Những kỷ niệm thật đáng nhớ với anh Lưu Trung Khảo

Những kỷ niệm thật đáng nhớ với anh Lưu Trung Khảo

 Hồi tưởng của Đoàn Thanh Liêm

GS LƯU TRUNG KHAO

* * * Anh Khảo cùng theo học tại Trường Chu Văn An tại Hà nội với số

đông bạn đồng môn chúng tôi và cùng tốt nghiệp văn bằng Tú Tài 2 năm

  1. Sau đó, thì chúng tôi cùng di chuyển vào miền Nam và cư ngụ bên

nhau tại các cơ sở dành riêng cho sinh viên di cư vào thời gian ban đầu trong

các năm 1954 trở đi. Và từ vài chục năm nay, chúng tôi lại gặp nhau thường

xuyên trên đất Mỹ qua những sinh họat về văn hóa xã hội – đặc biệt là trong

tổ chức Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam.

Nay anh vừa mới ra đi, tôi xin ghi lại một số kỷ niệm thật đáng nhớ với người

bạn đồng môn, đồng khóa đã có duyên gắn bó thân thiết với nhau từ trên 60

năm trước. Xin lần lượt trình bày câu chuyện qua các tiết mục như sau.

1 – Người học trò cưng của Thầy Nguyễn Tường Phượng.

Từ những năm 1950, thày Phượng dậy môn Quốc văn tại trường Chu Văn

An. Thày đã từng là chủ bút của tạp chí Tri Tân nổi tiếng thời trước năm

  1. Anh Khảo học ban sinh ngữ mà lại rành cả chữ Nho nữa, nên anh được

thày Phượng chú ý tín nhiệm và thường trao cho anh phụ giúp việc này việc

nọ trong lớp học. Cụ thể là khi Hiệu Đòan Chu Văn An làm tờ “Đặc San Tre

Xanh” dịp Xuân Giáp Ngọ 1954, thì anh Khảo là một trong những học sinh

thường xuyên đem bài viết của các bạn đến cho thày Phượng duyệt lại trước

khi cho đem đi in.

2 – Tết Ất Mùi 1955 tại Khu Lều trên nền đất cũ của Khám Lớn Sài gòn.

LƯ TRUNG KHAO 2

Từ cuối năm 1954, sinh viên di cư chúng tôi được chuyển từ nơi tạm cư trong

Trường Gia Long đến cắm lều trên khu đất cũ của Khám Lớn bên cạnh Tòa

Án Sài gòn. Và chúng tôi đã ăn hai cái Tết Dương Lịch và Âm Lịch tại khu

lều này. Dịp Tết Ất Mùi, anh Khảo ra tay viết câu đối bằng chữ Nho, việc này

khiến mấy nhà báo quốc tế tò mò chụp ảnh lia lịa. Tôi còn nhớ anh nhà báo

người Pháp của tờ báo Le Parisien Libéré đến gặp gỡ và phỏng vấn sinh viên

tụi tôi.

Sau vụ này, anh em chúng tôi tặng cho anh Khảo cái biệt danh là “Ông Đồ

Khảo”. Và đến khi được chuyển vào Đại Học Xá Minh Mạng ở Ngã sáu Chợ

Lớn, thì cũng anh Khảo là một trong mấy sinh viên mà thường được giáo sư

Nguyễn Thiệu Lâu rủ đi uống cà phê buổi sáng hay uống bia vào buổi chiều

để mà hàn huyên tâm sự và nhất là trao đổi chuyện trò về môn lịch sử mà

giáo sư là một nhà nghiên cứu rất nổi tiếng vào thời ấy.

 3 – Cuộc Hội ngộ kỷ niệm 60 năm của sinh viên di cư (1954 – 2014)

Năm 2014, anh Khảo là một thành viên nòng cốt trong Ban Tổ chức cuộc Hội

ngộ nhân kỷ niệm 60 năm của sinh viện Đại học Hà nội di tản vào miền Nam.

Cuộc hội ngộ đã quy tụ được đến vài ba trăm sinh viên và thân hữu đến tham

dự một bữa tiệc tại một nhà hàng trong khu vực Little Saigon ở miền Nam

tiểu bang California. Đại diện Ban Tổ chức, anh Khảo đã xúc động tường

thuật lại những vui buồn của anh chị em sinh viên di cư trong những ngày

mới đặt chân đến thành phố Sài gòn.

Trong số mấy trăm sinh viên di cư hồi đó, thì đến năm nay đã có rất nhiều

bạn đã ra đi, số còn lại thì cũng đã ở vào tuổi bát tuần cả rồi. Và đây là một

dịp thật quý báu để gặp lại nhau và cùng nhau ôn lại những kỷ niệm vui buồn

của cái tuổi đôi mươi thuở ấy – giữa lòng một đất nước bị phân ly cách biệt

giữa hai miền Nam Bắc và tiếp theo lại là cuộc chiến tranh huynh đệ tương

tàn với bao nhiêu tang thương thù hận.

4 – Câu chuyện về “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ”.

Từ cuối thập niên 1980, khi xuất hiện các chương trình phát thanh tại

California, thì bắt đầu có những cuộc Hội thọai của ba vị nhân sĩ có tên tuổi

trong cộng đồng người Việt ở địa phương. Ba vị đó là Đại tá Trần Minh Công

và hai Giáo sư Lưu Trung Khảo, Trần Đức Thanh Phong. Trong nhiều năm,

bà con thính giả đã rất hoan nghênh hưởng ứng theo dõi sự trình bày của các

vị nhân sĩ đáng kính với lập trường quốc gia thật kiên định vững vàng này.

Và từ cuối thập niên 1990, cả ba vị đã là những thanh viên họat động tích cực

trong Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam – bên cạnh những vị Cố vấn có tên

tuổi khác như Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, bào đệ của nhà văn Nhất Linh

Nguyễn Tường Tam, Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, Luật sư Trần Thanh Hiệp…

Do những họat động sôi nổi như vậy mà có một số bạn trẻ đã gán cho ba vị

nhân sĩ này cái danh hiệu “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” – như trong một

cuốn truyện nổi tiếng của Pháp “Les Trois Mousquetaires” vậy.

5 – Cái áo veste kỷ niệm của bậc huynh trưởng khả kính và khả ái.

Rất đông các thân hữu và các môn sinh đã tới nhà quàn viếng thăm và tiễn

biệt Giáo sư Lưu Trung Khảo vào ngày 2 tháng Giêng 2016. Trong số này, tôi

gặp anh bạn tù chính trị từng sống chung với nhau tại trại giam Z30D ở Hàm

Tân Phan Thiết hồi trên 20 năm trước – đó là anh Nguyễn Thanh Vân cựu sĩ

quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Nhân dịp này, anh Vân tâm sự với tôi: “

Bữa nay, tôi mặc cái áo veste này để đến tiễn đưa vị huynh trưởng mà tôi

luôn quý mến và cũng chính là người đã cho tôi cái áo này. Hồi tôi mới từ

Việt nam qua Mỹ, tôi thường chỉ mặc cái áo gió mỗi khi đi tham dự sinh họạt

ở Quận Cam. Sau vài lần, Giáo sư Khảo thấy tôi không có mặc áo veste, nên

có lần sau buổi họp gặp tôi, ông liền cởi cái áo ông đang mặc và khóac lên

người tôi, rồi nói: “Anh bạn trẻ nên mặc cái áo này, mỗi khi phải ra mắt

thuyết trình trước công chúng đó nha. Đó là mình bày tỏ lòng kính trọng đối

với bà con trong cộng đồng vậy v.v…” Thật đây là một kỷ niệm khó quên của

tôi đối với một bậc đàn anh khả kính và khả ái vậy đó …”

6 – Thật đúng là một chính nhân quân tử.

Cũng trong Lễ Tưởng niệm này, Nghị sĩ Lê Châu Lộc với niềm xúc động

chân thành đã phát biểu rằng: “Trong một buổi lễ tại Westminster, Giáo sư

Lưu Trung Khảo đã thẳng thắn xác nhận trước cử tọa rằng: “ Đối với lớp cả

triệu người di cư từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954, thì chúng tôi không

bao giờ lại có thể quên được cái ơn nghĩa và công lao của Tổng Thống Ngô

Đình Diệm đã lo lắng chăm sóc cho gia đình chúng tôi có được một cuộc

sống an lành và êm ấm tại miền Nam….” Nghị sĩ Lộc nói tiếp: “Anh Khảo là

một Phật tử thuần thành, bao nhiêu năm điều khiển chương trình phát thanh

“Hải Triều Âm” rất nổi tiếng của các Phật tử ở Quận Cam. Ấy thế, mà anh đã

rất thẳng thắn ghi nhận công lao của Tổng Thống Diệm trong việc tiếp nhận

và định cư cả triệu đồng bào di cư từ miền Bắc vào miền Nam như anh. Rõ

ràng, anh Khảo đích thực là một con người chính nhân quân tử vậy…”

* * Là một người cùng quê hương từ vùng Hà Nam – Nam Định nổi danh với

các nhà thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, mà cũng cùng lứa tuổi, lại là đồng

môn dưới mái trường Chu Văn An, rồi lại cùng là sinh viên di cư năm 1954

với anh Lưu Trung Khảo – anh chị em chúng tôi có biết bao nhiêu kỷ niệm

vui buồn thật không thể nào quên được chung với anh suốt bao nhiêu năm

qua.

Anh Khảo thật xứng đáng là một tiêu biểu sáng giá cho thế hệ anh chị em

chúng tôi sinh trưởng ở miền Bắc mà trưởng thành tại miền Nam dưới chế độ

quốc gia thời Việt Nam Cộng Hòa.

Xin vĩnh biệt anh Lưu Trung Khảo với niềm luyến tiếc khôn nguôi và lòng

quý trọng chân thành.

Xin cầu chúc Anh luôn an nhiên thanh thản nơi cõi Vĩnh Hắng./

Westminster California ngày 12 tháng Giêng 2016

Đoàn Thanh Liêm CVA 54

Lễ gia tiên ngày Tết

Lễ gia tiên ngày Tết
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Hiện nay dù theo tôn giáo nào, người Việt Nam cũng có thể thắp nén nhang, lạy trước bàn thờ tổ tiên vào ngày giỗ, tết. Ðối với người Việt ở xa quê hương lễ gia tiên còn quan trọng hơn khi ở quê nhà. Vì đó là một cơ hội cho chúng ta nối quá khứ với hiện tại, hướng thế hệ trẻ về tương lai với một niềm tin vào truyền thống.

Ngày Tết là cơ hội mọi gia đình nhắc nhở con cháu biết lịch sử của ông bà, tạo cơ hội giải thích với con cháu tại sao phải lễ lạy trước bàn thờ. Chúng ta có thể tạo cho các thế hệ trẻ về niềm tự hào truyền thống văn hóa dân tộc, trong đó có phong tục làm giỗ, làm lễ và tưởng nhớ tổ tiên.

Người Việt Nam có phong tục thờ cúng tổ tiên từ nhiều thế kỷ trước khi bị các quan thái thú đời Hán ép sống theo văn hóa Trung Hoa, trong các cuốn sách về lịch sử Giáo Sư Lê Mạnh Thát đã nêu nhiều chứng cớ. Những ngôi mộ cổ từ hàng ngàn năm trước Tây lịch cho thấy nhiều vật tùy táng chôn theo trong mộ. Hiện tượng này chứng tỏ người Việt đã coi những người đã chết như còn vẫn tiếp tục sống ở một thế giới khác. Trong Tiền Hán Thư đã kể chuyện một người Việt trình bày cho Hán Vũ đế nghe về phong tục thờ vong và gọi hồn người chết. Thời Tiền Hán kéo dài trong hai thế kỷ trước Công Nguyên (206 TCN – 9 CN).

