Chúc quý thân hữu và quý độc giả có được TÌNH YÊU VĨNH CỬU giữa con người với nhau và giữa con người với THƯỢNG ĐẾ.

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Kiều hối – Một kênh rửa tiền?
Nam Nguyên, phóng viên RFA
2016-02-13

Một nhân viên ngân hàng tại Hà Nội đang kiểm tra tiền đô la Mỹ. Ảnh minh họa chụp trước đây.
AFP PHOTO
Your browser does not support the audio element.
Lượng kiều hối gởi về Việt Nam trong những năm gần đây chiếm tỷ lệ 1/3 dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước. Tuy vậy có nhiều nghi vấn cho rằng kiều hối thực tế còn có một góc khuất như một kênh rửa tiền, bên cạnh những đồng đô la chắt chiu của người Việt hải ngoại và người đi lao động ở nước ngoài gởi về giúp gia đình.
Tiền tham nhũng rửa qua kênh kiều hối?
Lượng kiều hối về Việt Nam năm 2015 đạt 12,25 tỷ USD tăng khoảng 0,25 tỷ USD so với năm 2014. Theo ghi nhận của Ngân hàng Thế giới, Mỹ là nguồn kiều hối lớn nhất gởi về Việt Nam với 7 tỷ USD. Trước đó dòng tiền kiều hối về Việt Nam tăng vọt đáng ngạc nhiên từ mức 3,15 tỷ USD năm 2005 đã tăng lên 6,80 tỷ USD vào năm 2008, sau đó chững lại một thời gian rồi tiếp tục tăng chóng mặt.
Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa, Phó Hiệu trưởng Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội nhận định về khả năng tiền tham nhũng được rửa qua kênh kiều hối. Ông nói:
Những khoản thu nhập bất chính nào đó mà người ta gởi ra nước ngoài bằng con đường nào đó và chúng ta không không kiểm soát được và bây giờ người ta dùng con đường kiều hối ấy chuyển về nước để hợp pháp hóa.
-TS Vũ Văn Hóa
“Có thể có, nếu như trong nước không quản lý tốt để cho những khoản thu nhập bất chính nào đó mà người ta gởi ra nước ngoài bằng con đường nào đó và chúng ta không không kiểm soát được và bây giờ người ta dùng con đường kiều hối ấy chuyển về nước để hợp pháp hóa. Chuyện này là có thật, nhưng chưa được thống kê một cách kỹ lưỡng. Trước đây chúng ta cũng nói gởi tiền qua Thụy Sĩ không thống kê được vì người ta giữ bí mật đến mức tối đa. Nhưng bây giờ không chỉ có Thụy Sĩ mà có nhiều con đường khác nhau, chuyện này là có thể. Tôi cho rằng chuyện dùng con đường kiều hối để rửa tiền quay đi quay lại đối với một quốc gia là có nhưng không nhiều lắm.”
Phân tích các số liệu thống kê từ nhiều nguồn khác nhau như Ngân hàng Nhà nước VN, Ngân hàng Phát triển Á châu… Năm 2015 TS Vũ Quang Việt nguyên chuyên gia cao cấp của Liên Hiệp Quốc, có bài phân tích trên mạng Diễn Đàn nêu ra một số vấn đề về những dòng tiền bất hợp pháp ra vào Việt Nam. Bài viết được Báo điện tử Đất Việt đăng lại và gây sôi nổi dư luận. Trong bài, dựa vào bảng cân đối thanh toán quốc tế của Ngân hàng Nhà nước và dự trữ ngoại tệ, TS Vũ Quang Việt sử dụng các tính toán chuyên môn và cho biết từ năm 2008 đến 2013 khoảng 33 tỷ USD đã bị tuồn bất hợp pháp ra nước ngoài.
Theo số liệu chính thức năm 2013 kiều hối về Việt Nam đạt 8,9 tỷ USD trong đó con số 1,6 tỷ USD mà 500.000 người đi xuất khẩu lao động gởi về trong tổng lượng kiều hối một năm là điều có thể tin được, vì như thế mỗi người gởi về Việt Nam khoảng 3.200 USD. Phần còn lại là 7,1 tỷ USD không thể là tiền gởi về nước của 4 triệu Việt Kiều, đặc biệt năm đó phía Việt Nam cho biết 57% lượng kiều hối là từ Hoa Kỳ. Với 1,3 triệu người Việt ở Mỹ tính đổ đồng thì mỗi người đã gởi 3.900 USD về Việt Nam, hoặc 1 gia đình 3 người đã gởi tới 11.700 USD một năm. Đây là điều mà TS Vũ Quang Việt, hiện cư trú ở New York nói là không thể tin được.

Ảnh minh họa chụp tại Hà Nội trước đây.
Trong bài viết, TS Vũ Quang Việt bác bỏ lập luận cho rằng người Việt chuyển tiền về nước để gởi ngân hàng ăn chênh lệch lãi suất. Theo ông, khó ai tin vào sự ổn định giá trị tiền đồng VN và dù không có bằng chứng nhưng ông cho rằng khả năng có việc rửa tiền là hợp lý.
Đối với việc chuyển ngân bất hợp pháp từ Việt nam ra nước ngoài qua con số 33 tỷ USD trong 6 năm từ 2008 tới 2013, TS Vũ Quang Việt cho rằng có thể chủ yếu để nhập lậu hàng hóa từ Trung Quốc, số liệu năm 2013 là khoảng 11,7 tỷ USD. Còn rửa tiền qua kênh kiều hối, TS Vũ Quang Việt cho rằng xuất phát từ thu nhập bất chính của người có chức có quyền ở Việt Nam. Tiền lại quả cho quan chức có thể được trả vào tài khoản thiết lập ở nước ngoài, sau đó được rửa sạch.
Tại sao phí gởi tiền về VN quá rẻ?
Không cần phải là chuyên gia, người Việt Nam sống ở Hoa Kỳ cũng từng tự đặt câu hỏi là tại sao phí gởi tiền về Việt Nam ở các công ty gởi tiền của người Việt lại rẻ như bèo so với các hãng chuyển tiền quốc tế. Thí dụ gởi 100 USD trả phí 02 USD hoặc thấp hơn, gởi nhiều thì phí còn giảm nữa. Mức phí này được cho là không đủ trang trải chi phí thuê mướn trụ sở và nhân viên. Trong khi đó phí chuyển tiền của các công ty quốc tế như Western Union hay Moneygram thường cao hơn rất nhiều.
Nhưng đồng tiền đó lại rơi vào tay những kẻ tham nhũng, những kẻ làm ăn bất chính. Những kẻ đó lại biến những đồng tiền đó thành tiền sạch thông qua rửa tiền dưới dạng kiều hối.
-TS Ngô Trí Long
Trên báo Đất Việt, chuyên gia kinh tế TS Nguyễn Trí Hiếu từng đề cập tới những cách thức rửa tiền thông thường nhất. Đó là đi lòng vòng qua trung gian, tiền được chuyển dịch tại hai quốc gia nhưng lượng tiền không được chuyển dịch qua hai lãnh thổ. Ví dụ một người gọi là A chuyển tiền cho người thân là B ở nước ngoài. Người A muốn chuyển ngoại tệ cho người B chỉ cần giao dịch qua người C ở trong nước và người C sẽ giao dịch với người D ở nước ngoài, người B sẽ nhận được ngoại tệ từ người D. Tiền người B nhận được ở nước ngoài trở thành tiền sạch, có thể rửa thêm một lần nữa qua đầu tư vào bất động sản.
Nhận định về khả năng rửa tiền qua kênh kiều hối, Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế từ Hà Nội kêu gọi Nhà nước phải có biện pháp thực sự để ngăn chặn và trong sạch hóa nền kinh tế. Ông nói:
“Trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh việc đổi mới kinh tế một cách thực chất thì vấn đề phải đổi mới thể chế, hay là chế tài thì nói phải đi đôi với làm. Phải thực sự thay đổi tư duy thì mới hạn chế được, ngăn chặn được hiện tượng rửa tiền, những đồng tiền bất chính không làm ra bằng mồ hôi nước mắt mà bằng cách bòn rút nguồn lực của nền kinh tế Việt Nam, bằng cách bòn rút tiền của những người làm ăn chân chính, người ta đổ mồ hôi nước mắt để tạo ra. Nhưng đồng tiền đó lại rơi vào tay những kẻ tham nhũng, những kẻ làm ăn bất chính. Những kẻ đó lại biến những đồng tiền đó thành tiền sạch thông qua rửa tiền dưới dạng kiều hối.”
