NHÌN LẠI CUỘC ĐỜI ĐỐI VỚI ĐẢNG CỘNG SẢN

NHÌN LẠI CUỘC ĐỜI ĐỐI VỚI ĐẢNG CỘNG SẢN

Nguyễn Đình Cống

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tôi sinh năm 1937. Nhìn lại cuộc đời 80 năm qua có liên quan đến cộng sản (CS) tôi tạm chia thành 5 giai đoạn. 1- lúc còn nhỏ (trước 1945) thỉnh thoảng nghe nói về CS, được tiếp xúc với một số đảng viên bí mật đến vận động cha tôi làm cách mạng, tôi biết và có cảm tình với CS từ đó. 2- Từ 10 đến 30 tuổi, được nghe tuyên truyền, được học và hoàn toàn tin tưởng vào CS, vào Chủ ngĩa Mác Lênin (CNML). 3- Từ 30 đến 50 tuổi, khi đã thấy nhiều, biết nhiều, đặc biệt là qua chiêm nghiệm thực tế tôi có một số nghi ngờ về sự đúng đắn của CNML và CS. 4- Từ 50 đến 70 tuổi tôi thấy sợ vì nhiều người bị bắt bớ tù đày, bị thủ tiêu chỉ vì nói ra cái sai của CNML, hoặc bị Đảng CS nghi ngờ, vu oan giá họa. 5- Từ 70 tuổi trở đi, dần dần tôi vượt qua sự sợ hãi và dám công bố một số nhận thức, vạch ra cái sai lầm, độc hại của CNML. Tóm tắt 5 giai đoạn là : BIẾT, TIN, NGHI, SỢ, VƯỢT.

Sau khi tuyên bố ra Đảng (tháng 2-2016) tôi nhận được nhiều bình luận, có đồng tình, ủng hộ, có phê phán, thắc mắc, có cả chửi rủa, mạt sát. Tạm bỏ qua những lời đồng tình, ủng hộ với sự thông cảm chân thành, quên đi những lời chửi rủa, mạt sát mang đầy vu khống. Tôi chỉ xin đề cập đến những lời phê phán, những thắc mắc. Những điều này mới nghe qua thì thấy có lý, chứng tỏ người viết có suy nghĩ. Tuy vậy nó có thể đúng với người này, trong trường hợp này nhưng lại không đúng với người khác, trong ttường hợp khác mà chỉ khi suy nghĩ sâu sắc, khi có chiêm nghiệm rộng rãi mới nhận ra được. Xin tóm tắt thành các vấn đề sau:

1-Lúc trẻ đã mất công phấn đấu để xin vào Đảng, đến già tại sao lại dở chứng. Mà muốn ra thì lặng lẽ xin ra, việc gì phải công khai , phải chăng là muốn nổi tiếng.

2-Khi vào Đảng đã thề trung thành trọn đời đối với Đảng, với CNML, nay quay lại phê phán CNML và từ bỏ Đảng, như vậy là phản bội lời thề.

3-Nhờ có công ơn Đảng mới được đi học, được phong giáo sư tiến sĩ, về nghỉ có lương hưu, từ bỏ Đảng là việc làm của kẻ ngu dốt , vô ơn. Mục tiêu của Đảng là xây dựng đất nước hòa bình, tự do, dân chủ, hạnh phúc, văn minh. Ra Đảng phải chăng là chống lại mục tiêu cao đẹp đó. Biết bao nhiêu người theo Đảng, hy sinh xương máu để đem lại độc lập, thống nhất, việc từ bỏ Đảng là phản bội lại ông cha, là không thực hiện “uống nước nhớ nguồn”.

4- Chủ nghĩa không sai, Đảng không sai, xã hội có một số tệ nạn chỉ là do một số cán bộ thoái hóa biến chất, tại sao không dám trực diện đấu tranh với họ mà lại làm một việc dại dột là chống Đảng.

5- Tự cho là một trí thức chân chính sao không cống hiến hết mình mà lại từ bỏ Đảng.Việc ra Đảng chỉ làm mất uy tín, bị nhiều người phỉ nhổ. Có giỏi thì lập ra tổ chức để đấu tranh, vận động và dẫn đầu biểu tình chứ chỉ “ làm anh hùng bàn phím” thì là đồ mạt hạng.

6-Ông đã 80 tuổi, nên an hưởng tuổi già bên cháu chắt, vui với chim cá, cây cảnh, dây vào chính trị làm gì. Nếu không thích chế độ Xã hội chủ nghĩa do ĐCS lãnh đạo thì cuốn xéo ra nước ngoài mà ở.

Tôi sẽ lần lượt kiểm điểm từng vấn đề, xem rằng đó là việc tự nhìn lại cuộc đời đối với Đảng CSVN. Nghĩ rằng khá nhiều bạn cùng hoàn cảnh cũng có quan điểm tương tự nên xin dùng chủ ngữ “ chúng tôi” trong một số chỗ, để ngụ ý có một số người cùng nghĩ và làm như vậy chứ không phải chỉ một mình tôi.

VẤN ĐỀ 1. Phấn đấu vào Đảng và thông báo ra Đảng.

Ngược với nhiều đảng viên khác, chúng tôi vào Đảng không nhằm đạt được quyền lợi cá nhân nào đó và   không có việc phấn đấu để vào Đảng. Chúng tôi phấn đấu với mục tiêu trở thành người yêu nước chân chính, có trình độ cao về nhiều mặt, có đạo đức, có lý tưởng tốt đẹp. Mục tiêu đó cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn đảng viên. Khi tổ chức Đảng thấy cần kết nạp chúng tôi thì kết nạp mà không thì thôi. Chính vì lẽ đó mà nhiều trí thức thế hệ chúng tôi vào Đảng lúc đã là U50. Thời gian trước 1980 ( khoảng chừng) Đảng rất hạn chế kết nạp các trí thức trình độ cao, có dính dáng đến thánh phần thù địch giai cấp. Việc đó làm cho lực lượng Đảng ở các trường đại học không tương xứng với đội ngũ cán bộ khoa học và nhiệm vụ lãnh đạo công tác đào tạo. Từ 1980 về sau Đảng mới quan tâm hơn đến việc thu hút trí thức, mở rộng việc kết nạp những người xuất thân từ các thành phần bậc cao ( trong cải cách xã hội, ông bà, bố mẹ bị qui là địa chủ, phú nông, tư sản, quan lại ). Khi vào Đảng mọi người làm đơn xin, đối với chúng tôi đó chỉ là một thủ tục, chứ không phải là xin một quyền lợi, một vinh dự. Chúng tôi vào Đảng là để làm việc tốt hơn chứ không phải để có quyền lợi nhiều hơn, không nhằm đạt danh vọng hoặc vinh dự cao hơn. Đó là điều khác biệt với một số đông đảng viên khác. Điều này người ngoài ít khi nhận thấy. Những kẻ cơ hội xin vào Đảng để tìm quyền lợi hoặc danh vọng cũng như những người quen với suy nghĩ nông cạn không thể hiểu được điều đơn giản có thật vừa trình bày.

Vào Đảng để được làm việc tốt hơn, đến khi thấy vai trò đảng viên không còn tác dụng cho công việc, lại thấy quan điểm của Đảng và của cá nhân khác nhau ( kiên trì hay từ bỏ CNML) thì việc ra Đảng là chuyện bình thường, không vi phạm đạo đức, không phải là tội lỗi.

Đã có nhiều đảng viên khi nghỉ hưu đã lặng lẽ bỏ Đảng bằng nhiều cách. Đầu tiên tôi cũng định chọn cách lặng lẽ, nhưng thời gian vừa qua, khi tôi công bố một số bài phê phán CNML thì có nhiều bạn góp ý, cho rằng tôi chỉ là một thằng hèn khi một mặt phê phán CNML, mặt khác vẫn đeo bám Đảng, các bạn khuyên tôi nên từ bỏ càng sớm càng tốt. Trước đó chính tôi cũng tự thấy như vậy. Tôi công khai việc làm là có phần trả lời góp ý đó và tin là nhờ vậy mà các bài viết của tôi có tác dụng hơn. Tôi biết có nhiều đảng viên cũng đang phân vân giữa việc ở lại và ra vì chưa lường trước được hậu quả công việc. Tôi đã vượt qua sự đắn đo, sự sợ hãi, làm một phép thử để các bạn tham khảo. Tôi không làm đơn xin mà viết thông báo vì nghĩ rằng đơn xin là bị động, phải chờ đợi sự xét duyệt. Đã xin thì phải chịu sự lệ thuộc, có thể được cho hoặc không . Hơn nữa tôi không muốn làm mất thì giờ của một số cán bộ Đảng phải họp để thảo luận và xét. Thông báo chủ động hơn, tiết kiệm thời gian hơn, hiệu quả hơn. Còn muốn nổi tiếng ư ?. Không ! Tôi biết trước rằng khi công khai việc này sẽ nhận được không ít sự bất đồng, trách móc, phê phán, chửi rủa. Tôi phải chiến thắng sự sợ hãi và tâm lý an phận mới dám làm .

VẤN ĐỀ 2-Lời thề khi vào Đảng

Trong lễ kết nạp, đảng viên mới phải tuyên thệ. Lời thề thường gồm 4 nội dung : 1- Trung thành tuyệt đối với Đảng, với lý tưởng CS. 2- Học tập thấm nhuần, làm theo tư tưởng, đường lối của CNML, xem đó là kim chỉ nam. 3-Làm tốt mọi nhiệm vụ đảng viên. 4- Có liên hệ và công tác quần chúng tốt.

Đối với nhiều người khác thì lời thề ấy thường được soạn theo mẫu do Chi ủy hướng dẫn. Tôi biết trong nhiều trường hợp người ta đọc lời thề chỉ là làm cho đủ thủ tục hình thức , còn trong thâm tâm họ nghĩ khác. Khi vào Đảng tôi đã 48 tuổi và là phó giáo sư, tiến sĩ, trưởng bộ môn. Tôi không muốn làm kiểu sáo vẹt mà phải trung thực, vì vậy tôi tự soạn ra lời thề cũng gồm 4 nội dung, điều 3 và 4 gần gần như theo mẫu, còn điều 1 và 2 đã sửa theo cách khác. Xin chép lại : Điều 1- Xin thề tuyệt đối trung thành với lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc, đấu tranh cho đất nước hòa bình, độc lập thống nhất, xây dựng xã hội tự do dân chủ, công bằng, vì sự phát triển của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Điều 2- Xin thề không ngừng học tập để nâng cao trình độ mọi mặt, nghiên cứu sâu sắc CNML, Chủ nhĩa cộng sản và con đường xây dựng Chủ nghĩa Xã hội.

Bây giờ xem lại tôi thấy đã không vi phạm, không phản bội lời thề ở chỗ nào hết. Tôi thể tuyệt đối trung thành với lý tưởng và sự nghiệp tốt đẹp chứ không thề trung thành với Đảng, bây giờ tôi vẫn trung thành với lý tưởng và sự nghiệp đó. Tôi thề nghiên cứu sâu sắc CNML, CNCS, con đường CNXH chứ không thề trung thành với những điều ấy. Chính nhờ nghiên cứu sâu sắc mà tôi phát hiện ra những sai lầm, những độc hại trong đó, thấy rồi tôi tìm cách nói lại với mọi người. Những ai cho rằng tôi đã phản bội lời thề vì họ tưởng nhầm tôi cũng đã đọc lời thề theo kiểu sáo vẹt như nhiều người khác. Mà nếu có ai đó khi được kết nạp có thề trung thành với Đảng, với CNML, bây giờ họ thấy đã bị nhầm, họ ra Đảng thì đồng thời họ có quyền xóa bỏ lời thề đã đọc, việc đó không có gì sai trái.

VẤN ĐỀ 3- Mục tiêu của Đảng, công ơn Đảng, uống nước nhớ nguồn

Đảng tuyên truyền rằng “ Mục tiêu là xây dựng đất nước hòa bình, thống nhất, dân chủ, công bằng, giàu mạnh, văn minh”. Đối chiếu vào thực tế thì thấy đó là mong ước của nhiều đảng viên, cũng là một phần mục tiêu của Đảng khi mà quyền lợi của dân tộc và của Đảng là thống nhất. Mà oái oăm thay, quyền lợi của Đảng, đặc biệt là quyền lợi của các nhóm lợi ích bậc cao trong Đảng có nhiều khi mâu thuẩn với quyền lợi dân tộc. Mục tiêu cao hơn của Đảng, mục tiêu chủ yếu là bảo vệ Đảng bằng bất kỳ giá nào, là kiên trì CNML, là giữ vững nền độc tài toàn trị. Còn mục tiêu của nhiều cán bộ từ thấp đến cao là lo thu hồi vốn bỏ ra khi chạy chức chạy quyền và làm giàu cá nhân, là lo bảo vệ lợi ích nhóm. Như vậy mục tiêu xây dựng đất nước như trên chủ yếu là để tuyên truyền, lôi kéo nhân dân đi theo. Đảng cũng bắt buộc phải nêu khẩu hiệu “ Đặt quyền lợi dân tộc lên trên”, nhưng đó chỉ là thủ đoạn tuyên truyền. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng “VN là đất nước không chịu phát triển”, rằng để phát triển đất nước thì việc đầu tiên là phải cải cách thể chế chính trị. Như vậy, việc chúng tôi vạch ra những sai lầm của CNML, của thể chế và ra khỏi Đảng không phải nhằm chống lại mục tiêu tốt đẹp xây dựng đất nước mà là chống lại những cản trở để thực hiện mục tiêu đó, chống lại sự tuyên truyền ngụy biện, chống lại sự nô dịch về tư tưởng và thông tin.

Về công ơn Đảng. Một thực tế của lịch sử là ĐCS đã độc quyền lãnh đạo và quản lý đất nước trong thời gian qua, nhưng dân tộc được hay bị cái sự ấy thì xin tạm gác lại. Chỉ xin bàn đến vấn đề đối với từng cá nhân. Rõ ràng là có một số người nhờ có Đảng mà đã thoát cảnh lầm than, trở nên ông này bà nọ. Nhưng không phải toàn bộ dân VN đều như thế. Rõ ràng là Đảng đã lãnh đạo để có chiến thắng 30 tháng 4, nhưng nói về nó Cố thủ tướng Võ Văn Kiệt có câu để đời: “ Triệu người vui và triệu người buồn”. Trong cải cách ruộng đất, nhiều bần cố nông vui mừng được chia quả thực, họ rất nhớ công ơn Đảng. Trong khi có hàng vạn phú nông, địa chủ, nhân sĩ trí thức, kể cả nhiều người có công với cách mạng và kháng chiến chống Pháp bị sát hại, bị “đạp đầu xuống bùn đen vạn kiếp”. Những nhà tư sản bị tịch thu tài sản, bị đuổi đến vùng kinh tế mới, những thuyền nhân mà không ít bỏ xác giữa biển , những người của Việt Nam cộng hòa bị bắt vào các trại cải tạo, những dân oan…. Những người vừa kể không bao giờ nhờ công ơn Đảng. Mà tất cả họ đều là người Việt.

Về các giáo sư tiến sĩ ( GSTS). Có rất nhiều người Việt trở thành GSTS, kể cả nhà khoa học lớn mà không nhờ gì đến công ơn ĐCSVN, thậm chí một số còn tích cực chống lại chủ thuyết CS, họ đang làm việc có hiệu quả khắp nơi trên thế giới. Một số trí thức lớn như Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Văn Huyên, Trần Hữu Tước, Tôn Thất Tùng, Lương Định Của v.v… đã phục vụ đắc lực cho ĐCS thì cũng không phải nhờ Đảng họ mới có tri thức và khả năng cần thiết.

