CÁM ƠN CALI (US)

CÁM ƠN CALI

Huy Phương

Huy Phương

mùa đông cali

Hơn một tháng trước đây, 20 tiểu bang của miền Đông nước Mỹ đã chịu một trận bão tuyết lịch sử, trận bão tuyết đã làm khốn khổ 85 triệu dân, gây ra tắc nghẽn giao thông nghiêm trọng, với 42 người chết. Tại nhiều nơi ở Mỹ, nhiệt độ hạ xuống dưới độ âm, băng giá bao phủ mọi nơi, đường sá ngập tràn trong tuyết lạnh. Đài truyền hình CBS đưa tin, chỉ trong ngày 9 Tháng Mười Hai, 2015, đã có đến 1,650 chuyến bay bị hủy, hơn một nửa là tại sân bay quốc tế Dallas-Fort Worth của hãng American Airlines trong tổng số hơn 6,000 chuyến bay đã bị hủy trên toàn quốc. Tình trạng mất điện do tuyết đóng trên các đường dây, làm gãy cột điện cũng phổ biến tại các tiểu bang Virginia, Maryland, và thủ đô Washington, DC. Hàng trăm nghìn gia đình đã phải chịu cảnh sống không có điện trong đợt bão tuyết này.

May quá, tôi là người đang sống ở California với những ngày nắng ấm chan hòa, cũng khó mà tưởng tượng ra cái cảnh tuyết xuống mịt mù, lạnh lẽo, cơn gió thổi buốt xương và những ngày cực nhọc dọn tuyết để kiếm một lối ra cho chiếc xe của mình, như câu chuyện cách đây 20 năm.

Tôi đến Mỹ vào một ngày nắng ấm cuối Tháng Tám, 1990. Quá cảnh tại San Francisco, gia đình tôi được chuyển máy bay đi Ontario, một phi trường khá lớn gần nhà cô em gái đứng ra bảo trợ. Đối với những người từ vùng nhiệt đới đến Mỹ, thời tiết Tháng Tám xem như khá lạnh với chúng tôi. Đến Ontario vào lúc 8 giờ 30 tối nhưng trời vẫn còn rất sáng, làm cho tôi có ý nghĩ là người Mỹ ngủ rất ít mà làm việc quá nhiều.

Một hai tháng sau, tôi nhận ra là người Mỹ làm việc nhiều thật, mỗi người hai ba công việc. Lúc nào cũng thấy họ tất bật, uống cà phê và đôi khi ăn sáng trên xe, phần đông đều thiếu ngủ, nhiều phụ nữ rời nhà rất vội vã, còn kẻ viền mắt qua cái kính chiếu hậu trên xe nữa, nhưng tôi thì không có việc làm. Thời gian bây giờ tôi thấy những người trai trẻ khoảng tuổi tôi, 53, khi đến Mỹ rất mạnh khỏe giỏi giang, mà hồi ấy bằng tuổi này, khi đến Mỹ, tôi cảm thấy mình già nua, ốm yếu quá. Nước Mỹ giàu có, không có công việc nào cho một “thanh niên” như tôi, chỉ mới đặt chân đến Mỹ vài tháng, không biết tiếng Anh, chỉ quen ăn mì gói chứ chưa biết ăn hamburger.

Thế là tôi đành mang mối hận với nước Mỹ, chịu cảnh thất nghiệp. An ủi cho tôi là thỉnh thoảng tôi cũng thấy nhiều anh chàng tóc cả tháng không cắt, râu không cạo mang chữ “homeless” đứng đầu đường. Bạn tôi nói họ lười biếng, nghiệp ngập không chịu đi xin việc làm. Tôi không lười biếng, nghiện ngập mà cũng không kiếm ra việc, kể ra cũng oan cho họ.

Nếu nói Mỹ không có việc làm cho tôi thì cũng không công bằng. Những việc như cắt chỉ, đóng khuy trong shop may, bỏ báo, mang cái bị đi bỏ tờ rơi quảng cáo, đi lượm thùng carton, lượm lon, hay đứng ở chỗ đèn xanh đèn đỏ… thì lúc nào cũng có. Trong hoàn cảnh ấy, tôi đành phải bỏ California bốn mùa nắng ấm, khí hậu ôn hòa mà đi!

Tôi nghe lời “dụ dỗ” của bạn bè nhắm hướng Philadelphia đi tới, người ta nói đi hái trái cây cũng có tiền, mà lại tiền mặt. Tôi nhắm khu South là nơi anh em H.O. đã tụ tập từ lâu, làm việc rất vất vả, nhưng kiếm khá nhiều tiền mà ít tiêu pha. Người ta nói đúng: “Ở Mỹ, không phải có cây đô la mà ai cũng phải vất vả khó nhọc mới có tiền!” Ở đây, một người mới nhập cư vào đất Mỹ phải vất vả gấp hai lần hơn một người sống ở California.

Bạn cứ tưởng tượng có những công việc làm mà bạn phải thức dậy từ 5 giờ sáng, khi trời đất còn lờ mờ, trong cơn gió tuyết lạnh lẽo, như nghề bỏ báo, nghề này, cái cửa xe luôn luôn phải hạ xuống. Hay khổ hơn phải chờ hai, ba chuyến xe bus dưới khí trời lạnh giá để đến sở làm, và chiều đến, giờ tan sở, cũng vậy, khi bạn phải trở về nhà.

Nhưng các bạn tôi ở đây, sau trên dưới 20 năm, ai cũng có một căn nhà tươm tất và con cái khá thành đạt.

Nếu bạn là một người đã đến và sinh sống ở California năm bảy tháng rồi mà phải đến Philadelphia thì bạn sẽ cảm thấy hụt hẫng. Philadelphia là một thành phố lịch sử của Hoa Kỳ có nhiều di tích lịch sử, với những khu phố, đền đài, nhà cửa tráng lệ, những cũng có những khu phố nghèo nàn đành cho những người mới đến nhập cư, đầy tội ác, trong những khu phố da đen, đường dầy dẫy những quán “bar.” Vách phố hay trường học đầy nạn vẽ bậy và trên đường phố những mảnh chai vỡ vất đầy ngoài đường. Mỗi đêm, gần như thường trực, tiếng xe cảnh sát hú còi qua những con phố một chiều, chật hẹp. Trong tâm trạng đó, đứa cháu ngoại tôi, mới lên năm, đã nói với tôi: – “Ông ngoại ơi, mình đi chỗ khác đi, đây đâu phải là Mỹ, ông ngoại!” – “Đi thì đi!” Thế là chưa đầy một tháng, gia đình tôi lại dắt díu nhau, rời bỏ Philadelphia để đi Virginia, như giã từ một mùa Đông u ám để trở lại mùa Xuân. Đúng nơi đây là mùa Xuân vì Virginia không những có lá mùa Thu đẹp mà hoa mùa Xuân cũng ngạt ngào.

Nhưng đến mùa Đông, Viginia thường chịu chung số phận của những cơn bão tuyết của miền Đông nước Mỹ. Cơn nóng chưa tan, trong nhà vừa tắt máy lạnh thì một tuần sau, người ta đã phải mở máy sưởi ấm. Tuyết xuống đêm ngày, đóng băng, rồi tuyết tan. Mùa hoa anh đào đẹp đẽ mới đây, mùa lá Thu vàng của Skyline hình như không hiện hữu ở nơi này. Tôi thấy nơi đây, hình như đời sống vất vả hơn ở California. Những căn phố mua bán, cửa ra vào có hai lớp, có những thứ cây chỉ sống được một mùa, mùa hoa nở trong những tháng Xuân cũng đem lại dị ứng cho mọi nhà, và tôi không thấy cảnh những ông già rỗi công ngồi đánh cờ trong khi một số người khác đứng bâu quanh, ngoài công viên hay trong phố chợ Việt Nam.

Đôi lúc tôi nhớ bạn bè ở xa, những bạn bè mà mỗi lúc tôi gọi họ thì họ chưa thức dậy lúc ban sáng, họ gọi tôi thì tôi đã lên giường vào buổi tối. Trong gia đình nhỏ bé của tôi, chưa có ai có một nghề nghiệp khiến phải giữ chân một chỗ. Những đứa cháu tôi, những năm tiểu học, có năm đổi ba lần trường, vì cảnh nhà thuê. Còn tôi, ngày trước tôi than không tìm ra việc, ngày nay với việc của tôi, chỗ nào cũng có, nếu chỉ cần năm, bảy đồng một giờ chịu khó đứng trong xưởng thợ. Con đường quá dài, tôi không bao giờ đi hết, dù tôi có cố gắng hết sức cũng không có nổi một căn nhà tươm tất, hay số thời gian hưu đủ mỗi năm, cứ đến mùa Hè, đi du lịch một chuyến thế giới. Tôi cũng không cần có một ngôi mộ thật đẹp trong một nghĩa trang đắt tiền đầy bóng mát nhìn xuống một hồ nước. Từ năm 1975 trở đi, tôi đã bỏ phí 25 năm cho một quãng đời thanh xuân không có gì bù đắp nổi. Trong cuộc đua đường dài, tôi không theo kịp bạn đến đích, con người ta không thể chạy lui, thì tôi đứng lại một chỗ.

Ở miền Đông, tôi thường nhớ đến California. Nhớ nắng ấm, nhớ bạn bè. Tôi có những người bạn nghèo, suốt 26 năm nay vẫn còn giữ nguyên một địa chỉ, trong khu chung cư một phòng. Tôi có nhiều bạn bè hình như thích hẹn chung một chỗ về, đó là khu đất trong Peek Family ở cuối con đường Bolsa.

Tôi thường nghe câu nói: “Hòn đá lăn hoài không đóng rêu!” Tôi là một hòn đá như vậy. Tôi đã quyết định trở về California. Các bạn đồng nghiệp người Mỹ tiễn tôi bằng một cái nhún vai hay lè lưỡi với hai chữ “động đất!” và nhiều người tin rằng rồi đây California sẽ trôi ra biển, ra biển rồi California sẽ trôi đi đâu, hay cứ tìm hướng Tây mà trôi tới?

Tôi trở về California cùng với mớ hành trang cũng như lúc bỏ California ra đi, chiếc xe hình như cũng không mới hơn nhiều so với thời gian năm năm qua. Khi tôi trở về, có nhiều bạn tôi đã sớm ra đi, mà từ đó đến nay, bạn bè bỏ tôi cũng không ít. Ít ra tôi còn viếng thăm được, thắp cho bạn một nén nhang và đưa bạn đi một quãng đường ngắn. Phần tôi, cũng như bạn, tôi đã chọn California là trạm cuối cùng.

Ở đây, chỉ cách quê nhà có một vùng biển thôi, khi chúng ta chưa chọn cho mình một quê nhà Việt Nam thì đành chọn mình một mảnh đất California.

California (dù Nam hay Bắc) vẫn được xem là chốn “gió tanh mưa máu,” thậm chí ở đây bây giờ có đến hai cộng đồng, hai hội chợ, hai tượng Đức Thánh Trần… Tại đây cũng có những cái “nhiều” đáng quý như 20 đài truyền hình, năm đài phát thanh, 20 tờ báo, có tờ phải bỏ tiền mua, nhưng cũng có tờ vứt ở chợ. Hai đặc tính của California là vui và… đông. Năm nào ở đây cũng có múa lân, đốt pháo, đôi khi còn có “bầu cua cá cọp” nữa, xem diễn hành Tết, xong ta lại đi hội chợ Tết.

Sáng nay, sau mấy ngày lạnh lẽo, trời nắng ấm, thấy đời bỗng vui, lòng hạnh phúc, muốn ra phố tìm ăn một bát phở hay uống một ly cà phê nóng, tình cờ được gặp anh chị Đàm Trung Pháp ở Houston, Texas, từ 40 năm nay, vừa mới “dọn về Nam California” được mấy tháng nay. Câu trả lời của cư dân mới của California, khi được hỏi lý do chọn nơi đây, là: “Khí hậu California quá tuyệt!”

Chừng đó thôi, cũng đủ!