Rửa tiền là một vấn nạn trên toàn thế giới, các quốc gia phát triển có hệ thống pháp luật nghiêm minh cũng chỉ giới hạn được vấn đề này. Luật pháp Hoa Kỳ trừng phạt tội rửa tiền rất nặng, nhiều ngân hàng và tổ chức tín dụng từng bị phạt hàng tỷ đô la vì liên quan đến rửa tiền. Vấn đề của Việt Nam càng khó khăn hơn vì pháp luật lạc hậu và thói quen sử dụng tiền mặt. Cải cách thể chế ở Việt Nam chậm và vướng mắc Hiến pháp Xã hội Chủ nghĩa độc đảng. Hơn nữa tình trạng thể chế không minh bạch, chính là điều các quan chức tham nhũng trong bộ máy công quyền không bao giờ muốn thay đổi.
Những kỷ niệm thật đáng nhớ với anh Lưu Trung Khảo
Hồi tưởng của Đoàn Thanh Liêm
* * * Anh Khảo cùng theo học tại Trường Chu Văn An tại Hà nội với số
đông bạn đồng môn chúng tôi và cùng tốt nghiệp văn bằng Tú Tài 2 năm
nhau tại các cơ sở dành riêng cho sinh viên di cư vào thời gian ban đầu trong
các năm 1954 trở đi. Và từ vài chục năm nay, chúng tôi lại gặp nhau thường
xuyên trên đất Mỹ qua những sinh họat về văn hóa xã hội – đặc biệt là trong
tổ chức Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam.
Nay anh vừa mới ra đi, tôi xin ghi lại một số kỷ niệm thật đáng nhớ với người
bạn đồng môn, đồng khóa đã có duyên gắn bó thân thiết với nhau từ trên 60
năm trước. Xin lần lượt trình bày câu chuyện qua các tiết mục như sau.
1 – Người học trò cưng của Thầy Nguyễn Tường Phượng.
Từ những năm 1950, thày Phượng dậy môn Quốc văn tại trường Chu Văn
An. Thày đã từng là chủ bút của tạp chí Tri Tân nổi tiếng thời trước năm
thày Phượng chú ý tín nhiệm và thường trao cho anh phụ giúp việc này việc
nọ trong lớp học. Cụ thể là khi Hiệu Đòan Chu Văn An làm tờ “Đặc San Tre
Xanh” dịp Xuân Giáp Ngọ 1954, thì anh Khảo là một trong những học sinh
thường xuyên đem bài viết của các bạn đến cho thày Phượng duyệt lại trước
khi cho đem đi in.
2 – Tết Ất Mùi 1955 tại Khu Lều trên nền đất cũ của Khám Lớn Sài gòn.
Từ cuối năm 1954, sinh viên di cư chúng tôi được chuyển từ nơi tạm cư trong
Trường Gia Long đến cắm lều trên khu đất cũ của Khám Lớn bên cạnh Tòa
Án Sài gòn. Và chúng tôi đã ăn hai cái Tết Dương Lịch và Âm Lịch tại khu
lều này. Dịp Tết Ất Mùi, anh Khảo ra tay viết câu đối bằng chữ Nho, việc này
khiến mấy nhà báo quốc tế tò mò chụp ảnh lia lịa. Tôi còn nhớ anh nhà báo
người Pháp của tờ báo Le Parisien Libéré đến gặp gỡ và phỏng vấn sinh viên
tụi tôi.
Sau vụ này, anh em chúng tôi tặng cho anh Khảo cái biệt danh là “Ông Đồ
Khảo”. Và đến khi được chuyển vào Đại Học Xá Minh Mạng ở Ngã sáu Chợ
Lớn, thì cũng anh Khảo là một trong mấy sinh viên mà thường được giáo sư
Nguyễn Thiệu Lâu rủ đi uống cà phê buổi sáng hay uống bia vào buổi chiều
để mà hàn huyên tâm sự và nhất là trao đổi chuyện trò về môn lịch sử mà
giáo sư là một nhà nghiên cứu rất nổi tiếng vào thời ấy.
3 – Cuộc Hội ngộ kỷ niệm 60 năm của sinh viên di cư (1954 – 2014)
Năm 2014, anh Khảo là một thành viên nòng cốt trong Ban Tổ chức cuộc Hội
ngộ nhân kỷ niệm 60 năm của sinh viện Đại học Hà nội di tản vào miền Nam.
Cuộc hội ngộ đã quy tụ được đến vài ba trăm sinh viên và thân hữu đến tham
dự một bữa tiệc tại một nhà hàng trong khu vực Little Saigon ở miền Nam
tiểu bang California. Đại diện Ban Tổ chức, anh Khảo đã xúc động tường
thuật lại những vui buồn của anh chị em sinh viên di cư trong những ngày
mới đặt chân đến thành phố Sài gòn.
Trong số mấy trăm sinh viên di cư hồi đó, thì đến năm nay đã có rất nhiều
bạn đã ra đi, số còn lại thì cũng đã ở vào tuổi bát tuần cả rồi. Và đây là một
dịp thật quý báu để gặp lại nhau và cùng nhau ôn lại những kỷ niệm vui buồn
của cái tuổi đôi mươi thuở ấy – giữa lòng một đất nước bị phân ly cách biệt
giữa hai miền Nam Bắc và tiếp theo lại là cuộc chiến tranh huynh đệ tương
tàn với bao nhiêu tang thương thù hận.
4 – Câu chuyện về “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ”.
Từ cuối thập niên 1980, khi xuất hiện các chương trình phát thanh tại
California, thì bắt đầu có những cuộc Hội thọai của ba vị nhân sĩ có tên tuổi
trong cộng đồng người Việt ở địa phương. Ba vị đó là Đại tá Trần Minh Công
và hai Giáo sư Lưu Trung Khảo, Trần Đức Thanh Phong. Trong nhiều năm,
bà con thính giả đã rất hoan nghênh hưởng ứng theo dõi sự trình bày của các
vị nhân sĩ đáng kính với lập trường quốc gia thật kiên định vững vàng này.
Và từ cuối thập niên 1990, cả ba vị đã là những thanh viên họat động tích cực
trong Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam – bên cạnh những vị Cố vấn có tên
tuổi khác như Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, bào đệ của nhà văn Nhất Linh
Nguyễn Tường Tam, Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, Luật sư Trần Thanh Hiệp…
Do những họat động sôi nổi như vậy mà có một số bạn trẻ đã gán cho ba vị
nhân sĩ này cái danh hiệu “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” – như trong một
cuốn truyện nổi tiếng của Pháp “Les Trois Mousquetaires” vậy.
5 – Cái áo veste kỷ niệm của bậc huynh trưởng khả kính và khả ái.
Rất đông các thân hữu và các môn sinh đã tới nhà quàn viếng thăm và tiễn
biệt Giáo sư Lưu Trung Khảo vào ngày 2 tháng Giêng 2016. Trong số này, tôi
gặp anh bạn tù chính trị từng sống chung với nhau tại trại giam Z30D ở Hàm
Tân Phan Thiết hồi trên 20 năm trước – đó là anh Nguyễn Thanh Vân cựu sĩ
quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Nhân dịp này, anh Vân tâm sự với tôi: “
Bữa nay, tôi mặc cái áo veste này để đến tiễn đưa vị huynh trưởng mà tôi
luôn quý mến và cũng chính là người đã cho tôi cái áo này. Hồi tôi mới từ
Việt nam qua Mỹ, tôi thường chỉ mặc cái áo gió mỗi khi đi tham dự sinh họạt
ở Quận Cam. Sau vài lần, Giáo sư Khảo thấy tôi không có mặc áo veste, nên
có lần sau buổi họp gặp tôi, ông liền cởi cái áo ông đang mặc và khóac lên
người tôi, rồi nói: “Anh bạn trẻ nên mặc cái áo này, mỗi khi phải ra mắt
thuyết trình trước công chúng đó nha. Đó là mình bày tỏ lòng kính trọng đối
với bà con trong cộng đồng vậy v.v…” Thật đây là một kỷ niệm khó quên của
tôi đối với một bậc đàn anh khả kính và khả ái vậy đó …”
6 – Thật đúng là một chính nhân quân tử.