Lê Mạnh Thát thấy trong Lục Ðộ Tập Kinh đã trình bày quan niệm về đạo Hiếu. Kinh này được thiền sư Khương Tăng Hội, sống ở nước ta vào thế kỷ thứ ba, dịch sang chữ Hán. Thân phụ nhà sư di cư từ bán đảo Ấn Ðộ sang nước ta, thân mẫu ngài chắc là người Việt. Kinh Lục Ðộ Tập hiện nằm trong bộ đại tạng chứ Hán, nhưng được dịch từ ngôn ngữ nào? Lê Mạnh Thát biện luận rằng bản gốc không viết bằng chữ Phạn mà có thể bằng tiếng Việt, vì trong kinh có nhiều từ ngữ và khái niệm mà các kinh văn chữ Phạn không bao giờ nói tới.

Thí dụ, kinh nói đến tục chôn người chết, tục bỏ tiền vào miệng thi hài, những tục đó không thông dụng ở Ấn Ðộ cũng như Trung Hoa, còn người Việt đã theo từ lâu. Những luận giải trong kinh này về Hiếu, Hạnh, không thấy trong văn học chữ Phạn mà cũng không giống quan niệm Nho giáo ở Trung Hoa trong các thế kỷ đầu công nguyên. Ngoài ra, cấu trúc ngôn ngữ nhiều chỗ lại viết theo văn pháp tiếng Việt, ngược với văn pháp chữ Hán. Thí dụ, trong kinh viết Tượng Phật theo văn pháp tiếng Việt, người Hán phải viết Phật Tượng; có hàng chục trường hợp tương tự, đặt tĩnh từ sau danh từ.

Lê Mạnh Thát kết luận rằng Kinh Lục Ðộ Tập đã thông dụng với tổ tiên người Việt chúng ta trong mấy thế kỷ trước và sau Công Nguyên. Trong kinh đó đã bàn đến đạo Hiếu, chứng tỏ các quan niệm này đã phổ thông với người Việt từ rất lâu. Sau một ngàn năm bị người Trung Hoa cai trị, người Việt Nam đã hấp thụ Nho giáo, hòa lẫn tư tưởng đạo Nho với phong tục thờ cúng tổ tiên có sẵn. Nhưng so sánh với người Trung Hoa người Việt không quá chú trọng đến hình thức như họ. Từ đời Hán người Trung Hoa coi chữ Hiếu là đứng đầu các tính tốt, họ theo đạo Hiếu với một thái độ “giáo điều.” Con có hiếu là “vững lập trường,” có đủ mọi đức hạnh, ai không giữ hiếu là vứt đi! Trong khi đó đối với người Việt, như Lê Mạnh Thát thuật lại theo Kinh Lục Ðộ Tập, thì chữ Hiếu không có vai trò độc tôn. Giá trị của chữ Hiếu còn ở dưới lòng thương người, thương muôn vật, tình thương này là quan trọng nhất.

Ngày nay chúng ta làm lễ tổ tiên như thế nào? Bàn về việc hành lễ, đức Khổng Tử nói:“Tế như tại” (Luận Ngữ, Thiên Bát Dật, câu 12). Theo tinh thần đó, khi làm lễ tổ tiên chúng ta cung kính như thể tổ tiên đang ở trước mặt mình.

Nghi lễ đặt ra không phải chỉ vì người ta muốn làm bổn phận với Trời, Phật, Tiên Tổ, mà còn một mục đích quan trọng khác là tác dụng trên lòng người, giúp con người hướng đến điều lành, ghi khắc trong lòng các giá trị trong truyền thống. Việc thờ cúng ông bà chỉ có tác dụng nếu người hành lễ chú tâm tưởng niệm. Những lời khấn mời ông bà về họp mặt cùng con cháu nhân ngày giỗ, ngày Tết, chỉ cần nói một cách chân thành, giản dị, như thể có dịp trò chuyện với tổ tiên, tất cả hiện diện trước mặt mình. Ðiều mà các bậc phụ huynh chúng ta cần giải thích cho con em là, tổ tiên lúc nào cũng có mặt ở bên ta, nói đúng ra, ở ngay trong mỗi con người chúng ta.

Ðiều các em có thể hiểu, nói một cách khoa học, là trong mỗi cá nhân đều có những hạt giống, có dòng máu di truyền của ông bà, cha mẹ. Những hạt giống di truyền đó nằm ở trong mình, ở với chúng ta suốt cuộc đời. Mỗi người sẽ truyền lại hạt giống di truyền cho các thế hệ sau. Có thể nói mỗi người đều mang trong mình một phần những tế bào sống và những kinh nghiệm đạo lý, tâm linh mà tổ tiên đã thu nhận, đã nuôi dưỡng. Di sản của tổ tiên còn gồm cả những việc làm, những lời nói của người đã khuất. Khi còn sống, tổ tiên đều ý thức các hành động của mình sẽ ảnh hưởng tới con, cháu, nhiều thế hệ. Tổ tiên người Việt lúc nào cũng ước ao, cũng mong mỏi những việc mình làm sẽ đem kết quả tốt lành cho các thế hệ sau. Quan niệm đó, người Việt gọi là Phước Ðức Ông Bà. Khi một người Việt làm điều thiện, tránh điều ác, hành động đó không phải chỉ cốt tạo ra những hậu quả tốt cho chính mình, mà còn muốn, có khi chỉ làm với mục đích “để dành phước đức,” truyền lại cho con cháu.

Người Việt Nam tin vào Phước Ðức. Ðây cũng là một niềm tin đặc biệt Việt Nam, người Trung Hoa hay Ấn Ðộ không đề cao niềm tin vào Phước Ðức như vậy. Người Việt nghĩ rằng mỗi cá nhân có một “kho” các điều lành, gọi là “Phước Ðức.” Cái kho đó do mình tạo ra, do các hành động của chính mình; nhưng kho Phước Ðức cũng thu nhận hậu quả các hành động do cha mẹ, ông bà đã làm. Niềm tin đó nối liền các thế hệ. Nó khiến mỗi cá nhân cố gắng làm điều lành, tránh điều ác, không những để mình nhận được hậu quả tốt lành mà còn “góp vốn” cho con cháu đời sau được hưởng phước. Hoặc ít nhất con cháu “không phải trả nợ” những lỗi lầm vì những việc mà ông cha đã làm.

Cũng vậy, mỗi thế hệ cũng nghĩ rằng trong đời mình có khi gặp được điều tình cờ may mắn không hiểu được tại sao, thì sẽ giải thích may mắn đó một phần là do Phước Ðức ông bà để lại. Với niềm tin tưởng vào Phước Ðức, mỗi thế hệ đều biết ơn tổ tiên vì những phước đức tích lũy từ đời trước. Rồi đến lượt chính mình cũng muốn làm điều thiện để cất đầy trong kho phước đức chung, cho con cháu đời sau được hưởng.

Tổ tiên chúng ta đều chia sẻ niềm tin vào Phước Ðức, từ bao nhiêu thế kỷ nay vẫn giữ niềm tin này. Trong giống dân nào cũng vậy, ông bà cha mẹ đều cầu mong con cháu gặp mọi sự tốt lành, muốn để lại cho con cháu những di sản có giá trị. Nhưng đặc biệt trong truyền thống của chúng ta, niềm tin vào Phước Ðức khiến tổ tiên chúng ta không phải chỉ dùng lời nói để cầu khẩn, ước mong. Vì tin vào Phước Ðức, tổ tiên chúng ta cầu chúc cho con cháu bằng các hành động lương hảo, nhân từ, bác ái. Tổ tiên đã dùng chính bản thân, chính cuộc đời của mình để chúc lành cho con cháu. Khi hiểu như vậy, chúng ta sẽ cảm thấy một sợi dây thiêng liêng nối liền các thế hệ, sẽ nhớ tới tổ tiên với một niềm biết ơn sâu xa. Và chúng ta hiểu chính mình cũng phải làm bổn phận như vậy cho các thế hệ sắp tới.

Thế hệ trẻ có thể hiểu dễ dàng rằng trong mỗi người chúng ta mang các hạt giống di truyền của tổ theo sinh học.

Quan niệm Phước Ðức giúp họ thấy mình cũng mang theo hạt giống của các điều thiện mà tổ tiên để lại. Các bạn trẻ có thể cảm thấy sự hiện diện của tổ tiên rõ ràng hơn. Tổ tiên đang hiện diện thật sự trong bản thân họ. Khi đó việc cử hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên có một ý nghĩa sâu xa hơn; châm ngôn “Tế như tại” được thể hiện.

Nghi lễ cúng bái tổ tiên không cần phải phức tạp hay sang trọng. Ðức Khổng Tử cũng nói “Lễ, dữ kì xa dã, ninh kiệm,” nghĩa là việc hành lễ mà xa xỉ thì nên kiệm ước còn hơn. (Luận Ngữ, Bát Dật, 4.) Ðể cho thế hệ trẻ tham dự nghi lễ thờ cúng ông bà một cách tự nhiên, thoải mái, chúng ta cần hành lễ theo cách nào đơn giản hơn cả, chú ý đến nội dung hơn là hình thức. Như lời Khổng Tử nói về tang lễ, trong cùng đoạn trên, “Tang, dữ kì dị dã, ninh thích” (Tang lễ mà quá chú trọng nghi tiết thì chỉ bày tỏ lòng thương xót còn hơn.) Nhưng giản dị không có nghĩa là vội vàng, cẩu thả. Lòng thành kính phải được thể hiện ra với hình thức bên ngoài, trong y phục và cử chỉ người lễ.

Hành lễ với khung cảnh, thái độ cung kính và trang nghiêm sẽ tạo được tác dụng sâu xa trong lòng các bạn trẻ, giúp họ tham dự vào phong tục thờ cúng ông bà. Giữ phong tục thờ cúng tổ tiên sẽ truyền lại cho các thế hệ sau một di sản văn hóa quý báu của dân tộc Việt Nam.

NGƯỜI LÀ BỤI TRO

NGƯỜI LÀ BỤI TRO

GM Giuse Vũ Văn Thiên

MUA CHAY

 

Người ơi hãy nhớ, mình là bụi tro
Một mai người sẽ trở về bụi tro”
(Thánh ca)

Bài thánh ca đã trở thành quen thuộc mỗi khi Mùa Chay về.  Lời ca đơn sơ mà da diết, bi ai mà thiết thực, nhắc chúng ta nhớ về thân phận con người.
Trong nghi thức khai mạc Mùa Chay, các tín hữu công giáo, từ giáo hoàng, giám mục, linh mục đến giáo dân, mọi người đều khiêm hạ nhận lấy một chút tro trên đầu.  Người giàu cũng như người nghèo, người già cũng như người trẻ, hết thảy đều nhận mình là thân phận bụi đất, hư vô.  Nghi thức này thật cảm động, vừa diễn tả lòng sám hối, vừa nói lên nguồn gốc tro bụi của mình.  Bụi tro xem ra đơn giản là thế mà lại gợi ý suy tư với bao điều sâu sắc.