Xin cám ơn California!*

PHỎNG VẤN THƯỢNG ĐẾ

PHỎNG VẤN THƯỢNG ĐẾ

Có một lần, tôi mơ thấy được phỏng vấn Thượng đế.
– Con muốn phỏng vấn ta à? Thượng đế hỏi.
– Nếu Ngài có thời gian.
Người mỉm cười:
– Thời gian của ta là Vĩnh cửu … Con muốn hỏi ta điều gì?
– Điều gì ở Con Người khiến Ngài ngạc nhiên nhất?
Thượng đế trả lời:
– Con người nhàm chán tuổi thơ, vội vã lớn lên, rồi lại mơ ước được trở lại làm trẻ nhỏ.
– Họ tiêu phí sức lực để kiếm tiền, rồi lại tiêu tiền để phục hồi sức khỏe.
– Họ nghĩ nhiều tới tương lai mà quên đi hiện tại, để rồi chẳng sống ở hiện tại mà cũng chẳng ở tương lai.
Họ sống như sẽ chẳng bao giờ chết, và chết dần như chưa từng được sống.
Rồi Người nắm tay tôi, im lặng …
Tôi lại hỏi:
– Thượng đế tạo ra muôn loài, Ngài muốn chúng sinh ghi nhớ những bài học nào trong cuộc sống?
Thượng đế trầm ngâm:
– Hãy nhớ rằng không bao giờ có thể bắt ai đó phải yêu mình. Chỉ có thể tự làm cho mình trở nên đáng yêu thôi.
– So kè mình với người khác là điều không tốt.
– Hãy học cách tha thứ, và tập tha thứ.
– Hãy nhớ rằng để làm tổn thương ai đó chỉ cần có vài giây ngắn ngủi, nhưng để chữa lành vết thương đó phải cần tới hàng năm dài dằng dặc.
– Hãy hiểu rằng người giàu không phải là người có tất cả mọi thứ, họ chỉ là người ít thiếu thốn hơn thôi.
– Cần biết rằng, có nhiều người yêu mến mình, nhưng họ chưa biết cách bộc lộ ra.
– Khi cả hai người cùng nhìn vào một sự việc, sự nhận biết có thể sẽ không giống nhau.
– Tha thứ lẫn nhau chưa đủ, mà còn cần phải tự tha thứ cho chính mình nữa.
” Cám ơn Ngài đã bớt chút thời gian!”- Và tôi rụt rè:
– Ngài còn điều gì muốn gửi tới chúng sinh không ạ?

Thượng đế cười đáp:
Hãy nói với họ rằng Thượng đế ở đây vì họ … mãi mãi!

S. T.

NHÀ SƯ VÀ CÔ LÁI ĐÒ……!!!

NHÀ SƯ VÀ CÔ LÁI ĐÒ……!!!

Cô lái đò đưa khách qua sông. Đò cập bến cô lái thu tiền từng ngườì, sau hết đến nhà sư.

– Cô lái đò đòi tiền “gấp đôi”.

– Nhà Sư ngạc nhiên hỏi vì sao?

Cô lái mỉm cười:

– Vì Thầy nhìn em…

Nhà sư nín lặng trả tiền và bước lên bờ.

Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần nầy cô lái đòi tiền “gấp ba.”

– Nhà sư hỏi vì sao?

Cô lái cười bảo:

– Lần nầy Thầy nhìn em dưới nước.

Nhà sư nín lặng trả tiền và bước lên bờ.

Lần khác nhà sư lại qua sông. Vừa bước lên đò nhà sư nhắm nghiền mắt lại đi vào thiền định. Đò cập bến cô lái đò thu tiền “gấp năm” lần.

– Nhà sư hỏi vì sao?

Cô lái đáp:

– Thầy không nhìn nhưng còn nghĩ đến em.

Nhà sư trả tiền và lên bờ.

Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần nầy nhà sư nhìn thẳng vào cô lái đò… Đò cập bến, nhà sư cười hỏi lần nầy phải trả bao nhiêu?

Cô lái đáp:

– Em xin đưa Thầy qua sông, không thu tiền.

Thiền sư hỏi:

– Vì sao vậy?

Cô lái cười đáp:

– Thầy nhìn mà không còn nghĩ tới em nữa…

Do vậy em xin đưa Thầy qua sông mà thôi…

Nói một cách khác: “Mọi sự từ TÂM mà ra…”

Sống ở đời chỉ có chữ TÂM là đáng quý!

Một phút suy tư: Chữ TÂM

Tâm là một điểm tuy nhỏ nhưng quan trọng, nên người ta mới gọi là tâm điểm.
Tâm của con người càng quan trọng hơn vì nó nói lên nhân cách của một con người:

– Tâm lệch lạc thì cuộc sống nghiêng ngả đảo điên.
– Tâm gian dối thì cuộc sống bất an.
– Tâm ghen ghét thì cuộc sống hận thù..
– Tâm đố kỵ thì cuộc sống mất vui.
– Tâm tham lam thì cuộc sống dối trá …

Cho nên , ta không những đem tâm của mình đặt ngay trên ngực để yêu thương, mà còn:

– Đặt trên tay để giúp đỡ người khác.
– Đặt trên mắt để nhìn thấy nỗi khổ của tha nhân.
– Đặt trên trán để mau mắn chạy đến với người cùng khổ.
– Đặt trên miệng để nói lời an ủi với người bất hạnh.
– Đặt trên tai để biết nghe lời than trách, góp ý của người khác.
– Đặt trên vai để biết chịu trách nhiệm và chia sẻ trách nhiệm với anh em chị em.

*** Thân xác không tim thì thân xác chết, làm người không có tâm thì cuộc sống chỉ có hận thù và là mối nguy hiểm cho mọi người.

SƯU TẦM

Vài suy nghĩ nhân đọc 2 bài báo trên báo nhà nước VN

Vài suy nghĩ nhân đọc 2 bài báo trên báo nhà nước VN

Song Chi.

RFA

Bài báo thứ nhất “Đánh bom khách sạn Caravelle ghi dấu lịch sử” đăng ngày 15.2 trên báo Tuổi Trẻ. Đọc xong tự hỏi: Không hiểu sao đến giờ này mà họ còn tự hào về những chuyện như thế này?

Đánh bom một khách sạn ngay giữa trung tâm thành phố, mặc dù viện cớ là “nơi quan chức Mỹ và Việt Nam cộng hòa thường lui tới hội họp” nhưng cũng có rất nhiều nhà báo nước ngoài, dân thường…rõ ràng là coi thường sinh mạng con người, mà mục đích chỉ là “để đối phương không đắc chí”, nhưng thật ra là đánh ai?

“Có điều việc nổ bom hôm đó đã không như dự kiến bởi hầu hết các nhà báo ở khách sạn Caravelle thay vì đi ăn trưa và sẽ lãnh trọn sức nổ của trái bom, thì họ lại bận rộn theo dõi và tường thuật vụ sinh viên đòi Nguyễn Khánh phải từ chức!”

Đánh bom cả những nhà báo quốc tế, những người chỉ làm công việc của họ là đưa tin về những gì đang diễn ra? Như vậy mục đích thật sự là lấy tiếng, đồng thời gây tâm lý hoang mang xáo trộn trong người dân và phá hoại cuộc sống bình thường ở các đô thị miền Nam, bất chấp sinh mạng những người vô tội, không liên can.

Ai sống ở miền Nam thời hai miền Nam Bắc đánh nhau hẳn còn nhớ, những vụ đánh bom, ám sát…thường xuyên xảy ra tại Sài Gòn và các đô thị miền Nam, tại những nơi đông người như khách sạn, rạp hát, nhà hàng… Điển hình là vụ đánh bom Câu lạc bộ Gôn Sài Gòn năm 1960, vụ rạp hát Kinh Đô bị đánh bom năm 1964, khách sạn Caravelle bị đặt bom năm 1964, nhà hàng nổi Mỹ Cảnh trên sông Sài Gòn bị đặt bom năm 1965, vụ trường tiểu học Cai Lậy (Tiền Giang) bị trúng đạn pháo kích năm 1973…

Một số vụ ám sát như Nguyễn Văn Trỗi đặt bom trên cầu Công Lý, dự định ám sát Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ McNamara năm 1963, ám sát ký giả Từ Chung của tờ Chính Luận năm 1965, ám sát Nguyễn Xuân Chữ, Bộ trưởng Bộ Chiến tranh tâm lý năm 1966, ám sát Trần Văn Văn, Chủ tịch Quốc hội Sài Gòn năm 1966, ám sát giáo sư Nguyễn Văn Bông là Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh năm 1971… Ở nông thôn thì đặt mìn, giật sập cầu, phá đường…biết bao nhiêu dân thường phải chết oan.

Những việc làm này có khác gì với những hành động khủng bố của các tổ chức Hồi giáo cực đoan bây giờ? Đừng viện lý do thời chiến tranh. Chiến tranh, hai bên nã súng, ném bom vào nhau ngoài chiến trường là chuyện khác, còn đặt bom, gài mìn, pháo kích vào những chỗ đông người giết hại cả dân thường là khủng bố. Nhưng nếu người miền Nam nói thì người dân miền Bắc hoặc các thế hệ sinh sau đẻ muộn lại không tin, chỉ khi báo chí chính thức hả hê kể lại chiến công như thế này “Những trận đánh nổi danh ‘Biệt động Sài Gòn’ (báo CAND), “Tôi ám sát người sắp làm thủ tướng Sài Gòn” (Dân Việt) hay bây giờ là bài này, “Đánh bom khách sạn Caravelle ghi dấu lịch sử” (Tuổi Trẻ) v.v… thì khỏi còn tranh cãi chuyện có thật hay không nữa!

Bài báo thứ hai “Có một hòa thượng… biệt động Sài Gòn” được báo Tiền Phong đăng lại ngày 19.2 theo nguồn báo An Ninh Thế Giới. Thật ra những loại bài viết ca tụng chiến công “cách mạng”, ca tụng những con người “cách mạng” này lúc nào cũng đầy dẫy trên những tờ báo đậm đặc tính đảng như báo Nhân Dân, Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, Công An TP.HCM, An Ninh Thế Giới…Không sao kể xiết. Chỉ là nhân tiện đọc và có những suy nghĩ về hai bài báo này mà thôi.

Bài “Có một hòa thượng… biệt động Sài Gòn” viết về nhân vật Hòa thượng Thích Viên Hảo, từng là trụ trì tại chùa Tam Bảo ở đường Dương Công Trường, quận 10, SG, rồi trụ trì Chùa Thiện Hạnh, nằm trong con hẻm nhỏ trên đường Đinh Tiên Hoàng, quận 1, SG cho đến ngày viên tịch 15.7.2005.

Theo bài báo, Hòa thượng Thích Viên Hảo là người tu hành, nhưng lại tham gia “cách mạng”, tham gia biệt động thành, một tổ chức của Việt Cộng trước đây chuyên hoạt động ngầm trong lòng chế độ VNCH từ dò la, do thám tin tức tình báo cho tới đặt bom, gài mìn, ám sát…các nhân vật có liên quan đến Mỹ và chính quyền VNCH nhưng thường cũng gây ra cái chết cho bao nhiêu dân thường vô tội như vừa nói trên. Nhân vật trong bài báo “đi đó đây hành phật sự, gặp các phật tử, đến các chùa… tụng kinh, niệm Phật và thuyết pháp nhưng đó chỉ là vỏ bọc bên ngoài. Thực chất ông đã trở thành chiến sĩ hoạt động cách mạng, có nhiệm vụ dò la địch tình, giao nhận tin tức tình báo…”, còn ngôi chùa Tam Bảo thì “đã trở thành nơi đi về, hội họp bí mật của đội biệt động thành trong một thời gian dài.”

Trong vụ Mậu Thân 1968, vị sư này ”vận chuyển vũ khí, đạn dược về cho cơ sở nội thành tập kết chuẩn bị cho cuộc tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Rất nhiều lần, nhà sư dùng xe gắn máy đi Củ Chi chở chất nổ, súng K54, súng và đạn cối 81 ly”

Đã đi tu, thấm nhuần tư tưởng triết lý của Phật giáo, thế nhưng Hòa thượng Thích Viên Hảo đã phạm luôn những giới luật hết sức nghiêm trọng của đạo Phật. Một là gian dối, khi dùng vỏ bọc tu hành để đi hoạt động tình báo, biến những hoạt động giảng giải Phật pháp thành chuyện khác, biến ngôi chùa thành nơi trú ẩn của biệt động thành…Hai là sát sanh, nhà sư tất thừa biết đạo Phật ngăn cấm sát sanh dù chỉ là một con kiến con muỗi, thế nhưng lại chở vũ khí, lên sơ đồ các trận đánh để giết người, cho dù lúc đó ông ta tin rằng đó là kẻ thù, là địch. Không chỉ thế, cả đời nhà sư hoạt động chính trị, được “thưởng nhiều huân chương cao quý của đảng cộng sản” cho đến tận ngày qua đời.

