Dư luận trước việc Civil Rights Defenders kêu gọi trả tự do cho LS Nguyễn Văn Đài

Dư luận trước việc Civil Rights Defenders kêu gọi trả tự do cho LS Nguyễn Văn Đài

Chân Như, phóng viên RFA

RFA

000_Hkg834327-622.jpg

Ảnh chụp qua màn hình TV phiên xử Luật sư Nguyễn Văn Đài và Luật sư Lê Thị Công Nhân tại Tòa án Nhân dân Hà Nội hôm 27/11/2007.

AFP

Your browser does not support the audio element.

Vừa qua, 26 nhóm xã hội dân sự trên thế giới cùng lên tiếng kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do cho LS Nguyễn Văn Đài và Bà Lê Thu Hà. Một trong những tổ chức đó là Hội những người bảo vệ quyền dân sự (Civil Rights Defenders) trong một bức thư ngỏ được đăng trên trang web, nêu rõ đối với những người đấu tranh vì dân chủ nhân quyền như LS Nguyễn Văn Đài hay bà Thu Hà, thì nhà tù không phải là nơi dành cho họ và yêu cầu chính quyền Hà Nội phải thả họ ngay lập tức, để họ được quyền thực thi nhiệm vụ của họ là bảo vệ và truyền bá cho người khác về các quyền và nghĩa vụ sống theo đúng hiến pháp VN và luật pháp quốc tế.

Hoan nghênh

Chia sẻ với chúng tôi qua skype video, Blogger Nguyễn Tường Thụy, người cũng gần gũi thân thiết với LS Nguyễn Văn Đài cho rằng ông rất hoan nghênh việc lên tiếng của các nhóm xã hội dân sự:

Tôi rất hoan nghênh hội bảo vệ quyền con người lên tiếng yêu cầu trả tự do cho LS Nguyễn Văn Đài và cử nhân Lê Thị Thu Hà. Tôi thấy đây là việc làm rất đúng đắn và rất cần thiết vào lúc này.
-Blogger Nguyễn Tường Thụy

“Tôi rất hoan nghênh hội bảo vệ quyền con người lên tiếng yêu cầu trả tự do cho LS Nguyễn Văn Đài và cử nhân Lê Thị Thu Hà. Tôi thấy đây là việc làm rất đúng đắn và rất cần thiết vào lúc này, bởi vì chuyện lên tiếng về các tù nhân có những người đấu tranh ở Việt Nam bị bắt từ trước nay lên tiếng rất nhiều và đặc biệt trong trường hợp bắt Nguyễn Văn Đài là một việc bắt hết sức bất thường.

Vậy nếu tôi là một người mà đấu tranh cho nhân quyền cho dân chủ tự do, thì chắc chắn là tôi hoan nghênh thôi. Và tôi mong muốn rằng nhiều tổ chức xã hội trong và ngoài nước càng lên tiếng nhiều càng tốt.”

Bà Kim Chi, Người cũng đã ký tên để kêu gọi chính quyền trả tự do cho LS Nguyễn Văn Đài và Bà Lê Thu Hà cho rằng đây là việc làm rất cần thiết:

“Tôi nghĩ đây là việc làm rất cần thiết để bảo vệ nhân quyền, không phải chỉ đối với LS Đài và Lê Thu Hà mà đối với tất cả những ai đang tham gia tranh đấu bị nhà cầm quyền khủng bố và bắt bớ. Riêng LS Đài, mọi người đều yêu quý kính trọng và tin tưởng bởi LS đã xả thân không ngại đường xa vất vả đi khắp nơi để tuyên truyền về vấn đề nhân quyền và nói rõ rằng cần phải có nhân quyền và phải thoát Trung như thế nào. Một chiến sĩ can trường như thế mà bị cầm tù thì không ai không phẫn nộ không ai không muốn đòi ngay tự do cho người đó.”

Còn theo Blogger JB Nguyễn Hữu Vinh thì việc kêu gọi của các nhóm xã hội dân sự phản ánh đúng những nguyện vọng của người dân Việt Nam khi họ mong muốn được tự do bày tỏ chính kiến của mình, đây là một hành động mạnh mẽ:

nguyen-huu-vinh-jb-400.jpg

Blogger JB Nguyễn Hữu Vinh, ảnh chụp trước đây tại Hà Nội.

“Tôi nghĩ lời kêu gọi của các tổ chức dân sự nó cũng nằm trong một phong trào đòi trả tự do cho LS Nguyễn Văn Đài và cộng sự là cô Lê Thu Hà. Việc đó phản ánh nguyện vọng của những người dân chân chính cũng như các nhóm tổ chức xã hội dân sự, người ta lên tiếng để cho quyền của con người, quyền tự do bày tỏ chính kiến, quyền được nói lên ý nghĩ của mình phải được tôn trọng, đồng thời phản đối những việc dùng những điều luật mơ hồ, điều luật có thể suy diễn ra bất cứ trường hợp nào theo ý chủ quan của nhà cầm quyền để đàn áp những tiếng nói trung thực thẳng thắn, những tiếng nói ưu tư về hiện tình đất nước về tình hình dân tộc. Tôi cho rằng đây là một trong những hành động mạnh mẽ để đòi tự do cho những người dám nói lên tiếng nói của mình, chẳng hạn như LS Nguyễn Văn Đài và cộng sự của anh là cô Lê Thu Hà, những người bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền tự do của con người. Những người đó cần phải được bảo vệ. Tôi cho đó là hành động kịp thời và đúng đắn của những nhóm xã hội dân sự và những người có lương tâm, có lương tri đối với những hành động trên đất nước này đối với các công dân của mình của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam hiện nay.”

Sẽ tác động đến nhà cầm quyền?

Cũng có nhiều thắc mắc liệu khi nhà nước Việt Nam đang gấp rút để chuẩn bị đại hội đảng 12 thì liệu những lời kêu gọi đó sẽ có tác động gì đến nhà cầm quyền hay không? Theo Bà Kim Chi, người vẫn còn thẻ đảng cho rằng:

“Tôi nghĩ nó có tác dụng, rất tác dụng là khác, bởi vì nhà cầm quyền Việt Nam luôn luôn không nhớ những gì mình hứa, nên đây là một việc làm cần thiết mà có thể gọi là bài chúng tôi được học là bảo vệ nhân quyền. LS Đài hay Lê Thu Hà và nhiều những luật sư khác và nhiều người khác nữa, kể cả nông dân, dân oan ở ba miền họ cũng đã nhờ những sự hiểu biết từ những người dấn thân như LS Đài mà bây giờ họ cũng biết tranh đấu cho nhân quyền dân chủ.”

Tôi nghĩ nó có tác dụng, rất tác dụng là khác, bởi vì nhà cầm quyền Việt Nam luôn luôn không nhớ những gì mình hứa, nên đây là một việc làm cần thiết mà có thể gọi là bài chúng tôi được học là bảo vệ nhân quyền.
-Bà Kim Chi

Nhưng theo Blogger JB Nguyễn Hữu Vinh lời kêu gọi này của 26 nhóm xã hội dân sự sẽ không có nhiều tác dụng, nhưng ít nhiều cũng giúp thức tỉnh một số chưa biết việc mình làm:

“Thật ra có thể nói rằng rất nhiều lời kêu gọi, những tiếng nói từ trong nước cũng như ngoài nước từ trước đến nay có nhiều áp lực, có những cảnh tỉnh đối với nhà cầm quyền Việt Nam. Tuy nhiên nhiều khi đối với nhà cầm quyền điều đó cũng có thể không có tác dụng mấy, bởi vì khi họ đã làm những việc theo sự tính toán của họ.

Tôi cũng có bài viết là chẳng có gì dễ dàng hơn việc bắt một công dân của mình để làm con tin để đổi chác trong các vấn đề của đất nước, vấn đề về nhân quyền khi gia nhập TPP hoặc gia nhập hiệp định thương mại quốc tế chẳng hạn, những vấn đề như vậy thì Việt Nam vẫn thường xảy ra.

Khi bắt thì họ cố tình bắt bằng mọi giá nhưng khi thả thì có những điều kiện để họ được lợi trong nhiều vấn đề. Đó là một con bài, một trò mà chúng tôi thấy không lạ lùng gì. Cho nên việc nói rằng những áp lực của người dân kêu gọi thả ra thì tôi nghĩ rằng là cái tác dụng không thể không có những tác dụng lớn bởi vì thứ nhất, nó có thức tỉnh những người chưa biết việc họ làm, có những người chỉ hành động theo một cái máy móc, một phản xạ của con robot không có những lý trí trong khi làm việc đó. Bên cạnh đó sẽ có những con người sẽ được thức tỉnh, sẽ thấy ra được điều vô lý và những điểm bất nhân ở trong đó thì tình thần như vậy sẽ có những thay đổi ngay trong nội bộ của đảng cộng sản.

Cái thứ hai đặc biệt là có tác động với dân chúng, với những người trước đây còn sợ hãi chưa dám lên tiếng nói của mình thì đã đến lúc họ nhìn thấy rằng “quyền của người dân là được lên tiếng” quyền của người dân phải bảo vệ lẽ phải bảo vệ những người công chính.

Tôi cho rằng nó sẽ có rất nhiều tác dụng trong xã hội Việt Nam hiện nay, còn tác dụng đối với đảng cộng sản thì tôi nghĩ rằng trong chừng mực nào đó thì họ sẽ so sánh giữa cái được với cái mất giữa cái lợi và cái hại trong vấn đề bắt và giữ những nạn nhân này.”

Cũng xin được nhắc lại, Luật sư Nguyễn Văn Đài, là một cựu tù nhân lương tâm và Bà Lê Thu Hà, vừa bị bắt một tháng trước khi diễn ra Đại hội Đảng CS lần thứ 12. Cả hai bị cáo buộc tội “tuyên truyền chống nhà nước theo Điều 88 bộ luật hình sự, với điều luật này có thể sẽ phải chịu bản án từ ba đến 20 năm tù.

Cái duyên gặp gỡ với bạn đọc người nước ngoài

Cái duyên gặp gỡ với bạn đọc người nước ngoài

Đoàn Thanh Liêm

* * *

Tôi qua định cư bên nước Mỹ từ năm 1996, đến năm 2016 này thì đã được 20

năm rồi. Sau thời gian trị bệnh, tình trạng sức khỏe của tôi đã hồi phục khả

quan và từ trên 10 năm nay tôi đã tham gia sinh họat về văn hóa xã hội với

nhiều bạn bè cùng chí hướng – cũng như viết báo để trao đổi thảo luận với bà

con độc giả qua báo giấy cũng như trên báo điện tử. Các bài tôi viết thì hầu

hết là bằng tiếng Việt nhằm phục vụ đa số bà con người Việt mình và tôi cũng

đã nhận được nhiều đáp ứng của bạn đọc với sự khích lệ thật đáng quý. Tôi

sẽ có dịp viết chi tiết về những sự trao đổi này của bạn đọc khắp nơi ở trong

cũng như ở ngoài nước.

Nhưng tôi cũng viết một số bài bằng tiếng Anh để dành riêng cho lớp cháu

sinh trưởng ở Mỹ và nhân tiện cũng gửi cho các bạn ngọai quốc đọc nữa. Và

trong số các độc giả người nước ngòai này lại có một ít người còn thông thạo

cả tiếng Việt nữa. Nhân dịp đầu Xuân Bính Thân 2016, tôi xin ghi lại những

câu chuyện trao đổi ngộ nghĩnh lý thú giữa tôi và các bạn đọc người nước

ngòai ấy. Xin lần lượt trình bày một số danh tính các bạn đọc đó như sau đây.

1 – Anh chị Earl và Pat Martin ở tiểu bang Virginia.

Hai anh chị Martin đã từng làm việc tại Quảng Ngãi hồi trước năm 1975

trong công tác nhân đạo từ thiện của Giáo hội Tin lành Mennonite được gọi

là tổ chức Mennonite Central Committee (MCC). Bà con ở Quảng Ngãi

thường biết đến anh chị qua tên tiếng Việt là chú Kiến, cô Mai. Sau năm

1975, anh chị còn làm việc tại nhiều nước Á châu khác nữa. Từ năm 1998,

Pat giữ chức vụ Giám đốc viện Xây dựng Hòa bình Mùa hè (Summer

Peacebuilding Institute SPI) thuộc Đại học Eastern Mennonite University

(EMU) tại thành phố Harrisonburg, Virginia. Trong các bài báo trước đây, tôi

đã có nhiều dịp viết về anh chị bạn rất thân thiết này rồi. Nay tôi chỉ ghi tóm

tắt lại câu chuyện trao đổi của anh chị về các bài viết của tôi cả bằng tiếng

Việt, cả bằng tiếng Anh.

Nói chung, anh chị đều chú ý đến các bài tôi gửi qua email và luôn phản hồi

mau lẹ, đại khái như “bài này hấp dẫn đấy” (interesting), “người Mỹ chúng

tôi cần được biết đến những thông tin chính xác như trong các bài do anh

viết” v.v… Có lần Earl gọi tôi là “an wandering philosopher” (một triết gia đi

lang thang). Mới đây, sau khi đọc bài “My Two Passions in Life” (Hai niềm say mê trong đời của tôi) Earl trả lời ngay rằng đó là “Beautiful Reflections”

Người anh cả của Earl tên là Luke Martin, ông làm việc lâu năm ở Việt nam

như là một vị Mục sư thuộc Giáo hội Tin Lành Mennonite. Ông cũng như bà

vợ là Mary Martin đều khá thông thạo tiếng Việt. Khi đọc bài tôi viết về Giáo

hội Mennonite tại Mỹ, mục sư Luke nói ngay chắc là Earl đã cung cấp các tài

liệu cho tôi tham khảo để viết bài đó. Vào cuối năm 2012, tôi đã đến ngụ tại

nhà ông bà tại thành phố Allentown tiểu bang Pennsylvania. Chúng tôi vẫn

thường liên lạc với nhau qua email.

