Bạn Là Người Có Phước

Tui nhớ có một người bạn thường hay khuyên rằng hễ mỗi khi giận hờn ai hay có chuyện gì bực mình thì nên đi một vòng trong nghĩa trang. Bạn sẽ cảm thấy dễ dàng nguôi ngoai….

VTKhanh

Bạn Là Người Có Phước        

Nếu bạn thức dậy sáng nay vẫn có nhiều sức khỏe hơn bệnh tật, được sống tự do… không phải nằm trong phòng cấp cứu bệnh viện… thì bạn đang may mắn hơn hằng triệu người sắp chết tuần này …

Người ta hay coi thường những gì mình đang có!

Chỉ khi nào mất đi, mới hiểu và… ân hận… muộn màng!

Nếu bạn chưa từng cảm nhận sự nguy hiểm trong chiến trường, sự cô đơn trong ngục thất, sự đau đớn khi bị hành hình, cảnh nhục nhã, trốn tránh, sự đói ăn khát uống, cảnh sống lang thang vô gia cư…sống không biết ngày mai sẽ ra sao… thì bạn đã hạnh phúc hơn mấy trăm triệu người trên thế giới …

Nếu bạn được đi du lịch mà không sợ bị làm khó dễ, bạn may mắn hơn đa số trong khoảng gần 3 tỷ người trên thế giới

Nếu bạn có thức ăn trong tủ lạnh, có áo che thân, có nơi cư ngụ và có nơi để gối đầu khi ngủ, không phải lo lắng quá nhiều về ngày mai …,
bạn đã giàu có hơn 75% người trên thế giới này.

Nếu bạn có tiền trong nhà, ngân hàng, trong ví, và có bạc lẻ đâu đó… thì bạn là một trong số 8% người giàu có hơn rất nhiều người trên cả thế giới này.

Nếu bạn có thể ngẩng cao đầu, có thể mỉm cười và cảm thấy biết ơn cuộc đời…, bạn đã là người có hạnh phúc vì đa số chúng ta có thể cảm nhận điều đó, nhưng lại không chịu làm điều này. Quá nhiều người tham lam, tự làm khổ mình…

Nếu bạn có thể nắm tay người nào đó ôm choàng họ, hoặc vỗ về an ủi, động viên họ bằng hình thức nào đó … từ tinh thần tới vật chất…, bạn đã là người có hạnh phúc vì bạn có thể hàn gắn vết thương lòng, làm vợi đi nỗi buồn của nhân loại!

Hàng ngày, ngay lúc này đây, đang có biết bao người đau khổ vì đủ mọi bất hạnh, từ bệnh tật đến chiến tranh, tù đầy, các hoàn cảnh cơ cực… hàng nghìn trẻ em chết đói ở Châu Phi mỗi ngày…

S.T.

Nguyễn Phú Trọng ca ngợi độc tài kiểu CSVN là ‘dân chủ’

Nguyễn Phú Trọng ca ngợi độc tài kiểu CSVN là ‘dân chủ’
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV)Trình diện Bộ Chính Trị với ban bệ trung ương của đảng CSVN trong cuộc họp báo, tổng bí thư tái cử của đảng ca ngợi chế độ độc tài, đàn áp nhân quyền của ông là “dân chủ.”

Kết thúc đại hội đảng CSVN 5 năm một lần vừa xong, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng được “tín nhiệm” ở lại nhiệm kỳ thứ hai, sau khi gạt được đối thủ Nguyễn Tấn Dũng qua các cuộc đấu đá ngoắt ngoéo với một Bộ Chính Trị mới nhiều hơn khóa trước ba người và phần lớn là người miền Bắc như ông.


Nhìn vào tấm hình và vị trí đứng chụp hình (vai vế to đứng trước) của 200 đảng viên đảng CSVN đứng ở hàng đầu của chế độ Hà Nội là người ta biết “tứ trụ” mới của triều đình đỏ gồm những ai. Từ phải sang trái là Nguyễn Thị Kim Ngân, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Phú Trọng, Trần Ðại Quang. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Bộ Chính Trị khóa mới của đảng CSVN gồm 19 người trong đó có 12 người được đôn lên từ trung ương đảng. Ông Nguyễn Phú Trọng, 72 tuổi, là người quá tuổi nghỉ hưu nhiều tuổi nhất nhưng lại đặc biệt ngồi lại trong khi chín người quá tuổi khác bị “xin rút.”

Bộ Chính Trị khóa mới có tới 13 người gốc miền Bắc, miền Nam chỉ có 4 người và miền Trung chỉ có 2 người. Trong số này có tới 3 người gốc tướng công an là Trần Ðại Quang, Tô Lâm và Trương Hòa Bình. Phe quân đội chỉ có Tướng Ngô Xuân Lịch, chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị của quân đội nằm trong Bộ Chính Trị. Giới đấu tranh dân chủ ở trong nước bình luận rằng Bộ Chính Trị mới này sẽ chỉ lo bảo vệ đảng chứ không bảo vệ dân.

Nói với báo giới ông Nguyễn Phú Trọng khoe rằng ông “bất ngờ vì được đại hội tín nhiệm” ngồi lại trên cái ghế chóp bu đảng. Dịp này, ông cả quyết rằng cái đảng của ông sẽ vẫn “vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…”

Nhưng tại cuộc họp báo, ông nói “kết quả bầu cử vừa rồi bảo đảm 100% là hoàn toàn đúng với công tác nhân sự” mà phe nhóm của ông đã mưu toan từ lâu và đạo diễn để không bị đối thủ lật kèo, cho người ta hiểu ông Nguyễn Phú Trọng “nói vậy mà không phải vậy.” Ông còn khoe rằng cuộc tranh giành quyền lực trong đại hội đảng “Dân chủ đến thế là cùng – nhiều đại biểu tâm sự như thế. Ðại hội lần này là đại hội biểu hiện dân chủ, đoàn kết, kỷ cương, trí tuệ.”

Ngay từ trước khi có đại hội đảng CSVN, dư luận đã biết trước là nếu đảng Cộng Sản Việt Nam còn nắm chặt được quyền lực, thì nước Việt Nam sẽ tiếp tục tụt hậu so với các nước trong khu vực, đảng viên có chức có quyền sẽ mỗi ngày một giàu có hơn trong khi đại đa số dân chúng vẫn đói khổ với tương lai bất định.

Tại hội trường của đại hội đảng CSVN treo khẩu hiệu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,” một nhà báo hỏi ông Việt Nam sẽ có “dân chủ hơn không,” thì ông Nguyễn Phú Trọng đã trả lời là “vẫn phải có kỷ cương. Ðất nước không có kỷ cương thì rối loạn, mất ổn định.”

Diễn giải lời tuyên bố của ông Nguyễn Phú Trọng thì những ai đòi hỏi nhân quyền, tự do báo chí, tự do hội họp biểu tình, tự do tôn giáo tín ngưỡng sẽ tiếp tục bị đàn áp, tù đày như đã từng diễn ra trong những năm qua.

Các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế thống kê thấy trong năm 2015, chế độ Hà Nội đã bỏ tù ít nhất 100 người chỉ vì người ta sử dụng các quyền tự do căn bản của công dân mà nhà cầm quyền CSVN đã viết trên Hiến Pháp cũng như ký vào các công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Giữa tháng 12, 2015, nhạc sĩ Việt Khang vừa mãn hạn tù thì chế độ Hà Nội đã bắt ngay Luật Sư Nguyễn Văn Ðài và chị Lê Thu Hà, thành viên của Hội Anh Em Dân Chủ.

Giới phân tích thời sự quốc tế tin rằng chế độ Hà Nội sẽ tiếp tục đu dây giữa Bắc Kinh và Hoa Thịnh Ðốn dù ông Nguyễn Phú Trọng bị coi là kẻ bảo thủ và nghiêng về phía Bắc Kinh hơn. Tuy nhiên, quyết định đối ngoại của CSVN không hoàn toàn nằm trong tay của ông mà là đánh giá chung và quyết định chung của Bộ Chính Trị.

Hay tin ông Nguyễn Phú Trọng vẫn giữ được ghế tổng bí thư, Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã gửi ngay điện văn chúc mừng. Tờ Hoàn Cầu Thời Báo (cái loa tuyên truyền hay chửi bới Việt Nam) bình luận rằng việc ông này tái cử “gửi một tín hiệu tích cực” cho Bắc Kinh cho dù Việt Nam tiếp tục đu dây giữa hai trung tâm quyền lực tư bản và độc tài lớn nhất thế giới.

Giới tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ ở trong nước hiển nhiên đều thất vọng và cũng không ngạc nhiên gì. Facebooker Ta Hoang Quoc An viết bình luận trên mạng xã hội, “Ðất nước lại được ông già mù dẫn dắt đi tìm cái xã hội chết tiệt kia mà chính ông cũng chưa chắc đến cuối thế kỷ này đạt tới chưa. Không hổ danh VN chỉ thích lùi không thích tiến.”

Còn ông Ðặng Xương Hùng, một cựu viên chức ngoại giao CSVN hiện đang tị nạn chính trị tại Thụy Sĩ viết bình luận trên trang facebook của ông về kết quả đấu đá tại đại hội đảng CSVN vừa kết thúc: “Ðập chết con chuột đầu đàn – Bình không bị vỡ.”