Bài báo này, cũng như bài báo trên Tuổi Trẻ nói trên và rất nhiều bài báo khác nữa, đã tự mình tố cáo những việc làm của đảng cộng sản VN trước đây, đó là đánh phá chế độ VNCH từ trong lòng phá ra, và không từ bất cứ một biện pháp nào từ đặt bom, gài mìn, ám sát, chuẩn bị cho vụ tấn công Tết Mậu Thân 1968, với âm mưu sẽ tổ chức tấn công bất ngờ vào dịp Tết là dịp mà trong nhiều năm hai bên đã có thỏa thuận không chính thức ngừng bắn 3 ngày Tết để đồng bào vui Xuân. Bài báo vẫn tiếp tục ca ngợi những “chiến công” trong cuộc chiến với Mỹ và với miền Nam VN, vẫn gọi địch, chúng…với giọng điệu căm thù.

Trong suốt thời gian chiến tranh và hơn 40 năm qua, năm nào đảng và nhà nước cộng sản VN cũng tổ chức kỷ niệm, ăn mừng tưng bừng, trọng thể những dịp có liên quan đến cuộc chiến, nhất là ngày 30.4. Báo chí truyền thông vẫn được huy động thường xuyên để nhắc nhớ đến chiến thắng của đảng, đến tội ác của “địch”, những cuốn sách, bộ phim về đề tài này vẫn tiếp tục ra đời…như muốn người dân đừng quên.

Một tỷ lệ khác biệt rất lớn cả về quy mô, số lượng và chất lượng tuyên truyền nếu so với việc nhắc nhở đến cuộc chiến tranh biên giới 1979, 1984, hải chiến Hoàng Sa 1974, Trường Sa 1988… với Trung Cộng. Trong khi trên thực tế chế độ VNCH đã “chết” từ lâu không còn là một mối đe đọa nữa, quan hệ Việt-Mỹ đã trở thành bình thường từ nhiều năm qua, thậm chí nhà nước VN còn đang phải trông cậy ở Mỹ rất nhiều để đối phó với mối nguy bị xâm phạm chủ quyền, độc lập toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải từ phía Trung Cộng. Ngược lại, Trung Cộng trước đây và hiện nay vẫn luôn và đang là mối đe dọa lớn nhất, kẻ thù thường trực và thâm độc nhất của VN.

Nếu VN lại phải có một cuộc chiến tranh nào xảy ra trong tương lai thì chắc chắn sẽ là cuộc chiến tranh với Trung Quốc chứ không phải với Mỹ, càng không phải với VNCH đã chết. Vậy nhưng nhà nước cộng sản VN lại sử dụng rất ít công sức, nguồn lực cho sự tuyên truyền về những hành động của Trung Quốc trong quá khứ vả hiện tại. Cuộc chiến tranh biên giới 1979 trong rất nhiều năm không hề được nhắc tới một cách công khai, năm nay tuy báo chí đã nhắc tới nhưng vẫn không phải là nhiều, những hành động biểu tình tưởng niệm cuộc chiến này, tưởng niệm việc mất Hoàng Sa Trường Sa hay phản đối những hành độn hung hăng, xâm phạm chủ quyền, quân sự hóa biển Đông của Trung Quốc của người dân đều bị ngăn cấm, đàn áp, nhiều người còn bị bỏ tù, bị trù dập, xách nhiễu…

Liệu có thể xem đó là những hành động khôn ngoan về mặt ngoại giao, bảo vệ chủ quyền của đảng và nhà nước cộng sản VN?

Và đối với mấy triệu người Việt rời nước ra đi vì lý do không chấp nhận chế độ cộng sản, liệu họ có tin tưởng nổi vào những lời nói ngon nói ngọt “xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải” của nhà cầm quyền khi báo chí nhà nước vẫn cứ ngùn ngụt căm thù chế độ VNCH như thế?

Còn đối với người dân trong nước, thời buổi bây giờ không phải như trước đây vài chục năm, mười năm, khi người dân hầu hết còn bị bịt mặt bịt tai tin vào những luận điệu tuyên truyền một chiều, bóp méo sự thật của đảng và nhà nước cộng sản. Khi báo chí nhà nước hồ hởi kể lại những hành động khủng bố thời xưa, hay tự thừa nhận những huyền thoại một thời từ Lê Văn Tám, Nguyễn Văn Bé, Nguyễn Văn Trỗi…là không có thật hoặc có những chi tiết không đúng, hoặc được tô vẽ quá nhiều…thì chính là nhà nước này đã tự vả vào mặt mình, củng cố những điều mà người dân đã không còn tin từ lâu.

Trên bình diện quốc tế, chẳng có một quốc gia văn minh nào chấp nhận một nhà nước từng giành chiến thắng bằng mọi giá, mọi thủ đoạn, bất chấp sinh mạng con người cũng như áp dụng chính sách ngu dân, dối trá để giành và giữ quyền lực cả.

Cuối cùng, có lẽ đã đến lúc nhà nước này nên giành công sức tố cáo Trung Cộng-kẻ thù hiện tại và tương lai thay vì cứ say sưa hoài với quá khứ vàng…mã của đảng.

Bé Như Sợi Chỉ

Bé Như Sợi Chỉ

  1. T.T. D Tưởng Năng Tiến

RFA

Phục hoạt tiểu vương quốc Champa chỉ cần những việc làm rất nhỏ nhưng là một bước tiến vĩ đại của tình yêu dân tộc và sự trưởng thành của chính dân tộc Việt Nam.

Võ Thanh Liêm & Lê Huy Lượng

Dù chào đời tại Sài Gòn nhưng vì sinh sau đẻ muộn nên tôi không hiểu gì nhiều về ông Công Tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy, tức Ba Huy. Nhờ đọc bài (“Cuộc Đời Nghèo Khó Của Con Trai Công Tử Bạc Liêu”) trên trang Vnexpress nên mới biết thêm được đôi ba chi tiết, hơi buồn:

“Đốt tiền nấu trứng” là câu đồn thổi về công tử Bạc Liêu. Vậy mà ngày nay con trai ông lại đang phải chạy vạy kiếm từng bữa ăn trên chính mảnh đất của tổ tiên.

Giọng nghèn nghẹn, ông Đức kể, sau hai năm trốn nợ bên đất khách quê người, năm 2000 ông Đức dẫn vợ con về lại TP HCM sống với nghề chạy xe ôm. Ông phải làm việc từ 5h sáng đến tận nửa đêm nhưng cuộc sống vẫn mãi nghèo túng vì ngoài chi phí sinh hoạt, gia đình ông phải mua thuốc điều trị cho con gái. Đến tháng 7 vừa qua, gia đình ông về cố hương tìm chốn dung thân.

Trở lại khuôn viên dinh thự của dòng họ Trần Trinh giàu nhất xứ Bạc Liêu xưa, nay được trùng tu thành khách sạn Công tử Bạc Liêu, ông Đức con trai của Công tử Bạc Liêu với người vợ thứ hai quê Mỹ Tho cho biết cha mình có đến 4 người vợ…

Xuất thân giàu có, ảnh hưởng sự phong lưu của cha nên những năm tháng vàng son, không chỗ vui chơi nào ở Sài Gòn mà ông Đức không biết đến bởi đêm nào cũng đi nhảy đầm. Người em cô cậu ruột của ông là ông Phan Kim Khánh khi ấy cũng học ở Sài Gòn và “ham vui” có tiếng.

Ông này biết trong “nhà lớn” có 5 cặp bình màu xanh lục (lục bình) có dấu ấn vua chúa được ông ngoại Hội đồng Trạch mua được từ bên Tàu. Mỗi lần vui chơi hết tiền, ông Khánh được một đại gia nổi tiếng trong giới kinh doanh xe máy ở Sài Gòn “xúi” về quê “chôm” cặp lục bình mang lên bán với giá 250.000-300.000 đồng/cặp (thời ấy giá lúa chỉ có 1,7 đồng/giạ) để lấy tiền tiêu xài.

 Đến năm 1975, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông Khánh chính là người trực tiếp bàn giao 3 cặp lục bình còn lại cùng với toàn bộ tài sản là khu “nhà lớn”, đất đai, các khu phố… ở Bạc Liêu cho chính quyền cách mạng.

Dinh thự của Công tử Bạc Liêu giờ thành khách sạn. Ảnh và chú thích: Vnexpress

Kiểu “bàn giao” này ngó bộ (hơi) trắng trợn nên blogger Truong Huy San  bèn có một đề nghị nhỏ:

Tại sao Khách sạn “Công Tử Bạc Liêu” không thu xếp một phần nhà đưa ông Trần Trinh Đức về ở trong đó, mời ông làm người hướng dẫn khách tham quan và tìm hiểu về dòng tộc nhà ông. Cho dù phải thu hẹp hơn phần nhà cho thuê nhưng nếu được ở cùng với “công tử” chắc chắn khách sẽ ghé nhiều hơn, trả giá cao hơn, kinh doanh phát đạt hơn. Tôi đã từng ở trong khách sạn này, tìm hỏi gặp người thân nhà công tử mà không ai biết.

Không chỉ riêng khu nhà Công Tử Bạc Liêu, lên Hà Giang, thấy người nhà vua Mèo Vương Chí Sình bị trục khỏi Nhà Vương (ra ở mấy căn nhà phố xây rất phản cảm trong không gian kiến trúc ấy) hay thấy dinh thự Hoàng A Tưởng ở Bắc Hà, Lào Cai, trống không, mới thấy Chính quyền vừa tham vừa thiển cận.

Lẽ ra phải tôn trọng quyền thừa kế tài sản của những người thân trong dòng tộc nhưng yêu cầu quản lý khu nhà nhà một di sản cần bảo tồn. Hướng dẫn họ khai thác kinh doanh và nhà nước thu thuế.

Vương quốc Champa Campapura 192 – 1832. Nguồn ảnh: wikipedia

Ý Kiến của nhà báo Huy Đức khiến tôi nhớ đến một đề nghị lớn (“Một Monaco Champa Cho Việt Nam”) hết sức chí tình, của hai tác giả Võ Thanh Liêm và Lê Huy Lượng. Xin trích dẫn vài đoạn chính để rộng đường dư luận:

Phần giới thiệu

Trong bài viết này chúng tôi đưa ra đề nghị tái lập vương quốc nhỏ bé Champa tại Phan Rang. Tái lập trên danh nghĩa để bảo tồn di sản văn hóa và lịch sử, không tự trị và không biệt lập. Như tựa đề bài viết, một đề nghị mô phỏng theo tiểu vương quốc Monaco ở cạnh nuớc Pháp. Chúng tôi cũng đồng thời nêu lên những sự việc bảo tồn văn hóa đa nguyên, đa dạng đáng được khích lệ tại Việt Nam. Chúng tôi cũng đưa ra những yếu tố lịch sử, nhân đạo, văn hóa, kinh tế và ngoại giao để biện minh cho ý kiến của chúng tôi. Mọi ý kiến ủng hộ, phản bác từ các giới trí thức và học giả Việt Nam đều mang tính tích cực trong thời đại ánh sáng và trí tuệ ngày hôm nay.

Nước Việt Nam là một quốc gia có nhiều nguồn gốc văn hóa và nhiều pha trộn chủng tộc; yếu tố này làm cho nước và người Việt Nam trở nên phong phú và đa dạng. Lịch sử và văn hóa Việt Nam đã và đang tạo sự hấp dẫn và thán phục từ người ngoại quốc, điều mà chúng ta có thể cùng hãnh diện. Ở thế kỷ 21 thế giới văn minh đang tiến đến một thời đại mới, chúng ta có thể gọi là thời đại Nhân Bản. Ngày nay thế giới văn minh bao dung và trân quí sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ.

Ảnh: the-wild-beauty-of-cham-girl-with-different-colored-eyes

Những khác biệt được người ta tìm hiểu và bảo tồn cho bức gấm lịch sử nhân loại thêm màu sắc rực rỡ. Khi chúng ta và thế giới đang quan tâm đến việc bảo tồn các loài như voi, tê giác, cá sấu, gấu rừng, chim muông quí giá của Việt Nam đang bị đe dọa tuyệt chủng thì tại sao chúng ta có thể làm ngơ với dân tộc và văn hóa Chăm đang bị mai một, đồng hóa và nguy cơ tuyệt chủng là có thật vì hiện nay chỉ còn 100.000 người Việt gốc Chăm giữa 82 triệu người Kinh (0.0012% dân số).