Có khá nhiều GSTS được đào tạo từ dưới chính thể của ĐCSVN. Loại trừ một số GSTS dổm, chạy được học vị, học hàm nhờ vào mưu mô, thế lực hoặc tiền bạc thì cũng có một số trở thành GSTS thứ thiệt, có trình độ là nhờ công ơn Đảng. Số người này nếu không có Đảng nâng đỡ thì chưa chắc đã học xong phổ thông chứ nói gì đến GSTS. Nhưng một số khác thì không phải như vậy.

Đảng bắt đầu mở rộng đào tạo trí thức bậc cao vào khoảng từ 1960 trở đi bằng cách gửi người sang các nước XHCN. Bắt đầu chỉ chọn các đảng viên hoặc người xuất thân từ công nông, nhưng không đủ, bắt buộc phải mở rộng cho các thành phần khác. Khi cử người đi học thì mục tiêu của Đảng không phải là ban ơn cho một ai đó mà là đào tạo cán bộ để phục vụ Đảng.Trước khi ra nước ngoài chúng tôi được học chính trị, được chỉnh huấn, được cán bộ Đảng căn dặn rất kỹ càng là đi học cũng là một nhiệm vụ quan trọng do Đảng giao, phải học tốt để về phục vụ Đảng. Như vậy việc được đi học không phải là chịu sự ban ơn, đành rằng mỗi chúng tôi đều biết ơn trong việc cụ thể này. Việc được phong giáo sư cũng chủ yếu không phải là nhờ sự ban ơn của Đảng, mà chủ yếu là do sự nổ lực hoạt động khoa học của cá nhân, ai đã từng nhận danh hiệu này một cách chính đáng đều biết rõ như vậy.

Kể cả khi bạn thực sự nhờ công ơn Đảng mới có được học vị, học hàm xứng đáng thì đức tính trung thực và lòng tự trọng không cho phép bạn làm ngơ trước những sai lầm của CNML, không cho phép bạn tự biến mình thành kẻ chỉ biết phục tùng , cúi đầu phụ họa, chỉ biết ca ngợi một chiều để giữ được miếng cơm manh áo và sự yên ổn tạm thời cho bản thân và gia đình.

Về “ uống nước nhớ nguồn” tôi đã viết và công bố bài “Những ai đã phản bội ông cha” chứng minh rằng chính một số ông cha chúng ta đã chọn sai con đường theo CNML, nay chúng ta phải sửa sai, và bọn người thực sự phản bội sự hy sinh xương máu của ông cha chính là những kẻ đang củng cố sự độc quyền toàn trị và bọn lợi ích nhóm đang cố duy trì chế độ lỗi thời để tham nhũng, để vinh thân phì gia. Về đóng góp xương máu thì gia đình tôi có 5 liệt sĩ là cha tôi và 4 người con cháu của ông. Gần đây tôi đã xây dựng được nhà thờ để thờ tự các liệt sĩ và tổ tiên. Nói rằng việc làm của chúng tôi là sự phản bội ông cha, không thực hiện việc uống nước nhớ nguồn là không đúng, là vu cáo.

VẤN ĐỀ 4- Đảng không sai, chỉ có cá nhân sai.

Một số ngườ i cho rằng CNML luôn đúng, Đảng không sai, chỉ có một số cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất làm sai. Thì đấy , ngay như chuyện tham nhũng hoặc mất dân chủ, Đảng luôn kêu gọi chống lại, thế mà nó vẫn phát triển, chỉ là do cán bộ không thực hiện mà thôi. Những người nghĩ và tin như vậy thực ra đã được nghe tuyên truyền chỉ từ một nguồn, đã bị nhồi sọ bởi những lập luận ngụy biện. Chúng tôi hồi trẻ vẫn tin như thế, nhưng rồi dần dần, được tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin khác nhau và đặc biệt chiêm nghiệm từ cuộc sống thực tế, tự suy nghĩ sâu sắc một cách khoa học mới nhận ra không phải như vậy. Phần lớn những điều tốt đẹp mà Đảng nói tới chủ yếu chỉ là tuyên truyền ngụy biện, còn sự toàn trị của Đảng hàng ngày hàng giờ sinh ra và nuôi dưỡng các tệ nạn đủ thứ. Câu nói “Mọi lý thuyết đều màu xám, chỉ cây đời mãi xanh tươi” hoặc “Chớ cả tin vào lời người ta nói, hãy xét xem việc họ làm” đã được lịch sử nhân loại kiểm nghiệm, đúng cho mọi lý thuyết, cho mọi người, mọi tổ chức, không riêng gì cho CS.

Về các bài viết và việc làm của tôi, một số người cho là tôi cố ý chống lại ai đó ( lãnh đạo chẳng hạn), chống Đảng , chống CNML. Tự trong thâm tâm tôi không muốn chống ai cả mà chủ yếu là muốn cung cấp thông tin nhằm thức tỉnh những ai muốn tìm hiểu các quan điểm khác nhau. Còn đối với những người chỉ biết tin theo một nguồn, chỉ cố giữ chặt một quan điểm thì làm sao lay chuyển họ được. Kể ra tìm cho kỹ thì cũng có lúc tôi chống đối nhưng không chống ai cả mà là chống lại những quan điểm, những việc làm mà tôi cho là sai quy luật, là có hại cho dân tộc và nhân loại.

VẤN ĐỀ 5-Bàn về cống hiến

Đối với mỗi người cống hiến quan trọng nhất là trong việc phát triển đất nước và nhân loại. Tùy hoàn cảnh, tùy thời gian mà việc cống hiến này sẽ là tốt hơn khi ta ở trong hoặc ngoài Đảng. Trước đây thấy rằng vào Đảng sẽ có khả năng công tác tốt hơn nên chúng tôi gia nhập khi Đảng yêu cầu. Bây giờ thấy sự ra khỏi Đảng sẽ có tác dụng tốt hơn cho sự phát triển nền dân chủ của đất nước nên chúng tôi ra. Như vậy việc ra Đảng đã không làm giảm mà về khía cạnh nào đó còn làm tăng sự cống hiến, tất nhiên đó là cống hiến cho dân tộc chứ không phải là cống hiến, là hy sinh để bảo vệ những sai lầm của Đảng.

Riêng bản thân tôi, tự kiểm điểm trong cả cuộc đời cho đến bây giờ tôi đã làm việc hết sức mình để đóng góp vào sự phát triển của đất nước và đạt nhiều thành tích đáng kể, bạn bè, học trò của tôi, lãnh đạo những đơn vị và địa phương quản lý tôi đều biết rõ, tôi xin không kể ra vì đây không phải là nơi báo cáo thành tích.

Trong việc đấu tranh cho nền dân chủ, mỗi người tùy hoàn cảnh mà chọn cho mình công việc thich hợp. Việc lập tổ chức này khác, việc dẫn đầu biểu tình hoặc đi vận động việc nọ việc kia đã có nhiều người thich hợp hơn. Tôi, một giáo sư 80 tuổi, tôi chọn công việc thích hợp và không kém phần quan trọng là viết bài để thức tỉnh những ai còn ngộ nhận, những ai muốn tìm hiểu sự thật. Để làm việc đó cần trí tuệ và lòng dũng cảm, công việc cũng khá khó khăn, và làm được sẽ có lợi cho phong trào. Nếu làm như vậy mà có bị ai đó chê bai, trách móc, coi thường thì tôi cũng chấp nhận mà không có gì phải tự ái, không việc gì phải xấu hổ.

VẤN ĐỀ 6- Tuổi già và sự an nhàn

Tuổi gìa muốn được an nhàn, đó là tâm lý chung cần được tôn trọng. Nhưng có một số người già vẫn còn sức lực và trí tuệ, đặc biệt là vẫn còn nhiệt tình hoạt động giúp ích cho đời . Trong hoạt động vì độc lập tự do của đất nước, vì dân chủ và hạnh phúc của nhân dân nhiều chiến sĩ cách mạng thề phấn đấu đến hơi thở cuối cùng, nguyện trọn đời phục vụ nhân dân. Những người già như vậy càng nên được tôn trọng hơn chứ không nên tìm cách dè bỉu hoặc ngăn cản. Hồ Chí Minh có một số câu thơ : Năm 1947 Người viết tặng 3 cụ ở Cao Bằng : Tuổi cao chí khí càng cao. Múa gươm giết giặc ào ào gió thu….Năm 1960 Người viết : Càng già càng dẻo lại càng dai. Tinh thần gương mẫu chẳng nhường ai…

Tôi xin cám ơn những lời khuyên nên giữ an nhàn, đừng dây vào chính trị. Trong những lời khuyên đó có những tấm lòng tốt, lo cho sức khỏe và sự an nguy của tôi. Nhưng tôi không theo được vì tôi chưa muốn, chưa thể dẹp bỏ nguồn trí tuệ tìm kiếm chân lý, chưa dập tắt được ngọn lửa nhiệt tình muốn cống hiến cho xã hội tốt đẹp hơn. Tôi cũng nhận thấy trong một số lời khuyên có ẩn nấp sự sợ hãi. Ngoài những thứ sợ thông thường của kiếp người như sợ chết, sợ ốm đau, bệnh tật, tai nạn, sợ đói khổ, chia ly v.v… thì Đảng CS đã tạo ra và duy trì được nhiều nỗi sợ nữa cho nhân dân, cho đảng viên, cho cả các cán bộ cao cấp. Người ta sợ bị sát hại, bị đàn áp, tù đầy, sợ bị mang tiến phản bội, phản động, mang tội chống Đảng, chống chế độ, sợ bị vi phạm kỷ luật và những điều cấm, sợ bị mọi người xa lánh, sợ bị mất miếng cơm manh áo, sợ bị ảnh hưởng đến lý lịch và đời sống của con cháu…Sợ quá làm cho người ta trở nên hèn kém, mang nặng tâm lý nô lệ. Sợ quá làm người ta trở thành kẻ dối trá. Tôi đã sợ hãi như thế trong hơn 20 năm, một thời gian quá dài, nay đã phần nào vượt qua được.

Một số bạn xui tôi ra nước ngoài mà ở. Sao lại xui dại nhau thế, hay đấy là lời thách thức, một ý muốn xua đuổi . Tôi biết nhiều ngoại ngữ, lại có nhiều con cháu đang định cư tại nước ngoài, việc ra đó để sống nốt quảng đời còn lại đối với tôi là không có gì khó nhưng tôi không muốn. Tôi muốn và cần ở lại trong nước vì nhiều lý do chứ không chỉ cầu mong sự an nhàn của tuổi già.

LỜI KẾT

Tôi viết là nhằm trao đổi với những người bạn có thiện chí, muốn thực tâm tìm hiểu sự việc chứ không phải để tranh luận với những người chỉ biết mạt sát, chửi rủa một cách vô căn cứ. Kể ra để giải đáp được rõ hơn một vài thắc mắc thì cần viết mỗi vấn đề thành một tiểu luận với chứng minh chặt chẽ và nhiều dẫn chứng sinh động, tôi cũng có thể làm việc đó, nhưng xét ra cũng đã có nhiều người làm. Bài đã quá dài, xin tạm dừng, mong được thông cảm.

Bao giờ người Việt biết thương nhau?

Bao giờ người Việt biết thương nhau?

Song Chi.

RFA

Mỗi năm ở VN trung bình có khoảng từ 8,700-11,500 người chết vì tai nạn giao thông, nằm trong số những quốc gia có tỷ lệ người chết vì tai nạn giao thông cao trên thế giới. (Theo “List of countries by traffic-related death rate” (Wikipedia), tỷ lệ trung bình là 17.4 trên 100,000 người thì tỷ lệ của VN là 24.5. Còn theo đánh giá của tổ chức World Health Ranking về “Road traffic accidents death rate by country”, tỷ lệ số người chết tính trên 100, 000 người của VN là 23.10, thuộc vào khu vực được tô màu xanh, là khá cao).
Nghĩa là trung bình mỗi ngày có khoảng trên dưới 30 người rời khỏi nhà và vĩnh viễn không trở về. Chưa kể hàng ngàn người khác bị thương từ nhẹ đến nặng hoặc vĩnh viễn tàn phế. Tai nạn giao thông đã trở thành một nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với người VN mỗi khi phải bước chân ra đường. Báo chí, dư luận đã gióng lên hồi chuông báo động từ nhiều năm qua, rất nhiều giải pháp kiềm chế đã được đề ra, nhưng tai nạn giao thông vẫn không hề giảm đi.
Có nhiều nguyên nhân như cơ sở hạ tầng, phương tiện giao thông không đảm bảo điều kiện an toàn, thời tiết xấu…, bên cạnh đó, ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông còn rất kém.

Thử nhìn lại mấy vụ tai nạn giao thông kinh hoàng mà báo chí đưa tin trong những ngày gần đây: Vụ chiếc xe Camry tông chết 3 người tại quận Long Biên, Hà Nội ngày 29.2, theo báo chí, người lái xe đã phạm cùng lúc nhiều tình tiết gây ra tai nạn: uống rượu trước lúc lái xe, không có bằng lái, lái với tốc độ nhanh, vượt sai làn đường rồi tông thẳng vào 2 ông cháu đi xe máy và 1 phụ nữ đi bộ. Trong video clip ghi lại vụ tai nạn, có thể thấy bản thân 2 ông cháu nạn nhân cũng không đội mũ bảo hiểm, người phụ nữ thì đang đi bộ dưới lòng đường, đường xá thì hẹp lại có thêm một chiếc ô tô đậu làm choán mất một phần đường. (“Vụ xe Camry tông chết 3 người: Lái xe không bằng lái, có hơi men”, Dân Trí, “Vụ Camry gây tai nạn và chuyện người Việt ‘nhờn luật’, VietnamNet)

Tất cả những sự bất cẩn, vi phạm luật giao thông này đã dẫn đến vụ tai nạn thảm khốc trên.
Ngày 4.3 tại xã Phù Ủng, Ân Thi, một chiếc xe biển xanh lấn làn tông trực diện vào một người phụ nữ chạy xe gắn máy đang mang thai 8 tháng, khiến cả bà bầu và thai nhi sắp sinh cùng tử vong. (“Xe biển xanh lấn làn tông chết bà bầu 8 tháng”, Người Lao Động)
Ngày 6.3, tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, lại một người không có bằng lái, ngồi vào xe taxi của người khác, tông chết một người phụ nữ lớn tuổi và một cháu bé khi cả hai đang ở lề đường trước cửa một ngôi nhà (“Vụ taxi ‘điên’ đâm chết 2 bà cháu: Tài xế không có bằng lái”, Tiền Phong)

Ngày 6.3, tại Quảng Ngãi, một chiếc xe tải chạy rất nhanh, dù đèn đỏ nhưng vẫn ôm cua và tông thẳng từ phía sau một chiếc xe gắn máy chở ba khiến hai mẹ con chết tại chỗ, bé trai may mắn văng vào gầm xe taxi đang dừng chờ đèn đỏ nên thoát chết. Theo bài báo “Xe tải tông hai mẹ con chết thảm, bé trai văng gầm taxi thoát chết”, báo Tuổi Trẻ, “thời điểm xảy ra tai nạn tài xế Trần Quang Phu đã bị Công an huyện Ba Tơ tước giấy phép lái xe”.
Chỉ kể sơ qua vài vụ, đã chứng minh một trong những nguyên nhân chính gây tai nạn vừa nói ở trên: ý thức chấp hành luật giao thông rất kém của người dân. Nói thẳng ra là chúng ta coi thường luật, coi thường tính mạng người khác và cả của chính mình. Sâu xa bên trong là chúng ta không có đủ lòng nhân ái, chất nhân văn để biết nghĩ, biết quý trọng tính mạng của người như của mình.

Trong lĩnh vực chế biến, cung cấp thực phẩm cũng vậy.

