Nhân vật của năm 2015: lưu manh đỏ

Nhân vật của năm 2015: lưu manh đỏ

Trương Duy Nhất

26-12-2015

H1Năm 2015 nổi lên hàng loạt vụ hành hung, trấn áp thô bạo các nhà bất đồng chính kiến và hoạt động dân chủ. Tăng cả về số vụ lẫn độ tàn độc, dã man, và tăng cả về quân số hùng hậu của lực lượng “lưu manh đỏ” này.

Nếu trên mạng là cuộc tấn công bôi nhọ sặc màu tục tĩu, vô học của đội quân “dư luận viên”, thì ngoài xã hội là những cuộc tấn công đậm chất côn đồ, lưu manh kiểu xã hội đen nhằm vào các blogger, nhà báo độc lập, luật sư và các nhà hoạt động dân chủ.

Từ vụ đánh đập dã man Nguyễn Chí Tuyến đến cuộc trấn áp anh em Trịnh Bá Tư- Trịnh Bá Phương và bà con Dương Nội khi vào trại giam số 6 đón anh Trịnh Bá Khiêm mãn hạn tù; đến cuộc hành hung các cựu tù Chu Mạnh Sơn, Trương Minh Tam… trên đường đi đón bạn tù Trần Minh Nhật; đến các vụ hành hung tàn bạo chị Trần Thị Nga; đến các cuộc ném mắm tôm và hành hung sưng đầu bầm ngực anh Nguyễn Văn Thạnh; đến các cuộc quấy phá khủng bố Nguyễn Lân Thắng của nhóm “áo đỏ phản ứng nhanh” Hà Nội; đến cú tạt a xít lên đầu anh Trương Dũng; đến cuộc hành hung luật sư Nguyễn Văn Đài và cuộc tấn công mang tên “bụi Chương Mỹ” nhắm vào các luật sư Trần Thu Nam, Lê Luân; đến cuộc trấn áp đẫm máu cựu binh Trần Bang trong cuộc biểu tình ở Sài Gòn để phản đối chuyến thăm của Tập Cận Bình…

Dư luận đặt dấu hỏi về “vai trò chỉ huy” của lực lượng an ninh đứng sau đội quân trấn áp này. Thậm chí nhiều vụ, người ta nghi ngờ đội quân trấn áp lưu manh đó chính là… an ninh mặc thường phục. Tuy nhiên, về phía cơ quan an ninh, họ luôn phản bác và cho rằng đấy là lũ… lưu manh, côn đồ!

Anh Quốc, một nhà hoạt động dân chủ trẻ tuổi ngụ tại Lăng Cô, Thừa Thiên- Huế (người cũng từng bị nhiều trận trấn áp hành hung dạng này) trong một lần tình cờ tiếp tôi cùng nhà văn Nguyên Ngọc và giáo sư Chu Hảo nhận định: “Bọn đó không phải lưu manh côn đồ đâu. Lưu manh côn đồ họ có tâm hơn”.

Chưa thể xác thực được họ là… lực lượng nào. Nhưng điều xác thực được là họ rất lưu manh, rất côn đồ, rất mất dạy, rất tàn ác. Và đặc biệt: họ đều xưng danh “yêu nước, bảo vệ đảng và chế độ” khi ra tay hành hung trấn áp các nhà hoạt động dân chủ.

Vì thế tôi gọi họ là đám “lưu manh đỏ”. Và chọn họ, lực lượng “lưu manh đỏ” là nhân vật của năm. Như một chỉ báo mai mỉa cho thực trạng xã hội của năm 2015 vừa qua.

________

Lời thêm:

Như các bình chọn thường niên khác trên Một Góc Nhìn Khác, “Nhân vật của năm” cũng theo tiêu chí ấn tượng (cả nghĩa cộng hoặc trừ), miễn là nó thật sự nổi bật, tác động thật sự, gây những cơn sóng xã hội thật sự. Ưu tiên cho nghĩa cộng. Nhưng khi phía cộng không thật đủ mạnh, thì đành phải nhường ghế cho phía trừ.

Nguyễn Bá Thanh và sự ra đi hồi đầu năm của ông thật ấn tượng (ấn tượng theo đúng nghĩa cộng), nhưng không đủ để đưa ông thành nhân vật của năm.

Cấn Thị Thêu bất khuất, người tù quả cảm, nguồn lửa của phong trào nông dân Dương Nội. Như một hiện tượng. Nhưng hiện tượng Cấn Thị Thêu theo tôi, vẫn chưa đủ ngưỡng để bùng cháy thành một mẫu hình nhân vật của năm theo đúng nghĩa cộng mà tôi hằng mong đợi.

Ở nghĩa trừ. Con ruồi Tân Hiệp Phát dậy sóng đấy, nhưng xếp cùng để cân đong với hiện tượng “lưu manh đỏ” thì tôi chọn lũ “lưu manh đỏ”.

TDN

1 – Tặng Bạn Về Hưu

1 – Tặng Bạn Về Hưu

Đoàn Thanh Liêm

Vào năm 1987, lúc còn ở Việt nam, tôi có đọc được câu thơ cuả nhà thơ nổi danh cuả Liên Xô là E Evtushenco được dịch ra tiếng Anh như sau :” Don’t die before you’re dead” (Đừng chết trước khi bạn tắt thở).
Do đó tôi đã có cảm đề để viết thành mấy câu thơ để tặng người bạn vưà bắt đầu về hưu như sau :

* Đường trần chưa vẹn, sao yên nghỉ
Non nước vơi đày, nỗi xót xa
Phong cách buông lơi phường quân tử
Trách chi bá tánh bỏ quên nhà?
Saigon 1987
English version :
To a Friend on His Retirement
How can you rest, the pilgrimage’s not yet finished?
How painful is to find the country in tatters!
The patricians have already neglected their good manners,
Why can one reproach that the masses abandon themselves?
Saigon 1987

Version francaise :
Pour un ami en retraite
Comment te reposer, ce pèlerinage pas encore achevé ?
Quelle amertume devant ce pays en lambeaux !
Les patriciens ayant négligé leurs bonnes manières,
Pourquoi reprocher que la masse s’abandonne ?
Saigon 1987
(Trích lại tại Virginia, ngày 9 tháng Năm 2010)

Đoàn Thanh Liêm

2 – Nhớ Đà lạt

Vào giữa mùa mưa năm 1990, lúc bị biệt giam tại trại B34 trong khu vực Tổng Nha Cảnh sát cũ, tôi nhớ đến bài thơ nổi tiếng của Robert Frost nhan đề là “Stopping by woods on an snowy evening” – nên cảm đề làm bài thơ ngắn như sau :
Thông xanh dẫu nặng ý thơ
Ta còn mắc hẹn cơ đồ nước non
Đường xa vạn lý mỏi mòn
Vẫn nòi quân tử sắt son với đời./
Saigon 1990

Đoàn Thanh Liêm
(Sao lục tại California năm 2010)

Thơ Xuân gửi Bạn

Thơ Xuân gửi Bạn

Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

 1 – Mai Đào li sp n

Nh đến bn gn xa

Bao mến thương dào dt

Xin gi khp mi nhà

 

2 – Năm tháng c trôi qua

Tình ta càng thm thiết

Nhân sinh du kh ly

Vn gn bó rut rà .

 

3 – Bày tr nay khôn ln

Tung cánh khp năm châu

Tâm thành nh ngun ci

Cu mong dt hn su

 

4 Dòng sông chy đon cui

Sp gia nhp đi dương

Nơi trăng sao miên vin

Tràn ngp nhng Yêu Thương.

 

5 – Xin cm ơn,

Xin cm ơn tt c

Nhng ân hu bao la

Lòng t bi đ lượng

Khp thế gii nhân qun./

Costa Mesa, California

Cuối năm Quý Tỵ 2013

Đoàn Thanh Liêm

Chiều nay có mùa thu đi về

Chuyện Phiếm đọc trong tuần sau lễ Hiển Linh Năm C 03/01/2016

 “Chiều nay có mùa thu đi về”
Buồn vương mây ngàn giăng khắp lối
Mùa thu bơ vơ đến bên trời
Ru tóc em suối nguồn
Gọi hồn hong gió thu buồn.

(Từ Công Phụng – Mùa Thu Mây Ngàn)

(Rm 2: 1-2)

            Trần Ngọc Mười Hai

             Lại một lần nữa, bần đạo xin thú thật với bạn bè người thân rằng thì là: đề-tài “mùa thu” từng là nguồn-hứng cho cả người viết nhạc lẫn bần đạo bầy tôi đây. Thu, bao giờ cũng “vương mây ngàn”, “bơ vơ đến bên trời” và “gọi hồn hong gió thu buồn.”

Lại nữa, cứ nói đến thu, nghệ sĩ nhà mình sẽ còn hát điệu buồn những là xa nhau, như sau:

“Ngày mai chúng mình xa nhau rồi

Cầm tay em nhìn sao không nói

Chiều nay mưa bay khắp phố nhỏ

Mưa ướt đôi vai mềm

Bùn lầy lấm gót chân em.”

(Từ Công Phụng – bđd)

Vâng. Thơ nhạc thì như thế. Thế còn, truyện kể thì ra sao?

Vâng. Một câu hỏi “hóc búa” như thế có ma nào dám trả lời. Thôi thì, thay vì trả lời trả cả vốn, nay mời bạn và mời tôi, ta nghe thử truyện kể nhè nhẹ như một trò chơi, một trò chơi quá tuyệt vời, rất sau đây:

“Năm ấy, con gái lớn của tôi, Tina được 9 tuổi. Một hôm, tôi chở con gái về thăm bà nội. Tôi nhớ rằng, giai-đoạn ấy tôi đi đến quyết định rằng việc mở tài khoản tình cảm giữa cha con chúng tôi là hết sức quan-trọng. Thế là, trước chuyến đi ấy, tôi cứ băn-khoăn mãi với ý-nghĩa; “Mình có thể làm gì trong vòng 30 phút để ký gửi vào tài-khoản tình-cảm của con gái?”