Trường hợp Monaco, Tô Cách Lan và Tân Tây Lan

Sự thành công về kinh tế và văn hóa của tiểu vương quốc (principality) Monaco là một sự hãnh diện cho chính phủ Pháp từ số thuế thu được cho đến lợi ích du lịch, thương mãi, tài chính, và ngoại giao. Monaco có diện tích đất đai là 150 héc-ta, nhỏ bằng 1 cái đồn điền cà phê, chỉ có 30.000 dân nói tiếng Pháp và lệ thuộc Pháp. Monaco nhờ kinh doanh vào du lịch, tài chính và sòng bạc nên trở nên phồn thịnh. Kinh tế của tiểu vương quốc này đã tăng nhanh từ 3.2 tỉ năm 1975 lên đến 40 tỉ tiền Phật Lăng năm 1995. Lợi tức đầu người năm 1999 là $27.000 US. Sự hiện diện của Monaco không là một mối nguy mà chỉ mang lại nhiều phúc lợi cho nước Pháp.

Tô Cách Lan (Scotland) thuộc liên hiệp các Vương quốc Anh (United Kingdom) vào ngày 1 tháng 7 năm 1999 cũng có được quốc hội riêng sau gần 300 năm bị sáp nhập vào Anh quốc bằng đạo luật “Acts of Union 1707”. Ngày nay Tô Cách Lan vẫn phát triển cùng nhịp với Anh quốc, mọi liên hệ sâu sắc về kinh tế, luật pháp và hoàng gia vẫn duy trì một cách tốt đẹp.

Gần với Việt Nam hơn là Tân Tây Lan (New Zealand), cũng từ lâu có sự hiện diện của một tiểu vương tượng trưng cho thổ dân Maori. Vị nữ vương bộ lạc Maori vừa mới từ trần vào ngày 15 tháng 8 năm 2006 là Te Arikinui Dame Te Atairangikaahu. Con trai của bà là Tuhetia Paki đã lên ngôi vua bộ lạc với sự ca ngợi của nhân dân và chính phủ Tân Tây Lan, nhân dân và chính phủ Úc và các nước đa đảo châu Á Thái Bình Dương. Sự ca ngợi đây phải được hiểu rằng dành cho tâm lý trưởng thành, tinh thần bao dung, chung sống hài hòa và ý thức bảo tồn văn hóa Tân Tây Lan của chính nhân dân Tân Tây Lan. Dân tộc Maori là cư dân địa phương của Tân Tây Lan và họ chiếm 15% dân số Tân Tây Lan. Số còn lại đa số là người gốc Anh và di dân Ấn Độ, Việt Nam.

Ảnh: ponagar.blogspot

Tất cả những trường hợp điển hình trên đây đều mang lại sự phồn thịnh, hài hòa và quan trọng hơn cả là một bằng chứng của sự trưởng thành của những dân tộc này. Trừ Monaco có duy trì đại diện tại Liên Hiệp Quốc nhưng Pháp nắm giữ an ninh và chia tiền thuế, tiểu vương Maori của Tân Tây Lan và Tô Cách Lan chỉ có sự công nhận của Nữ hoàng Elizabeth đệ Nhị và vẫn thuộc Liên hiệp Anh (Commonwealth).

Một vương quốc tí hon trên thực tế nhưng to lớn trong ý nghĩa bao dung

Phan Rang (Panduranga, tỉnh Ninh Thuận) có diện tích đất đai là 3360 km2 và dân số là 532.000 người,trong số đó có 60.000 người Chăm. Tức là ngay cả ở cứ điểm cuối cùng của mình, dân tộc Chăm vẫn là thiểu số. Tuy nhiên Panduranga dưới triều Hoàng đế Gia Long vẫn còn giữ tên gọi Chiêm Thành quốc. Đề nghị tái lập tên gọi Vương quốc Champa tại Phan Rang rất hợp lý và không thiệt hại gì cho người Việt mà chỉ có lợi về nhiều mặt. Phục hoạt tiểu vương quốc Champa chỉ cần những việc làm rất nhỏ nhưng là một bước tiến vĩ đại của tình yêu dân tộc và sự trưởng thành của chính dân tộc Việt Nam. Sự trưởng thành ở lòng tin vào nhau, sự trưởng thành ở sự không sợ hãi sự thật, sự trưởng thành ở quyết tâm hàn gắn vết thương lịch sử…” (hết phần trích dẫn).

Bao dung là ý niệm xuyên suốt trong bài viết (“Một Monaco Champa Cho Việt Nam”) của hai tác giả Võ Thanh Liêm và Lê Huy Lượng. Hạn từ này, buồn thay, không có trong tự điển của  người CSVN. Tầm nhìn của họ chỉ thấp cỡ như loài kiến, và lòng dạ thì (chắc) không lớn hơn sợi chỉ.

Điều đáng buồn không kém là đức bao dung, xem chừng, cũng không dễ thấy trong lòng dân Việt. Trong ánh mắt của rất nhiều người ở xứ sở này (chứ chả riêng gì những kẻ hiện thuộc giới cầm quyền) đồng bào Mường, đồng bào Thượng – chưa chắc – đã phải là đồng bào (thiệt) nói chi đến người Chăm!

Dù trong lãnh thổ Việt Nam hiện nay chứa không ít mồ hôi, nước mắt và máu xương của nòi giống Champa nhưng ngay cả một con đường (nhỏ) mang tên những đấng quân vương – như Chế Chí, Chế Mân, Chế Bồng Nga … mà tìm đỏ mắt còn chưa ra thì giấc mơ (“Một Monaco Champa Cho Việt Nam”) của nhị vị thức giả Võ Thanh Liêm và Lê Huy Lượng, xem ra, còn rất xa vời.

Lòng dạ chúng ta, có lẽ, không đến nỗi bé như sợi chỉ nhưng e cũng không lớn hơn cái tăm là mấy. Dân tộc Việt sẽ còn gặp nhiều thảm kịch khác nữa – trong tương lai gần, ngay cả sau khi những người cộng sản đã đội nón ra đi – nếu sự thiển cận và hẹp hòi này không được nhận diện và loại bỏ.

K’ Tien

NHỜ CHÚA CHÚNG TA SẼ GẶT HÁI TỐT TRONG LỜI NÓI

NHỜ CHÚA CHÚNG TA SẼ GẶT HÁI TỐT TRONG LỜI NÓI

(Sống Mùa Chay)

Tuyết Mai

Khi chúng ta có chủ đích là sống trong yêu thương, trong tình yêu Thiên Chúa thì mọi lời nói chúng ta thốt ra hẳn chúng phải được phát xuất từ trong trái tim nhân ái.   Chúng ta cần phải cẩn trọng nhất là những lời nói thô lỗ, cần được giảm ở mức tối thiểu hay không bao giờ nên thốt ra khi nói với con cái và người thân trong gia đình.

Chúng ta cần được hiểu rằng những lời nói thiếu suy nghĩ ấy chúng sau này sẽ trở lại với chúng ta không thiếu một chữ ấy là chưa kể đến những lời nói nặng đau theo thời gian sẽ làm chúng con cái trở nên nhát đảm hay ngược lại là chúng sẽ trở nên dữ giằn, ăn nói mất dạy, cục cằn thô lỗ và lòng thì đầy hận thù.

Thử tưởng tượng mà xem khi chúng ta mang danh nghĩa là con cái Chúa thế mà lại đi đối xử với nhau trong gia đình còn hơn là người mà chúng ta gây thù oán với.   Vả không ai trong chúng ta ngu dại gì mà lại đi dùng những lời lẽ thô tục mà nói với người ngoài bởi lẽ rất có thể nó lấy tánh mạng của chúng ta cách nhanh chóng mà không ai kịp có lời trăn trối.

Rốt cục thì chỉ trong gia đình là bị ảnh hưởng nặng nề, sâu đậm trên vợ trên con cái mà thôi.   Thử hỏi cha mẹ nào mà không muốn cho tương lai chúng con cái trở nên tốt lành, nhân hậu và là người dễ thương, dễ mến mà chúng ta cha mẹ lại không làm gương tốt lành và nhân hậu thì cho hỏi chúng con cái phải được học từ ai và từ đâu?.   Hoặc chúng ta cha mẹ cảm thấy bất lực khi con cái chúng khó dạy, ngang tàng xấc xược, là thành phần bất trị của xã hội thì chúng ta đổ thừa cho ai đây?.

Nhân Mùa Chay mong ước hết thảy chúng ta không là “Một con sâu làm rầu nồi canh” Mà là sự cố gắng của một con Én có thể làm nên mùa Xuân qua lời hót đẹp đẽ rộn ràng của nó.   Hay chỉ cần một cành Mai, cành Huệ, cành Lan hay cành Cúc tươi thắm … Thì cũng đủ, thưa có phải?.

Thưa nếu chỉ có một chút bấy nhiêu mà chúng ta đã không làm tròn trách nhiệm cùng bổn phận được thì thử hỏi khi Thiên Chúa Người đòi hỏi ở chúng ta phải yêu thương nhau, chia sẻ cho người khổ nghèo có cùng một Cha chung trên Trời … Thì liệu chúng ta có thực thi được hay không?.

Ai trong chúng ta cũng học biết rằng Thiên Chúa Người rất chán ghét những con người sống đạo đức giả là vì chuyện gia đình của họ thì luôn rối beng, xào xáo, om xòm, tan vỡ vì họ luôn sống ích kỷ với nhau, không có chỗ cho Thiên Chúa ngự trị trong căn nhà tâm hồn của họ.   Tuy nhà biệt thự của họ cũng có bàn thờ Chúa Mẹ thật to, thật đắt tiền nhưng Chúa Mẹ thì rất cô đơn và lạnh lẽo.   Những con người này chỉ vì họ muốn có tiếng tăm nên đã lợi dụng danh Chúa mà trục lợi của người.

Trong suốt Mùa Chay, Thiên Chúa Người mời gọi hết thảy con cái của Người hãy Trở Về sống bên Chúa để được Người băng bó cho vết thương lòng, thương yêu, đùm bọc và dạy dỗ để chúng ta ngày một nên giống Chúa hơn.   Amen.

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

18 tháng 2, 2016

Tết và lạnh lùng tương lai Việt

Tết và lạnh lùng tương lai Việt

VietTuSaiGon

Tet va la lung

Ảnh minh họa cho tương lai Việt Nam. Nguồn: internet

Đầu Xuân, rủ bạn bè làm một chuyến du khảo Đà Nẵng, Hội An, Huế, Nghệ An, Hà Tĩnh… Và mai mốt là Sài Gòn, Đồng Nai, Bình Dương, lục tỉnh miền Tây… Nhưng đi nửa chừng, mới qua Đà Nẵng, Hội An, sắp bước vào đất Hà Tĩnh thì chẳng còn muốn đi thêm nữa. Cảm giác lạnh lùng, trống rỗng và đôi khi sợ hãi hiện ra càng thêm rõ. Nổi trội hơn có lẽ là cảm giác lạnh. Cái lạnh đến từ bên trong tâm hồn chứ không phải những trận rét của thiên nhiên. Tự dưng, một câu hỏi ám ảnh: Người Việt đã lạnh lùng từ bao giờ? Và tương lai Việt đi về đâu?

Đương nhiên câu hỏi đầu có vẻ hợp lý và dễ chịu hơn câu sau khi đặt câu hỏi và giải quyết nó. Câu sau nghe có vẻ lên gân. Nhưng hiện tại, có lên gân hay không thì cũng như nhau bởi mọi chuyện hầu như đã “an bài”, hết thuốc chữa!

Vì sao? Bởi vì có sự khác biệt rõ ràng giữa cái lạnh của gió mùa, tuyết rơi, băng giá với cái lạnh sốt rét. Trước cái lạnh tuy khắc nghiệt của thiên nhiên, con người vẫn có cách thích ứng, có cách chống chọi bằng áo ấm, bằng lửa và sự chịu đựng. Nhưng khi cái lạnh bốc ra từ bên trong như sốt rét thì cho dù nhiệt độ tự nhiên lúc đó có lên 40 độ C thì người ta vẫn có thể chết vì cóng lạnh. Cái lạnh của dân tộc Việt Nam là cái lạnh sốt rét.