2- Giáo sư Sophie Quinn-Judge tại Đại học Temple ở thành phố Philadelphia.

Sophie từng làm việc tại Việt nam trước năm 1975 trong tổ chức nhân đạo

của giáo phái Quaker. Chị thông thạo tiếng Pháp, Nga và cả tiếng Việt nữa.

Từ nhiều năm nay, chị làm giáo sự dạy môn sử học, đồng thời cũng làm phó

giám đốc trung tâm văn hóa, triết học và xã hội Việt nam tại Đại học Temple.

Một vài lần chị còn mời tôi đến trú ngụ tại nhà của chị ở khu ngọai ô của

Philadelphia. Đôi khi chị còn mời tôi đến nói chuyện với sinh viên trong lớp

do chị hướng dẫn nữa.

Sophie Quinn-Judge còn là tác giả cuốn sách “Ho Chi Minh – The Missing

Years” xuất bản năm 2002 mà được nhiều thức giả đánh giá cao. Sophie tính

tình hồn nhiên đôn hậu dịu hiền, chị xưng mình là một Buddhist Quaker

(người Quaker mà có tinh thần Phật giáo). Mới đây, chị cho biết sắp sửa đến

tuổi nghỉ hưu rồi, nhưng cho biết là chỉ nghỉ việc giảng day, còn vẫn phụ

trách chuyện nghiên cứu cho trường Temple.

Chị thường góp ý kiến cho các bài viết của tôi. Đặc biệt là về bài tôi viết về

“Kỷ niệm vui buồn với anh chị em thuộc Trường Thanh niên Phụng sự Xã

hội” ở Việt nam trước năm 1975, thì Sophie nói là những bài như thế rất là

cần thiết để cho các thế hệ sau này hiểu biết rõ ràng hơn về những cố gắng

xây dựng xã hội ở Việt nam ngay trong thời kỳ chiến tranh trước đây nữa.

3 – Luật sư Dinah Pokempner Cố vấn trưởng của tổ chức Theo dõi Nhân

quyền Human Rights Watch (HRW) ở New York.

Từ năm 1990 – 91, tổ chức HRW đã phân công cho Dinah Pokempner là

người phụ trách về hồ sơ của tôi bị giam giữ ở Việt nam từ năm 1990. Vì thế,

nên Dinah và tôi rất gắn bó thân thiết với nhau và mỗi khi tôi đến New York

thì thường tới gặp gỡ thăm viếng chị tại văn phòng của HRW. Dinah lại còn

tham gia giảng dậy tại Đại học Columbia và mới đây vào tháng 3/2015 lúc tôi

tham dự Đại hội thường niên của tổ chức Amnesty tại Brooklyn, New York,

thì Dinah cũng mời tôi đến nói chuyện với sinh viên trong lớp do chị phụ trách giảng dạy nữa.

Dinah cũng chuyển các bài của tôi viết cho các sinh viên của chị tham khảo

vài bữa trước khi lớp học bắt đầu, nên trong lớp học chị còn đặt những câu

hỏi và nhờ tôi giải thích chi tiết rõ ràng hơn cho các sinh viên hiểu biết về bối

cảnh chính trị văn hóa ở Việt nam. Dinah nhấn mạnh đến quan điểm vững

chắc của tôi trong cố gắng góp phần xây dựng luật pháp ở Việt nam – mà

cũng vì thế mà tôi bị cộng sản bắt giữ và tuyên án xử phạt tôi 12 năm tù vì tội

“tuyên truyền chống chủ nghĩa xã hội” trong phiên xử vào năm 1992 tại Tòa

án Sài gòn.

Chị còn nói rõ hơn với sinh viên: Các em cần chú ý đến lập trường của luật

sư Liêm khi ông viết trong tài liệu từ đầu năm 1990 rằng “Truyền thống nhân

bản và nhân ái của Việt nam đã có từ lâu – đó là cơ sở vững chắc cho công

cuộc phát huy nhân quyền tại quốc gia này. Chứ quan niệm về nhân quyền

không phải chỉ là sản phẩm riêng của phương Tây đề xuất ra…”

Sau buổi thuyết trình, Dinah mời tôi ra quán uống cà phê và nói chuyện thêm.

Tôi hỏi Dinah: Sinh viên của chị họ phê phán về tôi ra sao? Dinah vừa nói

vừa cười thật tươi rằng: Các em đó gọi anh là một “Rockstar”đấy. Khi về nhà

bạn Dick Hughes ở Manhattan, tôi thuật lại chuyện sinh viên ở Columbia của

Dinah, họ gọi tôi là rockstar đó, Dick cười ngất, anh nói: Mister Liêm quả

thật là nổi danh với chuyện được sinh viên tặng cho cái danh hiệu Rockstar

như vậy đó!

4 – Giáo sư Olga Dror tại Đại học Texas A & M (TAMU)

Olga Dror là người gốc Do Thái sinh trưởng ở Nga. Chị học chuyên về ngôn

ngữ và văn hóa Việt nam và đã có thời làm cho đài phát thanh Moscow phần

tiếng Việt. Hiện chị làm giáo sư giảng dạy về lịch sử tại Đại học TAMU. Chị

là người dịch cuốn sách Giải Khăn Sô Cho Huế của Nhã Ca sang tiếng Anh –

cuốn sách này đã được Nhà xuất bản Đại học Indiana cho ấn hành vào năm

2014 và tôi cũng đã có dịp giới thiệu với bà con độc giả người Việt vào đầu

năm 2015 vừa rồi.

Chị cũng là tác giả một cuốn sách nghiên cứu về Công chúa Liễu Hạnh mà

được nhà xuất bản Đại học Hawaii ấn hành vào năm 2007. Từ ít lâu nay,

Olga chuyên nghiên cứu đối chiếu về giáo dục tại 2 miền Bắc và Nam Việt

nam trong thời kỳ chiến tranh 1965 – 1975.

Từ đầu năm 2015 đến nay, tôi thường hay trao đổi thư từ và bài viết với Olga.

Cụ thể như khi tôi gửi cho chị loạt bài “Thanh thiếu niên và Công tác xã hội

tại miền Nam hồi trước năm 1975”, thì Olga trả lời rằng loạt bài này rất sinhđộng và góp phần vào việc tìm hiểu tình hình xã hội ở Việt nam trong thời kỳ

chiến tranh trước đây.

Phu quân của chị là Keith Taylor, thì cũng là một giáo sư chuyên nghiên cứu

và giảng dạy về lịch sử và văn hóa Việt nam tại đại học danh tiếng Cornell

nữa.

5 – Doug Hostetter, Giám đốc văn phòng “MCC Liaison Office with the

United Nations” (Văn phòng Liên lạc của MCC với Liên Hiệp Quốc).

Doug từng làm việc thiện nguyện tại Tam Kỳ trong tổ chức MCC hồi trước

năm 1968. Sau anh về Mỹ và tham gia tích cực trong phong trào sinh viên

chống chiến tranh hồi đầu thập niên 1970. Anh nổi tiếng vì họat động trong

nhiều tổ chức tranh đấu xây dựng hòa bình như Fellowship of Reconciliation

(FOR). Từ trên 10 năm nay anh là Giám đốc văn phòng của MCC liên lạc với

Liên Hiệp Quốc, vì thế lần nào đến New York tôi cũng đến gặp gỡ trao đổi

với anh tại văn phòng kế cận với khuôn viên của trụ sở LHQ.

Chúng tôi vẫn thường trao đổi thư từ với nhau qua email. Đặc biệt dịp 30/4

năm 2015, tôi có gửi cho Doug bài viết bằng Anh ngữ về những vụ tàn sát

của phe cộng sản Việt nam đối với người thuộc phe quốc gia trong các năm

1945 – 47 lúc họ vừa mới nắm được quyền hành trong tay của mình. Đọc

xong, Doug trả lời ngay cho tôi; “Các vụ thảm sát này không hề được phong

trào hòa bình (the peace movement) nhắc đến trước đây vào hồi đầu thập

niên 1970!”

6 – Trao đổi với anh bạn Danut Manastireanu từ xứ Rumania.

Đây là người bạn mà tôi chưa hề trực tiếp gặp mặt, nhưng từ vài ba năm nay

chúng tôi vẫn liên lạc thư từ với nhau qua email. Lý do là anh bạn Danut này

hiện vẫn sinh sống tại quê nhà ở nước Rumania bên Đông Âu. Anh thường

cho đăng bài của tôi viết bằng tiếng Anh lên Google để nhiều người khắp nơi

có thể đọc được nữa. Tôi hy vọng khi qua thăm bà con bên Âu châu, thì sẽ có

dịp gặp mặt với anh để hàn huyên tâm sự nhiều. Anh làm việc cho tổ chức

World Vision tại Rumania.

7 – Trao đổi với chị Annette làm việc tại chi nhánh Bưu điện Bolsa, thành phố

Westminster, California.

Chị Annette làm việc lâu năm tại Bưu điện Bolsa là nơi mà phần đông bà con

người Việt tại khu vực Little Saigon đều biết đến. Mấy năm gần đây, tôi hay

gửi cho chị những bài tôi viết bằng tiếng Anh. Có lần sau khi đọc bài viết về

chiến tranh Việt nam, thì Annette đã nói với tôi, đại khái như thế này: “Trước

khi được đọc bài viết của anh, thì tôi thật không hề biết là người cộng sản ở

Việt nam lại có thể tàn ác đến như thế…” (I didn’t know that the communists

in Vietnam are so atrocious).

8 – Trao đổi với chị Sophie Richardson tại văn phòng HRW ở thủ đô

Washington DC.

Từ cuối thập niên 1980, hồi còn rất trẻ Sophie Richardson đã khởi sự tham

gia họat động tại Cambodia với các tổ chức phi chính phủ (NGO – Non-

Governmental Organisations). Và sau ít lâu thì chị gia nhập với tổ chức HRW

và từ 20 năm nay làm việc tại văn phòng của tổ chức này ở Washington DC.

Sophie được nhiều bà con người Việt chúng ta biết đến và mến chuộng vì chị

thường ra điều trần tại Quốc Hội Mỹ để tố cáo những vi phạm nhân quyền

của chính quyền cộng sản Hà nội.

Và mỗi khi tôi đến thành phố này, thì chúng tôi thường gặp gỡ chuyện trò

trao đổi thông tin với nhau. Sophie thông thạo tiếng Hoa, luận án thi văn

bằng tiến sĩ của chị là về tình hình chính trị ở Trung quốc. Gần đây, Sophie

được HRW bố trí phụ trách riêng về tình hình ở Trung quốc.

Có lần, Sophie giải thích cho tôi: “Anh biết không, cái tên Sophie của tôi là

từ tiếng Hy lạp có nghĩa là wisdom (minh triết). Tôi rất thích cái tên này do

cha mẹ chọn cho tôi đấy…” Tôi bèn trả lời: “Chị cũng biết đấy, tên của tôi là

Thanh Liêm có nghĩa là Honesty. Nhưng các bạn quen biết lại còn gọi tôi là

một philosopher nữa. Như vậy, thì giữa Sophie và tôi có sự liên hệ mật thiết

đấy nhỉ…” Sophie hiểu ngay ý nghĩa khôi hài của tôi và cười thật tươi.

Gần đây, sau khi đọc bài “My Two Passions” của tôi, Sophie trả lời ngay qua

email: “ Rất cảm ơn anh đã chia sẻ bài viết này với tôi. Ví chính tôi cũng có 2

niềm say mê giống như anh vậy – đó là sách báo và bạn hữu”.

9 – Trao đổi với các bạn trong nhiều cuộc gặp gỡ khác.

 Tôi tham gia sinh họat với tổ chức Amnesty International tại Mỹ từ nhiều

năm nay, ở cả 3 cấp bậc: – Họp thường xuyên hàng tháng tại địa phương gọi

là local group số 178 ở thành phố Irvine – cấp miền gồm các tiểu bang khu

vực miền Tây nước Mỹ gọi là Western Regional họp mỗi năm vào tháng 11 –

và cấp tòan quốc trong các Đại hội Thường niên họp vào tháng 3 gọi là

Annual General Meeting (AGM). Vì thế mà tôi có cơ hội gặp gỡ trao đổi thân

mật với rất nhiều bạn hữu từ nhiều quốc gia khác nhau mà lại có cùng một

chí hướng theo đuổi lý tưởng bảo vệ nhân quyền.

Số bạn này quá đông, tôi không thể nào kể ra hết danh tính của từng người

trong số cả ngàn các bạn đó được. Thường tôi chuyển một số bài mình viết

cho các bạn ấy đọc và rất nhiều bạn đã gửi phản hồi tích cực lại cho tôi. Đó là

cái duyên quen biết gắn bó lâu dài của tôi với các bạn trong khuôn khổ đại

gia đình của tổ chức Ân Xá Quốc Tế đó vậy.

Cũng tương tự như thế, qua nhiều cuộc hội thảo nơi các đại học tại những

tiểu bang thuôc khu vực miền Đông nước Mỹ, tôi cũng có thêm sự quen biết

gần gũi với khá nhiều các bạn khác nữa. Và chúng tôi đều có những trao đổi

thân tình thuận thảo với nhau trong tinh thần nhân bản tiến bộ và tương kính.

Đối với tôi, thì rõ ràng những cuộc gặp gỡ trao đổi gắn bó thân thiết với các

bạn người Mỹ cũng như với những bạn hữu quốc tế như thế – đó là một

phương cách thuận lợi để mình hội nhập êm thắm nhịp nhàng vào với dòng

chính của xã hội nước Mỹ – là nơi mà một số khá đông lên đến gần 2 triệu

người Việt chúng ta đã chọn lựa đi đến sinh sống lập nghiệp lâu dài kể từ sau

năm 1975 vậy.

Nói chung, thì với chiều hướng tòan cầu hóa về các mặt chính trị, kinh tế, xã

hội cũng như văn hóa tinh thần – con người ngày nay có sự tôn trọng, thông

cảm và liên đới gắn bó mật thiết với nhau mỗi ngày càng thêm bền chặt hơn.