Cũng trong Lễ Tưởng niệm này, Nghị sĩ Lê Châu Lộc với niềm xúc động
chân thành đã phát biểu rằng: “Trong một buổi lễ tại Westminster, Giáo sư
Lưu Trung Khảo đã thẳng thắn xác nhận trước cử tọa rằng: “ Đối với lớp cả
triệu người di cư từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954, thì chúng tôi không
bao giờ lại có thể quên được cái ơn nghĩa và công lao của Tổng Thống Ngô
Đình Diệm đã lo lắng chăm sóc cho gia đình chúng tôi có được một cuộc
sống an lành và êm ấm tại miền Nam….” Nghị sĩ Lộc nói tiếp: “Anh Khảo là
một Phật tử thuần thành, bao nhiêu năm điều khiển chương trình phát thanh
“Hải Triều Âm” rất nổi tiếng của các Phật tử ở Quận Cam. Ấy thế, mà anh đã
rất thẳng thắn ghi nhận công lao của Tổng Thống Diệm trong việc tiếp nhận
và định cư cả triệu đồng bào di cư từ miền Bắc vào miền Nam như anh. Rõ
ràng, anh Khảo đích thực là một con người chính nhân quân tử vậy…”
* * Là một người cùng quê hương từ vùng Hà Nam – Nam Định nổi danh với
các nhà thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, mà cũng cùng lứa tuổi, lại là đồng
môn dưới mái trường Chu Văn An, rồi lại cùng là sinh viên di cư năm 1954
với anh Lưu Trung Khảo – anh chị em chúng tôi có biết bao nhiêu kỷ niệm
vui buồn thật không thể nào quên được chung với anh suốt bao nhiêu năm
qua.
Anh Khảo thật xứng đáng là một tiêu biểu sáng giá cho thế hệ anh chị em
chúng tôi sinh trưởng ở miền Bắc mà trưởng thành tại miền Nam dưới chế độ
quốc gia thời Việt Nam Cộng Hòa.
Xin vĩnh biệt anh Lưu Trung Khảo với niềm luyến tiếc khôn nguôi và lòng
quý trọng chân thành.
Xin cầu chúc Anh luôn an nhiên thanh thản nơi cõi Vĩnh Hắng./
Westminster California ngày 12 tháng Giêng 2016
Đoàn Thanh Liêm CVA 54
Lễ gia tiên ngày Tết
Nguoi-viet.com
Ngô Nhân Dụng
Hiện nay dù theo tôn giáo nào, người Việt Nam cũng có thể thắp nén nhang, lạy trước bàn thờ tổ tiên vào ngày giỗ, tết. Ðối với người Việt ở xa quê hương lễ gia tiên còn quan trọng hơn khi ở quê nhà. Vì đó là một cơ hội cho chúng ta nối quá khứ với hiện tại, hướng thế hệ trẻ về tương lai với một niềm tin vào truyền thống.
Ngày Tết là cơ hội mọi gia đình nhắc nhở con cháu biết lịch sử của ông bà, tạo cơ hội giải thích với con cháu tại sao phải lễ lạy trước bàn thờ. Chúng ta có thể tạo cho các thế hệ trẻ về niềm tự hào truyền thống văn hóa dân tộc, trong đó có phong tục làm giỗ, làm lễ và tưởng nhớ tổ tiên.
Người Việt Nam có phong tục thờ cúng tổ tiên từ nhiều thế kỷ trước khi bị các quan thái thú đời Hán ép sống theo văn hóa Trung Hoa, trong các cuốn sách về lịch sử Giáo Sư Lê Mạnh Thát đã nêu nhiều chứng cớ. Những ngôi mộ cổ từ hàng ngàn năm trước Tây lịch cho thấy nhiều vật tùy táng chôn theo trong mộ. Hiện tượng này chứng tỏ người Việt đã coi những người đã chết như còn vẫn tiếp tục sống ở một thế giới khác. Trong Tiền Hán Thư đã kể chuyện một người Việt trình bày cho Hán Vũ đế nghe về phong tục thờ vong và gọi hồn người chết. Thời Tiền Hán kéo dài trong hai thế kỷ trước Công Nguyên (206 TCN – 9 CN).
Lê Mạnh Thát thấy trong Lục Ðộ Tập Kinh đã trình bày quan niệm về đạo Hiếu. Kinh này được thiền sư Khương Tăng Hội, sống ở nước ta vào thế kỷ thứ ba, dịch sang chữ Hán. Thân phụ nhà sư di cư từ bán đảo Ấn Ðộ sang nước ta, thân mẫu ngài chắc là người Việt. Kinh Lục Ðộ Tập hiện nằm trong bộ đại tạng chứ Hán, nhưng được dịch từ ngôn ngữ nào? Lê Mạnh Thát biện luận rằng bản gốc không viết bằng chữ Phạn mà có thể bằng tiếng Việt, vì trong kinh có nhiều từ ngữ và khái niệm mà các kinh văn chữ Phạn không bao giờ nói tới.
Thí dụ, kinh nói đến tục chôn người chết, tục bỏ tiền vào miệng thi hài, những tục đó không thông dụng ở Ấn Ðộ cũng như Trung Hoa, còn người Việt đã theo từ lâu. Những luận giải trong kinh này về Hiếu, Hạnh, không thấy trong văn học chữ Phạn mà cũng không giống quan niệm Nho giáo ở Trung Hoa trong các thế kỷ đầu công nguyên. Ngoài ra, cấu trúc ngôn ngữ nhiều chỗ lại viết theo văn pháp tiếng Việt, ngược với văn pháp chữ Hán. Thí dụ, trong kinh viết Tượng Phật theo văn pháp tiếng Việt, người Hán phải viết Phật Tượng; có hàng chục trường hợp tương tự, đặt tĩnh từ sau danh từ.
Lê Mạnh Thát kết luận rằng Kinh Lục Ðộ Tập đã thông dụng với tổ tiên người Việt chúng ta trong mấy thế kỷ trước và sau Công Nguyên. Trong kinh đó đã bàn đến đạo Hiếu, chứng tỏ các quan niệm này đã phổ thông với người Việt từ rất lâu. Sau một ngàn năm bị người Trung Hoa cai trị, người Việt Nam đã hấp thụ Nho giáo, hòa lẫn tư tưởng đạo Nho với phong tục thờ cúng tổ tiên có sẵn. Nhưng so sánh với người Trung Hoa người Việt không quá chú trọng đến hình thức như họ. Từ đời Hán người Trung Hoa coi chữ Hiếu là đứng đầu các tính tốt, họ theo đạo Hiếu với một thái độ “giáo điều.” Con có hiếu là “vững lập trường,” có đủ mọi đức hạnh, ai không giữ hiếu là vứt đi! Trong khi đó đối với người Việt, như Lê Mạnh Thát thuật lại theo Kinh Lục Ðộ Tập, thì chữ Hiếu không có vai trò độc tôn. Giá trị của chữ Hiếu còn ở dưới lòng thương người, thương muôn vật, tình thương này là quan trọng nhất.
Ngày nay chúng ta làm lễ tổ tiên như thế nào? Bàn về việc hành lễ, đức Khổng Tử nói:“Tế như tại” (Luận Ngữ, Thiên Bát Dật, câu 12). Theo tinh thần đó, khi làm lễ tổ tiên chúng ta cung kính như thể tổ tiên đang ở trước mặt mình.
Nghi lễ đặt ra không phải chỉ vì người ta muốn làm bổn phận với Trời, Phật, Tiên Tổ, mà còn một mục đích quan trọng khác là tác dụng trên lòng người, giúp con người hướng đến điều lành, ghi khắc trong lòng các giá trị trong truyền thống. Việc thờ cúng ông bà chỉ có tác dụng nếu người hành lễ chú tâm tưởng niệm. Những lời khấn mời ông bà về họp mặt cùng con cháu nhân ngày giỗ, ngày Tết, chỉ cần nói một cách chân thành, giản dị, như thể có dịp trò chuyện với tổ tiên, tất cả hiện diện trước mặt mình. Ðiều mà các bậc phụ huynh chúng ta cần giải thích cho con em là, tổ tiên lúc nào cũng có mặt ở bên ta, nói đúng ra, ở ngay trong mỗi con người chúng ta.
