Chế độ Hà Nội sợ các trang mạng ‘độc hại’

Chế độ Hà Nội sợ các trang mạng ‘độc hại’
Nguoi-viet.com
HÀ NỘI (NV) – Dù nỗ lực ngăn chặn, số trang mạng “lề trái,” mà chế độ Hà Nội gọi là “độc hại,” xuất hiện nhiều gấp hàng chục lần cái bị dẹp, làm điên đầu chế độ Hà Nội nhằm giữ quyền lực thông tin tuyên truyền một chiều.

Một số báo chính thống của đảng và nhà nước CSVN. (Hình: Internet)

“Cứ chặn một trang thì 10-20 trang khác lây lan, với giọng điệu ngày càng phản động. Đó là sự câu kết giữa trong và ngoài, giữa những người bất mãn, bất đồng chính kiến với những kẻ muốn xóa bỏ CNXH, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, làm cho tình hình đã phức tạp lại càng phức tạp,” ông thứ trưởng Bộ Thông Tin Truyền Thông của CSVN là Trương Minh Tuấn “thẳng thắn chỉ ra” tại “hội nghị tổng kết công tác 2015, triển khai kế hoạch 2016 của Bộ TT&TT” hôm Thứ Hai 28 tháng 12, 2015.

Cuộc họp này quy tụ những kẻ cầm đầu guồng máy kiểm soát thông tin tuyên truyền chính thống của chế độ Hà Nội nằm trong “khối thông tin” gồm Cục Báo Chí, Phát Thanh – Truyền Hình và Thông Tin Điện Tử, Thông Tin Đối Ngoại và vụ Thông Tin Cơ Sở của bộ nói trên, mà ông Tuấn kêu rằng “có nhiều thách thức đối với công tác quản lý báo chí, quản lý thông tin.”

Trong cuộc họp, ông Trương Minh Tuấn kêu rằng, “Chưa có năm nào mà hoạt động chống phá được tăng cường như năm 2015. Tác động từ bên ngoài đến nước ta cũng rất nhiều, có mặt lợi, có hạn chế và cả những nguy cơ tiềm ẩn.”

Ông này kêu rằng, “Nếu năm 2014-2015, ta chỉ phải chặn một số trang mạng xấu, độc hại, như chân dung quyền lực, dân làm báo, quan làm báo…, thì giờ đã có thêm hàng trăm trang như vậy. Cứ chặn một trang thì 10-20 trang khác lây lan, với giọng điệu ngày càng phản động…”

Khi chưa có hệ thống Internet toàn cầu, nhà cầm quyền CSVN độc quyền thông tin trên báo giấy, qua các đài truyền thanh và truyền hình. Người dân không thể kiểm chứng những thông tin đó đúng hay sai, thật hay giả được bao nhiêu phần. Kẻ cung cấp thông tin tha hồ vo tròn bóp béo. Nhưng càng ngày, sự phát triển của Internet và sự tiếp cận thông tin đa chiều của người dân tại Việt Nam càng ngày càng phổ biến, chế độ Hà Nội không còn giữ được thế độc quyền thông tin nữa.

Ông Hoàng Hữu Lượng, cục trưởng Cục (kiểm soát) báo chí của nhà cầm quyền CSVN dịp này cũng nhìn nhận rằng, “Cuộc cạnh tranh thông tin giữa báo chí với mạng xã hội cũng ngày càng trở lên quyết liệt. Báo chí (chính thống của nhà nước) không còn độc quyền về thông tin, người đọc có thể tiếp nhận thông tin từ rất nhiều nguồn mà không quan tâm nhiều đến tính chính thống, bài bản…”

Người dân tìm đến các trang mạng xã hội, thông tin trên Facebook, hơn là đọc tin từ các cơ quan truyền thông của nhà nước cung cấp dẫn đến hệ quả, “Người đọc giảm dẫn đến quảng cáo, phát hành của các cơ quan báo chí giảm. Các báo nhận ngân sách cũng đang khó khăn,” ông Lượng cho biết.

Theo lời ông Hoàng Hữu Lượng, vì độc giả tẩy chay báo chí chính thống của chế độ chỉ cung cấp thông tin một chiều, che đậy sự thật nên “các cơ quan báo chí, trong đó có cả báo in, báo trực tuyến và phát thanh truyền hình (chính thống) đó là tình trạng nợ lương, nợ nhuận bút, nợ nhà in đang xảy ra ở nhiều cơ quan báo chí.”

Để câu thêm độc giả, rất nhiều báo chính thống của chế độ đã khai thác các thứ tin tức, hình ảnh “cướp, giết, hiếp” rất tận tình, đặc biệt là các câu chuyện, hình ảnh kích thích tình dục.

Theo nhận xét của một độc giả ở Sài Gòn gửi cho đài BBC hồi năm ngoái, chỉ riêng về ngôn ngữ báo chí thì “Ngôn ngữ của báo mạng dần giống như truyện kiếm hiệp Kim Dung với “đuổi giết” thành “truy sát,” “cô gái,” “người đàn bà” nay thành “thiếu nữ,” “thiếu phụ,” “góa phụ,” con nhà giàu có giờ trở thành “thiếu gia,” “tiểu thư,” thậm chí nhiều báo còn dùng “nữ tiểu thư” (chắc để phân biệt với “nam tiểu thư”?) Ngoài “cưỡng dâm,” giờ đây người ta còn viết “cưỡng hôn,” ý nói hôn người khác mà không được cho phép.”

Theo Bộ Thông Tin-Truyền Thông Việt Nam, tính đến ngày 26 tháng 12, 2013, trên cả nước có 838 cơ quan báo in với 1,111 ấn phẩm, 70 báo điện tử, 19 tạp chí điện tử và 265 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí. Trong số hơn 800 tờ báo, số báo sống được nhờ lượng phát hành chỉ trên dưới 10 tờ, theo một số nhà báo trong nước.

Thỉnh thoảng, người ta thấy một vài tờ báo bị phạt tiền vì thông tin sai, một vài ký giả bị thu hồi thẻ nhà báo vì “đăng tin, bài có nội dung không phù hợp thuần phong mỹ tục Việt Nam và đăng tải tin, bài có nội dung mê tín, dị đoan” hay “tin, bài sử dụng câu từ phản cảm.” Nhưng những tin tuyên truyền vu khống những người tham gia đòi hỏi dân chủ, nhân quyền khi bị khiếu nại thì không bao giờ đăng tải và cũng không bao giờ bị phạt.

Ông Kim Quốc Hoa, tổng biên tập tờ Người Cao Tuổi, đã bị khởi tố hồi tháng 5, 2015, tờ báo bị đình bản chỉ vì tờ báo đăng tải rất nhiều bài viết vạch lưng tham nhũng trong guồng máy công quyền và đảng. Ông đã bị khởi tố theo điều 258 Bộ Luật Hình Sự “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà Nước…”

Hiện nay, luật báo chí sửa đổi đang được chế độ Hà Nội chuẩn bị cho thông qua vào kỳ họp cuối cùng của khóa họp Quốc Hội năm tới nhưng vẫn giữ độc quyền báo chí và không cho tư nhân làm báo. Làm sao chế độ Hà Nội có thể “lấy thúng úp voi” vẫn là dấu hỏi. (TN)

“Càn khôn bĩ rồi lại thái / Nhật nguyệt hối rồi lại minh” (Mênh mông thế sự 24)

“Càn khôn bĩ rồi lại thái / Nhật nguyệt hối rồi lại minh” (Mênh mông thế sự 24)

Tương Lai

Đó là quy luật vận động của thế giới, thế giới tự nhiên, thế giới con người mà Nguyễn Trãi đã vận dụng nhằm khẳng định bản lĩnh dân tộc trước những thách đố nghiệt ngã với niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của con người Việt Nam.

Càn Khôn là hai quẻ trong Kinh Dịch. cũng vậy, chỉ sự bế tắc, còn Thái là quẻ thứ 11, chỉ sự hanh thông. Từ điển Nho Phật Đạo do NXB Văn học ấn hành năm 2001 thì giải thích thêm: “quốc gia tốt đẹp hanh thông là nhờ vào sự hài hoà của vua tôi trăm họ” (tr.1317) sau khi đưa ra kiến giải “do Càn Khôn đại biểu cho hai lực lượng, tính chất, tác dụng và sự vật đối lập trong vũ trụ, vì vậy ý nghĩa tượng trưng của chúng là rất phong phú, vừa tượng trưng cho trời đất, vừa tượng trưng cho sự vật đối lập và thống nhất… cho nên nó thường được để gọi thay cho “thế giới”” (tr.141).

Nguyễn Trãi dẫn ra quy luật này để kết thúc cho áng “kim cổ hùng vănBình Ngô đại cáo viết năm 1428 sau khi đánh tan quân xâm lược nhà Minh để “Xa gần bá cáo, Ai nấy đều hay”. Nhắc lại quy luật chung muôn đời, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi không quên trang trọng nói đến truyền thống dân tộc được hun đúc từ khí thiêng sông núi mà ông cha ta bao đời gìn giữ: “Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu. Muôn thuở nền thái bình vững chắc. Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ”.

Mời gọi đến anh linh Nguyễn Trãi vào lúc này chính là viện dẫn đến những trang hào hùng và bi thương của lịch sử dân tộc mà ông là một chứng nhân sống động nhất để một lần nữa xác lập điểm quy chiếu trong đoán định chính tà, đạo đức và tài năng, những giá trị cốt lõi trong hệ thống giá trị đang bị xáo trộn và băng hoại. Điểm quy chiếu ấy không thể là gì khác lòng yêu nước, tinh thần quật khởi chống ngoại xâm, một hằng số của lịch sử Việt Nam. Đó là nhân tố tiên quyết và cũng là chỗ đến cuối cùng để nhìn nhận, đánh giá con người.

Điểm quy chiếu đó là gì nếu không phải là ý chí và cách ứng xử trước kẻ thù xâm lược để bảo vệ mảnh đất thiêng liêng được gọi là tổ quốc do ông cha bao đời gây dựng và bảo vệ. Điểm ứng xử đó là đặt tổ quốc lên trên hết và trước hết. Đức tài, chính tà, trung thành hay phản bội đều phải lấy đó làm điểm quy chiếu. Muốn vậy, phải đập vỡ bức tường của sự dối trá và lừa mị mà chúng ta đã tự nguyện xây nên để rồi tự giam cầm chính chúng ta trong sự lừa mị và dối trá đó. Đây là chuyện không hề đơn giản, nhưng nếu không có một bước chuyển động mang tính đột phá thì sẽ không có được bước thứ hai. Càng khó khăn bội phần khi đất nước ta ở vào cái vị thế địa-chính trị oái oăm, nằm sát nước láng giềng khổng lồ mà tất thảy mọi triều đại cai trị của nước khổng lồ này luôn nuôi mộng bành trướng, đồng hoá để biến các nước nhỏ láng giềng trở thành chư hầu. Tiến trình thực hiện tham vọng bành trướng này được biến hoá theo tình hình và tương quan lực lượng, song tính nhất quán của mưu đồ xâm lược và bành trướng thì không bao giờ thay đổi và ngày càng hung hăng hơn khi thế lực bành trướng được phình to ra. Càng nguy hiểm hơn khi chúng lại biết cách dùng thủ đoạn lừa mị, đưa ra cái chiêu bài “cùng chung ý thức hệ xã hội chủ nghĩa” để mua chuộc một nhúm những kẻ dám đặt Đảng lên trên Tổ quốc, đặt Hiến pháp dưới Cương lĩnh của Đảng. Chưa bao giờ mà nguy cơ trở thành chư hầu lại lửng lơ treo trên đầu dân tộc ta rõ như lúc này. Chính vì thế, phải tìm về với lịch sử, với truyền thống ông cha để khẳng định một cách thế sống, một lối ứng xử minh bạch và sòng phẳng với lương tâm, lương tri để không hổ thẹn với ông cha, hổ thẹn với thế giới.

Không phải là ngẫu nhiên mà khí phách của Trần Bình Trọng lại được cả dân tộc sùng kính và noi gương. “Ta thà làm ma nước Nam, không thèm làm vương đất Bắc” chính là sản phẩm của ý chí quật cường của dân tộc nhỏ bé ở phuơng Nam mà các triều đại Trung Hoa xách mé gọi là “Nam Man”. Chúng tự cho là nước “đứng giữa thiên hạ”, bốn chung quanh đều là (Đông) Di, (Tây) Địch, (Bắc) Nhung, (Nam) Man. Theo nhà nghiên cứu Dương Danh Dy thì trong bốn chữ Hán: Di, Địch, Nhung, Man nói trên, có tới 3 chữ có bộ thú, chỉ thú vật ở bên cạnh. Láo xược đến thế là cùng! Ấy vậy mà chính cái nước “nằm giữa thiên hạ” này đã từng bị thống trị bởi những chư hầu mà chúng đè đầu cưỡi cổ. Triều đại nhà Thanh, triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc, là một trong những ví dụ về nỗi nhục khó rửa của bành trướng Đại Hán.

Cũng cần phải nói thêm rằng, mối quan hệ giao hảo giữa các triều đại phong kiến Việt Nam với “thiên triều” luôn nằm trong thế bị chèn ép, ức hiếp từ nước lớn, chỉ tương đối dễ thở hơn tí chút là vào thời nhà Lý sau chiến thắng của Lý Thường Kiệt thế kỷ XI. Ấy là lúc Lý Thường Kiệt chủ trương “ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc” đập tan hậu cứ an toàn của chúng ở châu Ung, châu Khâm, châu Liêm sau 42 ngày vây hãm thành Ung Châu rồi rút quân về. Phạt Tống lộ bố văn được niêm yết khắp nơi, đẩy kẻ thù vào thế bị động, tạo ra thế chủ động phòng ngự của quân dân ta để rồi phản công tiêu diệt 50 vạn quân xâm lược nhà Tống.

Nói điều này là để hiểu thêm bản chất xâm lược của chủ nghĩa bành trướng Trung Hoa và bản lĩnh của ông cha chúng ta trong trường kỳ lịch sử lúc nhu lúc cương trong việc xử lý mối quan hệ với nước láng giềng luôn toan tính âm mưu bành trướng. Nhưng nhu hay cương đều phải thực hiện trên cái nền vững chắc của truyền thống bất khuất quật cường, dám vì tổ quốc mà hy sinh, quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Cái chết bi hùng của Trần Bình Trọng là biểu tượng sống động của tâm thế Việt Nam trong vị thế địa-chính trị oái oăm là vì ý nghĩa ấy. Không khẳng định cái tâm thế đó, không sao có đủ dũng khí và trí tuệ để tính đến chiến lược chiến thuật nhu hay cương, đánh hay đàm hoặc vừa đánh vừa đàm nhằm vận dụng nhuần nhuyễn phương châm “dùng yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều” xuyên suốt lịch sử Việt Nam, trở thành một điểm sáng trong học thuyết quân sự của ông cha truyền lại.

Cần nhớ rằng vào thời của Trần Bình Trọng ở thế kỷ XIII, dân số nước ta chưa đến 7 triệu người, (có sách nói là khoảng 3 hoặc 4 triệu), phải chống lại một kẻ thù xâm lược mà vó ngựa của chúng đã xéo nát bao thành trì từ Á sang Âu cho đến tận Hắc Hải. Nhà thơ đương thời người Armenia (1210-1290) V. Frik từng viết: “Không còn một dòng suối, một con sông nào không tràn đầy nước mắt chúng ta. Không còn một ngọn núi, một cánh đồng nào không bị quân Tartar giày xéo” (dẫn theo Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm, Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên-Mông thế kỷ XIII, nxb Khoa hộc Xã hội, Hà Nội, 1972, tr. 38). Đế quốc Nguyên Mông vào thế kỷ XIII-XIV chiếm một vùng lãnh thổ rộng lớn nhất trong lịch sử thế giới từ Đông Á sang đến Hắc Hải. Bóng đen Mông Cổ là nỗi ám ảnh khủng khiếp với châu Âu lúc bấy giờ. Vậy mà chúng dốc toàn lực quyết chinh phục cái nước nhỏ bé ở phương Nam này để mở đường xuống Đông Nam Á. Tổng cộng ba đợt xuất quân, đế quốc Nguyên-Mông huy động từ 60 vạn tới một triệu lượt quân, trong khi dân số Đại Việt khi ấy thì như vừa nói.

Thử hỏi nếu lúc ấy, thay vì khí phách Trần Bình Trọng, mà lại lởn vởn trong đầu những người nắm giữ vận mệnh quốc gia cái khẩu khí Nguyễn Phú Trọng ở thế kỷ XXI này: “Nếu để xảy ra đụng độ gì thì tình hình bây giờ bất ổn thế nào, chúng ta có ngồi đây mà bàn việc tổ chức đại hội Đảng được không” thì liệu có ai khắc hai chữ “Sát Thát” trên cánh tay, tạo nên cái hào khí “Đông A” của thời Trần, nhân tố quyết định chiến thắng kẻ thù, mở ra trang sử vẻ vang nhất trong lịch sử dân tộc ta?

Khẩu khí của Trọng bộc lộ khá rõ cái tầm tư duy cũng như trí tuệ, bản lĩnh của ông ta, điều này không gây ngạc nhiên mà chỉ là sự chán ngán quen thuộc ngày càng đậm đặc. Với một thái độ khiếp nhược được nuôi dưỡng trong cái tâm thế chư hầu hèn mọn sợ “xảy ra đụng độ”, thì không những chỉ “bất ổn thế nào”, chẳng những không còn chỗ để “ngồi đây bàn việc tổ chức đại hội Đảng”, mà cái đầu của cả lũ đã mọc đuôi sam để chỉ còn lựa cách ứng xử như Thượng vị Văn Chiêu hầu Trần Lộng, Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, hoặc thái uý Trần Nhật Hiệu, em ruột vua! Toàn các đại thần đầy ắp ơn vua lộc nước thời buổi ấy chắc không kém “tiêu chuẩn” của các vị cao cấp mấy đâu. Vậy mà nếu so sánh với bây giờ thì e rằng Nguyễn Phú Trọng còn được điểm cao hơn Thái uý Trần Nhật Hiệu em ruột nhà vua thế kỷ XIII cũng nên: Thì đó, khiếp sợ sức mạnh kẻ thù, nhằm tránh “đụng độ” với quân Nguyên, Hiệu đã hèn nhát đưa ra diệu kế “nhập Tống”! Thật nhục nhã cho cái khẩu khí “đụng độ” này!

Có lẽ phải nhắc lại đây một câu của thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược của Bộ Công an tại cuộc toạ đàm ngày 24/11/2012 được ghi lại trong cuốn sách của Nguyễn Mạnh Can – nguyên Phó Ban Tổ chức Trung ương Đảng và nay là Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Môi trường Văn hoá mới – vừa gửi rộng rãi cho lãnh đạo và những người quan tâm đến thời cuộc: “Ngày xưa hầu hết thất bại của Việt Nam trước xâm lược phía Bắc đều xảy ra trong thời bình, do lãnh đạo yếu hèn và cấp cao có nội gián”. Cũng trong cuốn sách ấy đã ghi lại lời của ông Nguyễn Văn An: “Các ý kiến tâm huyết ở đây, tôi đã trao đổi đầy đủ. Ngoài ra, tôi đã phản ánh với đồng chí lãnh đạo nhiều người dân nói: Trong các đồng chí, có người “PHÁ NƯỚC” có người “BÁN NƯỚC””.

Vấn đề đặt ra tuy hết sức nghiêm trọng song cũng không phải là cái gì quá khó hiểu, mà vốn là “Kê chư vãng cổ, Quyết hữu minh trưng” (Việc xưa xem xét, Chứng cớ còn ghi) như Nguyễn Trãi đã chỉ ra trong Bình Ngô đại cáo. Lịch sử không quá hiếm những “nội gián”, những người “phá nước” và những kẻ “bán nước”. Viện dẫn đến Nguyễn Trãi trong bối cảnh hiện nay là muốn gợi lên những nét tương đồng giữa xưa và nay đang hoà quyện vào đời sống đương đại. Một quá khứ gần đang hối hả giục giã những suy nghiệm và một quá khứ xa đang đánh thức những bài học lịch sử.

Trần Quốc Vượng – nhà sử học đáng kính – đã có một nhận định sâu sắc mang ý nghĩa gợi mở cho những gì đang diễn ra hôm nay: “Nguyễn Trãi tắm mình trong một bầu khí văn hoá, ở đó đang diễn tiến cuộc đấu tranh gay gắt giữa TRUYỀN THỐNG và ĐỔI MỚI, cuộc đấu tranh giữa xu hướng Trung Quốc hoá với xu hướng giải Trung Quốc hoá trong nội bộ các thế lực cầm quyền và giới trí thức văn hoá Đại Việt. Hai mươi năm Minh thuộc, với chủ trương và âm mưu tái Trung Quốc hoá nền văn hoá Việt của bọn giặc Minh, càng làm gay gắt thêm, phức tạp thêm cuộc đấu tranh nhằm xây dựng một nền văn hoá Việt Nam, một lối sống Việt Nam. Nguyễn Trãi đã dấn thân hết mình vào các cuộc đấu tranh chính trị, văn hoá, xã hội này; và tiếc thay, ông đã ra khỏi cuộc đời này một cách bi thảm” (Văn hoá Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm, nxb Văn Học, 2001, tr. 728).