Ông giải thích: “Chung quy đại hội 12 chỉ có hai việc chủ yếu: loại Nguyễn Tấn Dũng và khẳng định kiên trì chủ nghĩa Mác-Lê nin. Hai việc đều đã xong. Có thể coi đây là thắng lợi khá nhọc nhằn của ông Trọng, mà trong cả nhiệm kỳ 5 năm, ông cố loay hoay làm mà không được việc. Ông Trọng nổi tiếng với những phát biểu rất “ngộ,” mà tiêu biểu nhất hai câu rất “thật lòng,” toát lên phần nào con người ông. Ðó là, “đánh chuột đừng để vỡ bình – đến cuối thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.” (TN)

Bèo thay nghề thủ tướng và cao quý thay nghề bán vé số dạo

Bèo thay nghề thủ tướng và cao quý thay nghề bán vé số dạo

Huỳnh Anh Tú (Danlambao) – “Ở An Giang, có những người tàn tật, đi bán vé số bằng xe lăn có thể bán mỗi ngày 3000 tờ”. Đây là khẳng định của ông Hồ Kinh Kha, giám đốc sở tài chính tỉnh Tiền Giang (1). Theo tính toán, tiền lãi cho một tờ vé số là 1.100đ. Nếu mỗi ngày người tàn tật bán được 3000 tờ như ông Kha nói thì thu nhập hàng tháng của họ sẽ xấp xỉ 100.000.000 đ (một trăm triệu đồng)!!!

Hãy nhìn vào hoàn cảnh thực tế của những người tàn tật bán vé số. Chắc hẳn ai trong số chúng ta cũng ít nhất một lần trong đời, hoặc hàng ngày nhìn thấy người bán vé số dạo trên đường. Đa số họ là những người già, người vô gia cư, những em bé mồ côi, những người quá nghèo khổ và những người tàn tật. Nhiều người lê lết với bộ quần áo rách rưới, có người chống nạng hay khá hơn sắm được chiếc xe lăn làm phương tiện. Họ lang thang khắp nẻo đường- góc phố, đến từng công viên- quán xá để cầu cạnh, mời mọc người đi đường mua cho một vài tấm.

Nghề bán vé số dạo may lắm chỉ đủ nuôi sống bản thân. Mỗi khi tiết trời xấu, mưa bão triền miên họ phải giảm khẩu phần ăn trong ngày, thậm chí còn nhịn đói vì ế hàng. Đã là bán vé số dạo thì tất nhiên phải đi bộ (đối với người khỏe mạnh) hoặc ngồi xe lăn, chống nạng, lê lết trên đường (đối với người tàn tật). Rồi mời chào, chờ đợi người mua. Giả sử một người đi bán từ 6 giờ sáng đến 10 giờ đêm, giỏi lắm cũng đi được hết vài con phố, mời được vài chục, hay cứ cho là vài trăm người. Trong những người khách, có phải ai cũng mua đâu. Mà nếu mua, cũng chỉ được một vài tấm vé. Mua vì lòng trắc ẩn, vì thương cảm, cũng có khi mua để người bán đi nhanh cho khỏi phiền.

Họ, những người tàn tật bán vé số thậm chí luôn phải đối mặt với nạn cướp giật, bị bắt nạt. Và không ít người trong số họ bị người đời coi thường hoặc thương hại. Chả lẽ, mỗi tháng kiếm cả trăm triệu lại chọn một cuộc sống lầm lũi, thiếu thốn, cực thân và chấp nhận sự thương hại hoặc thiếu tôn trọng của người đời? Hay là ông Kha có ý vu khống họ “giả vờ”, là “diễn trò” để lừa thiên hạ?

Ông Giám đốc Sở tài chính Tiền Giang còn khẳng định “đối tượng mua vé số chủ yếu là người có tiền, còn người nghèo chỉ mua 1-2 tờ, số lượng không đáng kể.” Không biết ông căn cứ vào đâu để khẳng định những gì ông đã nói. Nhưng mỗi ngày, một người tàn tật ngồi trên xe lăn bán được 3 ngàn tờ vé số và đều đặn ngày nào cũng thế, là điều không thực tế.

Nếu như lời khẳng định của ông Kha, giám đốc sở tài chính tỉnh Tiền Giang là có cơ sở, thì không riêng người tàn tật mà hầu hết những người bán vé số dạo, từ Nam chí Bắc, đều là những nhà tỉ phú. Các cơ sở kinh doanh sản xuất trong nước có lẽ đều đóng cửa vì thiếu vắng công nhân.

Theo lời ông, chắc chắn người người, nhà nhà trên khắp mọi miền đất nước đều đổ xô đi bán vé số với mức thu nhập “siêu khủng”. Tất nhiên, so với lợi nhuận bất chính thu được từ tham nhũng thì mức thu nhập “siêu khủng” này còn thua xa. Và biết đâu nạn buôn bán ma túy, buôn bán trẻ em và nhiều tệ nạn xã hội khác cũng được đẩy lùi hoặc hạn chế vì giới tội phạm, giới làm ăn bất chính đã chuyển ngành sang bán vé số dạo.

Hãy làm một phép so sánh nho nhỏ giữa nghề bán vé số dạo của người tàn tật với nghề làm thủ tướng ở Việt Nam.

Theo, đại diện Văn phòng Chính phủ cho biết thì lương của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có hệ số 12,5. Cộng tất cả các khoản phụ cấp chức vụ, và trừ tiền đóng Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tổng số lương Thủ tướng nhận mỗi tháng chỉ hơn 17 triệu đồng. (2)

Thì ra mức thu nhập của ông thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam nó “bèo” đến thế sao? Và cũng lạ, thu nhập của ông chỉ xấp xỉ 1/6 mức thu nhập của một người tàn tật làm nghề bán vé số dạo, nhưng con cái ông vẫn đi du học ở những nước tiên tiến nhất thế giới. Con gái ông Dũng, dù còn rất trẻ đã nắm vị trí cao nhất ở những công ty, tập đoàn kinh tế thuộc các lĩnh vực ngân hàng, bất động sản, chứng khoán và đầu tư tài chính. Hai người con trai ông Dũng sau khi về nước đều giữ vị trí cao trong bộ máy cầm quyền. Và việc ông được cho là chủ nhân của những tập đoàn kinh tế, của những khối tài sản khổng lồ không phải là không có cơ sở.

Thế mới hay, bèo thay nghề thủ tướng và cao quý thay nghề bán vé số dạo, ông Kha nhỉ?

Huỳnh Anh Tú

danlambaovn.blogspot.com

Tại sao lại là ông Trọng?

Tại sao lại là ông Trọng?

Ông Nguyễn Phú Trọng, 72 tuổi, thuộc phe thân Bắc Kinh, đã giành được chức vụ lãnh đạo một lần nữa sau khi đánh bại Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Ông Nguyễn Phú Trọng, 72 tuổi, thuộc phe thân Bắc Kinh, đã giành được chức vụ lãnh đạo một lần nữa sau khi đánh bại Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Nguyễn Hưng Quốc

27.01.2016

Thế là cuộc tranh giành quyền lực trong giới lãnh đạo chóp bu tại Việt Nam đã kết thúc: Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng và Nguyễn Tấn Dũng về hưu, Nguyễn Phú Trọng được lưu nhiệm để làm Tổng Bí thư thêm một nhiệm kỳ hoặc nửa nhiệm kỳ nữa với lý do là để giữ sự “ổn định” trong guồng máy lãnh đạo đảng.

Điều này làm giới quan sát Việt Nam cũng như quốc tế khá ngạc nhiên. Từ một, hai năm gần đây, hầu như người nào cũng tiên đoán chiếc ghế tổng bí thư ấy sẽ lọt vào tay của Nguyễn Tấn Dũng, người được cho là có thế lực nhất trong Ban Chấp hành Trung ương đảng.

Không những ngạc nhiên, nhiều người còn luyến tiếc. Trên các diễn đàn mạng, số lượng những người thiên vị Nguyễn Tấn Dũng nhiều hơn hẳn những người khác. Người ta ca ngợi Nguyễn Tấn Dũng là thực tế, thực dụng, cấp tiến, thân Mỹ và Tây phương, có tính cách mạnh mẽ, do đó, có hy vọng thay đổi tình hình chính trị tại Việt Nam. Nhiều người còn vẽ lên một bức tranh xán lạn: Nguyễn Tấn Dũng sẽ hợp nhất chiếc ghế tổng bí thư với chiếc ghế chủ tịch nước để tạo nên một guồng máy lãnh đạo giống như Trung Quốc, hoặc lạc quan hơn hơn, giống hình thức tổng thống chế ở Tây phương.

Với ý nghĩ như thế, người ta đâm ra thất vọng và hụt hẫng khi biết người chiến thắng trong cuộc giành giật chiếc ghế tổng bí thư lại là Nguyễn Phú Trọng.

Xin lưu ý là từ mấy năm nay trong những trận đối đầu công khai giữa Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Phú Trọng, hầu như lúc nào Nguyễn Tấn Dũng cũng thắng. Năm 2012, trong Hội nghị thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương đảng đã bác bỏ đề nghị kỷ luật Nguyễn Tấn Dũng của Nguyễn Phú Trọng. Năm 2013, trong Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương lại bác bỏ đề nghị đưa Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào Bộ Chính trị của Nguyễn Phú Trọng; ngược lại, hai người được bầu, Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Thị Kim Ngân được cho là những người thân cận với Nguyễn Tấn Dũng.

Vậy mà, hiện nay, trong cuộc tranh chấp quan trọng và quyết định nhất đối với sự nghiệp của Nguyễn Tấn Dũng, ông lại bị Nguyễn Phú Trọng đánh bại.

Một câu hỏi không thể không được đặt ra: Tại sao Bộ Chính trị cũng như Ban Chấp hành Trung ương đảng lại chọn lựa Nguyễn Phú Trọng thay vì Nguyễn Tấn Dũng?