Sở dĩ tôi nói rằng dân tộc Việt Nam, hay nói đúng hơn là đại bộ phận nhân dân cũng như hệ thống cầm quyền từ địa phương đến trung ương đang bị sốt rét và có thể lăn ra chết bất kì giờ nào bởi vì hầu hết chúng ta đang bị con vi trùn sốt rét của sự vong thân và vong nô hoành hành tâm hồn, hoành hành thể xác nhưng chúng ta vẫn cứ xem như không có gì và vẫn cứ tưởng rằng mình khỏe mạnh.

Vì sao? Vì chưa có năm nào người Trung Quốc xuất hiện tại Việt Nam đông như Tết năm nay, trong lúc mọi chuyện về chính trị, biên giới, lãnh hải, hải đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn đang là chuyện nhức nhối, gay cấn và căng thẳng. Người Trung Quốc đã sẵn sàng bỏ tiền ra thuê nguyên một máy bay để sang Khánh Hòa, Việt Nam ăn Tết. Và tại thành phố Hội An, Quàng Nam, tình trạng kẹt xe từ ngã ba Tin Lành đến tận trung tâm văn hóa thể thao Hội An kéo dài gần hai giờ đồng hồ vào các đêm Mồng Hai, Mồng Ba, Mồng Bốn Tết.

Nguyên nhân kẹt xe là do lượng xe hơi vào thành phố quá nhiều, và đáng buồn hơn là ước chừng 70% xe hơi gây kẹt xe lại là xe chở người Trung Quốc đến Hội An để họ ăn Tết và tổ chức lễ kỉ niệm “hợp nhất người Trung Quốc trên thế giới” ngay tại trung tâm thành phố Hội An.

Ở Đà Nẵng, đi đâu cũng gặp người Trung Quốc, có thể nói rằng trong dịp Tết này, người Trung Quốc nhiều hơn người Việt tại thành phố Đà Nẵng. Bởi hầu hết các gia đình ở thành phố Đà Nẵng đều đóng cửa từ Mồng Một đến Mồng Ba Tết, họ không đổ ra đường, chỉ có người Trung Quốc và một số người Việt từ các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam xuất hiện trên đường Đà Nẵng.

Ở thành phố Huế, Vinh và Hà Tĩnh, người Trung Quốc cũng xuất hiện khá đông, tương đương với người dân các thành phố này nếu nhìn vào tương quan đường phố. Và dường như người Trung Quốc được tiếp đãi rất nồng hậu ở các quán xá, họ không gặp bất kì khó khăn, trở ngại nào khi ung dung tản bộ trên đất Việt Nam. Không dừng ở đó, họ tỏ ra hách dịch và khi có người Việt Nam nào đó cầm máy chụp hình, không may hướng ống kính trùng với hướng họ đang có mặt thì họ không ngần ngại đe dọa bằng tiếng Việt “Ai cho mày chụp hình?” với người Việt. Và, phản ứng của người Việt là phần đông cất máy hình, im lặng mà đi. Có thể nói trong dịp Tết này, cảm giác người Trung Quốc mới là chủ nhân thực sự của dải đất hình chữ S này chứ không phải là người Việt Nam. Sao lại có chuyện kì cục như vậy?

Nói đi thì thấy kì cục nhưng ngẫm lại, chuyện này không hề kì cục chút nào, bởi vì nó đã được chuẩn bị từ trứng nước. Hiện tại chỉ là hệ quả tất yếu của một quá trình dài chuẩn bị trong quá khứ. Vậy ai đã chuẩn bị cho vấn đề này? Câu trả lời dứt khoát và rõ ràng là nhà nước Cộng sản Việt Nam đã tính toán, chuẩn bị rất kĩ cho việc này và đảng Cộng sản Việt Nam chính là những con muỗi sốt rét của dân tộc Việt Nam hiện tại.

Bởi lẽ, với lối cai trị bàn tay sắt và nắm đấm khoai mì, vừa nắm chặt lấy vai nhân dân bằng những ngón tay sắt làm rướm máu, lại vừa đấm thẳng khoai mì vào mồm nhân dân trong quá trình kinh tế tập trung bao cấp (dựa vào viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc) và với lối cai trị bằng roi điện với rượu Mao Đài suốt mấy chục năm sau bao cấp trên danh nghĩa kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã bóp chết nhân dân Việt Nam từ trong ra ngoài, đã làm tê liệt nhân dân vì chứng sốt rét tư tưởng.

Nhân dân không đuợc nói, chỉ được nghe huấn thị từ đảng. Nhân dân không được đấu tranh cho chủ quyền dân tộc mà chỉ được phép ngồi yên để đảng lo liệu, nhân dân được tự do lựa chọn thực phẩm và sách báo trong cái đống thức ăn ôi thiu xuất xứ Trung Quốc và trong mớ tư tưởng Cộng sản mà đảng đã soạn sẵn.

Từ chiếc nịt ngực phụ nữ, chiếc quần lót cho đến hộp sữa, chiếc xe gắn máy, cục xúc xích, cây kẹo, dĩa trái cây, ký gạo, đồ chơi trẻ em, phim ảnh… Tất cả nhu yếu phẩm, hàng hóa cho đại bộ phận nhân dân nghèo khổ, chật vật này đều được soạn sẵn bằng sản phẩm của Trung Quốc. Và về lâu về dài, dường như số đông nhân dân đã quen mùi của Trung Quốc, thậm chí có người coi những sản phẩm độc hại của Trung Quốc là đỉnh cao trí tuệ bởi “Trung Quốc nó giỏi hơn Mỹ, cũng một cái đồ cùng tính năng nhưng nó bán rẻ chưa bằng một phần mười đồ của Mỹ”!

Và cũng về lâu về dài, dường như nhân dân đã bị ngấm văn hóa và dịch chất Trung Quốc trong cơ thể như một con bệnh đang ủ sốt rét trong cơ thể. Cho đến một ngày bệnh bùng phát, người ta lạnh cóng, run lập cập và vẫn nghĩ rằng trời đang lạnh rét chứ không hề nghĩ rằng mình đang sốt rét từ trong máu thịt.

Một đất nước với đại bộ phận nhân dân chưa bao giờ có quyết định từ khước, chối bỏ hàng hóa Trung Quốc vì nó quá độc hại. Một đất nước mà đại bộ phận nhân dân, nhà buôn lại xem kẻ xâm lăng là cơ hội làm giàu (mà không thử suy nghĩ có bao nhiêu gián điệp, kẻ xấu đang trộn lẫn trong các đoàn khách du lịch kia) và sẵn sàng quì lụy, chấp nhận, thỏa hiệp với kẻ xâm lược. Một đất nước mà hệ thống chính quyền vừa đóng vai trò trị dân, chăn dân lại vừa đóng vai trò tay sai cho kẻ xâm lược, tiếp tay cho kẻ xâm lược từ kinh tế đến chính trị, văn hóa…!

Thử nghĩ, tương lai Việt Nam sẽ về đâu với chứng sốt rét tâm hồn của đại bộ phận nhân dân? Và tội lỗi này do đâu mà có? Liệu có còn tương lai để chúng ta nói rằng đến một ngày nào đó lịch sử sẽ phơi bày ra ánh sáng ai công ai tội khi mà nguy cơ bị xóa sổ một dân tộc đang rất cận kề bởi kẻ địch không cần tốn viên đạn nào, họ chỉ cần đứng nhìn chúng ta chết dần chết mòn trong chứng sốt rét tâm hồn và lăn ra chết?

Mọi chuyện đều có thể xảy ra khi đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn xem mình là chư hầu của Trung Quốc và đại bộ phận người dân Việt Nam vẫn lên cơn sốt rét, vẫn cam chịu và chết dần chết mòn trong cam chịu, dựa dẫm vào kẻ đang giết mình!

Và tương lai Việt Nam sẽ là một tương lai trơ trọi nếu chúng ta tiếp tục lên cơn sốt rét tập thể như đang thấy! Thật đáng buồn khi viết ra những dòng này!

VietTuSaiGon

Đi lễ hội để ‘mua bán’ với thánh thần?

Đi lễ hội để ‘mua bán’ với thánh thần?

Lan PhươngBBC Tiếng Việt từ Bangkok

Tiền lẻ 500đ, 1000đ rất phổ biến trong mùa lễ hội, thường được đặt vào tay, chân, chỗ ngồi của Phật

Từ mùng Sáu Tết, những lễ hội đầu năm bắt đầu diễn ra khắp nơi. Người ta gặp lại những cảnh tượng năm nào cũng xảy ra: nhét tiền vào thay Phật, sì sụp khấn vái hàng tiếng đồng hồ, chen lấn dữ dội để giành giật “lộc” giữa đám đông.

Cầu xin hay mua bán với thánh thần?

Hàng ngàn người chen lấn nhau trên đường lên Yên Tử. Cả biển người tập trung trước chùa Phúc Khánh để cúng sao giải hạn. Hay như ở chùa Hương, Vietnamplus đưa tin số vé tham quan mà Ban quản lý di tích chùa bán ra đã là 40 ngàn vé trong ngày Mùng Ba Tết.

Tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, có người “trèo rào” vào vị trí các chú rùa đội bia tiến sĩ để rải tiền. Trên chùa Bái Đính, đồng 500đ, 1000đ màu sắc quen thuộc như một “lễ vật” đến hẹn lại lên của con dân trần gian dâng vào tận tay những vị La Hán.

Tôi thường tự hỏi họ cầu xin điều gì và tại sao phải sử dụng đến những phương thức “dâng lễ vật” kỳ lạ đến vậy. Tại sao tín đồ nghĩ các vị La Hán cần tiền? Tại sao người cầu học hành tốt lại nghĩ con rùa đội bia tiến sĩ.. cần tiền? (Mà lại là tiền lẻ mới được). Tại sao những người lên Miếu Bà Chúa Xứ ở An Giang phải thuê heo quay để cúng – và rồi sau đó con heo lại trở về với chủ nhân để tiếp tục… cho thuê?

Mớ lễ vật quen thuộc mà tín đồ từ Nam ra Bắc mang lên ngôi đền tâm linh của mình rất giống nhau, gồm tiền lẻ, heo quay, oản, xôi, thật nhiều vàng mã, và rất nhiều tiền thật. Lòng thành của người dự hội cũng có mùa như lễ hội.

Họ mang theo sự thừa mứa vật chất về cho những trung tâm thờ cúng, và rồi nhất loạt bỏ đi khi chẳng trúng mùa lễ hội. Nếu gọi đây là tín ngưỡng, thì những tín ngưỡng này thực dụng “gần gũi” hệt như cuộc sống trần thế của người cúng, cần tiền thì cho Phật tiền, cần giàu thì cho Bà heo, cần học giỏi thì rải tiền cho rùa ăn.

Hoang Dinh Nam AFP

Một lễ hội đầu năm 2016

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Trần Phước Thuận từng chia sẻ: “Tôi lên đền mẫu Âu Cơ ở Phú Thọ, đứng nhìn tín đồ sì sụp đập đầu xuống nền vái lạy cả tiếng đồng hồ. Nghe họ cầu xin thì thấy gọi hết tên Phật, thánh này nọ ra, xin rất cụ thể làm ăn ở công ty, tiền bạc, muốn gì. Nhưng đây là Đền thờ Mẹ Âu Cơ để người Việt nhớ cội nguồn dân tộc kia mà? Trong đền thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo, người ta cũng bói toán, xin quẻ đầu năm.”

Ở nhiều ngôi chùa, khi mùa Tết tới, nhà chùa thức thời thương mại, tổ chức luôn cả quầy gieo quẻ, quầy bói, quầy cúng sao, quầy đọc lá số, dịch vụ nào cũng tiền bạc đâu ra đấy. Trong khi đó, trong Phật giáo thuần thành, không có hoạt động nào có thể… đoán trước tương lai được cả.

Sự khao khát vật chất cháy bỏng hiện diện trong từng lời khấn cầu mà người ta có thể nghe bất cứ đâu giữa mùa lễ hội, thậm chí phô lộ ra thành tiếng cầu xin rất to mà ai cũng có thể nghe được giữa điện thờ. Cầu mua xe hơi, cầu lấy chồng giàu, cầu mua thêm nhà, cầu có được tiền đi du học. Ước nguyện của tín đồ được nén chặt lại, quăng lên chốn linh thiêng như món hàng trao đổi với các vị thánh ngồi yên trong cõi thờ phụng cả năm trời chẳng ai thèm nhớ tới.

