BÍCH-VÂN-THIÊN

BÍCH-VÂN-THIÊN

Lang Thang Chiều Tím

“Bích-Vân-Thiên” là một trong những tiểu thuyết của nữ văn sĩ Quỳnh Dao.  Chuyện kể về mối tình tay ba giữa hai người phụ nữ Bích, Vân và một người chồng chung tên Thiên.  Vì người vợ không thể sinh con nối dõi tông đường cho chồng, nên nàng đành chấp nhận người em kết nghĩa như người vợ lẽ cho chồng.  Dù là tự nguyện, nhưng những ích kỷ ghen tương của kiếp nhân sinh đã khiến họ nhận ra rằng, cả ba không thể cùng hạnh phúc chung dưới một mái nhà.  Một người chấp nhận ra đi để hai người ở lại hạnh phúc hơn.
Những tưởng chuyện tình thơ mộng sầu muộn chỉ có trong tiểu thuyết, qua sự tưởng tượng phong phú của nhà văn.  Nhưng đâu ai biết rằng cuộc sống muôn màu sắc cũng đang dệt nên một chuyện tình tay ba đẹp lãng mạn như một bài thơ, trắc trở với những cảnh đời éo le, với phần kết vẫn còn dang dở.   “Bích-Vân-Thiên” của đời thực là một chuyện tình tay ba giữa Thu Bích, người con gái vô tư hồn nhiên, duyên dáng như viên ngọc xanh biếc giữa đời, và một Đình Vân thư sinh trắng trẻo nho nhã với cặp kiếng cận, như một áng mây lững lờ quyện lấy viên ngọc bích trong trời thu.  Hiện diện giữa họ là một Thiên Chúa vô hình lúc ẩn, lúc hiện, lúc hiền hòa yêu thương, lúc thinh thặng đến lạnh lùng.

Được sinh ra và lớn lên trong một gia đình sùng tín đạo Phật có lòng thờ kính ông bà tổ tiên, Vân đến với Bích khi chẳng biết Thiên Chúa là ai.  Đúng rồi, Thiên là Trời, là Đấng tạo dựng nên muôn loài muôn vật, dạy cho con người những điều hay lẽ phải.  Thiên Chúa của Đạo Công Giáo cũng là Ông Trời thân thiện gần gũi của dân tộc Việt Nam đấy mà, người quen cả chứ có phải ai xa lạ đâu.  Nhưng ngược với sự suy nghĩ đơn giản của Vân, người con gái mà anh đem lòng yêu mến ở đảo, trước biến cố 30 tháng Tư năm 1975 là một đệ tử đã từng được nuôi dưỡng bởi câu kinh ê a mỗi sáng chiều trong nhà dòng các Sơ.  Nàng mong muốn vợ chồng sẽ cùng chia sẻ và đồng hành bên nhau trong đời sống tự nhiên cũng như trong đời sống thiêng liêng.
Bản chất vốn dĩ hiền lành và chân thật, mang trong tâm hồn phần nào vẻ đẹp của Đấng Chân Thiện Mỹ, Vân tự ý tìm hiểu Thiên Chúa của Bích là ai.  Khởi đầu Vân cảm thấy khó hiểu, chuyện một Thiên Chúa từ bỏ vương quyền cao sang để sinh ra làm người trong máng cỏ nghèo nàn, rồi lại lang thang bồng bế nhau đi tị nạn xứ người.  Cũng là kiếp tị nạn cả thôi, nghe sao đồng cảm quá, giống như cảnh đời của Vân-Bích đang vất vưởng ở đảo chờ ngày định cư.  Lạ thay, càng tìm hiểu anh lại càng thấy mến thương một Thiên Chúa với tình yêu bao la dành cho con người hay phản bội chóng quên, một Thiên Chúa mặc lấy xác phàm để rồi cuối cùng bị chết thảm thương nhục nhã trên cây thập giá.

Sau những tháng ngày học hỏi tìm hiểu về Đạo Thiên Chúa, năm 1984 Vân cúi đầu nhận lãnh Bí Tích Rửa Tội trong nỗi ưu phiền của người cha già ở phương xa, mà sau này khi đại gia đình được đoàn tụ, ông thường hay trách cứ: “Anh con theo Đạo để lấy vợ thì ba không buồn, nhưng con theo Đạo thì ba rất buồn vì con quá sùng tín.  Con là một đứa con bất hiếu, bỏ ông bà cha mẹ mà theo Đạo vợ.”  Trái tim Vân tan nát, anh chỉ biết cúi đầu im lặng mỗi khi nghe lời phiền trách của người cha yêu dấu.  Cha Vân đâu ngờ rằng đứa con trai này chịu phép rửa tội bằng con tim thổn thức của tuổi trẻ đi tìm chân lý, bằng nỗi khát khao nhiệt tình của người vừa tìm ra được lẽ sống đời mình, chứ không phải rửa tội chỉ để lấy vợ, như người đời thường nói: “Con quỳ lạy Chúa trên cao, con lấy được vợ con thôi nhà thờ.”

Từ đó Thiên Chúa luôn luôn hiện diện giữa Bích-Vân trong mọi biến cố buồn vui, thăng trầm của cuộc sống.  Cuộc tình nhẹ nhàng êm đềm như một bài thơ qua dòng thời gian lững lờ trôi.  Mối tình tay ba “Bích-Vân-Thiên” được triển nở khi Bích-Vân chính thức nên một trong Thiên Chúa qua bí tích Hôn Phối vào tháng 12 năm 1985.  Hạnh phúc gia đình thêm viên mãn với sự góp mặt của hai thiên thần nhỏ, một trai một gái.  Hơn 30 năm trôi dạt xứ người, phồn hoa phú quý nơi xứ sở giàu có văn minh chỉ làm Vân tăng thêm lời tạ ơn.  Đức tin của Vân ngày càng lớn dần theo thời gian cùng với tình yêu anh dành cho cả hai, Thiên Chúa và Bích.   Không chỉ giữ riêng đức tin cho mình, với tình yêu mãnh liệt mà anh cảm nhận được từ Thiên Chúa, anh mạnh dạn chia sẻ đức tin đó cho người cha và anh em trong gia đình mình.  Gương sống và hạt giống đức tin đã sinh hoa kết trái nơi người em gái mà lần này với sự đồng thuận của người cha: “Con đã quyết định theo Đạo Công Giáo thì theo cho đến nơi đến chốn.” Người anh kế và cậu em trai cũng một lòng tin kính Chúa mặc dầu chưa chính thức vào Đạo, nhưng bản thân họ đã tự nhận mình là Kitô hữu.  Vân không chỉ ngừng lại nơi đây, anh tích cực chia sẻ đức tin đó cho những người nghèo khó bệnh tật, cho những người già yếu trong viện dưỡng lão, cho ban Giáo Lý Dự Tòng, ban Tĩnh Tâm Linh Thao, phong trào Cursillo, cho các sinh hoạt mục vụ khác của giáo xứ, và là cánh chim đầu đàn cho phong trào Canh Tân Đặc Sủng ở Thung Lũng Hoa Vàng.  Với cây đàn guitar, với giọng hát sôi nổi trầm ấm, với những lời nguyện chân thành bộc phát từ trái tim cháy bỏng, đức tin mạnh mẽ của anh đã sưởi ấm bao cõi lòng băng giá vì vắng bóng niềm tin.  Trong bất cứ sinh hoạt mục vụ nào, Bích-Vân cùng sát cánh, chia sẻ và hổ trợ cho nhau như hai người bạn thiêng liêng tâm đầu ý hợp.

Ấp ủ trong tim lời mời gọi thầm thì nhưng tha thiết yêu thương của Thiên Chúa, Bích-Vân mơ ước dành trọn cuộc đời còn lại để ra đi phục vụ tha nhân.  Nhưng cuộc đời không như là mơ, dẫu giấc mơ đó thật là cao quý!  Làm chứng cho đức tin của mình bằng cuộc sống tông đồ nhiệt thành hình như chưa đủ.  Thiên Chúa muốn đức tin của Bích-Vân và gia đình phải được thử thách tôi luyện, chứng nhân của Ngài phải đổ máu trong một bi kịch oan nghiệt trớ trêu.  Trong một buổi sáng định mệnh ngày 3 tháng 3 năm 2011, khi bệnh tình trở nặng vì những ảnh hưởng nguy hại của các thuốc an thần, anh cần phải được khẩn cấp nhập viện.  Tổng đài 911 đã nhận được thông báo để cấp cứu…  Xe cứu thương và xe cảnh sát đã tới.  Nhưng than ôi, trong khoảnh khắc tích tắc, một viên đạn oan nghiệt từ một người cảnh sát không quen biết, không thù oán đã kết thúc cuộc đời anh.  Anh ra đi đột ngột không hiểu tại sao mình lại bị giết ngay trong chính ngôi nhà của mình, nơi vừa được một vị linh mục làm phép nhà cách đó ba hôm, nơi mà hai vợ chồng mơ ước sẽ làm nhà tĩnh tâm, là nơi hội họp cầu nguyện cho anh chị em… Cuối cùng anh đã trở về bên Giêsu, Đấng mà anh được rước vào lòng mỗi ngày qua bí tích Thánh Thể.  Anh đã vĩnh viễn trở về với Đấng Tạo Hóa, Đấng Chân Thiện Mỹ, Đấng mà suốt cả cuộc đời anh khát khao tìm kiếm, và cũng chính vì Ngài mà anh mang tội bất hiếu.
Từ khi bị bịnh, anh đã chuẩn bị sẵn sàng để ra đi, cho dù là cách nào, vào bất cứ lúc nào.  Nhưng thực tế cái chết tức tưởi oan ức của anh đã gây đau khổ, khó chấp nhận cho những người thân còn ở lại.  Đức tin của người vợ, hai con đang chập chững bước vào đời, hai bên cha mẹ già, anh em đạo cũ, đạo mới, chưa theo đạo bị thử thách dữ dội.  Trong giây phút mà sự dữ lên ngôi, thần chết tưởng như chiến thắng, cái ác cười ngạo nghễ trên sự thiện, người ta khó lòng mà giải thích được tại sao một người đạo đức, sống tốt lành thánh thiện như anh lại có một cái kết thúc bi thảm như vậy.  Người đời sẽ chẳng bao giờ giải thích được, trừ phi họ nhìn lên cây thập giá, nơi Chúa Giêsu Kitô chịu chết treo ô nhục trên đồi Canvê.  Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh bi ai trùm kín một màu tang tóc buồn bã, không phải là đích đến của những Kitô hữu.  Đàng sau ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày Chúa Nhật Phục Sinh chiến thắng khải hoàn.  Nhưng trong cơn sầu khổ tuyệt vọng, lệ nhòa mi mắt thì bóng dáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh xa vời mờ nhạt quá.

Giữa những tiếng xì xầm của thế gian, tiếng cười đắc chí đắc thắng của thần dữ, người thiếu phụ gục xuống trước nỗi mất mát quá tang thương này.  Chị rút vào thanh vắng một thời gian dài, xa lánh phần lớn bạn bè người thân quen.  Chị tránh những ánh mắt thương hại tội nghiệp, né những câu hỏi han tò mò, ngại ngùng khi phải nghe những lời an ủi nhiệt tình nhưng vô duyên lạc điệu:  “Thôi đừng khóc, đừng buồn nữa, hãy chấp nhận thánh giá Chúa gởi đến, như thế Chúa và anh mới vui.”  Không, Bích không muốn che dấu nỗi buồn vô tận của mình.  Bích càng bối rối hơn khi nghe người ta đổ tội cho Thiên Chúa.  Vô lý quá, làm sao mà một “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”  (Ga 3,16), lại có thể gởi những sự dữ đến cho con cái của mình được.  Sự dữ đâu đến từ Thiên Chúa!  Ngài tôn trọng sự tự do chọn lựa của người cảnh sát vô cảm kia, cũng như Ngài đã từng tôn trọng sự tự do lựa chọn của Bích-Vân vậy.
Trong bóng tối cô đơn trước cây thánh giá, với cõi lòng tan nát, Bích muốn để những tiếng rên xiết quằn quại trong cõi lòng của mình được tự do òa vỡ.  Chị kiệt sức gục đầu lên vai Chúa để mặc cho dòng nước mắt thỏa sức tuôn rơi.  Chúa không bảo chị thôi đừng khóc, bớt buồn, mà chị lờ mờ thấy Chúa lau nước mắt cho mình, cùng buồn, cùng khóc với mình.  Chị để mặc cho Chúa vuốt ve, an ủi trái tim đang gào thét lên nỗi thương nhớ.  Chúa xót xa băng bó vết thương tâm hồn bê bết máu, xoa dịu nỗi buồn gặm nhấm tâm can.  Trong cõi một mình vắng lặng, Bích cố gắng tìm lại Lời Chúa, Ý Chúa, và hình ảnh Thiên Chúa ngày xưa của mình đang ở đâu trong biến cố này.  Bích cũng đang tập làm quen dần với cảnh đời mất chồng nơi xứ lạ.

Hơn hai năm sau, khi cơn đau vẫn chưa nguôi trong trái tim mới chớm lành của người goá phụ, Bích lại tiếp tục nhận được thất bại khác.  Chị đã thua trong vụ kiện người cảnh sát bắn chồng chị.  Bích kiện không phải vì tiền, vì chẳng có đồng tiền nào có thể đánh đổi được sinh mạng của anh.  Kiện để chân lý được sáng tỏ, để tránh cho người dân thấp cổ bé miệng sau này khỏi lâm vào hoàn cảnh oan ức như anh.  Kiện để những người cầm súng đại diện cho pháp luật ở một xứ sở tự do phải ý thức hơn về những gì họ đã làm, đang làm và sẽ làm.  Nhưng thương thay, tiếng nói yếu ớt của một sắc dân tị nạn thiểu số, tại một nơi mà đa phần là da trắng, tiếng bào chữa của một văn phòng luật sư bé nhỏ, làm sao có thể thắng được với một tập đoàn luật sư hùng hậu của thành phố, của quận hạt.  Chân lý một lần nữa lại đứng về phía kẻ mạnh.  Thần dữ lại một lần nữa vỗ tay cười hả hê, khoái trá chờ ngày người vợ và hai con đang tuổi nổi loạn từ bỏ đức tin, trút cơn giận lên Thiên Chúa chẳng chút nhân từ.  Chuyện tình ba người “Bích-Vân-Thiên” chắc rằng sẽ tan rã từ đây….

Dù không còn cảm giác với tình yêu ngọt ngào của Thiên Chúa, nhưng Bích cũng ráng đến nhà thờ mỗi ngày theo thói quen, đến nhóm cầu nguyện hàng tuần dù không cảm nhận được gì.  Sự thinh lặng của Ngài trong những giây phút cầu nguyện, trong các khóa tĩnh tâm dài ngày càng làm cho chị thêm khó hiểu.  Mỗi lần nhìn lên cây thánh giá, Bích không bao giờ dám hỏi Chúa tại sao những sự dữ lại xảy đến với gia đình mình.  Người Con Một của Ngài cũng có tội tình gì đâu sao phải chết treo trên thập giá?  Nhìn vào quan tòa xét xử Giêsu trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, nhìn vào đôi tay Người Con Một Thiên Chúa đang bị trói chặt lại trước những tiếng la hét đòi xử tử, như chân lý và tình yêu bị trói buộc trước sự dữ, chị không muốn tiếp tục vụ kiện nữa.  Chúa Giêsu có thắng đâu trước quan tòa ngày hôm ấy!  Ngài đã thua thảm bại trước một tên tướng cướp giết người khét tiếng, đã thất bại chua cay trước những vị kinh sư Pharisêu đại diện cho tôn giáo của dân tộc mình.  Cũng như viên đạn bắn anh không phải xuất phát từ một tên cướp, mà là từ một nòng súng của người thi hành pháp luật dành cho một người dân vô tội.  Cay đắng quá!  Trò mà làm sao hơn được thầy!  Chén đắng đã hai lần nhấp thử, chị phần nào cảm nhận được nỗi thống khổ tột cùng của Chúa Giêsu trong vườn Gethsemane.  Cũng như Giêsu ngày xưa, Bích xuôi tay chấp nhận mình thua để khép lại vụ kiện, chị không muốn kháng án lên toà trên, không muốn vết thương lòng lại bị khơi ra khuấy động lên, chị muốn sự bình an sâu thẳm trong tâm hồn, thấm thía mầu nhiệm thập giá… Từng ngày, từng ngày, trong tâm hồn chị vẫn vang lên lời nguyện xin tha thiết: “Chúa ơi, xin cứu con!  Chúa cho phép sự việc xảy ra như thế này thì sinh ích gì cho con?  Con xin tạ ơn Chúa mặc dù giờ này con chưa hiểu, nhưng con tin vào Ý Muốn Tốt Lành của Chúa vì Chúa đã nói mọi đau khổ đều sinh ích cho những ai yêu mến Chúa.”

Qua những tháng ngày đau khổ đến tê dại không còn cảm giác, qua những lúc ngã lên gục xuống, thầm khóc đến không còn nước mắt, qua những cay đắng khi nhận được tin thất bại của vụ kiện, người goá phụ từ từ cảm nhận được những nâng đỡ ủi an kín đáo của Người Cha Nhân Từ đang ẩn mặt đâu đó trong lúc này.   Gia đình, bạn bè, cộng đoàn Đức Tin, các Bí tích, Lời Chúa, Thánh Vịnh, và những bài Thánh Ca đong đầy yêu thương là những điểm tựa nương của Bích trong lúc sầu khổ lao đao: “Lạy Chúa, khi con nói: “Này chân con lảo đảo”, tình thương Ngài đã đỡ nâng con” (TV 94, 18), “Người chữa trị bao cõi lòng tan vỡ, những vết thương, băng bó cho lành” (TV 147, 3), “Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta… Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53:4-5).  Bích không trách Thiên Chúa đã cất anh về sớm, trong cõi lòng sâu thẳm chị chỉ biết dâng lời tạ ơn Chúa đã ban cho chị một người chồng tốt lành, một người cha gương mẫu cho các con, một người bạn thiêng liêng thánh thiện đã cùng đồng hành với chị trong suốt hai mươi lăm năm hôn phối, mà anh chị vừa long trọng lập lại lời thề hứa ba tháng trước ngày anh đi về cõi vĩnh hằng.  Bích tạ ơn cho những gì đã có, chứ không trách móc về những gì đã mất.  Chị biết, anh vui khi được ở bên chị và anh cũng hạnh phúc khi được xum vầy cùng Thiên Chúa, Đấng mà anh hằng khát khao được diện kiến.  Chị tin rằng hình ảnh của chị và hai con luôn ở trong tim anh, và anh sẽ tiếp tục cầu khẩn cùng Thiên Chúa cho ba mẹ con.

Thời gian thấm thoát thoi đưa, thế mà đã năm năm trôi qua kể từ ngày Vân về với Thiên Chúa.  Trên bia mộ đá nơi anh an nghỉ, có hình của cả ba “Bích-Vân-Thiên”, với một bên còn trống để dành chỗ cho Bích, với lời ca Hallelujah của ngày Chúa Nhật Phục Sinh khải hoàn trong vinh quang.  Thiên Chúa chưa bao giờ vắng bóng trong cuộc tình của Bích-Vân.  Trong những tháng năm đầu, trên mộ Vân không lúc nào thiếu vắng hoa tươi do Bích mang lại.  Bạn bè kẻ khen người chê trước hành động lãng mạn không thiết thực đó, lãng phí cả thời gian và tiền bạc.  Nhưng Bích có cần gì đâu, chị làm theo tiếng nói con tim.  Sự chết không chia rẽ được tình yêu của anh chị.  Mỗi lần viếng nghĩa trang nơi anh an nghỉ, chị cảm nhận được tình yêu ba người “Bích-Vân-Thiên” quyện lẫn vào nhau trong gió, trong mây để chỉ còn là một.  Chẳng còn thế giới vô hình hay hữu hình nữa, cũng chẳng còn ranh giới sự sống hay sự chết.  Bích đến không để khóc than, chị đến để trái tim chị được sưởi ấm, đến để cảm nhận tình yêu chung thủy của ba người được thăng hoa.  Bó hoa tươi trên mộ anh là ngôn ngữ tình yêu nói thay cho con tim chị.  Anh yêu nhạc, chị thích hoa, cả hai cùng say mê vẻ đẹp chân thiện mỹ, Bích-Vân đang cùng hát lên bản Tình Ca Tạ Ơn bên Thiên Chúa – Hallelujah!

Năm năm với biết bao ân sủng tuôn đổ từ trời cao đủ để làm sống dậy tin yêu hy vọng trong Bích.  Tình yêu Thiên Chúa mạnh hơn sự mất mát và thất bại đã làm tươi mới lại con người Bích, chị trở lại với con người hồn nhiên yêu đời như những ngày trước có anh đi bên cạnh.  Nụ cười rạng rỡ lại trở về trên khuôn mặt nhân hậu duyên dáng của chị.  Không những thế, chị được mời gọi để làm chứng cho những mảnh đời bất hạnh, những tâm tư giận hờn Thiên Chúa vì những khổ đau bịnh tật, hay những mất mát chia lìa đớn đau, những con chiên tự tách mình ra khỏi đàn vì mải mê oán than…. Chị đến để mang câu trả lời cho những câu hỏi không lối đáp, tại sao Thiên Chúa lại để sự này xảy đến với tôi, với gia đình tôi?  Tại sao Ngài không nhận lời?  Tại sao Ngài không ngăn cản sự dữ xảy ra?  Tại sao Ngài không cất đi căn bịnh hiểm nghèo cho tôi, cho người thân của tôi?  Tại sao và tại sao?  Chị đến không để nói, để thuyết phục hay hùng biện, chị chỉ nhẹ nhàng kể về câu chuyện tình của đời chị… và Thiên Chúa sẽ làm việc với những tâm hồn tan nát đó.

