Thơ song ngữ từ trong tù

Thơ song ngữ từ trong tù

 

Bài của Đòan Thanh Liêm

 

Tôi chẳng bao giờ là người chuyên môn làm thơ. Nhưng ở trong tù lâu ngày, thì cũng lai

rai làm được một số bài ngăn ngắn cho dễ nhớ, và cũng giúp làm khuây khỏa nhẹ vơi đi

nỗi buồn chán cô đơn. Vì không thể viết ra giấy và gửi cho bà con bạn bè ở ngoài trại

giam, nên chỉ có thể đọc cho một vài người bạn tù thật là thân thịết nghe mà thôi. Tính ra

trong 6 năm ở tù, tôi cũng làm được đến 30-40 bài, nhưng hiện chỉ còn có thể viết lại

được chừng 25 bài mà thôi.

Đặc biệt trong mấy năm phải đi lao động tại trại giam ở Hàm Tân, PhanThiết, tôi có làm

được vài bài thơ song ngữ tiếng Việt và tiếng Anh. Nay xin ghi lại để quý bạn đọc cho vui

vào dịp Đầu Xuân Kỷ sửu 2009 vậy nhé.

Đầu tiên là bài “Vùng lên, Các bạn ơi!”, “Friends, stand up!”. Bài này được làm vào hồi

Tháng 8 năm 1994. Và người đầu tiên tôi đọc cho nghe là Bác Lý Trường Trân, cựu Dân

biểu thời Đệ nhị Công hòa. Bác Trân bị tù lần thứ hai từ năm 1987 đến cuối năm 1994

mới được trả tự do.

Bài thứ hai là bài “Nói với các bạn trẻ”, “A Message to Youth”. Bài này được làm vào

Mùa Xuân năm 1995 và được đọc lần đầu tiên cho anh Lê Thái Chân. Anh Chân trước

kia là sĩ quan Pháo binh của Lữ đòan Dù, và là người tù lâu nhất trong số các sĩ quan

“phải đi học tập cải tạo”, tổng cộng đến 20 năm, suốt từ 1975 đến 1995 mơí được thả về.

Bài này đã được nhạc sĩ Phạm Đức Huyến ở San Jose phổ nhạc phần tiếng Anh vào năm

  1. Và nhạc sĩ Xuân Điềm ở Little Saigon phổ nhạc phần tiếng Việt vào năm 2002.

Cả hai bài thơ này, phần tiếng Anh thì đã được các sinh viên người Mỹ, cũng như người

các nước khác đọc nhiều lần tại những buổi sinh họat văn nghệ, nhân dịp Hội thảo quốc

tế về Xây dựng Hòa bình (Peacebuilding seminars) tại các tiểu bang Virginia và

Tennessee.

Và riêng bài “Friends, Stand up!”, thì lại còn được chị Colleen Malone ở Canada phỏng

vấn tôi tại Đại học Eastern Mennonite University (EMU) Virginia và lấy đăng trên

website Peacevox.com (Tiếng nói Hòa bình) vào năm 2002, cùng với một bài khác nừa là

bài “Reflections on My Days in Jail” (Suy nghĩ về Những Ngày Trong Tù), cũng do tôi

viết trực tiếp bằng tiếng Anh hồi còn ở tại trại Hàm Tân vào Tháng Mười 1995, tức là sau

66 tháng ở trong nhà tù cộng sản.

Lại nữa, cả bản nhạc do nhạc sĩ Phạm Đức Huyến phổ thơ nói trên do ca sĩ người Mỹ hát

và ghi âm trong môt CD, thì cũng được trình bày vào những dịp này.

Hai bài thơ này nguyên văn như sau:

 

I – Vùng lên, Các bạn ơi!

  1. Các bạn ơi! Hãy sẵn sàng:

Đã đến lúc

Ta phải công khai trực diện

Lăn xả vào cuộc chiến.

Chúng ta đòi hỏi

Không phải chỉ cơm no, áo ấm

Mà còn cả nhân phẩm, tình thương.

Để chống lại bạo quyền độc ác

Ta phải được trang bị bằng

Lòng kiên cường can đảm

Sự nhẫn nại hy sinh

Và tinh thần bất bạo động.

 2. Các bạn ơi!

Hãy đồng lọat lên tiếng

Nói rằng:

Chúng ta không còn khiếp sợ

Trước bạo lực trấn áp

Với tù ngục đọa đầy

Và tra tấn khủng bố

Bởi vì chúng ta đã trưởng thành chững chạc

Trong biệt giam tối tăm

Với đói khát dầy vò

Và khổ sai cưỡng bức

Và cũng bởi vì chúng ta luôn noi theo

Lời giáo huấn từ ngàn đời

Của cha ông

Đó là: “Uy vũ bất năng khuất!”

3.- Các bạn ơi! Hãy tiếp tục:

Cuộc tranh đấu cam go

Nhất quyết không hề khoan nhượng

Phải đòi cho bằng được

Để mọi người

Được sống cho ra con người

Với danh dự phẩm giá

Trong công lý an toàn

Và tự do dân chủ.

Phải diệt trừ tận gốc

Nạn độc quyền ngang ngược

Nạn bè phái nghinh ngang

Nạn giáo điều bệnh hoạn

Bốn Niềm Vui Lớn Nhất Trong Cuộc Đời

Bốn Niềm Vui Lớn Nhất Trong Cuộc Đời 

“Có một niềm vui chân chính trong cuộc sống, đó là làm cho người mà ta yêu có được niềm vui”
Có bao giờ bạn tự hỏi: niềm vui nào lớn nhất trong đời? Thành công, giàu sang hay có được điều mình mong muốn. Tất cả chúng ta đều cố gắng tìm kiếm cho mình những niềm vui trong cuộc sống. Nhưng khi có được thứ này chúng ta lại muốn có được thứ khác. Quá trình đuổi bắt cứ kéo dài suốt năm này qua năm khác, chúng ta không dễ gì nhận ra, niềm vui lớn nhất trong đời gần gũi và thân thương biết chừng nào.

CANHN DEP 1

Ngay từ lúc mới sinh ra, được sống trong vòng tay của cha mẹ chúng ta hạnh phúc và cảm thấy bình yên. Mỗi ngày là một ngày vui, lúc đó, cha mẹ tuyệt vời nhất. Thế rồi, lớn lên, chúng ta muốn thoát khỏi sự kiềm kẹp của mẹ cha. Muốn tự do bay lượn, chê đấng sinh thành giờ đây lạc hậu, không có những suy nghĩ tân tiến, hợp thời. Để rồi xa cách cha mẹ hơn, nhưng bạn ơi, niềm vui lớn nhất trong đời đó chính là:

1.Được sống cùng cha mẹ 

Trải qua những năm tháng tuổi trẻ bồng bột và ích kỷ, chúng ta trở về với những toan tính của cuộc đời. Không còn tự do bay nhảy, không còn những suy nghĩ ấu trĩ và ngông cuồng. Giờ đây chúng ta có cả một gia đình cần gánh vác. Lúc ấy mới chợt nhận ra rằng, được sống cùng cha mẹ là một niềm hạnh phúc to lớn.

Không chỉ dựa dẫm vào đôi vai gầy yếu của mẹ cha mỗi khi bước chân ta trên đường đời rệu rã, không chỉ được ăn bát cơm mẹ nấu, được cùng cha đàm đạo mỗi lúc chiều tà. Quãng thời gian đó yên bình và hạnh phúc biết bao. Không phải chỉ có cười thật to, hét thật lớn thì mới được gọi là niềm vui. Đôi lúc niềm vui bình dị và nhẹ nhàng biết bao, nhưng nó sẽ ngấm sâu vào ký ức của ta, an ủi vỗ về ta mỗi khi mệt mỏi và đau đớn trong cuộc đời.

2.Được làm công việc mình thích

Niềm vui này sẽ chẳng có niềm vui nào có thể sánh được. Đó là cảm giác thỏa mãn bởi vì chúng ta đã làm được điều mà mình thích. Không ít người không làm được việc mình thích, không dám theo đuổi ước mơ và hoài bão của bản thân. Chán nản, thất vọng để rồi họ nhận ra cuộc sống của mình thật nhàm chán, thật buồn bã.

CANH DEP 2

Chỉ khi chúng ta được làm công việc mình thích, chúng ta mới cảm nhận được niềm vui đến từ những điều bình dị, những điều tưởng chừng như vốn có của cuộc sống nhưng không phải lúc nào cũng cảm nhận được. Thế nên, nếu bạn cho rằng công việc chỉ là một công cụ để nuôi sống bản thân thì bạn hãy suy nghĩ lại đi nhé. Bởi vì chỉ khi yêu thích công việc của mình chúng ta mới làm tốt nó được. Được làm công việc mình thích là niềm vui lớn nhất trong đời.

3.Lấy được người mình yêu

Bất kỳ ai trong chúng ta đều muốn có được hạnh phúc trong cuộc sống vì vậy chúng ta mới trao đi tình yêu của mình. Có người lấy được người mình yêu, tin tưởng để làm chỗ dựa suốt đời cho mình, có người lại quyết định kết hôn trong lúc nóng vội. Rất nhiều người đã nếm quả đắng vì vội vàng trong tình yêu.

CANH DEP 3

Một trong những niềm vui lớn nhất trong đời đó chính là lấy được người mình yêu và yêu mình. Khi sống cùng nhau, những bất đồng, những mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh, nếu không có một tình yêu lớn dành cho nhau, ít khi chúng ta có thể tha thứ và chấp nhận lẫn nhau được. Lấy được người mình yêu là niềm vui lớn nhất trong đời. Lớn hơn rất nhiều những niềm vui do tình cảm tạo ra trước đó. Thế nên, hãy trân trọng cuộc sống gia đình và trân trọng người bạn đã lựa chọn.

4.Sống mỗi ngày trọn vẹn

Đây là niềm vui rất lớn bởi hàng ngày chúng ta đều cố gắng tìm kiếm nó nhưng ít người nắm giữ được nó. Có người lo lắng cho những việc không đâu để rồi cáu gắt với người thân và con cái của mình, làm mất đi một ngày đẹp đẽ. Bạn ơi, hãy đối diện với cuộc sống mỗi ngày, dẫu khó chịu bao nhiêu cũng đừng đổ lỗi lên đầu người khác. Hãy tìm cách chế ngự sự giận dữ của mình và bao dung với người bên cạnh, để mỗi ngày với bạn trọn vẹn hơn. Có thể bạn không nhận ra, nhưng mỗi sớm mai thức dậy, tâm trạng bạn thoải mái bạn sẽ có một ngày ngập tràn niềm vui.

CANH DEP 4

Vậy nên, hãy mỉm cười khi ánh bình minh chiếu qua cửa sổ, bởi vì ít nhất thì chúng ta vẫn còn một ngày để làm những điều mình muốn. Hãy sống trọn vẹn từng ngày một với công việc, gia đình, con cái và những niềm đam mê nho nhỏ của bản thân. Bạn nhé!

ST
Anh chị Thụ & Mai gởi

Chuyện đảng và chuyện đất nước

Chuyện đảng và chuyện đất nước

 Nguyễn An Dân Gửi tới BBC từ TPHCM

clip_image002

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12 dự kiến khai mạc vào hạ tuần tháng 01/2016.

Cũng còn vài ngày nữa là đến đại hội đảng 12 và đang bước vào năm mới 2016.

Và vì Đảng Cộng Sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Việt Nam nên chuyện đảng cũng ảnh hưởng vào đất nước.

Ngược lại cũng thế, đất nước chính là cái nôi của đảng nên tình hình đất nước cũng sẽ ảnh hưởng vào đảng dù ít dù nhiều.

Chính vì thế, tôi cũng muốn viết vài dòng chấm phá.

Những ngày qua dư luận xôn xao bàn tán về việc ai lên ai xuống, về các “bí mật nhà nước” bị lọt lộ qua các website tự lập, qua các “báo lề trái”…

Trước tiên xin phép đính chính lại lời của Bộ Trưởng Công An Trần Đại Quang, những “bí mật” bị lọt lộ không phải là bí mật nhà nước, mà là bí mật của đảng.

Những bí mật bị lọt lộ đó nó phản ánh đảng không yên ổn như đảng vẫn nói, mà nó chính thức xác nhận cho quần chúng biết là đảng đang có những vấn đề nội bộ nghiêm trọng.

Những vấn đề nội bộ đó, phải chăng chính là việc tranh chấp chiếc ghế Tổng Bi Thư đảng, chức vụ chính trị cao nhất của đất nước, giữa nhóm này phe kia?

Tôi e rằng lời đồn này có lý nếu nhìn vào việc đảng đã bỏ ra nhiều thời gian hơn trước đây để làm công tác nhân sự. Nhất là việc phải mở ra các “hội nghị trung ương phụ” thứ 13-14.

Chuyện đảng

clip_image003

Bộ trưởng công an Việt Nam, Đại tướng Trần Đại Quang (thứ hai từ trái) cảnh báo việc ‘lọt lộ bí mật nhà nước’ thời gian gần đây ở Việt Nam.

Đến nay dư luận đều đang đồn đoán, một phần theo các “bí mật” bị lọt lộ, một phần theo tình hình xã hội là phe này đã thua phe kia đang thắng. Theo tôi, nhận định bất kỳ sự thắng thua nào lúc này đều là hơi sớm, vì bàn cờ chính trị Việt nam lúc này e rằng phức tạp hơn trước đây. Việc nhận định chính xác về mỗi phe sẽ giúp quần chúng thấy ra mình cần nói gì, làm gì để góp phần vào sự thay đổi đất nước theo chiều hướng tích cực.