Ai cũng biết Nguyễn Phú Trọng là người bảo thủ, giáo điều và tuyệt đối không sắc sảo. Sự thiếu sắc sảo ấy khiến Nguyễn Phú Trọng, một mặt, sau 5 năm nắm giữ chức vụ cao nhất trong đảng, chưa bao giờ có một chính sách, hay thậm chí, một câu nói nào để lại ấn tượng sâu trong lòng quần chúng; mặt khác, bị dân chúng khinh bỉ, hoặc, nhẹ nhàng hơn, coi thường, xem là “lú”. Tính chất bảo thủ và giáo điều làm cho Nguyễn Phú Trọng, một mặt, xa rời thực tế và mù loà trước những xu thế vận động của lịch sử thế giới; mặt khác, ít nhiều ngả về phía Trung Quốc với cái ảo tưởng là cả hai đều có một lý tưởng chung: chủ nghĩa cộng sản.

Chính ba đặc điểm, bảo thủ, giáo điều và thiếu sắc sảo ấy của Nguyễn Phú Trọng làm cho dân chúng nói chung dễ có khuynh hướng ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng. Người ta thừa biết Nguyễn Tấn Dũng tham nhũng, lợi dụng chức quyền để đưa con cái vào guồng máy cai trị cũng như làm giàu một cách bất thường. Tuy nhiên, người ta vẫn tin, với Nguyễn Tấn Dũng, đất nước còn có chút hy vọng thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc. Với Nguyễn Phú Trọng thì không. Tuyệt đối không.

Vậy tại sao Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương đảng lại chọn Nguyễn Phú Trọng?

Lý do chính, theo tôi, là: Người ta sợ sự sắc sảo. Những người thông minh sắc sảo bao giờ cũng có những phản ứng và những chính sách bất khả đoán đối với những người tầm thường. Điều này giải thích tại sao trong mấy kỳ đại hội đảng vừa qua, bao giờ người ta cũng bầu những người bình bình nhàn nhạt lên chiếc ghế tổng bí thư. Hết Đỗ Mười (1991-97) đến Lê Khả Phiêu (1997-2001), Nông Đức Mạnh (2001-2011) và từ Đại hội XI đến nay là Nguyễn Phú Trọng.

Tâm lý sợ sự sắc sảo ấy gắn liền với một tâm lý khác: sợ sự thay đổi. Người ta biết chắc Nguyễn Phú Trọng không phải là một lãnh tụ tài giỏi nhưng ít nhất dưới sự lãnh đạo của ông sẽ không có gì thay đổi cả. Không thay đổi trong thể chế chính trị. Không thay đổi trong quan hệ với Trung Quốc. Và, đặc biệt, quan trọng nhất, không có gì thay đổi trong bộ máy quyền lực của đảng cũng như những quyền lợi mà các uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương đang có.

Tâm lý này phù hợp với một trong những mục tiêu chính Ban Chấp hành Trung ương đảng nêu ra trong nhiệm kỳ tới: “giữ vững môi trường hoà bình, ổn định”. Nói đến “hoà bình”, người ta chủ yếu nhắm đến quan hệ với Trung Quốc; nói đến “ổn định”, người ta nhắm đến sinh hoạt chính trị đối nội: không có thay đổi gì mới trong cơ chế cũng như trong cấu trúc quyền lực trong nội bộ đảng.

Tâm lý sợ thay đổi ấy đi ngược hẳn lại xu hướng chung của lịch sử và niềm tin chung của mọi người. Việt Nam đang là nước yếu, yếu về cả kinh tế lẫn chính trị; điều Việt Nam cần nhất, do đó, không phải là giữ nguyên trạng mà phải thay đổi để tiến bộ. Sự quyết định của Ban Chấp hành Trung ương, khi coi sự “ổn định” là tiêu chí quan trọng nhất để chọn lựa người lãnh đạo là một quyết định hoàn toàn sai lầm. Năm ngoái, bà Phạm Chi Lan, một chuyên gia kinh tế tại Việt Nam, có một nhận xét rất hay về tình trạng Việt Nam hiện nay: “Trên thế giới chia ra gồm nước phát triển, nước đang phát triển, nước chậm phát triển nhưng Việt Nam có lẽ là mô hình đặc biệt nhất. Đó là nước… không chịu phát triển!”

Đất nước không chịu phát triển. Chỉ có quyền thế và quyền lợi của giới lãnh đạo là…phát triển vượt bậc.

ỨNG NGHIỆM LỜI KINH THÁNH

ỨNG NGHIỆM LỜI KINH THÁNH

Noel Quesson

Người bắt đầu nói với họ: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”

Đấy là kết luận bài giảng đầu tiên của Đức Giêsu trong hội trường làng quê Nagiarét: Qua bài đọc của ngôn sứ Isaia, Đức Giêsu vừa đưa ra một chương trình hành động: Rao giảng Tin Mừng cho Người nghèo hèn, giải phóng những tù nhân, đem lại sự giải thoát cho những người bị áp bức, loan báo năm hồng ân của Chúa.  Lời chú giải duy nhất của Đức Giêsu nói rằng!  Hôm nay, mọi sự ấy đã ứng nghiệm.  Trước sự ngạc nhiên của cử tọa, Người khẳng định rằng bản thân Người đã đáp lại trọn vẹn mọi sự chờ đợi của Israel.  Đức Giêsu kéo Lời Chúa từ “quá khứ” xa xôi nơi người ta muốn luôn luôn giam hãm Lời Chúa.  Người yêu cầu nhân loại chớ đặt Thiên Chúa “trong quá khứ” hoặc “trong tương lai”: phải là sự lan tỏa của Thiên Chúa, dự án của Thiên Chúa, trong đời sống hàng ngày của chúng ta… Hôm nay!

Và hôm nay, chẳng phải chúng ta cũng đã cố gắng kéo lui Tin Mừng trở về phía sau, vào hai mươi thế kỷ trước đây đó sao?  Vậy còn những người nghèo hèn nào, những tù nhân và người bị áp bức nào hôm nay ở chung quanh chúng ta?  Chúng ta sẽ mang đến cho họ Tin Mừng nào?

Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người

Tôi chiêm ngưỡng “miệng” Đức Giêsu mà Luca là người duy nhất thường nói với chúng ta (Lc 4, 22; 11, 54; 22, 71). Những “lời ân sủng” từ miệng Đức Giêsu mà ra.  Như thế, sự rao giảng của Đức Giêsu đã bắt đầu với việc khẳng định rằng thời kỳ mà Thiên Chúa ban ơn “không mất tiền” và ban sự tha thứ đã đến và đó là hôm nay: ý nghĩa sít sao của từ “giải phóng” trả lại tự do, hay “giải thoát” (“aphésis” trong tiếng Hy Lạp) là thế.  Đức Giêsu đến để mang lại một “sứ điệp của ân sủng”, một sự ban ơn, một quà tặng vô giá mà không ai xứng đáng được.  Chúng ta phải ghi nhận rằng toàn bộ thần học của thánh Phaolô về “ân sủng” trong thư gởi tín hữu Rôma đã được viết ra khi Luca soạn thảo Tin Mừng của Người.  “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5, 20).

Luca đã là một môn đệ và một người bạn đồng hành của Phaolô.  Không giống như Máccô (6, 1-6), trước tiên Luca ghi nhận rằng việc rao giảng của Đức Giêsu được đón nhận: “Mọi người đều tán thành và thán phục?”  Những người dân ở Nagiarét không xấu xa hơn ở những nơi khác: Vậy thì, tại sao họ sắp sửa trở mặt?

Họ bảo nhau: “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?

Luca biết rất rõ đó là một biểu lộ sự ngu dốt của họ về nguồn gốc thật sự của Đức Giêsu như ngài vừa viết ra trên giấy trắng mực đen: “Thiên hạ vẫn coi Người là con ông Giuse” (Lc 3, 23).  Vậy thì, người ta hài lòng với “sứ điệp của Đức Giêsu, nhưng Người ta không muốn nhận sứ điệp ấy từ Người: Đó là cớ vấp phạm rất thông thường của nhân loại!  Dẫu sao, đó chỉ là “con ông Giuse.”  Giáo Hội cũng luôn gây ra cùng một cớ vấp phạm.  Người ta sẵn sàng tiếp đón sứ điệp của Giáo Hội, nhưng người ta không chấp nhận sự yếu đuối của con người trong Giáo Hội.

Giáo Hội cơ cấu giống như phần lớn các hiệp hội, với tài chính của nó, với sự nặng nề trong việc điều hành, nhưng sơ cứng của sức nặng quá khứ trong huyết quản, những tội lỗi của cách thành viên, chứng nhận định thiếu sót của một số viên chức, sự sợ hãi canh tân, những mâu thuẫn giữa “nói” và “làm”.  Người ta không bao giờ nhận xét hết những khía cạnh “quá” con người của Giáo Hội.  Như thế, những người dân ở Nagiarét bị kẹt cứng trong định kiến “con ông Giuse.”

Người nói với họ: “Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ: Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình!  Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Ca-phác-na-um, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào!

Đức Giêsu không tìm cách làm giảm nhẹ cuộc xung đột mà Người đoán trước: Chính Người đã tấn công. “Vậy ông hãy làm cho chúng tôi những phép lạ như ông đã làm ở những miền lân cận!”  Người ta không ngừng đặt “cơn cám dỗ” lớn ấy dưới chân Đức Giêsu.  Đó là cơn cám dỗ của satan (Lc 4, l-14).  Người ta đòi hỏi Đức Giêsu những “dấu chỉ từ trời xuống” (Lc 11, 16).