Ðiều các em có thể hiểu, nói một cách khoa học, là trong mỗi cá nhân đều có những hạt giống, có dòng máu di truyền của ông bà, cha mẹ. Những hạt giống di truyền đó nằm ở trong mình, ở với chúng ta suốt cuộc đời. Mỗi người sẽ truyền lại hạt giống di truyền cho các thế hệ sau. Có thể nói mỗi người đều mang trong mình một phần những tế bào sống và những kinh nghiệm đạo lý, tâm linh mà tổ tiên đã thu nhận, đã nuôi dưỡng. Di sản của tổ tiên còn gồm cả những việc làm, những lời nói của người đã khuất. Khi còn sống, tổ tiên đều ý thức các hành động của mình sẽ ảnh hưởng tới con, cháu, nhiều thế hệ. Tổ tiên người Việt lúc nào cũng ước ao, cũng mong mỏi những việc mình làm sẽ đem kết quả tốt lành cho các thế hệ sau. Quan niệm đó, người Việt gọi là Phước Ðức Ông Bà. Khi một người Việt làm điều thiện, tránh điều ác, hành động đó không phải chỉ cốt tạo ra những hậu quả tốt cho chính mình, mà còn muốn, có khi chỉ làm với mục đích “để dành phước đức,” truyền lại cho con cháu.
Người Việt Nam tin vào Phước Ðức. Ðây cũng là một niềm tin đặc biệt Việt Nam, người Trung Hoa hay Ấn Ðộ không đề cao niềm tin vào Phước Ðức như vậy. Người Việt nghĩ rằng mỗi cá nhân có một “kho” các điều lành, gọi là “Phước Ðức.” Cái kho đó do mình tạo ra, do các hành động của chính mình; nhưng kho Phước Ðức cũng thu nhận hậu quả các hành động do cha mẹ, ông bà đã làm. Niềm tin đó nối liền các thế hệ. Nó khiến mỗi cá nhân cố gắng làm điều lành, tránh điều ác, không những để mình nhận được hậu quả tốt lành mà còn “góp vốn” cho con cháu đời sau được hưởng phước. Hoặc ít nhất con cháu “không phải trả nợ” những lỗi lầm vì những việc mà ông cha đã làm.
Cũng vậy, mỗi thế hệ cũng nghĩ rằng trong đời mình có khi gặp được điều tình cờ may mắn không hiểu được tại sao, thì sẽ giải thích may mắn đó một phần là do Phước Ðức ông bà để lại. Với niềm tin tưởng vào Phước Ðức, mỗi thế hệ đều biết ơn tổ tiên vì những phước đức tích lũy từ đời trước. Rồi đến lượt chính mình cũng muốn làm điều thiện để cất đầy trong kho phước đức chung, cho con cháu đời sau được hưởng.
Tổ tiên chúng ta đều chia sẻ niềm tin vào Phước Ðức, từ bao nhiêu thế kỷ nay vẫn giữ niềm tin này. Trong giống dân nào cũng vậy, ông bà cha mẹ đều cầu mong con cháu gặp mọi sự tốt lành, muốn để lại cho con cháu những di sản có giá trị. Nhưng đặc biệt trong truyền thống của chúng ta, niềm tin vào Phước Ðức khiến tổ tiên chúng ta không phải chỉ dùng lời nói để cầu khẩn, ước mong. Vì tin vào Phước Ðức, tổ tiên chúng ta cầu chúc cho con cháu bằng các hành động lương hảo, nhân từ, bác ái. Tổ tiên đã dùng chính bản thân, chính cuộc đời của mình để chúc lành cho con cháu. Khi hiểu như vậy, chúng ta sẽ cảm thấy một sợi dây thiêng liêng nối liền các thế hệ, sẽ nhớ tới tổ tiên với một niềm biết ơn sâu xa. Và chúng ta hiểu chính mình cũng phải làm bổn phận như vậy cho các thế hệ sắp tới.
Thế hệ trẻ có thể hiểu dễ dàng rằng trong mỗi người chúng ta mang các hạt giống di truyền của tổ theo sinh học.
Quan niệm Phước Ðức giúp họ thấy mình cũng mang theo hạt giống của các điều thiện mà tổ tiên để lại. Các bạn trẻ có thể cảm thấy sự hiện diện của tổ tiên rõ ràng hơn. Tổ tiên đang hiện diện thật sự trong bản thân họ. Khi đó việc cử hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên có một ý nghĩa sâu xa hơn; châm ngôn “Tế như tại” được thể hiện.
Nghi lễ cúng bái tổ tiên không cần phải phức tạp hay sang trọng. Ðức Khổng Tử cũng nói “Lễ, dữ kì xa dã, ninh kiệm,” nghĩa là việc hành lễ mà xa xỉ thì nên kiệm ước còn hơn. (Luận Ngữ, Bát Dật, 4.) Ðể cho thế hệ trẻ tham dự nghi lễ thờ cúng ông bà một cách tự nhiên, thoải mái, chúng ta cần hành lễ theo cách nào đơn giản hơn cả, chú ý đến nội dung hơn là hình thức. Như lời Khổng Tử nói về tang lễ, trong cùng đoạn trên, “Tang, dữ kì dị dã, ninh thích” (Tang lễ mà quá chú trọng nghi tiết thì chỉ bày tỏ lòng thương xót còn hơn.) Nhưng giản dị không có nghĩa là vội vàng, cẩu thả. Lòng thành kính phải được thể hiện ra với hình thức bên ngoài, trong y phục và cử chỉ người lễ.
Hành lễ với khung cảnh, thái độ cung kính và trang nghiêm sẽ tạo được tác dụng sâu xa trong lòng các bạn trẻ, giúp họ tham dự vào phong tục thờ cúng ông bà. Giữ phong tục thờ cúng tổ tiên sẽ truyền lại cho các thế hệ sau một di sản văn hóa quý báu của dân tộc Việt Nam.
GM Giuse Vũ Văn Thiên
Người ơi hãy nhớ, mình là bụi tro
Một mai người sẽ trở về bụi tro” (Thánh ca)
Bài thánh ca đã trở thành quen thuộc mỗi khi Mùa Chay về. Lời ca đơn sơ mà da diết, bi ai mà thiết thực, nhắc chúng ta nhớ về thân phận con người.
Trong nghi thức khai mạc Mùa Chay, các tín hữu công giáo, từ giáo hoàng, giám mục, linh mục đến giáo dân, mọi người đều khiêm hạ nhận lấy một chút tro trên đầu. Người giàu cũng như người nghèo, người già cũng như người trẻ, hết thảy đều nhận mình là thân phận bụi đất, hư vô. Nghi thức này thật cảm động, vừa diễn tả lòng sám hối, vừa nói lên nguồn gốc tro bụi của mình. Bụi tro xem ra đơn giản là thế mà lại gợi ý suy tư với bao điều sâu sắc.
1- Bụi tro nhắc nhở chúng ta sự mỏng giòn của kiếp người
Tro là phần còn lại của một số chất liệu sau khi đã bị lửa thiêu rụi. Tiền thân của tro có thể là những đồ vật một thời quý giá, sang trọng, có thể là những bông hoa một thời kiêu sa, rực rỡ. Thế rồi, với tác động của ngọn lửa, những gì là rực rỡ không còn, những gì là kiêu sa đã mất, còn lại chỉ là nắm tro tàn vô dụng. Phụng vụ khuyên đốt những cành lá sử dụng trong Chúa nhật lễ Lá năm trước để lấy tro dùng trong nghi thức làm phép và xức tro. Những cành lá nhắc lại lời tung hô của người dân thành Giêrusalem khi Đức Giêsu tiến vào thành thánh. Như những cành lá xanh tươi mau khô héo do tác động của thời gian, những lời ca tụng con người dành cho nhau sớm bị lãng quên vì chỉ nhất thời. Nếu có rất nhiều người tung hô Đức Giêsu khi Người vào thành thánh ngày Chúa nhật lễ Lá, thì cũng có khá đông những cánh tay giơ lên chiều thứ Sáu để đòi lên án tử cho Người. Khoảng cách cho một cành lá từ lúc xanh tươi đến lúc héo tàn mỏng manh là thế.
Khi tham dự nghi thức hỏa táng một người thân, chúng ta cảm nghiệm cách sâu xa sự mỏng giòn của thân phận con người. Chỉ sau vài giờ đồng hồ, ngọn lửa đã biến thân xác con người trở thành tro bụi. Vẻ đẹp đẽ xinh tươi sẽ không còn; giàu sang phú quý sẽ biến mất. Những hộp hài cốt đặt để gần nhau trong ngôi “nhà tưởng niệm” cho thấy, sau khi chết, con người chẳng còn chi khác biệt. Giàu sang, nghèo hèn có cùng một địa chỉ; yêu thương thù ghét cùng một chốn đi về.
