Tập Cận Bình đang cưỡi cọp

Tập Cận Bình đang cưỡi cọp

Ngô Nhân Dụng –

Thứ Bảy, ngày 20 tháng 2 năm 2016


Những hành động hung hăng của cộng sản Trung Quốc trong vùng Biển Đông nước ta nhắm khích động tự ái quốc gia của dân lục địa, trong khi Tập Cận Bình đang tìm cách củng cố uy thế và quyền hành cá nhân. Ngày hôm qua, Thứ Sáu 19 tháng Hai năm 2016, Tập Cận Bình đã được Lưu Vân Sơn (Liu Yunshan, 刘云山), người đứng đầu bộ máy tuyên truyền trong Bộ Chính Trị, dẫn đi thăm báo Nhân Dân, đài truyền hình Trung Ương, và Tân Hoa Xã. Mỗi nơi này đều trương khẩu hiệu “Tuyệt đối Trung thành.”

Gần đây, Tập Cận Bình vận dụng tối đa bộ máy tuyên truyền để tăng uy thế trong lúc cố dẹp tan những thành phần đối kháng. Hồ Cẩm Đào và Giang Trạch Dân chưa bao giờ làm lộ liễu như vậy. Báo, đài Trung Cộng đã suy tôn Tập là “hạt nhân cốt lõi” của lãnh đạo; kêu gọi quân đội và quan chức phải “tuyệt đối trung thành” với “Đảng,” tức là với họ Tập. Tháng 12 năm ngoái, Tập đã tới thăm báo Quân Đội Nhân Dân, trước khi công bố kế hoạch đại cải tổ quân đội, sa thải 300 ngàn người. Tin tức tiết lộ về phiên họp Bộ Chính Trị vào cuối tháng 12 năm 2015 kể rằng Tập Cận Bình đã yêu cầu “Các thành viên Bộ Chính Trị tuân thủ đường lối của Trung Ương và trung thành với Đảng.”

Trong ba năm nắm quyền, Tập Cận Bình dần dần nắm đầu tất cả các ngành trong bộ máy cầm quyền: Đảng, Quân Ủy trung ương, Bẩy ủy ban đặc trách các vấn đề kinh tế, chính trị, ngoại giao, vân vân. Kể từ thời Mao Trạch Đông, chưa có lãnh tụ Trung Cộng nào uy quyền lớn như vậy, kể cả Đặng Tiểu Bình. Tân Hoa Xã mới nhắc lại câu của Mao Trạch Đông: “Trong đảng, trong nhà nước, trong quân đội, trong nhân dân, cả bốn phía đông, tây, nam, bắc và ở giữa, tất cả phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.”

Trong một tháng qua, một nửa lãnh tụ ở các tỉnh đã công khai thề “tự nguyện trung thành bảo vệ chính sách căn cốt của Tổng bí thư Tập Cận Bình!” Đây là một hiện tượng hiếm hoi, từ những năm sau cùng của Mao Trạch Đông bây giờ mới lại thấy.

Tin tức trong cuộc họp mật của Bộ Chính Trị mà lại tiết lộ là điều hiếm khi xẩy ra, chứng tỏ thế lực của Tập Cận Bình chưa vững, vẫn cần đề cao uy thế cá nhân. Dùng guồng máy tuyên truyền để củng cố uy quyền cho thấy Tập Cận Bình biết mình đang ngồi trên lưng cọp, không biết lúc nào có thể ngã rồi bị cọp ăn thịt. Con cọp đó là kế hoạch cải tổ cơ cấu kinh tế.

Trung Cộng biết cần phải thay đổi. Nếu không thì kinh tế sẽ ngày càng lụn bại sau khi đã vận dụng đã hết khả năng của các chính sách cũ: Chú trọng đến tỷ lệ tăng trưởng cao; đặt trọng tâm vào xuất cảng, đổ tiền đầu tư vào xây dựng, ngân hàng nhà nước nuôi dưỡng các xí nghiệp quốc doanh. Hai năm nay họ đã chấp nhận tỷ lệ tăng trưởng thấp; tìm cách hướng vào tiêu thụ nội địa; giảm bớt vai trò nhà nước để thị trường quyết định nhiều hơn. Việc cải tổ chắc chắn bị các cán bộ từ trên xuống dưới cản trở và chống đối ngầm, vì đụng tới những quyền lợi họ đang được hưởng. Vì thế, Tập Cận Bình cần phải thâu tóm quyền hành, dẹp hết các phe nhóm trong đảng có khả năng thay thế mình, dọa các cán bộ còn lại bằng cái máy chém “chống tham nhũng.” Cần phải “thống nhất sơn hà” mới có thể tiến hành một chương trình cải tổ chắc chắn sẽ gây nhiều xáo trộn.

Đó là một “thế cưỡi cọp.” Nếu việc cải tổ sẽ tiến hành chậm và có lúc vấp ngã, con cọp sẽ lồng lên, hất thằng cưỡi cọp xuống. Mà công việc chuyển hướng cơ cấu kinh tế không thể tiên đoán sẽ gây ra những hậu quả như thế nào. Tỷ lệ tăng trưởng đã xuống 6.9%, thấp nhất trong một phần tư thế kỷ (Trong thực tế, con số đúng là 3% đến 4%).

Trong năm 2015 uy tín Cộng sản Trung Quốc xuống rất thấp, ở trong nước cũng như bên ngoài, vì mấy lần đổ hàng tỉ đô la cố nâng giá thị trường chứng khoán nhưng thất bại. Việc phá giá đồng nguyên vụng về trong cùng thời gian đó khiến thị trường càng mất tin tưởng.

Một hình ảnh tiêu biểu cho cái lưng con cọp bấp bênh là chính sách tiền tệ của tập đoàn lãnh đạo.  Hiện nay, họ đang lo lắng trước mối đe dọa “giảm phát” (deflation), khi các nhà sản xuất và bán hàng hạ giá đồng loạt để cạnh tranh. Giá cả xuống sẽ khiến người tiêu thụ ngưng mua hàng, để chờ giá xuống thêm; nhà sản xuất thấy khó bán hàng sẽ hạ giá xuống nhiều hơn; tạo một cái vòng luẩn quẩn.

Để giữ mức lạm phát không xuống quá thấp, Ngân hàng trung ương ở Bắc Kinh (tên chính thức là Nhân Dân Ngân Hàng) đã in thêm tiền. Số tiền tệ lưu hành gia tăng 14% một năm, gấp đôi tỷ lệ tăng trưởng kinh tế chính thức. Họ theo đúng từng chữ trong “sách vỡ lòng” kinh tế học: Khi nhiều đồng tiền cùng đuổi theo một số hàng hóa thì giá cả sẽ tăng. Giá tăng, sẽ không lo giảm phát.

Nhưng đây có phải là cách điều hành kinh tế đúng nhất hay không? Nếu ở trên đời này cứ việc in thêm thật nhiều tiền, mà đồng tiền vẫn giữ nguyên được giá trị, thì người ta có thể biến thế giới này thành cõi thiên đường rồi!

Muốn giữ giá trị đồng tiền, Nhân Dân Ngân Hàng lại đem đô la Mỹ ra mua đồng nguyên, thu bớt tiền nội địa vào. Thế ra họ vừa in thêm tiền, vừa đổ đô la ra mua, thu lại các đồng tiền đó.  Một nhà phân tích đầu tư đã ví hai hoạt động đồng thời này giống như một người vừa uống thuốc aspirin vừa uống rượu whiskey!

Đồng nguyên mất giá vì chính người dân Tàu không tin tưởng vào đồng bạc của mình. Tức là không tin tưởng vào khả năng lãnh đạo của guồng máy đảng và nhà nước. Nhiều người đã đổi đồng nguyên lấy đô la để đưa ra nước ngoài, theo nhiều ngả. Trong tháng Giêng vừa qua, số ngoại tệ dự trữ của Ngân hàng trung ương đã giảm bớt 100 tỷ đô la; sau khi đã giảm 108 tỷ trong tháng 12, 2015. Số ngoại tệ dự trữ gần 4,000 tỷ nay chỉ còn 3,200 tỷ đô la. Con số chênh lệch lớn hơn cả ngân sách quốc phòng của chính phủ Mỹ trong năm tới (600 tỷ)!

Cũng trong ngày hôm qua, 19 tháng Hai, bản báo cáo hàng tháng của Ngân hàng trung ương mới công bố đã làm cả thị trường thế giới kinh ngạc, vì nó thiếu hẳn mục tổng số ngoại tệ mua bán trong tháng Giêng vừa qua. Họ chỉ cho biết con số mua bán của riêng ngân hàng trung ương mà không nói đến các cơ sở tài chánh kinh tế khác, như thường lệ. Giới đầu tư chắc chắn sẽ tìm ra các con số bị bỏ sót, nhưng người ta tự hỏi tại sao Nhân Dân Ngân Hàng lại cố ý bỏ sót như vậy? Một lý do dễ đoán là chính quyền muốn che giấu số đô la được chuyển ra nước ngoài; một phong trào phát động mạnh từ tháng Tám năm ngoái, khi thị trường chứng khoán sụp đổ hai lần liên tiếp.

Trong khi đó, thế giới vẫn đang chờ coi bao giờ thì “quả bom nợ” Trung Quốc sẽ bùng nổ. Riêng số nợ “khó đòi” đã lên tới 5 ngàn tỷ mỹ kim, tương đương với một nửa tổng sản lượng nội địa tạo ra trong một năm. Thế giới phải lo lắng vì nếu hệ thống ngân hàng Trung Quốc sụp đổ vì các món nợ khó đòi thì ảnh hưởng dây chuyền sẽ kéo theo tất cả các nước đang buôn bán với Trung Quốc, tức là không nước nào thoát nạn!

Cho nên Tập Cận Bình phải tìm cách bảo đảm chỗ ngồi của mình còn vững dù ngồi trên lưng cọp! Trong hơn một năm nữa, Đại hội Đảng kỳ thứ 19 sẽ diễn ra, Tập Cận Bình phải xếp đặt ngay từ bây giờ. Trong đại hội sắp tới, năm trong số bẩy người Thường Vụ Bộ Chính Trị sẽ đến tuổi phải nghỉ, chỉ Tập và Thủ tướng Lý Khắc Cường được miễn. Trong số 25 người thuộc Bộ Chính Trị, còn sáu người khác sẽ phải về hưu vì quá 68 tuổi. Trong số 12 người còn lại, cuộc chạy đua vào Thường Vụ sẽ rất gay go. Chưa hết, 250 người thuộc Trung Ương Đảng cũng chạy đua vào Bộ Chính Trị.

Vì vậy, từ năm ngoái Tập Cận Bình đã nâng cao các “con gà” của mình để chuẩn bị chiếm chỗ trong hai cơ quan đầu não của đảng cộng sản. Năm 2015, họ Tập cho chánh văn phòng của mình là Lật Chiến Thư (Li Zhanshu, 栗战书) bay qua gặp Putin ở Matx Cơ Va, mặc dầu ông này không có vai trò ngoại giao nào, trong đảng cũng như nhà nước. Trong tháng Giêng năm nay, một phụ tá khác của họ Tập là Lưu Hạc (Liu He,) đã điện thoại với bộ trưởng Tài chánh Mỹ bàn chuyện giao thương, qua mặt Phó thủ tướng Uông Dương (Wang Yang, 汪洋), một người cấp bậc cao hơn. Lưu Vân Sơn, trưởng ban tuyên giáo, cũng là người đang được Tập Cận Bình nâng đỡ để chuẩn bị lên các cấp bậc cao hơn sau này.

Lưu Vân Sơn lo việc “tung hô vạn tuế” đẩy ngôi sao Tập Cận Bình trong các năm tới để nếu công việc cải tổ cơ cấu kinh tế có vấp ngã thì họ Tập vẫn ngồi vững trên lưng cọp, chờ cho tai qua nạn khỏi. Tất cả chiến dịch tô son vẽ phấn cho Tập Cận Bình chứng tỏ họ Tập chưa cảm thấy địa vị an toàn. Tuy đang nắm nhiều quyền hành trong tay, vượt qua cả Hồ Cẩm Đào lẫn Giang Trạch Dân, ít nhất ngang với Đặng Tiểu Bình, nhưng Tập Cận Bình vẫn còn lo dùng bộ máy tuyên truyền để củng cố địa vị. Nếu thực sự an tâm về chỗ ngồi của mình, chắc họ Tập sẽ dành hết thời giờ và năng lực để thúc đẩy cho việc cải tổ cơ cấu kinh tế tiến tới. Con cọp này quả thật khó điều khiển!

CHỈ TRONG THINH LẶNG

CHỈ TRONG THINH LẶNG

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Ngòi bút thiêng liêng người Bỉ, Bieke Vandekerckhove, có một sự khôn ngoan chân thành.  Những gì cô chia sẻ với chúng ta, cô không học được từ một quyển sách, hay từ mẫu gương của ai đó.  Nhưng cô học được từ một gian nan, một đau khổ độc nhất vô nhị, ngay từ tuổi 19 cô đã mắc một chứng bệnh nan y, không chỉ sớm dẫn đến cái chết mà còn tàn phá và hạ giá thân thể của cô trên đường đến cái chết.

THINH LANG

Nỗ lực đương cự với tình trạng này, đẩy cô theo nhiều hướng, ban đầu là giận dữ và vô vọng, nhưng cuối cùng đưa cô hướng về tu viện, đến với sự khôn ngoan của tu trì, và theo đường hướng đó, đi vào chiều sâu của thinh lặng, hoang mạc ẩn dấu kinh hoàng bên trong mỗi chúng ta.  Xa lánh mọi tiếng nói của thế giới, trong sự thinh lặng linh hồn của mình, trong sự hỗn loạn của cơn thịnh nộ, khắc khoải, mà cô tìm thấy sự khôn ngoan và sức mạnh, không chỉ để đương đầu với bệnh tật của mình, nhưng còn để tìm thấy một ý nghĩa và niềm vui sâu sắc hơn trong đời.