Cũng như tai nạn giao thông, tình trạng thực phẩm bị nhiễm bẩn, nhiễm độc…ở VN là một nỗi ám ảnh lớn cho tất cả mọi người. Không ai phủ nhận ẩm thực VN thuộc vào hàng ngon trên thế giới, nhiều món ăn Việt được phổ biến và được yêu thích rộng rãi tại nhiều quốc gia như phở, chả giò, gỏi cuốn, bánh mì thịt, cơm tấm, bánh xèo…Nhưng về mặt vệ sinh, an toàn thì thật đáng ngại.

Không chỉ hàng hóa thực phẩm bị nhiễm độc từ Trung Quốc tuồn qua đường chính ngạch lẫn buôn lậu, chính người Việt cũng đang thản nhiên giết người Việt bởi lối làm ăn chỉ biết có lợi nhuận trước mắt, không nghĩ gì đến sức khỏe, sinh mạng người khác. Người ta sẵn sàng phun nhớt thải cho rau muống xanh, trộn chất tạo nạc là chất cấm sử dụng trong chăn nuôi cho lợn để tăng trọng nhanh, cho phẩm màu, chất bảo quản, chất tăng trưởng, chất tẩy trắng vào trong rau củ, thực phẩm, bánh mứt, sử dụng chất huỳnh quang, hàn the trong công nghệ chế biến bún, phở, thậm chí có một dạo dư luận kinh hoàng về việc phát hiện phoóc môn (Formaldehyde, dùng làm chất tẩy uế, bảo quản tử thi…) được sử dụng trong bánh phở…

Lâu lâu báo chí lại đưa tin, hình ảnh quy trình chế biến nước tương bẩn, làm chả cá, giò sống, lạp xưởng, chà bông, làm sương sâm, sương xáo siêu bẩn…khiến người xem rùng cả mình. Còn hàng rong ngoài đường cho tới hàng quán, tiệm ăn suốt từ Nam ra Bắc, cũng là khuất mắt mà ăn chứ không thể đảm bảo có vệ sinh, an toàn hay không.
Điều đáng nói là ngay chính nhiều người chế biến thực phẩm cũng biết là bẩn nên chỉ để bán cho người khác, còn nhà mình thì không dám ăn!

Trong phiên họp Quốc hội tháng 11.2015, trong phần đặt câu hỏi với Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát về vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm, đại biểu Quốc hội Trần Ngọc Vinh đã phát biểu: “Có thể nói con đường từ dạ dày tới nghĩa địa của mỗi người chúng ta chưa bao giờ lại trở nên ngắn và dễ dàng đến thế”(“Con đường từ dạ dày tới nghĩa địa chưa bao giờ ngắn đến thế”, báo Giáo dục VN)

Có thể kể ra vô số những ví dụ về thái độ coi thường sinh mạng người khác nhan nhản trong nhiều khía cạnh của đời sống xã hội VN hiện tại. Từ việc thản nhiên xả rác và những chất bẩn xuống sông ngòi bất chấp việc ô nhiễm nguồn nước; thấy người bị nạn, nhất là tai nạn giao thông nhưng ngại giúp đỡ vì không muốn phiền hà (trong vụ xe Camry tông chết 3 người nói trên, báo chí đưa tin em bé 6 tuổi tim vẫn còn đập đã phải chờ rất lâu sau xe cứu thương mới đến, còn một số xe taxi được người dân vẫy gọi thì không dừng lại…), những bữa cơm giá rẻ nấu cho sinh viên, công nhân với những thực phẩm kém chất lượng thậm chí thiu thối…Cho tới công nghệ tái chế, tái sử dụng rác thải không bảo đảm vệ sinh, đáng sợ nhất là rác thải y tế độc hại đã từng bị báo chí vạch mặt (“Rác thải y tế độc hại lọt từ bệnh viện ra thị trường: Sự thật khủng khiếp bên trong bệnh viện”, Lao Động), tình trạng làm ăn gian dối, không bảo đảm an toàn trong xây cất, trong lao động gây tai nạn v.v…

Ngay cả một số ngành nghề lẽ ra phải được người dân tin tưởng, trông cậy, tìm đến khi có việc như cảnh sát thì ở VN, cảnh sát/ công an lại là những hung thần trong mắt người dân. Có biết bao nhiêu trường hợp người dân chỉ vi phạm những lỗi nhỏ về giao thông nhưng bị công an rượt đuổi, mất bình tĩnh tự gây ra tai nạn có khi tử vong, hoặc chỉ vì những nguyên nhân vặt vãnh, bị đưa về đồn, đang trong quá trình điều tra, tạm giam nhưng lại bị công an đánh đập, bạo hành đến chết.

Hoặc những môi trường phải là nơi an toàn như mẫu giáo, trường mầm non, trường học, bệnh viện…thì chúng ta cũng đọc/xem thấy bao nhiêu vụ cô bảo mẫu bạo hành trẻ, thầy cô xúc phạm học sinh với những lời lẽ rất phản giáo dục, một số trường hợp học sinh vì bị xúc phạm nặng nề mà uất ức dẫn đến làm điều dại dột như tự sát…
Câu hỏi vì sao người Việt chúng ta ác với nhau như vậy, vì sao người Việt chúng ta coi thường tính mạng của người khác như vậy?
Không có một dân tộc nào ác, xấu hơn dân tộc khác.

Một mô hình thể chế chính trị độc tài, giành và giữ quyền lực bằng con đường bạo lực và dối trá, kìm hãm mọi tự do, dân chủ, chà đạp nhân quyền, bóp nghẹt nhân tính trong con người đồng thời cổ súy lối sống chạy theo vật chất danh lợi, bất chấp tất cả…là nguyên nhân. Một nền giáo dục ngu dân, không có triết lý, mục tiêu giáo dục đúng đắn và cao thượng, học để đi thi, học để có bằng cấp chứ không phải học để làm người, một nền giáo dục không dạy cho con người những điều nhỏ bé như biết sống tử tế, có trách nhiệm với mình và với xã hội, có lòng nhân ái, tình yêu thương đồng loại…là nguyên nhân. Khi niềm tin lẫn chỗ dựa từ pháp luật cho tới giáo dục, tôn giáo đều không còn, thì chẳng còn ranh giới gì khiến người ta do dự, sợ hãi trước khi làm điều xấu, điều ác cả.

Còn lại chỉ là mỗi người, mỗi gia đình phải tự giáo dục cho nhau và giáo dục chính mình để ngọn lửa nhân ái, sự tử tế bên trong mình, trong nhau không bị thui chột đi.
Bao giờ chúng ta biết nghĩ cho người khác, biết quý trọng sức khỏe, mạng sống của người khác như của chính mình? Biết quý trọng cái chung, môi trường sống chung? Nghĩ cho người khác, nghĩ vì cái chung cũng chính là nghĩ cho mình và cho con cháu mình trong một mái nhà chung nơi mà từng việc làm của mỗi người sẽ ảnh hưởng đến những người khác, không thể tránh được.

Bí quyết phân biệt người quân tử và kẻ tiểu nhân, thì ra người xưa dựa vào cách này!

Bí quyết phân biệt người quân tử và kẻ tiểu nhân, thì ra người xưa dựa vào cách này!

Tác giả: Theo Ntdtv | Dịch giả: Tâm Nguyễn

¢nh Theo Ntdtv

Ngụy Hi – người được xưng là một trong ba nhà văn hàng đầu của triều đại nhà Thanh từng đã nói rằng: “Ta không hiểu biết như thế nào là làm nên bậc quân tử, nhưng nhìn vào cách bằng lòng chịu thiệt của họ trong mỗi sự việc là biết. Ta không hiểu biết như thế nào làm nên kẻ tiểu nhân, nhưng chỉ cần nhìn vào họ giành được tiện nghi tốt trong mỗi mọi việc là biết”.

Suy ngẫm tỉ mỉ, vậy việc này thực sự là việc như thế nào. Có thể chịu thiệt, thật sự không phải là một việc dễ dàng, cần phải có tâm độ lượng rộng rãi của bao dung nhẫn nhịn. Cam tâm tình nguyện chịu thiệt, đại diện cho khoan dung đại độ, coi trọng tính nhẫn nhục, năng khuất năng thân– co được duỗi được cho phải lẽ sống, đấy thật chính là một quân tử. Thảo nào người xưa biết dùng “có thể chịu thiệt hay không chịu thiệt” làm tiêu chuẩn đầu tiên để phân biệt người quân tử và kẻ tiểu nhân.

Thời xưa, có một vị thượng thư tên Lâm Thoái Trai, ông ta phúc đức rất nhiều, con cháu đầy nhà. Lúc ông ta lâm chung, cháu con quỳ gối trước mặt ông thỉnh xin lời giáo thị trăn trối để lại. Lâm Thoái Trai nói: “Ta không có lời nào khác, các con chỉ cần học chịu thiệt là được rồi”. Những bậc trưởng bối cao tuổi Trung Quốc cũng thường nói, “chịu thiệt là phúc”. Bởi vì các bậc trưởng bối ấy biết rằng con người trên thế gian “Phúc Lộc Thọ” đều là phải dùng đức mà đổi lấy, và chịu thiệt thì có thể tích đức. Từ nghìn xưa đến nay rất nhiều những anh hùng đều là bởi vì có khả năng nhẫn nhục và chịu thiệt đã làm nên đại sự, nổi danh nhất của nhẫn nhục chính là Hàn Tín đã có thể nhẫn nhịn chịu nhục chui háng, có thể nói rằng là đã chịu nhục đến cực điểm, bởi thế sau này Hàn Tín đăng đàn bái tướng, được Lưu Bang phong làm Tam Tề Vương.

Ngược lại, nếu mà luôn khiến người khác phải chịu thiệt, và nhẫn nhịn chịu nhục, thế thì cá nhân ấy chính là phải chịu mất đức rồi đấy, đã là việc xấu lại phóng đại làm cho lớn chuyện vẫn còn phải bị trời trách phạt, thật là cái được chẳng bõ cái mất.

Anh chị Thụ  & Mai gởi

Hội nghị Biển Đông: ‘Cần nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc’

Hội nghị Biển Đông: ‘Cần nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc’
Nguoi-viet.com

Châu Văn Thi
(Gởi cho Người Việt từ Manila)

MANILA (NV) – “Tất cả hành động quân sự hóa của Trung Quốc trên Biển Đông trong thời gian vừa qua nhằm khẳng định chủ quyền của họ, tạo ra sự đã rồi, để mà họ tìm một thế thượng phong nếu như họ không còn đường thối lui mà bắt buộc phải ra tòa.” Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc bình luận về những hành động quân sự mới đây của Trung Quốc ở Biển Đông.

Cựu Nghị Sĩ Roilo Golez trình bày bản tham luận về những sự mở mang, cải tạo đảo của các quốc gia ở Biển Đông, đặc biệt là Trung Quốc. (Hình: Châu Văn Thi/Người Việt)

Sáng 4 Tháng Ba 2016, các tổ chức Xã Hội Dân Sự (XHDS) Việt Nam và Philippines tổ chức hội nghị Biển Đông lần thứ 2 tại Manila, Philippines.

Đến tham dự có tổ chức VOICE, nhóm họp mặt dân chủ của Việt Nam cùng với 2 liên minh MARCHA, USPGG của Philippines.

Đặc biệt có sự tham dự của ông Đinh Kim Phúc, nhà nghiên cứu độc lập về Biển Đông đến từ Việt Nam. Ông Phúc cho rằng tổ chức ASEAN hiện giờ là một tổ chức yếu, các thiết chế còn lỏng lẻo và nếu không giải quyết những bất đồng nội bộ liên quan đến quần đảo Hoàng Sa thì khó mà chống Trung Quốc được.

Ông cũng đề nghị, “Về mặt chiến lược quân sự thì nên chăng giữa Việt Nam và Philippines đàm phán vấn đề 2 đảo Song Tử Đông và Song Tử Tây, biến nó thành hòn đảo nhân tạo và một căn cứ quân sự nhằm phá vỡ được trận địa trên 7 đảo nhân tạo của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa.”

“Có một số người nói rằng, việc mà Trung Quốc triển khai radar, tên lửa là để cô lập và đối đầu với Mỹ, tôi thì không nghĩ như vậy!”

Nhà nghiên cứu bình luận: “Tất cả hành động quân sự hóa của Trung Quốc trên Biển Đông trong thời gian vừa qua nhằm khẳng định chủ quyền của họ, tạo ra sự đã rồi, để mà họ tìm một thế thượng phong nếu như họ không còn đường thối lui mà bắt buộc phải ra tòa.”

Hội nghị có trên 20 người tham dự, đến từ 4 tổ chức XHDS Việt-Phi. (Hình: Châu Văn Thi/Người Việt)

Tại hội thảo, ông Roilo Golez, cựu Thượng Nghị Sĩ Philippines trình bày bài phân tích về sự mở mang mới nhất của Trung Quốc ở vùng biển South China Sea (Philippines gọi là Tây Philippines, Việt Nam gọi là Biển Đông).

Ông Roilo Golez cho rằng cần có thêm nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc và nhiều những cuộc hội thảo như thế này nhằm giáo dục người dân về mối nguy cơ của Trung Quốc ở Biển Đông.

Tuyên bố chung Việt-Phi

Kết thúc hội nghị, 4 nhóm Xã Hội Dân Sự của Việt Nam và Philippines cùng đồng ý ký tên vào tuyên bố chung Việt-Phi trong đó nêu rõ: “Các tổ chức Xã Hội Dân Sự cần phải có một tiếng nói độc lập.

“Chúng ta không muốn nói những gì chính quyền nói, chúng ta sẽ có tiếng nói riêng của mình.

“VOICE đồng ý để tiếp tục tổ chức những hội nghị như thế này.

“Các tổ chức Xã Hội Dân Sự như USPGG và MARCHA có thể tổ chức các cuộc biểu tình chống Trung Quốc,” tuyên bố chung ký bởi 4 tổ chức cho biết những việc cần làm.

Nhà nghiên cứu Biển Đông Đinh Kim Phúc đề nghị Việt-Phi hợp tác quân sự hóa 2 đảo Song Tử Đông, Song Tử Tây để đối chọi với Trung Quốc. (Hình: Châu Văn Thi/Người Việt)

Luật Sư Trịnh Hội, giám đốc điều hành của tổ chức VOICE cho biết hội nghị đã đồng ý 2 điều chính đó là: “Những người tham gia đồng ý sẽ tiếp tục vận động những tổ chức XHDS ở Philippines và Việt Nam cùng hợp tác để tiếp tục ủng hộ Philippines kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Cùng đồng ý sẽ phải thúc đẩy chính phủ Việt Nam thực hiện điều tương tự là kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế.”


Tưởng nhớ Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, một diễn giả của hội nghị Biển Đông lần 2 mất vào ngày 3 Tháng Ba khi đang trên máy bay từ Mỹ đến Philippines.

Hội nghị Biển Đông lần 2 dành 1 ghế trống để tưởng nhớ Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, diễn giả của hội nghị qua đời khi trên đường đến tham dự. (Hình: Châu Văn Thi/Người Việt)

Trước khi bắt đầu hội nghị, mọi người cùng dành một phút mặc niệm để tưởng nhớ về ông, đồng thời hội nghị để trống 1 ghế đề tên ông như có sự hiện diện của ông trong cuộc hội thảo lần này.

Theo dự định, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích sẽ có bài tham luận bàn về quan hệ Việt-Trung và ông cho rằng mối quan hệ 2 nước đang ở “một khúc quanh phức tạp.”

Thi hài của Giáo Sư Bích sẽ được đưa về Hoa Kỳ vào tối 6 Tháng Ba, 2016.

Nhân sự giảng dạy như vậy thì biết cái gì để dạy?

Nhân sự giảng dạy như vậy thì biết cái gì để dạy?

