằm làm sáng tỏ cho lập luận vững chắc của mình. Những số liệu thống kê, những biểu đồ, những lập luận của các học giả và những nhận định của giới chức lãnh đạo quốc tế v.v… đã được tác giả thận trọng chọn lựa sử dụng để chứng minh cho quan điểm mạnh bạo mà độc đáo của mình. Trong phần Ghi Chú được dàn trải trong suốt hơn 20 trang ở cuối sách (từ trang 275 đến trang 297) – tác giả cho ta thấy xuất xứ của những tài liệu tham khảo – để người đọc nếu muốn thì có thể đào sâu thêm vấn đề được nêu ra.

2 – Những phê phán thẳng thắn, không hề khoan nhượng đối với những sự vô lý và bất cập trong chính sách hiện nay của những cường quốc – đặc biệt là của Hoa Kỳ.

Lúc này là một nhà giáo, nên tác giả không còn phải uốn lưỡi lựa lời như khi còn là nhà ngọai giao – do đó Mahbubani đã không ngần ngại lên tiếng phê phán nặng nề đối với chính sách trái khóay ngược đời của những cường quốc, đặc biệt là Hoa Kỳ và Tây Âu. Tác giả chỉ trích mạnh mẽ chuyện Hoa Kỳ (và một vài nước lớn khác như Trung Hoa, Nga, Ấn Độ) không chịu ký vào Hiệp Ước Luật Biển (Law of the Sea Treaty) đã được Liên Hiệp Quốc thông qua từ năm 1982 – không tham gia ký Nghị Định Thư Kyoto về việc giảm khí thải do Hiệu ứng Nhà Kiếng (Kyoto Protocol on GHG = Green House Gas) – không tham gia vào Tòa Án Hình sự Quốc tế (ICC = International Criminal Court) – không ký vào Hiệp ước cấm sử dụng mìn (Mine Ban Treaty = Ottawa Treaty) v.v… – mặc dầu các định chế này đã được đa số các quốc gia thành viên của LHQ thông qua.

Tác giả còn vạch ra sự cấu kết của Hoa Kỳ và Tây Âu trong việc lũng đọan các định chế quốc tế cao cấp nhất như Liên Hiệp Quốc, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế , Ngân Hàng Thế Giới. Ông còn phê phán cả tính cách lỗi thời trong việc điều hành của Hội Đồng Bảo An LHQ – và đề nghị cần phải mạnh dạn cải tổ tòan bộ những cơ cấu đã được phát sinh trong bối cảnh của Đệ nhị Thế chiến, mà ngày nay không còn thích hợp nữa.

3 – Những dấu hiệu lạc quan.

  1. a) Trong nhiều trang, tác giả đưa ra những số liệu phản ánh sự đi lên của xã hội – và đó là cơ sở cho thái độ lạc quan của nhiều người, đặc biệt là của người dân châu Á mà điển hình là người Ấn Độ và Trung Hoa. Cụ thể như nơi trang 24, tác giả trưng dẫn 2 biểu đồ ghi ra sự tăng trưởng của giai cấp trung lưu (middle class) ở vùng À Châu Thái Bình Dương như sau : Vào năm 2009, thì giai cấp này chiếm tỷ lệ 28%; nhưng đến năm 2020, thì tỷ lệ này sẽ là 53% đối với tổng số giới trung lưu trên tòan cầu – tức là chiếm vị trí đa số. Ngược lại, cũng trong thời gian đó, thì tỷ lệ của Mỹ và Âu châu lại tụt giảm từ 54% xuống còn có 32% – tức là ợ vị trí thiểu số.

Nhưng điều quan trọng là khối trung lưu có thể lên tới con số cả ngàn triệu người này lại đóng vai trò cực kỳ quan trọng, đó là làm áp lực trong việc xây dựng tự do, dân chủ và nhân quyền trên thế giới.

  1. b) Tác giả còn trưng dẫn nhiều trường hợp biểu lộ sự đóng góp của các think tank, các viện nghiên cứu, các đại học, các NGO (tổ chức phi chính phủ) v.v… vào việc giải quyết những tranh chấp căng thẳng trên thế giới. Điển hình như tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới (WEF = World Economic Forum) nhóm họp vào tháng Giêng mỗi năm tại thành phố Davos Thụy Sĩ, thì các NGO sát cánh với những viên chức chính phủ làm giảm bớt đáng kể bàu không khí căng thẳng thường xảy ra trong giới ngọai giao vì những mâu thuẫn tranh chấp giữa nước này với nước khác. Đó là một thứ Sức Mạnh Mềm (Soft Power) mỗi ngày càng lớn lao của đông đảo khối quần chúng trên khắp thế giới ngày nay.

Nói cách khác, các tổ chức thuộc Xã hội Dân sự càng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong lãnh vực bang giao quốc tế – mà được gọi là những “Tác nhân không phải là Nhà nước” (Non – State Actors).

 *     * Để tóm tắt lại, đây là một cuốn sách rất có giá trị do người am hiểu sâu sắc và có tầm nhìn bao quát về tình hình thế giới – cung cấp cho công chúng những thông tin, tư liệu, kể cả các giai thọai hấp dẫn mà ít người được biết đến. Tác giả đưa ra những suy luận, những gợi ý nhằm góp phần cải thiện môi trường chính trị tòan cầu với một thiện chí xây dựng tích cực và một thái độ lạc quan thông thóang.

Người viết rất hân hạnh được giới thiệu với độc giả người Việt cuốn sách có tầm vóc thật bao quát rộng lớn này./

Costa Mesa California, tháng Hai 2014

Đoàn Thanh Liêm

‘Trận đánh’ nhà hàng Mỹ Cảnh

‘Trận đánh’ nhà hàng Mỹ Cảnh

Tạp ghi Huy Phương

(Để nhớ lại, nhân vụ khủng bố giết 129 người ở Paris)

Nguoi-viet.com

Ngày 14 Tháng Mười Một, sau vụ khủng bố ở Paris làm thiệt mạng 129 người, ông Trương Tấn Sang, chủ tịch nhà nước CSVN, gửi điện chia buồn và thăm hỏi tới Tổng Thống Pháp Francois Hollande; Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng gửi điện chia buồn và thăm hỏi tới Thủ Tướng Pháp Manuel Valls. Cùng ngày, ông Phạm Bình Minh, phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Ngoại Giao, cũng gửi điện chia buồn tới Ngoại Trưởng Pháp Laurent Fabius.

Nhà hàng Mỹ Cảnh trên sông Sài Gòn. (Hình minh họa: pronto.au104.org)

Trong khi đó, phát ngôn viên của chính phủ Việt Nam đã lớn tiếng: “Chúng tôi hết sức bàng hoàng và lên án mạnh mẽ các cuộc tấn công đẫm máu nhằm vào dân thường xảy ra vào ngày 13 Tháng Mười Một, 2015 tại Pháp khiến nhiều người bị thiệt mạng và bị thương. Việt Nam xin chia sẻ những đau thương, mất mát to lớn mà chính phủ, nhân dân Pháp cũng như gia đình những nạn nhân đang phải hứng chịu. Chúng tôi tin tưởng rằng với những nỗ lực mà chính phủ và nhân dân Pháp đang triển khai, những kẻ thủ ác phải bị trừng trị đích đáng!”

Đây là những giọt “nước mắt cá sấu” của tập đoàn CSVN, đồng minh anh em, dùng cùng sách lược với ISIS, nhỏ lệ thương xót Paris.

Chúng ta cũng đã biết bọn khủng bố tấn công vào Paris, ngoài các mục tiêu có đông người như nhà hát Bataclan, sân vận động Stade de France, bọn chúng còn dùng súng bắn xối xả vào các nhà hàng ăn, quán cà phê gồm Bar Le Carillon: một người chết, Le Petit Cambodge: 12 người chết, La Belle Equipe: 18 người chết, La Casa Nostra: năm người chết.

Bắn súng để giết người, thủ phạm có thể bị bắt, còn đặt mìn định hướng để giết người rồi chạy trốn, còn ghê tởm hơn ngàn lần.

“Chiến công” của ISIS đánh vào những mục tiêu phi quân sự ở Paris, có khác gì “chiến công” đánh vào nhà hàng Mỹ Cảnh trên bến Bạch Đằng, Sài Gòn, 50 năm về trước, đêm 25 Tháng Sáu, 1965 khi Việt Cộng đặt chất nổ để giết khách hàng ăn đang có mặt trên nhà hàng nổi, và giết luôn thường dân ngồi hóng mát hay đi dạo mát bên ngoài hoặc đang đứng chờ phà qua sông, tất cả là 42 người chết và khoảng 81 người bị thương.

Ngay sau đó đài phát thanh Hà Nội đã tuyên dương “thành tích vẻ vang của đội biệt động thành Sài Gòn” và cho rằng “…Nhà hàng nổi Mỹ Cảnh tại bến Sài Gòn là một chỗ thu hút về đêm của những người Mỹ xâm lược… hàng trăm người Mỹ xâm lược và tay sai đã bị giết hoặc bị thương… Thêm nữa, nhiều xác chết của kẻ xâm lược vẫn còn bị đè dưới bàn ghế và mảnh vỡ của nhà hàng… Nhà hàng nổi Mỹ Cảnh bị thiệt hại nặng. Một tầu chiến của Mỹ đậu bên cạnh cũng bị nổ tung…”

Năm tên đặc công khủng bố của Việt Cộng đều được tặng thưởng huân chương chiến công. Tên Huỳnh Phi Long (bí danh Huỳnh Anh Dũng) 45 năm sau mới được ra Hà Nội và người ta phải “thốt lên kinh ngạc và thán phục về tài mưu trí, dũng cảm đã thực hiện thắng lợi trận đánh vang dội nhà hàng Mỹ Cảnh Sài Gòn năm 1965.”

Xin dẫn chứng một vài dòng “sử” khủng bố của Việt Cộng để các bạn đọc xa gần, nhất là những người lớn tuổi ở Sài Gòn có thể nhận ra sự láo khoét, trơ tráo của những cái loa tuyên truyền bịp bợm của Cộng Sản:

– “Chủ nhà hàng là một người tên Phú Lâm, một tay sai đắc lực của tình báo CIA.”

– “Cấp trên nhận định phá hủy được nhà hàng này coi như ta đã triệt được một cái vòi của Mỹ-Ngụy và sẽ khoét sâu được mâu thuẫn giữa Mỹ và Ngụy.”

– “Địch lại thường xuyên bố trí hai cảnh sát mang súng tiểu liên canh gác bên cầu thang.”

– “Trên bờ sông bốn tên cảnh sát đứng dàn hàng ngang súng tiểu liên cầm tay, hai tên công an chìm đi lại ngay bãi trống đối diện nhà hàng.”

– “Dưới sông, an ninh hải quân của địch tuần tra liên tục.”

– “Tại các ngã tư địch tăng cường xe bọc thép và bọn lính dã chiến hình thành thế bảo vệ quanh mục tiêu.”

– “Một tầu chiến của Mỹ đậu bên cạnh nhà hàng Mỹ Cảnh cũng bị nổ tung!”

– “Vài phút sau, đại sứ Mỹ ở Sài Gòn cũng có mặt và chứng kiến cảnh tan nát này đã lắc đầu thất vọng và ủ rũ cúi đầu!”

Một cái nhà hàng ăn tầm thường trong trăm nghìn nhà hàng ở Sài Gòn vào năm 1965, mà được bố trí cẩn mật như thế sao?

Đánh mìn vào một nhà hàng ăn để giết người không khó. Để phịa ra chiến công, truyền thông Việt Cộng đã tô vẽ cho nhà hàng này thành một chiến lũy hay một pháo đài bằng thép. Sử Cộng Sản mô tả Mỹ Cảnh có cảnh sát chìm nổi, có xe thiết giáp và binh sĩ dã chiến bảo vệ, có an ninh hải quân tuần tra liên tục và một tàu chiến của Mỹ đậu bên cạnh!

Xin thưa với bạn đọc, cũng như những người Sài Gòn có sự hiểu biết và có đôi mắt quan sát, ngay cả Phủ Tổng Thống VNCH hay Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn cũng không thể nào được bảo vệ cẩn mật như nhà hàng Mỹ Cảnh được Việt Cộng mô tả trong sử sách như thế! Điều này, khốn nạn thay, có thể lừa được người dân sống trong vùng “giải phóng” bên kia sông Bến Hải và lũ trẻ con mang “khăn quàng thắp đỏ bình minh” (lời nhạc TCS) mà thôi.