Như John Updike đã nói trong thơ, có những bí mật tránh mặt sự khỏe mạnh, và cô Vandekerckhove đã làm rõ ràng rằng, có thể khám phá những bí mật đó trong thinh lặng.  Tuy nhiên, khám phá các bí mật mà thinh lặng dạy cho chúng ta, không phải là chuyện dễ dàng gì.  Sự thinh lặng sẽ rất đáng sợ cho đến khi chưa làm bạn được với nó, và tiến trình này cũng như là băng qua hoang mạc nóng bức vậy.  Nội tâm chúng ta không dễ thanh bình, sự khắc khoải không dễ thành cô tịch, và tính khí hướng ngoại tìm sự an ủi không dễ dàng nhường đường cho sự thinh lặng.  Nhưng có một sự an bình và ý nghĩa, chỉ có thể tìm được trong hoang mạc của nội tâm hỗn loạn và thịnh nộ trong chúng ta.  Những giếng nước an ủi sâu thẳm nằm ở cuối hành trình nội tâm, qua những nóng bức, khát khô, và ngõ cụt, phải được đẩy ra qua sự kiên trì gan góc.  Và như bất kỳ hành trình anh hùng nào, nhiệm vụ của chúng ta là đừng để trái tim nhụt chí.

Và đây là những gì cô Vandekerckhove mô tả một khía cạnh trong cuộc hành trình của mình: “Tiếng nói nội tâm có thể khá nản chí.  Đây chính xác là lý do vì sao quá nhiều người chạy trốn để tìm đến với những tiếng động bên ngoài.  Họ thích có một tiếng động đổ tràn trên họ.  Nhưng nếu muốn tăng tiến đường linh hồn, bạn phải ở lại trong không gian thịnh nộ linh hồn của mình, bền gan kiên vững.  Bạn phải tiếp tục ngồi đó thinh lặng và chân thành trong sự hiện diện của Thiên Chúa cho đến khi cơn thịnh nộ lắng xuống và trái tim bạn được thanh tẩy và im tiếng.  Thinh lặng buộc chúng ta phải xem xét đường lối thực hành của con người.  Và rồi chúng ta va phải một bức tường, một đường cụt.  Cho dù xã hội có muôn ngàn cách đáp ứng cho các nhu cầu nhân sinh của chúng ta, nhưng dù có làm gì, dù có cố gắng thế nào, trong chúng ta vẫn tiếp tục cảm nhận một mất mát và ghẻ lạnh.  Thinh lặng đối đầu với chúng ta trong một vực thẳm không đáy, và dường như không có lối thoát.  Chúng ta không có chọn lựa nào khác ngoài chung vai sát cánh với chiều sâu lòng đạo trong mình.”

Đây là một sự thật thâm thúy:  Thinh lặng đối đầu với chúng ta trong một vực thẳm không đáy và chúng ta không còn chọn lựa nào khác ngoài chung vai sát cánh với chiều sâu lòng đạo trong mình.  Đáng buồn thay, hầu hết chúng ta chỉ học được điều này qua một sự cưỡng bách cay đắng khi thực sự đối mặt với cái chết của chính mình.  Khi bơ vơ trong cơn hấp hối, không còn bất kỳ chọn lựa và lối thoát nào, thì dù cho vật vã và cay đắng, nhưng theo lời Karl Rahner, chúng ta phải để mình chìm trong sự không thể hiểu thấu của Thiên Chúa.  Hơn nữa, trước khi quy phục như thế, đời sống chúng ta sẽ luôn vẫn bất ổn và hoang mang, và sẽ luôn luôn có các góc tối nội tâm khiến chúng ta kinh sợ.

Nhưng hành trình đi vào thinh lặng có thể đưa chúng ta ra khỏi những nỗi sợ tăm tối và chiếu ánh sáng chữa lành lên những góc tối nhất của mình.  Nhưng, như Vandekerckhove và các tác giả thiêng liêng khác đã chỉ ra, thì sự bình an này chỉ tìm được sau khi chúng ta đạt đến một ngõ cụt, bế tắc không lối thoát, nơi mà điều duy nhất có thể làm là lao đầu vào tiêu cực.

Trong quyển sách Vị của Thinh lặng, Vandekerckhove kể lại một người bạn duy tâm của mình chia sẻ với cô giấc mơ được ra khỏi bản thân mà đi vào một hoang mạc nào đó nhằm khám phá đường thiêng liêng.  Phản ứng tức thời của cô không hẳn làm anh ấy vui lòng gì: “Con người ta sẵn sàng đi vào bất kỳ hoang mạc nào.  Người ta sẵn sàng đến bất kỳ nơi đâu, miễn sao đó không phải là hoang mạc của chính mình.”  Thật đúng.  Chúng ta luôn mãi thèm khát những hoang mạc tư tưởng mà chối bỏ hoang mạc của chính mình.

Hành trình thiêng liêng, cuộc hành hương, mà chúng ta cần phải làm nhất, nó không cần đến vé máy bay đâu.  Chuyến đi đáng giá nhất cho linh hồn mà chúng ta có thể thực hiện, chính là chuyến hành hương nội tâm, đi vào trong hoang mạc thinh lặng của mình.

Là con người, chúng ta mang tính xã hội trong cấu thể.  Điều này nghĩa là, “không tốt nếu để con người một mình.” Chúng ta được định sống trong sự thông hiệp với người khác.  Thiên đàng sẽ là một cảm nghiệm thông hiệp, nhưng trên đường đến đó, có một việc làm nội tâm nhất định mà chúng ta phải và chỉ có thể làm một mình, tránh xa mọi tiếng động của thế giới.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

XIN ĐỂ THÊM MỘT THỜI HẠN

XIN ĐỂ THÊM MỘT THỜI HẠN

 LM Giuse Nguyễn Hữu An

Nhìn lên trần nhà đầy mạng nhện đeo bám, càng tối càng không thấy, nhưng khi nhìn gần, nhìn có ánh sáng soi chiếu sẽ thấy rõ cả những nhện con, những mạng lưới chằng chịt.  Tâm hồn con người cũng như thế, sống trong bóng tối thì không thấy mình tội lỗi, trái lại khi sống trong ánh sáng lại biết mình là tội nhân.

Môisen, có một lần lùa đàn cừu tận núi Khoreb, bỗng nhiên ông nhìn thấy một quang cảnh hùng vĩ: bụi gai bốc cháy mà không bị thiêu rụi.  Trước Thiên Chúa thánh thiện, Môisen thấy mình nhỏ bé, tội lỗi (Xh. 3, 1-5).

Phêrô, trước mẻ cá lạ lùng cũng thấy mình yếu hèn, bất xứng, liền nói với Chúa Giêsu: Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là người tội lỗi (Lc 5, 8).

Trước Thiên Chúa là Đấng Thánh, Chí Thánh, Ngàn Trùng Chí Thánh, con người chỉ là tội nhân cần đến lòng thương xót của Người.  Vì thế mỗi người luôn cần đến sám hối và hoán cải.

Tin mừng Chúa nhật hôm nay kể câu chuyện: Nhân sự kiện hai vụ án Philatô giết người vô tội và tháp Silôa đổ xuống đè chết 18 người, Chúa Giêsu cảnh tỉnh: nếu các ngươi không sám hối thì cũng bị chết như vậy (Lc 13:3-5).

Người đời thường nghĩ rằng: những kẻ bị tật nguyền, những ai bị tai hoạ là bởi tội của họ hoặc do tiên nhân để lại.  Họ đã đau khổ lại càng đau khổ hơn bởi quan niệm sai lầm này. Trong thực tế mọi người phải chấp nhận giới hạn của mình và hậu quả do mình gây nên hay vì sự liên đới nào đó do người khác mang lại.  Chẳng hạn, hai tai nạn Chúa Giêsu đưa ra trong trong đoạn Tin mừng đều có nguyên nhân của nó.  Philatô cần có tiền để xây dựng hệ thống dẫn nước đem lại lợi ích cho toàn dân.  Vì thiếu tiền nên đã vào đền thờ quyên góp.  Nhóm cực hữu cho hành động này là xúc phạm sự thánh nên trang bị khí giới để chống đối và bảo vệ đền thờ.  Thấy thế Philatô ra lệnh giết chết họ trong đền thờ.  Hành động của họ dù với mục đích tốt nhưng lại thiếu khôn ngoan nên họ đã bị thiệt mạng.  Vụ án mạng tháp Silôa sập đè chết 18 người vì lý do thiếu kỷ thuật trong việc xây cất.  Vụ này cũng như vụ việc cầu Văn Thánh rạn nứt hay các công trình xây cất hiện nay bị xuống cấp mau chóng là do bớt xén vật liệu, làm dối làm ẩu.

Những tai họa đều có nguyên nhân của nó, hoặc là do mình, hoặc là do người khác.  Những người Do thái nghĩ là do có tội nên Chúa phạt họ, còn mình vô tội thì được bình yên. Điều này đưa đến sự an toàn giả tạo.  Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh rằng mọi người đều là tội nhân nên cần phải sám hối ăn năn.  Lúc sống yên lành là lúc cần hoán cải.  Cây vả trong dụ ngôn cũng ở trong tình trạng an toàn.  Cây vả không cho trái độc, không làm hại cây khác, không phá cảnh quang.  Nó chỉ có tội làm hại đất, sử dụng đất màu mỡ mà không cho trái. Nhiều người cũng cảm thấy an toàn như cây vả.  Tự hào vì mình không làm điều xấu, chẳng làm hại ai.  Thế nhưng họ lại quên rằng mình đã phạm tội không làm điều tốt, những điều tốt có thể làm được và phải làm.  Nhiều người thường tự hỏi: tại sao người tốt cần phải hối cải? Tôi là người thường đọc kinh dự lễ rước lễ, không làm điều xấu hại ai, tại sao tôi phải ăn năn sám hối?  Sống đạo không phải chỉ lo tránh tội mà còn là gieo trồng cái tốt, cái thiện.

Có câu chuyện kể của ông chủ tiệm đồ cổ.  Vào một đêm đông, trời đã khuya, bão tuyết rơi lạnh lẽo, gió thổi mạnh rít từng cơn.  Bỗng dưng có tiếng gõ cửa.  Ông chủ cảm thấy khó chịu vì bị quấy rầy giữa đên khuya.  Khi cánh cửa vừa mở, một người thanh niên dáng bụi đời đang run rẩy với một bàn tay xoè ra van xin, một bàn tay đỡ cây gậy trên vai treo ít đồ đạc cá nhân.  Thấy hoàn cảnh đáng thương, ông chủ đưa tay với lấy ít bánh mì, vài đồng bạc lẻ trao cho hành khách.  Nhận được của bố thí, người thanh niên quay gót trở đi không nói lời cám ơn giã từ.  Khi đó chợt một ý tưởng đến trong đầu ông chủ nhà là nên mời người đó vào nghỉ đỡ một đêm, nhà vẫn còn phòng khách trống, còn chăn nệm ấm êm.  Tuy nhiên ông lại nghĩ nếu để cho người này ở lại thì căn nhà sạch sẽ của mình sẽ bị ẩm ướt, bị dơ bẩn.  Thế rồi ông vội vàng đóng kín cửa.  Hai ngày sau, có người thợ đem đến một cây gậy làm bằng gỗ quý. Khi đã thương lượng giá cả, người bán gậy cho biết, anh ta là người thợ chuyên đào mộ ở nghĩa trang.  Anh vừa chôn một người thanh niên mới chết, người thanh niên này vô gia cư, không tiền bạc, không người thân.  Tài sản anh ta chỉ là cây gậy, người thanh niên chết vì bị lạnh cóng, máu đông lại khi ngủ trên tuyết.  Nghe đến đây ông chủ tiệm cảm thấy hối hận và xấu hổ.  Ông hối hận không phải vì đã làm điều xấu mà vì điều tốt ông có thể làm cho người thanh niên nhưng ông đã không làm khiến cho anh phải chết rét.  Ông chủ tiệm kết thúc câu chuyện với nỗi thao thức: điều tôi ao ước là những sự dữ chúng ta làm có lẽ Thiên Chúa sẽ tha thứ.  Nhưng những gì tốt chúng ta đã không làm sẽ mãi mãi không được tha thứ.

Đó cũng chính là điều Chúa Giêsu muốn nói qua dụ ngôn cây vả.  Mục đích cây vả là sinh trái.  Người chủ vườn thất vọng không phải là cây vả sinh trái xấu, trái độc, trái chua mà là cây vả không sinh trái tốt.  Cứ để thêm một năm chăm bón vun xới may ra cây vả sinh hoa trái.  Chúa mời gọi thời gian sám hối hoán cải.  Lời mời gọi sám hối không chỉ là lời mời gọi xa tránh sự dữ nhưng còn là lời mời gọi làm việc lành, sinh hoa trái tốt.  Bởi đó, việc sám hối liên hệ ràng buộc mọi người.  Ai cũng phải làm lành lánh dữ.  Lánh dữ, không làm điều xấu chưa đủ, từ bỏ tội lỗi chưa đủ nhưng cỏn phải tích cực thực hành những điều tốt lành nữa.

Khuynh hướng tự nhiên của con người là muốn được yên thân, an phận, không muốn làm phiền ai và cũng không muốn ai gây phiền hà cho mình.  Vì thế một người ngoan đạo có thể bị rơi vào tình trạng tự mãn, sống ích kỷ mà không hay biết.