Gần 600 năm đã trôi qua, cuộc đấu tranh không khoan nhượng của Nguyễn Trãi, cũng là cuộc đấu tranh giữa những trí thức tiên phong – tinh hoa của trí tuệ và bản lĩnh dân tộc – với một bộ phận các thế lực cầm quyền xa rời dân, nhất là trong buổi mạt kỳ, chưa bao giờ ngưng nghỉ vì âm mưu đồng hoá của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán chưa bao giờ buông tha. Nguyễn Trãi là danh nhân văn hoá của thế giới vì ông là tượng trưng cao cả nhất, đẹp đẽ nhất cho lòng yêu nước, cho trí tuệ và bản lĩnh dân tộc. Với ông, “coi công việc của quốc gia làm công việc của mình, lấy điều lo của sinh dân làm điều lo thiết kỷ” là nỗi niềm đau đáu (Chiếu cấm các đại thần tổng quản cùng các quan ở Viện, Sảnh, Cục tham lam lười biếng). Tâm niệm của ông là:

Bui có một niềm trung hiếu cũ,

Chẳng nằm thức dậy nẻo ba canh

(Bảo kính cảnh giới, số 158)

Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược

Có nhân, có trí, có anh hùng

(Bảo kính cảnh giới, số 132)

Trong bối cảnh phức tạp của cuộc chiến đấu chống chủ nghĩa bành trướng Đại Hán đang trực tiếp uy hiếp lẽ tồn vong của đất nước gắn liền với cuộc đấu tranh chống thế lực phản dân chủ cố tình quay lưng lại với tiến trình dân chủ hoá – khát vọng mãnh liệt của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là của trí thức và thế hệ trẻ – thì điểm quy chiếu ấy lại càng phải rạch ròi, minh bạch. Yêu nước, chống Trung Quốc xâm lược gắn làm một với ý chí đấu tranh thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình dân chủ hoá vì độc tài toàn trị phản dân chủ được kẻ xâm lược nuôi dưỡng để làm chỗ dựa cho toan tính của chúng. Có thể nói trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, chưa bao giờ cái xu hướng giải Trung Quốc hoá lại vấp phải một chướng ngại vật lớn và phức tạp như hôm nay! Mà “lớn” và “phức tạp” là vì nó được chính thống hoá bằng Cương lĩnh, đặt lên trên cả Hiến pháp, được áp đặt bởi một bộ máy tuyên truyền khổng lồ cộng với sự hậu thuẫn của một bộ máy bạo lực cũng khổng lồ không kém.

Chướng ngại vật đó là cái “ý thức hệ xã hội chủ nghĩa”. Nguy hiểm và phức tạp hơn còn là vì cái “ý thức hệ” đã bị phá sản ấy lại được hà hơi tiếp sức bởi “người đồng chí láng giềng cùng chung ý thức hệ”. Kẻ xâm lược khoác bộ cánh “cùng chung ý thức hệ” ấy vừa thông qua những thủ đoạn lừa mị, mê hoặc những người kém hiểu biết và thiếu thông tin, vừa tác động trực tiếp vào thế lực đang giữ trọng trách trong bộ máy quyền lực, lung lạc nhúm người này bằng uy hiếp và mua chuộc. Thì ra, món võ Tàu cổ truyền xưa kia ừng uy hiếp, lung lạc những thân vương quý tộc đời Trần như những Thượng vị Văn Chiêu hầu, Chiêu Quốc vương, Thái uý em ruột vua …như vừa dẫn ra ở trên, thì nay đang tìm về những đối tượng hiện đại hơn trong danh xưng của “những đồng chí kiên định lập trường xã hội chủ nghĩa cùng chung ý thức hệ Mác-Lênin” đang chễm chệ trên những cái ghế quyền lực cao ngất ngưởng.

Xưa kia, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã mắng “thằng nhãi con Tuyên Đức” (tức là vua nhà Minh): “Tưởng chúng biết lẽ ăn năn nên đã thay lòng đổi dạ. Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại còn chuốc tội gây oan. Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác. Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian. Liệu hôm nay, những lời mắng mỏ ấy Nguyễn Trãi nên dành cho ai đây? Câu trả lời xin nhường cho công chúng. Họ đang là chứng nhân của những rối ren, xáo trộn trong thế cuộc rối bời phơi bày trước mắt.

Dành cho ai, là ai thì sự sòng phẳng của lịch sử sẽ điểm mặt chỉ tên. Mà trước khi chờ sự phán xét của lịch sử thì công luận cũng đã đưa ra những thẩm bình căn cứ vào điểm quy chiếu vừa đơn giản vừa rạch ròi: nhận thức và hành động trước kẻ xâm lược “Ngẫm thù lớn há đội trời chung . Căm giặc nước thề không cùng sống” như Nguyễn Trãi đã khẳng định trong Bình Ngô đại cáo. Những ai là “nội gián”, những kẻ nào là “phá nước”, những tên nào là “bán nước” mà cuốn sách do Nguyễn Mạnh Can chủ biên đã thẳng thắn chỉ ra cũng phải được thẩm định bằng điểm quy chiếu ấy. Đây không là điều gì phức tạp và khó hiểu. Đây là sự đúc kết nghiêm cẩn của lịch sử trong việc nhìn nhận, đánh giá nhân vật lịch sử.

Không có một nhân vật lịch sử nào là toàn bích, thậm chí còn rất nhiều khiếm khuyết. Trần Thủ Độ là một ví dụ. Ông là một nhân vật bị các sử thần thời phong kiến chê trách nhiều. Dưới ngòi bút của họ, Trần Thủ Độ hiện ra như một quyền thần vô học, có tài mà không có đức, có công với nhà Trần, lại có tội với nhà Lý. Thế nhưng bằng những thử thách của thời gian lớp mây mù phủ lên tên tuổi và sự nghiệp của vị khai quốc công thần ấy đã tan dần. Cái gọi là “có tội với nhà Lý” thì sự sáng suốt của lịch sử đã ghi công cho người đã biết khôn khéo thực hiện cuộc chuyển giao quyền lực một cách êm thấm từ một vương triều đã suy vong đang một chướng ngại cho sự tiến hoá của đất nuớc sang một triều đại mới đủ sức đương đầu với những thách đố ghê gớm ở bên trong cũng như từ bên ngoài mà không lâm vào cảnh đầu rơi máu chảy của muôn dân. Không có một bản lĩnh phi thường, một quyết đoạn sáng suốt, không thể thực thi một sứ mệnh lịch sử khó khăn như thế. Vì vậy, trong cái nhìn công minh và soòng phẳng của lịch sử, Trần Thủ Độ xứng đáng được xếp vào hàng những nhân vật kiệt xuất, đi đầu trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước trong lịch sử dân tộc. Câu nói của ông “đầu thần chưa rơi xin bệ hạ đừng lo” mãi ngời sáng trong tâm thế Việt Nam. Chính vì vậy, nhân dân tôn thờ ông. Trong đền thờ ông trên đồi Lim (Tiên Sơn, Hà Bắc) có treo hai câu đối nói lên sự thẩm định công minh và song phẳng ấy:

Công đáo vu kim, bất đán Trần gia nhị bách tải.

Luận định thiên cổ, kỳ tại Nam thiên đệ nhất lưu.

(Công đức của ông để mãi đến ngày nay, không chỉ bó hẹp trong hai trăm năm đời nhà Trần. Sau nghìn đời, công luận đã định, ông đáng liệt vào bậc thứ nhất dưới trời Nam)

Thêm một ví dụ nữa, Lê Lợi. Sử gia Trần Quốc Vượng dẫn Đại Việt sử ký toàn thưĐại Việt thông sử viết về ông để đưa ra lời bình: “Con người Lê Lợi thật là mâu thuẫn, lượn lờ, phức tạp, đa dạng. Ông giết người ngay mà vẫn biết là họ oan. Ông theo lời bọn gian mà vẫn biết là chúng xảo. Người anh hùng khi đã già yếu thì lẫn cẫn, hay nghi rồi làm sai… đến chết người, nhưng vẫn còn giữ lại trong lòng cái Thiên Lương, cái Lương tri con người”! Phải nói thêm rằng, việc giết hại công thần thì Vương triều Lê mở đầu với Lê Thái Tổ có khi phải xếp vào đầu bảng mà Nguyễn Trãi cũng là ví dụ đau đớn nhất trong suốt chiều dài lịch sử. Thế nhưng, đánh giá một nhân vật lịch sử là phải căn cứ vào đóng góp của nhân vật ấy vào sự thúc đẩy lịch sử đi tới. Những sai lầm và khiếm khuyết của họ cần được xem là những hạn chế của điều kiện trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Chính vì vậy, nhân dân sùng kính tôn thờ Lê Lợi, đặt ông đứng cạnh Nguyễn Trãi vì ông đã cùng Nguyễn Trãi lãnh đạo cuộc kháng chiến chống xâm lược nhà Minh giành thắng lợi trọn vẹn. Không có một Lê Lợi chắc cũng khó có một Nguyễn Trãi, họ cùng đảm đương một sứ mệnh bằng ý chí, trí tuệ và bản lĩnh quyết đoán thực thi sứ mệnh ấy một cách trọn vẹn:

Trời thử lòng trao cho mệnh lớn

Ta gắng trí khắc phục gian nan.

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống

Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời

Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối

Phải chăng đây chính là điểm quy chiếu quan trọng nhất, nếu chưa phải là duy nhất, để nhìn nhận, thẩm định: ai là nhân vật đang thúc đẩy lịch sử đi tới được nhân dân ủng hộ, ai là kẻ kìm hãm bước tiến của đất nước, đi ngược lại quy luật vận động của cuộc sống, bỏ lỡ thời cơ đưa dân tộc bứt lên thoát khỏi lạc hậu và lạc điệu với thế giới, trở thành tội đồ của lịch sử, bị nhân dân phỉ nhổ.

Trong đám mây mù của sự nhiễu loạn thông tin về cuộc đấu quyền lực trước thềm Đại hội XII, hệ luỵ của một thể chế toàn trị bưng bít, che giấu sự thật, bóp nghẹt tự do tư tưởng nếu biết dựa vững vào điểm quy chiếu ấy thì “mọi trao qua đổi lại, mọi xem xét đánh giá đều vẫn rõ ràng như bày ra trước mắt, rành rọt như trỏ bàn tay vậy” (Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục).

Một khi mà sự thật đã “rõ ràng như bày ra trước mắt, rành rọt như trỏ bàn tay” thì hành động hướng đến đổi mới mạnh mẽ, đẩy nhanh tiến trình dân chủ hoá đất nước là cái thuận với quy luật, đáp ứng được đòi hỏi của dân. Ai làm được điều đó thì nhân dân đứng về họ, cổ vũ cho họ. Xu thế đó đang được đẩy tới, một xu thế không sao đảo ngược được.

Đó chính là lý do để tin chắc vào sự khẳng định của Nguyễn Trãi “Càn khôn bĩ rồi lại thái, Nhật nguyệt hối rồi lại minh.*

T. L.

Truyền thông Trung Quốc tiết lộ những bí mật đầy thống khổ của Marx những năm cuối đời

Truyền thông Trung Quốc tiết lộ những bí mật đầy thống khổ của Marx những năm cuối đời

Tác giả: Dương Nhất Phàm | Dịch giả: ĐKN

Ngày 6 tháng 6, truyền thông của Trung Quốc đại lục đã tiết lộ rằng, cha đẻ của Chủ nghĩa Cộng sản Karl Marx đã giã từ cõi thế một cách đầy đau đớn với một thân thể đầy bệnh tật và những ung nhọt. Trong hình đang chụp các công nhân Đức đang tiến hành di dời một bức tượng của Marx tại thành phố Berlin. Bức tượng này được Đảng Cộng sản Đông Đức dựng lên vào năm 1986 (Getty Images)

Dân chúng Trung Quốc đại lục ngày càng thức tỉnh. Làn sóng dẹp bỏ các chướng ngại lịch sử bắt nguồn từ Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) cũng mỗi lúc một dâng cao. Giữa lúc ấy, những điều tiếng xung quanh cuộc đời Karl Marx, ông tổ chống lưng cho học thuyết Cộng sản cũng dần được phơi bày. Sự thật lịch sử đã cho thấy, bản thân Marx từng là một tín đồ Cơ Đốc giáo, cũng từng tín phụng Thần linh và Thượng đế, sau đó ông ta đã gia nhập vào Satan giáo và thờ phụng ma quỷ. Tà thuyết Cộng sản mà ông ta sáng lập là một phiên bản khác của tinh thần Satan giáo, mục đích là lôi kéo những người tôn thờ tà thuyết Cộng sản vào địa ngục, hủy diệt nhân loại. Học thuyết của Marx đã gây họa loạn cho nhân gian, mang lại những tai nạn khủng khiếp cho nhân loại, bản thân ông ta đã phải ra đi trong thân thể lở loét đầy bệnh tật.

Bản tin hiếm thấy ở Trung Quốc đại lục tiết lộ nỗi thống khổ khôn thấu của Marx trước khi qua đời

Trang Tin tức The Paper của Trung Quốc đại lục vào ngày 6 tháng 6 đã cho đăng một bài viết hiếm thấy của Triết gia người Anh Simon Critchley, trong đó có đề cập đến tình hình bệnh tật triền miên của Marx lúc cuối đời.

Bài viết nói, trong suốt thời gian dài, Marx hầu như nằm liệt trên giường bệnh, thống khổ khôn xiết. Trong thời gian viết cuốn “Tư bản luận”, ông ta luôn mắc phải vô số những căn bệnh như “chứng viêm niêm mạc trầm trọng, viêm mắt, nôn ra mật, bệnh phong thấp, bệnh đau gan cấp tính, hắt hơi, chóng mặt, ho khan, chứng ung nhọt”. Những căn bệnh này được đề cập trong các bức thư của Marx. Trong đó, “ung nhọt” đã trở thành “sự thống khổ đáng sợ”, nó còn lan khắp “thể xác tàn tạ” của ông ta trong một thời gian dài. Nghiêm trọng nhất là vùng xung quanh cơ quan sinh dục, khiến ông ta đau đớn tột cùng. Đây vẫn chưa phải là kết thúc đối với Marx, vẫn còn hai chứng bệnh chí mạng khác: viêm màng não và ung thư phổi.

Bài viết còn nói, trong mười năm cuối đời do bệnh tật triền miên, Karl Marx phải chạy chữa khắp nơi, những mong tìm được một thầy thuốc giỏi có thể trị được những căn bệnh quái ác. Trong một khoảng thời gian dài, Marx đã lòng vòng khắp châu Úc,  Đức, Thụy Sĩ, Pháp, quần đảo Wight, quần đảo Channel, Easrbourne và Ramsgate. Nhưng số phận là một cơn mưa định mệnh đối với Marx, mây đen đuổi theo từng bước chân một, cho đến tận lúc ông dừng chân ở Monte Carlo.

Quảng cáo

Trong những năm tháng cuối cùng, con đường chính trị của Marx càng lúc càng thăng trầm, tâm tình tuột dốc, khiến cho ông không thể viết ra được một tác phẩm nghiêm túc nào.

Nhưng truyền thông đại lục cũng không dám đưa tin, con đường trở thành ma quỷ của Marx  trước khi bôn ba nơi hải ngoại là như thế nào.

Bình luận viên Lý Lâm nói, theo nguồn tin đã được công bố ở Trung Quốc đại lục, Marx trước lúc chết đã phải chịu một nỗi thống khổ tột cùng, phải chăng là vì ma tính của Marx đã phát tiết dẫn đến ông ta phải chịu báo ứng vì hành vi của mình.

Tín đồ Cơ Đốc của những năm đầu

Theo loạt bài viết được đăng trên mạng Aboluo mang tên “Con đường trở thành ma quỷ của Karl Marx”, tác giả Kim Chung đã cho biết:  trong những năm đầu, Marx vốn là một tín đồ Cơ Đốc giáo. Trong một bài viết mang tên “Tín đồ Cơ Đốc hợp nhất theo lời 15: 1 – 14 trong sách Phúc Âm Gioan: Ý nghĩa, tính tất yếu và ảnh hưởng của sự hợp nhất” Marx có viết: “Sự hợp nhất với Đấng Ki tô nằm trong sự hữu nghị thanh khiết của đời sống và sự thân mật với Ngài, trong sự thật ấy: Ngài luôn ở trước mắt và trong tâm chúng ta”.

Marx viết: “Như vậy, hợp nhất với Đấng Ki tô khiến chúng ta thăng hoa, khiến cuộc khảo nghiệm trở thành niềm an ủi, khiến tâm linh chúng ta mở phóng sự quan ái với người khác – đây không phải là thanh danh cho khát vọng hay kiêu ngạo của chúng ta, mà là vì Đấng Ki tô”.

Dường như đồng thời, Marx còn viết trong “Suy nghĩ của một thanh niên trước ngưỡng cửa nghề nghiệp”: “Tôn giáo đã ban cho tôi một lý tưởng để ngưỡng vọng. Ngài đã hi sinh cho toàn thể nhân loại. Có ai dám phủ nhận điều này? Nếu như chúng ta lựa chọn nghề nghiệp nào có thể đem đến những điều tốt đẹp nhất cho nhân loại, chúng ta sẽ không phải vấp ngã đau đớn trên đường đi, bởi vì đây chính là sự hi sinh dâng hiến cho vạn vật.”

Cậu thiếu niên Karl Marx 17 tuổi vẫn là một tín đồ Cơ Đốc, cậu đã viết trong bài văn tốt nghiệp Trung học của mình: “Nếu như không có sự tín ngưỡng vào Thượng đế, không có sự nhất trí với Đấng Ki tô, nhân loại không thể nào hoàn bị những đức hạnh cao đẹp chân chính cũng như thỏa mãn sự truy cầu đối với chân lý và quang minh”.

“Chỉ có Thượng đế mới cứu vớt được chúng ta”.

Lúc Marx tốt nghiệp Trung học, trong văn bằng của cậu còn có lời phê về tri thức tôn giáo: “Tri thức về giáo lý Ki tô của anh ta là tường tận và có cơ sở tốt. Ngoài ra, anh ta còn rất am hiểu lịch sử của Giáo hội Ki tô”.

Marx bị ám ảnh bởi ma quỷ, gia nhập Satan giáo, lập chí hủy diệt thế giới

18 tuổi, chành thanh niên Karl Marx bước vào cánh cửa đại học, người thanh niên này đã gặp phải một sự việc kỳ dị, từ đó con người anh ta biến thành một kẻ phụng thờ Satan.

Sự việc quái dị này được viết trong “Oulanem” được Marx hoàn thành trong những năm tháng sinh viên. Satan giáo có một dạng nghi thức tế tự gọi là “Cuộc tụ hội đen”. Trong nghi thức này, tư tế của Satan giáo sẽ tiến hành tụng niệm lúc nửa đêm. Những ngọn nến màu đen được cắm la liệt trên bàn thờ, tư tế mặc áo trường bào, tụng niệm sách tế tự theo trình tự ngược, bao gồm cả tên các Thánh như Jesus, Thánh Maria cũng được đọc ngược. Một cây Thập tự giá được bày trí lộn ngược đầu hay bị đạp dưới chân, một Thánh khí được trộm ở nhà thờ trên có khắc tên Satan dùng để giả mạo điển lễ giao lưu. Trong “Cuộc tụ hội đen” này, một bộ Kinh Thánh sẽ bị đốt. Tất cả các thành viên ở hiện trường sẽ phát thệ phải vi phạm tất cả bảy tội lỗi trong giáo nghĩa của Thiên Chúa giáo, vĩnh viễn không làm việc tốt. Sau đó chúng tiến hành những nghi lễ dục vọng.

Bài thơ trong chương “Người diễn tấu” của vở kịch Oulanem, có một đoạn tự bạch khá kỳ dị của Marx như sau:

Âm khí địa ngục trào dâng sung mãn đầu óc của ta,

Cho đến lúc ta phát điên, tâm của ta đã hoàn toàn biến đổi.

Đã nhìn thấy lưỡi kiếm này chưa?

Vị Vương Chủ Hắc Ám đã bán nó cho ta,

Nó đã đánh vào thời gian vì ta, và ban cho ta Ấn ký,

Vũ điệu chết chóc của ta đã thêm phần mạnh mẽ.

Những câu chữ như thế này có một hàm ý đặc biệt: Trong nghi lễ hiến tế của Satan giáo, để bảo đảm sự thành công của thanh kiếm vu thuật, thanh kiếm này sẽ được ban cho người Phổ tế. Nhưng người Phổ tế phải trả một cái giá, là dùng máu trong huyết quản của mình để ký vào khế ước với quỷ dữ, sau khi người này chết, linh hồn của kẻ ấy sẽ thuộc về Satan.

Kịch bản Oulanem của Marx còn viết:

Bây giờ nó đã lấp đầy trong ta! Nó trỗi dậy trong linh hồn ta,

Rõ ràng như hơi thở, cứng cáp như xương cốt.

Đôi vai của ta đã sung mãn sức lực tuổi trẻ,

Với tư thế bạo liệt,

Ta sẽ cấu nát người – nhân loại.

Trong tăm tối, vết nứt không đáy nơi địa ngục sẽ mở ra vì ngươi…

Trong đoạn kết của vở Oulanem còn viết:

Nếu như có một thứ nuốt chửng được tất cả,

Ta sẽ nhảy vào, để hủy diệt thế giới này.

Thế giới này tại nơi ranh giới giữa ta và địa ngục, hiện ra rộng lớn vô cùng,

Ta phải dùng những bùa chú mà ta trì tụng lâu nay để đập nó tan tành.”

Marx viết trong bài thơ “Thiếu nữ xanh xao” rằng:

Bởi vậy, ta đã đánh mất thiên đường,

Ta biết rõ điều này.

Ta đây đã từng tín ngưỡng linh hồn của Thượng đế,

Giờ đây đã được định sẽ vào địa ngục.

