Nữ sinh Huế và nạn bạo lực học đường

Nữ sinh Huế và nạn bạo lực học đường

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2016-02-21

VTT.jpg

Bài viết trên báo Dân Việt trích lời cô Phạm Thị Ngọc Tâm, hiệu trưởng trường Trung Học Phổ Thông Bùi Thị Xuân: “Không đánh nhau sẽ không năng động”.

Screenshot of danviet.vn

Your browser does not support the audio element.

Tại thành phố Huế hôm thứ Năm 18 tháng 2, một nữ sinh Trung Học Phổ Thông Bùi Thị Xuân bị năm sáu bạn gái cùng trường xúm vào đánh đấm tới tấp trong lúc những học sinh khác chỉ đứng nhìn chứ không can thiệp.

Đây là lần thứ hai khi mà âm vang vụ nữ sinh đánh nhau lần trước ở Trung Học Cơ Sở Trần Phú, thành phố Huế, chưa kịp lắng xuống trong lòng mọi người.

Tin tức vừa nêu được các báo trong nước như tờ Thanh Niên hay tờ Dân Việt đăng lên với hình ảnh, thậm chí cả video clip cận cảnh năm sáu cô gái vừa chửi vừa đánh vừa đá vào mặt làm nạn nhân ngã bệt xuống đất, trong lúc bao nhiêu học sinh khác vây quanh chỉ đứng nhìn.

Đến khi giám thị của trường hay tin và chạy ra thì nhóm nữ sinh hung hăng kia đã tháo chạy sau khi có người la to là công an tới.

“Trường Bùi Thị Xuân là một trường vừa nam vừa nữ chứ không phải chỉ riêng là trường nữ. Hiện tượng nữ sinh đánh nhau không phải là trường hợp phổ biến ở Huế đâu. Nề nếp của người Huế mình thì đa số vẫn còn giữ được gia phong, tính cách của phụ nữ là dịu dàng và nhẹ nhàng , thấy như vậy thì thật sự cũng đau lòng.”

Thế giới bây giờ của bọn trẻ, không biết vì mạng xã hội nó mạnh quá, rồi an sinh xã hội, giáo dục không được tốt. Bây giờ thấy hắn hư hỏng quá mà không biết nguyên nhân do đâu nữa.
– bà Tuyết

Bà Thanh Nhã, cư dân Huế, đang trông coi Quán Cơm Xã Hội dành cho sinh viên học sinh nghèo trong thành phố:

“Có lẽ là do hiện trạng xã hội, có những cái nó làm biến đổi đi tính cách của nữ sinh Huế. Mình nghĩ cũng nên nhìn lại sự giáo dục của học đường cũng như là tác động của xã hội, tác động của gia đình đối với những con em của mình, mình phải nhìn lại.”

Theo một phụ huynh là bà Tuyết, chủ nhân nhà sách Hồng Đức, mọi người gần như bị sốc vì chuyện hai lần nữ sinh Huế sinh sự đánh nhau không nể nang ngay trước cổng trường. Nguyên nhân được báo chí nêu ra là do chuyện yêu đương cũng như xuất phát từ mâu thuẫn đã có trước đó. Tình trạng nữ sinh ngang nhiên thượng cẳng chân hạ cẳng tay trước mặt bạn bè, bà Tuyết nói tiếp, là tiếng chuông cảnh báo đối với những ai lơ là trong việc chăm sóc dạy dỗ con cái:

“Đây là nỗi đau của thế hệ bọn mình nhìn về thế hệ sau. Nhưng mà khi mình hỏi ra thì ba mẹ của em gái đó đi làm ở Lào, giao em lại cho ông bà ở đây, thì họ không có trách nhiệm chi hết trơn.

Mà cái thế giới bây giờ không còn thơ mộng, lãng mạn, nhẹ nhàng và dễ thương như hồi xưa của bọn mình. Thế giới bây giờ của bọn trẻ, không biết vì mạng xã hội nó mạnh quá, rồi an sinh xã hội, giáo dục không được tốt. Bây giờ thấy hắn hư hỏng quá mà không biết nguyên nhân do đâu nữa. Nếu con mình bị lôi kéo vô những trường hợp như rứa thì mình rất là đau lòng.”

Cùng với sự bàng hoàng thì dư luận Huế còn phát hoảng khi báo Dân Việt đi một bài tựa đề “Nữ Sinh Không Đánh Nhau Sẽ Không Năng Động”.

Được biết ngay buổi chiều 18 là ngày xảy ra vụ năm sáu nữ sinh đánh hội đồng một nữ sinh trước cổng Trung Học Phổ Thông Bùi Thị Xuân, phóng viên báo Dân Việt đã đến gặp hiệu trưởng trường là cô Phạm Thị Ngọc Tâm để tìm hiểu vụ việc.

vtt-2.jpg

Nữ sinh thành phố Huế đánh nhau trong trường.

Sau đó, bài báo của phóng viên tờ Dân Việt tường thuật lời cô hiệu trưởng Phạm Thị Ngọc Tâm: vì gia đình em nữ sinh bị hành hung không muốn làm lớn chuyện nên nhà trường không truy tìm thủ phạm đã đánh đập em.

Báo Dân Việt còn trích nguyên văn lời cô hiệu trưởng là “Đây là tuổi mới lớn, nếu các em không đánh nhau, không xích mích nhau thì không bao giờ các em năng động được.”

Cô hiệu trưởng Trung Học Phổ Thông Bùi Thị Xuân còn giải thích sở dĩ khi đó có đông học sinh đứng xem mà không ai dám can ngăn vì chính các em cũng sợ mình bị đánh.

Một phụ huynh tên Tuyết nói rằng bà đã rất sốc khi nghe lời phát biểu của cô hiệu trưởng Phạm Thị Ngọc Tâm:

“Phát biểu như vậy cho nên con em hư, giáo dục hư, bị xuống cấp. Cô giáo mà nói như vậy thì còn chi là giáo dục nữa. Phải nhìn nhận vấn đề một cách rõ ràng chứ cô giáo nói như vậy là cô giáo vô trách nhiệm.”

Chị Châu, có em gái đang học trung học, nói rằng chuyện xảy ra trước cổng trường thì trách nhiệm đầu tiên là thuộc về ban giám hiệu:

“Cái này phụ thuộc bên trường học và bên phía các giáo viên, phải quan tâm và phải định hướng lại. Thực sự phải là người trong ngành và thứ hai là những người chịu trách nhiêm bên giáo dục hiểu rõ vấn đề mới giải quyết được, còn nếu chỉ bề ngoài thì em nghĩ không hiệu quả đâu.”

Hình ảnh mà báo chí trong nước đưa lên cho thấy nhóm nữ sinh lớp Mười của Trung Học Phổ Thông Bùi Thị Xuân đã túm tóc, đánh vào mặt rồi đạp nạn nhân ngã xuống đất. Phải đến khi một người dân đưa máy lên chụp và hô to là công an đây thì nhóm học sinh nọ mới bỏ chạy. Bà phụ huynh tên Tuyết bày tỏ cảm tưởng:

“Nếu như phụ huynh, nếu như các trường ráp lại phong cách cho các em thì các trường nên cho các em mặt áo dài. Khi mặc áo dài là phong cách theo đó mà nền nã nhẹ nhàng hơn. Đây hắn ăn mặc lung tung, vô trật tự… Ít ra mỗi một tuần thì mỗi sáng thứ Hai mặc áo dài, để cho các em thấy được cái đẹp thùy mị đoan trang của con gái nói chung và gái Huế nói riêng.”

Nhà trường không giáo dục cách nào đấy để biết cách đối thoại, biết cách giàn xếp những xích mích. Không giáo dục thanh niên theo hướng đấy mà lại giáo dục theo hướng dùng vũ lực thì kết quả là giáo dục của nhà trường và của gia đình cuối cùng nó ra một sản phẩm như thế thôi.
– tiến sĩ xã hội Phạm Quỳnh Hương

Chuyện học trò đánh nhau trong trường xưa nay lúc nào cũng có, nhưng nếu chuyện nữ sinh trong độ tuổi sắp  làm người lớn mà đánh nhau hoặc cả  nhóm hành hung một em một cách dã man là hiện tượng xã hội đáng lưu ý và không thể coi nhẹ.

Tiến sĩ Pham Quỳnh Hương, Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội, Viện Xã Hội Học ở Hà Nội khẳng định:

“Chuyện con gái đánh nhau bây giờ người ta nói nhiều đến, người ta lên báo chí rồi quay phim lên các thứ gây một sự chú ý. Quan niệm của Việt Nam mình vốn là con gái phải thùy mị nết na hiền dịu này nọ. Đấy là  cách suy nghĩ tạm gọi là phân biệt giới nam và giới nữ. Chỉ có cái khi người ta giật tít đưa lên báo thì người ta theo để người ta phản đối này nọ.

Nói vậy  không có nghĩa rằng việc đấy là điều bình thường, là nên làm. Đã là học sinh trung học, chuẩn bị  đến tuổi thành niên mà có hành vi như thế đúng là điều đáng phê phán. Vì chuyện gì mà đưa nhau ra và xử lý nhau bằng vũ lực cũng một phần là do phim ảnh sách báo nhiều bạo lực ảnh hưởng  đến thanh niên.”

Mặt khác, tiến sĩ xã hội Phạm Quỳnh Hương nói tiếp, hành vi bạo động của nữ sinh bị phê phán thì ít mà phát biểu của hiệu trưởng rằng “không xích mích không đánh nhau thì các em không năng động được” mới là  điều vô cùng bất ngờ và đáng tiếc:

“Là hiệu trưởng chắc phải suy nghĩ và phát ngôn có chừng có mực, nếu đúng là bà ấy nói thế thì đúng là không có gì để nói nữa, cứ cho rằng thiếu suy nghĩ là đơn giản nhất.

Giáo dục cho thanh niên năng động là phải đánh nhau thì họ chả hiểu thế nào là năng động cả. Hơn nữa nhà trường không giáo dục cho thanh niên trong trường hợp có xích mích thì giải quyết bất đồng bằng cách gì. Nhà trường không giáo dục cách nào đấy để biết cách đối thoại, biết cách giàn xếp những xích mích. Không giáo dục thanh niên theo hướng đấy mà lại giáo dục theo hướng dùng vũ lực thì kết quả là giáo dục của nhà trường và của gia đình cuối cùng nó ra một sản phẩm như thế thôi.”

Đường dây viễn liên cũng đã nhiều lần được nối về số máy của cô hiệu trưởng Phạm Thị Ngọc Tâm để hỏi cho ra lẽ về lời phát biểu của cô nhưng rất tiếc không có ai bắt máy.

 

Lễ hội tại Việt Nam ngày càng u mê, xô bồ và man rợ

Lễ hội tại Việt Nam ngày càng u mê, xô bồ và man rợ
Nguoi-viet.com
HÀ NỘI (NV) – Những gì vừa xảy ra tại Hội Phết Hiền Quan (huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ) khiến nhiều người khuyến cáo phải xem lại các lễ hội trong Tháng Giêng Âm Lịch, đặc biệt là ở miền Bắc.

Tranh cướp phết trong Hội Phết Hiền Quan. (Hình: Tuổi Trẻ)

Phết là một quả cầu được làm từ gốc tre. Vì phết được xem là vật đem lại may mắn nên Hội Phết là dịp mà những người dự hội giành với nhau để đoạt cho bằng được.

Trong Tháng Giêng Âm Lịch, tại miền Bắc Việt Nam có hai nơi tổ chức Hội Phết là Bản Giản, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (mùng 7 Tháng Giêng Âm Lịch) và xã Hiền Quan, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ (12 và 13 Tháng Giêng Âm Lịch).

Năm nào các Hội Phết cũng hỗn loạn và năm nay, mức độ hỗn loạn ở Hội Phết Hiền Quan khiến nhiều người, kể cả dân chúng ở đây kinh hoàng. Thanh niên ở xã Hiền Quan chia làm nhiều nhóm, lao vào tấn công nhau bằng cả tay chân, lẫn gậy gộc. Một số kẻ chạy trên đầu đám đông để giành cho bằng được “may mắn.” Cho đến nay, chưa có thống kê chính thức về số người bị thương nhưng báo chí Việt Nam khẳng định là rất nhiều.

Trong khoảng hai thập niên vừa qua, Tháng Giêng Âm Lịch – tháng của lễ hội dân gian – là thời điểm mà miền Bắc Việt Nam trở thành hỗn loạn vì rác rưởi của những đoàn người từ khắp nơi đổ về dự hội xả ra, vì trộm cắp, cướp giựt, lừa đảo. Đặc biệt là vì sự ái ngại khi càng ngày càng nhiều người nhận ra, các “lệ hội dân gian” đã trở thành dịp cho thấy sự u mê, man rợ trong đám đông càng ngày càng lớn.