Bạn biết không, để làm được điều này, cần phải có một chút can đảm. Một đứa trẻ 9 tuổi chắc-chắn đã hình-thành nhận-định của riêng mình về những hành-vi mà nó trông-đợi ở người khác. Tôi không phải là người hay nói chuyện trong lúc lái xe.

Thỉnh-thoảng, tôi cũng có nhận-xét này nọ về cảnh-vật hai bên đường, nhưng thường thì tôi chỉ im-lặng điều-khiển “vô-lăng”. Vì thế, quả là tôi phải hoay hoay một lúc mới nghĩ ra cách và tôi ngỏ ý với con gái về một trò chơi giữa hai cha con.

 Khi chúng tôi vừa lái xe ra khỏ nhà, tôi bèn hỏi: “Này con gái, sao bố con mình không cùng tham-gia một trò chơi nhỉ? Điều chúng ta cần làm rất đơn-giản, chỉ cần nói: “Bố ơi, con rất vui bởi vì…” hoặc: “Bố thích điều con làm bởi vì…” Từ “Bởi vì” rất quan-trọng, nó trả lời câu hỏi tại sao người khác yêu mến chúng ta. Đồng ý chứ? Bố bắt đầu trước nhé?”

Tôi là người bắt đầu trước. Tôi nói một điều gì đó về con gái. Cô bé ngẫm nghĩ một chút rồi bắt đầu nói một cái gì đó về tôi. Nhưng, sau ba bốn câu như vậy, tôi bắt đầu “cạn vốn” không nghĩ ra được điều gì để nói. Quả là một sự thật gây sốc đối với tôi. Tôi yêu con gái mình là thế, vậy mà tôi khó có thể nhớ ra việc làm hoặc nét tính-cách nào ở nó làm tôi yêu thích. Tôi chau mày cố tìm ra một cái gì để nói. Tina làm điều này dễ dàng hơn.

Sau khoảng năm, sáu câu trôi chảy, nó bắt đầu ngập-ngừng, với giọng nói ngắt quãng. Tôi chắc rằng nó đang cân nhắc mọi chuyện về bố nó, ôn lại những gì mà tôi đã nói hoặc đã làm. Nó biết ơn những việc tôi làm, những buổi đi dạo trong công-viên với tôi, những buổi tập bóng rổ ngoài sân và cái cách mà tôi đánh thức con bé dậy vào mỗi buổi sáng. Nó có thể nhìn thấy tất cả những điều tốt đẹp ấy trong tôi.

Tôi thì phải loay hoay để nghĩ ra những điều cần nói. Và, khi tôi phóng chiếu tầm mắt nhìn lại những sự việc xung quanh cô con gái bé nhỏ của mình, quan-sát lại những điều mà nó thường làm trong gia-đình, tôi bắt đầu thấy một điều khác. Tôi thấy cảnh nó ôm hôn cha mẹ, nhớ lại những câu nói hồn-nhiên của nó và cả những lời cảm ơn nữa. Tôi biết rằng Tina học giỏi ở trường và cung-cách của nó rất lễ-độ. Tôi bảo con rằng: tôi thích nhất là khi Tina đi học về và lao đến ôm cha mẹ.

Khi cha con tôi bắt đầu đi sâu vào chi-tiết và xem xét lại mọi chuyện thì chúng tôi không thể dừng được nữa. Chuyến đi chỉ kéo dài nửa tiếng mà chúng tôi đã nói được 22 hoặc 23 điều; đến đây, thì tôi phải ngừng lại vì không thể nghĩ ra được thêm một điều nào nữa.

Thú thật, tôi có cảm-giác lẫn-lộn trong trò chơi này. Một mặt tôi rất vui, nhưng không tránh khỏi cảm-giác thất-vọng. Điều đáng mừng là Tina có thể biết nhiều điều về bố nó như thế (nó vẫn muốn tiếp-tục cuộc chơi), tôi thất vọng vì thấy mình không thể tìm ra những điều gì đẹp đẽ tốt-lành trong con bé nữa. Nhưng, dù sao điều quan-trọng nhất vẫn là, suốt dọc đường hai cha con có cơ-hội chuyện-trò rôm-rả. Tôi nghĩ trò chơi mở đầu cho cách nói chuyện mà trước đây chưa bao giờ tôi trao-đổi với con.

Khi chúng tôi đến nơi, Tina nhảy ngay xuống xe, chạy như bay vào nhà và đó là lúc mà trái tim tôi như muốn vỡ oà ra vì cảm-động. Vừa chạy nó vừa la lên: “Bà nội ơi, nội ơi. Bố biết bao nhiêu điều tốt về cháu. Cháu không biết là bố biết nhiều điều tốt về cháu đến thế.” (Trích sách “Sống Mạnh Mẽ” do Stephen R. Covery biên-soạn, Trần Đăng Khoa – Uông Xuân Vy dịch)

             Lại cũng xin thú thật với bạn đọc và bạn nghe đọc trên “sách nói” về nhiều thứ, cả chuyện phiếm lẫn truyện kể nhẹ-nhàng, rất giản-đơn.

Thú thật, là vừa xưng thú vừa nói thật những điều mà mình ít khi để ý đến. Thú thật, là thật tình tình xưng thú về kiến-thức rất hạn hẹp của mình. Thú rất thật, là: càng viết nhiều càng thấy mình chẳng biết gì nhiều, cả những điều căn-bản mà người đọc hoặc người nghe đọc truyện kể lại biết nhiều hơn người viết.

Thú thật thêm nữa, là bần đạo đây, tiếng là viết và lách những 10 cuốn chuyện phiếm trong thời gian gần 10 năm nói khoác, không có sách, mà thật ra chỉ là trích và dịch những tư-tưởng của người khác, kể cả và nhất là người nhà Đạo rất “im hơi lặng tiếng”. Thú thật, cũng rất thật như người kể truyện ở trên đôi khi cũng “thú thật” những sự thật ít khi dám xưng thú.

Và hôm nay, bần đạo đây lại cũng xin phép với bạn đọc và bạn nghe sách báo đọc bằng tai/miệng rằng: chỉ dám xin bầu bè miễn thứ cho cái tội biết quá ít, nhưng lại dịch quá nhiều. Thôi thì, đã xin phép thế rồi, nay bần đạo bèn đánh bạo ngẩng đầu nhìn về đằng trước tìm xem có đề tài gì để trích và để dịch hầu cống-hiến bạn đọc và bạn nghe đọc, hầu giết thì giờ để cho vui.

Thế thì, mời bạn và mời tôi ta đi thẳng vào bài báo xuất-hiện trên tờ The Cathokic Weekly ở Sydney hôm 20/12/2015 có đầu đề bảo rằng: “Theo toà-thánh Vaticăng, thì: Người Công-giáo không nên tìm cách khiến người Do-thái-giáo trở lại đạo”.

Đi thẳng vào bài báo, là đi vào phần tìm-hiểu rất như sau:

“Tài-liệu vừa mới phát-hành của Toà-thánh Vaticăng dạy rằng: Người Công giáo chúng ta không nên bắt-buộc người theo Do-thái-giáo phải về với Đạo mình, cho nhất-quán. Đây, là sứ-điệp của Uỷ-ban Giáo-Hoàng về Tương-quan Đạo-giáo đối với người theo Do-thái-giáo đã được Toà thánh làm sáng-tỏ qua sứ-điệp của Công-đồng Vaticăng 2 trong một tài-liệu có tên là “Nostra Aetate”. Tài-liệu mới, của Toà thánh được phổ-biến, để mừng kỷ-niệm 50 năm ngày kết-thúc Công đồng Vaticăng 2 này…

 Tài-liệu, nay nhấn mạnh điểm này, là: niềm tin của người Đạo Chúa có gốc-gác từ Do-thái-giáo, từng xác-nhận rằng Thiên-Chúa lần đầu tiên mặc-khải về chính Ngài, là dành cho người theo Do-thái-giáo. Và tài-liệu đây cũng nói: “Chính vì thế, Hội-thánh buộc phải quan-niệm việc giảng rao Tin Mừng là dành cho người theo Do-thái-giáo, tức: những người chỉ tin vào một Thiên-Chúa độc-nhất theo cung-cách khác với điều mà những người thuộc tín-ngưỡng khác, và những người thuộc thế-giới khác với ta, từng quan-niệm.”

Tài-liệu, còn nói thêm: dù người Do-thái-giáo không tin Đức Kitô là Đấng Cứu-chuộc toàn vũ-trụ, họ vẫn có phần trong việc cứu-rỗi nhân-trần, do quà-tặng và lời mời gọi của Thiên-Chúa là lời mời không thể thu-hồi lại được. Thế nên, làm sao điều như thế lại nằm ở huyền-nhiệm vô-phương dò-thấu trong kế-hoạch cứu-rỗi của Thiên-Chúa, được.

Bằng lời lẽ cụ-thể, điều này có nghĩa là: Hội-thánh Công-giáo không hành-xử cũng chẳng hỗ-trợ bất cứ sứ-vụ đặc biệt theo bất cứ cơ-chế nào trực chỉ về phía những người theo Do-thái-giáo, nào hết.

Tài-liệu, nay khuyến-khích người Đạo Chúa hãy biết “làm chứng-nhân cho niềm tin của họ trong Đức Giêsu Kitô đối với người Do-thái-giáo, nhưng theo cách ‘khiêm-hạ và bằng thái-độ nhạy-cảm’ biết chắc chắn rằng người theo Do-thái-giáo lại cũng là chứng-nhân cho Lời của Thiên-Chúa.