Một trong những cách chối bỏ Thiên Chúa là yêu cầu Chúa làm các phép lạ.  Chúng ta tiếp tục có thái độ của người dân ở Nagiarét.  Chúng ta muốn có một Thiên Chúa tỏ mình ra thêm chút nữa, một Thiên Chúa giải quyết những vấn đề của chúng ta thay cho chúng ta.  Vả lại Thiên Chúa không thích vai trò mà chúng ta muốn ép Người làm.  Thiên Chúa không thích điều ngoại lệ, kỳ diệu và ly kỳ.  Khi Người chữa lành một người mù không phải để làm cho chúng ta kinh ngạc mà để ám chỉ cho chúng ta biết rằng Người muốn chữa sự mù lòa vốn có của tất cả chúng ta.  Khi Người chữa lành một người bị liệt nằm trên cáng, vì Người mong muốn chữa lành mọi người chúng ta khỏi một bệnh liệt còn nặng hơn nhiều là tội lỗi của chúng ta.  Điều đó được nói rõ ràng trong Tin Mừng (Lc 5, 17-26).

“Vậy ông cũng hãy làm tại đây một phép lạ cho chúng tôi.”  Chúng ta cũng thế, có lúc chúng ta tưởng rằng mình phục vụ Thiên Chúa theo cách đó.  Vả lại, muốn xếp đặt Thiên Chúa “để phục vụ chúng ta” chính là chối bỏ Người.  Tối hậu thư bi đát.  Tối hậu thư buồn cười.  Con người tìm đến trước mặt Chúa và yêu cầu Người “làm” điều mà mình mong mỏi, điều phục vụ cho mình?  Thách thức Thiên Chúa?  Giảm lược Thiên Chúa để Người chỉ còn là một “động cơ phụ gỡ rối cho chúng ta khi cái xe: không còn chạy được nữa.  Ôi! Lạy Chúa, con nhận ra mình ở trong số những người đồng hương của Chúa ở Nagiarét!  Xin Chúa giúp con trở lại với lòng con để bắt đầu phục vụ Chúa, thay vì đòi Chúa phục vụ con.  Thay vì lúc nào cũng nói “nguyện ý con được thể hiện bởi Chúa, con phải nói trong chân lý rằng nguyện ý Cha được thể hiện bởi con.”

Người nói tiếp: “Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình

Không, người ta chẳng chịu nghe các ngôn sứ.

Làm ngôn sứ chẳng dễ chịu chút nào, phiền toái là đằng khác!  Nghĩa là làm “người phát ngôn” của Thiên Chúa.  Giêrêmia trong bài đọc một của chủ nhật này nói với chúng ta điều đó một cách thật đau đớn.  Thiên Chúa không phải lúc nào cũng nói những lời dễ nghe.  Vì thế nhiều ngôn sứ đã phải chết: “Giêrusalem! Ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi!” (Mt 23, 37).  Đấy là một chủ đề của Luca (6, 23; 11, 47-50; 13, 33-34; Cv 7, 52).

Còn chúng ta, trong thế giới mà đa số là vô tín và duy vật, nhưng chúng ta có phải là những ngôn sứ không?  Không phải trong những lúc đặc biệt mà trong đời thường mỗi ngày; nắm chắc “chính nghĩa của Thiên Chúa”, nắm chắc lời “vì Chúa” (từ ngôn sứ trong tiếng Hy Lạp do chữ “pro-phèmi” có nghĩa là “tôi nói vì”).

Thật vậy, tôi nói cho các ông hay: vào thời ông Êlia, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì bà goá ở trong nước Israel; thế mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà goá thành Xarépta miền Xiđôn.

Luca, môn đệ của thánh Phaolô, tông đồ dân ngoại, là người duy nhất đưa ra sự so sánh này lấy ra từ Cựu ước để nhấn mạnh đến những ân huệ mà Thiên Chúa ban cho những người không phải là dân Do Thái.  Biến cố ở Nagiarét mang dáng dấp của một chủ đề thần học: ơn cứu độ không dành riêng cho một số người đặc quyền.  Thiên Chúa muốn cứu chuộc mọi người.  Thiên Chúa yêu thương dân ngoại.  Không có Đất Thánh, không có Dân được chọn.  Chúng ta sẽ lạm dụng ngôn ngữ mạc khải nếu chúng ta sử dụng những cách diễn tả của Kinh Thánh một cách cố chấp như thể những miền đất khác bên ngoài Israel là phàm tục, như thể các dân tộc khác bị loại trừ khỏi Giao ước Thiên Chúa không có biên giới!  Thiên Chúa còn bao la, cao cả hơn những chân trời nhỏ bé của bản thân chúng ta!  Người ta không thể giam hãm con ông Giuse trong cái “hố” ở Nagiarét của Người.  Thiên Chúa cao cả hơn Giáo Hội hữu hình.  Những người ngoài Kitô giáo không nằm bên ngoài ân sủng của Thiên Chúa.

Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Êlisa, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Israel, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ co ông Naaman, người xứ Xyri thôi

Trong sự so sánh giữa Israel và các dân ngoại, mọi ưu điểm thuộc về dân ngoại.  Khi nào có thể, Đức Giêsu đều thán phục đức tin của các dân ngoại, những người không phải là Do Thái, những người Samari dị giáo (Lc 9, 23.47; 10, 33; 17, 16).  Thật lạ lùng khi tôn giáo có thể làm sơ cứng lòng người.  Từ hai ngàn năm rồi Israel đã chờ đợi Đấng Mêsia, nhưng đức tin của họ bị sơ cứng.  Đó là lời cảnh báo cho tất cả những ai tưởng rằng mình thân thiết với những việc của Thiên Chúa, tưởng rằng mình được hưởng, một nền giáo dục Kitô giáo tốt đẹp, và việc thường xuyên tham dự các bí tích bảo đảm.  “Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Lc 7, 34).

Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ.  Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành – thành này được xây trên núi.  Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực

Đây là sự tiên báo số phận sau cùng của Đức Giêsu.  Người bị giết bên ngoài thành (Lc 20, 15; Cv 7, 57).  Chúng ta hẳn sẽ lầm khi vội vã tưởng rằng mình ở về phía những người lương thiện và được miễn trừ thái độ của những người đồng hương với Đức Giêsu.  Rất nhiều lần, chúng ta cũng “lôi” Đức Giêsu ra khỏi những quyết định của chúng ta, nhà chúng ta, nghề nghiệp chúng ta.  Ông không can dự gì ở nhà tôi!  Hỡi ngôn sứ, đi chỗ khác mà thuyết giáo.

Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi.

Những từ khước của tôi không thể ngăn Con Thiên Chúa theo đuổi kế hoạch của Người với những người khác.  Điều tệ hại là tôi không biết ngạc nhiên nhiều hơn!  Giữa những trào lưu của lịch sử, những từ khước của con người, Đức Giêsu tiếp tục “con đường của Người.”  Lạy Chúa, cám ơn Chúa!

Noel Quesson

Những điều không nên nói nếu không muốn có hệ quả xấu !


Có nhïng iÁu không nên nói, n¿u nói s½ khó tránh khÏi bË báo éng. (¢nh: Internet)
Những điều không nên nói nếu không muốn có hệ quả xấu !

Người xưa có câu: “Phúc thủy nan thu” (ý nói nước đã đổ đi thì khó hốt lại, gương vỡ thì khó lành). Lời nói giống như hắt bát nước, nước đã hắt đi thì không thể thu lại được, lời đã nói ra cũng khó thu hồi lại. Cho nên, một lời trước khi muốn nói ra không thể không thận trọng suy nghĩ.

Nói chuyện là một môn nghệ thuật, cho dù nói lời hay đi nữa cũng không thể muốn nói thì nói. Nói người này tốt nhưng lại ảnh hưởng không tốt đến người khác, như thế cũng không hẳn đã là thông minh. Nói lời không hay sẽ khiến người khác buồn rầu, chán nản thì càng không nên nói. Vậy những lời nào không nên nói? Hãy cùng xem nhé!

1. Không nên nói những lời chán nản, làm mất ý chí

Có những người rất hay nói những lời chán nản, lời làm nhụt ý chí, kỳ thực cuộc sống nên nhận được sự cổ vũ khích lệ của người khác, cho dù không có người động viên mình thì cũng phải tự động viên mình. Tự bản thân mình không cổ vũ, khích lệ chí hướng của mình, ngược lại còn thường xuyên nói những lời chán nản thì tự nhiên sẽ khiến mình đắm chìm trong tuyệt vọng. Khi con người đắm chìm trong tuyệt vọng, nhìn đâu đâu cũng không thấy có hy vọng có tương lai thì sẽ không còn quý trọng bản thân mình và họ dễ dàng bị rơi vào sa đọa mà hủy hoại cuộc sống của mình.

2. Không nên nói những lời tức giận

Con người trong lúc tức giận mà nói thì thường thiếu suy nghĩ nên sẽ dễ dàng làm tổn thương người khác, có khi làm tổn thương chính bản thân mình. Con người trong lúc bị khinh bỉ xúc phạm thì tốt nhất nên giữ vững tỉnh táo, đừng tùy tiện lên tiếng, bởi vì lời nói lúc nổi nóng sẽ rất khó nghe, thậm chí có thể khiến người khác ám ảnh cả đời mà không thể quên được. Đối với cha mẹ, thì lời nói trong lúc tức giận của con cái sẽ khiến họ rất đau lòng. Đối với con cái, trẻ nhỏ thì lời nói trong lúc bực tức của cha mẹ có thể khiến trẻ chán nản mà tìm đến con đường cùng.

3. Không nên nói những lời phàn nàn, oán trách

Con người khi không hài lòng, thường hay nói những lời phàn nàn, oán trách, oán hận cấp trên, oán trách bạn bè hay thậm chí oán hận cả người nhà. Nếu như bạn thường xuyên nói những lời phàn nàn, sau khi người khác nghe được họ có thể sẽ mượn lời của bạn mà bàn lộng thị phi, nói bạn oán trách người này người kia, đối phó người này người kia. Lúc ấy, chẳng phải bạn sẽ là người chịu “quả đắng” sao?