Như một đoá hoa vô thường, cuộc đời mỏng manh, nay còn mai mất. Mỗi ngày qua đi, thân xác con người thay đổi, rồi đến mùa thu cuộc đời, họ trở nên tàn tạ.
Vượt lên thân phận mỏng giòn chóng qua của kiếp con người, đức tin công giáo hướng chúng ta về những giá trị vĩnh cửu. Quả vậy, nếu thân xác con người như đoá phù dung sớm nở tối tàn, thì linh hồn con người lại trường tồn bất tử. Nếu cuộc sống thế gian dừng lại khi con người nhắm mắt xuôi tay, thì cuộc sống vĩnh cửu lại khởi đầu lúc con người giã biệt trần thế. Phủ nhận linh hồn bất tử, con người sẽ bất hạnh, vì sau khi chết, họ trở về với hư vô. Không tin Thiên Chúa hiện hữu, người ta sẽ sống trong vô vọng, vì không tìm đâu được lý tưởng cuộc đời.
2- Bụi tro nhắc nhở chúng ta nhận ra Thiên Chúa là Đấng Vĩnh cửu
Tác giả sách Sáng thế nói với chúng ta, thân xác con người được tạo thành từ bùn đất, rồi con người sẽ trở về với đất, vì từ đất mà ra. “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi và con người trở nên một sinh vật” (St 2, 7). “Con người” chỉ khác với đất là có hơi thở. Chính Thiên Chúa đã “thổi hồn” cho đất để đất trở nên người. Đất với người từ đó mà có duyên nợ, luôn gắn liền với nhau. Con người sống nhờ đất khi thọ hưởng biết bao hoa màu từ đó, rồi cũng chết vì đất khi đổ mồ hôi trán để tồn tại và mưu sinh. Đất là chỗ đứng chắc chắn cho bước chân người khi họ còn sống; Đất mở rộng vòng tay đưa con người trở về an nghỉ khi họ từ giã cuộc đời. Hành trình con người khởi đi từ đất, qua một chuỗi những tháng ngày vui tươi đau khổ, hân hoan, thất vọng, rồi con người lại trở về với… đất. Cách trình bày của tác giả sách Sáng thế cho ta thấy tình thương bao la của Thiên Chúa. Con người là một tác phẩm do chính Chúa tạo nên. Ngài như một người thợ thủ công lành nghề, khéo léo nhào nắn đất để tạo nên hình dạng con người. Với tình yêu thương, Ngài chăm sóc và ban cho con người hơi thở. Hơi thở ấy chính là hơi thở của Ngài. Thật kỳ diệu khi được biết sự sống của chúng ta chính là hơi thở của Thiên Chúa. Nhờ hơi thở của Chúa mà con người trở nên cao cả, tuy được nắn từ bùn đất. Sau cuộc đời lo toan giữa nhân tình thế thái, con người trước khi về với đất “trút linh hồn”, trả lại “hơi thở” cho Chúa, trong tâm tình biết ơn trìu mến, như người con phó thác trọn vẹn nơi Cha mình.
3- Bụi tro nhắc chúng ta sống tốt cuộc đời tạm này
Khi ý thức được sự mỏng giòn chóng qua của thân phận con người, chúng ta chọn lựa và gắn bó với những giá trị trường tồn vĩnh cửu. Của cải vật chất chỉ là phương tiện Chúa ban để chúng ta sống xứng với phẩm giá con người và để giúp đỡ anh chị em. Chúng ta không thể mang theo chúng khi giã biệt cõi đời. Cánh tay buông thõng của người vừa trút hơi thở cuối cùng cho thấy, con người đến thế gian với hai bàn tay trắng, nay trở về với cát bụi cũng chỉ là tay không. Thật bất hạnh cho những ai coi tiền bạc của cải như những chiếc “phao cứu hộ” vào lúc cuối đời.
Vì những lợi lộc trần gian mà không thiếu người dùng mọi mưu mô mánh lới. Vì vinh quang nhất thời mà có người đã coi nhẹ lương tâm. Bụi tro nhắc chúng ta những vinh quang trần thế cũng chỉ như đoá hoa rực rỡ hôm nay, ngày mai sẽ trở thành tro bụi. Chỉ có tình Chúa tình người mới lâu bền tồn tại, mãi đến thiên thu.
Nếu bàn bay buông thõng của người vừa nằm xuống chẳng mang theo được gì khi tạm biệt cõi đời, thì những công phúc họ đã thực hiện ở đời này lại theo họ mãi mãi (x. Kh 14, 13). Vì vậy, trong cuộc đời quá ngắn ngủi này, chúng ta được kêu gọi tận dụng thời gian để sống tình nhân ái với nhau. Hãy thôi những bon chen lừa lọc vì cuộc đời chẳng là mấy. Hãy dừng những toan tính nhỏ nhen vì chẳng ai sống mãi trên đời. Thấy rõ cuộc sống chóng qua giúp ta thiện chí sống bao dung quảng đại. “Hổ chết để da, người ta chết để tiếng”. “Tiếng” đây là lòng nhân hậu, là đạo đức của con người. Một người sống tốt lành, khi thân xác của họ đã an nghỉ trong lòng đất, cái đức của họ vẫn còn. Họ vẫn được lưu danh với thời gian.
“Người ơi hãy nhớ, mình là bụi tro
Một mai người sẽ trở về bụi tro”
Lời ca đơn sơ mà da diết, bi ai mà thiết thực, nhắc chúng ta nhớ về thân phận con người, hướng chúng ta về với Đấng Vĩnh Cửu qua những thực hành cụ thể của cuộc sống hôm nay.
GM Giuse Vũ Văn Thiên
Đoan Trang
9-2-2016
Kể từ khi cầm quyền đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm đủ trò để biến chính trị thành một thứ xấu xa, gớm ghiếc, đáng khinh, đáng sợ, trong suy nghĩ của người dân. Người nào thanh cao, trong sạch thì phải biết tránh xa chính trị, lo làm tốt bổn phận của mình, còn các vấn đề vĩ mô thì đã có Đảng và Nhà nước lo – Đảng dạy dân như thế.
Mà đúng là chính trị của Đảng xấu xa, gớm ghiếc thật. Đảng có một cơ chế nhân sự kỳ lạ sao đó, sàng lọc rất giỏi: Phàm người nào vừa tài giỏi vừa nhân hậu và trung thực, tóm lại vừa có tài vừa có đức, chắc chắn sẽ không bao giờ lên cao được. Càng làm to, mức độ tài đức của quan chức cộng sản càng giảm. Cứ thế, cho đến đỉnh cao là Bộ Chính trị và Tứ trụ thì tài đức còn bao nhiêu, chúng ta tự hiểu.
Chính trị của Đảng là thứ chính trị ưu tiên sự xảo trá, giảo quyệt… nôm na là lưu manh.
Chính trị của Đảng là thượng đội hạ đạp, là nịnh trên nạt dưới.
Chính trị của Đảng là phá rất giỏi, nhưng xây thì tồi tệ, be bét. Bất kỳ cái gì có chữ “phá”, người cộng sản đều làm tốt cả: phá tư sản, phá kinh tế, phá rừng phá núi, phá cầu phá đường, phá đình phá chùa, phá làng phá xóm, phá thương hiệu, phá uy tín, đương nhiên là cả “phá án” luôn, trong đó có phần “phá phản động”.
Vì chính trị của Đảng như thế, nên cũng có phần sự thực là, nếu là người lương thiện, chẳng mấy ai muốn dây vào nó.
Nhưng cũng chính vì thế, những người tài, người tốt cứ để Đảng phè phỡn trong quyền lực, muốn làm gì thì làm, muốn ra chính sách gì thì ra, muốn phá gì thì phá, cứ thoải mái ghìm chặt đất nước, không cho phát triển suốt hàng chục năm nay.
* * *
Cuộc bầu cử Quốc hội 2016 lần này, đứng trên mặt Đảng mà xét, sẽ chẳng có thay đổi gì, vì cơ chế là do Đảng đề ra, luật là do Đảng đề ra, nhân sự, quần chúng cũng là do Đảng chỉ định, thuê mướn để diễn trò.