Và đó là điều giúp chúng ta có được sự tin tưởng và niềm phấn khởi cho

tương lai sắp tới của nhân lọai trong thế kỷ XXI này vậy./

Westminster California, cuối năm Ất Mùi 2015

Đoàn Thanh Liêm

NHÂN ĐỨC

NHÂN ĐỨC

Fr. Huynhquảng  

Kính gởi lời chào thân ái đến quí bạn hữu đã đồng hành và chia sẻ mục Sống Sao Cho Đẹp qua chín mươi bài vừa qua. Đời người vẫn còn đó những biến chuyển đổi thay; nổi thao thức cho một cuộc đời có ý nghĩa hay và đẹp vẫn bám chặt trong con tim khối óc của mỗi chúng ta. Với tinh thần học hỏi trao đổi giúp nhau sống tốt hơn, tác giả mục Sống Sao Cho Đẹp xin tiếp tục chia sẻ loạt bài cuối với chủ đề mới: Nhân đức.

* * *

Theo bạn, cuộc đời như thế nào được gọi là có ý nghĩa hay và đẹp? Câu hỏi này tựa như thật đơn giản, nhưng thực ra cả nhân loại từ nhiều ngàn năm qua vẫn đi tìm câu trả lời cho nó. Các nhà triết học, tôn giáo vẫn đi tìm câu trả lời cho nó; và đến lượt chúng ta hôm nay vẫn đi tìm câu trả lời cho nó. Tại sao nó khó quá vậy? Xin thưa, vì để trả lời cho câu hỏi về một cuộc đời hay và đẹp, không ai có thể thoả mãn câu trả lời này qua những minh giải lý thuyết của những người khác, nhưng chỉ thực sự hay và đẹp khi mình cảm nghiệm được cuộc đời hay và đẹp trong cuộc sống. Nói cách khác, đó là sự cảm nghiệm một cuộc sống hạnh phúc trong chính mình. Nhưng để đạt được sự hạnh phúc ấy, bên cận những yếu tố trợ lực, cũng có những yếu tố trở lục. Có những yếu tố trợ lực giúp chúng ta đạt hạnh phúc dễ dàng, nhưng cũng có những yếu tố trở lực ngăn cản chúng ta đạt hạnh phúc. Dầu vậy, có khi những yếu tố trở lực này đôi khi lại trở nên nguồn trợ lực khi chúng ta biết tận dụng nó cho hợp lý. Nói tóm lại, các tôn giáo, các triết gia phần nào chỉ cho chúng ta thấy đâu là trợ lực và đâu là trở lực trong hình trình đi tìm hạnh phúc cho mỗi đời người. Nhân đức chính là yếu tố trợ lực cho chúng ta đạt được hạnh phúc.

Nhân đức là gi? Thật đơn giản, Giáo lý Công giáo định nghĩa như sau: “Nhân đức là những thói quen tốt và bền vững, giúp ta làm sự thiện một cách dễ dàng hơn” (GLCG # 1803). Có hai loại nhân đức, nhân đức nhân bản và nhân đức hướng thần. Trong loạt bài cuối của mục SSCĐ, chúng ta sẽ lần lượt ôn lại bốn nhân đức nhân bản chính yếu và ba nhân đức hướng thần. Bốn nhân đức nhân bản chính yếu bao gồm: khôn ngoan, công bằng, dũng cảm và tiết độ; ba nhân đức hướng thần bao gồm: đức tin, đức cậy và đức mến.

* * *

Nhân đức là thói quen tốt, và bền vững. Nhân đức có thể đạt được qua tập luyện, tuy nhiên việc tập luyện nhân đức không chỉ như là việc rèn luyện một kỹ thuật nào đó (ví dụ như chơi thể thao), nhưng nó là một sự biến đổi con người – điều này tạo ra tính bền vững; nó trở nên như bản tính tự nhiên thứ hai trong người chúng ta.

Giáo sư Kinh thánh Yohanna Katanacho, người Palestine bị cho là đối tượng bị tình nghi nằm trong nhóm người khủng bố tại Israel. Ông thường xuyên bị ngăn chặn và bị kiểm tra thẻ căn cước; có lúc ông bị giam giữ hằng giờ để bị thẩm vấn. Điều này làm ông vô cùng bực bội và căm thù những người lính Israel. Là người rao giảng Lời Chúa, ông hiểu rằng Chúa dạy phải yêu thương kẻ thù. Nhưng trong trường hợp này, làm sao ông có thể tha thứ và yêu thương những “kẻ thù” làm phiền và bắt bớ ông một cách vô cớ?!

Sau nhiều tháng trăn trở và cầu nguyện, ông cảm nghiệm được rằng, tình yêu kẻ thù mà Tin Mừng mời gọi không phải là loại tình yêu cảm tính, nhưng là một hành động. Nhưng phải làm gì để chứng tỏ tình yêu qua hành động với những người lính này? Ông nghĩ ngay tới việc “chia sẻ Lời Chúa” với những người lính. Nhưng làm cách nào để làm cho những người lính đối thoại với ông trên đường phố? Ông làm những mãnh giấy nhỏ có in đậm câu Lời Chúa trích từ sách Isaiah, “Yêu thật lòng” bằng tiếng Do Thái. Cứ mỗi lần bị chặn lại và yêu cầu đưa thẻ căn cước, ông đều tặng cho người lính câu Lời Chúa này. Vì câu Lời Chúa bằng tiếng Do Thái, nên những người lính thường hỏi han và trao đổi với ông trước khi để ông đi. Sau một thời gian, ông Yohanna nhận ra sự biến đổi trong con người ông; ông không còn cảm thấy hận thù và nhục nhả trong lòng mình nữa. Cũng hoàn cảnh đó, những con người đó, nhưng trong ông đã thay đổi khi gặp những người lính trên đường. Vì thế, khi bắt đầu đi ra khỏi nhà, ông đều cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin để cho con bị chận lại để con chia sẻ tình yêu của Chúa Kitô cho họ.”

* * *

Mẫu chuyện trên giúp chúng ta suy nghĩ đến việc luyện tập nhân đức. Ai trong chúng ta cũng thường hay gặp phải những chuyện không vừa lòng, trái ý trong cuộc đời. Có nhiều cách để vượt qua những trở ngại khó khăn đó, nhưng nếu chúng ta giải quyết bằng cách lấy mình làm trung tâm, có lợi cho mình, mà gạt Chúa và tha nhân ra khỏi bức tranh đời mình, thì có lẽ thành quả sẽ không đạt và bình an cũng không chiếm ngự được. Vì thế, tập nhân đức trước hết và cần trên hết chính là tập sống với Chúa. Lấy Chúa làm trung tâm chi phối mọi sinh hoạt, suy nghĩ của đời ta. Chỉ trong Chúa, ta mới thực sự trở nên người biết sống đẹp và có ý nghĩa.

Fr. Huynhquảng

Đề Nghị Đầu Năm: Để (Yên) Cho Người Về Sơn La

Đề Nghị Đầu Năm: Để (Yên) Cho Người Về Sơn La

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Bác về … im lặng. Con chim hót

thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ

Tố Hữu

Tôi sống nhiều về nội tâm nên rất thích những người tính tình hướng nội. Ba nhân vật mà tôi đặc biệt có thiện cảm, trong thời gian gần đây, là bà Lê Linh Lan, ông Nguyễn Hoằng, và ông Nguyễn Thanh Sơn. Cả ba vị đại sứ này đều có sáng kiến “đột xuất” là đặt tượng đài và điện thờ của Chủ Tịch Hồ Chí Minh ngay trong khuôn viên sứ quán.

Đại Sứ Ba Lan cùng phu nhân đang trong nghi lễ “nhập hồn vào tượng Bác.”

 Ảnh và chú thích: Đàn Chim Việt

Tượng ông Hồ Chí Minh trong không gian tâm linh của Đại Sứ Quán

VN tại Nga. Ảnh và chú thích: BBC

Dâng hương trước bàn thờ Bác tại Đại sứ quán Việt Nam. Ảnh: Việt Hòa/Mexico

Qúi vị đại sứ Việt Nam tại Nga, Tây Ban Nha, và Ba Lan – rõ ràng – đều là những nhân vật thức thời. Chớ qua “bốn mươi năm không treo được cờ sao ra ngoài khuôn viên sứ quán” thì tìm đâu ra nơi để mà dựng tượng đài cho Bác. Chỗ nào thiên hạ cũng xua tay, lắc đầu quầy quậy.

Ngày 3 tháng 9 năm 2015 vừa qua, VOA  buồn bã loan tin:

Việc hội đồng thị trấn Newhaven, Sessex, Anh chấp nhận kế hoạch của Đại sứ quán Việt Nam định dựng một bức tượng mới nhìn ra bến cảng đã gây tranh cãi tại cả địa phương lẫn trên mạng trực tuyến.

Dân biểu địa phương Maria Caulfied đã kêu gọi từ bỏ kế hoạch dựng bức tượng Hồ Chí Minh, và gọi ông là “một nhà độc tài cộng sản quá cố đã gây ra hàng trăm ngàn cái chết…”

Mấy hôm sau (hôm 8 tháng 9 năm 2015) trang vietinfo.eu lại âu sầu loan một tin buồn khác, liên quan đến dự tính dựng tượng của Bác ở nước Cộng Hoà Séc: “Sau nhiều ý kiến và văn bản phản đối của các tổ chức và cá nhân, thành phố Chrastava đã bác bỏ ‘giấc mơ’ này của ông Đại sứ.”

Trong thư phản đối của kỹ sư Nguyễn Tùng (PTS, 72 tuổi, công dân CH Séc. Cựu cán bộ Viện Hàn Lâm Khoa Học Tiệp Khắc) trên trang Đàn Chim Việt, có đoạn:

“Việc bia kỷ niệm được sản xuất và chi trả từ tiền của người dân nghèo khổ Việt Nam hay là từ đóng góp của cách doanh nghiệp Việt Nam dưới sức ép của Đại sứ quán là một điều sỉ nhục với chúng tôi.”

Nội dung bức thư thượng dẫn tuy hơi gay gắt nhưng những luận điểm nêu ra đều rất hợp lý, và được diễn đạt bằng ngôn từ tương đối ôn hoà/lịch sự. Điều đáng tiếc là độc giả, có vị, đã ghi lại đôi ba phản hồi (nghe) không được nhã nhặn gì cho lắm:

Reply

Chổ nào có lỗ trống là đảng và nhà nước ta tìm đủ mọi cách – mua chuộc quan chức địa phương – để nhét bác Hồ vào… Đúng là mặt dầy, mày dạn!

Mà đâu phải cứ “mặt dầy, mày dạn” và cứ muốn “nhét Bác Hồ vào” chỗ nào cũng được. Đến như dân Lào mà họ cũng rẫy nẩy lên đành đạch:

Laotians Bristle at Plan to Erect Ho Chi Minh Statue in Vientiane… “I think it’s strange to erect a monument to Ho Chi Minh in Laos,” a Laotian said in an RFA call-in show recently…
“We are an independent country. If Lao leaders do this, it may indicate some deeper plan that [the citizens] don’t know about. In the future, this land may no longer belong to Laos…”
A third caller said that a statue of Ho Chi Minh in the capital was “unnecessary,” questioning what the former Vietnamese president had done for Laos to deserve such an honor.
“On the contrary, he pulled the people of Laos into the Vietnam war,” the caller said.

(Dự án dựng tượng Hồ Chí Minh tại thủ đô Vientiane bị nhân dân Lào giận dữ phản đối… người dân Lào đã công khai phản đối qua đài phát thanh RFA: “Thật là lạ lùng nếu dựng tượng HCM ở thủ đô Lào”, “Lào là một nước độc lập. Phải chăng đây là ý đồ của giới cầm quyền Lào muốn lệ thuộc vào Việt Nam?” “HCM đã làm gì ích lợi cho nhân dân Lào mà được cái vinh dự này? Trái lại, ông ta đã lôi kéo nhân dân Lào vào chiến tranh Việt Nam…” – Hoàng Ngọc-Tuấn chuyển ngữ).

Hiền hậu và dễ chịu cỡ như xứ Lào mà “nhét vào” còn không lọt thì Bác (đành) qui cố hương thôi. Nhớ cái thưở Người về Cao Bằng, mấy mươi năm trước, thiệt là bồi hồi và cảm động hết biết luôn:

Bác về … im lặng. Con chim hót

thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ

Thưở ấy, cả chim lẫn người đều hay … hót, và hót hay. Chim chóc ở Việt Nam, bây giờ, chả còn mấy con sống sót. Loại người có năng khiếu ca hót – ở đất nước này, cỡ như cái ông Tố Hữu – cũng đều chết tiệt cả rồi.

Bởi vậy, lần này Bác lại về nhưng không thấy chim chóc và người ngợm líu lo như trước nữa – dù Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh Sơn La đã thông qua đề án xây dựng tượng đài Bác Hồ, với vốn đầu tư của dự án lên đến 1.400 tỷ đồng (“phát xuất từ tình cảm”) với sự đồng thuận của cả Đảng và Nhà Nước.

Không đứa nào ca hót/tán tụng (đã đành) cả lũ còn đồng loạt bàn ra, hoặc bàn lui:

  • Đại Biểu Quốc Hội Cao Sỹ Kiêm: Việc Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La quyết định ra nghị quyết thông qua đề án xây dựng tượng đài với tổng mức đầu tư khoảng 1.400 tỷ đồng là điều không thể chấp nhận được.
  • Ông Phan Đình Tân, Chánh Văn phòng, Người phát ngôn Bộ VHTT&DL:…trong hoàn cảnh hiện nay, và nhất là năm nào Chính phủ cũng phải cấp tiền cho Sơn La thì không nên.
  • Kỹ sư Bùi An: Không ai cấm một người bán vé số bước vào tiệm và gọi tô phở bò Kobe có giá bằng 1/3 thu nhập của mình, nhưng ai cũng biết là không nên làm vậy.