Tác phẩm “Bích-Vân-Thiên” của nữ văn sĩ Quỳnh Dao được khép lại khi trang sách cuối cùng được lật qua.  Trong đầu người đọc chỉ còn lưu lại thoang thoáng vài nét về một cốt chuyện hay, một tình yêu lai láng sầu muộn chỉ có trên tiểu thuyết.  Còn “Bích-Vân-Thiên” trong đời thường, không chỉ là tên của ba người trong một cuộc tình ghép lại, mà còn là tựa đề của cuốn sách mang niềm hy vọng – cuốn sách chứng nhân đức tin – đang được tiếp tục lật từng trang mỗi ngày.  Ba nhân vật chính “Bích-Vân-Thiên” vẫn luôn nắm tay cùng đồng hành với nhau.  Đình Vân đã đi xong quãng đường của mình.  Chặng đường của Thu Bích vẫn còn dài đăng đẳng trước mắt nhưng Bích không đi lẻ loi một mình.  “Vân-Thiên” vẫn luôn cùng đồng hành với Bích và chờ ngày đoàn tụ để đóng lại cuốn sách chứng nhân đức tin “Bích-Vân-Thiên”.

Nguyện xin Thiên Chúa Tình Yêu chúc lành cho thiên tình sử tay ba “Bích-Vân-Thiên” được đẹp mãi đến trang sách cuối cùng.  Mong rằng trong ngày sau hết cả ba sẽ được tái ngộ để cùng nhau kết hợp nên một mối tình tuy ba nhưng chỉ là một.

Lang Thang Chiều Tím

Kỷ niệm năm năm ngày giỗ anh Phêrô Lê Đình Vân, 03/03/2011 – 03/03/2016

10 sự thật của xã hội hiện đại

  10 sự thật của xã hội hiện đại

 Thời đại thông tin số có thể mang lại tác động tiêu cực tới cuộc sống và xã hội loài người. Dưới đây là 10 hình vẽ cho thấy những thay đổi tiêu cực của xã hội chúng ta.

Rõ ràng chúng ta đang sống trong thời đại kỹ thuật số, và việc quay trở lại xã hội trước đây là điều không thể.

Một trong số những ảnh hưởng lớn nhất tới xã hội ngày nay một cách tiêu cực cũng như tích cực chính là truyền thông xã hội.

Truyền thông xã hội vốn được thiết kế để cho phép con người chia sẻ những điều thú vị trong cuộc sống của họ với bạn bè, nhưng giờ đây mọi chuyện không chỉ đơn giản như vậy.

Truyền thông xã hội giờ đây là con đường vận chuyển thông tin toàn cầu. Nhiều khi chúng ta biết về những sự kiện đang diễn ra thông qua Twitter hay Facebook trước khi biết về nó qua các nguồn tin chính thống.

Chúng ta cũng bắt đầu dựa vào các thiết bị công nghệ trong hầu hết mọi việc. Ngày nay con người dường như không thể đi bất kỳ đâu hay làm bất kỳ điều gì mà không mang theo điện thoại thông minh, máy tính bảng,máy tính xách tay

Họ cần có một mối liên lạc thường trực với nhau thông qua các thiết bị điện tử. Tuy nhiên, kết nối quá nhiều với truyền thông xã hội và các thiết bị có liên quan cũng có mặt tiêu cực của nó.

Chúng ta có thể trở nên phụ thuộc quá mức, hoặc trở nên thờ ơ với những gì chúng ta đang làm với cuộc sống của chúng ta.

Thời đại thông tin số có thể mang lại tác động tiêu cực tới cuộc sống và xã hội loài người. Dưới đây là 10 hình vẽ cho thấy những thay đổi tiêu cực của xã hội chúng ta.

1. Facebook đang ngấu nghiến thời gian của bạn

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Mỗi ngày bạn dành bao nhiêu thời gian trên Facebook hoặc các trang mạng xã hội khác? Điều này có đang ảnh hưởng tới hiệu quả công việc của bạn không? Bạn có thấy mình lãng phí thời gian tới mức bạn không hề nhận ra nó đã trôi nhanh thế nào không? Nếu bạn trả lời “có,” tôi tin chắc rằng bạn không phải là người duy nhất.

2. Chúng ta trở thành những kẻ ‘nghiện Like’

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Nói tới Facebook, khi bạn đăng tải một thứ gì đó, bạn có làm vậy chỉ để xem sẽ có bao nhiêu bạn bè ấn ‘Thích’ không? Đối với một số người, những cái ‘Thích’ trên Facebook cũng như một loại chất gây nghiện họ cần bơm vào mạch máu của mình.

3. Các thiết bị điện tử còn quan trọng hơn mạng sống

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Lựa chọn giữa việc điện thoại hết pin và mạng sống của bạn, bạn sẽ chọn thứ gì? Trong trường hợp này, người đàn ông trong hình vẽ đã chọn chiếc điện thoại thay vì thiết bị hỗ trợ sống của chính anh ta. Xã hội loài người cần đưa ra những lựa chọn đúng đắn hơn.

4. Các thiết bị đang hủy hoại sự thân mật

Bạn và những người thân yêu đã bao giờ dành thời gian bên nhau chỉ để mỗi người cầm một chiếc điện thoại nhắn tin, đăng tweet, Facebook hay lướt web thay vì giao tiếp với nhau chưa? Xã hội phải chăng đã tới mức chúng ta không thể dành thời gian cho nhau mà không cầm trên tay chiếc điện thoại?

5. Các gia đình không còn dành thời gian quây quần bên nhau

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Đây là một bà mẹ đang nướng bánh quy cho cả gia đình. Nhưng những đưa con thì đang làm gì kia? Chúng không cùng làm bánh với mẹ, mà đứa con nào cũng đang dán mắt vào thiết bị của mình. Trước đây, các bậc cha mẹ dùng TV để trông con; giờ đây máy tính bảng, điện thoại, laptop hoặc trò chơi điện tử đang đảm nhận công việc đó.

6. Chúng ta thà quay video một ai đó còn hơn giúp đỡ họ

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Một người đàn ông da màu đang đuối nước và giơ tay ra cầu xin sự giúp đỡ. Một kẻ đang chĩa súng, còn kẻ còn lại thì chĩa chiếc iPhone về phía người đàn ông- cả hai đều không có ý định giúp đỡ người bị nạn.

7. Xã hội đang lãng phí thời gian

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Thời gian là tiền bạc. Khi chúng ta tiêu phí thời gian trên các phương tiện truyền thông xã hội, chúng ta đang đánh mất thứ quý giá nhất chúng ta có: thời gian.

8. Dù đã có công nghệ, chúng ta vẫn muốn thứ thuộc về người khác

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

“Đứng núi này trông núi nọ” là một câu tục ngữ đã có từ lâu đời. Dù đã có những gì ta có, nhưng ngay cả những người giàu vẫn cần tình yêu, gia đình, … để được hạnh phúc.

9. Chiêu giật gân vẫn câu kéo được khách

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Với lượng thông tin tràn đầy như hiện nay, truyền thông vẫn luôn tìm kiếm yếu tố giật gân. Người phụ nữ này rõ ràng đang muốn nói lên điều gì đó quan trọng, nhưng liệu giới truyền thông có còn quan tâm tới cô nữa hay không nếu cô không còn trong tình trạng bán khỏa thân nữa?

10. Cuối cùng, chúng ta vẫn đang tàn phá trái đất

10 sự thật đáng xấu hổ của xã hội hiện đại

Dù đã có nhiều tiến bộ về công nghệ, song con người vẫn đang tàn phá trái đất tới mức chúng ta gần như đang chĩa súng vào “Mẹ Thiên nhiên”. Với những thành phố ngày càng lớn và mức độ ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, đến khi nào những gì chúng ta làm sẽ khiến chính chúng ta sụp đổ?

. Kế hoạch dự bị của Hoa Kỳ trong trường hợp chiến tranh với Trung Cộng

. Kế hoạch dự bị của Hoa Kỳ trong trường hợp chiến tranh với Trung Cộng

 National Interest

Tác giả: Robert Beckhusen

Dịch giả: Phạm Ðức Duy

25-2-2016

Ảnh: National Interest

Hoa Kỳ không còn có thể dựa vào các căn cứ không quân của mình tại Thái Bình Dương để tránh khỏi các cuộc tấn công tên lửa trong một cuộc chiến tranh với TC. Trái lại, một bài báo đăng vào năm ngoái 2015 của cơ quan RAND đã lưu ý rằng trong trường hợp xấu nhất, “nếu phòng thủ thiếu kín đáo, các cuộc tấn công lớn hơn, chính xác và kéo dài có thể sẽ đưa đến những tàn phá, thiệt hại lớn về máy bay và đóng cửa các phi trường trong một thời gian dài”.

Căn cứ không quân Hoa Kỳ Kadena ở Okinawa tại Nhật, tương đối gần đại lục, sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất. Vào tháng 9 năm 2015, TC cũng đã công khai tiết lộ loại tên lửa đạn đạo mới DF-26, từ đại lục có thể tấn công căn cứ không quân Hoa Kỳ Andersen ở Guam, cách xa 3.000 dặm. Andersen và Kadena là hai căn cứ lớn nhất và quan trọng nhất của quân đội Hoa Kỳ ở nước ngoài.

Tinian, hòn đảo nhỏ gần đảo Guam đang từ từ trở thành một trong những căn cứ dự bị của Không quân Mỹ. Ngày 10 tháng 2 vừa qua, Tinian đã được chọn như một sân bay chuyển hướng “trong trường hợp căn cứ không quân Andersen ở Guam, hoặc các căn cứ khác ở vùng tây Thái Bình Dương bị hạn chế hoặc phong tỏa.”

Trong ngân sách dành cho năm 2017, Ngũ Giác Ðài đã yêu cầu 9 triệu đô la để mua 17,5 mẫu đất “trong việc hỗ trợ các hoạt động chuyển hướng và các đề nghị ​​tập luyện quân sự”, báo Saipan Tribune đưa tin. Trong thời bình, Không quân Mỹ ước lượng sân bay Tinian sau khi được mở rộng sẽ chứa “lên đến 12 máy bay tiếp nhiên liệu và một đội ngũ nhân viên hỗ trợ cho các hoạt động chuyển hướng”.

Tinian hiện giờ là một nơi buồn tẻ.

Trong Thế chiến II, Sư đoàn 2 và 4 Marine của Mỹ đã chiếm hòn đảo, và sau này các phi cơ B-29 Superfortress Enola Gay và Bockscar đã cất cánh từ sân bay North Field tại Tinian và thả hai trái bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasakị Từng là một kho vũ khí trong thời chiến, hiện nay hầu hết các đường băng tại North Field bị bỏ hoang, không được sử dụng. West Field, một căn cứ không quân khác trên đảo lúc trước, hiện chỉ là một sân bay quốc tế nhỏ, ít được biết đến.

Lúc đầu Hoa Kỳ muốn dùng Saipan làm phi trường quân đội. Cách Tinian không xa, Saipan có dân số 15 lần hơn Tinian, một phi trường lớn hơn và một bến cảng. Nhưng đề xuất này đã gặp phải sự phản đối của các nhà hoạt động địa phương do các hiệu ứng về “san hô, nước sạch, giao thông vận tải địa phương và các yếu tố kinh tế xã hội đối với cộng đồng xung quanh,” báo Stars and Stripes đã đề cập.

Phe chống đối lập thậm chí bao gồm cả giới ủng hộ việc kinh doanh trong đó có cả Phòng Thương mại của Saipan. Họ lo ngại rằng phi trường rỉ sét Tinian sẽ bị bỏ rơi trong lần chi tiêu lớn của Ngũ Gia’c Ðài kỳ này. Phi trường Saipan hiện cũng đang quá tải, và dân địa phương không hài lòng về triển vọng của hàng trăm phi công bay đến cho các khóa diễn tập quân sự kéo dài tới tám tuần mỗi năm.

Có thể nói đây là một sự lập lại quá khứ. Lúc trước Hoa Kỳ đã phân tán các căn cứ không quân ở những mức độ khác nhau và ở nhiều nơi trên thế giới trong thời chiến tranh lạnh. Nhưng từ khi mối đe dọa của một cuộc tấn công tên lửa từ phía Liên Xô không còn nữa và lúc ngân sách quốc phòng sau Persian Gulf War bị cắt giảm nhiều trong thập niên ‘90, Hoa Kỳ đã chuyển sang xu hướng dùng những căn cứ rất lớn (mega-base) hoạt động theo quy mô kinh tế.

Tuy nhiên trong thời chiến mô thức phân tán các căn cứ quân sự có xác suất tồn tại nhiều hơn, Alan Vick của RAND đã nghiên cứu và kết luận trong năm 2015:

“Phân chia những phi cơ trên nhiều căn cứ khác nhau tạo ra khả năng phòng hờ, dư bị trong lãnh vực điều hành trên mặt đất và các cơ sở. Điều này giúp tăng cường sự an toàn cơ bản của các chuyến bay bằng cách cung cấp nhiều chỗ đáp hơn cho những trường hợp cần chuyển hướng khẩn cấp hoặc lúc thời tiết xấu. Nó còn làm tăng số lượng các sân bay mà địch phải theo dõi và có thể gây khó khăn hơn cho kẻ thù lúc nhắm mục tiêu (một phần vì số lượng di chuyển giữa các căn cứ của các lực lượng bạn gia tăng).”

“Ít nhất, so với mô thức tập trung, phân tán (vì làm tăng tỷ lệ đường băng và máy bay) buộc phía địch phải sử dụng nhiều năng lực đáng kể hơn để tấn công những đường băng. Mô thức phân tán cũng làm tăng chi phí xây dựng và điều hành các phi cơ trên nhiều căn cứ chính. Để giảm thiểu những chi phí này, mô thức phân tán có xu hướng dùng những căn cứ nhỏ, khiêm tốn hơn, đôi khi, có thể chỉ là những đường băng.”

Dân oan đến thế là cùng

Dân oan đến thế là cùng

Nguyễn Bá Chổi (Danlambao)Tại sao Dân oan đến thế là cùng! Dân nước người ta, ngay cả dân Việt Nam mình thời Thực dân Phong Kiến nói chung, thời “Mỹ Ngụy kìm kẹp cực kỳ, bóc lột hoành tráng” nói riêng, dân oan không phải là không có, nhưng còn được mở miệng kêu oan, thậm chí kêu lên tòa án, được tòa xử đúng theo luật pháp, chẳng hạn như vụ Nọc Nạn năm 1928 (1). Tức là dân oan còn có lối thoát, nếu không được giải oan, thì nỗi oan cũng ngừng lại ở mức đó. Phải đợi cho đến thời đại Hồ Chí Minh, dân Việt Nam mới… oan đến thế là cùng!….

*

Nếu Đạo Phật và Đạo Chúa dạy rằng, lấy oán báo oán, oán chồng chất, thì trong “Đạo Bác” đang hành dân trong nước Việt Nam, Dân oan kêu oan, chỉ chuốc thêm oan.

Như ai cũng đã biết, “đức tính” của oán và oan: chữ chỉ khác nhau một cái dấu sắc, ý thì cùng là “của nợ” cả, song “tinh thần” mỗi thứ “của nợ” lại khác nhau xa: một bên nên quên đi, một đàng phải đòi lại.

Đã bị oán rồi, nay lại lấy oán đi báo oán, tuy có được “đã nư” chốc lát nhưng hậu quả là chuốc thêm oán vận mãi vào thân, nên người ta có thể bỏ qua việc báo oán. Trái lại, khi bị oan, mấy ai trên đời này mà chẳng kêu oan, nhất là nỗi oan mất nhà mất đất, mất tự do, mất quyền làm người, mất đủ thứ, kể cả mất mạng trong đồn Côn an.

Xưa nay, trong cõi người ta, không ai thoát được khỏi tay “Tứ trụ”: Sinh, Lão, Bịnh, Tử. Nhưng từ sau ngày Việt Nam bị “Đạo Bác” nó hành, người dân nước này bị thêm một “trụ” nữa là Oan, thành “Ngũ trụ”: Sinh, Lão, Bệnh, Tử và Oan!

Nói dân Việt Nam bị “Ngũ trụ” như trên, thế nào cũng bị Dư luận viên “bức xúc”, phản bác ngay, rằng dân oan chứ cán bộ đảng viên đâu có bị oan. Đúng là trình độ hiểu biết về lịch sử Đảng của DLV quá kém cỏi: người tuổi tác cỡ ông bà cố tổ nội ngoại của DLV mà cũng phải gọi cậu Cu Côn bằng Bác thì không oan là cái gì; chẳng những thế, chính bản thân cha già DT cũng bị oan khi bị đám nhi đồng cỡ cháu của DLV gọi phạm thượng là “Bác Hồ”, thay vì “Cụ cố ”, “Cụ tổ”, “Cụ tỷ”… Hồ.

Trở lại chủ đề “Dân Oan đến thế là cùng”. Sở dĩ tác giả có được cái tựa “nghe quen quen” như trên, cũng là vì nhập tâm lời bác Cả Lú oánh giá kết quả Đại họa Đảng thành công rực rỡ vừa rồi, là “…Dân chủ đến thế là cùng”. Xin gửi nơi đây một phát cảm ơn bác Lú gợi hứng thú… Dân Oan đến thế là cùng!

Tại sao Dân oan đến thế là cùng! Dân nước người ta, ngay cả dân Việt Nam mình thời Thực dân Phong Kiến nói chung, thời “Mỹ Ngụy kìm kẹp cực kỳ, bóc lột hoành tráng” nói riêng, dân oan không phải là không có, nhưng còn được mở miệng kêu oan, thậm chí kêu lên tòa án, được tòa xử đúng theo luật pháp, chẳng hạn như vụ Nọc Nạn năm 1928 (1). Tức là dân oan còn có lối thoát, nếu không được giải oan, thì nỗi oan cũng ngừng lại ở mức đó.

Phải đợi cho đến thời đại Hồ Chí Minh, dân Việt Nam mới… oan đến thế là cùng! Vì oan mà không được mở miệng kêu oan. Nếu ai can đảm mở miệng kêu oan hoặc chống lại bọn cướp trắng ngang xương tài sản mình là bị tòa án XHCN buộc tội “chống nhân viên nhà nước thi hành công vụ”. hoặc khi bị bắt oan vào đồn Côn an, không chịu nhận tội vu oan là bị CA“cho” chết oan luôn tại chỗ, còn bị bồi thêm một lần oan nữa là chết vì tự vận hoặc đột tử do bệnh nan y.

Mà nào đâu phải dân oan chỉ lác đác đây đó dăm ba người lẻ tẻ, dân oan nổi lên đầy dẫy ba miền đất nước. Hình ảnh mới nhất là Ngày 27 Tháng 2 vừa qua, dân oan cả nước xuống đường kêu oan, nhưng họ đã bị nhà nước tự cho là “của dân do dân vì dân” CSVN đã đối xử với đồng bào mình như thế nào, báo đài đã nói viết đầy dẫy trên mạng lưới toàn cầu…xin được phép miễn kể ra đây .

Thật là không dân nào bằng dân Việt trong “Thời đại Hồ Chí Minh”, Đảng quang vinh muôn năm là nhờ… Dân Oan đến thế là cùng!

Nguyễn Bá Chổi

danlambaovn.blogspot.com

Ghi chú:

(1) https://tiengnoidanchu.wordpress.com/2012/02/21/t%E1%BB%AB-v

Cái nhìn nội tâm,

Cái nhìn nội tâm,

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

Mùa Chay là mùa sám hối. Sám hối là đổi mới tâm hồn. Muốn đổi mới tâm hồn, phải đổi mới cách nhìn về con người và cuộc đời, về bản thân và tha nhân. Hôm nay, Chúa Giêsu dạy ta những cách nhìn thời cuộc và biến cố theo tinh thần của Người.

Thông thường, trước một biến cố, ta dễ có cái nhìn chính trị. Hôm nay, người ta thuật lại việc Philatô giết những người Do Thái trong Đền Thờ. Thời ấy, đế quốc Rôma đang thống trị nước Do Thái. Philatô là viên tổng trấn của Rôma. Tường thuật biến cố đau thương này, người ta mong Chúa Giêsu có cái nhìn chính trị, dấn thân vào chính trị. Người ta mong Chúa Giêsu kết án Philatô. Không bàn chính trị, không làm chính trị, cho dù sau này Chúa Giêsu vẫn bị kết án vì một tội chính trị. Không kết án Philatô, dù sau này chính Người bị viên tổng trấn này kết án.

Trước mọi biến cố, Chúa Giêsu muốn ta có một cái nhìn tôn giáo, vượt lên trên lĩnh vực chính trị. Từ một câu hỏi thuộc bình diện chính trị, Chúa Giêsu đã đưa ra một giải đáp thuộc bình diện tôn giáo. Từ một biến cố gây xôn xao dư luận, Chúa Giêsu mời gọi ta hãy ăn năn sám hối. Từ cái chết của thể xác, Chúa Giêsu hướng suy nghĩ ta tới cái chết của linh hồn: “Các ông tưởng mấy người Galilê đó bị như vậy là vì họ tội lỗi hơn những người Galilê khác sao? Tôi nói cho các ông biết, không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy”.