1- Bụi tro nhắc nhở chúng ta sự mỏng giòn của kiếp người
Tro là phần còn lại của một số chất liệu sau khi đã bị lửa thiêu rụi.  Tiền thân của tro có thể là những đồ vật một thời quý giá, sang trọng, có thể là những bông hoa một thời kiêu sa, rực rỡ.  Thế rồi, với tác động của ngọn lửa, những gì là rực rỡ không còn, những gì là kiêu sa đã mất, còn lại chỉ là nắm tro tàn vô dụng.  Phụng vụ khuyên đốt những cành lá sử dụng trong Chúa nhật lễ Lá năm trước để lấy tro dùng trong nghi thức làm phép và xức tro.  Những cành lá nhắc lại lời tung hô của người dân thành Giêrusalem khi Đức Giêsu tiến vào thành thánh.  Như những cành lá xanh tươi mau khô héo do tác động của thời gian, những lời ca tụng con người dành cho nhau sớm bị lãng quên vì chỉ nhất thời.  Nếu có rất nhiều người tung hô Đức Giêsu khi Người vào thành thánh ngày Chúa nhật lễ Lá, thì cũng có khá đông những cánh tay giơ lên chiều thứ Sáu để đòi lên án tử cho Người.  Khoảng cách cho một cành lá từ lúc xanh tươi đến lúc héo tàn mỏng manh là thế.
Khi tham dự nghi thức hỏa táng một người thân, chúng ta cảm nghiệm cách sâu xa sự mỏng giòn của thân phận con người.  Chỉ sau vài giờ đồng hồ, ngọn lửa đã biến thân xác con người trở thành tro bụi.  Vẻ đẹp đẽ xinh tươi sẽ không còn; giàu sang phú quý sẽ biến mất.  Những hộp hài cốt đặt để gần nhau trong ngôi “nhà tưởng niệm” cho thấy, sau khi chết, con người chẳng còn chi khác biệt.  Giàu sang, nghèo hèn có cùng một địa chỉ; yêu thương thù ghét cùng một chốn đi về.
Như một đoá hoa vô thường, cuộc đời mỏng manh, nay còn mai mất.  Mỗi ngày qua đi, thân xác con người thay đổi, rồi đến mùa thu cuộc đời, họ trở nên tàn tạ.
Vượt lên thân phận mỏng giòn chóng qua của kiếp con người, đức tin công giáo hướng chúng ta về những giá trị vĩnh cửu.  Quả vậy, nếu thân xác con người như đoá phù dung sớm nở tối tàn, thì linh hồn con người lại trường tồn bất tử.  Nếu cuộc sống thế gian dừng lại khi con người nhắm mắt xuôi tay, thì cuộc sống vĩnh cửu lại khởi đầu lúc con người giã biệt trần thế.  Phủ nhận linh hồn bất tử, con người sẽ bất hạnh, vì sau khi chết, họ trở về với hư vô.  Không tin Thiên Chúa hiện hữu, người ta sẽ sống trong vô vọng, vì không tìm đâu được lý tưởng cuộc đời.

2- Bụi tro nhắc nhở chúng ta nhận ra Thiên Chúa là Đấng Vĩnh cửu
Tác giả sách Sáng thế nói với chúng ta, thân xác con người được tạo thành từ bùn đất, rồi con người sẽ trở về với đất, vì từ đất mà ra.  “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi và con người trở nên một sinh vật” (St 2, 7).  “Con người” chỉ khác với đất là có hơi thở.  Chính Thiên Chúa đã “thổi hồn” cho đất để đất trở nên người.  Đất với người từ đó mà có duyên nợ, luôn gắn liền với nhau.  Con người sống nhờ đất khi thọ hưởng biết bao hoa màu từ đó, rồi cũng chết vì đất khi đổ mồ hôi trán để tồn tại và mưu sinh.  Đất là chỗ đứng chắc chắn cho bước chân người khi họ còn sống; Đất mở rộng vòng tay đưa con người trở về an nghỉ khi họ từ giã cuộc đời.  Hành trình con người khởi đi từ đất, qua một chuỗi những tháng ngày vui tươi đau khổ, hân hoan, thất vọng, rồi con người lại trở về với… đất.  Cách trình bày của tác giả sách Sáng thế cho ta thấy tình thương bao la của Thiên Chúa.  Con người là một tác phẩm do chính Chúa tạo nên.  Ngài như một người thợ thủ công lành nghề, khéo léo nhào nắn đất để tạo nên hình dạng con người.  Với tình yêu thương, Ngài chăm sóc và ban cho con người hơi thở.  Hơi thở ấy chính là hơi thở của Ngài.  Thật kỳ diệu khi được biết sự sống của chúng ta chính là hơi thở của Thiên Chúa.  Nhờ hơi thở của Chúa mà con người trở nên cao cả, tuy được nắn từ bùn đất.  Sau cuộc đời lo toan giữa nhân tình thế thái, con người trước khi về với đất “trút linh hồn”, trả lại “hơi thở” cho Chúa, trong tâm tình biết ơn trìu mến, như người con phó thác trọn vẹn nơi Cha mình.

3- Bụi tro nhắc chúng ta sống tốt cuộc đời tạm này
Khi ý thức được sự mỏng giòn chóng qua của thân phận con người, chúng ta chọn lựa và gắn bó với những giá trị trường tồn vĩnh cửu.  Của cải vật chất chỉ là phương tiện Chúa ban để chúng ta sống xứng với phẩm giá con người và để giúp đỡ anh chị em.  Chúng ta không thể mang theo chúng khi giã biệt cõi đời.  Cánh tay buông thõng của người vừa trút hơi thở cuối cùng cho thấy, con người đến thế gian với hai bàn tay trắng, nay trở về với cát bụi cũng chỉ là tay không.  Thật bất hạnh cho những ai coi tiền bạc của cải như những chiếc “phao cứu hộ” vào lúc cuối đời.
Vì những lợi lộc trần gian mà không thiếu người dùng mọi mưu mô mánh lới.  Vì vinh quang nhất thời mà có người đã coi nhẹ lương tâm.  Bụi tro nhắc chúng ta những vinh quang trần thế cũng chỉ như đoá hoa rực rỡ hôm nay, ngày mai sẽ trở thành tro bụi.  Chỉ có tình Chúa tình người mới lâu bền tồn tại, mãi đến thiên thu.
Nếu bàn bay buông thõng của người vừa nằm xuống chẳng mang theo được gì khi tạm biệt cõi đời, thì những công phúc họ đã thực hiện ở đời này lại theo họ mãi mãi (x. Kh 14, 13).  Vì vậy, trong cuộc đời quá ngắn ngủi này, chúng ta được kêu gọi tận dụng thời gian để sống tình nhân ái với nhau. Hãy thôi những bon chen lừa lọc vì cuộc đời chẳng là mấy.  Hãy dừng những toan tính nhỏ nhen vì chẳng ai sống mãi trên đời.  Thấy rõ cuộc sống chóng qua giúp ta thiện chí sống bao dung quảng đại. “Hổ chết để da, người ta chết để tiếng”.  “Tiếng” đây là lòng nhân hậu, là đạo đức của con người.  Một người sống tốt lành, khi thân xác của họ đã an nghỉ trong lòng đất, cái đức của họ vẫn còn.  Họ vẫn được lưu danh với thời gian.
“Người ơi hãy nhớ, mình là bụi tro
Một mai người sẽ trở về bụi tro”

Lời ca đơn sơ mà da diết, bi ai mà thiết thực, nhắc chúng ta nhớ về thân phận con người, hướng chúng ta về với Đấng Vĩnh Cửu qua những thực hành cụ thể của cuộc sống hôm nay.

GM Giuse Vũ Văn Thiên

TA KHÔNG THỂ BỎ MẶC THẾ GIỚI NÀY CHO NHỮNG KẺ MÀ TA KHINH BỈ

TA KHÔNG THỂ BỎ MẶC THẾ GIỚI NÀY CHO NHỮNG KẺ MÀ TA KHINH BỈ

Vận động ứng cử ĐBQH 2016

Đoan Trang

9-2-2016

H1Kể từ khi cầm quyền đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm đủ trò để biến chính trị thành một thứ xấu xa, gớm ghiếc, đáng khinh, đáng sợ, trong suy nghĩ của người dân. Người nào thanh cao, trong sạch thì phải biết tránh xa chính trị, lo làm tốt bổn phận của mình, còn các vấn đề vĩ mô thì đã có Đảng và Nhà nước lo – Đảng dạy dân như thế.

Mà đúng là chính trị của Đảng xấu xa, gớm ghiếc thật. Đảng có một cơ chế nhân sự kỳ lạ sao đó, sàng lọc rất giỏi: Phàm người nào vừa tài giỏi vừa nhân hậu và trung thực, tóm lại vừa có tài vừa có đức, chắc chắn sẽ không bao giờ lên cao được. Càng làm to, mức độ tài đức của quan chức cộng sản càng giảm. Cứ thế, cho đến đỉnh cao là Bộ Chính trị và Tứ trụ thì tài đức còn bao nhiêu, chúng ta tự hiểu.

Chính trị của Đảng là thứ chính trị ưu tiên sự xảo trá, giảo quyệt… nôm na là lưu manh.

Chính trị của Đảng là thượng đội hạ đạp, là nịnh trên nạt dưới.

Chính trị của Đảng là phá rất giỏi, nhưng xây thì tồi tệ, be bét. Bất kỳ cái gì có chữ “phá”, người cộng sản đều làm tốt cả: phá tư sản, phá kinh tế, phá rừng phá núi, phá cầu phá đường, phá đình phá chùa, phá làng phá xóm, phá thương hiệu, phá uy tín, đương nhiên là cả “phá án” luôn, trong đó có phần “phá phản động”.

Vì chính trị của Đảng như thế, nên cũng có phần sự thực là, nếu là người lương thiện, chẳng mấy ai muốn dây vào nó.

Nhưng cũng chính vì thế, những người tài, người tốt cứ để Đảng phè phỡn trong quyền lực, muốn làm gì thì làm, muốn ra chính sách gì thì ra, muốn phá gì thì phá, cứ thoải mái ghìm chặt đất nước, không cho phát triển suốt hàng chục năm nay.

* * *

Cuộc bầu cử Quốc hội 2016 lần này, đứng trên mặt Đảng mà xét, sẽ chẳng có thay đổi gì, vì cơ chế là do Đảng đề ra, luật là do Đảng đề ra, nhân sự, quần chúng cũng là do Đảng chỉ định, thuê mướn để diễn trò.

Nhưng về phía những người tiến bộ, mong muốn đất nước thay đổi, thì có một cái khác: Đây là dịp (duy nhất trong vòng 5 năm tới) để chúng ta tham gia vào nền chính trị của Đảng, không phải để hy vọng sẽ thay thế được Đảng, mà đơn giản là để lột trần cái màn kịch dân chủ của Đảng.

Chúng ta hãy tranh cử vào Quốc hội – cho đến nay vẫn đã và đang luôn luôn là của Đảng Cộng sản Việt Nam với 95% đại biểu là đảng viên cộng sản. Hãy tranh cử để thay đổi tỷ lệ này dù ít dù nhiều.

Hãy tranh cử để ít nhất là làm cho Đảng phải mệt sức, tốn tiền đối phó. (Tiền thì tất nhiên cũng là của ngân sách nhà nước thôi, chứ Đảng ngoài lừa và cướp ra thì có bao giờ gây được quỹ. Nhưng, ngân sách hay nguồn lực nào mà chẳng có hạn).

Hãy tranh cử, bởi vì một sự thực này: TA KHÔNG THỂ BỎ MẶC THẾ GIỚI NÀY CHO NHỮNG KẺ MÀ TA KHINH BỈ.

Bài: Phạm Đoan Trang – một ứng viên tự do.

(*) Từ Đảng sử dụng trong bài được ngầm hiểu là đảng cộng sản Việt Nam.

Chúng ta chiến thắng trong chiến tranh để trờ thành NGƯỜI THUA CUỘC

Chúng ta chiến thắng trong chiến tranh để trờ thành NGƯỜI THUA CUỘC

FB Trâm Lê

9-2-2016

Có thể đối với nhân dân VN, ngày 30/4/1975 là mốc lịch sử thống nhất tổ quốc. Thống nhất đất nước, hết tiếng bom đạn, hết lo âu về cuộc chiến đều là giấc mơ của mỗi người dân VN nói riêng và những người yêu hòa bình trên thế giới nói chung. Tôi ko đề cập đến chế độ cộng sản hay cộng hòa ở đây, bài viết này tôi chỉ đề cập duy nhất đến 1 thứ. Đó là người Việt, sự tự cường dân tộc.

Một dân tộc lớn mạnh thì phần lớn nằm ở sự tự cường của dân tộc đó. Không thể phủ nhận sự tự cường dân tộc ở chính “người anh em láng giềng” Trung Quốc. Tuy họ mang nhiều cái nhìn tiêu cực từ chúng ta như đồ ăn bẩn, chất độc, hàng nhái v.v.. Nhưng nhiêu đó chỉ là 1 phần nhỏ, cái mà chúng ta phải nhìn nhận lại mình là họ dám làm được những thứ họ cần. Vậy VN mình sao lại không như vậy? Hãy quay trở lại quá khứ 1 chút, chúng ta sẽ biết nguyên nhân.