Dụ ngôn cây vả cho ta thấy khuôn mặt Thiên Chúa. Chúa Cha là người chủ vườn kiên nhẫn: “Ðã ba năm nay…” Ngài đã nuôi bao hy vọng: “Tôi ra tìm trái mà không thấy.”  Quyết định chặt cây chỉ đến sau những lần hụt hẫng.  Ngài chỉ phạt khi đã làm đủ cách để lay động tim ta.  Chúa Giêsu là người làm vườn kiên nhẫn không kém: “Xin ông cứ để nó lại năm nay nữa.”  Ngài không ngừng ấp ủ chút hy vọng mong manh: “Tôi sẽ vun xới, bón phân, may ra sang năm nó có trái.”  Nhưng đừng quên lời đe dọa cuối cùng: “Nếu không ông chủ cứ chặt nó đi.”  Kiên nhẫn, hy vọng, chăm bón, nhưng cương quyết đòi hỏi: đó là thái độ của Thiên Chúa đối với tội nhân.  Ðức Giêsu vừa thôi thúc chúng ta mau mau hoán cải, vừa chấp nhận cho ta có thời gian trì hoãn.

Mùa chay là mùa ân sủng.  Người chủ vườn nhẫn nại và quảng đại cho cây vả thêm một năm nữa để hy vọng nó có thể sinh hoa trái.  Mỗi Mùa Chay, Thiên Chúa cho chúng ta thêm cơ hội để đổi mới con người, làm nhiều việc lành bác ái phúc đức.  Mỗi người không biết mình sẽ ra đi về với Chúa khi nào.  Mùa Chay là thời gian thuận tiện để mỗi người kiểm điểm về cây vả đời mình.  Thêm một cơ hội, thêm một kỳ hạn nữa.  Điều quan trọng là mỗi người đã làm gì với cơ hội và với kỳ hạn đó?

LM Giuse Nguyễn Hữu An

Vai trò xã hội dân sự và ứng cử viên độc lập

Vai trò xã hội dân sự và ứng cử viên độc lập

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2016-02-26

000_Hkg10247998

Các đại biểu tới dự lễ khai mạc Đại hội đảng lần 12 tại Hà Nội ngày 21 tháng 1 năm 2016.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Xã hội dân sự là các hội nhóm dân sự góp phần tạo dựng đời sống xã hội thăng tiến qua việc xây dựng, thúc đẩy tiến trình dân chủ mà một trong những hình thái quan trọng nhất là ứng cử và bầu cử. Tại Việt Nam trước phong trào tự ứng cử trong thời gian qua chuẩn bị cho cuộc bầu cử Quốc hội vào tháng 5 sắp tới, vai trò của các hội nhóm xã hội dân sự hiện nay còn quá rời rạc và thiếu sự phối hợp với nhau khiến sức mạnh tập thể không phát huy được để có thể hổ trợ hữu hiệu phong trào này.

Báo Quân đội Nhân dân số ra ngày 22 tháng 2 có bài viết: “Cần tỉnh táo trước những thủ đoạn phá hoại cuộc bầu cử Quốc hội khóa XIV” tập trung lên án các cá nhân tự ứng cử vào quốc hội khóa này. Với những lập luận quen thuộc tờ báo nhắc lại “việc lựa chọn, giới thiệu người ứng cử và tự ứng cử phải bảo đảm theo đúng quy trình, trong đó phải bảo đảm việc tổ chức hiệp thương giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội theo đúng quy định của pháp luật”

Lập luận trên cho thấy tờ báo Đảng đã tỏ ra lo ngại về phong trào người dân tự ứng cử ngày một nghiêm túc và bài bản hơn mặc dù ai trong số những người tự ứng cử cũng biết chắc một điều khó mà qua được ba cửa ải hiệp thương để có tên trên lá phiếu cử tri. Lo ngại này cho thấy phong trào nói không với chính sách Đảng cử dân bầu tuy còn yếu ớt nhưng đã thành hình một cách rõ nét trong một bộ phận người dân, bắt đầu từ xã hội dân sự, nơi tập hợp những con người cùng chung mục đích.

TS kinh tế Phạm Chí Dũng, một nhà báo tự do trong Hội nhà báo độc lập Việt Nam cho biết nhận xét của ông về khó khăn và thuận lợi của người ứng cử độc lập qua hệ thống mạng xã hội, ông nói:

Hiện nay các nhóm ứng cử viên độc lập không có truyền thông nhà nước mà họ chỉ có truyền thông mạng xã hội hay là nói nôm na là truyền thông lề dân. Nhưng dù sao thì nó cũng phản ảnh một phần cái ưu thế của truyền thông độc lập. Chúng ta cũng nên tận dụng cái ưu thế trước, trong, và sau đại hội 12 thì mạng xã hội đã chiếm một vai trò nổi bật không ngờ tới và thậm chí một số phe phái trong đảng đã phải dùng mạng xã hội để tung ra các đòn triệt hạ lẫn nhau.

Từ đó vai trò của mạng xã hội không chỉ trong việc ủng hộ cho các nhóm ứng cử viên độc lập mà còn giúp cho về mặt truyền thông và làm cho anh chị em ứng viên độc lập được nhiều người biết tới.

Vai trò của xã hội dân sự có lẽ đậm nét nhất trong việc cáo giác vi phạm luật ứng cử và bầu cử cho cộng đồng. Trường hợp của Mục sư Nguyễn Trung Tôn là điển hình cho hành vi cưỡng bức có chủ đích ngăn cản người tự ứng cử, Mục Sư Nguyễn Trung Tôn kể lại việc ông nộp đơn tự ứng cử mới đây:

Hai nhân viên đem hồ sơ lại và nói lãnh đạo không ký vì hồ sơ anh khai lý lịch như vậy không được. Cái mẫu lý lịch không phải mẫu này mà anh ra ngoài chợ anh mua mới được. Khai lý lịch thì khai tôn giáo: không, đừng khai là Tin lành đừng khai là mục sư khia lý lịch đơn giản thì bọn em xác nhận. Còn cái đơn xin ứng cử thì nói thật với anh là theo quy định thì phải tốt nghiệp đại học mới được.

“ Nếu như có bị chính quyền tổ chức những thủ đoạn, kỹ thuật chơi xấu thì truyền thông độc lập cần lên tiếng ngay để bảo vệ.
– TS Phạm Chí Dũng “

Ông Nguyễn Huy Vũ, người có nhiều bài viết đóng góp cho phong trào tự ứng cử cho biết nhân xét của ông:

Lực lượng ứng cử tự do hiện nay ngoài những vấn đề những khó khăn về truyển thông, về cơ chế, về tổ chức thì cái rào cản lớn nhất hiện nay họ chưa được sự ủng hộ rộng rãi của các trí thức lớn của chế độ. Nếu họ có được một sự ủng hộ rộng rãi và vận động ủng hộ của các trí thức nhằm đòi hỏi một cuộc bầu cử nghiêm túc và ủng hộ họ ra ứng cử thì tôi nghĩ tình hình nó sẽ thay đổi nhanh chóng bởi vì tiếng nói của trí thức lớn của chế độ sẽ giúp lập ra tính chính danh của phong trào tự ứng cử. Dù sao nó chỉ đòi hỏi một cái quyền bầu cử và ứng cử vốn đã được hiến đinh trong hiến pháp Việt Nam.

Khi người ta thấy được rằng ra ứng cử và được sự ủng hộ có tính chính danh của xã hội thì sẽ có nhiều người ra ứng cử hơn và lúc đó nó sẽ phá vỡ cơ chế hiện nay. Cho nên cái điểm mấu chốt nhất hiện nay giúp cho phong trào là có được sự ũng hộ rộng rãi hơn và lên tiếng mạnh mẽ hơn của các trí thức lớn trong chế độ.

Vai trò của truyền thông độc lập

Sự ủng hộ của xã hội dân sự quan trọng như vậy nhưng khó mà tập trung trong hoàn cảnh hiện nay. Tuy nhiên nếu kết hợp được với truyền thông ngoài luồng thì vẫn có thể đánh động được quần chúng, ông Phạm Bá Hải, điều phối viên của hội Cựu tù nhân lương tâm cho biết:

Xã hội dân sự người ta có thể đóng vai trò cử tri để ủng hộ ứng cử viên độc lập. Những người mà chúng ta ủng hộ họ rất cô đơn vì hệ thống truyền thông là lực lượng của nhà nước đều bị kiểm soát cả. Các tổ chức xã hội dân sự chúng ta nên vận động những thành viên và dùng truyền thông để ủng hộ cổ xúy cho các quan điềm của ứng cử viên tạo nên cái lực truyền thông để dân chúng người ta biết quan điểm là lập trường xây dựng đất nước của ứng cử viên nhằm tác động vào quần chúng nói chung và đất nước.

TS Phạm Chí Dũng cũng cùng chung quan điểm về truyền thông mạng, một kênh quan trọng bậc nhất hiện nay đối với xã hội dân sự:

Với tình hình một nửa dân số Việt Nam đang có Internet mà trong đó có khoản 10 % quan tâm đến vấn đề dân chủ nhân quyền thì tôi hy vọng rằng trong số 10 % đó, khoảng gần 5 triệu người Việt Nam họ sẽ quan tâm tới vấn đề ứng cử viên độc lập và nó có lợi ích thế nào đối với quốc hội Việt Nam, đối với việc cải cách Việt Nam trong tương lai và họ sẽ ủng hộ một phần cho ứng cử viên độc lập.

Tôi nghĩ rằng đó là những vấn đề chính ngay trước mắt mà giới truyền thông, giới luật sư cũng như các ứng cử viên độc lập cần phải thực hiện ngay để có thể thúc đẩy quá trình ứng cử độc lập. Đồng thời một việc nữa là để đối phó với những tình huống bất trắc của các ứng cử viên độc lập thì từng ứng cử viên độc lập nên thường xuyên thông báo cho các cơ quan truyền thông độc lập về tình trạng an ninh rủi ro của mình. Nếu như có bị chính quyền tổ chức những thủ đoạn, kỹ thuật chơi xấu thì truyền thông độc lập cần lên tiếng ngay để bảo vệ.

Cho dù còn quá sơ khai và tập trung không đồng bộ, xã hội dân sự vẫn là một giải pháp cần thiết cho ứng viên độc lập vì xã hội dân sự là số đông, nếu tập trung được những khối óc và sức mạnh tập thể cũng như biết sử dụng, khai thác sức mạnh ấy thì phong trào tự ứng cử sẽ đạt được những thành công nhất định ban đầu, để từ đó làm bước đệm cho các hoạt động dân chủ sau này.

Có Những Người Chị Người Em Dễ Thương.

Có Những Người Chị Người Em Dễ Thương.

 Bút ký của : Đòan Thanh Liêm.

Tôi còn đang ở lại thành phố Denver Colorado, sau chuyến hành trình bằng xe lửa

dài trên 2,000 dặm kéo dài đúng 48 giờ liên tục, xuất phát từ thành phố Lancaster

Pennsylvania vào ngày 30 tháng Sáu, xuyên qua nhiều tiểu bang qua các thành phố

lớn như Philadelphia, Washington DC, Chicago để tới Denver vào sáng thứ Sáu

mồng 2 tháng Bảy. Đây có thể là chuyến xe lửa dài nhất mà tôi thực hiện trong

mấy năm gần đây. Tôi phải tranh thủ làm như vậy, thì mới kịp có mặt tại Denver để

tham dự đám cưới của hai người cháu gái tên là Việt Trâm và Việt Tiên gọi tôi là “

ông chú”, mà cùng được tổ chức trong cùng một ngày Thứ Bảy mồng 3 tháng Bảy.

Cha mẹ của các cháu, chính là anh chị Tống Đình Thỉnh là chủ nhân của hãng

Hương Duyên chuyên chế biến giò chả có tiếng ở Denver. Anh Thỉnh là trưởng

nam của người anh bà con của tôi. Đây cũng là một dịp Họp Mặt Đại Gia Đình của

dòng họ chúng tôi, gốc gác từ một thôn xã trong vùng đồng bằng sông Hồng, thuộc

tỉnh Nam Định Bắc phần.

Sau chuyến đi mệt nhọc này, tôi phải ở lại Denver một thời gian, vừa để gặp gỡ

hàn huyên tâm sự với bà con trong dòng họ từ nhiều nơi xa quy tụ về đây, vừa để

nghỉ ngơi tĩnh dưỡng để phục hồi sức lực hầu đi tiếp thêm vài đọan đường nữa,

trước khi về lại California với gia đình. Bài viết này, tôi đã manh nha từ lâu, chủ ý

ghi lại cái sự chăm sóc rất ư là chân tình chu đáo, mà tôi nhận được từ nơi những

người chị, người em rất mực thân thương quý mến của mình, trong chuyến đi dài

ngày của tôi vào mùa xuân và mùa hè năm 2010 này. Để quý bạn đọc tiện bề theo

dõi, tôi xin viết về các chị em người Mỹ trước, rồi sau đó sẽ viết về các chị em

người Việt của mình.

I – Các Chị Em người Mỹ.

Tôi đã có dịp viết về gia đình của Sandy và Jim Foster tại thành phố Knoxville

Tennessee, là nơi tôi thường xuyên lui tới để tham dự các khóa hội thảo quốc tế

Xây dựng Hòa bình vào các mùa hè mỗi năm. Liên tiếp trong 3 năm gần đây, mỗi

lần đến Knoxville, thì tôi thường ở với gia đình Foster. Chị Sandy lúc nào cũng lo

lắng chăm sóc chu đáo cho tôi. Đặc biệt năm nay tôi ở lại nhà anh chị đến 10 ngày,

mà lại đúng vào lúc tôi bị bệnh gout hòanh hành nơi đầu gối, khiến cho việc đi

đứng rất khó khăn, thì Sandy tìm ngay lọai thuốc giảm đau cho tôi (pain relief).