4. Không nên nói những lời tổn hại người khác

Có người lỗ mãng, không tôn trọng, không bao dung người khác, thường xuyên nói những lời tổn hại đến người khác, có lúc là “hại người lợi mình” nhưng cũng nhiều khi là “hại người hại mình”. Lời nói làm tổn hại người khác có thể chỉ là nhất thời nhưng nhân cách của mình đã bị người khác coi nhẹ, nên chỗ bị thương lại là vĩnh viễn.

5. Không nên nói những lời khoe khoang

Có những người rất yêu thích nói lời tuyên truyền về mình, quảng cáo bản thân mình, khoe khoang bản thân mình khiến người khác nghe xong đều không thấy đồng tình. Cho nên, việc tự mình khoe khoang về bản thân là không có lợi ích thực tế mà trái lại còn làm tổn thương mình. Nếu bạn muốn mình vĩ đại, hãy làm một số việc vĩ đại, việc vĩ đại sẽ được người khác đánh giá nhận định còn bản thân mình thì khiêm tốn vẫn là quan trọng hơn.

6. Không nên nói những lời dối trá

Trong “5 giới cấm” của Phật giáo thì “nói dối” là một trong số giới cấm đó. Lời nói dối chính là “thấy mà nói không thấy, không thấy mà nói thấy, đúng nói là sai, sai nói là đúng”, hay nói ngắn gọn rằng lời nói dối là lời nói không thật. Nói những lời nói dối không chỉ đem tai họa đến cho người khác mà còn đem cả tai họa đến cho bản thân mình, thường xuyên nói dối khiến người khác không còn tin tưởng mình thậm chí khi nhắc đến mình người ta đã thấy coi thường.

https://daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2016/01/Nhung-dieu-khong-nen-noi-neu-noi-se-kho-tranh-khoi-bi-bao-ung2.jpg

(Ảnh: Internet)

7. Không nên nói những lời thuộc về bí mật

Có rất nhiều điều cần giữ bí mật như bí mật giữa nhân viên công ty, bí mật trong gia đình, bí mật của công ty, bí mật của bạn bè, bí mật của quốc gia…Cho nên, chúng ta nên dưỡng thành thói quen không tiết lộ bí mật của công ty, của bạn bè… đã chia sẻ với mình. Bởi vì hậu quả mà nó mang lại sẽ là rất lớn và bạn không thể lấy lại được. Sự tín nhiệm của mọi người đối với bạn cũng trở thành con số 0 ngay lập tức.

8. Không nên nói những lời riêng tư

Mỗi người đều có những điều riêng tư của bản thân mình, việc riêng tư của bản thân mình đương nhiên cũng sẽ không muốn người khác biết cho nên việc riêng tư của người khác họ cũng không muốn mình nói ra. Cho dù việc bạn nói ra việc riêng tư của người khác mà không bị họ phản kháng lại thì cũng đã thể hiện ra bạn là người không có hậu phúc. Mỗi người cần một căn phòng, một căn hộ không phải chỉ là để che mưa, che nắng, vì an toàn mà điều quan trọng nữa là vì sự riêng tư của bản thân. Bạn mặc quần áo là để giữ ấm nhưng điều quan trọng là để che giấu đi cơ thể mình. Vì vậy, để tôn trọng lẫn nhau thì việc trước hết là cần phải tôn trọng việc riêng tư của nhau.

Trên đây là những điều mà bạn không nên nói ra, hoặc nếu nhất định phải nói ra thì cần thận trọng suy nghĩ một cách kỹ càng bởi vì bạn là người nói, hệ quả sẽ tìm đến với bạn trước tiên đấy!

Theo Letu.life
Mai Trà biên dịch

DI SẢN NGUYỄN TẤN DŨNG

DI SẢN NGUYỄN TẤN DŨNG

Nguyễn Quang Duy

Ván cờ đã kết thúc Nguyễn Phú Trọng tiếp tục vai trò, Nguyễn Tấn Dũng ra đi không hẹn ngày trở lại.

Sau 20 năm trong Bộ Chính Trị và 10 năm làm Thủ Tướng ông Dũng để lại di sản như sau:

Thứ nhất, nợ quốc tế cao ngất trời. Nợ đến độ không còn ai muốn cho vay. Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Ngân hàng Thế giới phải đặt câu hỏi “Việt Nam sẽ lấy nguồn ở đâu để tài trợ cho chương trình phát triển đầy tham vọng trong 5 năm tới”?

Thứ hai, vay phải trả. Người Việt từ bé đến già mỗi người đã nợ quốc tế hằng ngàn Mỹ Kim và mỗi người mỗi năm phải trả cả vốn lẫn lời hằng trăm Mỹ Kim.

Thứ ba, nợ thay vì đầu tư để phát triển con người như giáo dục, y tế hay phát triển nông thôn thì được đầu tư vào các công trình to lớn không mang lại lợi ích thiết thực như nhà máy lọc dầu Dung Quất, các đập thủy điện, các cao tốc, các đại doanh nghiệp nhà nước… Hệ quả khủng hoảng toàn diện: kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế, văn hóa…

Thứ tư, môi trường và tài nguyên khai thác bừa bãi. Tài nguyên kiệt quê môi trường bị hủy hoại.

Thứ năm, một nền kinh tế gia công mua nguyên vật liệu từ ngoại quốc về chế biến xong xuất cảng. Một đất nước dựa trên xuất cảng lao động.

Thứ sáu, một thời kỳ với dân oan bị chiếm đất cao chưa từng có.

Thứ bảy, một guồng máy cai trị đầy tham nhũng. Từ trung ương đến đến địa phương tiêu sài hoang phí, nhiều đơn vị đã công khai vỡ nợ.

Thứ tám, một guồng máy an ninh, được giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Úc, ước tính ít nhất lên tới 6,7 triệu hay cứ sáu người thì một người làm cho an ninh. Số người chết trong tù càng ngày càng tăng.

Thứ chín, con số tù nhân chính trị cao chưa từng có với phương cách xuất cảng tù nhân trao đổi quyền lợi với Tây Phương.

Thứ mười, nói mà không làm. Biển Đông đã bị Trung cộng chiếm đóng, ngư dân mất quyền ra biển kiếm sống, hải phận, không phận thường xuyên bị xâm nhập.

Đừng lầm tưởng Nguyễn Tấn Dũng là một nhà cải cách. Ông là một nhà cai trị đã triệt để thực hiện các quyết định do Bộ Chính Trị đảng Cộng sản đưa ra. Mọi công khai tranh luận và phân hóa trong đảng thể hiện sự sai lầm do các quyết định và dẫn đến các di sản nói trên.

Việt Nam sẽ gia nhập TPP, gia nhập sân chơi quốc tế, sân chơi của các đại công ty. Đừng lầm tưởng TPP là cứu cánh của tự do dân chủ. Các quốc gia vì quyền lợi Việt Nam một nước đông lao động và lao động rẻ tiền.

Nếu thể chế không thay đổi Việt Nam sẽ mãi mãi là một khu gia công hàng hóa quốc tế. Nhập nguyên liệu người chế biến kiếm sống qua ngày.

Điều đó không có nghĩa là chúng ta quên vai trò Quốc Tế Vận, nhưng cần hiêu rõ tự do dân chủ phải do chính người Việt Nam giành lại.

Đừng mơ cách mạng Việt Nam sẽ xảy ra như Đông Âu hay Miến Điện.

Đừng mơ Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam sẽ thay đổi thái độ với Trung cộng như Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Lào đã và đang làm.

Mỗi đất nước có 1 sắc thái riêng một hoàn cảnh riêng. Muốn Việt Nam thoát cộng thoát Tàu cần hiểu rõ và dựa vào khả năng có được của chính dân mình. Việc tới sẽ tới Việt Nam rồi cũng có tự do dân chủ.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

Từ rạng rỡ hạnh phúc của Miến Điện nhìn lại Việt Nam

Từ rạng rỡ hạnh phúc của Miến Điện nhìn lại Việt Nam
Nguoi-viet.com
Trần Tiến Dũng/Người Việt

SÀI GÒN (NV) –  Từ Chủ Nhật 8 tháng 11, dư luận Việt Nam đều thấy từ các trang mạng, Facebook… tràn ngập hình ảnh, bài viết về hạnh phúc của người dân đất nước Miến Điện trong cuộc bầu cử dân chủ sau hàng thập niên sống dưới ách độc tài quân phiệt.

Người Việt Nam chia vui với người ta và buồn cho phận mình! Trong cảm xúc này, có khi cũng cần phải nhìn lại hành trình đau thương mà dân tộc Miến Điện đã vượt qua bóng tối để có ngày chào đón ánh mặt trời Dân Chủ Tự Do.

Người dân Miến Điện trước kết quả bầu cử mà phần thắng đang thuộc về dân chủ và tự do. (Hình: AP/Photo)

Bóng tối ở Miến Điện thật sự nặng nề từ cuộc đàn áp đẫm máu ngày 08-08-1988, do nhóm các tướng lĩnh trong Hội đồng quốc gia phục hồi luật pháp và trật tự (SLORC) chỉ huy quân đội thực hiện, nhằm đàn áp cuộc nổi dậy của nhân dân đòi dân chủ.