Tôi chỉ nêu ra một trong trăm nghìn chiến công của “cách mạng.” Đặt mìn xe đò, tàu lửa, nửa đêm vào nhà cắt cổ người hoặc thả trôi sông, pháo kích vào trường tiểu học, ám sát các viên chức miền Nam Việt Nam như Giáo Sư Nguyễn Văn Bông và Luật Sư Trần Văn Văn, đập đầu chôn sống dân Huế tay không trong Tết Mậu Thân, cho pháo binh bắn vào đoàn thường dân di tản như “đại lộ kinh hoàng” hay tỉnh lộ 7B, không phải là những cuộc ra quân đối đầu quân sự, mà chính là những sự giết chóc khủng bố.

Hy vọng là chính phủ Việt Nam không treo cờ rũ hay gửi điện văn, hoa, nến để chia buồn và tưởng niệm những nạn nhân của các vụ khủng bố ở Paris, ở Ankara, ở Kuwait… Tôi chỉ yêu cầu một điều, xin các “đồng chí” chịu khó cúi xuống nhìn lại hai bàn tay của mình.

SINH LẦM THẾ KỶ

SINH LẦM THẾ KỶ

Song Như

Mẹ sinh ra con… biết lầm thế kỷ
Chiến tranh tàn phá… sát hại sanh linh
Cuộc đời trôi nổi… cay đắng phận mình
Có ai hiểu được… công bằng chân lý…

Cha tạo ra con trong thời loạn lạc
Tan cửa nát nhà chạy nạn khắp nơi
Cơ nghiệp chưa an đã phải tơi bời
Phận con hiu hẩm giữa dòng ngơ ngác…

Mở mắt chào đời súng rền thay pháo
Chị mang trên lưng đầu đường xó chợ
Nước cơm thay sữa mưa giăng bụi mờ
Mắt không giọt lệ khô cả chiêm bao…

Trường không biết cổng lớp không biết thầy
Nghề thì khuân vác ngủ cạnh bến sông
Trời mưa trời nắng nóng lạnh da không
Cơm no áo ấm cả đời chưa thấy…

Không trách mẹ cha trách lầm thế kỷ
Bạc bẽo phận mình tay trắng trắng tay
Sáng no chiều đói riêng mình mình hay
Trôi theo dòng nước thay đỗi đỗi thay…

Liverpool.16-12-2015
Song Như

Một mùa sao sáng đêm Noel Chúa sinh ra đời,

“Một mùa sao sáng đêm Noel Chúa sinh ra đời,”

Người hẹn cùng tôi: “Ngày về khi đất nước yên vui”.
Quỳ lại Mẹ MARIA, lòng Mẹ từ bi bao la.
Tấu khúc nhạc lên xin ơn trên ban cho nhà Nam .”

(Nguyễn Văn Đông – Mùa Sao Sáng)

(Cv 17: 11-12 )

Trần Ngọc Mười Hai

Đành rằng, khi viết giòng nhạc này, có thể người viết cũng từng nghe biết hoặc tin tưởng chuyện trăng sao soi sáng đêm đen dày đặc ngày Đức Giêsu giáng hạ làm người, nữa đấy.

Đành rằng, người thường ở huyện, chí ít là huyện nhà rất Việt-Nam chẳng bao giờ đặt vấn-đề về sao sáng dẫn lối chỉ đường cho ba bốn vua/quan/đạo-sĩ ở đâu đó, kéo đến xứ sở nhỏ bé của Do-thái để mừng chúc với dâng quà cho Hài-nhi Chúa rất Giêsu.

Đành rằng, các bổn đạo và kẻ tin vào sự việc Đức Chúa giáng-hạ-làm-người vẫn cứ tin và tưởng những chuyện sao băng/sao xẹt soi-sáng thôn-làng Bê Lem là chuyện rất “thật như đếm”. Nhưng, cũng nên thêm một lần để kể về các sự-kiện loanh quanh việc Thiên-Chúa Giáng-hạ, có đúng lịch sử hay không, cũng chưa biết.

Nhưng trước khi đi vào chi tiết, tưởng cũng nên nghe thêm đôi ca-từ rất quen tai cứ nghe hoài nghe mãi ở trên đài hoặc dĩa nhựa, vi-tính rất trữ-tình như sau:

“Từ mùa Đông trước qua mùa Đông tiếp theo sau này.
Người bạn còn đi mà niềm tin vẫn thắm trên môi.
Giặc tràn về quê hương tôi, giặc diệt niềm tin Kitô.
Lớp lớp đàn chiên quyết sáng danh Chúa trên trời cao.

Đêm nay tôi nhớ người chưa trở lại, chênh chếch mùa sao lạc loài.
Ôi những mùa sao lẻ đôi.
Cho tôi thương nhớ mùa sao ngày nào, thương những mùa sao hồng đào.
Ôi những mùa sao cách xa.

Một mùa Đông giá hang Bê-Lem Chúa sinh ra đời.
Một trời đầy sao nghìn hào quang chiếu sáng ngôi cao.
Lạy Mẹ Đồng Trinh ban ơn, người Việt càng thương nhau hơn.
Đất nước này đây sáng đức tin Chúa trên trời cao.”

(Nguyễn Văn Đông – bđd)

Nghe thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta đi vào phần biện-giải về những chuyện có nên hay không nên tin vào dụ-ngôn/truyện kể ở Sách thánh, để còn học hỏi thêm nhiều điều về sau. Cả về chuyện Hài-nhi Giêsu sinh ra trong “Hang Bê-Lêm” được “Ba bốn Vua/quan lãnh-chúa hoặc đạo-sĩ” ghé viếng, thực hư thế nào, hay chỉ mỗi thế này, mà thôi:

“Nếu hỏi rằng truyện Đức Giêsu sinh ra làm người có dính gì tới lịch-sử nhân-loại không? Thì xin trả lời rất ngắn gọn, như thế này:

 Bằng vào cụm từ “Đức Giêsu Lịch Sử”, tôi có ý nói đến một người từng lữ-hành trên các đường đất gồ ghề đầy cát bụi, ở Galilê. Đức Giêsu lại cũng rong ruổi đường trường, từng ăn uống với nhiều người; và, Ngài lại đã giảng-dạy nhiều điều về Vương Quốc Nước Trời, nữa.

 Cuối cùng, Ngài đã bị bắt và đem đi xử tử, đó là điều mà các nhà nghiên-cứu lâu nay từng xác-quyết một chứng-thực về Ngài, theo sử-tính.

 Tuy nhiên, có một số truyện mà nhiều người từng nghe/biết về Đức Giêsu, lại thấy không có chút ánh sáng nào soi-rọi để ta có thể coi Ngài như Nhân-vật Lịch-sử trổi bật, hết.

 

Tôi muốn qui-chiếu các truyện về thời thơ-ấu và việc sinh-hạ Hài Nhi mà ta vẫn nghe biết vào mỗi dịp lễ trong đó có nhân-vật chính là Đức Maria và ông Giuse lại đã đặt Hài Nhi Giêsu nằm trong máng đựng cỏ dành cho bò lừa ăn. Hiện-trường diễn-tiến việc Đức Giêsu xuất hiện với đời thường còn có các mục-đồng chăn cừu, thêm các nhà thông-thái từ phương Đông đến, và cả đến thiên-thần tả/hữu vẫn ở quanh Ngài.

 Truyện Đức Giêsu sinh hạ làm người, là một dụ-ngôn giả-tưởng mang tính-chất rất tôn-giáo, nếu ta muốn gọi thế cho gọn nhẹ. Riêng tôi, sẽ tìm cách trưng-dẫn các dấu-chỉ cho thấy điều này không có ý bảo rằng: những chuyện như thế không phải là không có giá trị.

 Nhưng, điều tôi muốn nói ở đây, chỉ có ý bảo là: ta không nên hiểu các truyện kể như thế theo “từng chữ” có tính lịch-sử, đã minh xác. Đúng hơn, ta chỉ nên coi đó như khúc nhạc dạo đầu cho toàn-bộ vở nhạc-kịch diễn-tấu trên sân-khấu Broadway, NewYork mà thôi.

 Nhạc dạo đầu, bao giờ cũng bắt kịp chủ-đề được trình-tấu mà các nghệ-sĩ diễn-tả cách trọn-vẹn ở tuồng kịch. Và ở đây, hai tác-giả Mát-thêu và Luca, lại đưa ra hai phiên-bản dị-biệt trong truyện Đức Giêsu chào đời. Bởi thế nên, nhạc “dạo đầu” bao giờ cũng khác nhau, ở nhiều chỗ.” (Xem Gs John Dominic Crossan, Giêsu Hỡi Ngài là Ai? Chương 2 nxb Phương Đông 2016)

Bần-đạo nay nhân dịp nghe lại vài nhạc-bản Giáng-sinh rất đời, bèn thấy hoảng. Hoảng, vì thấy nghệ-sĩ ngoài đời cứ đặt nặng vào giòng chảy ướt-át, uỷ-mị rồi lôi kéo người nghe bằng những lời thêm thắt cho hấp-dẫn mà quên đi khía-cạnh chính-đáng, rất thật/hư. Rồi từ đó, đã vội kết tội, là: người Đạo Chúa cũng tin vào những chuyện dân-gian, thần-thoại không có thật.

Người ngoài Đạo, lâu nay cứ bị mang tiếng là dị-đoan/mê-tín nhiều quá sức, nên đôi lúc cũng muốn quay ngược trở lại tố-cáo người Công-giáo cũng như vậy.

Hôm nay, bần đạo đây vốn thuộc giới thấp hèn còn ngu dốt nhiều về nhiều chuyện, không dám múa bút bon-chen chuyện cãi vã/đấu-tranh ở đời thường về chuyện tin rất mê, như mê-tín hoặc chuyện đoan chắc những chuyện di-kỳ, được gọi là dị-đoan. Nhưng, chỉ muốn ngồi buồn kể chuyện cho đám “trẻ người non dạ” có đầu óc tinh-thông khoa-học, không còn thiết-tha chuyện thần-học tu-đức nữa.

Vốn là dân ngu-muội nhiều thứ chuyện, nên bần-dạo vẫn phải chạy vạy tìm đến các đấng-bậc tinh-thông rất nhiều chuyện để giúp đỡ hầu suy-tư cho phải lẽ, đúng cách. Bởi thế nên, cũng cứ xin bạn bè người thân đọc những giòng này cứ là tha cho bần-đạo, thật biết ơn.

Nói xa nói gần, chi bằng nói thật về những tâm-tưởng của một số vị từng khuyến-cáo chức-sắc kẻ tin hãy cẩn-thận kẻo cũng bị mang tiếng là dị-đoan mê-tín rất nhiều điều.

Số là, cách nay không lâu bần-đạo đây được một bạn chí-thân “quẳng” cho cuốn sách nói về những chuyện bí-nhiệm nơi đạo-giáo xuất từ xứ miền Babylon, bên đó, có đầu đề là “Babylon Mystery Religion” cũng rất ngắn, nhưng lời lẽ lại chắc nịch như đinh đóng cột, như một với một là hai.

Nay không dám nói dài, nói dai và nói dở. Chỉ dám trích/dịch đôi ba đoạn để bầu bạn khắp nơi có cơ-hội giết thì-giờ rảnh-rỗi không biết làm gì, bèn nghĩ quanh nghĩ quẩn, thế thôi.

Rào đón thế rồi, nay lại mạo muội xin phép bà con cho bần-đạo được trích và dịch đoạn văn rất “nổi cộm” ít thấy trên thị-trường chữ-nghĩa, rất như sau:

“Đạo-giáo huyền-nhiệm của Babylon, lâu nay được mô-tả một cách đầy biểu-tượng ở sách Khải-huyền là sách cuối của Tân Ước có những giòng như sau: ‘tôi thấy một người đàn bà, ngồi trên một Con Thú đỏ thẫm, con Thú ấy mang đầy những danh-hiệu xúc-phạm đến Thiên Chúa, và có bảy đầu mười sừng. Người đàn bà mặc áo đỏ tía và đỏ thẫm, trang sức toàn bằng vàng, đá quý và ngọc trai, tay cầm một chén vàng đầy những thứ ghê tởm và ô uế, tức là sự gian dâm của nó. Trên trán nó, có viết một tên mang ý nghĩa huyền bí: ” Babylon vĩ đại, mẹ đẻ ra các gái điếm và các thứ ghê tởm trên trần gian.” (Kh 17: 2-6)

 Khi Kinh-thánh dùng ngôn-ngữ biểu-tượng chẳng hạn như, ở đây là cụm-từ “người đàn-bà”, thì ta hiểu rằng tự-vựng ấy biểu-trưng cho Hội-thánh của chúng ta. Ở một số các đoạn sách khác như Êph 5: 27, Kh 19: 7, 8, Hội-thánh thực của ta, lại rất giống các nàng trinh-nữ, các cô dâu không tì-tích, hoặc phụ-nữ không một vết nhơ.

 Còn,  sách Khải-huyền đây, lại đưa ra ảnh-hình phản-chống, đối-chọi lại Hội-thánh thực-thụ khi nói đến “người đàn bà” ở trong Sách, là nói về người nữ-phụ nhơ-uế/không trong-sạch, một gái điếm.