Trong thời gian theo học tại trường đại học, Marx đã gia nhập Hội Joanna Southcott, một giáo hội chủ trì Satan giáo và đã trở thành tín đồ tại đây. Ngày 10 tháng 11 năm 1837, anh ta đã viết cho cha mình một bức thư nói rằng: “Cái lớp vỏ bên ngoài đã được thoát ra rồi, vị Thánh trên tất cả các Thánh của con đã bị đuổi đi, sẽ cần một linh thể mới bước vào cư ngụ. Một sự cuồng bạo thật sự đã chiếm lấy con, con không còn cách nào khiến linh hồn cuồng bạo này yên tĩnh được”.

Các tư liệu lịch sử đã cho thấy, Marx đã thừa nhận là từng ký Khế ước với Satan, ông ta muốn ném toàn nhân loại vào địa ngục. Marx từng tuyên xưng bằng một bài thơ nhuốm đầy màu sắc cuồng bạo và tinh thần báng bổ rằng: “Ta phải phục thù với Thượng đế”, đây chính là giáo nghĩa tối cao của Satan giáo, Marx chính là người phát ngôn cho Satan tại thế gian này.

Marx viết vở Oulanem khi vừa tròn 18 tuổi. Lúc này, câu thanh niên đã quyết định kế hoạch cho cả cuộc đời mình là “hủy diệt nhân loại”, lấy việc khiến cho thế giới rúng động, đau đớn, loạn lạc làm cơ sở nhằm xây dựng ngai vàng cho mình.

Marx và chủ nghĩa Cộng sản

Lúc hoàn thành vở Oulanem và những bài thơ ca lúc đầu (trong những bài thơ của Marx có thừa nhận việc ông ta từng ký khế ước với quỷ dữ), ông ta không những không có ý niệm gì về Chủ nghĩa Xã hội mà trái lại còn kịch liệt phản đối. Lúc đó, Marx là Tổng biên tập của Tờ báo tiếng Đức Rheinische Zeitung, tờ báo này còn “tuyệt đối không chấp nhận cho dù trên phương diện lý luận  đơn thuần về hình thức của chủ nghĩa xã hội trước đó, nói gì đến mặt thực tiễn của nó? Điều này bất kể thế nào cũng là không có khả năng…”

Moses Hess -- Bậc tiền bối của Karl Marx

Moses Hess — Bậc tiền bối đã hướng Karl Marx theo con đường chủ nghĩa cộng sản

Nhưng lúc này, Marx đã gặp được Moses Hess, con người này đóng một vai trò khá quan trọng trong cuộc đời của Marx, chính ông ta đã dẫn dắt Marx hướng theo Chủ nghĩa Cộng sản. Trong một bức thư viết cho B. Auerbasch vào năm 1841, Hess đã tôn xưng Marx là “vị Tiến sĩ Triết học đương đại vô cùng trẻ tuổi (nhiều nhất là 24 tuổi), là người vĩ đại nhất, có thể là người duy nhất sẽ khiến cho Triết học và Tôn giáo đả kích lẫn nhau”. Có thể thấy, mục tiêu đầu tiên là đả kích tôn giáo chứ không phải là thực hiện xã hội chủ nghĩa. Trên thực tế, Marx thù ghét tất cả các thần linh, ngoài ra ông còn không nghe lời Thượng đế. Chủ nghĩa Cộng sản chỉ là thứ dẫn dụ giai cấp vô sản và phần tử tri thức đi thực hiện cái vòng lý tưởng của Satan mà thôi.

Một người bạn khác của Marx là Georg Jung vào năm 1841 còn viết rõ hơn, Marx muốn đuổi thần thánh ra khỏi thiên đường, lại còn muốn buộc tội Thần. Cuối cùng, Marx phủ nhận sự tồn tại của Tạo hóa. Nếu như Tạo hóa không tồn tại, như thế sẽ không có ai đặt ra giới luật gì cho chúng ta, chúng ta cũng không phải chịu trách nhiệm với bất cứ ai nữa. Marx còn tuyên ngôn xác nhận điểm này “Chủ nghĩa Cộng sản tuyệt không tuyên dương đạo đức”.

Trong thời đại của Marx, nam giới thường để râu, nhưng khác với kiểu của Marx, họ cũng không để râu dài. Ngoại hình của Marx là mang nét đặc trưng của tín đồ Hội Joanna Southcott.

Joanna Southcott là một nữ Tư tế của Tổ chức Satan giáo, bà ta tự xưng rằng mình có  thể thông linh được với ác quỷ Shiloh. Bà ta chết vào năm 1814, 60 năm sau, một người lính tên là James White đã phát triển giáo nghĩa của Joanna Southcott, khiến cho nó có hơi hướng của chủ nghĩa Cộng sản.

Marx ít khi nào công khai đàm luận về những vấn đề vũ trụ luận, nhưng chúng ta có thể tìm hiểu quan điểm của ông thông qua việc thu thập các dữ kiện từ những mối quan hệ xung quanh. Marx đã cùng với một học giả theo phái vô chính phủ người Nga mang tên Mikhail Bakunin sáng lập nên Quốc tế thứ nhất. Bakunin từng viết:

“Tôn chỉ tà ác đó, chính là sự phản kháng của Satan đối với Thần, trong sự phản kháng này, nhân loại  khắp nơi sẽ được giải phóng, đây chính là cách mạng. Câu nói để đánh dấu thân phận cho những người xã hội chủ nghĩa là ‘dựa vào danh nghĩa của vị Tôn giả đã bị đối đãi một cách sai lầm’. Satan, kẻ phản kháng vĩnh hằng, là nhà tư tưởng tự do đầu tiên và là cứu thế chủ, Satan đã giải phóng cho nhân loại từ vị trí thấp kém vô tri và vô cùng nhục nhã, trên trán người đều có đóng Ấn ký giải phóng và nhân tính, khiến cho con người biết phản kháng và ăn trọn quả tri thức”.

Bakunin không những tán tụng Lucifer, ông ta còn có một kế hoạch cách mạng cụ thể, chẳng qua, kế hoạch này chẳng phải là để giải cứu những người bần khốn đang bị bóc lột. Ông ta viết: “Trong cuộc cách mạng này, chúng ta cần phải đánh thức con quỷ trong tâm của con người, cần phải kích động những tình cảm đê hèn nhất. Sứ mệnh của chúng ta là lật đổ chứ không phải dạy bảo. Dục vọng hủy diệt cũng chính là dục vọng sáng tạo”.

Những người bạn của Marx cũng là tín đồ Satan

Proudhon, một trong những nhà tư tưởng chủ chốt trong phong trào xã hội chủ nghĩa, đồng thời là bạn của Marx, cũng là một người sùng bái Satan. Kiểu râu ria tóc tai của Proudhon cũng tương tự như Marx, Proudhon cũng viết ra những tác phẩm báng bổ Thần linh và kêu gọi Satan.

Nhà thơ trứ danh người Đức Heinrich Heine cũng là một người bạn thân với Marx, người này là một kẻ sùng bái Satan. Ông ta viết: “Tôi kêu gọi ma quỷ, lập tức nó liền đến và mang theo sự sợ hãi, tôi quan sát kỹ gương mặt của nó, nó không xấu cũng không tàn khuyết, nó là một đấng nam tử khả ái và đầy mê hoặc”. “Marx rất sùng bái con người Heinrich Heine, quan hệ giữa họ cũng rất nồng ấm và chân thành”. Vì sao Marx lại sùng bái Heine? Chắc có lẽ là vì những tư tưởng đậm màu Satan giáo sau đây của Heine:

“Tôi có một nguyện vọng … Trước cửa nhà tôi có những thân cây tuyệt đẹp, nếu có vị Thần thân ái nào đó muốn để cho tôi được hưởng niềm vui trọn vẹn, Ngài hãy ban cho tôi một niềm vui như thế này: để cho tôi nhìn thấy sáu, bảy kẻ địch của tôi bị treo cổ trên cây. Với cõi lòng ôm ấp nỗi buồn thương, sau khi họ chết, tôi sẽ khoan thứ cho họ những việc sai trái mà họ đã làm với tôi. Đúng vậy, chúng ta cần khoan thứ cho kẻ địch của chúng ta, nhưng không phải trước lúc chúng bị chết vì treo cổ”.

Đối với một người đường hoàng chính trực, có thể kết bạn với một người có loại suy nghĩ ấy được không? Nhưng xung quanh Marx toàn là những người như vậy.

Lunatcharski, một Triết gia từng đảm đương chức vụ Bộ trưởng Bộ Giáo dục Liên Xô, trong cuốn “Xã hội chủ nghĩa và Tín ngưỡng” có viết: Marx đã vứt bỏ toàn bộ những gì liên quan đến Thần, đồng thời lại đem Satan đặt ở vị trí dẫn đầu của giai cấp vô sản trong quá trình tiến hành cách mạng.

Muốn đồng ngôi với Tạo hóa

Người con gái rượu mang tên Eleanor, đã được Marx gả cho Edward Eveling. Chàng rể này đã từng có những diễn thuyết về đề tài “Sự bại hoại của Thần”. (Đây là những việc mà giáo đồ của Satan giáo làm, hoàn toàn không giống với những người theo thuyết vô thần vốn không phủ nhận sự tồn tại của Thần. Trừ những lúc lừa gạt người khác, họ tự biết rằng là Thần có tồn tại chỉ là nói xấu Thần mà thôi). Những câu thơ hồi hướng Satan sau đây sẽ cho thấy tâm thái của chàng rể:

Hướng về Ngài, tôi dám xin dâng hiến bài thơ này,

A! Satan sắp lên ngồi trên ngôi Vương Chủ trong buổi tiệc lớn!

A! Mục Sư, ta tránh khỏi Nước Thánh của mi và những lời lải nhải,

Bởi vì, Mục Sư này, Satan vĩnh viễn không ở sau ngươi.

Như gió xoáy từ đôi cánh vỗ,

Nó càn quét dân chúng, A, Satan vĩ đại!

Hãy tung hô, vì người Biện Hộ Vĩ Đại!

Đốt hương, đọc lời thề, hiến tế cho Ngài,

Ngài đã đem dấu Thánh của Mục Sư đặt dưới ngai vua!

Còn một chứng tích khác là bức thư của người con trai Edgar viết cho Marx vào ngày 21 tháng 3 năm 1854. Mở đầu bức thư là một câu nói rất sốc: “Ác quỷ thân ái của con”. Một đứa con làm sao có thể dùng những lời xàm ngôn như thế để gọi cha mình kia chứ? Chẳng qua, những giáo đồ của Satan giáo đều xưng hô với người thân mình theo kiểu như vậy. Chẳng lẽ con trai của Marx cũng đã nhập môn?

Có một sự thật quan trọng khác, người vợ của Marx vào tháng 8 năm 1844 có viết thư gửi cho ông ta, nói rằng: “Bức thư cuối cùng của Mục sư, Mục sư cao cấp cũng là người nắm giữ linh hồn, xin hãy ban sự hòa bình và an ổn cho bầy con chiên đáng thương của ông”. Trong “Tuyên ngôn Chủ nghĩa Cộng sản”, Marx biểu đạt rất rõ rằng ông ta muốn hủy diệt toàn bộ tôn giáo, nhưng vợ của ông ta trong bức thư lại gọi ông ta là Mục sư cao cấp và là Giáo chủ, là Mục sư và Giáo chủ của tôn giáo nào? Toàn bộ những bức thư ấy ở đâu? Đó là những điều chưa bao giờ được tìm hiểu trong thời gian Marx còn sống.

Trong bài thơ “Lòng cao ngạo của con người”, Marx thừa nhận, mục tiêu của ông ta không phải là cải thiện, cải tổ hoặc là đổi mới thế giới, mà là hủy diệt thế giới, vả lại còn lấy đó làm niềm vui:

Mang theo sự khinh miệt, ta ở trên bộ mặt thế giới,

Quăng khắp nơi chiếc găng tay sắt của ta,

Và nhìn vạn vật to lớn trong thế giới của người lùn đổ vỡ,

Nhưng sự sụp đổ của nó cũng không thể nào làm nguôi cơn kích động trong ta.

Thế rồi ta dạo bước như thần trong chiến thắng

Xuyên qua đống phế tích của thế giới.

Lúc lời nói của ta nhận được những sức mạnh lớn lao,

Ta cảm thấy như mình sánh ngang ngôi Tạo hóa.

Không chỉ có những câu thơ này mới thể hiện được tư tưởng Satan giáo trong đầu óc của Marx. Chúng ta không biết vì sao những người lưu giữ các bản viết tay của Marx lại bảo mật hoàn toàn tư liệu này. Trong cuốn sách “Người Cách mạng”, Albert Camus nói: “Karl Marx và Friedrich Engels có 30 tác phẩm chưa được xuất bản, nội dung những tác phẩm đó đều là sản phẩm của sự buông thả lý trí, hoàn toàn không giống với những gì mà công chúng được biết về chủ nghĩa Marx. Đọc cuốn sách này xong, tôi liền bảo thư ký của tôi viết thư đến Học viện Marx ở Moscow để tìm hiểu xem những lời của tác gia người Pháp này có thật hay không”.

“Tôi đã nhận được thư hồi đáp. Trong thư, Phó Chủ nhiệm Học viện Marx là Giáo sư M.Mtchedlov nói rằng Camus đã sai. Các tác phẩm của Marx có đến hơn 100 cuốn, trong đó có 13 cuốn đã được in ấn công khai. Ông ta đã tìm một lời biện bạch rất dở: vì Thế chiến II nổ ra nên những quyển còn lại không được xuất bản. Bức thư được viết vào năm 1980, tức 35 năm sau cuộc Thế chiến, lúc đó đến các quán bar và ngư trường còn được đầu tư những khoản vốn rất lớn.”

Cuộc sống sau khi bị quỷ nhập

Tất cả những giáo đồ bước chân theo Satan giáo đều có một cuộc sống cá nhân vô cùng hỗn loạn, Marx cũng không ngoại lệ.

Arnold Kunzli trong cuốn sách “Tâm trí của Karl Marx” có viết: hai người con gái và một con rể của Marx đều tự sát, còn có ba đứa trẻ  cũng chết vì không được nuôi dưỡng đầy đủ. Laura, người con gái của Marx, được gả cho một nhà xã hội chủ nghĩa tên Paul Lafargue, bà đã tự mình chôn cất ba cốt nhục do chính mình sinh ra sau đó tự sát với chồng. Còn một người con gái khác tên Eleanor cũng rủ chồng làm việc tương tự, sau khi bà chết, người chồng Edward vì sợ chết nên đã chùn bước.

Marx có con riêng với một người hầu gái tên Helen Demuth, sau đó ông ta đem đứa con này “phi tang” cho Engels, chính Engels đã chấp nhận sự sắp xếp trong vở hài kịch này. Marx còn nghiện rượu rất nghiêm trọng, Riazanov chủ nhiệm Học viện Marx – Engels đã thừa nhận sự thật này trong cuốn “Karl Marx, Mai, nhà tư tưởng và nhà cách mạng”.

Vẫn còn những vết loang lổ khác đã viết nên cuộc đời Marx.

Ngày 9 tháng 1 năm 1960 tờ báo Reichsruf của Đức đã đăng một tin thực: Thủ tướng Úc Raabe từng trao tặng cho nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Krushchev một bức thư viết tay của Karl Marx, nhưng ông Krushchev lại không thích bức thư này, bởi vì nó đã chứng minh rằng, Marx từng là một tay chỉ điểm cho cảnh sát Úc để kiếm tiền thưởng, ông ta đã làm gián điệp trong đội ngũ của “những người cách mạng”.

Bức thư này được phát hiện một cách ngẫu nhiên trong Thư viện Tài liệu mật. Nó đã chứng thực, Marx là một tên chỉ điểm, trong thời gian lưu vong ở London, ông ta đã cáo giác những đồng chí của mình. Mỗi một tin tức đưa đi, Marx nhận được món tiền 25 bảng Anh. Có rất nhiều những “người cách mạng” ở khắp London, Paris, Thụy Sĩ bị Marx chỉ điểm. Một trong số đó là Ruge, một người từng xem Marx như là bạn thân. Những bức thư qua lại giữa hai người rất thắm thiết cho đến khi Ruge bị chỉ điểm.

Friedrich Engels --

Friedrich Engels — Người bạn đã nuôi Marx suốt nửa đời

Marx cảm thấy bản thân không có trách nhiệm chăm sóc gia đình, tuy nhiên theo những lời nói của ông ta thì có vẻ như việc này rất dễ dàng. Ngược lại, ông ta sống là nhờ vào sự bố thí của Engels. Theo tư liệu của Học viện Marx, trong suốt cuộc đời của mình, ông đã tiêu tốn của Engels đến 6 triệu đồng Franc.

Mặc dù vậy, Marx vẫn ham muốn tài sản thừa kế của gia tộc. Lúc một người bác ruột đang vật lộn với bệnh tật tuổi già, Marx viết: “Nếu như cái mạng chó này chết rồi, vậy thì không còn cản trở gì với tôi nữa”.

Đối với những người thân thiết hơn cả người bác này, Marx cũng không có chút từ tâm. Thậm chí khi đề cập tới mẹ ruột của mình, ông ta cũng cùng một thái độ như vậy. Tháng 12 năm 1863, Marx có viết thư cho Engels với lời lẽ như vầy: “Hai tiếng trước tôi vừa nhận được một bức điện báo nói rằng mẹ của tôi đã chết rồi. Vận mệnh cần phải lấy đi một thành viên trong gia đình này. Tôi đã bước một chân vào mộ phần, trong rất nhiều tình huống, cái mà tôi cần không phải là một bà già, đó là thứ khác. Tôi cần phải tự thân đến Trier để tiếp nhận tài sản”.

Đối với cái chết của mẹ ruột, Marx đã nói những lời như vậy. Ngoài ra, vẫn còn có những chứng cớ đầy đủ hơn đã chứng minh tình hình ác liệt trong quan hệ giữa Marx và người vợ. Bà vợ đã hai lần ly thân với ông ta, nhưng sau này lại quay trở về. Lúc bà chết, Marx cũng không thèm đến dự tang lễ.

Một người luôn cần kinh phí như Marx lại tổn thất rất nhiều tiền bạc trong thị trường cổ phiếu. Thân là nhà “Kinh tế học vĩ đại” như Marx lại chỉ biết đi phá tiền.

Marx và Engels đều thuộc vào hàng ngũ phần tử tri thức, nhưng thông qua những bức thư qua lại giữa hai người, người ta chỉ thấy những lời lẽ tục tĩu hạ lưu, hoàn toàn không tương xứng với địa vị xã hội của họ. Ngoài một lô những từ ngữ dâm uế ra, người ta không tìm thấy được bất cứ câu chữ nào liên quan đến lý tưởng “xã hội chủ nghĩa”.

Sự phóng đãng trong đời tư của Marx

Vẫn còn rất nhiều tư liệu lịch sử khác cho thấy đời sống của Marx là vô cùng phóng đãng.

Cuốn sách “Marx và Satan” được xuất bản từ năm 1986 cho biết, cả đời Marx luôn bóc lột người hầu gái Helen, hoàn toàn không chi trả bất cứ một đồng lương nào, còn cưỡng bức người phụ nữ này trở thành nô lệ tình dục, sau đó bà ta có sinh cho Marx một đứa con trai, và Engels đã trở thành một con dê thế tội. Người con gái Eleanor sau khi nghe được lời trăn trối sau cùng của Engels rằng đứa con ấy chính là của Marx, tinh thần bà đã suy sụp cực độ cuối cùng dẫn đến tự sát. Ngoài ra còn có tư liệu tiết lộ, nhiều tình tiết xung quanh việc Marx tư thông với người hầu gái mang họ Demuth này. Sau khi Marx qua đời, ông ta đã được chôn cất tại Khu nghĩa trang High Gates London, một trung tâm hoạt động của Satan giáo tại Anh.

Tà thuyết Cộng sản của Marx là phiên bản hiện đại của chủ nghĩa tôn thờ Satan.

Với một linh hồn bị ám ảnh bởi Satan và đạo đức đồi bại, Marx đã vận dụng những mánh khóe, dối trá và lừa đảo để tạo nên cái gọi là lý luận chủ nghĩa Cộng sản, hướng dẫn con người tín ngưỡng nó, từ đó đạt được mục đích hủy diệt tâm linh của con người. Thực chất, học thuyết Cộng sản của Marx chính là phiên bản hiện đại của chủ nghĩa Satan, chẳng qua là khoác bên ngoài cái áo Chủ nghĩa Cộng sản để che mắt thiên hạ, nó kêu gọi con người vứt bỏ Thần thánh, bán rẻ linh hồn để đổi lấy sự phóng túng dục vọng, mục đích chính là lôi người ta xuống địa ngục.

Hơn 100 năm nay, Chủ nghĩa Cộng sản đã đem lại cho con người vô vàn những tai nạn và thống khổ, Đảng Cộng sản Trung Quốc là một tín đồ trung thành đi thực thi những chủ thuyết của Satan, đạp đổ toàn bộ nền văn minh huy hoàng sáng lạn của dân tộc Trung Hoa, dùng thuyết vô thần để hủy diệt toàn bộ tín ngưỡng, họa loạn ở đất Trung Hoa gần một trăm năm, hơn 80 triệu người Trung Quốc đã chết dưới tay chính quyền tàn bạo Trung Cộng.

Theo sách Khải Thị trong Kinh Thánh từng viết, con rồng đỏ hung hãn, tàn bạo “tên của nó là ma quỷ hay Satan, mê hoặc toàn bộ nhân loại”, ở nhân gian này chính là một ĐCSTQ thèm khát máu tanh, tôn sùng bạo lực. Con “rồng đỏ” đánh Ấn ký của nó lên con người thông qua việc “nhập Đảng, nhập Đoàn, nhập Đội”, Ấn ký của con thú này chính là tấm giấy thông hành thẳng xuống địa ngục cùng ma quỷ.