Dù có nhiều khuyến cáo về tác hại nhưng năm nay, lễ hội chém lợn ở làng Ném Thượng, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, vẫn được tổ chức. Hàng ngàn con người tiếp tục háo hức chờ đợi hai người đàn ông dùng dao bén chặt đứt cổ hai con heo sống rồi lao vào chấm máu tươi bôi lên mặt, lên người hoặc dùng các vật dụng khác để thấm máu rồi giữ lại để cầu may.

Một trong những nạn nhân. (Hình: Tuổi Trẻ)

Hồi cuối Tháng Giêng vừa qua, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam tái khẳng định sẽ không in và phát hành các loại tiền có mệnh giá 500 đồng, 1000 đồng và 2000 đồng để phục vụ dịp Tết Bính Thân.

Trong khoảng hai thập niên vừa qua, tại miền Bắc Việt Nam có một phong trào, đó là đổi tiền lẻ để rải khắp các đình, đền, chùa, miếu cầu may. Tuy phong trào này chỉ phổ biến ở miền Bắc nhưng vì nhu cầu “hối lộ thần thánh” quá lớn, mỗi năm, ngân hàng phải chi hàng trăm tỷ đồng để in tiền lẻ. Sau đó phải chi thêm cả tỷ đồng nữa để kiểm, đếm, gom mớ tiền lẻ khổng lồ đó đem cất vào kho, ít năm sau phải tổ chức hủy vì tiền lẻ không có chỗ trong sinh hoạt hàng ngày.

Vào thời điểm vừa kể, một phó thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam khẳng định, nếu in tiền lẻ chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu “hối lộ thần thánh” trong dịp Tết thì đó rõ ràng là một sự lãng phí không thể chấp nhận được.

Tuy nhiên, từ Tết đến nay, các đình, đền, chùa, miếu ở miền Bắc Việt Nam vẫn ngập tiền lẻ. Báo chí Việt Nam kể rằng, hôm 17 Tháng Hai (mùng 10 Tháng Giêng Âm Lịch), ngày đầu tiên của Lễ Hội Yên Tử (diễn ra trên núi Yên Tử, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh), tuy ban tổ chức kêu gọi khản giọng qua loa rằng đừng thắp quá nhiều nhang vì khói sẽ làm người khác ngộp, đừng dùng tiền chà xát vào chùa Đồng nhưng khu vực Yên Tử vẫn mù mịt khói và đám đông vẫn xô đẩy nhau để lấn tới, dùng đủ thứ mài vào chùa Đồng để lấy hên, trong đó có không ít kẻ là viên chức, đeo phù hiệu “khách mời.” Dù cấu trúc của chùa Đồng rất khít song đa số khách hành hương vẫn tìm đủ cách nhét tiền… lẻ vào các khe để “hối lộ thần thánh…”

Mỗi năm, tại Việt Nam có khoảng 8,000 lễ hội dân gian. Khoảng hai phần ba diễn ra trong Tháng Giêng Âm Lịch và chủ yếu là ở miền Bắc Việt Nam.

Cuối năm ngoái, Bộ Văn Hóa-Thể Thao-Du Lịch xác nhận, nhiều lễ hội không còn phù hợp, có biểu hiện lợi dụng lễ hội để trục lợi. Một số lễ hội có biểu hiện mê tín, bạo lực, truyền bá các hành vi tội ác,… cần hạn chế và chấn chỉnh.

Chưa rõ chính quyền sẽ “chấn chỉnh” thế nào nhưng nhiều người khẳng định, sở dĩ các lễ hội tại Việt Nam càng ngày càng u mê, xô bồ và man rợ vì những viên chức Việt Nam dẫn đầu trong việc cầu may ở mọi nơi, đồng thời cố tình tạo “nét riêng” nhằm tăng “tính hấp dẫn” để thu hút thiên hạ đến dự hội, mở rộng cơ hội tìm thêm nguồn thu. (G.Đ.)

Sao phải ‘né’ hoài luật biểu tình?

Sao phải ‘né’ hoài luật biểu tình?

Ảnh minh hoạ: Biểu tình chống Trung Quốc tại TP HCM, ngày 18//5/2014.

Ảnh minh hoạ: Biểu tình chống Trung Quốc tại TP HCM, ngày 18//5/2014.

Cao Huy Huân

21.02.2016

Mới đây, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường trình bày tờ trình của Chính phủ xin rút dự án Luật biểu tình ra khỏi chương trình nghị sự trong kỳ họp tới của Quốc hội. Không ít người theo dõi quá trình xem xét và thiết lập luật biểu tình tại Việt Nam nghe tin này mà cảm thấy thất vọng, hụt hẫng ít nhiều.

Không làm được hay không chịu làm?

Luật biểu tình là cụm từ người dân Việt Nam đã được nghe từ nhiều năm trước, nhưng đến nay vẫn chưa thành hiện thực. Có người bảo các ngành chức năng liên quan giống như đang chơi trò cù cưa, tức đưa vào rồi lại rút ra khỏi các kỳ họp Quốc hội mà không cho biết vì sao, họa chăng cũng có  nêu lý do này lý do kia nhưng tất cả nghe qua đều thấy không mấy thuyết phục, trong khi nhu cầu từ thực tế là có thật. Báo chí Việt Nam dẫn lại cho biết nhiều thành viên của Ủy ban Thường vụ Quốc hội không đồng tình với đề nghị rút dự luật biểu tình. Chính Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện khẳng định rằng cần đảm bảo thời gian trình Luật biểu tình. “Quyền biểu tình là quyền cơ bản của công dân, đã được đề cập từ năm 1945 rồi, cứ lùi đi lùi lại mãi, bây giờ lùi đến bao giờ? Đây là vấn đề, nếu chúng ta cứ lùi mãi thì hoàn toàn không có lợi về mặt chính trị”, vị này bày tỏ bức xúc.

Còn nhớ dự án Luật biểu tình từng được nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị ban hành, trong đó có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, một trong những đại biểu tỏ ra cương quyết và nhiều lần nhắc đến luật này. Hồi tháng 12 năm ngoái, tại phiên họp thường kỳ của Chính phủ Việt Nam, đích thân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố không đồng tình với đề nghị rút dự án Luật biểu tình ra khỏi chương trình nghị sự của Quốc hội.

Cả Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lẫn Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, sau khi nghe Bộ trưởng Hà Hùng Cường xin rút dự án Luật biểu tình, đã thẳng thắn chỉ trích rằng việc xin rút như thế là “việc làm thiếu nghiêm túc”. Ông Hùng hoàn toàn có lý khi nói thẳng rằng “Tại sao cứ lùi đi lùi lại mãi, do làm không được hay không chịu làm? Chương trình là Quốc hội quyết định, Bộ Chính trị cũng đã quyết định đưa vào chương trình rồi, nhưng Chính phủ cứ xin lùi mãi”.

Không quyết liệt thì chỉ bàn lùi

Trình bày lý do tại sao cứ xin lùi hoài, Bộ trưởng Hà Hùng Cường cho biết phía Bộ Công an đã tiến hành tổng kết pháp luật về lĩnh vực này, tiến hành khảo sát, nghiên cứu, biên dịch tài liệu nước ngoài. Nhưng tại phiên họp thường kỳ tháng 1-2016, khi thảo luận vấn đề này, ý kiến của các thành viên Chính phủ còn rất khác nhau về nội dung của dự thảo luật. Thế nên cần có thêm thời gian nghiên cứu, chỉnh lý Luật biểu tình để đảm bảo chất lượng, và vì đó xin dời sang đến cuối năm 2016.

Nghe qua phần lý do thì thấy có vẻ như đơn vị chịu trách nhiệm soạn dự thảo không làm nổi, hay chí ít là chưa làm được. Tuy nhiên, dự luật vẫn chỉ là dự thảo, nghĩa là chưa phải luật chính thức thì cần gì phải hoàn thiện, hay cần gì phải thống nhất rồi mới trình ra Quốc hội – cơ quan đại diện của dân. Nói như ông Nguyễn Sinh Hùng không phải không có lý: “Thường vụ Quốc hội không đồng ý với việc lùi. Chính phủ chưa trình dự luật này ra Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chúng tôi đã biết nội dung như thế nào đâu mà bảo là cho lùi?”

Cần lưu ý rằng, luật biểu tình là dùng để đảm bảo quyền con người, quyền công dân được quy định trong Hiến pháp chứ không phải là để thay đổi hay làm mới nền chính trị. Và nếu như Việt Nam tiếp tục áp dụng Nghị định 38 để hạn chế quyền công dân, thì đó là một việc làm trái Hiến pháp. Điều này bất cứ ai quan tâm đến luật biểu tình đều biết cả, thậm chí bản thân Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – An ninh Nguyễn Kim Khoa cũng thừa nhận như vậy.

Luật biểu tình có gây ra loạn lạc xã hội?

Khi bàn đến luật biểu tình, nhiều người cho rằng tình hình xã hội, an ninh hiện nay chưa thuận lợi để hoạch định và ban hành. Có người còn bảo làm như vậy là vẽ đường cho hưu chạy, tạo điều kiện để những thành phần không tốt trong xã hội có điều kiện lợi dụng cơ hội để làm loạn, hễ chút là kéo nhau đi biểu tình. Thế nên, có ý kiến nói rằng để khi nào tình hình an ninh trật tự đảm bảo thì mới làm luật này. Tuy nhiên, nhiều người không đồng ý với quan điểm cũ kỹ và phòng ngừa không chính đáng như vậy. Bởi lẽ bất kỳ quốc gia nào khi làm luật biểu tình đểu là để đảm bảo an ninh trật tự xã hội. Nói nôm na “vẽ đường cho hưu chạy” sẽ hay hơn để hưu chạy lung tung, khó nắm bắt phương hướng và có thể mất khả năng kiểm soát hành vi của chúng.

Vài năm gần đây Việt Nam tuyên bố tiến hành cải cách mạnh mẽ nhiều lĩnh vực, trong đó có ngành tư pháp bao gồm cả vấn đề luật biểu tình. Thật ra nếu làm tốt, đây sẽ là chỉ số cho thấy quyền con người của Việt Nam được cải thiện hữu hiệu. Nếu nhìn tiêu cực theo kiểu nhà nước không đủ khả năng kiểm soát những người biểu tình thì đó là cách nhìn tiêu cực, yếu đuối vì chưa có những tính toán chu đáo. Nhìn sang các quốc gia khác ở Mỹ lẫn châu Âu, nơi mà luật biểu tình  đã được ban hành từ lâu, dân được quyền xuống đường, phải chăng đã gây loạn lạc?

Các nước khác tại châu Á cũng đã ban hành luật biểu tình rất rộng rãi. Họ xem đó là một biểu hiện của quyền con người được thể hiện và bày tỏ sự bất đồng ý kiến với chính phủ – không phải để lật đổ hay đả kích, mà là để bày tỏ quan điểm trên cơ sở xây dựng một chính phủ tốt hơn, như khẩu hiệu do dân và vì dân. Đó cũng là một cách để chính phủ thấu hiểu được tình hình dân chúng, phát hiện ra những tiêu cực mà đôi khi chính bản thân các vị quan chức cấp cao và thanh liêm cũng không bao quát hết để có thể phát hiện ra. Luật biểu tình sẽ điều chỉnh hành động của các quan chức bởi khi đó sự giám sát và trao đổi hai chiều giữa dân chúng và nhà nước trở nên cởi mở hơn, đa chiều hơn, khách quan hơn, và hiệu quả hơn.

Còn nhớ năm 2014, khi Trung Quốc kéo giàn khoan HD-981 vào vùng biển Việt Nam, rất nhiều người Việt ở nước ngoài xuống đường để phản đối, góp phần gia tăng áp lực lên chính phủ Trung Quốc cũng như thể hiện ý chí và quyết tâm của dân tộc Việt Nam ở mọi miền. Tuy nhiên ngay tại Việt Nam, hoạt động biểu tình lại không diễn ra (thật ra là có xuống đường nhưng không gọi là biểu tình). Hơn nữa là vì chưa có luật nên người dân cũng ngại xuống đường vì sợ vi phạm luật pháp, điều đó ít nhiều cũng làm giảm đáng kể khả năng thể hiện ý chí của dân tộc.

Văn hóa Việt Nam xuống cấp trầm trọng: Nguyên nhân và giải pháp

Văn hóa Việt Nam xuống cấp trầm trọng: Nguyên nhân và giải pháp

Ảnh minh hoạ.

Ảnh minh hoạ.