Nhưng về phía những người tiến bộ, mong muốn đất nước thay đổi, thì có một cái khác: Đây là dịp (duy nhất trong vòng 5 năm tới) để chúng ta tham gia vào nền chính trị của Đảng, không phải để hy vọng sẽ thay thế được Đảng, mà đơn giản là để lột trần cái màn kịch dân chủ của Đảng.
Chúng ta hãy tranh cử vào Quốc hội – cho đến nay vẫn đã và đang luôn luôn là của Đảng Cộng sản Việt Nam với 95% đại biểu là đảng viên cộng sản. Hãy tranh cử để thay đổi tỷ lệ này dù ít dù nhiều.
Hãy tranh cử để ít nhất là làm cho Đảng phải mệt sức, tốn tiền đối phó. (Tiền thì tất nhiên cũng là của ngân sách nhà nước thôi, chứ Đảng ngoài lừa và cướp ra thì có bao giờ gây được quỹ. Nhưng, ngân sách hay nguồn lực nào mà chẳng có hạn).
Hãy tranh cử, bởi vì một sự thực này: TA KHÔNG THỂ BỎ MẶC THẾ GIỚI NÀY CHO NHỮNG KẺ MÀ TA KHINH BỈ.
Bài: Phạm Đoan Trang – một ứng viên tự do.
(*) Từ Đảng sử dụng trong bài được ngầm hiểu là đảng cộng sản Việt Nam.
9-2-2016
Có thể đối với nhân dân VN, ngày 30/4/1975 là mốc lịch sử thống nhất tổ quốc. Thống nhất đất nước, hết tiếng bom đạn, hết lo âu về cuộc chiến đều là giấc mơ của mỗi người dân VN nói riêng và những người yêu hòa bình trên thế giới nói chung. Tôi ko đề cập đến chế độ cộng sản hay cộng hòa ở đây, bài viết này tôi chỉ đề cập duy nhất đến 1 thứ. Đó là người Việt, sự tự cường dân tộc.
Một dân tộc lớn mạnh thì phần lớn nằm ở sự tự cường của dân tộc đó. Không thể phủ nhận sự tự cường dân tộc ở chính “người anh em láng giềng” Trung Quốc. Tuy họ mang nhiều cái nhìn tiêu cực từ chúng ta như đồ ăn bẩn, chất độc, hàng nhái v.v.. Nhưng nhiêu đó chỉ là 1 phần nhỏ, cái mà chúng ta phải nhìn nhận lại mình là họ dám làm được những thứ họ cần. Vậy VN mình sao lại không như vậy? Hãy quay trở lại quá khứ 1 chút, chúng ta sẽ biết nguyên nhân.
Sáng 11/9/1975 quyết định số 111/CP chính thức áp dụng lên 17 tỉnh thành miền Nam và nó mang tên “Đánh tư Sản”. Sự kiện này chính thức loại bỏ dần tính tự cường dân tộc của VN theo khái niệm kinh tế. Nội dung chính của sự kiện này như sau: Tịch thu nhà và cưỡng chế toàn bộ những nạn nhân phải đi về vùng Kinh Tế Mới sống. Cưỡng chế giải tán toàn bộ các công ty doanh nghiệp tư nhân, tiểu thương, các thành phần sản xuất nhỏ vốn rất đa dạng và phồn thịnh trong nền kinh tế tự do của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, khuyến khích hậu thuẫn cho quốc dân từ bấy lâu.
Nền công nghiệp nhẹ, sản xuất đồ gia dụng trong nhà của Việt Nam đã hoàn toàn chính thức bị phá hũy. Người dân Việt Nam sẽ không còn thấy các sản phẩm tự hào của dân tộc như nồi nhôm hiệu Ba Cây Dừa , xà bông hiệu cô Ba, xe hơi hiệu La Đalat, hiệu đèn trang trí Nguyễn Văn Mạnh .v.v… Không những thế, các nhà máy nhỏ sản xuất nhu yếu phẩm như đường, bột giặt, giấy cũng bị tê liệt vì chủ nhân bị quốc hữu hóa. Các nhà sách về khoa học kỹ thuật cũng như các tác phẩm văn học thế giới cũng bị tịch thu tiêu hủy với 1 lý do chung “văn hóa phẩm đồi trụy”.
Hiển nhiên cánh cửa kết nối khoa học kỹ thuật hiện đại đến VN đã bị chặn lại. Kế đó là đường lối quốc hữu hóa toàn bộ đất đai của nhân dân qua hình thức “Tập đoàn sản xuất” là một sai lầm nghiêm trọng dẫn đến nạn đói năm 1979 ngay liền sau đó vì lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp bị sút giảm toàn diện tại miền Nam.
Khai tử công nghiệp, nông nghiệp thất bại, văn hóa đóng cửa. Mới nghe đến đây tôi cũng không tin rằng VN sẽ thoát ra khỏi chốn tăm tối mịt mù ấy. May thay chính phủ họ cũng đã biết sửa sai, đó là hàn gắn dân tộc sau chiến tranh. Sự kiện tập trung tại Sài Gòn, hàng ngàn gia đình cán bộ miền Bắc đã vào Sài gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu.
Theo thừa nhận ngắn ngủi từ báo SGGP và báo Công An khi bàn đến vấn đề trả lại nhà cho những “đối tượng” bị đánh tư sản oan ức vào tháng 9 năm 1989, ước tính lên đến khoảng 150.000 người thuộc gia đình cán bộ gốc miền Bắc vào Sài Gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu. Trong chiến dịch này, số lượng người Sài Gòn phải bị mất hết tài sản và bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI là khoảng 600.000 người, tạo ra một sự hoảng sợ hoang man chưa từng có trong lịch sử phát triển Sài Gòn qua các triều đại.
Ghi nhận của Hà Nội là có khoảng 950 ngàn người Sài Gòn bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI, không hoàn thành chỉ tiêu đề ra là 1,2 triệu người. Sau sự hàn gắn dân tộc này tôi hiểu được chữ Nam Kỳ – Bắc Kỳ. Nó thật đay nghiệt.
Tất cả những ai tại Sài Gòn bị Đảng tịch thu nhà , tài sản đều phải đi về vùng KINH TẾ MỚI, là những nơi mà cơ sở hạ tầng cho sinh hoạt chưa được xây dựng, trong đó có cả điện nước, trường học và bệnh xá. HƠN SÁU TRĂM NGÀN nạn nhân bị cưỡng bức qua đêm phải rời Sài Gòn để về những vùng KINH TẾ MỚI và bỏ lại hết toàn bộ tài sản của mình từ nhà ở, của cải, đồ đạc cho Đảng quản lý. Thế là cả triệu người dân Sài Gòn đột nhiên lâm vào cảnh đói kém trầm trọng như là đòn trả thù hữu hiệu của Đảng đối với những người bị liệt vào thành phần không phải “Cách Mạng”, ngụy quân ngụy quyền và tiểu tư sản. Ước tính có khoảng 300 ngàn trẻ em bị thất học vì sống ở các vùng Kinh Tế Mới này.
Nhân dân miền Nam- cả triệu người đang sống sung túc bỗng lao vào chịu đói kém khổ sở chưa từng có. Nạn đói kém lan tràn khắp mọi nơi, mọi nhà trước thảm cảnh. Hậu quả của nó là Việt Nam tụt hậu hơn 50 năm về kinh tế vì các chính sách đánh tư sản này của Đảng lên đầu người dân miền Nam. Việt Nam là quốc gia nghèo đứng hàng thứ ba trên thế giới vào năm 1985.
Cho đến năm 1994 VN thoát khỏi cấm vận và có những tiến bộ cải thiện khi World Bank và USAID tăng tốc trợ giúp, cùng với chính sách thay đổi nền kinh tế đến hiện tại chúng ta có gì. Chúng ta vẫn chẳng có gì ngoài 1 đất nước làm nhân công cho thế giới, chuyên lắp ráp mà ko có dây chuyền sản xuất của riêng mình. Các chỉ tiêu đặt ra như đưa bao nhiêu ngàn nhân công xuất khẩu lao động cho nước A, B ,C ..v..v.
Các bạn có đau đớn như tôi khi nhìn thấy Campuchia tự hào họ có thể tự chế tạo xe hơi không? Bạn có cảm thấy buồn khi công nghệ Lào đã sử dụng rộng rãi 4G trước VN ko. Hay bạn vẫn đang tự hào VN ta đánh đuổi được thực dân Pháp, đế quốc Mỹ. Hay bạn vẫn đang tự hào về 1 VN đầy ung nhọt, đầy chia rẽ trong chính những người dân. Tôi chỉ tự hào về VN khi nào nó tìm lại được sự tự cường dân tộc.