Lễ hội đầu năm như hội chợ “cầu được ước thấy” mở ra, khách hàng tứ phương mặc trên mình chiếc áo kính ngưỡng giả hiệu, rải tiền lẻ từ cửa đền lên đỉnh đền, hẳn tin rằng mình sẽ sớm đạt ước nguyện vì đã “hối lộ” xong thánh thần khắp lượt.

‘Lan tỏa’

Tôi còn nhớ mãi đến khi trận ẩu đả kinh hoàng để tranh ấn Đền Trần được đưa lên báo Tuổi Trẻ, người ta mới đi lật giở tài liệu, hồ sơ và tiến sĩ Nguyễn Hồng Kiên nói trên báo Tuổi Trẻ: “Không hề có chuyện nguồn gốc của lễ khai ấn bắt nguồn từ việc sau khi đánh thắng quân Nguyên – Mông”, thậm chí lễ khai ấn này còn… “chẳng liên quan gì đến thời Trần”.

Hoang Dinh Nam AFP

Lễ hội chém lợn tại làng Ném Thượng đã phải “quây kín” sau những chỉ trích từ nhiều nơi

Vậy những người đã nhiệt tình đánh xe hơi từ tận tỉnh xa về, chầu chực đêm khuya để lao vào giật tờ ấn, họ đã hiểu gì về thứ họ cố công giật lấy mang về dán trong nhà?

Ông Trần Phước Thuận giải thích sự phổ biến của đủ mọi hình thức cúng bái xuất hiện: “Tín ngưỡng dân gian tại Việt Nam rất lớn mạnh và lấn át cả các tôn giáo chính thống. Sức truyền bá của tín ngưỡng dân gian rất ghê gớm, không cần lý luận, không cần học thuyết gì, người ta xúm lại thờ cúng một nhân vật nào đó họ cho là linh thiêng. Sức lan tỏa của loại tín ngưỡng này cực kỳ lớn như các lễ hội hát chầu, cúng bái, xin ấn tại đình chùa.”

Khi tôi hỏi những người sì sụp khấn vái trong các gian thờ ở Châu Đốc – An Giang, nhiều người không phân biệt được ở đây thờ Bà hay thờ Phật và Bà là ai, câu trả lời chỉ là “nghe đồn thiêng lắm, cầu xin gì cũng được, cầu được mình đi trả lễ”.

Còn món đồ người đi lễ hội tranh nhau giật lấy hay hào phóng bỏ tiền mua, chúng là sản phẩm được “chế tạo” ra đáp ứng cho ước muốn trao đổi với thần thánh của những người trần đầy ham hố cầu xin.

Chỉ có kẻ buôn thần bán thánh là bận bịu dịp này hơn cả!

Một vòng báo net, thưởng ngoạn phong trào tự ứng cử!

Một vòng báo net, thưởng ngoạn phong trào tự ứng cử!

Lê Thiên

Ngày 22/5/2016, CSVN sẽ trình diễn vở hài kịch bầu cử Quốc Hội trên cả nước. Nghĩa là nếu tính từ hôm nay, ngày 14/02/2016, chỉ còn trên dưới 90 ngày nữa thôi, tiếng pháo lễ hội tưng bừng sẽ nổ vang trên mọi miền đất nước Việt Nam khi “toàn thắng ắt về ta”. Một thành tích vĩ đại nữa sẽ được ghi khắc trên bia lịch sử đảng CSVN bách chiến bách thắng quang vinh! Đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng lại thêm cơ hội huênh hoang “Dân chủ đến thế là cùng”!

Nhưng oái oăm thay! Truyền thông lề đảng đến nay vẫn chưa đả động gì tới tiến trình “đảng cử, dân bầu” cho ngày 22/5/2016, trong khi báo net lề trái (báo net còn gọi là báo mạng, báo online) đã rộn ràng với phong trào “tự ứng cử đại biểu quốc hội” do Tiến sĩ Nguyễn Quang A phát động.

Ts Nguyễn Quang A với Cao trào tự ứng cử

TS Nguyễn Quang A. Nguồn: tamnhin.net

TS Nguyễn Quang A. Nguồn: tamnhin.net

Ông A hô hào: “Hãy ứng cử để biến quyền hão dần dần thành quyền thực và giúp ông Trọng [Nguyễn Phú Trọng] chứng minh ‘dân chủ đến thế là cùng’” (Lời kêu gọi được đăng trên FB Nguyễn Quang A ngày 05/02/2016 và Anh Ba Sàm tải lên net cùng ngày).

Ông Nguyễn Quang A vốn biết rõ “Quyền ứng cử cơ bản vẫn chỉ là quyền hão!” Ông cũng biết “rất có thể những người tự ứng cử bị các thủ tục ‘hiệp thương’ hiện hành loại bỏ khỏi danh sách ứng viên cuối cùng, thậm chí có thể bị ‘đấu tố’ tại các Hội nghị cử tri hoặc bị báo của ĐCSVN bới móc đời tư,…” Ông A lại còn biết “nhiều người có thể nghĩ việc ‘tự ứng cử’ sẽ thất bại, ‘chẳng xoay chuyển được gì,’… Nhưng ông Tiến sĩ vẫn lạc quan cho rằng, ít ra “việc ứng cử sẽ làm cho dân chúng thấy sự ‘dân chủ đến thế là cùng’ ở nước ta ra sao, gây áp lực để có những sự thay đổi có ý nghĩa trong tương lai, giúp nâng cao dân trí và quan trí”.

Ts Nguyễn Quang A còn liệt kê một danh sách dài những “người trẻ gồm các luật sư cho tới các nhà hoạt động, các trí thức từ Hà Nội vào Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Yên, Sài Gòn, Đà Lạt, Đak Lak, Vũng Tàu…” để kêu gọi họ hãy cùng với ông hăng hái ghi tên tự ứng cử.

Khánh An trên VOA ngày 10/02/2016 cho biết tính cho tới ngày 09/02/2016, “đã có 10 cá nhân độc lập tại Việt Nam tự đứng ra ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 14” trong đó có nhà văn Phạm Thành, blogger Nguyễn Tường Thụy, kỹ sư Hoàng Chương, blogger Đặng Bích Phượng, Luật sư Lê Văn Luân.

Rồi, trong bài báo ngày 10/02/2016, nhan đề Ngày càng nhiều người tự ứng cử Quốc hội, BBC lại nêu lên danh tánh 8 người “tuyên bố mình sẽ ra tranh cử là: Tiến sĩ Nguyễn Quang A, ông Nguyễn Tường Thụy, bà Nguyễn thúy Hạnh, bà Đặng Bích Phượng, ông Hoàng Cường, ông Nguyễn Đình Hà, ông Phạm Văn Thành, ông Lê Văn Luân.”

Ls Võ An Đôn thua keo này bày keo khác

Ảnh: FB Võ An Đôn

Ảnh: FB Võ An Đôn

Luật sư Võ An Đôn từ Phú Yên cũng tuyên bố tiếp sẽ lại ra ứng cử, bất kể ông đã một lần ứng cử và đã bị loại ngay từ buổi “hiệp thương” cấp tỉnh, bị xóa tên khỏi danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 13 năm 2011. Dù biết rằng “bầu cử Quốc hội ở Việt Nam chỉ là trò diễn kịch của giới cầm quyền, người dân khó lọt vào sân chơi độc quyền này,” vị luật sư trẻ Võ An Đôn vẫn không chùn bước (FB LS Võ An Đôn: Tôi tiếp tục ứng cử Quốc hội. Adminbasam 11/02/2016 tải lên lại). Ls Đôn tâm sự về kinh nghiệm phũ phàng của mình trong cuộc “ứng cử” của bản thân hồi năm 2011 như sau: “Năm 2011, khi lấy phiếu tín nhiệm tại nơi cư trú, tôi được 100% người dân địa phương ủng hộ, sau đó lấy phiếu tín nhiệm tại nơi làm việc là Đoàn luật sư, tôi cũng được 100% tín nhiệm. Đến khi hiệp thương tại Mặt trận tổ quốc tỉnh thì tôi bị loại, không được lọt vào danh sách bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội”.

Đau đớn nhất cho tâm huyết và thân phận trí thức trẻ Võ An Đôn là ở chỗ này: “Khi tổ chức lấy phiếu tín nhiệm tại nơi cư trú và tại Đoàn luật sư thì tôi được mời tham dự, nhưng khi tổ chức hiệp thương tại Mặt trận tổ quốc tỉnh thì tôi không được mời tham dự, nghe những người tham dự kể lại là họ đấu tố và nói xấu tôi dữ lắm” .

Ls Đôn đau lắm, nhưng ông đâu chừa! Lần này, ông lại quyết tự ứng cử, tranh cử. “Ứng” thì được. Nhưng tranh thì tranh” với ai? Ai cho ông “tranh” trong guồng máy đảng trị? Ls Đôn vẫn bất chấp! Ông tâm sự: “Mục đích tôi tự ứng cử đại biểu Quốc hội lần trước và lần này không phải là tôi muốn làm đại biểu Quốc hội để được hưởng nhiều bổng lộc ban phát, mà tôi muốn thực hiện quyền ứng cử của một công dân theo hiến định và muốn mọi người dân nhận thức được rằng bầu cử Quốc hội chỉ là trò diễn kịch với vở kịch vụng vờ, lộ liễu, lâu năm đã lỗi thời. Dù biết trước rằng 99,99% người tự ứng cử đại biểu Quốc hội sẽ bị loại, nhưng tôi vẫn tiếp tục nộp đơn tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 14 sắp tới.” Nhiều người hoan hô Ls Võ An Đôn biểu lộ ý chí và khí phách của kẻ sĩ thời đại!

Tuy nhiên, chúng tôi ngờ ngợ không rõ khi tuyên bố “thực hiện quyền ứng cử theo hiến định,” Ls Đôn có đặt niềm tin của mình vào hiến địnhlàm theo Hiến pháp của CSVN không? Hay đó chỉ là chiến thuật nghiệp vụ của nghề luật sư? Bởi lẽ, khi Ls Đôn “nhận thức được rằng bầu cử Quốc hội chỉ là trò diễn kịch, thì hẳn nhiên ông đã rõ cái “Hiến pháp” mà CSVN sử dụng để “nắn ra cái Quốc Hội” có là Hiến pháp của dân, cho dân và vì dân hay không?

Toàn dân Việt Nam ai mà không biết cái Hiến pháp hiện hành của CSVN với điều 4 của nó đích thị là bản tuyên bố quyền đảng trị tối thượng của Cộng đảng! Nó ngồi tè trên đầu quốc gia thì sá gì cái quốc hội bù nhìn! Với điều 4 của nó, nó công khai thủ tiêu quyền làm dân cùng mọi quyền chính đáng căn bản khác của toàn thể dân tộc Việt Nam! Trừ quyền lợi và quyền uy của bè lũ Cộng sản đảng trị! Hiến pháp của CSVN là hiến pháp vi hiến! Cần phải loại bỏ nó ngay, chứ sao lại đeo nó vào mình và gào lên là làm “theo hiến định”?

Ls Lê Văn Luân: Tôi có mặt ở đây

H1

LS Lê Văn Luân. Nguồn: FB Luan Le

Giống như Ts Nguyễn Quang A và Ls Võ An Đôn đã tuyên bố “tự ứng cử” đại biểu Quốc hội khóa 14 sắp tới, một luật sư trẻ khác – Ls Lê Văn Luân – cũng công khai việc tự ứng cử của mình. Có lẽ ông là người đầu tiên trong đợt tự ứng cử năm 2016 này đưa ra bản “Sơ lược ứng cử viên ứng cử đại biểu Quốc hội” với bốn chi tiết lý lịch cá nhân gồm (1) Thông tin cá nhân; (2) Quá trình học tập; (3) Hành nghề; (4) Vài điều liên quan.

Bên cạnh đó là Bản tuyên bố Tôi có mặt ở đây của Ls Luân vận động ứng cử ĐBQH 2016. Qua bản tuyên bố này, Ls Lê Văn Luân hùng hồn lặp đi lặp lại vì sao “tôi đến đây”, vì sao “tôi có mặt ở đây” mà chúng tôi xin phép gọi là tuyên ngôn ứng cử của Ls Luân.