Chị lại làm món ăn có nhiều rau dành riêng cho tôi. Thấy tôi không đem theo đủ áo

ấm, chị bèn kiếm ngay cho tôi một áo len để tăng cường bảo vệ sức khỏe cho tôi.

Chị còn luôn nhắc chừng tôi là : “ Anh không được say mê công việc quá đáng,

khiến làm hại đến sức khỏe đấy !” Khi tiễn tôi ra xe để đi Indiana, chị còn gửi theo

cả một túi đày đồ ăn và trái cây, thật là tươm tất.

Chị Marylou Matteson cũng vậy. Từ 2 năm nay, anh chị rời khỏi Knoxville để tới

làm việc cho tổ chức xã hội Mennonite Central Committee (MCC) tại nơi trụ sở

chính đặt tại thành phố Akron, gần với Lancaster thuộc tiểu bang Pennsylvania. Và

vào ngày 29 tháng 6 vừa đây, tôi đã từ Philadelphia ghé tới thăm anh chị trong một

ngày. Ngay buổi chiều hôm tôi đến, Marylou đã rủ tôi cùng với anh chị và một số

gia đình bạn để đi coi trận đấu base ball (bóng chày) tại Lancaster giữa đội chủ nhà

là Lancaster Barnstormers với đội khách là Southern Maryland Blue Crabs. Đây là

lần đầu tiên tôi đi coi một trận baseball như thế này, thật là hào hứng với rất đông

khán giả tòan là dân Mỹ ở địa phương. Marylou hỏi tôi : “Anh có dự định viết bài

báo nào về trận đấu này không?” Tôi lắc đầu, nói : người Việt nam thì hiện đang

mê say theo dõi World Cup ở Nam Phi, chứ họ không có quen với lọai baseball này

đâu. Marylou là con người đôn hậu dịu dàng và có đời sống đao đức tâm linh thật

là sâu sắc. Niềm vui lớn nhất của chị hiện đặt nơi đứa cháu nội tên là Mila mới

được chừng 3 tuổi. Marylou luôn gửi email cho các bạn bè cùng khắp để trao đổi

các suy nghĩ về sinh họat thường ngày của gia đình, cũng như của đại gia đình

MCC mà hai anh chị đã dấn thân nhập cuộc với mọi công tác từ thiện nhân đạo, từ

khi đã bắt đầu bước vào tuổi cao niên. Chị luôn khích lệ, cổ võ cho công việc

nghiên cứu tìm kiếm của tôi để hòan thành cuốn sách về sự phục hồi Xã hội Dân

sự tại Đông Âu, mà tôi đã theo đuổi từ 10 năm nay. Cũng giống như Sandy, chị gói

cho tôi ít đồ ăn khô và trái cây để cho tôi ăn trên xe lửa. Chị còn cho tôi cả một

cuốn sách về suy ngẫm tâm linh để tôi mang theo đọc trên xe. Anh Matt thì nói đùa

:’ Marylou sợ anh Liêm không có gì để đọc, nên đã gửi thêm cho cuốn sách đó

đấy’. Và chúng tôi đều cười ngất lúc chia tay.

Chị bạn khác nữa là Sherry Hall, người bạn đời của Dick Hughes ở New York. Hai

anh chị có người con gái là Tara Hughes-Hall, nay đã trưởng thành và đi ở riêng để

làm việc tại Buffalo. Lần nào đến New York, thì tôi cũng đều được Dick và Sherry

rủ đi dùng bữa và đi thăm viếng nơi này, chỗ nọ. Lần này hai người rủ tôi đi xem

triển lãm tranh ảnh của nhà báo ảnh nổi danh quốc tế là Henri-Cartier Bresson

(photo-journalist) tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (MoMA = Museum of Modern

Art), do sự hướng dẫn của một người bạn, đó là Adrian Kitzinger là một trong các

tác giả của cuộc triển lãm vĩ đại này.

Khi nghe tôi nói là tôi được cho ở free tại một khách sạn tại khu thị tứ nhất của

New York là Times Square, thì Sherry cười ngất, chị bảo chỉ có Mister Liêm mới

có được một sự đãi ngộ đặc biệt như vậy (such a special treatment!). Sherry có lần

còn kể là : Trong một dịp chở cháu Trực con trai tôi ra phi trường để về lại

California, thì luýnh quýnh thế nào mà chị lại chở đến một phi trường khác. Thế

nhưng may là nhờ đi sớm, nên vẫn còn kịp thì giờ để chị có thể trở lại cho đúng

với phi trường ghi trong vé máy bay. Sherry cười ngất : Thằng cháu Trực nó chắc

không thể nào quên được cái vụ tôi chở đi lộn phi trường này đấy nhỉ. Hồi trước,

lúc cháu học về Pharmacy ở Boston, thì Trực thường về New York và ở nhà với cô

chú Dick và Sherry. Là một cô giáo, Sherry thật là dịu hiền dễ thương đối với mọi

người.

Còn riêng với tổ chức Human Rights Watch (HRW), thì ngòai chị luật sư Dinah

Pokempner ra, tôi còn thân thiết với chị Sara Colm vẫn làm việc ở Phnom Penh.

Có lần tôi đến thăm Sara ở New Orleans vào dịp chị về nghỉ tại nhà, thì Sara cũng

dẫn tôi đi ăn trưa, xong còn dẫn tôi về nhà và gặp ông xã cũng chuyên họat động

về bảo vệ môi sinh và lọai động vật hiếm quý trên thế giới. Sara làm việc âm thầm,

mà rất hiệu quả, đặc biệt trong việc bênh vực người thiểu số ở vùng cao nguyên

Việt nam sát với ranh giới Cambodia. Ngòai ra, thì mỗi khi ở thủ đô Washington,

tôi đều gặp lại chị Sophie Richardson tại văn phòng HRW ở gần khu vực Dupont

Circle. Sophie mới ngòai 30 tuổi là một chuyên gia đặc trách về khu vực Á châu

của HRW. Chị được nhiều bà con trong cộng đồng người Việt tại Washington biết

đến và mến chuộng vì sự tích cực bảo vệ nhân quyền cho Việt nam. Chị thường

hẹn tôi đến gặp bàn chuyện và đi ăn trưa luôn thể, theo lối mà người Mỹ gọi là

“working lunch”. Nói chung, thì cả ba vị nữ lưu trí thức Dinah, Sara và Sophie này

của HRW đều rất mực duyên dáng dễ thương và đều hăng say với lý tưởng tranh

đấu cho phẩm giá và quyền con người tại khắp nơi trên thế giới ngày nay vậy

II – Các Chị Em người Việt.

Trong các bài bút ký trước đây, tôi đã viết nhiều về những gia đình tại các thành

phố tôi đã đi qua, mà đã cho tôi chỗ trú ngụ cũng như cho tôi mọi thứ cần thiết cho

sự sinh họat đi lại của tôi. Vì thế ở đây, tôi chỉ xin viết thật vắn tắt về những người

chị người em, tất cả đều dễ mến dễ thương đó thôi.

Tại thành phố Houston năm nay, thì tôi ngụ tại nhà của hai anh bạn, mà đều có tên

là Bằng cả. Đó là, anh Nguyễn Công Bằng với bà xã là chị Anh Trinh, rồi đến anh

Chu Bá Bằng với bà xã là chị Ánh. Chị Anh Trinh cũng như chị Ánh đều rất sung

mến Đạo Phật, mà cả hai chị đều lo lắng chăm sóc cho tôi rất chu đáo tận tình. Chị

Ánh gợi lại cho tôi những kỷ niệm rất đẹp về anh Nguyễn Xuân Nghiên là bạn ở

cùng lều vải trên khu Khám Lớn Saigon hồi xưa với anh Bác sĩ Bằng và tôi, khi

chúng tôi mới di cư vào miền Nam năm 1954. Anh Nghiên trước 1975 là một giáo

sư dậy môn Lý Hóa có tiếng ở Saigon, nhưng sau đó anh bị tai nạn xe trên xa lộ

Biên Hòa và mất vào khỏang năm 1977. Còn chị Anh Trinh thì hay dẫn tôi đi tham

dự các buổi sinh họat cộng đồng ở Houston, mà chị thường được mời ra làm công

việc giới thiệu chương trình ( MC = emcee).

Tại vùng thủ đô Washington, thì tôi được nhiều chị lo lắng chăm sóc cho việc ăn ở

rất chu đáo, gọn gàng. Cụ thể như trường hợp của chị Lệ bà xã của nhà báo Phạm

Bá Vinh, với chị Ngọc Lan bà xã của ký giả Nguyễn Văn Khanh của Đài Á châu

Tự Do RFA, của chị Như Lan bà xã của Thẩm phán Nguyễn Văn Thành (Thành

Em, để phân biệt với vị Thẩm phán Quân sự lớn tuổi hơn, mà cũng có tên là

Nguyễn Văn Thành hiện cũng định cư tại Virginia), và của chị Trương Anh Thụy

bà xã của anh Nguyễn Huy Long.

Đặc biệt là lần nào ở Washington, thì tôi cũng đều được chị Jackie Bông giúp đỡ

cho bất kỳ việc gì tôi cần đến, điển hình như vào chiều ngày 30 tháng Sáu, tôi phải

ở lại nhà ga Union Station đến 3 giờ trong khi chờ đổi tàu khác để đi Chicago, thì

chị Jackie đã đến nhà ga gặp gỡ chuyện trò và dẫn tôi đi ăn ở Mc Donald. Chúng

tôi cùng hợp tác với nhau trong Mạng Lưới Nhân Quyền Việt nam. Và các con tôi

vẫn gọi chị là Cô Út Jackie, vì tụi chúng đọc cuốn Hồi Ký “Autumn Cloud” (Thu

Vân = Mây Mùa Thu), thì biết được cô Jackie là con út trong gia đình nhà họ Lê

với tên đày đủ là Lê Thị Thu Vân.

  • Tại thành phố Rochester NY, thì chị Dung bà xã của anh Nguyễn Xuân Sơn – bào

đệ của họa sĩ Thái Tuấn – cũng lo lắng chăm sóc cái ăn cái uống cho tôi rất chu

đáo. Cái món xôi chị gói cho tôi mang lên xe lửa để ăn dọc đường, thì thật là tuyệt

vời, đến nỗi tôi chia bớt cho cô bạn người Đức cùng ngồi chung trong một băng

ghế, thì cô bạn này hết sức khen ngợi tài nấu nướng của các bà nội trợ Việt nam.

Rồi tại thành phố Worcester MA, anh chị suôi gia Võ Hồng Phước, cũng như anh

chị Nguyễn Hữu Sơn cũng đều ân cần chăm sóc cho tôi về mọi phương diện. Và

sau cùng, tại thành phố Philadelphia PA, cô Mỹ Linh con dâu của bác Nguyễn

Ngọc Chương lại còn cung cấp thêm cho tôi cả món quà đặc sản cô mới đem từ

Việt nam về Mỹ – để tôi đem tặng cho gia đình anh chị Marylou và Matt Matteson

ở Lancaster gần đó – như tôi đã ghi ở đọan trên đây nữa.

Thật là mọi bề chu đáo gọn gàng, nhờ bàn tay khéo léo và tấm lòng quý mến yêu

thương của các người chị, người em thật là tuyệt vời – dù là người Mỹ cũng như

người Việt của tôi vậy.

Bài viết đến đây đã khá dài rồi, tôi chỉ xin tóm lược lại trong một vài dòng thật

ngắn gọn như sau. Trên bước đường rong ruổi khắp nơi trên đất Mỹ suốt trên 3

tháng trong mùa hè năm 2010 vừa qua, nhiều lúc tôi cũng thấy mệt mỏi lắm đấy

chứ, vì một phần đường xa, xe cộ lắm khi bị trục trặc và trễ giờ, và nhất là vì phải

ngồi suốt cả nhiều đêm trên xe khiến làm mất ngủ.

Nhưng đi tới nhà nào, thì tôi cũng đều gặp được sự tiếp đón ân cần chu đáo, với

tất cả tình yêu thương đầm ấm chan hòa. Nhờ vậy mà mọi sự mệt nhọc thể xác đều

tan biến đi hết, và tinh thần tôi được vỗ về an ủi, trong trạng thái lâng lâng thanh

thóat vô cùng tuyệt diệu. Đó là lý do chính yếu đã giúp cho tôi luôn giữ được sự

lạc quan thanh thản – để mà có thể tiếp tục công việc hoạt động xã hội – với tấm

lòng yêu mến thiết tha đối với cuộc đời và với niềm yêu thương nồng thắm đối với

mọi con người trong xã hội vậy./

Sơ thảo tại Denver Colorado vào Tháng Bảy 2010

Bổ túc tại Costa Mesa California vào Tháng 12 – 2011

Đòan Thanh Liêm

Đưa đầy đủ các sự kiện vào SGK Lịch sử, một việc làm cần thiết

Đưa đầy đủ các sự kiện vào SGK Lịch sử, một việc làm cần thiết

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2016-02-25

tichhopmonlicsu-622.jpg

Sách giáo khoa môn lịch sử

File photo

Your browser does not support the audio element.

Sách giáo khoa môn Lịch sử lớp 12 trước đây chỉ vẻn vẹn 11 dòng về chiến tranh Biên giới năm 1979. Song đến nay, Bộ GD&ĐT quyết định đưa vào SGK đầy đủ các vấn đề, kể cả vấn đề nhạy cảm như chiến tranh Biên giới 1979 và HS-TS… Vấn đề này có ý nghĩa như thế nào?