 Và, nếu là điều đúng đắn để gán-ghép lối biểu-trưng này cho một hệ-thống nào đó của Giáo-hội, thì rõ-ràng là tác-giả Gioan Tin Mừng muốn nói đến một Giáo-hội ô-uế từng ngã-gục, mà thôi. Và, Sách thánh gọi đó là Đạo huyền-nhiệm của Babylon .

 Khi tác-giả Gioan Tin Mừng viết lên sách KHải-huyền, thì Babylon, một thành-phố, khi ấy đã bị tàn-phá chỉ còn là đống gạch vụn, như các ngôn-sứ ở Sách Cựu Ước đã nói tiên-tri về một Babylon rất đạo-giáo. Và, cho dẫu thành-phố Babylon từng bị huỷ-diệt đi nữa, thì các ý-niệm và tập-tục trong Đạo phát-xuất từ Babylon vẫn tiếp-tục tồn-tại và được truyền-lan sang nhiều nước trên thế-giới như một đạo-giáo tốt đẹp.

 Thành ra, vấn-đề là hỏi rằng: đạo-giáo xuất tự Babylon , là đạo nào? Đạo đây, khởi đầu ra sao? Với thời hiện-đại, sự việc như thế có nghĩa gì với người thời-đại? Việc ấy có gắn chặt vào với những gì được mô-tả ở sách Khải-huyền do tác-giả nọ được gán cho ông Gioan Tin Mừng không?

 Ngược trở về với quá-khứ, chỉ ít lâu sau ngày “Đại Hồng Thủy” xảy đến, thì mọi người đã bắt đầu chuyển từ các vùng đất phía Đông và rồi đi về vùng đồng bằng được gọi là “vùng đất Shinar , rồi định-cư tại đó.’ (Stk 11:2). Và cũng chính trên phần đất Shinar này, thành-phố Babylon được dựng-xây, sau trở thành đất nước Babylonia hoặc về sau còn gọi là Miền Tiểu Á…

 Dựa trên các kết-luận rút từ nhiều nguồn thông-tin dẫn đến ta ở lịch-sử, truyền-thuyết và huyền-thoại, tác-giả Alexander Hislop đã ghi xuống từng chi-tiết cách-thức đạo-giáo của Babylon đã triển-khai ngang qua nhiều truyền-thống dân-gian trong đó có kể về thần Nimrod, về người vợ phàm-nhân của ông là Semiramis và người con trai của họ là phân nửa thần có tên là Tammuz…

 Người mẹ của thần Tammuz có lẽ cũng đã nghe được lời tiên-tri đoán trước việc Đấng Thiên-Sai được sinh-hạ từ một nữ-phụ (Stk 3: 15), bởi sự thật về chuyện này được mọi người biết từ thời nguyên-sơ. Nên, bà mẹ Tammuz cho rằng con trai bà được thụ-thai một cách siêu-nhiên và con của bà từng là hạt-nhân chính-yếu đã được hứa ban, sẽ trở thành “Đấng Cứu Chuộc”. Và đạo-giáo này cứ thế lan rộng, đến độ người người thời bấy giờ không chỉ phụng-thờ Người Con là Đấng Cứu-độ thôi, mà cả người mẹ sinh hạ ra ngài nữa…

 Kịp đến lúc, Đạo Chúa đã đến phải giáp mặt với đạo “ngoài luồng” của Babylon theo nhiều hình-thức nhau do Đế-quốc La Mã thiết-lập. Kitô-hữu thời Giáo-hội tiên-khởi đã chối-bỏ bất cứ thứ gì có liên-quan đến tập-tục và niềm tin của đạo. Từ đó, dẫn đến nhiều cuộc quẫn-bức, bách-hại những ai tin-tưởng vào Đạo của Chúa. Nhiều tín-hữu bị kết-án tử và bị ném cho thú dữ ăn thịt, hoặc đốt xác làm đuốc sống và/hoặc nhiều cách dã-man khác, cho đến chết.

 Kể từ khi, hoàng-đế La Mã tuyên-bố hồi-hướng trở về với Đạo Chúa, mọi cuộc bách-hại được lệnh chấm dứt. Các giám-mục được tôn-trọng và kính-nể. Giáo-hội bắt đầu được chính-thức công-nhận và ban cho quyền-lực trải rộng trên khắp thế-giới. Nhưng, để được như thế, Đạo Chúa đã phải giá rất đắt và cũng phải nhượng-bộ rất nhiều thứ với ngoại-giáo. Và cuối cùng, thay vì Giáo-hội tách rời khỏi thế-giới trần-tục, lại trở nên thành-phần của thế-giới ấy…

 Cũng từ ngày đó trở đi, đã có sự lẫn lộn/hoà trộn giữa Đạo của Chúa và ngoại-giáo cũng rất nhiều, chí ít là tại Rôma. Và cũng từ đó, đạo của ta trở-thành Giáo-hội Công-giáo La Mã. Dĩ nhiên, có rất nhiều điều chứng-tỏ người đi Đạo của ta rất thánh-thiện, và sốt-sắng đạo-hạnh, nhưng ta cũng không thể nào bài-bác hoặc chối-bỏ gốc-gác mang tính-cách rất dân ngoại, có từ thời này…” (Xem Ralph Woodrow, Babylon-Source of Falso Religion, Ralph Woodrow Evangelistic Association 1966, 1981 edition tr. 7-12)

            Trích và dịch các đoạn văn ấy rồi, nay xin thay-đổi bầu khí bằng cách mời bạn và mời tôi ta lại ngâm nga hát nhạc đời có những ca-từ về Đạo-giáo cũng như sau:

   “Một mùa sao sáng

ôi mùa sao chói chang muôn đời.
Vạn lời truyền rao

nghìn hào quang chiếu sáng ngôi cao.
Lạy Mẹ Đồng Trinh ban ơn,

người Việt cùng thương nhau hơn.
Đất nước này đây

sáng đức tin Chúa trên trời cao.”

(Nguyễn Văn Đông – bđd)

 Thế đó là chuyện Đạo ở trong đời. Chuyện Đạo ở đây, có thể là chuyện đạo-đức, đạo-hạnh và có lẽ cũng rất cương-thường đạo-lý của đời người, dành cho người đời.

Lại có câu chuyện không mang tính đạo-mạo hoặc đạo nghĩa của đạo-giáo nào hết, nhưng vẫn là chuyện rất đạo cốt để giúp mọi người sống tốt đạo làm người, như sau:

“Lúc còn là một thiếu niên, một lần, tôi được cha dẫn đi xem xiếc. Khi nhập vào hàng người đang xếp dài trước quầy vé, tôi chú ý đến một gia đình đứng ngay trước chúng tôi. Họ có đến những 8 đứa trẻ mà đứa lớn nhất có lẽ chưa đến 12 tuổi. Nhìn dáng vẻ những đứa bé ấy có thể đoán được gia đình chúng không giàu có.

Quần áo chúng không phải loại đắt tiền nhưng sạch sẽ và tươm tất. Và đó là những đứa trẻ biết cách cư xử. Cứ nhìn cái cách từng 2 đứa một nắm tay nhau xếp hàng sau bố mẹ chúng thì rõ. Chúng nói huyên thuyên một cách đầy phấn khích về những chú hề, những con voi và những trò xiếc khác mà chúng sẽ được xem tối nay. Rõ ràng chúng chưa từng đến rạp xiếc bao giờ. Buổi tối ngày hôm nay thật sự rất đặc biệt với cả 8 đứa trẻ ấy.

Cha mẹ chúng đang đứng ở đầu hàng với vẻ mặt hãnh diện nhất mà họ có thể. Người phụ nữ nắm lấy tay chồng, nhìn ông một cách dịu dàng. Ngay lúc ấy, người bán vé ngẩng lên và hỏi người đàn ông số vé ông ta cần. Người đàn ông trả lời đầy hứng khởi: “Cho tôi 8 vé trẻ con, 2 vé người lớn để tôi có thể dẫn cả nhà mình vào xem xiếc.”

Nhưng, khi người bán vé báo giá của 10 chiếc vé, bàn tay người vợ đột ngột rời khỏi tay chồng, đầu bà ta gục xuống. Mặt người đàn ông hơi tái đi. Ông ta tiến lại quầy vé gần hơn và hỏi : “Anh nói giá bao nhiêu?”

Người bán vé bình thản lập lại giá của 10 chiếc vé, nhưng người đàn ông không có đủ tiền. Làm sao ông ta có thể quay lại và bảo với 8 đứa con của mình rằng ông ấy không đủ tiền để dẫn chúng vào xem xiếc?

Chứng kiến tất cả những gì xảy ra, cha tôi lặng lẽ lấy từ trong túi ra tờ 20 đô và thả xuống đất. Sau đó, ông cúi xuống nhặt lên và vỗ vai người đàn ông, nói rất tự nhiên: “Xin lỗi, thưa ông, cái này vừa rơi ra từ túi ông”.

Người đàn ông hiểu những gì đang diễn ra. Ông không cầu xin của bố thí nhưng rõ ràng ông có thể đoán đây là sự giúp đỡ trong một tình huống ngặt nghèo. Bối rối trong giây lát rồi ông ấy nhìn thẳng vào mắt cha tôi, chụp lấy tay cha bằng cả hai bàn tay như muốn vắt kiệt tờ 20 đô, một giọt nước mắt rơi lặng lẽ xuống má, đôi môi mấp máy một cách khó khăn:

-Cảm ơn, cảm ơn ông rất nhiều. Điều này thật sự ý nghĩa với gia đình tôi lúc này.

 Sau khi nhìn cả gia đình người đàn ông khuất sau cánh cổng rạp xiếc, tôi và cha đón xe buýt về nhà, đơn giản bởi vì số tiền còn lại trong túi cha không đủ để mua vé cho hai cha con. Thật sự thì chúng tôi cũng chẳng dư dả gì! Nhưng tôi không hề giận cha. Những gì cha đã làm lúc đó đáng giá hơn cả ngàn buổi xem xiếc.” (truyện kể về đạo làm người trên mạng vi-tính, cũng rất đạo)

 Sống theo lẽ đạo làm người ở đời, không hẳn là “chuyện nhỏ” dễ làm hoặc dễ nhớ để làm. Làm cho người và cho chính mình. Trong đời người, cũng có những lúc, những thời mà người đời thường vẫn cứ quên sót. Quên chuyện chính, mà chỉ nghĩ chuyện phụ.

Cũng hệt thế, có những lúc, những buổi mình và người cứ đọc Kinh Sách hay kinh kệ, chỉ lấy lệ, cốt cho qua. Hoặc, đọc rất nhiều nhưng chỉ theo thói quen tốt và lành. Cũng có lúc người mình kể về chuyện Đạo rất hay mà chẳng hiểu được ý người viết dụ-ngôn/truyện kể muốn nói gì, huống chi là Lời Chúa, rất dễ hiểu.

Sống theo lẽ Đạo của người đi Đạo, nhiều lúc cũng không khác mấy. Sống và giữ Đạo, chừng như người và mình vẫn chỉ như sống sao đó để chứng-tỏ là mình thuộc Đạo gốc, đạo “ròng” mà quên mất rằng mình chỉ đi Đạo lòng vòng, có thế thôi.

Nói xa nói gần chi bằng nói rất thật bằng câu ca, truyện kể cũng đáng nể, để khỏi quên. Nói và kể bằng những lời hoặc câu chuyện kể rất “tếu”.

“Truyện rằng:

Có ông thói bói không mù nhưng chuyên nói những chuyện rất thật, trên đời cho một người đàn ông đến hội ý với ông ta rằng:

-Nửa phần đầu của cuộc đời, ông sẽ phải khổ tâm rất nhiều vì thiếu tiền bạc/của cải hoặc những gì mình ước-muốn, nhưng sau đó, ông sẽ đỡ hơn nhiều.

-Ơ kìa, tại sao thế? Có phải vì tôi sẽ kiếm ra được nhiều tiền và giữ mãi của cải mình kiếm được, không thầy?

-Không phải thế đâu! Chỉ vì, ông sẽ quen với việc ấy thôi….”

             Cũng có thể, nhiều người nghe kể như thế, sẽ không đồng ý cho lắm. Bởi, trên thực-tế, làm gì có thầy bói mù hay bói “mu rùa” nào lại tuyên-bố với thân-chủ mình những chuyện như thế.

Cũng có thể, đó chỉ là truyện kể để bầu bạn nghe cho vui, rồi minh-hoạ cho những điều mình chứng-xác với người khác hoặc quyết-tâm với chính mình.