Ô hay, chớ nếu “không nên làm vậy” thì làm sao khác đây – cha nội? Bác đã bị nhân dân hữu sản (và vô sản) trên toàn thế giới kỳ thị  “tới bến” rồi thì phải tìm một chỗ để Người về chớ. Mà ngoài Sơn La ra thì còn chỗ nào an lành hơn được nữa?

Wecome to Sơn La. Ảnh: VOV

Báo Thế Giới Mới vừa rầu rĩ cho hay đây nè:

Người Việt Nam yêu cầu Facebook lập lại tên Sài Gòn thay vì TP Hồ Chí Minh. Trong thỉnh nguyện thư gửi Mark Zuckerberg, nhà sáng lập trang mạng xã hội Facebook, ông Nghĩa Bùi, cư dân thành phố Allen của tiểu bang Texas nói rằng hàng ngàn, và có thể là hàng triệu người sử dụng Facebook được sinh ra tại Sài Gòn, Việt Nam, muốn thiết lập địa danh đúng nơi đã xuất phát là Sài Gòn, thay vì thành phố Hồ Chí Minh, không chính xác về phương diện địa lý lẫn chính trị.

Người Việt Nam khắp thế giới có nguồn gốc xuất thân là Sài Gòn đều muốn Facebook xác lập nơi mà họ xuất thân trên mạng Facebook một cách chính xác. Người sử dụng Facebook cho rằng, đây là sự kiện có ý nghĩa đối với tất cả mọi nơi trên thế giới lâu nay bị buộc phải chấp nhận một cái tên xa lạ đối với họ.

Bức thư ngỏ được tung ra chưa đầy 43 phút đồng hồ đã được 3,000 người tán đồng. Nghĩa Bùi, cư dân Allen, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ là người từ 2 ngày trước đã ký tên vào thỉnh nguyện thư đòi xác lập tên Sài Gòn trên.

Rất nhiều người Việt Nam từ Úc, Malaysia, Houston, Hoa Kỳ và đông nhất vẫn là người dân Sài Gòn đều cho rằng, Sài Gòn mới là tên đúng của thành phố Sài Gòn xưa, chớ không phải là Hồ Chí Minh. Quý bạn đọc có thể ký tên vào đơn thỉnh nguyện yêu cầu Facebook hiển thị tên Sài Gòn thay vì Hồ Chí Minh bằng cách log in vào change.org, đang cần thêm 1,891 người nữa để đạt được 10000 người ủng hộ.

Những em bé Sơn La ngực trần, chân không dép giữa mùa Đông. Ảnh: tiin.vn

Cái thành phố rực rỡ tên vàng, rõ ràng, không còn rực rỡ và an ninh nữa. Hà Nội (e) rồi cũng vậy thôi. Bộ Tư Lệnh Bảo Vệ Lăng Bác chỉ chận được bom đạn hay chất nổ thôi, chứ làm sao ngăn nổi tâm tư sôi nổi của người dân:

“Chúng ta đề nghị Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính thử tính sổ xem 30 năm qua ta đã tiêu tốn vào lăng Người tổng số là bao nhiêu tiền của… Và thử xem riêng ngân sách dự chi cho năm 2000 xem có thể xây được bao nhiêu trường học cho một ngàn xã hãy còn vắng về giáo dục ở miền cao. Có thể xây bao nhiêu căn nhà để nuôi trẻ mồ côi… Có thể xây bao căn nhà dưỡng lão cho người già lão cô đơn, không nơi nương tựa. Có thể xây bao nhiêu nhà thương làm phúc chữa bệnh cho người nghèo…”

Bác đâu có thể nằm yên mãi trong lăng được khi mà bệnh viện hết tiền trả lương cho bác sĩ, bệnh nhân thì chen chúc mấy mạng trên một giường, và nợ công thì chất chồng hàng ngàn Mỹ Kim trên lưng của đám dân đen khố rách áo ôm.

Ngay cả ở nhà riêng của (nguyên) T.B.T Nông Đức Mạnh, người vốn được coi là có liên hệ cốt nhục tình thâm, Bác ngồi cũng không nóng đít. Báo Tiền Phong chỉ mới “nhá” ra có mỗi tấm hình mà dân chúng đã chửi như tát nước!

Bởi vây, với tất cả lòng thành, tôi xin đề nghị: Thôi, hãy để (yên) cho Người về Sơn La đi.

Giáo sư Ngô Bảo Châu quan ngại: “Trẻ con ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1.400 tỉ để xây tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh.” Ông giáo có thể là một nhà toán học có tâm nhưng chắc chắn thiếu tầm, cái tầm của những người chuyên hành nghề cách mạng.

Những vùng đất đói, nghèo, dốt nát… không chỉ là chốn lý tưởng cho cách mạng nẩy mầm mà còn là nơi an toàn cho … cách mạng (khi cần)có chỗ lánh thân nữa. Xét theo tiêu chuẩn này thì Sơn La, rõ ràng, hội đủ điều kiện “lý tưởng” để Bác về nương náu.

Chớ có chỗ nào an toàn hơn được? Còn Người an toàn thêm được bao lâu (nữa) thì lại là chuyện khác. Đã đến nông nỗi này rồi thì được ngày nào biết ngày ấy thôi.

PHÉP RỬA CỦA CHÚA GIÊSU

PHÉP RỬA CỦA CHÚA GIÊSU

(CN Thường Niên, Năm C)

Tuyết Mai

Ai cũng biết rằng Chúa Giêsu của chúng ta Ngài đâu cần Phép Rửa nhưng vì Ngài được sinh ra trong Thế Gian, mặc xác phàm nên Ngài cũng phải chịu Phép Rửa như bao người và để làm gương cho muôn người.

Người đời chúng ta thường khi nghe nói đến danh từ “rửa” thì liền nghĩ đến ngay đến sự rửa ráy cho sạch những gì dơ bẩn bám trên thân thể, quần áo, vật dụng, nhà cửa, v.v… thưa có phải? Và có phải người thường của chúng ta ai cũng thích, cũng chuộng sự sạch sẽ thơm tho nhất là vấn đề cá nhân vì ngay cả chính chúng ta cũng không chịu nổi cái mùi hôi của chính mình hay không?.

Đấy là chúng ta nói về vấn đề thân xác rất dơ bẩn và hay chết của chúng ta, sẽ đến một ngày nào đó thật bất ngờ thì nó cũng sẽ bị ra thối tha và rữa tan vào lòng đất lạnh nhưng điều đáng nói ở đây là Linh Hồn chúng ta nó sẽ sống muôn đời chẳng bao giờ chết được và tùy vào Linh Hồn ấy có luôn giữ được sạch trong hay để cho quá dơ bẩn?.

Mà nói đến một Linh Hồn sạch sẽ và một Linh Hồn dơ bẩn là như thế nào, thiết nghĩ ai trong chúng ta cũng hiểu được điều đó cả … Ấy là khi chúng ta còn sống trên cõi đời tạm bợ này đối với một Linh Hồn sạch sẽ thì nó luôn có sự yêu thương, khiêm nhường, tôn trọng người, bác ái, hy sinh và tha thứ cho nhau vô điều kiện.

Còn ngược lại những Linh Hồn luôn sống trong tham lam, kiêu ngạo, ganh tị, khinh rẻ và bạc đãi người anh em, thù ghét và gieo họa cho người thì Linh Hồn ấy hẳn rất dơ bẩn.   Như viên ngọc quý Chúa ban chúng ta lại coi thường và vứt nó vào xó nhà.   Lâu ngày chầy tháng, nó bị bụi trần chúng đóng bám đến độ nó trở thành một cục đá rất xấu xí và rất nặng nề không thể nào chùi rửa được nữa.

Ai trong chúng ta cũng đều nhận được Phép Rửa từ ở tuổi sơ sinh cho đến ở tuổi gần mãn đời cũng được Thiên Chúa yêu thương đồng đều nhưng mỗi Linh Hồn thì không đồng đều nhau là do tự ý chúng ta đã chọn cách sống tốt lành hay xấu xa tội lỗi trong suốt thời gian chúng ta còn sống trên cõi đời rất vô thường này.

Nên Phép Rửa của Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta hằng năm là cố gắng sống đẹp lòng Chúa qua thanh tẩy cuộc đời và tâm hồn của mình bằng cách tìm đến Tòa Giải Tội để hòa giải cùng với Chúa ít là một năm một lần.   Giảm bớt sự sống kiêu ngạo, tham lam, gian dối, lừa lọc, và hãm hại người.   Mà tăng lòng sốt mến yêu kính Chúa hơn, yêu tha nhân hơn qua mọi việc chúng ta làm cách hy sinh để bảo đảm linh hồn của chúng ta sau khi lìa trần thì <Nó> sẽ được đích thân Thiên Chúa đón nhận và đem về Nơi có sự sống hạnh phúc muôn đời trên Thiên Đàng.

Nơi có Thiên Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần, Đức Mẹ Maria, cùng toàn thể các đạo binh, các thánh và tất cả anh chị em trên Trời.   Amen.

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

8 tháng 1, 2016

Thánh Thiện

Thánh Thin

Quên mình, sống trọn vẹn cho người khác
đó chính là định nghĩa đích thực của sự thánh thiện.
 

PHO THAC

Linh mục Anthony De Melo có kể câu chuyện sau: Có một linh sư Ấn giáo nổi tiếng thánh thiện, ông đã mở được nhiều trung tâm cầu nguyện và qui tụ được nhiều đệ tử. Ngày kia, có một người tìm thầy học đạo tình cờ đến trước cửa trung tâm. Con người khao khát chân lý từ bao năm nay cảm thấy như được giác ngộ khi gặp gỡ vị linh sư. Vị linh sư nói với anh:

– Trước khi nhận ngươi làm đệ tử, ta thấy cần phải thử thách ngươi về sự vâng lời. Đằng trước trung tâm có một dòng sông dày đặc cá sấu, ta muốn ngươi phải lội qua dòng sông ấy.

Không một chút do dự, người thanh niên để nguyên quần áo quăng mình xuống dòng sông. Vừa lội qua dòng sông anh vừa hô lớn “Tung hô quyền năng kỳ diệu của thầy tôi”. Như có sự hổ trợ của nhiều người và của chính vị linh sư, người thanh niên đã bơi qua dòng sông và trở về an toàn. Sự kiện này càng làm cho vị linh sư thấy mình là người thánh thiện.

Lập tức, ông cho tập trung các đệ tử trong nhà lại và trịnh trọng bước xuống dòng sông, vừa công khai bơi lội vừa hô lớn: “Tung hô quyền năng của ta, tung hô quyền năng của ta”. Thế nhưng, ông vừa dứt lời thì đàn cá sấu ào tới cắn xé ông nát ra từng mảnh.

Thánh thiện chính là quên mình, quên mình đến độ không được phép ý thức về sự thánh thiện của mình. Thiên Chúa ban cho ta sự thánh thiện là để cho người khác hưởng dùng. Bao lâu sự thánh thiện đem lại lợi ích cho kẻ khác thì bấy lâu người đó còn thánh thiện. Trái lại, kể từ giây phút một người thánh thiện giữ riêng ân huệ cho mình, thì người đó đánh mất sự thánh thiện, đồng thời đánh mất chính bản thân mình.

Thật ra, thánh thiện không là một đặc ân cho một số người ngọai hạng. Đó là ơn gọi của mỗi người Kitô. Người Kitô không thể không là người thánh thiện, vì chính thánh thiện là tên gọi của Chúa Kitô: “Ngài là Đấng Thánh”. Ngài là Đấng Thánh”, bởi vì hơn ai hết Ngài là Đấng quên mình. Thánh Phaolô đã nói đến sự thánh thiện của Chúa Kitô bằng công thức: “Ngài đã tự hạ vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá”.

Đó cũng là lý tưởng của người Kitô. Chúa Giêsu đã từng nói: “Ai tìm cách giữ mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình thì sẽ bảo tồn được mạng sống”. (Lc 17,33).

Quên mình, sống trọn vẹn cho người khác, đó chính là định nghĩa đích thực của sự thánh thiện.***

Lạy Chúa, xin cho chúng con chỉ biết có một con đường thánh thiện, đó là phó thác cho Chúa, và sống trọn vẹn cho tha nhân. Xin giúp con luôn tiến bước trên con đường phục vụ, quên mình. Xin cho con không tìm vui hưởng một niềm vui nào khác hơn là mỗi ngày biết quên mình để sống cho tha nhân nhiều hơn. Amen.

 Anh chị Thụ & Mai gởi

NHỮNG MẢNH ĐỜI TAN NÁT VÌ CHIẾN TRANH (I)

NHỮNG MẢNH ĐỜI TAN NÁT VÌ CHIẾN TRANH (I)

 GNsP‬Cô Sương Quỳnh trước đây từng là nhà báo trong nhiều năm của “Bên Thắng Cuộc”. Sau những năm phục vụ cô nhận ra báo chí của Đảng Cộng Sản chỉ nhằm phục vụ và củng cố cho Đảng nên cô rút lui và hiện nay là thành viên của CLB Lê Hiếu Đằng. CLB bộ này quy tụ những nhân sĩ trí thức đấu tranh cho Dân Chủ và chống Trung Quốc xâm lược. Trong những năm gần đây cô bén duyên với DCCT qua những thánh lễ cầu nguyện cho CLHB do DCCT Sài gòn tổ chức. Cô đã xin học Đạo Công Giáo vào đầu năm 2014 và được Rửa Tội vào Đêm Vọng Phục Sinh 2015 tại DCCT Sài Gòn. Chúng tôi xin giới thiệu đến quý đọc giả loạt bài phóng sự của cô về chương trình Tri Ân TPB – VNCH do phòng CLHB thuộc DCCT Sài Gòn tổ chức.