“Quan hệ tế nhị”

Nhiều năm nay, khác với các cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ được tuyên truyền rầm rộ, thì cuộc chiến tranh Biên giới chống quân TQ xâm lược năm 1979 được dư luận đánh giá là vấn đề tế nhị và nhạy cảm, truyền thông ít được phép nhắc đến.

Từ Hà nội, Nhà văn Phạm Viết Đào một người đã tìm hiểu và bạch hóa nhiều vấn đề “nhạy cảm” trong cuộc chiến tranh Biên giới 1979 với TQ nói với chúng tôi:

“ Quan hệ VN-TQ có những sự thật lịch sử trong chiến tranh thì có những cái đã không được bạch hóa. Đó có thể do là một chủ trương có từ trên đối với các cơ quan chức năng như tuyên giáo, báo chí… buộc phải im lặng.
-Nhà văn Phạm Viết Đào”

“Quan hệ VN-TQ có những sự thật lịch sử trong chiến tranh thì có những cái đã không được bạch hóa. Đó có thể do là một chủ trương có từ trên đối với các cơ quan chức năng như tuyên giáo, báo chí… buộc phải im lặng.”

Mới đây, GS Vũ Dương Ninh  đồng chủ biên cuốn SGK Lịch sử lớp 12 khi trả lời phỏng vấn của VnExpress đã thừa nhận, vào năm 2000, khi thảo luận vấn đề soạn SGK Lịch sử lớp 12 nên viết thế nào về những sự kiện có liên quan đến vấn đề hải đảo và biên giới giữa VN và TQ? Đã có ý kiến chỉ đạo là không viết vì khi đó ta vừa bình thường hóa quan hệ với nước bạn. Vì lý do “quan hệ tế nhị” với nước bạn nên nội dung này bị sửa đi sửa lại và rút bớt rất nhiều. Từ 4 trang xuống chỉ còn lại 11 dòng.

Việc hạn chế đưa các thông tin về các sự kiện đấu tranh bảo vệ biên giới, hải đảo vào SGK Lịch sử để giảng dạy cho học sinh, sinh viên sẽ gây ra một hậu quả khôn lường. Ông Vũ Bằng, một thầy giáo giảng dạy môn lịch sử ở Bắc ninh bày tỏ:

“Lịch sử luôn cần phải ghi lại những sự kiện khách quan đã diễn ra và có tác động lớn đến sự phát triển của đất nước. Các sự kiện lịch sử về việc đấu tranh bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, là những sự kiện rất quan trọng, không thể không được nói tới. Với tư cách một người thầy giảng dạy môn Lịch sử, tôi rất lo nếu cứ cắt xén sự kiện thế này, thế hệ sau sẽ không tiếp nhận được thông tin đúng đắn, để có định hướng rõ ràng. Sự bưng bít thông tin một cách cố ý tạo nên hậu quả nguy hiểm khôn lường.”

Theo báo Dân trí cho biết, số đông người VN hiện nay không biết về cuộc chiến Biên giới 1979, cũng như không hề biết rằng Hoàng Sa đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ năm 1974, vì không có tài liệu chính thống nào nói về việc này. Điều đó đã ảnh hưởng đến ý thức và lòng yêu nước của công dân đối với tổ quốc.

Hinh02-400.jpg

Tích hợp môn lịch sử với những môn khác trong chương trình sách giáo khoa, ảnh minh họa. Courtesy photo.

Theo báo Giáo dục, GS Vũ Dương Ninh cho rằng việc chọn lọc các sự kiện thì cuộc đấu tranh bảo vệ biên cương của tổ quốc, cả đất liền và hải đảo, đều là sự kiện rất quan trọng, không thể không nói tới. Sách giáo khoa Lịch sử phải tôn trọng sự thực khách quan này, vì thế cần phải viết các sự kiện đấu tranh bảo vệ biên cương của tổ quốc trong SGK, vì tính khách quan của lịch sử, tính giáo dục truyền thống của sử học và vì yêu cầu, đòi hỏi của xã hội.

Không thể nói rằng nếu đưa thông tin lịch sử về các sự kiện như chiến tranh biên giới 1979 sẽ ảnh hưởng tới quan hệ hữu nghị Việt – Trung. Đây là một sự nguỵ biện thiếu cơ sở. NV. Phạm Viết Đào tiếp lời:

“Họ làm như thế là họ sai quá đi chứ, nhưng rất khó hiểu là chuyện ấy họ (chính quyền) có bị TQ lũng đoạn hay không? Nhưng dù sao, việc tìm cách che dấu lịch sử như vừa qua cũng như việc sát nhập môn lịch sử vào các môn học khác là việc không thể nói là vô tình được. Mà nó phải có một sức ép nào đó đối với công tác tuyên giáo về vấn đề lịch sử. Tôi nghĩ đó phải có một âm mưu nào đấy.”

Phải tôn trọng sự thật

Sách giáo khoa Lịch sử phải tôn trọng sự thật và cần phải viết đầy đủ, trung thực các sự kiện đó, để đảm bảo tính khách quan của lịch sử, cũng như tính giáo dục truyền thống của sử học. Bản thân cuộc chiến tranh đã diễn ra như thế nào thì ta phải nói đúng như thế ấy. Thầy giáo Vũ Bằng nhận định:

“Việc bưng bít thông tin đang khiến nhiều người nghi ngại là nếu tình hình tương tự xảy ra chúng ta sẽ xử lý như thế nào?  Với học sinh, sinh viên từ chỗ không biết sẽ không phân biệt được đúng sai, từ đó các em không chuẩn bị được tinh thần cảnh giác để nhìn nhận đúng nguy cơ và sẵn sàng đứng lên bảo vệ khi đất nước có chiến tranh.”

Theo VnExpress ngày 22/2/2016, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết sách Lịch sử trong thời gian tới, Bộ GD&ĐT sẽ xem xét để đưa nội dung các cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, phía Tây Nam, hải chiến Hoàng Sa… vào sách giáo khoa sắp biên soạn với dung lượng phù hợp.

“ Với học sinh, sinh viên từ chỗ không biết sẽ không phân biệt được đúng sai, từ đó các em không chuẩn bị được tinh thần cảnh giác để nhìn nhận đúng nguy cơ và sẵn sàng đứng lên bảo vệ khi đất nước có chiến tranh.
-Thầy giáo Vũ Bằng”

Nói về ý nghĩa của quyết định này của Bộ GD&ĐT, NV. Phạm Viết Đào thấy rằng, lịch sử dẫu thế nào thì chúng ta vẫn cứ phải bạch hóa, đã là lịch sử thì không được phép thêm bớt, vì thêm là bất nhân và bớt là bất nghĩa và thế hệ này không làm thì thế hệ sau họ cũng phải làm. Ông nói:

“Song bây giờ tình thế đã thay đổi, mọi sự thật lịch sử phải được trả lại và có lẽ đã đến lúc chúng ta với TQ phải sòng phẳng với nhau, chứ không thể úp mở như ngày xưa được nữa. Đó là cái xu thế tất yếu nó buộc phải như thế thôi. Vấn đề là đến bây giờ, họ không thể lấy ta để che mặt trời mãi được nữa. Theo thông tin mới nhất là Ban Tuyên giáo đã chỉ đạo phải đưa các sự kiện lịch sử ấy vào biên soạn. Điều đó cho thấy, đã đến lúc họ phải bạch hóa các thông tin này thôi. Tôi nghĩ, chúng ta phải sòng phẳng với TQ, chứ không thể kiểu úp mở, ôm nhau như hiện nay được.”

Đây là một quyết định hợp lòng người đáng hoan nghênh, góp ý về việc biên soạn SGK Lịch sử trong thời gian tới, thầy giáo Vũ Bằng đề nghị:

“Cách viết các nội dung về chiến tranh biên giới trong sách giáo khoa phải tuân thủ tính khách quan, sự thật lịch sử nhưng phải ngắn gọn, đầy đủ bản chất, dễ hiểu và dễ nhớ. Sách giáo khoa mới, nhất thiết phải nhắc tới các sự kiện về chiến tranh bảo vệ biên giới đất liền và hải đảo. Các vấn đề như: Hải chiến Hoàng Sa năm 1974, chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc năm 1978-1979, hay trận đánh Gạc Ma bảo vệ Trường Sa năm 1988… phải được phản ảnh đầy đủ.”

Được biết từ tháng 1/2014, sau buổi làm việc với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã giao Bộ GD&ĐT và các cơ quan nghiên cứu đưa vấn đề Biển đông và chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo HS-TS vào sách giáo khoa các cấp để phổ biến tri thức lịch sử nhằm giáo dục truyền thống dân tộc và lòng yêu nước cho mọi người. Theo Bộ GD&ĐT, trong lúc chưa có bộ sách giáo khoa mới, thì Bộ khuyến khích các trường học, tổ bộ môn sử đưa nội dung trên vào bài giảng, hoặc có thể là hoạt động ngoại khóa, chuyên đề, như nhiều trường hiện nay đã làm.

Hãy trả lời đi!

Hãy trả lời đi!

 Phạm Lê Vương Các

clip_image001

Đây là Tuấn.

Tuấn tên đầy đủ là Nguyễn Mai Trung Tuấn, chuẩn bị đón sinh nhật lần thứ 16 của mình vào ngày 31/3 tới trong nhà tù tỉnh Long An.

Tuấn có một tuổi thơ đầy bất hạnh và bi hùng.

Năm lên 10 tuổi, Tuấn đã phải sống một cuộc sống bất an với một tương lai vô định đã được dự báo trước khi chủ tịch UBND huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An ra quyết định thu hồi nơi ở của gia đình Tuấn.

13 tuổi Tuấn đã phải mang biểu ngữ đi lang thang tố cáo cường quyền địa phương thu hồi đất đai bồi thường không thỏa đáng.

14 tuổi Tuấn cầm loa nói dõng dạc nói bằng tiếng Anh lẫn tiếng Việt trước ngôi chợ đông người qua lại: “Human Rights for Vietnam. Nhân quyền cho Việt Nam”.

15 tuổi Tuấn cùng gia đình lập bàn thờ trước nhà, đeo khăn tang và cầm vũ khí sẵn sàng chống trả trong tuyệt vọng để bảo vệ nơi ở của gia đình.

Rồi một ngày,

Lực lượng cưỡng chế gần 300 người hùng hậu kéo đến, Tuấn dùng nạn bắn bi, bắn từ xa uy hiếp,

Khi lực lượng cưỡng chế tiến gần hơn Tuấn dùng chai thủy tinh chứa xăng ném ra cảnh báo.

Khi lực lượng cưỡng chế vẫn quyết tâm xông vào, Tuấn sử dụng acid (của cha Tuấn hành nghề sửa xe máy, mua về trước đó một năm dùng để sạc bình ắc quy) tạt vào những người đã xông vào nhà mình.

Trưởng công an xã lãnh trọn ca acid này, bị thương tật ở lưng 35% theo cáo trạng mô tả.

Tuấn cùng những thành viên trong gia đình tham gia phản kháng bị bắt giữ ngay lúc đó, nhưng Tuấn được thả sau hai ngày bị giam giữ.

Tôi đã liên hệ với Tuấn và nói rằng:

“Nếu như em chọn sự im lặng. Tập trung học hành thì tụi nó có thể tha cho em. Còn em chọn con đường tiếp tục đấu tranh thì tụi nó sẽ bắt em lại đó”.

Tuấn cho biết: “Em đã nghỉ học trước đó rồi. Một tuần trước khi xảy ra vụ cưỡng chế em không dám đi học. Em sợ nhân lúc em đi học, tụi nó sẽ xông vào cưỡng chế”.

Tôi vẫn khuyên Tuấn hãy đi học lại vì tương lai và vì an toàn của chính em vào lúc này, thì Tuấn cho biết: “Em không sợ! Gia đình em như vậy em không còn tâm trí để đi học nữa. Em sẽ nghỉ học để đi tìm cách cứu cha mẹ em”.

Và Tuấn hành động,

Tuấn đi tìm luật sư bào chữa cho cha mẹ mình,

Tuấn tố cáo hành vi sai trái của chính quyền trên truyền thông,

Tuấn bây giờ không còn đòi nhà đòi đất, mà đòi nhân quyền, đòi những quyền căn cản của con người trong đó có quyền bất khả xâm phạm vào nơi ở và cần được bảo hộ trước sự tước đoạt tùy tiện.

Tuấn bị bắt lại khoảng hai tháng sau đó bằng một lệnh truy nã.

Buồn cười là lệnh truy nã không được công khai để quần chúng nhân dân biết, mà lại đóng dấu mật.

Bản giám định pháp y của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Long An (một cơ quan không độc lập với chính quyền) kết luận thương tích 35% cho Trưởng công an xã, để đủ để truy tố Tuấn cũng được đóng dấu mật.

Chính quyền Thạnh Hóa đem Tuấn ra tòa xử sơ thẩm vào ngày 24/11/2015.

Khi xét xử,

Tuấn bình thản,

Và bình tĩnh,

Nói năng lưu loát,

Thái độ này đã thể hiện Tuấn không còn là một đứa trẻ nữa, mà như một chiến binh được tôi luyện qua một trận đánh lớn, và như một chiến sỹ đấu tranh kiên cường thật sự.

Luật sư Mieng bào chữa, viện dẫn Công ước Quyền trẻ em của Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam đã gia nhập năm 1991 để bảo vệ Tuấn, nhưng vị Công tố đã phản bác rằng “luật sư đưa ra cái công ước quốc tế gì đó tước quyền trẻ em là không hợp lý”, cho thấy có lẽ đây là lần đầu tiên vị ấy nghe đến Công ước này trong sự nghiệp làm công tố của mình.