FB Trương Nhân Tuấn

Hổm rày cáo chí đăng lai rai ý kiến các trí thức phàn nàn về việc “hàng trăm ngàn cử nhân tốt nghiệp không có việc làm”. Hôm nay đặc biệt có ý kiến của TS Nguyễn Tiến Luận: “Cứ cung cách dạy dỗ kiểu này thì cử nhân không ngóc đầu lên được“. Ông Luận cho rằng nguyên nhân (các cử nhân) thất nghiệp là do “kỹ năng quá kém”.

Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét của TS Luận: các cử nhân mới tốt nghiệp không tìm được việc làm là do kỹ năng quá kém. Nhưng nếu nhìn sâu vào vấn đề, theo tôi, có hai nguyên nhân đưa đến nạn thất nghiệp (của các chuyên gia vừa được đào tạo).

Thứ nhứt là lý do kinh tế. Kinh tế không phát triển thì không tạo ra công ăn việc làm. Điều này không hẵn chỉ có (một cách trầm trọng) ở VN, mà các nước tiên tiến cũng bị vấp phải.

Thứ hai mới là “chất lượng” của chuyên gia vừa được đào tạo.

Ở status ngắn này mình chỉ nói về “chất lượng đào tạo”.

Theo tôi, vấn đề không hẵn (như TS Luận nói) là do nhà trường “dạy cái gì”, mà là trường (giáo sư) biết cái gì để dạy cho học trò ?

Bởi vì về kỹ thuật, ở đâu, trường nào… chương trình học cũng ná ná như nhau. Thí dụ về “tin học”, trường bên Tây, bên Mỹ, hay ở VN… đều dạy như nhau về cách sử dụng các ngôn ngữ tin học (C, C++, Java, Ruby, PHP, HTML…). Ta có thể nói tương tự cho các ngành kỹ sư khác, hay ngành luật, kinh tế v.v…

Tôi thường hay đọc các bài viết được ký tên dưới đó là giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ… nọ kia. Tôi cũng thường hay tìm đọc các “giáo trình” của họ được in thành sách. Không biết TS Nguyễn Tiến Luận thẩm định giá trị các tác phẩm này thế nào ? Theo tôi, nội dung các “giáo trình” này đều có vấn đề.

Các giáo trình về khoa học, kỹ thuật… không nói làm gì. Nhiều lắm thì chuyên gia VN đào tạo đi làm công nhân, làm thợ vịn, thợ ngó… Nếu gia đình “có thần có thế”, thì được đảng “bố trí” vào làm lãnh đạo một nơi nào đó.

Tệ hại nhứt là các giáo trình về “luật”. Điều này thể hiện lên các vận hành xã hội. Xã hội VN phải nói là một xã hội “vô pháp”.

Một thí dụ, vừa rồi có vụ lùm sùm một đài truyền hình đã “sử dụng sản phẩm trí tuệ của người khác” mà chưa được sự đồng ý của tác giả. Chưa biết vụ này sẽ đưa đến đâu. Nếu ra tòa thì tòa sẽ xử ra sao? Nhưng khi VN vào TPP, các vi vi phạm quyền “sở hữu trí tuệ” thế này sẽ được phân xử bằng một tòa án của TPP (tức của tư nhân). Lúc đó VN bán cả đất nước này chưa chắc đủ để bồi thường.

Điều này nói lên sự thiếu hiểu biết về luật pháp (nhưng thừa phách lối và ngạo mạn) của cấp lãnh đạo đài truyền hình. Vấn đề là ai đưa người (thiếu hiểu biết) này lên làm lãnh đạo ?

Thì không phải đảng thì còn ai, phải không ?

Mọi nơi, mọi chỗ… đều là người của đảng. Các trường trung, đại học, người của đảng đã đành, cán bộ phường, huyện… cũng có bằng tiến sĩ, thạc sĩ… Học đâu ra lắm tiến sĩ đến như vậy ?

Vấn đề kiến thức, khả năng của những tiến sĩ, thạc sĩ… của đảng có đúng với khả năng của tiến sĩ, thạc sĩ… thực sự hay không ?

Đọc những “giáo trình” của họ, từ tiểu học đến đại học, nếu không chết vì tức cười, thì cũng chết ngất vì mắc cở.

Nhân sự giảng dạy như vậy thì biết cái gì để dạy ?

Tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân… đào tạo ra, nếu không làm cán bộ nhà nước thì đều thất nghiệp.

Nói thật, chủ xí nghiệp ai mà mướn nhân sự được “đào tạo” như vậy ?

Bởi vậy, trước khi nói “dạy cái gì” thì phải đặt câu hỏi: biết cái gì để dạy ?

Đã bốn thế hệ thanh niên VN đều là thế hệ bỏ không. Vài thập niên tới, số người già của VN tăng cao, lúc đó dân tộc này trở thành một dân tộc ươn hèn. Đơn giản vì dốt.

BẠN ĐỂ LẠI GÌ CHO CUỘC SỐNG?

BẠN ĐỂ LẠI GÌ CHO CUỘC SỐNG?
Giáo sư dạy môn Triết của tôi rất lập dị. Chiếc áo khoác len dày đã sờn cùng cặp kính dầy cộm xệ xuống tận chóp mũi, che gần hết khuôn mặt, càng làm nổi bật vẻ bề ngoài bê bối của thầy.

Thỉnh thoảng thầy hay mở đầu cuộc thảo luận về các đề tài chẳng mấy ai quan tâm, đại khái như “Ý nghĩa cuộc sống là gì?”. Phần lớn những cuộc thảo luận đó không đi đến kết luận rõ ràng, nhưng cũng có khi chúng gây tác động mạnh. Chẳng hạn như câu chuyện tôi sắp kể ra đây.

– Em nào trả lời câu hỏi của thầy thì giơ tay lên – thầy nói với cả lớp – Ai có thể kể về cha mẹ mình?

Mọi người đều giơ tay.

Ai có thể kể về ông bà mình? – Khoảng ba phần tư lớp giơ tay.

Vậy em nào có thể kể về ông bà cố của mình? – Chỉ hai trong số 60 sinh viên giơ tay.

– Giờ thì các em hãy suy nghĩ kỹ đi nào – thầy bảo – Chỉ mới cách có hai thế hệ mà rất ít người biết cụ cố của mình là ai. Có thể các em từng thấy một bức ảnh cũ kỹ phai màu được cất kỹ trong hộp thuốc lá mốc meo, hay đã nghe kể một câu chuyện tiêu biểu về gia tộc mình, và biết có người trong tổ tiên mình đã lội bộ năm dặm đường để đến trường. Nhưng mấy người trong các em thật sự biết tổ tiên mình là ai, các cụ nghĩ gì, hãnh diện, lo sợ hay mơ ước điều gì. Các em thử nghĩ xem. Chỉ trong vòng ba thế hệ thôi mà các bậc tiền nhân đều đã bị lãng quên.

Vậy, liệu điều đó có xảy đến với các em sau này không?

Để thầy nêu câu hỏi cụ thể hơn cho các em. Các em thử tưởng tượng ra ba thế hệ sau mình. Lúc ấy các em đã ra người thiên cổ lâu rồi.

Chỗ các em ngồi bây giờ sẽ là chỗ của các chít chắt. Liệu chúng có biết gì về các em không? Hay là các em cũng sẽ chìm sâu trong dĩ vãng?

Các em muốn cuộc sống của mình hiện thời sẽ là dấu hiệu báo điềm xấu hay là tấm gương soi sáng cho các thế hệ sau? Các em sẽ để lại di sản nào? Sự lựa chọn hoàn toàn tùy thuộc vào quyết định của các em. Thôi bây giờ lớp chúng ta nghỉ.

Nhưng không ai trong lớp chúng tôi đứng ngay dậy và ùa về như mọi khi. Mọi người đều ngồi lại và suy nghĩ về lời thầy nói.

S.T.

GIÁ TRỊ CỦA NHŨNG NIỀM ĐAU

 GIÁ TRỊ CỦA NHỮNG NIỀM ĐAU

 CON TRAI

Em có biết người Nhật Bản họ làm một hạt ngọc trai như thế nào không?

– Họ lấy một con dao nhỏ thật sắc, rạch bụng con trai ra, bỏ vào đấy một hạt cát và khâu lại. Xong, họ thả con trai ấy vào một cái hồ chứa đầy nước biển. …
Những con trai sau khi lãnh một hạt cát vào trong bụng như thế, có thể lâm vào hai trường hợp sau:

1- Những con trai yếu đuối sẽ chết vì vết thương làm độc.

2- Những con còn lại, sau một thời gian đau đớn, oằn oại vì vết thương, sẽ tiết ra một chất nhờn để bao bọc hạt cát đang nằm sâu trong da thịt.
Hạt ngọc trai được thành hình từ đó.

Còn chúng ta, cuộc đời cũng đã mổ bụng ta và nhét vào đấy những niềm sầu nỗi khổ. Nếu chúng ta cứ than van, hờn trách thì ta sẽ chết lần chết mòn như những con trai yếu đuối nọ. Ngược lại, nếu ngay trong những nghịch cảnh oái ăm ấy mà chúng ta biết tiết ra một chất thức tỉnh thì một vị Phật được bắt đầu như thế đó em ạ!

Để biết đâu mới là Thiên Đường

 

Để biết đâu mới là Thiên Đường

Phan Huy, một thi nhân nổi tiếng ở miền Bắc: Phan Huy đã viết môt bài thơ có tựa đề là “Cảm Tạ miền Nam” rất cảm động. Ngay trong phần mở đầu ông viết:
“Đã từ lâu, tôi có điều muốn nói
Với miền Nam, miền đất mới thân quen
Một lời cảm ơn tha thiết chân tình
Của miền Bắc, xứ ngàn năm văn vật.
Sau cái gọi giải phóng và thống nhất, ông Huy đã có dịp vào miền Nam và ông đã nhận ra miền Nam không tồi tệ như bác và đảng đã tuyên truyền và nhồi nhét vào đầu ông và khi đã nhận ra một sự thật phũ phàng, ông Huy đã bật khóc:

Trước mắt tôi, một miền Nam sinh động

“Tôi đã vào một xứ sở thần tiên
Nếp sống văn minh, dân khí dịu hiền
Cơm áo no lành, con người hạnh phúc.
Tôi đã ngạc nhiên với lòng thán phục
Mở mắt to nhìn nửa nước anh em
Mà đảng bảo là bị lũ nguỵ quyền
Áp bức, đoạ đày, đói ăn, khát uống.
Trước mắt tôi, một miền Nam sinh động
Đất nước con người dân chủ, tự do
Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô
Giận đảng, giận đoàn bao năm phỉnh gạt.”
Phan Huy cũng không quên mô tả cuộc sống ở miền Bắc cs, nơi ông đã sinh ra và lớn lên, vô cùng tồi tệ. Đời sống của nhân dân miền Bắc nghèo khó đến nỗi phải kéo cầy thay trâu và nhân phẩm của nhân dân miền Bắc bị xô đẩy xuống tới mức ngang hàng với bèo dâu:

Xã hội sơ khai, tẩy não, một chiều

“Sinh ra lớn lên sau bức màn sắt
Tôi chẳng biết gì ngoài bác, đảng “kính yêu”
Xã hội sơ khai, tẩy não, một chiều
Con người nói năng như là chim vẹt.
Mở miệng ra là: “Nhờ ơn bác đảng
Chế độ ta ưu việt nhất hành tinh
Đuốc soi đường chủ nghĩa Mac Lenin
Tiến nhanh, tiến mạnh lên thiên đường vô sản.
Hai mươi mốt năm trên đường cách mạng
Xã hội thụt lùi người kéo thay trâu
Cuộc sống xuống thang tính bằng tem phiếu
Nhân phẩm con người chẳng khác bèo dâu.”

Trong phần cuối bài thơ, ông Huy kết luận rằng, ngày 30-04-1975 thật sự không phải là ngày cộng sản miền Bắc “giải phóng” miền Nam thoát khỏi sự kìm kẹp của Mỹ Ngụy, mà ngược lại là ngày miền Nam đã phá màn u tối, đã khai đường chỉ lối, đã khai sáng cho nhân dân miền Bắc thấy được bộ mặt gian trá và độc ác của bè lũ cộng sản, thật sự chúng chỉ là một bầy ác quỷ và ông đã không tiếc lời cảm tạ nhân dân miền Nam:

Giải phóng tháng tư đen

“Cảm tạ miền Nam phá màn u tối
Để tôi được nhìn ánh sáng văn minh
Biết được nhân quyền, tự do dân chủ
Mà đảng từ lâu bưng bít dân mình.

Cảm tạ miền Nam khai đường chỉ lối
Đưa tôi trở về tổ quốc thiêng liêng
Của Hùng Vương, quốc tổ giống Rồng Tiên
Chớ không là Cac Mac và Le nin ngoại tộc.

Cảm tạ miền nam mở lòng khai sáng
Đưa tôi hội nhập cùng thế giới năm châu
Mà trước đây tôi có biết gì đâu
Ngoài Trung cộng và Liên sô đại vĩ

Cảm tạ miền Nam đã một thời làm chiến sĩ
Chống lại cộng nô cuồng vọng xâm lăng
Hầu giúp cả nước thoát bầy ác quỷ
Dù không thành công cũng đã thành danh.”

Trong một bài thơ khác có nhan đề là “Tâm sự một đảng viên” ông Phan Huy đắng cay bộc lộ rằng, sở dĩ ông theo đảng cộng sản là vì ông quá tin nghe theo lời hồ già dạy bảo:

“Rằng đảng ta ưu việt nhất hành tinh

“Rằng đảng ta ưu việt nhất hành tinh
Đường ta đi, chủ nghĩa Mac Lê nin
Là nhân phẩm, là lương tri thời đại.”
Và sở dĩ ông đã xung phong đi cứu miền Nam ruột thịt là vì ông tin vào lời tuyên truyền của hồ già và đảng cs:

Khắp nơi nơi cảnh đói rách cơ hàn

“Rằng tại miền Nam, ngụy quyền bách hại
Dìm nhân dân dưới áp bức bạo tàn
Khắp nơi nơi cảnh đói rách cơ hàn
Đang rên siết kêu than cần giải phóng”
Khi dự tính vào miền Nam thăm viếng một người bà con họ hàng, vì tin vào lời tuyên truyền của bác và đảng là người dân miền Nam đói khổ, nên ông đã chẳng quản đường xa diệu vợi mang theo một mớ gạo mà ông đã phải, dành dụm trong nhiều ngày mới có được, để biếu người bà con đói khổ:
“Chẳng quên mang theo ký gạo để dành
Biếu người bà con trong nầy túng thiếu”
“Đến Sài Gòn, tưởng say men chiến thắng
Nào ngờ đâu sụp đổ cả niềm tin
Khi điêu ngoa, dối trá hiện nguyên hình
Trước thành phố tự do và nhân bản.”
Khi đến và đứng trước nhà người bà con, ông Phan Huy mới nhận ra rằng, mớ gạo mà ông nâng niu mang từ miền Bắc thiên đường cộng sản, với hảo ý để biếu người bà con miền Nam bị Mỹ Ngụy kìm kẹp đói khó là một điều điều “lăng mạ” người bà con này:

Mộng miền Nam

“Tôi tìm đến người bà con trong xóm
Nhà xinh xinh, đời sung túc tiện nghi
Ký gạo đem theo nay đã mốc xì
Tôi vội vã dấu vào trong túi xách.
Anh bà con tôi- một người công chức ngụy
Nét u buồn nhưng cũng cố làm vui
Đem tặng cho tôi một cái đồng hồ
Không người lái, Sei-ko, hai cửa sổ.
Rồi anh nói: “Ngày mai đi cải tạo
Cái đồng hồ tôi cũng chẳng cần chi
Xin tặng anh, mong nhận lấy đem về
Một chút tình người bà con Nam bộ.”
Sau khi đã nhận ra đời sống thật sự của toàn dân miền Nam và sự gian trá, phỉnh gạt của hồ già và đảng cs, ông Huy cảm thấy hổ thẹn với lương tâm nên đã than khóc:

Tác giả Phan Huy

“Trên đường về, đất trời như sụp đổ
Tôi thấy mình tội lỗi với miền Nam
Tôi thấy mình hổ thẹn với lương tâm
Tôi đã khóc, cho mình và đất nước”

Chi Yến Le Tô gởi

YÊU KẺ THÙ

Trong khi Tố Hữu, người cộng sản , từng là phó Thủ Tướng đặc trách kinh tế, đã viết:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt

để cổ súy cho sự giết chóc dân tộc Việt Nam, đem tang thương đau khổ cho hàng trăm ngàn

người vô tội, để tôn thờ Mao Trạch Đông, thờ Staline , thì sau này lịch sử chứng minh Staline và Mao Trạch Đông là hai kẻ giết người nhiều nhất hơn cả Hitler nữa.