Trà Mi-VOA

21.02.2016

Tết là dịp diễn ra nhiều lễ hội văn hóa và các sinh hoạt cộng đồng, cũng là lúc trỗi dậy những điệp khúc buồn quen thuộc về sự xuống cấp của văn hóa Việt Nam, với các lễ hội tranh giành hỗn loạn, tình trạng ẩu đả, cướp giựt gia tăng.

Văn hóa Việt Nam bị cho là đã xuống cấp trầm trọng, nhưng xuống cấp từ khi nào và làm cách nào để thay đổi?

Có người nhận xét rằng dường như cách hành xử cướp đoạt và tư duy chụp giựt đang ăn sâu vào thói quen, tiềm thức của mọi người, bất kể giàu-nghèo, và đang diễn ra trong mọi góc cạnh đời sống người Việt ngày nay, từ bệnh viện, trường học, chùa chiền, đến những nơi vui chơi ăn uống sang trọng.

Đạo đức, văn hóa ứng xử ngày càng tuột dốc tệ hại vì dân trí thấp, vì thiếu giáo dục văn hóa, hay vì môi trường sống xô đẩy?

Mời các bạn cùng Tạp chí Thanh Niên hôm nay tìm hiểu qua cuộc trao đổi với Tiến sĩ Nguyễn Nhã, nhà sử học, nhà sư phạm, và cũng là một nhà nghiên cứu văn hóa-truyền thống Việt Nam, sáng lập viên Qũy Văn hóa Giáo dục Hãn nguyên Nguyễn Nhã.

TS Nhã: Hiện giờ văn hóa đang xuống cấp do nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất chính là giáo dục làm người không được tôn trọng, không được quan tâm. Giáo dục bây giờ chỉ lấy bằng thôi.

Trà Mi: Nhiều người cho rằng dân trí thấp và môi trường sống cũng là nguyên nhân của nền văn hóa tuột dốc. Ý kiến của ông thế nào?

TS Nhã: Nếu do dân trí, phải nói nông thôn của mình hồi xưa trước 1945 dân trí đâu có cao, hầu hết là mù chữ. Nhưng người nông dân Việt Nam thời đó rất đàng hoàng. Ví như mẹ tôi dù mù chữ nhưng đã dạy cho tôi rất nhiều điều, khác với bây giờ. Đấy cũng cho thấy văn hóa sống trong gia đình, làng xóm, xã hội đã thay đổi. Sự thay đổi đó cho thấy cái hay mình lại bỏ đi, mất đi rất nhiều trong khi cái dở lại sinh ra nhiều.

“ Nông thôn của mình hồi xưa trước 1945 dân trí đâu có cao, hầu hết là mù chữ. Nhưng người nông dân Việt Nam thời đó rất đàng hoàng. Ví như mẹ tôi dù mù chữ nhưng đã dạy cho tôi rất nhiều điều, khác với bây giờ. Đấy cũng cho thấy văn hóa sống trong gia đình, làng xóm, xã hội đã thay đổi. Sự thay đổi đó cho thấy cái hay mình lại bỏ đi, mất đi rất nhiều trong khi cái dở lại sinh ra nhiều

Tiến sĩ Nguyễn Nhã, nhà nghiên cứu văn hóa-truyền thống Việt Nam, nói.”

Trà Mi: Một sự thay đổi dẫn tới cái hay bị mất đi nhiều và cái dở lại sinh ra nhiều, phải chăng đây là một sự thay đổi tiêu cực?

TS Nhã: Vâng, đúng như vậy. Lối sống mới, giới trẻ vọng ngoại, ít theo và coi thường những cái gì truyền thống. Đó là cái dở nhất. Những người sống trong thời chiến hồi xưa, kể cả ở miền Bắc, dù nghèo khó lắm nhưng tinh thần không như bây giờ. Hiện giờ bị mất phương hướng từ trên xuống dưới, mọi sự bắt đầu từ văn hóa giáo dục.

Trà Mi: Về yếu tố môi trường sống, ông nghĩ sao? Có người cho rằng nâng cao giáo dục văn hóa mà môi trường sống xung quanh không được cải thiện cũng thế thôi. Sống giữa những bon chen, chà đạp, chụp giựt, mình có giáo dục văn hóa tới đâu cũng khó có thể giữ mình. Phải chăng yếu tố môi trường sống cũng có ảnh hưởng rất mạnh đối với văn hóa?

TS Nhã: Vâng, đa số thiếu giáo dục mà tăng nhiều thì làm ảnh hưởng tới môi trường sống. Đạo đức đang xuống cấp, nhưng tôi tin rồi sẽ có lúc phục dựng hoặc phát triển lại vì đó là quy luật của lịch sử.

Trà Mi: Tiến sĩ nhìn thấy sự phục hưng sớm muộn ra sao?

TS Nhã: Khó có thể nói được tương lai ra sao. Nếu những nhà giáo dục họ bình tĩnh, không bó tay như hiện nay thì mọi chuyện sẽ khác.

Trà Mi: Một nền văn hóa và một xã hội ‘mất phương hướng’ trở nên hỗn độn và thui chột. Lỗi này do đâu?

TS Nhã: Có người nói đây là ‘lỗi của hệ thống.’ Dĩ nhiên, bất cứ thời kỳ nào trong lịch sử Việt Nam thì chính quyền cũng có vai trò quan trọng. Nhưng, theo tôi, mỗi người dân đều có trách nhiệm. Từ già tới trẻ đều có trách nhiệm thì mọi chuyện sẽ khác đi, nhưng bây giờ người ta không quan tâm điều đó.

“ Lối sống mới, giới trẻ vọng ngoại, ít theo và coi thường những cái gì truyền thống. Đó là cái dở nhất. Những người sống trong thời chiến hồi xưa, kể cả ở miền Bắc, dù nghèo khó lắm nhưng tinh thần không như bây giờ. Hiện giờ bị mất phương hướng từ trên xuống dưới, mọi sự bắt đầu từ văn hóa giáo dục.

Tiến sĩ Nguyễn Nhã nhận xét.”

Trà Mi: Có thắc mắc rằng những thời trước không thấy tệ như vậy, phải chăng thời đại xã hội chủ nghĩa đã tạo ra những đặc điểm như thế cho người Việt ngày nay?

TS Nhã: Không thể nói chủ nghĩa nọ chủ nghĩa kia có trách nhiệm. Nhà cầm quyền phải có trách nhiệm, tất cả các giới phải có trách nhiệm, mà giờ thì cảm thấy người ta không có trách nhiệm. Đó, căn gốc nằm ở ‘hệ thống’. Từ cá nhân cho tới cộng đồng, mọi người đều cảm thấy không phải trách nhiệm của mình.

Trà Mi: Người ta lập luận rằng trong một xã hội mà sự cướp đoạt lên ngôi cộng với sự mất niềm tin vào luật pháp thì mọi người phải tranh giành chụp giựt, đạp lên nhau để tồn tại, nếu không, sẽ bị thua thiệt. Nếu xã hội không tạo ra hoàn cảnh như thế, nếu thời đại không đưa ra những khốn khó như thế thì chắc con người sẽ tốt đẹp hơn, cư xử tử tế hơn?

TS Nhã: Tôi nghĩ vậy. Mỗi thời một khác, nhưng những căn bản để mà giữ thì hiện nay mình đã mất cả, mất căn bản của truyền thống.

Trà Mi: Điều này xuất phát điểm từ đâu, từ bao giờ trong xã hội Việt Nam?

TS Nhã: Thời đổi mới, thời chiến tranh và thời nay hoàn toàn khác. Thời chiến tranh người ta tập trung vào vấn đề đấu tranh, hy sinh. Còn bây giờ người ta lo hưởng thụ thôi mà. Về mặt đạo đức, con người thời chiến tranh và thời nay khác nhau nhiều lắm, cả miền Nam lẫn miền Bắc.

Trà Mi: Giải pháp nào cho thực trạng văn hóa  hiện nay?

TS Nhã: Chính quyền, người có chức có quyền, những người có trách nhiệm phải làm gương trước tiên. Theo tôi, khi mọi việc đến tận cùng thì phải biến chuyển thôi.

Trà Mi: Nhưng liệu có nên chờ mọi việc tự biến chuyển khi đến tận cùng hay không?

“ Không thể nói chủ nghĩa nọ chủ nghĩa kia có trách nhiệm. Nhà cầm quyền phải có trách nhiệm, tất cả các giới phải có trách nhiệm, mà giờ thì cảm thấy người ta không có trách nhiệm. Đó, căn gốc nằm ở ‘hệ thống’. Từ cá nhân cho tới cộng đồng, mọi người đều cảm thấy không phải trách nhiệm của mình.

Tiến sĩ Nhã nói.”

TS Nhã: Vấn đề hiện nay là giáo dục. Nếu nhà nước và tất cả các giới quan tâm đến giáo dục thì sẽ khác.

Trà Mi: Những người quản lý đổ lỗi rằng đây là hệ quả của kinh tế thị trường…

TS Nhã: Hiện nay hầu hết các nước đều kinh tế thị trường nhưng họ như thế nào thì mọi người biết rồi.

Trà Mi: Theo ông, giáo dục phải cải thiện, nhưng cụ thể phải cải thiện thế nào? Môi trường sư phạm Việt Nam hiện có giáo dục ý thức công dân từ cấp tiểu học lên tới đại học, theo ông, vì sao không hiệu quả?

TS Nhã: Tôi từng lo giáo dục nhiều thời, tôi biết mà. Hiện nay người ta quan tâm đến điểm số, thành tích thi đua, không thực chất. Bây giờ chỉ cần 2 điều. Một là không được nói dối, bởi vì gian dối thì chất lượng không cao. Bây giờ giáo dục phải làm sao không được nói dối nữa. Thứ hai, phải cư xử với nhau cho tử tế. Chỉ cần thay đổi hai điều đó thôi, mà tôi đã nói với rất nhiều người, ai cũng bảo là khó quá. Bây giờ nếu mình có một hệ thống chính trị rất minh bạch, trung thực thì chất lượng sẽ cao thôi. Lỗi hệ thống!

Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Nguyễn Nhã đã dành cho Tạp chí Thanh niên VOA cuộc trao đổi hôm nay.

Hội chứng về vườn

Hội chứng về vườn

Phạm Thanh Nghiên (Danlambao) – Chiều ngày 19/2/2016, ông Trương Tấn Sang đã có bản Dự thảo báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ 2011-2016 đọc trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội).

Trong đó, ông Sang với cương vị Chủ tịch nước đã khẳng định mình “có phần trách nhiệm trước những hạn chế, yếu kém của đất nước hiện nay”.

Không chỉ dưới thời ông Sang làm Chủ tịch nước, mà trong suốt thời kỳ đảng cộng sản Việt Nam cai trị, đất nước đã trở nên yếu kém và tụt hậu đủ mọi mặt. Đó là một thực tế không thể bao biện hay chối cãi. Chín năm trước, tôi đã từng khẳng định điều tương tự trong một bài viết. Và chi tiết này cũng được Tòa án thành phố Hải Phòng dẫn chứng để kết tội tôi “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”. Nguyên văn câu ấy như sau: Chính sách này (của ĐCSVN) đã làm cho người dân thấp kém cả về dân trí lẫn dân khí, đẩy cộng đồng vào tâm thế ỷ lại, phó mặc.

Các chuyên gia Ngân hàng Thế giới – qua tường thuật của bà Phạm Chi Lan- từng nhận xét Việt Nam là mô hình kỳ lạ nhất thế giới: Nước… không chịu phát triển!

Một số hình ảnh của trẻ em miền núi phía Bắc trong mùa đông 2015 (nguồn hình: Báo lề đảng)

Vào đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, ông Lý Quang Diệu trong một lần thăm Việt Nam và gặp Tổng thống Ngô Đình Diệm đã bày tỏ mong muốn hai mươi năm sau đất nước ông sẽ phát triển và giàu có bằng một phần Sài Gòn. Câu chuyện này khiến cho bất cứ người Việt Nam nào còn quan tâm tới vận mệnh của đất nước phải hổ thẹn và xót xa, đau đớn. Cho đến bây giờ, nhiều người vẫn còn thảng thốt với những câu hỏi “Tại sao…?”. Tại sao người cộng sản lại có thể đưa cả một Dân tộc bước những bước thụt lùi với tốc độ đáng kinh ngạc đến vậy? Bao nhiêu năm nữa, đời sống của người dân Việt Nam thời cộng sản sẽ bằng đời sống của người dân Miền Nam thời Việt Nam Cộng Hòa của mấy chục năm về trước? Và cần bao nhiêu năm nữa để Việt Nam đạt được những thành tựu như của Singapore hôm nay? Định mệnh thật khéo chọn dân tộc này để giáng xuống một đòn lịch sử tàn khốc và trớ trêu, dị hợm như thế. Hai chữ “giải phóng” đã trở thành một cụm từ dơ dáy, tục tĩu mà một người tử tế, có lương tâm, có hiểu biết sẽ không bao giờ dùng để chỉ ngày 30/4/1975.