 Tài-liệu nói ở đây, lại cũng dạy rằng: người Công-giáo chúng ta sẽ hiểu được ý-nghĩa của Lò Thiêu Sự Sống là thế nào với người Do và phải đấu-tranh chống bất cứ dấu hiệu của thành-kiến chống lại người Do-thái-giáo. Người đi Đạo Chúa không bao giờ đu7o5c phép tỏ ra mình là người chuyên bài bác người Do-thái, đặc-biệt vì Đạo Chúa bắt nguồn từ Do-thái-giáo…(X. The Catholic Weekly 20/12/15 tr. 27 trích tin/bài từ CATHOLICCULTURE.ORG)       

             Trích và dịch như thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta đi vào vườn hoa âm-nhạc có những ca-từ đầy tình-tự đọng lắng tâm-tư của người cùng một cảm-nghiệm những hát rằng:

“Thu nay mây ngàn còn giăng mãi bên trời,
Mùa thu lưu luyến bóng dáng anh đi.
Đêm nay bên thềm cầm tay em khẽ nói:
Ngày mai anh đi rồi,
Anh có buồn gì không?

Buồn không hỡi người đã đi rồi.
Tìm đâu những ngày vui êm ấm?
Người đi theo năm tháng không cùng,
Thương mắt em hay buồn,
Nhìn mùa thu chết bên song.

(Từ Công Phụng – bđd)

Kể ra thì, bạn và tôi có hát những câu ca da-diết đến là như: “Buồn không, hỡi người đã đi rồi?” “Tìm đâu những ngày vui êm ấm?” cũng là để dẫn đưa nhau vào với giòng chảy suy-tư đầy tư-lự, vẫn nhủ rằng: đời mình/đời người vẫn đầy ắp nhiều suy-tư về Đạo và về đời, như lời kể của cô-giáo ở trường tiểu-học nọ có bé nọ tên “Nho” lại cứ muốn thuật lại từng chữ cho mẹ mình nghe, hay như phim Hàn-quốc sau đây:

“Chú bé 9 tuổi tên Nho được mẹ hiền gặn hỏi xem bé học được những gì ở nhà trường, môn giáo lý. Nghe mẹ hỏi, bé tíu tít nói vội vàng:

 -Mẹ, cô ở trường có kể cho tụi con nghe rất nhiều chuyện Chúa làm. Sao con thấy chuyện nào cũng đẹp như phim tập, đó mẹ. Cô bảo thế này: Chúa cứu dân Do Thái thoát khỏi ách nô lệ của lính Ai Cập chuyên hà-hiếp dân lành Do Thái. Chúa cứu họ bằng cách cho ông MôSê, xuất hiện ngay sau lưng địch, mà địch không hay.

 Kế đó, ông Môsê đem dân Do Thái tới Biển Đỏ an toàn xa lộ, không ai bị đói. Thế rồi, ông lại truyền cho các kỹ sư bắc một cây cầu thiệt to, cao ơi là cao, đặt ngay phía trên đỉnh đầu của mọi người. Và rồi, dân Do Thái ai cũng qua được cầu, mà không bị gì hết. Kế đến, ông dùng di-động gọi về cho tổng hành dinh, kêu máy bay yểm trợ.

 Thế là, họ gửi máy bay đến um sùm trời đất, bắn phá tơi bời. Và, cầu bị sập ngay lập tức. Làm chết đám lính Ai Cập. Bọn lính chết sạch, không ai kịp trăn trối với vợ con. Trong khi đó, dân Do Thái cứ ung dung sống an nhàn, thảnh thơi. Mẹ thấy có khủng khiếp không!

 Bà mẹ ngắt lời:

-Này con, con kể có đúng như cô con dạy không đó?

-Con nói thiệt đấy. Đúng rồi đó, mẹ. Con chỉ thêm có chút xíu cho nó giống phim Hàn Quốc, thôi. Chứ, kể dài như cô ở trường, mẹ nghe chỉ có nước ngủ gục, chứ ai mà tin những điều cô kể!…

 Lời chú bé thuật lại, nghe cũng giống như lời “cụ đạo” nào đó đứng bục cứ đem các truyện tiếu lâm chay/mặn ra mà xào xáo tuy không giống như lời chú bé tên Nho nói ở trên, nhưng cũng là lời kể khá là “hư cấu” ở đâu đó, rất Do-thái-giáo (?).

Quá đáng chăng, nếu cứ gán tội cho người theo Do-thái-giáo những “hư cấu” và/hoặc xấu xa rất không thật? Hư-cấu chăng, hay chỉ là hư-hao, hư-hại một uy-tín mà lâu nay ta cứ gán bừa cho người đồng Đạo tôn-thờ cùng một Chúa Trời, ở cõi này? Hư hay không hư, người Do-thái cũng đâu phải thế. Không tin, cứ mời bạn/mời tôi ta vào lại vường hoa Lời vang bậc thánh-hiền có những đoạn quả-quyết rất chắc nịch như sau:

“Hỡi người, dù bạn là ai đi nữa

mà bạn xét đoán,

thì bạn cũng không thể tự bào chữa được.

Vì khi bạn xét đoán người khác,

mà bạn cũng làm như họ,

thì bạn tự kết án chính mình rồi.”

(Rm 2: 1-2)

Dẫn-chứng ở đây, đôi điều này, không phải để bảo nhau: ta đừng xét-đoán hoặc phê bình người nào khác, dù người ấy có là Công-giáo, Tin-Lành hay Do-thái-giáo. Mà là, hãy nhìn lại xem Đạo mình, người mình đặt nặng cuộc sống của chính mình vào điều gì, mà thôi.

Dẫn-chứng hay không chứng-thực vào làm chứng gì đi nữa, cũng chỉ để tôi và bạn, ta mời nhau đi vào một hành-trình sống đạo trong đó có những đòi hỏi khá gắt gao của cả một đạo-giáo chung đụng với mọi người ở thế-trần. Đòi hỏi ấy không gì ngoài chuyện thương yêu và tha thứ.

Để minh-hoạ cho đòi hỏi cốt-lõi của Đạo Chúa hay đạo từ-bi làm người, cũng nên mời nhau đi vào vùng trời truyện kể để dẫn chứng cho điều mình cần suy-tư thực-hiện trong cuộc sống rất đời thường. Truyện kể bao giờ cũng nhè nhẹ đi vào tâm-can của mỗi người và mọi, như sau:

“Một hôm, một cậu học sinh 14 tuổi đang trên đường trở về nhà sau giờ tan học thì nhìn thấy bên trong hiệu sách ven đường có một cuốn sách mà cậu rất yêu thích nhưng trên người cậu lại không mang đủ tiền để mua cuốn sách đó. Thế là, cậu liều đem cuốn sách giấu vào trong ngực, không ngờ bị ông chủ hiệu sách bắt gặp.

 Ông chủ bực tức đưa ngay cậu bé vào trong một căn phòng kín. Sau đó, gọi mấy nhân viên bảo vệ tới và xét hỏi. Cậu bé sợ hãi, nước mắt giàn rụa chảy đầy khuôn mặt. Một lát sau, họ hỏi cậu bé số điện thoại của gia đình, bố mẹ và gọi điện tới thông báo cho gia đình.

 Chỉ ít phút sau, cha của cậu bé chạy tới. Cậu cúi đầu im lặng và chờ đợi sự trách phạt từ cha.

 “Tôi nghĩ, đây nhất định là một sự hiểu lầm!” Người cha nói: “Bởi vì tôi rất hiểu con trai mình. Cháu là một cậu bé hiểu chuyện. Nhất định đây là cuốn sách mà cháu rất yêu thích, nhưng lại không mang đủ tiền để mua nó cho nên mới làm như vậy. Ông xem như thế này có được không nhé, tôi sẽ trả số tiền gấp 3 lần để mua cuốn sách kia và chuyện này coi như xong!”

 Sau đó, người cha lấy ra đủ số tiền trả cho chủ hiệu sách. Cậu bé sợ hãi và lấm lét nhìn cha, người cha cũng nhìn con trai nhưng trong ánh mắt ấy không hề có sự trách mắng mà chỉ có chan chứa yêu thương…

 Hai cha con cậu bé rời khỏi hiệu sách, người cha dừng bước rồi nâng khuôn mặt đầy xấu hổ và cảm động của con trai lên rồi nói: “Con trai! Cả đời này con nhất định sẽ phạm phải không nhiều thì ít lỗi lầm. Hãy tiếp thu rồi quên nó đi! Đừng để nó lưu lại bóng mờ trong lòng con, hãy cố gắng học tập và sống chỉ cần lần sau đừng phạm lại tội lỗi ấy nữa thì con vẫn là một người con khiến cha mẹ kiêu hãnh, tự hào!”

 Nói xong lời này, người cha liền đặt cuốn sách vào tay con trai. Cậu bé không nhịn được liền oà khóc và sà vào lòng cha. Hãy cố gắng giữ bình tĩnh, đừng đánh mắng khi trẻ phạm lỗi. Bởi vì như vậy sẽ dễ dàng gây ra cho trẻ một tâm lý oán hận. Nếu có thể dùng nhiều hơn một chút tha thứ và giảm đi một chút trách mắng thì đó chính là cách xử sự của bậc cha mẹ có trí tuệ.” (Theo NTDTV / ĐKNMai Trà biên dịch)

            Phiếm-luận hôm nay và mai ngày, bao giờ cũng là thời-khắc để bạn và để tôi, ta thư-giãn lắng đọng lòng mình vào với những giây phút kể lể cho nhau đôi ba ý-tưởng làm nền cho cuộc sống rất thường-tình, ở đời.

Phiếm và luận, lúc nào và bao giờ cũng chỉ gồm những kể và kể. Kể cho nhiều, cho hay đó mới là mục-tiêu và là cung-cách để tôi và bạn, ta cùng nhau khuyến-khích mọi người đi vào cuộc sống tuy ồn-ào, náo-động, nhưng rất vui. Vui với người và với mình, suốt mọi ngày trong đời. Ở chợ đời.

            Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn cứ kể hoài kể mãi

            Câu chuyện phiếm rất Đạo

            ở trong đời.

            Với mọi người.

Đêm nay xuống một bài thơ trắng,

Suy Tư Tin Mừng tuần sau lễ Hiển Linh năm C 03/01/2016

 Tin Mừng (Mt 2: 1-12)

Đức Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem, và hỏi:

 “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.”