Cũng có thể, đây chỉ là chuyện đời thường chỉ để dẫn đưa bạn và tôi đi vào với lời vàng do bậc thánh-hiền xưa nay, từng xác-quyết về việc tiếp-cận Lời Chúa, như sau:

“Những người Do-thái ở đây cởi mở

hơn những người ở Thessalônikê:

họ đón nhận lời Chúa với lòng nhiệt tâm,

ngày ngày tra cứu Sách Thánh

để xem có đúng như vậy không.

Và nhiều người trong nhóm họ tin theo;

về phía người Hy-lạp,

cũng có nhiều phụ nữ thượng lưu

và nhiều đàn ông cũng tin theo như thế.”

(Cv 17: 11-12)

Xác-quyết thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta cứ hiên ngang hước thẳng về phía trước. Để rồi, quyết sẽ làm như lời dặn ở trên. Hiên-ngang thực-hiện điều tốt-lành ngang qua lời ca, tiếng hát vẫn nhủ rằng:

“Một mùa sao sáng

ôi mùa sao chói chang muôn đời.
Vạn lời truyền rao

nghìn hào quang chiếu sáng ngôi cao.
Lạy Mẹ Đồng Trinh ban ơn,

người Việt cùng thương nhau hơn.
Đất nước này đây

sáng đức tin Chúa trên trời cao.”

(Nguyễn Văn Đông – bđd)

Nghệ-sĩ đời, mà còn viết và hát được như thế, sao ta lại không làm như thế? Vậy thì, hỡi bạn và tôi, ta hãy hát những lời tương-tự, để rồi “Người Việt cùng thương nhau hơn, sáng đức tin Chúa trên trời cao!”

“Sáng đây”, không chỉ mỗi đức tin rất trừu-tượng hay tưởng-tượng. Mà, còn sáng cả tâm-tình thương-yêu nhau, hơn bao giờ hết. Rất Giáng Sinh.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn muốn mừng Giáng Sinh

Trong tâm-tình sáng láng

Nhiều hơn sao.

Anh có ngờ đâu trong những đêm

Tin Mừng (Lc 1: 39-45)

Hồi ấy, bà Maria vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào hỏi bà Êlisabét. Bà Êlisabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng:

Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.”

 *      *     *

“Anh có ngờ đâu trong những đêm”

Trăng ngà giãi bóng mặt hồ êm.

Anh đi thơ thẩn như ngây dại

Hứng lấy hương nồng trong áo em.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mai Tá lược dịch.

Những đêm trời tối giống đêm nay, lại cũng có một người thơ thẩn không ở hồ êm, mà lại thẩn thơ chốn chợ đời, nhiều truyện kể.

              Tin Mừng hôm nay, lại cũng kể về một sự kiện rất hệ trọng, là: Đức Chúa nay quyết đến ở cùng và ở mãi với chúng ta, vốn dĩ chỉ là người phàm, khó chung sống.

Kể truyện Chúa-ở-cùng-loài-người vào nghi-thức phụng-vụ tuần cuối Mùa Vọng, người kể hôm nay lại nhớ về câu chuyện na ná vẫn xảy đến với nhiều người, chí ít là với chú bé tên David ở đâu đó, giống Úc Châu, như sau:

“Tôi chạy vội ra cửa hàng doanh-thương định mua vét vài món quà Giáng sinh cho con cho cháu. Nhìn quanh, xem người người tấp nập đổ xô mua mua bán bán. Và, trong một thoáng rất nhanh, tơi tự trách mình sao không nhanh chân lẹ tay để giờ này cứ phải đứng đây chờ với đợi, sốt ruột quá.

Cuối cùng, tôi đến khu bán đồ chơi và lẩm bẩm một mình không biết bọn trẻ nhà mình chúng có ưa các món tôi mua cho chúng không.

Bất chợt mắt tôi quay về phía chú bé kia đang ôm chặt con búp bê. Ra chiều ưng ý lắm. Một tay cầm búp bê, tay kia chú bé mon men vuốt nhẹ lên tóc đồ chơi. Sau, tôi thấy chú bé quay người, hỏi: “Dì ơi, Dì có chắc là mình không còn tiền để mua búp bê nữa không?”

Người đàn bà khẽ trả lời: “David à, Emily không có chơi búp bê nữa đâu, con”. Tôi thấy người phụ nữ lảng qua phía khác, lựa đồ đạc cần thiết hơn. Cậu bé cứ lẽo đẽo đi theo. Tay vẫn ghì chặt lấy búp bê chưa trả tiền.

Thấy David đứng thờ thẫn, tôi đến gần hỏi xem hai dì cháu định mua búp bê cho ai vậy. Cậu bé trả lời:

-Mỗi lần đến Giáng Sinh, là chị của cháu đều thích mua búp bê.

Tôi bảo:

-Cứ từ từ cháu ạ, rồi thì Ông Già Noel cũng đem búp bê đến cho chị của cháu thôi.

Bé nói:

-Không có đâu, Ông Noel không sao đến được chỗ của chị cháu đâu. Cháu phải đem búp bê cho Mẹ để Mẹ đi đến chỗ đó mà đưa cho Emily. Chỉ có cách ấy thôi.

Tôi hỏi:

-Thế chị cháu ở mãi đâu mà ông Noel không đến được, chắc là xa lắm hay sao, hả cháu?”

David rơm rớm nước mắt:

-Chị cháu đi về chỗ Chúa Giêsu đang ở đó, Bác ạ. Ba cháu nói Mẹ cũng sắp đi đến chỗ Emily và Chúa Giêsu hôm này thôi.”

Nghe xong, tim tôi chừng như ngừng đập. David tiếp:

-Cháu có nói với Ba là làm thế nào thì làm để Mẹ đừng có vội đi, phải chờ cháu mua được búp bê cho Emily đã. Cháu vẫn muốn Mẹ mang búp bê tới cho Emily của cháu cơ.”

            Thấy cậu bé không để ý nhìn, tơi vội đưa tay vào ví, lấy một ít tiền và bảo:

-David, cháu có biết đếm không?”

Mắt bé sáng rực một niềm phấn khởi. Và nói:

-Đấy, cháu biết thế nào Chúa Giêsu cũng cho tiền để mua búp bê cho Emily mà, chắc chắn là như thế.

Tôi dúi tiền vào tay bé rồi cả hai cùng đếm. Đếm xong, David lại nói:

-Đúng là Chúa Giêsu cho cháu đủ tiền để mua búp bê mà.”

Vài phút sau, Dì của David quay trở lại. Thấy vậy, tôi vội đẩy xe chở đồ đi nơi khác, tránh thắc mắc của hai người. Trong bụng, tơi không khỏi suy nghĩ về bé David và thấy rằng hôm nay mình kết thúc chuyến mua sắm trong tình huống khác hẳn lúc ban đầu.

            Về đến nhà, nhớ lại câu chuyện được đăng trên báo mấy hôm trước đó về trường hợp một người uống rượu phóng xe đụng phải xe khác làm chết một bé gái và mẹ của em đang thoi thóp trên giường bệnh phải dùng ống dưỡng khí, trợ thở.

Hai ngày trước Lễ, theo dõi báo/đài tôi thấy gia đình người đàn bà đang trong cơn hôn mê ấy quyết định tắt máy trợ thở. Và hôm trước ngày Chúa Giáng trần, báo chí có đề cập đến tang lễ của Julia Norris cùng con gái bà, là Emily, được cử hành vào ngày lễ phó tế Stêphanô, tử vì đạo. Tên người chồng và cha của hai mẹ con người đàn bà bạc mệnh là Michael và tên người con nhỏ đồng thời em trai của Emily, là David.

Vào đêm Lễ, gia đình tôi tụ tập nơi bàn tiệc mà không ai trong chúng tôi ăn hết được các món trên bàn. Tay cầm món quà đắt giá mà chẳng người nào cần thiết. Và, bia rượu thì uống quá mức nhu cầu. Suy cho kỹ, tôi thấy “chúng ta vô tình để mất đi ý nghĩa nòng cốt của ngày Chúa Giáng hạ làm người”.

Sự kiện Đức Chúa-cùng-ở-với-chúng-ta xảy đến rất giản đơn. Cũng chỉ như hài nhi đang cần tình thương yêu đùm bọc. Thế mà, nhân danh ngày Lễ hội, chúng ta lại phung phí bạc tiền quá sức tưởng tượng. Ăn uống thì cũng vượt quá mức độ cần thiết. Lại còn say sưa chè chén một cách lố bịch.

Tôi buồn bã rời bàn tiệc để về phòng riêng, viết vội tấm thiệp chúc Tết gửi cho mọi thành viên trong gia đình nhỏ của tôi. Tôi kể cho mọi người biết sẽ chẳng khi nào tôi có thể nói: “Tôi muốn gia đình biết cho rằng tôi vẫn thương yêu hết mọi người.”

Đọc thiệp tôi viết, chắc mọi người sẽ nghĩ rằng tôi bị chứng mát thần kinh nặng. Tuy vậy, qua hình ảnh chú bé David và búp bê kia, Đức Chúa đã ghé thăm hồn tôi vào tuần lễ cuối của Mùa Vọng. Và, Giáng sinh mai ngày sẽ chẳng bao giờ giống như Giáng sinh năm ấy.

Nghe kể truyện bé Đavít và thiệp vui ngày lễ, hẳn ta lại nhớ câu thơ còn ngâm giở rằng:

“Độ ấy xuân về em lớn lên,

Thấy anh, em đã biết làm duyên.

Yêu dấu lòng anh ôm hận riêng.”

(Hàn Mặc Tử – Âm Thầm)

 Nhà thơ âm thầm nghĩ về những đêm “trăng ngà giãi bóng mặt hồ êm”, nhưng nhà Đạo lại nghĩ về những bạn trẻ nhỏ vẫn âm thầm hướng về người mẹ hiền đã khuất không còn nhìn thấy bé. Chí ít là thấy Chúa Hài Đồng ở mọi chốn, rất riêng tây.

Lm Richard Leonard sj biên soạn

Mai Tá lược dịch.

Trần gian Một Khúc

Trần gian Một Khúc

( Sống hòa hợp vui vẻ với mọi người xung quanh, không chấp nhất, tỵ hiềm. )

Con người ta sinh ra, ai thoát khỏi: sinh, lão, bệnh, tử ?

Sinh, Trụ, Hoại, Diệt là định luật của tạo hóa, không có cách chi thay đổi được.

Cây cối đâm chồi nảy lộc vào muà xuân, xanh tốt xum xuê trong mùa hè, lá héo vàng vào mùa thu, đến mùa đông thì lá vàng rơi rụng, chỉ còn trơ trụi cành cây. Rồi tới mùa xuân năm sau, cây lại đâm chồi nảy lộc. Cái chu kỳ sinh, trụ, hủy, diệt cứ tiếp nối nhau, không ngưng nghỉ.
Ðời người là bể trầm luân, cõi thế gian đầy những ưu tư phiền não. Vạn vật đều bị chi phối bởi luật vô thường..
Vừa mới sinh ra cất tiếng khóc oa oa chào đời.
Rồi lớn lên, bước vào đời với bao nhiều mộng đẹp. Thoắt một cái, mái tóc đã điểm sương, mắt đã mờ, lưng đã mỏi, 2 chân đã chậm chạp. Rồi cuối cùng, là hai tay buông xuôi, đi vào lòng đất, bỏ lại trên thế gian tất cả các thứ mà cả đời phải bôn ba vất vả mới làm ra được..

Ðời người như giấc mộng. Người ngoại quốc cũng có câu:Life is too short. (cuộc đời quá ngắn) Thế mà, con người ta khi còn sức khỏe thì mải mê kiếm tiền, lo củng cố địa vị, danh vọng, không có thì giờ để hưởng đời đúng nghĩa.

Cũng ít ai sửa soạn tâm tư để đón nhận những cái vô thường của tuổi gìa. Ðến khi mái tóc đã điểm sương, da đã nhăn, mắt đã mờ, chân đã chậm thì mới giật mình, rồi buồn phiền, thất vọng, nuối tiếc. Khi đó, bao nhiêu tiền của cũng trở thành vô dụng. Ăn uống thì phải kiêng thứ này, cữ thứ kia vì đường lên cao, cholesterol lên cao. Ăn đồ cứng không được vì hàm răng cái rụng, cái lung lay. Ði chơi xa thì không dám vì sức khỏe kém, đầu gối đau nhức. Nghe nhạc, xem phim cũng không được vì tai đã nghễng ngãng, mắt đã kèm nhèm.
Người VN mình vốn cần kiệm, chăm làm, chắt bóp để có của ăn của để. Làm việc thì liên miên quên cả cuối tuần, bất kể ngày lễ hay ngày Tết. Làm thì nhiều, mà ít dám vui chơi huởng thụ như người Âu Mỹ..

Suốt đời cặm cụi, nhịn ăn nhịn mặc, để dành, mua cái nhà cái cửa để một mai khi chết thì để lại cho con cháu. Sống như vậy quả là thiệt thòi.