Sáng 11/9/1975 quyết định số 111/CP chính thức áp dụng lên 17 tỉnh thành miền Nam và nó mang tên “Đánh tư Sản”. Sự kiện này chính thức loại bỏ dần tính tự cường dân tộc của VN theo khái niệm kinh tế. Nội dung chính của sự kiện này như sau: Tịch thu nhà và cưỡng chế toàn bộ những nạn nhân phải đi về vùng Kinh Tế Mới sống. Cưỡng chế giải tán toàn bộ các công ty doanh nghiệp tư nhân, tiểu thương, các thành phần sản xuất nhỏ vốn rất đa dạng và phồn thịnh trong nền kinh tế tự do của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, khuyến khích hậu thuẫn cho quốc dân từ bấy lâu.

Nền công nghiệp nhẹ, sản xuất đồ gia dụng trong nhà của Việt Nam đã hoàn toàn chính thức bị phá hũy. Người dân Việt Nam sẽ không còn thấy các sản phẩm tự hào của dân tộc như nồi nhôm hiệu Ba Cây Dừa , xà bông hiệu cô Ba, xe hơi hiệu La Đalat, hiệu đèn trang trí Nguyễn Văn Mạnh .v.v… Không những thế, các nhà máy nhỏ sản xuất nhu yếu phẩm như đường, bột giặt, giấy cũng bị tê liệt vì chủ nhân bị quốc hữu hóa. Các nhà sách về khoa học kỹ thuật cũng như các tác phẩm văn học thế giới cũng bị tịch thu tiêu hủy với 1 lý do chung “văn hóa phẩm đồi trụy”.

Hiển nhiên cánh cửa kết nối khoa học kỹ thuật hiện đại đến VN đã bị chặn lại. Kế đó là đường lối quốc hữu hóa toàn bộ đất đai của nhân dân qua hình thức “Tập đoàn sản xuất” là một sai lầm nghiêm trọng dẫn đến nạn đói năm 1979 ngay liền sau đó vì lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp bị sút giảm toàn diện tại miền Nam.

Khai tử công nghiệp, nông nghiệp thất bại, văn hóa đóng cửa. Mới nghe đến đây tôi cũng không tin rằng VN sẽ thoát ra khỏi chốn tăm tối mịt mù ấy. May thay chính phủ họ cũng đã biết sửa sai, đó là hàn gắn dân tộc sau chiến tranh. Sự kiện tập trung tại Sài Gòn, hàng ngàn gia đình cán bộ miền Bắc đã vào Sài gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu.

Theo thừa nhận ngắn ngủi từ báo SGGP và báo Công An khi bàn đến vấn đề trả lại nhà cho những “đối tượng” bị đánh tư sản oan ức vào tháng 9 năm 1989, ước tính lên đến khoảng 150.000 người thuộc gia đình cán bộ gốc miền Bắc vào Sài Gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu. Trong chiến dịch này, số lượng người Sài Gòn phải bị mất hết tài sản và bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI là khoảng 600.000 người, tạo ra một sự hoảng sợ hoang man chưa từng có trong lịch sử phát triển Sài Gòn qua các triều đại.

Ghi nhận của Hà Nội là có khoảng 950 ngàn người Sài Gòn bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI, không hoàn thành chỉ tiêu đề ra là 1,2 triệu người. Sau sự hàn gắn dân tộc này tôi hiểu được chữ Nam Kỳ – Bắc Kỳ. Nó thật đay nghiệt.

Tất cả những ai tại Sài Gòn bị Đảng tịch thu nhà , tài sản đều phải đi về vùng KINH TẾ MỚI, là những nơi mà cơ sở hạ tầng cho sinh hoạt chưa được xây dựng, trong đó có cả điện nước, trường học và bệnh xá. HƠN SÁU TRĂM NGÀN nạn nhân bị cưỡng bức qua đêm phải rời Sài Gòn để về những vùng KINH TẾ MỚI và bỏ lại hết toàn bộ tài sản của mình từ nhà ở, của cải, đồ đạc cho Đảng quản lý. Thế là cả triệu người dân Sài Gòn đột nhiên lâm vào cảnh đói kém trầm trọng như là đòn trả thù hữu hiệu của Đảng đối với những người bị liệt vào thành phần không phải “Cách Mạng”, ngụy quân ngụy quyền và tiểu tư sản. Ước tính có khoảng 300 ngàn trẻ em bị thất học vì sống ở các vùng Kinh Tế Mới này.

Nhân dân miền Nam- cả triệu người đang sống sung túc bỗng lao vào chịu đói kém khổ sở chưa từng có. Nạn đói kém lan tràn khắp mọi nơi, mọi nhà trước thảm cảnh. Hậu quả của nó là Việt Nam tụt hậu hơn 50 năm về kinh tế vì các chính sách đánh tư sản này của Đảng lên đầu người dân miền Nam. Việt Nam là quốc gia nghèo đứng hàng thứ ba trên thế giới vào năm 1985.

Cho đến năm 1994 VN thoát khỏi cấm vận và có những tiến bộ cải thiện khi World Bank và USAID tăng tốc trợ giúp, cùng với chính sách thay đổi nền kinh tế đến hiện tại chúng ta có gì. Chúng ta vẫn chẳng có gì ngoài 1 đất nước làm nhân công cho thế giới, chuyên lắp ráp mà ko có dây chuyền sản xuất của riêng mình. Các chỉ tiêu đặt ra như đưa bao nhiêu ngàn nhân công xuất khẩu lao động cho nước A, B ,C ..v..v.

Các bạn có đau đớn như tôi khi nhìn thấy Campuchia tự hào họ có thể tự chế tạo xe hơi không? Bạn có cảm thấy buồn khi công nghệ Lào đã sử dụng rộng rãi 4G trước VN ko. Hay bạn vẫn đang tự hào VN ta đánh đuổi được thực dân Pháp, đế quốc Mỹ. Hay bạn vẫn đang tự hào về 1 VN đầy ung nhọt, đầy chia rẽ trong chính những người dân. Tôi chỉ tự hào về VN khi nào nó tìm lại được sự tự cường dân tộc.

7 cách bố thí không tốn một đồng lại được may mắn cả đời

  7 cách bố thí không tốn một đồng lại được may mắn cả đời

Lão hòa thượng dạy 7 cách bố thí không tốn một đồng lại được may mắn cả đời

Có một câu chuyện kể về cuộc đối thoại giữa một vị lão hòa thượng và một người dân thường như thế này:

Một ngày nọ, có một người đàn ông chạy đến trước mặt vị lão hòa thượng. Anh ta vừa khóc vừa kể lể: “Thưa ngài, vì sao con làm việc gì cũng đều không thành công?”

Lão hòa thượng trả lời anh ta rằng: “Điều này là bởi vì ngươi không học được bố thí!” (Bố thí ở đây được hiểu là cho, quyên tặng, thực hành…)

Người đàn ông lại nói: “Nhưng con chỉ là một người nghèo đói thôi ạ!”

Lão hòa thượng nghe xong lại nói với anh ta rằng: “Cũng không phải là như vậy! Một người cho dù là không có tiền cũng vẫn có thể cho người khác 7 thứ:

  1. Bố thí bằng vẻ mặt: Ngươi có thể cho người khác vẻ mặt tươi cười niềm nở.
  1. Bố thí bằng lời nói: Ngươi có thể cho người khác những lời cổ vũ khích lệ, lời an ủi, lời khen ngợi, lời khiêm tốn và lời nói ấm áp.
  1. Bố thí bằng tấm lòng: Hãy mở rộng tấm lòng và đối xử chân thành với người khác.
  1. Bố thí bằng ánh mắt: Hãy dùng ánh mắt thiện ý để nhìn người khác.
  1. Bố thí bằng hành động: Dùng hành động để đi giúp đỡ người khác.
  1. Bố thí bằng chỗ ngồi: Khi đi xe hay thuyền, có thể đem chỗ ngồi của mình tặng cho người khác.
  1. Bố thì bằng nơi ở: Đem phòng ở trống không sử dụng cho người khác nghỉ ngơi.

Cuối cùng, lão hòa thượng lại nói:Vô luận là ai, chỉ cần dưỡng thành 7 thói quen này thì vận may sẽ đến với người đó “như hình với bóng!”

Lão hòa thượng khuyên bảo chúng ta rất nhiều cách để thực hành bố thí chỉ cần dùng tâm là có thể làm được. Ví như trong cuộc sống hàng ngày, mưu sinh kiếm tiền nuôi gia đình, kỳ thực đây cũng là một dạng “bố thí.”

Nếu như bạn đang ở trong mê, cảm thấy mình đang “làm trâu làm ngựa” kiếm tiền trả khoản nợ nào đó cho gia đình. Và vì thế mà trong lòng bạn ôm giữ một nỗi oán giận thì bạn sống sẽ rất khổ! Chỉ cần bạn thay đổi ý niệm, biết rằng nuôi gia đình chính là bạn đang bố thí cho người khác, bạn đang làm việc tốt nuôi dưỡng gia đình. Khi ấy trong lòng bạn sẽ cảm thấy rất nhẹ nhàng và vui vẻ!

Đừng tưởng rằng chỉ có đến chùa bỏ một chút tiền vào đó thì mới là bố thí. Kỳ thực nhiều người không hiểu rằng, trong cuộc sống hàng ngày, hết thảy việc bạn đang làm đều là bố thí, là nuôi dưỡng!

Đơn giản như, bạn sửa sang dọn dẹp lại nhà cửa sạch sẽ khiến cho gia đình sống được thoải mái thì đó cũng là bạn đang bố thí đối với mọi người trong gia đình. Hay bạn tận tâm tận lực làm việc ở sở làm thì cũng là một cách bố thí đối với công ty và nuôi dưỡng xã hội …

Nếu như bạn có thể khởi ý nghĩ này trong tâm thì bạn sẽ sống được tự tại. Hãy tin rằng cho dù những việc làm bố thí của bạn trước mắt không nhận được thù lao đi nữa thì trong tương lai bạn cũng nhận được sự hồi báo kỳ diệu!

Anh Trần Minh gởi

Đừng lo lắng gì cả (Thứ Hai – Mồng Một Tết Nguyên Đán, cầu bình an cho năm mới)

Đừng lo lắng gì cả (Thứ Hai – Mồng Một Tết Nguyên Đán, cầu bình an cho năm mới)

Dongten.net

Lời Chúa: Mt 6, 25-34

Khi ấy Chúa Giêsu nói cùng các môn đệ rằng:“Thầy bảo cho anh em biết: đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao? Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao? Hỏi có ai trong anh em có thể nhờ lo lắng mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang không? Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Salômôn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin! Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.”

Suy nim:

Ngày Tết báo hiệu một năm cũ đã qua và một năm mới đang đến.
Chúng ta cần nhìn lại một năm qua với cái nhìn của Chúa
để thấy tất cả là hồng ân,
kể cả những gì người đời coi là xui xẻo, bất hạnh.
Chúa đã cho chúng ta sống thêm một thời gian, thêm một năm trên đời.
Chúng ta nhận ra thời gian một ngày nhờ mặt trời mọc lên rồi lặn xuống.
Nhà nông nhận ra thời gian một tháng nhờ mặt trăng tròn rồi lại khuyết.
Tạ ơn Chúa vì hai nguồn sáng quý báu như vậy trên bầu trời.
Thời gian theo Kitô giáo không đi theo đường xoắn ốc, nhưng theo đường thẳng.
Thời điểm nào cũng là duy nhất, đi rồi không trở lại, nên rất đáng quý.
Con Thiên Chúa làm người đã đằm mình trong dòng thời gian như ta.
Nhờ Ngài, dòng thời gian này sẽ đưa ta vào vĩnh cửu của Thiên Chúa.