Nghe tin ấy, vua Hêrôđê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao. Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời:

“Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: “Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời.”

Bấy giờ vua Hêrôđê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn rằng:

“Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.”

Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.

*   *   *

“Đêm nay xuống một bài thơ trắng,”

Cầu nguyện cho đời, nở ái ân”

(Dẫn từ thơ Vũ Hoàng Chương)

Mai Tá lược dịch.

Thơ trắng lâu rồi đã giáng hạ, xuống với đêm đen. Nhưng, đêm đen cuộc đời nào mấy ai nhận ra thơ. Thơ cuộc đời. Thơ trong Đạo. Thơ của Đức Chúa vẫn hiển hiện với dân con, ngày lễ hội. Vẫn cứ hỏi rằng: con dân nhà Đạo đã mấy ai nhận ra Thơ Trắng, ngày Chúa Hiển Linh?

Từ lâu, nhiều nhà khoa-học trong Đạo cảm-nhận được Thơ Trắng, đã cố gắng giải-thích hiện-tượng “vì sao lạ” trong Tin Mừng. “Vì sao lạ” tuyệt-vời ấy, đã dẫn dắt 3 đạo-sĩ phương Đông đến Bêlem thờ lạy Chúa Hài Nhi. Là, nhà khoa-học Đạo Chúa, các nhân-sĩ ấy muốn đem đến cho chúng dân một học-thuyết nền-tảng nhằm giãi bày với mọi người, rằng: vì sao tuyệt-vời, xuất-hiện cùng ngày Đức Chúa giáng-trần, là vì sao rực sáng, rất thiên-văn.

Dù có thuần-phục về phương-pháp các nhân-sĩ khoa-học sử-dụng, tôi vẫn luôn tự hỏi: làm sao các cụ cứ mải bận tâm chuyện trăng sao mây nước, như thế nhỉ? “Vì sao lạ”, nói ở Tin Mừng đâu có mang ý-nghĩa của một thiên-văn, rất thực-nghiệm? Thánh Mát-thêu chỉ muốn viết về nền thần-học tu-đức nhằm chứng-tỏ rằng: thiên-đường trời cao vẫn ở trên. Chốn trời cao bên trên ấy, đã dẫn đường chỉ lối cho dân con trần-thế bằng các biến-cố rất hiện-thực. Những biến-cố gần gũi với người trần-gian. Còn, sao lạ trên trời vẫn là Thơ trắng hiển-hiện với người trần-gian, đã từ lâu.

Nghiên-cứu kỹ, ta hẳn sẽ thấy: ảnh-hưởng của trăng sao, tinh-tú vẫn xuất-hiện đậm nét trong các trình-thuật Cựu-Ước, như: sách Đệ Nhị Luật, Dân số, Tiên-tri Ysaya và Thánh-vịnh. Toàn-bộ trình-thuật về lễ-hội Hiển-Linh đã mang tính-chất biểu-tưởng, tuyệt-nhiên không dính-dự về khoa-học.

Truyện kể về “sao lạ dẫn đường” đã được sử-gia Hippolitus thuật ghi vào đầu thế-kỷ thứ 3, khi nguồn sử thánh-thiêng vẫn còn rất mới. Lúc ấy, sử-gia Hippolitus  cũng đã đề-cập đến con số 12 tròn-trịa cốt tính đúng ngày giờ xảy đến sau sự-kiện Chúa giáng trần. 12, là số liệu biểu-tượng vang vọng tính nhân-hiền của Thiên-Chúa, lúc Ngài tạo-dựng các chi-tộc thuộc giòng họ Israel .

Và, 12 cũng là số-liệu thần-thiêng được Thầy Chí Thánh sử-dụng để gầy nhóm môn-đồ đại-diện, do Ngài chọn.

Cụ thể hơn, truyện kể về “sao lạ dẫn đưa đạo sĩ ghé thăm Đấng Hài-Đồng” cũng rập khuôn ăn khớp với các ảnh-hình được thánh Mát-thêu đề cập ở những chương kế tiếp. Ở ba chương đầu, thánh Mát-thêu cho thấy hiện-tượng kỳ lạ thường xảy đến, rất miên-trường nơi chương đầu, ta thấy thánh Giuse nhận thông-điệp sứ-thần Chúa mang đến, trong giấc mộng lành. Chương hai, “Lời Thơ” viết về các đạo-sĩ theo vết sao tìm đến với Hài Nhi rất thánh, Đức Giêsu. Kịp đến chương ba, lại giải bày trời cao nay rộng mở. Và, Thiên-Chúa tỏ-bày thánh-ý của Ngài ngang qua việc thanh-tẩy Đức Kitô, Con của Ngài.

Nhìn từ góc cạnh chuẩn-mực cho bất kỳ sử-liệu nào, trình-thuật nay mở đầu cho linh-đạo về nhân-vật thần-thiêng, ít nghe đến. Nói cách khác, tiểu-sử về Đấng Nhân Hiền rất thánh ghi ở đây, cốt chứng-tỏ: sự Hiển-Linh thần thánh, qua đó Thiên-Chúa biểu-lộ vinh-quang của Ngài với thế-giới nhân-trần. Và, vinh-quang ấy nay thành hiện-thực.

Thế nên, hãy thử tìm-hiểu xem vinh-quang Đức Chúa tỏ bày cho những ai? Ở đâu? Khi nào?

Trường-hợp đầu, thánh Giuse là người được vinh-dự nhận-đón sứ-điệp từ Trên, trong giấc mộng lành. Thứ đến, là trường-hợp các nhà thiên-văn ngoài Đạo cũng được mặc-khải cho biết về sự Hiển-linh khác thường, ít khi thấy. Các nhà thiên-văn ở trên đã đại-diện cho nhân-gian trần-thế, chốn thân-quên.

Ở nơi này, thế-giới nối-kết với mọi thứ quyền-bính, vẫn hành-xử với trần-gian. Qua người ở chốn gian-trần, và ở đây quyền-năng phàm-trần được thể-hiện nơi Hêrôđê đã trở-thành sức mạnh đối đầu với vinh-quang Chúa Hiển-linh. Quyền-năng trần-thế lại còn ngăn-chặn tính nhân-hiền, biểu-hiện nơi hình-hài bé nhỏ Chúa Hài Đồng.

Cuối cùng, là trường-hợp đám dân con chân-chất Do-thái, tức các con dân được chọn đã biết tìm đến với vị hiền-nhân ngôn-sứ, thánh Gioan Tẩy Giả.

Ba chương Tin Mừng thánh Mát-thêu, vinh-quang Đức Chúa như vòng quay tròn trịa, đã công-khai hiển-hiện nơi bản thân Đức Kitô. Và, tính công-khai hiển-hiện ấy nay phổ-cập đã đến với nhiều người. Cũng từ đó, vinh-quang Hiển-linh rất thánh nơi Ngài đã biến-cải nhiều cuộc sống, nơi người phàm. Cụ thể là, cuộc sống của thánh Giuse, thái-độ của các đạo-sĩ chiêm-tinh và hoạt-động của thánh Gioan Tẩy Giả.

Còn hơn nữa, cả những người từng nghe lời Ngài giảng-dạy, bảo ban trong hành-trình cuộc sống nơi nhà Đạo. Tất cả đều nhất nhất không quay về với lề-lối sống xa xưa, như ngày trước.

Mà, Hiển-Linh tuyệt nhiên không là phó-bản của một hiện-tượng “Sao chổi”, vừa đổi ngôi. Hiển-linh, là lễ-hội rất thánh nhân đó, ta mừng kính vinh quang của Đức Chúa đã cải-biến cuộc sống, cải-biến tâm-can rất nhiều người.

Hiển-linh, là lễ hội tràn đầy cơ-hội giúp biến-cải cuộc sống của mọi người. Và, cảm-hóa tâm-can của mỗi người. Hiển-linh, còn là dịp giúp ta chấp-nhận mình sẽ phải chết đi cho chính mình. Chết, để không còn sơ-xuất lỗi phạm nữa. Chết vì Hiển-linh, giúp ta tái-sinh trong vinh-quang của Đức Chúa; để rồi, vinh-quang chói-ngời của Ngài sẽ bừng sáng lên mãi trong ta. Bừng sáng, ngay tại bản-chất và ngang qua cuộc sống của mọi người.

Cầu mong sao, lễ Hiển-linh hôm nay giúp ta nhớ lại ngày Đức Chúa tỏ lộ vinh-quang cao cả của Ngài cho ta. Tỏ lộ, không chỉ riêng cho mình ta mà thôi. Cầu mong sao, lễ Hiển-Linh còn là dịp nhắc nhở rằng: ta được mời gọi để ra đi loan báo cho mọi người biết rằng: chính vinh-quang Thiên-Chúa đang hiển-hiện một cách linh-hoạt với mọi người, nơi mỗi người.

Cầu mong cho ta có được quyết tâm ra đi loan-truyền vinh-quang ấy bằng niềm tin tưởng vào lễ-hội Hiển-linh. Loan-truyền niềm tin, bằng chính cuộc đời ta đang sống. Sống hiên-ngang, vui tươi trong tâm-thức kiến-tạo nên một thế-giới mới tràn-đầy vinh-quang rực-sáng những yêu-thương, cứu-độ đổ xuống với mọi người.

Lm Richard Leonard sj biên soạn

Mai Tá lược dịch.

Bức ảnh 2015 gây chấn động thế giới!

Bức ảnh 2015 gây chấn động thế giới!

Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J.

Bức-ảnh-2015-gây-chấn-động-thế-giới

Có lẽ tình hình chiến sự tại Syria trong năm 2015 được thế giới quan tâm nhiều nhất. Phía sau những làn đạn là hệ quả của biết bao đau thương mất mát. Dòng người tỵ nạn tháo chạy khỏi Syria ngày càng lớn. Tính đến cuối năm 2015, con số người di tản tị nạn tại các nước Châu Âu khoảng trên một triệu người. Đó là chưa kể đến hàng ngàn người phải bỏ xác giữa lòng đại dương. Trong đó, cả thế giới chấn động, mọi người bàng hoàng khi chứng kiến hình ảnh của em Aylan Kurdi, 3 tuổi người Syria, chết trôi vào bãi biển ở Bodrum, Thổ Nhĩ Kỳ hôm 2-9-2015.