Tuấn bị kết án 4,6 năm tù.

Trước đó 11 thành viên gia đình và bạn bè của gia đình Tuấn bị kết án tổng cộng 33 năm tù trong vụ phản kháng này.

Tuấn nhỏ tuổi nhất, nhỏ con nhất nhưng lĩnh án nặng nhất.

Bức xúc trước một quy trình đưa Tuấn vào tù, ông Dũng Hoàng gọi điện chất vấn một trong hai người đã ký vào biên bản giám định pháp y về thương tật do Tuấn gây ra là 35% để dẫn đến việc truy tố Tuấn, thì bà bác sỹ này đã trả lời là “không biết”.

Thương cảm trước hoàn cảnh và nhận ra những sai sót trong việc kết án Tuấn, 9 luật sư cùng tham gia bào chữa miễn phí cho Tuấn ở phiên tòa phúc thẩm – một việc chưa từng có về số lượng luật sư tham gia bào chữa cho một người ở Việt Nam.

Tòa phúc thẩm Long An diễn ra vào ngày 1/2/2016 tiếp tục mắc sai sót cơ bản khi đem Tuấn ra xét xử lưu động là trái nguyên tắc luật định khi xét xử trẻ em.

Phiên tòa phúc phẩm đã hủy khi xét xử được vài tiếng vì sự phản ứng của các luật sư.

Sau đó, ngày xét xử lại được ấn định vào ngày 2/3 tới.

Cho đến lúc này Hội Bảo vệ quyền trẻ em (thuộc Bộ LĐTBXH) vẫn “im hơi lặng tiếng”, và không cử người tham gia, theo dõi phiên tòa đối với một vụ án kinh điển và được dư luận quan tâm như trường hợp của Tuấn.

Từ một đứa trẻ được thầy cô đánh giá là học khá, ngoan ngoãn, lễ phép trên ghế nhà trường đã phải bỏ học, về nhà cầm vũ khí bảo vệ nhà cửa đất đai và sau đó phải bị tù đày, lỗi tại ai?

Chính quyền được lập ra là để bảo vệ an toàn và phục vụ hạnh phúc cho người dân hay là để đưa đẩy một người dân vào thế khốn cùng, để buộc một trẻ em như Tuấn phải nổi dậy cầm vũ khí chống lại áp bức?

Thế hệ này cần trả lời cho Tuấn. Trước tiên là chính quyền huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An.

Hãy trả lời đi!

Nguồn: FB Phạm Lê Vương Các

Bao giờ mới hết ‘tháng ăn chơi’

Bao giờ mới hết ‘tháng ăn chơi’

VOA

Cao Huy Huân

24.02.2016

Một phụ nữ đang xem đèn lồng trang trí ngày Tết ở phố cổ Hà Nội, Việt Nam, ngày 6/2/2016.

Một phụ nữ đang xem đèn lồng trang trí ngày Tết ở phố cổ Hà Nội, Việt Nam, ngày 6/2/2016.

Dù đã có nhiều cảnh báo trước, nhưng lễ khai ấn Đền Trần vẫn trở thành một ngày đen tối của một sự kiện mà người dân cho rằng là chốn linh thiêng. Lúc 23h30 ngày 21-2, lễ khai ấn Đền Trần (Nam Định) kết thúc, người dân được phép vào lễ. Bất chấp sự có mặt của lực lượng an ninh canh giữ, nhiều người cố tình lao vào cướp hoa, lộc cúng ở ban thờ trước sân điện Thiên Trường. Xem mà thấy ngán ngẫm khôn cùng.

Hết thuốc chữa?

Năm ngoái, còn nhớ lễ khai ấn Đền Trần cũng trở thành thảm họa “cướp giật hợp pháp” mà bất kỳ ai, cả người nước ngoài lẫn người Việt, nhìn vào là ngán ngẫm. Không chỉ riêng lễ khai ấn mà nhiều người bạn nước ngoài của tôi cho là “lạ lùng” khi xem những bộ ảnh qua mạng, rất nhiều lễ hội khác tại Việt Nam vẫn diễn ra rải rác trong những ngày xuân đến Tết về. Có một người bạn từ Mỹ sang chơi đúng vào những ngày chuẩn bị đón Tết tâm sự trên mạng xã hội rằng nhìn người Việt chuẩn bị tết tinh tươm, chu đáo, ấm cúng và đăc sắc thấy rất thú vị và thích thú.

Nhìn những tấm ảnh về gói bánh chưng, những chiếc áo dài thướt tha đến chùa, cùng những nhánh hoa đào, hoa cúc, hoa hồng… người ta mới cảm nhận được ý nghĩa của lễ hội mà người Việt gọi là Tết. Nhưng những bức ảnh khi diễn ra các lễ hội không khỏi khiến người xem hốt hoảng và đau lòng. Rác bị vứt bừa bãi khắp mọi nơi, cây cối bị đạp nát không thương tiếc, quán nhậu mở cửa thâu đêm với những âm thanh quen thuộc nhưng ám ảnh, những trận đua xe trên các tuyến đường lớn và rộng vốn nhằm mục đích phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa đất nước, những sòng bạc tự phát mở suốt ngày đêm, và hàng ngàn thứ khác đáng than phiền.

Kinh hoàng nhất là những lễ hội mang tính tín ngưỡng. Tiền mệnh giá nhỏ, tiền lẻ được rải khắp các tuyến đường đến các chùa, suốt mọi ngỏ ngách, thậm chí trên đầu, cổ, tay, mũi,…của các tượng Phật thánh, thần linh… Nghĩ cũng lạ, người Việt đi làm vất vả thu gom từng đồng tiền lẻ; ra chợ mua con cá, bó rau vốn đã rẻ rề mà vẫn cố gắng mặc cả một vài nghìn đồng để có thể mua về những món hàng với giá hạ nhất. Thế nhưng tiền cúng thần linh, dù chẳng có thần nào dùng tiền trần thế, thì họ không hề biết tiếc, thậm chí còn tỏ ra hào phóng.

Đó là chưa kể, họ sẵn sàng đến chùa cầu bình an, hạnh phúc, với mọi lời hứa làm việc thiện, không hại người, để hưởng phước lành… nhưng cũng không ngại động tay động chân với nhau, lấn ép nhau, thậm chí đánh nhau để có thể mang về những món đồ tín ngưỡng. Nhìn lễ khai ấn Đền Trần sẽ hiểu ra điều bất cập này. Lễ dâng hương, rước kiệu ngọc và khai ấn do chính quyền Nam Định chủ trì, diễn ra tại Đền Thiên Trường, thu hút hàng chục nghìn người dân dự.

Dù là lễ hội dân gian nhưng chính quyền cũng can thiệp mạnh để mong đảm bảo an toàn. Địa điểm diễn ra chương trình được lực lượng chức năng ngăn lại để tránh dân xâm nhập từ phía bên ngoài. Nhiều người đề nghị Ban tổ chức nên đặt một màn hình ngoài cổng để người dân được xem đầy đủ nghi lễ khai ấn. Một người dân nói trên báo rằng lễ khai ấn để giáo dục con cháu biết về truyền thống cha ông, hào khí nhà Trần mà người dân không được xem đầy đủ thì có ý nghĩa gì. Không biết có phải vì cái “hào khí” đó hay không mà ngay cả khi lực lượng an ninh canh giữ, nhiều người cố tình lao vào cướp hoa, lộc cúng ở ban thờ trước sân Đền Thiên Trường, tạo thành một khung cảnh hỗn loạn chưa từng thấy. Đã vậy rất nhiều người chen chúc vào sâu trong bàn thờ, mặc sức chen lấn, xô đẩy dữ dội rồi còn la ó, chửi rủa ầm ĩ. Không biết tự hào chỗ nào khi mặc cho người khác ngất xỉu vì bị “tấn công”, nhiều người cũng cố tiến lên để chạm kiếm, đặt tiền, mặc cho cảnh sát dồn đám đông xuống phía dưới, không cho tiếp cận bàn thờ.

Ăn chơi đến cả tháng trời

Ở Mỹ và nhiều nước khác, việc đóng mừng năm mới đối với họ nhiều lắm cũng chỉ vài ba ngày đến một tuần là hết cỡ. Những nơi thật sự nghiêm khắc thì người ta chỉ nghỉ tết khoảng 3 ngày, rồi mọi thứ trở về nhịp sống cũ. Nhóm bạn tôi “ăn tết” cũng chỉ đi chơi cùng nhau vài ngày rồi trờ lại với những ngày thánh cần lao. Họ nhập cuộc mừng năm mới bằng sâm banh, thức ăn và những câu chuyện của năm cũ, những dự tính năm mới. Nói như vậy không có nghĩa họ nghèo, mà ngay khi họ là tỷ phú, họ cũng biết cân đối chuyện đi làm và giải lao.

Thế nhưng ở Việt Nam thì khác, bất chấp tình trạng nhiều người còn nghèo, làm nông là chủ yếu, nhưng “tháng giêng là tháng ăn chơi” là điều vẫn chưa thể xóa bỏ. Thật ra bạn tôi kể ở Sài Gòn, không khí Tết đến rồi đi cũng giống như nhịp sống hội nhập của vùng đất này. Nhưng ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là Hà Nội, thì quả đúng là tháng giêng là tháng ăn chơi. Mạng xã hội vẫn đều đặn hiển thị hình ảnh hết Tết cha, Tết mẹ, rồi Tết thầy, sau đó còn Tết bạn bè, bằng hữu, sếp cơ quan, đồng nghiệp,… Rồi sau đó nữa là hội, đủ thứ hội mà người ta bỏ ra cả tháng vẫn chưa đi hết được. Có người bảo rằng “mùa này đang rảnh nên làm hội”, nhưng với một đất nước tuyên bố công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì “tháng ăn chơi” đã không còn thực tế. Ấy thế nhưng họ vẫn cứ đi lễ, dự hội, chè chén và bất chấp an toàn, hao tốn, lãng phí và thiếu lành mạnh.

Nhiều lãnh đạo đơn vị nhà nước lẫn tư nhân, đặc biệt người nước ngoài, cứ hết ngày nghỉ tết là ngao ngán nhắc nhở, yêu cầu nhân viên phải quay lại ngay với công việc, nhưng thực tế không hề dễ dàng. Nhớ bài thơ mà người Việt truyền tai nhau:

“Tháng Giêng ăn Tết ở nhà,

Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè.

Tháng Tư đong đậu nấu chè,

Ăn tết Đoan Ngọ trở về tháng Năm.

Tháng Sáu buôn nhãn bán trâm,

Tháng Bảy ngày Rằm xá tội vong nhân.

Tháng Tám chơi đèn kéo quân,

Trở về tháng Chín chung chân buôn hồng.

Tháng Mười buôn thóc bán bông,

Tháng Mười Một, tháng Chạp nên công hoàn thành.”

Có nhiều phiên bản về bài thơ về “tháng ăn chơi” nói trên, nhưng một điểm chung là không thấy tháng nào người Việt nhắc nhở mình phải đi làm, ngừng ăn chơi lại. Có lẽ một phần vì thế mà người Việt nghèo hoài. Chẳng có ai lười biếng lao động, ăn chơi cả tháng trời mà trở nên giàu có. Nhiều người hiểu chuyện đến thăm Việt Nam vào dịp Tết, vài ba ngày thấy vui, nhưng rồi than thở “bao giờ mới hết tháng ăn chơi?”.

Chuyên gia chém gió: “Thà nghèo mà được an toàn”?

Chuyên gia chém gió: “Thà nghèo mà được an toàn”?

FB Trần Trung Đạo

24-2-201

Hoang Hai

“Đại ca chém gió” Hoàng Trung Hải. Nguồn ảnh: internet

Bí thư Thành ủy Hà Nội Hoàng Trung Hải phát biểu tại buổi làm việc với huyện Ba Vì sáng 23/2/2016: “Thà sống nghèo nhưng công bằng, yên bình còn hơn giàu mà bon chen, không an toàn”. Thiệt tình!

Nếu không có nguồn từ VNExpress với bài tường thuật kèm theo, thật khó tin lời phát biểu trên đây là của một trong những lãnh đạo cao cấp của đảng CSVN.

Phát biểu ngu ngơ, nói năng bừa bãi vốn là đặc điểm của các lãnh đạo CSVN nhưng khi đóng vai trò mặt nổi phải biết tập uốn lưỡi bảy lần. Nếu không tập được thì nên im lặng. Càng nói càng chứng tỏ lãnh đạo CS không hề đọc sách, chưa hề đi xa, chỉ biết thừa hưởng gia tài cai trị theo kiểu cha truyền con nối thời phong kiến.

Vì bản tin cho biết ông Hoàng Trung Hải “nhấn mạnh đến việc đảm bảo an ninh quốc phòng” chứ không chỉ nói về trộm cắp, rác rưới thôi nên tôi cũng nêu lên vài điểm về “an ninh quốc phòng”.

Vậy theo ông Hoàng Trung Hải, Việt Nam cần làm gì để bảo vệ Hà Nội trước xâm lăng quân sự của Trung Quốc, ngoài việc “thà sống nghèo” ?

Ông hãy kể giùm một nước, đâu cũng được, nước nào cũng được, nằm giữa hai thế lực thù địch mạnh nhất nhì thế giới mà lại nghèo khó nhưng vẫn được sống trong “công bằng, yên bình” ?