Ngày Tết người ta thường hay chúc nhau.
Chúc sức khỏe, chúc làm ăn phát đạt, chúc mọi sự như ý…
Chúng ta có thể học được một cách chúc rất đẹp trong sách Dân Số (6, 22-27).
Đức Chúa chỉ dạy cho ông Môsê
để ông này chỉ lại cho ông tư tế Aaron biết cách chúc lành cho dân.
Có ba lời chúc, mỗi lời đều bắt đầu bằng chủ từ là Đức Chúa:
“Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em.
Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em và dủ lòng thương anh em.
Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn anh em và ban bình an cho anh em.”
Ơn bình an là ơn bao gồm mọi ơn về sức khỏe, sống lâu, an ninh, thịnh vượng…
Rốt cuộc chính Đức Chúa mới là Đấng chúc lành cho dân Ítraen (c. 27).
Chính Đức Chúa đóng ấn Danh của Ngài trên họ để bảo trợ họ.
Và hôm nay chính Ngài cũng ban muôn ơn cho ta nhờ Danh Đức Giêsu.

Trước thềm Năm Mới, con người không tránh khỏi nỗi lo về tương lai.
Có nhiều nỗi lo rất hữu lý, vì khó khăn trước mắt là có thật.
Có nhiều nỗi lo âu chỉ vì con người thấy mình quá đỗi mong manh.
Nỗi lo quấn lấy con người và làm tâm con người không yên.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu bốn lần nhắc chúng ta “Đừng lo.”
Nếu Kitô hữu không bị quay quắt vì lo âu
thì không phải vì họ là người vô lo, hay vì họ tự tin, giỏi giang hơn người khác.
Đơn giản chỉ vì họ có một Người Cha quan tâm đến mọi nhu cầu của họ.
Kitô hữu tận tụy hết mình cho công việc, nhưng lại không bất an, lo âu.
Tín thác như một đứa con ngồi trong lòng cha,
họ đặt vinh quang Thiên Chúa lên trên hết,
và tin mọi sự khác sẽ được Ngài lo liệu.

Cầu nguyn:

Lạy Cha,
Cha đã cho chúng con sống thêm một năm,
đi thêm một đoạn đường đời.

Nhìn lại đoạn đường đã qua,
chúng con chỉ biết nói lên lời tạ ơn chân thành,
vì Cha vẫn cho chúng con sống,
và sống trong tình yêu.

Mọi biến cố vui buồn của năm qua
đều là những lời mời gọi kín đáo của Cha
để thức tỉnh, nâng đỡ và đưa chúng con lên cao.

Tạ ơn Cha
vì những gì cuộc đời đã làm cho chúng con,
và những gì chúng con đã làm được cho cuộc đời.

Xin cho chúng con sống những ngày Tết dân tộc
trong tinh thần vui tươi, hòa nhã,
và không quên những ai nghèo khổ, cô đơn.

Ước gì những lời chúng con chúc cho nhau
là những lời chúc lành
xuất phát từ trái tim yêu thương.

Và lạy Cha, năm mới đã đến,
trái đất lại xoay một vòng mới quanh mặt trời,
chúng con cũng muốn
ở lại trong quỹ đạo của Cha,
nhận Cha là trung tâm cuộc sống,
và nhận mọi người là anh em. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J

Báo động: Người Trung Quốc lại sắp lập căn cứ ở Quảng Trị

Báo động: Người Trung Quốc lại sắp lập căn cứ ở Quảng Trị

Tác giả chụp ảnh với một lão nông ở địa phương, người có hơn 8 sào đất thuộc diện sẽ bị thu hồi, hôm 4.2.2014, trên con đường đất đỏ dẫn xuống biển (khu đất dự án nằm ngay trước mặt chúng tôi; sau lưng chúng tôi, cách gần 1km, là Hải đội 202, Vùng Cảnh sá

Tác giả chụp ảnh với một lão nông ở địa phương, người có hơn 8 sào đất thuộc diện sẽ bị thu hồi, hôm 4.2.2014, trên con đường đất đỏ dẫn xuống biển (khu đất dự án nằm ngay trước mặt chúng tôi; sau lưng chúng tôi, cách gần 1km, là Hải đội 202, Vùng Cảnh sá

Lê Anh Hùng

11.02.2014

Trong những năm qua, dư luận đã nhiều lần lên tiếng trước tình trạng người Trung Quốc, thông qua chiêu bài lập dự án kinh tế dưới nhiều hình thức khác nhau, đã chiếm lĩnh được những khu vực hiểm yếu về an ninh – quốc phòng trên cả nước trước sự “ưu ái” và “chủ quan” đến mức khó hiểu của những người có trách nhiệm.

Các dự án trồng rừng đầu nguồn ở một số tỉnh miền núi phía bắc của tập đoàn InnovGreen và việc tập đoàn Formosa thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương tại Khu Kinh tế Vũng Áng là những ví dụ điển hình.
Mới đây, trong lần ghé thăm Cửa Việt (Quảng Trị), chúng tôi lại nhận được một tin hết sức đáng lo ngại: Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam (một công ty sản xuất thức ăn gia súc, thuỷ sản và chăn nuôi hàng đầu Việt Nam, trước đây thuộc tập đoàn C.P. Group của Thái Lan, nhưng đã bị Trung Quốc thâu tóm kể từ năm 2011) sắp được giao 96,1ha đất, kéo dài hơn 2km dọc theo bờ biển và chỉ cách cảng Cửa Việt chưa đầy 1km.

Cửa Việt nhìn từ cầu Cửa Việt.

Cửa Việt nhìn từ cầu Cửa Việt.

Nhà văn Xuân Đức, một người con của tỉnh Quảng Trị, đã viết về Cửa Việt như sau:

Những năm đánh Mỹ, nếu Quảng Trị là cửa ngõ của cả hai thế lực tiêu biểu của loài người thì Cửa Việt chính là cuống họng của ống thực quản nuôi sống sức mạnh của kẻ xâm lược cho vành đai trắng nam giới tuyến để kháng cự với sức mạnh tổng lực của chúng ta từ Miền Bắc tràn vào. Lính thủy đánh bộ, vũ khí, thiết bị quân sự Mỹ vào cảng Cửa Việt, lên Đông Hà rồi theo con sông Hiếu để lên Cam Lộ, Khe Sanh… Cùng với các điểm chốt thiết yếu trên bờ từ biển lên rừng như cao điểm 31, Dốc Miếu, Cồn Tiên, lên đồi 241, Phulo, Đầu Mầu, Động Tri, Tà Cơn v..v.. Con sông Cửa Việt (hoặc sông Hiếu) hợp thành một phòng tuyến mà McNamara coi là bất khả xâm phạm. Và vì thế, cuộc chiến đập tan phòng tuyến Gio Linh, Cam Lộ, Khe Sanh (hàng rào điên  tử McNamara) nói chung, cuộc chiến trên cảng Cửa Việt và sông Cửa Việt nói riêng đã trở thành quyết chiến điểm khốc liệt nhất có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cả chiến trường Miền Nam.

Như vậy, có thể nói Cửa Việt là một khu vực trọng yếu và hết sức nhạy cảm về an ninh – quốc phòng.

Khu đất dự kiến thu hồi cho Công ty C.P. Việt Nam nằm gọn trong vùng đất canh tác của làng Hà Tây, xã Triệu An, huyện Triệu Phong. Người dân ở đây cho chúng tôi biết, dự án này đã manh nha từ năm 2011. Chính quyền địa phương và nhà đầu tư đã vài lần gặp gỡ với dân để trao đổi về dự án, lần gần nhất là vào ngày 12.1.2014.

Theo tìm hiểu của chúng tôi thì cán bộ địa phương hầu như không “lấn cấn” gì với dự án.

Điều này là vì một số lý do. Thứ nhất, do họ nằm trong bộ máy nên luôn đề cao ý thức chấp hành những “chủ trương lớn” của đảng và nhà nước. Thứ hai, đất đai của họ chủ yếu cho người khác thuê mướn chứ họ hiếm khi trực tiếp canh tác nên việc bị thu hồi đất đối với họ không quan trọng. Thứ ba, có lẽ là quan trọng hơn cả, những mảnh đất công, bờ ruộng, lối đi… nằm rải rác trong khu đất dự án (không thuộc đất canh tác của các hộ dân) sẽ được họ tìm cách “phù phép” để chia nhau bỏ túi theo kiểu “sống chết mặc bay…”, một hiện tượng phổ biến khắp cả nước.

Với người dân thì họ đặc biệt quan tâm đến những vấn đề thiết thân với mình: (i) sau khi bị thu hồi đất đai canh tác thì họ sẽ làm gì để mưu sinh? (ii) giá đền bù sẽ được áp như thế nào, liệu có tương xứng với giá trị đất đai canh tác của họ hay không, hay lại rẻ mạt như khắp các tỉnh thành khác? (iii) khi dự án đi vào hoạt động, nếu phần đất xung quanh khu vực dự án bị ô nhiễm (điều rất dễ xẩy ra, đặc biệt là những ao nuôi tôm nằm sát biển của bà con) khiến họ không tiếp tục canh tác hay nuôi trồng thuỷ sản được thì xử lý thế nào, ai là người phải chịu trách nhiệm.

Những người nông dân chất phác, thuần hậu ở đây không biết được đằng sau Công ty C.P. Việt Nam là Trung Quốc, và việc người Trung Quốc (mà gần đây đã xuất hiện ngày càng nhiều ở Quảng Trị) kéo sang theo dự án rồi sinh cơ lập nghiệp, xâm chiếm không gian sống của họ là điều không khó đoán, qua những “dự án” mà người Trung Quốc thực hiện trên khắp cả nước thời gian qua. Họ lại càng không ý thức được những hệ luỵ tiềm tàng về an ninh – quốc phòng của một dự án do người Trung Quốc làm chủ ngay sát nách Cửa Việt như thế gây ra. Đây là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, cũng như đòi hỏi sự lên tiếng kịp thời của công luận.

Hải đội 202, Vùng Cảnh sát biển II, nơi chỉ cách dự án do Cty Trung Quốc làm chủ chưa đầy 1km về phía Nam

Hải đội 202, Vùng Cảnh sát biển II, nơi chỉ cách dự án do Cty Trung Quốc làm chủ chưa đầy 1km về phía Nam

Tỉnh lộ 64 nối Cửa Việt với thị xã Quảng Trị, khu vực dự án nằm song song và chỉ cách con đường này hơn 100m

Tỉnh lộ 64 nối Cửa Việt với thị xã Quảng Trị, khu vực dự án nằm song song và chỉ cách con đường này hơn 100m
Bên phải là tỉnh lộ 64, cách bờ biển khoảng 1km, nối Cửa Việt với thị xã Quảng Trị; bên trái là đường đất đỏ dẫn xuống biển (đây là ranh giới phân chia đất canh tác của làng Phú Hội và làng Hà Tây, xã Triệu An).

Bên phải là tỉnh lộ 64, cách bờ biển khoảng 1km, nối Cửa Việt với thị xã Quảng Trị; bên trái là đường đất đỏ dẫn xuống biển (đây là ranh giới phân chia đất canh tác của làng Phú Hội và làng Hà Tây, xã Triệu An).
Đường đất đỏ chạy từ tỉnh lộ 64 thẳng xuống biển. Bên trái con đường là đất đai canh tác của làng Phú Hội, bên phải là của làng Hà Tây (dự kiến thu hồi để giao cho Cty C.P. Việt Nam). Khu đất dự án nằm song song với tỉnh lộ 64 (cách mép đường đỏ vài chục mét)

Đường đất đỏ chạy từ tỉnh lộ 64 thẳng xuống biển. Bên trái con đường là đất đai canh tác của làng Phú Hội, bên phải là của làng Hà Tây (dự kiến thu hồi để giao cho Cty C.P. Việt Nam). Khu đất dự án nằm song song với tỉnh lộ 64 (cách mép đường đỏ vài chục mét)

Một ao nuôi tôm nằm sát bờ biển của bà con làng Hà Tây

Một ao nuôi tôm nằm sát bờ biển của bà con làng Hà Tây

Liệu có nhất thiết phải thu hồi những thửa ruộng phì nhiêu ngay sát một khu vực trọng yếu và hết sức nhạy cảm về an ninh - quốc phòng như Cửa Việt cho một công ty của Trung Quốc hay không? Ai sẽ phải chịu trách nhiệm về những hệ luỵ kinh tế - xã hội và đặc biệt là an ninh quốc phòng từ quyết định khó hiểu này?