Trước cảnh tượng em mặc áo đỏ, quần short tối màu, đi giày đen, nằm úp mặt lên cát, giống như đang ngủ, Nilufer Demir – một phóng viên – đã chụp tấm ảnh này. Ngay lập tức, tấm ảnh như biểu lộ một tiếng thét từ thi thể câm lặng của cậu bé vang đến toàn thế giới. Hôm sau, tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon đã lên tiếng kêu gọi các chính phủ ở châu Âu cần phải hành động ngay để giải quyết cuộc khủng hoảng người di cư. Rồi bất chấp sự phản đối của một số quốc gia châu Âu, thủ tướng Merkel vẫn đồng ý cho phép nhiều người tị nạn hơn vào Đức.

Tưởng cũng nên nhắc lại, trốn từ thành phố Kobani (Syria), gia đình em đã hòa cùng dòng người nhập cư để sang nước giáp ranh là Thổ Nhĩ Kỳ. Cha mẹ em mong muốn cuộc sống của gia đình em sẽ tươi vui an bình hơn khi tới vùng đất mới. Hy vọng tìm được sự đổi đời ở châu Âu là động lực để gia đình em và rất nhiều đồng bào của em vượt biên. Thế nhưng ước mơ ấy đã không thành! Trên chiếc thuyền định mệnh hôm ấy, tất cả đều bị nhấn chìm trong biển cả khiến 13 người thiệt mạng, trong đó có em, mẹ em và người anh 5 tuổi của em. Cha em may mắn thoát chết, nhưng ông mãi kinh hoàng vì: tất cả đã vụt khỏi tay ông!

Em là một trong vô số những nạn nhân của chiến tranh đang giày xéo quê hương Syria. Một bức ảnh khiến cả thế giới phải câm lặng! Bức ảnh cũng cho thấy thế nào là tội ác: bất công, chiến tranh, bạo tàn và vô tâm; thế nào là điều thiện: công bằng, hòa bình, hạnh phúc và tình người.

Bây giờ, em và rất nhiều đồng bào xấu số của em đã yên nghỉ. Cả thế giới khi nhìn bức ảnh của em, ai ai cũng thương tiếc và tiếp tục cầu nguyện cho linh hồn em và những nạn nhân trong cuộc chiến đau thương này. Hy vọng trong một ngày rất gần, đất nước của em sẽ thanh bình, đồng bào của em sẽ hưởng được cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Không còn chiến tranh, hận thù và tang tóc là điều ước em muốn gửi đến cho thế giới qua bức ảnh của em vốn gây chấn động đến cả thế giới, khiến mọi người phải bàng hoàng!

Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J.

THÁNH LỄ CUỐI CÙNG

THÁNH LỄ CUỐI CÙNG

Trích EPHATA 673

Sau thế chiến thứ hai, có một tài liệu được công bố ở Đức, mang tên Những Bức Thư Từ Stalingrad. Đây là những bức thư được chở trên chuyến phi cơ Đức cuối cùng rời thành phố Stalingrad. Khi phần thất bại đã chuyển hẳn về phía quân xâm lăng phátxít Đức, vì sợ nội dung các lá thư có thể làm suy giảm tinh thần ở hậu phương, nên Hitler đã ra lệnh tịch thu tất cả, nhưng chưa kịp đem hủy đi mà còn sót lại trong số các văn thư lưu trữ tại thủ đô Berlin.

Tác giả các lá thư đều là các binh lính Đức Quốc Xã đã hầu như tuyệt vọng, chỉ còn chờ chết hoặc bị hồng quân Liên Xô bắt làm tù binh. Họ cố gắng viết những giònG chữ cuối cùng cho thân quyến. Trong các lá thư đó, người ta đọc được một trang nhật ký của một Linh Mục tuyên úy người Đức mô tả quang cảnh Lễ Giáng Sinh năm ấy, một Lễ Giáng Sinh có lẽ là cuối cùng trong đời của những người dự lễ ngay tại chiến trường lửa và máu. Bức thư thuật lại như sau:

“Đêm trước Lễ Giáng Sinh, có 11 chiến hữu Công Giáo đã mừng ngày sinh Đức Giêsu trong một căn lều còn tương đối lành lặn. Thật không dễ gì mà tìm được một nhóm tín hữu đích thật như họ ở giữa những kẻ vô vọng của cuộc chiến. Họ được tôi liên lạc mời tới tham dự Thánh Lễ. Trên cõi địa cầu bao la này có rất nhiều bàn thờ, nhưng chắc hẳn không ở đâu lại có chiếc bàn thờ nghèo nàn hơn ở đây. Mới hôm qua, đó là một chiếc thùng đựng những viên đạn đại bác phòng không, thì hôm nay, tôi trải lên trên mặt thùng chiếc áo lót màu trắng còn sạch sẽ của một anh lính.

Tôi đọc một đoạn trích trong Tin Mừng theo Thánh Luca. Tôi cho họ rước Mình Máu Thánh Chúa dưới hình thức những mẩu bánh mì đen, là khẩu phần nhỏ bé và cuối cùng của họ trong ngày.

Tôi đã khẩn cầu cho họ được ơn tha thứ và đón nhận lượng từ bi của Thiên Chúa chúng ta. Họ ngồi trên những mảnh ván, mắt họ ngước nhìn tôi… Ngoài kia, bom đạn vẫn đang nổ rền…

Lm. BERNARD BRO, NIỀM CẬY TRÔNG BẤT CHẤP TUYỆT VỌNG
Bản dịch của cụ Antôn Lê Văn Lộc ( + 1988 )

BUỒN VUI LỄ GIÁNG SINH

BUỒN VUI LỄ GIÁNG SINH

Lm. QUANG UY, DCCT,

Tri’ch EPHATA 673

Lễ Giáng Sinh vừa xong, anh em Linh Mục chúng tôi đi hỗ trợ Mục Vụ các nơi vùng sâu vùng xa đã trở về lại Nhà Dòng. Có bao nhiêu chuyện để kể cho nhau nghe. Ai cũng xúc động trước Lòng Tin mạnh mẽ và tinh thần sống Đạo nhiệt thành của người dân nghèo, đặc biệt là anh chị em các dân tộc thiểu số trên Tây Nguyên các tỉnh Bình Phước, Lâm Đồng, Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai, Kontum… Họ gặp bao nhiêu khó khăn về vật chất, bao nhiêu o ép của xã hội, nhưng càng vất vả, họ càng gắn bó với Chúa, với Hội Thánh và với nhau trong cộng đồng.

Có một điểm chung mà anh em Linh Mục chúng tôi cùng tỏ ra bất bình khó chịu, cần phải một lần viết ra như một lời cảnh báo, cũng là một lời kêu gọi đồng tình của mọi người. Đó là những chuyện về những vị khách thiếu văn hóa trong Ngày Lễ Giáng Sinh.

Hình như chuyện này bắt đầu có từ ngày người Công Giáo phải sống dưới chế độ XHCN, chứ trước 54 ở miền Bắc và trước 75 ở miền Nam, làm gì có chuyện chính quyền được săn đón tiếp rước, đưa vào ngồi chễm chệ trong Nhà Thờ ngay ở những hàng ghế đầu tiên được dành riêng. Trước khi vào Lễ còn được mời phát biểu “mấy ý kiến chỉ đạo”, sau Lễ lại được mời sang… ăn nhậu tưng bừng khói lửa riêng mấy mâm đặc sản !

Thế đấy, bên kia thì bảo rằng có như vậy mới diễn tả được lòng ưu ái, sự quan tâm của Mặt Trận, của Chính Quyền các cấp đối với hoạt động tôn giáo, nhờ đó càng cho thấy chính sách Tự Do Tín Ngưỡng của Đảng và Nhà Nước dành cho các tín đồ thật quá ư là tuyệt vời ! Còn bên mình thì biện hộ rằng đây là một khía cạnh trong việc đối thoại để có thể… truyền giáo cho lương dân ( ?!? ), cho người vô thần có dịp được vào Nhà Thờ xem hoạt cảnh Giáng Sinh, họ sẽ hiểu đạo mình hơn, thấy được người đạo mình cởi mở, đối thoại, đoàn kết và… dễ thương !

Có cái hậu ý phía sau cả hai bên đều thấy hết, hiểu hết mà không bao giờ nói ra, ấy là nhu cầu… nhậu nhẹt cho vui, cho ra vẻ tốt Đời đẹp Đạo. Cán bộ thế nào cũng vòi vĩnh cha xứ để được nhậu bằng rượu Lễ cho nó sướng, dù ngay sau đó lại vừa chê vừa khen là: “Rượu thế quái gì mà ngọt như đường phèn, chỉ được tội thơm phức !” Còn Linh Mục thì nói nhỏ vào tai những người tỏ ý thắc mắc: “Cho họ nhậu một chầu là vui vẻ cả làng, là xong mọi chuyện. Có đáng gì đâu, miễn là được việc. Đấy các ông xem, Lễ Giáng Sinh ở đây hoành tráng nhá, tha hồ văn nghệ, phát quà…”

Tôi còn nhớ, Giáng Sinh năm 1997, tôi còn là ông thầy về thực tập Mục Vụ ở một Họ Đạo nhà quê tỉnh Đồng Tháp. Trước Lễ nửa đêm, có hoạt cảnh do các em Tông Đồ Thiếu Nhi đảm nhận. Mấy ông cán bộ Đảng, Công An, Du Kích, Mặt Trận ngồi đầy hai băng ghế trên cùng. Ai cũng lơ láo nghênh ngang, ngồi vắt chân gác tay rất… thiếu văn hóa, chẳng ý thức mình đang ở một nơi tôn nghiêm, giữa các tín hữu rất trật tự và sốt sắng.