Một số hình ảnh Sài Gòn trước 1975:

Quay trở lại với phát biểu của ông Trương Tấn Sang. Không biết ông Sang nhìn rõ với mức độ thế nào về cái “hạn chế”“yếu kém” của đất nước trên cương vị người đứng đầu Nhà nước mà ông tự thấy mình “có một phần trách nhiệm”? Điều này lại một lần nữa khiến tôi… tủm tỉm cười khi nghĩ đến cái bình thường và cái không bình thường của giới cầm quyền xứ ta lẫn xứ người. Xứ người, tức ở những nước văn minh, ông tổng thống, thủ tướng hay bất kể một ông/bà lãnh đạo nào nếu để đất nước bị tụt hậu, yếu kém sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước người dân. Để rồi nhẹ thì phải từ chức, nặng thì bị truy tố và ngồi tù tùy thuộc mức độ, hậu quả gây ra. Đấy là điều bình thường…. ở xứ người. Ở xứ ta, điều bình thường này không được áp dụng. Hình thức phổ biến nhất là… phê và tự phê (nghe qua tưởng dân chơi thuốc phiện), cùng lắm là kỷ luật về mặt… đảng.

Và khi “đồng chí” lãnh đạo nào đó lâu lâu nổi hứng phát biểu vài câu mang tính chất “tự kiểm điểm” thì báo chí tha hồ mà phấn khởi múa bút khen tài, khen cương trực thẳng thắn và liêm khiết. Phải tự mình phê bình mình trước quốc dân đồng bào để thiên hạ thấy cái chế độ này “dân chủ gấp triệu lần tư bản”. Hơn nữa, cái sự đồng thuận trăm phần trăm, tốt toàn phần toàn diện bây giờ đã trở nên lỗi thời rồi. Tốt quá dân nó nghi. Phải cho dân thấy rằng đảng và các vị lãnh đạo đảng tuy vĩ đại nhưng rất gần gũi và thẳng thắn. Trong một trăm phần trăm cái tuyệt đối đúng cũng có 1 đến 2 phần trăm cái chưa được chứ. Thế nó mới giống sự thật!

Cho nên có người nói: chưa có thời nào làm quan sướng như thời cộng sản. Và cũng chưa có thời nào làm dân khổ như thời cộng sản.

Ông Sang, cũng giống như nhiều người tiền nhiệm, đồng chí của ông. Tức chỉ khi xế chiều mới phát biểu những câu ra vẻ thẳng thắn hay mạnh mẽ. Mục đích để làm gì thì đã được nhiều người phân tích.

Gọi tên thêm một ông nữa cho bài viết được phong phú. Đó là chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Ông Hùng đã phát biểu về dự án Luật báo chí (sửa đổi) sáng 18/2/2016 như sau: “Quyền tự do ngôn luận là quyền hiến định… Các đồng chí nhớ rằng quyền mở mồm ra là quyền của mỗi người dân.

“Quản lý không có nghĩa là cấm đoán, quản lý mà để hiểu rằng siết lò xo lại không cho người ta làm cái gì là vi phạm Hiến pháp đấy. Nếu chúng ta đưa ra những điều cấm mà đúng thì tôi tin chắc là nhân dân ủng hộ, và cấm cái gì thì phải đưa vào luật.

“Tôi hỏi các đồng chí là Cụ Hồ lúc ở Pháp viết báo thì sao đây, Đảng ta khi còn hoạt động bí mật viết báo thì sao đây, Bác Hồ hoạt động bí mật ở Quảng Châu ra báo Thanh Niên thì sao đây? Xã hội cần tự do, dân chủ, cởi mở. Những gì cấm thì phải ghi cụ thể, không cấm thì người ta được làm”.

Cả ông Sang lẫn ông Hùng đều không có tên trong danh sách Bộ chính trị lẫn Ủy viên Trung ương khóa 12. Cả hai sẽ về vui thú điền viên sau khi hết nhiệm kỳ vào tháng 5/2016.

Đấy, vì thế cho nên tôi gọi những thể loại trên là “hội chứng về vườn”.

Nói về ông Dũng và hội nghị thượng đỉnh Sunnylands

Nói về ông Dũng và hội nghị thượng đỉnh Sunnylands

FB Trương Nhân Tuấn

20-2-2016

Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Hoa Kỳ tổ chức vừa qua (15,16-2-2016) tại Sunnylands, California, báo chí (lẫn học giả) trong nước ca ngợi hết lời VN thắng lớn, mặc dầu bản Tuyên bố chung không có một lời nhắc đến TQ. Còn ông Nguyễn Tấn Dũng thì đặc biệt được tán dương vì đã yêu cầu Mỹ “có tiếng nói mạnh mẽ và hành động thiết thực hơn ở Biển Đông”. Vấn đề là VN thắng cái gì và yêu cầu của ông Dũng, Mỹ có thể nói (hay làm) được cái gì?

Về chuyến đi của ông Dũng, một người bị “trợt đài” quyền lực trong Đại hội 12, đáng lẽ không còn tư cách để được đảng CSVN ủy nhiệm đi tham dự Hội nghị Sunnylands. Có người nói rằng ông Dũng được đi là do vận động của cả hai phía, Việt Nam và Hoa Kỳ. Nếu đọc nội dung Tuyên bố chung được công bố (khoản 17), theo tôi, ông Dũng được đi là do áp lực của Hoa Kỳ chớ không do áp lực của phe thân ông Dũng trong đảng.

Bởi vì Hội nghị Sunnylands là hội nghị “cấp cao”, ở cấp “lãnh đạo nhà nước hay chính phủ”. Ban đầu Phạm Bình Minh được đảng ủy nhiệm cầm đầu phái đoàn đi tham dự. Nhưng ông này chỉ là “bộ trưởng bộ ngoại giao”, không phải là người đứng đầu nhà nước (hay chính phủ). Ông Dũng ở thời điểm này tuy rớt đài quyền lực, nhưng danh nghĩa vẫn còn ở cương vị thủ tướng (cho đến hết tháng 5-2016). Dĩ nhiên phía Hoa Kỳ không thể chấp nhận ông Minh, do nghi thức ngoại giao, buộc VN phải cho ông Dũng đi tham dự.

Lời lẽ của ông Dũng phát biểu trong hội nghị, hay trong buổi gặp mặt Obama, cũng như nội dung bài viết của ông này được đưa lên báo chí, cho thấy việc thiếu chuẩn bị của ông Dũng.

Trong nước, hiện tượng “nhổ cỏ tận gốc” của phe Bắc kỳ do ông Trọng cầm đầu đang có khuynh hướng trỗi lên. Cứ địa Phú Quốc mà con trai ông Dũng là lãnh chúa, hiện đang bị “chiếu tướng”. Các bài báo, phóng sự… có tầm ảnh hưởng xuyên quốc gia như việc phá hoại môi trường, hay việc cẩu thả ở cách thức nuôi thú làm hàng loạt cả ngàn con thú (hiếm) chết…

Rõ ràng phe Bắc kỳ của ông Trọng muốn lấy lại miếng bánh đang ở trong miệng của con trai ông Dũng.

Trong khi phe thân ông Dũng (nếu còn lại một nhóm nào đó gọi là thân ông Dũng) thì không thấy lên tiếng (hay có phản ứng đáp trả).

Vì vậy khi nói rằng ông Dũng được tham dự Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Hoa kỳ ở Sunnylands là do áp lực của phe thân Dũng trong nước là không có cơ sở.

Về nội dung Tuyên bố chung, nhà báo (và học giả) VN tán dương rằng VN “thắng lớn”.

Vấn đề là Tuyên bố không đề cập một dòng về TQ.

Khoản 8 của Tuyên bố nói “mập mờ” về việc “cam kết duy trì hòa bình an ninh và ổn định trong khu vực… phi quân sự hóa và tự kềm chế trong các hoạt động”.

Vấn đề là TQ đã quân sự hóa đảo Phú Lâm (Hoàng Sa), đã xây dựng các đảo nhân tạo ở Trường Sa, tương lai gần sẽ củng cố các đảo nhân tạo này như các căn cứ quân sự (hải và không quân). Các việc này đã làm thay đổi hiện trạng và đe dọa an ninh khu vực.

Báo chí nước ngoài cảnh báo rằng, một tình huống như chiếc MH 317 của hàng không Mã Lai có thể sẽ xảy ra trên vùng trời Hoàng Sa.

Về câu chữ, việc “tự kềm chế” không có ý nghĩa cụ thể, giải thích sao cũng được. Lại còn không nói đến đối tượng là ai (phải phi quân sự hóa và tự kềm chế?)

Vì vậy người ta hiểu rằng nội dung tuyên bố là cam kết giữa HK và các nước ASEAN hơn là có mục tiêu (hay ám chỉ) Trung Quốc.

Ngược lại, theo tôi, Tuyên bố Sunnylands phần nhiều là ám chỉ cho Việt Nam.

Thật vậy, mặc dầu trước khi Hội nghị khai mạc, báo chí Mỹ đã lên tiếng rằng Obama đón tiếp 10 tên độc tài. Phê bình này thái quá vì dầu sao các nước Mã Lai, Phi, Indonesia, Miến Điện… đã là các nước dân chủ. Mặc dầu không thể so sánh vởi Mỹ hay các nước Châu Âu, nhưng thực chất chế độ các nước này có nền tảng dân chủ. Nhưng phê bình lại đúng cho trường hợp VN.

VN hiện nay là con “chiên ghẻ” trong bầy chiên ASEAN.

Khoản 4 của Tuyên bố hiển nhiên dành cho VN.

“4. Chúng tôi cam kết đảm bảo cơ hội cho tất cả người dân chúng ta, thông qua tăng cường dân chủ, quản trị tốt và tuân thủ các quy định của pháp luật, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và quyền tự do cơ bản, khuyến khích tinh thần khoan dung, ôn hòa, và bảo vệ môi trường;”

Các nước ASEAN, ngoài Việt Nam (Brunei và Lào), đều ít nhiều tôn trọng khoản 4.

Về dân chủ, VN là nước độc tài tệ hại nhứt, vì là nền độc tài cộng sản công an trị. Người dân VN không có một cơ hội nào, vì pháp luật không bảo đảm sự công bằng về quyền (tức mọi người bình đẳng trước pháp luật).

Đường vào đồn công an là đường ngắn nhứt để vào nhà thương hay nghĩa địa.

Còn về nhân quyền và các quyền tự do cơ bản ? VN luôn đứng đầu sổ trong các bản thống kê của thế giới về chà đạp, vi phạm nhân quyền. Còn tự do, mỗi người VN đều ở trong tù, khác biệt là tù nhỏ hay tù lớn.

Khoan dung ? cuộc chiến đã qua gần 1/2 thế kỷ, đến nay việc phân biệt bắc-nam, phân biệt hồ sơ lý lịch vẫn còn tồn tại trong các cách đối xử ở cấp lãnh đạo cao nhứt.

Cho đến các bản nhạc (vốn vô tội) viết trước 75 đến nay vẫn còn cấm hát. Một cậu nhỏ mặc quần áo “giống như” quần áo lính VNCH cũng bị kết án ở tù. Huống chi đến các việc khác liên quan đến chế độ cũ…

Còn về môi trường, trong khu vực chỉ có VN là nước mà môi trường bị tàn phá hơn hết. Cái gì bán được là CSVN bán hết, từ rừng gỗ cho đến hầm mỏ, bất kể việc khai thác có tác hại cho môi trường đến mức nào.

Vấn đề đặt ra là VN có tôn trọng và thực thi Tuyên bố này hay không ?

Đây là một tuyên bố về “ý định” hay một tuyên bố mang tính bó buộc pháp lý ?

Người ta sẽ xem xét thái độ của nhà nước CSVN đối với những người tự ứng cử quốc hội vào tháng 5 tới để kết luận.

Những nhà tranh đấu trong nước từ nay cảm thấy yên tâm khi dấn thân ra ứng cử.

Nếu đây là một “tuyên bố” có giá trị pháp lý ràng buộc thì dĩ nhiên nó có giá trị cao hơn là hiến pháp của VN.

Người đã đặt số 4 cho khoản này là có thâm ý ám chỉ điều 4 của HP VN.

Khoản 2 và 3 bản Tuyên bố dĩ nhiên cũng ám chỉ VN. Nhưng hai khoản này chỉ là “ghi nhận” mà không phải là “cam kết”. Dầu vậy cũng nên nhắc tới, nếu có dịp.