Cuối năm 2004, loạt bài xã luận “Cửu bình Cộng sản Đảng” đã vạch trần một cách sâu sắc bản chất tà ác và những tội trạng lịch sử của ĐCSTQ, dấy lên phong trào thoái Đảng sục sôi trong khắp cõi Trung Quốc đại lục, trước mắt con số người thoái đảng đã vượt qua con số 200 triệu. “Tam thoái” chính là con đường duy nhất cứu thoát linh hồn người ta khỏi phải bước xuống địa ngục cùng tà giáo Satan.

Hiện nay, ĐCSTQ đang đứng trước nguy cơ tan rã, mong rằng toàn bộ những công chúng lương thiện tại Trung Quốc sẽ nhìn rõ được bản chất thật của tà đảng, dũng cảm thoái xuất khỏi các tổ chức Đảng, Đoàn, Đội cùng nhau  chào đón một Trung Quốc tương lai không có Đảng Cộng sản.

Sự khác biệt giữa độc tài và dân chủ

Sự khác biệt giữa độc tài và dân chủ

Ảnh minh hoạ: Cảnh sát Việt Nam dùng loa kêu gọi dân chúng và các nhà báo rời khỏi khu vực gần Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, Việt Nam, ngày 18/5/2014.

Ảnh minh hoạ: Cảnh sát Việt Nam dùng loa kêu gọi dân chúng và các nhà báo rời khỏi khu vực gần Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, Việt Nam, ngày 18/5/2014.

Nguyễn Hưng Quốc

Cách đây mấy ngày, tình cờ tôi gặp lại một người quen, trước, sống ở Úc, sau, về Việt Nam làm việc từ cả hơn 20 chục năm nay. Thỉnh thoảng, vài ba năm một lần, anh về lại Úc để thăm gia đình. Tôi hỏi cảm tưởng của anh mỗi lần quay lại Úc.  Ngẫm nghĩ một lát, anh cho biết: Mỗi lần về Úc, anh cảm thấy thoải mái hơn, tự tin hơn, và nhất là, được tôn trọng hơn, do đó, thấy mình… “người” hơn.

Điều anh nói, tôi cũng đã từng nghe nhiều người khác nói, những người vừa sống ở Úc vừa sống ở Việt Nam.  Tất cả đều nói giống nhau: Ở Việt Nam, người ta cảm thấy cái phần “người” của họ bị đè bẹp, chỉ còn rất nhỏ, còm cõi, yếu ớt, thảm hại. Chủ yếu là vì lúc nào cũng sợ sệt người khác. Ở nhà thì sợ người khác cạy cửa ăn trộm, có khi, giết chết. Ra đường thì, một mặt, sợ tai nạn giao thông; mặt khác, sợ cảnh sát giao thông quấy nhiễu, tìm cớ để ăn hối lộ. Vào các công sở thì lúc nào cũng thấy bị uy hiếp. Sợ nhất là gặp công an. Làm ăn lương thiện, không có tội gì cả, nhưng cứ hễ thấy bóng công an là thấy bất an, hồi hộp, lo lắng. Nói chung, ở Việt Nam, lúc nào người ta cũng căng thẳng vì sợ hãi. Ở Úc thì khác. Gặp ai cũng được chào hỏi một cách thân mật. Rất hiếm thấy cảnh sát. Mà có thấy cũng không lo sợ vì biết chắc sẽ không ai làm khó dễ gì mình. Khi cần làm giấy tờ, bước vào cửa các cơ quan công quyền, người ta hoàn toàn tự tin là mình sẽ được phục vụ theo đúng quy định chứ không bị sách nhiễu như ở Việt Nam.

Tôi cho những kinh nghiệm như thế tiết lộ cho chúng ta sự khác biệt sâu sắc giữa một chế độ độc tài và một chế độ dân chủ.

Nói đến sự khác biệt giữa độc tài và dân chủ, lâu nay, người ta chủ yếu chỉ nhìn vấn đề từ góc độ chính trị; ở chính trị, người ta chủ yếu tập trung vào yếu tố cơ chế; và trong cơ chế ấy, người ta quan tâm nhiều nhất đến các quan hệ quyền lực. Thật ra, dưới chế độ nào, giới lãnh đạo cũng đều có rất nhiều quyền lực. Chỉ khác ở một số điểm: Một, quyền lực, dưới chế độ độc tài, có tính tuyệt đối, nằm hẳn trong tay của một người hoặc một nhóm người; dưới chế độ dân chủ, có tính chất tương đối và được phân tán, ít nhất trong ba lãnh vực khác nhau, thường được gọi là tam quyền phân lập (hành pháp, lập pháp và tư pháp). Hai, quyền lực, dưới chế độ độc tài, chủ yếu là do cưỡng đoạt hoặc lạm dụng; dưới chế độc dân chủ, chủ yếu là được dân chúng uỷ thác trong các cuộc bầu cử tự do, bình đẳng và minh bạch. Ba, quyền lực, dưới chế độ độc tài, nằm trên cả luật pháp, ở đó, luật pháp được sử dụng như một công cụ để đàn áp dân chúng (rule by law); dưới chế độ dân chủ, bị kiểm soát bởi luật pháp (rule of law). Và bốn, quyền lực, dưới chế độ độc tài, có thể kéo dài cho đến lúc bị sụp đổ; dưới chế độ dân chủ, có tính chất nhiệm kỳ.

Sự khác biệt giữa độc tài và dân chủ cũng có thể được nhìn từ một góc độ khác: nhân quyền. Nói một cách tóm tắt, độc tài chà đạp lên quyền làm người căn bản của con người trong khi dưới các chế độ dân chủ, các quyền ấy được tôn trọng. Trong các quyền ấy, có ba loại quyền quan trọng hơn hết: Thứ nhất là quyền được tự do suy nghĩ và tự do phát biểu dưới mọi hình thức. Thứ hai là quyền được chọn lựa giới lãnh đạo qua các cuộc bầu cử. Và thứ ba là quyền kiểm soát, phản biện, phê phán, thậm chí, phản đối các chính sách của chính phủ một cách công khai qua các phương tiện truyền thông cũng như các cuộc biểu tình bất bạo động.

Ở Việt Nam hiện nay, không có quyền nào trong ba thứ quyền nêu trên được tôn trọng đúng nghĩa. Người dân được quyền tự do suy nghĩ nhưng lại có rất ít quyền tự do phát biểu. Phát biểu ở chỗ riêng tư, với bạn bè hoặc người thân thì được, nhưng phát biểu công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng – vốn hầu hết đều nằm trong tay nhà nước – thì bị hạn chế và không ít trường hợp, bị trù dập. Hơn nữa, những cái được gọi là tự do tư tưởng đều chỉ có ý nghĩa tương đối. Đã đành là ở Việt Nam hiện nay, khác với trước đây, không có cảnh “đem bục công an đặt giữa trái tim người” như lời Lê Đạt thời Nhân Văn Giai Phẩm. Nhưng khi người dân không có quyền tìm kiếm và lưu giữ thông tin, khi người dân chỉ được tiêu thụ những thông tin do chính quyền sàng lọc và cung cấp, họ cũng không thực sự có quyền tự do tư tưởng.

Người dân cũng được đi bầu Quốc hội, nhưng thứ nhất, người ta chỉ được bầu những người đã được lựa chọn sẵn; và thứ hai, bản thân Quốc hội cũng chả có quyền lực gì đáng kể trong hệ thống chính trị tại Việt Nam. Những lá phiếu của dân chúng chỉ là những chi phiếu giả, không có tiền thế chấp, do đó, không có giá trị gì cả. Nó chỉ tạo ra ảo tưởng tự do nhưng lại không phải là tự do thật.

Riêng các quyền phản biện và chống đối thì bị bóp nghẹt hoàn toàn. Cho đến nay, chính phủ và Quốc hội hứa hẹn sẽ soạn luật về biểu tình nhưng cả hai đều cứ lần khân khất hẹn mãi.  Những cuộc biểu tình, dù một cách chính đáng, ví dụ chống các hành động gây hấn ngang ngược của Trung Quốc, đều bị cấm đoán; một số người tổ chức hoặc tham gia bị bắt bớ, có người bị cầm tù dưới nhiều tội danh khác nhau.

Việc tôn trọng các quyền làm người cũng là việc tôn trọng con người. Không ai thực sự là người nếu các quyền căn bản của họ không được tôn trọng. Bởi vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi sống ở dưới các chế độ dân chủ, người ta không những được tự do mà còn thấy tự tại phơi phới, thấy mình đích thực là mình.

Việt Nam vẫn còn chia cách: vết thương chậm hồi phục, ít có triển vọng cho con cái của đồng minh Mỹ

Việt Nam vẫn còn chia cách: vết thương chậm hồi phục, ít có triển vọng cho con cái của đồng minh Mỹ

Bloomberg

Tác giả: John Boudreau K Oanh Ha

Người dịch: Trần Văn Minh

23-12-2015

Những gia đình từng là đồng minh Mỹ, bị ngăn cản, không được gia nhập Đảng Cộng sản

H1Vũ Tiến, một sinh viên đại học tại thành phố Hồ Chí Minh, giữ hình ảnh của cha, người đã phục vụ trong quân đội VNCH đã từng cầm quyền miền nam từ năm 1954 đến 1975. Nguồn: Bloomberg

Là một sinh viên tốt nghiệp từ một trong những trường có uy tín nhất ở Việt Nam, Cao, 22 tuổi, dường như có một tương lai tươi sáng phía trước – nếu gạt bỏ vấn đề lý lịch sang một bên. Anh tìm thấy triển vọng về sự nghiệp của mình bị vây hãm bởi những di sản còn sót lại của một cuộc chiến đã kết thúc gần hai thập niên trước khi anh được sinh ra.

Hai người bác của anh đã phục vụ trong quân đội bị thua trận của miền Nam Việt Nam, là đồng minh của Hoa Kỳ trong suốt những gì được biết ở Việt Nam là “cuộc chiến chống Mỹ”. Sau khi đất nước thống nhất dưới sự cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, mẹ của anh đã bị từ chối, không được vào học đại học vì sự liên hệ của người anh với chính quyền miền Nam. Ngay cả khi Việt Nam nới lỏng các quy định cũ trừng phạt những người có liên quan tới Việt Nam Cộng Hòa trước đây, nhiều người ở miền Nam tin rằng hệ thống vẫn ưu đãi những người có mối quan hệ với cộng sản.

H2Cha của Vũ Tiến, bên phải, đứng cùng với các đồng đội trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Nguồn: Vũ Tiến

Cao thậm chí không màng xin việc tại các công ty do nhà nước kiểm soát ở Việt Nam, là các công ty cung cấp việc làm bền vững, các khoản tiền thưởng và gia tăng cơ hội việc làm cho các thành viên gia đình. “Để có thể kiếm được việc làm trong hệ thống nhà nước, một người phải có bố mẹ hoặc người thân làm việc ở đó, vì vậy những người dân bình thường như chúng tôi không thể tới gần những công ty đó được“. Cao, một sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Ngoại thương Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết.

Thảo luận về mối quan hệ của một người với chính quyền Sài Gòn cũ là một chủ đề nhạy cảm và Cao yêu cầu chỉ sử dụng tên họ của mình. Cuối cùng, anh tìm được việc làm tại một công ty bất động sản tư nhân. “Nếu công ty nhà nước quan tâm đến lý lịch gia đình của tôi, chắc chắn tôi sẽ thất bại”, anh nói.

H3Quân đội Cộng sản tấn công dinh tổng thống ở Sài Gòn, đánh dấu sự kết thúc chiến tranh vào ngày 30-4-1975. Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho via Getty Images

Cuộc chiến bên trong

Kinh nghiệm của anh phản ánh một thực tế kinh tế đối với người dân miền Nam 40 năm sau khi quân đội cộng sản thống nhất đất nước – một sự mỉa mai vô cùng tận. Ngay cả khi mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã cải thiện đáng kể từ khi quan hệ ngoại giao đầy đủ được khôi phục vào năm 1995, các vết thương xã hội bên trong chưa hoàn toàn bình phục từ cuộc chiến huynh đệ tương tàn, đã giết chết khoảng 3 triệu người Việt.

Việt Nam vẫn là một quốc gia phân biệt giai cấp, trong đó truyền thống phân biệt đối xử đối với các cựu đồng minh của Mỹ đang kềm hãm nền kinh tế, bằng cách loại trừ một số người giỏi và thông minh nhất nước, ra khỏi những vị trí hàng đầu tại các công ty nhà nước và chức vụ chính quyền. Mối căng thẳng chiến tranh chưa giải tỏa tại quốc nội cũng xua đuổi đầu tư tiềm năng và chuyên môn cần thiết của nhiều người Việt Nam ở nước ngoài.

Cộng đồng người Mỹ gốc Việt, với con số đông 1,8 triệu người, là nhóm cộng đồng hải ngoại lớn nhất bên ngoài quê hương, bị chia rẽ trong mối liên hệ với chế độ cộng sản. Nhiều người không muốn đầu tư tiền và khả năng chuyên môn về quê hương vì chính quyền vẫn nhìn họ dưới con mắt ngờ vực, ông Nguyễn Thịnh cho biết, là người đã bỏ sự nghiệp ở Silicon Valley để thành lập một công ty phần mềm tại thành phố Hồ Chí Minh.

Ông nói: “Trừ khi các cộng đồng ở nước ngoài thấy một vài nỗ lực hòa giải, Việt Nam sẽ không hấp dẫn được những thành phần tinh túy nhất nước ngoài. Rất nhiều lần, người Việt nước ngoài không được đối xử công bằng, chứ đừng nói đến được hoan nghênh ở đây“.

Một trở ngại lớn cho phát triển kinh tế của Việt Nam là sự thiếu hụt kỹ năng bởi vì hệ thống đại học của Việt Nam không đáp ứng được nhu cầu của một nền kinh tế hiện đại, Trinh Nguyễn, nhà kinh tế kỳ cựu về Á Châu đang trỗi dậy, làm cho Công ty Natixis SA có trụ sở ở Hồng Kông, nói: “Một trong những cách dễ nhất để Việt Nam lấp đầy khoảng cách nàyban hành những chính sách thu hút và giữ chân những người Việt ở nước ngoài có kỹ năng cao“.

Lập trường của Hà Nội rằng cuộc xung đột không phải là một cuộc nội chiến, mà là cuộc cách mạng chống lại Mỹ và chính quyền bù nhìn Sài Gòn, là “trở ngại lớn nhất đối với hòa giải”. Huy Đức, một cư dân đến từ Hà Nội và là tác giả sách “Bên Thắng Cuộc”, một quyển sách về Việt Nam sau khi thống nhất đất nước, nói.

Ông Đức nói: “Chế độ hiện tại này chưa từng suy nghĩ một cách nghiêm túc về vấn đề hòa giải thực sự. Họ luôn luôn khẳng định mình là kẻ thắng cuộc chiến và là bậc thầy của dân tộc“.

H4Quốc kỳ và biểu ngữ chào mừng Đảng Cộng sản được trang trí trên đường phố Hà Nội, Việt Nam. Nguồn: Justin Mott/Bloomberg

Sau chiến tranh, các đảng viên được tin cậy của Đảng Cộng sản và gia đình của họ được tưởng thưởng với những chức vụ hàng đầu, trong khi những người Việt Nam là đồng minh của Mỹ thì bị trừng phạt và con cái của họ bị từ chối các cơ hội. Nhiều người miền Bắc đã được gửi đến miền Nam bị chinh phục. Ngày nay, chính sách đó đã góp phần vào hệ thống vững chắc, vẫn mang vẻ nghiêng về phía người Bắc và Đảng viên Cộng sản:

  • 22 trong số 25 doanh nghiệp nhà nước lớn nhất của Việt Nam có trụ sở tại Hà Nội, thủ đô của đất nước.
  • ĐảngCộng sản không chấp nhận là đảng viênnếu cha mẹ của một người (hoặc cha mẹ của người phối ngẫu) từng làm việctrong chính quyền [cũ] hoặc”quân đội của kẻ thù”.
  • Haiphần ba trong khoảng 3triệu đảngviên Cộng sảncủaViệt Namcư ngụ ở các tỉnhphía Bắccủa đất nước,từ QuảngTrịtrở ra,tính đến năm 2010, theoCarlyleThayer, giáo sư danh dựvàchuyên giavề Việt NamtạiHọc việnQuốc phòngÚcởCanberra. Miền Bắcchiếm 46%, trong số 87triệu dâncủa đất nước.
  • Khoảng 70% nội cácchính phủ hiện nay là người miền Bắc, so với 30% từ các tỉnh miền Namvà miền Trung.

Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ Ngoại giao và Bộ Công an đã không trả lời các câu hỏi về hòa giải trước khi bài viết này được đăng tải.

Trong một bài diễn văn nhân ngày 30 tháng 4 tại thành phố Hồ Chí Minh, đánh dấu kỷ niệm 40 năm thống nhất đất nước, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi người Việt tại quê hương và hải ngoại “nêu cao chủ nghĩa dân tộc, lòng yêu nước, truyền thống nhân đạo, khoan dung, không phân biệt quá khứ, vượt lên trên những khác biệt, để thật tâm hòa giải dân tộc”.

Trả thù sau chiến tranh

Sau khi bị cộng sản tiến chiếm, Sài Gòn được đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh và hơn 1 triệu người, gồm những người đã chiến đấu bên cạnh quân đội Mỹ hoặc phục vụ trong chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũ, đã bị đưa đến các trại cải tạo, theo báo cáo của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc.

Toàn bộ các gia đình, thường kéo dài đến ba thế hệ, được coi là có “lý lịch gia đình xấu” bởi vì mối liên quan của họ với chính phủ đã bị sụp đổ. Hệ thống kiểm tra lý lịch đó, vẫn còn tồn tại đến ngày nay, đã ngăn cản nhiều người không xin được việc làm hay bước vào các trường đại học. Sự đối xử khắc nghiệt góp phần vào luồng di cư của hơn 1 triệu người Việt Nam tỵ nạn.

H5

Đó sự phân biệt đối xử khi quy định ngăn cấm gia nhập đảng đối với những người cha mẹ hoặc cha mẹ bên vợ, bên chồng làm việc cho chế độ cũ“, ông Vũ Tiến, người học đại học tại thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu không sử dụng tên đầy đủ của mình, cho biết. Cha anh phục vụ trong quân đội miền Nam, Việt Nam, và ông quyết định di cư đến một nước phương Tây vì anh thấy triển vọng kinh tế tốt hơn cho bản thân ở nước ngoài. “Đó một chính sách bất công và vô nghĩa, từ khi chiến tranh kết thúc 40 năm trước đây“.

Bằng nhiều cách, hận thù đã dịu lại qua nhiều thập niên giữa những kẻ thù cay nghiệt một thời, và thái độ của khu vực cũng góp phần vào sự mất cân bằng chính trị và kinh tế. Con gái của ông Dũng, một người miền Nam, từng bị thương khi là một y tá Việt Cộng trong cuộc chiến, đã kết hôn với Henry Nguyễn, người Mỹ gốc Việt, người có cha từng làm việc cho chính phủ miền Nam Việt Nam. Người Việt có quan hệ với chế độ cũ hiện nay, có thể đạt được một số vị trí trong chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước, mặc dù họ không thể giữ các chức vụ hàng đầu, ông Đức và các nhà nghiên cứu khác cho biết.

Sự phân chia giữa đảng viên miền Bắc và miền Nam gắn liền với di sản của cuộc chiến – đa số các nhà cách mạng cộng sản đến từ miền Bắc – và sự thờ ơ của người miền Nam đối với đảng, ông Thayer nói. “Điều này là khá rõ rệt. Gia nhập đảng không cần thiết đối với nghề nghiệp của họ. ‘Tôi không thể làm một công an, thì sao nào?’ Miền Bắc thắng được cuộc chiến và miền Nam thắng được kinh tế“. Ông Thayer cho biết.

H6

Nhiều sinh viên tốt nghiệp trẻ, đặc biệt là những người ở miền Nam, thích làm việc cho các công ty nước ngoài như Intel Corp và Samsung Electronics Co. Nền kinh tế phồn thịnh của Việt Nam – mà chính quyền dự báo sẽ phát triển 6,7% trong năm tới, tốc độ nhanh nhất trong 9 năm – cung cấp nhiều cơ hội nghề nghiệp ngoài khu vực nhà nước. Nhiều chuyên gia trẻ ở miền Nam cũng cho biết, họ không có ý muốn gia nhập Đảng Cộng sản.

Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm tài chính của Việt Nam và quê hương của những người Việt có quan hệ với chính quyền miền Nam cũ, đã làm nên gần ¼ tổng sản lượng quốc nội (GDP) của đất nước. Hà Nội, ngược lại, đóng góp 10% cho GDP.

Dù sao những thuận lợi cho kẻ chiến thắng tiếp tục làm thay đổi hình thái kinh tế, từ việc tuyển dụng các chức vụ quan chức chính phủ quan trọng, giúp định hình chính sách tài khóa, cho tới sự ưu đãi đối với các công ty nhà nước có trụ sở ở miền Bắc, là các công ty có được sự tiếp cận ưu tiên nguồn vốn từ các ngân hàng do Chính phủ bảo trợ. Các công ty nhà nước sử dụng khoảng 50% đầu tư công của Việt Nam và hút 60% các khoản vay ngân hàng của đất nước, trong khi chỉ đóng góp 1/3 cho GDP, theo số liệu của chính quyền.