Lại có một anh tỉnh bơ lấy thuốc lá ra phì phèo. Mọi người chung quanh ai cũng thấy nhưng giả lơ coi như không thấy. Tôi là dân ở Sàigòn về, bực quá chịu không nổi, tiến lại gần bảo thẳng: “Anh ơi, nếu anh muốn hút thuốc, xin mời ra ngoài sân !” Tôi nhận lại một ánh mắt trừng trừng, vừa ngạc nhiên rằng thì là: Ơ hay, tên này là ai mà dám ý kiến ý cò ? lại vừa tức giận, ra cái điều: Ta là cán bộ, hét ra lửa, xì ra khói đây ! Nhưng cuối cùng có lẽ ánh mắt của tôi cũng vẫn kiên quyết đủ để khuất phục, anh cán bộ ấy đành phải – lại thêm một hành vi thiếu văn hóa khác – bỏ mẩu thuốc xuống nền gạch Nhà Thờ, dùng mũi dép hậm hực giập tắt.

Xong lần đó, tôi nghiệm ra một chuyện quan trọng: Đừng để cái sợ nó làm cho ta đâm… hèn ! Đối với những người thiếu tôn trọng người khác, trước hết ta phải giúp cho họ biết tự trọng. Nếu ta chưa thể làm được điều ấy cho họ và nếu họ cứ dứt khoát không chịu tự trọng thì tốt hơn hết ta… dẹp họ sang một bên cho khỏe, chứ sao lại cứ phải o bế, xun xoe, cầu cạnh và quỵ lụy trước cường quyền ? Ta cũng phải biết tự trọng chứ ! Nhiều Tín Hữu mách cho tôi nghe, đám cán bộ được nhậu xong ở Nhà Xứ, ra về còn văng tục với nhau… Mấy hôm sau cha xứ có việc phải ra xã, ra huyện, cán bộ xàm xỡ xoa lưng vỗ vai mà chớt nhả. Thử hỏi, trong cánh con chiên bổn đạo, có tay bặm trợn nào dám cả gan “láo lếu” với cha xứ như thế không ?

Lần Giáng Sinh vừa rồi, một cha đi Tây Nguyên về, giận dữ kể cho tôi nghe: “Anh xem, trong khi cả một đám rất đông người dân tộc với tấm lòng thành tín tuyệt vời đang phải nhịn đói đi bộ từ xa về dự Lễ, thì cán bộ xã lại được cha xứ mời ăn nhậu hả hê linh đình. Em đã tránh đi một nơi cho đỡ chướng tai gai mắt, ông cha ấy còn bảo một anh dân tộc vào mời em ra nhậu chung cho vui, em bảo thẳng: Em không biết nhậu, không quen, cũng không thích như thế nên dứt khoát không ra !”

Kể ra, làm Linh Mục mà nhậu nhẹt đã là chuyện không hay, lại còn la cà lệt bệt nhậu nhẹt với Công An, với cán bộ Xã thì càng coi không được, gây cớ vấp phạm vô cùng, thậm chí là phản chứng Tin Mừng. Chẳng trách các Đại Chủng Viện và các Học Viện Dòng bây giờ nhấn rất mạnh đến chuyện nhậu nhẹt như một kỷ luật cần thiết trong việc đào tạo các Giáo Sĩ tương lai.

Phần riêng tôi, năm nay tôi được dịp đi Mục Vụ tận tỉnh Đăk Lăk. Tạ ơn Chúa, khi về lại Sàigòn đêm 25 tháng 12, tôi không có điều gì phải bực mình, ngược lại, có bao điều để khoe với anh em. Tôi xin kể ra đây như là những mẩu chuyện vui bù lại những chuyện không vui nói trên, những tia sáng cao đẹp có khả năng đẩy lui bóng tối xấu xí tầm thường.

Cha xứ của Đăk Lăk còn trẻ lắm, người thấp bé, khuôn mặt thông minh, tươi tỉnh và hiền hòa, lại còn đẹp trai nữa chứ ! Cha gần gũi thương yêu đám đông hàng chục ngàn người dân tộc Sêđan của cha, họ nghèo tả tơi, cứ phải đói ăn thiếu mặc mà vẫn khao khát tình Chúa và tình người.

Đêm Vọng Giáng Sinh 24 tháng 12, khi đi kiệu Hài Nhi Giêsu quanh Nhà Thờ, trời đêm mưa bụi lất phất, gió rét căm căm, tôi được mời làm chủ tế đi ngay sau lưng cha, cứ thấy cha không ngớt quay sang hai bên bảo các bà mẹ dân tộc đang địu con sơ sinh vào tìm chỗ mà đứng dưới mái tôn cạnh hông Nhà Thờ cho đỡ ướt đỡ lạnh.

Đến cuối Thánh Lễ, thật bất ngờ, cha xứ dõng dạc dặn dò cộng đoàn: “Ngày mai 25 tháng 12 là Lễ lớn của Đạo chúng ta, là ngày kiêng việc xác. Tôi đã dặn trước rồi, bây giờ tôi dặn lại anh chị em: ai có con em đi học, cứ làm đơn nộp ở trường, rồi cứ cho các em nghỉ học ở nhà để còn đi dự Thánh Lễ dành cho thiếu nhi. Ai hỏi gì, cứ nói là cha xứ bảo… Riêng các anh chị em là giáo viên, xin chịu khó đi dạy, chu toàn nhiệm vụ, vì các cháu học sinh không có đạo thì vẫn đi học như thường”.

Sáng hôm sau, khi dâng Thánh Lễ một mình trong buôn xong, trở ra hương lộ, xe chúng tôi gặp xe cha xứ đi làm Lễ ở một Giáo Điểm khác vừa về, các bạn trẻ Nhóm FIAT đi theo tôi đã vỗ tay reo hò hoan hô cha về mọi sự, trong đó có chuyện thông báo độc đáo nói trên. Tôi kể với cha rằng trên đường xe ngang qua mấy ngôi trường tiểu học và trung học, đúng lúc ra chơi mà sân trường vắng hoe.

Tôi lại hỏi thăm cha là Giáo Phận Buôn Ma Thuột đã ra quyết định này từ bao giờ, sao không thấy trên mạng đưa tin, cha xứ cười thật… xinh: “Thưa cha, không biết nơi khác thế nào, chứ ở đây, con tự nghĩ ra và thông báo luôn cho bà con như thế cha ạ !” Cả xe lại được một chầu vỗ tay cực kỳ hết ý !

Vậy đó, tôi thiết nghĩ trước khi đặt vấn đề tôn giáo tín ngưỡng, chúng ta cần phải có được văn hóa xã hội như một cái nền bên dưới, từ đó mới tạo dựng nên những mối tương quan con người với nhau, một tương quan thật lòng, tốt lành và đẹp đẽ ( chân-thiện-mỹ ), rồi Đức Tin sẽ cứ thế mà nẩy mầm, Tin Mừng sẽ cứ thế mà được công bố như Quà Tặng vô giá cho nhau… Thiếu văn hóa làm nền tảng tối thiểu, tất cả các tương quan Đạo – Đời bên trên nó cứ… giả giả thế nào ấy, đâm ra sượng sùng và vô duyên !

Lm. QUANG UY, DCCT, 2008 – 2015

Đêm Thánh Vô Cùng

Đêm Thánh Vô Cùng

Cát Linh, phóng viên RFA
2015-12-25

Đêm Giáng Sinh

Đêm Giáng Sinh

Photo Cát Linh/RFA

<

Cát Linh và toàn ban Việt ngữ đài Á châu tự do xin dành tạp chí ngày hôm nay để gửi đến quí vị những ca khúc bất hủ của mùa Giáng Sinh. Kính chúc quí vị một mùa Noel an bình và hạnh phúc.

“Một mùa giáng sinh an lành và một mùa tuyết ôm cây cành

Một trời trắng bao la tình một nỗi sống vui hồi sinh

Mừng ngày Chúa sinh ra đời người người đó đây tươi cười

Và người sẽ không buồn nữa ta mong giáng sinh như mong ơn lành…”

Cứ như một lời hẹn hò đã được giao ước trước, sau ngày lễ Tạ Ơn, khi những giai điệu rộn rã này vang lên cùng với đợt không khí lạnh ùa về trong băng tuyết, thì người ta biết rằng, mùa lễ hội cuối cùng trong năm đã đến, mùa chúc tụng, mùa ban phước ơn lành, mùa của những bài thánh ca, của Đêm Thánh vô cùng.

“Đêm thánh vô cùng

Giây phút tưng bừng

Đất với trời se chữ Đồng

Đêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ…” (Đêm thánh vô cùng)

Cũng chính từ bài hát này, mà sau đó, một giai điệu sâu lắng trầm buồn được ra đời vào năm 1972, trở thành một trong những ca khúc nổi tiếng về Giáng Sinh của nền âm nhạc Việt Nam. Đó là Bài Thánh ca buồn, của nhạc sĩ Nguyễn Vũ.

“Bài thánh ca đó còn nhớ không em

Noel năm nào chúng mình có nhau

Long lanh sao trời đẹp thêm môi mắt

Áo trắng em bay tựa cánh thiên thần

Đẹp môi hôn dưới tháp chuông ngân…” (Bài thánh ca buồn)

Giai điệu buồn bã cùng với ca từ lại nói lên tâm trạng hoài niệm, ray rứt về một cuộc tình đã rất xa. Cho nên tuy là nhạc có chủ đề Giáng Sinh, nhưng nhạc phẩm này lại chất chứa nhiều những tục luỵ của trần thế. Cũng có giáo đường, cũng có thánh ca, cũng có tiếng chuông ngân, nhưng bao trùm lên đó là một tình yêu dưới thế. Và có vẻ như bài ca này dành riêng cho những ai có hoài niệm về một tình yêu đã có và đã mất trong đêm Giáng Sinh lạnh giá.