Nếu muốn “trừng phạt Việt Nam” hôm nay, Trung Quốc không cần phải xua vài trăm ngàn quân đi bằng ngựa, lừa như thời 1979 mà chỉ đặt vài giàn hỏa tiển từ bên kia biên giới bắn sang hay ngoài hạm đội bắn vô. Dĩ nhiên để trấn an dư luận thế giới chúng cũng sẽ tuyên bố “trừng phạt có giới hạn”. Đừng quên, Hà Nội chỉ cách biên giới Trung Việt phía Bắc 106 dặm hay 171 km. Một vài giờ thôi, Hà Nội đã tan nát rồi.

Hoàng Trung Hải nghĩ rằng khi đó Liên Hiệp Quốc, Mỹ, Nhật sẽ đến cứu Việt Nam hay những củ khoai lang, nồi cơm trắng của Việt Nam nghèo nàn như Hoàng Trung Hải khuyến khích đồng bào nên sống sẽ làm Tập Cận Bình chột dạ xót thương?

Không ai xót thương hay cứu giúp Việt Nam nếu Việt Nam không biết tự xót thương và cứu lấy chính mình. Mà muốn cứu mình Việt Nam trước hết phải có tự do, dân chủ và giàu mạnh.

Không chỉ ông bà Việt Nam mà hầu hết các nhà nghiên cứu quân sự thế giới cũng đều đồng ý “mạnh dùng sức yếu dùng chước”.

Nhiều quốc gia nhỏ giữ vững được nền độc lập vì họ biết dùng chước, dùng thế, dùng vị trí chiến lược của quốc gia mình để mặc cả với các nước lớn như trường hợp Thụy Sĩ trong Thế chiến Thứ hai hay Ai Cập trong xung đột Trung Đông. Một khi vị trí chiến lược mất đi, quốc gia đó không còn giá trị đổi chác và trở thành mồi tự do cho cả hai bên.

Một ví dụ khác. Trước Thế Chiến thứ nhất Áo là một quốc gia chiến lược trong đế quốc Áo Hung nhưng trước Thế chiến Thứ hai vị trí đó của Áo không còn nữa. Hitler chiếm Áo không tốn một viên đạn vì cả Anh, Pháp đều xem đó là phần thực tế của trật tự mới tại Âu Châu. Anh và Pháp cố gắng giữ Tiệp Khắc nhưng khi Hitler tiếp tục vẽ lại bản đồ Châu Âu, TT Anh Neville Chamberlain và TT Pháp Édouard Daladier đành nhịn nhục cho đến khi Hitler tấn công Ba Lan mở đầu thế chiến thứ hai.

Tập Cận Bình đang vẽ lại bản đồ Châu Á và Việt Nam đang nằm trên mũi bút chì của họ Tập.

Việt Nam từng là một quốc gia có vị trí chiến lược nhưng vị trí đó đang mất dần như David Brown viết trên báo Asia Sentinel “Mỹ dường như đang vẽ lại vòng an ninh chung quanh Nhật Bản, Hàn Quốc và có thể Singapore và Eo biển Malacca …” . Bên trong vòng đai an ninh đó không có Việt Nam.

Sau Thế chiến Thứ hai, Mỹ gần như độc quyền trên vùng Nam Thái Bình Dương. Vị trí đó không còn nữa. Việc TT Barack Obama yêu cầu Tập Cận Bình ngưng bành trướng Biển Đông cũng chẳng khác gì TT Neville Chamberlain yêu cầu Hitler lấy vùng Sudetenland đủ rồi đừng thôn tính hết Tiệp Khắc. Tuy nhiên, kế hoạch Châu Âu của Hitler không dừng lại ở vùng Sudetenland và tương tự kế hoạch Á Châu của Tập Cận Bình không dừng lại ở Hoàng Sa, Trường Sa.

Nếu Việt Nam tiếp tục bị cai trị bằng những người có cái đầu như Hoàng Trung Hải và nếu các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, tiếp tục bị tiêm thuốc mê “Thà sống nghèo nhưng công bằng, yên bình còn hơn giàu mà bon chen, không an toàn”, rồi đất nước sẽ tan hoang và một ngôi sao nữa gắn trên cờ Trung Quốc cũng không phải là điều ngoài tưởng tượng.

Bám Trung Cộng để bảo vệ đảng

Bám Trung Cộng để bảo vệ đảng
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Sau Ðại Hội 12 của đảng Cộng Sản Việt Nam, nhiều người đoán rằng nhóm lãnh đạo mới vốn nổi tiếng thân Trung Cộng thì họ sẽ không cần phải bày tỏ thái độ quá khúm núm trước các “đồng chí anh em” nữa vì tất cả đã được Bắc Kinh chuẩn y rồi. Thỉnh thoảng cứ cho dân Việt được kêu la khóc lóc chống đế quốc xâm lược, không cần phải đàn áp nặng nề. Miễn là những món dâng lên các “đồng chí anh em” ăn miếng nào ra miếng nấy, là “hẩu lớ!”

Cho nên trong ngày 17 Tháng Hai năm 2016 vừa qua ở Hà Nội, buổi lễ tưởng niệm 60,000 đồng bào và tử sĩ bị quân Trung Cộng tàn sát trong cuộc chiến tranh Trung-Việt năm 1979 không bị phá. Phản ứng của chính quyền Cộng Sản khác hẳn hai năm trước. Ngày 16 Tháng Hai năm 2014, không những công an cộng sản ngăn chặn những người muốn đi dự lễ tưởng niệm từ lúc mới bước chân ra cửa nhà, mà còn xua công an côn đồ trai gái tới “nhảy múa” ngay tại chỗ trong giờ hành lễ. Nhảy múa trên xác chết là một cách chửi thề: “Chúng mày muốn lễ hả? Bà múa cho mày mở mắt ra! Lễ cái này này!”

Năm 2014, đảng Cộng Sản cố ý “chửi cha đồng bào và các chiến sĩ.” Vì đám công an côn đồ phát ra một bài hát Tầu để nhảy theo điệu nhạc Cha cha cha! Giáo Sư Nguyễn Huệ Chi tiết lộ điệu nhạc cổ này có tên “Trung Quốc cáp cáp” (中國恰恰).  Lời ca Tàu dịch sang tiếng Việt khoe rằng: “Cha cha cha / Cô gái Trung Quốc xinh đẹp như đóa hoa / Cô nương có đôi môi hồng tươi / Chính lúc nàng ngoảnh lại cất tiếng vui tươi / cha cha cha / Là lúc tiết trời hoan lạc / Chính lúc nàng ngoảnh lại cất tiếng vui tươi/ cha cha cha…” Những người không biết tiếng Tàu cũng hiểu rằng họ chửi cha mình!

Năm nay Ðảng không “chửi cha” đồng bào Hà Nội nữa. Ông Nguyễn Phú Trọng có thể xoa bụng tự khen: “Ðấy nhé, đứa nào dám bảo tớ thần phục Trung Quốc?”

Nhưng trong tuần trước, lễ tưởng niệm được nhiều người dân Sài Gòn tổ chức thì công an vẫn tới từng nhà ngăn chặn và đánh phá cuộc lễ. Những bông hoa dâng cúng bị đám côn đồ đạp nát dưới chân. Tại sao lại phân biệt đối xử như vậy? Có lẽ bởi vì ông Ðinh La Thăng, mới nhậm chức thành ủy, rất táo bạo. Khi làm bộ trưởng Giao Thông Vận Tải ông đã từng ra lệnh đốt hết những chiếc xe gắn máy chạy đua “cho chúng nó hết đua!” Phải bao nhiêu người can ông mới tha. Hoặc vì ông biết dân Sài Gòn “khó dạy” hơn dân Hà Nội; cho nên cứ cấm tiệt cho xong chuyện.

Ở Hà Nội, ông Nguyễn Phú Trọng có thể yên tâm cho người ta đi thắp hương khấn vái các tử sĩ và đồng bào chết oan trong cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 vì biết rằng mấy nén hương thắp lên rồi cũng tàn, đâu lại vào đó, tượng đài Lý Thái Tổ mai mốt lại chỉ còn “rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.” Ngay những tấm bia tưởng niệm các liệt sĩ, kể cả bia ghi công “Sư Ðoàn 33 đánh bại và chặn đứng quân Trung Quốc xâm lược” cũng bị đục bỏ tàn nhẫn, mà cả một sư đoàn cho đến dân địa phương không ai dám hó hé nói một tiếng! Dân và quân Việt Nam hiền lành, dễ bảo như vậy, các đồng chí anh em Trung Quốc không có gì phải lo!

Giới lãnh đạo Trung Nam Hải, từ Mao Trạch Ðông tới Tập Cận Bình đều rất thực tế. Họ cần kết quả cụ thể, chứ không phải chỉ muốn nghe nịnh hót, mặc dầu có nịnh hót thì vẫn hơn. Năm 1950 khi tiễn phái đoàn các cố vấn Trung Cộng qua chỉ đạo Cộng Sản Việt Nam, Mao Trạch Ðông đã nhắc nhở họ hãy nhớ chuyện Mã Viện đánh Hai Bà Trưng ở nước ta. Ông ta dặn dò các cố vấn giữ ý tứ, đừng khiêu khích tự ái dân tộc của người Việt. Ðám cố vấn này, mỗi khi khuyến cáo mà quân đội Việt Minh không nghe đều phải làm áp lực qua Hồ Chí Minh mới được toại ý. Năm 1951, Hồ Chí Minh gặp Mao đã phải lên tiếng xin Mao chỉ thị cho cố vấn La Quý Ba hãy đáp ứng lời mời đến dự các phiên họp của Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam. Mao đã cho Hồ được thỏa mãn! Chẳng khác nào triều đình Huế mời viên công sứ Pháp dự các phiên họp của cơ mật viện!

Theo đúng tấm gương này, đáng lẽ bây giờ ông Nguyễn Phú Trọng phải mời đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội tới dự các phiên họp Bộ Chính Trị mới xứng đáng là cháu ngoan bác Hồ! Nhưng Bắc Kinh không cần lý đến hình thức bên ngoài. Trung Cộng sẽ tiếp tục bảo vệ chế độ Cộng Sản ở Việt Nam, miễn là cứ cho họ khai thác mỏ bô xít, coi là “chiến lược lớn lâu dài của đảng và nhà nước” như lời ông Nguyễn Tấn Dũng. Miễn là Hà Nội vẫn ký hợp đồng cho người Tầu khai thác rừng Việt Nam ít nhất 50 năm. Miễn là các công ty Trung Cộng vẫn trúng hầu hết các mối thầu xây dựng. Miễn là cứ cho công nhân Trung Cộng sang làm việc không giấy phép, lập các thành phố Trung Cộng khắp ba miền Nam Trung Bắc và cao nguyên! Miễn là hải quân Việt Nam không được phép bén mảng tới gần những hòn đảo Hoàng Sa đã bị Tàu chiếm. Miễn là đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn ngậm miệng không dám thưa kiện Trung Cộng ra các tòa án quốc tế sau khi cho tầu hải giám cướp phá, giết hại các ngư dân Việt Nam.

Cộng Sản Trung Quốc có thể yên tâm cho phép dân Việt lâu lâu thắp hương tưởng niệm các tử sĩ năm 1979, năm 1988, cả những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa tử chiến ở Hoàng Sa năm 1974 cũng được. Bởi vì họ biết đảng Cộng Sản Việt Nam không thể nào rời bỏ cái “vú mẹ!” Công an an cộng sản có khẩu hiệu “Ðảng còn thì mình còn.” Các lãnh tụ Cộng Sản thì biết: “Trung Cộng còn ủng hộ thì mình mới còn!”

Vì thế, ông Phùng Quang Thanh, bộ trưởng Quốc Phòng Việt Cộng đã có lần lo lắng đến nỗi hốt hoảng nói: “Tôi thấy lo lắng lắm! Không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già đều có xu thế ghét Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng cái đó là nguy hiểm cho dân tộc.” Từ trẻ con đến người già ai cũng ghét Trung Quốc, nguy hiểm quá!

Trong một ngàn năm Bắc thuộc, chưa nghe người Việt Nam nào nói một câu như vậy, ngoài các quan cai trị như Tô Ðịnh, Trần Bá Tiên, Cao Chính Bình! Tô Ðịnh đã bị Hai Bà Trưng đánh đuổi. Trần Bá Tiên không đánh lại Triệu Quang Phục phải bỏ về Tàu lo việc trong nhà. Phùng Hưng đánh cho Cao Chính Bình phát bệnh mà chết. Nhờ thế dân tộc Việt Nam mới “Ðứng Vững Ngàn Năm!”

Nhưng thời nay, đảng Cộng Sản Việt Nam biết rằng Trung Cộng còn được ăn thì mình còn! Mất lòng đồng chí anh em thì chính số phận đảng Cộng Sản ở Việt Nam cũng mất. Cho nên ngày mùng 8 Tháng Mười Hai năm 2015, ông Nguyễn Phú Trọng đã thổ lộ tâm sự trước kỳ đại hội đảng thứ 12. Ông Trọng rất lo làm mất lòng Trung Nam Hải. Không dám kiện Bắc Kinh trước các tòa án quốc tế. Không dám cho hải quân ra biển bảo vệ các thuyền ngư dân đang bị “tàu lạ” tấn công. Chỉ vì sợ “đụng độ!” Nguyễn Phú Trọng tuyên bố: “Nếu để xảy ra đụng độ gì thì tình hình thế nào? Giờ ta có ngồi đây mà bàn tổ chức đại hội đảng được không?”

Hai Bà Trưng, Triệu Quang Phục, Phùng Hưng lo cho vận mệnh dân tộc. Còn Nguyễn Phú Trọng và đồng đảng bây giờ chỉ lo bảo vệ đảng Cộng Sản! Nước mất không lo, miễn đảng đứng vững được năm nào hay năm đó!