Người xưa đã nói:

Một năm được mấy tháng xuân

Một đời phỏng được mấy lần vinh hoa

Và:

Chẳng ăn, chẳng mặc, chẳng chơi

Bo bo giữ lấy của trời làm chi

Bẩy mươi chống gậy ra đi

Than thân rằng thuở đương thì chẳng chơi

Con người có tham vọng, có nhu cầu nên mới bon chen. Suốt đời cứ miệt mài lo tìm kiếm những thứ vô thường mà quên mất chữ “nhàn”. Những thứ vô thường này là nguyên nhân đưa đến lo âu, căng thẳng, mất ăn, mất ngủ. Và nếu kéo dài có thể đưa đến bệnh tâm thần.

Ông Cả ngồi trên sập vàng

Cả ăn, cả mặc, lại càng cả lo

Ông bếp ngồi cạnh đống tro

Ít ăn, ít mặc, ít lo, ít làm

Ðời người sống mấy gang tay

Hơi đâu cặm cụi cả ngày lẫn đêm
Hoặc là

Ăn con cáy, đêm ngáy o..o

Còn hơn ăn con bò, mà lo mất ngủ.

Người xưa tuổi thọ kém, ngay tới vua chúa cũng chỉ sống tới khỏang 50 tuổi. Tới 60 tuổi đã ăn mừng “lục tuần thượng thọ. Còn tới 70 tuổi, thì thực là hiếm hoi. Bởi vậy mới có câu: “nhân sinh thất thập cổ lai hy (tức là, người ta có mấy ai mà sống được tới 70).

Ngày nay nhờ khoa học tiến bộ. Con người được sống trong điều kiện vật chất vệ sinh, và thoải mái hơn.

Những phát minh của ngành Y, Dược đã giúp nhân loại vượt qua được các bệnh hiểm nghèo, mà người xưa kêu là bệnh nan y như bệnh lao, bệnh phong cùi, bệnh suyễn.

Ngày nay người ta sống tới 80, 90 tuổi không phải là ít. Tuy nhiên sống lâu chưa phải là hạnh phúc. Hạnh phúc là luôn cảm thấy vui vẻ, yêu đời, biết tận hưởng cuộc sống. Muốn vậy thì cần phải giữ cho thân tâm được an lạc.

 

Tâm thân an lạc là biết vui với những cái trong tầm tay của mình, chấp nhận những điều mình không thể nào tránh khỏi. Sống hòa hợp vui vẻ với mọi người xung quanh, không chấp nhất, tỵ hiềm.

Lớn tuổi thì không làm ra tiền, nhưng cũng may, ở những nước tân tiến đều có khoản tiền trợ cấp cho người gìà để có thể tự lực mà không cần nhờ cậy vào con cháu. Các cụ gìà nên mừng vì sang được xứ này, thay vì ấm ức với số tiền quá khiêm nhượng, không thể tiêu pha rộng rãi như bạn bè.


Già thì phải chịu đau nhức, mắt mờ, chân chậm, đừng nên than thân trách phận, cau có, gắt gỏng, đã không làm được gì hơn mà còn tạo sự áy náy, thương cảm cho những người xung quanh.

Ở đời mỗi người một cảnh, vui với cảnh của mình, không suy bì, thèm muốn, ganh ghét với những người xung quanh.

Biết đủ thì đủ (Tri túc, tiện túc).

Người ta bảo trên 60 tuổi, mỗi ngày sống là một phần thưởng cho thêm (bonus) của Thượng Ðế.


Vậy thì hãy nên vui vẻ, tận hưởng những ân sủng mà không phải ai cũng có được.
Ðời sống của mình vui tươi hay buồn thảm là tùy thuộc vào thái độ của mình đối với cuộc SỐNG.

S.T.

. NGUYỄN ĐĂNG QUANG: ĐẢNG CSVN CÓ DÁM ĐẶT LỢI ÍCH DÂN TỘC LÊN TRÊN?

. NGUYỄN ĐĂNG QUANG: ĐẢNG CSVN CÓ DÁM ĐẶT LỢI ÍCH DÂN TỘC LÊN TRÊN?

“Hiến pháp là văn kiện pháp lý quan trọng nhất sau Cương lĩnh của Đảng”. TBT Nguyễn Phú Trọng

____

Blog Tễu

Nguyễn Đăng Quang

15-12-2015

Đảng CSVN hiện có 3,6 triệu đảng viên, chiếm khoảng gần 4% dân số Việt Nam. Trong số này có 200 đảng viên cao cấp chia nhau nắm giữ toàn bộ các vị trí lãnh đạo chủ chốt từ Trung ương xuống tận 63 tỉnh thành trong cả 3 nhánh quyền lực quốc gia: Hành pháp, Lập pháp Hành pháp và Tư pháp, cũng như toàn bộ các tổ chức đoàn thể, ban ngành (hay còn gọi là hệ thống chính trị) của toàn xã hội.  Thủ lĩnh Đảng – người có trọng trách cao nhất – hiện là ông Nguyễn Phú Trọng, đương kim Tổng Bí thư, là nhân vật mà 92 triệu người dân Việt Nam không ai được cầm lá phiếu bầu lên nhưng ông vẫn nghiễm nhiên là lãnh tụ tối cao của cả nước, nắm trọn quyền lực trong tay và toàn quyền quyết định vận mệnh quốc gia.

Ông Trọng cũng như các bậc tiền nhiệm của ông chưa hề một lần tuyên thệ trước Quốc hội, chưa bao giờ thề trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp. Trong Đại hội ĐCSVN lần XII tới đây, nếu như ông Trọng hoặc bất cứ ai khác được chọn làm Tổng Bí thư thì mặc nhiên cũng không phải tuyên thệ trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp. Chức vụ Tổng Bí thư ĐCSVN được đặc cách không phải tuyên thệ trung thành với bất cứ ai do bởi Điều lệ Đảng và Hiến pháp mà Đảng soạn thảo không có điều nào quy định Tổng Bí thư và các Ủy viên Bộ Chính trị phải làm như vậy.

Nếu đất nước và dân tộc Việt Nam được lãnh đạo bởi những  người thực sự vì dân vì nước, luôn đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi quốc gia lên trên lợi ích của họ và của tổ chức chính trị mà họ đại diện thì thật là may mắn và hạnh phúc cho dân tộc và đất nước. Song thực tế lại không phải như vậy. Cương lĩnh cũng như Điều lệ hiện hành của ĐCSVN không có điều nào quy định Đảng phải coi và đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi quốc gia lên tối thượng, cao hơn lợi ích của Đảng. Chính TBT Nguyễn Phú Trọng đã xác quyết điều này cách đây không lâu khi Quốc hội thảo luận thông qua Hiến pháp sửa đổi 2013.  Ông thẳng thắn tuyên bố: “Hiến pháp là văn kiện pháp lý quan trọng nhất sau Cương lĩnh của Đảng”.

Đó là về văn bản và lời nói. Còn về những việc làm và hành động cụ thể thì sao? Chỉ xin đề cập đến một lĩnh vực mà bạn đọc dễ phán xét và kiểm chứng, đó là về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Đã có rất nhiều đảng viên và nhân sĩ, trí thức tâm huyết trong những năm qua đã nhiều lần lên tiếng yêu cầu Lãnh đạo Đảng công bố các thỏa thuận mà Đảng đã ký với Trung Quốc ở Hội nghị Thành Đô (thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên – Trung Quốc) ngày 4/9/1990.  Nhưng cho đến nay đã trên 25 năm rồi mà Đảng vẫn giữ “quyền im lặng”, vẫn bí mật và lặng lẽ thực hiện những gì Đảng đã ký với Trung Quốc, không công bố và chẳng cần giải thích cho nhân dân và 3,6 triệu đảng viên biết, mặc cho bộ máy tuyên truyền của Trung Quốc tung tin hỏa mù, “nửa đúng, nửa sai, thật giả lẫn lộn” với ý đồ lường gạt, phân hóa và gây chia rẽ nội bộ để họ dễ bề thao túng lãnh đạo nước ta. Nếu sự thực thỏa thuận Thành Đô không có điều khoản nào bất lợi cho dân tộc và đất nước Việt Nam thì Đảng nên công bố cho toàn Đảng, toàn dân biết để nhân dân yên tâm, và sát cánh với Đảng đối phó với nguy cơ “Bắc thuộc mới” không chỉ đang thập thò, lấp ló ở ngoài biên cương, biển đảo mà đã hiển hiện ở sâu trong đất liền và ở cao trong nội bộ chúng ta.

Xâu chuỗi một vài sự kiện sau Hội nghị Thành Đô liên quan đến cuộc  xâm lược nước của 60 vạn quân Trung Quốc ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc hồi tháng 2/1979,  ta thấy hình như có một thế lực nào đó ở cả 2 nước muốn nhân dân ta quên hẳn cuộc chiến tranh này.  Người dân và đặc biệt là các CCB trong cuộc Chiến tranh 1979 luôn tự hỏi:

– Vì sao đã 36 năm rồi mà cuộc Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc này của quân và dân ta chưa được Bộ Quốc phòng tổng kết? Vì sao nó không được Bộ Giáo dục biên soạn, đưa vào chương trình sách giáo khoa lịch sử để giảng dạy và giáo dục lòng yêu nước cho học sinh, sinh viên ta?  Vừa qua, thế lực đen tối nào định mưu toan xóa bỏ môn học Lịch sử qua chiêu trò “tích hợp”, nhằm làm cho thế hệ trẻ và con cháu ta sau này không biết gì về truyền thống hào hùng 1000 năm chống trả xâm lược phương Bắc của tổ tiên ta? May mà Quốc Hội đã ít nhiều cảnh giác, kịp ra Nghị quyết ngăn chặn ý đồ đen tối và nham hiểm này.

– Ngay cả các hoạt động kỷ niệm của người dân trong mấy năm qua để tưởng nhớ và vinh danh những anh hùng, liệt sỹ và thương binh trong cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược (2/1979) và tưởng niệm 64 chiến sỹ Hải quân ta đã bị Trung Quốc sát hại khi chúng đánh chiếm đảo Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam (14/3/1988) cũng bị một lực lượng đông đảo DLV có tổ chức, mặc áo đỏ in Quốc kỳ, mang cờ Đảng, dùng loa hò hét và hát vang bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” để khiêu khích, ngăn cản và phá thối(?!).

– Ai đã chủ trương và làm ngơ cho Trung Quốc thuê trên 300.000 héc ta rừng đầu nguồn chiến lược ở các tỉnh biên giới phía Bắc? Tại sao lại cho Trung Quốc cắm chốt ở hàng chục địa điểm chiến lược và nhạy cảm trên khắp đất nước dưới vỏ bọc đầu tư dự án, thuê đất lâu dài (đến 70 năm như ở Vũng Áng), và đặc biệt việc Trung Quốc được mặc nhiên đóng chốt tại địa bàn chiến lược quan trọng bậc nhất nước ta (Nóc nhà Đông Dương) với bình phong dự án Bauxite Tây Nguyên đầy nguy hại và tai tiếng?

Cách đây chưa đầy một tuần, ngày 9/12/2015 vừa qua, trong “Thư gửi Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, các đại biểu dự Đại hội XII và toàn thể đảng viên ĐCSVN”, (gọi tắt là THƯ 127), một trăm hai mươi bảy(127) đảng viên tâm huyết và các nhân sỹ trí thức nặng lòng với đất nước và dân tộc ở trong và ngoài nước đã mạnh mẽ, thẳng thắn và tha thiết kêu gọi Đảng phải thay đổi: “Trong bối cảnh hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam phải đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết và dựa hẳn vào nhân dân, tự giải thoát khỏi ý thức hệ giáo điều, tự giải phóng chính mình khỏi tình trạng tha hóa của một đảng độc quyền toàn trị, dứt khoát từ bỏ đường lối xây dựng Chủ nghĩa Xã hội theo chủ thuyết Marx-Lenine, chủ động tiến hành cải cách chính trị triệt để và toàn diện theo con đường dân tộc dân chủ…”.

Người viết bài này cho rằng chẳng cần phải khảo sát xã hội hoặc tiến hành trưng cầu ý dân cũng có thể khẳng định là không chỉ đa số Đảng viên ĐCSVN mà toàn thể 92 triệu nhân dân Việt Nam đều muốn ĐCSVN phải đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi quốc gia lên trên lợi ích của Đảng, lên trên lợi ích cộng sản. Vì đây là lẽ đương nhiên, hợp với triết lý, lẽ sống và đạo đức xưa nay của dân tộc Việt Nam ta. Và đây cũng là nguyên tắc bất di bất dịch của mọi đảng phái chính trị trong tất cả các quốc gia dân chủ trên thế giới ngày nay.