Đối với người khác, ta dễ có cái nhìn kết án. Khi gặp một người mù từ thuở mới sinh, người ta hỏi Chúa Giêsu: “Đây là do tội nó hay tội của cha mẹ nó?”. Gặp người phụ nữ phạm tội ngoại tình, người ta muốn kết án chị. Nga có thói quen cho rằng thành công là một ân huệ Chúa thưởng cho người đạo đức, còn tai hoạ là hình phạt Chúa dành cho kẻ tội lỗi. Hôm nay, chứng kiến những nạn nhân bị thiệt mạng, những người tường thuật đều nghĩ rằng những nạn nhân ấy chết vì họ tội lỗi, còn tôi vô sự, điều đó chứng tỏ tôi vô tội. Chúa Giêsu lên tiếng cảnh báo họ: Các ông cũng là kẻ tội lỗi. Nếu các ông không ăn năn hối cải, các ông sẽ chết thảm khốc hơn những nạn nhân kia nữa. Chúa Giêsu dạy ta có cái nhìn bao dung. Nếu có phải xét đoán, hãy xét mình trước khi xét người. Nếu có phải lên án, hãy lên án chính bản thân mình trước khi lên án người khác: “Hãy lấy cái đà ra khỏi mắt ngươi trước, rồi ngươi sẽ thấy rõ để lấy cái rác ra khỏi mắt anh em”. “Ai trong các ông vô tội hãy ném đá chị này trước đi”.

Sau cùng, ta thường có cái nhìn ảo tưởng. Ta xây dựng những chương trình to lớn, những tham vọng đổi mới xã hội. Chúa Giêsu dạy ta hãy có cái nhìn thực tế: Đừng ảo tưởng với những chương trình to tát, lấp biển vá trời. Hãy bắt đầu bằng những việc nhỏ bé. Đừng có ảo tưởng đổi mới xã hội, cải tạo thế giới. Trước hết, hãy đổi mới chính mình, cải tạo bản thân mình. Tục ngữ Trung quốc có câu: Nếu mỗi người trông hoa trước cửa nhà mình, cả thế giới sẽ biến thành một vườn hoa đẹp. Đổi mới chính mình đó là góp phần vào đổi mới thế giới.

Với những bài học ấy, Chúa Giêsu hướng ánh mắt ta lên cao, vượt thoát lĩnh vực tự nhiên để vươn tới lĩnh vực siêu nhiên. Với những bài học ấy, Chúa Giêsu hướng cái nhìn của ta xuyên qua những lớp bì phủ bên ngoài để soi chiếu vào chiều sâu nội tâm. Với những bài học ấy, Chúa Giêsu hướng cái nhìn của ta ra khỏi những ảo tưởng, đối diện với thực tế bản thân để trước mỗi biến cố ta tự xét và đổi mới chính mình.

Lạy Chúa, xin đổi mới trái tim con. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

  1. Trong các biến cố, bạn có tìm thấy ý Chúa không?
    2. Bạn có nghĩ rằng hễ ai gặp may thì đó là người đạo đức, ai gặp tai nạn thì đó là người tội lỗi không?
    3. Muốn đổi mới gia đình, xã hội, phải đổi mới bản thân trước. Bạn nghĩ sao về điều này?

VN Chết Vì Hàng TC

VN Chết Vì Hàng TC

Vi Anh
CHET VI T Q
Hồi năm 2001, Đảng Nhà Nước CSVN nhập siêu của TC chỉ có 200 triệu Mỹ kim. Đến năm 2014 CSVN lại nhập siêu lên đến 28,9 tỷ Mỹ kim, tăng 144 lần. CSVN là một chế độ lệ thuộc hàng hoá TC nhiều nhứt trong khối ASEAN. Phó giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại – tiến sĩ Lê Quốc Phương cho biết trong 94 ngành nghề của Việt Nam, đã có tới 40 ngành chết dính với nguồn từ Trung Quốc. Đồ của TC thịt heo thúi, trái cây hư, thuốc tàu ô nhiễm, đồ gian, đồ giả, đồ độc, từ cây kim, sợi chỉ, cái khoá quần, đến nút áo các nước trả lại, TC dồn qua bán cho VN, giá rẻ như bèo. Dân VN nghèo cái gì rẻ thì mua xài.

Chính Mỹ đệ nhứt siêu cường kinh tế thế giới còn phải báo động, dân chúng coi “made in China” là dấu hiệu nguy hiểm cho sức khoẻ. Dân chúng Mỹ chống Wall Mart bán hàng TC, tập đoàn bán lẻ này phải đóng cửa mấy trăm cửa hàng.

Thế nhưng chưa thấy cán bộ đảng viên nào trong chánh phủ, quốc hội VNCS và ban chấp hành trung ương Đảng CSVN lên tiếng về tai hoạ lệ thuộc kinh tế đối với TC.

Nhơn dịp Tết, một lễ truyền thống lớn nhứt của quốc gia dân tộc VN, tin RFA, Bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng, Tạ Thị Tuyết Mai, thuộc bệnh viện nhân dân Gia Định, Sài Gòn nói về những đồ ăn này như sau: “Mứt thì sợ người ta bỏ phẩm màu vào. Thứ hai là măng khô mà mình hay nấu với giò heo. Nếu măng mình mua phải loại người ta bỏ phốt pho thì độc. Cái thứ ba là hạt dưa thì phẩm màu trong hạt dưa cũng rất có hại, độc…. thường thường những cái đó không gây ngộ độc ngay mà ngộ độc mãn. Sợ nhất là ngộ độc mãn, lâu dần sẽ làm tổn thương gan, thận, dẫn đến ung thư.” Còn cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường công an TP/HCM đã phát hiện một cơ sở làm mứt Tết đang ngâm tẩm các loại khoai lang, gừng, bí làm mứt trong các thùng hóa chất công nghiệp là sodium hydrosulfite và vôi công nghiệp. Chất sodium hydrosulfite là hóa chất dùng tẩy trắng trong công nghiệp. Mà hầu hết hoá chất độc hại người Việt xài cho đồ ăn thức uống là mua của TC đem qua VN bán.

Báo chí trong ngoài luồng trong nước còn báo động. Rằng một số quốc gia phát giác, hàng dệt may của Trung Cộng có hàm lượng formaldehyde vượt mức cho phép nhiều lần, khiến người sử dụng có thể bị ung thư. VN chưa có giải pháp nào bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam trước những hiểm họa tiềm ẩn trong hàng hóa TC. Hàng của TQ lại bán rẻ, người dân VN nghèo thường mua để xài nên dễ bị ung thư do hàm lượng formaldehyde quá cao.

Dân chúng VN không những chết vì bị ung thư do quần áo made in China mà còn vì đồ ăn thức uống, trái cây tươi, khô tẩm thuốc mau lớn, bảo quản lâu, thuốc bắc phơi hay sấy ô nhiễm made in China, do TC xuất cảng hay tuồn hàng lậu qua VN. Dân VN đại đa số nghèo nên phải mua hàng rẻ. Nhà cầm quyền CSVN lệ thuộc TC nên TC coi thị trường VN như một nơi TC gỉai quyết hàng gian, hàng giả, hàng độc bị các nước khác trả lại. TC tuồn hàng tràn ngập sang VN còn để giết nông nghiệp và kỹ nghệ phôi thai của VN.

Các nước lớn như Mỹ, Pháp đã cho TC ra ngoài rìa thị trường lâu rồi vì hàng gian, hàng giả, hàng độc made in China của TC. “Made in China” đã phần nào đồng nghĩa với “nguy hiểm”. Nhưng phân tích cho thấy, người dân trên thế giới cảm thấy khó mà thoát khỏi đồ độc của Trung Cộng. Vì những lý do sau. Một, Trung Cộng là nước xuất cảng thực phẩm đứng hàng thứ ba trên thế giới. Hàng hoá TC rẻ nên nhiều người mua, nhứt là dân nghèo, mà dân nghèo lúc nào và nước nào cũng đông hơn dân giàu. Nói tới Trung Quốc, trên thế giới người ta chỉ chú ý như là một nước, một công xưởng sản xuất và xuất cảng hàng hoá rẻ tiền như quần áo, giày vớ, đồ điện tử, đồ gia dụng rẻ tiền, nhưng ít ai chú ý TC là nước xuất cảng lương thực, thực phẩm, nông sản – đứng hàng thứ ba trên thế giới. Thực phầm chiếm phần lớn nhứt.

Lấy nước Pháp làm thí dụ. Từ năm 2008, nhà báo Tristan de Bourbon, viết trên tờ La Croix của Pháp, tài liệu của Quan Thuế TC cho biết trong quí một, từ tháng 01/2008 đến tháng 03/2008, TC xuất cảng gần 7 triệu tấn lương thực, tăng hơn 11% so với cùng thời kỳ 2007, tăng mạnh nhất là sang Châu Âu, khách hàng thứ nhì của Trung Quốc sau Châu Á (gần 900,000 tấn).Trung Quốc đứng đầu trong mặt hàng thủy sản, cũng như các loại rau quả hộp, từ cà chua, nấm, cho đến các mặt hàng đông lạnh, và trái cây. Theo tài liệu của Quan Thuế Pháp, năm 2007 Pháp đã nhập 411 triệu euros thực phẩm từ TC. Phần lớn các hộp nấm Paris, champignon de Paris, bán tại Pháp, đều đến từ TC. Một mặt hàng khác, mà TC cũng đứng đầu là nước táo, loại đậm đặc, để chế tạo những loại nước trái cây bán trong hộp giấy.

Hai, nông phẩm gốc như sữa, đường không phải chỉ bán dưới dạng thực phẩm sữa đường, mà có thể dùng để biến chế ra hàng trăm phó phẩm và thực phẩm khác. Sữa độc có chứa chất melamine của TC chẳng những TC đã dùng làm ra kẹo Thỏ Trắng: “Made in China” xuất cảng sang nhiều nước thì dễ biết. Sữa của TC được các công ty của các nước khác mua dùng như nguyên liệu để chế ra thực phẩm của ngoại quốc, thì người tiêu thụ thông thường làm sao biết được. Theo nhà báo Tristan de Bourbon viết trên tờ La Croix của Pháp, hãng của Pháp Nestlé, Unilever dùng sữa nhập cảng từ TC để biến chế thành sữa, cà phê sữa Nestle, Unilever, thì ngưòi tiêu thụ đâu có biết nguyên liệu là sữa có độc chất của TC. Cụ thể cà phê sữa bột Trung Nguyên, Vinacaphe của Việt Nam xuất cảng ra ngoại quốc, người uống đâu có biết sữa có chất melamine của TC hay không. Hoạ may chỉ có nhà nước sau khi kiểm nghiệm chất lượng, công bố thì người tiêu thụ mới biết thôi. Tuy nhiên, dân chúng ở Tây Phương sẽ không thể tránh được nạn thực phẩm bị nhiễm độc như trong vụ sữa vừa qua.

Ba, thuốc Bắc của TC, chế thành thuốc hay bán dưới hình thức nguyên liệu, cũng là một thứ nông sản. Nếu tính số nông sản này vào thì hầu như nước nào cũng có nhập cảng từ TC. Người Trung Hoa có mặt gần như khắp hoàn cầu. Hầu hết tại thủ đô và các thành phố lớn của các nước đều có “China Towns”. Dược thảo Trung Quốc không những người Á Châu thích mà ngay người Âu Mỹ cũng thích.

Bốn, luật lệ về “kiểm soát chất lượng và an toàn thực phẩm” của TC có, có nhiều và gắt nữa là đằng khác, nhưng không được áp dụng nghiêm minh. Là vì chủ trương kinh tế của TC đặt nặng xuất cảng hơn là phẩm chất và an toàn. Thêm vào đó nạn tham nhũng của những cán bộ có chức có quyền đã biến những luật lệ kiểm tra chất lượng và an toàn thực phẩm trở thành mớ giấy lộn. Một viên chức Liên Âu làm việc ở Bắc Kinh xác nhận ở TC, từ nhãn hiệu, cho đến giấy phép, tất cả đều có thể được mua hay làm giả một cách dễ dàng. Báo chí là của Đảng Nhà Nước chỉ viết khi được phép.

Sau cùng, với một số lượng nông sản TC xuất cảng hầu như khắp thế giới, thành phẩm hay dưới hình thức nguyên liệu lớn như vậy; với nông sản nguyên liệu TC xuất cảng sang các nước và các nước biến chế ra thành thực phẩm made in France, in VN, in Thailand, v.v…, có thể nói rất khó mà tránh khỏi đồ hàng hoá của TC độc hại sức khoẻ cho người dân trên thế giới, nhứt là dân nghèo./. (VA)

Niềm tin có Chúa ở cùng.

Niềm tin có Chúa ở cùng.

   Tác giả Phùng văn Phụng

Trong cuộc đời mỗi người, ai ai cũng có những biến cố vui, buồn, đau khổ hay hạnh phúc, riêng tôi, tôi đã ghi nhận vài sự việc sau đây, với cái nhìn của đời sống tâm linh, tôi nghĩ là tôi đã “có Chúa ở cùng” trong cuộc đời trôi nổi của tôi:

I ) Những điểm nổi bật cần ghi nhận như sau:

  • 1) Tôi bị tai nạn hồi còn nhỏ lúc 7, 8 tuổi. Ngồi trên bàn, phía sau bàn là tủ kiếng chứa đồ tạp hóa, sơ ý, tôi ngồi bật ngửa ra sau, té, đập đầu sau ót vào tấm kiếng. Chở lên nhà thương quận cách chợ núi khoảng 5,6 cây số bằng xe ngựa. Sau khi khám vết thương, kiếng chỉ đâm vào giữa hai đưòng gân, không chạm vào đường gân nào hết. Chích thuốc cầm máu, rửa vết thương, băng bó và cho về nhà ở với ông cậu bảy. Thoát chết.
  • 2) Năm 1978, khi cộng sản đưa chúng tôi từ Lào Cai về Vĩnh Phú trên chiếc xe bít bùng, xe chạy trong mưa gió. Hai người tù chúng tôi bị còng chung với nhau trong một cái còng.   Tay người tù này bị còng chung tay với người tù kia . Chúng tôi lên xe trước, ngồi gần tài xế. Khi đổ đèo, xuống dốc, tất cả mấy chục người phía sau xe đổ dồn một lúc lên phía trước, đè lên người tôi, ngộp thở. Tưởng chết, nhưng chưa chết. Khi đỗ đèo, dưới cơn mưa tầm tả, sợ rơi xuống đèo, nhưng nhờ trời thương vẫn về tới trại giam Vĩnh Phú. Tôi cũng không chết.
  • 3) Sống ở trại tù K3 Vĩnh Phú chịu đựng cái lạnh thấu xương, chắc khoảng 10 độ C, gió bấc, mưa phùn liên tục hơn hai tháng. Dầu trời lạnh và mưa gió như thế, chúng tôi phải đi ra đồng nhổ cỏ, trồng khoai lang, khoai mì. Gió lạnh, mưa phùn lất phất suốt ngày đêm. Chúng tôi tù nhân bị đói triền miên. Đói quá anh em thường nói “con gì nhúc nhích thì ta ních liền” .

Ăn rau tàu bay, rau má, rau dấp cá, lá khoai mì … con nhái, con cá, con đuông… đói quá, có người ăn cóc, nướng sơ sơ mà ăn nên bị trúng độc mà chết .

Buồi sáng đi làm, buổi chiều về trại, áo quần ướt hết, không thể khô được. Ngày hôm sau mặc áo ướt đó lại đi ra đồng, dưới trời mưa phùn, gió bấc vừa đói, vừa lạnh . Mỗi ngày chỉ ăn bo bo không xay, loại bo bo cho trân bò ăn . Ăn vô 10, 15 phút sau thì tống ra ngoài hết . Ăn khoai mì lát hay củ khoai mì chỉ có hai đầu toàn xơ không có bột . Ăn vô, mấp mấp lấy nước rồi nhả ra hết . Loại khoai mì người dân miền Bắc đóng nghĩa vụ, đóng thuế. Canh rau muống vài cọng rau với nuớc muối . Một năm được ăn thịt ba lần ngày 2 tháng 9, Tết ta và ngày 30 tháng 04. Có lần nấu da trâu, ninh hơn một ngày, một đêm rồi phát cho tù ăn.

Sau vài tháng ở Vĩnh Phú, anh em tù nhân chỉ còn là những bộ xương cách trí biết đi . Cứ vài ngày đóng hòm đưa tù nhân ra chôn. Anh Quế là Giáo sư trung học, người Quảng Nam, đi tù vì tham gia đảng Dân Chủ. Anh người ốm yếu,vì ăn thiếu thốn, bị đói mà còn cuốc đất vất vả nữa , nên anh bị kiệt sức . Một hôm, đang đêm khuya người bạn nằm gần bên la lớn lên “Anh Quế chết rồi.”

Bị bỏ đói triền miên như vậy tôi thường xuyên bị cảm, cứ mỗi lần đi ra đồng trở về là tôi bị cảm . Nóng hâm hấp. Tim đập mạnh . Y tá trại nói tôi bị bịnh tim. Chân bước lên thềm không nổi phải lấy tay nâng đỡ chân lên. Đi muốn không nổi. Cảm tới, cảm lui hoài Thường xuyên  ăn cháo. Chân bị phù thủng . Bạn bè ra đi nhiều quá .Tôi nghĩ rằng chắc sẽ tới phiên mình không biết lúc nào ? Chắc sẽ không còn nhìn thấy gia đình, cha mẹ, vợ con. Vậy mà tôi không chết nên bây giờ mới viết bài này.

  • 4)   Chuyển về trại giam K4 Vĩnh Phú bị sốt vàng da, đi không nổi, anh bạn cỏng lên bịnh xá, nhờ có bác sĩ Thịnh trữ thuốc trụ sinh trị mới hết bịnh sốt vàng da này. Ở đây người ta gọi là Mai Côi ,Thác Guồng, nằm giữa thung lũng chung quanh là rừng núi, ban đêm chỉ nghe tiếng chim kêu “bắt cô trói cột” mà thôi. Nơi đây, anh em tù ở ngoài Bắc gọi là nơi “đi dễ khó về”, bị đày đến đó rồi khó mà sống sót trở về nhà.
  • 5) Qua tới Mỹ một tai nạn tưởng như đã ra đi . Đang chạy trên đường Beechnut, đến ngả tư đường wilcrest, đèn xanh vừa bật lên tôi tiếp tục chạy tới bình thường . Nhưng xe bên trái của tôi chạy trên đường wilcrest, vượt đèn đỏ, đâm vào đầu xe của tôi làm cho xe tôi quay 90 độ. Nhờ đâm vào gốc của đầu xe nên xe tôi xê dịch, người không sao, nhưng xe thì bị hư hại nặng . Nếu tôi chạy nhanh hơn chừng hai giây thì xe bên trái đã đụng ngay vào chỗ ngồi của tôi, không chết thì cũng bị thương nặng vì họ vượt đèn đỏ và chạy rất nhanh . Tôi lại thoát chết .

II ) Suy ngẫm: Nếu nhìn vào cuộc sống bằng cái nhìn tâm linh thì trong suốt cuộc đời tôi, tôi phải tạ ơn Thiên Chúa và Đức Mẹ vì nhiều lần tôi suýt chết, mà không chết.

 Phải tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh (1) dù thành công hay thất bại cũng phải tạ ơn .Tạ ơn khi thất bại mới có ý nghĩa, vì biết đâu thử thách này để mình cần Chúa hơn , cần cầu nguyện với Chúa, xin Chúa nâng đỡ mình, an ủi mình, mình sẽ càng gắn bó, gần gủi với Chúa nhiều hơn .

Có những điều chúng ta hiểu biết được do kiến thức của chúng ta. Nhưng hiểu biết của chúng ta luôn luôn bị giới hạn . Tất cả biến động của thế giới hay của một nước thì vô cùng. Làm sao biết hết được.

Cho nên phải cầu nguyện trong mọi sự và mọi sự đều phải cầu nguyện .

Trước năm 1975 tôi đâu có thể tin rằng miền Nam thua miền Bắc được. Một thế giới tự do văn minh không thể thua một chế độ độc tài, man rợ.

Và đâu có ai tin rằng phía đã chiến thắng rồi còn giam giữ người thua trận đến thời gian

quá lâu dài đến như thế. Nhiều người ở tù 10, 15 năm, 17 năm.

Làm sao biết được có chương trình H.O. ra đi trong trật tự .

Làm sao biết được công ăn việc làm sẽ ra sao ? khi qua Mỹ sinh sống.

Nếu nhìn mọi sự việc với cái nhìn của đời sống tâm linh thì ta cũng phải tạ ơn Chúa mọi việc, ngoài khả năng tính toán của ta.

Câu chuyện “tái ông mất ngựa” hay chuyện “thánh Gióp” nói lên rất nhiều ý nghĩa của cuộc đời chúng ta. Lúc sung sướng, lúc khổ sở, lúc có công ăn việc làm, lúc thất nghiệp, lúc nghèo, lúc khá giả, lúc khỏe mạnh, lúc đau yếu. Làm sao ta có thể biết trước được. Cho nên phải chấp nhận cuộc đời, chấp nhận mọi sự, tạ ơn Chúa khi thất bại, đau khổ, thì cuộc sống ta mới bình an được.

III ) Kết : Trong gia đình tôi có Bác hai là người biết trước được ngày chết của mình. Hôm đó ông tắm rửa sạch sẽ, măc bộ đồ trắng, thắp nhan trên bàn thờ , rồi ông nằm trên giường và ra đi trong bình an không than khóc.