Chưa bao giờ sự tranh chấp về đường lối của đảng kéo dài và căng thẳng như lần này. Ở các lần trước, kể cả thời kỳ tranh chấp về Đổi Mới 1986, cũng không kéo dài và căng thẳng như bây giờ. Điều đó cho thấy tương quan lực lượng giữa các bên là cân bằng, chính vì vậy mà nó phải kéo dài, và phải đợi phút 90 tan trận đấu, mốc là Đại Hội Đảng 12, để có kết quả chính thức.

Nhiều người nói rằng trong nội bộ đảng CSVN chỉ có phe thân Trung Quốc và phe “ít thân Trung Quốc hoặc đang giả vờ không thân Trung Quốc”. Tôi e rằng nhận định này không chính xác. Việc xác định phe nào thân ai có tác dụng hết sức quan trọng, khi muốn phán đoán các thay đổi chính trị của phe thắng cuộc ( trúng cử Tổng Bí Thư) sau này. Vì thay đổi đó có ảnh hưởng quan trọng với tương lai đất nước

Trước tiên, cần nhìn rõ là quan điểm “thân Trung Quốc” là đường lối chỉ đạo xuyên suốt trong phần lớn thời gian từ thành lập đến nay của đảng. Bất kỳ những xu hướng thân nước khác đều dẫn đến việc đảng phải thanh trừng nội bộ, ví dụ cụ thể là vụ án “xét lại chống đảng” thập niên 60 và vụ bỏ trốn sang Trung Quốc của ông Hoàng Văn Hoan vào thập niên 90 dưới thời kỳ ông Lê Duẩn nắm quyền khi ông này theo dư luận nhận định là “thân Liên Xô mà không thân Trung Quốc”.

Một nguyên tắc chính trị là nếu có tranh chấp về phe nhóm trong nội bộ, thì phe đòi thay đổi phải hướng về việc tìm đồng minh ở bên ngoài. Thành ra nếu muốn đối trọng với phe “thân Trung Quốc” thì dĩ nhiên phe kia phải tìm Mỹ, vì ngoài Mỹ ra, còn nước nào đủ sức mạnh để ủng hộ họ đủ tầm để đối trọng với “phe thân Trung Quốc”?

Nguyên tắc chính trị của Mỹ là ai tìm đến mình thì Mỹ cũng ủng hộ và tiếp đón tử tế, thế thì hà cớ gì Mỹ không ủng hộ phe muốn thay đổi đường lối trong đảng CSVN. Thành ra tôi xin nhận định là cuộc tranh chấp này là cuộc tranh chấp giữa “thân Trung” và “thân Mỹ” vì các lẽ trên. Và chính vì Mỹ có đầy đủ sức mạnh để tranh giành ảnh hưởng với Trung Quốc, nên mới dẫn đến cuộc diện 2 nhóm đồng minh Trung-Mỹ trong đảng CSVN “ngang sức ngang tài”, làm cuộc diện tranh chấp kéo dài đến giờ chót như hôm nay

Và vì thế, nhận định cuộc tranh chấp nội bộ này của đảng không có “phe thân Mỹ” mà chỉ có việc “ít thân Trung Quốc hay chỉ giả vờ chống Trung” e rằng không hợp lý, không có Mỹ thì phe đó lấy gì đủ lực để chống phe kia. Còn nói giả vờ đóng kịch là thân Mỹ thì càng không đúng, không lẽ Mỹ khờ khạo đến mức bị một nhóm trong đảng CSVN qua mặt ?

Đáng tiếc là điều lý luận đơn giản này cũng không phải ai cũng thấy, thành ra thời gian qua quần chúng loay hoay bình luận phán đoán, và nhiều nhà quan sát chính trị cũng từ đó mà đưa ra nhiều bình luận làm quần chúng, vốn dĩ đã thiếu tin tức vì sự không minh bạch của đảng, càng rơi vào hỗn loạn thêm.

Mèo vẫn hoàn mèo?

clip_image004

Theo kế hoạch, Đại hội 12 của Đảng cộng sản Việt Nam sẽ công bố giàn lãnh đạo mới của đảng và nhà nước VN cùng các vị trí cao cấp trong các ban ngành của đảng.

Người ta cũng nói rằng dù cho phe thân Mỹ lên cầm quyền thì đất nước cũng thế, thì vẫn là cộng sản cầm quyền, mèo vẫn hoàn mèo, đất nước và nhân dân chả có lợi ích gì.

Nếu coi xu hướng thân Trung Quốc là điều phải có và bất biến của đảng, thì việc phe thân Mỹ lên cầm quyền là một sự thay đổi. Trong trạng thái bất động chuyển sang thay đổi của đảng nó sẽ tạo ra động tính làm nảy sinh cái mới, và vì cái cũ đang là cái mà mọi người phê phán chỉ trích, thì cái mới nó sẽ làm tình hình khác đi, và biết đâu từ đó sinh ra cơ hội tốt hơn. Vậy hà cớ gì chúng ta không cùng thúc đẩy đảng thay đổi để tìm cơ hội, mà ngồi đó kêu ca về việc mèo sẽ hoàn mèo?

Những “bí mật của đảng” bị lọt lộ cho thấy sự tranh đấu cung đình dường như đã đi vào cuộc diện “một mất một còn”. Kinh nghiệm từ lịch sử về tư duy chính trị phương đông cho thấy đa số các kết thúc của các cuộc nội chiến cung đình là ngai vàng cho kẻ thắng và nhà tù hoặc nhà mồ dành cho kẻ thua. Cuộc cung đình đấu trong nội bộ đảng CSVN hiện nay với những diễn biến của nó cho thấy kết thúc đó có nhiều khả năng xảy ra.

Có nhiều dư luận nói rằng phe này đấu với phe kia hiện nay vì là ghế và lợi ích tiền bạc chứ không phải vì có một phe muốn thay đổi hiện trạng đất nước. Nhận định này e rằng không logic. Lịch sử chính trị chưa có tiền lệ nào về tranh chấp ngai vàng vì tiền hay lợi ích tầm thường cả. Những phe nhóm, cá nhân có đủ thực lực tranh chấp ngai vàng thì tiền và lợi ích kinh tế không thiếu, nếu vì cái này mà mạo hiểm sinh mạng , đối mặt với nguy cơ vào tù hay bị ám sát cho cả bản thân, gia đình, đồng minh anh em…thì không ai làm cả.

Những quan chức trong nội bộ đảng đã vào tầm lãnh đạo cao cấp thì e rằng tiền và oai phong đầy đủ, họ không dại mà mạo hiểm tối đa cả tính mệnh và sinh mạng chính trị nếu chỉ đơn thuần vì những lợi ích tầm thường. Tiền thì ai cũng cần, nhưng phải còn mạng và tự do để mà hưởng thụ. Việc một lãnh đạo trong nhóm tứ trụ đi Trung Quốc vừa qua đã có nhiều dư luận là đi “cầu ngoại bang”. Một quan chức khác cũng trong nhóm tứ trụ đã gián tiếp phê phán qua lời huấn thị “ không để nước ngoài can thiệp vào nội bộ đất nước”. Nếu bỏ qua thuyết âm mưu, thì hai việc này cho thấy chuyện tranh chấp nội bộ đã ở mức không còn thỏa hiệp được nữa nên các quan chức đó phải làm và nói ra những điều không nên làm và không nên nói lúc này.

Điều này một lần nữa chứng minh tư duy chính trị phương Đông là đúng, ngai vàng (nếu coi ghế TBT là tương đương ngai vàng) là không thể đem ra thỏa hiệp hay thương lượng nếu đã quyết định bước vào tranh chấp. Do đó những dự đoán là ông này của phe này sẽ là Tổng Bí Thư, đổi lại là nhường cho phe kia các ghế khác e rằng là những suy đoán thiếu logic.

Việc đảng huy động 5200 quân nhân (chưa có tiền lệ) cho cuộc đại hội đảng này là một chỉ dấu cho thấy đảng đang thấy mình mất an toàn. Đảng e ngại quần chúng biểu tình bạo loạn hay là phe này huy động để kềm chế phe kia có thể là động cơ của hành động này chăng?

clip_image005

An ninh được đề nghị thắt chặt trước Đại hội và lãnh đạo đảng cũng đề nghị các lực lượng quân đội, công an ở Thủ đô tăng cường cảnh giác ‘không để bị bị động, bất ngờ’.

Trong các cuộc cung biến, hoàng đế hay đi thăm gặp các quan chức phòng vệ cung đình như quan cửu môn đề đốc hay lãnh ban đại thần nội thị vệ. Việc một lãnh đạo đảng đi thăm Quân Khu Thủ Đô, Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát cơ động… có thể lý giải dưới góc nhìn này ?

Cũng thế, trong các cuộc cung biến, phe đối lập cũng có các thân vương đại thần nắm trọng quyền quân đội ẩn dấu và bí mật hành tung. Việc vài ông tướng cao cấp trong lãnh đạo quân đội Việt Nam vắng mặt trên truyền thông kéo dài mấy tháng qua phải chăng cũng là 1 chỉ dấu quan trọng ? Đó là những cái mà tôi thấy dư luận cần chú ý khi bình xét về đảng lúc này. Trong toàn thể bức tranh đang bị dư luận coi là rối loạn, có một điểm sáng, đó là việc các ủy viên trung ương đảng đã vì phân vân mà kéo dài việc ra quyết định trong việc phải ủng hộ đường lối nào.

Bất kể vì động cơ gì, tư duy phân vân này của họ là điều tôi cho rằng tích cực và cần được ghi nhận. Còn một vòng lựa chọn cuối cùng là đại hội đảng, mong rằng các đại biểu dự đại hội có quyết định sáng suốt để đưa đảng, đất nước thoát khỏi tình trạng bế tắc, thoát khỏi những cái trói buộc cũ để đi đến những cái tốt đẹp hơn.

Chuyện nước

Việc luật sư Nguyễn Văn Đài bị bắt vừa qua e rằng sẽ làm đất nước khó khăn hơn trong bước đường hội nhập.

Các tín hiệu từ Mỹ cho thấy Quốc Hội Mỹ sẽ xem xét kỹ hơn việc phê duyệt chính thức cho Việt Nam vào TPP vì việc này xảy ra.

Việc ông Đài bị bắt được quần chúng gán cho nhiều thuyết âm mưu, nào là “giết gà, răn khỉ”, nào là phe này muốn phá thành quả đàm phán TPP của phe kia… bất kể động cơ gì, thì việc đàn áp dân chủ-nhân quyền cũng là điều sẽ làm Việt Nam bị thiệt thòi do hành xử không theo trào lưu chung của nhân loại.

Từ “đảo chính” cũng tràn ngập trên các mạng xã hội mấy ngày qua là một điều thú vị.

Tuy nhiên tôi không mong đảo chính xảy ra vì đất nước sẽ rơi vào hỗn loạn.

Đất nước vừa được nghỉ ngơi sau chiến tranh, mong rằng đảng đừng để đất nước hỗn loạn vì những tranh chấp đường lối không cần thiết.

Việc chọn nước nào là đồng minh thật sự khi nguy cơ mất biển đảo hiện hữu là điều mà đảng cần quyết theo lòng dân. Nếu để đất nước hỗn loạn lúc này, lỗi là do đảng.

clip_image006

Các lãnh đạo đảng, nhà nước Việt Nam và Trung Quốc đã có các tiếp xúc cuối năm 2015 trong nhiều dịp.

Những hoạt động chính trị của người dân chủ lúc này cần thận trọng.

Nếu việc đảng đang cháy nhà là có, thì bất kỳ người ngoài nào lảng vảng xung quanh cũng dễ bị quy cho âm mưu hôi của và bị đảng bắt bớ tù đày.

Cũng thế, những bài viết chính luận thiếu logic, hợp lý cũng sẽ dễ làm quần chúng rối loạn.

Có vẻ Trung Quốc muốn Việt Nam rối loạn hơn là Mỹ, vì vị trí địa lý của họ gần Việt Nam, họ can thiệp nhanh hơn.

Thành ra việc cung cấp cái nhìn chính xác logic cho quần chúng để họ có tự ra quyết định quan trọng hơn là việc đưa ra các nhận định có thể gây ra sự hỗn loạn và chia rẽ.

Và sau cùng, những điều kiện cần và đủ cho sự chuyển mình của đất nước đang hội tụ, nếu bỏ qua cơ hội này, Việt Nam sẽ lại chậm chân lần nữa so với thế giới. Trách nhiệm đó không chỉ của đảng, mà còn của toàn dân, trong đó có tôi và chúng ta.

N.A.D

Nguồn: http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2016/01/160103_nguyenandan_congress_12

Những bức ảnh ấn tượng nhất của Reuters trong 30 năm.

Những bức ảnh ấn tượng nhất của Reuters trong 30 năm. 

Nhân dịp kỷ niệm 3 thập kỷ ra mắt dịch vụ ảnh, hãng Reuters đăng tải hàng loạt bức hình ấn tượng nhất do các phóng viên chụp tại những sự kiện lớn hay vùng chiến sự trên thế giới.

Nhiều người cùng kéo một thi thể ra khỏi đống đổ nát sau khi một quả bom nhằm vào đại sứ quán Mỹ tại Nairobi đã phát nổ tại Nairobi. Mục đích của việc kích hoạt bom là nhằm vào đại sứ quán Mỹ tại đây. Vụ việc khiến 250 người thiệt mạng và 5.000 người bị thương.

Nhiều người cùng kéo một thi thể ra khỏi đống đổ nát sau khi một quả bom nhằm vào đại sứ quán Mỹ tại Nairobi đã phát nổ. Vụ việc khiến 250 người thiệt mạng và 5.000 người bị thương.

 Phóng viên Shannon Stapleton ghi cảnh các nhân viên cứu hộ khiêng người bị thương ra khỏi đống đổ nát sau khi một trong hai tòa tháp trung tâm thương mại thế giới tại New York, Mỹ, bị khủng bố ngày 11/9/2001.