Muốn làm được như vậy, trước hết Đảng phải tự thay đổi, phải dũng cảm đặt lợi ích dân tộc, lợi ích đất nước lên tối thượng, lên trên lợi ích của Đảng, lên trên lợi ích giai cấp và lý tưởng cộng sản. Đã đến lúc không thể không làm điều này.  Quốc gia và dân tộc là tối cao và vĩnh cửu, chứ không phải là Chủ nghĩa cộng sản!  Đảng phải tự thoát khỏi chính mình, phải dũng cảm lột xác để tiến lên cùng dân tộc. Trước hết và trên hết phải coi dân tộc và Tổ quốc Việt Nam là người sinh ra mình, nuôi dạy và bảo vệ mình, chứ tuyệt đối không phải là kẻ mà mình sinh ra, là kẻ mà mình nuôi dưỡng và ban ơn.

Quay đầu là bờ! Con cái có thể bỏ rơi cha mẹ chứ không bao gìơ cha mẹ lại chối từ con cái. Hãy ngước nhìn sang nước bạn láng giềng Myanmar để học tập và noi gương những bước đi quả cảm, đầy khôn ngoan, đầy trách nhiệm nhưng vô cùng sáng suốt của giới quân phiệt cầm quyền. Họ đã chấp nhận và thực hiện một cuộc chuyển đổi ngoạn mục cho đất nước Myanmar do họ biết hy sinh quyền lợi cá nhân của các tướng lãnh, họ đã sáng suốt đặt lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia lên tối thượng lên trên lợi ích của tập đoàn quân phiệt và đảng cầm quyền Liên minh Đoàn kết và Phát triển Myanmar. Cuộc chuyển đổi chính trị ở Myanmar không có kẻ thua, chỉ có người thắng, và người thắng lớn nhất là dân tộc Myanmar khôn ngoan và dũng cảm.

Hà Nội, ngày 14/2/2015.

N.Đ.Q.

Về hay ở?

Về hay ở?

Cát Linh, phóng viên RFA
2015-12-14

000_Hkg10120669

Một buổi lễ tốt nghiệp đại học được tổ chức tại Văn Miếu, Hà Nội vào ngày 18 tháng 11 năm 2014.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Du học là một ước mơ lớn của tất cả những học sinh Việt Nam từ xưa đến nay. Có rất nhiều người đã đỗ đạt thành danh và quay trở về. Nhưng hình như, thời gian đã chứng minh đó là những người của “muôn năm cũ’. Còn những học sinh thời nay, khi có cơ hội nhận được nền nền giáo dục nước ngoài, thì đa số họ chọn con đường ở lại. Điều này gần đây trở thành một vấn đề được đưa ra tranh luận rất nhiều, và có nhiều phản ứng khác nhau về việc “về hay ở”.

Tư duy quản lý cũ kỹ

Trong tuần vừa qua, dư luận trong nước và cả cộng đồng mạng có rất nhiều tranh luận liên quan đến việc Tiến sĩ Doãn Minh Đăng, giảng viên trường ĐH Kỹ thuật-Công nghệ Cần Thơ, người mà truyền thông trong nước cho là đang bị gây khó dễ do nói xấu nhà trường trên facebook cá nhân.

Vấn đề đáng chú ý đó là Doãn Minh Đăng cũng chính là cựu thí sinh của cuộc thi nổi tiếng Đường lên đỉnh Olympia, tốt nghiệp một trường đại học danh giá ở Hà Lan bằng ngân sách của thành phố. Sau đó anh đồng ý về VN công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy.

Sau khi sự việc của Doãn Minh Đăng được nói đến trên truyền thông, rất nhiều những người từng là thủ quân, á quân của Đường lên đỉnh Olympia, lên tiếng về sự lựa chọn ở lại quốc gia mà họ đã tiếp nhận nền giáo dục. Quan điểm của họ nhận được nhiều sự ủng hộ của cộng đồng Việt Nam. Ví dụ như Nguyễn Thành Vinh, á quân của mùa Olympia đầu tiên, sang Úc du học sau khi giành được học bổng của chính phủ Úc. Hiện nay, Nguyễn Thành Vinh đang có cuộc sống và công việc ổn định ở thành phố Perth, miền Tây nước Úc. Trong cuộc trả lời phỏng vấn truyền thông trong nước về sự việc của Tiến sĩ Doãn Minh Đăng, anh nói rằng: “Câu chuyện của Doãn Minh Đăng là một trong những lý do để một số du học sinh như chúng tôi cảm thấy mình cần có những lựa chọn khác mà không nhất thiết phải về nước làm việc.”

Trong rất nhiều những lý do Nguyễn Thành Vinh cho là không nên quay về sau khi học xong, thì câu nhận định “về nước là lãng phí cho cả hai bên’ của cựu thí sinh này gây chú ý nhiều nhất cho dư luận.

Một người nữa, đó là Đỗ Thị Hồng Nhung, á quân mùa thứ hai của Đường lên đỉnh Olympia, hiện tại đang hoàn tất khoá học thạc sĩ ở Phần Lan, việc trở về nước cũng đang được cô suy tính.

Rất nhiều lý do được chính người trong cuộc và dư luận đưa ra. Trong đó, lý do lớn nhất mà theo cuộc khảo sát của viện John Von Newmann thuộc trường Đại học quốc gia VN đưa ra đó là môi trường làm việc ở VN không thích hợp cho việc nghiên cứu và làm việc của họ.

Câu chuyện của Doãn Minh Đăng nói riêng và những du học sinh khác nói riêng, được giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, người từng là một trong ba sinh viên xuất sắc của Việt Nam nhận học bổng du học tại vương quốc Bỉ, và sau nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy ở châu Âu, ông quay về nước và làm cố vấn cho trường Đại học Việt Đức, cho biết nhận định của ông.

“Ở Việt Nam hiện nay, tuy có một số trường tương đối là có một chút tiến bộ. Nhưng đại bộ phận các trường Việt Nam thì tư duy quản lý của họ cũng rất là cũ kỹ, và họ vẫn chưa tôn trọng cái tự do học thuật, tự do chọn lựa của nhà khoa học đã thành danh, tiến sĩ của các nước tiên tiến về nước làm việc. Do đó có những mâu thuẫn xảy ra. Các nhà khoa học trẻ khi làm việc thì gặp rất nhiều những khó khăn, đừng nói là những khó khăn về tài chánh, ngay cả môi trường làm việc cũng gặp những khó khăn rất nan giải.”

“Rừng nào cũng như rừng Amazon thì đâu cần người trồng cây nữa”

Bên cạnh những người ủng hộ quan điểm của người ở lại, như Nguyễn Thành Vinh, thì cũng có những người nhìn sự việc về hay ở bằng một cái nhìn khác. anh Nguyễn Quang Thạch, người đã bỏ ra gần 20 năm để xây dựng chương trình Sách hoá nông thôn nhìn sự đóng góp của từng cá nhân ở một góc độ khác. Anh cho biết:

“Theo tôi thì để xã hội Việt Nam để tốt đẹp như những quốc gia mà các bạn đang sống ấy, thì tôi nghĩ hiện tình xã hội Việt Nam là một mảnh đất màu mỡ cho mọi người cống hiến và sáng tạo. tôi nghĩ rằng đang còn sa mạc thì cần người trồng cây, còn rừng nào cũng như rừng Amazon thì đâu cần người trồng cây nữa. Nghĩa là mỗi cá thể hãy đối diện với mình thật rõ ràng để xem mình có năng lực gì để cống hiến cho xã hội cho đất nước, đừng sợ rằng mình không được sử dụng, không được xã hội thừa nhận. Cứ hãy có sản phẩm đi đã. Chừng nào sản phẩm của ông ở mức nào thì xã hội thừa nhận mức đó.

Tôi vẫn luôn luôn cổ vũ cho việc các bạn trẻ Việt Nam khi học đã thành tài, đỗ đạt, qua thời gian tập sự thì tôi luôn cỗ vũ là quay về Việt Nam để giúp cho việc phát triển nền đại học của Việt Nam.
– Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng

Chẳng hạn như khi tôi mới đặt mục tiêu vận động cấp trường làm tủ sách phụ huynh thì cấp trường thừa nhận và áp dụng. Đến khi tốt rồi thì phòng giáo dục áp dụng và thừa nhận. Đến khi cấp sở áp dụng và có văn bản nhân rộng ra khắp tỉnh. Cái nỗ lực của tôi và người khác đã được thừa nhận và áp dụng. Bây giờ cấp Bộ đã mời chúng tôi, đối thoại với chúng tôi để tạo ra những chiến lược chủ trương hoá bằng văn bản.”

Có lẽ dư luận có sự quan tâm đến câu chuyện của Doãn Minh Đăng nhiều hơn vì cũng mới vào đầu tháng 11 vừa qua, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Hoà, TP Hồ Chí Minh đã đưa ra câu hỏi về việc vì sao đa số sinh viên VN đi du học và chọn con đường ở lại. Ông dẫn chứng chính trường hợp của 13 học sinh nhận học bổng sang Úc du học của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” và 12 người trong số họ không quay về nước sau khi kết thúc chương trình học.

Như đã trình bày ở trên, tuy rằng Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng có đưa ra những nhận định của ông về thực trạng của môi trường giáo dục và điều kiện phát triển chuyên môn ở Việt Nam, nhưng ông vẫn có những thông cảm cho quyết định của người không quay về.

“Tôi vẫn luôn luôn cổ vũ cho việc các bạn trẻ Việt Nam khi học đã thành tài, đỗ đạt, qua thời gian tập sự thì tôi luôn cỗ vũ là quay về Việt Nam để giúp cho việc phát triển nền đại học của Việt Nam. Tôi là người luôn cổ vũ cho việc này. Tuy là tôi thông cảm cho những sự lựa chọn khác. Tôi nghĩ là có nhiều người có những chân đứng, có vị trí mà nó phù hợp để họ phát triển, cống hiến cái tài của họ mà họ ở lại. Và cũng có thể vì những lý do gia đình. Thú thật là tôi cũng thông cảm. Tôi thông cảm vì cái điều kiện ở Việt Nam có nhiều vấn đề đặt ra cho những người giáo viên trẻ này không có cái dũng khí, kiên nhẫn để mà thắng được những thách thức thì sẽ có rất nhiều khó khăn.”

Qua nhiều nhận định khác nhau của nhiều người thì có lẽ câu hỏi của ông đại biểu quốc hội Nguyễn Ngọc Hoà vẫn còn là một câu hỏi lớn chưa có lời đáp.

 

THEO GƯƠNG MẸ MARIA, SỐNG TÂM TÌNH MÙA VỌNG

THEO GƯƠNG MẸ MARIA, SỐNG TÂM TÌNH MÙA VỌNG

 Mùa Vọng là thời gian để chúng ta chuẩn bị tâm hồn đón mừng mầu nhiệm Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người.  Trong thời gian này, Giáo Hội đã cho chúng ta chiêm ngưỡng những mẫu gương sống động của các nhân vật trong Kinh thánh như: Tiên tri Isaia, Gioan tẩy giả, cũng như qua cách sống và những tâm tình của các ngài trao gởi lại, thì đó cũng là những bài học rất quý giá để chúng ta sống tốt đẹp hơn trong thời gian mùa Vọng.

DUC ME

Thật thiếu sót, nếu chúng ta không kể đến Mẹ Maria trong thời gian mong đợi Con Chúa giáng trần.  Bởi vì Mẹ Maria cũng đã từng sống tâm tình mùa Vọng như bao người khác.  Thế nhưng, hơn ai hết, kinh nghiệm sống tâm tình mùa Vọng nơi Mẹ Maria vẫn luôn là tiếng gọi thúc giục lòng ta hãy thành tâm chiêm ngưỡng cách sống mùa Vọng nơi Mẹ.  Nhờ vậy chúng ta sẽ có những tâm tình xứng hợp trong khi chúng ta hướng về ngày Chúa đến trong trần gian.

1/ Mẹ Maria sống tâm tình mùa Vọng bằng đời sống thánh thiện:

Vì ý thức Đấng Thiên Sai muôn dân mong đợi là Đấng thánh, nên thời gian sống tâm tình mong đợi con Thiên Chúa nơi Mẹ Maria, đã được dệt bằng những chuỗi ngày vô tận của sự thánh thiện.  Mẹ sống thánh thiện, vì Mẹ xác tín những tâm hồn thánh thiện là những tâm hồn sẽ được đón nhận niềm vui ơn cứu độ cách tròn đầy.  Mẹ sống thánh thiện, vì Mẹ xác tín những tâm hồn thánh thiện là những tâm hồn luôn làm đẹp lòng Chúa là Đấng Thánh.  Và Ngài rất vui khi được hiện diện với những tâm hồn như thế.