Khác với Ts A và Ls Đôn còn dè dặt với bước chân “tự ứng cử” của mình, bày tỏ phần nào mối ngờ vực đối với CSVN, Ls Lê Văn Luân rõ ràng ra ứng cử với quyết tâm phải được đắc cử, chứ không ứng cử chỉ để thách thức đảng quyền giống như hai vị trên. Hai vị ấy – Ts A và Ls Đôn đều bày tỏ không kỳ vọng được “cử” vào danh sách ứng cử, nói chi tới chuyện được bầu hay không được bầu làm đại biểu Quốc hội! Tuy nhiên, công bằng mà nói, Ls Luân không hẳn lạc quan hoàn toàn về kết quả “dự đoán” sự tự ứng cử của mình, bởi lẽ chính ông đã dè dặt phát biểu rằng cho dù ông có thất bại thì cũng là “một thành công về mặt chứng minh thực tiễn” và cũng “chứng minh về cơ hội của những người ngoài Đảng khi tham gia ứng cử…”

Hưởng ứng phong trào “tự ứng cử”?

Khi phát động phong trào tự ứng cử với chủ đích “‘thức tỉnh người dân’ về quyền ứng cử” (BBC ngày 05/02/2016), Ts Nguyễn Quang A cũng đã tuyên bố tự ứng cử nhằm “cổ động những người cảm thấy mình có đủ năng lực ra ứng cử.” Ông A phân trần: “Tôi không đặt việc trúng cử, hay vào sau các vòng sau là mục tiêu chính. Tôi muốn dấy lên một phong trào để người dân học hỏi, các cơ quan nhà nước cũng phải học hỏi, từ đó tác động thay đổi nhận thức một cách từ từ.” Ts A có lạc quan lắm không khi ông tin “nhà nước cũng phải học hỏi”, “thay đổi nhận thức”???

Ông A còn ví von: “Trong bụi rậm, không có người đi thì chẳng bao giờ thành con đường cả.” Lối ví von này nghe hơi lạ tai: Gặp bụi rậm, muốn nó thành con đường, phải có người DỌN trước khi có người đi, để nó thành đường đi, người ta mới đi được! Tại sao Tiến sĩ Nguyễn Quang A không đặt trọng tâm vào việc tìm cáchtìm người DỌN ĐƯỜNG trước? Ấy mới là “khâu” quan trọng để bụi rậm trở thành con đường thênh thang cho toàn dân Việt Nam!

Dù thế nào chăng nữa thì phong trào “tự ứng cử” đã trở thành cao trào. Ls Phạm Quốc Bình thuộc Đoàn luật sư Hà Nội cũng đang cân nhắc có ra ứng cử hay không, nhưng trả lời BBC ngày 10/02/2016 (Ngày càng nhiều người tự ứng cử Quốc hội), ông Bình nói ông vẫn “chưa có quyết định cuối cùng.” Nghe đâu vị Luật sư này cũng vừa tuyên bố “tự ứng cử” thì phải?

Xuyên qua phong trào “tự ứng cử”, không ít người đặt nhiều kỳ vọng vào sự dấn thân “tự ứng cử” của những người trẻ trí thức và đầy tâm huyết, mong sự dấn thân ấy góp phần vào việc thay đổi cách nghĩ, cách nhìn và phương thức hành động của cả quan lẫn dân trong nước hầu mang lại sự thay đổi toàn diện có lợi cho toàn dân và toàn xã hội Việt Nam. Phải chăng chính vì lẽ đó mà số người hưởng ứng lời kêu gọi “tự ứng cử” do Ts Nguyễn Quang A phát động có dấu hiệu tăng nhanh. Cụ thể, trên Anh Ba sàm ngày 08/02/2016, người ta đọc thấy bài Ra ứng cử, tại sao không? của Người Buôn Gió. Trên BBC ngày 10/02/2016, có bài Ngày càng nhiều người tự ứng cử Quốc hội. Và cả trên VOA ngày 10/02/2016 và trên Anh Ba Sàm cũng ngày 10/02/2016 cũng nổi bật bài của Khánh An: Dân bắt đầu làn sóng ‘cạnh tranh’ quyền ứng cử với đảng viên”. Và còn nhiều bài khác nữa cổ võ cho phong trào tự ứng cử xuất hiện từng ngày trên truyền thông online.

Hoài nghi đối với phong trào “tự ứng cử”

Bên cạnh những người ủng hộ và cổ võ phong trào “tự ứng cử”, không ít người khác tỏ ra hoài nghi và dè dặt về mặt này hay khía cạnh nọ đối với PT này.

FB Quang Phan

FB Quang Phan ngày 10/02/2016 (Anh Ba Sàm đăng lại ngày 11/02/2016) nêu lên Mấy suy nghĩ vụn về phong trào tự ứng cử Tác giả chỉ thẳng: “Tiến sỹ Nguyễn Quang A ra lời kêu gọi công dân tự ứng cử, tuy là sáng kiến hay giúp hình thành nên một phong trào tự ứng cử nhưng lại pha loãng vấn đề, tiếp tục xẻ nhỏ thêm các tiềm lực ít ỏi của các nhóm xã hội dân sự. Đó là sáng kiến bất cập thời và tùy hứng.” Vâng! Xé nhỏ tiềm lực vốn ít ỏi của các nhóm xã hội dân sự, ấy mới là điều đáng lo ngại. Các phong trào đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền có nguy cơ sớm mai một vì cái phong trào “tự ứng cử” đầy cạm bẫy này! Tất nhiên, CSVN sẽ lại có dịp nổ ra tràng pháo “toàn thắng ắt về ta!”

Người Đưa Tin

Trên Dân Làm Báo ngày 11/02/2016, Người Đưa Tin từ Sài Gòn khi nhận xét Vấn đề không phải là tự ứng cử mà cần tẩy chay bầu cử Quốc hội cộng sản, đã kêu gọi mọi người: “Để thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa đất nước, đòi buộc phải đa nguyên đa đảng.” Tác giả bài báo nêu ra rằng “một khi cộng sản còn độc tài toàn trị bằng điều bốn HP thì việc tự ra tranh cử không có giá trị và đạt được mục tiêu xây dựng dân chủ.” Bởi vì, theo tác giả, “đã là cộng sản thì bản chất như nhau, khát vọng quyền lực biến người theo cộng sản nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, kể cả đồng chí, đồng đảng, đồng bọn cộng sản đều chung ý thức giết lầm hơn bỏ sót […] điều đó cho thấy các kiến nghị cũng như đơn thư tố cáo đối với đảng cộng sản chỉ là trò đùa không hơn kém.” Từ nhận định trên, Người Đưa Tin quả quyết: “Hành động khuyến khích người dân tẩy chay bầu cử thiết thực hơn là tuyên bố của một vài cá nhân tự ra ứng cử, khi biết chắc, biết trước nhà cầm quyền cộng sản không thể chấp nhận. Hành động mà biết trước kết quả không hay thì nên chuyển hướng là điều cần thiết.”

Người Đưa Tin kêu gọi mọi người Việt Nam hãy (1) phát động và khuyến khích người dân tẩy chay bầu cử QH cộng sản ngay bây giờ; (2) cảnh giác hình thức bầu cử của CSVN vì “Hình thức bầu cử trong chế độ cộng sản cũng là hình thức đấu tố sát hại lẫn nhau để tranh giành quyền lực”; (3) Không chấp nhận hình thức đảng cử dân bầu để thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa đất nước.

– Vũ Đông Hà

Một tác giả khác của Dân Làm Báo – ông Vũ Đông Hà – cũng đặt vấn đề với cái gọi là tự ứng cử trong chế độ toàn trị (DLB 12/02/2016). Cũng như Người Đưa Tin, Vũ Đông Hà mạnh mẽ thúc giục hãy “tẩy chay bầu cử”. Bởi vì theo tác giả, “tẩy chay đồng nghĩa với thái độ chính trị không chấp nhận từ căn bản về Điều 4 Hiến Pháp, về vai trò của đảng và cánh tay nối dài của đảng là Mặt trận Tổ quốc trong việc khống chế toàn bộ tiến trình bầu cử.” Tác giả lại nhấn mạnh: “Quan trọng hơn cả, tẩy chay bầu cử là thông điệp chính trị mạnh mẽ nhất để phủ nhận cái ‘chính danh’ mà cộng sản ăn cướp của toàn dân kể từ sau ngày Hồ Chí Minh và đồng bọn cướp chính quyền.”

Sau đó, Vũ Đông Hà phê phán phong trào “tự ứng cử” khi ông đặt câu hỏi “tại sao một số người hoạt động ngày hôm nay không chọn phương hướng này, không những không đứng ngoài, không tẩy chay mà lại chấp nhận tham gia màn kịch dân chủ lừa bịp và xung phong “tự ứng cử”? Nói cách khác, họ tình nguyện trở thành một thành phần, một “con cờ” hay tệ hơn – theo cách nói của những người không đồng ý với họ – “con rối” – trong trò chơi mị dân của đảng cầm quyền?

Chúng tôi chỉ nêu lên một vài khía cạnh trong bài “Tự ứng cử trong chế độ toàn trị” của Vũ Đông Hà. Có đọc toàn bài và nghiền ngẫm nó, chúng ta mới thấy hết cái thâm thúy hàm súc trong bài, để chúng ta thận trọng hơn, cảnh giác hơn đối với các trò hề bầu cử kệch cỡm của CSVN, lưu manh trắng trợn và nham hiểm nhất là trò “hiệp thương”.

Theo Từ điển Tiếng Việt, hiệp thương nghĩa là “họp thương lượng về những vấn đề chính trị, kinh tế có liên quan chung tới các bên.” Nhưng thực tế thì lại không phải vậy! Ls Võ An Đôn đã chứng minh điều đó, chúng ta đã trích dẫn trên, giờ xin dẫn lại: “…khi tổ chức hiệp thương tại Mặt trận tổ quốc tỉnh thì tôi không được mời tham dự, nghe những người tham dự kể lại là họ đấu tốnói xấu tôi dữ lắm.

Riêng kẻ hèn này xin đóng góp một suy nghĩ nhỏ: Ứng cử là ứng cử! Ứng cử tự nó đã nói lên ý nghĩa tự mình xung phong giới thiệu mình để được trao phó một trách nhiệm. Tự điển Tiếng Việt cũng minh định như vậy: “Ứng cử là TỰ GHI TÊN trong danh sách để được chọn bầu trong một cuộc bầu cử.”

Vậy, không có “tự ứng cử”, nhưng có ứng cử viên độc lập (không gọi là tự ứng cử) khi mà ứng cử viên tự mình ra ứng cử, không liên kết hay cậy dựa vào sự giới thiệu, bảo trợ hay hỗ trợ của một cá nhân, một đoàn thể, tổ chức xã hội, tôn giáo, chính trị nào! Ứng cử viên độc lập khác với ứng viên được phe nhóm đề cử, nhưng cả hai đều tự nộp đơn xin ứng cử, đều là… tự ứng cử. Các đảng viên cộng sản ứng cử qua sự đề cử công khai của đảng, đoàn, hoặc núp dưới cái vỏ bọc ứng cử độc lập cũng là tự ứng cử, dầu việc “tự ứng cử” này chỉ là làm trò mèo chuột theo lệnh của ai đó để đánh tráo việc ứng cử-bầu cử quang minh chính đại.

Phong trào tự ứng cử chắc chắn sẽ là chuyện dài trên truyền thông online. Nhưng thiết nghĩ, chúng ta chỉ tạm lướt qua một số bài đầu tiên để thử thưởng ngoạn phong trào ấy và từ đó, có thể đoán biết PT này sẽ đi về đâu!

Kết luận

Cách đây gần một tháng, đang khi Đảng CSVN ồn ào với Đại Hội Đảng lần thứ XII, vào ngày 24/01/2016 chúng tôi có cống hiến bài viết Lùm xùm chuyện đảng hôm nay, Nghĩ tới bầu bán ngày mai!Dòng suy tư cuối bài ấy, chúng tôi xin được chia sẻ lại một lần nữa ở đây cùng quý độc giả:

“Kiên quyết không tham gia bất cứ cuộc bầu bán cuội nào do CSVN bày ra, như ‘bầu’ cái gọi là ‘Quốc hội’, vở tuồng sẽ được tái diễn vào ngày 22 tháng 5, năm 2016 này. Dưới chế độ Cộng sản, không hề có bầu cử đúng theo nghĩa của từ bầu và cử! Người ta chỉ dùng thủ đoạn CỬ trước, lùa dân BẦU sau, cưỡng đoạt quyền BẦU CỬ chính đáng của dân, biến nó thành trò chính trị lươn lẹo hầu thao túng chính trường, áp đặt quyền cai trị độc tài độc đảng trên đầu, trên cổ người dân mà thôi”.