Một người khác cũng trong dòng họ tôi gọi là ông Út, ông thường ngồi thiền . Ông cũng biết được ngày mất. Ông ngồi thiền khoảng 7 ngày và ông đã ra đi trong lúc ngồi thiền . Hòm để chôn cất ông có hình bát giác.

Khi làm đám tang, bà út,vợ ông khóc, người con trai là chú sáu Rẩy kéo ra phía sau nói:  “Tía dặn chết không được khóc sao má lại khóc.” Vì vậy, bà út khi khóc phải ra phía sau nhà mà khóc, chứ không khóc ở nhà trên lúc có nhiều người bà con đến thăm viếng nữa.

Tôi cứ suy nghĩ hoài: “Làm sao lúc ra đi, lúc chết, người thân xung quanh đều khóc lóc mà mình ra đi thì mỉm cười”.

    Tác giả Phùng văn Phụng

(1)  Thơ của Thánh Phao lô (1TX5, câu 17)

viết xong ngày 27 -02-2016

Những người không chịu lùi bước trước nghịch cảnh

Những người không chịu lùi bước trước nghịch cảnh

 Bút ký của Đoàn Thanh Liêm

* * *

Hồi đầu tháng 8 năm 2013 mới đây, tôi được nhà báo Thanh Thương Hoàng

dẫn đi tham dự một buổi trình diễn văn nghệ thật là đặc sắc diễn ra tại Trung

tâm Hội Nghị của thành phố Santa Clara gần với San Jose. Các nghệ sĩ trình

diễn đều là những người khuyết tật, người thì cụt hết cả cánh tay mặt như

nhạc sĩ Thế Vinh, người thì bị mù lòa như nhạc sĩ Hà Chương, người thì bị

câm ngọng từ hồi còn nhỏ tuổi như ca sĩ Thủy Tiên v.v… Cử tọa hôm đó gồm

đến 600 người ngồi chật kín cả cái sảnh đường được trang trí như là một rạp

hát và mọi người đều nhiều lần đứng lên vỗ tay tán thưởng các mục trình

diễn thật điêu luyện xuất sắc cùa những nghệ sĩ khuyết tật này – mà có người

mới từ trong nước qua, lại có người đã định cư lâu năm tại nước ngoài.

I – Từ chương trình văn nghệ “Ngọc Trong Tim” của Việt Nam đến các cuộc

thi đua thể thao “Special Olympics” của Mỹ.

 Buổi trình diễn văn nghệ nói trên là một trong những tiết mục sinh họat được

tổ chức lưu động tại nhiều địa điểm trên thế giới, nơi có đông bà con người

Việt sinh sống. Chương trình này nhằm giới thiệu tài năng và cố gắng luyện

tập hết sức công phu bền bỉ của những người khuyết tật hầu đạt tới trình độ

cao về nghệ thuật sáng tác và trình diễn âm nhạc cũng như trong một số bộ

môn khác. Chương trình có tên gọi là “Ngọc Trong Tim” ngụ ý diễn tả cái

kho tàng quý báu vẫn còn chứa chất trong trái tim con người – cụ thể như

tấm lòng trắc ẩn cảm thông trước nỗi khổ đau của người khác – mà đặc biệt là

sự quan tâm chăm sóc đến sự phát triển tài năng của lớp người bị thua thiệt

do số phận ngặt nghèo của tật nguyền gây ra. Điển hình là Trung tâm Hướng

Dương do nhạc sĩ Thế Vinh thiết lập ở Bình Dương để giúp nơi ăn chốn ở và

hướng dẫn việc học tập cho các em khuyết tật.

Chương trình “Ngọc Trong Tim” này làm chúng ta nhớ đến tổ chức “Special

Olympics” (Thế vận hội Đặc biệt) dành riêng cho người khuyết tật tham gia

thi đua tranh tài về thể thao tại nhiều thành phố trên đất Mỹ. Chương trình

này xuất phát là nhờ ở sáng kiến vận động và tổ chức khôn khéo của bà

Eunice Kennedy Shriver (1921 – 2009) là người em gái của Tổng Thồng

Kennedy – mà cũng là phu nhân của ông Sargent Shriver (19 15 – 2011)

người lãnh đạo tài ba tiên khởi của chương trình Peace Corps nổi tiếng của

chính phủ Mỹ bắt đầu từ năm 1961.

Khỡi sự từ năm 1968 – các cuộc tranh tài Special Olympics này đã được nâng

lên tầm mức quốc gia không những tại nước Mỹ, mà còn được nhiều nơi trên

thế giới mô phỏng theo nữa. Và hiện nay thì các người con của ông bà

Shriver cũng đang tiếp nối góp phần vào việc điều hành chương trình này.

Cố gắng vượt qua sự hạn chế của tật nguyền do các nghệ sĩ cũng như các

vận động viên thể thao nói trên mà thực hiện được – thì rõ rệt đã làm cho

chúng ta nhớ lại nhận xét thật sâu sắc của cụ Nguyễn Du qua câu thơ trong

Truyện Kiều, đó là :

Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.

 II – Chuyện về một số người “bất chấp bệnh tật”.

Trên đây là một số chương trình có tầm vóc lớn dành riêng cho số đông

người khuyết tật có thể tham gia trong lãnh vực văn nghệ cũng như thể thao.

Nhưng trong đời sống thường ngày của các cá nhân, ta vẫn thấy có rất nhiều

người đã có những cố gắng bền bỉ phi thường để vượt qua được những

nghịch cảnh trớ trêu của số phận – mà tôi xin ghi lại dưới đây một số trường

hợp của những người trong số thân quen gần gũi với mình.

Trong số những bạn hữu tôi quen biết, thì cũng có khá nhiều người có ý chí

vươn lên để vượt qua được nghịch cảnh do tuổi già hay do tật bệnh gây ra.

Bài viết này xin được ghi lại một số chuyện “người thật, việc thật” của vài ba

người mà tôi được biết từ bấy lâu nay. Và để công chúng được biết thêm về

các chuyện đáng chú ý này, tôi xin các bạn được nói đến trong bài cho phép

tôi được tiết lộ đôi chút trong cuộc sống riêng tư của mỗi người. Xin được

ghi trước ở đây lời cảm ơn chân thành đến các bạn.

1 – Tác giả Nguyễn Công Luận vẫn không ngừng công việc nghiên cứu biên

khảo, dù đã đau bệnh từ 25 năm nay.

Sau khi đi tù “cải tạo” về nhà ít lâu, thì Thiếu tá Nguyễn Công Luận mắc

chứng bệnh Parkinson run rảy chân tay, đi đứng khó khăn. Nhưng anh vẫn

kiên trì nhẫn nại theo đuổi công việc nghiên cứu sáng tác của mình – nhất là

từ khi qua định cư ở bên Mỹ anh được tự do viết lách và phổ biến công trình

biên sọan của mình. Anh được mời làm Phụ tá Chủ biên (Associate Editor)

cho bộ sách dày 1,200 trang có tên là “The Encyclopedia of the Vietnam

War” (Bách khoa Tòan thư về cuộc chiến tranh Việt nam) xuất bản năm 1998

– trong đó anh đã tham gia viết đến cả chục bài.

Và đặc biệt là cuốn Hồi ký do anh Luận viết trực tiếp bằng Anh ngữ trên 600

trang do nhà xuất bản Đại học Indiana ấn hành năm 2012. Cuốn sách này đã

được nhiều người Mỹ vốn am hiểu tình hình Việt nam và nhất là các sĩ quan

cao cấp trong Quận đội Mỹ ca ngợi nhiệt tình. Về phía người Việt, thì đã có

nhà văn Mặc Giao ở Canada và cả tôi cũng đã viết bài giới thiệu cuốn Hồi ký

này với độc giả trước đây nữa. Tác giả Nguyễn Công Luận sẽ giới thiệu cuốn

Hồi ký nhan đề “ Nationalist in the Vietnam Wars ” này với công chúng tại

San Jose vào đầu tháng 10 năm 2013 sắp tới.

2 – Nhà báo Trương Gia Vy vẫn lo điều hành tuần báo Viet Tribune và còn

tham gia công tác từ thiện nhân đạo, dù bị bệnh tật ngặt nghèo.

 Từ nhiều năm nay, dù bị bệnh phải thay lọc máu mỗi ngày, mà nhà báo

Trương Gia Vy vẫn sát cánh cùng với phu quân là nhà văn Nguyễn Xuân

Hòang trong việc điều hành tờ báo Viet Tribune ở San Jose. Vào đầu tháng 8

mới đây, khi được tin anh Hòang bị đau nặng, tôi đã tìm cách đến thăm anh

chị tại nhà riêng ở thành phố Milpitas – thì tôi thấy anh Hòang tuy đau yếu

gày còm, nhưng vẫn còn bình tĩnh tỉnh táo và chuyện trò vui vẻ với bạn hữu

đến thăm. Thế nhưng anh cho biết hiện lúc đó là vào 10 giờ sáng ngày thứ

Bảy mà bà xã Gia Vy vẫn còn đang phải lo việc lọc máu mỗi ngày.

Ấy thế mà vào chiều ngày Chủ nhật hôm sau, tôi lại thấy Gia Vy có mặt tham

gia với Ban Tổ chức chương trình “Ngọc Trong Tim” tại Santa Clara

Convention Center như đã ghi ở trên. Nhà báo Thanh Thương Hòang – là

người đã từng sinh sống nhiều năm ở San Jose – cho tôi biết : “Trương Gia

Vy là người phụ nữ rất năng nổ tích cực trong công tác từ thiện nhân đạo –

mặc dầu chị bị bệnh tật lâu ngày và lại rất bận rộn trong việc điều hành tờ

báo. Mà nay lại còn phải lo chăm sóc cho ông xã cũng đang bị chứng bệnh

nan y nữa. Đó quả thật là một con người có ý chí nhẫn nại và tấm lòng nhân

ái – đáng ca ngợi trong cộng đồng người Việt tại khu vực miền Bắc

California này…”

3 – Họa sĩ Trần Bản Anh đến khi về hưu ở tuổi 70 mới ghi tên đi học vẽ.

 Chị Bản Anh theo học ban Trung học tại trường Quốc Học ở Huế từ cuối thập

niên 1940 qua đầu những năm 1950. Sau khi lập gia đình, chị đi làm nhiều

năm tại Bộ Kinh tế ở Saigon. Qua Mỹ đầu năm 1990 với diện HO theo ông

xã là anh Dương Công Liêm trước 1975 là Đại tá ở Cục Công Binh. Anh chị

vẫn tiếp tục đi làm ở thành phố Los Angeles và sau năm 2000 mới về nghỉ

hưu và hiện định cư ở San Jose.

Chừng 7 – 8 năm nay, chị Bản Anh mới đi theo học về hội họa theo lối Tàu

với một giáo sư người Trung quốc. Nhận thấy chị có năng khiếu đặc biệt, nên

ông thày ra sức khuyến khích và tận tâm chỉ dẫn cho chị. Và từ vài ba năm

gần đây một số bức tranh của chị đã được ông thày tuyển chọn để gửi đi triển

lãm ở bên Đài Loan. Kết quả là họa sĩ Bản Anh của chúng tôi đã mấy lần

nhận được bằng khen của Ban Tổ chức cuộc triển lãm cũng như của chánh

quyền của một thành phố bên đó.

Vốn tính khiêm tốn, chị không để cho giới nhà báo phỏng vấn để viết bài ca

ngợi thành công của một họa sĩ nghiệp dư ở lứa tuổi đã cao. Mà chị chỉ để

cho các bạn hữu thân thiết đến thưởng thức tác phẩm hội họa của mình tại

nhà trong chỗ riêng tư, âm thầm kín đáo mà thôi. Vì thế, mặc dầu là chỗ quen

biết gần gũi với anh chị đã lâu, tôi cũng chưa được chị gửi cho ảnh chụp bức

tranh nào của chị để mà giới thiệu với công chúng bạn đọc được.

 III – Chính khí ngất trời của Tổng Đốc Hoàng Diệu (1828 – 1882).

Lịch sử nước ta đã ghi lại rất nhiều tấm gương đẹp đẽ tuyệt vời của những vị

anh hùng lẫm liệt đã hy sinh xả thân mình trong cuộc tranh đấu bảo vệ đất

nước trước sự xâm lăng của ngọai bang. Một trong những vị anh hùng đó là

Tổng Đốc Hòang Diệu – ông đã tự kết liễu đời mình khi quân Pháp xâm lược

đánh chiếm được thành Hanoi do ông trấn giữ vào năm 1882. Ông đã tuẫn

tiết bằng cách tự treo cổ mình trên một cành cây – để tránh không cho quân

giặc bắt được vị chỉ huy pháo đài thành lũy.

Vì thế mà sau này trong dân gian nhiều nơi bà con ta vẫn truyền tụng bài thơ

“Hà Thành Chính Khí Ca”- để ca ngợi tấm gương tiết tháo anh hùng của ông.

Chuyện của ông có chi tiết này mà chỉ gần đây tôi mới được biết đến – đó là

do một hậu duệ của cụ Phạm Phú Thứ thuật lại. Xin lược ghi lại như sau :

Khi được triều Huế cử ra nhậm chức Tổng Đốc Hà Thành ngòai miền Bắc, cụ

Hoàng Diệu đã đến thăm và vấn kế bậc đàn anh và cũng là người đồng hương

từ đất Quảng Nam với mình : đó là cụ Phạm Phú Thứ người đã cùng với cụ

Phan Thanh Giản đi sứ qua Pháp vào năm 1864 để bàn thảo chuyện thương

thảo ngọai giao giữa hai nước Việt và Pháp sau khi quân Pháp đánh chiếm đất

Nam Kỳ vào năm 1860 – 61. Cụ Phạm lúc đó đã nghỉ hưu, nhưng cũng giúp

cụ Hoàng bằng cách phân tích chi tiết về tương quan thế lực giữa bên Việt

nam và bên phía quân Pháp. Cụ Phạm kết luận là nhiệm vụ của vị Tổng Đốc

Hà Thành thật là nặng nề khó khăn lắm đấy.

Cuộc hội kiến giữa hai cụ Hòang và Phạm chấm dứt. Trước khi vị khách ra

về, hai vị chủ và khách đều “LạyTạ nhau” lúc từ biệt. Xin ghi rõ là hai cụ

Lạy Tạ nhau, chứ không phải là vái, là xá nhau theo như lối chào hỏi xã giao

thường lệ. Vì lý do là cả hai cụ đều biết rõ là vị Tổng Đốc Hà Thành sẽ phải

đi vào chỗ chết, vì không có cách nào mà chống trả nổi thế lực quá ư hùng

hậu mạnh mẽ của quân Pháp. Và đó là cử chỉ bày tỏ sự Vĩnh biệt giữa hai

người bạn thân thiết quý trọng lẫn nhau. Mà cũng đúng như lịch sử đã ghi lại

rành rành là : “Tổng Đốc Hòang Diệu đã phải tuẫn tiết sau khi Hà Thành thất

thủ về tay quân xâm lược – lúc ông mới có ngoài 50 tuổi.”

Thành ra cụ Hoàng Diệu, dù biết trước nỗi hiểm nguy của chức vụ trấn thủ

thành Hanoi, thì cụ cũng không hề nhát gan khiếp nhược để mà thóai thác cái

nhiệm vụ này. Mà trái lại cụ vẫn lên đường và sẵn sàng đi vào cõi chết để giữ

vững tiết tháo trung trinh của bản thân mình đối với đất nước – cũng như để

bảo tồn được danh dự cho giống nòi.

Vào năm 1928, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Tổng Đốc Hoàng Diệu

(1828 – 1928), nhà báo Phan Khôi là người cháu ngọai của cụ đã cho phổ

biến rộng rãi trên báo chí nguyên văn bài hùng sử ca “Hà Thành Chính Khí

Ca” – mà trước đó chỉ mới được phổ hạn chế trong dân gian theo lối truyền

khẩu mà thôi.

Nhân tiện cũng xin ghi là khí phách rạng ngời của nhà báo kỳ cựu Phan Khôi

trong vụ đòi tự do dân chủ thời phong trào Nhân Văn Giai Phẩm hồi năm

1955 – 1957 ở miền Bắc – thì chắc chắn là phải bắt nguồn từ cái truyền thống

anh hùng bất khuất của Vị Tổng Đốc Hà Thành vốn là ông ngọai của nhà

báo. Quả thật Phan Khôi là một hậu duệ rất xứng đáng của Tổng Đốc Hòang

Diệu vậy/

Costa Mesa California, Mùa Vu Lan Quý Tỵ 2013

Đoàn Thanh Liêm

Nỗi Đau Tuổi Già –

Nỗi Đau Tuổi Già

Huy Phương

February 27, 2016 | by TVVN |

Nỗi Đau Tuổi Già – Huy Phương

Ở đây, chúng ta không bàn chuyện đau nhức, cao máu, tiểu đường…nữa, vì đã có quá nhiều vị bác sĩ quan tâm tới tuổi già trên đất Mỹ này. Những loại đau trên đã có thuốc và có chính phủ Mỹ trả tiền, nhưng có những thứ đau khác không có thuốc chữa và cũng không ai kê vai gánh vác giùm.

Báo OC Register thứ sáu tuần trước có đăng tin một ông già bị người ta đem bỏ trước cổng một ngôi chùa ở thành phố Westminster. Ông lặng lẽ ngồi trước hiên chùa suốt ngày. Cảnh sát đến mang ông vào bệnh viện tâm thần. Ông không có trong người bất cứ một thứ giấy tờ nào để biết được ông là ai, ở đâu. Ông không nói một lời nào, chỉ biết lặng lẽ, đôi khi cười một mình như một người mất trí. Ông là một người Á Châu, Việt Nam cũng chưa chừng, như vậy ông không phải sinh ra ở đây, hay từ trên trời rơi xuống như cô bé Maika trong một tập phim Tiệp Khắc. Vậy là có người chở ông tới và bỏ ông lại đây, không ai ngoài con cái hay thân thích của ông. Lâu nay thỉnh thoảng người ta thấy có những thiếu phụ sinh con rồi đem con bỏ vào thùng rác, nhưng chưa thấy ai đem cha mẹ vứt bỏ ngoài đường. Ông già chỉ cười vu vơ, trí nhớ của ông đã suy kiệt, nếu không ông sẽ đau khổ biết chừng nào?

Trước đây người ta kể chuyện có người chở bà mẹ già bỏ ở cây xăng, tôi không tin, tưởng là chuyện đùa, nhưng bây giờ thực sự lại có người “đem cha bỏ chùa”.

Cũng lại câu chuyện của một người già. Tháng trước, trong một dịp đưa người thân đi Việt Nam, tại quầy vé China Airline ở phi trường Los Angeles tôi đã chứng kiến một cảnh khá đau lòng. Trong khi mọi người đang xếp hàng trình vé, cân hàng thì một bà cụ người Việt cứ loay hoay lúng túng trước quầy vé với các thứ giấy tờ vương vãi, bề bộn trên sàn nhà. Bà ngồi bệt xuống đất hết móc túi này đến túi nọ, vẻ mặt lo lắng. Một nhân viên an ninh phi trường thấy tôi cũng là người Á Đông, ngỏ ý muốn tôi lên giúp bà cụ. Nhân viên quầy vé cho biết bà có vé máy bay, một visa nhập cảnh Việt Nam nhưng không có passport hay thẻ xanh. Tôi giúp bà moi từ đống giấy tờ ra chỉ thấy một cái hộ chiếu của Việt Nam cấp cách đây mười mấy năm khi bà đến Mỹ đã hết hạn và một cái ID của bà do tiểu bang Florida cấp. Bà mới từ Florida đến phi trường Los mấy giờ trước đây một mình và trình giấy tờ để lên máy bay đi Việt Nam.

Cuối cùng, bà cũng lên được máy bay, nhưng bà sẽ không bao giờ có thể trở lại Florida nữa vì trong tay bà không có passport của Hoa Kỳ, không thẻ xanh, không “entry permit”. Đây là trường hợp một bà mẹ già, quê mùa bị con cái “mời khéo” về Việt Nam. Tội nghiệp cho bà đã ngồi trên máy bay năm sáu tiếng đồng hồ để đến phi trường LAX, sắp tiếp tục chặng đường về Việt Nam nhưng không biết là mình không thể trở lại Mỹ và lòng bất nhân của con cái. Hình ảnh bà già này cứ ám ảnh tôi mãi. Bà vụng về, quê mùa, có lẽ cũng chẳng giúp ích được gì cho con cái mà chỉ thêm gánh nặng. Thôi để cho bà đi, khi biết mình không trở lại Mỹ được thì chuyện đã rồi. Tuổi bà có nằm lại trên quê hương cũng phải, sống chẳng giúp ích gì được cho ai, chết ở đây bao nhiêu thứ tốn kém.

Hai vợ chồng sang Mỹ từ hai mươi năm nay, đi làm nuôi con, mua được căn nhà đã pay off (trả hết). Khi các con đã có gia đình ra riêng thì ít năm sau ông cụ cũng qua đời. Thấy mẹ hiu quạnh trong một căn nhà khá lớn, mà giá nhà đang lên, các con bàn với mẹ bán nhà đi rồi về ở với các con. Bà mẹ bán nhà, thương con chia đều cho mỗi đứa một ít, còn dăm nghìn dắt lưng, rồi về ở với con. Bà không biết lái xe, không biết chữ nghĩa, cũng không biết trông cháu làm home work, nên cha mẹ chúng phải nhờ người đưa đón. Bà thích nấu ăn, gói bánh, kho cá, nhưng sợ nhà hôi hám, con cái không cho. Lúc đầu thì chẳng sao, lâu dần mẹ thành gánh nặng. Buổi chiều, đứa con gái xô cửa trở về nhà, thấy mẹ đang gồi xem TV, nó hất hàm hỏi: – “Có hiểu gì không mà thấy má ngồi coi suốt ngày vậy?”. Có lúc chuông điện thoại reo, đứa con nhấc máy, bên kia không biết ai hỏi gì, trước mặt bà già, nó trả lời nhát gừng: – “Bả đi khỏi rồi!”