Về điểm này, chúng ta hãy suy nghĩ lại những hành động của Chúa Giêsu khi Ngài tiến về Giêrusalem để thực hiện cuộc thanh tẩy Đền thờ.  Vì phía sau hành động thanh tẩy Đền thờ Giêrusalem, Chúa Giêsu muốn nhắc nhở chúng ta phải tự thanh tẩy đền thờ tâm hồn chính mình, nhờ vậy Thiên Chúa là Đấng thánh mới vui thích ngự trong những tâm hồn trong sạch như Ngài.

Hơn ai hết, cách sống tâm tình mùa Vọng của Mẹ Maria đã để lại dấu ấn không thể ngờ và không thể phai mờ.  Không thể ngờ vì qua sự chuẩn bị tích cực để mong đợi Đấng Cứu Độ nơi Đức Maria, Thiên Chúa đã đoái nhìn đến cách sống thành tâm tuyệt vời ấy.  Vì thế, một điều bất ngờ xảy ra nơi Mẹ là Thiên Chúa đã tuyển chọn Mẹ, Người Nữ Thánh Thiện được làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Thiên Chúa đã chọn cung lòng thanh khiết của Mẹ để trao gởi Người Con Yêu Dấu của Ngài là Đấng Thánh, và qua trung gian Mẹ Maria Thiên Chúa đã trao ban Đấng Cứu Độ cho loài người.  Đó là một điều bất ngờ đối với Mẹ Maria.  Thế nhưng, qua sự bất ngờ này thì Mẹ Maria đã thể hiện một dấu ấn không thể phai mờ.  Vì từ giây phút bất ngờ khi được Con Thiên Chúa nhập thể trong cung lòng mình, cũng từ giây phút ấy, Mẹ Maria đã khiêm tốn chỉ cho chúng ta con đường để chúng ta gặp Chúa, để Chúa đến với chúng ta.  Con đường Mẹ chỉ dạy chúng ta đó là hãy trở lại kinh nghiệm của chuỗi ngày vô tận sống thánh thiện nơi Mẹ.  Vì chuỗi ngày thời gian sống thánh thiện của Mẹ, đã hình thành nên bài thánh ca muôn thuở để mời gọi mọi người hãy can đảm sống tâm tình mùa vọng bằng đời sống thánh thiện như Mẹ Maria, Trinh Nữ Thánh Thiện.

2/ Mẹ Maria sống tâm tình mùa Vọng bằng đời sống khiêm nhường:

Khiêm nhường là cách sống Mẹ rất ưa thích.  Mẹ thích sống khiêm nhường, bởi vì nhờ những tâm tình ấy mà Mẹ thật sự trở nên một người con bé nhỏ của Thiên Chúa, luôn phó thác cuộc đời mình cho Thiên Chúa, luôn sống theo những gì Chúa đã dạy.

Vì Mẹ thích sống khiêm nhường, nên Mẹ sẵn sàng thưa hai tiếng xin vâng ý Chúa trong ngày truyền tin, để từ giây phút ấy mẹ đã trở nên Thánh mẫu của Đấng Tối Cao.

Vì Mẹ thích sống khiêm nhường, nên Mẹ sẵn sàng thi hành lời Chúa dạy trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống: Lúc vui, lúc buồn, lúc bối rối, lúc lo sợ, lúc an bình…… Nhờ việc hạ mình sống theo Lời Chúa mà Mẹ Maria được gọi là người có phúc.  Mẹ có phúc vì Mẹ là người luôn “lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa” (Lc: 11, 28).

Vì Mẹ thích sống khiêm nhường, nên Thiên Chúa đã chọn Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế.  Đấng vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã khiêm nhường tự hạ mang lấy thân phận con người, và trong thân phận con người Ngài đã mang lấy thân phận nô lệ để phục vụ sự sống cho muôn người.

Vì Mẹ thích sống khiêm nhường, nên qua đời sống gương mẫu tuyệt vời ấy, Mẹ muốn nhắc nhở chúng ta: Thiên Chúa là Đấng khiêm nhường, Ngài rất thích những ai sống khiêm nhường.  Chỉ có những tâm hồn sống khiêm nhường như Chúa mới có thể gặp được Chúa và được Chúa đến viếng thăm cư ngụ trong tâm hồn người ấy.  Vì Thiên Chúa bản chất là khiêm nhường, nên Ngài không bao giờ đến với những ai kiêu căng, cậy dựa chức quyền, cậy dựa vào sức mạnh của trần thế để bôi nhọ hình ảnh tốt đẹp của Thiên Chúa là Đấng hiền lành và khiêm nhường.  Về điểm này chính Mẹ Maria đã nhắc nhở cũng như đã cảnh cáo những ai sống ngược lại với cách sống khiêm nhường của Chúa, khi Mẹ nói: “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.  Chúa hạ bệ những ai quyền thế, người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc: 1, 51-52).

Chúng ta đang sống trong Mùa Vọng.  Thiết nghĩ, chúng ta nên thay đổi cách sống để cùng với Mẹ Maria sống những tâm tình Mùa Vọng.  Vì đối với Chúa, những cố gắng quyết tâm chân thành sống phút giây hiện tại, cũng có thể biến chuyển đời sống chúng ta trong tương lai.  Hơn nữa, sống tâm tình mùa Vọng không chỉ dừng lại bởi thời gian được ấn định trong năm phụng vụ.  Nhưng tâm tình hướng về Con Thiên Chúa đến trần gian, đến trong cõi lòng chúng ta phải được thực hiện trong từng phút giây của nhịp sống.

Như vậy, khi khám phá hình ảnh sống mùa Vọng nơi Đức Maria qua đời sống thánh thiện và khiêm tốn, thì đó cũng là lúc Mẹ chỉ cho chúng ta con đường hoàn hảo nhất, đẹp lòng Chúa nhất để Chúa đến với chúng ta.

Nếu chúng ta thật lòng sống thánh thiện như Mẹ mà không bị giằng co bởi những thú vui giả tạo mau qua của thế gian, chắc chắn đó là con đường hoàn hảo nhất để Chúa là Đấng Thánh giáng sinh trong cõi lòng chúng ta.  Nếu như chúng ta thật lòng sống khiêm nhường như Mẹ trong mọi hoàn cảnh, mà không lo sợ phải thiệt thòi bởi những thứ ham muốn của sức mạnh trần thế, chắc chắn đó là con đường đẹp lòng Chúa nhất để Chúa giáng sinh trong cõi lòng chúng ta.

Lạy Mẹ Maria!  Ước gì những tâm tình sống mùa Vọng nơi Mẹ sẽ là hành trang luôn đồng hành trong cách sống đức tin chúng con.  Nhờ đó chúng con cũng được đón nhận nguồn ơn cứu độ như Mẹ.  Lạy Mẹ Maria, xin cho niềm vui giáng sinh sắp đến được khơi dậy bằng ước muốn sống thánh thiện và khiêm nhường trong từng phút giây hiện tại của đời sống chúng con.  Amen.

LM Giuse Nguyễn Minh Chánh

langthangchieutim gởi

‘Ðả đảo công an – Ðả đảo đảng cộng sản’

‘Ðả đảo công an – Ðả đảo đảng cộng sản’
Nguoi-viet.com


Ngô Nhân Dụng

Nhà báo Trần Quang Thành mới đưa lên mạng Danlambao những hình ảnh người Việt Nam kỷ niệm Ngày Quốc Tế Nhân Quyền, ở Canada, ở Ðức. Nhưng đặc biệt nhất là quang cảnh những cuộc biểu tình tuần hành tại Hà Nội trong ba ngày, ngày 3, 4 và 10 tháng 12 năm 2015.

Cuộc biểu tình đầu tiên diễn ra tại công viên dựng tượng đài Lý Thái Tổ nằm bên bờ hồ Hoàn Kiếm đã bị công an đàn áp. Sáng hôm sau ngày 4 tháng 12, đồng bào quay trở lại tụ tập trước cửa “trụ sở tiếp dân” của đảng Cộng Sản ở ngôi nhà số 1 phố Ngô Thì Nhậm, quận Hà Ðông, Hà Nội. Tới ngày 10 tháng 12, đúng Ngày Quốc Tế Nhân Quyền, hàng trăm đồng bào lại mở một cuộc biểu tình bắt đầu từ trụ sở trên để biến thành một cuộc tuần hành qua các đường phố Quang Trung, Nguyễn Trãi dài hàng cây số.

Nhà báo tự do tị nạn Cộng Sản Trần Quang Thành đang sống tại nước Slovakia đã khéo trình bày các bức hình do chính các người đi biểu tình chụp cho thấy cả rừng biểu ngữ chen lẫn với những khuôn mặt các cụ già với cả các thiếu niên, phần lớn là các ông bà lớp tuổi trung niên.

Trong những đoàn hàng trăm người biểu tình, hầu như ai cũng cầm biểu ngữ, hoặc mỗi người một biểu ngữ nhỏ hoặc hai ba người mang một biểu ngữ lớn. Các biểu ngữ nhỏ dùng giấy bìa màu trắng chữ đỏ, biểu ngữ lớn dùng vải màu vàng chữ đỏ hoặc ngược lại vải đỏ chữ vàng, nét chữ viết rõ ràng có thể đọc được trong các bức hình, cho thấy các cuộc biểu tình này đã được chuẩn bị trước “rất kỹ.” Không những thế, mặc dù công an đã cướp mất nhiều biểu ngữ trong ngày 3 tháng 12 tại Bờ Hồ nhưng ngay hôm sau một số biểu ngữ cũ vẫn xuất hiện trở lại trên phố Ngô Thì Nhiệm. Ðiều này chứng tỏ những người tổ chức các cuộc biểu dương này phải được một phe cánh trong đảng cộng sản ngầm hỗ trợ. Nhưng không phải vì thế mà các cuộc tập họp quần chúng này không diễn tả đúng ý chí của người dân Việt Nam hiện nay.

Cả ba cuộc biểu tình được giới thiệu là quy tụ “Dân Oan Ba Miền” đấu tranh đòi nhà cầm quyền Cộng Sản phải trả lại quyền tư hữu đất đai tài sản của người dân. Nhưng đọc trên những biểu ngữ người ta thấy mục tiêu tranh đấu rộng hơn nhiều.

Những người biểu tình đã nhân danh các “Dân Oan” đòi nhà, ruộng, đất đai bị cướp là việc làm chính đáng để được mọi người hiểu và ủng hộ. Cho nên có những biểu ngữ nêu đích danh như “Tố cáo Lê Văn Nghĩa P chủ tịch Tiền Giang…” Một biểu ngữ khác viết “tố cáo chủ tịch Tây Ninh…” Trên nhiều biểu ngữ còn thấy nêu tên các tỉnh khác như trên một biểu ngữ là “Dân Oan Ðồng Nai,” hoặc Long An, Hải Dương, Thanh Hóa. Trên một bức hình thấy được một phần, có nêu tên “…Nguyễn Văn Ðẹn, Nguyễn Tấn Phước,… năm 2008… tỉnh Tiền Giang…”

Biểu ngữ đầy đủ nhất viết trên một tấm vải rộng: “Dân oan ba miền đấu tranh đòi nhà cầm quyền cộng sản phải trả lại quyền tư hữu đất đai tài sản của người dân.” Một tấm vải viết ngắn gọn hơn: “Trả quyền tư hữu đất đai cho dân!” Và một lời kêu cứu khác còn kêu gọi “Ðảng ơi! Cứu chúng tôi dân bị phá nhà cướp tài sản!” (Các dấu than do người tường thuật viết thêm). Với những lời lẽ đó chúng ta có thể nghĩ các người biểu tình vẫn không muốn đụng tới đảng Cộng Sản. Nhưng lại xuất hiện nhiều biểu ngữ khiến người ngoài thấy dân chúng đã dám tấn công thẳng vào đảng Cộng Sản!

Một tấm biểu ngữ viết: “Phản đối cộng sản cường quyền dùng bạo lực đàn áp khủng bố người dân.” Có người diễn tả một cách giản dị hơn: “Tôi không thích ÐCSVN!” Một tấm khác cho thấy đối với dân chúng chế độ Cộng Sản và chế độ công an là một, viết rõ ràng: “Còn đảng Cộng Sản, còn công an trị, dân ta còn mất quyền làm người.” Ðây là một trên các biểu ngữ trong các bức hình nhắc đến quyền làm người, khi các cuộc biểu tình nhằm đúng Ngày Quốc Tế Nhân Quyền. Tiếp theo là những khẩu hiệu đòi, “Trả lại quyền Tự do ngôn luận, Tự do báo chí, Tự do lập hội, Tự do tín ngưỡng cho người dân.”