H7Những con gà chạy nhảy ngang qua một nghĩa trang đổ nát của hàng ngàn binh lính miền Nam, Việt Nam gần thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Nguồn ảnh: John Boudreau/Bloomberg

“Chế độ hiện tại này chưa bao giờ suy nghĩ nghiêm túc về vấn đề hòa giải thực sự”.

H8Quân đội cộng sản vui cười, ngồi trên nóc xe tải và xe bọc thép ở Sài Gòn khi chiến tranh kết thúc vào tháng 4-1975. Nguồn: AFP/Getty Images

Vấn đề trung thành

Thuật ngữ sau chiến tranh dùng để ngăn cản sự tiếp cận vẫn là một phần của tâm lý và tiếng địa phương của Việt Nam ngày nay: các mẫu đơn chính thức về lịch sử gia đình được yêu cầu đối với các trường học và công việc, đòi hỏi người nộp đơn phải liệt kê những gì các thành viên gia đình đã làm “trước và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975”. Cho đến hôm nay, thuật ngữ “ngụy” dùng cho “chế độ bù nhìn” vẫn còn được sử dụng thường xuyên.

Người Việt viết cho các hãng tin trực tuyến và luật sư trên mạng để hỏi xem họ có thể gia nhập Đảng Cộng sản nếu họ có người trong gia đình phục vụ chế độ “ngy“. Một công ty luật trả lời một câu hỏi trực tuyến vào tháng 10, liệu kết hôn với một viên công an sẽ được phép, khi người phối ngẫu có quan hệ với chế độ cũ. (Luật sư trả lời rằng sẽ không được Bộ Công an cho phép). Một người yêu cầu hỗ trợ pháp lý sau khi ông bị các quan chức tỉnh từ chối việc làm, với lý do bố vợ của ông là một nhân viên kế toán trong chính quyền Sài Gòn.

“Hệ thống chính trị Việt Nam đánh giá cao sự trung thành”, ông Nguyễn Xuân Thành, một thành viên thâm niên của Đại học Hành chánh Kennedy của Harvard tại Việt Nam, có trụ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết. “Hiện vẫn còn mối quan tâm thực sự về những gì họ gọi là diễn biến hòa bình – giới cao cấp trong hệ thống chính quyền từ từ trở nên chống đảng và mất niềm tin vào chủ nghĩa xã hội”.

Trong khi đó, các cựu chiến binh và những người “có công với cách mạng” khác – một sự chỉ định tính anh hùng vẫn được sử dụng ngày nay – và gia đình của họ nhận được trợ cấp theo luật hàng tháng, bảo hiểm y tế và sự đối xử ưu đãi trong việc gia nhập trường học và công ăn việc làm. Cựu chiến binh cộng sản được ưu tiên khi xếp hàng lên máy bay.

Các lợi ích kinh tế

Tình cảm phổ biến về phía những kẻ chiến bại được minh họa bằng một nghĩa trang đổ nát của hàng ngàn binh lính Nam Việt Nam, gần thành phố Hồ Chí Minh. Một số ngôi mộ không còn gì hơn một đống đất và những mộ khác thiếu bia đá. Nhân viên bảo vệ sử dụng nghĩa trang để nuôi gà. Bên kia đường cao tốc gần đó, những ngôi mộ của các cựu chiến binh chiến đấu bên phía những người Cộng sản thì được chăm sóc cẩn thận và được bao quanh với những luống hoa trong “nghĩa trang liệt sĩ”.

Việc hoà giải những vết thương cũ sẽ mang lại cho nền kinh tế sức mạnh hơn nữa, ông Tương Lai nói. Ông là một giáo sư xã hội học và là đảng viên Đảng Cộng sản, là người đã từng cố vấn cho cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Cựu Thủ tướng trông coi việc cải cách kinh tế vào thập niên 1990, nối lại quan hệ ngoại giao với Mỹ và kêu gọi hòa giải dân tộc trong một cuộc phỏng vấn của báo chí năm 2005.

Ông Tương Lai nói: “Để hội nhập với thế giới, chính quyền Việt Nam đầu tiên cần phải hòa giảilàm bạn với những người dân mà họ coi là kẻ thù. Nếu chúng ta không có một sự hòa giải thực sự trong nước, làm sao chúng ta có thể làm điều đó với thế giới?

Ông Mao Trạch Đông mê giết người thế nào?

Ông Mao Trạch Đông mê giết người thế nào?

“Số người Trung Quốc chết vì một quả bom nguyên tử của Mao gấp trăm lần số người chết vì hai quả bom nguyên tử do Mỹ ném xuống Nhật Bản.” (Ảnh: internet)

“Số người Trung Quốc chết vì một quả bom nguyên tử của Mao gấp trăm lần số người chết vì hai quả bom nguyên tử do Mỹ ném xuống Nhật Bản.” (Ảnh: internet)

Bao nhiêu người Trung Quốc chết trong 3 năm Đại nhảy vọt?

Cựu Chủ tịch Mao Trạch Đông được Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) phong là sư tổ, từng có bài thơ «Thấm viên xuân – Tuyết» thể hiện sự xem thường các bậc đế vương trong lịch sử. Các vua chúa như Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Đường Thái Tông, Tống Thái Tổ, thậm chí Thành Cát Tư Hãn, tất cả đều không đáng để ông ta để mắt đến.

Khởi đầu từ năm 1949, Mao Trạch Đông làm ‘hoàng đế’ được 27 năm, tàn sát hơn 60 triệu người Trung Quốc. Ông ta dùng thủ đoạn để cướp chính quyền. Là kẻ điên cuồng với quyền lực, Mao Trạch Đông đã có âm mưu lại có cả dương mưu, lừa gạt dân chúng và khống chế các đối thủ trong Đảng, độc tài cho đến tận hơi thở cuối cùng.

Mao dìu dắt ĐCSTQ cướp chính quyền và được cho là thành công, thực ra cách Mao làm chẳng qua là loại kế sách bẩn thỉu có từ cổ xưa, gọi là ngư ông đắc lợi. Loại mưu mô xảo quyệt này đã được dùng nhiều trong lịch sử Trung Quốc. Sau đây là hai ví dụ:

Vào thời mạt nhà Tần, Hạng Vũ xuất quân quyết chiến quân chủ lực nhà Tần, có công đầu trong diệt nhà Tần. Còn Lưu Bang nhân cơ hội lúc Hạng Vũ và quân Tần quyết chiến đã cướp được Hàm Dương. Sau đó Lưu Bang lại giả vờ thần phục Hạng Vũ rồi âm thầm tích lũy thế lực như tằm ăn rỗi, cuối cùng diệt được Hạng Vũ.

Thời mạt nhà Minh, đội quân nông dân của Lý Tự Thành trường kỳ quyết chiến với nhà Minh, tiểu quốc Mãn Thanh khi đó chiếm cứ vùng biên giới phía đông bắc rồi lặng lẽ quan sát. Lý Tự Thành mất bao nhiêu khổ công cuối cùng mới chiếm được thủ phủ nhà Minh, đang lúc chưa kịp nghỉ ngơi thì quân đội nhà Thanh dưới sự dẫn dắt của Ngô Tam Quế đột nhập vào Sơn Hải Quan đánh Lý Tự Thành. Với đội quân kỵ binh tinh nhuệ 50 nghìn quân đã tiêu diệt Lý Tự Thành và diệt luôn nhà Minh, lập nên triều Mãn Thanh ngoại lai.

Điểm xuất phát của ông Mao Trạch Đông và ĐCSTQ cũng là sự lặp lại của lịch sử: lợi dụng lúc quân Nhật đánh vào, mặc cho quân chính phủ và quân Nhật quyết chiến. Quân Cộng sản chỉ đánh Nhật giả vờ, chiếm cứ địa bàn khắp nơi rồi chuẩn bị lực lượng. Đợi đến khi quân Nhật rút lui, sức mạnh quân chính phủ cũng suy giảm đáng kể, lúc này quân đội ĐCSTQ mới thừa cơ hội tạo loạn và cướp chính quyền.

Cải cách ruộng đất với khẩu hiệu “đánh cường hào, chia ruộng đất” là một lá bùa khác của Mao Trạch Đông. Thực ra, nhìn vào lịch sử, đây cũng là một cách khởi nghiệp thường thấy của những thủ lĩnh nông dân. Ông Mao Trạch Đông áp dụng chiêu này để lừa thiên hạ. Đội quân Cộng sản Trung Quốc đã thực hiện “Cải cách ruộng đất” ở khắp nơi, cưỡng chế phân chia cấp bậc, tước đoạt quyền tư hữu tài sản, kích động quần chúng đánh địa chủ, dùng danh nghĩa “cách mạng” ngang nhiên xét xử và bắn chết địa chủ. Mao Trạch Đông lệnh cho tổ công tác “Cải cách ruộng đất” Cộng sản Trung Quốc: “Đặt chân đến đâu, việc đầu tiên là phải tạo ra cảnh tượng thật khủng bố”. Sau khi hệ thống chính quyền cơ sở của ĐCSTQ xây dựng kiên cố, người nông dân chia ruộng đất xong chưa kịp vui được mấy ngày lại bị ĐCSTQ cho “công xã hóa” tịch thu hết. ĐCSTQ ra lệnh nông dân phải nộp lại toàn bộ ruộng đất, thậm chí cả trâu cày và nông cụ. Mọi tài sản đều thuộc về sở hữu của ĐCSTQ.

Cái gọi là “Cải cách ruộng đất” chỉ là một trò bịp bợm, mãi cho đến tận ngày nay ĐCSTQ vẫn quy định ruộng đất là sở hữu công, cũng tức là sở hữu của Đảng, không chịu trả lại ruộng đất cho nông dân, dùng phương thức cho thuê, thầu khoán để giao ruộng cho nông dân cày cấy.

Trong “Phong trào Ngũ Tứ”, thanh niên Mao Trạch Đông khi viết thư cho chiến hữu Thái Hòa Sâm từng nói rõ: “Tôi ghét cay ghét đắng chủ nghĩa yêu nước”, như Hitler viết trong cuốn «Cuộc tranh đấu của tôi» (Mein Kampf), sau này Mao viết lời hứa thuở thanh niên của ông ta. Mao không chỉ muốn lợi dụng lúc giặc Nhật xâm lược để hòng tìm cách cấu kết với Nhật lợi dụng lúc quốc nạn mà phát tài, hơn nữa còn luôn xem văn hóa Trung Hoa như kẻ thù.

Trong “Cách mạng Văn hóa”, ông Mao Trạch Đông đã dốc tận lực để hủy hoại toàn bộ văn hóa, văn vật, di tích của Trung Quốc. Cả đời ông tôn Nga và Đức với Marx, Engels, Lenin, Stalin làm thầy, trước lúc chết còn không quên lải nhải “muốn được gặp Marx”. Câu nói này giờ đã trở thành câu kinh cửa miệng của tập đoàn quan chức ĐCSTQ.

Thứ “triết học” đấu tranh mà Mao theo đuổi là loại triết học bạo lực, triết học thù hận. Để thu lấy quyền lực, ông ta quen nhìn mọi người như kẻ thù, vì thế không chỉ xem Quốc dân Đảng là kẻ thù mà còn xem chính người của mình như kẻ thù, hoặc là kẻ thù tiềm ẩn. Bất cứ ai chỉ cần hơi kín đáo phê bình ông ta là sẽ bị xếp vào đối tượng để thanh trừng.

Sau “Cách mạng Văn hóa”, ông Hồ Diệu Bang từng phụ trách công tác tổ chức của ĐCSTQ, đã tổng kết về “Đại Cách mạng Văn hóa” của ông Mao Trạch Đông với 100 triệu người bị đấu tố, 80 nghìn gia đình bị hủy hoại, 5 triệu người bị kết án, 7.030.000 người bị tàn phế, số người tự sát lên đến 2 triệu người, gần 200 nghìn người bị xử bắn vì tội danh chính trị.

Đảng Cộng sản Trung Quốc thống trị quốc gia đã thực hiện nền chính trị giết người. Trên thế giới, nhiều người đã ví ông Mao Trạch Đông với Hitler và Stalin, mệnh danh là “ba đại đồ tể” của thế kỷ 20. Nhưng theo thống kê ghi chép lại thì ông Mao chính là kẻ giết người kinh khủng nhất, Hitler và Stalin không thể sánh bằng được.

Hitler giết 6 triệu người Do Thái, Stalin giết 12 triệu người Nga, còn Mao Trạch Đông giết ít nhất cũng lên đến 30 triệu người Trung Quốc, tính cả người bị đói mà chết thì con số lên đến 70 triệu người. Mao nghiện giết người, bất kể thời chiến hay thời bình, có bao nhiêu người chết ông ta không bao giờ quan tâm.

Nội tâm Mao Trạch Đông khinh rẻ nhân dân Trung Quốc, không chỉ giết người hàng loạt, ông ta còn luôn xem dân Trung Quốc như kẻ thù, còn nói ngông cuồng muốn có chiến tranh hạt nhân, không tiếc “hy sinh một nửa dân số Trung Quốc”. Để phát triển quân sự, bất chấp dân chúng phản đối, ông ta tước đoạt lương thực của dân chúng khiến vô số người bị chết đói, thế nhưng vẫn xuất khẩu ồ ạt lương thực để đổi lấy trang bị vũ khí.

Trong tác phẩm tiểu sử Mao Trạch Đông của nữ nhà văn nổi tiếng người Anh gốc Trung Quốc là Trương Nhung, đã viết: “ĐCSTQ chế tạo ra một quả bom nguyên tử tốn 4,1 triệu Mỹ kim. Tính theo vật giá thời đó, có thể cứu được 38 triệu người chết đói”. Nhà văn đau xót nói:

“Số người Trung Quốc chết vì một quả bom nguyên tử của Mao gấp trăm lần số người chết vì hai quả bom nguyên tử do Mỹ ném xuống Nhật Bản.”

Là kẻ cầm quyền mà không quan tâm đến quốc kế dân sinh, thản nhiên phá hoại nền kinh tế, có lẽ xưa nay không ai sánh bằng cựu Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông.

Ông ta cao giọng: “Thà lấy cỏ của Chủ nghĩa Xã hội, không lấy mạ của Chủ nghĩa Tư bản”. Trong 26 năm cầm quyền, nền kinh tế Trung Quốc bại hoại, nhân dân sống tạm cho qua ngày, hàng chục triệu người dân bị chết đói. Điều này có lẽ suốt các thời đại trong lịch sử Trung Quốc, hoặc bất kể một quốc gia trên thế giới nào khác, cũng tuyệt không thể có.

Ông Mao Trạch Đông xem thường giáo dục, chửi rủa tri thức là “cục phân”, đại đa số tri thức bị sỉ nhục hoặc dày vò cho đến chết. Ông ta tuyên bố “chế độ giáo dục phải rút ngắn lại, phải làm cách mạng giáo dục”. Vào thời “Cách mạng Văn hóa“, giáo dục bậc cao của Trung Quốc hoàn toàn bị triệt tiêu, giáo dục trung và tiểu học cũng hoàn toàn hoang phế.

Cách mạng kiểu Mao tóm lại là: Lấy nông dân thay cho trí thức, lấy văn mù thay cho văn nhân, nếu ta nói không bằng ngươi thì ta không cần nói nữa mà dùng vũ lực, kẻ nào thắng kẻ đó chuyên chính, ta là lưu manh mặt dày tâm đen thì còn sợ ai.

Lý Nhuệ, một thư ký của ông Mao Trạch Đông tiết lộ, khẩu hiệu “Mao Chủ tịch vạn tuế” có từ năm 1950. Vào năm đó khi ông ta phê duyệt khẩu hiệu chào mừng ngày Quốc tế Lao động 1/5 đã tự mình bổ sung thêm vào, hơn chục năm sau thì khẩu hiệu này phổ biến khắp Trung Quốc.

Ông Mao Trạch Đông và ĐCSTQ tự xưng là tin vào “Chủ nghĩa Duy vật“, nhưng hành động lại tự mâu thuẫn, khiến người ta phải dở khóc dở cười. Ví như vừa ca lên một câu rằng xưa nay không tồn tại Chúa cứu thế, không có thần thánh, nhưng lại ngay lập tức lại tung hô ta chính là thần thánh của nhân dân!

Bạn trẻ ơi ! Hãy sống thật sung mãn.

Bạn trẻ ơi ! Hãy sống thật sung mãn.

Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

DoanThanhLiem

Gần đây, tôi nhận thấy trên các ly đựng café Starbucks người ta có in một số câu nói thật ngắn gọn của Oprah Winfrey là một người rất nổi danh với chương trình hội thọai trên truyền hình tại Mỹ từ vài ba chục năm gần đây. Điển hình như câu phát biểu sau đây của người nghệ sĩ tài ba này : “Cuộc sống của bạn thật to lớn. Hãy tiếp tục vươn tới” – Nguyên văn tiếng Anh : “Your life is big. Keep reaching”.

Câu nói này khiến tôi liên tưởng đến cái khẩu hiệu rất thông dụng trong giới trẻ trên thế giới từ ba bốn chục năm nay. Câu đó chỉ gồm có 4 chữ thế này : “Think Globally, Act Locally”. Xin tạm dịch dài dòng cho rõ nghĩa hơn : “Hãy suy nghĩ toàn cục, Hãy hành động tại điạ phương”. Nhân tiện, tôi cũng xin trình bày một vài suy nghĩ liên hệ đến chủ đề này như sau.

I – Thích nghi với hòan cảnh mới của xã hội tiến bộ.

Ngày nay với sự tiến bộ thần kỳ của khoa học kỹ thuật cũng như sự thịnh vượng về mặt kinh tế tại khắp nơi trên thế giới – và đặc biệt là sự bùng nổ thông tin và giao lưu giữa các dân tộc – thì hiện tượng tòan cầu hóa càng ngày càng mở rộng trên khắp các lãnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa cũng như chính trị. Trong một thế giới văn minh phát triển như thế, thì mỗi cá nhân riêng lẻ – cũng như mỗi tập thể dân tộc của một quốc gia – đều phải cố gắng học tập, suy nghĩ, tìm hiểu để mà theo kịp được với những sự chuyển biến lớn lao của xã hội. Như dân gian ta thường nói : “ Mỗi khi nước nổi lên, thì con thuyền cũng phải dâng cao theo”. Đó là một quy luật trong cuộc tranh đấu sống còn của thiên nhiên cũng như của cộng đồng nhân lọai vậy.

Còn về mặt hành động, thì cũng phải thích nghi với hòan cảnh thực tế tại mỗi địa phương với những đặc thù về văn hóa xã hội cũng như về kinh tế chính trị riêng biệt tại mỗi nơi, mỗi lúc. Cụ thể như tại nhiều nơi trên thế giới kể từ thập niên 1950, người ta thường phát động những chương trình họat động gọi là “Phát triển Cộng đồng” (Community Development Program) nhằm cải thiện môi trường sinh họat của từng địa phương. Đó là những công tác cải tiến xã hội thực tiễn mà được thực hiện với sự tham gia tự nguyện và hăng say phấn khởi của chính người dân địa phương, ngay tại “hạ tầng cơ sở” nơi đó (at the grassroot).

Cũng tại các điạ phương, thì thường xảy ra những bất công áp bức do người có quyền thế gây ra làm khổ cực cho người dân “thấp cổ bé miệng, thân cô thế cô”. Vì thế mà cần phải có những người trượng phu quân tử dám ra tay nghĩa hiệp để bênh đỡ cho những nạn nhân của bất công xã hội đó. Như cha ông ta xưa kia đã từng nhắc nhở trong câu “Anh hùng thấy sự bất bình chẳng tha”. Và chính vì khía cạnh “Hành động nhằm bênh vực sự Công bằng Xã hội” này, mà tôi muốn khai triển chi tiết hơn trong mục sau đây.

II – Vai trò làm “Đối trọng” của Xã hội Dân sự hiện nay.

Như ta đã biết Xã hội Dân sự đóng hai vai trò chính yếu, đó là vừa làm “Đối tác” và vừa làm “Đối trọng” đối với chính quyền nhà nước (Counterpart/Counterbalance). Làm đối tác là cùng sát cánh với nhà nước trong lọai công việc từ thiện nhân đạo, giáo dục thanh thiếu niên v.v…, như các Hội Hồng Thập Tự, Hướng Đạo, Cứu trợ Nạn nhân Thiên tai Bão lụt. Còn làm đối trọng là tranh đấu bênh vực những nạn nhân của bất công áp bức do cán bộ nhà nước gây ra, điển hình như bênh vực Dân oan bị mất nhà mất đất, bảo vệ các nạn nhân bị công an cảnh sát đối xử tàn bạo, chà đạp nhân phẩm v.v…

Từ trên 60 năm nay, kể từ ngày Liên Hiệp Quốc công bố Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền vào năm 1948, thì lần lượt tại khắp nơi trên thế giới đã phát sinh ra một Phong trào Tranh đấu cho Phẩm giá và Quyền Con Người. Cuộc tranh đấu này đã và đang diễn ra hết sức kiên cường sôi nổi nhằm bắt buộc giới cầm quyền cũng như giới tài phiệt tại từng quốc gia phải chấm dứt mọi hành động bất công áp bức đối với người dân sở tại. Và đặc biệt trong vòng 30 năm nay, nhờ sự phổ biến của Internet mà người dân tại nhiều quốc gia đã có thể trao đổi tin tức vừa mau lẹ vừa chính xác cho nhau – để rồi từ đó mà đưa ra những hành động hợp thời, hiệu quả nhằm bênh vực quyền lợi chính đáng của bà con đồng bào ruột thịt của mình.