Trong gocnhinalan:

“Cho mãi đến khi chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ năm 1991, người Nga mở kho tài liệu. Con số đúng của Kremlin là 27 triệu.

http://www.gocnhinalan.com/bai-tieng-anh/su-dien-loan-cua-hoang-de-stalin.html”      

Trong Đại kỹ nguy ên:

“Trong 10 năm Đại Cách mạng Văn hóa, hơn 20 triệu người bị giết chết, tự sát và thảm sát. Đây là tội ác giết người vô tội, tàn khốc và vô nhân tính lớn nhất trong lịch sử nhân loại.

http://www.daikynguyenvn.com/y-kien/7-toi-ac-lon-nhat-cua-mao-trach-dong-duoc-phoi-bay-sau-39-nam-ngay-ong-mat.html ‘’

Cộng sản đã phát động đấu tranh giai cấp, giết chóc vô tiền khoáng hậu trong lịch sử nhân loại.

Trong khi đó gần hai ngàn năm trước Chúa Giê su luôn dạy yêu thương, mời các anh chị em đọc lại bài “ Yêu kẻ thù” của Martin Luter King để thấy sự khác biệt giữa lòng căm thù và tình yêu thương, tha thứ.

Chính sự căm thù làm tan nát đất nước Việt Nam., làm ly tán lòng người, nghèo đói lạc hậu.

Chính sự yêu thương, khoan dung, tha thứ làm nên một nước Mỹ hùng cường, lảnh đạo thế giới ngày hôm nay.

YÊU K THÙ

Martin Luther King

Martin L King JrHãy yêu k thù và cu nguyn cho nhng k ngược đãi anh em.
Nh
ư vy anh em mi tr nên con cái ca Cha anh em, Ðng ng trên tri“.
Mt 5,44-45

Có lẽ không có lời khuyên nào của Ðức Giêsu lại khó đem ra thực hành cho bằng lời khuyên “Hãy yêu kẻ thù”. Một số người chân thành nghĩ rằng, trong thực tế, không ai có thể giữ được lời khuyên này. Yêu người yêu mình thì dễ, còn ai lại đi yêu kẻ tìm cách làm hại mình một cách công khai hay âm thầm? Ðối với một số người khác như triết gia Nietzsche chẳng hạn, lời khuyên “Hãy yêu kẻ thù” cũng đủ để chứng minh rằng đạo đức Kitô giáo chỉ dành cho những kẻ bạc nhược, nhát đảm, chứ không phải cho những người can đảm, dũng mạnh. Họ cho rằng Ðức Giêsu là người quá lý tưởng và thiếu thực tế.

Mặc dầu các câu hỏi này có được nhấn mạnh đến đâu chăng nữa và các thắc mắc có được lặp đi lặp lại không biết bao nhiêu lần, lời khuyên của Ðức Giêsu vẫn tra vấn chúng ta hơn bao giờ hết. Hết biến động này đến biến động khác không ngừng nhắc nhở chúng ta rằng con người thời đại ngày nay đang đi trên con đường hận thù dẫn đến diệt vong và trầm luân. Thay vì là lời khuyên đạo đức của một kẻ mộng tưởng, thì lời khuyên “Hãy yêu kẻ thù” lại là một điều cần thiết tuyệt đối, nếu chúng ta muốn sống còn. “Hãy yêu kẻ thù” là chìa khóa giúp chúng ta giải quyết các vấn đề trong thế giới ngày nay. Ðức Giêsu không phải là con người quá lý tưởng để quên mất thực tế; Người là con người thực tế đích thực.

Tôi tin rằng Ðức Giêsu biết rõ khó khăn khi nói phải “yêu kẻ thù”. Người không toa rập với những kẻ cho rằng sống đúng theo các đòi hỏi luân lý là chuyện dễ. Người biết rõ rằng mọi biểu hiện của tình yêu đích thực đều xuất phát từ sự phó thác hoàn toàn và dứt khoát vào Thiên Chúa. Khi Ðức Giêsu nói: “Hãy yêu kẻ thù”, thì không phải là Người không biết đến các đòi hỏi của lời khuyên này. Mỗi từ trong câu này đều có nghĩa của nó. Các Kitô hữu có trách nhiệm khám phá ý nghĩa của lời khuyên này và đem ra thực hành trong đời sống hàng ngày.

I

Chúng ta hãy tỏ ra thực tế và đặt cho mình câu hỏi sau đây: Làm thế nào chúng ta yêu kẻ thù được?

Thứ nhất, chúng ta phải phát huy và cng c kh năng tha th. Không biết tha thứ thì cũng không biết yêu thương. Không thể bắt đầu yêu kẻ thù mà trước đó không chấp nhận cần phải không ngừng tha thứ cho những kẻ làm hại chúng ta. Cũng cần phải hiểu rõ rằng người tha thứ trước tiên phải là người đã bị lừa gạt và bị ám hại, người bị áp bức và gánh chịu bất công. Kẻ phạm tội có thể xin tha thứ, có thể quay về với chính mình và, như đứa con hoang đàng, đang rảo bước trên con đường đầy gió bụi nào đó, với lòng ao ước được tha thứ. Nhưng chỉ có người thân cận đã bị xúc phạm, người cha giàu lòng thương xót mới có thể đưa kẻ có tội vào ngôi nhà ấm áp và mới có thể tha thứ.

Tha thứ không phải là không biết điều đã phạm là một hành vi xấu hay gọi hành vi xấu này bằng một tên gọi không đúng với thực chất của nó. Ðúng hơn, tha th là xem hành vi xu này không còn là mt chướng ngi đ thiết lp nhng quan h mi. Tha thứ là một chất xúc tác tạo nên một bầu khí cần thiết cho một cuộc lên đường, một khởi đầu mới. Tha thứ là cất đi một gánh nặng, hay xóa bỏ một món nợ. Chúng ta có thể nói: “Tôi tha thứ cho anh, nhưng tôi sẽ không bao giờ quên điều anh làm cho tôi”. Nói như vậy không phải là tha thứ thật. Ðành rằng chúng ta không bao giờ quên, nghĩa là xóa bỏ hoàn toàn trong tâm trí điều người khác đã làm cho mình. Nhưng nếu chúng ta tha thứ, thì chúng ta cũng quên, nghĩa là điều người khác đã làm cho chúng ta không còn là một chướng ngại khả dĩ ngăn cản các quan hệ mới. Cũng không bao giờ chúng ta có thể nói: “Tôi tha thứ cho anh, nhưng tôi không muốn quan hệ với anh nữa”. Tha thứ là hòa giải, là gặp lại nhau. Nếu không, chẳng có ai có thể yêu kẻ thù. Mức độ chúng ta có thể tha thứ là thước đo mức độ chúng ta có thể yêu kẻ thù vậy.

Thứ hai, người thân cn làm tn thương chúng ta chính là k thù. Nhưng phải nhìn nhận rằng hành vi xấu của con người đó không bộc lộ hết toàn diện con người đó. Nơi kẻ thù tệ nhất, chúng ta có thể khám phá ra những điểm tốt lành. Nhân cách của mỗi người chúng ta có cái gì đó mang dáng dấp tâm thần phân lập, làm chúng ta tự chựng lại một cách bi thảm. Một cuộc chiến trường kỳ luôn diễn ra nơi mỗi cuộc sống, và có cái gì đó làm chúng ta phải thốt lên như thi sĩ Ovide: “Tôi nhận biết sự thiện, tôi chấp nhận sự thiện nhưng tôi lại làm sự ác”, hay như triết gia Platon khi nghĩ rằng con người giống như một cỗ xe song mã, nhưng mỗi con kéo theo một hướng, hoặc như thánh Phaolô: “S thin tôi mun thì tôi không làm, nhưng s ác tôi không mun, tôi li c làm (Rm 7,19).
Ðiều này đơn giản có nghĩa là nơi người xu nht vn có cái tt và nơi người tt nht vn có cái xu. Một khi khám phá ra chân lý này, chúng ta sẽ ít chiều theo khuynh hướng tự nhiên là ghét kẻ thù. Nếu nhìn kỹ bên dưới bề mặt, bên dưới những hành vi xung động, chúng ta có thể tìm thấy nơi kẻ thù một điều tốt lành, đồng thời chúng ta cũng nhận thấy rằng điều ác họ làm cũng không biểu lộ hết con người họ. Nhìn kẻ thù trong một ánh sáng mới, chúng ta mau chóng nhận thấy rằng hận thù nơi họ xuất phát từ sợ hãi, kiêu căng, ngu dốt, tiên kiến, hiểu lầm. Nhưng, dù sao, hình ảnh Thiên Chúa nơi họ không thể bị xóa nhòa. Như thế, chúng ta yêu kẻ thù vì biết rằng họ không hoàn toàn xấu về mọi phương diện và họ cũng không ở ngoài tầm tác động của tình yêu cứu chuộc mà Thiên Chúa dành cho họ.

Thứ ba, chúng ta phải tránh làm nhc k thù. Trái lại, phải tìm cách gây thiện cảm và cảm thông với họ. Có thể chúng ta có thừa khả năng cũng như các điều kiện thuận lợi để làm nhục kẻ thù. Ðiều không thể tránh được là họ cũng có những sơ hở, những giây phút yếu đuối và chúng ta có thể tận dụng các cơ hội này để thẳng tay tiêu diệt họ. Nhưng đây lại là điều chúng ta không bao giờ được phép làm. Trái lại, mỗi lời nói, mỗi hành vi của chúng ta phải góp phần làm tăng thêm sự hiểu biết, cảm thông với kẻ thù, đồng thời tạo điều kiện để khai mở dòng thiện chí đã bị ngăn chặn bởi bức tường hận thù.

Chúng ta đừng lầm lẫn tình yêu chân thành với tình cảm ướt át. Tình yêu có cái gì đó sâu lắng hơn cảm xúc. Ở đây có lẽ tiếng Hy Lạp sẽ giúp chúng ta làm sáng tỏ ý nghĩa của tình yêu. Trong Tân Ước, tiếng Hy Lạp sử dụng ba từ để nói về tình yêu. Eros là tình yêu mang tính cách thẩm mỹ lãng mạn. Trong các đối thoại của Platon, eros là sự vươn lên của linh hồn tới lãnh vực thần linh. Philia là tình yêu liên kết cách mật thiết các bạn hữu. Chúng ta yêu người chúng ta ưa thích, và chúng ta yêu vì được người khác yêu. Agapè là tình yêu đặt nền tảng trên hiểu biết và cảm thông, ước muốn sáng tạo và cứu chuộc dành cho tất cả mọi người. Là tình yêu đầy tràn, không chờ đợi điều gì cho mình từ phía người khác, agapè là tình yêu Thiên Chúa tác động lòng trí con người. Ở mức độ này, chúng ta yêu mọi người không phải vì họ làm vừa lòng chúng ta, hay vì chính họ lôi kéo chúng ta, cũng không phải vì nơi họ có cái gì đó thuộc thần linh. Chúng ta yêu mi người ch vì Thiên Chúa yêu h. Ở mức độ này, chúng ta yêu kẻ làm điều ác trong khi vẫn ghê tởm điều ác họ làm.

Bây giờ, chúng ta có thể nói gì khi nói “Hãy yêu kẻ thù”. Có lẽ chúng ta hãy vui mừng vì Ðức Giêsu đã không nói “Hãy quý trọng kẻ khác”, vì đây quả là điều chúng ta không thể làm được đối với một số người nào đó. Làm sao chúng ta có thể quý trọng một người muốn tiêu diệt chúng ta bằng cách đặt các chướng ngại trên đường đời chúng ta? Làm sao chúng ta có thể quý trọng một người đang đe dọa mạng sống con cái chúng ta, phá hoại nhà cửa chúng ta? Quả thật, đây là điều không thể làm được. Nhưng Ðức Giêsu cho chúng ta biết tình yêu thì ở một mức độ cao hơn quý trọng. Khi khuyên chúng ta yêu kẻ thù, Ðức Giêsu không nói đến tình yêu theo nghĩa eros hay philia; nhưng Người muốn nói tình yêu theo nghĩa agapè – một tình yêu đặt nền tảng trên cảm thông và ước muốn sáng tạo cứu chuộc dành cho mọi người. Chỉ bằng cách đi theo con đường này và dấn thân vào tình yêu này, chúng ta mới có thể trở thành con cái Cha chúng ta, Ðấng ngự trên trời vậy.

II

Bây giờ, chúng ta hãy từ thực tế sang lý thuyết, từ làm thế nào sang tại sao. Tại sao chúng ta phải yêu kẻ thù?

Lý do thứ nhất thật là hiển nhiên. Lấy oán báo oán chỉ có thể làm tăng thêm hận thù, chỉ có thể làm cho đêm tối lại càng thêm tối tăm mù mịt bởi thiếu vắng ánh sáng các vì sao. Bóng ti không th nào xóa tan bóng ti. Ch có ánh sáng xóa tan bóng ti. Hận thù tăng thêm hận thù; bạo lực kéo theo bạo lực; tàn nhẫn nhân thêm tàn nhẫn, như một cơn gió xoáy ập tới tiêu diệt tất cả. Như vậy, khi khuyên chúng ta yêu kẻ thù, Ðức Giêsu đưa ra một lời cảnh giác mạnh mẽ về cái chung cuộc cuối cùng mà chúng ta không thoát khỏi, nếu không đem lời Người ra thực hành. Trong thế giới ngày nay, phải chăng chúng ta đang bị dồn vào chân tường là yêu kẻ thù, nếu không… thì điều gì sẽ xảy ra? Phản ứng dây chuyền của sự ác – hận thù tăng thêm hận thù, chiến tranh kéo theo chiến tranh, chúng ta phải chận đứng phản ứng này, nếu không tất cả chúng ta sẽ rơi vào hố diệt vong.

Lý do thứ hai chúng ta phải yêu kẻ thù là vì hn thù làm tn thương tinh thn và hy dit nhân cách. Quá nhấn mạnh đến hận thù như là một sức mạnh xấu, nguy hiểm, chúng ta thường quan tâm đến các tác hại nơi người bị oán ghét. Ðây là điều dễ hiểu vì hận thù gây nhiều tác hại không thể cứu vãn nỗi nơi các nạn nhân. Chúng ta đã chứng kiến các tội ác ghê tởm khi thấy hơn sáu triệu người Do Thái bị tiêu diệt man rợ bởi một tên điên rồ có tên là Hitler, khi thấy các người anh em da đen bị đọa đày bởi một tầng lớp người da trắng, khi thấy cảnh điêu tàn đổ nát do chiến tranh gây nên, khi thấy các bất công khổ nhục mà con cái Thiên Chúa phải gánh chịu.

Nhưng cũng có một điều mà chúng ta không bao giờ được phép quên, đó là hận thù cũng gây tác hại cho chính con người oán ghét kẻ khác. Như một căn bệnh ung thư tiềm ẩn, hận thù làm tổn thương và phá vỡ thế thống nhất của nhân cách. Hận thù làm con người không còn biết nhận thức các giá trị khách quan, coi cái đẹp là xấu, cái xấu là đẹp, lầm lẫn cái thật với cái giả và cái giả với cái thật.