Về yêu cầu của ông Dũng, Mỹ cần có “có tiếng nói mạnh mẽ và hành động thiết thực hơn ở Biển Đông”, cũng không có giá trị thực sự.

Những gì Mỹ có thể nói (ở Biển Đông) Mỹ đã nói. Và Mỹ cũng đã làm những gì có thể làm.

Nguyên tắc cơ bản tạo thành nền tảng của luật lệ quốc tế (và nguyên tắc bang giao quốc tế) là “bình đẳng về chủ quyền giữa các nước”.

Hoa Kỳ không thể cho tàu hải quân làm hơn các việc mà luật quốc tế cho phép.

Ông Dũng muốn Mỹ can thiệp để TQ ngưng làm thay đổi hiện trạng cũng như ngưng việc quân sự hóa Biển Đông.

Mỹ chỉ có thể làm các việc này khi (các nước) chứng minh được các hành vi của TQ là sai luật.

Mỹ lên tiếng cảnh cáo TQ phải tôn trọng phán quyết của Tòa Trọng tài trong vụ kiện Phi-TQ. Đây là việc làm “tối đa” mà Mỹ có thể làm để giúp đồng minh Phi của họ.

VN là gì để Mỹ phải giúp ? Và TQ làm gì sai luật (với VN) để Mỹ có thể can thiệp ?

Câu trả lời là không là gì cả (và không có gì cả).

Trước luật quốc tế, các hành vi của TQ là phù hợp, ngoại trừ khi VN thuyết phục được dư luận thế giới ủng hộ chủ quyền của mình ở HS và TS.

Nhà nước CSVN hiện nay chỉ có thể thuyết phục được dân chúng và các học giả (dễ dạy) của mình chớ không thuyết phục được ai.

Trong khi HS và TS hiển nhiên là của VN. Lịch sử chủ quyền của VN, từ thời các chúa Nguyễn cho tới thời bảo hộ Pháp, sang đến VNCH thì được chứng minh. Sự liên tục chủ quyền của VN chỉ bị gián đoạn sau khi CSVN nắm quyền cả nước.

Tức là VN hiện nay vẫn có thể thuyết phục được Mỹ (và dư luận quốc tế) ủng hộ VN nếu vấn đề kế thừa VNCH được thể hiện. Điều này đã nói nhiều lần, không nhắc lại.

Tức là Mỹ chỉ có thể can thiệp sâu xa hơn trong vấn đề HS và TS, như trường hợp Mỹ ủng hộ vụ Phi kiện TQ, nếu vấn đề kế thừa VNCH được CSVN nghiêm túc thực hiện.

Về nội dung bài viết của ông Dũng, rõ ràng đã nói lên việc thiếu chuẩn bị của ông này. Tức là ông Dũng đi tham dự Hội nghị Sunnylands là do áp lực của Mỹ chớ không phải áp lực của phe thân ông này trong nội bộ đảng.

Bài viết có điều gì đáng chú ý?

Theo tôi chỉ có hai điểm. Thứ nhứt là “hoàn thiện hệ thống pháp luật đến đào tạo nguồn nhân lực” để VN có thể “tự vệ” khi gia nhập TPP.

Điều này tôi đã khuyến cáo, sau khi đọc tin “rò rỉ” của wikileaks về nội dung hiệp định TPP. Ý kiến của tôi như sau:

“Về phạm vi pháp quyền (juridiction – quyền xét xử, quyền tài phán), trước đây xí nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ (do cán bộ lãnh đạo thiếu khả năng) thì “trời mưa có đất chịu”, theo luật rừng XHCN, người dân nai lưng trả nợ. Bây giờ, xí nghiệp nhà nước làm ăn “cà chớn” (thí dụ vi phạm các điều khoản về sở hữu trí tuệ, về “hàng nhái”, về vệ sinh an toàn thực phẩm…) việc phân xử sẽ do một “tòa án của TPP”, tức là tòa án “tư nhân” đảm trách. Tức là “chủ quyền” của quốc gia bị mất vào tay tập đoàn tư nhân. Trong lâu dài, nếu VN vẫn không kịp đào tạo những chuyên gia luật học, chủ quyền quốc gia sẽ chuyển sang các tập đoàn luật gia quốc tế.”

Điều thứ hai là “hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân và thượng tôn luật pháp”.

Điều này tôi cũng đã khuyến cáo từ lâu “nhà nước pháp trị” và việc “thượng tôn pháp luật”.

Khi ông Dũng nói “hoàn thiện nhà nước pháp quyền”, tức là “nhà nước” này có vấn đề. Và khi nói “thượng tôn pháp luật” là nói đến “nhà nước pháp trị”.

Tức là, những điều quan trọng trong bài viết của ông Dũng đều lấy từ ý kiến của tôi.

Không phải nói điều này là chê trách ông Dũng, nhưng khen ngợi ông Dũng là người biết nghe lời phải.

Vấn đề là sự việc quá trễ để làm thay đổi hiện trạng.

Lúc còn tại chức, quyền lực trong tay, nịnh thần chung quanh tung hô lên tận mây. Ông Dũng đâu có ngó ngàng gì tới những ý kiến đúng đắn, có lợi cho đất nước.

Hồ sơ Biển Đông, nếu ông nghe tôi thì vấn đề (Biển Đông) VN đã không bị lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan. (Mà số phận của ông cũng không đến đỗi). Ông chỉ nghe gian thần và kẻ nịnh.

Như là thói quen, các lãnh đạo VN chỉ “nói hay, nói đúng” khi không còn nắm quyền lực.

Mà tương lai ông Dũng thì bất định. Ra nước ngoài thì ông Hà Vũ, Điếu Cày, bà Phong Tần có thể kiện ông vì những hành vi bức hại (thể xác và tinh thần). Kiện nhà nước thì khó nhưng kiện ông Dũng thì dễ.

Trong nước thì con cái ông thì đang bị phe Bắc Kỳ tìm cách bứng gốc.

Âu đó cũng là do “tầm nhìn” mà thôi.

Ca ngợi ông Dũng quá, hay đánh giá cao thực lực của ông Dũng còn mạnh trong đảng là không đúng. Ở đời người ta phù thịnh chớ không ai phù suy. Ông Dũng qui tụ được quần hùng là nhờ miếng mồi “quyền lợi và quyền lực”, thì bây giờ cũng vì “quyền lợi và quyền lực” mà những người này trở áo với ông.

Bài học cho các lãnh tụ tương lai: hãy nghe lời đúng chớ đừng bao giờ nghe lời nịnh bợ.

CHÚA KHÔNG ƯA NHỮNG MÊ TÍN DỊ ĐOAN

CHÚA KHÔNG ƯA NHỮNG MÊ TÍN DỊ ĐOAN

(Sống Mùa Chay)

Tuyết Mai

Từ khi Chúa Giêsu đi Rao Giảng Tin Mừng về Nước Trời thì không một lúc nào mà chúng ta nghe thấy Chúa Giêsu lại giảng Nước Trời là điều giả dối, không có thật hay tin vào chính Ngài là tin vào mê tín dị đoan mà không ngược lại là những hành vi tin vào mê tín dị đoan là do chúng ma quỷ xúi biểu chúng ta làm vậy.

Bởi nếu chúng ta tin vào mê tín dị đoan có nghĩa là chúng ta không hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa Đấng quyền năng vô song có thể làm nên tất cả, hủy diệt tất cả và những điều thuộc về chúng quỷ Satan.   Mà hiện nay nhà thờ Satan đã dần mọc lên cách công khai để chiêu dụ nhiều người nhẹ dạ đến theo thờ chúng.

Chúng ta con cái Chúa hãy thành thật và tự kiểm điểm những hành vi bất xứng của mình với Thiên Chúa xem là chúng ta thường ngày đã tin vào những mê tín dị đoan đến bao nhiêu phần trăm và tin tuyệt đối vào Thiên Chúa bao nhiêu phần trăm? Và số còn lại đi hai hàng là bao nhiêu phần trăm?.

Bao nhiêu người hiện đang tin vào bói toán, Tử Vi, coi Phong Thủy hay thỉnh thoảng chơi Cầu Cơ vào ban đêm chỉ để muốn biết rằng khi nào thì chúng ta bỗng chốc giầu có mà không cần dùng đến tài năng, khả năng cùng sức khoẻ mà Chúa đã ban cho … Qua mua vé số, đánh đề, cờ bạc và mọi hình thức của đỏ đen?.

Ai còn nhớ Chúa đã dẹp tan hình thức cờ bạc, đổi tiền, gian xảo ở nơi thờ phượng Chúa như là Đền Thờ theo nghĩa xác thực đã được diễn tả trong Phúc Âm? Nhưng có phải nghĩa bóng thì Nơi thờ phượng Chúa là ngay trong tâm hồn của chúng ta?.   Vì Chúa dạy Đền Thờ của Chúa là ở ngay chính trong tâm hồn và thân xác không phạm tội của chúng ta.

Nên Mùa Chay là mùa chúng ta hãy cố gắng dành thời giờ mà liên kết với Thiên Chúa với Đức Maria nhiều hơn, đến Tòa Giải Tội để xin Thiên Chúa tha thứ tội lỗi cùng ăn năn hối cải để được Chúa thương mà cứu vớt linh hồn của chúng ta, nhất là trong giờ lâm tử, trong phút thập tử nhất sinh, chết bất đắc kỳ tử.

Vì chả ai mãi sống đời ở Trần Gian này mà hằng ngày chúng ta cứ phải bám vào những của chóng qua ấy.   Những của mà khi thân xác chúng ta không còn thì của ấy sẽ vào tay người khác tiêu xài, vung vãi, phung phí và rồi nó cứ thế hết vào tay người này đến tay người khác.   Bởi thế mà Hỏa Ngục có vô số kể con người khi còn sống vì tham lam tích góp của cải đã phải mất linh hồn sống đời rất quý và rất vô giá … Thì quả thật là vô phúc lắm thay!!!.

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

19 tháng 2, 2016

CHÚA BIẾN HÌNH TRÊN NÚI TABOR

CHÚA BIẾN HÌNH TRÊN NÚI TABOR

(CN II Mùa Chay, Năm C)

Tuyết Mai

Ôi loài người tội lỗi của chúng ta thì sao có thể tưởng tượng được những hình ảnh chợt biến đổi, biến dạng của Chúa Giêsu qua một hình ảnh tuyệt vời mà trên Thế Gian chưa từng có ai có được diễm phúc để thấy được.   Mà chỉ có Chúa muốn cho ai thấy thì người ấy mới thấy được mà thôi dù rằng thấy bằng con mắt thịt như ba tông đồ của Chúa là Phêrô, Giacôbê và Gioan trong bài Phúc Âm của ngày hôm nay.   Hay bằng con mắt Đức Tin mà Thiên Chúa đã biến đổi được tâm hồn của rất nhiều người trong chúng ta.

Và đấy mới thật sự là hạnh phúc Thiên Chúa dành ban cho loài người vì Người đã quá đỗi yêu thương nhân loại mà củng cố thêm Niềm Tin cùng Hy Vọng tràn đầy cho chúng ta thấy được hình ảnh cùng dung mạo sáng ngời qua Chúa Giêsu; thật sự là Con Thiên Chúa.   Từ đó chúng ta có thể hình dung thêm được Nước Trời.   Hình dung thêm được cuộc sống ở Đời Sau trên Thiên Quốc luôn là sáng láng, thánh thiện, trọn lành, đẹp đẽ, tuyệt Mỹ và không hạnh phúc gì bằng.

Quả Chúa Giêsu đã hé mở một tia ánh sáng rực rỡ, sáng ngời, trong luồng ánh sáng đã làm cho ba ông tông đồ không bị chói lòa cái nhìn của con mắt thịt.   Nhưng các ông đã cảm nhận được một thứ ánh sáng rất dịu êm mà tâm hồn cứ muốn được mãi đắm chìm trong luồng ánh sáng ấy.   Do đó mà các ông đã không biết mình đã nói gì?.   Nhưng khi luồng ánh sáng ấy đã biến đi và nghe tiếng Chúa Giêsu nói thì các ông mới hoàn hồn và tỉnh lại giây phút của hiện tại.   Vâng lời Chúa Giêsu các ông đã giữ kín trong lòng và đã không thuật lại điều thấy ấy cho ai hay biết.

Còn chúng ta là con người tội lỗi nhưng đã biết ăn năn, hối cải và Trở Lại cùng Thiên Chúa thì được Người biến đổi ở dạng nào? Có phải Người chọn mạc khải cho chúng ta thấy được qua Con Mắt Đức Tin hay không? Hẳn là phải thế vì chúng ta đã cảm nhận được sự thay đổi nên tốt lành trong ánh mắt nhìn, biết cảm thương, biết chia sẻ cho anh chị em khổ nghèo đang sống lang thang không cửa không nhà, không người thân thương để cảm thông và để an ủi họ!? … Từ tấm bánh, quần áo, thuốc men và những lời an ủi hay khích lệ thật lòng từ trái tim nhân ái.