Hàng trăm sinh viên, các nhà sư và những người chống đối khác đã bị giết, hàng nghìn người bị cầm tù. Bất chấp tình hình này, bất chấp lãnh tụ của Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (NLD) – bà Aung San Suu Kyi – đã bị giam giữ tại nhà từ tháng 7-1989, đảng NLD trong cuộc bầu cử 05-1990 do chính quyền của SLORC tiến hành, vẫn giành được 329/491 ghế trong quốc hội. SLORC đã ra lệnh hủy bỏ kết quả bầu cử này và trực tiếp chiếm quyền.

Tháng 7-1997, SLORC đổi tên thành Hội đồng quốc gia vì hoà bình và phát triển (SPDC), tháng 5-2008, thông qua hiến pháp mới theo chế độ lưỡng viện và đa đảng. Song trên thực tế, hiến pháp thừa nhận quyền lực bất khả xâm phạm của quân đội bằng việc quy định quân đội được giữ cố định 110/440 ghế của quốc hội và 56/224 ghế của nghị viện liên bang; chính quyền tiếp tục củng cố quyền lực của các tướng lĩnh, loại bỏ các đảng đối lập – trong đó có NLD, vận dụng Luật hình sự 1996 để đàn áp tiếp.

Đất nước Miến Điện ngày càng tiêu điều mọi mặt vì độc tài và tham nhũng. Trong khi đó hầu như không thể chấm dứt được chiến tranh xung đột sắc tộc và nguy cơ ly khai của một số bang. Sự lũng đoạn của Trung Quốc về kinh tế và chính trị ở mức nguy hiểm. Cái nghèo và lạc hậu càng gay gắt thêm do sự cấm vận kéo dài của phương Tây – vì các lý do đàn áp 1988, đảo chính 1990  xóa bỏ kết quả bầu cử và vì vi phạm nhân quyền, tàn sát và bỏ tù nhiều người chống đối…

Không có con đường Tự Do-Dân Chủ nào trải toàn hoa hồng, cũng như không chế độ độc tài nào chấp nhận lui vào hậu trường mà không gây cảnh máu xương tù tội cho một dân tộc quyết chí đấu tranh vì các quyền cơ bản con người.

Nói cách khác, nếu không vượt qua ngọn núi sợ hãi do các chế độ độc tài áp đặt, điều đó có nghĩa tự mình giết chết ý thức muốn sống đúng phẩm giá con người để cam chịu làm nô lệ cho nhóm thiểu số của một đảng chính trị độc tài.

Bài học vì sự thay đổi của giới tướng lĩnh từng tiếm quyền ở Miến Điện cũng không có cơ may nào thành hiện thực ở Việt Nam. Độc tài quân sự ít ra không có giáo điều để đánh tráo sự thật hoàn toàn khác hẳn với độc tài cộng sản.

Ngày 30-3-2011, tổng thống Thein Sein nhậm chức, với cam kết trung thành với hiến pháp 2008 và thực hiện: Lộ trình dân chủ 7 bước nhằm xây dựng Myanmar dân chủ và hiện đại. Bước đi đầu tiên của tổng thống Thein Sein là giải thể SPDC (thực chất là hội đồng tướng lĩnh đầy quyền lực, có tiền thân là SLORC), ban bố các biện pháp cải cách.

Dư luận tin rằng, Tổng thống Thein Sein và công đức dọn dẹp các thế lực hắc ám để rộng sân cho các đảng chính trị dân sự đối lập và thân chính quyền cùng tham gia tranh cử, điều này, mới thật sự là đòn bẩy chính yếu đưa tiến trình dân chủ Miến Điện đến đỉnh thắng lợi.

Một đại nhân như ông Thein Sein chấp nhận thất bại trong cao thượng và tôn trọng sự chọn lựa của người dân qua tuyển cử Tự Do, do chính ông và đảng của ông đồng ý, việc này hầu như không thể có ở Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba.

Nhưng cũng thử đưa ra một viễn cảnh là trong bốn quốc gia đang sống dưới chế độ chuyên chế trên, quốc gia nào có khả năng sẽ có một cuộc tuyển cử Tự Do? Câu trả lời chỉ có thể là Trung Quốc, bởi dù sao thành trì độc tài ghê gớm và căn tính phục tùng phong kiến cố hữu của dân Hoa Lục cũng đã có điểm son đột phá hướng đến dân chủ bằng máu, đó là sự kiện Thiên An Môn.

Nhiều người Việt quan tâm bày tỏ: Liệu sau khi thắng cử, bà Aung San Suu Kyi và đảng NLD có đoàn kết được dân tộc và thay đổi được đất nước Miến Điện như kỳ vọng?

Với một chính quyền dân sự chính danh vừa được người dân Miến Điện chọn lựa, sự thay đổi để phát triển không còn là điều hứa hẹn, bởi một khi quyền chọn lựa thật sự ở trong tay người dân, điều hiển nhiên là không phải để bảo đảm cho một chính quyền cụ thể nào cả, mà tối thượng là sự bảo đảm toàn diện cho nền dân chủ đa nguyên và sự phát triển.

Biết bao thế hệ người Việt bị thể chế chuyên chế đánh tráo các giá trị dân chủ; nên dễ hiểu và thông cảm khi họ lo sợ các sự kiện ôn hòa- xáo trộn nền chính trị hiện hành sẽ không dẫn đến được bến bờ ổn định nào, thà cứ giữ phận cam chịu nhận ban phát sự ổn định chính trị từ nhóm thiểu số độc tài để mãi kéo dài căn bệnh thoái hóa trầm kha sống dở chết dở.

Từ sự kiện rạng rỡ trong hạnh phúc cả đất nước Miến Điện sau thắng lợi toàn diện của tiến trình cải cách dân chủ, nhìn lại Việt Nam, không cần phải kích hoạt hy vọng về một nền dân chủ thật sự ở Việt Nam, mà cần đối mặt với sự thật.

Không gì đủ sức mạnh để tướt đoạt trong tay một dân tộc quyền chọn lựa nền dân chủ đa nguyên mà chỉ có dân tộc đó tự từ bỏ quyền thiêng liêng của mình.

Chứng khoán Á Châu lại tuột dốc

Chứng khoán Á Châu lại tuột dốc

Bảng điện tử hiển thị các thông tin giao dịch chứng khoán tại Tokyo.

Bảng điện tử hiển thị các thông tin giao dịch chứng khoán tại Tokyo.

26.01.2016

Ngày giao dịch hôm thứ Ba rất có thể sẽ là một ngày khác nữa làm đau đầu giới đầu tư, giữa lúc các thị trường chứng khoán Á Châu gánh chịu thêm một đợt thua lỗ nặng, mà chắc chắn sẽ có tác động tới thị trường toàn cầu.

Thị trường chứng khoán Thượng Hải và Thẩm Quyến dẫn đầu, mỗi thị trường mất đi 6% vào cuối ngày giao dịch, mức thấp nhất trong vòng 14 tháng.

Tại các thị trường ở Hong Kong và Nhật Bản, giá chứng khoán hạ 2%, trong khi thị trường Đài Loan, Singapore và Thái Lan đều thua lỗ.

Giá chứng khoán sụt giảm trong ngày thứ Ba một lần nữa lại diễn ra sau những thua lỗ trên Phố Wall ngày hôm trước, khi các chỉ số Dow Jones, S&P 500 và NASDAQ đều giảm vì giá dầu một lần nữa lại hạ xuống mức dưới 30 đôla một thùng do mức cung dầu thô trên thị trường toàn cầu quá cao so với nhu cầu, và cũng vì đà phát triển chậm lại tại Trung Quốc.

Hậu quả là giá cổ phần các công ty năng lượng tuột dốc, gây quan ngại trong giới đầu tư về nguy cơ nền kinh tế toàn cầu sẽ bị trì trệ.

Đại hội Đảng và tính chính danh cầm quyền

Đại hội Đảng và tính chính danh cầm quyền
Võ Tấn Huân Gửi tới BBC Tiếng Việt từ Canada

• BBC

Reuters
Sau hơn 70 năm cách mạng tranh đấu giành lại quyền làm chủ của người dân, Việt Nam đang đứng trước thách thức để cụ thể hóa quyền này vào trong cuộc sống thường nhật.
Việt Nam hiện đang có gần 60 phần trăm dân số trong độ tuổi dưới 35. Đội ngũ nhân công trẻ và năng động, cùng với nguồn đầu tư nước ngoài dồi dào, là những động lực để Việt Nam phát triển và vươn xa.

Tuy nhiên, bước vào năm 2016 – hơn bảy thập niên sau cuộc cách mạng – tương lai Việt Nam do Đảng Cộng sản tự phong quyền lãnh đạo, vẫn còn nhiều bấp bênh.
Giữa lúc đại hội lần thứ 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra, điểm gây nhiều chú ý nhất trong dư luận không phải là chủ trương, chính sách, hay tầm nhìn cho quốc gia mà là ai sẽ giữ chức vụ này, ghế kia.

Thiếu tính chính danh

Hơn một nghìn năm trăm đại biểu đại diện cho một thành phần thiểu số cộng sản trong xã hội chỉ đặt trọng tâm làm thế nào để tiếp tục độc quyền nhà nước và tiếm quyền của hơn 90 chục triệu dân Việt Nam.
Những phát biểu “đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta” vẫn là những câu nói sáo rỗng, cũ kỹ, không mang tính thực chất lẫn thực tế. Dù bất kỳ nhân vật cộng sản nào lên nằm quyền thì chế độ hiện hành của đất nước vẫn không chính danh.

Từ lâu nay, giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam luôn đề cao quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Điều này đồng nghĩa với việc nhân dân làm chủ đất nước là yếu tố trung tâm trong cơ chế quyền lực của quốc gia. Cụ thể nhân dân làm chủ là quyền được ứng cử, bầu cử, phúc quyết hiến pháp và các vấn đề hệ trọng khác, cũng như quyền được thay đổi chính phủ và quyền làm chủ chính đáng mảnh đất của mình.