Trong một cuốn sách về tính cách bệnh hoạn của nạn kỳ thị chủng tộc, E. Franklin Frazier cho chúng ta thấy một số trường hợp người da trắng bình thường, dễ mến trong quan hệ hàng ngày với những người da trắng khác, nhưng lại có những phản ứng rất phi lý, bất bình thường khi được mời gọi xem các người da đen là những người bình đẳng với mình hoặc chỉ thảo luận về các bất công do nạn kỳ thị chủng tộc gây nên. Ðây là điều xảy ra khi hận thù ngự trị lòng người. Các nhà phân tâm học cho biết rằng có những điều kỳ lạ như thế tồn tại và phát triển nơi tiềm thức, có những cuộc xung đột ác liệt diễn ra nơi nội tâm con người: đa số những điều này thường phát xuất từ hận thù. Họ đặt chúng ta trước một sự lựa chọn: “Yêu thương hoặc tiêu diệt”. Tâm lý học hiện đại nhìn nhận điều Ðức Giêsu đã dạy thuở xưa: hn thù hy dit còn tình yêu phát trin và thng nht nhân cách mt cách l lùng và hu hiu.

Lý do thứ ba chúng ta phải yêu kẻ thù là vì tình yêu là sc mnh duy nht có kh năng biến thù thành bn. Chúng ta không bao giờ có thể loại bỏ kẻ thù bằng cách lấy hận thù đối lại hận thù. Chúng ta chỉ có thể loại bỏ kẻ thù bằng cách loại bỏ hận thù chiếm ngự lòng chúng ta. Tự bản chất, hận thù phá hoại, hủy diệt; còn tự bản chất, tình yêu sáng tạo và xây dựng. Tình yêu đổi mới bằng sức mạnh cứu chuộc.

Abraham Lincoln đã có một kinh nghiệm như thế về tình yêu và đã trở thành một gương mẫu tuyệt vời cho hậu thế. Trong cuộc vận động tranh cử chức vụ Tổng Thống Hoa Kỳ, Stanton là người chống đối Lincoln kịch liệt nhất. Vì một lý do nào đó, Stanton thù ghét và tìm hết mọi cách để hạ nhục Lincoln trước công chúng. Stanton chế diễu dáng điệu của Lincoln với lời lẽ khiếm nhã, đả kích mãnh liệt và gây bối rối cho Lincoln. Nhưng các cố gắng của Stanton đã không ngăn cản Lincoln đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ. Khi lập nội các, Tổng Thống Lincoln đã chọn một số cộng sự viên thân tín nắm giữ các bộ trong chính phủ nhằm thực hiện chương trình đã được đề ra. Ðến ngày phải chọn người giữ chức vụ quan trọng nhất là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng, các bạn có biết Tổng Thống Lincoln đã chọn ai không? Không ai khác ngoài Stanton! Quyết định này đã làm dư luận xôn xao và các cố vấn thân tín đã phải lên tiếng can gián Tổng Thống: “Ngài đã phạm sai lầm. Ngài có biết Stanton là ai không? Và đã chống lại ngài quyết liệt như thế nào không? Stanton là kẻ thù của ngài và sẽ tìm cách phá hoại chương trình ngài đã đề ra. Ngài đã suy nghĩ kỹ chưa?” Tổng Thống Lincoln đã trả lời một cách lịch sự và thẳng thắn: “Tôi biết Stanton cũng như những điều Stanton đã nói và đã làm để chống lại tôi. Nhưng, tại quốc gia này, nhìn kỹ, tôi thấy Stanton là người thích hợp nhất để giữ chức Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng”. Và trong cương vị của mình, Stanton đã tận tình phục vụ Tổng Thống và Quốc Gia mình. Vài năm sau, Tổng Thống Lincoln bị ám sát. Nhiều người đã hết lời ca ngợi Lincoln. H. G. Wells xem Abraham Lincoln là một trong sáu người vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Nhưng một trong số những lời đã được nói để ca ngợi Tổng Thống Lincoln, không một lời nào có thế sánh được với những lời Stanton đã nói. Ðứng trước thi hài của người một thời đã là kẻ thù của mình, Stanton đã nói về Abraham Lincoln như một con người vĩ đại nhất đã sinh ra trên trái đất này, và ông tuyên bố: “Từ nay, Abraham Lincoln thuộc về lịch sử”.

Nếu Lincoln thù ghét Stanton, thì cả hai đều xuống mồ như kẻ thù. Nhưng nhờ sức mạnh tình yêu, Lincoln đã biến thù thành bạn. Ông cũng đã có một thái độ tương tự như vậy đối với Miền Nam trong cuộc nội chiến, khi chiến sự đến hồi ác liệt nhất. Một trong số quý bà nghe ông diễn thuyết, đã tỏ thái độ bất bình về cách phát biểu của Tổng Thống. Ông nói: “Biến thù thành bn, phi chăng đã là tiêu dit được k thù ri? Ðây chính là sức mạnh của tình yêu có sức cứu độ.

Tuy vậy, chúng ta phải nói ngay rằng các lý do trên khiến chúng ta yêu kẻ thù cũng chưa phải là lý do quyết định. Lý do căn bản nhất và được diễn tả rõ ràng nhất chính là lý do Ðc Giêsu đã nêu lên khi nói: Anh em hãy yêu k thù ?. Như vy, anh em mi được tr nên con cái ca Cha anh em, Ðng ng trên tri. Chúng ta được mời gọi làm công việc khó khăn này cốt là để cùng với Thiên Chúa tạo nên được một mối tương quan độc nhất vô nhị. Chúng ta có thể trở thành con cái Thiên Chúa. Nhờ yêu thương, chúng ta có thể biến khả năng này thành hiện thực. Chúng ta phải yêu kẻ thù vì, như vậy, chúng ta mới có thể biết được Thiên Chúa và nhận biết Thiên Chúa là Ðấng Thánh.

Hiển nhiên là những điều tôi vừa nói có liên quan đến vấn đề phân biệt chủng tộc. Sẽ không bao giờ có được một giải pháp lâu dài cho vấn đề này bao lâu các người bị áp bức chưa yêu kẻ thù. Bóng ti ca nn k th chng tc ch có th b xóa tan bi ánh sáng ca tình yêu tha th. Hơn ba thế kỷ, các người Mỹ da đen đã bị ngược đãi, ban ngày thì chịu đòn vọt, ban đêm thì bị ức hiếp một cách bất công và tàn nhẫn. Sống trong tủi nhục, hẳn chúng ta cũng muốn lấy ác báo ác, lấy hận thù đối lại hận thù. Nhưng nếu điều này xảy ra, thì trật tự mới chúng ta muốn xây dựng chẳng qua cũng chỉ là bản sao của trật tự cũ. Với tất cả sức mạnh và lòng khiêm nhường, chúng ta phải lấy tình yêu đối lại hận thù.

Dĩ nhiên làm như vậy quả là không thực tế. Sống là chiến đấu, cạnh tranh, giành giật, ăn miếng trả miếng. Thế mà tôi lại nói với các bạn rằng Ðức Giêsu dạy chúng ta phải yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ đã ngược đãi các bạn. Cũng như đa số các nhà giảng thuyết, phải chăng tôi cũng chỉ là một người quá lý tưởng để quên mất thực tế? Các bạn có thể nghĩ rằng, trong một thế giới mộng tưởng nào đó, thì điều tôi nói còn có thể nghe được, còn trong thế giới lạnh lùng, nghiệt ngã như thế giới chúng ta, thì hẳn là không nghe được rồi.

Thưa các bạn, trong quá khứ, chúng ta đã đánh mất quá nhiều thời gian khi đi theo một đường lối tạm gọi là thực tế, và nó đã dẫn chúng ta đến xáo trộn sâu xa và hỗn loạn. Nhiều cộng đồng đã lún sâu vào hận thù và bạo lực. Vì lợi ích của quốc gia chúng ta, vì lợi ích của toàn thể nhân loại, chúng ta phải từ bỏ đường lối này. Làm như vậy không có nghĩa là chúng ta không còn cố gắng đấu tranh cho công lý. Còn chút sức lực nào, chúng ta sẽ dùng nó để giải thoát quốc gia này khỏi cơn ác mộng của nạn kỳ thị chủng tộc. Nhưng trong quá trình đấu tranh, chúng ta không bao giờ từ bỏ bổn phận phải yêu kẻ thù. Dấn thân chống lại nạn kỳ thị chủng tộc, chúng ta hết lòng yêu thương những kẻ kỳ thị chủng tộc. Không có cách nào khác để chúng ta tạo nên một cộng đồng trong đó mọi người yêu thương nhau. Với những người thù ghét chúng ta nhất, chúng ta nói: “Quý vị làm chúng tôi đau khổ; để chống lại, chúng tôi chịu đựng đau khổ. Quý vị dùng bạo lực; để chống lại, chúng tôi dùng sức mạnh tinh thần. Ði vi chúng tôi, quý v mun làm gì tùy ý; chúng tôi vn hết lòng yêu thương quý v. Theo lương tâm, chúng tôi không thể tuân theo những luật lệ quý vị áp đặt, vì không cộng tác làm điều ác cũng quan trọng như cộng tác làm điều lành. Quý vị tống chúng tôi vào ngục, chúng tôi vẫn yêu thương quý vị. Quý vị sai các tên khủng bố gieo rắc khiếp sợ trong các cộng đồng chúng tôi vào ban đêm, chúng tôi vẫn yêu thương quý vị. Xin quý vị biết cho rằng khả năng chịu đựng đau khổ của chúng tôi sẽ làm quý vị nản lòng, kiệt sức. Một ngày kia chúng tôi sẽ giành được tự do, nhưng không chỉ cho chúng tôi mà thôi. Chúng tôi sẽ gửi đến quý vị một lời kêu gọi đủ sức thức tỉnh lương tâm, lay chuyển con tim và biến đổi quý vị thành những người anh em trong khi chúng ta cùng nhau tiến bước trên đường đời. Như vậy, chúng tôi đã chiến thắng hai lần rồi vậy”.

Tình yêu là sức mạnh tồn tại lâu dài nhất ở thế gian này. Như được minh chứng một cách rõ ràng nơi đời sống Ðức Giêsu, tình yêu sáng tạo là công cụ hữu hiệu nhất mà nhân loại có thể sử dụng trong công cuộc tìm kiếm hòa bình và an toàn. Napoléon Bonaparte là một thiên tài quân sự vĩ đại. Người ta kể lại rằng, sau nhiều năm chinh chiến, ông đã nhận định như sau: “Alexandre, César, Charlemagne và tôi đã lập được những đế quốc rộng lớn. Nhưng nhờ vào gì? Nhờ sức mạnh. Thế mà, nhiều thế kỷ trước đây, Ðức Giêsu đã lập một đế quốc đặt nền tảng trên tình yêu và, cho đến ngày nay, hàng triệu người vẫn sẵn sàng chịu chết vì Người”. Ai có thể nghi ngờ tính xác thực của lời nhận định này? Các thiên tài quân sự đã biến mất; các đế quốc rộng lớn đã sụp đổ. Còn đế quốc mà Ðức Giêsu đã lập và đặt nền tảng vững chắc trên tình yêu thì vẫn tồn tại và không ngừng phát triển rộng lớn. Ðức Giêsu đã bắt đầu với một nhóm người dấn thân, thấm nhuần tinh thần của Người. Nhờ vậy, họ đã mở toang cánh cửa đế quốc Rôma, và rao giảng Tin Mừng khắp mọi nơi. Ngày nay, đế quốc trần thế của Ðức Kitô gồm hơn chín trăm triệu người, sinh sống khắp trên mặt đất. Ngày nay, chúng ta lại nghe nhắc lại lời hứa về một cuộc chiến thắng:

Ðc Giêsu ng tr khp nơi
bao lâu m
t tri chiếu soi ban ngày;
Tri
u đi Người lan rng khp nơi
bao lâu m
t trăng chiếu soi ban đêm.”

Và một đoàn hợp xướng khác hân hoan đáp lại:
Nơi Ðc Kitô chng có Ðông và chng có Tây,
ch
ng có Nam và chng có Bc.
N
ơi Ðc Kitô tình yêu huynh đ
liên k
ết mi người trên toàn cõi đt.”

Ðức Giêsu luôn có lý. Lịch sử để lại biết bao cánh đồng đầy ắp xương khô tại những quốc gia đã từ chối nghe lời Người. Thế kỷ XX này, ước gì chúng ta biết nghe lời Người và đem ra thực hành, trước khi quá trễ! Ước gì chúng ta ý thức được rằng chúng ta sẽ không bao giờ là con cái đích thực của Cha chúng ta ở trên trời, trừ khi chúng ta yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi chúng ta.

Martin Luther King: “Aimer les ennemis” trong “La Force d’aimer”, Ed. Casterman, Paris 1965, trg.63-74.

Cộng sản Bắc Việt xâm lăng Miền Nam lần nữa

Cộng sản Bắc Việt xâm lăng Miền Nam lần nữa

Giáo Già (Danlambao) – Ngay sau khi hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam ngày 30-4-1975, Cộng Sản Bắc Việt đã cho toàn bộ người Miền Bắc vào Nam cai trị vùng đất bị chúng cho là “phồn vinh giả tạo”, từ viên chức ở cấp cao nhứt trong Ban Quân Quản ở các thành phố cho đến viên chức cấp thấp nhứt ở khóm phường, ấp xã…; nhưng sự “phồn vinh” đó đã khiến toàn bộ cán bộ Miền Bắc, từ cấp lãnh đạo hàng đầu ở Bắc Bộ Phủ cho đến từng tên lính từ núi rừng về thành say mê cướp bóc khiến toàn Miền Nam bị tan nát trên khắp mọi lãnh vực, từ kinh tế đến xã hội, văn hóa, giáo dục…, qua từng chiến dịch:

– Đổi tiền, $500 đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa lấy $1 đồng tiền Việt Cộng, mỗi gia đình chỉ được “sở hữu” tối đa $200 đồng; rồi sau đó tiến hành đổi tiền thêm mấy lần nữa; để cướp sạch sự trù phú của người dân Miền Nam, để mọi người Miền Nam đều “nghèo như nhau”…, “nghèo” đến độ mỗi gia đình dễ dàng sở hữu trong tay bạc triệu tiền “Hồ”, do việc trao đổi mua bán được tính theo đơn vị bằng số “ngàn đồng”, khiến họ trở thành những người “nghèo” nhưng là những “triệu phú đỏ”…

– Cướp bóc “sạch sành sanh” tài sản của người dân Miền Nam dưới đủ mọi hình thức, từ xin xỏ cho đến lường gạt, giành giựt… từ nhà cửa cho đến ruộng vườn, từ 16 tấn vàng trong ngân hàng quốc gia cho đến chiếc đồng hồ đeo tay, chiếc radio, xe đạp…

– Bắt các viên chức chánh quyền, quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tập trung trong các trại tù cải tạo, giam nhốt dài ngày, hành hạ dưới đủ mọi hình thức, từ đói khát cho đến bịnh tật không thuốc men chữa trị, tàn sát không nương tay… để vừa trả thù vừa ngăn ngừa mọi hình thức nổi loạn có thể xảy ra…

– Xua đuổi từng đoàn dân Miền Nam đi các vùng “kinh tế mới” hoang dã, như một thứ “tù khổ sai” không bản án… để vừa cướp của người bị gán cho tội “dân ngụy”vừa trừng phạt người có của…

– Vét sạch tài sản của dân mà chúng chưa vét hết, nên tiếp tục vét tiếp, qua hình thức cho người còn có của có tiền “vượt biển bán chánh thức”, bằng cách hiến nhà đất, nộp vàng “đổi chỗ vượt biển” trên đủ loại tàu, thuyền… trong đó có những chiếc thuyền nhỏ đi sông chưa từng ra biển…, khiến nhiều nạn nhơn chết thảm, chết chìm…