Sang năm sẽ còn một số người Việt Nam vẫn làm lễ tưởng niệm 60 ngàn đồng bào và chiến sĩ bị quân Trung Cộng sát hại. Số người có thể sẽ không đông bằng năm nay. Trong sách giáo khoa môn lịch sử bậc trung học, cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 chỉ được ghi trong 11 dòng! Rồi năm này qua năm khác, dần dần người ta sẽ quên. Những người còn nhớ vẫn được phép khấn vái. Miễn là đảng Cộng Sản vẫn còn ngồi đó để ăn. Mà phần ăn lớn nhất vẫn thuộc về các vị tân thái thú, tân tiết độ sứ, nối gót Tô Ðịnh, Trần Bá Tiên, Cao Chính Bình!

Suy Nghĩ “Hai Biển Hồ”,

Suy Nghĩ “Hai Biển Hồ”,

Palestina có tới hai biển hồ…

Hai biển hồ này hoàn toàn khác nhau. Một biển hồ thường được gọi là biển hồ Galilêa. Ðây là một biển hồ rộng lớn với nước trong xanh mà người ta có thể uống và cá cũng có thể sống trong đó. Xung quanh hồ này là những vườn cây và thảm cỏ xanh tươi. Nhà cửa cũng mọc lên rất nhiều xung quanh biển hồ này… Chúa Giêsu đã gặp gỡ với những người môn đệ đầu tiên của Ngài tại đây và Ngài cũng nhiều lần đi thuyền xuyên qua biển hồ này.

Biển hồ thứ hai tại Palestina là Biển Chết. Ðúng như tên gọi của nó, không có sự sống nào trong cũng như xung quanh biển hồ này. Nước mặn đến nỗi mà người cũng có thể trở thành bệnh hoạn nếu uống phải. Mùi hôi thối từ Biển Chết xông lên khiến không ai muốn sống gần đó.

Bien chet

Dead Sea

Có điều kỳ lạ là hai biển hồ này đều nhận nước từ cùng một nguồn là sông Jordan. Nước sông Jordan chảy vào biển hồ Galilêa rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch khác. Hồ Galilêa nhận lãnh để rồi chia sẻ cho những hồ khác, nhờ đó nước của nó luôn luôn trong sạch và mang lại sức sống cho cây cỏ, muôn thú cũng như con người.

Biển Chết cũng nhận nước từ sông Jordan, nhưng nó giữ lấy riêng cho nó do đó nước của nó trở thành mặn chát và hôi thối.

Thánh Phaolô đã ghi lại lời vàng ngọc của Chúa Giesu như sau: “Cho thì có phúc hơn nhận lãnh”. Thật ra, càng trao ban, người ta càng nhận lãnh trở lại nhiều hơn.

Một đồng tiền kinh doanh là một đồng tiền sinh lợi. Một ánh lửa chia sẻ là một ánh lửa tỏa lan. Một vết dầu thả lỏng là một vết dầu loang. Ðôi môi có hé mở mới thu nhn đưc nhiều n cười. Bàn tay có mở rộng trao ban, tâm hồn mới tràn ngập vui sướng…

Càng trao ban, càng được nhận lãnh: đó là một định luật sống của con người trong mọi lĩnh vực. Tất cả con người chúng ta, tất cả sự sống của chúng ta, tất cả tài năng của chúng ta, tất cả những gì chúng ta có: tất cả đều do Chúa ban tng. Thiên Chúa ban tặng tất cả cho chúng ta để chúng ta trao ban cho người khác và như vậy, chúng ta mới cảm nhận được hạnh phúc đích thực… Cũng như biển hồ Galilêa tiếp nhận nước từ dòng sông Jordan để rồi ban tặng cho những sông lạch xung quanh và nhờ đó, trở thành trong xanh tươi tốt, cũng thế, sự sống chúng ta lãnh nhận từ Thiên Chúa chỉ trở thành tươi tốt nếu nó được chia sẻ và trao ban cho người khác.

Càng giữ lấy riêng cho mình, sự sống trong chúng ta sẽ héo tàn và chết dần chết mòn. 

S.T.

DEAD SEA

Bien chet 2

TS Lê Đăng Doanh: Tối hậu thư cải cách

TS Lê Đăng Doanh: Tối hậu thư cải cách

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2016-02-23

Nghe hoặc Tải xuốngPhần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg10257025-622.jpg

Báo cáo Viet nam 2035 vừa được Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim công bố trong cuộc họp báo sáng 23/2/2016 tại Hà Nội.

AFP

Thách thức cải cách chính trị và kinh tế

Báo cáo Việt Nam 2035 vừa được Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim công bố trong cuộc họp báo sáng 23/2/2016 tại Hà Nội. Đây là sáng kiến chung giữa World Bank và Chính phủ Việt Nam theo đó Việt Nam sẽ phải thực hiện cải cách lớn ở ba trụ cột, thứ nhất là thịnh vượng kinh tế phải đi đôi với bền vững về môi trường. Thứ hai, Công bằng và hòa nhập xã hội có nghĩa bình đẳng cho mọi người và thứ ba là Nâng cao năng lực và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Nếu thực hiện được những cải cách vừa nêu thì hy vọng tới năm 2035, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam có thể đạt từ 15.000 tới 18.000 USD tương đương người Malaysia ở thời điểm 2010. Để đạt tới mục tiêu này Việt Nam sẽ phải vượt qua thách thức cải cách chính trị và kinh tế đồng bộ và sâu rộng.

Nam Nguyên phỏng vấn TS Lê Đăng Doanh, Thành viên Ủy ban Chính sách Phát triển Liên Hiệp Quốc, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương trong khi ông đang dự một Hội nghị ở TP.HCM. Trước hết TS Lê Đăng Doanh phát biểu:

TS Lê Đăng Doanh: Sáng nay 23/2 Chủ tịch Ngân hàng Thế giới đã thắng thắn đề cập là Việt Nam cần phải mạnh mẽ nâng cao năng suất lao động, nâng cao sự sáng tạo hiệu quả và phải phát triển mạnh mẽ năng lực cạnh tranh. Muốn như vậy thì Việt Nam phải cải cách về mặt thể chế và nếu như những điều đó được giới lãnh đạo được Đại hội 12 đã bầu ra thực hiện, thì Việt Nam với tiềm năng của mình hoàn toàn có thể đạt được những tiến bộ như đã đề ra. Nếu như công cuộc cải cách không vượt qua được sự cản trở của nhóm lợi ích và không tự minh vượt qua được những ràng buộc mà mình tự buộc mình vào, tự hạn chế mình thì Việt Nam sẽ ngày càng bị tụt hậu xa hơn.

Tôi nghĩ rằng, báo cáo đó là nguồn khích lệ và sẽ là một trong những thách thức rất là nghiêm túc để Việt Nam có thể vươn lên được.
-TS Lê Đăng Doanh

Sáng nay ông Chủ tịch Ngân hàng Thế giới cũng có nói, vào những năm 1960 người ta đánh giá Hàn Quốc là một đất nước không hy vọng gì, không xứng đáng để nhận bất kỳ một sự trợ giúp nào. Vậy mà bây giờ Hàn Quốc vượt lên như thế và bây giờ Việt Nam có thể lại đưa ra một chứng minh, một ví dụ điển hình là Việt Nam có thể vươn lên mạnh mẽ. Tôi nghĩ rằng, báo cáo đó là nguồn khích lệ và sẽ là một trong những thách thức rất là nghiêm túc để Việt Nam có thể vươn lên được.

Nam Nguyên: Theo tình hình sau Đại hội Đảng 12 và dưới quyền lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhân vật được cho là rất bảo thủ thì liệu có thể chấp nhận những cải cách như thế này hay không, giữa khi Dự luật Biểu tình đã bị các Bộ ngành phản đối cho là đổi mới chính trị quá, mặc dù đây là qui định Hiến pháp. Như vậy vướng mắc của Việt Nam phải cải cách ở ba trụ cột có là thách thức phải thay đổi thể chế dân chủ hay không ?

TS Lê Đăng Doanh: Tôi thấy ông Đinh La Thăng làm Bí thư Thành ủy TP.HCM thì cũng tạo ra được một số đột phá nhất định. Tôi hy vọng rằng, trước những sức ép, trước những đòi hỏi mà năm 2016 này đã là những đòi hỏi rất là gay gắt. Chúng ta chứng kiến việc cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa, chúng ta đang chứng kiến hiện tượng khô hạn và xâm nhập của nước mặn đã gây tác động mạnh mẽ đến đồng bằng sông Cửu Long, thì tôi nghĩ trước tình hình này sẽ có những biện pháp rất mạnh mẽ đột phá để nâng cao năng lực của bộ máy, để phát huy nhân tài, phát huy sự sáng tạo, phát huy vai trò của các doanh nghiệp dân doanh. Tôi hy vọng trước các sức ép, dân tộc Việt Nam lại có sự vươn lên mạnh mẽ.

Nam Nguyên: Cải cách nêu ra ở cột trụ thứ nhất là thịnh vượng kinh tế phải đi đôi với bền vững về môi trường, cũng có đề cập tới những Bất cập về quyền sở hữu tài sản, bất công trong tiếp cận vốn, đất đai, tài nguyên và tiếp cận thông tin của người dân, đặc biệt vấn đề sở hữu đất đai. Theo TS những cải cách này có quá lớn không ?

TS Lê Đăng Doanh: Vâng, đúng là Việt Nam hiện nay cần phải bảo đảm qui định pháp lý rõ ràng hơn nữa về quyền tài sản đối với đất đai và người dân. Hiện nay người nông dân chỉ có quyền sử dụng còn quyền sở hữu thì đấy là sở hữu toàn dân. Nhưng mà sở hữu toàn dân là ai thì đấy là một trong những điều chưa được rõ ràng. Bởi vì sở hữu luôn luôn phải là một người cụ thể, một pháp nhân rõ ràng thì mới có thể thực hiện được quyền sở hữu đó. Chứ còn bây giờ toàn dân sở hữu thì điều ấy không rõ ràng. Ngoài ra việc bảo hộ các quyền về tài sản cũng là một trong những vấn đề lớn. Nếu như mà không có sự bảo hộ một cách rõ ràng về pháp lý quyền tài sản thì chúng ta thấy doanh nghiệp Việt Nam sẽ không lớn lên được. Người ta sẽ ngại trở nên giàu có, có nhiều tài sản, bởi vì nếu như những tài sản đó không được pháp luật bảo hộ một cách rõ ràng thì tài sản đó có thể bị xâm phạm bị mất đi. Đấy là những thách thức mà Việt Nam cần phải giải quyết trong thời gian tới.

Vì vậy vấn đề cải cách bây giờ trở nên một vấn đề hết sức cụ thể và bước đi cũng rất là rõ ràng chứ không phải là trừu tượng được.
-TS Lê Đăng Doanh

Nam Nguyên: Thưa TS, có khả năng giải quyết vấn đề này hay không, khi vẫn còn vướng mắc như Hiến pháp vào kỳ sửa đổi 2013 đã không thực hiện được?

TS Lê Đăng Doanh: Trong công cuộc cải cách thì bao giờ cũng có những ý kiến khác nhau. Nhưng tôi thấy ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gần đây đã có những đòi hỏi rất rõ ràng và phía Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng có những đòi hỏi rõ ràng về Luật Biểu tình, cũng như là có những ý kiến về việc phải khắc phục bộ máy công kềnh, những thủ tục giấy phép… và ông ấy đã dùng những ngôn từ rất là mạnh mẽ. Tôi hy vọng rằng sau khi đã có những ý kiến khác nhau thì cuối cùng Hiến pháp 2013 sẽ được thực hiện một cách nghiêm túc, đúng với tinh thần và lời văn của Hiến pháp là bảo đảm các quyền tự do của người dân về tự do ngôn luận, quyền biểu tình về những quyền như đã được quy định trong Hiến pháp.

Nam Nguyên: Thưa, nhiều chuyên gia đã từng nói không cải cách chính trị song hành thì không thể cải cách kinh tế. Có thể nào Việt Nam thực hiện cải cách kinh tế mà không cải cách chính trị hay không ?

TS Lê Đăng Doanh: Việt Nam đã cải cách kinh tế và cũng có một số chuyển biến nhất định trong cải cách chính trị, như vai trò của Quốc hội đã được tăng lên và đã có những nỗ lực nhất định trong hội nhập quốc tế. Nhưng bây giờ tình hình về hội nhập quốc tế đã trở nên rất cụ thể, như Hiệp định Hợp tác Xuyên Thái Bình Dương TPP đã qui định rất rõ về những quyền về Internet, về sự công khai minh bạch về sự cạnh tranh bình đẳng…. Và nếu như Việt Nam không thực hiện nghiêm túc những cam kết đó thì Việt Nam sẽ không được hưỡng những ưu đãi về mặt thương mại như giảm thuế quan…v..v..

Vì vậy vấn đề cải cách bây giờ trở nên một vấn đề hết sức cụ thể và bước đi cũng rất là rõ ràng chứ không phải là trừu tượng được. Ví dụ như theo Hiệp định Hợp tác Xuyên Thái Bình Dương TPP thì đến năm 2018 thời gian thông quan qua các cảng của Việt Nam là 48 tiếng đồng hồ. Trong khi đó theo Nghị quyết 19 của Chính phủ ngày 12/3/2015 thời gian thông quan là 10 ngày. Như vậy chúng ta thấy khoảng cách từ 10 ngày xuống 48 giờ là một khoảng cách khá xa và được qui định rất cụ thể rồi, cho nên Việt Nam cần phải cải cách một cách rất mạnh mẽ.

Nam Nguyên: Cảm ơn TS Lê Đăng Doanh đã dành thì giờ trả lời phỏng vấn.