Tuy nhiên, qua các đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như lần Đại hội 12 này và các cuộc bầu cử quốc hội suốt mấy thập niên qua, đã cho thấy rõ người dân không có quyền bầu ra các lãnh đạo quốc gia.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã tự đặt mình lên trên nguyện vọng và quyền của nhân dân, tự chọn nhân sự cho đất nước mà không có đối lập – tương tự như việc cầm quyền mà không qua bầu cử.


AFP
Các cuộc đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ mang màu sắc của một đảng chính trị hơn là đại diện cho tương lai của đất nước.

Người dân không có tiếng nói trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước cũng như bầu chọn những người chính trực để lãnh đạo đất nước. Các cuộc bầu cử quốc hội với những kết quả gần một trăm phần trăm thì hầu như ai cũng rõ đó chỉ đậm tính phô diễn hình thức.
Thắng cuộc mà không thắng cử là vẫn chưa đủ để hợp thức hóa tính chính danh cầm quyền.
Cầm quyền không chính danh hiển nhiên không đúng với pháp lý, không phù hợp với tinh thần nhà nước pháp quyền – bất kể đó là nhà nước pháp quyền theo chủ nghĩa hay tư tưởng nào.

Về phương diện chính trị và quốc gia, việc này không thể chấp nhận nếu không muốn nói đây là tội ác đối với lương tâm lãnh đạo và đối với đồng bào của chính mình.
Hậu quả của việc nhân dân không có quyền làm chủ đã dẫn đến việc chính phủ không chính danh.

Danh xưng của chế độ chỉ là tên gọi. Tính chính danh cầm quyền mới thực chất thể hiện sự tôn trọng quyền của người dân trong một xã hội đa dạng, và thực tâm của lãnh đạo chính trực để xây dựng đất nước với một nền tảng vững chắc.
Bắt đầu từ pháp luật chuẩn mực

Quyền lực của chế độ nếu không được nhân dân chuẩn thuận trao quyền – cơ bản nhất là bản quy ước xã hội, tức bản hiến pháp dân chủ – thì dù nhà nước cộng hòa với tư tưởng hay chủ nghĩa gì thì cũng không chính danh.

Pháp luật không chuẩn mực, tùy tiện như Việt Nam hiện nay không chỉ là môi trường thuận lợi cho các phe nhóm lợi ích, tham nhũng và lũng đoạn xã hội mà trên tất cả, đó là lá chắn để phục vụ cho một đảng chính trị tiếm quyền của nhân dân và độc quyền nhà nước. Hiến pháp hiện hành chỉ là công cụ phụ vụ cho một đảng chính trị.

Nguy hại hơn hết, pháp luật không chuẩn mực tiếp tục cản trở quốc gia hướng tới xã hội công bằng và thịnh vượng. Và hơn nữa, nó để lại biết bao hậu quả tai ương cho tương lai đất nước mà các thế hệ sau phải gánh chịu.


AFP

Dù theo tư tưởng hay chủ nghĩa nào thì cũng cần điều hành xã hội bằng pháp luật, và việc này cần phải cụ thể hóa bắt đầu từ nền tảng cơ bản của hiến pháp thay vì chỉ phát biểu chung chung trong các diễn văn hình thức hoặc bên trong nội bộ của một đảng. Lãnh đạo đất nước nói quanh co, né tránh pháp luật chuẩn mực là ngụy biện, không chính trực.
Pháp luật chuẩn mực – bắt đầu từ bản hiến pháp của toàn dân – là cơ bản của pháp luật quốc gia, là đòi hỏi của xã hội công bằng, là điều kiện cho cơ chế nhà nước minh bạch, và là nhu cầu để Việt Nam phát triển toàn diện.

Nền tảng hiến pháp đặc thù với bản sắc dân tộc bao gồm nhiều thành phần trong xã hội sẽ là động lực để Việt Nam phát triển, hội nhập, tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người, mở đường cho Việt Nam cất cánh và trường tồn.

Việc bầu chọn lãnh đạo của riêng một đảng chính trị nào đó là chuyện nội bộ không thể đánh đồng với việc bầu chọn lãnh đạo quốc gia và nhân sự cho đất nước. Quyền làm chủ của nhân dân đối với việc bầu chọn lãnh đạo quốc gia là yếu tố quan trọng để tạo tính chính cầm quyền.

Chấm dứt lũng đoạn quyền làm chủ của nhân dân để họ tham gia và có tiếng nói chính trị cũng sẽ giúp ổn định xã hội và ổn định chính trị để đất nước phát triển bền vững. Đây là trách nhiệm của những người cầm quyền. Đây đồng thời cũng là nguyên tắc quốc gia.
Phải chăng phối hợp từng bước chuyển đổi để đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân và tạo tính chính danh cầm quyền là mục tiêu để Việt Nam xây dựng sự ổn định lâu dài cho đất nước?

Bài thể hiện quan điểm và văn phong riêng của người viết, Trưởng ban Thường vụ TW của Đảng Dân chủ Việt Nam tại Canada, hưởng ứng chuyên mục ‘Viết về Đại hội Đảng CSVN lần thứ 12’ của BBC Tiếng Việt.

Mặc kệ Đại hộị đảng

Mặc kệ Đại hộị đảng

Phạm Thanh Nghiên
2016-01-26

000_Hkg10248026-622.jpg

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12 hôm khai mạc 21/1 tại Hà Nội.

AFP

Đại hội đảng cộng sản lần thứ 12, và cái lạnh cắt da cắt thịt của miền Bắc, đặc biệt là ở vùng cao có lẽ là hai trong nhiều mối bận tâm của người Việt gần đây.

Cuộc sống vẫn không được cải thiện

Bản chất của cụm từ “đại hội đảng”, xét một cách thẳng thắn chỉ là cuộc sắp xếp nội bộ của những chóp bu cộng sản nhằm tự ý định đoạt số phận của toàn dân Việt Nam. Xin trích một đoạn viết của tác giả Tiến Văn trong chuyên mục “Nói với người cộng sản”được đọc trên đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi hôm 17/1/2016 để minh họa cho nền chính trị thực chất tại Việt Nam suốt thời kỳ cộng sản nắm quyền.

“…để che giấu, giảm bớt sự lộ liễu cho sự tự ý tiếm quyền lãnh đạo đất nước, đảng cộng sản Việt Nam đã dùng nhiều thủ thuật khác nhau để che mắt, đánh lạc hướng nhằm tránh sự bức xúc, phẫn nộ của dư luận. Một trong những thủ thuật căn bản đó là các cuộc bầu cử Quốc hội có bản chất trá hình thường kì được tổ chức không lâu sau mỗi kì Đại hội đảng cộng sản. Các cuộc bầu cử đó gọi là trá hình vì tất cả mọi ứng cử viên đều do đảng cộng sản ấn định và tất cả các Ủy viên trung ương mới đắc cử trong Đại hội đảng sẽ chắc chắn 100% được đắc cử vào “Quốc hội”. Và 3 vị trí cao nhất đứng đầu Quốc hội, Chính phủ và Nhà nước do cái “Quốc hội” đó bầu ra cũng sẽ chắc chắn thuộc về 3 Ủy viên Bộ Chính trị của đảng cộng sản – những kẻ đã chiến thắng trong những cuộc bầu bán, tranh giật quyền lực trong kỳ Đại hội đảng diễn ra trước khi bầu “Quốc hội”.

Với thủ đoạn cơ bản đó, đảng cộng sản Việt Nam luôn tự rêu rao rằng bộ máy lãnh đạo đất nước đã được toàn dân tín nhiệm và bầu chọn với tỉ lệ số phiếu tán thành rất cao, thường xấp xỉ 100%.

Như vậy, thực chất rút lại, hệ thống lãnh đạo của Việt Nam chúng ta hoàn toàn chỉ do một nhóm người rất nhỏ xoay quanh cái gọi là Bộ Chính trị của đảng cộng sản Việt Nam tự ý quyết định.” (Hết trích).

Đã xuất hiện nhiều ý kiến, nhiều lời bình luận trên các trang mạng về đại hội 12. Có ý kiến ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng lên làm tổng bí thư (dù không người dân VN nào được quyền bầu) với hy vọng ông này sẽ đưa đất nước thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung cộng. Và dự đoán (hoặc mong muốn) ông Dũng sẽ mạnh dạn giải tán đảng cộng sản như Mikhail Gorbachev từng làm ở Liên Xô hồi 1991. Nhưng đại đa số cho rằng, dù ông nào trong cái nôi cộng sản ấy lên thì vẫn thế mà thôi, dân vẫn khổ và đất nước vẫn lụn bại. Chỉ có con đường duy nhất là thay đổi thể chế mới đưa đất nước thoát khỏi diệt vong.

Cho nên, việc quan tâm hay không quan tâm đến đại hội 12 cũng không làm thay đổi, hay nói rõ hơn là cuộc sống vẫn không được cải thiện.

Trong khi những kẻ tự cho mình quyền định đoạt số phận của hơn 90 triệu đồng bào còn mải đấu đá, đóng kịch với nhau trong cái hội trường rực màu đỏ máu thì ở nhiều nơi trên vùng cao, các trẻ em vẫn cởi truồng dưới cái lạnh âm độ C.

tre-em-400

Trẻ em vùng cao. Courtesy photo.