Người Miền Nam bị vùi dập vào mộ huyệt của tử thần nhưng họ không bao giờ chết, cho dầu có bị lừa mị nhốt giam vào nhà tù vĩ đại, là nơi họ đang sinh sống, bằng đủ mọi thủ đoạn gian manh khủng khiếp. Họ vẫn tồn tại cho dầu có bị đói nghèo thê thảm, bị trầm luân trong khổ đau cùng cực…; bị đẩy khỏi cuộc sống êm đềm hạnh phúc, phồn vinh, trù phú; khiến có người bị tù giam không có ngày về, người không bị tù thì phải lao động khổ sai, ai ai đêm đêm đều sợ từng tiếng chó sủa bâng quơ, sợ từng tên công an, từ công an khu vực, đến công an bảo vệ chánh trị thành phố…; khiến có người đã mỉa mai, xót xa định nghĩa “hạnh phúc là thấy xe công an đậu trước nhà, nhưng tên công an xuống xe lại đi vào nhà hàng xóm…”

Khi xâm chiếm được Miền Nam, Cộng Sản Bắc Việt hối hả cào bằng sự phồn vinh trù phú của Miền Nam, sao cho Miền Nam nghèo ngang với Miền Bắc, lấy tài sản của Miền Nam chở ra Bắc, mong cho Miền Bắc được giàu lên. Chúng đã lưu manh đến độ dồn tiền viện trợ của quốc tế cho Miền Bắc, nuôi dân nghèo Miền Bắc, phát triển Miền Bắc; ngay cả tiền “vay” của ngoại quốc cũng lươn lẹo dành ưu tiên cho Miền Bắc “rút ruột”, làm thành đủ loại “quý tộc đỏ”, “đại gia đỏ”, “dân oan đỏ“, “lưu manh đỏ”… mà “nợ” thì “chia đều” cho người Miền Nam cùng trả…

Nhưng, sau 40 năm không “cào bằng” được Miền Nam, mà Miền Nam đã và đang từng lúc phục hồi… Cán bộ Miền Bắc vào Nam chẳng những không “giải phóng” được người Miền Nam; mà trái lại chúng rất “sung sướng” được người Miền Nam “giải phóng”, từ miếng ăn cho đến cách sống, say mê phong cách “thanh lịch” của người Miền Nam mà trước đó chúng cho là “đồi trụy”; hãnh diện thưởng thức văn nghệ “cao sang” từng bị chúng cho là “đồi trụy”, từ cuốn sách triết cho đến cuốn tiểu thuyết lãng mạn… say mê thưởng thức những bản nhạc “mùi”, nhạc “sến”… từng bị chúng lên án là “đồi trụy”.

Bây giờ, để ngăn Miền Nam “nổi dậy”, có cơ nguy làm sụp đổ “thiên đường xã hội chủ nghĩa”, ngay sau đại hội đảng lần thứ XII, chúng hấp tấp cho tiến hành lần nữa cuộc “xâm lăng miền Nam”, do Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng phát động, thể hiện qua câu nói tại một cuộc họp bàn nhân sự, trước khi khai diễn đại hội, rằng:Tổng bí thư phải là người có lý luận và phải là Người Miền Bắc”.

Từ đó, tên đầu đảng Nguyễn Phú Trọng này đã vận dụng mọi thủ đoạn để được tái cử thêm lần nữa chức Tổng Bí Thư, để chức vụ này đừng lọt vào tay một người Miền Nam là Nguyễn Tấn Dũng; để người Miền Nam tiếp tục bị cai trị bởi người Miền Bắc…

Xin xem lại bảng liệt kê các Tổng Bí Thư Cộng Sản Việt Nam từ năm 1956 cho đến nay, 2016:

Tên  – Nơi sinh – Nhiệm kỳ

  1. Hồ Chí Minh – Nghệ An (miền Trung) – 10/1956 – 09/1960
  1. Lê Duẩn – Quảng Trị (miền Trung) – 09/1960 – 07/1986
  1. Trường Chinh – Nam Định (miền Bắc) – 07/1986 – 12/1986
  1. Nguyễn Văn Linh – Hưng Yên (miền Bắc) – 12/1986 – 06/1991
  1. Đỗ Mười – Hà Nội (miền Bắc) – 06/1991 – 12/1997
  1. Lê Khả Phiêu – Thanh Hóa (miền Trung) – 12/1997 – 04/2001
  1. Nông Đức Mạnh – Bắc Kạn (miền Bắc) – 04/2001 – 01/2011
  1. Nguyễn Phú Trọng – Hà Nội (miền Bắc) – 01/2011 – hiện nay

Ngoài ra, việc phân bố 19 tân ủy viên Bộ Chính trị coi như được bầu tại Đại hội XII cũng cho thấy rõ:

– 13 người miền bắc;

– 2 người miền trung;

– 4 người miền nam.

Đến khi Quốc Hội chưa bầu, đảng cũng đã chọn xong 3 viên chức hàng đầu điều khiển việc nước là:

– Chủ tịch Quốc Hội là Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, người Miền Nam;

– Chủ tịch Nhà Nước là Đại tướng Công an Trần Đại Quang, người Miền Bắc;

– Thủ tướng Chánh phủ là Ông Nguyễn Xuân Phúc, người Miền Trung.

Điều trớ truê là theo Hiến Pháp, Bà Ngân phải ghi danh ứng cử làm Đại biểu Quốc Hội; nếu Bà đắc cử, sau ngày Chủ nhật 22/5/2016, Quốc hội khóa 14 mới họp bàn; chừng đó nếu Bà được đa số đại biểu chọn Bà mới đủ tư cách làm Chủ tịch Quốc Hội.

Cũng theo HIến Pháp, điều 87 quy định: “Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội.” Do vậy Đại tướng Công an Trần Đại Quang phải ứng cử vào Quốc Hội, nếu Quang đắc cử, sau đó, phải được Quốc Hội bầu chọn, Quang mới đủ tư cách làm Chủ tịch Nhà Nước.

Cũng theo Hiến Pháp, điều 98 quy định: “Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội.” Do vậy Nguyễn Xuân Phúc phải ứng cử vào Quốc Hội, nếu Phúc đắc cử, sau đó, phải được Quốc Hội bầu chọn, Phúc mới đủ tư cách làm Thủ tướng.

Như vậy 3 chức danh hàng đầu điều khiển guồng máy cai trị đất nước được đảng tự chọn rồi ngang nhiên công bố đã vi phạm Hiến Pháp, nên vị thế của 3 viên chức được chỉ định này giá trị.

Mặt khác, cứ coi như sự áp đặt của đảng thành tựu, thì sự áp đặt đó đã thể hiện sự cứng rắn của đảng dành ưu thế cho cuộc xâm lăng Miền Nam lần nữa của Cộng sản Bắc Việt. Ngoài ra, Bà Ngân, người Miền Nam, trong tư cách Chủ tịch Quốc hội, chẳng có quyền hành gì. Bà được đặt ngồi đó để trang hoàng Quốc Hội, cho nó có vẻ đẹp của một phụ nữ chịu chưng diện, thường xuất hiện với chiếc áo dài hợp thời trang, như một “người mẫu” [xem hình], dể thu hút tầm nhìn của người ngoài; để người ngoài, nhứt là quốc tế, vốn kính trọng phụ nữ sẽ “nhẹ tay” khi có điều “công kích” những oan sai đo đảng và nhà nước gây hại người dân, những lúc vi phạm nhân quyền, tướt đoạt mọi tự do căn bản của người dân, được quy định trong Hiến pháp như tự do ngôn luận, tự do tôn giáo…

Hơn nữa, theo Nguyễn Văn Tuấn, trong bài viết được đưa lên các diễn đàn, ngày 9-2-2016, thì, xin trích nguyên văn:

“Thật ra, không chỉ trong chính trị, mà trong khoa học và giáo dục cũng xảy ra tình trạng mất cân bằng nghiêm trọng giữa ba miền. Tôi thử đếm con số giáo sư được phong năm 2014 và 2015 thì thấy đa số ứng viên được phong là người từ miền Bắc. Chẳng hạn như năm 2015, có 52 người được phong hàm giáo sư; trong số này, 41 (hay 79%) là người từ các trường viện miền Bắc. Năm 2014, con số này là 73%. Phân bố cụ thể số giáo sư được phong như sau:

Năm 2015:

– Bắc: 41 người

– Trung: 3

– Nam: 8

Năm 2014:

– Bắc: 43 người

– Trung: 6

– Nam: 10

Trong khoa học cũng vậy. Tôi đếm thử số đề tài được Quĩ Nafosted tài trợ trong năm 2009 thì thấy trong số 321 đề tài được phê chuẩn, các trung tâm phía Bắc chiếm 285 đề tài (89%), còn các trường viện từ phía Nam chỉ có 21 đề tài (6%), và miền Trung còn thấp hơn nữa 15 đề tài”…

Trở lại chuyện 3 viên chức hàng đầu cai trị đất nước bất hợp Hiến đó, người có quyền hành cao hơn hết là Chủ tịch Nước Đại tá Công an Trần Đại Quang. Ông này sẽ không “bù nhìn” như 2 Chủ tịch tiền nhiệm là Trương Tấn Sang và Nguyễn Minh Triết, vì ông từng là kẻ chỉ huy hàng đầu Bộ Công an, một Bộ trưởng Công an độc ác, tàn bạo, từng khét tiếng trong việc gian xảo đàn áp các dân tộc vùng Cao nguyên Trung phần, trấn áp dân oan, đàn áp tín đồ các tôn giáo, cũng như đồng bào yêu nước biểu tình chống Trung Cộng xâm lược. Đồng thời chỉ định một phó thủ tướng kiêm phó trưởng ban phòng chống tham nhũng làm Thủ tướng lại là tên trùm tham nhũng khét tiếng Nguyễn Xuân Phúc.

Còn nhớ, ngay sau khi Đại hội XII kết thúc một ngày, Tập Cận Bình đã cử ngay Đặc phái viên Tống Đào, Trưởng ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, để ông này có mặt ở Hà Nội ngày 29/1/2016. Dịp này, Tống Đào đã chuyển bức điện của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình, chúc mừng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được tái cử. Tống Đào [xem hình] cũng nói “Trung Quốc coi trọng cao độ quan hệ hữu nghị truyền thống và quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc”.

Sau lời cảm ơn, Nguyễn Phú Trọng lên tiếng nói “Việt Nam luôn coi trọng việc duy trì quan hệ láng giềng hữu nghị và đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc”.

Cùng ngày, Tống Đào cũng đã gặp Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, để nghe Huệ nói: “Hai nước cần “thúc đẩy tăng trưởng thương mại bền vững, lành mạnh, từng bước cân bằng cán cân thương mại”; nhưng thực tế không có cân bằng, vì “Tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc đạt gần 20 tỷ USD; còn trị giá hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 45 tỷ USD”. Ông Huệ cũng nói thêm Việt Nam hoan nghênh các nhà đầu tư có thực lực của Trung Quốc đầu tư vào các lĩnh vực mà Việt Nam đang ưu tiên.

Mặc dầu đạp qua Hiến Pháp để cử Nguyễn Xuân Phúc làm Thủ tướng, nhưng nhiệm kỳ Thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng chưa kết thúc, nên trước con mắt quốc tế, đặc biệt là Tổng thống Mỹ Obama, Nguyễn Phú Trọng không hành xử được quyền Tổng Bí thư để ngăn không cho Dũng đi dự Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-ASEAN ở California ngày 15/2. Trọng đã lúng túng để Dũng lên đường gặp Tổng thống Mỹ Obama [xem hình Tổng thống Obama đón Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN ở California ngày 15/2 (Ảnh: AP)].

Nhưng, để trấn an Tập Cận Bình, sau khi Dũng gặp Tổng thống Obama xong, Nguyễn Phú Trọng hối hả cho đặc phái viên Hoàng Bình Quân đi Bắc Kinh, ngày 1/3/2016, báo cáo nội vụ cho Tập Cận Bình rõ “thế kẹt” của thái thú; với danh nghĩa “Chuyển một thông điệp từ Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Chủ tịch Tập Cận Bình”.

Tin từ VOA nói rằng: “Trong thông điệp, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam cho biết, hai nước là láng giềng gần gũi chia sẻ hệ thống chính trị giống nhau và có nhiều lợi ích chung”. Dịp này Tập Cận Bình “Kêu gọi xử lý đúng đắn sự khác biệt giữa các đối tác hợp tác chiến lược toàn diện để phát triển một cách bền vững, lành mạnh và ổn định”. Phần mình, Ông Hoàng Bình Quân không quên “Giới thiệu với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình về kết quả tốt đẹp của Đại hội 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh…”

Như vậy, sự thần phục của Nguyễn Phú Trọng với Tập Cận Bình đã rõ. Vấn đề tiếp theo sau Đại hội XII là phải làm ngay những gì cho “thỏa hiệp Thành Đô” được tiến hành “như ý”. Để việc Hán hóa Việt Nam được mau lẹ, Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chánh trị CSVN cho tiến hành ngay 2 việc quan trọng, đó là:

– Bổ nhiệm một thành viên gốc Hoa làm Bí thư Thành ủy Hà Nội là Hoàng Trung Hải, để dễ dàng Hán hóa người dân thủ đô, làm gương Hán hóa toàn cõi Việt Nam;

– Đồng thời cử ngay một người Miền Bắc là Đinh La Thăng vào làm Bí thư Thành ủy thành Hồ, để vừa thực hiện lần nữa cuộc xâm lăng Miền Nam, vừa đồng nhịp Hán hóa toàn dân Việt cả nước.

Khi có dịp Giáo Già sẽ nhận diện Hoàng Trung Hải trong một Thư Cho Con khác. Phần Đinh La Thăng, trong lúc chờ xem hắn ra tay “xâm lược” Miền Nam bằng chuyện cài đặt toàn người Miền Bắc trên các chỗ ngồi “béo bở”, trong các nghiệp vụ “ăn ngon”, như đợt xâm lăng lần trước, ngay sau ngày Quốc Hận 30/4/1975; Giáo Già xin được điểm mặt kẻ nổi tiếng “nổ” ở Miền Bắc, đi đâu cũng mang theo một “thùng đạn”, vung tay “trảm kẻ dưới tay” và “tự sướng” [xin lỗi phải dùng chữ của VC mới đúng “tầm” của Thăng] cho báo chí ca tụng.

Xin kể ra đây một số thành tích nổi bật của Đinh La Thăng:

– Ở Sông Đà Thăng quậy cho thất thoát 10 ngàn tỷ;

– Về PetroVietnam Thăng làm mất 18 ngàn tỷ. Chưa kể việc Thăng dẫn tập đoàn này đầu tư khai thác dầu ở Venezuela làm lỗ thêm một mớ nữa;

– Làm mất hơn 28 ngàn tỷ của dân xong Thăng được lên chức bộ trưởng;

– Qua Bộ Giao Thông Vận Tải, Thăng đứng ra giải trình nhận trách nhiệm thay cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vụ bổ nhiệm Dương Chí Dũng ở Vinalines, giúp Nguyễn Tấn Dũng thoát vụ kỷ luật của Trung Ương Đảng [Xem hình Thăng đứng giữa bên cạnh Dương Chí Dũng bên trái Thăng].

Đinh La Thăng có được danh vọng tột đỉnh tất nhiên phải có kẻ chống lưng, trong khi sai phạm của Thăng nhiều đếm không hết; vì việc giải tỏa xảy ra ở khắp nơi, việc gì Thăng cũng dám làm, mồ mả người chết Thăng cũng thẳng tay, mạng lưới giao thông cầu đường chưa xài đã hỏng, lập một rừng trạm thu phí moi tiền dân không nương tay, cho Trung quốc trúng thầu hơn 90%, tính luôn cơ giới phế thải, hể kéo qua được bên này biên giới là tính tiền như xe mới…, chỉ cần cho đám bồi bút tung hô là Thăng đã “tự sướng” rồi.