Một bà mẹ khác, ở chung nhà với một đứa con nhưng nhờ một đứa con khác đưa đi bác sĩ. Xong việc, nó đưa mẹ về rồi lẹ lẹ dọt xe đi làm. Bà già vào tới cửa, móc túi mãi không tìm ra cái chìa khóa nhà. Bà không có chìa khóa, không cell phone, cũng không có tiếng Anh, sợ sệt không dám gõ cửa hàng xóm. Bà ngồi đó, trên bục cửa cho tới chiều, khi đứa con ở chung nhà đi làm về, thì bà đã kiệt sức vì khô nước, phân và nước tiểu đầy mình.

Đời xưa, người ta kể chuyện trong một gia đình, có hai vợ chồng đối xử với ông cha già đã run rẩy của mình tệ bạc, cho cha ăn trong cái “mủng dừa”. Một hôm hai vợ chồng đi làm về thấy đứa con nhỏ của mình đang hì hục đẽo một cái gáo như thế, được cha mẹ hỏi, nó “thành thật khai báo” rằng “để dành cho cha mẹ lúc về già”.

Đâu phải ai nuôi con cũng nghĩ tới lòng cha mẹ, cũng như nhớ chuyện “trồng đậu có đậu, trồng dưa có dưa”.

Huy Phương

Từ Thiện “Đại Chúng” – Mai Thanh Truyết

Từ Thiện “Đại Chúng” – Mai Thanh Truyết

Từ Thiện “Đại Chúng” – Mai Thanh Truyết

Tu_Thien_1

Từ tháng 12 năm 2015, tại Việt Nam xuất hiện hai hiện tượng nổi bật trong xã hội, nhưng bà con trong nước ít người lưu tâm đến vì cuộc sống tất bật lo việc mưu sinh hàng ngày.

Đó là những gói cơm miễn phí và bất ngờ cho người nhận, cũng như những thùng bánh mì đặt cắt đặt nhiều nơi bắt đầu từ Sài Gòn và lan tràn ra Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, rồi xuống dần tới Quy Nhơn, Bình Định, Nha Trang, Phan Thiết v.v…

Việc làm từ thiện làm ấm lòng người nghèo nầy được người viết gán cho tên là: “Từ Thiện Đại Chúng” là một hành động “tự phát” do một số anh chị em sinh viên, những Hướng Đạo Sinh, những lớp người trẻ… trước nỗi thương đau, thiếu thốn của quá nhiều thành phần nghèo trong xã hội từ Bắc chí Nam.

Tu_Thien_2Vì đâu nên nỗi nầy?

Phải chăng chính vì cơ chế chuyến chính vô sản đang dày xéo dân tộc, bần cùng hóa người dân sau 70 năm ở miền Bắc, và hơn 40 năm ở miến Nam!

Tại Huế: Hội Hướng Đạo Việt Nam và các thành viên tại Huế phụ trách coi sóc các thùng bánh mì từ thiện tại Huế, cùng sự tiếp tay của nhiều anh chị em sinh viên. Đây là những hình ảnh đẹp của Tuổi Trẻ Việt Nam,

Thùng bánh mì miễn phí bắt đầu xuất hiện từ sáng ngày 21/2 tại đường Nguyễn Trường Tộ.

Thùng bánh mì miễn phí đã xuất hiện lần lượt tại hai đường Nguyễn Trường Tộ (21/2/2016) và Phan Chu Trinh (22/2) vào mỗi lúc 7 giờ sáng và cung cấp 70 ổ bánh mì mỗi buổi cho người qua đường.

“Huế cần thêm nhiều chương trình và những tấm lòng ý nghĩa như thế này đễ hỗ trợ các người dân khó khăn”, anh Nguyễn Phước Đạt (24 tuổi) chia sẻ khi chứng kiến hoạt động này trên đường Nguyễn Trường Tộ vào hôm 21/2.

Tu_Thien_3

Ngoài ra có không ít các cá nhân đã bắt đầu tham gia tiếp sức cho chương trình này bằng những khoản tiền mặt khi những hình ảnh đầu tiên về thùng bánh mì từ thiện được chia sẻ trên facebook.

Trao đổi với anh Hồ Bảo Long, người chịu trách nhiệm chính cho “Thùng bánh mì miễn phí” tại Huế, anh cho biết: “Hiện tại thùng bánh mì được các huynh trưởng của nhóm Hướng Đạo Sinh tại Sài Gòn tài trợ chính với mong muốn giúp đỡ được phần nào vất vả nhiều hoàn cảnh khó khăn tại Huế”.

Hiện tại, có hai thùng bánh mì được đặt tại: đường Phan Chu Trinh, bên cạnh Cầu Phủ Cam (đối diện Nhà Thờ Phủ Cam); và góc đường Nguyễn Trường Tộ, nằm giữa trường Trung Học Phổ Thông Quốc Học và Trung Học Phổ Thông Hai Bà Trưng….”

Đà Nẵng: Tủ bánh mì được đặt ở địa chỉ 322 Hoàng Diệu, quận Hải Châu, Tp Đà Nẵng, đây được xem là tủ bánh mì đầu tiên và duy nhất ở Đà Nẵng vào thời điểm này. Được biết, mỗi sáng có khoảng 50 chiếc bánh được cho vào tủ, phục vụ miễn phí cho người dân lao động nghèo….”

Phan Thiết: Một xe bánh mì từ thiện ở số 73, đường Nguyễn Hội thành phố Phan Thiết, với đối tượng thường xuyên là anh chị em làm nghề bán vé số, thu mua ve chai, lao động nghèo đã đến xe bánh mì từ thiện và tự tay lấy.

Nha Trang: Một địa điểm trên đường Lê Thành Phương, thành phố Nha Trang

Quy Nhơn: Một thùng bánh mì từ thiện đặt trước cổng Chùa Tường Quang 43-45 đường Hai Bà Trưng bắt đầu từ 16/1.

Sài Gòn: Có thể nói, đây mới chính là “cái nôi” của cuộc cách mạng “bánh mì từ thiện đại chúng” vì có quá nhiều việc làm từ thiện đại chúng do Thanh Niên, Sinh Viên, Hướng Đạo, và Tuổi Trẻ…. cùng chia sẻ nỗi khó khăn của người nghèo khổ.

Đó là việc thiết lập những quán cơm nghèo khổ cố định rải rác khắp Sài Gòn với giá 2.000 Đồng một phần cơm, cùng những toán hai người chạy xe gắn máy (quán cơm di động), mang những phần cơm làm sẳn Tu_Thien_6đựng trong bọc plastic, rong ruổi khắp hang cùng, ngõ hẽm, gầm cầu, xó chợ…để mang phần lương thực đơn sơ đến cho những người vô gia cư, em bé đánh giày, bà bán hàng rong với vài bó rau, tép hành, túi ớt trên giỏ….

Vài địa chỉ của một số quán cơm cố định:

* 14/1 đường Ngô Quyền, Phường 5, Quận 10, Sài Gòn.

* Đường số 3, Cư Xá Lữ Gia, Quận 11

* Nụ Cười 1: Số 6 Hồ Xuân Hương, Quận 3,

* Nụ Cười 2: Số 46/22 Nguyễn Ngọc Nhựt, Phường Tân Quý, Quận Tân Phú, do chị Thanh Tâm và Bà Phạm Thị Châu điều hành,

* Nụ Cười 3: Số 298A Huỳnh Tấn Phát, Phường Tân Thuận Tây, Quận 7, do chị Nguyễn Thị Huyền điều hành,

* Nụ Cười 4: Số 132 Bến Vân Đồn, Quận Tư, do Cô Băng Ngân điều hành,

* Nụ Cười 5: 6 Cống Quỳnh, Quận I, anh Nam Đồng điều hành

* Nụ Cười 6: Số 43 đường Trưng Trắc, P. Hiệp Bình Chánh, Quận Thủ Đức,

Tu_Thien_4

Và nhiều thùng bánh mì cho không cũng được đặt ở một số nơi ở Sài Gòn. Mặc dù trên thùng từ thiện có ghi “Từ thiện 01 ổ”, nhưng nhiều khi có người lấy hơn một ổ bánh! Nhưng xin “Đừng nên quá khắt khe với người nghèo!”

Vì sao?

Vì…”Có lẽ họ quá khó khăn nên mới lấy nhiều ổ bánh mì thôi, mình cũng đừng nên quá khắt khe với người nghèo làm gì. Xã hội thì có người này người kia, miễn sao họ có ý thức được hành động của mình”, Cô Lan, một trong những người tổ chức bánh mì từ thiện chia sẻ.

Ngày 18/1/2016, thùng bánh mì “miễn phí, 1 người 1 ổ” của Hoàng Mỹ Uyên và nhóm bạn (Quán Cà Phê Người Sài Gòn 71/4 đường Mạc Thị Bưởi, Phường Bến Nghé, Quận I) chính thức khai trương với 200 ổ bánh. Chỉ trong khoảnh khắc, “nhiều cô chú lao công, ve chai, đánh giày… ghé lấy ăn, và nếu thấy ai đó còn ngần ngại thì tụi mình khuyến khích và mời họ. Họ nhận bánh xong cứ gật đầu cám ơn tử tế, thấy thương lắm”, Mỹ Uyên nói.

NHẬN ĐỊNH THỰC TRẠNG CỘNG ĐỒNG người Việt hải ngoại trước những việc làm từ thiện

Bây giờ, xin nêu lên thực trạng của các cộng đồng người Việt tỵ nạn của chúng ta trên toàn thế giới, qua các hoạt động bất vụ lợi, có tác động làm hư đại cuộc, cũng như vô hình chung làm ngăn trở tiến trình mang lại dân chủ pháp trị cho đất nước.

Đó là:

Phong trào làm công tác từ thiện;
Việc gởi tiền về giúp thân nhân.

Chúng ta là những người Việt Nam tị nạn Cộng Sản Bắc Việt, sau hơn 40 năm sống tha hương, nhìn lại về Việt Nam, chúng ta đều thấy có rất nhiều vần đề của đất nước cần phải điều chỉnh lại.

Vì sao?

Xin mỗi người trong chúng ta hãy tự suy gẫm.

Chúng ta đã làm gì nơi hải ngoại đối với con người, đất nước và xã hội đã cưu mang mình, hay đối với mọi người nơi quê nhà đang đau khổ vì bị áp đặt dưới ách thống trị của Cộng Sản Bắc Việt?

Tuy nhiên trước mắt, với tư cách tị nạn, sống trên mảnh đất tạm dung, dù ở Hoa Kỳ hay các quốc gia khác, dường như “chúng ta là người khách trọ hữu tình nhưng bạc nghĩa”?

1. Chúng ta thật sự là người “tử tế” chưa?

Xin thưa, chưa hẳn.

Chúng ta vận động gửi Thỉnh nguyện thư yêu cầu Hoa Kỳ ngưng viện trợ nhân đạo vài trăm triệu cho Việt Nam, trong khi đó, hàng năm chúng ta gửi về Việt nam một lượng ngoại tệ rất lớn, lên đến hàng chục tỷ Mỹ kim, như thế có phải là chúng ta đã vô tình “cứu nguy” cho chế độ CSBV đang bên bờ vực thẳm không?

Cựu Tổng Thống George W. Bush đã từng làm cho chúng ta công phẩn (hay bị chạm nọc!) khi ông nhận định về cung cách hành xử của chúng ta trong vấn đề Việt Nam là “they deserve it!” (xin tạm dịch: Cho đáng kiếp!). Câu nhận định ngắn ngủi làm chúng ta đau, nhưng thưa quý vị, xin lắng lòng nghĩ lại, quả thật đôi khi những hành xử của chúng ta cũng “xứng đáng” với lời trách móc trên.

2. Chúng ta đã làm cái gọi là “từ thiện”?

Chúng ta đã làm gì khi Hoa Kỳ gặp những tai nạn thảm khốc rúng động toàn thế giới? Sau đây là vài con số thống kê về sự đóng góp “từ thiện” của cộng đồng tị nạn Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Biến cố 911

Sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, ngoài Cộng Sản Việt Nam đóng góp $250.000, nhưng triệu phú (hotel) Trần Đình Trường góp 2 triệu Mỹ Kim, chúng tôi không ghi nhận được các danh sách đóng góp khác của cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ, nếu có chăng chỉ là các hội đoàn đơn lẻ với số tiền không đáng kể.

Bão Katrina

Đối với trận bão Katrina 29/8/2005, chúng tôi không thấy Cộng Sản Việt Nam đóng góp, cũng không có danh sách cộng đồng Việt Nam qua các Hội đoàn, mà chỉ biết cộng đồng Houston giúp đỡ hiện kim và hiện vật, cũng như các hội đoàn Nam và Bắc California và nhiều nơi khác tổ chức văn nghệ, tiệc gây quỹ… nhưng số tiền thu được chẳng là bao so với sự cưu mang của đất nước và người dân Hoa Kỳ đối với bà con tị nạn kể từ sau 30/4/1975.

Sóng Thần Tsunami, Nhật Bản.

Còn nói về Nhật Bản gặp tai nạn Tsunami thảm khốc rúng động toàn thế giới vào ngày 12/3/2011, trên trang mạng, chúng tôi nhận thấy có ghi Cộng Sản Việt Nam và “nhân dân” giúp đở nạn nhân là 7.783.393 Mỹ Kim, trong khi đó cả thế giới giúp Nhật Bản trong vụ nầy lên đến 520 Tỷ Yen (tương đương gần 7 tỷ Mỹ Kim. Chưa thấy đóng góp của cộng đồng người Việt hải ngoại trong danh sách hàng ngàn NGO và các hội từ thiện trên thế giới.

Vậy mà chúng ta thường nói với nhau rằng: “Bán anh em xa mua láng giềng gần”.

Vậy quý vị làm từ thiện nghĩ sao?

NHƯNG CHÚNG TA ĐÃ LÀM, bằng nhiều cách tùy theo từng nhóm, chẳng hạn giúp xây các cơ sở tôn giáo, xây viện mồ côi, công tác khám bịnh, đào giếng v.v…không kể việc đổ tiền vào sự cứu trợ mỗi khi có thiên tai như nhà cháy, lũ lụt, bão tố…

Nhưng tiếc thay, những việc trên đây là bổn phận và trách nhiệm của những người đang quản lý đất nước. Đó là công việc mà họ phải làm, vì chính họ, những người Cộng Sản đang “phát triển đất nước theo kinh tế thị trường nhưng PHẢI theo định hướng xã hội chủ nghĩa!”

Vì vậy, vô hình chung quý vị đã làm thay cho họ!!!

Trong lúc đó, Cộng Sản Bắc Việt đã làm gì?

Mỗi khi có thiên tai, Cộng Sản Bắc Việt chỉ cần “xách bị ăn mày, xin ông đi qua, xin bà đi lại”, và chúng ta lại mở lòng cứu giúp, vì họ “dạy bảo” rằng chúng ta hôm nay là “khúc ruột ngàn dậm” của họ, mà trước kia họ lại nói rằng chúng ta chỉ là đám “ma cô, đĩ điếm, là ngụy liếm gót giày đế quốc”.

Vậy, quý vị làm từ thiện nghĩ sao?

Năm 2002, cá nhân chúng tôi đã báo động về tình trạng ô nhiễm nguồn nước ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là ô nhiễm Arsenic (thạch tín), nhưng chỉ một ngày sau đó, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Cộng Sản thời bấy giờ là Phan Thúy Thanh đã kết án chúng tôi là vô cảm với 300.000 nông, ngư dân. Họ phủ nhận sự thật đó vì họ sợ ảnh hưởng đến việc mới giao thương với Hoa Kỳ, và vì Việt Nam mới vừa được phép xuất cảng tôm cá vào Hoa Kỳ! Vậy Cộng Sản Bắc Việt có vô cảm với việc ô nhiễm nguồn nước làm ảnh hưởng tai hại đến sự sống còn của 300.000 nông ngư dân không?

3. Về việc gửi tiền và đi về Việt Nam.

Xin thử suy xét về hai sự kiện nầy.

a. Người Việt sống ở Hoa Kỳ vào khoảng 1.8 triệu người. Theo thống kê của World Bank, năm 2015, lượng tiền đổ về Việt Nam đạt trên 13 tỷ Mỹ Kim, trong đó 7 tỷ về Sài Gòn. Cũng theo một thống kê khác, lượng tiền nầy đa số xuất phát từ Mỹ.

b. Về vấn đề đi về Việt Nam, ngoài một số nhỏ ngoại lệ bắt buộc phải về vì quan hôn tang tế, vì người thân bịnh tật hay mất đi. Chúng ta có thể nói rằng, trong số 400-500 ngàn người về hàng năm, tuy với nhiều mục đích khác nhau, nhưng tựu trung đa số người về là làm ăn với Cộng Sản Bắc Việt, hay chỉ du lịch, mua vui, thậm chí tìm những thú vui vô đạo đức, dùng tiền để thỏa mản “thú tính” của con người.

Tất cả những điều đó chỉ làm:

Mất uy tín của người Việt hải ngoại, và

Vô hình chung kéo dài sự sống “thừa thãi” của chế độ đang đi vào buổi xế chiều (ước tính 500 ngàn người về và tiêu xài trung bình US $5000/người, Việt Cộng sẽ có 2.5 tỷ Mỹ Kim tiếp máu!).

Như vậy, chúng ta thấy việc đi về Việt Nam và gửi tiền về quê hương chỉ góp một phần ít vào ngân sách VC, nhưng còn phần lớn thì chạy vào túi đảng viên các cấp của chế độ tham nhũng, bóc lột tàn bạo!

Đối với những người đi về Việt Nam nhiều lần dưới danh nghĩa “làm ăn” hay “du hí”…, chúng ta cần phải có thái độ rõ ràng và dứt khoát với họ.

Xin đan cử quyết định của Cơ Quan Bảo Vệ Người Tị Nạn Và Vô Tổ Quốc (OFPRA- Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride).

Kể từ năm 1988 đến 2000, cơ quan nầy đã phế bỏ quyền tị nạn và quyền lợi được hưởng tiền trợ cấp xã hội, y tế và các phúc lợi khác do chính phủ cấp cho 22.417 người, vì họ đã về Việt Nam nhiều lần. Xin cảm ơn quyết định này của Cơ Quan Bảo Vệ Người Tị Nạn Và Vô Tổ Quốc (OFPRA- Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride).

Xin mỗi người trong chúng ta hãy lắng tâm cùng suy nghĩ, để tìm ra phương thức thích hợp đối phó với nhóm người vô ý thức này.

Thay lời kết

Qua những ghi nhận ở phần trên, quý bạn vừa cảm nhận được gì?

Phải chăng trong đầu mỗi quý vị tự đặt câu hỏi: “Vì sao xảy ra nông nỗi nầy?”.

Quý vị tiếp tục thắc mắc: “Tại sao chỉ có người dân mới nghĩ tới nhau, mới làm từ thiện cho nhau?”.

Và câu trả lời là: ”Phải chăng, nếu các cơ quan cầm quyền Cộng Sản (?) làm bánh mì từ thiện đại chúng như thế, sẽ bị cán bộ “rút ruột công trình” ngay?”

Vậy quý vị đang làm từ thiện ở hải ngoại nghĩ sao?

Sự thực là chúng ta đang giúp Việt Nam quá nhiều, nhưng giúp nước Mỹ, nơi cưu mang chúng ta, quá ít, nhưng lại tiếp tục muốn nước Mỹ và thế giới ủng hộ công cuộc chúng ta đấu tranh giải thể Cộng Sản Bắc Việt!

Chúng ta nghĩ rằng đã làm đủ bổn phận “công dân Hoa Kỳ” là tuân hành luật pháp, đóng thuế, có nhiều thanh niên Việt đi lính, làm nghĩa vụ công dân… nhưng dường như chúng ta sống trên đất Mỹ như một người tình của nữ thi sĩ TTKH là “tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời”. Hầu như chúng ta hoàn toàn không lưu tâm đến những gì xảy ra cho đất nước tạm dung nầy (người viết muốn nói “chúng ta” là một số đông gồm cả chính bản thân người viết). Vì thế:

Xin đừng làm những người khách trọ vô tình. Xin chia sẻ những gì xảy ra cho nước Mỹ, cho môi trường sống chung quanh mình.

Xin được sống làm người tử tế, lương thiện, văn minh và có tấm lòng với người bản xứ cũng như với bà con cật ruột của mình.

Xin đừng để những lời trách móc xảy ra nữa, như lời của TT Bush hay bất cứ lời của người bạn bản xứ nước mình đang cư ngụ.

Và, lời nói rạch ròi sau cùng của người viết là, Đại hội XII của Đảng CS Bắc Việt, thêm một lần nữa xác định vai trò lãnh đạo của đảng viên “Bắc Kỳ”. Ngày hôm nay, chính họ đã chính phức “phân liệt” hai cộng đồng dân tộc Việt Nam, người Bắc và người Nam. Cũng chính họ cố tình “chia cắt” đất nước thành hai…phần lãnh thổ.