Phóng viên Shannon Stapleton ghi cảnh các nhân viên cứu hộ khiêng người bị thương ra khỏi đống đổ nát sau khi một trong hai tòa tháp Trung tâm Thương mại Thế giới tại New York, Mỹ, bị khủng bố ngày 11/9/2001.

Adrees Latif ghi hình ảnh phóng viên Kenji Nagai của hãng AFP bị thương nhưng vẫn cố gắng chụp cảnh tượng cảnh sát và quân đội Myanmar nổ súng và đuổi người biểu tình tại trung tâm thành phố Yangon.

Adrees Latif ghi hình ảnh phóng viên Kenji Nagai của hãng AFP bị thương nhưng vẫn cố gắng chụp cảnh tượng cảnh sát và quân đội Myanmar nổ súng và đuổi người biểu tình tại trung tâm thành phố Yangon, ngày 27/9/2007. Đây là cuộc biểu tình của hàng nghìn người Myanmar nhằm phản đối chính phủ vì giá nhiên liệu tăng cao.

Nhiếp ảnh gia Juan Medina ghi lại cảnh tương phản khi một nhóm người tắm nắng trên bãi biển Gran Tarajal (Tây Ban Nha), trong khi một người da đen di cư đang dần kiệt sức sau chuyến hành trình lênh đênh trên biển. Những người di cư từ châu Phi tới châu Âu với hy vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Phóng viên ảnh Juan Medina ghi lại cảnh tương phản khi một nhóm người tắm nắng trên bãi biển Gran Tarajal (Tây Ban Nha), trong khi một người da đen di cư đang dần kiệt sức sau chuyến hành trình lênh đênh trên biển. Những người di cư từ châu Phi tới châu Âu với hy vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Lính cứu hỏa nỗ lực cắt một phần đường ống và khống chế đám cháy tại giếng dầu ở Kuwait năm 1991. Bức ảnh của nhiếp ảnh gia Russell Boyce cho thấy cảnh đám lửa cháy rực và vụ nổ đã thổi bay mũ bảo hiểm của một lính cứu hỏa.

Lính cứu hỏa nỗ lực cắt một phần đường ống và khống chế đám cháy tại giếng dầu ở Kuwait năm 1991. Bức ảnh của phóng viên Russell Boyce cho thấy cảnh đám lửa cháy rực và vụ nổ đã thổi bay mũ bảo hiểm của một lính cứu hỏa.

Cảnh tượng tan hoang tại thành phố London, Anh sau hai vụ đánh bom do nhóm khủng bố Cộng hòa Ireland (IRA) thực hiện. Vụ việc khiến hàng chục người bị thương.

Cảnh tượng tan hoang tại thành phố London, Anh sau hai vụ đánh bom do nhóm khủng bố Cộng hòa Ireland (IRA) thực hiện. Vụ việc khiến hàng chục người bị thương.

Phóng viên Robert Galbraith chụp cảnh một người đàn ông bám chặt nóc xe ô tô và chờ cơ lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ tới giải cứu sau khi cơn bão Katrina tấn công bang Louisiana, năm 2005.

Phóng viên Robert Galbraith chụp cảnh một người đàn ông bám chặt nóc ôtô và chờ cơ lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ tới giải cứu sau khi cơn bão Katrina tấn công bang Louisiana, năm 2005. . Galbraith chớp được hình ảnh ấn tượng này khi anh đang ở trên máy bay.

Lính cứu hỏa nỗ lực cắt một phần đường ống và khống chế đám cháy tại giếng dầu ở Kuwait năm 1991. Bức ảnh của nhiếp ảnh gia Russell Boyce cho thấy cảnh đám lửa cháy rực và vụ nổ đã thổi bay mũ bảo hiểm của một lính cứu hỏa.

Bức ảnh của phóng viên ảnh Yannis Behrakis cho thấy cảnh hàng chục dân tị nạn người Kurd chen chúc nhau để giành ổ bánh mỳ khi các nhân viên cứu trợ nhân đạo phân phát cho họ tại vùng núi Isikveren, biên giới giữa Iraq và Thổ Nhĩ Kỳ.

 Phóng viên ảnh Viktor Korotayev ghi lại khoảnh khắc một cảnh sát Nga bế em bé trên tay và rời khỏi khu vực nguy hiểm sau cuộc khủng hoảng con tin đẫm máu tại trường học Beslan, Bắc Ossetia, tháng 9/2004. Bức ảnh sau đó xuất hiện trên trang nhất của nhiều ấn phẩm báo chí toàn cầu.

Phóng viên ảnh Viktor Korotayev ghi lại khoảnh khắc một cảnh sát Nga bế em bé trên tay và rời khỏi khu vực nguy hiểm sau cuộc khủng hoảng con tin đẫm máu tại trường học Beslan, Bắc Ossetia, tháng 9/2004. Bức ảnh sau đó xuất hiện trên trang nhất của nhiều ấn phẩm báo chí toàn cầu.

Ký ức kinh hoàng về vụ bắt cóc con tin ở Nga 10 năm trước

Tròn 10 năm sau cuộc khủng hoảng con tin trường học Beslan tại Cộng hòa Ossetia thuộc Nga, hình ảnh về vụ bắt cóc vẫn ám ảnh tâm trí nhiều người.

 Hình ảnh bé Glassa Galisou, 1 tuổi, mắc chứng suy dinh dưỡng đang đặt bàn tay gầy gò lên miệng của mẹ em tại khu vực cung cấp thức ăn khẩn cấp ở thị trấn Tahoua, phía tây bắc Niger.

Hình ảnh bé Glassa Galisou, 1 tuổi, mắc chứng suy dinh dưỡng đang đặt bàn tay gầy gò lên miệng của mẹ em tại khu vực cung cấp thức ăn khẩn cấp ở thị trấn Tahoua, phía tây bắc Niger.

 Người phụ nữ gào khóc và gọi tên chồng và con gái sau một trận động đất ở tỉnh Tứ Xuyên, tây nam Trung Quốc. Đây là bức hình của Jason Lee.

Người phụ nữ gào khóc và gọi tên chồng và con gái sau một trận động đất ở tỉnh Tứ Xuyên, tây nam Trung Quốc. Đây là bức hình của phóng viên Jason Lee.

 Phóng viên ảnh Ahmed Jadallah chụp cảnh tượng nhiều thi thể nằm giữa đường tại trại tị nạn Jabalya ở phía bắc dải Gaza sau một cuộc không kích. Bức ảnh của Jadallah đã giành giải Ảnh báo chí thế giới ở thể loại tin nóng.

Phóng viên ảnh Ahmed Jadallah chụp cảnh tượng nhiều thi thể nằm giữa đường tại trại tị nạn Jabalya ở phía bắc dải Gaza sau một cuộc không kích. Bức ảnh của Jadallah đã giành giải Ảnh báo chí thế giới ở thể loại tin nóng.

 Một người đàn ông Lebanon hét to để tìm kiếm sự giúp đỡ sau khi thấy một người bị thương nặng tại khu vực gần nơi vụ đánh bom xe xảy ra tại Beirut. Vụ nổ đã khiến cựu Thủ tướng Lebanon Rafik al-Hariri và 8 người khác thiệt mạng.

Một người đàn ông Lebanon hét to để tìm kiếm sự giúp đỡ sau khi thấy một người bị thương nặng tại khu vực gần nơi vụ đánh bom xe xảy ra tại Beirut. Vụ nổ đã khiến cựu Thủ tướng Lebanon Rafik al-Hariri và 8 người khác thiệt mạng.

 Người dân Palestine cố chạy thoát khỏi loạt hơi cay do các binh sĩ Israel bắn trong một cuộc đụng độ tại thị trấn Khan Younis, phía nam của dài Gaza.

Bức ảnh chụp cảnh người dân Palestine cố chạy thoát khỏi loạt hơi cay do các binh sĩ Israel bắn trong một cuộc đụng độ tại thị trấn Khan Younis, phía nam của dải Gaza.

Đạo vào Đời.

Đạo vào Đời.

Cha Gioan Tauler, một vị linh mục đạo đức vẫn luôn cầu xin để được gặp một người chỉ dẫn cho ngài thiên đàng ở đâu. Một ngày kia, có tiếng lương tâm giục ngài ra trước cửa nhà thờ để gặp vị quân sư đó. Nhìn trước nhìn sau, cha chẳng thấy ai, ngoại trừ một người ăn mày, quần áo rách rưới, mặt mũi bẩn thỉu, hôi thối. Cha đến gần chào người hành khất:

– Chào ông, chúc ông may mắn.
Người ăn mày thản nhiên trả lời:
– Chào cha, tôi có bị rủi ro bao giờ đâu.
– Vậy thì xin Thiên Chúa ban cho ông mọi điều sung sướng.
– Ồ, thưa cha, đời tôi chưa bao giờ thấy khổ cả.
Cha Tauler rất ngạc nhiên về cách nói năng của người này. Cha hỏi tiếp:
– Nếu Chúa bắt ông xuống hỏa ngục, ông có buồn khổ không?
Người hành khất trả lời không cần suy nghĩ:
– Nếu Chúa làm như vậy thì tôi sẽ ôm ghì lấy Chúa và đưa Chúa xuống hỏa ngục luôn. Tôi thà ở hỏa ngục với Chúa còn hơn ở Thiên Đàng mà không có Ngài.
Vị linh mục càng ngạc nhiên hơn nữa. Cha hạch hỏi:
– Này ông, ông có thể cho tôi biết ông từ đâu tới đây?
– Thưa Cha, tôi từ Thiên Chúa mà đến.
– Nhưng ông tìm thấy Thiên Chúa ở đâu?
– Ở ngay khúc quẹo, chỗ mà tôi từ bỏ mọi của cải vật chất trên đời này.
Tới đây, Cha Tauler không thể chờ đợi thêm được nữa. Ngài hỏi nhanh:
– Thế thì, ông là ai?
Người ăn mày nói một cách trịnh trọng:
– Tôi là Vua.
Cha Tauler quỳ xuống trước mặt người ăn mày:
– Tâu Đức Vua, Ngài có thể cho con biết vương quốc ngài ở đâu không?
– Vương quốc của Ta ở ngay trong tâm hồn Ta.
Bạn thân mến,

Nhiều lúc trên đời, chúng ta đã mất thời giờ viển vông đi tìm bình an, hạnh phúc ở những nơi không bao giờ có.
Hàng ngày chúng ta lái xe đi làm trên cùng một con đường, vào cùng một giờ khắc trong ngày, vậy mà sao có hôm một chiếc xe chớp đèn xin đi trước thì ta mỉm cười, giảm tốc độ lại và còn đưa tay lên mời họ qua. Trái lại, có ngày gặp trường hợp tương tự, ta lại cáu kỉnh chửi thề mà không cho xe nào qua mặt? Tại sao con cái ta nô đùa trong nhà mà có lúc chúng ta cảm thấy êm đềm, hạnh phúc; nhưng có lúc ta lại cảm thấy ồn ào, khó chịu, nên la rầy và bắt chúng phải ở yên?

        Khi mà con người biết quên mình hy sinh cho hạnh phúc người khác, chia sẻ với người khác”. Thì ra sự bình an, vui vẻ, hạnh phúc không phải do ngoại cảnh tạo ra, mà lại ở ngay trong chính TÂM ta. Khi lòng ta an vui thì ngoại cảnh cũng đẹp đẽ. Khi lòng ta bất ổn thì ngoại cảnh chỉ tạo nên sầu muộn.
Cảnh giới Thiên Đàng hay Địa ngục từ trong TÂM ta vậy !

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Từ Nguyễn Hữu Đang đến Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Văn Đài

Từ Nguyễn Hữu Đang đến Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Văn Đài

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến 

RFA

Quản giáo hống hách như các “cô mậu” thời bao cấp.

Đoan Trang

Có lẽ vì tuổi đời chưa được nhiều, và vì không am hiểu rõ  về phong tục cùng tập quán của dân tộc Việt nên mới đầu năm/ đầu tháng – thay vì kiêng cữ cho nó lành – blogger Đoan Trang đã buông đôi lời không được nhã nhặn cho lắm đối với bộ công an (nói chung) và giới quản giáo coi tù (nói riêng) như sau:

Quản giáo hống hách như các “cô mậu” thời bao cấp…

Buổi sớm 2/1/2016, Hà Nội vẫn hơi lạnh và mờ mờ tối như những sáng mùa đông khác, nhưng chị Lê Thị Minh Hà (vợ blogger Ba Sàm) và chị Vũ Minh Khánh (vợ luật sư Nguyễn Văn Đài) đã dậy từ sớm để chuẩn bị đồ tiếp tế, mang vào trại B14 nuôi chồng.

Đây là lần thăm nuôi đầu tiên của họ trong năm 2016. Từ tháng 11 vừa qua, Trại tạm giam B14 (thuộc Cục An ninh Điều tra, Bộ Công an) đã lên lịch “gửi quà” cho người bị tạm giam, tạm giữ trong cả năm 2016. Theo đó, mỗi tháng Trại ấn định hai ngày cho thân nhân đến thăm nuôi người bị nhốt bên trong – nói trắng ra là NUÔI, vì chẳng ai sống nổi nếu không có đồ tiếp tế mà chỉ dựa vào trại.

Có đến đây mới thấy vô vàn cái bất cập và vô nhân đạo của hệ thống nhà tù, trại giam ở Việt Nam. Hay nói đơn giản hơn, đây là nơi mà sự chà đạp quyền con người trong xã hội được thể hiện một cách thô thiển và trêu ngươi nhất…

Cán bộ quản giáo nắm quyền xét duyệt đồ thăm nuôi, coi như có toàn quyền quản lý dạ dày của người bị giam, nên oai lắm, hống hách lắm, hét ra lửa mửa ra khói y như mậu dịch viên thời bao cấp. Ở họ, toát lên một thái độ kỳ lạ: luôn sẵn sàng ngồi lên đầu dân ngay lập tức, nếu thấy dân có vẻ run, yếu thế, dễ bị bắt nạt.