Trẻ em, những “mầm non của đảng”, “tương lai của đất nước” theo cách gọi của người cộng sản đã, đang và có thể sẽ vẫn là nạn nhân phải chịu đựng nhiều nhất những hậu quả mang tính hệ thống. Tất nhiên, tình cảnh các em bé Việt Nam dưới thời đại Hồ Chí Minh trần truồng chịu rét, ăn cơm độn, đu dây vượt suối đi học, tiêm vacxin bị chết, thất học, bị bạo hành cả trong gia đình, trường học lẫn xã hội, là nạn nhân của tệ buôn bán trẻ em v.v … không còn là chuyện hy hữu. Nó đã trở nên phổ biến và được xã hội coi là “chuyện thường ngày ở huyện”. Chỉ có điều, báo chí không được và không muốn phản ảnh một cách trung thực và đầy đủ mà thôi. Còn các quan phụ mẫu (kiêm đầy tớ của dân) thì đương nhiên ngậm miệng ăn tiền. Thậm chí, chính bọn họ là nguyên do gây ra những tệ trạng xã hội và là thủ phạm gây tổn thất lớn nhất cho trẻ nhỏ.

Chỉ còn vài ngày nữa là kết thúc Đại hội đảng, cũng là những ngày giáp Tết. Trên ti- vi, đài báo, các phương tiện truyền thông đại chúng “lề đảng” sẽ nhan nhản những hình ảnh ông to bà lớn đi phát quà cho người nghèo. Ông bà nào khéo diễn sẽ mạo hiểm bế một đứa trẻ nghèo, mặt mũi bẩn thỉu lấm lem rồi nở một nụ cười tươi rói trong lúc nín thở (vì đứa trẻ hôi hám quá) để lấy điểm trước ống kính máy quay. Các bé được túi quà rồi nghèo vẫn hoàn nghèo, nhưng các ông bà lớn sẽ được lợi rất nhiều từ những màn diễn như thế.

Dẫu biết rằng tham nhũng là bản chất của độc tài, nhưng vẫn ước. Ước một điều không bao giờ xảy ra. Đó là: Giá chúng nó bớt tham nhũng đi thì trẻ em không còn phải cởi truồng chịu rét.

Còn bây giờ thì, mặc kệ đại hội đảng, các em vẫn cởi truồng.

 

BỆNH QUÊN

BỆNH QUÊN

Có một gia đình nghèo, thất nghiệp.  May thay lại có một chủ xưởng cưa chịu nhận cả gia đình vào làm.  Ông lo cho cơm ăn, áo mặc, chỗ ở, và có việc làm mỗi ngày.  Mọi chuyện tốt đẹp.

Nhưng ít sau, đến giờ đi làm thì:

– Người thì nói: trời hôm nay nắng quá, khi nào trời mát rồi tính.

– Kẻ thì lên tiếng: khúc cây còn tươi, nên dai, khó cưa.

– Người thì nói: lưỡi cưa không sắc, khi nào có lưỡi tốt thì làm.

– Người khác kêu ca: loại gỗ này già tuổi, gỗ cứng chắc làm sao mà cưa.

– Một người lớn tiếng: khúc gỗ hôm nay cong quá, làm sao bây giờ.

– Người thì than rằng hôm nay mình chán nản, mệt mỏi quá.

Và thế là cả gia đình nghỉ việc.

********************************************

Dân Israel trong thời nô lệ ở Ai cập rất là khổ cực, bất hạnh.  Bị hành hạ, ngược đãi và đối xử bất công.  Họ phải làm những việc nặng nhọc, dù thời tiết có mưa bão hay nắng cháy, dù người khoẻ hay yếu đều phải làm việc.  Ăn uống thì chỉ được ăn cho khỏi chết mà thôi.  Học hành, giải trí… quần áo, nhà cửa, thuốc men ư?  Bị đối xử như là súc vật thì làm gì có những thứ tốt và làm gì có quyền đòi hỏi quyền lợi.

TUONG VANG

Thế rồi, họ được Đức Chúa thương cứu họ cho khỏi cái nhục nhằn của đói khổ và công việc. Họ thoát được cảnh bất công giữa chủ và nô lệ.  Họ được Moses dẫn qua sa mạc đến vùng đất hứa, vùng đất đầy sữa và mật ong, vùng đất hứa hẹn cho cả dòng dõi họ và con cháu.

Thế nhưng, họ đâu có nhớ.  Họ kêu ca than phiền và đưa ra mọi thứ yêu sách.  Tại sao chúng tôi phải như vậy.  Nào là trời nắng, khó chịu, bực bội quá.  Rồi đến ăn bánh manna nhạt nhẽo không bổ béo gì.  Nào là muốn nước trong, nước sạch nước mát, rồi đến đòi ăn thịt chim.  Chưa hết, họ còn chê trách Thiên Chúa, bỏ rơi Ngài để thờ thần khác, thờ bò vàng.

Trình thuật của Luca cho biết đến cái thế hệ khó hiểu là: “thổi sáo vui mừng thì không nhảy múa.  Hát bài đưa đám thì không khóc than” (Lc 7, 31).  Chúa Giêsu còn dẫn chứng: Gioan tẩy giả sống đơn sơ nghiệm nhặt; sống chay tịnh, không ăn bánh, chỉ ăn châu chấu và mật ong, không uống rượu chỉ uống nước lã.  Thì họ cho là đồ ngốc đồ khùng, người bị quỷ ám.  Còn Con Người đến cũng ăn, cũng uống như ai thì lại kêu là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi.

Đúng là con người, lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.

Chúa Giêsu nói đến thế hệ này, để giúp cho ta thấy con người có một lịch sử không tốt lành, ít là thời gian dân Israen thoát khỏi ách nô lệ Ai cập trên con đường qua sa mạc về đất hứa, dưới hướng dẫn của Moise.  Và cũng là lời cảnh báo cho những người nghe Ngài phải đặt lại vấn đề về sự cứng lòng không nhìn nhận, không chịu nghe Ngài hướng dẫn để có thể đi qua sa mạc đời mình mà về được đất hứa thật là Nước Trời.

Vậy nguyên nhân bởi đâu?  Bởi con người bị mắc một thứ bệnh khó trị, bệnh di truyền.  Ấy là bệnh Quên.

Những người trong câu truyện trên, họ đã đưa ra đủ lý do để nghỉ việc.  Họ quên hẳn thân phận của mình rằng, nếu không được ông chủ giúp đỡ thì còn bi đát khốn khổ hơn.  Nhờ ông chủ mà gia đình họ nhìn thấy mặt trời, nhìn thấy tương lai tươi sáng và nhiều hy vọng.  Đáng lẽ họ hăng say, nhiệt tình và chịu khó làm việc để đền ơn đáp nghĩa, thì họ lại đòi hỏi, ra điều kiện với ông chủ, rồi nghỉ việc.

Những người Israel, đã được Đức Chúa cứu giúp, thoát khỏi ách thống trị áp bức của Ai cập.  Họ được trả tự do, được phục hồi nhân phẩm.  Giờ đây, mỗi người có quyền xây dựng cuộc đời mới tốt hơn trong tin yêu và hy vọng.

Đáng lẽ họ phải hết lòng biết ơn và một mực trung thành với hướng dẫn của Đức Chúa qua Moises trên con đường trở về với vùng đất phì nhiêu, vùng đất của hạnh phúc mà Người đã hứa. Thế nhưng họ lại quên.  Quên đi thân phận hẩm hiu bọt bèo của mình.  Hành trình ở sa mạc cho biết rõ con người thật mau quên của họ.  Họ dần quên Đức Chúa.  Họ bắt đầu càm ràm về thời tiết nắng cháy, về ăn không ngon, uống không ngọt, ngủ không yên.  Họ nghĩ mình là người phải được phục vụ mọi thứ tốt lành.  Họ chê trách Moses, oán hờn Đức Chúa.  Rồi bỏ Người mà theo các thần khác, đúc bò vàng để thờ.

Những người đương thời với Chúa Giêsu cũng vậy, đáng lẽ họ phải vui mừng phấn khởi hân hoan vì điều họ hy vọng về Đấng Cứu Thế đến, giờ đã thành hiện thực.  Đáng lẽ họ phải lắng nghe, chiêm ngắm và cộng tác, phải vui mừng và vỗ tay, kính trọng và biết ơn, tôn kính và thờ phượng.  Thế nhưng họ lại thờ ơ dửng dưng, hiểu lầm coi thường, chê bai trách móc, hãm hại chống đối, vu khống giết chết.  Cái nghịch lý là chính họ muốn Đấng Tốt lành đến, nhưng khi Ngài đến thì họ lại không chấp nhận, và muốn trở về với truyền thống tổ tiên.

Quên quả thật rất tai hại.  Quên sẽ đánh mất chính mình, đánh mất Thiên Chúa và là cửa đưa tới đau khổ.

Nhìn vào Ađam và Eva, nhìn vào nhân loại xưa cũng như nay, đời cũng như đạo, biết bao thứ trục trặc xảy ra cũng bởi vì quên.

Quên làm cho ta thành kẻ vô ơn bạc nghĩa.

Quên làm cho ta thành người bất hiếu bất trung.

Quên làm cho ta thành loại bạc nghĩa bất lương.

Quên làm cho ta thành kiêu căng tự phụ.

Quên làm cho ta thành căng thẳng khó tính.

Quên làm cho ta thành lo âu bất ổn.

Quên làm cho ta thành đau khổ bất hạnh.

Quên làm cho ta xao xuyến lao đao.

Quên làm cho ta xa rời ân sủng Chúa, cắt đứt liên lạc với Ngài.  Và ta sẽ bị cô lập khỏi ân sủng Chúa.  Dù ân sủng Ngài nhiều như mưa, như nắng, như không khí.

Xin Chúa cho ta biết khiêm nhường nhìn nhận sự thật về mình và về Thiên Chúa để bày tỏ lòng thành kính tri ân về mọi ân lộc Chúa đã ban cho ta.

Thanh Thanh