Lão hòa thượng dạy 7 cách bố thí không tốn một đồng lại được may mắn cả đời
Có một câu chuyện kể về cuộc đối thoại giữa một vị lão hòa thượng và một người dân thường như thế này:
Một ngày nọ, có một người đàn ông chạy đến trước mặt vị lão hòa thượng. Anh ta vừa khóc vừa kể lể: “Thưa ngài, vì sao con làm việc gì cũng đều không thành công?”
Lão hòa thượng trả lời anh ta rằng: “Điều này là bởi vì ngươi không học được bố thí!” (Bố thí ở đây được hiểu là cho, quyên tặng, thực hành…)
Người đàn ông lại nói: “Nhưng con chỉ là một người nghèo đói thôi ạ!”
Lão hòa thượng nghe xong lại nói với anh ta rằng: “Cũng không phải là như vậy! Một người cho dù là không có tiền cũng vẫn có thể cho người khác 7 thứ:
Cuối cùng, lão hòa thượng lại nói: “Vô luận là ai, chỉ cần dưỡng thành 7 thói quen này thì vận may sẽ đến với người đó “như hình với bóng!”“
Lão hòa thượng khuyên bảo chúng ta rất nhiều cách để thực hành bố thí chỉ cần dùng tâm là có thể làm được. Ví như trong cuộc sống hàng ngày, mưu sinh kiếm tiền nuôi gia đình, kỳ thực đây cũng là một dạng “bố thí.”
Nếu như bạn đang ở trong mê, cảm thấy mình đang “làm trâu làm ngựa” kiếm tiền trả khoản nợ nào đó cho gia đình. Và vì thế mà trong lòng bạn ôm giữ một nỗi oán giận thì bạn sống sẽ rất khổ! Chỉ cần bạn thay đổi ý niệm, biết rằng nuôi gia đình chính là bạn đang bố thí cho người khác, bạn đang làm việc tốt nuôi dưỡng gia đình. Khi ấy trong lòng bạn sẽ cảm thấy rất nhẹ nhàng và vui vẻ!
Đừng tưởng rằng chỉ có đến chùa bỏ một chút tiền vào đó thì mới là bố thí. Kỳ thực nhiều người không hiểu rằng, trong cuộc sống hàng ngày, hết thảy việc bạn đang làm đều là bố thí, là nuôi dưỡng!
Đơn giản như, bạn sửa sang dọn dẹp lại nhà cửa sạch sẽ khiến cho gia đình sống được thoải mái thì đó cũng là bạn đang bố thí đối với mọi người trong gia đình. Hay bạn tận tâm tận lực làm việc ở sở làm thì cũng là một cách bố thí đối với công ty và nuôi dưỡng xã hội …
Nếu như bạn có thể khởi ý nghĩ này trong tâm thì bạn sẽ sống được tự tại. Hãy tin rằng cho dù những việc làm bố thí của bạn trước mắt không nhận được thù lao đi nữa thì trong tương lai bạn cũng nhận được sự hồi báo kỳ diệu!
Anh Trần Minh gởi
Lời Chúa: Mt 6, 25-34

Khi ấy Chúa Giêsu nói cùng các môn đệ rằng:“Thầy bảo cho anh em biết: đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao? Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao? Hỏi có ai trong anh em có thể nhờ lo lắng mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang không? Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Salômôn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin! Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.”
Suy niệm:
Ngày Tết báo hiệu một năm cũ đã qua và một năm mới đang đến.
Chúng ta cần nhìn lại một năm qua với cái nhìn của Chúa
để thấy tất cả là hồng ân,
kể cả những gì người đời coi là xui xẻo, bất hạnh.
Chúa đã cho chúng ta sống thêm một thời gian, thêm một năm trên đời.
Chúng ta nhận ra thời gian một ngày nhờ mặt trời mọc lên rồi lặn xuống.
Nhà nông nhận ra thời gian một tháng nhờ mặt trăng tròn rồi lại khuyết.
Tạ ơn Chúa vì hai nguồn sáng quý báu như vậy trên bầu trời.
Thời gian theo Kitô giáo không đi theo đường xoắn ốc, nhưng theo đường thẳng.
Thời điểm nào cũng là duy nhất, đi rồi không trở lại, nên rất đáng quý.
Con Thiên Chúa làm người đã đằm mình trong dòng thời gian như ta.
Nhờ Ngài, dòng thời gian này sẽ đưa ta vào vĩnh cửu của Thiên Chúa.
Ngày Tết người ta thường hay chúc nhau.
Chúc sức khỏe, chúc làm ăn phát đạt, chúc mọi sự như ý…
Chúng ta có thể học được một cách chúc rất đẹp trong sách Dân Số (6, 22-27).
Đức Chúa chỉ dạy cho ông Môsê
để ông này chỉ lại cho ông tư tế Aaron biết cách chúc lành cho dân.
Có ba lời chúc, mỗi lời đều bắt đầu bằng chủ từ là Đức Chúa:
“Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em.
Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em và dủ lòng thương anh em.
Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn anh em và ban bình an cho anh em.”
Ơn bình an là ơn bao gồm mọi ơn về sức khỏe, sống lâu, an ninh, thịnh vượng…
Rốt cuộc chính Đức Chúa mới là Đấng chúc lành cho dân Ítraen (c. 27).
Chính Đức Chúa đóng ấn Danh của Ngài trên họ để bảo trợ họ.
Và hôm nay chính Ngài cũng ban muôn ơn cho ta nhờ Danh Đức Giêsu.
Trước thềm Năm Mới, con người không tránh khỏi nỗi lo về tương lai.
Có nhiều nỗi lo rất hữu lý, vì khó khăn trước mắt là có thật.
Có nhiều nỗi lo âu chỉ vì con người thấy mình quá đỗi mong manh.
Nỗi lo quấn lấy con người và làm tâm con người không yên.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu bốn lần nhắc chúng ta “Đừng lo.”
Nếu Kitô hữu không bị quay quắt vì lo âu
thì không phải vì họ là người vô lo, hay vì họ tự tin, giỏi giang hơn người khác.
Đơn giản chỉ vì họ có một Người Cha quan tâm đến mọi nhu cầu của họ.
Kitô hữu tận tụy hết mình cho công việc, nhưng lại không bất an, lo âu.
Tín thác như một đứa con ngồi trong lòng cha,
họ đặt vinh quang Thiên Chúa lên trên hết,
và tin mọi sự khác sẽ được Ngài lo liệu.
Cầu nguyện:
Lạy Cha,
Cha đã cho chúng con sống thêm một năm,
đi thêm một đoạn đường đời.
Nhìn lại đoạn đường đã qua,
chúng con chỉ biết nói lên lời tạ ơn chân thành,
vì Cha vẫn cho chúng con sống,
và sống trong tình yêu.
Mọi biến cố vui buồn của năm qua
đều là những lời mời gọi kín đáo của Cha
để thức tỉnh, nâng đỡ và đưa chúng con lên cao.
Tạ ơn Cha
vì những gì cuộc đời đã làm cho chúng con,
và những gì chúng con đã làm được cho cuộc đời.
Xin cho chúng con sống những ngày Tết dân tộc
trong tinh thần vui tươi, hòa nhã,
và không quên những ai nghèo khổ, cô đơn.
Ước gì những lời chúng con chúc cho nhau
là những lời chúc lành
xuất phát từ trái tim yêu thương.
Và lạy Cha, năm mới đã đến,
trái đất lại xoay một vòng mới quanh mặt trời,
chúng con cũng muốn
ở lại trong quỹ đạo của Cha,
nhận Cha là trung tâm cuộc sống,
và nhận mọi người là anh em. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J
Báo động: Người Trung Quốc lại sắp lập căn cứ ở Quảng Trị

Tác giả chụp ảnh với một lão nông ở địa phương, người có hơn 8 sào đất thuộc diện sẽ bị thu hồi, hôm 4.2.2014, trên con đường đất đỏ dẫn xuống biển (khu đất dự án nằm ngay trước mặt chúng tôi; sau lưng chúng tôi, cách gần 1km, là Hải đội 202, Vùng Cảnh sá
11.02.2014
Trong những năm qua, dư luận đã nhiều lần lên tiếng trước tình trạng người Trung Quốc, thông qua chiêu bài lập dự án kinh tế dưới nhiều hình thức khác nhau, đã chiếm lĩnh được những khu vực hiểm yếu về an ninh – quốc phòng trên cả nước trước sự “ưu ái” và “chủ quan” đến mức khó hiểu của những người có trách nhiệm.