Nạn Hán hóa hay Bắc (Trung Cộng) thuộc lần thứ 5 đã và đang lừng lững hiện diện trên hơn 49 tự điểm có hơn 1.000 người Trung Hoa lục địa, và đang tiếp tực tăng trưởng.

Nạn “Bắc Kỳ trị” đang thực sự ló dạng tại khắp các tỉnh từ Bắc chí Nam, đặc biệt là tại Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long!

Phải chăng “Bắc kỳ thuộc” là bước đầu trong tiến trình Hán hóa Việt Nam qua Hội nghị Thành Đô năm 1990, một sách lược muốn biến Việt Nam thành hai vùng “kinh tế tự trị” khác nhau vào năm 2020 chăng?

Với các “phải chăng” trên đây, 60% tuổi trẻ trong nước với sự yểm trợ của những người con Việt hải ngoại cần có thái độ và hành động tích cực hơn nữa để xóa tan mắc xích nô lệ nầy do các Thái thú nói tiếng Việt của nhóm Bắc kỳ đỏ.

Nên nhớ, người miền Bắc và miền Nam là hai thành phần không thể tách đôi của cộng đồng dân tộc Việt Nam, mọi hình thức chia rẽ người địa phương để trị của CS Bắc Việt là một hành động tội ác đối với quốc gia Việt Nam.

Tuổi trẻ Việt Nam hãy thực hiện lời nói của cố Tổng Thống Thomas Jefferson là “Every Generation needs a new REVOLUTION”.

Và, những nhóm nhỏ “Từ thiện đại chúng” “tự phát” trong bài viết hôm nay sẽ là những đóm lửa lần lần tỏa sáng và dứt khoát xóa tan bức màn vô minh trong tâm khảm của người Cộng Sản Bắc kỳ trong âm mưu Bắc kỳ trị, tiếp tay cho tiến trình Hán hóa Việt Nam của Trung Cộng!

Mai Thanh Truyết

Người con Việt, 2/2016

Ông nhà giàu và người nghèo La-da-rô

Ông nhà giàu và người nghèo La-da-rô
(Lc 16, 19-31)

19 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Pha-ri-sêu dụ ngôn sau đây : “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình.20 Lại có một người nghèo khó tên là La-da-rô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu,21 thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta.22 Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn.

23 “Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Áp-ra-ham ở tận đàng xa, và thấy anh La-da-rô trong lòng tổ phụ.24 Bấy giờ ông ta kêu lên: “Lạy tổ phụ Áp-ra-ham, xin thương xót con, và sai anh La-da-rô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!25 Ông Áp-ra-ham đáp: “Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ.26 Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được.

27 “Ông nhà giàu nói: “Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh La-da-rô đến nhà cha con,28 vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!29 Ông Áp-ra-ham đáp: “Chúng đã có Mô-sê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó.30 Ông nhà giàu nói: “Thưa tổ phụ Áp-ra-ham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối.31 Ông Áp-ra-ham đáp: “Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin.”

***

Câu chuyện về ông nhà giàu và người nghèo, tên là La-da-rô, mà Đức Giê-su kể cho chúng ta nghe trong bài Tin Mừng, rất quen thuộc đối với chúng ta. Nhưng có một chi tiết quan trọng, có thể chúng ta đã không để ý, đó là câu chuyện này là một dụ ngôn : « Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Pha-ri-sêu dụ ngôn sau đây ».

Dụ ngôn là một chuyện kể phát xuất từ thực tế cuộc sống (hạt giống, nắm men, tiệc cưới, người cha có hai người con, con chiên đi lạc hay đồng bạc bị mất…), nhưng lại chất chứa những chi tiết lạ lùng để mặc khải cho chúng ta, không phải trực tiếp nhưng theo ngôn ngữ ẩn dụ, về Thiên Chúa, về tình yêu và lòng thương xót của Người, về Nước của Người, về cách thức chúng ta đón nhận và sống với Người ngang qua tương quan của chúng ta với tha nhân và với những thực tại thuộc về đời này.

Theo bối cảnh, dường như Đức Giê-su kể dụ ngôn « Ông nhà giàu và người nghèo La-da-rô » cho những người Pha-ri-sêu : « Người Pha-ri-sêu vốn ham hố tiền bạc… » (c. 14), nhưng vấn đế mà dụ ngôn nêu ra lại đụng chạm đến mọi người chúng ta ở chiều sâu. Vậy, Chúa muốn nói với chúng ta điều gì, hay đúng hơn chất vấn chúng ta về vấn đề gì, khi kể dụ ngôn này ?

 Thời gian và vĩnh cửu

Trước hết, đó là sự khác nhau giữa thời gian và vĩnh cửu, hay nói dễ hiểu hơn là sự khác nhau giữa đời này và đời sau. Đời này thì có giờ, có tháng, có năm ; đời sau thì không có giờ, có tháng, có năm, nghĩa là lúc nào cũng là hiện tại, không có thủy không có chung ; đời này thì chóng qua, đời sau thì tồn tại mãi mãi ; đời này thì có thay đổi, đời sau thì không có thay đổi.

Chính vì thế, trong dụ ngôn, tổ phụ Abraham nói với ông nhà giàu sau khi đã chết, nghĩa là đã bước vào đời sau :

Giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được.

(c. 26)

Trong khi đó, ở đời này, giữa bàn tiệc của ông nhà giàu và người nghèo trước cổng đâu có phải là vực thẳm. Hai bên có thể đi qua đi lại dễ dàng ! Ý nghĩa này cần phải đánh động chúng ta. Bởi vì đời sau sẽ không thể thay đổi được, nhưng một cách nghịch lí, lại luôn luôn mới (x. Tv 136), nên chúng ta được mời gọi thay đổi, nghĩa là hoán cải ngay bây giờ, đặc biệt là trong cách chúng ta sử dụng của cải cũng như tất cả « những sự khác » (Linh Thao, số 23), theo hướng phục vụ và chia sẻ cho người khác, nhất là những người nghèo, những người thiếu may mắn và bất hạnh, và với cả những anh em, chị em nhỏ bé, yếu kém hay đau yếu bên cạnh chúng ta nữa, trong gia đình hay trong cộng đoàn. Hơn nữa, đời này thì rất chóng qua, còn đời sau thì kéo dài mãi mãi.

 Người nghèo và người giàu

Dụ ngôn còn muốn nói với chúng ta điều thứ hai, đó là những người giàu có ở đời này, sẽ bị lưu đày ở đời sau ; còn những người nghèo khó, sẽ được an ủi. Vấn đề của ông nhà giàu không phải là vì ông giàu có, ông có nhiều của cải, nhưng là ông quá gắn bó với của cải, đến nỗi ông không muốn chia sẻ, không quan tâm đến những người thiếu thốn hơn đang ở trước cổng nhà mình. Ông làm tôi cho của cải, thay vì làm tôi Thiên Chúa.

Trước khi kể dụ ngôn này, Đức Giê-su đã nói: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được” (Lc 16, 13). Điều này không có nghĩa là tiền của tự nó là xấu, và chúng ta phải từ bỏ, hay phải càng có ít càng tốt. Nếu hiểu như thế, chúng ta sẽ “tự lên án” mình, vì chúng ta không thể sống mà không có tiền của, nhất là trong cuộc sống và cách thức làm việc hiện đại hôm nay, càng ngày càng đòi hỏi những chi phí rất lớn và những phương tiện đắt tiền. Tiền Của trở nên xấu trong mức độ, chúng ta coi nó như thần linh, thay thế hay đối lập với Thiên Chúa (trong bản văn Hi lạp, đó là chữ “Mamon” viết hoa). Trong khi nó chỉ là phương tiện.

Làm việc để có tiền có của, qua đó mua sắp những phương tiện là điều cần thiết trong cuộc sống. Nhưng ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về sự tai hại của một cuộc sống “làm tôi tiền của”, nghĩa là chỉ chạy theo tiền của, chỉ chạy theo việc mua sắm các phương tiện, chỉ lo thỏa mãn những nhu cầu vật chất của mình. Lúc đó, người ta không còn làm chủ tiền của nữa, nhưng bị tiền của làm chủ, và hậu quả là gây đỗ vỡ những tương quan làm cho chúng ta sống hạnh phúc, đó là tình thương và sự liên đới. Bởi lẽ, chúng ta không chỉ sống bằng tiền của, bằng phương tiện, bằng việc thỏa mãn nhu cầu, nhưng còn sống bằng tương quan đón nhận, tin tưởng, bao dung, tha thứ, và nhất là hiệp thông, tình bạn và tình thương mà Lời Chúa đem lại cho chúng ta. Thiếu tình thương, thì dù có tiền của, đời sống của chúng ta cũng trở thành chết chóc, thậm chí trở thành địa ngục.

Đời này thì thay đổi được, còn đời sau thì không. Chúng ta hãy thay đổi trong cách chúng ta tìm kiếm và sử dụng của cải, để trở nên nghèo khó trong tâm hồn, và như thế sẽ được Chúa ban tặng Nước Trời mãi mãi ở đời sau.

 Lời Chúa và các bí tích

Điều thứ ba chúng ta cần lưu ý trong dụ ngôn, đó là ông Mô-sê và các ngôn sứ, nghĩa là Kinh Thánh, là đủ để cho người đang sống hoán cải, thay đổi cách sống của mình ; và không cần phải chứng kiến những điều lạ lùng, như người chết hiện về. Bởi vì, hiện về thì hiện về có một lần ; nhưng thay đổi cách sống là thay đổi suốt đời ; thế mà, sự thay đổi bền vững lại phát xuất từ sự biến đổi của con tim, nhờ tác động của Lời Chúa trong Kinh Thánh, chứ không phải từ những hiện tượng ngoạn mục ở bên ngoài. Những hiện tượng lạ lùng, chỉ là dấu chỉ mời gọi thôi, chứ không tự động đem lại cho chúng ta sự thay đổi sâu xa và bền vững.

Đời này thì thay đổi được, đời sau thì không ; đời này thì chóng qua, đời sau thì vĩnh cửu. Xin cho chúng ta không cần trông cậy vào những điều lạ lùng hay ngoại thường, nhưng hoàn toàn tín thác vào Lời Chúa và các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể. Vì nếu chúng ta hoàn toàn tín thác vào Lời Chúa và các bí tích, chúng ta sẽ nhận ra rằng, đó là những điều lạ lùng nhất, ngoại thường nhất, có sức mạnh hoán cải chúng ta, biến đổi chúng ta thành con của Chúa và thành anh chị em của nhau, làm cho chúng ta biết chia sẻ cách quảng đại. Vì qua Lời Chúa và bí tích Thánh Thể, Chúa chia sẻ cho chúng ta chính sự sống của Chúa cách quảng đại, và khi lãnh nhận sự sống của Chúa và nhận ra rằng, mọi sự chúng ta có là ân huệ Chúa ban, chúng ta được thúc đẩy để chia sẻ cho người khác cách quảng đại.

Như thế, dụ ngôn về ông nhà giàu và người nghèo La-da-rô, mà Đức Giê-su kể cho chúng ta nghe trong bài Tin Mừng hôm nay, chất vấn chúng ta thật mạnh mẽ về tương quan của chúng ta với người khác và với những thực tại thuộc về đời này. Xin cho chúng ta, nhờ Lời Chúa, Mình và Máu Thánh của Chúa, làm cho chúng ta thay đổi và hoán cải ngay bây giờ trong cách chúng ta liên đới với những những người chung quanh, nhất là người nghèo khổ và bất hạnh, và với cả những anh em, chị em nhỏ bé, yếu kém hay đau yếu bên cạnh chúng ta nữa.

* * *

Dụ ngôn « Ông nhà giàu và người nghèo La-da-rô » chất vấn chúng ta, nhưng đó chưa phải là sứ điệp chính yếu của dụ ngôn. Sứ điệp chính yếu của dụ ngôn, đó là Thiên Chúa trao ban sự sống viên mãn một cách quảng đại và nhưng không cho « người nghèo ». Chính vì thế mà Người nghèo được nêu tên đích danh « La-da-rô », còn người giầu thì không. Nhưng « người nghèo » là ai ? Đó là những người nghèo thật sự : những em bé bị giết hại ngay từ khởi đầu của sự sống, những em bé bị bỏ rơi, những em bé sinh ra tật nguyền hay mang những căn bệnh hiểm nghèo hay nan y, những người khuyết tật, những người sinh ra và lớn lên trong cùng khổ, trong những hoàn cảnh không xứng đáng với nhân phẩm, trong điều kiện xã hội thấp kém và thua thiệt…

« Người nghèo » còn là mẫu người mà chúng ta được mời gọi trở nên. Vậy, dù là chúng ta là ai, chúng ta được mời gọi sống như người nghèo, theo khuôn mẫu của Đức Giê-su, để đón nhận mọi sự từ lòng tốt của Thiên Chúa, ở đời này và đời sau, như chính Đức Giê-su đã nói trong Tám Mối phúc thật :

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
vì Nước Trời là của họ.
(Mt 5, 3)

Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

Buổi hoàng hôn của Đảng Cộng sản Trung Quốc

Buổi hoàng hôn của Đảng Cộng sản Trung Quốc

 (Cuộc chơi giành vương quyền kiểu Châu Á)

Minxin Pei (Bùi Mẫn Hân): “The Twilight of Communist Party Rule in China”  American Interest, 15-12-2015

Phạm Gia Minh dịch

Chiến lược sinh tồn của ĐCSTQ sau sự kiện Thiên An Môn đang hết tác dụng và chiến lược mới dường như lại thúc đẩy nhanh hơn sự sụp đổ của nó.

Trong giai đoạn sau Chiến tranh lạnh chưa có chế độ chuyên chế nào trên thế giới lại thành công như ĐCSTQ. Năm 1989 chính quyền đã có một cuộc đàn áp đẫm máu và chết chóc nhưng được bưng bít khi hàng triệu người phản kháng biểu tình trên hầu hết các thành phố chính trong cả nước để kêu gọi dân chủ và trút sự căm giận của mình lên chính quyền tham nhũng. Đảng chỉ thoát chết nhờ sự trợ giúp của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) với hàng đoàn xe tăng nghiến nát những người biểu tình ôn hòa trên khu vực quảng trường Thiên An Môn ở Bắc kinh ngày 4 tháng 6. Một phần tư thế kỷ kể từ thời điểm cuộc thảm sát Thiên An Môn đã trôi qua nhưng ĐCSTQ luôn phớt lờ mọi dự báo về hồi kết không tránh khỏi của mình. ĐCSTQ đã sống sót sau cú sốc của Liên Xô sụp đổ và còn thích ứng được với cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á những năm 1997-1998, khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Kể từ sự kiện Thiên An Môn, nền kinh tế Trung Quốc đã tăng gần 10 lần theo các điều khoản thực tế. GDP tính theo đầu người đã tăng từ 980$ lên 13.216 $ tính theo sức mua tương đương (PPP) trong cùng giai đoạn, đưa quốc gia này lên hàng ngũ các nền kinh tế có thu nhập trên trung bình.

Một cách dễ hiểu thành tích đó đã khiến nhiều nhà quan sát, kể cả những người từng trải về Trung Quốc tin tưởng rằng ĐCSTQ đã trở thành một chế độ chuyên chế dẻo dai với nhiều sức mạnh nội tại mà đa phần các chế độ chuyên chế khác không có. Ngoài ra, ĐCSTQ được biết đã xây dựng một quy trình hiệu quả cho việc lựa chọn đội ngũ lãnh đạo kế thừa dựa trên các quy định, chuẩn mực để phát hiện những công chức có năng lực cho hệ thống nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội. Khác với chế độ cứng nhắc kiểu Xô viết dưới thời Leonid Bregiơnhev, ĐCSTQ đã thể hiện năng lực đáng nể trong học hỏi và thích ứng (1).

Đáng tiếc là đối với những người ủng hộ lý thuyết về sự “chuyên chế dẻo dai” các giả định của họ, bằng chứng và những kết luận rút ra ngày càng khó bảo vệ dưới ánh sáng của những diễn biến gần đây ở TQ. Các biểu hiện của cuộc chiến quyền lực căng thẳng trong giới lãnh đạo cao cấp, tham nhũng tràn lan, tính năng động kinh tế bị đánh mất và chính sách đối ngoại hung hăng tiềm ẩn nhiều rủi ro, tất cả đều đang hiển hiện. Kết quả là ngay một số học giả mà công trình của họ gắn liền với luận đề về chế độ chuyên chế dẻo dai cũng đã buộc phải tự nhìn nhận lại (2). Càng ngày càng thấy rõ rằng những diễn biến gần đây làm thay đổi nhận thức về tính bền vững của ĐCSTQ không mang tính chu kỳ mà có tính hệ thống. Chúng là triệu chứng cho thấy sự suy kiệt, hết tác dụng của sách lược sinh tồn mà chế độ đã đề ra sau biến cố Thiên An Môn. Một số trụ cột của sách lược đó như sự đoàn kết của tầng lớp lãnh đạo cao cấp, tính hợp pháp dựa trên hiệu quả, sự tham gia của các giai tầng tinh hoa trong xã hội và chủ trương kiềm chế chiến lược trong đối ngoại đã hoặc là đã sụp đổ hoặc trở nên sáo rỗng buộc ĐCSTQ phải ngày càng phải dựa vào đàn áp và kích động chủ nghĩa dân tộc để tiếp tục cầm quyền.

Bởi lẽ đó, giới lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đang phải đối mặt với một sự lựa chọn quả quyết nhất kể từ sự kiện Thiên An Môn: mô hình phát triển tư bản thân hữu độc tài chuyên chế sau 1989 thì nay đã chết và giờ đây họ chỉ có thể hoặc là tham khảo Đài Loan và Hàn Quốc để dân chủ hóa, giành được cội nguồn bền vững cho tính hợp pháp, hoặc là sẵn sàng thực thi chính sách đàn áp gia tăng để duy trì chế độ một đảng cầm quyền. Việc họ sẽ lựa chọn như thế nào sẽ có ảnh hưởng không chỉ Trung Quốc mà cả châu Á và toàn thế giới.

Bất chấp hình ảnh có tính đại chúng về các cuộc cách mạng “quyền lực nhân dân” hay “mùa Xuân Ả Rập”, cội nguồn quan trọng duy nhất của sự thay đổi trong các chế độ chuyên chế chính là sự sụp đổ của tính đoàn kết trong giới lãnh đạo cấp cao. Diễn biến này có nguyên nhân chủ yếu là do gia tăng mâu thuẫn và xung đột trong giới lãnh đạo cấp cao đối với vấn đề sách lược tồn vong của chế độ và phân chia quyền lực cũng như lãnh địa bảo trợ. Kinh nghiệm chuyển đổi dân chủ từ giữa những năm 1970 cho thấy một khi chính quyền chuyên chế đối mặt với những thách thức đến từ các lực lượng xã hội đòi hỏi các đổi thay về chính trị thì vấn đề gây chia rẽ nội bộ giới lãnh đạo cấp cao chính là hoặc đàn áp các lực lượng đó thông qua leo thang bạo động hoặc là hòa giải với chúng thông qua quá trình tự do hóa.

Khi lực lượng cải cách chiếm ưu thế các bước ban đầu tiến tới chuyển đổi chế độ diễn ra tiếp theo thường là giảm nhẹ sự quản chế về chính trị và xã hội. Nếu như lực lượng cứng rắn thắng trong cuộc đấu thì đàn áp sẽ mạnh hơn nhưng các cuộc đụng độ xã hội và chính trị cũng sẽ leo thang và điều này sẽ tiếp diễn cho tới khi chế độ phải đối mặt với cuộc khủng hoảng khác buộc nó phải xem xét lại câu hỏi phải chăng đàn áp là sách lược đúng đắn nhất (3). Một dạng chia rẽ phổ biến khác trong giới lãnh đạo cấp cao đó là những xung đột do phân bổ quyền lực và đi cùng với nó là ranh giới các lãnh địa của sự bảo trợ (đôi khi đó cũng là sự bảo kê về kinh tế và chính trị – ND).Trong các chế độ chuyên chế được hình thành vững chắc, ví như ở các quốc gia hậu toàn trị (post-totalitarian) do đảng CS Leninit lãnh đạo thì xung đột này có xu hướng gia tăng khi mà cuộc ganh đua giành quyền lực dẫn tới tình trạng vi phạm các quy tắc và chuẩn mực được thiết lập từ lâu (ví dụ như làm trái Điều lệ Đảng – ND) nhằm bảo vệ sự cân bằng tinh tế về quyền lực trong giới lãnh đạo tinh hoa cũng như vì sự an toàn thân thể của họ. Trong nhiều trường hợp, nếu như không phải là tất cả các trường hợp – và Trung Quốc cũng không là ngoại lệ – khi những vi phạm đó được cam kết bởi các nhóm gia đình và điều này thể hiện một sự cha truyền con nối trong chính trị (4).

Trong trường hợp Trung Quốc, sự sụp đổ của tính đoàn kết trong giới lãnh đạo cấp cao phát sinh không từ cuộc tranh cãi giữa những người theo đường lối cứng rắn với những người cải cách mà lại bởi cuộc đấu đá nội bộ giữa những người theo đường lối cứng rắn với nhau để giành thế thượng phong.