Sau cuộc chiến “huynh đệ tương tàn” những mảnh đời này bị đẩy ra sống bên rìa xã hội: bị kỳ thị, khinh rẻ, vạ vật kiếm sống qua ngày. Cũng là xương, là máu, là thịt đổ xuống vì Đất Nước, nhưng bị gọi là “nguỵ quân” nên họ đã phải lang bạt, lê lết, lưu đày trên ngay trên Đất Nước của chính mình. Họ là ai? Họ là những người thua cuộc và thảm hơn nữa họ đã bị chiến tranh cướp đi những phần cơ thể để giờ họ có một tên gọi là THƯƠNG PHẾ BINH VNCH.

buổi họp mặt Tri Ân TPB -VNCH sáng 31.12.2015 tại DCCT Sài Gòn

Ông Nguyễn Văn Hùng sinh năm 1949, cựu binh nhất- Đại đội 51, sư đoàn Nhảy Dù. Ông bị thương đúng trận cuối cùng ngày 29-4-1975. Ông kể rằng: Do không muốn đi đánh trận, gia đình ông đã chạy tiền khai tuổi ông sinh năm 1956, do đó đến năm 72 ông mới đi lính. Ông làm nhiệm vụ nghe điện đàm và truyền tin qua cái điện đàm BC25. Cả đại đội ông hơn 300 người bị đánh dồn từ Khánh Dương về Nha Trang. Trên đường bị chết rất nhiều nên khi về đến Nha Trang chỉ còn hơn 30 người. Từ Nha Trang các ông được máy bay đưa về Đồng nai để chốt giữ nhà máy nước Đồng Nai.

Ông Nguyễn Văn Hùng

Lúc 2 giờ sáng ngày 29-4-1975, một trận giao tranh ác liệt giữa quân Giải Phóng và đại đội gần 30 người của ông ngay trên cầu Đồng Nai. Lúc đó đại đội trưởng là ông Huỳnh Hữu Sanh chỉ huy. Đêm đó một người đồng đội bị thương, ông Hùng đã chạy ra cứu, ôm người bạn về thì bị một loạt đạn bắn , ông bị đạn trúng tay làm rơi luôn đồng đội, còn người lính kia cũng bị thương vào đầu và chết ngay lập tức. Sáng hôm sau là ngày 30-4-1975, đại đội ông còn 5 người và ông Sanh đại đội trưởng. Do ông nhặt được cái đài Philip 10 băng của quân Giải Phóng, đến trưa 30-4 ông nghe qua radio lệnh của ông Dương Văn Minh kêu gọi binh lính bỏ súng, quy hàng. Ông Sanh, ông và những người còn lại quăng súng, cởi quần áo vào nhà dân xin quần áo thường phục mặc vô, rồi tìm đường về nhà. Ông phải dưỡng thương 2 tháng mới lành. Do bị thương nên ông bị đi học tập cải tạo 3 ngày. Khi học xong 3 ngày , người bên quân Giải Phóng hỏi: Ông có hiểu gì không? ông trả lời: Tôi không hiểu gì cả, họ bắt ở lại học tiếp 3 ngày nữa. Những ngày đầu sau khi được cho về, ông đi ăn xin, rồi bà con người qua đường thương mua cho chiếc xe lăn và góp tiền có chút vốn, ông đi bán vé số. Sau mấy năm ông lấy được vợ và có hai con, ông sống nhờ bên nhà vợ. Hiện hai con ông đi làm công nhân nên cũng không đủ tiền phụng dưỡng cha mẹ, do đó ông vẫn đi bán vé số kèm xin ăn để sống qua ngày.

Ông Hùng đón nhận chuỗi hạt Mân Côi

Những năm gần đây, được biết Dòng Chúa Cứu Thế (DCCT) luôn tổ chức khám chữa bệnh và có những ngày Tri Ân TPB VNCH, ông về để được cảm nhận như một con người. Khi cô Tình nguyện viên (TNV) đưa ông chuỗi hạt Mân Côi và nói với ông rằng: Chú hàng ngày đọc kinh nhé. Ông quay lại tôi rưng rưng nước mắt: Nếu không tin vào Thiên Chúa, tin vào ơn lành của Mẹ Maria chắc ông không có nghị lực để vượt qua mọi thử thách, đau khổ trong hơn 40 mươi năm qua.

Teresa Avila Sương Quỳnh

Xin xem thêm:

NHỮNG MẢNH ĐỜI TAN NÁT VÌ CHIẾN TRANH (II)

 NHỮNG MẢNH ĐỜI TAN NÁT VÌ CHIẾN TRANH (III)

NHỮNG MẢNH ĐỜI TAN NÁT VÌ CHIẾN TRANH (IV)

NHỮNG MẢNH ĐỜI TAN NÁT VÌ CHIẾN TRANH (V)

NHỮNG MẢNH ĐỜI TAN NÁT VÌ CHIẾN TRANH (VI)

Tuệ Sỹ – “Đạo Pháp Tộc Chủ Nghĩa Xã Hội”, Biến Thái Của Phật Giáo Việt Nam Hiện Tại

Tuệ Sỹ – “Đạo Pháp Tộc Chủ Nghĩa Xã Hội”, Biến Thái Của Phật Giáo Việt Nam Hiện Tại

By Uyên Nguyên  ( 1 )

Lời Dẫn: Bài tham luận này được viết đã lâu. Nguyên đề là “Văn minh tiểu phẩm,” chỉ là bài tham luận có tính chuyên đề. Bỗng nhiên nó mang tính thời sự. Ban đầu người viết không có ý định phổ biến rộng rãi, mà chỉ giới hạn trong một số thức giả đọc để suy ngẩm về quá khứ và tương lai.

Tuy nhiên, nay nó được cho phổ biến, vì trong mấy tuần vừa qua, Nhà Nước đã vận dụng bộ máy tuyên truyền khổng lồ và độc quyền, từ diễn đàn Quốc hội, cho đến các cuộc họp một số phường quận; từ Hội đồng chứng minh, Giáo hội trung ương, cho đến các ban Đại diện Phật giáo quận; bằng các phương tiện phát thanh, truyền hình, báo chí; mục đích là xác định lại lập trường “trước sau như một” của Đảng CSVN đối với Phật giáo, và cũng xác định sự hiện hữu duy nhất của Phật giáo qua đại diện hợp pháp là Giáo hội Phật giáo Việt nam, mà thực chất là một tổ chức chính trị của Đảng, thực hiện đúng sách lược tôn giáo theo chỉ thị của Lenin: “đảng phải thông qua tôn giáo để tập hợp quần chúng.” Chính điều đó xác định rõ nhiệm vụ lịch sử của Giáo hội Phật giáo Việt nam như là công cụ bảo vệ Đảng, đúng như lời Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trước đây đã tuyên bố: Phật giáo Việt nam là chỗ dựa cho người Cộng sản Việt nam làm cách mạng.

Những tuyên truyền và tuyên bố như trên chỉ được nghe và nhìn từ một phía. Vì vậy tôi cho phổ biến lại bài này; không xem đây là chân lý lịch sử, nhưng là sự thực được nhìn theo chủ quan của một cá nhân. Dù sao, nhìn sự việc từ một khía cạnh khác sẽ cho thấy rõ thêm vấn đề. Chân lý cuối cùng tùy thuộc người đọc; tùy thuộc trình độ tư duy, thành kiến xã hội, hay quyền lợi vật chất.

Trước khi giới thiệu bản văn, nhân tiện tôi ghi thêm một vài sự kiện có tính lịch sử gần nhất, để người đọc có thêm cảm hứng suy luận.

Tôi nói sự kiện lich sử gần nhất, là muốn nói ngay đến sự xuất hiện của Pháp sư Thích Trí Độ lần đầu tiên tại miền Nam sau ngày Cộng sản chiến thắng. Trên lễ đài chiến thắng, gồm các lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, hàng cao nhất. Pháp sư thay mặt Phật giáo miền Bắc, mà trên cương vị người chiến thắng, là chính thức đại diện toàn thể Phật giáo Việt nam. Đó là vị Pháp sư, mà miền Nam gọi là Đại lão Hòa thượng; Ngài bận chiếc áo sơ-mi cụt tay như các cán bộ cao cấp khác của Đảng và Nhà Nước. Sự thực như vậy rất rõ: Phật giáo không tồn tại nữa ở Miền Bắc, mà chỉ tồn tại như một bộ phận của Đảng và lãnh đạo Phật giáo chỉ là cán bộ của Đảng và Nhà Nước.

Ở miền Nam, theo báo cáo của Trần Tư, tài liệu của Bộ Nội vụ phổ biến năm 1996, bấy giờ chỉ có “khoảng 2.5 triệu tín đồ.” Nhưng do nhu cầu lịch sử, nói theo lý luận của Đảng, nghĩa là chưa xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội nên tôn giáo như thuốc phiện ru ngủ vẫn còn có nhiệm vụ lịch sử của nó; do nhu cầu lịch sử nên Đảng thừa nhận tồn tại tín ngưỡng Phật giáo. Tín ngưỡng, chứ không phải tôn giáo. Bởi vì, tin và thờ bình vôi, cây đa, ông Táo, ông Địa, là tín ngưỡng, chứ không phải tôn giáo. Đảng tôn trọng tự do tín ngưỡng, nhưng chỉ cho phép tin một số hiện tượng. Ngoài ra là mê tín, hoặc duy tâm mang tính phản động thì triệt để bài trừ.

Năm 1980, tôi được anh Võ Đình Cương mời họp thảo luận về văn hoá Phật giáo tại tòa soạn Giác ngộ, tại đó, đại diện Mặt trận Thành phố HCM đến dự, và đề nghị (thực chất là ra lệnh): nhiệm vụ văn hóa Phật giáo là bài trừ mê tín; do đó phải xét lại trong Phật giáo những gì không thuần túy thì phải dẹp bỏ. Thí dụ, Quan Âm, Địa Tạng có thuần túy Phật giáo hay không? Tôi phản ứng: đó là đức tin tồn tại ít nhất hơn 2 nghìn năm, trên một phạm vi châu Á rộng lớn; do đó không ai có quyền xét để dẹp bỏ. Tin hay không, đó là quyền tự do cá nhân. Nhưng dẹp bỏ thì không ai có quyền.

Ngay sau 1975, nhiều tượng Phật lộ thiên bị giựt sập. Gây chấn động lớn nhất là giựt tượng Quan Âm tại Pleiku. Viện hóa đạo đã có những phản ứng quyết liệt, và đích thân Hòa thượng Đôn Hậu mang tài liệu phản đối ấy ra báo cáo Thủ Tướng Phạm Văn Đồng. Hòa thượng kể lại cho tôi nghe, sau khi chuyển hồ sơ vi phạm chính sách tôn giáo lên Thủ tướng; hôm sau Hòa thượng được một Đại tá bên Bộ Nộ vụ gọi sang làm việc. Sau khi nghe Đại tá lên lớp chính trị, Hòa thượng nói: “Bởi vì Thủ tướng có nhờ tôi sau khi vào Nam trở ra Bắc, báo cáo Thủ tướng biết tình hình Phật giáo trong đó. Vì vậy tôi báo cáo những vi phạm để Chính phủ có thể kịp thời sửa chữa, ngăn chận cán bộ cấp dưới không để vi phạm. Nếu Thủ tướng không muốn nghe thì thôi. Còn việc lên lớp chính trị như thế này, đối với tôi (Hòa thượng) thì xưa quá rồi.” Dù sao, phản ứng ấy cũng làm chùn tay những đảng viên cuồng tín Mác xít, và tự kiêu về chiến thắng với khẩu hiệu nhan nhản các đường phố lúc bấy giờ: “Chủ nghĩa Mác Lê-nin bách chiến bách thắng muôn năm!” Nghĩa là, không thể tự do hoành hành như trong những năm sau 1954 trên đất Bắc.

Ở đây, chúng ta phải đặt câu hỏi: sau 1975, nếu không có Phật giáo miền Nam, cùng với thái độ cương quyết của các vị lãnh đạo Giáo hội Thống nhất, Phật giáo Việt nam sẽ thoi thóp đến lúc nào rồi đứt hơi luôn, với đà tự kiêu chiến thắng 1975 và với ảo tưởng về thành trì xã hội chủ nghĩa bách chiến bách thắng của Liên-xô?

Năm 1982 là cột mốc lớn cho Phật giáo Việt nam, với lời tuyên bố của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Đảng không dại gì mà dựa lưng vào chỗ mình chưa nắm chắc. Do đó, bằng mọi giá phải cải tạo Phật giáo miền Nam, giống như cải tạo xã hội chủ nghĩa theo phương thức tịch thu tư liệu sản xuất và đưa các chủ tư bản đi lao động cải tạo. Đảng biết chắc, tuy gặp phải chống đối quyết liệt của lãnh đạo Phật giáo, nhưng với bạo lực chuyên chính trong tay, sẽ phải cải tạo thành công. Trước hết, sự bức tử đối với Thượng tọa Tâm Hoàn, Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Bình định, năm 1975, gây kinh sợ không ít cho những ai cưỡng lại ý chí của Đảng. Kinh hoàng nhất là cái chết của Thượng Tọa Thiện Minh năm 1978, trong trại giam K4, Bộ Nội vụ. Đó là thời gian tôi được giam cùng trại với Hòa thượng Thiện Minh, nhưng hoàn toàn cách ly. Chỉ biết rõ, khi nghe tiếng Hòa thượng trả lời thẩm vấn ở phòng hỏi cung kế cận. Tất cả điều đó củng cố cho tuyên bố của ông Mai Chí Thọ, bấy giờ là Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố HCM, nói thẳng với Hòa thượng Trí Thủ, bấy giờ là Viện trượng Viện hóa đạo: “Các thầy chỉ có hai con đường, theo hoặc chống. Các thầy theo, chúng tôi tạo điều kiện cho sinh hoạt. Các thầy chống, chúng tôi còn đủ xe tăng thiết giáp đó.” Hòa thượng trả lời: Không theo cũng không chống. Nhưng, đối với Đảng, không có con đường thứ ba.