Riêng ở nước Việt nam chúng ta hiện nay, thì đang xuất hiện công khai các nhóm, các tổ chức tự phát mà có đủ cả ba tính chất “phi chính phủ”, “bất vụ lợi” và “tự nguyện” của Xã hội Dân sự nhằm đòi hỏi nhà cầm quyền cộng sản phải thực tâm tôn trọng những quyền tự do căn bản của mỗi người công dân – như đã được ghi rõ trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và các văn bản liên hệ khác cũng do Liên Hiệp Quốc ban hành. Như vậy là cuộc tranh đấu của bà con chúng ta ở trong nước đã đi đúng hướng với phong trào tòan cầu để đòi hỏi mọi chính phủ phải thực thi những cam kết về Bảo vệ Nhân quyền từ lúc họ k‎ý‎‎ kết phê chuẩn các Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị, cũng như về Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa.

Cụ thể là gần đây, nhiều nhà tranh đấu nhân quyền từ Việt nam đã có mặt tham gia tại các buổi điều trần công khai về nhân quyền do Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Geneva Thụy sĩ hay do tổ chức Cộng Đồng Âu Châu (EU = European Union) hoặc do chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ mở ra cho công chúng tham dự. Rõ rệt là các vị đó đang cất lên tiếng nói thay cho những nạn nhân của bất công áp bức ở Việt nam – những người luôn bị chính quyền cộng sản bịt miệng không cho phát biểu – điển hình là Linh mục Nguyễn Văn L‎ý đã bị công an công khai bịt miệng trước phiên tòa.‎‎ (Voice for the Voiceless in Vietnam).

Như vậy là cuộc tranh đấu cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền tại địa phương Việt Nam chúng ta hiện đang có được sự thông cảm, liên đới và sự tiếp tay yểm trợ của nhiều dân tộc trên thế giới vậy đó (Local Action with Global Solidarity and Support).

III – Chúng ta tranh đấu vì “Yêu thương trọn vẹn” đối với đồng bào ruột thịt thân yêu của mình.

Vào năm 1995, lúc còn bị giam giữ tại trại Z30D ở Hàm Tân Phan Thiết, tôi có làm một bài thơ song ngữ tiếng Việt và tiếng Anh nhan đề “Nói với Bạn Trẻ” – trong đó có mấy câu cuối như sau :

…”Hãy sống thật sung mãn

Bằng Yêu thương trọn vẹn

Và biết tận hưởng

Sự An bình Ngây ngất

Trong sâu thẳm nội tâm chúng ta.”

Tôi muốn đưa cụm từ ngữ “Hãy yêu thương trọn vẹn” trong bài thơ này để góp thêm vào với cái khẩu hiệu “Hãy suy nghĩ toàn cục, Hãy hành động tại địa phương” đã ghi ở trên thành một khẩu hiệu có ba vế mà được viết ra tiếng Anh như sau :

               “ Think Globally – Act Locally – Love Totally”.

Và tôi cũng muốn nói rõ hơn với các bạn trẻ rằng : Ở vào đầu thế kỷ XXI này, hiện phần đông trong chúng ta đang được hưởng thụ những thành quả tốt đẹp của sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, của nền kinh tế thịnh vượng và của sự thông cảm và liên đới quốc tế. Đó là những phúc lộc do cha ông chúng ta trước đây và cũng do nhân lọai tiến bộ ngày nay đã góp phần tạo dựng ra để cho tất cả chúng ta được sống trong bàu không khí nhân ái an hòa, được chia sẻ sự thịnh vượng và tiến bộ của cộng đồng thế giới hiện nay.

Vì từ gần 70 năm qua, người cộng sản đã gieo rắc hận thù ân óan của chủ thuyết “đấu tranh giai cấp” với “chuyên chính vô sản” vào trong lòng dân tộc ta – khiến cho cái nọc độc bạo lực căm thù đó đã tàn phá đến tận cội rễ trong tâm hồn con người Việt Nam chúng ta, làm băng họai tiêu diệt hết cái truyền thống nhân ái bao dung trong xã hội – mà phải biết bao nhiêu thế hệ vất vả cực nhọc cha ông ta mới gầy dựng nuôi dưỡng lên được. Do đó, mà tôi muốn kêu gọi các bạn trẻ hãy nghiêm túc nghe theo lời kêu gọi khuyên nhủ của cha ông chúng ta từ xa xưa – mà được gói ghém trong hai câu văn thật ngắn gọn như sau :

                       “Đem Đại nghĩa thắng Hung tàn.

                         Lấy Chí nhân thay Cường bạo”.

Trong cuộc sống của con người thời nào và ở đâu cũng vậy – điều qu‎ý báu nhất là do nơi tấm lòng nhân ái yêu thương đùm bọc lẫn nhau, giúp đỡ nhau mỗi khi có ai gặp họan nạn, bị bóc lột chèn ép… Các bạn trẻ ngày nay được học hỏi tiếp cận nhiều với thế giới văn minh tiến bộ, thì các bạn càng có nhiều khả năng, nhiều sáng kiến để mà đem ra giúp dân giúp nước đang bị cả hai thứ “thù trong, giặc ngòai” quấy phá.

Và chỉ khi nào mà – thông qua những hành động cụ thể tích cực – các bạn biết đem hết cái Tình Yêu Thương Trọn Vẹn đó ra để san sẻ rộng rãi với đông đảo các bà con đang là những nạn nhân khốn khổ bất hạnh của cường quyền bạo lực ở nơi quê nhà, thì cuộc sống của các bạn mới thật sự sung mãn và có ý ‎nghĩa cao đẹp tuyệt vời vậy./

San Clemente California, ngày 8 tháng Bảy 2014

Đoàn Thanh Liêm

*         *         *

Ghi chú :

1 – Bạn đọc muốn tìm hiểu thêm về các câu nói của Oprah Winfrey hay về khẩu hiệu “Think Globally, Act Locally”, thì có thể tìm kiếm trên Internet bằng cách bấm Google và đánh các chữ liên hệ như “Oprah Winfrey quotes”, “Think Globally, Act Locally”.

2 – Ba văn kiện căn bản hợp thành Bộ Luật Quốc Tế Nhân Quyền (do Liên Hiệp Quốc ban hành năm 1976) gồm :

A – Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (công bố năm 1948)

B – Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị (LHQ biểu quyết năm 1966 và các quốc gia lần lượt phê chuẩn)

C – Công ước Quốc tế về Quyền kinh tế, Xã hội và Văn hóa (LHQ biểu quyết năm 1966 và các quốc gia lần lượt phê chuẩn).

Tiếng Anh :The International Bill of Human Rights consists primarily of three following texts :

I- The Universal Declaration of Human Rights (UDHR);

II- The International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR);

III – The International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights (ICESCR).

3 – Về bản tiếng Anh của bài thơ “A Message to Youth” tôi làm hồi còn ở trại Z30D Hàm Tân Phan Thiết năm 1995, thì cũng có trên Google với mục “Poems from Prison Doan Thanh Liem”.

4 – Bản tiếng Việt của bài thơ “Nói Với Bạn Trẻ’ nguyên văn như sau :

I – Bạn trẻ của tôi ơi!                      

*Hãy suy nghĩ chính xác              

Để khám phá được                        

Những điều kỳ diệu                    

Trong Thiên nhiên                      

Và Xã hội loài người.        

*Hãy có lòng nhân hậu

Để yêu thương tất cả mọi người

Kể cả thù địch.

II – Bạn trẻ của tôi ơi!                      

*Hãy nâng tâm trí lên cao        

Để tạo cho cuộc sống thêm ý nghĩa.                        

*Hãy chịu trả đắt giá                      

Để có được sự cao cả nơi tâm hồn.

III – Bạn trẻ của tôi ơi!

*Hãy chia sẻ những phúc lộc

Cùng với tất cả anh chị em mình

*Hãy đích thực là mình

Với phong cách tốt đẹp xưa nay

Giữa lòng cái thế giới hỗn độn này

IV – Bạn trẻ của tôi ơi!

*Hãy có hành động thích đáng

Trong giờ phút đày thử thách

Của Lịch sử vinh quang chúng ta.

*Hãy sống thật sung mãn

Bằng Yêu thương trọn vẹn

Và biết tận hưởng

Sự An bình Ngây ngất

Trong sâu thẳm nội tâm chúng ta./

Làm tại Hàm Tân, Mùa Xuân 1995

Sao lục lại tại California, năm 2010

Cỏ cũng không có để mà ăn! Ở thiên đàng CS Bắc Hàn

Cỏ cũng không có để mà ăn! Ở thiên đàng CS Bắc Hàn

   Phương Tôn                                                                                                                     

Cuốn hồi ký „Đi ngược dòng – Cuộc trốn chạy khỏi Bắc Hàn khốn khổ“ của Timothy Kang vừa được xuất bản như một cái tát vào mặt những tập đoàn lãnh đạo đảng Cộng Sản Bắc Hàn đứng đầu là Kim Jong-un.

Timothy Kang sinh năm 1986 tại Danchosi thuộc Bắc Hàn. Khi vừa mới 11 tuổi cậu bé đã cùng mẹ bỏ Bắc Hàn chạy trốn sang Trung Cộng. Do cùng là loại thảo khấu, nhà cầm quyền Trung Cộng bắt giam người tỵ nạn rồi trao trả cho Bắc Hàn. Kang bị tống giam hai năm tù khổ sai. Như một phép lạ, cậu ta sống sót sau những năm bị đày đọa trong tù rồi lại còn thoát được nhà tù lớn Bắc Hàn và hiện đang sống cùng vợ tại Nam Hàn.

Hiện vẫn chưa có một thống kê chính xác về con số người bỏ trốn khỏi Bắc Hàn, nhưng chính xác thì con số người thành công vượt ra khỏi Bắc Hàn lại rất ít. Đến được vùng đất an toàn nhưng có lẽ những người vượt tuyến thành công vẫn còn bị ám ảnh bởi sự dã man tàn bạo của nhà cầm quyền nên đa số người tỵ nạn Bắc Hàn đều không dám lên tiếng tố cáo chế độ. Kang là một trong số người hiếm hoi viết lại hồi ký để lên án chế độ bất nhân, tố cáo cùng thế giới những điều kiện giam giữ tồi bại trong các trại tù và các trại cưỡng bức lao động của Bắc Hàn, và cũng để nhắc nhở cùng thế giới về một loại động vật đi hai chân đang sống lầm than vất vưởng tại Bắc Hàn nhưng hiện đang bị loài người bỏ quên.

Đặc biệt xin giới thiệu cùng bạn đọc đoạn ngắn trong tập hồi ký (do Bild Online phổ biến) nói về trận đói thế kỷ từ năm 1994 đến năm 1997 tại Bắc Hàn. Thực sự tại xứ Cộng Sản này chẳng khi nào người dân được no cơm, nhưng do sự ngu xuẩn cộng thêm lối tôn sùng xác chết lãnh tụ đã thối rữa một cách bệnh hoạn của tập đoàn lãnh đạo, người dân trong những năm này đành phải chịu chết vì đói. Họ ăn hết tất cả những gì có thể nhai được và ngay cả cỏ cũng không còn đủ để mà ăn!

* * *

Thời thơ ấu trong địa ngục

Tôi chào đời vào năm 1986 tại Unchŏn, một ngôi làng nhỏ thuộc Danchŏnsi, Hamkyŏngnamdo. Đây là khu vực khai thác mỏ. Ở đây chẳng có gì khác hơn là đá và bụi bay mù trời khi bị gió lốc. Toàn bộ phủ màu xám nghịt, chẳng có màu sắc gì khác hơn, chẳng có màu xanh cây cỏ. Mà nếu như có cây cỏ xanh thì người ta cũng ăn chúng ngay lập tức. Chúng tôi bị đói ăn.

Khi vừa lên ba thì cha tôi qua đời do tai nạn. Mất cha, chúng tôi mất luôn sự bảo bọc, nguồn sống và ngay cả căn hộ để ở. Không nơi trú ngụ, mẹ phải dẫn tôi đi quanh quẩn từ chỗ này sang chỗ khác. Đây là khoảng thời gian có đến chừng hai phần ba người dân Bắc Hàn bị đói. Mẹ cũng chẳng có gì để nuôi tôi ăn.

Trong khoảng thời gian khá dài chúng tôi về sống cùng bà ngoại. Tôi là cái gai nhọn trong con mắt của bà vì ngay chính bà cũng chẳng lo được cho thân bà thì lấy gì để nuôi tôi. Bà xem tôi như là gánh nặng mà bà phải nuôi ăn.

bachan-doi

Cái đói làm hiện ra cái xấu xa được chôn dấu trong con người ta. Đây là cái điều mà về sau này chính tôi cũng tự nhận thấy ngay chính bản thân mình. Nó phá tan tình cảm gia đình trong cuộc chiến giành nhau để được sống còn. Bà ngoại giao cho tôi cái rìu nhỏ để đi chẻ củi như ngầm nói „có ăn thì phải có làm“. Giờ ngồi viết lại thật khó mà nghĩ rằng hồi đó tôi vừa bốn tuổi. Hàng ngày tôi đi ra khỏi cái thành phố xám nghịt để vào rừng, ra ruộng mót củi, mót củ, mót đậu. Từ khoai tây, đến ngũ cốc, bắp, củ cải… tất cả những gì tìm thấy tôi đều gom nhặt đem về. Mỗi khi có ít nhiều đem về thì bà ngoại vui lắm, còn như đi về với hai bàn tay trắng thì bà lại chửi mắng.

Phần số bi thương xảy ra cho gia đình cha ghẻ của tôi khi ông nội của ông vô tình làm vỡ tấm kính khung hình của Kim II Sung trong lúc lau chùi.

Hàng xóm biết vụ việc, thế là đêm hôm sau ông ta biến mất không để lại dấu vết. Tại Bắc Hàn, một khi bạn có lời không tốt về Kim II Sung hay làm hư hại tấm hình của ông ta thì ngay lập tức bạn bị tống vào trại tù chính trị, xem như bản án tử hình rồi sẽ không xa. Chân dung của Kim II Sung và Kim Jong II được treo khắp mọi nơi. Được dùng để trang trí nơi công cộng, treo trong mỗi lớp học và trong nhà riêng cũng không được phép thiếu.

Thảm họa chết đói 1994-1997

Từ cái hồi tôi bé, khẩu phần lương thực do nhà nước phát được xem như là cuộc sống căn bản. Nhưng sau cái chết của Kim II Sung, thời gian để tang được kéo dài từ một trăm ngày lên đến ba năm, rồi đảng lại tuyên bố bắt đầu chiến dịch được gọi là cuộc „Chinh hành lớn“. Trên nguyên tắc người dân được phát khẩu phần ăn nhưng thực tế thì hàng hóa chẳng bao giờ đến tay người dân, do đó những năm kế tiếp có đến hơn ba triệu người bị chết đói. Trận đói này là một thảm họa của đất nước mà không ai có thể tưởng tượng được bởi vì ngay cả cỏ cũng không đủ để mà ăn.

Người dân hoàn toàn lệ thuộc vào khẩu phần lương thực được phát, nên đến khi nhà nước không phát nữa thì người ta đành chịu chết đói đặc biệt là giới trí thức. Chỉ có những người như tôi, chịu nhổ gốc cỏ, cạo vỏ cây mà ăn hoặc đi trộm cắp thực phẩm mới thoát qua được giai đoạn đói này để sống cho đến ngày hôm nay. Con số người chết không thể nào tính cho hết. Có những khu chung cư không còn ai sống sót vì đói. Đi đâu cũng nghe tiếng khóc than vì thân nhân qua đời.

Cỏ là bữa ăn chính

bachan-doian

Để sống sót chúng tôi phải ăn cỏ hàng ngày. Gạo và bắp thì càng ngày càng hiếm. Thỉnh thoảng nguyên cả ngày chúng tôi chẳng có gì để ăn. Tôi còn nhớ bữa ăn cỏ đầu tiên trong đời.

„Mày muốn sống thì mày phải ăn – ngay cả khi chỉ là cỏ mà thôi! Mình đi mót cỏ mà ăn“, mẹ nói. Vừa ngay khi đó thì tôi xây xẩm mặt mày vì hệ tuần hoàn có vấn đề sau vài ngày chẳng có gì để nhét vào bụng. Mẹ đi chừng vài tiếng đồng hồ đem về được một lố cỏ ăn được. Không riêng gì chúng tôi mà rất nhiều người sau khi bị ngưng cung cấp khẩu phần lương thực phải đi nhổ cỏ mà ăn, cái loại cỏ mà trước đây chỉ dành cho heo ăn. Tôi từng nghĩ rằng chỉ có thú vật mới ăn cỏ nhưng nay không ngờ lại đến phiên chúng tôi.

Khi nghe mẹ gọi „ Chŏl có đồ ăn đây!“ tôi liền ngồi bật dậy thật sung sướng. Mẹ nấu cỏ rồi bỏ vào ít muối. Đã một vài ngày bao tử của tôi chẳng phải làm việc gì. Tôi nhai một vài cọng cỏ đắng chát nhưng nó cứ vướng nơi cổ họng. Cuối cùng thì tôi phải phun nó ra.

„ Chŏl khi mày muốn sống thì mày phải ăn cỏ! Mày không chịu ăn thì mày sẽ chết! Mày có muốn chết chung với tao không?“ Mẹ quá đau khổ. Bà cũng chẳng có gì khác để cho tôi ăn nữa. Bà lại đút cỏ vào miệng tôi. Tôi cố tìm cách nuốt nhưng nó vẫn nghẹn nơi cuống họng. Tôi làm thinh nằm xuống trong khi nước mắt trào ra.

Đứa bé con chết đói

Dì tôi có đứa bé con chưa đầy năm nhưng dì không có sữa cho nó bú vì dì chẳng có gì để ăn. Cứ mỗi lần đứa bé khóc rú lên vì đói thì dì lại đẩy nó vào bầu vú đã cạn sữa, nhưng cái kiểu này cũng chẳng lừa nó được lâu, vậy là nó khóc thét lên, không không ngừng. Tiếp như vậy vài ngày thì nó cạn tiếng vì đuối sức. Cuối cùng thì nó chết trên lưng cõng của dì.

Xã hội như đóng băng, lạnh lùng và không có một thay đổi dù nhỏ nhặt nhất. Bất kể ở đâu, dù có mỏi mắt tìm kiếm cũng chẳng có một dấu vết của tình yêu, của sự sống. Cái câu nói dễ dàng nhất, thông dụng nhất như là „Mẹ yêu con“, „Bà thương cháu“, „anh yêu em“ tôi chưa bao giờ được nghe từ ngày được sinh ra đời. Tôi chẳng biết cái chữ „Tình yêu, Tình thương“ có ý nghĩa như thế nào. Ngay cả trong gia đình người ta cũng chẳng để ý, nhường nhịn nhau. Người nào lo thân người nấy. Mỗi khi có liên hệ cùng nhau thì liền xảy ra cãi vã sinh ra thù hận.

Phương Tôn

Xuân về – nhớ những Bạn Tù Năm Xưa.

Xuân về – nhớ những Bạn Tù Năm Xưa.

Đoàn Thanh Liêm

*     *     * Vào tiết Trung Thu năm Nhâm Thân 1992, tôi cùng với Thày Đạt (Hoà Thượng Thích Huệ Đăng) bị chuyển từ trại giam Chí Hòa đến khu K2 thuộc trại Thủ Đức mà thường được gọi là trại Z30D ở Hàm Tân, Phan Thiết. Trong gần 4 năm tại Z30D, hai chúng tôi ở chung với rất nhiều bạn tù chính trị khác và với cả ngàn tù nhân thường phạm khác nữa trong các khu K1, K2, K3, K4.

Năm 2016 này, tôi xin ghi lại ít câu thơ để riêng tưởng nhớ đến những bạn tù đã ra đi mà tôi được biết rõ ràng – điển hình như hai vị cao niên Nguyễn Quốc Sủng, Lý Trường Trân, Thày Đạt, nhà thơ Vương Đức Lệ, các bạn Phạm Thế Công, Lê Nghiêu, Trần Phước Huệ (hai bạn sau chết tại Hàm Tân năm 1994-95) v.v…

Và cũng xin được gửi đến tất cả các bạn tù chính trị khác mà đã cùng bị giam giữ tại Hàm Tân trong thời gian 1992 – 1996.

Bài thơ chỉ có bốn câu lục bát thật ngắn ngủi như sau :

Xuân xưa – với bạn trong tù

                             Ngọt bùi cay đắng – tâm tư sáng chiều

                                   Xuân nay – tóc bạc thêm nhiều

                           Người còn, người mất – thương yêu vẫn tròn./

Costa Mesa, California Tháng Giêng 2016

Đoàn Thanh Liêm.

Câu nói đáng suy nghĩ

“Ở mỗi thời kỳ, mỗi dân tộc sẽ phải cam chịu hay có một số phận xứng đáng với sự lựa chọn và cách sống của họ.”
Ngô Thế Vinh

Việt Hoàng: Cuối cùng thì Nguyễn Sinh Hùng mới là Tổng bí thư?

Việt Hoàng: Cuối cùng thì Nguyễn Sinh Hùng mới là Tổng bí thư?

Thông Luận

Việt Hoàng

Cuộc thư hùng trong nội bộ ĐCSVN vẫn chưa ngã ngũ trong Hội nghị 13 vì vậy nó sẽ tiếp tục “thi đấu” ở Hội nghị 14, dự kiến sẽ nhóm họp vào đầu tháng 1/2016. Ai sẽ là người chiến thắng sau cùng?

Theo dư luận thì cuộc chiến trong đảng là sự đối đầu giữa đương kim thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Tương quan lực lượng là 50-50. Trước đây vài tháng thì tương quan nghiêng về phía ông Nguyễn Tấn Dũng nhưng vì ông Dũng có quá nhiều sai lầm và quá nhiều vết để các đối thủ khai thác và công kích.