Các dự án trồng rừng đầu nguồn ở một số tỉnh miền núi phía bắc của tập đoàn InnovGreen và việc tập đoàn Formosa thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương tại Khu Kinh tế Vũng Áng là những ví dụ điển hình.
Mới đây, trong lần ghé thăm Cửa Việt (Quảng Trị), chúng tôi lại nhận được một tin hết sức đáng lo ngại: Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam (một công ty sản xuất thức ăn gia súc, thuỷ sản và chăn nuôi hàng đầu Việt Nam, trước đây thuộc tập đoàn C.P. Group của Thái Lan, nhưng đã bị Trung Quốc thâu tóm kể từ năm 2011) sắp được giao 96,1ha đất, kéo dài hơn 2km dọc theo bờ biển và chỉ cách cảng Cửa Việt chưa đầy 1km.

Cửa Việt nhìn từ cầu Cửa Việt.
Nhà văn Xuân Đức, một người con của tỉnh Quảng Trị, đã viết về Cửa Việt như sau:
Những năm đánh Mỹ, nếu Quảng Trị là cửa ngõ của cả hai thế lực tiêu biểu của loài người thì Cửa Việt chính là cuống họng của ống thực quản nuôi sống sức mạnh của kẻ xâm lược cho vành đai trắng nam giới tuyến để kháng cự với sức mạnh tổng lực của chúng ta từ Miền Bắc tràn vào. Lính thủy đánh bộ, vũ khí, thiết bị quân sự Mỹ vào cảng Cửa Việt, lên Đông Hà rồi theo con sông Hiếu để lên Cam Lộ, Khe Sanh… Cùng với các điểm chốt thiết yếu trên bờ từ biển lên rừng như cao điểm 31, Dốc Miếu, Cồn Tiên, lên đồi 241, Phulo, Đầu Mầu, Động Tri, Tà Cơn v..v.. Con sông Cửa Việt (hoặc sông Hiếu) hợp thành một phòng tuyến mà McNamara coi là bất khả xâm phạm. Và vì thế, cuộc chiến đập tan phòng tuyến Gio Linh, Cam Lộ, Khe Sanh (hàng rào điên tử McNamara) nói chung, cuộc chiến trên cảng Cửa Việt và sông Cửa Việt nói riêng đã trở thành quyết chiến điểm khốc liệt nhất có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cả chiến trường Miền Nam.
Như vậy, có thể nói Cửa Việt là một khu vực trọng yếu và hết sức nhạy cảm về an ninh – quốc phòng.
Khu đất dự kiến thu hồi cho Công ty C.P. Việt Nam nằm gọn trong vùng đất canh tác của làng Hà Tây, xã Triệu An, huyện Triệu Phong. Người dân ở đây cho chúng tôi biết, dự án này đã manh nha từ năm 2011. Chính quyền địa phương và nhà đầu tư đã vài lần gặp gỡ với dân để trao đổi về dự án, lần gần nhất là vào ngày 12.1.2014.
Theo tìm hiểu của chúng tôi thì cán bộ địa phương hầu như không “lấn cấn” gì với dự án.
Điều này là vì một số lý do. Thứ nhất, do họ nằm trong bộ máy nên luôn đề cao ý thức chấp hành những “chủ trương lớn” của đảng và nhà nước. Thứ hai, đất đai của họ chủ yếu cho người khác thuê mướn chứ họ hiếm khi trực tiếp canh tác nên việc bị thu hồi đất đối với họ không quan trọng. Thứ ba, có lẽ là quan trọng hơn cả, những mảnh đất công, bờ ruộng, lối đi… nằm rải rác trong khu đất dự án (không thuộc đất canh tác của các hộ dân) sẽ được họ tìm cách “phù phép” để chia nhau bỏ túi theo kiểu “sống chết mặc bay…”, một hiện tượng phổ biến khắp cả nước.
Với người dân thì họ đặc biệt quan tâm đến những vấn đề thiết thân với mình: (i) sau khi bị thu hồi đất đai canh tác thì họ sẽ làm gì để mưu sinh? (ii) giá đền bù sẽ được áp như thế nào, liệu có tương xứng với giá trị đất đai canh tác của họ hay không, hay lại rẻ mạt như khắp các tỉnh thành khác? (iii) khi dự án đi vào hoạt động, nếu phần đất xung quanh khu vực dự án bị ô nhiễm (điều rất dễ xẩy ra, đặc biệt là những ao nuôi tôm nằm sát biển của bà con) khiến họ không tiếp tục canh tác hay nuôi trồng thuỷ sản được thì xử lý thế nào, ai là người phải chịu trách nhiệm.
Những người nông dân chất phác, thuần hậu ở đây không biết được đằng sau Công ty C.P. Việt Nam là Trung Quốc, và việc người Trung Quốc (mà gần đây đã xuất hiện ngày càng nhiều ở Quảng Trị) kéo sang theo dự án rồi sinh cơ lập nghiệp, xâm chiếm không gian sống của họ là điều không khó đoán, qua những “dự án” mà người Trung Quốc thực hiện trên khắp cả nước thời gian qua. Họ lại càng không ý thức được những hệ luỵ tiềm tàng về an ninh – quốc phòng của một dự án do người Trung Quốc làm chủ ngay sát nách Cửa Việt như thế gây ra. Đây là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, cũng như đòi hỏi sự lên tiếng kịp thời của công luận.

Hải đội 202, Vùng Cảnh sát biển II, nơi chỉ cách dự án do Cty Trung Quốc làm chủ chưa đầy 1km về phía Nam

Tỉnh lộ 64 nối Cửa Việt với thị xã Quảng Trị, khu vực dự án nằm song song và chỉ cách con đường này hơn 100m

Bên phải là tỉnh lộ 64, cách bờ biển khoảng 1km, nối Cửa Việt với thị xã Quảng Trị; bên trái là đường đất đỏ dẫn xuống biển (đây là ranh giới phân chia đất canh tác của làng Phú Hội và làng Hà Tây, xã Triệu An).

Đường đất đỏ chạy từ tỉnh lộ 64 thẳng xuống biển. Bên trái con đường là đất đai canh tác của làng Phú Hội, bên phải là của làng Hà Tây (dự kiến thu hồi để giao cho Cty C.P. Việt Nam). Khu đất dự án nằm song song với tỉnh lộ 64 (cách mép đường đỏ vài chục mét)

Một ao nuôi tôm nằm sát bờ biển của bà con làng Hà Tây

Liệu có nhất thiết phải thu hồi những thửa ruộng phì nhiêu ngay sát một khu vực trọng yếu và hết sức nhạy cảm về an ninh – quốc phòng như Cửa Việt cho một công ty của Trung Quốc hay không? Ai sẽ phải chịu trách nhiệm về những hệ luỵ kinh tế – xã hội và đặc biệt là an ninh quốc phòng từ quyết định khó hiểu này?
Dự án này rất có thể lại là “tác phẩm” do Phó Thủ tướng Tàu “phụ trách kinh tế” Hoàng Trung Hải “đạo diễn”, giống như việc ông ta đã “dâng” đến 90% các công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia cho nhà thầu Trung Quốc, quê hương của ông ta, “dâng” phần lớn các mỏ khoáng sản của Việt Nam và ngành điện Việt Nam cho Trung Quốc, âm mưu “Hán hoá” nền kinh tế Việt Nam, hay mở đường cho người Trung Quốc chiếm lĩnh cả vùng g Áng (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh)… Xin lưu ý là lãnh đạo tỉnh Quảng Trị, kể cả lực lượng công an ở đây, phần lớn là tay chân thân tín của PTT Tàu Hoàng Trung Hải. Đó là lý do vì sao vợ chồng tác giả bài viết (Lê Anh Hùng – Lê Thị Phương Anh, những người đang tố cáo ngài PTT Tàu này về những tội ác khủng khiếp như gián điệp, buôn bán ma tuý và giết người suốt mấy năm nay) thường xuyên bị công an và côn đồ ở đây khủng bố, bắt cóc, cướp bóc, hành hung, triệt đường sống.
Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
Lê Anh Hùng là một blogger tự do trẻ trong nước tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.