Ý chí của đảng là một chuyện. Nhưng những người Phật giáo cũng nên tự đặt câu hỏi: Ban Liên lạc Công giáo Yêu nước cũng hoạt động rất tích cực, nhưng không đưa được Hội đồng Giám mục vào trong Mặt trận Tổ quốc. Trong khi, rất nhanh chóng, Phật giáo trở thành một bộ phận của đảng Cộng sản Việt nam. Tại sao?

Từ ngày thành lập đến nay, Giáo hội thành thành viên Mặt trận đó đã làm những gì? Làm nhiều lắm, vì chùa chiền đồ sộ thêm lên. Như lời Hòa thượng Thanh Tứ phát biểu mới đây trong buổi lễ khai giảng của trường Phật học Trung cấp tỉnh Bình định. Hòa thượng nói: “Phật giáo thời Lý rất thạnh. Nhưng không bằng nay. Vì nay cơ sở của ta to lớn hơn.” Ấy là, theo như lời Hòa thượng nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bài phát biểu: nhờ chính sách của Đảng. Đó là sự thực không thể chối cãi. Nhưng cần nói cho rõ thêm, Việt nam chúng ta bây giờ tiến bộ hơn thời Hồng Bàng gấp vạn lần. Thời Lý, nước Việt nam chỉ từ Thanh hóa trở ra Bắc, chỉ hơn 1/3 lãnh thổ hiện nay. Như vậy thì cơ sở hiện nay nhất định phải to lên rồi. Nhưng cái to hơn ấy của lịch sử bốn nghìn năm văn hiến lại chưa bằng một phần nhỏ của Thái lan chỉ hơn 8 thế kỷ định cư. Và cũng nhờ chính sách của Đảng, nếu chính sách đó trước sau như một, nghĩa là như Phật giáo miền Bắc trước 1975, thì không biết ngày nay các Hòa thượng khi xuất hiện trước công chúng sẽ khoác tăng bào, hay cũng chỉ bận áo sơ mi cán bộ như Pháp sư Trí Độ trước đây? Trên toàn miền Bắc, cho đến 1975, có trên dưới 300 “ông sư, bà vải.” Đến 1996, theo báo cáo Bộ Nội vụ của Trần Tư, “Hiện nay Phật giáo ở miền Bắc có khoảng 3000 tăng ni, tín đồ phần đông là ông già (bà già là chủ yếu–nguyên văn). Số cao tăng tiêu biểu hầu hết đã già yếu không còn khả năng hoạt động. Số tăng ni trẻ trình độ văn hoá cũng như lý luận về Phật giáo thấp, không đủ sức làm nhiệm vụ tranh thủ Phật giáo miền Nam và hoạt động quốc tế.” Giáo hội Phật giáo Việt nam phục vụ cho cái gì, theo báo cáo đó đã quá rõ.

Ngoài cơ sở “to lớn hơn thời Lý” ra, còn thêm được những gì để vượt hơn Phật giáo miền nam trước 1975? Nói về báo và tạp chí, được mấy phần trăm? Chỉ một tờ Giác ngộ duy nhất cho cả nước. Cũng là tờ báo hoằng pháp. Nhưng cũng thường xuyên ca ngợi vinh quang của Đảng, và giúp Nhà nước phổ biến kế hoạch sinh đẻ, tuyên truyền đường lối của Đảng chống NATO. Những lời Phật dạy cao siêu cũng chỉ đủ thêm vài chấm đỏ cho vinh quang của đảng và đường lối sáng suốt của đảng trên chính trường quốc tế.

Ngoài tờ Giác ngộ ra, với ba cơ sở giáo dục cao cấp, tương đương đại học, nhưng đã có công trình gì đáng kể?

Vậy thì, qua hơn 20 năm hoạt động, trong tư cách là một bộ phận của đảng, Giáo hội PGVN đã làm thêm được gì cho văn hóa Phật giáo VN so với những gì Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) đã làm trước 1975? Trong khi cả khu vực, và kể luôn cả nước Việt nam đều tiến bộ, theo chừng mực nào đó, mà Phật giáo Việt nam chưa lấy lại được thế đứng của nó trong lòng văn hóa dân tộc như trước đó, vậy thì đảng hỗ trợ PGVN tiến theo hướng nào?

Bề ngoài, cũng còn có mặt đáng nói khác, đó là giáo dục. Trước hết, bao nhiêu cơ sở Trung học Bồ đề, và các Viện Đại học: một Vạn Hạnh, và một Phương Nam, của Phật giáo miền Nam, nay biến đi đâu mất? Nói là biến, vì hầu hết các tăng ni sinh, kể cả những vị đang học tại các trường cao cấp Phật học, không biết các cơ sở giáo dục này là cái gì, dạy những gì trong đó. Chính vì vậy mà họ chỉ biết Phật giáo Việt nam tiến bộ vì chùa to Phật lớn.

Các tăng ni sinh này được đào tạo để làm gì? Không thấy họ được đưa về các địa phương để giảng pháp cho Phật tử. Cũng không có cơ sở văn hóa nào để họ phục vụ. Hầu hết, học xong, trở về chùa, làm nghề thầy cúng hoặc thầy bói. Tất nhiên cũng có nhiều thầy cô vẫn tìm cách mở các khóa học Phật pháp, nhưng cũng chỉ giới hạn trong một số tỉnh thành lớn, nhất là Thành phố HCM. Ngay như Huế, được xem là kinh đô của Phật giáo miền nam, hầu như các thầy chỉ đi cúng và đăng đàn chẩn tế, hoặc lập đàn chay phá cửa địa ngục cho cô hồn đi chơi, chẳng có buổi giảng kinh nào đáng kể. Còn cái trường gọi là cao cấp Phật học, hay Học viện Phật giáo Hồng đức, sau khi Hòa thượng Thiện Siêu tịch rồi, không còn thầy cô nào đủ sức dịch cho xuôi một trang luận Câu-xá, thì lấy chữ đâu mà giảng dạy kinh luận cho tăng ni sinh trình độ cao đẳng, đại học?

Nhìn chung, Phật giáo chỉ đang phục vụ nhiều nhất cho người giàu. Còn quần chúng tại các vùng sâu xa, vì họ thiếu phước, kiếp trước ít tu, nên nay chẳng mấy khi được nghe các thầy cô thuyết pháp. Còn lập đàn chẩn tế và phá cửa địa ngục cho ông bà cha mẹ siêu thăng, đốt vàng mã thật nhiều cho ông bà có tiền tiêu và có xe hơi nhà lầu, dưới âm phủ, thì họ không đủ tiền.

Tóm lại, nếu nói Phật giáo Việt nam hiện tại chẳng có tiến bộ gì thì không đúng. Vì cơ sở chúng ta hiện nay đồ sộ hơn trước, kể cả miền Nam trước 1975 chứ không cần so sánh xa xôi lùi cho đến đời Lý như Hòa thượng Thích Thanh Tứ. Ngoài việc xây dựng chùa to Phật lớn, Phật giáo hiện tại đã đóng góp gì cho gia tài văn hóa, tư tưởng của dân tộc, ngoài sứ mệnh được giao phó là rao truyền chính sách sáng suốt của Đảng quang vinh? Còn chuyện tìm một vị trí của Phật giáo Việt nam, dù chỉ khiêm tốn thôi, trong thế giới hiện đại, là điều mộng tưởng xa vời.

Gần đây, các trường Phật học tại Saigon sợ tăng ni sinh nghe thêm những nguồn thông tin không phù hợp với sự tuyên truyền một chiều vừa độc quyền vừa độc đoán của Nhà nước, nên vừa cảnh cáo, vừa khuyên răn: hãy quên đi quá khứ mà lo chăm học cho hiện tại. Quên đi quá khứ hận thù, để sống trong tình cảm dân tộc bao dung, đó là điều cần phải học. Nhưng quên đi những thành tựu quá khứ gần nhất, chỉ cách đây chưa đầy 30 năm, để rồi so sánh sự tiến bộ của ta ngày nay với thời đại Hồng Bàng, hay với thời Lý như Hòa thượng Thanh Tứ, thế thì bản chất của nền giáo dục Phật học ấy là gì? Có phải các thầy muốn dạy tăng ni sinh quên đi những hy sinh gian khổ của Thầy Tổ đã tạo ra di sản ngày nay, do vậy họ sẽ nhận thức dễ dàng rằng những gì chúng ta đang thừa hưởng ngày nay là nhờ công ơn Đảng và Nhà nước?

Lời hăm của các thầy có giá trị “hàn mặc di luân” của những nhà giáo dục. Chính vì thế tôi cho phổ biến bài tham luận này, mà trước đó tôi cho là ý kiến cá nhân nên giới hạn người đọc. Bây giờ tôi vẫn xem đây chỉ là quan điểm cá nhân. Nhưng tôi cho phổ biến để các thầy có cơ sở kiểm chứng những thành tựu mà Nhà nước đã giúp Phật giáo Việt nam. Tất nhiên, tôi nhận mọi trách nhiệm trước pháp luật, và trên hết, trước lương tâm của một con người còn tin tưởng giá trị làm người.

Già lam 10-11- 2003.
Tuệ Sỹ

HỎA NGỤC

Hoả ngục khủng khiếp làm sao???

Trầm luân vĩnh viễn…. tự… vào…không…. ra

…………..

Giờ đây thống hối tội qua

Sống sao xứng đáng con CHA trên Trời

Mai sau hưởng phúc cao vời

   Vì nay mến CHÚA, yêu người không thôi .

Thập điều giữ trọn chẳng rời

Lời CHÚA ghi khắc, tâm thời vui liên

Bình minh…Thánh lễ trước tiên

Sau viếng Thánh Thể tiếp liền …bên CHA

Tu thân, tích đức…. trổ hoa

Đơn sơ, phó thác, hiền hoà, yêu thương

Thứ tha, từ bỏ, khiêm nhường

Nguyện cầu, kiên nhẫn, thiện lương hơn người

Thanh tẩy, Thánh hóa CHÚA ơi!

Cho con cảm tạ muôn đời Hồng Ân.

hnkimnga

 

HỎA NGỤC

Lm. Đoàn Quang, CMC

1- Lời Kinh Thánh:

*”Chúa Giêsu thường nói đến “hoả ngục” (Gehenna), đến “lửa không bao giờ tắt” ( xem Mt 5,22.29;13, 42.50; Mc 9,43-48), dành cho những ai, cho đến lúc chết, vẫn từ chối tin và trở lại, và đó là nơi cả hồn lẫn xác có thể bị hư  mất” ( xem Mt 10,28).

*Chúa Giêsu đã dùng những lời nghiêm khắc, rằng “Ngài sẽ sai các thiên thần tới để lượm tất cả những kẻ làm điều gian ác  (…), và quẳng chúng vào lò lửa bừng bừng”  (Mt 13,4142).

*Ngài sẽ tuyên án: “Hỡi những kẻ vô phúc, hãy đi khỏi mặt Ta vào nơi lửa muôn đời”  (Mt 25,41).

*Mt 5,29  Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục.

*Mt 5,30  Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hoả ngục.

*Mc 9,45 Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi;

thà cụt một chân mà được vào cõi sống

còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục.

*Mc 9,48 nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt.

*Mt 16,26  Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?

2- Giáo lý Giáo hội Công giáo:

“Chết trong tội trọng mà không sám hối và không đón nhận tình thương đầy từ bi của Thiên Chúa, thì sẽ mãi mãi lìa xa Chúa do sự tự do lựa chọn của mình. Danh từ “Hoả ngục” được dùng để chỉ tình trạng ly khai mãi mãi khỏi mối hiệp thông với Thiên Chúa và với các thánh trên trời. (số 1033)

“Giáo huấn của Giáo Hội khẳng định có địa ngục và tính vĩnh viễn của địa ngục. Linh hồn của những người chết trong tình trạng mang tội trọng, sẽ lập tức phải xuống hoả ngục, “lửa vĩnh viễn” ( xem DS 76; 409; 411; 801; 858; 1002; 1351; 1575; SPF 12). Hình phạt chính của hoả ngục là bị muôn đời xa cách Thiên Chúa, chỉ nơi Ngài, con người mới có thể có sự sống và hạnh phúc: đó là những mục tiêu của con người khi được tạo thành và con người hằng khát vọng. (số 1035)

“Những khẳng định của Thánh Kinh và những giáo huấn của Giáo Hội về hoả ngục là  một lời kêu gọi tới trách nhiệm của con người trong việc sử dụng tự do của mình, hướng về số phận muôn đời của mình. Đó cũng là  lời kêu gọi khẩn thiết hãy hối cải: “Các người hãy vào qua cửa hẹp. Vì rộng rãi thênh thang là đường đưa tới hư mất, và nhiều người đi con đường này. Còn cửa hẹp và đường hẹp thì dẫn tới sự sống, nhưng ít người tìm ra nó  (Mt 7,1314):

Không biết ngày giờ nào, chúng ta phải luôn tỉnh thức như lời khuyến cáo của Chúa, để khi chấm dứt dòng đời độc nhất của cuộc sống trần gian, chúng ta đáng được nhận vào dự tiệc cưới với Ngài và được kể vào số những người được Thiên Chúa chúc phúc, thay vì bị gạt ra do lệnh của Thiên Chúa để xuống chỗ lửa muôn đời, như những đầy tớ xấu nết và lười biếng, đó là chốn tối tăm bên ngoài, nơi có những tiếng khóc lóc và nghiến răng  ( LG 48). (số 1036)

“Thiên Chúa không tiền định cho một người nào phải xuống hoả ngục  (xem DS 397; 1567); điều này cần phải có một sự chủ ý xoay lưng lại với Thiên Chúa (một tội trọng) và cố chấp ở trong tình trạng này tới cùng.