Ông Dũng đã chống đỡ một cách lúng túng và thiếu mạnh mẽ qua một tài liệu được cho là thư gửi Bộ chính trị ĐCSVN mới được công bố trên trang Anh Ba Sàm.

Sỡ dĩ ông Dũng được ủng hộ vì ông đã có một chiến thắng ngoạn mục trong Hội nghị 6, khi đó ông đã lật ngược được thế cờ với chiến thắng mang tên “đồng chí X”. Đám quan chức theo ủng hộ ông vì cho rằng ông mạnh và sẽ chiến thắng chứ không phải vì ông là người có bản lĩnh hay tài giỏi gì.

Hội nghị 12 ông Dũng phải dùng đến con gái mình để phản công đối thủ chứng tỏ ông đã yếu đi. Thêm một chi tiết mà ít người chú ý đến là sự vắng mặt của một nhân vật rất quan trọng luôn đứng bên cạnh ông Dũng là Thượng tướng, Thứ trưởng quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh.

Một chi tiết rất đặc biệt trong tài liệu được cho là thư của ông Dũng gửi Bộ chính trị là việc ông Dũng “xin rút lui”. Nếu trường hợp này xảy ra và tài liệu kia là thật thì chuyện gì sẽ xảy ra? Đương nhiên ông Dũng không thể “về vườn” một mình được. Nếu ông Dũng “rút” thì ông phải ép ông Nguyễn Phú Trọng và ông Trương Tấn Sang rút cùng. Chuyện này đã xảy ra không phải một lần trong nội bộ ĐCSVN.

Nếu ông Dũng, ông Trọng và ông Sang cùng rút lui thì ai sẽ lên làm Tổng bí thư?

Người đó chính là đương kim chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.

Sau khi Hội nghị 13 vừa kết thúc thì ông Nguyễn Sinh Hùng đã vội vã sang Trung Quốc để trình diện hoàng đế Tập Cận Bình và nhận chỉ thị của thiên triều.

Nội dung cuộc viếng thăm đột ngột của ông Nguyễn Sinh Hùng, chỉ sau một tháng khi ông Tập Cận Bình đến Hà Nội đã được Vietnamnet đưa tin (xin bấm vào hàng chữ xanh để đọc Vietnamnet):

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đề nghị hai nước thúc đẩy thực hiện nhận thức chung và các thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao của hai nước; thúc đẩy hợp tác trên nhiều lĩnh vực với các hình thức linh hoạt, đa dạng, gắn kết vững chắc hơn quan hệ chính trị, đoàn kết, hữu nghị và hợp tác giữa hai nước.

Trên tinh thần quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, hai nước cần đẩy mạnh hơn nữa hợp tác toàn diện và hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực về kinh tế, thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục… đảm bảo cân bằng lợi ích, đôi bên cùng có lợi; cả trong quan hệ song phương cũng như hợp tác đa phương tại các diễn đàn khu vực và quốc tế. 

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, sự ủng hộ lẫn nhau tại các cơ chế, diễn đàn quốc tế có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của mỗi nước”.

Nói ngắn gọn thì ông Nguyễn Sinh Hùng quyết tâm theo phò thiên triều đến cùng qua việc biến Việt Nam thành một vùng tự trị của Trung Quốc.

Nguyễn Sinh Hùng là người như thế nào?

Xin trích một số câu nói “bất hủ” của Tổng bí thư tương lai:

  • Quốc hội là cơ quan lập pháp, nếu quyết sai cũng phải nhận khuyết điểm chứ không phải kỷ luật, Chủ tịch Quốc hội cũng không phải người đứng đầu Quốc hội. Vì thế, không thể vì cả 500 đại biểu bỏ phiếu mà kỷ luật cả 500 vị hay kỷ luật ông Chủ tịch. “Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai”. [1]
  • Trong công việc tôi làm thời gian qua còn nhiều khiếm khuyết, trong khi yêu cầu của cuộc sống, của sự phát triển ngày càng cao. Phiếu bầu cho tôi không cao thể hiện rõ điều này. Nếu những việc chưa tốt là non nửa, ứng với số phiếu không được bầu là non nửa thì đó là bình thường.(Khi được bầu làm Phó Thủ tướng với số phiếu chỉ đạt 58% năm 2006)[7]
  • Thị trường đã là đáy, anh nào bán thì thiệt, anh nào mua thì thắng. Chính phủ đảm bảo năm nay thị trường phải tăng trưởng.(3/2008, VN-index khoảng 500 điểm)[8]
  • Không thể không làm đường sắt cao tốc (Phiên chất vấn của Quốc hội sáng 12-06-2010)[9]
  • Hôm nay thấy sai một chút chỗ này xử lý, “cách chức đi, kỷ luật đi”, ngày mai thấy sai chỗ kia, “cách chức đi, kỷ luật đi”, lấy ai mà làm việc các đồng chí ? (Phiên chất vấn của Quốc hội sáng 12-06-2010)
  • Thử hỏi trong số chúng ta ngồi đây, bản thân tôi nhiều khi cũng tự hỏi mình làm trăm việc, làm mười việc thế nào cũng sai một hai việc cũng nên, có khi sai lớn, có khi sai nhỏ, nhưng mà các đồng chí cứ dẹp đi thì bầu không kịp ? (Phiên chất vấn của Quốc hội sáng 12-06-2010)[10]
  • Vấn đề các đại biểu đặt ra là tiền, tiền đâu để làm dự án, tôi không lo lắng lắm về vấn đề này, GDP của nước ta những năm qua cũng ổn và dự kiến đến năm 2050 GDP cũng khả quan.[11]
  • Hiện GDP của Việt Nam là 106 tỉ USD, năm 2020 sẽ gần 300 tỉ, năm 2030 sẽ là 700 tỉ và năm 2040 sẽ là 1.000 tỉ. Thu nhập bình quân đầu người hiện nay 1.200, đến năm 2040 sẽ đạt 20.000 USD.(Phiên chất vấn của Quốc hội sáng 12-06-2010)[9]
  • Tôi yên tâm. Yên tâm rằng phải làm. Yên tâm cùng Chính phủ xin Quốc hội chủ trương để làm. Yên tâm là Quốc hội và Chính phủ tính được bài để làm(Phiên chất vấn của Quốc hội sáng 12-06-2010)[12]
  • Ai dám hạn chế không cho các anh phát hành trái phiếu. Chính phủ sẽ không để xảy ra ngừng trệ vốn kinh doanh cho các tập đoàn”.[13]Trả lời than thở của Phạm Thanh Bình, TGĐ Vinashin trong cuộc họp ngày 23 tháng 4 năm 2008: “Vốn chủ yếu vay từ ngân hàng, nhưng lãi suất cao. Chúng tôi đã trình đề án xin phát hành trái phiếu sáu tháng nay nhưng chưa được phê duyệt”. Sau đó Vinashin được vay 10000 tỷ đồng từ các ngân hàng.[14]
  • “Tôi thì vẫn chưa lo”. Ngày 8 tháng 6 năm 2010, ông nói câu này khi được các phóng viên hỏi về những lo ngại về hiệu quả kinh doanh tại Vinashin trong kỳ họp Quốc hội.
  • Dù ùn tắc, nhưng rất trật tự, rất lành mạnh, rất vui tươi (phát biểu trong đánh giá về đại lễ 1000 Thăng Long Hà Nội ngày 5 tháng 1 năm 2011).[15]
  • Xin nói thật là làm thủ trưởng thì nó khác, cho ai nói thì nói, không cho nói thì thôi, người ta nói mình nghe thì nghe mà không nghe thì quên[16]
  • “Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai” [17]
  • “Vậy số nợ còn lại vẫn treo đó khi nào trả? Mấy năm vừa rồi cũng nợ nữa. Đã thế còn vay ngắn, vay ngắn sang năm phải trả. Chưa vay đã trả lấy gì mà cân đối được. Các Ủy ban, Bộ, ngành phải tính chứ tôi nói các đồng chí năm nay không có đồng nào tăng lương. Nói hay thế mà 1 đồng xu tăng lương không có là thế nào?” (Nói trước Quốc hội về tình trạng hụt thu ngân sách trong năm 2014-15) [18]

Theo (vi.wikipedia.org/wiki)

Mới đây nhất khi nói về tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN VN (điều 88), Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng cho ý kiến: ” Tôi nói thật là ta phát biểu nhiều khi cũng vi phạm, bắt cũng được đấy. Nói như vậy để thấy là không thể để một cái tội chống nhà nước quy định chung chung như vậy, muốn bắt ai thì bắt, đâu có được“. Nói thế nhưng luật sư Nguyễn Văn Đài vẫn bị bắt.

Sân sau và các đại gia trong thân tộc của ông Nguyễn Sinh Hùng là như thế nào? Mời mọi người đọc thêm trêm vanews.org (xin bấm vào chữ vanews.org cso màu)

Tất cả mọi dự đoán sẽ sớm được rõ ràng trong một vài ngày tới.

Việt Hoàng

____

Phụlục:

Những tuyên bố ‘vô tiền khoáng hậu’ của ngài Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng

Mỗi chính khách trong thời gian tại nhiệm ít nhiều đều để lại những dấu ấn nhất định thông qua những phát ngôn và hành động. Riêng Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, không chỉ được biết đến như một vị chính trị gia quyền lực có nhiều tập đoàn kinh tế sân sau mà còn nổi tiếng với những phát ngôn bất hủ.

Nhân câu nói của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: “Ăn hết rồi thì lấy đâu đầu tư”, tại phiên họp thường vụ Quốc hội ngày 9/10/2014, bàn về tình hình thu chi ngân sách năm 2014 và câu lập luận “Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai”, tại hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách sáng 11/4/2014. Có thể coi đây là những phát ngôn bất hủ nhất mọi thời đại khiến cho nhiều người nhớ tới những phát ngôn để đời của ông Nguyễn Sinh Hùng trước đây. Xin trích một số câu bất hủ khác của ông để chúng ta cùng suy ngẫm những ngày cuối tuần.

1- Khi làm Phó Thủ tướng, trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ ngày 6/3/2008, ông Nguyễn Sinh Hùng nói: “Tôi đảm bảo TTCK sẽ lên giá và có chất lượng hơn. Nếu là nhà đầu tư chứng khoán thì lúc này tôi sẽ mua cổ phiếu”. Báo Quân đội nhân dân nhấn mạnh thêm ý của ngài: “Thị trường đã giảm đến đáy, nên trong điều hành Chính phủ quyết tâm không để giảm thêm. Thời điểm này, nếu nhà đầu tư nào bán tháo cổ phiếu thì sẽ thất bại, ngược lại người nào có quyết định mua vào thông minh sẽ thắng”. Tuy nhiên, ngay sau thời điểm Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nói câu trên thì chỉ số giá chứng khoán đang đứng ở mức khoảng 600 điểm đã đi xuống một lèo tới đáy thực sự của TTCK là 238 điểm.

2- Trong lần đăng đàn trả lời chất vấn của Quốc hội ngày 12/6/2010, nói về việc xử lý cán bộ, ông Nguyễn Sinh Hùng không ngần ngại nhấn mạnh: “Nghiêm ở đây không có nghĩa sai là ‘chặt chém’ ngay, như vậy thì hết người, không có người để làm… các đồng chí cứ dẹp đi thì bầu không kịp?” rồi ông đặt một hỏi câu bất hủ: “Kỷ luật hết thì lấy ai mà làm việc các đồng chí?”. Phát ngôn này của ông Nguyễn Sinh Hùng đã vấp phải sự phản đối dữ dội từ phía dư luận. Bởi họ cho rằng phát biểu của ông như đang dung dưỡng cho những hành vi sai trái.

3- Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng trả lời chất vấn trước Quốc hội: “Đồng chí Lợi hỏi tôi có yên tâm với đường sắt cao tốc không, tôi yên tâm, chúng ta không thể không làm đường sắt cao tốc”. Ngài Phó Thủ tướng còn nhấn mạnh: “Tôi yên tâm. Yên tâm rằng phải làm. Yên tâm cùng Chính phủ xin Quốc hội chủ trương để làm. Yên tâm là Quốc hội và Chính phủ tính được bài để làm”. Sau đó như chúng ta đã biết thì Quốc Hội bác bỏ dự án này, và cũng bác luôn lời nói của ông.

4- Họp bàn tái cơ cấu Vinashin ngày 8-6-2010, ngài PTT Nguyễn Sinh Hùng khẳng định như đinh đóng cột: “Từ nay đến năm 2012 còn lỗ nhưng dự báo tới 2013-2014 sẽ bắt đầu có lãi và sau năm 2015 VNS sẽ phát triển ổn định”. Chỉ 1 tháng sau, tháng 7/2010, thông tin về vụ bê bối ở Vinashin bung ra và thực tế đã cho thấy khả năng dự báo của ngài. Trả lời báo chí trước những lo ngại về hiệu quả kinh doanh tại Vinashin trong kỳ họp Quốc hội, PTT Nguyễn Sinh Hùng vô tư nói: “Tôi thì vẫn chưa lo”.

5- Trả lời than thở của ông Phạm Thanh Bình, TGĐ Vinashin trong cuộc họp ngày 23/4/2008: “Vốn chủ yếu vay từ ngân hàng, nhưng lãi suất cao. Chúng tôi đã trình đề án xin phát hành trái phiếu sáu tháng nay nhưng chưa được phê duyệt”. PTT Nguyễn Sinh Hùng nói: “Ai dám hạn chế không cho các anh phát hành trái phiếu. Chính phủ sẽ không để xảy ra ngừng trệ vốn kinh doanh cho các tập đoàn”.

Và ông Nguyễn Sinh Hùng thể hiện quyết tâm bằng việc cho phép Vinashin được huy động 20.000 tỷ đồng, trong đó quan trọng nhất là đã chỉ định các ngân hàng phải cho Vinashin vay 10.000 tỷ trong thời điểm các doanh nghiệp nhỏ và vừa cực kỳ khó khăn vì thiếu vốn. Xin hỏi 10.000 tỷ này bây giờ đã bốc hơi đi đâu?

6- Khi Quốc hội bàn về làm đường sắt cao tốc, ngài Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng giải thích về những lo ngại của các đại biểu Quốc hội là Việt Nam không đủ nguồn lực: “GDP năm nay của Việt Nam tuy chỉ có 106 tỷ USD, nhưng đến 2020 sẽ tăng lên 300 tỷ USD và năm 2030 là 700 tỷ, đến 2040 ước đoán cỡ 1,2 – 1,4 nghìn tỷ USD. Đến 2050, khi hoàn thành toàn tuyến, con số đó dự kiến sẽ tăng gấp đôi”. …. “Thu nhập bình quân đầu người hiện nay là 1.200 USD, nhưng với tốc độ tăng trưởng kinh tế tương lai thì đến 2020 sẽ là 3.000 USD, và lần lượt tăng lên mức 6.000, rồi 12.000 và sẽ đạt 20.000 vào năm 2050”.

Với phát biểu trên của PTT Nguyễn Sinh Hùng, tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn cho rằng, ông Nguyễn Sinh Hùng làm kinh tế bằng cách lấy số cũ nhân 2. Và dù cho đến 2050, thì Việt Nam cũng chỉ đạt GDP vào khoảng 5400 USD mà thôi, còn lâu mới đuổi kịp….Thái Lan.

Cùng chủ đề về đường sắt cao tốc, khi một số đại biểu băn khoăn hỏi lí do phải làm đường sắt cao tốc, thì ông Nguyễn Sinh Hùng cho rằng “vì không nước nào có diện tích dài như Việt Nam?”. Vậy Australia thì sao, nơi mà bay từ bang phía Nam sang bang phía Tây tốn cả 4 giờ bay, tức còn dài gấp mấy lần Việt Nam ta. Nhưng Australia không làm đường sắt cao tốc. Do đó, lý giải của ông Phó Thủ tướng xem ra …

7- Trước băn khoăn của một số đại biểu khi đây là con đường sắt cao tốc “dài nhất thế giới”, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng giải thích, “dài nhưng làm từng đoạn, chả có mấy nước có chiều dài như nước ta đâu, các đồng chí ạ, đi lại từng đoạn thì ngắn, cộng lại thì dài”. (Báo VnEconomy)

8- Phát biểu trong đánh giá về đại lễ 1000 Thăng Long Hà Nội ngày 5/1/2011, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng vui vẻ nói: “Dù ùn tắc, nhưng rất trật tự, rất lành mạnh, rất vui tươi”. Lần khác, theo Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, vào tối 10/10, mặc dù chịu cảnh tắc đường vào sân vận động Mỹ Đình song hàng vạn người dân đứng ngoài sân vẫn vui vẻ nói “Tôi ngồi trong xe nhìn ra cũng thấy yên tâm, thấy cuộc sống rất thanh bình”.

Nhiều người khi nghe câu này của ông liền tự hỏi: Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nói đùa hay thật? ông có cả một đội quân để mở đường cho ông vào “thanh bình” mà.
Những tuyên bố trí tuệ của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng
Khép lại thời làm Phó Thủ tướng với rất nhiều các phát ngôn để đời, bước vào vị trí mới, trọng trách lớn hơn đó là Chủ tịch Quốc hội, ông Nguyễn Sinh Hùng tiếp tục để lại dấu ấn với các tuyên bố “để đời” của ngài Chủ tịch Quốc hội khóa 13:

9- Ngày 7/8/2011, khi được báo chí hỏi, từ Phó thủ tướng sang làm Chủ tịch Quốc hội, sự đổi vai này đem lại cho ông những thuận lợi và khó khăn nào, ông có sợ khi điều hành Quốc hội bị nhầm vai không? Tân Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nói một câu mà ít ai có thể hiểu nổi: “Xin nói thật là làm thủ trưởng thì nó khác, cho ai nói thì nói, không cho nói thì thôi, người ta nói mình nghe thì nghe mà không nghe thì quên”.

10- Ngày 11/04/2014, trong phiên họp Quốc hội về xử lý trách nhiệm liên quan đến đầu tư công ngày 11/4/2014, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng đã gây một cơn “địa chấn” trong dư luận khi phát biểu: “Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu chứ kỷ luật ai!”. Cũng tại Hội nghị này ông Nguyễn Sinh Hùng còn nói: “Chủ tịch Quốc hội không phải là người đứng đầu Quốc hội”.

Tuyên bố này của ông Nguyễn Sinh Hùng đã làm bùng lên sự không hài lòng trong dân chúng. Quốc hội tức là dân, dân quyết… Dân nào quyết? Thật khó có lời lẽ nào bình luận về phát biểu này! Chủ tịch Quốc hội không phải là người đứng đầu Quốc hội? Vậy xin các nhà làm từ điển, các nhà làm Luật xem xét lại?

Chưa hết, với tư cách là người có trách nhiệm cao nhất trong Quốc hội, nhưng phát biểu của ông không chỉ cho thấy sự thiếu trách nhiệm mà còn thể hiện sự bao che cho cả cơ quan Quốc hội khi nói “Quốc hội sai thì chỉ nhận khuyết điểm chứ không thể kỷ luật”.

11- Và mới đây nhất, ngài Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phán: “Ăn hết rồi thì lấy đâu đầu tư”, tại phiên họp thường vụ Quốc hội ngày 9/10/2014, bàn về tình hình thu chi ngân sách năm 2014. Như chúng ta đã biết, sau lưng ngài có hàng loạt các tập đoàn kinh tế sân sau đang ngày đêm “ăn hết” của cải của đất nước, thì lấy đâu tiền để đầu tư cho nhân dân?

Trên đây chỉ là vài tổng kết chưa đầy đủ về những câu nói bất hủ của ông Nguyễn Sinh Hùng, vẫn còn rất nhiều phát ngôn để đời khác của ông Nguyễn Sinh Hùng cần phải được tập hợp lại, in thành sách để nghiên cứu, học tập… Rất có thể sẽ là đề tài thú vị của nhiều luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ trong tương lai gần.

(Sưu tầm trên internet)

Một số nhận xét từ cách mạng 1989

Một số nhận xét từ cách mạng 1989

 Nguyễn Đình Cống

Bài dưới đây là của GS Nguyễn Đình Cống – một cộng tác viên quen biết – trình bày những suy nghĩ về những biến động lịch sử liên quan đến sự chuyển đổi thể chế xảy ra ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, từ đó liên hệ đến tình hình đất nước. Muốn hay không, thì bài học của sự tan rã hệ thống xã hội chủ nghĩa vẫn cần được phân tích thấu đáo, từ đó định hướng chiến lược cho sự phát triển của Việt Nam. Trên suy nghĩ đó, Bauxite Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết và mời gọi bạn đọc cùng suy nghĩ với tác giả. Quan điểm và phong cách trong bài là thuộc người viết.

Bauxite Việt Nam

I- GIỚI THIỆU QUA

Tên gọi “Cách mạng 1989” dùng để chỉ sự thay đổi chế độ chính trị đồng loạt ở sáu nước Đông Âu, từ chỗ toàn trị độc đảng cộng sản thành nhà nước dân chủ đa đảng.

Hồi năm 1989 tôi đang làm chuyên gia giáo dục ở Châu Phi. Vào kỳ nghỉ hè chúng tôi sang các nước Đông Âu chơi và biết một ít tình hình thông qua chuyện trò với các bạn người Việt sinh sống tại đó. Tuy vậy hiểu biết về Cách mạng 1989 có được là do đọc tài liệu nước ngoài và đặc biệt là quyển Revolution 1989 – The Fall of the Soviet Empire của Victor Sebestyen, xuất bản tại New York, năm 2009 (bản dịch tiếng Việt của Phan Trinh).