 Trong căn phòng đăng ký chật chội ở bên ngoài trại (là nơi người nhà khai báo và gửi đồ vào trong trại, cán bộ tiến hành kiểm tra, kiểm duyệt, cân đong đo đếm v.v.), luôn nghe thấy tiếng cán bộ la lối: “Chị Vinh đâu nhở?”, “Bà X. khai xong chưa? Làm cái gì lâu thế?”. Hễ viết sai một chữ là người đi thăm nuôi phải làm lại tờ khai mới, trong khi liên tục bị thúc giục, quát lác xơi xơi.

Chị Lê Thị Minh Hà đang nộp phiếu gửi đồ cho trại thì Thiếu tá Nguyễn Thị Kim Oanh, số hiệu 204-291, cao giọng: “Lần sau đi thăm nuôi thì chị đi một mình thôi. Một mình chị. Nhá”. Chị Hà hỏi có chuyện gì, cô thiếu tá này trỏ tay vào mấy bạn trẻ đi cùng (đưa chị Hà và chị Khánh đến trại): “Thì chị nhìn đấy. Họ đến đây làm mất trật tự”.

Thiếu tá Nguyễn Thiện Khánh, số hiệu 009-268, tranh thủ ngay: “Mời các anh chị ra ngoài. Đi về. Về”. Mọi người bực bội: “Chưa xong việc, về cái gì mà về?”.

Cô Kim Oanh lại hống hách: “Tôi không làm việc với các anh các chị. Tôi chỉ làm việc với chị Hà đây thôi. Nhá. Mời các anh chị về”…

Khách quan mà nói thì qúi vị quản giáo của trại giam B14 đã làm việc hoàn toàn theo “đúng qui trình,” và ngôn từ  của họ (nghe) cũng đâu đến nỗi nào:

– Chị Vinh đâu nhở?

Bà X. khai xong chưa? Làm cái gì lâu thế?

– Mời các anh chị ra ngoài. Đi về. Về.

Thì cũng ông/bà hay anh /chị đàng hoàng, chứ có phải là thằng này/ con nọ gì đâu – đúng không? Thế mà Đoan Trang vội vàng kết luận là “quản giáo hống hách như các ‘cô mậu’ thời bao cấp!”

Tôi e rằng nhà báo của chúng ta cũng chả rõ gì mấy về cái thời bao cấp này đâu. Trong lúc nóng giận cô chỉ nói (đại) thế thôi.

Muốn biết thực/hư ra sao, phải nghe qua đôi lời từ những người tù thời đó kìa. Trước hết, xin giới thiệu ông Nguyễn Hữu Đang, một người tù nổi tiếng hồi thập niên 60, nói qua (chút xíu) về nội qui của trại mình:

“Án bao nhiêu năm chẳng quan trọng, chẳng đáng kể. Không một mối liên hệ với bên ngoài, không thư từ, không thăm nom, không tiền hay quà hay lương thực gửi tới – không, anh không nhận được chút gì của bạn bè hay gia đình. Anh không có quyền nhận thăm nom, không tiếp xúc với bên ngoài. Anh chỉ sống chuyên giữa các anh với nhau, những người tù, những tù nhân chính trị. Thế giới của anh, nhân loại đối với anh là 200 người tù – không có những người đồng tổ quốc, đồng công dân; với anh, không có gì hết, chỉ có 200 người đồng ngục cùng một số phận…”

Kế tiếp là một người tù nổi tiếng (không kém) khác, cũng bị bắt giam vào năm 1959, ông Kiều Duy Vĩnh:

“Mẹ tôi đến Bộ Công An ở phố Trần Bình Trọng hỏi về anh con bị tù. Gác cửa không cho vào. Nhưng từ nhà tôi ở chợ Hôm ra hồ Thiền Quang chưa đến 1 km nên hầu như liên tục khi nào mẹ tôi đi đâu là mẹ tôi lại tạt vào Bộ Công An quấy rầy họ. Đến nỗi người thường trực cứ trông thấy mẹ tôi là tránh mặt không tiếp.

Mẹ tôi cứ đến hỏi. Hỏi mãi. Riết rồi họ phải trả lời. Nhưng cũng mất hơn 3 năm họ mới cho mẹ tôi cái địa chỉ trại tù Cổng Trời: Công Trường 75A Hà Nội. Mẹ tôi lại hỏi tiếp: Thế cái công trường này nó ở chỗ nào ở cái đất Hà Nội này? Họ bảo họ không biết…”

Đến thập niên 70 thì tình trạng ở trại giam ở Việt Nam đã được cải thiện rất đáng kể, tử tế hơn thấy rõ. Thân nhân người tù được cho biết nơi giam giữ và được cho phép vào thăm nom, và chuyện trò với phạm nhân – theo lời của người tù Bùi Ngọc Tấn:

“Hắn bước lên bậc cấp. Người đầu tiên hắn nhìn thấy là ông Thanh Vân. Vợ hắn và Bình ngồi ở phía cuối chiếc bàn hình chữ nhật to dài. Ông Thanh Vân ngồi đầu này.

– Báo cáo ông, tôi có mặt.

Ông Thanh Vân chỉ tay vào một cái ghế ở giữa:

– Anh ngồi xuống. Trại giải quyết cho anh được gặp chị ấy, nhưng anh không được nhận đồ tiếp tế.

Lại thế nữa. Nhưng thôi. Không đề nghị, không van xin. Đồ tiếp tế là những thứ cứu sống mình nhưng cũng không là gì cả. Điều quan trọng là được gặp vợ, hai vợ chồng đôí thoại. Được nhìn nhau. Được nhìn Bình, người bạn không bao giờ bỏ hắn.

Những câu đối thoại không biết bắt đầu từ đâu, luôn bị ám ảnh bởi sợ hết giờ. Những câu đối thoại có sự hiện diện của ông quản giáo, chỉ là những điều dối trá. Thì thôi, hãy nói cho nhau nghe những điều dối trá. Chúng ta đã học cách nghe những lời dối trá để qua đấy biết được sự thật. Ông Thanh Vân đã lại lúi húi vào quyển sách giáo khoa. Lần này là quyển Vật lý lớp 10. Ông là một người vừa thâm canh, vừa quảng canh trí tuệ.

Vợ hắn lên tiếng trước:

– Anh có khoẻ không?

Hắn nhìn vợ. Nhìn thẳng vào mắt vợ. Vợ hắn cũng nhìn vào mắt hắn. Hai người nhìn nhau. Họ đọc trong mắt nhau tình yêu thương, nỗi khổ cực, sự đau đớn, niềm tin, sự phẫn uất, nỗi tuyệt vọng, lòng xót thương không bờ bến, sự khao khát bên nhau và nỗi hận không làm được cả vũ trụ nổ tung lên…

Hắn thở dài.

Hắn không muốn thở dài trước những ông quản giáo, vì hắn cho rằng tiếng thở dài của người tù sẽ đem lại niềm vui cho họ. Hắn không muốn tỏ ra mềm yếu trước mặt người khác. Nhưng lúc này tiếng thở dài là cái van xả xúp-páp an toàn. Nếu không người hắn sẽ nổ tung lên mất. Cả người hắn như một quả núi lửa, nghẹn ngào…

Ngọc giàn giụa nước mắt, những dòng nước mắt lặng lẽ. Hắn nhìn vợ không bằng lòng. Cái nhìn ấy muốn nói: Đừng khóc em. Có ai thương chúng mình đâu. Những giọt nước mắt của em anh không trả được.”  (Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập I. CLB Tuổi Xanh, Hoa Kỳ: 2000, 31- 34).

Đến đây – hy vọng – bà Lê Thị Minh Hà, bà Vũ Minh Khánh, cũng như nhà báo Đoan Trang, nếu không hoàn toàn hạ hoả thì cũng đã nguôi (giận) phần nào. Từ thời Nguyễn Hữu Đang đến thời của Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Văn Đài mới có hai thế hệ, hay nửa thế kỷ thôi – chỉ một cái chớp mắt của lịch sử chứ mấy – vậy mà lịch sử của hệ thống lao tù ở nước ta đã tiến một bước rất dài, gần như là nhẩy vọt (great leap forward) chứ đâu phải bỡn.

Lịch sử (vốn) tính bằng thế kỷ mà, không thể nào vội vàng được. Và cũng chả phải vội làm gì. Cứ từ từ vì  sẽ còn nhiều thế hệ người Việt vào tù nữa, nếu chế độ hiện hành vẫn còn có thể tiếp tục hoành hành ở Việt Nam.

Nỗi buồn cuối năm, nỗi buồn cuối đời

Nỗi buồn cuối năm, nỗi buồn cuối đời

Tạp ghi Huy Phương

 Nguoi-viet.com

Câu chuyện đi thăm Tướng Đỗ Kế Giai tại một nhà dưỡng lão ở Garland, Texas, đã ám ảnh tôi suốt một đêm khó ngủ. Đó là một buổi chiều Chủ Nhật vào cuối Tháng Mười Hai Dương Lịch, trời đã bắt đầu se lạnh, bãi đậu xe trống vắng bóng xe, gần như không có một người khách thăm viếng. Nhưng ông bà cụ già, ngồi trên xe lăn, dồn ra phòng khách, trên lối đi vào, với đôi mắt đờ đẫn không nhìn ai, hay gục mặt nhìn xuống thân mình, trong thói quen chờ đợi, hy vọng có một người thân của mình hiện ra trên ngưỡng cửa với một nụ cười, bó hoa hay món quà trên tay.

(Hình minh họa: Thomas Bjorkan/Wikipedia.org)

Tôi biết trên thế giới Tây phương có nhiều đứa con không dám đi du lịch xa, vì sợ con mèo, con chó hay bầy cá ở nhà không ai cho chúng ăn hay săn sóc, nhưng cha mẹ già thì đã có những nhà dưỡng lão. Thậm chí trong tình vợ chồng, người vợ còn mạnh khỏe, siêng đi lễ hay lên chùa, nhưng chồng thì cô đơn, trên chiếc xe lăn trong một nhà già quạnh hiu nào đó.

Chúng ta có bao nhiêu lý do để bào chữa, biện minh cho việc bỏ bê cha mẹ già trong một cơ quan y tế, được cho ăn mỗi bữa, áo quần có người giặt, vài ba ngày được đẩy xe vào phòng tắm, trần truồng và được cô y tá hay một nam nhân viên dội nước, xát xà phòng, vo đầu. Những việc săn sóc này dù có mang chút tình người đi nữa thì cũng là những công việc hằng ngày bắt buộc, thương ghét hay xúc động chỉ là những cảm tính vô ích.

Có những đứa con nại cớ bù đầu với công việc ở sở, và việc con cái bếp núc ở nhà nên không có thời gian dành cho cha mẹ già, đành phải đưa cha mẹ vào nhà dưỡng lão. Gần đây người ta lên tiếng hoan nghênh những người phụ nữ hy sinh lợi tức để ở nhà toàn thời gian chăm nom, săn sóc con cái, nhưng nào có ai nghe chuyện có những đứa con bỏ việc làm vì còn cha mẹ cần sự giúp đỡ lúc về già! Người ta thường kêu than không có thời giờ, “đầu tắt, mặt tối” nhưng còn có thời gian mua sắm trong các cửa hàng thời trang, mất một hai tiếng đồng hồ trong gym mỗi ngày, năm giờ cho một chương trình ca nhạc ở sòng bài, không tính thời giờ đi về. Đó là chưa kể thời gian “bắt buộc” phải ngồi trước máy điện toán, vào Facebook, hay trao đổi tin nhắn với bạn bè.

Người ta có thể mỗi năm tổ chức những chuyến du lịch bắt buộc, ra ngoài để mở tầm mắt trước thế giới, nhưng “nhắm mắt” làm ngơ về một lần sắp xếp thời gian đi thăm cha mẹ già.

Ngày xưa một người mẹ nuôi được năm mười đứa con, ngày nay cả năm mười đứa con không nuôi nổi được một mẹ, phải chăng vì vậy mà phải đẩy mẹ vào nhà dưỡng lão, để cho những người xa lạ trông coi. Ở đây có khi mẹ thiếu ăn, cơ thể mất nước, dơ bẩn trong mớ phân và nước tiểu, bị đối xử tàn tệ, cũng chẳng hề ai biết đến. Ngày xưa “bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,” không có bậc cha mẹ nào có thể ngoảnh mặt trước cảnh con đói khát hay bị lăng nhục bởi một người khác.

Con biết giờ đây, “một ông già bằng ba đứa trẻ” cha “lẩm cẩm” bước đi, và mẹ phải nương lưng nhờ gậy chống.

Xưa kia khi các con còn thơ ấu, thân xác chưa trưởng thành và tâm hồn con yếu đuối, điều một điều hai vẫn là mẹ. Một đứa trẻ có thể biết lạnh, biết nóng, biết đói, biết khát, biết đau, nên khóc la, nhưng chóng quên, khóc đó rồi cười đó. Trái lại, một ông già còn biết buồn, biết tủi thân, biết xót xa mà chỉ biết gậm nhấm mang lấy nỗi buồn của riêng của mình, nên tuổi già cũng cần chăm sóc, gần gũi, ân cần như là một đứa trẻ, có khi còn hơn thế nữa!

Thói quen của người đời, người ta thường hỏi nhau có được mấy con, mấy ai quan tâm xem song thân còn hay mất! Đối với cha mẹ, con là tất cả, nhưng đối với con, cha mẹ là một thứ quá khứ cần xếp lại.