Dấu hiệu khởi phát của sự mất đoàn kết trong giới chóp bu chính là việc thanh trừng Bạc Hy Lai, một cựu lãnh đạo đang bay cao của ĐCS ở Tứ Xuyên ngay trước Đại hội ĐCSTQ lần thứ 18 năm 2012. Sau này các sự kiện đã cho thấy sự ra đi của họ Bạc chỉ là khúc dạo đầu cho một cuộc thanh trừng làm sạch nội bộ ĐCS lớn nhất kể từ thời Cách mạng văn hóa. Sau đó,Tập Cận Bình, người thắng cuộc đã chính thức đảm nhận vị trí TBT đồng thời là Chủ tịch quân ủy PLA vào tháng 11/2012 liền triển khai một chiến dịch chống tham nhũng hung hãn chưa từng thấy nhằm đạt được thế thượng phong chính trị qua con đường tiêu diệt các đối thủ của mình. Cho dù chiến dịch do họ Tập khởi xướng ngày một trở nên lan rộng nhưng dường như sau một đêm nó đã tháo rời toàn bộ hệ thống mà giới lãnh đạo tinh hoa của ĐCSTQ đã dày công xây nên trong thời kỳ hậu Thiên An Môn nhằm gìn giữ tính đoàn kết, thống nhất của họ.

Có ba trụ cột chống đỡ cho hệ thống này. Cái thứ nhất là sự cân bằng tinh tế của quyền lực chính trị ở chóp bu được biết đến dưới cái tên sự lãnh đạo tập thể được thiết kế ra nhằm ngăn chặn sự xuất hiện của một lãnh tụ kiểu Mao Trạch Đông, người đã có thể áp đặt ý chí của mình cho toàn đảng. Trong hệ thống này mọi quyết định quan trọng đã được hình thành thông qua quá trình xây dựng sự đồng thuận và thỏa hiệp nhằm bảo đảm quyền lợi của các lãnh đạo cấp cao cùng nhóm lợi ích của họ. Cột trụ thứ hai là an toàn cá nhân tuyệt đối cho các lãnh tụ chóp bu, được xác định bất kể đương chức hay đã về hưu đối với các Ủy viên thường vụ BCT cũng đã tiêu tan cùng với sự rớt đài của Zhou Yongkang (Chu Vĩnh Khang) – một cựu ủy viên thường vụ BCT, người đứng đầu ngành an ninh nội bộ đã lãnh án tù chung thân vào năm 2015 sau khi bị kết tội tham nhũng. Những nỗ lực chống tham nhũng và các biện pháp khắc khổ đi kèm theo đã chấm dứt ít ra là tạm thời thực trạng chia chác của cướp được trong giới lãnh đạo cấp cao, gây ra cho họ nhiều nỗi đắng cay và theo báo cáo thì điều này đã thúc đẩy họ chống đối bằng cách ngưng trệ công việc. Trong khi còn nghi vấn liệu cuộc chiến chống tham nhũng của họ Tập sẽ thực sự nhổ được tận gốc vấn nạn này hay không thì nó đã rất thành công trong việc phá nát cấu trúc khuyến khích bên trong của chế độ được hình thành sau biến cố Thiên An Môn.

Xét về bản chất riêng của mình, sự chuyển biến từ “ lãnh đạo tập thể” sang “ nguyên tắc một cá nhân mạnh lãnh đạo” chưa chắc đã làm sáng tỏ một cách cần thiết thứ chủ nghĩa Lênin mang màu sắc Trung Quốc. Tuy vậy, kết cục ban đầu dễ thấy nhất của sự chuyển biến này cho đến nay đó là sự bốc hơi của tính đoàn kết, thống nhất – chất keo đã gắn kết cả một hệ thống hình thành sau biến cố Thiên An Môn. Mặc dù vậy hiện nay chưa thấy những dấu hiệu thách thức quyền lực của Tập Cận Bình trong ĐCSTQ và có thể đánh cuộc một cách an toàn khi cho rằng các đối thủ của họ Tập đang đấu thầu thời gian để đợi tới thời điểm phù hợp thì sẽ đánh trả.

Nếu như sự mất đoàn kết và thống nhất trong giới tinh hoa đang bị biến thành cuộc đấu chính trị cuối cùng để giải quyết tranh chấp dẫn tới sự chối bỏ hệ thống mà họ Tập đang cố gắng xây dựng thì chỉ có thể xẩy ra hai kết cục. Một, đó là trở lại với hệ thống tham nhũng hậu Thiên An Môn. Nhìn bề ngoài, điều này có vẻ như một giải pháp nhiều cám dỗ và hứa hẹn nhất, tuy nhiên lại bất khả thi bởi lẽ một số điều kiện cơ sở làm nền móng cho hệ thống hậu Thiên An Môn, cụ thể là sự tăng trưởng kinh tế do đầu tư mang lại và sự hài lòng về chính trị của tầng lớp trung lưu được bảo đảm bởi sự thịnh vượng gia tăng chưa từng có phần lớn đã biến mất. Nếu như nguyên trạng như trước đây không thể phục hồi thì ĐCSTQ sẽ cần một lối thoát khác. Trong khi mà chưa ai có thể biết ĐCS sẽ lựa chọn gì thì cũng đáng để nhớ lại rằng,vào những thời khắc đó ĐCS sẽ cố thử lại và tận dụng đến cùng ba mô hình quản trị chuyên chế: đó là Maoit (chủ nghĩa Cộng sản cực đoan), Đặng (chủ nghĩa tư bản thân hữu) và Tập (cá nhân mạnh lãnh đạo). Thật mỉa mai là ĐCSTQ có thể bị rơi vào tình thế tuyệt vọng và tàn khốc như ĐCS Liên Xô vào giữa những năm 1980: đó là thiếu ý tưởng và chiến lược phục vụ việc duy trì mãi mãi hệ thống lãnh đạo độc đảng và khi đó nó có thể đủ tuyệt vọng tới mức dám đánh cược vào bất cứ thứ gì, kể cả cải cách dân chủ và đa nguyên chính trị như là sách lược lâu dài để giúp ĐCS có sức sống trong một đất nước Trung Hoa đã chuyển biến hoàn toàn bởi quá trình hiện đại hóa đời sống kinh tế – xã hội.

Nếu như tính đoàn kết, thống nhất là chất kết dính của hệ thống hậu Thiên An Môn thì hiệu suất kinh tế như mọi người đều thừa nhận đó chính là cội nguồn quan trọng cho tính hợp pháp trong quần chúng của đảng cầm quyền. Một phần tư thế kỷ phát triển với tốc độ cao đã đem lại cho ĐCSTQ thời kỳ tương đối ổn định xã hội cùng với những nguồn lực khổng lồ để tăng cường năng lực đàn áp và mua chuộc những giới tinh hoa xã hội mới cùng tầng lớp trung lưu đang nổi lên ở các vùng đô thị. Tuy nhiên, hiện nay khi mà “sự thần kỳ kinh tế của TQ” đã kết thúc thì cột trụ thứ hai của hệ thống hậu Thiên An Môn cũng đang sụp đổ theo.

Nhìn bề ngoài, sự suy giảm mạnh của kinh tế Trung Quốc có vẻ như là một sự giảm tốc tự nhiên sau mấy thập kỷ tăng trưởng nóng. Nhưng một cái nhìn gần hơn vào nguyên nhân dẫn đến “ sự rớt đài vĩ đại của TQ” cho ta thấy chính những trở ngại mang tính cơ cấu và thể chế chứ không phải các yếu tố mang tính chu kỳ mới là chủ đạo và Trung Quốc đang bước vào một giai đoạn phát triển kinh tế từ thấp tới khiêm tốn nên điều này sẽ rất nguy hiểm đối với tính hợp pháp của ĐCSTQ.

Tin tức của báo chí về những rắc rối kinh tế của Bắc Kinh gần đây phần lớn chỉ tập trung vào các biểu hiện dễ thấy và đầy kịch tính của căn bệnh kinh tế Trung Quốc chẳng hạn như sự sụp đổ của thị trường chứng khoán mang tính bong bóng hay việc đồng Nhân dân tệ mất giá một cách đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên, sự suy giảm tăng trưởng của Trung Quốc có cội rễ sâu xa hơn.

Về mặt cơ cấu, sự tăng trưởng nhanh của Trung Quốc thời kỳ hậu Thiên An Môn đã được thúc đẩy chủ yếu bởi các nhân tố và hoàn cảnh xảy ra một lần và không lặp lại (one-off) chứ không nhờ tính ưu việt có mục đích của nhà nước chuyên chế. Trong số các nhân tố và hoàn cảnh đó thì nhân tố “cổ tức nhân khẩu học” (demographic dividend) là quan trọng nhất vì nó đã cung ứng gần như không có giới hạn đội ngũ công nhân Trung Quốc trẻ, khỏe lương thấp để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa. Ngoài chuyện lương thấp, các công nhân từ nông thôn lên thành phố có thể tạo ra một sự gia tăng nhanh chóng năng suất lao động khi kết hợp với máy móc, thiết bị mà không cần đào tạo thêm nhiều. Kết quả là chỉ riêng việc tái bố trí lực lượng lao động dư thừa từ nông thôn sang các nhà máy, cửa hàng thương mại và công trường xây dựng ở thành phố nền kinh tế đã đạt năng suất lao động cao hơn. Theo số liệu của Trung Quốc, năng suất lao động của một công nhân ở thành thị cao gấp bốn lần một nông dân. Trong ba thập kỷ vừa qua có khoảng 270 triệu người lao động nông thôn (không tính gia đình của họ) đã dịch chuyển ra thành thị và hiện nay chiếm tới 70% lực lượng lao động nơi đây. Một số nhà kinh tế ước tính rằng khoảng 20% tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong những năm 80 và 90 thế kỷ trước là do tái bố trí lực lượng lao động nông thôn tạo nên (5). Tuy nhiên bởi vì dân số Trung Quốc đang già đi khá nhanh nên sự dịch chuyển dân số ào ạt từ nông thôn ra thành thị đã đạt điểm đỉnh. Nhân tố thuận lợi mang tính cơ cấu này chỉ xảy ra có một lần mà không lặp lại.

Một cú hích tích cực góp phần thúc đẩy tăng trưởng của Trung Quốc thời kỳ hậu Thiên An Môn chính là việc quốc gia này ra nhập WTO vào năm 2001.Vào  những năm 1990 tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc trung bình đạt 15.4% hàng năm nhờ có sự hội nhập với nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên sau khi ra nhập WTO Trung Quốc đã đạt tăng trưởng xuất khẩu 21.7% trong suốt giai đoạn 2002-08. Sự gia tăng nhờ xuất khẩu bắt đầu chậm lại sau 2011. Giữa các năm 2012 và 2014 xuất khẩu chỉ tăng trưởng có 7.1% tức là bằng 1/3 tăng trưởng của thập kỷ trước đó. Bảy tháng đầu năm 2015 xuất khẩu co lại khoảng 1% , sự việc diễn ra có lẽ đã khiến Bắc Kinh nhanh chóng hạ giá đồng tiền của mình.

Nhưng có lẽ khía cạnh gây rắc rối nhất trong triển vọng phát triển kinh tế dài hạn của Trung Quốc chính là sự suy giảm lãi suất từ các khoản đầu tư được hoạch định bởi chiến lược tăng trưởng của quốc gia này. Trong tư cách là một nước đang phát triển với số vốn tương đối thấp, ở thời kỳ ban đầu Trung Quốc đã hưởng lợi lớn từ sự tăng trưởng bền vững của các khoản đầu tư. Trong các năm 1980 Trung Quốc đã đầu tư trung bình khoảng 35.8% GDP vào các nhà máy, hạ tầng cơ sở và nhà ở. Tỷ lệ này đã tăng lên 42.8% trung bình trong các năm 2000 và đạt 47.3% từ năm 2010. Sự gia tăng đầu tư ào ạt này đã tạo ra hơn một nửa mức tăng trưởng GDP của Trung Quốc và là động cơ tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế trong hai thập kỷ rưỡi.

Tuy nhiên tăng trưởng dựa vào đầu tư trong bối cảnh của Trung Quốc có 3 hậu quả xấu. Một là lãi xuất từ các khoản đầu tư giảm dần  bởi lẽ mỗi đơn vị gia tăng của đầu ra đòi hỏi phải đầu tư nhiều hơn và được tính bởi tỷ lệ vốn/sản lượng (capital output ratio – lượng đầu tư cần thiết để sản xuất ra thêm một đồng nhân dân tệ trong GDP). Trong những năm 1990 tỷ lệ sản lượng vốn của Trung Quốc là 3.79, đến  những năm 2000 đã tăng lên 4.38. Xu hướng tăng trưởng đòi hỏi phải tăng đầu tư rõ ràng không mang tính bền vững. Trung Quốc gần đây  đầu tư gần như một nửa GDP của mình, một con số phi thường  đã trở thành hiện thực  nhờ sự quản lý của nhà nước trong phát triển hạ tầng cơ sở. Mức độ dư thừa công suất và phân bổ vốn bất hợp lý cũng là một con số phi thường.

Một tác hại nữa gây bất lợi cho nền kinh tế đó là các khoản đầu tư đã vắt kiệt tiêu dùng của các hộ gia đình (36% GDP năm 2013 nếu so với 60% ở Ấn độ) làm nảy sinh tình trạng mất cân đối cơ cấu khiến sự tăng trưởng bền vững hầu như là không thể. Sự tăng trưởng đó cần bắt đầu từ  việc quay lưng lại với phương thức lấy xuất khẩu làm chủ đạo để trở lại với tăng trưởng thị trường trong nước, tuy nhiên điều này không thể đạt được khi mà tiêu dùng hộ gia đình đang ở mức thấp một cách giả tạo.

(Xin bổ sung thêm một ý giải thích vì sao tiêu dùng hộ gia đình nói riêng và thị trường trong nước ở Trung Quốc luôn ở mức thấp đó là do chính sách hộ khẩu và an sinh xã hội mang tính kỳ thị người nhập cư từ nông thôn ra thành thị khiến họ phải gia tăng tiết kiệm, hạn chế tiêu dùng để đề phòng khi ốm đau, hết tuổi lao động thì còn có nguồn dự trữ – ND).

Chi phí sau cùng của tăng trưởng dựa vào đầu tư, đó là quá trình này được cung cấp tài chính bởi các khoản tín dụng và sau đó đầu tư vào vào những ngành công nghiệp đã dư thừa công suất tới mức nguy hiểm. Với tỷ suất dư nợ / GDP vượt ngưỡng 280% GDP hiện nay (so sánh với 121% năm 2000) rủi ro của sự bùng nổ toàn diện một cuộc khủng hoảng tài chính đã tăng cao bởi lẽ những con nợ lớn là chính quyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp phát triển bất động sản chỉ sở hữu năng lực chi trả yếu kém do nền tảng các nguồn thu từ thuế khá eo hẹp (với các chính quyền địa phương), dư thừa công suất và lợi nhuận thấp (với các doanh nghiệp nhà nước), bong bóng bất động sản xì hơi (với các doanh nghiệp phát triển bất động sản).

Nếu những rắc rối trong tương lai phát triển kinh tế dài hạn của Trung Quốc đơn thuần chỉ mang tính cơ cấu thì tương lai của đất nước chưa đến mức tàn khốc. Những cuộc cải cách hiệu quả có thể tái phân bổ nguồn lực một cách hữu hiệu giúp cho nền kinh tế có năng suất cao hơn. Tuy nhiên thành công của những cải cách đó lại gắn kết chặt chẽ với bản chất của nhà nước Trung Quốc và các thể chế chính trị của nó. Việc tạo ra của cải một cách bền vững chỉ có thể tồn tại ở các quốc gia nơi mà quyền lực chính trị bị giới hạn bởi luật pháp, quyền sở hữu tư nhân được bảo đảm thực sự và có nhiều phương tiện để tiếp cận các cơ hội. Ở các quốc gia bị chi phối bởi một nhóm nhỏ cầm quyền thì xảy ra điều ngược lại: những kẻ nắm quyền điều hành chính trị sẽ trở thành dã thú, sử dụng những công cụ cưỡng bách của quốc gia để bòn rút của cải từ xã hội, bảo vệ đặc quyền của mình và làm nghèo người dân (6).

Quả thực các chính sách kinh tế của ĐCSTQ đã thay đổi tới mức không thể nhận ra kể từ thời Mao. Tuy nhiên, đảng và nhà nước Trung Quốc còn chưa từ bỏ bản năng dã thú cùng các thể chế của mình. Bất chấp những lời tự nhận hùng biện về tôn trọng thị trường và quyền sở hữu, thực tế chỉ đạo và chính sách của các tầng lớp lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc cho thấy họ không tôn trọng quyền sở hữu tư nhân và cũng chẳng muốn bảo vệ nó. Bằng chứng về sự thiếu vắng mong muốn hạn chế những bản năng và thèm muốn dã thú của nhà nước độc đảng lãnh đạo chính là việc giới lãnh đạo chóp bu không dấu diếm sự thù hằn đối với bất kỳ ý tưởng nào về chủ nghĩa hợp hiến mà bản chất của nó là đặt ra những giới hạn phải được thực thi đối với chính quyền và những người nắm quyền lực. ĐCSTQ khước từ mọi giới hạn đối với quyền lực của mình và trên thực tế đã dẫn đến việc Trung Quốc không thể có thể chế tư pháp độc lập hoặc các tổ chức điều hành đủ năng lực thực thi pháp luật. Bởi lẽ, các nền kinh tế thị trường đích thực không thể hoạt động nếu thiếu những thể chế và tổ chức như vậy, cho nên rõ ràng là một khi đảng tự đặt mình cao hơn luật pháp thì cải cách kinh tế theo hướng kinh tế thị trường là điều bất khả thi.

Nhiều nhà quan sát lập luận rằng chế độ độc đảng này tuy thế vẫn đủ năng lực thực hiện các cải cách mang tính thị trường với dẫn chứng là diễn biến lịch sử của thời kỳ sau Mao. Lý lẽ này đã bỏ qua một sự thật rất quan trọng đó là những cải cách sau Mao tuy tạo ra ấn tượng bề nổi nhưng nay đã cạn kiệt tiềm năng bên trong. Hơn thế nữa, cần phải hiểu rằng hệ thống Maoit kém hiệu quả tới mức dù chỉ một vài cải cách mang tính bộ phận đã có thể giải phóng sự gia tăng mạnh mẽ năng suất lao động, đặc biệt là trong một xã hội mà năng lượng kinh doanh của người dân còn đang bị sự khủng bố chuyên chế đè nén trong ba thập kỷ vừa qua. Điều quan trọng hơn là những cải cách từng phần đó còn chưa đi vào các bộ phận quan trọng trong nền móng kinh tế do ĐCSTQ lãnh đạo: đó là khu vực sở hữu nhà nước với những tài sản có năng suất cao nhất như ruộng đất, tài nguyên thiên nhiên, sản xuất điện, viễn thông, ngân hàng, các dịch vụ tài chính và công nghiệp nặng. Chắc chắn không phải khu vực kinh tế tư nhân năng động đang kìm hãm nền kinh tế Trung Quốc mà chính là các xí nghiệp quốc doanh kém hiệu năng vẫn tiếp tục được nhận hỗ trợ và tiêu phí dòng vốn quý giá (7).

Cải cách kinh tế toàn diện và đích thực nếu được chấp nhận trên thực tế sẽ đe dọa phá vỡ nền móng đó. Khả năng nhiều nhất là nó sẽ xóa bỏ phần lớn sự kiểm soát hiện hữu đối với nền kinh tế và khối tài sản quốc gia khổng lồ của Trung Quốc, kết cục sẽ là sự sụp đổ về mặt tổ chức của ĐCSTQ. Đảng này cấp kinh phí và hỗ trợ một mạng lưới tổ chức hạ tầng cơ sở rộng khắp của mình – các đảng bộ, đảng ủy các cấp và chi bộ… thông qua số lượng lớn các quỹ đảng nhưng chính xác là bao nhiêu thì còn là một ẩn số. Phần lớn kinh phí cho các tổ chức và hoạt động của đảng được tài trợ từ ngân sách không minh bạch của nhà nước TQ. Nếu như ĐCSTQ từ bỏ sự kiểm soát nền kinh tế của mình và các khoản chi tiêu của chính phủ được minh bạch hóa thì đảng sẽ không còn nguồn tài chính để tồn tại. Sẽ không thể duy trì các đặc quyền và bổng lộc hậu hĩ của đảng ví như chăm sóc sức khỏe chất lượng cao, quỹ cho các hoạt động giải trí, nhà công vụ và còn nhiều khoản phụ cấp đối với các quan chức như là tiêu chuẩn được hưởng khi là thành viên của câu lạc bộ tầng lớp tinh hoa.

Còn một hậu quả thảm khốc nữa của cải cách theo hướng thị trường đó là sự sụp đổ của hệ thống bảo trợ mà ĐCSTQ sử dụng để đảm bảo có được sự trung thành từ những người ủng hộ mình. Nền móng của hệ thống này là các doanh nghiệp nhà nước, các cơ quan kinh tế và các tổ chức điều hành do đảng kiểm soát. Nếu như cải cách định hướng thị trường dẫn tới tư nhân hóa thực sự các doanh nghiệp nhà nước (nhóm doanh nghiệp này sản xuất ít nhất cũng vào khoảng 1/3 GDP) thì ĐCSTQ sẽ không thể ban phát cho đội ngũ trung thành với mình bằng những hợp đồng và công việc béo bở và điều này đe dọa sẽ lấy đi sự ủng hộ của họ. Xin cung cấp thông tin rằng trong bản hướng dẫn chi tiết kế hoạch kinh tế của ĐCSTQ phát hành mùa Thu năm 2013 lãnh đạo đảng đã nhắc nhở đảng sẽ không bao giờ từ bỏ các doanh nghiệp nhà nước.