Trong phụng vụ Thánh Thể và trong các lời cầu nguyện hằng ngày của các tín hữu, Giáo Hội khẩn xin lòng từ bi của Thiên Chúa, Đấng muốn “không một ai phải diệt vong, nhưng muốn mọi người đi tới sám hối”  (2 Pr 3,9):

Đây là lễ vật mà chúng con, những đày tớ Cha và tất cả gia đình Cha dâng lên Cha: xin Cha nhận lễ vật này theo lòng nhân hậu của Cha. Cúi xin Cha bảo đảm cho đời sống chúng con được bình an! Xin cứu vớt chúng con khỏi bị án phạt, và xin nhận chúng con vào số các kẻ được chọn của Cha ( MR, Lễ quy Rôma 88).(số 1037).

3- Lời Các Thánh

(1001 Danh Ngôn Các Thánh, Y Phan, CMC)

  1. Ôi, có phải vì Chúa yêu con mà Chúa đã dựng

nên Hỏa ngục không, đề ép con bám lấy Chúa.

Thánh Augustinô

  1. Tất cả mọi đau đớn khốn khổ ở thế gian này chỉ

là hình ảnh mờ nhạt của án phạt Hỏa ngục mà thôi.

Thánh Gioan Kim Khẩu

  1. Trong Hỏa ngục, kẻ tội lỗi dầu có chịu gấp đôi

tất cả những hình phạt khác nhưng vẫn còn nhẹ nếu so

với hình phạt không được thấy Mặt Chúa.

Thánh Brunô

  1. Nếu những kẻ trong Hỏa ngục được diện kiến

Nhan Thánh Chúa, thì Hỏa ngục không còn là Hỏa ngục

nữa, mà sẽ trở thành thiên đàng ngay lập tức.

Thánh Augustinô

  1. Linh hồn người ta vừa ra khỏi xác sẽ nhận ra

ngay Chúa là Đấng Tạo Thành, nên nó nong nả đến trình

diện trước mặt Chúa. Khi ấy, khốn thay cho những linh

hồn nào đang mang trọng tội. Nó sẽ nhận lấy án phạt là

lời quở trách của Chúa, mà vào chốn Hỏa ngục đời đời.

Thánh Antôniô

  1. Hình phạt của các tội nhân trong Hỏa ngục rất

kinh khủng, rất nhiều và rất gay gắt, lại không hề được

một chút an ủi và nỗi đau khổ càng cứ tăng mãi cho

đến đời đời.

Thánh Rôbertô Bellarminô

  1. Ôi, nếu kẻ có tội biết Hỏa ngục là gì như chúng

tôi đã được xem thấy, hẳn họ không còn dám phạm tội

nữa kẻo phải sa xuống chốn khốn nạn ấy.

Chân phước Giaxinta

*Thánh nữ Faustina, người được THIÊN CHÚA cho thiên thần dẫn đi xem hỏa ngục, đã nói:

“Các linh hồn phải vào hỏa ngục, hầu hết là những kẻ không tin có hỏa ngục”.

Trong sách Nhật Ký Lòng Thương xót Chúa, số 741, Thánh nữ viết: Hôm nay, tôi được một thiên thần dẫn xuống các hang hốc trong hỏa ngục. Đó là nơi cực hình ghê rợn; rộng toang hoác và rùng rợn biết bao! Tôi đã thấy các thứ khổ hình: khổ hình thứ nhất tạo nên hỏa ngục chính là việc mất Thiên Chúa; khổ hình thứ hai là lương tâm cắn rứt triền miên; khổ hình thứ ba là thảm cảnh ấy không bao giờ thay đổi; khổ hình thứ bốn là lửa nung xuyên thấu nhưng không hủy diệt linh hồn – đây là một cực hình kinh khủng, một thứ lửa hoàn toàn thiêng liêng, do cơn nghĩa nộ của Thiên Chúa đốt lên; khổ hình thứ năm là cảnh tăm tối triền miên và mùi ngột ngạt hãi hùng, và mặc dù giữa tối tăm, nhưng ma quỉ và các kẻ dữ lại nhìn thấy nhau và mọi thứ độc dữ của kẻ khác cũng như của chính mình; khổ hình thứ sáu là cứ phải ở chung với Satan; khổ hình thứ bảy là nỗi tuyệt vọng cùng cực; căm hận Thiên Chúa, những lời tà độc, nguyền rủa và lộng ngôn.

Mọi kẻ bị trầm luân đều phải chịu những cực hình trên, nhưng chưa phải là hết. Còn có những hình khổ đặc biệt dành riêng cho từng linh hồn. Đây là những hình khổ về giác quan. Từng linh hồn phải chịu những hình khổ kinh khủng không sao tả được, liên quan đến cách họ đã phạm tội. Có những hang hốc và hố sâu cực hình, ở đó hình thức đau khổ này khác với hình thức đau khổ kia.

Đáng lẽ tôi đã chết ngay lập tức khi vừa thấy những cực hình ấy nếu như quyền toàn năng Thiên Chúa không nâng đỡ tôi. Các tội nhân biết họ sẽ bị gia hình mãi mãi muôn kiếp, tại những giác quan họ đã dùng để phạm tội.

Tôi viết điều này theo lệnh truyền của Thiên Chúa để không còn linh hồn nào có thể viện cớ rằng hỏa ngục không hiện hữu, hoặc chưa có ai đã từng vào trong ấy, và do đó, không ai có thể tả ra như thế nào.

          Tôi, nữ tu Faustina, theo lệnh của Thiên Chúa, đã xuống vực thẳm hỏa ngục để có thể nói cho các linh hồn biết về hỏa ngục và chứng minh sự hiện hữu của nó. Tôi không thể nói về hỏa ngục hiện giờ; nhưng tôi đã nhận được lệnh truyền từ nơi Chúa để ghi lại về hỏa ngục. Các ma quỉ hết sức căm hận, nhưng chúng phải lụy phục tôi theo lệnh truyền của Thiên Chúa. Những điều tôi đã viết ra chỉ là một bóng mờ nhạt nhòa so với những gì tôi đã nhìn thấy.

Nhưng tôi xin lưu ý một điều: hầu hết các linh hồn trong hỏa ngục là những linh hồn đã không tin có hỏa ngục.

Khi tôi đến đó, tôi hầu như không thể trở lại bình thường sau khi thấy cảnh hãi hùng. Trong đó, các linh hồn chịu đau khổ kinh khủng biết bao! Vì vậy, tôi càng cầu nguyện tha thiết xin cho các tội nhân hoán cải. Tôi không ngừng khẩn nài Lòng Thương Xót Chúa cho họ. Lạy Chúa Giêsu của con, con thà chịu khổ cực khốn khó cho đến tận thế giữa những đau khổ ghê rợn nhất còn hơn là xúc phạm đến Chúa, dù chỉ một tội nhỏ mọn nhất”.

*Trong sách Tiếng Gọi Tình yêu kể về Sơ Josepha Menendez, nữ tu Dòng Thánh Tâm Chúa, đã được đưa xuống Hỏa ngục. Sơ đã tả lại theo lệnh Bề trên rằng” không lời lẽ nào tả hết được cảnh kinh hoàng, mùi hôi thối, khổ sở muôn đời”.

Một linh hồn thú nhận: Khổ cực nhất của chúng tôi là “không còn khả năng yêu thương, nếu còn yêu thương thì không còn hỏa ngục. Chỉ có hận thù, giận ghét, ganh tị, tuyệt vọng. Trễ quá rồi. Muôn đời đền tội, mãi mãi trong ngục tù. Chúng tôi khát mong cho các linh hồn bị hư mất.

Quỉ có cách cám dỗ, gây chiến ngày đêm: – kích thích dục vọng, – kích thích kiêu ngạo, – làm cho thờ ơ phần rỗi, – không để cho bình an. Quỉ tướng nói: “Đừng để chúng bình an một giây phút nào”.

Đứa trẻ 15 tuổi phải sa hỏa ngục, nó nguyền rủa cha mẹ, vì đã không dạy nó đường lành, dạy tránh hỏa ngục. Nó đã đọc sách báo xấu, phạm tội xác thịt…

Có tu sĩ nguyền rủa mình vì đã coi thường ơn gọi tu trì.

Có giáo dân nguyền rủa mình vì đã xưng tội chẳng nên…chẳng ăn năn dốc lòng chừa…

*Sơ Josepha còn viết: Bệnh hoạn là ơn trọng đại Chúa ban để tẩy luyện linh hồn.

4- Lời quỉ thú nhận:

*Một linh mục ? trong lúc trừ quỷ đã hỏi quỷ: “Mày ở trong hỏa ngục bao lâu rồi?” Thằng quỷ trong thân xác người bị quỷ ám, đập tay xuống bàn, nổi giận la lớn: “Lúc nào cũng là lúc bắt đầu”.

5- Chứng tích:

  1. Ông Gaston de Segur, nhà trí thức đạo đức Công Giáo người Nga, , đã viết cuốn sách nói về Hỏa Ngục. Ông viết chuyện xảy ra tại Moscou vào năm 1812: Cậu tôi, Rostopchine, lúc ấy là thống đốc quân sự tại Moscou. Cậu thân với tướng Orloff, một người tài giỏi, nhưng lại khô đạo.

Một buổi tối, Orloff và Victor nói chuyện về tôn giáo và Hỏa Ngục. Orloff khiêu khích trước:

– “Không rõ bên kia nấm mồ, có cái gì khác hiện hữu không?”. Tướng Victor đáp liền:

– “Được rồi. Nếu quả thực có cái gì đó, thì một người trong hai ta, ai chết trước, sẽ hiện về báo cho người kia biết. Anh đồng ý không?”. Tử tước Orloff gật đầu “Đồng ý”. Rồi ông giơ tay bắt tay bạn, như cử chỉ giao kèo: phải trung tín giữ lời đã hứa.

Sau đó một tháng, tướng Victor ra trận chiến với quân của Napoléon nước Pháp, vừa tuyên chiến với nước Nga. 3 tuần sau, vào sáng sớm tinh sương, tướng Victor đi  do thám địa điểm của địch. Bỗng ông bị một viên đạn bắn xuyên bụng. Ông gục ngã và chết ngay tại chỗ. Chính lúc đó, linh hồn ông ra trước tòa Chúa.

Orloff đang ở Moscou, không hay biết gì về thảm họa xảy đến cho bạn mình. Vậy mà, cùng ngay buổi sáng hôm ấy, mặc dầu đã thức giấc, nhưng tử tước Orloff vẫn còn nằm rán lại trong giường. Bỗng chốc, ông trông thấy chiếc màn che giường động đậy, rồi, chỉ cách đó hai bước, xuất hiện rõ ràng gương mặt tái mét của người quá cố. Tướng Victor, một tay đặt trên ngực, dõng dạc tuyên bố: “Quả thật có Hỏa Ngục và tôi đang bị trầm luân trong ấy!”.

Nói xong, người quá cố biến mất. Tử tước Orloff nhảy ra khỏi giường, mình mặc nguyên bộ đồ ngủ, chân mang dép ngủ, đầu tóc bù xù, đôi mắt thất thần, gương mặt nhợt nhạt. Ông đâm đầu chạy một mạch đến nhà cậu tôi, kể lại cho cậu nghe câu chuyện vừa xảy ra.

10 ngày sau, quân lực Nga hoàng gởi điện cho cậu tôi, báo tin tướng Victor đã tử nạn, vào đúng y buổi sáng mà Orloff đã trông thấy ông hiện về.

2- Câu chuyện thứ hai được ghi trong sử liệu của thánh Francesco De Gieronimo (1642-1716), một linh mục dòng Tên, sinh tại Taranto, nhưng hoạt động tông đồ và qua đời tại Napoli, miền Nam nước Ý.

Ngài thường giảng các tuần đại phúc. Mục đích của thánh nhân là mời gọi mọi người hồi tâm thống hối, trở về cùng Thiên Chúa và sống ngay chính.

Một hôm, thánh Gieronimo giảng trước đám đông, kéo đến nghe ngài nơi quảng trường thành phố Napoli. Gần đó, trong căn nhà có cửa sổ nhìn xuống quảng trường, có một phụ nữ trắc nết sinh sống. Với chủ đích quấy phá và lấn át tiếng nói của vị thánh, bà cất tiếng la hét ầm ĩ và múa máy lung tung. Mọi lời khuyến cáo bà im đi, đều vô hiệu. Thánh Geronimo đành bỏ dở buổi giảng thuyết hôm ấy.

Ngày hôm sau, thánh nhân trở lại chỗ cũ. Ngạc nhiên vì thấy cửa sổ phòng bà kia đóng kín mít, thánh nhân hỏi lý do tại sao. Người ta cho ngài biết, bà ta đã bất ngờ qua đời trong đêm. Thánh nhân liền nói: “Chúng ta hãy đi xem bà”. Một số đông đi theo ngài và trông thấy xác bà còn nằm sóng soài dưới đất .. Như được linh hứng, thánh nhân cất tiếng hỏi:

– “Hỡi Catarina, nhân danh Chúa, hãy nói cho mọi người đang có mặt đây biết, bà đang ở đâu”. Tức khắc, đôi mắt người quá cố hé mở, đôi môi động đậy. Rồi bằng một giọng khàn khàn, khủng khiếp, bà trả lời:

– “Ở trong Hỏa Ngục .. Tôi bị trầm luân trong Hỏa Ngục đời đời kiếp kiếp!”.

Mọi người hiện diện toát mồ hôi lạnh, dựng tóc gáy!. Lúc xuống cầu thang, thánh Geronimo lẩm nhẩm lập lại:

– “Trong Hỏa Ngục mãi mãi .. Ôi Thiên Chúa công minh, đáng sợ biết là chừng nào!”.

Đa số những người chứng kiến cảnh tượng hãi hùng đó, không muốn trở về nhà, trước khi xét mình kỹ lưỡng, thành tâm thống hối và sốt sắng lãnh nhận bí tích Giải Tội.

(Dom Giuseppe Tomaselli, ”Y A-T-IL UN ENFER?”, Tequi, 1965, trang 24-28).