Ngày xưa, niềm vui của cha mẹ là nghe tiếng đứa con chập chững bi bô, hay toét miệng cười, ngày nay cha mẹ về già, các con ở xa, chỉ mong nghe tiếng điện thoại reo vui vào những ngày lễ, Tết, và đầu điện thoại bên kia có tiếng nói: “Mẹ ơi!” hay “Mẹ đó hả?”Trong cái tổ ấm cúng ngày xưa, và là cái tổ trống hoác ngày nay, khi các con đã đi xa, những cái phòng của các con vẫn để trống, biết đâu có ngày con về thăm bố mẹ. Con búp bê bằng nhựa, con gấu nhồi bông vẫn còn trên chiếc dương cầm phủ bụi của con gái, tủ sách, nhiều giải thưởng và những lá cờ kỷ niệm của trường đại học vẫn còn gắn trên bức tường trong phòng đứa con trai. Và ngôi vườn kia, đã đầy lớp lá vàng vào Thu hay phủ tuyết mùa Đông, cái ghế xích đu ngoài vườn ngày trước con thích ngồi, vẫn rung khẽ cùng cơn gió nhẹ.

Nhiều lúc cha mẹ muốn bán ngôi nhà cũ đầy ắp kỷ niệm, nhiều phòng, để đi tìm một cái condo, nhưng cứ nghĩ khi con về, và còn những đứa cháu nữa, sẽ ở đâu?

Cha mẹ Việt Nam tự an ủi, ru mình bằng bốn tiếng “nước mắt chảy xuôi” là mọi chuyện đều cho qua, nhận thức đời sống một phần cũng cho là duyên, là phước. Phải chi cha mẹ như cha mẹ nơi quê người, không hề lưu luyến, bịn rịn, ngay từ lúc đứa con đã trưởng thành rời mái ấm ra đi.

Nhưng có lẽ mọi điều không phải như vậy, dù bên trời Tây hay bên phương Đông.

Chúng tôi vừa được xem một đoạn phim rất ngắn kể chuyện một người già cô đơn ở phương Tây.

Những ngày lễ lớn năm nay, cô con gái tin cho biết là cô không về thăm cha được vì bận việc. Ông cụ lủi thủi một mình, cô đơn trong căn nhà nhỏ với những bữa cơm lặng lẽ hàng ngày. Nhưng rồi, cô con gái nhận được tin cha mình qua đời đột ngột, cô thu xếp cùng chồng trở về nhà.

Trên bậc cửa, cô thấy người cha thân yêu của cô hiện ra với tấm lưng còng và mái tóc bạc phơ. Cô bật khóc. Phải chăng vì nghe tin cha chết, cô mới trở về, trong khi còn sống, người cha cần có con, thì không có cô bên cạnh.

Nhưng cũng còn may. Cách đây mười mấy năm ở Paris, vào mùa Hè, có một trận nóng kinh khủng giết hàng trăm cụ già trong nhà dưỡng lão. Nhà nước thông báo cho những đứa con trở về lo chôn cất. Nhưng chúng, nhiều đứa đành xin lỗi, vì đang kẹt trong chuyến du lịch dài ngày ở xa!

Đường cùng của lưu manh đỏ và quy luật “cùng tất biến”

Đường cùng của lưu manh đỏ và quy luật “cùng tất biến”

WEB BA SA`M

Dân Luận

Nguyễn Xích Long

Trong bộ phim Chu Nguyên Chương có một câu ông này dạy con “triều đình là nơi tập hợp những kẻ ghê gớm nhất thiên hạ”, nhưng ông ta không được sống ở thời “Đại Vệ chí dị” để hiểu rằng những kẻ tập hợp về triều đình bây giờ đã phát triển đến mức thái cực cửa sự ghê gớm trở thành “lưu manh đỏ” và sự lưu manh cũng đã đi đến bước đường cùng như nhiều người đã từng phân tích.

Trong xã hội “Đại Vệ chí dị” từ lâu người ta đã có cụm từ “lưu manh trí thức” để chỉ ra loại lưu manh cao cấp đã thâm nhập vào khắp triều đình từ cấp cao nhất đến cấp cơ sở,mức độ lưu manh thì đểu cáng vô nhân kinh khủng vượt xa loại lưu manh hạ cấp đầu đường xó chợ. Loại lưu manh này phát triển đến nay đã trở thành “lưu manh đỏ” biết dựa vào lý luận triết học để lừa bịp mị dân, nhưng do vẫn chỉ là đầu óc lưu manh nên cũng chỉ là trình độ lừa bịp mà qua những phát ngôn gần đây của cả đống “lưu manh đỏ” cấp cao trong triều đình thiên hạ đã nhìn thấy sự biến thái đến bế tắc của đường cùng.

Có thể thấy rõ sự cùng quẫn khi không còn biết cách nào để lý luận bịp bợm mà đành ăn nói bừa bãi quàng xiên một cách láo lếu kiểu của bọn lưu manh đầu đường xó chợ không coi dân chúng ra gì, thiên hạ không còn ai hiểu biết nữa. Những câu nói mà nhiều người đã đưa lên FB dưới dạng “Mỗi ngày một thằng ngu” với rất nhiều ví dụ như “Tăng giá điện toàn dân đều có lợi”, “bán vé số có thu nhập cao cần nghiên cứu phát triển”, “công khai tài sản công chức là vi hiến”, “biên cương bờ cõi biển đảo để cho con cháu đòi”, “Ngậm tăm khi giặc cướp biển dảo là đúng nếu không bây giờ chúng ta có ngồi đây mà họp hành bầu bán được không”, “trận đánh lớn của nghành giáo dục là bỏ môn sử”, “Tâm lý người dân ai cũng ghét Trung quốc rất nguy hiểm”, “luật sư bị đánh do gây bụi đường”, “Dân xem pháo hoa để quên đói nghèo”….. Sau những câu nói cùng quẫn là những chính sách cùng quẫn kiểu tận thu bóc lột đến đồng tiền cuối cùng của người dân như thu bảo hiểm y tế bắt buộc toàn dân, thu phí đường bộ xe máy, chặt cây xanh hàng loạt, tăng giá điện, nước, vô tội vạ, giảm giá xăng nhỏ giọt khi giá dầu thế giới giảm, tăng phí dịch vụ y tế vô tội vạ…. tất cả những điều này thể hiện sự bế tắc của “lưu manh đỏ” đã đến đường cùng được thấy rõ bằng các biểu hiện cạn kiệt ngân sách, nhiều địa phương đã không có tiền trả lương, nợ công tăng vọt, các công trình dự án vô bổ kém hiệu quả đua nhau mọc ra….

Theo quy luật tất yếu “cùng tắc biến” thì ta thấy sắp tới sẽ có rất nhiều biến, cuộc đại hội “lưu manh đỏ” phân chia lại quyền lực đang diễn ra khốc liệt đến mức triệt tiêu nhau sẽ có nhiều biến cố không lường, ngân sách cạn kiệt, tài nguyên cạn kiệt dẫn đến miếng ăn tham nhũng không còn đủ chia chác tất dẫn đến đánh nhau tranh giành miếng ăn quyết liệt lộ ra những sai phạm, tội lỗi nội bộ. Các phong trào đấu tranh của dân oan ngày càng phát triển rộng, sâu, các phong trào dân chủ phát triển mạnh về nhiều mặt, ý thức hệ cũng đã thay đổi sâu sắc trong xã hội đặc biệt là lớp trẻ đã có nhiều người tham gia nhiệt huyết năng nổ, hiện tượng ở Ninh Hiệp thiếu nhi cũng đã tham gia có tổ chức đông đảo chống chiếm đất đã trở thành điểm mẫu, mô hình đấu tranh có hiệu quả. Như vậy các pháp biến tất yếu sẽ xảy ra từ nội bộ “lưu manh đỏ” đến áp lực xã hội dân chúng bên ngoài và kể cả quốc tế, chắc chắn “Đại Vệ chí dị” sẽ có biến lớn trong thời gian ngắn sớm thôi. Các tổ chức dân sự và phong trào dân chủ cần chuẩn bị tinh thần, tổ chức, lực lượng để nắm bắt cơ hội thay đổi thể chế phát triển đất nước. Ai nắm bắt được đúng cơ hội sẽ trở thành lãnh đạo đất nước.

MỘT SẤM HAI TRUYỀN

MỘT SẤM HAI TRUYỀN

Web BA SA`M

Trong nhà dấy vạ: Ở lần truyền trước, hai chúa con nhà họ Trịnh tranh nhau quyền lực đến một mất một còn. Ở lần truyền này cũng hai chúa con nhà họ sản tranh nhau quyền lực lãnh đạo đến hội nghị thứ 14 chưa kết thúc, đất nước thêm tan nát đau thương. Các bạn cứ yên tâm tin tưởng vào lời sấm truyền, đại hội 12 này là đại hội cuối cùng của nhà sản, rồi chẳng phe phái nào trong Đảng giành được quyền bính, quyền bính sẽ trở về với người dân.

___

Hồ Trung Thạnh

3-1-2016

Trịnh Kiểm là kẻ chuyên bắt trộm gà của hàng xóm cho mẹ ăn, một hôm Trịnh Kiểm đi vắng, hàng xóm đem mẹ Trịnh Kiểm mà ném xuống vực. Trịnh Kiểm về khóc bên mộ mẹ. Lúc đó ông thầy bói đi qua mà truyền rằng:

Phi đế Phi bá
Quyền khuynh thiên hạ
Truyền tộ bát đại
Tiêu từng khởi vạ

Dịch là:

Chẳng đế chẳng bá
Quyền nghiên thiên hạ
Truyền được tám đời
Trong nhà dấy vạ

Nghe câu sấm trên,Trịnh Kiểm hết khóc mà hỏi lại rằng: Thầy truyền cho con à ?

Thầy bói trả lời: Cho con và một lần cho mai sau nữa!

Với Trịnh Kiểm lời truyền đó đã thành hiện thực:

Năm 1545 Trịnh lên cầm quyền, Trịnh tiếm quyền vua Lê và xây dựng sự nghiệp cho họ Trịnh, sự nghiệp nhà Chúa.

Nhà chúa danh nghĩa dưới nhà vua nhưng quyền nghiên thiên hạ, khuynh đảo nhà vua, vô cùng độc ác, giết cả người thân chiếm lấy mưu đồ, lòng dân oán hận nhưng không ai dám mở miệng nói ra vì sợ Chúa bắt.

Lúc bấy giờ dân sống một cổ hai tròng, khổ trăm bề. Nắm quyền hành trong tay nhà chúa độc đoán về chính trị, lũng đoạn kinh tế, bao che dòng họ cướp bóc của dân.

Cho đến nhà chúa đời thứ 8 chúa là Trịnh Sâm, cuộc chiến nội bộ giành quyền lực giữa hai chúa con cùng nhiều phe cánh đứng đằng sau, lúc này đất nước rối ren, kiêu binh xuất hiện, chính sự không sáng sủa.

Sau cùng xuất hiện phòng trào Tây Sơn Khởi nghĩa, vua chúa cùng chạy, đất nước đổi thay.

Sấm truyền đã đúng một lần với dòng họ Trịnh tiếm quyền làm chúa, thống lĩnh mấy mươi năm làm cho đất nước rối ren rồi sụp đổ bỡi một phong tào chính trị mới tiến bộ hơn, phong trào Tây Sơn.

Lần truyền thứ hai là truyền cho dòng họ nhà Sản, bởi họ nhà Sản có những cái trùng hợp với họ Trịnh năm xưa:

Phi Đế, phi Bá: Nhà Sản không chính danh lãnh đạo đất nước, Nhà sản không phải là Nhà nước nên không phải bậc đế vương mà người dân trao quyền bính. Nhà Sản chỉ là một số người đã tiếm quyền đất nước kể từ cuộc cách mạng cướp chính quyền năm 1945 trùng hợp với năm 1545  nhà Trịnh tiếm quyền đất nước.

Quyền nghiêng thiên hạ: Suốt 70 năm nắm lấy quyền bính, nhà Sản độc quyền lãnh đạo, lũng đoạn kinh tế chính trị gây ra bao nhiêu tan thương cho đất nước.

Truyền được tám đời: Kể từ khi tiếm quyền đất nước năm 1945, đến nay nhà Sản đã truyền ngôi cho nhau được 8 đời: (Trường Chinh, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng)

Trong nhà dấy vạ: Ở lần truyền trước, hai chúa con nhà họ Trịnh tranh nhau quyền lực đến một mất một còn. Ở lần truyền này cũng hai chúa con nhà họ sản tranh nhau quyền lực lãnh đạo đến hội nghị thứ 14 chưa kết thúc, đất nước thêm tan nát đau thương.

Các bạn cứ yên tâm tin tưởng vào lời sấm truyền, đại hội 12 này là đại hội cuối cùng của nhà sản, rồi chẳng phe phái nào trong Đảng giành được quyền bính, quyền bính sẽ trở về với người dân.

Qua đêm rồi trời lại sáng, đất nước Việt Nam chấm dứt chuỗi ngày đen tối.

Và ước mong của tôi là lời sấm ma quái ấy chỉ truyền có hai lần mà thôi!

Chính Quyền và Bạo Quyền

Chính Quyền và Bạo Quyền

Phạm Hy Sơn

Bạo là độc ác, dữ tợn không kể gì đến nhân nghĩa, đạo đức: bạo ngược, tàn bạo.

Mỗi quốc gia có một chính quyền để điều hành đất nước. Những chính quyền ấy được chia ra thành 2 loại: dân chủ và độc tài.

Chính quyền dân chủ được dựng lên bởi người dân qua các cuộc đầu phiếu tự do, họ chọn một trong số những người ứng cử có tài, đức, có khả năng, biết chăm lo nước, việc dân lên lãnh đạo đất nước.