Những thư Giáo hoàng John Paul II gửi bạn nữ

Những thư Giáo hoàng John Paul II gửi bạn nữ

Hồng y Karol Wojtyla và bà Anna Teresa-Tymieniecka trong một lần đi trượt tuyết BBC đã được chứng kiến hàng trăm lá thư và ảnh cho thấy mối quan hệ thân thiết kéo dài hơn 30 năm giữa Đức Giáo hoàng John Paul II và một phụ nữ đã có chồng.

Những lá thư từ triết gia người Mỹ gốc Ba Lan, bà Anna-Teresa Tymieniecka được giữ kín suốt nhiều năm ở Thư viện Quốc gia Ba Lan.

Tài liệu cho thấy một khía cạnh khác của vị Đức Thánh Cha, qua đời năm 2005.

Tuy nhiên không có chứng cứ cho thấy ông phá lời nguyện trinh khiết.

Photo provided by Bill and Jadwiga Smith

Bà Tymieniecka và Hồng y Wojtyla trong một lần đi cắm trại năm 1978

Tình bạn giữa hai người bắt đầu từ năm 1973 khi bà Tymieniecka liên hệ với Hồng y Karol Wojtyla (sau này là Giáo hoàng John Paull II), lúc đó là Tổng giám mục Krakow, về một cuốn sách triết học mà ông từng viết.

Người phụ nữ lúc đó 50 tuổi, từ Hoa Kỳ đã bay tới Ba Lan để bàn về công việc.

Hình ảnh bà Anna-Teresa Tymieniecka thời gặp Hồng y năm 1973. Ảnh do Bill và Jadwiga Smith cung cấp

Không lâu sau đó, hai bên bắt đầu thư từ qua lại. Ban đầu, những lá thư của vị Hồng y rất khách sáo nhưng tình bạn càng phát triển thì lời lẽ cũng thân mật hơn.

Cả hai quyết định viết chung một cuốn sách mở rộng từ cuốn sách ban đầu của ông Karol Wojtyla, The Acting Person. Họ gặp nhau nhiều lần – đôi khi có sự hiện diện của thư ký riêng của Giáo hoàng, đôi khi gặp riêng – và thường xuyên trao đổi.

Năm 1974, ông viết rằng trong vòng một tháng ông đã đọc lại bốn lá thư của bà Tymieniecka bởi những lá thư ấy “thật ý nghĩa và riêng tư sâu sắc”.

Những tấm ảnh chưa bao giờ xuất hiện trước công chúng cho thấy hình ảnh ông Karol Wojtyla trong những khoảnh khắc thoải mái nhất. Ông mời bà Tymieniecka cùng đi dạo ở đồng quê và trong các kỳ nghỉ trượt tuyết – bà thậm chí còn đi cùng một nhóm cắm trại với ông. Các bức ảnh cũng ghi lại lúc bà tới thăm ông ở Vatican.

“Đây là một số rất ít những nhân vật siêu việt có hình ảnh cuộc sống đời thường trong thế kỷ 20, người đứng đầu Giáo hội Công giáo, với mối quan hệ mãnh liệt với một phụ nữ quyến rũ,” Eamon Duffy, Giáo sư Lịch sử Công giáo ở Đại học Cambridge nói.

Năm 1976, Hồng y Wojtyla tham dự một hội nghị Công giáo ở Hoa Kỳ. Bà Tymieniecka mời ông tới ở nhà nghỉ ở quê của họ ở New England.

Có vẻ như bà đã bày tỏ tình cảm sâu đậm với ông vì những lá thư của ông ngay sau đó cho thấy một người đàn ông cố gắng cắt nghĩa mối quan hệ của mình theo quan niệm của Công giáo.

Trong một lá thư đề tháng 9/1976, ông viết: “Teresa thân yêu của tôi, tôi đã nhận được cả ba lá thư. Bà viết về việc phải xa nhau nhưng tôi không thể nào tìm được câu trả lời cho những lời lẽ này.”

Ông gọi bà là “món quà từ Chúa”.

Photo provided by Bill and Jadwiga Smith

Bà Tymieniecka thăm Giáo hoàng John Paul II ở Vatican

BBC chưa được đọc bất kỳ lá thư nào của bà Tymieniecka. Chúng tôi tin rằng bản sao của những lá thư này cũng được giữ chung trong tài liệu lưu trữ do bà bán lại cho Thư viện Quốc gia Ba Lan năm 2008, sáu năm trước khi bà qua đời.

Tuy nhiên những lá thư này không nằm trong số thư của Giáo Hoàng được đưa ra cho BBC. Thư viện Quốc gia Ba Lan cũng không xác nhận liệu họ có thư của bà Tymieniecka hay không.

Marsha Malinowski, người chuyên kinh doanh bản thảo viết tay và đã giúp thương lượng vụ bán những lá thư trên, nói bà tin rằng Anna-Teresa Tymieniecka đã yêu vị Hồng y Wojtyla ngay từ những ngày đầu của mối quan hệ. “Tôi nghĩ những lá thư trao đổi hoàn toàn cho thấy điều này,” bà nói với BBC.

Những lá thư cũng hé lộ rằng ông Wojtyla tặng bà Tymieniecka một trong những đồ bất ly thân quý giá nhất của mình – scapular – loại vòng da viền cổ áo tu sỹ Công giáo, mang ảnh Đức mẹ.

Trong lá thư đề ngày 10/09/1976, ông viết: “Từ năm ngoái tôi đã đi tìm câu trả lời cho những từ này, ‘tôi thuộc về em,’ và cuối cùng, trước khi rời Ba Lan, tôi tìm ra một cách – scapular. Không gian mà tôi chấp nhận và cảm thấy em có ở khắp nơi trong mọi tình huống, khi em gần, và khi em xa.”

 Chiếc vòng scapular – quà tặng của Hồng y Wojtyla dành cho bà Tymieniecka

Sau khi trở thành Giáo hoàng, ông viết: “Tôi viết sau khi sự kiện này xảy ra, để cho thấy trao đổi giữa chúng ta vẫn nên được tiếp tục. Tôi hứa sẽ ghi nhớ tất cả mọi thứ ngay cả ở giai đoạn mới này trong hành trình của tôi.”

Hồng y Wojtyla có nhiều bạn nữ, trong đó có Wanda Poltawska, một bác sỹ tâm thần, người ông cũng trao đổi thư từ trong nhiều thập kỷ.

Nhưng những lá thư của ông dành cho bà Tymieniecka đôi khi chứa đầy tình cảm cảm mạnh mẽ, đôi khi là cuộc tranh đấu trong việc lý giải ý nghĩa của mối quan hệ này.

Đức Giáo hoàng John Paul II qua đời năm 2005, sau gần 27 năm lãnh đạo. Năm 2014 ông được tuyên Thánh.

Quá trình phong thánh thường đắt đỏ và tốn nhiều thời gian, nhưng Đức Giáo hoàng John Paul II được nhanh chóng trao Thánh chỉ trong chín năm.

Foto cedida por Bill y Jadwiga Smith

Bà Tymieniecka cùng chồng, Hendrik Houthakker

Thông thường, Vatican sẽ yêu cầu được xem toàn bộ tài liệu công và thư từ cá nhân khi xem xét phong thánh, nhưng BBC không thể kiểm chứng liệu những lá thư này đã được đọc hay chưa.

Bộ Tuyên Thánh nói tùy vào mỗi giáo hội Công giáo để quyết định xem có gửi những tài liệu này hay không.

“Toàn bộ trách nhiệm của chúng tôi đã được thực hiện,” Bộ nói với BBC trong một thông cáo. “Mọi tài liệu riêng, được gửi một cách trung thành để đáp lại sắc lệnh, và tài liệu được coi là thuộc những bộ lưu trữ quan trọng đã được xem xét.”

Thư viện Quốc gia Ba Lan tranh luận rằng đây là mối quan hệ đặc biệt, là một trong rất nhiều mối quan hệ bạn bè thân thiết mà Giáo hoàng có được trong suốt cuộc đời mình.

Mai Tôi Đi & Mốt Tôi Đến – NQH & NGUYỄN VĂN MỸ

 Mai tôi đi…      /                                                                                                 Mốt tôi đến…

Mai tôi đi…chẳng có gì quan trọng, /                                   Mốt tôi đến… đó mới là quan trọng

Lẽ thường tình, như lá rụng công viên,/                                 Về quê trời, là ước vọng tương lai

Như hoa rơi trước gió ở bên thềm,/                                       Nơi yên vui không cần đến tiền tài

Chuyện bé nhỏ giữa giòng đời động loạn../                    Danh với vọng chẳng ai mơ màng tới

Trên giường bệnh, Tử Thần về thấp thoáng,/                  Bệnh chẳng sợ vì hồn đang phơi phới

Xin miễn bàn, thăm hỏi hoặc cầu an,/                                Có đến thăm xin hãy đợi đôi ngày

Khi xác thân thoi thóp trút hơi tàn,/                                   Vì hồn tôi như nửa tỉnh nửa say

Nằm hấp hối đợi chờ giờ vĩnh biệt./                              Và vui sướng đêm ngày không biết tới!

Khoảnh khắc cuối… Đâu còn gì tha thiết../               Trong khoảnh khắc là ngàn năm hạ giới

Những tháng ngày hàn nhiệt ở trần gian. /                         Chẳng sợ gì mà đợi để đến sau

Dù giàu sang hay danh vọng đầy tràn,/                         Nơi giàu sang đều hưởng lợi như nhau

Cũng buông bỏ trở về cùng cát bụi../                        Miền Miên Viễn sẽ toàn màu tuyết trắng!

Sẽ dứt điểm đời phù du ngắn ngủi,/               Không tranh chấp, mà những ngày phẳng lặng

Để đi vào ranh giới của âm dương,/                               Cứ vào đi Ngài luôn sẵn đợi chờ!

Không bàng hoàng trước ngưỡng cửa biên cương,/       Cõi Vĩnh Hằng toàn đẹp đẽ như mơ

Bên trần tục, bên vô hình cõi lạ…/                                   Không dành dựt bon chen như bên nớ

Chỉ ước nguyện tâm hồn luôn thư thả,/                           Hãy dứt khoát khi trả xong món nợ

Với hành trang thanh nhẹ bước qua nhanh,/                  Bỏ lại sau đừng tìm cớ đợi chờ

Quên đàng sau những níu kéo giựt dành,/                     Hãy yên lòng và đừng có thờ ơ

Kết thúc cuộc lữ hành trên dương thế…/                       Chết không hết, mà đổi bờ sang bến

Mắt nhắm rồi… Xin đừng thương rơi lệ, /                       Khi tôi chết hãy thắp lên ngọn nến

Đừng vòng hoa, phúng điếu hoặc phân ưu, /                  Ở trong lòng vì thương mến anh em

Đừng quay phim, chụp ảnh để dành lưu./                    Hãy nghĩ rằng như nằm ngủ qua đêm

Gây phiền toái, nợ thêm người còn sống../                 Vào giấc mộng êm đềm chưa thức giấc

Ngoảnh nhìn lại, đời người như giấc mộng,/                 Sống với chết thật gần trong gang tấc

Đến trần truồng và đi vẫn tay không. /                            Đời bên kia mới thật sẽ bền lâu

Bao trầm thăng, vui khổ đã chất chồng, /                      Nơi yêu thương và hết sức nhiệm mầu

Nay rũ sạch…lên bờ, thuyền đến bến…/                          Vì công lý trước sau là như một

Nếu tưởng nhớ..Xin âm thầm cầu nguyện,/                   Trong cuộc sống hãy cố làm việc tốt

Nên xem như giải thoát một kiếp người,/                  Yêu thương nhau đừng dại dột hại người

Cứ bình tâm, thoải mái với vui tươi,/                            Tâm hồn ta sẽ mai mãi thảnh thơi

Kẻ đi trước, người sau rồi sẽ gặp../                             Hồn với xác sẽ sống đời Thần Thánh

NQH 07/31/2013.                                                               NGUYỄN VĂN MỸ