Ở mọi thời đại đã cho chúng ta thấy hình ảnh Cỏ lùng nhiều hơn Lúa nhưng Thiên Chúa Người vẫn luôn có hy vọng trên chúng ta vì nếu không thì Thế Gian này đã bị sụp đổ và bị nổ tung từ lâu lắm rồi.    Nhưng chỉ cần một tấm lòng mở rộng như cậu bé tốt lành kia đã đem 2 con cá và 5 ổ bánh mì lại cho Chúa để Chúa Giêsu có thể làm phép lạ mà nuôi 5000 ngàn đàn ông, chưa kể số đàn bà và con nít.   Đã thế các tông đồ lại còn lượm lại được 12 thúng đầy những khúc bánh mì vụn.

Hay chuyện của bà góa nghèo có tấm lòng vàng đã bỏ hết 2 đồng xu mà bà có vào thùng tiền, được Chúa Giêsu khen thưởng vì là số tiền có thể nuôi bà sống được 1 ngày nhưng hẳn bà tin rằng Thiên Chúa sẽ luôn luôn nuôi cho bà được đầy đủ.   Do thế mà bà luôn sống trong sự tin tưởng, phó thác trong bàn tay đầy quyền năng của Thiên Chúa là Đấng tối cao và là duy nhất.

Bài Phúc Âm của tuần này Thiên Chúa đã hé mở cho chúng ta thấy một chút quyền uy, lạ lùng, chói ngời và sáng tỏa như phép lạ mà Chúa muốn biến đổi trong tâm hồn tăm tối của chúng ta.   Là có mắt nhìn hướng về những điều thiện cùng việc làm tốt lành để làm cho gia đình chúng ta thay đổi.   Giúp xã hội nên tốt lành và như một cây nến cùng những cây nến khác từ từ biến thành cây đuốc sáng, bùng to lên như lửa trại hay trở thành ngọn Hải Đăng chiếu rọi vào bóng đêm mà nhiều người đang đắm chìm trong biển đời tội lỗi biết đâu là bến bờ của Yêu Thương mà quay trở về để tìm lại được sự sống sung mãn cùng người Mục Tử là Chúa Giêsu và Ràn của Ngài là Nước Trời, Nơi có sự sống muôn muôn đời bên ba ngôi Thiên Chúa.   Amen.

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

21 tháng 2, 2016

GIỌT NƯỚC MẮT

GIỌT NƯỚC MẮT

Trầm Thiên Thu

Ai sinh ra cũng khóc.  Đứa bé khóc được là thân nhân vui mừng, đứa bé không khóc thì thân nhân… lo.  Vậy khóc là “tín hiệu tốt” chứ không phải là cười.

Rồi khôn lớn dần, trong cuộc sống, ai cũng đã từng hơn một lần rưng rưng nước mắt hoặc đầm đìa nước mắt.  Mà nói đến nước mắt là nói đến trạng thái khóc.  Thường thì khóc là thể hiện tâm trạng buồn.  Nhưng cũng có thể khóc vì vui, như thi hào Nguyễn Công Trứ mô tả: “Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười.”  Buồn mà lại cười, đó là lúc người ta quá buồn, buồn muốn phát điên, buồn muốn khóc, và rồi khóc đến cạn nước mắt.  Có thể đó là “cái bí ẩn” trong cách nói của người Việt Nam thường nói: “Buồn cười quá!”

GIOT NUOC MAT

Cụ Nguyễn Công Trứ đã từng “khóc”, vì ông đã “ngồi buồn mà trách ông xanh” và mong ước:

Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo

Nhưng với chúng ta, những người có niềm tin vào Đức-Kitô-tử-nạn-và-phục-sinh, chúng ta có quyết tâm tích cực hoàn toàn khác:

Kiếp sau xin vẫn làm người

Và làm thánh giữa Nước Trời trường sinh

Chúng ta không chỉ “vẫn làm người”, vì thân xác chúng ta cũng được sống lại và lên trời, đặc biệt là còn làm “thánh nhân.”  Nhưng trước khi “về Nhà Cha” hưởng phúc trường sinh vinh quang, chúng ta không thể không phải chịu đau khổ, nghĩa là có những lúc buồn nẫu ruột, buồn đến chết, buồn đến bật khóc… đến nỗi những người kém lòng tin đã tự tử.

Khóc có nhiều kiểu.  Khóc có nhiều nguyên nhân.  Khóc có nhiều mức độ.  Thế nên nước mắt cũng có nhiều loại, kể cả “nước mắt cá sấu.”  Và tất nhiên, nước mắt không chỉ có vị mặn mà còn có những vị khác nữa!

Với nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, ông có “giọt nước mắt ngà”: “Em đứng bên sông buồn, nhìn cuộc tình trôi qua và lòng người phôi pha.  Trên hai đóa môi hồng, nụ cười đã đi xa.  Ôi giọt nước mắt nào cho cuộc tình đầu… Thôi một giọt nước mắt này, cho cuộc tình đam mê, cho người tình trăm năm… Giọt lệ nào thương vay, tình đành tràn mi cay… Ôi giọt nước mắt ngà cho cuộc tình đầu tiên!”  Giọt-nước-mắt-ngà của NS họ Ngô là giọt-lệ-tình-sầu, một “kiểu” nước mắt của riêng ông.

Người đời có nhiều loại nước mắt, riêng người Công giáo có thêm loại nước-mắt-ăn-năn, nước-mắt-khóc-cho-tội-mình mang vị mặn chát, nhưng đó là loại nước-mắt-thánh-thiện rất cần thiết.  Nước mắt làm cho sáng mắt, và nước mắt có thể làm “trôi đi” phần nào nỗi buồn.

Tác giả Thánh vịnh có kiểu khóc thế này: “Tôi lang thang như người khóc mẹ, tôi tủi buồn cúi mặt xuống mà đi” (Tv 35:14).  Nước mắt chảy nhiều đến nỗi tác giả “xin lấy vò mà đựng nước mắt” (Tv 56:9), và thường đem “nước mắt hoà nước uống” (Tv 102:10).  Có những giọt nước mắt bình thường hoặc tầm thường, nhưng có những giọt nước mắt quý giá – gọi là châu lệ.

Thánh Phaolô cũng đã từng phải khóc: “Tôi phải than khóc nhiều người trước đây đã phạm tội, mà nay chẳng chịu ăn năn hối cải về những việc ô uế, gian dâm và phóng đãng họ đã làm” (2 Cr 12:21).

Thánh sử Luca tường thuật: “Có một phụ nữ tội lỗi cúi sát chân Chúa Giêsu mà khóc.  Chị lấy nước mắt mình mà tưới ướt chân Ngài, lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Ngài và lấy dầu thơm mà đổ lên” (Lc 7:38).  Những giọt nước mắt như vậy thực sự là châu lệ, vì đầy tâm tình sám hối và tin yêu. Do đó, Chúa Giêsu đề cao tấm gương của phụ-nữ-tội-lỗi này: “Yêu nhiều nên được tha nhiều” (Lc 7:47).

Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày Đại Tang của Giáo hội, đúng ra là Thế Giới Tang.  Nhiều người chú trọng nhiều đến “bề ngoài”, lo “bày tỏ” bằng những cách để đánh vào thị hiếu của giới bình dân.  Nếu thực sự ngoại tại có thể giúp nội tại thì cũng tốt, nhưng đừng thái quá.  Điều cần là “đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng” (Ge 2:13).  Khóc cho tội và chết cho tội là thành tâm sám hối và quyết tâm chừa tội, đó mới là cách Chúa muốn.  Cứ lo “diễn” bề ngoài mà không chú ý nội tâm thì chắc chắn Chúa không muốn.

Chính Đức Giêsu cũng đã khóc vì thương tiếc thành Giêrusalem (x. Lc 19:41), nhưng khi người ta than khóc Ngài vì thấy Ngài vác Thập giá, dù Ngài đang rất mệt mỏi và đau đớn mà vẫn ráng quay lại nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì.  Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28).

Đó cũng chính là lời cảnh báo Ngài nói thẳng với chúng ta.  Và rồi khi “Ngài ngự đến giữa đám mây”, nghĩa là lúc Ngài đến thế gian lần thứ hai, “ai nấy sẽ thấy Ngài, cả những kẻ đã đâm Ngài.  Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Ngài” (Kh 1:7).

Cuộc đời là chuỗi-đau-khổ-đầy-nước-mắt, nhưng chính đau khổ lại là diễm phúc: “Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an” (Mt 5:5).  Khóc không bị chê trách mà được chúc phúc.  Giọt-nước-mắt đó đầy vị-mặn-yêu-thương.  Chỉ có một loại nước mắt tệ hại nhất và vô phúc nhất là giọt-nước-mắt-trong-hỏa-ngục, vì phải đời đời “khóc lóc và nghiến răng” (Mt 8:12; Mt 13:42; Mt 13:50; Mt 22:13; Mt 24:51; Mt 25:30; Lc 13:28).

Chúa Giêsu đã dùng chính sự thất bại để chiến thắng, dùng chính đau khổ để đạt vinh quang, và dùng chính cái chết để đạt sự phục sinh.  Đấng Cứu Thế đã vậy thì chúng ta không thể không như Ngài – nghĩa là cũng phải khóc lóc và rơi lệ hằng ngày.  Tuy nhiên, Ngài đã chết để chúng ta được sống, và rồi “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt chúng ta” (Kh 7:17; Kh 21:4).

Lạy Chúa Cha hằng hữu đầy lòng thương xót, vì tội lỗi khốn nạn của chúng con mà Ngài bắt Đức Kitô, Con Yêu Dấu của Cha, phải chết đau thương.  Chúng con thành tâm xin lỗi Đức Giêsu Kitô, xin cho nước mắt của chúng con được hòa với Máu và Nước của Ngài để nài xin lòng thương xót cho chính chúng con và toàn thế giới.  Chúng con khẩn thiết Chúa Cha thương xót và tha thứ cho chúng con, xin giúp chúng con trung tín với Ơn Chúa để đừng làm khổ Đức Giêsu chút nào nữa.  Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

 Trầm Thiên Thu

Khi Chủ tịch Quốc hội đề cao dân chủ hóa

Khi Chủ tịch Quốc hội đề cao dân chủ hóa

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2016-02-19

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phát biểu tại phiên thảo luận Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 17/2/2016.

Courtesy quochoi.vn

Your browser does not support the audio element.

Hợp lòng dân

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng và một số Đại biểu Quốc hội đã nặng lời phê bình Chính phủ trì hoãn Dự luật Biểu tình, cũng như làm Luật Báo chí phải dựa vào Hiến pháp chứ không thể đem chỉ thị Bộ Chính trị ra để biện giải. Những phát biểu hợp lòng dân được báo chí ghi nhận trong các phiên thảo luận tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 17 và 18/2/2016.

Một lần nữa chính phủ xin hoãn việc trình Dự luật Biểu tình qua Quốc hội với lý do các bộ ngành xung đột ý kiến và Dự luật dù đã được Bộ Công an soạn xong, nhưng chưa thể trình lên Quốc hội theo dự kiến vào tháng 3/2016. Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường không cho biết là việc đình hoãn kéo dài đến lúc nào, khi ông trình bày vấn đề này trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội hôm 17/2/2016.

Sau khi nghe giải thích của ông Hà Hùng Cường, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phản ứng gay gắt rằng việc Chính phủ xin lùi trình Luật Biểu tình là thiếu nghiêm túc. Ông Nguyễn Sinh Hùng sẽ rời thế giới quyền lực của Đảng và Nhà nước sau cuộc bầu cử Quốc hội khóa 14 vào cuối tháng 5 sắp tới. Theo Saigon Times Online, Chủ tịch Quốc hội khẳng định quyền biểu tình là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp qui định. Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội về việc nhiều lần xin hoãn việc trình Dự luật. Tờ báo trích lời ông Nguyễn Kim Khoa, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng-An ninh đề nghị khẩn cấp làm ngay để bảo đảm thực thi quyền công dân theo Hiến pháp, nếu chậm mà hạn chế quyền công dân là trái Hiến pháp.