Liệu có nhất thiết phải thu hồi những thửa ruộng phì nhiêu ngay sát một khu vực trọng yếu và hết sức nhạy cảm về an ninh – quốc phòng như Cửa Việt cho một công ty của Trung Quốc hay không? Ai sẽ phải chịu trách nhiệm về những hệ luỵ kinh tế – xã hội và đặc biệt là an ninh quốc phòng từ quyết định khó hiểu này?

Dự án này rất có thể lại là “tác phẩm” do Phó Thủ tướng Tàu “phụ trách kinh tế” Hoàng Trung Hải “đạo diễn”, giống như việc ông ta đã “dâng” đến 90% các công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia cho nhà thầu Trung Quốc, quê hương của ông ta, “dâng” phần lớn các mỏ khoáng sản của Việt Nam và ngành điện Việt Nam cho Trung Quốc, âm mưu “Hán hoá” nền kinh tế Việt Nam, hay mở đường cho người Trung Quốc chiếm lĩnh cả vùng g Áng (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh)… Xin lưu ý là lãnh đạo tỉnh Quảng Trị, kể cả lực lượng công an ở đây, phần lớn là tay chân thân tín của PTT Tàu Hoàng Trung Hải. Đó là lý do vì sao vợ chồng tác giả bài viết (Lê Anh Hùng – Lê Thị Phương Anh, những người đang tố cáo ngài PTT Tàu này về những tội ác khủng khiếp như gián điệp, buôn bán ma tuý và giết người suốt mấy năm nay) thường xuyên bị công an và côn đồ ở đây khủng bố, bắt cóc, cướp bóc, hành hung, triệt đường sống.

Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Lê Anh Hùng

Lê Anh Hùng là một blogger tự do trẻ trong nước tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.

TẾT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

TẾT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

 Tết Nguyên Đán ở Việt Nam hay còn gọi là Tết, Tết cổ truyền, Tết âm lịch… là những ngày lễ quan trọng nhất của người Việt Nam ta.  Nhưng có bao giờ bạn tự hỏi Tết mang ý nghĩa như thế nào?  Bài hát “Tết quê em”:

TET CO TRUYEN

Tết Tết Tết Tết đến rồi

Tết Tết Tết Tết đến rồi

Tết Tết Tết Tết đến rồi

Tết đến trong tim mọi người.

Mừng ngày Tết trên khắp quê tôi

Ngàn hoa thơm khoe sắc xinh tươi

Đàn em thơ khoe áo mới

Chạy tung tăng vui pháo hoa

Mừng ngày Tết trên khắp quê tôi

Người ra Trung, ra Bắc, vô Nam

Dù đi đâu ai cũng nhớ

Về chung vui bên gia đình.

Lời đầu tiên, mến gửi lời chúc quý anh chị em một mùa xuân tràn đầy tin yêu và hy vọng trong năm mới này.  Bài hát “Tết quê em” gợi lên và nhắc nhớ cho chúng ta ngày Tết sắp đến rồi.  Chúng ta đã và đang chuẩn bị cho ngày Tết.  Riêng tôi, xuân đến làm cho tôi xao xuyên và nhớ về ngày Tết quê hương, nhớ đến cội nguồn, nhớ ngày xuân bên mái ấm gia đình, bên những người thân, đi chúc tuổi và nhận được bao lì xì.  Ca dao Việt Nam viết:

 Mùng Một thì ở nhà cha,

Mùng Hai nhà vợ, Mùng Ba nhà thầy

Mùng Một tết cha,

Mùng Hai tết mẹ, Mùng Ba tết thầy

Cu kêu ba tiếng cu kêu

Mong cho Tết đến dựng nêu ăn chè

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ

Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.

Kế đến, Tết mang ý nghĩa thiêng liêng là ngày đoàn tụ gia đình, là ngày làm mới, là ngày hy vọng và tạ ơn.

Tết là ngày đoàn tụ gia đình: người Việt có tục lệ hằng năm mỗi khi Tết đến lại trở về sum họp dưới mái ấm gia đình, nhớ đến ông bà tổ tiên, thăm lại nơi họ đã từng sinh sống trong thời niên thiếu đã gắn liền với đồng lúa, giếng nước, cây đa, lũy tre làng, mảnh sân nhà.  Hình ảnh đó như thôi thúc cho mọi người nhớ về với quê hương của mình.  Vì vậy, “Về quê ăn Tết” đã trở thành ngữ chỉ cuộc hành hương về nơi cội nguồn.

 Tết là ngày đổi mới: Tết là ngày đầu tiên của năm mới, mọi người có cơ hội ngồi ôn lại việc cũ và làm mới mọi việc.  Việc làm mới có thể về hình thức như dọn dẹp và sửa nhà cửa.  Về đời sống tinh thần, nhân dịp đầu năm, người ta thường tạo mối liên hệ giữa người thân để được cảm thông và bỏ qua chuyện cũ.  Người lớn cũng như trẻ con mặc quần áo mới.  Nợ nần thì được thanh toán để bước qua năm mới gặp được may lành.  Những chuyện buồn phiền, cãi vã được hàn gắn và bỏ qua trong ba ngày Tết.  Mọi người vui vẻ tươi cười với nhau. Tết còn là sinh nhật của tất cả mọi người vì ai cũng thêm một tuổi, khi gặp nhau là chúc nhau thêm một tuổi.  Người lớn mừng tuổi cho trẻ con để các cháu ăn chóng lớn, ngoan ngoãn và học giỏi; còn các cụ già thì sống lâu và mạnh khoẻ để con cháu được nhờ phúc.

 Tết là ngày tạ ơn và hy vọngNgười Việt chọn ngày Tết làm cơ hội để tạ ơn ân nghĩa mình đã được hưởng năm vừa qua.  Con cái tạ ơn cha mẹ, cha mẹ tạ ơn ông bà, tổ tiên…  Hơn nữa, Tết là ngày của hy vọng.  Hy vọng năm mới được an lành, may mắn và phát đạt.  Với tất cả mọi người Ki-tô hữu, Tết là dịp để chúng ta nhìn lại những hồng ân Chúa ban cho.

Anh chị em thân mến!  Chắc hẳn, anh chị em mình đang sống trên mảnh đất này, đang là mùa đông thời tiết thì giá lạnh, chúng ta không có được những cảm xúc không khí ấm áp của mùa xuân trên quê hương.  Đặc biệt, các bạn trẻ sinh ra và lớn lên trên đất Mỹ lại càng không có được những cảm xúc thú vị của ngày Tết cổ truyền và các phong tục của ngày Tết Việt tại quê hương.  Nhưng bên cạnh chúng ta luôn có những người thân, có cha mẹ và anh chị em.  Họ là những người mang đến cho chúng ta mùa xuân.  Chúng ta hãy nghĩ đến họ và làm cho mùa xuân được nở hoa bên nhau, đó là cách chúng ta mang lại mùa xuân cho người thân đang sống bên cạnh chúng ta.  Trên hết, Chúa là Mùa Xuân vĩnh cửu.  Ngài sẽ mang lại cho chúng ta mùa xuân ấm áp và yêu thương khi chúng ta trao cho nhau tình yêu thương, chia sẻ và cảm thông. Nhất là thời khắc quan trọng trong ngày đầu năm mới này, chúng ta hãy lì xì cho nhau lòng vị tha, khoan dung và tha thứ.  Đó là món quà quý nhất để cho chúng ta tận hưởng mùa xuân.

Chúa là Mùa Xuân ban muôn phúc lành cho anh chị em trong năm Giáp Ngọ này.

Rev. John Nguyen

Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi: Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng cướp

Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi: Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng cướp

Lời giới thiệu: Từ tháng 8/1945 khi cướp được chính quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện cai trị đất nước bằng nền chuyên chính vô sản – một chế độ độc tài toàn trị khắc nghiệt – các quyền làm người, các nguồn tài nguyên của đất nước, tài sản của nhân dân bị cướp đoạt. Việt Nam ngày càng lún sâu vào con đường tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đời sống người dân lao động ngày càng khó khan, cơ cực.

Từ thành phố Huế, Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi đã tố cáo những thủ đoạn cướp đoạt thô bạo của đảng cộng sản và khẳng định đảng CSVN là một đảng cướp.

Cuộc phỏng vấn do nhà báo Trần Quang Thành thực hiện.

Nhà báo Trần Quang Thành: Thưa linh mục Phan Văn Lợi. Việt Nam ta suốt 70 năm qua đã chịu sự thống trị của đảng CSVN. Ở miền Bắc là 70 năm, ở miền Nam là 40 năm. Người CSVN khi lên cầm quyền ở VN, họ rất tự hào về chuyện họ đã cướp được chính quyền. Chữ “cướp” của họ, họ rất tự hào. Linh mục nghĩ sao về việc “cướp” của đảng CS? Khác thế nào với những việc cướp khác?

Linh mục Phan Văn Lợi: Kính thưa Quý vị, về việc đảng CS tự hào đã “cướp”, chúng ta có nhiều điều để nói. Tôi xin được trình bày qua hai điểm chính. Thứ nhất là nhận xét chung về việc cướp củ đảng CS, và thứ hai là đối tượng cướp, tức là đảng CS đã cướp những gì của Dân tộc VN.

I- Nhận xét chung 

– Phạm vi cướp: Thông thường, một đảng cướp có phạm vi hoạt động trong một khu vực nhỏ: một ngôi nhà, một cơ sở, hoặc cùng lắm là một vùng nào đó. Và tức khắc bị nhà cầm quyền trấn áp tiêu diệt. Đảng CS thì khác, nó cướp bóc cả một quốc gia, nó khống chế cả một dân tộc. Tiếng nước ngoài gọi là banditisme international: Hệ thống cướp bóc quốc tế.

– Mức độ cướp: Vì đã cướp được chính quyền và chủ trương toàn trị trong tư cách một nhà cầm quyền, nên đảng CS cướp toàn diện từ vật chất đến tinh thần, từ cá nhân đến tập thể, như ta sẽ thấy dưới đây

– Phương cách cướp: Có 2 phương cách: bạo lực và dối trá, đúng như bản chất của đảng CS.

– Bạo lực hành chánh và bạo lực vũ khí. Bạo lực hành chánh này gồm có những bộ luật tước đoạt các nhân quyền và dân quyền, bộ máy hành chánh địa phương gây khó dễ hay đòi hối lộ, từ khước hay chấp thuận cách tùy tiện. Bạo lực vũ khí có thể là lực lượng trấn áp đông đảo gồm công an, quân đội, dân phòng, côn đồ, với dùi cui, hơi cay, còng sắt, vũ khí, nhà tù.

 

– Nhồi nhét dối trá và cưỡng bức dối trá. Nhồi nhét dối trá là bịa ra những điều không có thật về lãnh tụ (ví dụ cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Bác Hồ, của tác giả Trần Dân Tiên vốn là chính ông Hồ), về thành tích của đảng, về đối phương, bịa ra các anh hùng cách mạng (như Lê Văn Tám) để buộc người dân (nhất là giới trẻ) tin theo. Khẩu hiệu “Nghe theo đảng, nói theo đài” là cái mà chúng ta thường nghe nhắc tới. Cưỡng bức dối trá là buộc người dân phải sống trong dối trá, không được nói lên điều mình cảm thấy, điều mình suy nghĩ, sống hai lòng, kẻo phải thiệt hại vào bản thân, vào gia đình.

– Tác giả thiết kế việc cướp: Nhìn cho sâu, sẽ thấy đó là người đã thiết lập chế độ và đảng CS ở Liên Xô, tức Vladimir Illich Lenine, tiếp đó Staline đã khai triển phương cách, thủ đoạn cướp chính quyền, rồi các lãnh tụ Cộng sản tại mỗi quốc gia mà họ nắm quyền.