Một số nước Đông Âu, trong gần nửa thế kỷ xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa dưới sự toàn trị của cộng sản và sự khống chế của Liên Xô, bỗng cùng nhau cải cách triệt để trong vài tháng vào năm 1989. Quá trình diễn biến và nguyên nhân gần ở mỗi nước có khác nhau, song nguyên nhân gốc có một số điểm chung:

1- Mâu thuẫn gay gắt giữa chính quyền cộng sản và nhân dân. Đảng Cộng sản dùng lối toàn trị, áp đặt xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, vô sản chuyên chính, mất dân chủ, dùng công an đàn áp người bất đồng chính kiến, tuyên truyền dối trá. Dân mất lòng tin vào Đảng, chán ghét chế độ, đoàn kết lại đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền.

2- Đảng tạo thành một giai cấp mới đặc quyền đặc lợi, các lãnh đạo cấp cao của Đảng trở thành vua chúa kiểu mới, thành bọn Trung ương sản đỏ, nhóm lợi ích, trong lúc nhiều bộ phận nhân dân sống thiếu thốn, cực khổ, bị áp bức bóc lột.

3- Nền kinh tế phát triển chậm chạp, thua kém các nước phương Tây, năng suất lao động thấp, chính phủ vay nợ nước ngoài rất nhiều. Vay nợ để kiến thiết đất nước thì ít mà chủ yếu để tham nhũng. Muốn tham nhũng lại tự tạo ra lãng phí. Vay nợ mới để trả nợ cũ và như vậy nợ càng chồng chất. Sự cai trị tàn bạo và ngu dân của Cộng sản làm suy đồi đạo đức xã hội.

4- Do phát triển của truyền thông, của Internet mà chính quyền không thể bưng bít thông tin để tiếp tục lừa dối nhân dân.

5- Do Liên Xô bị suy yếu nhiều, không còn đủ sức và không muốn can thiệp, để cho các nước tự lo liệu lấy (trong đó có vai trò của Gorbachev, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô đã thấy rõ sự dối trá của chủ nghĩa cộng sản, đề ra phong trào cải cách).

II- TÓM TẮT VÀI DIỄN BIẾN

Phong trào bắt đầu từ Ba Lan. Sau đây tóm tắt vài sự kiện chính tại mỗi nước.

1- Ba Lan. Cộng sản lấy tên Đảng Công nhân Thống nhất. Tổng Bí thư: Jaruzelski (1923-2014).

Năm 1970 công nhân tại Gdansk biểu tình phản đối nhà nước tăng giá nhu yếu phẩm, bị đàn áp, 44 người bị bắn chết. Năm 1978 nữ công nhân, anh hùng lao động Anna vận động thành lập công đoàn độc lập, bị vu cho tội ăn cắp và bị sa thải. Khắp nơi dấy lên phong trào ủng hộ Anna. 1980 Walesa vận động thành lập Công đoàn Đoàn kết, tổ chức đình công, hàng ngàn người bị bắt, bị đánh đập, tra tấn. Walesa bị bắt nhiều lần. Năm 1983 Giáo hoàng thăm Ba Lan, có tác dụng thức tỉnh và đoàn kết nhân dân quan tâm đến dân chủ. Trí thức và giáo hội ủng hộ Công đoàn Đoàn kết. Trong vòng 5 năm có trên 50% đảng viên bỏ đảng. Tháng 11/ 1987 Jaruzelski cho trưng cầu dân ý về đường lối xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, cộng sản chỉ nhận được sự ủng hộ của khoảng 40% cử tri. Ngày 1/5/1988 đình công toàn quốc. Chính quyền đàm phán với Công đoàn Đoàn kết, chấp nhận bầu cử tự do vào ngày 4 tháng 6/ 1989. Kết quả bầu cử cộng sản chỉ được dưới 5%, Công đoàn Đoàn kết thắng lớn, lập chính phủ. Ngày 27 tháng 10 / 1990 Đảng Công nhân Thống nhất họp, tuyên bố giải thể. Một số đảng viên đứng ra thành lập đảng mới, lấy tên Đảng Xã hội Dân chủ.

2- Hungari. Cộng sản lấy tên Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa. Tổng Bí thư: Janos Kadar (1912- 1989).

Năm 1956 Nagy làm thủ Trung ươngớng. Nhân dân nổi dậy chống sự chiếm đóng của Liên Xô. Quân đội LX kéo vào đàn áp, trên 2500 người bị giết, Nagy bị treo cổ, trên 20 vạn bỏ chạy ra nước ngoài. Trong hơn 30 năm tình hình xã hội và kinh tế trở nên tồi tệ. Năm 1986 Kadar định nhận tiền của Áo để xây đập trên sông Danube, cung cấp điện cho Áo. Đập sẽ phá hoại môi trường của Hung. Trí thức và công nhân liên kết chống lại. Năm 1988 Kadar (76 tuổi) đã bị mất uy tín, được thuyết phục từ chức nhưng không chịu. Ngày 20/5/1988 Trung ương Đảng họp, ép Kadar từ chức và đưa Grosz lên thay. Ngày 28/6/1988 cuộc biểu tình lớn ở thủ đô chào mừng sự kiện lật đổ Kadar. Ngày 15/3/1989 biểu tình khổng lồ kỷ niệm Cách mạng 1848 chống đế quốc Áo. Tháng 6/ 1989 có trên 30 vạn người dự lễ cải táng Nagy. Trong buổi lễ, Viktor Orban, một thanh niên 26 tuổi đọc diễn văn đả kích chế độ cộng sản độc tài. Ngày 6/7/89 Kadar chết. Ngày 10/9/89, do áp lực của dân tị nạn, phá bỏ hàng rào ngăn giữa Hung và Áo (bức màn sắt), đi lại tự do từ Hung sang Áo để đến Tây Đức. Bị áp lực của nhân dân ngày 23/10/89 Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa họp tuyên bố giải tán, lập đảng mới lấy tên Đảng Xã hội, đổi tên nước.

3- Đông Đức. Đảng Thống nhất Xã hội chủ nghĩa (CSED). Tổng Bí thư: Honecker (1912-1994).

Từ 1949 đến 1961 có trên 3 triệu người trốn sang Tây Đức. Năm 1961 xây bức tường Berlin, sau này có hàng trăm người bị bắn chết khi trèo qua tường. Đông Đức là nước có hệ thống mật vụ theo dõi dân chúng rất sát sao, do trùm công an Mielke chỉ huy. Ngày 5/7/ 1989 bầu cử Hội đồng nhân dân, bị phát hiện gian lận, các tổ chức dân sự yêu cầu điều tra. Sau khi Hungari phá bức màn sắt đã có hàng ngàn người Đông Đức qua Hung, Áo đến Tây Đức. Ngày 11/9/89 hội “Tân diễn đàn” thành lập, chỉ vài ngày đã có trên 150 ngàn người ký tên đòi đối thoại với chế độ. Ngày 18/9/89 có trên 15 ngàn người biểu tình, bị đàn áp, bị bắt trên 100. Mielke đề nghị trấn áp mạnh biểu tình bằng vũ lực nhưng bị một số lãnh đạo đảng không tán thành. Ngày 7/10/89 mít tinh kỷ niệm Quốc khánh, Gorbachev (được dân Đông Đức gọi thân mật là Gorby) đứng trên lễ đài. Khi đoàn diễu hành của thanh niên đi qua, mọi người bỗng hô vang: “Gorby, cứu chúng tôi, Gorby hãy cứu chúng tôi”. Chỉ một giờ sau, biểu tình nổ ra hàng loạt tại các thành phố lớn, công an bắt đi hàng ngàn người. Ngày 15/10 nhân dân thành phố Leipzig chuẩn bị biểu tình. Quân đội được lệnh trấn áp. Binh sĩ ôm nhau khóc vì phải bắn vào dân. Chủ tịch Hội Nhà văn Herman Kant gửi thư kêu gọi lãnh đạo Đảng kiểm điểm và đối thoại với dân. Lãnh đạo Đảng chia rẽ. Ngày 17/10 Trung ương Đảng họp, phế truất Honecker, đưa Krenz lên thay. Ngày 4/11 biểu tình 70 vạn người tại Berlin. Ngày 9/11 chính phủ ban bố cho dân tự do đi Tây Đức. Chỉ trong một đêm hàng vạn dân ùa đến bức tường Berlin đòi mở cửa, lính canh ban đầu không mở nhưng sau phải mở. Bức tường bị phá bỏ. Ngày 18/3/1990 bầu cử tự do, Đảng CSED bị mất tín nhiệm. Sau khi thống nhất những người trước đây làm việc tại Đông Đức vẫn được trọng dụng và được trả lương hưu.

4- Bungari. Đảng Cộng sản. Tổng bí thư: Todor Zhivkov (1911- 1998).

Tại Bungari có nhiều người gốc Thổ Nhĩ Kỳ như là một dân tộc thiểu số, họ bị đối xử bất bình đẳng. Tháng 5/ 1989 có trên 15 ngàn người Thổ biểu tình, bị đàn áp, 60 người chết, hàng trăm người bị thương, hàng ngàn bị bắt. Ngày 20/5 chính phủ trục xuất 300 ngàn người Thổ. Có 250 nhân vật nổi tiếng ký kiến nghị phản đối. Zhivkov chỉ thị cho cấp dưới xin lỗi và đổ tội cho an ninh làm quá. Uy tín của Đảng và Zhivkov xuống quá thấp. Để cứu vãn, một nhóm bốn người (Thủ tướng và ba Bộ trưởng) chủ trương lật đổ Zhivkov. Ngày 24/10 Bộ trưởng Ngoại giao từ chức, gửi thư công khai tố cáo Zhivkov độc quyền, tham nhũng. Zhivkov gặp bạn thân là Bộ trưởng Quốc phòng Dzhurov bàn cách đối phó, nhưng Dzhurov lại khuyên Zhivkov nên từ chức. Zhivkov âm mưu đưa con trai (Vladimir, 40 tuổi) lên thay thế. Đêm 8/11 Zhivkov tập hợp lực lượng ủng hộ nhưng vô vọng. Ngày 9/11 lãnh đạo Đảng họp, Zhivkov buộc phải từ chức, Mladenov lên thay nhưng vẫn cố giữ sự toàn trị của Đảng. Nhân dân tiếp tục biểu tình rầm rộ, thành lập Liên minh các lực lượng dân chủ. Mladenov phải đàm phán và chấp nhận tổ chức bầu cử tự do vào đầu năm 1990. Đảng Cộng sản họp, đổi tên thành Đảng Xã hội, chấm dứt chế độ xã hội chủ nghĩa.

5- Tiệp Khắc. Đảng Cộng sản. Tổng Bí thư: ban đầu là Husak, sau là Jakes.

Năm 1967 và đầu 1968 một số người định làm cải cách dân chủ (Mùa xuân 68). Ngày 20/8/1968 quân đội Liên Xô dùng xe tăng đàn áp, trên năm ngàn bị chết và bị thương, trên 70 ngàn đảng viên bị khai trừ. Ngày 16/1/1969 sinh viên Jan Palach tự thiêu phản đối Liên Xô. Ngày 15/6/1976 buổi chơi nhạc của nhóm “Người nhựa vũ trụ” bị đàn áp (vì không xin phép). Tháng 1/ 1977 Havel, một trí thức lớn, thành lập “Hiến chương 77” đấu tranh bảo vệ nhân quyền. Havel bị bỏ tù bốn năm rưỡi. Ngày 8/12/1987 biểu tình lớn, Orta, đại diện nhóm Hiến chương 77 phát biểu về nhân quyền, bị bắt cùng với vài chục người. Ngày 17/12/87 ban lãnh đạo Đảng họp, cho Husak thôi Tổng Bí thư, lên làm Chủ tịch nước, đưa Jakes lên. Thay người nhưng vẫn giữ đường lối cũ. Ngày 15 đến 21 tháng 1/ 1989 sinh viên liên tục mít tinh kỷ niệm việc Palach tự thiêu, bị đàn áp. Ngày 15 có 90 người bị bắt. Ngày 16 biểu tình rầm rộ, 5000 người bị bắt, trong đó có Havel. 4000 người ký tên đòi thả Havel. Ngày 17/11 thanh niên diễu hành tưởng niệm 50 chiến sĩ Tiệp bị phát xít bắn chết trong một cuộc mít tinh năm 1939. Hơn 50 ngàn người biểu tình, hô khẩu hiệu: “Hãy nhớ sự kiện 68, đả đảo cộng sản”, bị đàn áp, 560 người bị thương, 120 bị bắt. Ngày 20/11 có trên 300 ngàn người biểu tình tại thủ đô. Nội bộ lãnh đạo Đảng chia rẽ, một số trong đó có Tổng Bí thư Jakes đòi dùng lực lượng vũ trang đán áp thẳng tay, một số khác đòi thương lượng. Ngày 22/11 Bộ trưởng Quốc phòng tuyên bố quân đội không chống lại nhân dân. Ngày 27/11 biểu tình 50 vạn người, tổng đình công. Ngày 28/11 do áp lực của nhân dân và quân đội toàn bộ lãnh đạo Đảng Cộng sản từ chức. Ngày 7/12 lập chính quyền mới, Havel được cử dứng đầu chính phủ. Năm 1993 Đảng Cộng sản bị coi là tội phạm trong lịch sử.

  1. Rumani. Đảng Cộng sản. Tổng Bí thư: Ceausescu (1918- 1989).

Ceasescu tự xưng là lãnh tụ anh minh và vĩ đại, thực sự là độc tài và gia đình trị nổi tiếng, sống như đế vương. Rumani có mạng lưới công an và mật vụ dày đặc, gieo rắc sợ hãi trong dân cư. Không hề có tự do báo chí và ngôn luận. Năm 1977 thợ mỏ đòi tăng lương, lãnh đạo hứa giải quyết nhưng sau đó trở mặt, bắt và thủ tiêu những người cầm đầu. Ceausescu thực hiện “tổ chức lại nền văn minh nông nghiệp” bằng cách định san bằng 8000 trong số 13000 làng xã để thành lập các trung tâm công nông nghiệp khỏng lồ, lại bắt san bằng khu phố cổ để xây cung điện nguy nga quá tốn kém. Dân chúng kéo nhau đi tị nạn. Ngày 2/3/1989 họa sĩ Babes tự thiêu để phản đối Ceausescu. Có sáu cán bộ cao cấp, lão thành gửi thư cho Đảng phê phán Ceausescu. Tháng 11/ 1989 Ceausescu được đại hội Đảng bầu lại làm Tổng Bí thư, trong lễ nhậm chức ông đã đọc diễn văn ba tiếng, được vỗ tay hoan hô 34 lần, lần nào cũng kéo dài. Tại thành phố Timisoara, một đêm cuối tháng 11 công an, mật vụ xông vào nhà đánh đập mục sư Tokes, một nhà hoạt động dân chủ. Giáo dân được tin kéo đến cứu Tokes và biến thành biểu tình. Ngày 17/12 công an đàn áp, bắt người. Biểu tình phát triển mạnh hơn, kiểm soát trung tâm thành phố Timisoara, Ceausescu ra lệnh lực lượng quân đội dùng xe tăng đàn áp, các lực lượng vũ trang phải bắn vào biểu tình không thương tiếc. Trong nước đưa tin 60 người bị giết, hàng trăm bị thương, đài Châu Âu tự do đưa tin trên 4000 người chết. Ngày 20/12 Ceausescu đi thăm Iran về, cho tổ chức mit tin chào mừng. Ban đầu quần chúng vỗ tay hoan hô nhưng sau đó có tiếng hô: TI-MI-SOA-RA, ban đầu nhỏ rồi to dần, vang rền. Rồi quần chúng hô to: “Đả đảo quân giết người. Ceausescu, dân là chủ”. Ngay sau đó biểu tình tỏa ra nhiều hướng. Vào 6 giờ tối công an xả súng vào biểu tình. Ngày 22/12 Ceausescu cách chức Bộ trưởng Quốc phòng Milea vì ngăn không cho binh lính bắn vào dân và ra lệnh giết ông. Trung ương lệnh các binh chủng đứng về phía biểu tình, đem quân bao vây trụ sở Đảng. Ceausescu cùng vợ lên trực thăng bỏ trốn, bị quân đội bắt lại. Một tòa án quân sự được thành lập, xét xử tội trạng, kết án tử hình. Ceausescu bị bắn ngay sau đó.

Ghi chú: Viết đoạn này tôi có tham khảo bài “Suy nghĩ về sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu” của Hà Tuấn Trung.

III. MỘT SỐ NHẬN XÉT

1- Các cuộc cách mạng đều bắt đầu bằng biểu tình hòa bình, tuy vậy không tránh khỏi đổ máu. Sự đàn áp của cộng sản là khó tránh và chỉ chứng tỏ thế yếu, tuy vậy khi dân đã giác ngộ, thấy rõ bản chất độc ác và hèn yếu của cộng sản thì sự đàn áp không làm số đông run sợ mà biểu tình càng đông hơn, dân càng quyết tâm hơn. Trong lực lượng biểu tình thì vai trò của thanh niên, của sinh viên và công nhân ở các thành phố là rất quan trọng.

2- Cộng sản dựa vào lực lượng vũ trang, ban đầu có một số vì bị mua chuộc, bị lừa bịp hoặc sợ hãi mà tuân lệnh để đàn áp dân, nhưng rồi họ nhận ra sự thối nát của cộng sản, sự chính nghĩa của nhân dân nên quân đội ủng hộ dân, công an quăng súng bỏ chạy.

3- Khi nhân dân nổi lên thì trong lãnh đạo cộng sản sẽ có phân hóa, bên cạnh một số cố níu giữ quyền lực đến phút cuối và sẵn sàng đàn áp thì cũng có nhiều người kịp thời thấy được sự chính nghĩa của nhân dân, từ bỏ cộng sản, đứng về phía nhân dân. Sự đấu tranh trong nội bộ của những người đứng đầu chính quyền có tác dụng thúc đẩy quá trình sụp đổ của cộng sản.

4- Chế độ cộng sản vốn tàn bạo và dối trá, ban đầu dân vừa bị lừa vừa sợ nên chịu khuất phục. Đến khi dân đã có giác ngộ, đoàn kết lại thì trở thành lực lượng mạnh, đủ sức loại bỏ chế độ cộng sản. Lãnh đạo cộng sản nếu biết thời đã hết, biết đặt quyền lợi quốc gia, dân tộc lên trên thì còn giữ được một chút gì đó, còn nếu cứ níu giữ sự độc tài đến cuối thì khó tránh khỏi kết thúc bi thảm như Ceausescu.

IV- NGHĨ GÌ VỀ VIỆT NAM

Chủ nghĩa Cộng sản vào được Việt Nam, sống bám và phát triển được là nhờ lòng yêu nước của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng rồi lòng yêu nước đã bị lợi dụng. Cộng sản Việt Nam bị lệ thuộc vào Đảng Cộng sản Trung quốc, một tổ chức rất tàn bạo, rất độc ác, rất nham hiểm. Cộng sản Việt Nam nhờ đánh thắng vài cuộc chiến tranh, tự phong là “lương tâm của thời đại”, tự cho là “vô cùng sáng suốt và quang vinh” để lừa bịp nhân dân. Tháng 10/1989, Nguyễn Văn Linh bàn với Gorbachev kế hoạch Cộng sản Việt Nam kết hợp với Liên Xô ngăn cản cuộc cải cách của các nước Đông Âu, nhằm cứu phe xã hội chủ nghĩa. Khi Gorbachev không tán thành thì ông Linh lại tôn Đảng Cộng sản Trung Quốc lên thành lãnh đạo của phe xã hội chủ nghĩa. Năm 1969 Hồ Chí Minh cũng muốn dùng Đảng Cộng sản Việt Nam để hàn gắn bất đồng trong phong trào cộng sản quốc tế (toàn chuyện buồn cười vì ảo tưởng). So với các đảng cộng sản ở Đông Âu, Đảng Cộng sản Việt Nam nguy hiểm hơn, tàn bạo hơn. Ngoài việc học được các thủ đoạn của cộng sản Đông Đức và Rumani trong tổ chức mật vụ, cộng sản Việt Nam còn học theo cộng sản Trung Quốc nên có nhiều mưu mẹo thâm độc hơn, trắng trợn hơn trong việc đàn áp phong trào dân chủ và tuyên truyền lừa dối nhân dân. Đa số dân Việt Nam đã quen bị nô lệ, quen bị áp bức nên dễ bị cộng sản lừa dối, rất sợ Đảng và chính quyền, rất dũng cảm trong chống ngoại xâm nhưng rất e ngại trong đấu tranh cho tự do, dân chủ.

Tuy Việt Nam và Đông Âu có tình hình khác nhau, nhưng cùng chịu cảnh đọa đày của cộng sản. Chế độ cộng sản là tai họa của nhân loại, thế nào cũng bị loại bỏ hoàn toàn. Các nước Đông Âu và Liên Xô đã đi trước. Chế độ cộng sản chỉ còn lại tại vài nước. Rồi nhân dân các nước đó sẽ vùng lên để chôn vùi nó lần cuối cùng. Riêng tại Việt Nam sự chia rẽ, đấu đá trong nội bộ chóp bu của Đảng để tranh giành quyền lực tại Đại hội 12 sắp tới sẽ làm Đảng suy yếu trầm trọng, sẽ tạo cho nhân dân thấy rõ hơn sự thối nát không thể nào che giấu, tạo cơ hội cho các tổ chức dân chủ liên kết với những người tiến bộ trong Đảng, tạo thành lực lượng hùng hậu của nhân dân đứng lên tiến hành cải cách thể chế, loại bỏ chủ nghĩa cộng sản ra khỏi đời sống của dân tộc, có được như thế mới mong đưa dân tộc thoát khỏi sự nguy hiểm là thời kỳ Bắc thuộc mới.

  1. N.Đ. C.