“ Đấy là nỗi hoảng sợ lớn nhất của chính quyền và họ cứ kéo dài mãi chưa cho ra Luật Biểu tình. Tôi nghĩ không chỉ có Luật Biểu tình mà những quyền tự do khác ở Việt Nam cũng thế thôi…
-Nhà báo Phạm Thành”

Theo TS Phạm Chí Dũng Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập, một tổ chức xã hội dân sự tự phát, thì Dự luật biểu tình đã bị đình hoãn nhiều lần mặc dù ngay từ năm 2011 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã xác định là cần có Luật Biểu tình để quản lý hoạt động này. Tuy nhiên, Bộ Công an là đơn vị chủ trì soạn thảo đã xin hoãn 2 lần và lần hoãn mới nhất do Bộ Tư pháp trình bày với Quốc hội là lần thứ 3. Từ Saigon, TS Phạm Chí Dũng nhận định:

“Thực ra vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau chỉ là một lý do rất là bề mặt. Lý do sâu xa thực chất ở Việt Nam có hàng triệu dân oan, hàng trăm ngàn nạn nhân về môi trường. Tất cả những thành phần như vậy họ đều muốn phản ứng đối với nhà nước về những chính sách bất cập và gây hậu quả nghiêm trọng đối với vấn đề sinh kế, mưu sinh và môi trường của họ. Thành thử không có gì ngạc nhiên việc nhà nước rất sợ những thành phần dân oan, nạn nhân môi trường hay gần đây gần đây là tiểu thương biểu tình. Nhưng mà bất chấp việc chưa có Luật Biểu tình thực ra từ mấy năm qua đã diễn ra làn sóng biểu tình liên tục ở Trung Nam Bắc. Năm 2015 vừa rồi đã chính thức hình thành phong trào cứu lấy dân oan ba miền, những người này thường xuyên kéo tới trụ sở văn phòng tiếp dân ở Ngô Thời Nhiệm Hà Nội…”

Nhà báo tự do Phạm Thành cư trú ở Hà Nội nói với chúng tôi về điều ông gọi là nỗi lo sợ của chính quyền và việc trì hoãn Luật Biểu tình trong nhiều năm qua.

“Người dân hiện nay chán ghét chế độ lắm rồi, cho nên bất kỳ một cánh cửa nào mở ra để cho người dân có chút tự do là người ta sẽ ùa lên, tập trung lực lượng để phản đối chế độ này. Đấy là nỗi hoảng sợ lớn nhất của chính quyền và họ cứ kéo dài mãi chưa cho ra Luật Biểu tình. Tôi nghĩ không chỉ có Luật Biểu tình mà những quyền tự do khác ở Việt Nam cũng thế thôi…”

Báo chí Việt Nam không có nhiều thông tin về điều gọi là những ý kiến rất khác nhau của các thành viên Chính phủ, nguyên nhân việc lùi ngày trình Dự luật Biểu tình một lần nữa. Theo báo mạng VnEconomy, Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường nêu ra vấn đề gây tranh cãi là vấn đề thẩm quyền cho đăng ký biểu tình, có cho người nước ngoài tham gia biểu tình hay không, các biện pháp bảo đảm như thế nào…

bieu-tinh-tcb-622

Biểu tình chống ông Tập Cận Bình tại Sài Gòn hôm 5/11/2015.

Báo mạng Một Thế giới trích lời ông Nguyễn Kim Khoa, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng-An ninh đề cập tới những điều gọi là nhận thức không đúng của Bộ Quốc phòng liên quan tới việc Bộ này chưa muốn có Luật Biểu tình. Theo đó Bộ Quốc phòng cho rằng, chờ khi nào Việt Nam bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự xã hội thì mới cho ra Luật Biểu tình, còn bây giờ cứ xây dựng các nghị định để quản lý.

Đại biểu Nguyễn Kim Khoa bác bỏ quan điểm của Bộ Quốc cho rằng ra Luật Biểu tình là đổi mới chính trị. Vị Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng-An ninh của Quốc hội nhấn mạnh, Luật Biểu tình là đảm bảo về quyền con người, quyền công dân ghi trong Hiến pháp chứ không phải là đổi mới chính trị. Ông Khoa cũng phản bác quan điểm của Bộ Quốc phòng đề nghị xây dựng Nghị định trước, tổng kết nghị định rồi mới xây dựng luật. Ông Khoa nhấn mạnh, Nghị định 38 về bảo vệ trật tự công cộng, cấm tụ tập đông người ban hành 2005 bây giờ đã trái với Hiến pháp.Tiếp tục làm Nghị định thì càng trái với Hiến pháp, Nghị định 38 trong đó có rất nhiều nội dung hạn chế quyền con người, quyền công dân.

Càng chế tài càng phẫn uất

Trong thể chế một đảng Cộng sản cai trị toàn dân, Luật Biểu tình dù soạn thảo cách nào cũng phải tuân theo chỉ đạo của Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng phát biểu cương lĩnh Đảng cao hơn Hiến pháp, thật khó lý giải tại sao Chính phủ lại không thể hoàn thành dự thảo Luật Biểu tình dù có toàn quyền nhào nặn nó theo đúng quan điểm Bộ Chính trị. Lý giải vấn đề này, TS Phạm Chí Dũng phát biểu:

“Trong nội bộ khi mà có những ý kiến đề nghị cứ cho ra Luật Biểu tình, thì lại có những ý kiến khác phản đối là, thứ nhất những người dân oan, những nạn nhân môi trường nói chung là những người muốn đi biểu tình, kể cả những người bị coi là thế lực thù địch sẽ mượn cớ đó để hợp thức hóa công khai hóa hoạt động của họ. Thứ hai, cho dù Luật Biểu tình có được soạn thảo theo định hướng của Đảng có nghĩa là xiết những thủ tục quan trọng nhất của Luật Biều tình. Thế nhưng cũng không thể cản nổi vì có ai nghe hay không và nếu không nghe thì làm sao để chế tài, dù Luật có thể đưa ra chế tài. Thực tế là có quá nhiều vấn đề bất cập, bất công ở Việt Nam, việc chế tài nạn nhân thì càng làm cho ngọn lửa phẫn uất của người dân tăng thêm thổi bùng lên. Như vậy càng làm cho tình hình rối ren, nghe nói Luật Biểu tình đã soạn tới lần thứ mấy chục rồi cũng như Luật về Hội nhưng mà vẫn chưa quyết định được.”

“ Thực tế là có quá nhiều vấn đề bất cập, bất công ở Việt Nam, việc chế tài nạn nhân thì càng làm cho ngọn lửa phẫn uất của người dân tăng thêm thổi bùng lên.
-TS Phạm Chí Dũng”

Trong hoàng hôn nhiệm kỳ, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng có các phát ngôn ấn tượng hết sức mạnh mẽ. Ngày 18/2/2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận Dự án Luật Báo chí, theo Thời báo Kinh tế Việt Nam, Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng phát biểu nguyên văn: “Luật không nên đem chỉ thị Bộ Chính trị ra đọc được mà phải làm theo Hiến pháp, Hiến pháp đã qui định quyền dân chủ, trong đó có quyền tự do ngôn luận của nhân dân…” Ông Nguyễn Sinh Hùng đã phát biểu như vậy khi Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông nhắc đi nhắc lại nhiều nội dung chỉ thị của Bộ Chính trị, đặc biệt quan điểm không tư nhân hóa báo chí.

Vẫn theo Thời báo Kinh tế Việt Nam, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng còn nhận xét là Dự thảo luật Báo chí mà bỏ ra ngoài không đề cập tới mạng xã hội, các trang thông tin điện tử. Trong khi trào lưu xã hội là ít mua báo in, sử dụng điện thoại cũng có thể tiếp cận thông tin. Ông Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh, dân chủ là làm cho dân mở miệng, nhưng không chỉ nói bằng miệng mà nói bằng báo cũng là quyền của dân.

Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc băn khoăn, trang thông tin điện tử có phải báo chí hay không? thậm chí cả triệu người đọc một bản tin trên đó, tại sao không quản lý bằng Luật Báo chí.

Bộ trưởng Thông tin Truyền thông Nguyễn Bắc Son giải thích, Luật Báo chí chỉ quản lý các loại báo chí, còn các loại hình thức khác thì chịu sự quản lý của Nghị định 72. Theo lời Bộ trưởng, nếu đưa trang thông tin điện tử vào Luật thì vô hình chung thừa nhận truyền thông xã hội là báo chí.

Nhận định về những vấn đề vừa nêu, nhà báo tự do Phạm Thành từ Hà Nội phát biểu:

“Hiện nay báo chí tư nhân mặc dù nhà nước không cho thành lập, nhưng báo chí tư nhân tràn ngập. Thí dụ mỗi một ông chủ facebook, một chủ blog là một tờ báo tư nhân. Trên thực tế những tờ báo đó vẫn hoạt động công khai, tác động dư luận hướng dẫn dư luận cũng làm vai trò thực như báo chí như của bên lề phải quản lý. Thế thì ông Bắc Son không nhìn thấy thực tế đó mà ông ấy cứ tưởng rằng chỉ có báo chí nhà nước mới làm chức năng thông tin, hướng dẫn dư luận, tổ chức quần chúng…trên thực tế bây giờ mấy triệu facebook, hàng chục trang blog cá nhân, nhà nước muốn dẹp cũng không dẹp được…”

TS Phạm Chí Dũng trình bày ý kiến của ông về việc bùng nổ Internet và mạng xã hội làm cho chính quyền bối rối và hầu như bó tay trong việc quản lý. Theo lời ông một nửa dân số Việt Nam sử dụng Internet kèm theo sự phát triển nhanh chóng các mạng xã hội. Ông nói:

“Từ năm 2013 khi Nghị định 72 ra đời để quản lý các trang thông tin điện tử cho tới nay có thể nói hiệu suất quản lý của Bộ Thông tin Truyền thông là rất thấp, chỉ đóng cửa được một số trang thông tin điện tử liên quan đến báo chí nhà nước. Còn đối với mạng xã hội hay những trang thông tin nhà nước coi là lề trái thì hoàn toàn không thể can thiệp được…tình hình càng vượt ra khỏi tầm kiềm soát khi chứng kiến Đại hội 12 từ Hội nghị Trung ương 10 trở đi, mạng xã hội đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, chẳng hạn trang Ba Sàm nơi hội tụ những luồng tư tưởng trái ngược trong đó để xung đột lẫn chia sẻ với nhau và các phe phái được cho là đã chuyển tài liệu cho trang Ba Sàm đăng… Có lẽ Bộ Thông tin Truyền thông nhận thấy là không thể quản lý được, mà đã không thể quản lý được thì có được vào Luật Báo chí thì cũng vô nghĩa…”

Theo tình hình chung người dân Việt Nam sẽ tiếp tục biểu tình bất chấp Nghị định 38 và khi chưa có Luật Biểu tình. Còn Luật Báo chí dù có ra đời thì rõ ràng là chỉ để quản lý truyền thông báo chí nhà nước, vì quan điểm của Bộ Chính trị là không chấp nhận báo chí tư nhân. Còn người dân thì tự xoay sở với quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận qua mạng xã hội như facebook, blog và chấp nhận mọi rủ ro có thể xảy đến.

Xây dựng tình yêu

Xây dựng tình yêu

tinh yeu

Cho tới ngày nào ta chưa yêu, chưa bắt gặp được “một nửa kia” của mình, chưa khỏa lấp mình bằng hình bóng của một ai đó, chưa được tình yêu bao phủ trọn vẹn con người, ta chưa thực sự sống. Ta sinh ra, lớn lên và trải nghiệm sự hiện hữu của mình một cách tự nhiên như dòng chảy của con nước. Và nếu chỉ như thế thôi cho đến khi ta nhắm mắt lìa đời, thì cuộc sống của ta mới nhạt nhẽo và vô vị làm sao. Có thể nói, tình yêu là gia vị giúp mang đến cho ta bao điều tuyệt mỹ. Không có nó, tất cả mọi thứ bày biện ra trước mắt ta đều bình thường và như nhau cả. Nhờ nó mà ta biết thế nào là đắng cay, thế nào là ngọt bùi, thế nào là chua chát. Phúc cho người nào sớm tìm thấy tình yêu mà Tạo Hóa dành cho mình. Người ấy như đã tìm thấy viên ngọc quý và hưởng nếm được nét lung linh của nó vào những khoảnh khắc mới nhất của cuộc đời. Người ấy không phải chịu cảnh phòng trống đơn côi, không bị những giá lạnh đêm đông đụng chạm đến. Dù cho bao nghịch cảnh có đổ ập xuống, xung quanh người vẫn tràn đầy ánh nắng mùa xuân, với bao cành hoa tươi e thẹn bên cánh bướm ve vãn. Thế nhưng, bắt gặp tình yêu là một chuyện, có giữ nó ở mãi bên mình hay không lại là chuyện khác.