Như vậy, sự tiếp tục của các thể chế mang tính dã thú và bòn rút, cướp đoạt ở Trung Quốc đang ngăn chặn những cải cách thị trường triệt để, toàn diện và thành công. Tính bất khả thi của nhiệm vụ xây dựng một nền kinh tế thị trường đích thực được hậu thuẫn bởi nguyên tắc thượng tôn pháp luật có thể minh họa bằng câu ngạn ngữ Trung Quốc khôn ngoan yuhumoupi có nghĩa là đừng mặc cả với hổ về bộ da của nó. Triển vọng lâu dài cho sự tăng trưởng kinh tế Trung Quốc là đáng bi quan bởi vì khu vực tăng trưởng nhanh nhờ có cải cách từng phần và các nhân tố cũng như hoàn cảnh thuận lợi chỉ diễn ra một lần đang chấm dứt. Một sự tăng trưởng bền vững cho Trung Quốc sẽ đòi hỏi phải nhìn nhận lại triệt để thể chế kinh tế và chính trị để đạt được hiệu quả cao hơn. Nhưng bởi lẽ bước đi quan trọng có tính quyết định này sẽ hủy hoại nền tảng lãnh đạo của ĐCSTQ cho nên khó có thể tin được rằng đảng sẽ cam kết tự vẫn về kinh tế và do đó cả về chính trị. Những ai còn chưa bị thuyết phục bởi lập luận này hãy nên đếm lại có bao nhiêu nhà độc tài trong lịch sử đã tự nguyện từ bỏ các đặc lợi cùng đặc quyền kiểm soát nền kinh tế của mình nhằm mục đích bảo đảm cho một tương lai thịnh vượng dài lâu của quốc gia.

Lừ lừ hướng tới đàn áp và chủ nghĩa dân tộc

Nếu như tình trạng kinh tế trì trệ trong dài hạn đã được khẳng định thì sự ủng hộ của tầng lớp trung lưu Trung Quốc với hiện trạng sẽ bị mai một. Sự tham gia của tầng lớp đang tăng trưởng nhanh này là một trụ cột chủ chốt nữa trong sách lược sinh tồn của ĐCSTQ thời kỳ sau biến cố Thiên An Môn và đã góp phần vào sự bùng nổ kinh tế trong ¼ thế kỷ vừa qua. Kinh tế phát triển chậm lại chắc chắn sẽ giảm bớt cơ hội, kỳ vọng và hạn chế tính năng động đi lên đối với các thành viên của nhóm xã hội quan trọng này và sự chấp nhận vai trò lãnh đạo của ĐCSTQ từ nhóm này chỉ là ngẫu nhiên do vừa qua đảng đã mang đến sự phát triển kinh tế liên tục và đáng hài lòng.

Cùng với sự bốc hơi của (chất keo gắn) sự đoàn kết, thống nhất trong giới lãnh đạo cấp cao, nguy cơ kinh tế trì trệ và thái độ xa lánh rất có thể xảy ra của giới trung lưu thì mô hình hậu Thiên An Môn chỉ còn có hai cột trụ: đó là đàn áp và kích động chủ nghĩa dân tộc. Các chế độ chuyên chế ngày nay vì thiếu tính hợp pháp trong công chúng (mà đáng ra phải đạt được qua quá trình cạnh tranh chính trị) chủ yếu dùng ba phương tiện để giữ quyền lực của mình. Một là mua chuộc quần chúng bằng các lợi ích vật chất. Hai là đàn áp nhân dân bằng bạo lực và nỗi sợ. Ba là kêu gọi tình cảm dân tộc của họ. Ở những chế độ chuyên chế tinh vi và thành công những kẻ cầm quyền thường dựa vào tính hợp pháp có được nhờ thành tích đạt được (mua chuộc) hơn là sử dụng nỗi sợ hãi và chủ nghĩa sô vanh hiếu chiến. Nguyên nhân chính là đàn áp thì tốn kém mà chủ nghĩa dân tộc thì có thể trở nên nguy hiểm. Trong thời kỳ hậu Thiên An Môn có thể tin chắc rằng ĐCSTQ đã sử dụng cả ba phương tiện, chủ yếu vẫn phụ thuộc vào thành tích phát triển kinh tế nhưng vẫn dùng phương tiện đàn áp và chủ nghĩa dân tộc một cách có chọn lọc như các biện pháp cầm quyền dự phòng.

Tuy nhiên, những xu hướng kể từ khi Tập Cận Bình lên cầm quyền vào cuối năm 2012 cho thấy đàn áp và chủ nghĩa dân tộc được coi là đóng vai trò ngày càng nổi bật trong chiến lược sinh tồn của ĐCSTQ. Lời giải thích hiển nhiên là tăng trưởng kinh tế không chắc chắn của Trung Quốc đang gây nên căng thẳng xã hội và bào mòn sự ủng hộ của quần chúng đối với ĐCS, và như vậy buộc chế độ phải ngăn cản những thách thức tiềm ẩn từ xã hội bằng sức mạnh và chuyển hướng sự chú ý của công chúng sang chủ nghĩa dân tộc. Vậy mà nhiều nhà quan sát đã bỏ qua lời giải thích có giá trị này.

Một chiến lược sinh tồn phụ thuộc vào việc đem lại tăng trưởng kinh tế nhằm duy trì tính hợp pháp vốn dĩ không bền vững không chỉ bởi lẽ tăng trưởng kinh tế là điều không thể bảo đảm chắc chắn và sự kỳ vọng của công chúng thì bao giờ cũng gia tăng nên cũng không thể luôn luôn đáp ứng được mà còn vì sự tăng trưởng kinh tế bền vững sẽ làm phát sinh những thay đổi kinh tế- xã hội mang tính cơ cấu. Và chính những thay đổi đó ắt sẽ đe dọa độ bền vững của chế độ chuyên chế như các nghiên cứu xã hội học và lịch sử các cuộc chuyển đổi dân chủ đã cho thấy.

Các nhà nước chuyên chế khi buộc phải chấp thuận tính hợp pháp dựa trên thành tích phát triển (nguyên văn là faustian bargain – giao kèo với quỷ dữ – ND) thì mặc nhiên là chúng sẽ thua cuộc bởi lẽ những đổi thay kinh tế – xã hội do tăng trưởng kinh tế đem lại sẽ củng cố năng lực tự trị của các lực lượng xã hội ở thành thị, ví dụ như các nhà kinh doanh tư nhân, trí thức, người làm nghề, các tín đồ tôn giáo, công nhân phổ thông nhờ trình độ học vấn cao hơn, tiếp cận với thông tin dễ dàng hơn, tích lũy được tài sản cá nhân nhiều hơn và năng lực tổ chức hoạt động tập thể cũng được cải thiện. Nhiều công trình nghiên cứu hàn lâm đã chỉ ra sự tương quan chặt chẽ giữa trình độ phát triển kinh tế với sự hiện diện của dân chủ cũng như giữa thu nhập gia tăng với khả năng sụp đổ của các chế độ chuyên chế (8). Trong thế giới ngày nay, mối tương quan tích cực giữa tài sản (được tính bằng GDP theo đầu người) và dân chủ có thể được thể hiện trong biểu đồ (9) và nó cho thấy tỷ lệ phần trăm các nền dân chủ (được định nghĩa bởi tổ chức Freedom House) tăng đều đặn cùng với mức tăng của thu nhập. Có một bộ phận các quốc gia dân chủ giảm trong khi thu nhập tăng lên. Sự phân bố các quốc gia không dân chủ hoặc độc tài trên biểu đồ đã hình thành nên đồ thị hình chữ U. Trong khi có nhiều hơn các chế độ độc tài tồn tại ở những nước nghèo hơn (phần đáy của 2/5 các quốc gia có thu nhập trên đầu người ) thì sự hiện diện của chúng ở phần trên của danh sách 2/5 các quốc gia dường như đã phản bác lại nhận định cho rằng sự thịnh vượng có tương quan cùng chiều (nguyên văn tương quan dương tính – ND). Tuy nhiên khi xem xét kỹ hơn số liệu sẽ thấy hầu hết các quốc gia giàu có nhưng nằm dưới chế độ độc tài đều là những nước sản xuất dầu mỏ, nơi mà giới tinh hoa cầm quyền có đủ năng lực tài chính để mua chuộc người dân của mình để họ chấp thuận chế độ chuyên chế (9).

clip_image001

Nguồn: Tính toán sử dụng dữ liệu thu nhập dựa trên sức mua trên đầu người (PPP) do Ngân hàng Thế giới cung cấp. Chỉ số tự do do Freedom House cung cấp.

Những nhà cầm quyền Trung Quốc nếu như nhìn qua biểu đồ sẽ cảm thấy lo lắng cho triển vọng trong trung và dài hạn của mình. Hiện nay 87 quốc gia có thu nhập theo đầu người (chuẩn PPP – sức mua tương đương – ND) cao hơn Trung Quốc và 58 quốc gia trong số đó được đánh giá là có dân chủ, 11 quốc gia được Freedom House sếp hạng “ tự do một phần” và 18 quốc gia bị coi là độc tài (nguyên văn là “ không tự do” theo Freedom House). Tuy nhiên trong số 18 quốc gia “ không tự do” có thu nhập theo đầu người cao hơn Trung Quốc thì có tới 16 quốc gia sản xuất dầu mỏ (Belarus được tính trong nhóm này bởi vì được Nga trợ cấp đáng kể nhu cầu năng lượng), hai quốc gia không sản xuất đầu mỏ là Thái Lan (chính quyền quân sự độc tài đã lật đổ chính quyền nửa dân chủ vào năm 2014) và Cuba (cũng là một quốc gia Leninit độc đảng, độc tài). Trong số 11 quốc gia tự do một phần Mexico và Malaysia là những nhà sản xuất dầu mỏ đáng kể trong khi Côoét và Venezuela là những nước sản xuất dầu mỏ kinh điển. Điều làm cho các lãnh đạo của ĐCSTQ có thêm lý do để lo ngại đó là thu nhập tính theo đầu người của Trung Quốc vào khoảng $13.216 (PPP) năm 2014 cũng chỉ bằng mức của Đài Loan và Hàn Quốc vào cuối những năm 1980 khi cả hai quốc gia này bắt đầu tiến trình dân chủ hóa (10). Nếu như kinh nghiệm chuyển đổi thể chế ở các nước có thu nhập trên trung bình như Đài Loan và Hàn Quốc có thể được đem ra tham khảo và áp dụng thì ĐCSTQ cần phải tính đến nhu cầu và những sự vận động xã hội đang dâng cao để tiến hành những thay đổi chính trị trong thập kỷ tới (một vài tín hiệu của sự vận động này đã được ghi nhận).

Hàm ý duy nhất có thể rút ra từ phân tích này đó là trừ khi Trung Quốc muốn đi theo tấm gương của Cuba và duy trì một nền kinh tế đóng để đảm bảo sự tồn vong của chế độ độc đảng, quốc gia này sẽ phải đối mặt với tình trạng lợi thế ngày một suy giảm trong nỗ lực giữ nguyên quyền lực (miễn là Trung Quốc một cách kỳ diệu không trở thành một nước giống như Ả Rập Saudi). Nhưng bởi lẽ Trung Quốc sẽ không bao giờ là quốc gia dầu lửa nên ĐCSTQ vì sự tồn vong của mình trong dài hạn còn có cơ hội khai mở một số hình thái của thể chế chính trị có cạnh tranh và trở thành một chế độ “ tự do một phần” – và đây là một bước trọng yếu tiến về phía trước so với chủ nghĩa Leninnit hiện nay. Một cách khác, Trung Quốc có thể chống lại ngay cả những cải cách khiêm tốn nhất và đặt cược sự tồn vong của mình vào việc leo thang đàn áp và nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc.

Đánh giá những chính sách và biện pháp được ban lãnh đạo hiện nay của ĐCSTQ thông qua thì dường như đảng này có ý định đặt cược chống lại lịch sử. Trong ba năm gần đây đảng đã rất nỗ lực gia tăng đàn áp. Trong số các bước đi đáng để ý nhất: ĐCSTQ đã mạnh mẽ thắt chặt kiểm duyệt Internet, truyền thông xã hội, báo chí, thông qua Luật về an ninh quốc gia chủ yếu nhắm tới việc ngăn chặn các tổ chức phi chính phủ để bảo đảm an ninh cho chế độ, phá hủy hàng trăm cây Thánh giá của nhà thờ Thiên Chúa nhằm hạn chế tự do tín ngưỡng, tăng cường kiểm soát tư tưởng trong các ký túc xá trường Đại học, cao đẳng và bắt bớ hàng chục luật sư nhân quyền, nhà hoạt động vì quyền công dân trên cơ sở các bằng chứng ngụy tạo. Theo nhiều cách nhìn nhận, mức độ đàn áp của ngày hôm nay là cao hơn bất kỳ giai đoạn nào kể từ cuộc trấn áp Thiên An Môn.

Cũng không kém phần đáng lo ngại và còn nguy hiểm hơn đó là những tuyên bố dân tộc chủ nghĩa có tính leo thang của Trung Quốc. ĐCSTQ nhận thức mọi điều nhưng lại từ bỏ chủ trương đối ngoại của Đặng Tiểu Bình là dấu mình chờ thời và không đối đầu để ủng hộ cho một chiến lược đối ngoại khoe cơ bắp và điều này đã làm cho Trung Quốc đi theo một tiến trình xung đột với Hoa Kỳ. Bằng chứng về lời kêu gọi mới đây kích động chủ nghĩa dân tộc và chính sách ngoại giao quả quyết của Bắc Kinh có thể tìm thấy trong màn diễu binh lần đầu tiên kỷ niệm sự kiện bại trận của Nhật Bản trong chiến tranh thế giới lần thứ II (mặc dù Trung Quốc và ĐCSTQ chỉ đóng vai trò rất phụ trong cuộc chiến đó), đó còn là chiến dịch tuyên truyền kỷ niệm “giấc mơ Trung Hoa” (nội dung chủ yếu là sự phục hưng của Trung Quốc với vị thế một siêu cường) và đòi hỏi gần như công khai vị thế ngang hàng với Hoa Kỳ (được diễn đạt bằng ngôn từ “quan hệ kiểu mới giữa các siêu cường” trong tuyên bố của Bắc Kinh), những cuộc tấn công trên mạng không ngơi nghỉ nhằm vào các cơ quan chính phủ và các cơ sở thương mại Hoa Kỳ cùng với những cuộc khiêu khích và thủ đoạn gây hấn đẩy tình hình tới miệng hố chiến tranh ở Biển Hoa Đông và Nam Trung Hoa (Biển Đông – ND). Cụ thể là thiết lập vùng nhận dạng hàng không ADIZ trên vùng trời đảo Senkaku, cải tạo hàng loạt bãi chìm và xây dựng trên các đảo thuộc vùng lãnh hải còn đang tranh chấp ở Biển Đông).

Nếu như ĐCSTQ tin rằng leo thang đàn áp và chủ nghĩa dân tộc sẽ giúp cho đảng duy trì quyền lực trong giai đoạn đang có hỗn loạn trong giới lãnh đạo cấp cao, kinh tế suy thoái và căng thẳng xã hội dâng cao thì đảng cũng nên nhìn nhận những rủi ro to lớn và cái giá phải trả cho chiến lược sinh tồn mới này. Ngoài việc khiến Trung Quốc bị lạc hậu chiến lược này tỏ ra không bền vững và nguy hiểm. Trấn áp có thể có tác dụng trong một thời điểm nhưng các chế độ chuyên chế quá phụ thuộc vào nó sẽ phải sẵn sàng gia tăng việc sử dụng bạo lực liên tục và áp dụng những biện pháp hà khắc để ngăn cản các lực lượng chống đối.

Đàn áp có thể là không tốt cho việc kinh doanh, vì khi đó nhà cầm quyền buộc phải ngăn chặn dòng thông tin và tự do kinh tế để bảo đảm an ninh cho chế độ (quả thực, các hãng phương Tây đang phàn nàn về những bất tiện do tường lửa Vạn lý Trường thành gây ra). Gia tăng mức độ đàn áp trong lúc kinh tế đang chìm đắm trong đình đốn sẽ gây căng thẳng và áp lực lên các nguồn lực của ĐCSTQ bởi lẽ việc trấn áp đòi hỏi phải duy trì mạng lưới tốn kém những kẻ nội gián chuyên cung cấp thông tin, công an chìm, nhân viên kiểm duyệt và các lực lượng bán vũ trang. Đàn áp còn làm phát sinh những chi phí khổng lồ về đạo đức và có thể nhóm lửa cho những cuộc tranh luận bên trong chế độ.

Hãy đặt câu hỏi một cách rõ ràng: liệu Trung Quốc có thực sự sẵn sàng để trở thành một Bắc Triều Tiên khác?

Sử dụng chủ nghĩa dân tộc và khoe cơ bắp có thể đem lại những lợi ích chính trị nhất thời nhưng ĐCSTQ sẽ phải trả giá bằng an ninh của mình trong dài hạn. Một trong những lựa chọn chiến lược khôn ngoan nhất của Đặng Tiểu Bình là phát triển các mối quan hệ bạn bè với phương Tây do Hoa Kỳ lãnh đạo nhằm thúc đẩy chương trình hiện đại hóa Trung Hoa. Trong thời kỳ hậu Đặng Tiểu Bình hai nhân vật tiền nhiệm của họ Tập là Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào cũng đã học bài học cốt tử từ sự sụp đổ của Liên Xô: xung đột chiến lược với Hoa Kỳ sẽ gây nguy hiểm cho chính sự tồn vong của ĐCSTQ. Chi phí cho một cuộc chạy đua vũ trang sẽ ở mức không chịu đựng nổi và sự thù địch công khai trong quan hệ Trung – Mỹ sẽ phá hủy mối quan hệ kinh tế song phương.

Không rõ ban lãnh đạo ĐCSTQ có nhận thức được những rủi ro mà chiến lược sinh tồn mới đang hoàn thiện của họ sẽ mang lại hay không nhưng nếu các thành viên trong ban lãnh đạo tin chắc rằng chỉ có chiến lược đó mới cứu vãn được sự lãnh đạo của đảng và do hiện đang lo sợ bởi sự sụp đổ của những trụ cột quan trọng trong mô hình hậu Thiên An Môn thì rất có thể họ sẽ tiếp tục đường lối hiện nay. Và thật mỉa mai, đường lối đó, nếu như phân tích ở trên là đúng thì chắc chắn sẽ thúc đẩy sự kết thúc của ĐCSTQ thay vì ngăn chặn nó.

Thăng Long – Hà Nội 24/02/2016

Bản dịch của Phạm Gia Minh

Tài liệu tham khảo

1The literature on China’s “resilient authoritarianism” is large. Representative works include Andrew J. Nathan, “Authoritarian Resilience,” Journal of Democracy (January 2003); David L. Shambaugh, China’s Communist Party: Atrophy and Adaptation (University of California Press, 2008).

2Andrew Nathan acknowledged in 2013 that, “The consensus is stronger than at any time since the 1989 Tiananmen crisis that the resilience of the authoritarian regime in the People’s Republic of China (PRC) is approaching its limits.” Nathan, “Foreseeing the Unforeseeable,” in Andrew Nathan, Larry Diamond, and Marc Plattner, eds., Will China Democratize? (Johns Hopkins University Press, 2013); David Shambaugh published a much-noted long essay, “The Coming Chinese Crackup,” in the Wall Street Journal on March 6, 2015 arguing that the endgame for the CPC regime has begun.

3Samuel P. Huntington, The Third Wave: Democratization in the Late Twentieth Century (University of Oklahoma Press, 1993); Guillermo O’Donnell and Philippe C. Schmitter, Transitions from Authoritarian Rule: Tentative Conclusions about Uncertain Democracies (Johns Hopkins University Press, 2013).

4See Aviezer Tucker, “Why We Need Totalitarianism”, The American Interest (May/June 2015).

5Cai Fang Wang Dewen,Impacts of Internal Migration on Economic Growth and Urban Development in China,” in Josh DeWind and Jennifer Holdaway, eds., Migration and Development Within and Across Borders (The Social Science Research Council, 2008.)

6The literature on the predatory state and extractive institutions is vast. The most influential works are Daron Acemoğlu and James Robinson, Why Nations Fail (Crown Publishing, 2012); Douglass North, Institutions, Institutional Change and Economic Performance (Cambridge University Press, 1990).

7The huge inefficiency of state-owned enterprises, as compared with the dynamism of the Chinese private sector, is detailed in Nick Lardy, Markets over Mao: The Rise of Private Business in China (Peterson Institute for International Economics, 2014)

8Seymour Martin Lipset, “Some Social Requisites of Democracy: Economic Development and Political Legitimacy,” American Political Science Review (March 1959); Adam Przeworski, Democracy and Development: Political Institutions and Well-Being in the World, 1950–1990 (Cambridge University Press, 2000).

9Academic research has also established a strong link between oil and dictatorship. See Michael Ross, “Does Oil Hinder Democracy?” World Politics (April 2001).

10Yu Liu and Dingding Chen, “Why China Will Democratize,” Washington Quarterly (Winter 2012).

Minxin Pei is the Tom and Margot Pritzker ’72 Professor of Government at Claremont McKenna College and a non-resident senior fellow of the German Marshall Fund of the United States. His latest book, China’s Crony Capitalism: Dynamics of Regime Decay, will be published by Harvard University Press in 2016. This article is drawn from a larger research project on China’s likely regime transition that has received financial support from the Smith Richardson Foundation, the Carnegie Corporation of New York, and the John D. and Catherine T. MacArthur Foundation.

Nguồn: http://viet-studies.info/kinhte/Pei_CCPTwilighlt_trans.htm