Đêm Thánh Vô Cùng

Đêm Thánh Vô Cùng ( Thánh đường La vang Quảng Trị mùa hè đỏ lửa 1972)

Giáng Sinh là tên gọi có nguồn gốc từ tiếng Latinh, chữ Natalis, có nghĩa là “ngày sinh ra đời”. Theo nhiều tài liệu của người Kito giáo, một thế kỷ trước kỷ nguyên Thiên Chúa, đã có một buổi lễ được tổ chức vào ngày 25 tháng 12, gọi là lễ tôn thờ Mirthra, vị thần ánh sáng của người Ba Tư. Cho đến thế kỷ thứ II, tại La Mã, giáo hội Thiên Chúa đã chọn ngày 25 tháng 12 làm ngày sinh của Chúa Jesus. Những tín hữu Kito giáo tin là Chúa Jesus được sinh ra tại Bethlehem thuộc xứ Judea của nước Do Thái.

“Đêm đông, lạnh lẽo Chúa sinh ra đời
Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa.
Trong hang Bêlem, ánh sáng tỏa lan tưng bừng
Nghe trên không trung tiếng hát thiên thần vang lừng

Đàn hát, réo rắt tiếng hát, xướng ca, dư âm vang xa.
Đây Chúa thiên tòa giáng sinh vì ta.
Người hỡi, hãy kịp bước tới, đến xem, nơi hang Bêlem
Ôi Chúa giáng sinh khó khăn thấp hèn…”(Hang Belem)

Nếu tính đến năm nay thì ca khúc Hang Belem đã tròn 70 tuổi kể từ khi nhạc sư Hải Linh sáng tác đúng vào mùa Giáng Sinh năm 1945. Từ đó đến nay, ca khúc bất hủ này luôn vang lên trong những đêm thánh, như ngọn lửa sưởi ấm thắp sáng lòng tin của những con chiên ngoan đạo vào Thiên Chúa. Nhưng nào có phải chỉ thế thôi, có những người ngoại đạo, vẫn lắng nghe và tìm đến “Hang Belem” như tìm đến niềm tin vĩnh cữu trong cõi trần thế.

Kể từ thời Phục hưng cho đến sau này, ngày Lễ Giáng Sinh đã không còn chỉ là của riêng những người Thiên chúa giáo. Giáng sinh đã trở thành ngày lễ quốc tế, ngày lễ của gia đình. Mọi người thuộc các thế hệ tề tựu về bên cạnh nhau, thể hiện tình yêu thương cho nhau theo cách của họ. Trẻ con sẽ là những thiên thần lên ngôi trong mùa lễ hội này. Những thiên thần ấy sẽ đi vào giấc ngủ cùng với hình ảnh ông già tuyết leo vào từ ống khói, đặt vào trong chiếc vớ len màu đỏ món quà mà chúng mong đợi nhất và hát vang bài hát vui tươi Jingle Bells, một thông điệp của mùa lễ Giáng sinh.

Hang Belem

Hang Belem

Rất thú vị là ca khúc nổi tiếng này có tên gọi ban đầu là One Horse Open Sleigh, được sáng tác năm 1840 dành cho ngày lễ Tạ Ơn. Nhưng sau đó, đã trở thành ca khúc chủ đề Giáng Sinh nổi tiếng nhất và có ảnh hưởng rộng lớn nhất. Jingle bell đã được dịch ra hằng trăm ngôn ngữ trên thế giới, trong đó có tiếng Việt là ca khúc Chuông vang vang do nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện dịch lời.

“Chuông vang vang, chuông vang vang
Chuông giáo đường ấm cúng
Chuông thanh thanh, chuông thanh thanh
Tiếng dây chuông chạy nhanh.

Chuông ngân ngân, chuông ngân ngân
Chuông giáo đường ấm cúng
Chuông thanh thanh, chuông thanh thanh
Ôi tiếng chuông trong tim mình…”(Chuông vang vang)

Thế giới có Jingle Bell rộn rã vang lên khi mùa Giáng Sinh về, thì Việt Nam chào đón mùa lễ hội này với những giai điệu du dương, nhẹ nhàng như chính dòng chảy của dân tộc,

“Cao cung lên khúc nhạc thiên thần Chúa

Hoà trong làn gió nhè nhẹ vấn vương

Ôi linh thiêng lắng nghe thoang thoảng cung đàn

Một đêm khuya vang vẳng trong tuyết sương.

Đàn ơi cứ rung những điệu réo rắt

Hát khen con một Chúa Trời, rày sinh xuống cõi đời

Hỡi người dương thế lặng nghe cung đàn

Mau tìm cho tới thờ kính vua giáng trần…” (Cao cung lên)

Cao Cung Lên, tác phẩm đầu tiên của nhạc sỹ Hoài Đức tức Linh Mục Giuse Lê Đức Triệu và Linh mục Nguyễn Khắc Xuyên sáng tác năm 1945. Đây là bài hát được được coi là một trong những bài Thánh ca Giáng sinh bất hủ của Việt Nam.

Có lẽ do người sáng tác là một linh mục, cho nên từng nốt nhạc trầm bổng của ca khúc này nghe như một bài thánh ca, ca từ và giai điệu trong vắt như dòng nước thánh. Tiếng  ngân vang vọng trong đêm khuya, đánh thức người dương thế, báo cho biết tin rằng Người đã xuống cõi đời, này thế nhân hãy cùng tôn kính, cùng hoà vào đêm thánh để đón nhận ơn lành.

Đất nước và dân tộc Việt Nam đã trải qua biết bao mùa Giáng Sinh trong chinh chiến. Cho đến tận bây giờ, cứ mỗi mùa Noel về, người ta vẫn còn gửi cho nhau những tấm ảnh của người lính chiến, quỳ bên những thánh đường đổ nát. Những tấm ảnh qua bao năm tháng vẫn còn vang vọng tiếng nguyện cầu bình an, cầu xin cho quê hương ngừng tiếng súng.

“Có ai về miền quê lửa khói cho tôi nhắn vài câu.

Cách xa lâu rồi không biết em còn giận hờn anh nữa thôi.

Chuyện ngày xưa hai đứa thương nhau trong đêm nhiều sao sáng.

Dưới lầu chuông anh khắc tên nhau chung trong lời khấn xin chan chứa niềm tin…” (Bóng nhỏ giáo đường)

Bóng nhỏ giáo đường của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông luôn được nhắc đến mỗi khi tiết trời trở lạnh cuối năm, báo hiệu mùa Giáng Sinh đang về. Tác giả là một người lính, nên hơn ai hết, ông hiểu rõ cảm giác lạnh lẽo, cô đơn của người lính trận xa nhà trong đêm thánh. Tình yêu Thiên chúa và tình yêu trong thời chiến được khắc sâu trong ngôi giáo đường đổ nát.

Mỗi chúng ta ai cũng có những kỷ niệm rất riêng của mỗi mùa Giáng Sinh. Dù vui, hay buồn, dù là người ngoại đạo hay là con chiên của Chúa thì đêm thánh mãi mãi là một đêm huyền diệu, lấp lánh muôn màu những ước mơ và niềm tin bất tử. Đêm thánh vô cùng!!!

Giáng Sinh: Chúa thấy dân Người trên trần gian!

Giáng Sinh: Chúa thấy dân Người trên trần gian!

Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J.

Đêm qua Noel về…dân Chúa đang hưởng một mùa Giáng Sinh an lành và thánh thiện. An lành vì ai ai cũng thanh thản tìm về nơi Hang đá, hòa mình trong bầu không khí mùa đông; và thánh thiện vì mỗi người nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa đang đến với cõi lòng mình. Một niềm hạnh phúc đến từ trời cao. Nơi ấy, Chúa thấy, đến và yêu dân của Người!

Từ thuở hồng hoang trên thiên quốc, Thiên Chúa đã thấy dân Người đang lầm than hư mất. Vì tình yêu và tín thành, Thiên Chúa đã hứa ban chính Con một của Người để cứu độ nhân trần. Đêm Giáng Sinh là lúc Người Con ấy được trao ban cho nhân loại. Hài Nhi được hạ sinh ra trong máng cỏ. Thiên Chúa đã đến viếng thăm dân Người. Chúa thấy, đến và cứu lấy dân Người trên trần gian. Nơi Chúa Giáng Sinh, khoảng cảnh trời đất không còn xa cách, dân với Người gần gũi nhau hơn. Từ đây, Người tái lập cảnh địa đàng cho con người chung phần hạnh phúc. Hóa ra, Hang đá là nơi giao duyên đất trời, hội ngộ dân Người để cùng cất cao tiếng hát:

Vinh danh Thiên Chúa trên trời,

Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.”

Vì thương nên Chúa thấy con người, thấy bạn và thấy tôi; vì xót nên Con Một hạ sinh nơi máng cỏ để chung chia kiếp người. Thiên Chúa có quyền chọn nơi xa hoa lộng lẫy cho Hài Nhi giáng sinh. Nhưng Chúa có những cách thế mà con người chẳng thể hiểu nổi! Chúa đến với dân Người trong âm thầm lặng lẽ, trong cảnh màn trời chiếu đất. Nơi đó chỉ dành cho những ai dám mở cửa nhà mình để đến với Hang Đá, để cúi xuống mà thờ lạy Con Một Đấng Tối Cao.

Thấy được ánh mắt của Hài Nhi Giêsu và đụng chạm được chính Ngôi Lời mặc lấy xác phàm là phần phúc dành cho con người. Bởi hồng phúc Giáng Sinh là ta được thấy Chúa đang hiện diện với dân người, trong bạn và trong tôi. Chúng ta có thể ẫm bồng Hài Nhi Giêsu trên đôi tay của mình, trong máng cỏ tâm hồn của ta. Người không còn xa lạ; Người đến nhà mình trên trần gian và ước mong những ai tin yêu Người thì được ơn giải thoát.