Tình yêu là một món quà. Nó đích thực là một món quà vì nó là cái ta nhận lãnh, chứ không phải làm ra. Sự thực là chẳng có ai có thể bằng khả năng của mình mà “làm ra” tình yêu cho riêng mình. Họ chỉ có thể cất công lên đường tìm kiếm, rồi bất chợt một lúc nào đó, họ bắt gặp mà thôi. Có người đã ví tình yêu như một tên trộm, lẻn vào trong mình lúc nào mình chẳng biết; cho đến khi mình giật mình tỉnh giấc thì phát hiện đã bị đánh mất trái tim. Không một lý trí nào có thể trả lời được câu hỏi là tại sao mình yêu người này mà không phải yêu người khác, tại sao mình lại nhớ và mong chờ người này chứ không phải người nọ, tại sao xuất hiện trong tâm trí mình là người này chứ không phải người kia. Tình yêu là thế. Nó hành động lén lút và tấn công bất ngờ. Khi trái tim đã bị đánh cắp rồi, thì ta chỉ có thể mỉm cười và thừa nhận mình yếu đuối. Nhưng chẳng khi nào ta lại vui khi mình bị mất mát như vậy cả, vì “đánh cắp trái tim” có nghĩa là đổ đầy vào đó thần dược của Thiên Đàng.

Nhưng tình yêu không phải là cái lãnh nhận một lần cho tất cả. Tình yêu không phải là cái trơ trơ năm này qua tháng khác. Tình yêu hệt như một em bé dễ thương, nằm ngọ ngậy, khóc oe oe, đòi mẹ chăm sóc. Tình yêu hệt như cây non cần được chăm bón, tưới nước, cắt tỉa. Tình yêu cũng như chiếc bình ngọc thạch quý giá, cần được người khác nâng niu, chìu chuộng và thưởng thức nhẹ nhàng. Không chăm sóc cho tình yêu, không nâng niu tình yêu, nó sẽ lụi tàn đi, héo úa đi, chết đi ngay lập tức. Và cũng như khi nó đến, nó sẽ ra khỏi cuộc đời ta một cách âm thầm, nhưng để lại trong ta một nỗi đau vô cùng tê tái. Khi ra đi, tình yêu sẽ mang đi cùng với nó tất cả mọi sự tuyệt vời nhất của ta, chỉ “dành tặng” cho ta những vết thương rỉ máu khó có thể lành lại. Vậy nên, khi đã yêu, ta hãy chăm lo cho tình yêu bằng những lời nói dịu ngọt, bằng sự nâng đỡ chân thành, bằng những quan tâm sâu sắc. Những bữa ăn thân mật, những cánh hoa bất ngờ, những nụ cười nhẹ, cái nắm tay, một nụ hôn truyền sức sống… tất cả đều là những “lương thực” rất tốt để nuôi dưỡng tình yêu.

Một trong những nét tuyệt vời của tình yêu chính là “sự ích kỷ” của nó. Nó không thích bị chia sẻ. Nó muốn một sự trọn vẹn. Chỉ yêu một nửa thì không phải là yêu. Thậm chí, yêu đến 99% thì cũng không phải là yêu. Trái tim sẽ không thể chịu đựng nỗi khi bị chia cắt làm hai, làm ba hay làm nhiều phần. Chỉ khi nào người ta trao dâng cho nhau một trái tim nguyên vẹn, trái tim ấy mới giúp cả hai thăng tiến và hưởng nếm hương vị ngọt ngào của tình yêu. Khi đã yêu, ta muốn mình trở thành “nhất” trong mắt người yêu và người yêu của mình cũng có một ước muốn như vậy. Một con tim không thể cùng một lúc trao cho nhiều người được. Khi trao con tim mình cho ai, ta trao cho người ấy trọn vẹn con người mình, không để sót lại điều gì cả. Thế nhưng, có một nghịch lý thường tồn tại trong ta là ta đòi hỏi người yêu mình phải chung thủy với mình, còn mình thì lại buông thả, yêu vô tội vạ. Ta cảm thấy đau khi bị người mình yêu phản bội, nhưng ta chẳng hề nghĩ đến cảm xúc của người khác thì mình phản bội người ta. Ta cao ngạo, cho rằng mình quá tuyệt vời đến độ không thể chỉ dành cho một người, nhưng khi người kia cũng có thái độ như vậy thì ta không chấp nhận được. Ta lồng lộn lên với bao cảm giác tức tối. Để tình yêu được triển nở, ta không được phép chia đôi con tim, không được phép thả lỏng mình chiều theo những cảm xúc thấp hèn. Đó là quy luật mà ta không thể phá bỏ được. Nó đòi hỏi ta phải hy sinh rất nhiều.

Dù tình yêu đòi sự độc nhất, nhưng nó cũng không chấp nhận một sự bó buộc hay kiềm kẹp nào. Một tình yêu sẽ chết khi người ta bóp nghẽn nó trong lòng bàn tay, chứ không để cho nó tự do tung tăng bay nhảy. Một tình yêu đích thực thì không làm cho người ta mất tự do, bị tù túng, nhưng làm cho người ta thấy mình được triển nở và thành toàn một cách thật sung mãn. Hãy cố gắng vun đắp và gìn giữ tình yêu, nhưng hãy làm điều đó bằng sự chân thành, bằng con tim nồng ấm, chứ đừng bằng những thủ đoạn và những toan tính đầy ích kỷ và muốn chiếm hữu của ta. Khi một tình yêu được trao ban, nó sẽ tự tìm đường để bắt gặp một tình yêu đồng điệu khác. Ta không cần phải vẽ đường cho nó, không cần lèo lái nó theo ý muốn chủ quan của ta. Lý do là vì lý trí không thể bắt trái tim yêu hay không yêu ai được. Yêu một người, hiển nhiên là mong muốn người ấy thuộc về mình, nhưng không phải là buộc người ấy phải cắt đứt tất cả mọi tương quan và sở thích của người ấy. Yêu một người thì cũng yêu luôn tất cả những thế mạnh và điểm yếu của người ấy. Yêu một người là cùng xây đắp với nhau con đường chung để hai người cùng bước. Yêu một người tuyệt nhiên không phải là đưa người ấy vào trong vòng kiểm soát của mình. Làm như thế, tình yêu sẽ mất đi khoảng không để vùng vẫy. Khi ấy, hoặc là nó sẽ tuột khỏi bàn tay ta, hoặc là nó sẽ vỡ vụn.

Tình yêu có thể là một nguồn mang đến hạnh phúc, nhưng cũng có thể là nguyên nhân gây ra nỗi đau đến vô cùng. Nó sẽ trở thành như thế nào, là tùy thuộc ở thái độ và lối hành xử ta dành cho nó. Hỡi những ai đang yêu, hãy tạ ơn Tạo Hóa thật nhiều vì bạn đã may mắn hơn biết bao người khác. Có những người cho đến bây giờ vẫn chẳng biết thế nào là yêu. Có những người yêu mà chỉ dám giữ trong lòng, không biết làm sao để tỏ lộ. Có những người yêu mà thậm chí không thể nói ra được tiếng yêu. Có những người yêu mà biết rằng mình sẽ chẳng thể nào đưa tình yêu đi đến sự toàn vẹn. Còn các bạn, các bạn đang sở hữu trong tay mình mọi thứ và chẳng có rào cản nào cho tình yêu mà các bạn đang thụ hưởng. Hãy biết trân trọng nó, gìn giữ nó, xây đắp nó bằng sự chân thành, bằng tất cả năng lượng và sáng kiến mà bạn có thể nghĩ ra. Đừng để nó héo mòn đi chỉ vì sự ích kỷ, tính nông nỗi và sự cao ngạo của mình. Tình yêu là thế đấy: quý giá nhưng mong manh vô cùng!

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

ĂN CHAY CHỮA BỆNH THÂN XÁC VÀ TÂM HỒN

ĂN CHAY CHỮA BỆNH THÂN XÁC VÀ TÂM HỒN

(Sống Mùa Chay)

Tuyết Mai

Con người chúng ta ai thường sống trong sự hưởng thụ và chìu chuộng thân xác hay chết này không chóng thì chầy cũng sẽ nhanh chóng chết vì không biết Tiết Độ.   Dễ hiểu là vì khi chúng ta ăn nhậu quá nhiều thì nhanh mang bệnh Tiểu Đường, Cao huyết áp.   Có mỡ nhiều trong máu, trong gan, trong mọi động mạch.   Bị loét bao tử rồi dẫn đến Ung Thư và nhiều chứng bệnh lạ chết người khác mà y khoa ngày nay cũng phải bó tay chịu thua không chữa được.

Còn ai chơi bời nhiều thì bị mang những chứng bệnh Giang Mai, bệnh Liễu, HIV và có thể dẫn đến bại liệt nơi đàn ông con trai.   Nói chung là nếu chúng ta sống một cuộc sống quá buông thùa, bất cần đời, trác táng thì cái chết sẽ đến nhanh hơn vì nhiều cách chết khác nhau.

Còn về Tâm Hồn của chúng ta thì như thế nào trong một thân xác sống buông thả như thế?.   Thưa rằng một thân xác bệnh hoạn thì Tâm Hồn của một người nó cũng bị èo uột, đau bệnh làm ảnh hưởng nặng nề đến cuộc sống Tâm Linh và biến nhanh con người trở thành Vô Cảm.   Là bởi nếu Tinh Thần của một người có khoẻ là do nhờ thân xác được khoẻ mạnh.   Hay đất nước có hùng mạnh, có phú cường là do nhờ ở những thân thể cường tráng của những thanh niên, thiếu nữ.   Biết yêu, biết có trách nhiệm và bổn phận trên bản thân, gia đình, xã hội, Tổ Quốc và Giáo Hội Công Giáo.

Mà nhìn Tổ Quốc VN của ngày hôm nay thống kê cho thấy rõ rệt là số beer mà dân VN tiêu thụ hằng năm, được sắp đứng ở hàng thứ Hai so với cả Thế Giới.   Đồng thời người dân VN ngày càng mê tín dị đoan, kinh tế suy thoái, đồng tiền bị mất giá, buôn bán hàng giả nhiều hơn so với những mấy mươi thập niên trước.   Bây giờ thì mọi thức ăn đều bị tẩm độc và nước uống cũng dơ bẩn không kém do lòng tham của con người đã hãm hại, đã giết chết nhau.   Nay thì hành lý ở phi trường VN người trong nước cũng như người ngoài nước bị rạch cắp một cách công khai, thưa là bởi do ai và do đâu đã làm cho một quốc gia bị tai tiếng như thế?.

Chúng ta thử hỏi xem những tâm hồn như thế có sống tốt được hay không khi mà ngay trong gia đình là cái Lò đào tạo nhân cách và đạo đức cho con cái nhưng cái Lò ấy nay không còn nguồn khí đốt (Là Chúa Thánh Thần) để làm nung nóng lên … Nên mọi điều đẹp đẽ, tốt lành nó hóa ra nguội lạnh và đã chết từ lâu rồi, thưa có phải?.

Nhưng cũng mừng thay là ngày nay chúng ta còn có rất nhiều gia đình họ vẫn sống tốt đẹp như câu “Gần bùn mà chẳng tanh hôi mùi bùn” và mừng vui vì những gia đình ấy luôn có sự hiện diện của Thiên Chúa, của Mẹ Maria.   Họ được Thiên Chúa chúc phúc, ban bình an vì sự cố gắng sống giữ 10 Điều Răn Chúa dạy.   Cùng hiểu rằng Thiên Chúa mới là Đấng ban cho con người Hạnh Phúc đích thực.

Vì hiểu rằng Thiên Chúa mới có nguồn An Ủi, Phù Trợ và là Khiên Thuẫn chắc chắn nhất để bảo bọc cho thân xác, cho tâm hồn và cho linh hồn sống đời của con người luôn yếu đuối, nhẹ dạ và luôn phạm tội mất lòng Chúa nhưng biết kịp dừng lại ở đúng thời khắc.   Cùng hiểu rằng Người luôn gìn giữ yêu thương chúng ta ở ngay tại đời này và mãi mãi ở muôn đời sau.

Do đó mà sự Ăn Chay lại là những liều thuốc bổ chữa lành mọi bệnh tật từ trong thân xác cả đến tâm hồn của từng người chúng ta.   Hiểu được thế thì sự Ăn Chay trong suốt 40 ngày không khác nào là thời gian giúp cho hết thảy chúng ta De-toxic hay gọi là giải độc cho thân xác của chúng ta được khoẻ mạnh hơn, tinh thần được minh mẫn hơn mà phân định được đâu là điều Thiện và đâu là điều Ác để chúng ta con cái Chúa được sống từng ngày một trong tình yêu Thiên Chúa và trong Ân Sủng của Người.   Amen.

Y Tá của Chúa

Tuyết Mai

20 tháng 2, 2016