Biểu ngữ viết “Còn đảng cộng sản, còn công an trị,…” là một câu trả lời cho khẩu hiệu của công an cộng sản viết rằng: “Ðảng còn thì mình còn!” Dân Việt Nam đã vạch rõ cái này còn và cái kia còn đều là tai họa cho người dân! Phần lớn các khẩu hiệu nêu ra đều nhắm thẳng vào chế độ đàn áp, phi nhân của công an mà những người biểu tình chính là các nạn nhân. Nhiều người biểu tình mang biểu ngữ: “Ðả đảo công an tra tấn, đánh đập, bức cung người dân vô tội;” hay “Bắt người vô tội để cướp đất là một tội ác.” Ông Trần Văn Sang, từ xã Dương Nội đã bị công an đánh gẫy chân trong nhà tù, ông bị bắt sau khi biểu tình dân oan đòi đất. Lần này ông ngồi trên xe lăn, với chiếc nạng chống bên cạnh, tham gia đoàn tuần hành mang tấm biểu ngữ viết: “Ðả đảo công an đánh Trần Văn Sang tàn phế.” Trong ngày 10 tháng 12, có người còn hiên ngang hô to khẩu hiệu “Ðả đảo đảng cộng sản.”

Ngoài anh Trần Văn Sang, rất nhiều người đã tham dự biểu tình để lên tiếng về những tai họa cho chính họ và gia đình họ do chế độ Cộng Sản gây ra. Trong cuộc tuần hành hình ảnh một em bé gái nổi bật với tấm áo đỏ viết hàng chữ tự giới thiệu: “Cháu Ðoàn Trương Anh Thư” với câu “Tuổi thơ của con bị bọn tham nhũng cướp mất!” Ðông đảo và bền chí nhất chắc là gia đình bà người bị tuyên án tử hình sau những phiên tòa xử không đúng luật. Họ mang các biểu ngữ đòi “Trả tự do cho tử tù Nguyễn Văn Chưởng, Lê Văn Mạnh, Hồ Duy Hải.” Những vụ “án oan” này đã sôi nổi trong dư luận suốt nhiều năm nhưng chế độ tư pháp của đảng Cộng Sản vẫn chưa nhận tội! Các hình ảnh được đưa ra nhiều lần cho thấy những nét đăm chiêu nhưng cương quyết của gia đình các nạn nhân. Trước các khuôn mặt buồn rầu của những người mẹ già, những bà vợ và các đứa con là các tấm bảng viết “Trả tự do con tôi!” “Trả tự do bố tôi!” “Trả tự do em tôi! Vân vân.

Những hình ảnh cuộc biểu tình và diễn hành do các nhà nhiếp ảnh Trịnh Bá Phương, Nguyễn Huy Tuấn và cô Trương Thanh Quang ở Tiền Giang đưa lên mạng, được nhà báo Trần Quang Thành biên tập thành những bản tin, kèm theo điệu hát bài “Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi.”

Trong cùng thời gian qua, trên mạng còn xuất hiện một đoạn video cho thấy cuộc biểu tình của giới tiểu thương Huế ở chợ Ðầu Mối Bãi Dâu vào ngày 1 tháng 12 năm 2015. Ðó là ngày hết hạn ghi danh để đổi sang khu chợ mới nhưng hàng trăm tiểu thương vẫn phản đối quyết liệt và không chịu dời chợ cũ.

Truyền thông trên mạng là một phương tiện phổ biến nhanh chóng và đầy đủ, có thể khích động các cuộc tranh đấu đòi tự do dân chủ của người dân các nước bị độc tài đàn áp. Ba cuộc biểu tình nhắm những mục tiêu khác nhau diễn ra liên tiếp tại Hà Nội khiến người ta nghi ngờ đằng sau có những cuộc tranh chấp phe phái của giới cầm quyền Cộng Sản, trước khi họ họp đại hội đảng vào năm tới. Trong số các biểu ngữ có nhắc đến một tên tuổi duy nhất, trong lời kêu gọi gửi cho Nguyễn Tấn Dũng. Chúng ta cũng không thể biết Nguyễn Tấn Dũng chủ mưu gây ra những cuộc biểu tình này, hay những phe chống Nguyễn Tấn Dũng mới đứng đằng sau xúi giục để làm hại Dũng!

Dù ai đứng đằng sau thì khi được dịp đi biểu tình phản kháng chế độ Cộng Sản đàn áp cướp tài sản dân lành, đánh, giết người vô tội, là các đồng bào của chúng ta đều sẵn sàng tham gia! Cần phải khuyến khích nhiều cuộc biểu tình như vậy, ở khắp nơi, dù do bất cứ ai trong đảng Cộng Sản muốn dùng thủ đoạn đó trong cuộc tranh giành quyền lợi lẫn nhau!  Nếu các cán bộ cấp tỉnh, cấp huyện dám thi hành thủ đoạn này thì những người “dân oan” cũng sẵn sàng tham dự để dùng gậy ông đập lưng ông! Những biểu ngữ “Ðả đảo công an – Ðả đảo đảng cộng sản” càng được trưng lên ở nhiều nơi, càng nhiều lần, thì ngày dân ta được hưởng dân chủ tự do càng đến gần hơn!

Trung Quốc: Ván bài lật ngửa

Trung Quốc: Ván bài lật ngửa

VOA

13.12.2015

Hình ảnh vệ tinh chụp hồi tháng Sáu cho thấy Trung Quốc gần hoàn tất đường băng dài 3.000 mét trên bãi đá Chữ Thập.

Hình ảnh vệ tinh chụp hồi tháng Sáu cho thấy Trung Quốc gần hoàn tất đường băng dài 3.000 mét trên bãi đá Chữ Thập.

Ở Việt Nam, nhiều người, trong đó có thể có cả một số người trong giới lãnh đạo, dường như còn mơ hồ trước các âm mưu của Trung Quốc trên Biển Đông. Thực tình, tôi hoàn toàn không hiểu về cái gọi là “mơ hồ” ấy. Bởi sự thực đã rõ rành rành: Trung Quốc không hề giấu giếm các âm mưu của họ. Có thể nói, họ đang chơi một ván bài lật ngửa.

Chính quyền Trung Quốc luôn luôn khẳng định một số “lợi ích cốt lõi” (core interests) mà họ cương quyết không nhân nhượng bất cứ ai hết: Đó là Tây Tạng, Đài Loan và Biển Đông đều thuộc về họ. Sự khẳng định chủ quyền đối với Tây Tạng và Đài Loan đã có từ lâu nên không làm ai ngạc nhiên. Sự khẳng định thứ ba, mới hơn, từ hơn một thập niên vừa qua, liên quan trực tiếp đến chủ quyền và quyền lợi của nhiều quốc gia, trong đó, có Việt Nam. Sự khẳng địnhg này bao gồm hai nội dung chính: Một, Trung Quốc cho tất cả những hòn đảo, rạn san hô và bãi đá thuộc Trường Sa mà Việt Nam và Philippines đang trấn giữ vốn thuộc về họ: Chúng bị Việt Nam và Philippines cưỡng đoạt một cách “phi pháp”. Hai, căn cứ trên quan niệm cho cả Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về họ, Trung Quốc đã vẽ nên tấm bản đồ chủ quyền gồm chín đoạn (còn được gọi là đường chữ U hoặc lưỡi bò) bao trùm lên phần lớn diện tích Biển Đông. Với hai nội dung này, Việt Nam có hai điều có thể mất: Một, 29 thực thể, từ đảo đến bãi đá và rạn san hô ở Trường Sa; và hai, toàn bộ vùng biển bao quanh Hoàng Sa và Trường Sa.

Có thể nói việc Trung Quốc chiếm lĩnh toàn bộ Trường Sa và Biển Đông chỉ là vấn đề khi nào và bằng cách nào chứ không phải là chuyện có hay không. Trung Quốc đã khẳng định dứt khoát điều đó. Chả có gì để hoài nghi cả.

Để chiếm lĩnh Trường Sa và Biển Đông, Trung Quốc sử dụng ba sách lược chính.

Thứ nhất là sách lược tằm ăn dâu (salami slicing), tức chiếm từ từ, dần dần, mỗi lúc một ít. Trước, Trung Quốc chiếm Hoàng Sa: Việt Nam không phản đối. Sau, Trung Quốc công bố con đường lưỡi bò vắt ngang qua vùng biển vốn thuộc về Việt Nam: Việt Nam không phản đối. Gần đây, Trung Quốc cho giàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam để thăm dò dầu khí: Việt Nam chỉ phản đối lấy lệ. Rồi Trung Quốc cải tạo các bãi đá ở Trường Sa thành đảo nhân tạo: Việt Nam im lặng. Hầu như tất cả các nhà quan sát quốc tế đều tiên đoán, một lúc nào đó, Trung Quốc sẽ công bố vùng nhận dạng hàng không tương ứng với con đường lưỡi bò trên biển.

Xin lưu ý là để chống lại sách lược tằm ăn dâu này, Mỹ đã điều chiến hạm đến gần các hòn đảo mới cải tạo ở Trường Sa của Trung Quốc: Trung Quốc chỉ phản đối lấy lệ. Nhưng ở đây có hai vấn đề: Một, Mỹ không thể cứ đưa chiến hạm đến Trường Sa mãi được; hai là Việt Nam không mạnh và cũng không tự tin như Mỹ nên sẽ không dám đưa tàu thuyền đến gần các hòn đảo ấy. Cái “không dám” ấy sẽ được xem như một hành động mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông. Sau này, khi Trung Quốc tuyên bố vùng nhận dạng hàng không tương ứng với con đường lưỡi bò trên biển cũng vậy. Mỹ cũng sẽ bất chấp những lời tuyên bố ấy và họ sẽ cho máy bay lượn qua lượn lại trong vùng nhận dạng ấy để chứng tỏ là nó phi pháp và vô giá trị. Nhưng Việt Nam thì khác. Sợ, mỗi lần có tàu bè đi ngang qua Biển Đông hoặc có máy bay đi ngang qua vùng nhận dạng hàng không, Việt Nam sẽ xin phép Trung Quốc: Đến lúc ấy, Trung Quốc bất chiến tự nhiên thành.

Sách lược thứ hai của Trung Quốc là ngăn chận mọi nỗ lực quốc tế hoá hoặc đa phương hoá các tranh chấp trên Biển Đông. Sách lược này bao gồm hai nội dung chính: Một là yêu cầu Mỹ không can thiệp vào các cuộc tranh chấp ấy; hai là phá vỡ tất cả các nỗ lực thống nhất quan điểm về Biển Đông của khối ASEAN. Trung Quốc chủ trương mọi tranh chấp cần được giải quyết song phương, giữa Trung Quốc và các nước liên hệ. Bằng cách này, Trung Quốc làm suy yếu mọi đối thủ. Bởi mọi quốc gia tranh chấp đều nhó, yếu và, với nhiều mức độ khác nhau, đều lệ thuộc vào Trung Quốc. Ở phương diện này, chúng ta thấy ngay là Việt Nam đã sập bẫy Trung Quốc khi chấp nhận biện pháp song phương trong các cuộc tranh chấp về chủ quyền trên Biển Đông với Trung Quốc.

Sách lược thứ ba của Trung Quốc là mua chuộc. Cho đến nay, Trung Quốc hoàn toàn thành công trong việc mua chuộc Thái Lan và, đặc biệt, Campuchia. Hầu hết các cuộc hội nghị của khối ASEAN những năm gần đây đều thất bại trong việc có một thông báo chung nhằm lên án âm mưu xâm chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Có năm thông báo chung không ra đời. Có năm thông báo chung chỉ nhắc đến tình hình phức tạp trên Biển Đông nhưng lại hoàn toàn không nhắc đến tên Trung Quốc. Nguyên nhân gây nên những thất bại ấy đều xuất phát từ một nước: Campuchia, quốc gia vốn được xem là thân cận nhất của Việt Nam.

Không loại trừ khả năng Trung Quốc cũng đã mua chuộc được khá nhiều người trong giới lãnh đạo Việt Nam. Lâu nay, nói đến giới lãnh đạo Việt Nam, hầu như ai cũng biết là họ chia thành hai phe: phe thân Trung Quốc và phe thân Tây phương. Chúng ta hoàn toàn không biết chính xác người nào thuộc phe nào. Tuy nhiên, quan sát các động thái của nhà cầm quyền Việt Nam đối với các vấn đề liên quan đến Biển Đông, chúng ta cũng có thể thấy phe thân Trung Quốc khá nhiều và khá mạnh. Chính cái phe ấy làm cho mọi nỗ lực thoát Trung đều yếu ớt và không có hiệu quả. Cũng chính cái phe ấy làm cho mọi con đường ngả sang Tây phương, chủ yếu là Mỹ, cứ quanh co, khúc khuỷu, không có một định hướng nào rõ ràng.

Quan sát các phản ứng của chính quyền Việt Nam đối với ba sách lược kể trên, tôi cho việc mất Trường Sa và Biển Đông vào tay Trung Quốc chỉ còn là vấn đề thời gian. Sớm hay muộn, vậy thôi.