Đó là những nhận xét chung về việc cướp của đảng CS.

II- Các đối tượng cướp

TQT: Đảng CS đã bộc lộ sự cướp đó từ năm 1945. Linh mục có thể nói rõ hơn về việc đi cướp của đảng CS với chính quyền mà họ nắm ở Việt Nam được không?

PVL: Trong hơn 70 năm ở miền Bắc và 40 năm khắp cả nước, chúng ta thấy đảng CS đã cướp được 7 thứ. Chúng tôi gọi là 7 đối tượng cướp của nhà cầm quyền CS. Số 7 thường chỉ sự trọn vẹn.

1- Cướp quyền lực chính trị bằng quân đội và bằng quốc hội

– Trước tiên là cướp chính quyền từ chính phủ hợp pháp Trần Trọng Kim năm 1945. Điều này, ngày nay ai cũng rõ. Việt Minh cướp chính quyền, buộc chính phủ Trần Trọng Kim phải từ chức và vua Bảo Đại phải thoái vị, để nhường chỗ cho Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh và đảng CS. Sau đó, đảng CS còn thanh toán các đảng phải quốc gia như Việt Nam Quốc dân đảng, đảng Đại Việt (vụ án phố Ôn Như Hầu năm 1946),

– Tiếp đó, cướp chính quyền từ chính phủ hợp pháp VNCH mà cuối cùng là chính phủ Nguyễn Văn Thiệu. Bịa ra danh nghĩa “Chống Mỹ cứu nước” để dốc toàn lực miền Bắc xâm lăng chế độ Việt Nam Cộng hòa tại miền Nam. Trong công cuộc ăn cướp này, có sự trợ giúp của Nga, Tàu và nhiều nước Cộng sản Đông Âu.

– Sau khi cướp toàn bộ đất nước, CS quay sang cướp chủ quyền từ tay nhân dân bằng thể chế tam quyền phân công thay vì tam quyền phân lập. Hành pháp, lập pháp, tư pháp đều là công cụ trong tay đảng. Đảng phân công cho mỗi ngành. Mới đây, đảng họp đại hội lần thứ 12, lại tự tiện chọn trước thủ tướng, chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội là những con người mà nhân dân nhìn vào đã thất vọng ngay, thậm chí lo sợ.

– Thiết lập một Quốc hội mà tuyệt đại đa số là đảng viên, qua một cuộc bầu cử độc diễn, giả tạo và cưỡng bức. Quốc hội trở thành đảng hội. Dân biểu trở thành đảng biểu.

2- Cướp sự thật bằng độc quyền thông tin.

– Con người sống, xã hội vận hành nhờ tôn trọng sự thật, nhưng đảng CS lại đoạt hết sự thật. Ngay khi vừa cướp chính quyền ở Hà Nội, thì Việt Minh đã nắm ngay tất cả những phương tiện truyền thông, đài phát thanh, các nhà máy in, các cơ sở sản xuất giấy và buôn bán giấy. Báo Cứu Quốc của mặt trận VM trước đây phát hành bí mật, nay ra công khai từ ngày 24-8-1945. Báo Sự Thật, cơ quan ngôn luận của nhà nước VM, xuất bản số đầu tiên ngày 5-12-1945. Việt Minh thành lập ban chỉ đạo báo chí và văn sĩ, huấn luyện cán bộ tuyên truyền cho chế độ để hướng dẫn quần chúng. Đảng cũng hoàn toàn cấm mọi báo chí khác không phải của đảng (dù của tư nhân hay của tôn giáo). Sau khi xâm chiếm VNCH, đảng cũng làm y như vậy. Ngoài ra đảng còn mở chiến dịch tịch thu thiêu hủy những sách báo của chế độ cũ mà đảng gọi là “văn hóa phản động Mỹ ngụy”, mở chiến dịch tấn công, bắt bớ, bỏ tù những nhà báo, nhà văn mà đảng gọi là “lực lượng biệt kích văn hóa chống chế độ”

– Hiện giờ thì đảng nắm trong tay mọi tờ báo đủ loại (báo in, báo tiếng, báo hình, báo điện tử), quản lý hết mọi tổng biên tập, biên tập viên, phóng viên dưới quyền Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương. Mỗi tuần đều họp các tổng biên tập để ra chỉ thị nói gì, viết gì, không ai được chệch ra ngoài.

– Đảng cướp sự thật bằng cách trấn áp mọi ai dám tìm hiểu, công bố hay bênh vực sự thật. Bằng nhiều bộ luật và khoản luật về thông tin, về báo chí, về internet, bằng lực lượng công an mạng, bằng dư luận viên cấp cao và cấp thấp vốn nằm trong Hội đồng Lý luận trung ương, Học viện chính trị Hồ Chí Minh hoặc là đám dư luận viên mà mỗi ngày dùng lời lẽ vu khống, tục tằn để tấn công các nhà dân báo trên mạng. Rồi với biện pháp tịch thu sách báo, dựng tường lửa, đánh sập trang mạng, vu không thóa mạ, bắt bỏ tù. Ông Nguyễn Hữu Vinh (Anh Ba Sàm), ông Nguyễn Ngọc Già là vài ví dụ tiêu biểu.

– Đảng cũng cướp sự thật bằng cách tước đoạt máy ảnh, máy quay, máy vi tính của công dân, để phi tang mọi dấu vết. Thông tư của Bộ Công an do đích thân Bộ trưởng Trần Đại Quang, người mới được đề cử làm Chủ tịch, ký tháng trước, quy định các nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của cảnh sát giao thông. Theo thông tư đó thì cảnh sát giao thông từ ngày 15/2 “có quyền kiểm tra giấy tờ của người ngồi trên phương tiện đang bị kiểm soát”, và “được trưng dụng các loại phương tiện”. Một điểm gây tranh cãi nhất trong thông tư là đoạn nói cảnh sát giao thông “được trưng dụng các loại phương tiện giao thông, phương tiện thông tin liên lạc; các phương tiện, thiết bị kỹ thuật khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân và người điều khiển; sử dụng các phương tiện, thiết bị đó theo quy định của pháp luật”. Công luận cho rằng các cảnh sát từ đây sẽ “thủ tiêu” một cách hợp pháp các bằng chứng về hành vi ăn hối lộ mà người dân quay lén bằng cách “trưng dụng” điện thoại của họ. Từ “trưng dụng” này chất chứa rất nhiều ý nghĩa.

Trên đây là nói về những thông tin thời sự, sự thật thường ngày. Nhưng đảng CS cũng cướp sự thật lịch sử bằng cách bóp méo, xuyên tạc những sự kiện lịch sử mà đảng thấy không có lợi cho mình hoặc bịa đặt những điều mà đảng thấy hữu ích cho quyền cai trị của đảng. Việc này được thực hiện trong các sách nghiên cứu sử hay giáo khoa sử. Thế nhưng nó đã gây phản tác dụng là chẳng nhà nghiên cứu nghiêm túc nào sử dụng tài liệu của đảng và hầu hết học sinh, sinh viên, thầy giáo đều khinh môn học sử, chê giáo khoa sử.

3- Cướp tinh thần (tâm hồn) giới trẻ bằng độc quyền giáo dục. 

Đảng chủ trương giáo dục giới trẻ không thành những công dân ý thức, tự do, độc lập và trưởng thành nhưng thành những thần dân ngoan ngoãn, mù quáng và nô lệ. Ngoan ngoãn nghe lời đảng và mù quáng đi theo đảng, Đảng chủ trương hồng hơn chuyên, nặng về chính trị hơn văn hóa. Ngay từ nhỏ, trẻ đã được dạy thói quen gian dối và lừa đảo, kỹ năng theo dõi và báo cáo, khuynh hướng báo thù và bạo lực. Điều này ai cũng thấy rõ.

Việc cướp tinh thần giới trẻ còn thể hiện qua việc đoàn thể hóa giới trẻ bằng đội thiếu nhi Tiền phong, đoàn thanh niên Cộng sản, để vừa nhồi sọ, vừa cưỡng tâm những tâm hồn trẻ trung đó.

Rồi qua việc đảng viên hóa những nhà quản lý giáo dục và những lãnh đạo giáo dục (tức các hiệu trưởng) để họ luôn chấp hành đường lối giáo dục của đảng. Ngoài ra đảng còn làm băng hoại lương tâm và đức hạnh của các cô thầy. Bệnh thành tích, nạn đổi tình hay đổi tiền lấy điểm, não trạng cấm cản học sinh sinh viên biểu tình yêu ước, phê phán chế độ, đòi hỏi dân chủ… là những ví dụ.

Cướp tinh thần giới trẻ bằng cách chính trị hóa sách giáo khoa, nhất là các môn sử, văn và công dân, để giới trẻ chỉ thấy đảng là đạo đức văn minh, là thiên tài kiệt xuất, đỉnh cao trí tuệ, “bác Hồ” là nhân vật xuất chúng, tâm gương thập toàn, vĩ nhân số một của lịch sử Việt Nam.

Đảng còn xuyên tạc Việt sử là một lịch sử chống Tàu, và có âm mưu xóa dần môn sử để làm cho giới trẻ không còn lòng yêu nước thương nòi, lòng tự hào dân tộc, lòng quý chuộng các tổ tiên anh hùng, nhất là để dễ dàng chấp nhận việc Việt Nam lệ thuộc Tàu, sát nhập vào Tàu.

4- Cướp lương tâm con người và đạo đức xã hội bằng cách tạo ra một văn hóa mới và một bầu khí vô thần. 

– Đảng đẻ ra một thứ văn hóa riêng của chế độ gọi là văn hóa xã hội chủ nghĩa. Nguyễn Khoa Điềm, từng đứng đầu ban Văn hóa Tư tưởng trung ương, có đưa ra khái niệm “văn hóa đảng” (từ đó đẻ ra thêm “làng văn hóa”, “khu phố văn hóa”, “gia đình văn hóa”. Từ nhiều năm nay, đảng phát động chủ trương tôn thờ lãnh tụ, thần thánh hóa Hồ Chí Minh, đặt tượng ông ta trong nhiều đình chùa, bên cạnh các thành hoàng, các anh hùng dân tộc. Thậm chí còn gọi vong linh của ông, chiêm bái thờ lạy ông như một vị Phật (đạo bác Hồ!).

– Đảng tạo ra một thứ đạo đức riêng của chế độ, gọi là đạo đức cách mạng (từ ngữ này phát xuất từ chính ông Hồ). Thứ đạo đức có có hai nguyên tắc chủ yếu: (1) mọi cái gì có lợi cho cách mạng, cho đảng đều là chân, thiện, mỹ, dù trong thực chất có thể là dối trá, ác tà, xấu xa, đê tiện; (2) cứu cánh biện minh cho phương tiện, nên có thể dùng những cách thức vô đạo đức nhất để tiến đến mục tiêu.

– Đảng tìm cách tiêu diệt các tôn giáo bằng bạo lực hành chánh hay bạo lực vũ khí, làm cho tôn giáo biến mất sự hiện hữu hay biến mất bản chất của mình, biến các lãnh đạo tinh thần hoặc thành những công cụ tuyên truyền, hoặc thành những tác nhân thỏa hiệp, hoặc thành những chậu kiểng trang trí, hoặc thành những con chó câm (nói theo kiểu Công giáo, tức là có nhiệm vụ sủa lên để báo động, nhưng lại không sủa). Đảng tìm cách tạo ra những khu vực hoàn toàn vắng bóng tôn giáo, đặc biệt tại những vùng sâu vùng xa, nơi các bản làng dân tộc thiểu số, hoặc tại khu đô thị mới Thủ Thiêm chẳng hạn. Xóa hết, không cho có chùa nào, nhà thờ nào, dòng tu nào hiện diện. Để những nơi đó chỉ còn ý của đảng, luật của đảng điều khiển lương tâm và xã hội.

5- Cướp tài nguyên quốc gia bằng độc quyền sở hữu đất đai và ưu đãi kinh tế nhà nước.