Mùa Noel sẽ qua đi, nhưng Chúa vẫn luôn thấy dân Người trên trần gian. Người không muốn xa cách con người. Chính tình yêu và lòng thương xót của Người cứ muốn hạ sinh trong lòng chúng ta. Để từ đó, chúng ta có thể thấy Thiên Chúa trên Nước Trời. Nơi đó, ta thấy Chúa và Chúa nhìn ta trong hạnh phúc chứa chan. Đó là khát khao và cùng đích của chúng ta; đó cũng là ước mong của Thiên Chúa, vì Người thấy dân trên trần gian cần được cứu độ!

Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, chúng con đã thấy Chúa đến ở giữa dân Người, ở trong lòng chúng con. Từ đây chúng con hy vọng nền hòa bình cho thế giới, niềm hạnh phúc cho người dân và tình thương sẽ phủ đầy mặt đất. Để trên trần gian, chúng con có thể thấy Chúa và Chúa thấy chúng con là những con người đang rất cần ơn cứu độ. Xin Chúa đến và ở lại trong chúng con bây giờ và lúc này!

Chúc mừng sinh nhật của Chúa Giêsu!

Giáng sinh 2015

Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J.

Ts Nguyễn Văn Tuấn: Bảy tội lỗi xã hội

Ts Nguyễn Văn Tuấn: Bảy tội lỗi xã hội

mahatma_gandhi

 Mahatma Gandhi là một chính khách vĩ đại, một nhà hiền triết của Ấn Độ, người được Liên hiệp quốc vinh danh thật sự (chứ không phải ông Hồ). Chẳng hiểu sao mỗi khi nghĩ về hiện tình của

đất nước làm tôi nhớ đến Gandhi, người đã từng cảnh báo thế giới về cái mà ông gọi là Bảy Tội Lỗi Xã Hội (Seven Social Sins) mà ông viết ra từ năm 1925, đúng 90 năm trước:

     1. Làm giàu mà không nhờ lao động (Wealth without work)

    2. Hưởng lạc thú mà không có lương tâm (Please without conscience)

    3. Có kiến thức mà không có nhân cách (Knowledge without character)

    4. Làm thương mại mà không có đạo đức (Business without morality/ethics)

     5. Khoa học mà không có nhân văn (Science without humanity)

     6. Có tôn giáo mà không thờ phượng (Religion without sacrifice)

     7. Làm chính trị mà không có nguyên tắc (Politics without principles)

 Chúng ta thử xem xét nhanh những tội lỗi này xem sao:

  1. Làm giàu không nhờ lao động

  Hiện nay, có một nhóm người làm giàu rất nhanh, không phải nhờ kinh doanh giỏi hay làm việc tốt, mà qua quan hệ và hậu duệ. Họ chỉ cần dùng mánh khoé để lôi kéo, “qui hoạch” nhân sự và thế là tạo ra tài sản. Một số thì làm giàu nhờ quan hệ nên tiếp cận được và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Một số khác thì làm ra tiền nhờ vào lợi dụng thông tin trong để thao túng thị trường chứng khoán. Một số khác thì làm giàu nhờ tham nhũng, chẳng cần tốn công lao động gì cả.

  1. Hưởng lạc thú mà không có lương tâm

Đây là những người ích kỉ, lúc nào cũng muốn hưởng lợi cho cá nhân mà không quan tâm đến phúc lợi của người khác. Đối với họ, câu hỏi đầu tiên là “Tôi làm cái này sẽ có lợi gì cho tôi, việc này có giúp tôi thăng tiến trong sự nghiệp, có làm cho tôi giàu thêm”, và quyết định hành động của họ cũng dựa trên câu hỏi đó. Họ không quan tâm đến người khác, không cần biết đến văn hoá “to give and to take”, không cần có trách nhiệm xã hội và chẳng biết đến hiến dâng là gì. Những người này rất nhiều ở VN.

      3.Có kiến thức mà không có nhân cách

Có ít kiến thức đã là một thiệt thòi, có khi là nguy hiểm, nhưng có nhiều kiến thức mà thiếu nhân cách thì còn nguy hiểm hơn. Chỉ học cho nhiều để có kiến thức mà không cần quan tâm

đến cái nội tâm, thì chẳng khác gì đưa một chiếc xe hơi thể thao cho một thiếu niên. Điều này cũng xảy ra trong thế giới khoa bảng, nơi mà người ta thường quan tâm đến sản sinh ra tri thức mới nhưng ít khi nào để ý đến khía cạnh nhân văn của tri thức. Ở VN, có nhiều người đi học để tiếp thu kiến thức không phải vì dấn thân xã hội, mà vì muốn ăn trên ngồi trốc. Họ hám danh chứ không phải ham học.

4.Làm thương mại mà không có đạo đức.

Ngay cả những nhà kinh tế học cổ điển cũng xem đạo đức là nền tảng của thành công trong kinh tế. Cách mà chúng ta đối xử với người khác trong tinh thần bác ái, phục vụ và cống hiến là nền tảng của kinh tế – xã hội. Nhưng ở VN hiện nay, các nhà quan sát cho rằng VN đang ở trong thời kì “chủ nghĩa tư bản man rợ, rừng rú”, chứ không phải “chủ nghĩa tư bản văn minh.” Những người nhận định như thế dựa trên quan sát rằng có những nhóm lợi ích tỏ ra tham lam vô độ, luôn luôn muốn thao túng kinh tế. Có người cho rằng các nhóm lợi ích, nhóm làm giàu bất chính đang tàn phá đất nước.

                   5.Khoa học mà không có nhân văn

  Kinh doanh mà không dựa trên nền tảng đạo đức xã hội và không xem trọng trách nhiệm xã hội là loại kinh doanh nguy hiểm. Tương tự, trong khoa học, tiêu chuẩn đạo đức và trách nhiệm cũng là một tiêu chí quan trọng. Một công trình nghiên cứu cho dù mang tính khả thi cao và có ý tưởng tốt, nhưng làm phương hại đến cộng đồng và xã hội vẫn không được đánh giá là đạt chuẩn mực. Chính vì bản chất đạo đức của khoa học, nhà khoa học còn phải có trách nhiệm với xã hội, vì nhà khoa học cũng chỉ là một thành viên trong xã hội, không thể nào đứng ngoài hay đứng cao hơn xã hội. Công trình tạo ra chủng virút mới của Tàu có thể đó là một thành tựu về kĩ thuật, nhưng không đạt tiêu chuẩn về đạo đức và trách nhiệm xã hội vì thành tựu đó chẳng đem lại phúc lợi gì cho xã hội hay giúp giảm sự đe dọa của một đại dịch. Ở VN, khoa học chưa phát triển, nhưng đây đó có nhiều người ta dùng khoa học để làm những chuyện thiếu đạo đức.

  1. Có tôn giáo mà không thờ phượng

Nhìn từ ngoài và từ xa, Việt Nam là một nước ngoan đạo, với số lượng chùa chiền và nhà thờ khá nhiều. Người ta đi lễ hội và đi chùa cũng rất nhiều. Nhưng nếu nhìn kĩ thì việc viếng chùa của họ không phải là vì thờ phượng, mà chủ yếu là mê tín, và hối lộ thần thánh. Có thể nói rất nhiều người đến chùa để cầu thần thánh ban cho chức tước và hanh thông trong sự nghiệp, chứ chẳng phải để thờ phượng và hiến dâng. Ngay cả những người trụ trì trong chùa chưa chắc là người tu hành thật, mà có thể đang đóng một vai diễn nào đó để phục vụ cho một thế lực đang chống lưng họ. Có thể nói rằng cái nền tảng tôn giáo ở VN đã bị xói mòn từ hơn 40 năm qua.

  1. Làm chính trị mà không có nguyên tắc.

Đối với Gandhi, những người ham quyền lực thường hành động bất chấp nguyên lí và chân lí. Những người cố vị (nhất định bám ghế) bằng mọi giá và mọi cách là những chính trị gia không có đạo đức. Những nguyên tắc trong chính trị mà Gandhi nghĩ đến bao gồm giúp người dân đi đến những lựa chọn sáng suốt, đối xử với dân một cách công bằng, giữ lời hứa và tuân thủ những gì đã đồng ý, không được nói dối và xuyên tạc, và tôn trọng nhân quyền. Ở VN, những người như thế này thật là … xưa nay hiếm. Đối chiếu lại thực tế những gì đang xảy ra, có thể nói là Việt Nam đang — không nhiều thì ít –phạm phải tất cả 7 tội lỗi này.

Một thiết chế xã hội tạo ra những con người làm giàu không nhờ lao động và bất chấp đạo đức, những người thích hưởng thụ trên sự đau khổ của đồng bào, những người bằng cấp đầy mình nhưng thiếu nhân cách, những người buôn bán và hối lộ thần thánh, những người cầm quyền mà chẳng quan tâm đến sự thật và lợi ích của xã hội và dân tộc. Bảy nhóm người này hay 7 cái tội lỗi xã hội này đang làm cho đất nước ta tiêu điều và khó sánh vai với các nước văn minh trên thế giới

Trích Tự Do Dân Bản

Hạnh phúc là gì?

Hạnh phúc luôn ở quanh ta, vấn đề là ta có biết thừa hưởng không mà thôi.

Hạnh phúc là gì?

“Hạnh phúc là biết mình thực sự cần gì và có được cái mình cần. Những cái bạn thực sự cần và bạn đang có có thể là những điều rất giản dị xung quanh bạn. Chẳng hạn một sớm mai thức dậy bạn thấy khỏe mạnh, có một bông hoa nở bên cửa sổ để ngắm, được ăn một bữa ăn ngon trong sự thân tình và ấm áp với những người thân, hay khi được uống một tách trà nóng với một người bạn tri kỷ và cùng nhau hàn huyên, tâm sự …..”

HANH PHUC1

Điều làm nên hạnh phúc không phải là chúng ta có bao nhiêu, mà là chúng ta vui sống bao nhiêu. ~ Charles Spurgeon

HANH PHUC2

 

Hãy hạnh phúc  chính giây phút hiện tại này. Giây phút này chính là cuộc đời bạn. ~ Omar Khayam

Thu & Mai, TX