KẺ SA HỎA NGỤC, KHÔNG TẠI NHIỀU TỘI, NHƯNG TẠI KHÔNG ĂN NĂN, KHÔNG TIN CẬY VÀO LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA GIÊSU.

(Trích sách Jesus Appeals to The World, Alba House xb)

*Ngày 15-12-1935, Chúa Giêsu dạy Sơ Consolata Betrone viết những điều này cho các linh hồn :

“Consolata , điều rất thường xảy ra là các linh hồn tốt lành, đạo đức  và cả những linh hồn đã tận hiến cho Cha cũng thường làm khổ Trái Tim Cha tới cùng  vì những câu nói hờ hững như:  “Ai biết tôi có được rỗi linh hồn hay không?

Hãy mớ sách Phúc âm ra và đọc những lời hứa này. Cha hứa cho chiên Cha: “Cha sẽ cho chúng được sống đời đời. Chúng sẽ không bị hư mất đời đời. Không ai có thể giựt chúng khỏi tay Cha” (Ga 10, 28).

Consolata con có hiểu không? Không ai có thể cướp các linh hồn khỏi tay Cha.  Đọc thêm nữa:

“Những ai Cha Cha đã ban cho Cha thì quí hơn tất cả, và không ai có thể giựt chúng khỏi tay Cha Cha “(Ga 10, 29).

Consolata con có hiểu không? Không ai có thể cướp các linh hồn khỏi tay Cha.

Trong cõi đời đời, chúng không hư mất…vì Cha ban cho chúng sự sống đời đời. Cha nói những lời này cho ai? Cho tất cả các con chiên, cho tất cả các linh hồn. (1 Tm 2, 4: Chúa muốn mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lí).

Vậy tại sao còn có lời nhục mạ:   “Ai biết tôi có được rỗi linh hồn hay không?

Cha đã ban lời bảo đảm trong Phúc âm  rằng “Không ai có thể cướp các linh hồn khỏi tay Cha, và rằng “Cha ban cho chúng sự sống đời đời. Vì vậy các linh hồn không thể hư mất. Hãy tin Cha đi, Consolata.

Các linh hồn phải sa Hỏa ngục chỉ là những linh hồn thực sự muốn vào đó mà thôi (into hell go only those who really wish to go there). Vì Không ai có thể cướp các linh hồn khỏi tay Cha.

Vì có tự do, linh hồn có thể chạy thoát khỏi Cha, có thể phản bội Cha, có thể từ chối Cha, bằng ý muốn riêng của mình, để chạy đến với Satan.

Ôi, thay vì đả thương Trái Tim Cha bằng những bất tín, con có thể nói thêm ít tư tưởng về Thiên đàng đang chờ con.

Cha đã không dựng nên con để vào Hỏa ngục , nhưng dựng nên con để hưởng Thiên đàng, không là bạn với quỉ dữ, nhưng là an hưởng với Cha đời đời trong Tình yêu.

Consolata , con thấy đó:  Các linh hồn phải sa Hỏa ngục chỉ là những linh hồn thực sự muốn vào đó mà thôi.

Điên khùng chừng nào sự sợ hãi bị luận phạt.

Sau khi đổ hết Máu mình ra để cứu chuộc các linh hồn, sau khi bao bọc các linh hồn bằng hết ơn này tới ơn khác trong suốt cuộc sống của các con, thử hỏi Cha có cho phép Satan, kẻ thù xấu xa nhất của Cha, cướp giựt các linh hồn khỏi tay Cha vào phút cuối cùng cuộc đời nó không, ngay vào lúc Cha sắp lượm kết quả của công ơn Cứu chuộc, và do đó, vào lúc linh hồn này sắp được hưởng Tình yêu Cha muôn đời? Cha có thể làm như thế sao? Khi trong Phúc âm Cha đã hứa ban cho linh hồn sự sống đời đời và “không ai có thể giựt chúng khỏi tay Cha”.

Consolata, làm sao có thể tin rằng sự quái gở ấy sẽ xảy ra được? 

Con biết đó, hình phạt cuối cùng chỉ có thể tìm thấy nơi những linh hồn cố ý muốn đi vào Hỏa ngục , và đó là tại gan lì cố chấp từ chối lòng Thiên Chúa, vì không bao giờ Cha từ chối ban ơn tha thứ cho bất cứ linh hồn nào (anyone).

Cha ban ơn thông cảm vô cùng cho mọi người, vì Máu Cha đổ ra cho mọi người, cho mọi người.

Không, không phải vì vô số tội mà linh hồn bị kết án, vì Cha ban ơn tha thứ cho mọi kẻ có lòng ăn năn, nhưng bởi vì sự gan lì, cố chấp không muốn được tha thứ, nó muốn bị hư mất.

Trên thập giá, tên trộm Dismas, chỉ với một cử chỉ đức tin vào Cha, mà nhiều, nhiều tội lỗi của hắn, trong chốc lát đã được xóa bỏ, và quả thực, ngay hôm được tha thứ đó, hắn được vào Nước Thiên đàng và nên một vị Thánh.  Đó là sự chiến thắng của lòng Thương xót và lòng Tin cậy vào Cha .

Consolata, không đâu, Cha Cha đã ban cho Cha các linh hồn thì cao trọng hơn, quyền thế hơn tất cá các quỉ dữ. Không ai có thể cướp giựt chúng khỏi tay Cha Cha.

Ô, Consolata, hãy trông cậy nơi Cha, hãy tin tưởng nơi Cha.  Con phải tin tưởng mù quáng rằng: Cha sẽ hoàn tất những lời hứa trọng đại Cha đã hứa với con.  Cha nhân lành, nhân lành và Thương xót vô biên, vô lượng. ” Cha không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn hối cải và được sống” (Ez 33,11).

*“Hãy tôn vinh Thiên Chúa với lòng trông cậy của con, hãy thề hứa với Cha rằng:  nếu con luôn luôn tin cậy, thì dù linh hồn con có gặp bất cứ tình cảnh nào, Thiên đàng sẽ được mở ra cho con.

Được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn nào có lợi gì? Lấy gì đổi lại cho cân bằng? (Mt 16,26)

Lm. Đoàn Quang, CMC

Anh chi Thu & Mai goi

BÊN HỒ

 BÊN HỒ

Song Như.

Lung linh sợi nắng sân vườn
Tô son điểm phấn thêm hường đoá hoa
Mây che bóng đổ nhạt nhoà
Gió lay nhè nhẹ loà xoà áo bay
Cỏ xanh nắm lấy bàn tay
Len vào tâm tưởng thoáng say tấc lòng
Nghe như trỗi nhạc bềnh bồng
Nghe như tình khúc mênh mông lối vào
Sơn ca ríu rít trên cao
Thi nhân tỉnh mộng nôn nao gọi mời
Về đây dạo bước rong chơi
Nhìn mây ngắm nước nhìn đời để yêu…

Liverpool.7-1-2016
Song Như.

BIEN HO

MẸ THIÊN CHÚA MẸ NHÂN LOẠI

MẸ THIÊN CHÚA MẸ NHÂN LOẠI

Tuyết Mai

Chúng ta con cái dưới trần cộng lại cũng không sao tả hết sự thánh thiện, tốt lành và sáng ngời của Mẹ Maria nhất là tình yêu thương Mẹ dành cho con cái của Mẹ thì luôn bao la diệu vợi.

Thiên Chúa tác tạo ra Mẹ cách riêng rất đặc biệt là Mẹ vô nhiễm nguyên tội, tuyệt hảo cùng tuyệt vời rất xứng đáng để làm Mẹ Thiên Chúa nên Người rất yêu thương, trân quý, chìu chuộng và rất nâng niu có nghĩa không gì Mẹ khẩn cầu mà Thiên Chúa làm ngơ cho được.   Cũng do đó mà Mẹ Maria của chúng ta Mẹ rất nhọc lòng và đau khổ với đàn con hư hỏng tội lỗi của Mẹ.

Chớ thì con cái của Mẹ dưới trần có phải đang chém giết lẫn nhau đấy không?.   Chớ thì bao nhiêu thai nhi hằng năm cứ bị cha mẹ chúng giết chết mà ngay cả một tiếng khóc chào đời cũng không được nghe thấy đấy không?.   Rồi thì con người dần làm cho trái đất ngày một biến dạng, xấu đi vì thải ra vô số độc tố mà con người ngày càng bị nhiễm nhiều chứng bệnh lạ mà khoa học chưa kịp tìm ra được loại thuốc để trị liệu hay hủy diệt được những vi khuẩn ung thư rất mới mẻ này.

Nhưng dẫu sao thì ai ai cũng chỉ có một đời để sống và để chết, cái quan trọng là Linh Hồn sống đời của chúng ta kìa mới là đáng kể như ngay hiện nay có ai tưởng tượng được con số Linh Hồn hiện đang bị giam cầm nơi Luyện Ngục là bao nhiêu mà không là nhiều nhiều lắm, thưa có phải?.

Hầu hết người Kitô hữu chúng ta đều hiểu được rằng không gì quan trọng và thiết yếu cho bằng là có được sự sống ở đời sau và là đến được một thế giới mới nơi không còn có Sinh, bệnh, lão, tử và càng không có những thân xác có giòi bọ hay vi khuẩn làm cho ta chết nữa được.

Ôi sung sướng là nhường bao khi tất cả chúng ta đều có được người Mẹ luôn luôn bảo bọc con cái của mình.   Do đó mà chúng ta rất cần tôn sùng và siêng năng chạy đến cùng Mẹ liên, để được Mẹ yêu thương gìn giữ xác hồn cho đến giờ lâm tử.   Nhưng cái khổ trong nhiều người chúng ta là hiện đang cố gắng để tích góp mà quên sống cuộc sống ngay lành.

Mà người thích tích góp của cải thì lại đi ngược với đường lối dạy dỗ của Thiên Chúa vì người khổ công tích góp của cải thường sống xa Chúa xa Mẹ, dị ứng với Giới Răn sống yêu thương của Thiên Chúa mà chúng quỷ dữ xui khiến cho chúng ta chọn cách sống ấy và chúng đã thành công!?.

Chúng ta là những con người vô cùng may mắn vì có được Mẹ Maria là Mẹ rất yêu dấu của chúng ta và vì Mẹ luôn làm phép lạ để nhắc nhở con cái Mẹ là Mẹ luôn có mặt và luôn ở gần bên nhất là những con cái siêng năng đọc kinh Mân Côi.   Càng đọc nhiều thì Mẹ càng biết con cái Mẹ hiện đang ở đâu, được Mẹ nối kết và đem chúng ta đến gần bên Thiên Chúa hơn.   Amen.

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

A very short introduction into the Vietnamese culture

 A very short introduction into the Vietnamese culture

By Doan Thanh Liem

*     *     *

In a narrowest sense, the culture of a people can be defined as the way this people live, grow, expand and survive from generation to generation throughout their long history. Thus we can say that their culture is the national patrimony that has been constantly accumulated since the foundation of the nation-state.

Even as a small country, Vietnam has started its history more than 4,000 years ago with its distinct language, laws, customs, traditions, and administration …Facing its giant neighbour China, Vietnam has acquired both positive and negative aspects of this “big brother’s” influence.

Although they suffered almost a thousand years of Chinese domination, Vietnamese people have stubbornly succeeded in preserving their own national identity and sovereignty, no less than have the Japanese and the Koreans, both being also “little brothers” to the Chinese. One of the most fundamental notions of their history is their survival as a proud people that have not been absorbed or assimilated into the Chinese nation. And their most revered heroes are those who fought ferociously and sucessfully against the invasion from the north, i.e China. This collective pride has been a constant factor that miraculously helps to galvanize the nation against whatever menace from foreign powers such as China, France or even America.

Looking into other socio-cultural aspects, one can easily discern out the enormous difference between the Chinese and the Vietnamese. Such as the language, there is for example the purely Vietnamese side by side with the Sino-Vietnamese words with totally different pronunciation and writing ways, so that the Chinese can hardly understand what the Vietnamese say and vice versa. This distinction is also significantly seen in other areas like philosophy, literature, arts, music.

Thanks to its geographical position, Vietnam also has had a long time relation with the countries to the west such as Thailand, India and also particularly Europe since the XVI century. This kind of relation has been a counterbalance to the dominating influence from China in the north and had a diversifying effect in the overall heritage of the country.We may note that the romanisation of the Vietnamese language initiated by Catholic priests from Europe, especially from Portugal and Spain in the late 1500s, has been a striking boost to the modernization of the country.

Since the mid-XIX century, the French occupation of the country, like the Chinese one earlier, has had both positive and negative influence in the cultural life of Vietnam. Later, it was the Japanese rule during the second world war and the American presence since the 1950s that brought about determiningly drastic changes in Vietnamese society and culture.

Since 1954, when Vietnam was divided into two regions, the north affiliated with the Soviet bloc, and the south aligned with western powers, the country has undergone profound change not only in political terms, but also in socio-cultural sphere as well. The civil war started early in the 1960s and ended in 1975 with the communist army from the north winning over the antagonist southern forces which were mainly supported by the US. This military victory has resulted in placing the southern part, usually known as “ The Republic of South Vietnam “ strictly under one unique communist administration. This “involuntary unification of the country” continued to have a lasting and devastating effect on the country, materially as well as morally and spiritually.

Since the collapse of the Berlin wall in 1989 and then the liquidation of the Soviet regime in Eastern Europe (and especially Russia), Vietnam has been undergoing a tremendous change in its economic “open door policy”, which is officially labeled by the leaders as “ a market economy with socialist orientation”. But unfortunately, the governing communist party still strictly adhered to the Chinese model of “totalitarian communist dictatorship”, and therefore mercilessly exercices severe restrictions on the social, political, cultural and religious life of the people. Numerous democracy and human rights activists have been constantly harassed and arrested. And there are evidently no basic freedoms for the people as a whole../

Virginia, May 2010

Doan Thanh Liem