Để thi hành những trách nhiệm ấy, ngoài quyền hành chánh, chính quyền còn được giao phó cho sử dụng hai lực lượng có nhiều quyền lực là quân đội và cảnh sát. Quân đội được đặt dưới quyền của Tổng thống hoặc Thủ tướng với nhiệm vụ chính yếu là bảo vệ đất nước chống xâm lược từ bên ngoài, hoặc cấp cứu, trợ giúp dân chúng trong trường hợp gặp thiên tai bão, lụt, hỏa hoạn… Lực lượng cảnh sát có nhiệm vụ bảo vệ tính mạng và tài sản của người dân, chống trộm, cướp, chống hà hiếp, bắt nạt, chiếm đoạt do những kẻ mạnh hoặc có quyền thế lạm quyền. Hai lực lượng này có nhiệm vụ chính yếu là bảo vệ quốc gia và bảo vệ dân chúng, không bao giờ được dùng để đàn áp người dân.

Trong chế độ dân chủ, mục tiêu và trách vụ của chính quyền là phục vụ dân chúng, phục vụ đất nước theo như ý muốn của người dân. Do đó, họ phải lắng nghe, tìm hiểu xem người dân muốn gì hay bất bình, phản đối những chính sách, chương trình nào của chính phủ để họ thay đổi, sửa chữa.

Điều đó thể hiện quyền làm chủ của dân chúng trước chính quyền. Nói khác đi, chính quyền trong chế độ dân chủ là của dân, do dân lập nên và vì dân mà phục vụ.

Những điều này trái ngược với chế độ độc tài. Trong các chính quyền độc tài, người dân phải phục vụ, phải phục tùng chính quyền, nói rõ hơn là phục tùng những kẻ cai trị, nếu không sẽ bị liệt vào tội phản động, chống đối chính quyền, chống đảng, chống lãnh tụ. Người dân phải bưng tai, bịt miệng, bịt mắt không dám nghe, dám nhìn, dám nói ra những điều sai trái, những hành động tàn ác, bóc lột, bất tài, tham nhũng của những kẻ cầm quyền mặc dù trong lòng đầy khinh bỉ, oán ghét và căm thù.

Trong chế độ độc tài, bộ máy cầm quyền thường được dựng lên bởi một cuộc đảo chánh cướp chính quyền của đám quân phiệt, ví dụ như Than Shwe ở Miến Điện, Suharto ở Indonesia, Gaddafi ở Lybia… hoặc do bầu cử gian lận như Marcos ở Phillippines, Ben Ali ở Tunisia. Và đặc biệt hơn, ở những nước cộng sản với chủ nghĩa Mác-Lê chỉ đạo dựa vào sự lừa gạt, khủng bố, máu, nước mắt và tù đày.

Những chính quyền đó do ăn cướp quyền của người dân mà có và tất nhiên là họ biết điều đó, họ biết rằng dân chúng cũng biết điều đó nên có thể nổi lên chống đối, lật đổ họ để lấy lại quyền làm chủ đất nước và quyền sống của mình.

Vì thế những chính quyền độc tài tìm đủ mọi cách để đàn áp người dân, coi người dân như kẻ thù phải đề phòng, canh chừng và thẳng tay đàn áp, tiêu diệt khi thấy có mầm mống chống đối xuất hiện. Hai lực lượng quân đội và công an được tận dụng để bảo vệ đảng, bảo vệ các lãnh tụ bằng những biện pháp sắt máu thay vì bảo vệ quốc gia và người dân.

Về vấn đề này, những chính quyền độc tài đảng trị cộng sản đã được Marx dạy rằng bằng mọi cách phải nắm giữ quyền cai trị chuyên chế vô sản.

Nếu những kẻ độc tài như Pinoche ở Chile, Gaddafi ở Libya, cha con nhà Assad ở Syria bắn giết, thủ tiêu vài ngàn người thì những đồ đệ của Marx như Lénine, Staline, Mao trạch Đông, cha con ông cháu Kim nhật Thành, Pol Pot, Iang Sary… tàn sát dân chúng cả hàng triệu người để nắm giữ lấy chính quyền độc tài vô sản theo lời Marx dạy!

Có người nói rằng Lénine, Staline, Mao trạch Đông… đã làm lu mờ tội ác của các bạo chúa Tần Thủy Hoàng, Néron thời xưa và Hitler thời cận đại.

Những chính quyền độc tài đảng trị này đã lập ra những guồng máy to lớn để đàn áp, kiểm soát dân chúng, đó là bộ máy Đảng Cộng sản ở khắp mọi nơi, từ thôn xóm tới nông trường, công trường, trường học, bệnh viện, quốc hội, tòa án… song song với bộ máy hành chánh, công an, mật vụ và quân đội. Vì phải nuôi guồng máy quá to lớn, kềnh càng, tốn kém – nhất là bộ máy công an, mật vụ, quân đội – cộng thêm với tham nhũng, tính cuồng tín, duy ý chí trong những chính sách về kinh tế, xã hội làm cho các chính quyền cộng sản từ Nga sô, Đông Âu tới Á Châu, Cuba suy kiệt, sụp đổ (Nga, Ba Lan, Đông Đức, Roumanie, Albanie… ).

Những nước còn lại như Tàu, Việt Nam, Cu Ba quay sang kinh tế Tư Bản, trải thảm đỏ đón tiếp, mời gọi tư bản đổ vào, nhưng những bạo quyền này vẫn nhớ lời Marx dạy rằng bằng mọi cách phải nắm giữ chế độ độc tài chuyên chế (cũng như nắm vững những quyền lợi, quyền bóc lột, tham nhũng sẵn có của họ).

Không thể còn giết chóc, thủ tiêu, tù đày hàng triệu người như thời xưa của Staline, Mao Trạch Đông… những bạo quyền cộng sản bây giờ đi đến tận cùng của sự dã man như cho xe tải, xe ủi đất cán nát những nông dân chống lại bọn cướp nhà, cướp đất, cho công an đập chết dân giữa chợ hay trong đồn để khủng bố tinh thần dân chúng.

Những hành động dã man ấy bị cộng đồng nhân loại lên án gắt gao và dân chúng bị đẩy đến đường cùng đã tỏ ra không còn sợ hãi. Dân chúng ở nhiều nơi đã khiêng quan tài đi biểu tình, bắt nhốt công an, đập phá, đốt cháy xe công an, truất phế chính quyền địa phương như ở Ô Khảm, tỉnh Quảng Đông… nên những bạo quyền này đã phải cho công an, mật vụ giả dạng côn đồ hay liên kết với xã hội đen đón đường đánh đập dã man những luật sư, những người vận động đòi hỏi dân chủ, những nhà hoạt động nhân quyền bênh vực người dân bị oan khốc, những công nhân, nông dân bị bóc lột, bị cướp tài sản, đất đai.

Nhưng càng tàn ác, dã man thì càng làm cho người dân căm phẫn phải nổi lên và chính những hành động tàn ác, dã man đó là những nhát cuốc đào sẵn huyệt để tự chôn chế độ.

Lịch sử đã chứng minh điều ấy qua các bạo chúa Kiệt, Trụ, Tần Thủy Hoàng, Néron, Lê Ngọa Triều thời xưa, và Hitler, Gaddafi ngày nay, kể cả chủ nghĩa Cộng sản ở Nga, Hung, Ba Lan, Tiệp, Đông Đức, Albanie, Nam Tư… và cái kết thúc đầy thảm họa dành cho vợ chồng Nicolai Ceaucescu ở Roumania, Gaddafi ở Libya, đáng thương nhưng cũng đáng trách, chắc chưa ai quên.

Tổ tiên chúng ta dạy rằng “càng oan nghiệt lắm càng cay đắng nhiều” và nhà Phật cũng dạy: Gieo nhân nào thì ăn quả ấy.

Sự thật ngay trước mắt, không phải tìm kiếm đâu xa.

P.H.S.

Câu Chuyện Đầu Năm: Thoát Khỏi Sợ Hãi

Câu Chuyện Đầu Năm: Thoát Khỏi Sợ Hãi

Nguyễn Quang Dy

Không phải quyền lực làm tha hóa mà là sợ hãi. Sợ mất quyền lực làm tha hóa những người nắm quyền và sợ cái gậy quyền lực làm tha hóa nhữg người bị nó cai trị…” (Aung San Suu Kyi, diễn văn nhận giải thưởng Sakharov về Tự do Tư tưởng, 7/1991)

***

“Thóat khỏi sợ hãi” không phải là một ý tưởng mới, nhưng Aung San Suu Kyi đã làm mới và đúc kết nó lại thành một lý thuyết mới và niềm tin vững chắc, không những dựa trên triết lý Phật giáo và các tri thức phổ quát khác, mà còn dựa vào trải nghiêm của chính bản thân minh đã bị chính quyền độc tài quân sự đầy đọa suốt hai thập kỷ bằng quản thúc biệt lập. Lý thuyết này đã được Suu Kyi trình bày rõ trong bài luận “Thoát khỏi sợ hãi” (1990) và các bài viết, bài giảng, bài phỏng vấn khác trong những năm qua, để chia sẻ với người dân Miến Điện và thế giới bên ngoài, trong cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ vì tự do, dân chủ và nhân quyền, bằng đấu tranh bất bạo động. Muốn học hỏi kinh nghiệm của người Miến Điện (do Suu Kyi va NLD lãnh đạo) đã giành được thắng lợi to lớn trong cuộc tổng tuyển cử vừa qua, điều cần thiết là phải hiểu rõ “Thoát khỏi sợ hãi” thực sự có ý nghĩa gì, và chúng ta phải làm thế nào để ứng dụng đươc lý thuyết và kinh nghiệm đó vào thực tế của mình.

Động lực và nguồn cảm hứng

Các bậc tiền bối cách mạng Việt Nam (như cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hồ Chi Minh, v.v.) đã đi tìm đường cứu nước để giành độc lập tự do bằng cách vượt biển sang Phương Tây (và Phương Đông) để tìm lối thoát “từ thế giới bên ngoài”. Ít nhất lúc đó họ còn được tự do đi lại. Nhưng Aung San Suu Kyi (cũng như Martin Luther King và Nelson Mandela) đã bị giam cầm biệt lập với thế giới bên ngoài. Nhưng họ đã không chịu khuất phục và bất lực trước hoàn cảnh, đã không bỏ phí thời gian, họ nghiền ngẫm tìm lối thoát “từ thế giới bên trong”, trước hết là giải phóng tư tưởng cho chính mình (ngay khi đang bị giam).

Suu Kyi kể lại, chính trong nhũng năm tháng bị quản thúc mà bà đã có thời gian tìm hiểu về bản chất “Sáu Nỗi khổ Lớn” (trong Đạo Phật): Sinh, lão, bệnh, tử, xa cách những người thân, và buộc phải sống chung với những người mình không thích. Chính hai điều cuối đã làm bà giác ngộ về nỗi khổ của chính bản thân mình và trách nhiệm của mình đối với nỗi khổ của người dân Miến Điện, quyết tâm dấn thân để giải thoát khỏi những nỗi khổ đó. Suu Kyi tin rằng “bất cứ nơi nào nỗi khổ bị bỏ qua thi nơi đó có mầm mống xung đột bởi vi nỗi khổ sẽ làm con người sa đọa, thù hận và bạo hành”

Không phải Suu Kyi chỉ đi tìm nguồn cảm hứng và lối thoát từ triết lý đạo Phật mà còn từ những tri thức phổ quát khác. Có lẽ bà đã tìm thấy mẫu số chung giữa triết lý đạo Phật và Tuyên ngôn Nhân quyền của LHQ. “Bỏ qua và coi thường nhân quyền đã dẫn đến những hành đông man rợ làm lương tri loài người phẫn nộ, nên LHQ tuyên bố rằng việc tạo ra một thế giới trong đó con người được tự do ngôn luận, tự do tin ngưỡng, thoát khỏi sợ hãi và thiếu thốn là nguyện vọng cao nhất của con người”. (Lời nói đầu của Tuyên ngôn Nhân quyền của LHQ)

Không thể thoát khỏi ngu dốt nếu chúng ta không được tự do đi tìm sự thật không bị khống chế bởi sợ hãi. Với mối liên quan chặt chẽ giữa sợ hãi và tham nhũng, không có gì là khó hiểu trong một xã hội mà sợ hãi bao trùm thì mọi hình thức tham nhũng sẽ ăn sâu bám rễ. Nếu chúng ta không thoát khỏi sợ hãi, chúng ta sẽ không thể để lại cho con cháu một tương lai mà chúng ta muốn chúng được hưởng.

Suu Kyi cũng tin rằng một cuộc cách mạng chỉ nhằm thay đổi chính sách và thể chế chỉ để cải thiện điều kiện vật chất thì sẽ không có cơ hội thành công thực sự. “Tầm nhìn của chúng ta về một thế giới phù hợp với loài người văn minh và có lý trí sẽ làm cho chúng ta dũng cảm chịu hy sinh để xây dưng một xã hội không thiếu thốn và không sợ hãi. Không thể coi thường những tiêu chí như sự thật, công lý và cảm thông vì những giá tri này thường là chỗ dựa duy nhất chống lai cường quyền”.