– Đảng đặt ra nguyên tắc hết sức bất công và man rợ: “Tài nguyên đất đai thuộc sở hữu của nhà nước”, nhân dân chỉ có quyền sử dụng. Cán bộ địa phương, đảng viên sở tại dùng chiêu bài quy hoạch để tước đoạt đất đai mà nông dân giữ từ bao đời, để chia chác cho nhau hoặc bán đứt hay cho người ngoại quốc thuê mướn. Cưỡng chế bằng bạo lực, bồi thường kiểu giết dần mòn, tức là dùng công an, côn đồ để cướp lấy, đánh đập, áp chế người đang giữ đất đai; sau đó thí cho một số tiền bồi thường không đủ để họ tiếp tục sống, thậm chí không đủ để mua một mảnh đất mới, một ngôi nhà mới.

Cướp tài sản còn bằng cách bóc lột công nhân với mức lương rẻ mạt (lương công nhân VN vào hạng rẻ nhất thế giới), rồi với những điều kiện sinh hoạt tồi tệ, với việc cấm đoán thành lập công đoàn riêng của mình.

Bằng việc xuất khẩu công nhân ra nước ngoài để trước hết lấy tiền đăng ký/ký quỹ của họ (cả trăm triệu) từ những con người rất nghèo khổ, rồi bỏ mặc họ cho sự bóc lột của các ông chủ ngoại quốc mà không mấy khi can thiệp.

– Đảng còn cướp tài nguyên quốc gia bằng cách đem lãnh hải (đảo, vùng biển), lãnh thổ (rừng, đất, cảng) nhượng, bán cho nước ngoài hoặc cho người ngoại quốc (đặc biệt Trung Quốc) thuê mướn 50 năm, thậm chí 70 năm, như tại Vũng Áng. Nhất là những vị trí mang tính cách chiến lược, có tầm quan trọng quốc phòng. Quý vị thấy phi trường quân sự Nước Mặn ở Đà Nẵng, bây giờ bị vây chung quanh bởi những ngôi nhà, những khu đất của người Tàu. Tại sao lại để như vậy?

– Rồi với chủ trương kinh tế quốc doanh chủ đạo, ưu đãi các công ty và tập đoàn nhà nước, đó là cướp cơ hội kinh doanh bình đẳng của các doanh nghiệp tư nhân. Cho nên từ mấy năm nay đã có hàng trăm ngàn doanh nghiệp tư nhân phải phá sản vì không có đủ điều kiện để tồn tại trong nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa này.

– Cần phải nói thêm việc ăn cắp tài sản của công dân tại phi trường, bưu điện; ăn cướp tài sản của công dân bởi lực lượng công an. Công an bây giờ không phải chỉ chận đánh những nhà đấu tranh, dân oan, mà kèm theo đó là cướp máy móc, thậm chí cướp tiền, đôi khi còn lột sạch quần áo của họ.

6- Cướp công lý bằng cách công cụ hóa bộ máy tư pháp

Chúng ta thấy từ cảnh sát điều tra, kiểm sát công tố đến quan tòa xét xử hầu như luôn toa rập với nhau. Bản kết luận điều tra của cảnh sát cũng được công tố duyệt xét ngay tắp lự rồi quan tòa cứ theo đó mà tuyên án, nhất là trong các vụ án chính trị. Trong nhiều vụ án kinh tế, nhiều khi cũng có sự toa rập như vậy. Xin lấy ví dụ vụ án “Con ruồi Tân Hiệp Phát”.

Trong giai đoạn điều tra, không cho bị can có sự trợ giúp của luật sư, trái lại còn dùng nhiều biện pháp để bức cung bị can, ngõ hầu sớm có kết luận điều tra mà trong đó thế nào bị can cũng có tội, không nhiều thì ít.

Công an điều tra, kiểm sát công tố, quan tòa xét xử còn thản nhiên nhận hối lộ của bên nguyên hay bên bị để làm lệch cán cân công lý

Ngoài ra, không mời thân nhân, không triệu tập nhân chứng, không cho luật sư trình bày đầy đủ. Ví dụ mới nhất là vụ sơ thẩm và phúc thẩm của em Nguyễn Mai Trung Tuấn.

Ngăn chặn công dân tham dự các phiên tòa để công dân chứng kiến được đâu là công lý. Ngăn chặn để có thể cướp công lý mà không sợ người ta dò xét.

Một hình cướp công lý khác là mới đây còn đánh cả luật sư. Trong vụ “bụi đường Chương Mỹ”, hai luật sư đã bị đánh khi muốn đi tìm công lý cho em Đỗ Đăng Dư. Nhiều luật sư khác còn bị đe dọa, như luật sư Võ An Đôn chẳng hạn.

7- Cướp ý chí của công dân bằng một bộ máy trấn áp 

Trấn áp qua một hệ thống theo dõi, kiểm soát, trấn áp rộng rãi: công an, quân đội và Mặt trận Tổ quốc (trong đó có các xã hội dân sự quốc doanh; các tổ chức này đều khống chế các thành viên để cướp ý chí của họ).

Cướp ý chí đó vì mục đích gì?

– để làm cho người dân dửng dưng trước những tệ trạng và thảm nạn trong xã hội,

– để làm cho người dân bất quan tâm trước an nguy của đất nước, trước việc đảng và nhà cầm quyền quỵ lụy kẻ thù phương Bắc. Bằng chứng là đảng đã trấn áp các cuộc biểu tình chống Trung Quốc

– để làm cho người dân không dám bàn chuyện chính trị và tham gia hoạt động chính trị (bằng khẩu hiệu “Để đảng và nhà nước lo!”)

– để làm cho người dân sợ hãi không dám phản kháng đòi lại các quyền con người, quyền công dân và quyền đất nước.

Ngoài ra và cụ thể hơn, đó là cướp ý chí của các đảng viên đến nỗi họ không dám rời bỏ đảng dù cuối cùng biết đảng chỉ là một tổ chức tội ác; rồi cướp ý chí các nhà tu hành là những người có phận sự trước hết và trên hết là công bố và bênh vực sự thật, đòi hỏi và bảo vệ công lý. Nhưng có rất nhiều nhà tu hành hoàn toàn im lặng trong khi bổn phận của họ là phải lên tiếng vì công lý và sự thật. Điều ấy chứng tỏ đảng đã cướp ý chí của họ rồi. Và đây là mối nguy cho đạo.

Trên đây là 7 đối tượng cướp mà chúng tôi thiết nghĩ có thể cho thấy phạm vi, tầm mức ăn cướp của đảng CSVN.

Kết luận:

TQT: Thưa Lm PVL, 70 năm dưới nền chuyên chính vô sản của cả nước, đặc biệt 40 năm qua sau khi miền Nam rơi vào tay CS, chế độ công an trị ngày càng xuất hiện. Họ dùng hai gọng kìm, một là bạo lực trên thể xác, hai là bạo lực trên tinh thần để khép cổ nhân dân ta. Nhưng phải chăng nhân dân ta đã chịu khuất phục họ hay đang dần dần phá tan hai gọng kìm đó?

PVL: Phải nói thật rằng 70 năm ăn cướp của đảng CS đã làm cho đất nước tan hoang, văn hóa suy đồi, đạo đức tiêu biến, kéo theo nhiều hậu quả khác là nền giáo dục xuống cấp, kinh tế lụn bại, môi trường ô nhiễm, nhất là quốc phòng ngày càng bấp bênh. Nhưng chính thái độ, hành vi ăn cướp bằng bạo lực và dối trá đó đã gây một dị ứng nơi con người. Con người tự nhiên dị ứng với bạo lực và dối trá, chỉ chấp nhận công lý, sự thật và tình thương. Nên chúng ta thấy chính sách ăn cướp mọi mặt của nhà cầm quyền làm cho người dân ngày càng công phẫn. Những việc lên tiếng của cá nhân, của tập thể, của các tổ chức xã hội, của các tổ chức tôn giáo ngày càng mạnh để đòi lại sự thật: sự thật về các vụ việc, sự thật về lịch sử, sự thật về bộ mặt xã hội, sự thật về đảng CS. Người ta còn lên tiếng đòi lại công lý: công lý cho mình, công lý cho toàn dân, công lý cho đất nước. Người dân cũng lên tiếng để đòi lại tất cả những gì nằm trong quyền con người, quyền công dân như tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do lập đảng mà đã bị đảng CS tước đoạt. Đó là những dấu hiệu cho thấy người dân ngày càng muốn thoát khỏi ách của cái tổ chức ăn cướp “hợp pháp” này, để giành lại mọi quyền cho mình, cho toàn dân, để toàn dân có thể sống trong tự do, no ấm, phát triển.

TQT: Thưa linh mục, thời buổi nào đất nước ta cũng rất coi trọng vai trò của trí thức. Trí thức góp phần rất tích cực để khai sáng dân trí. Thời phong kiến cũng vậy, thời thực dân xâm lược cũng vậy. Ngày nay, trong thời buổi đất nước đang bị đe dọa bởi họa phương Bắc và họa cộng sản cũng vậy. Nhưng khi so sánh thì nhiều người thấy rằng việc khai sáng dân trí trong thời có nguy cơ tái Bắc thuộc và nguy cơ CS này có lẽ yếu hơn trong thời gian trước. Linh mục nghĩ sao về vấn đề này?

PVL: Như chúng tôi trình bày ở trên, CS triệt tiêu ý chí, triệt tiêu ý thức của người dân, nhất là giới sĩ phu, giới trí thức, giới lãnh đạo tinh thần (dân sự và tôn giáo) để làm cho người dân không còn được sự hướng dẫn của những trí tuệ. Ngay từ đầu, chúng ta đã thấy CS bách hại, đàn áp giới trí thức qua vụ Nhân văn Giai phẩm, sau đó qua các cuộc trấn áp các nhà trí thức sau khi chiếm được miền Nam, như tịch thu sách vở, bắt bớ các nhà văn nhà báo, các nhà tu hành. Việc đó vẫn còn tiếp tục, để làm cho việc khai dân trí không thể nào đạt được mức độ cần thiết. Mà khi đã không khai dân trí được, thì không thể chấn dân khí và càng không thể hậu dân sinh theo kiểu nói của cụ Phan Chu Trinh. Thời bây giờ, đảng đã làm cho nhiều trí thức (đại đa số) im lặng, trùm chăn. Xin lấy ví dụ rất cụ thể: mới đây Hội Giáo chức Chu Văn An được thành lập, nhưng cho tới bây giờ, số các thành viên có lẽ vỏn vẹn đếm trên đầu ngón tay. Đáng lẽ các nhà trí thức phải vào hội này ồ ạt để chấn hưng văn hóa, chấn hưng giáo dục rồi từ đó chấn hưng tinh thần dân tộc VN

TQT: Linh mục vừa đặt vấn đề trí thức phải ngày càng tỉnh ngộ, đừng trùm chăn nữa, góp phần với nhân dân để đấu tranh thoát khỏi họa CS. Vậy để toàn dân chặn đứng được đảng cướp này để họ không tiếp tục hoành hành cướp tinh thần, cướp của cải của đất nước ta, thì chúng ta phải làm gì thưa linh mục?

PVL: Thưa Quý vị, chỉ có một điều quan trọng duy nhất là phải tống cổ đảng cướp này, không cho nó nắm quyền lực toàn trị, không cho nó tiếp tục cướp của người dân về vật chất lẫn tinh thần. Phải làm sao để cho đất nước chỉ còn có những con người hoạt động dưới sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân và vì ích lợi của nhân dân mà thôi, chứ không vì ích lợi của nhóm, của đảng mình. Mong rằng tất cả mọi người VN trong lẫn ngoài nước đứng dậy để trước hết tiêu diệt chủ nghĩa CS tàn hại tâm trí, giải thể chế độ CS tàn hại xã hội, và đuổi đảng CS ra khỏi ghế quyền lực, vì họ đã chỉ làm những điều tai hại cho đất nước từ 70 năm qua mà thôi.

TQT: Xin chân thành cảm ơn Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi.

07/02/2016

Trần Quang Thành
danlambaovn.blogspot.com