Trong số những quyền tự do cơ bản mà con người vươn tới, thì quyền thoát khỏi sợ hãi là cao nhất, vừa là phương tiện vừa là mục tiêu. Một dân tộc muốn xây dựng đất nước mình trên cơ sở những thể chế dân chủ lành mạnh được thiết lập vững chắc như một đảm bảo đối với quyền lực nhà nước, truớc tiên phải giải phóng tư tưởng cho chính mình khỏi vô cảm và sợ hãi. Muốn thoát khỏi sợ hãi, phải dũng cảm. Có người được trời phú cho “không biết sợ” (fearless), nhưng có lẽ chúng ta cần hơn cả lòng dũng cảm được tôi luyện qua thử thách, lòng dũng cảm bắt nguồn từ thói quen không chịu để sợ hãi điều khiển hành động của mình, có thể gọi đó là “sự bình thản trước thách thức”

Cơ sở lý luận

Trong bài “Thoát khỏi sợ hãi”, Suu Kyi phân tích, “Trong một chế độ phủ nhận sự tồn tại của nhân quyền, sợ hãi có xu hướng trở thành quy luật. Sợ bị bỏ tù, sợ bị tra tấn, sợ bị chết, sợ mất bạn bè, gia đình, tài sản hay phương tiện sống, sợ nghèo đói, sợ bị cô lập, sợ thất bại. Nhưng có một loại sợ khó nhận diện nhất núp dưới cái vỏ hiểu biết, thậm chí khôn ngoan, là mọi hành động dũng cảm nhỏ bé hàng ngày giúp ta duy trì lòng tự trọng và nhân cách con người thường bị lên án là dại dột, khinh suất, tầm thường, hay vô ích. Rất khó để những người bị sợ hãi khống chế theo nguyên tắc cai trị là “chân lý thuộc về kẻ mạnh” có thể tự giải phóng mình khỏi nỗi sợ ngột ngạt làm con người hèn yếu. Nhưng ngay trong bộ máy nhà nước hà khắc nhất thì lòng dũng cảm vẫn không ngừng trỗi dậy, vì sợ hãi không phải thuộc tính của con người văn minh”.

Suu Kyi chưa bao giờ nói rằng nền dân chủ là một hệ thống hoàn hảo, bởi vì con người chúng ta không hoàn hảo. Chúng ta không có khả năng sản sinh ra một hệ thống hoàn hảo. Nhưng Suu Kyi cho rằng sự không hoàn hảo đó cũng là điều hay và là một thách thức. Nếu chúng ta đều hoàn hảo cả thì thế giới này sẽ nhàm chán vô cùng. Điều quan trọng là chúng ta phải khắc phục sự không hoàn hảo của xã hội, của pháp luật và tập quán đã làm khổ chúng ta và làm xói mòn nhân phẩm.

Suu Kyi tin rằng “lòng nhân ái có thể thay đổi cuộc sống con người” và bà kêu gọi hãy “chung tay tạo ra một thế giới yên ổn trong đó mọi người có thể ngủ yên giấc và thức dậy trong hạnh phúc”. Theo Suu Kyi, lòng vị tha trong đạo Phật là tâm điểm của quá trình dân chủ hóa. Có lẽ bà chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các lãnh tụ dân quyền chủ trương bất bạo động như Martin Luther King và Mahatma Gandhi.

Ý tưởng đấu tranh bất bạo động của họ thực ra không khác tư tưởng của các bậc hiền tài trong lịch sử Việt Nam như Nguyễn Trãi đã viết trong “Bình Ngô Đại cáo” (1248), “Đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”. Suu Kyi cũng lập luận tương tự, “Khi người ta không có súng trong tay thì phải cố gắng sử dụng cái đầu của mình, phải dùng cảm xúc và trí tuệ để tìm ra giải pháp”. Có lẽ đây chính là ý tưởng “sức mạnh mềm” (hay sức mạnh thông minh).

Dường như các quan điểm chính trị này đã được giới khoa học và nghiên cứu lâu nay chia sẻ hoặc thừa nhận. Darwin nói (1872) sợ hãi là cảm xúc trầm cảm nhất trong mọi cảm xúc… Einstein cũng nói (1938) rằng mọi hành động có ý thức của chúng ta đều bắt nguồn từ ham muốn và sợ hãi… Như vậy, sợ hãi là cảm xúc nguyên thủy nhất trong mọi cảm xúc và có vai trò chính trong sự phát triển của bộ não, từ khi sinh ra cho đến suốt cuộc đời còn lại.

Trong cuốn sách “Tổ chức Không có Sợ hãi” (The Fear-free Organization, Kogan Page 2015), giáo sư Paul Brown, một nhà khoa học Anh, đã nghiên cứu yếu tố sợ hãi trong bối cảnh 8 cảm xúc cơ bản (Sợ hãi, Buồn phiền, Giận dữ, Kinh tởm, Thích thú, Vui vẻ, Yêu thương, Ngạc nhiên) để xem tại sao con người lại dễ sợ hãi và tại sao có thể vận dụng nó như một công cụ quản trị, bởi vì sợ hãi có vai trò lớn trong việc phát triển “cái tôi”. Nhưng ông cũng nói rằng tuy sợ hãi là thiết yếu để chúng ta tồn tại nhưng sợ hãi quá có thể hủy diệt chúng ta, bởi vì sợ hãi sẽ thôi thúc chiến đấu hoặc bỏ chạy…

Ông cho rằng, “Tất cả chúng ta sinh ra đã biết sợ: đó là do một phần cấu trúc thần kinh. Có một số thứ đáng sợ mà có lẽ về di truyền chúng ta đã được chuẩn bị từ trước để sợ…” Các nhà khoa học gọi đó là “thuyết chuẩn bị” (LeDoux, 1996). “Nhưng lại có những thứ chúng ta phải học mới biết sợ…” Vì vậy, chủ đề chính trong cuốn sách mà ông và các cộng sự viết là nhằm tạo ra một lý thuyết mới về con người và tổ chức, dựa trên việc sơ đồ hóa dòng chảy của năng lượng của con người trong tổ chức (thông hay tắc), để tìm cách quản trị nó một cách có lợi trong hệ thống tổ chức đó.

Paul Brown lập luận rằng những người lãnh đạo tạo ra sự khác biệt thường dũng cảm và có lòng tin, họ tin vào chính mình và tin vào những nhân sự chủ chốt trong tổ chức. Nó dựa trên sự tin cậy chứ không phải sợ hãi. Sợ hãi là trở ngại, còn quan hệ nhân ái là giải pháp. Bằng chứng nghiên cứu về thần kinh học cho thấy sợ hãi sẽ hủy diệt trong khi tin cậy sẽ sáng tạo. Ông tin rằng phát triển đột phá của khoa học trong thê kỷ 21 là từ ngành thần kinh sinh vật học (neurobiology)

Thực vậy, ngày 2/4/2013, tại Nhà Trắng, Tổng thống Barack Obama đã công bố chương trình nghiên cứu về bộ não (The BRAIN Initiative) với cam kết kinh phí ban đầu cho năm tài khóa 2014 là 110 triệu USD. Ông gọi chương trình này là “dự án lớn tiếp theo của Mỹ” (the next great American project) sau dự án nghiên cứu về “Sơ đồ Gien” (Genome Mapping project) để giúp các nhà khoa học tìm hiểu nguồn gốc và lý giải các hoạt động bí ẩn của bộ não (enigmatic brain activities).

Kinh nghiệm thực tế

Bài học Miến Điện

Miến Điện từng là thuộc địa của Anh, nhưng có lẽ người Miến Điện không căm thù và bài xích người Anh. Sau khi giành độc lập, người Miến Điện không phải chống người Anh như người Việt Nam phải chống người Pháp (vì chúng “muốn chiếm nước ta một lần nũa”). Cũng như Ấn Độ, người Miến Điện chịu ảnh hưởng nhiều của ngôn ngữ Anh và văn hóa Anh. Tuy Miến Điện có nhiều mâu thuẫn sắc tộc và tôn giáo nên cần một chính quyền trung ương và quân đội mạnh để giữ gìn an ninh trật tự, nhưng có lẽ chế độ độc tài quân sự chỉ là ngoại lệ, chứ không phải là truyền thống.

Việc hiến pháp (do quân đội soạn thảo) cấm người có vợ chồng con cái là người nước ngoài làm tổng thống chỉ là một thủ đoạn chính trị để đối phó tình huống (với Aung San Suu Kyi), chứ có lẽ không phải là truyền thống văn hóa bài ngoại. Điều khoản này chắc sẽ phải bỏ, vì sau tuyển cử thắng lợi Suu Kyi đã tuyên bố thẳng thừng là sẽ “ở trên tổng thống”. Đa số các sỹ quan cao cấp, trí thức, và doanh nhân Miến Điện đều học các trường của Anh, nên việc lấy người nước ngoài không phải hiếm.

Việc đa số lãnh đạo quân đội và phe đối lập đều là trí thức là một tiền đề quan trọng và may mắn để hai phía có thể hòa giải. Tuy lãnh đạo quân đội trở thành độc tài, tham nhũng, mất lòng dân, nhưng vì họ là trí thức có hiểu biết nên có thể nhận ra sai lầm để chấp nhận đàm phán và thỏa hiệp. Đạo Phật và trí thức là hai yếu tố thuận lợi cho đấu tranh bất bạo động và hòa giải dân tộc ở Miến Điện.

Khi đàm phán có hai tiền đề quan trọng là phải xây dựng lòng tin (không nuốt lời hứa và không trả thù) và hai bên phải theo luật chơi (dựa trên luật pháp hay quy tắc ứng xử). Nếu hai bên tiếp tục lo sợ, nghi ngờ, thù hận thì không thể có lòng tin. Nếu hai bên không ứng xử có văn hóa thì sẽ không tôn trọng luật chơi (sẽ chơi theo luật rừng). Nói cách khác, muốn hòa giải và thỏa hiệp, thì phải từ bỏ cực đoan và thù hận. Người Miến Điện có thể làm đươc, liệu người Việt Nam có làm được không?

Bài học Trung Quốc

Tâm lý lo sợ, nghi ngờ thường dẫn đến hành động cực đoan, bạo liệt. Đó không phải chỉ là đặc thù của chế độ độc tài cộng sản Trung Quốc, mà còn là hệ quả của dân trí thấp, do bị kiểm duyệt chặt chẽ bởi những người cộng sản vô học và vô đạo, luôn hành xử một cách cực đoan và cuồng tín. Tại sao họ lại tra tấn và tàn sát lẫn nhau không thương tiếc trong Cách mạng Văn hóa? Tại sao họ lại đàn áp sinh viên một cách dã man không thương tiếc tại Thiên An Môn? Họ bị xô đẩy bởi tâm trạng lo sợ và tư duy cực đoan.

Vụ đàn áp hàng loạt phái Pháp Luân Công (từ năm 1999) và chiến dịch “Thu hoạch Đẫm máu” (Bloody Harvest) mổ lấy nội tạng sống của họ đem bán lấy tiền (dưới thời Giang Trạch Dân và những kẻ khác) đã bị dư luận lên án là tội ác khủng bố chống loài người, như “quả bom nổ chậm” trong hồ sơ nhân quyền Trung Quốc. Tại sao người ta có thể đối xử mất nhân tính như vậy đối với đồng loại (như thời Trung cổ)? Có lẽ lo sợ và lòng tham đã đã xô đẩy những lãnh đạo cực đoan phạm tội ác man rợ này.

Trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc cũng bị xô đẩy bởi mối lo sợ (tiềm ẩn) và cơ hội thực dụng (trước mắt). Một lãnh đạo TQ đã nói thẳng thừng, “Phải chống đế quốc Mỹ đến cùng, nhưng cách chống tốt nhất là hợp tác với họ”. Đó là quan điểm thực dụng theo kiểu “mèo trắng mèo đen, miễn là bắt được chuột” của Đặng Tiểu Bình. Về chiến lược lâu dài, Mỹ vẫn là kẻ thù chính, nhưng về lợi ích trước mắt, Trung Quốc có thể trục lợi bằng hợp tác với Mỹ theo chính sách “tham dự một cách xây dựng” (constructive engagement) để phát triển kinh tế (nhưng không thay đổi chính trị), cho đến khi đủ mạnh để trở mặt thách thức vai trò lãnh đạo của Mỹ và thay đổi nguyên trạng, bằng chia sẻ hay tranh giành quyền lực.

Trong vụ Vương Lập Quân chạy vào Tổng lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô (năm 2012, vì lo sợ đến tính mạng) người Mỹ đã hợp tác với Tập Cận Bình để giúp ông ta xử lý các đối thủ chính trị (như Bac Hi Lai và Chu Vĩnh Khang cùng đồng bọn, được Giang Trạch Dân ngầm ủng hộ) trong chiến dich “đả hổ diệt ruồi”. Tập Cận Bình đã lợi dụng chống tham nhũng để củng cố quyền lực, vì lo ngại nếu không diệt đối thủ thì sẽ bị đối thủ tiêu diệt. Đấy là bản chất của đấu tranh quyền lực cực đoan.

Nay Tập Cận Bình đã củng cố xong quyền lực của mình, và Trung Quốc đã trở thành siêu cường kinh tế thứ hai trên thế giới, nên ông ta quyết định thực hiện “Giấc mộng Trung hoa” bỏ qua lời khuyên của Đặng Tiểu Bình là phải chờ thời. Ông ta cho rằng đã đến lúc trở mặt thách thức Nhật Bản (ở phía Đông) và thách thức Mỹ và ASEAN (ở phía Nam) vì tin rằng Biển Đông vừa là cơ hội tốt vừa là nguồn lợi lớn, cần dùng sức mạnh thách thức vị trí đứng đầu của Mỹ tại khu vực. Ông ta lo sợ cơ hội tốt tại Biển Đông có thể tuột mất nếu không hành động ngay (trước khi Mỹ và Việt Nam trở thành đồng minh chiến lược). Tập Cận Bình muốn kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan để rửa nỗi nhục trong quá khứ, và làm giảm áp lực căng thẳng trong nước bằng cách gây căng thẳng bên ngoài để bành trướng.

Trong thập niên 1950 và 1960 khi Việt Nam và Trung Quốc còn gắn bó như “môi với răng”, Việt Nam đã bắt chước đường lối cực đoan và quá khích của Trung Quốc trong “Cải cách Ruộng đất” và đàn áp “Phong trào Nhân văn Giai phẩm”. Việt Nam đã bị xô đẩy bởi chủ nghĩa Mao cực đoan và bạo liệt, nhầm lẫn giữa ý thức hệ và lợi ích dân tộc. Đầu năm 1979, Trung Quốc đã quyết định “dạy Viêt Nam một bài học”, xô đẩy người Việt Nam vào vòng tay người Nga (cũng như đang xô đẩy VN vào vòng tay người Mỹ hiện nay). Đến 9/1990, Viêt Nam lại bị xô đầy vào vòng tay Trung Quốc một lần nữa (tại Thành Đô), cũng bởi vì quá lo sợ và nhầm lẫn về ý thức hệ với lợi ích dân tộc. Còn bây giờ, sau vụ dàn khoan HD 981 sẽ là cái gì tiếp theo thì chưa ai biết rõ. Chỉ biết Việt Nam vẫn đang mắc kẹt ở ngã ba đường.

Bài học Việt Nam

Trong khi tại Miến Điện (hay Thái Lan) Phật giáo vẫn là quốc giáo, được cả chính quyền và người dân tôn trọng, thì tại Việt Nam (hay Trung Quốc) Phật giáo bị chính quyền thao túng để kiểm soát vì lo sợ. Kết quả là Phật giáo bị xâm nhập, phân hóa, thương mại hóa, ngày càng suy thoái trở thành “mạt pháp”. Do đó, Phật giáo không còn là nền tảng văn hóa cho tập quán và hành xử tử tế của con người trong cộng đồng, nên ngày càng nhiều người hành xử một cách vô đạo (bạo lực và dối trá)

Vì thiếu nguồn đào tạo bài bản và có nhân cách trí thức, nên giới trí thức nhỏ bé và phân tán của Viet Nam càng dễ bị vô hiệu hóa và phân hóa, có vai trò khá mờ nhạt trong xã hội. Số lượng bằng cấp và học vị thì rất nhiều và rất cao, nhưng đáng tiếc đa số đều là học dối và bằng gian, hoặc chất lượng thấp. Đặc biệt là trong giới lãnh đạo và quan chức thì điều này lại càng phổ biến, rất hiếm trí thức thực thụ. Đây là một khoảng cách trí thức (intellectual gap) giữa Việt Nam với các nước khác (kể cả Miến Điện). Nhiều người cho rằng hầu như không thể tìm được một nhân vật nào như Aung San Suu Kyi.

Vi lý do này (và những lý do khác) Viêt Nam không phải chỉ là một chế độ độc tài, mà còn là một xã hội bị phân liệt, vì cả dân thường lẫn các các thành phần chính trị ưu tú cũng không theo một chuẩn mực ứng xử nào đàng hoàng hay rõ ràng (mà như “luật rừng”). Nó phản ánh tâm lý lo sợ, bất an, nghi ngờ, xô đẩy họ ứng xử với thói quen đối phó tình huống trước mắt, chỉ để tồn tại (chứ không phải để phát triển), dẫn đến những hành động bất thường, cực đoan, và bạo liệt.

Trong quan hệ với Mỹ, mối lo “diễn biến hòa bình” khá nặng nề, vừa do Trung Quốc xúi bẩy (từ bên ngoài), vừa do “tâm trạng cố thủ” (từ bên trong), như một hệ quả của chiến tranh. Mối lo này còn tăng lên gấp đôi vì mối đe dọa (vừa thật vừa phóng đại) của “các thế lực thù địch và phản động” trong cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ và phương Tây, như “Mặt Trận” do Hoàng Cơ Minh cầm đầu (trước đây) cũng như “đảng Việt Tân” (hiện nay) mà cả hai được nói đến trong phim “Terror in Little Saigon”.

Ngay cả khi Việt Nam rất cần hợp tác với Mỹ để tham gia sân chơi TPP và nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ để tái cân bằng với Trung Quốc và đối phó với mối đe dọa ngày càng lớn tại Biển Đông, thì mối lo sợ Mỹ can thiệp vẫn còn ám ảnh. Tâm lý này được giải tỏa một phần khi Tổng Bí thư Đảng CSVN đến thăm chính thức Washington gần đây, được tổng thống Mỹ đón tiếp long trọng, với những lời đảm bảo chính thức không can thiệp vào nội bộ. Nhưng mối lo ngại về Trung Quốc và Mỹ vẫn tiếp tục làm lãnh đạo Việt Nam lúng túng, không dám quyết định dứt khoát đi theo hướng nào.

Trong nước, chính quyền lo đối phó với bất đồng và phản kháng ngày càng nhiều của người dân, do bị các nhóm lợi ích thân hữu (được độc quyền nhà nước che chở) chiếm đoạt ruộng đất và tài sản, và do kinh tế suy thoái vì quản lý yếu kém và tham nhũng tràn lan, lại bị ám ảnh bởi những thay đổi rung chuyển gần đây tại Trung Đông và Miến Điện. Tất cả tạo nên sức ép ngày càng lớn lên giới lãnh đạo và các thể chế chính trị đang bị phân hóa sâu sắc bởi lợi ích nhóm và tranh cãi về ý thức hệ, làm cho đấu tranh phe phái và tranh giành quyền lực càng bị phân hóa và trở nên cực đoan hơn trước.

Tuy đấu tranh phe phái và tranh giành quyền lực là chuyện bình thường tại các nước, nhưng nó trở nên bất bình thường tại Việt Nam vì hiểm họa Trung Quốc đã chuyển từ tiềm ẩn thành hiện thực kể từ khi họ quyết định lấn chiếm và kiểm soát Biển Đông bằng cách đem dàn khoan HD 981 vào vùng biển của Viêt Nam (nên 5/2014 là một bước ngoặt). Họ san lấp các đảo và xây dựng các công trình quân sự trên các đảo tại khu vực Trường Sa và Hoàng Sa, thách thức ASEAN, Mỹ và cộng đồng quốc tế.

Đại hội XII đứng trước một thách thức lớn vì nó diễn ra trong bối cảnh quan hệ Việt Trung đang khủng hoảng và Biển Đông đang trở thành thùng thuốc súng. Nó đòi hỏi lãnh đạo Việt Nam phải quyết định chọn con đường nào: Đổi mới cơ bản và toàn diện vì lợi ích quốc gia để mạnh lên từng bước “thoát Trung”, hay tiếp tục mù quáng đi theo con đường mòn Thành Đô lệ thuộc vào Trung Quốc theo “định hướng XHCN”. Trong khi cương lĩnh chính trị và kinh tế của Đảng chẳng đưa ra được cái gì mới, thì lãnh đạo chỉ chúi đầu vào vấn đề nhân sự để tìm mọi cách giành giật cái ngôi báu đã mục nát. Tại hội nghị trung ương 13 (và 14) trước Đại hội Đảng (từ 20-28/1/2016) tuy họ ráo riết giành thế thượng phong nhằm chiếm vị trí cao nhất, nhưng vẫn bế tắc chưa thỏa thuận được phương án về “bộ tứ”, không biết vì yếu tố bên trong (do không thỏa hiệp được với nhau) hay vì yếu tố bên ngoài (do Trung Quốc can thiệp). Chỉ biêt rằng thù hận, lo sợ và tham lam sẽ tiếp tục đẩy họ vào ngõ cụt, nguy hiểm cho chính họ và cho đất nước.

Dù phái nào giành được thế thượng phong trong trò chơi quyền lực nhơ bẩn và cực đoan “một mất một còn” này, và dù ai trong số “bộ tứ” đang cầm quyền sẽ giành được vị trí đứng đầu tại Đại hội XII sắp tới, thì nhân dân sẽ thua và đất nước này sẽ còn khổ, nếu chẳng có ai trong số họ thực sự muốn cải cách cơ bản và “thoát Trung”. Trong khi đó, Trung Quốc một lần nữa lại đang trùm cái bóng đen lên sân khấu chính trị Việt Nam khi Chủ tịch Quốc hội VN đột ngột đi thăm Trung Quốc (21/12/2015), làm dấy lên lo ngại là Trung Quốc có thể can thiệp trực tiếp vào nội bộ Việt Nam để ủng hộ phái thân Trung Quốc khi trận đấu cuối cùng sắp diễn ra tại Hà Nội vào cuối tháng này. Một bức tranh thật ảm đạm!

Những diễn biến nguy hiểm này đang là tâm điểm thời sự, nhưng là vùng “nhạy cảm” đối với “báo chí lề phải”, ngày càng trở nên bất lực do bị kiểm duyệt chặt chẽ. Vì vậy, các phe phái đang lợi dụng cả báo chí “lề trái” để đánh nhau, vì hiệu quả hơn. Việc xuất hiện trang mạng bí ẩn “Chân dung Quyền lực” là một ví dụ. Sự phát triển nhanh chóng của truyền thông kỹ thuật số và các mạng xã hội đang trở thành mối lo đối với bộ máy tuyên giáo lạc hậu của Đảng, đang lúng túng không biết kiểm soát thế giới mạng như thế nào. Hiện nay, mối lo “tự diễn biến” là sự nối tiếp của mối lo “diễn biến hòa bình” trước đòi hỏi về dân chủ và nhân quyền đang tăng lên (sau thỏa thuận TPP) sẽ trở thành thực tế trong 2016.

Nói cách khác, người Việt Nam đã “sống trong sợ hãi” quá lâu nên sợ hãi trở thành một phần cuộc sống và họ có thể thấy khó sống nếu thiếu sợ hãi (giống như những người nghiện xem phim ma). Khi người Miến Điện bắt đầu “thoát khỏi nỗi sợ” để hòa giải, như thoát khỏi một đường hầm dài, thì người Việt nam vẫn đang mắc kẹt trong đường hầm tối đen. Hà Nội càng chìm đắm vào những mưu đồ chính trị trước Đại hội Đảng, thì nó lại càng giống “thung lũng sợ” với đủ mọi loại sợ trên đời.

Muốn chơi với Mỹ thì sợ mất lòng Trung Quốc và sợ “diễn biến hòa bình”; Muốn tham gia TPP thì sợ dân chủ và nhân quyền; Chấp nhận xã hội dân sự thì sợ “tự diễn biến”; Thích nhận kiều hối nhưng sợ “các thế lực thù địch”; Chống tham nhũng (đánh chuột) thì sợ “vỡ bình”; Phải minh bạch thì sợ “lộ bí mật nội bộ”; Tiếp dân thì sợ “dân khiếu kiện”; Kêu gọi dân góp ý thì sợ “trí thức phản biện”; Sử dụng mạng thì sợ truyền thông “lề trái”; Thích đấu đá nội bộ, nhưng lại sợ mất ghế…

Tóm lại là chúng ta sợ tất cả, sợ một cách cực đoan và tiêu cực. Không phải chỉ có người dân mà cả chính quyền vẫn đang “sống trong sợ hãi”. Vì vậy, nếu không “thoát khỏi sợ hãi” thì đất nước này không thể “thoát Trung”, dân tộc này không thể thoát khỏi nghiệp chướng “tù binh của quá khứ”, tiếp tục mắc kẹt trong đường hầm và hang tối của ý thức hệ, không có lối thoát.

Thay cho lời kết

Sợ hãi và cực đoan là bạn đồng hành, và là hệ quả của nhau, như câu chuyện “con gà và qủa trứng”, không biết cái nào có trước hay có sau. Sợ hãi và cực đoan là hai mặt của một vấn đề, như “âm bản và dương bản”, một cái phản ánh trạng thái cảm xúc, một cái phản ánh trạng thái tư duy. Cả hai luôn tương tác với nhau trở thành nguồn năng lượng tiêu cực, có khả năng phá hủy khôn lường. Cả hai kết hợp với nhau thành một tai họa kép, là nguyên nhân sâu xa của mọi tai họa trên đời.

Muốn chống cực đoan phải thoát khỏi sợ hãi, và muốn thoát khỏi sợ hãi phải chống cực đoan, không phải chỉ từ bên ngoài mà còn từ bên trong (chính mình). Muốn chống bạo lực, khủng bố, chiến tranh, và muốn hòa giải, hòa hợp, hòa bình và hợp tác, trước hết phải thoát khỏi tâm trạng sợ hãi và hận thù , phải thoát khỏi tư duy cực đoan và cuồng tín, để thực sự thay đổi trước khi quá muộn.

Hãy tự hỏi tại sao thừa nhận nỗi sợ hãi lại khó đến thế. Có lẽ còn khó hơn là thừa nhận sai lầm và thất bại. Tuy nỗi sợ hãi có thể là thuộc tính của Con người Nguyên thủy, nhưng không phải là thuộc tính của Con người Văn minh. “Thoát khỏi sợ hãi” là giải phóng mình khỏi hang động tối tăm (như “Tù binh của Qúa khứ”) để ra bên ngoài hưởng ánh sang mặt trời.

Tham khảo

“Freedom from Fear” essay, Aung San Suu Kyi, 1990
“Freedom of Thought” speech, Aung San Suu Kyi, July 1991
“Nobel prize acceptance lecture”, Aung San Suu Kyi, Oslo, June 16, 2012
“Sakharov prize acceptance speech”, Aung San Suu Kyi, Strasbourg, October 22, 2013
“Obama announces huge Brain-Mapping project, Stephanie Pappas, Live Science, April 2, 2013
“The Fear-free Organization”, Paul Brown, Joan Kingsley, Sue Paterson, July 2015

2/1/2016

N.Q.D.

Nguồn: http://viet-studies.info/kinhte/kinhte.htm

20 BÀI HỌC VÔ GIÁ GIÚP BẠN SỐNG TỐT VÀ Ý NGHĨA HƠN