Đến khi thấy đa số nhóm “lợi ích” kéo nhau bỏ Dũng theo Trung quốc, thì Thăng cũng “quay mặt” với đàn anh, ôm thùng đạn theo Trọng, liền được bố trí cho vào Bộ Chính trị và sau đó được cho làm “vua thành Hồ”, cầm quân Nam tiến.

Chưa biết cho đến nay Thăng nổ đã dàn quân tới đâu rồi, bao nhiêu cán bộ “ưu tú” đã có chỗ ngồi yên ổn chưa, có kế hoạch từng bước xâm lăng thành phố và toàn Miền Nam như thời quân quản chuyển sang “hành chánh đỏ” chưa, nhưng món quà ra mắt Thăng tặng người dân Sài Gòn quá đặc biệt; với từng đoàn công an, côn đồ thẳng tay phá phách, đàn áp khoảng 50 người thường dân cùng những cựu đảng viên cán bộ nhà nước thuộc Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng, tập hợp tưởng niệm những người đã hy sinh trong cuộc chiến biên giới năm 1979, chống quân xâm lược Tàu cộng, để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, sáng ngày 17/2/2016, tại tượng đài Trần Hưng Đạo, Sài Gòn.

Họ chỉ đến đó để dâng hoa tưởng niệm; vậy mà bị đám công an và côn đồ của Thăng ồ ạt bao vây, đàn áp. Quang cảnh buổi tưởng niệm được nhiều người quay phim lại, với cảnh được mô tả là người đến tưởng niệm bị “giật phá vòng hoa” và nhiều ô dù xuất hiện để che lấp biểu ngữ [Xem ảnh của CTV Danlambao]. Nhiều người tham gia nhặt lại hoa bị giựt và hô các khẩu hiệu chống Trung Quốc.

Vài giờ trước khi buổi tưởng niệm diễn ra, lực lượng công an và côn đồ của Thăng tung quân đi bao vây canh gác nhà các thành viên CLB Lê Hiếu Đằng như chị Sương Quỳnh, các ông Huỳnh Kim Báu, Tô Lê Sơn, Kha Lương Ngãi,… Chính ông Huỳnh Ngọc Chênh từ Sài Gòn nói trên Facebook: “Các nhân viên an ninh quyết liệt ngăn cản không cho tôi ra khỏi nhà để đi dự lễ tưởng niệm các liệt sĩ.” Ông cho biết từ một ngày trước đã xuất hiện một số an ninh trước cổng nhà ông và họ đã cản chân không cho ông tới dự lễ sáng nay. Ông chia sẻ: “Hầu hết những người trong CLB Lê Hiếu Đằng, những người đứng ra kêu gọi tổ chức lễ tưởng niệm các liệt sĩ trong cuộc chiến biên giới, đều bị chặn hết, có tới vài chục người. Cũng có vài người đến được. Họ không cho những người hay tham gia các sự kiện này ra khỏi nhà. Một mặt, họ cho an ninh quậy phá chỗ làm lễ là Tượng Đài Trần Hưng Đạo. Như sáng nay, họ cho an ninh đi giật vòng hoa, lấy dù che hết những băng-rôn và vòng hoa lại để không chụp ảnh hay quay phim được.”

Từ đó, vấn đề là người dân Sài Gòn có đủ khôn để biết tương lai nằm ở đâu, nên nhiều người đã không ngần ngại nói: “Đã đến lúc chúng ta chứng tỏ chúng ta không vô cảm, không phải là những con cừu để đảng chăn dắt. Sau bốn mươi năm thì người miền Nam đã quá rõ về bản chất của giặc miền Bắc rồi. Hy vọng là người miền Nam sẽ khôn ngoan và không để cho giặc miền Bắc phá hại Sài Gòn một lần nữa. Hãy vùng lên trước khi tất cả đã là quá muộn”.

Dân oan và sự sợ hãi của chế độ

Dân oan và sự sợ hãi của chế độ

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2016-03-04

Ngày Quốc Tế đồng hành cùng dân oan Việt Nam được dân oan ở Hà Nội hưởng ứng hôm 27/2.

Citizen photo

Your browser does not support the audio element.

Cần có sự thay đổi về chính sách đất đai

Mặc dù Việt Nam chưa có Luật Biểu tình để người dân có thể phản kháng hợp pháp, nhưng ngày càng xảy ra nhiều vụ biểu tình tự phát với số lượng tham gia từ vài chục, hàng trăm, hàng ngàn tới hàng chục ngàn người.

Những vụ việc hệ trọng nhất phải kể đến cuộc đình công biểu tình của 90.000 công nhân Công ty Pouyuen Khu Công nghiệp Tân Tạo TP.HCM vào cuối tháng 3 năm 2015. Đây là cuộc đình công biểu tình không phải để chống giới chủ, mà chống lại chính sách của Chính phủ qua việc tu chính Luật Bảo hiểm Xã hội gây bất lợi cho người lao động. Gần đây là cuộc đình công biểu tình đòi quyền lợi của 20.000 công nhân Công ty  Pouchen ở Biên hòa Đồng Nai trong ba ngày cuối tháng 2 năm 2016.

Nhưng diễn biến mới nhất là vụ hàng trăm ngư dân biểu tình trước Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hóa để phản đối chính quyền tước đoạt kế sinh nhai của họ. Vụ việc kéo dài trong 3 ngày đầu tháng 3 năm 2016 và gây sự chú ý với khẩu hiệu đấu tranh đòi chính quyền trả lại biển cho người dân Sầm Sơn.

“ Bởi vì sở hữu luôn luôn phải là một người cụ thể, một pháp nhân rõ ràng thì mới có thể thực hiện được quyền sở hữu đó. Chứ còn bây giờ toàn dân sở hữu thì điều ấy không rõ ràng.
-TS Lê Đăng Doanh”

Biểu tình của dân oan mất đất dưới thời xã hội chủ nghĩa được coi là khởi phát của những hoạt động biểu tình sau này, dù với các nguyên nhân khác nhau. Thí dụ đòi thực thi nhân quyền, chống xử án oan sai, hoặc chống Trung Quốc lấn chiếm biển đảo. Sau này còn có phong trào tiểu thương bãi thị biểu tình vì chợ bị giải tỏa để chính quyền giao cho tư nhân làm dự án. Biểu tình, tập trung khiếu kiện đông người vì oan sai đất đai được xem là hậu quả của chính sách đất đai sở hữu toàn dân, thực chất là sở hữu nhà nước và dành quyền thu hồi đất cho chính quyền.

TS Lê Đăng Doanh, thành viên Ủy ban Chính sách Phát triển của Liên Hiệp Quốc cho rằng cần có sự thay đổi về chính sách đất đai của Việt Nam. Ông nói:

“Đúng là Việt Nam hiện nay cần phải bảo đảm qui định pháp lý rõ ràng hơn nữa về quyền tài sản đối với đất đai và người dân. Hiện nay người nông dân chỉ có quyền sử dụng còn quyền sở hữu thì đấy là sở hữu toàn dân. Nhưng mà sở hữu toàn dân là ai thì đấy là một trong những điều chưa được rõ ràng. Bởi vì sở hữu luôn luôn phải là một người cụ thể, một pháp nhân rõ ràng thì mới có thể thực hiện được quyền sở hữu đó. Chứ còn bây giờ toàn dân sở hữu thì điều ấy không rõ ràng.”

Trong vụ biểu tình đáng chú ý mới xảy ra, Báo điện tử VnExpress đưa lên mạng nhiều tin về sự kiện từ ngày 1 đến ngày 3/3/2016 hàng trăm người dân liên tục biểu tình ở Thành phố Thanh Hóa làm tắc nghẽn đường Trần Phú đại lộ lớn nhất ở thành phố này.

Đỉnh điểm của vụ biểu tình chưa từng có ở Thanh Hóa xảy ra vào chiều 3/3/2016, VnExpress mô tả lúc 15g30 chiều 3/3, hàng trăm người dân nằm, ngồi la liệt dưới lòng đại lộ Lê Lợi, đoạn trước UBND tỉnh Thanh Hóa. Họ mang theo nhiều tấm bìa ghi những dòng chữ như ‘Trả lại biển cho người dân Sầm Sơn’ hoặc ‘Biển là của dân’.

Sự phẫn nộ của người dân Sầm Sơn được báo chí giải thích là vì Chính quyền Thanh Hóa giải tỏa bờ biển để thực hiện dự án du lịch ven biển. Điều hệ trọng là dọc bờ biển dài 3,5 km hiện có 705 bè, mảng và mủng, là những phương tiện đánh bắt truyền thống của ngư dân địa phương. VnExpress trích lời ông Ngô Văn Tuấn, Phó chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa xác nhận tỉnh có kế hoạch di chuyển số thuyền bè này đi nơi khác hoặc hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề phục vụ du lịch.

223542-bieu-tinh-400.jpg

Người dân Sầm Sơn ngồi trước cổng ủy ban tỉnh Thanh Hóa hôm 1/3 để biểu tình phản đối việc lấy đất bến thuyền. Courtesy NLĐ.

Theo lời giới chức Thanh Hóa, tỉnh sẽ hỗ trợ ngư dân tháo dỡ, phá bỏ các loại tàu, bè nhỏ có công suất dưới 20CV với mức 70 triệu đồng. Riêng về thuyền thúng là 50 triệu đồng mỗi chiếc. Tuy nhiên tàu bè khi phá bỏ ngư dân phải cam kết không đóng mới, không mua mới.  Ngoài ra chính quyền cũng sẽ hỗ trợ khẩu phần gạo trong vòng 6 tháng cho ngư dân có tàu thuyền bị phá dỡ. Khi ngư dân tìm nghề mới, chính quyền sẽ hỗ trợ mỗi hộ ngư dân từ 8 triệu đồng tới 12 triệu đồng, tùy theo hộ có bè hoặc mủng.

VnExpress trích lời ông Trịnh Tú Trọng ở phường Trung Sơn, một nạn nhân trực tiếp của dự án du lịch ven biển Thanh Hóa. Theo lời ông Trọng, vài năm trước chính quyền đã lấy đất nông nghiệp, đất rừng, giờ lại cấm không cho ngư dân khai thác hải sản. Người dân ở đây đã mưu sinh chài lưới qua nhiều thế hệ. Nay tỉnh thu sạch toàn bộ bến thuyền ở đây và dự định chuyển ngư dân đến tận xã Quảng Hùng, cách xa cả chục cây số, mang vác ngư cụ rất khó khăn. Nguyện vọng của người dân là xin chính quyền để lại một khoảng đất ven biển để họ neo đậu tàu thuyền, giữ nghề truyền thống. Ông Trịnh Tú Trọng nói với nhà báo là các dự án du lịch nghỉ dưỡng ở bãi biển đã khiến cuộc sống bà con đảo lộn.

Được biết sự lo ngại lớn nhất của ngư dân Sầm Sơn là mất kế sinh nhai lâu dài, con cháu rơi vào cảnh thất nghiệp, do vậy không ai muốn nhận tiền hỗ trợ. Các nạn nhân trực tiếp của Dự án du lịch ven biển còn cho rằng, mấy chục triệu đồng hỗ trợ chẳng thấm vào đâu, tiêu hết rồi biết làm gì. Như vậy ngư dân Sầm Sơn cũng chính là dân oan không những mất bến mất thuyền, mất luôn cả biển và cuộc mưu sinh.

Ngày càng có nhiều vụ biểu tình

Những câu chuyện về biểu tình, chặn đường giao thông càng ngày càng trở nên phổ biến. Điển hình như cuộc biểu tình ngày 15/4/2015, hàng ngàn người dân thuộc huyện Tuy Phong Bình Thuận đã chiếm lĩnh Quốc lộ 1 A đoạn qua xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong tỉnh Bình Thuận và cắt đứt giao thông trên tuyến đường huyết mạch, xe cộ ùn tắc kéo dài cả 50 km, thậm chí có cả bạo động đốt phá xe cộ và một khách sạn. Trong cuộc biểu tình này những người tham gia không phải là dân oan mất đất nhưng là dân oan môi trường. Người dân địa phương phản đối một nhà máy nhiệt điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã phá hủy môi trường sống của người dân Vĩnh Tân, khí xả thải bụi xỉ than mờ mịt không khí. Dân oan môi trường đã trở thành một từ mới trong tiếng Việt theo sau Dân oan mất đất.

“ Ở Việt Nam có hàng triệu dân oan, hàng trăm ngàn nạn nhân về môi trường. Tất cả những thành phần như vậy họ đều muốn phản ứng đối với nhà nước về những chính sách bất cập và gây hậu quả nghiêm trọng đối với vấn đề sinh kế, mưu sinh và môi trường của họ.
-TS Phạm Chí Dũng”

Trước đó vào ngày 27/10/2013, theo báo mạng Dân Trí, hơn 300 người dân xã Nghĩa An, huyện Tư Nghĩa Quang Ngãi đã đi bộ 10km lên tuyến QL 1A thuộc địa phận TP.Quảng Ngãi và huyện Tư Nghĩa để biểu tình phản đối chính quyền cho hút cát quá độ làm xói lở bờ biển, hồ tôm và rừng dương làm hơn 945 tàu cá xã Nghĩa An không thể ra vào Cửa Đại. Cuộc biểu tình tuần hành kéo dài đến chiều tối 28/10/2013 làm lưu thông bị gián đoạn một số nơi trên Quốc lộ 1A. Ngoài ra người biểu tình còn bắt trói 3 nhân viên doanh nghiệp hút cát.

Trong sự kiện gần đây nhất chiều ngày 17/2/2016, hàng trăm dân oan môi trường đã sử dụng những khối bê tông chặn Quốc lộ 38 khu vực xã Hưng Thịnh, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Theo mạng tin Trí Thức, người dân địa phương đã chặn đường cấm xe để phản đối nhà thầu thi công trên tuyến đường này đã không chịu tưới nước, làm cả khu vực bụi mù mịt mỗi khi xe cộ qua lại.

Phải chăng những cuộc biểu tình càng ngày càng nhiều ở Việt Nam khiến cho Chính phủ đắn đo, 19 lần soạn thảo Dự luật Biểu tình mà vẫn chưa xong, cho dù Quốc hội hối thúc.

Nhận định về vấn đề liên quan, TS Phạm Chí Dũng chủ tịch Hội nhà báo độc lập, một tổ chức xã hội dân sự tự phát, từ Sài Gòn phát biểu:

“Ở Việt Nam có hàng triệu dân oan, hàng trăm ngàn nạn nhân về môi trường. Tất cả những thành phần như vậy họ đều muốn phản ứng đối với nhà nước về những chính sách bất cập và gây hậu quả nghiêm trọng đối với vấn đề sinh kế, mưu sinh và môi trường của họ. Thành thử không có gì ngạc nhiên việc nhà nước rất sợ những thành phần dân oan, nạn nhân môi trường hay gần đây là tiểu thương biểu tình. Bất chấp việc chưa có Luật Biểu tình thực ra từ mấy năm qua đã diễn ra làn sóng biểu tình liên tục ở Trung Nam Bắc. Năm 2015 vừa rồi đã chính thức hình thành phong trào cứu lấy dân oan ba miền, những người này thường xuyên kéo tới trụ sở văn phòng tiếp dân ở Ngô Thời Nhiệm Hà Nội…”

Như TS Phạm Chí Dũng cho rằng dân oan ở Việt Nam có thể lên tới hàng triệu người thuộc đủ thành phần và đủ mọi loại oan sai. Danh từ dân oan do chính các nhà báo công dân khai sinh và có thể nói nó là hậu quả của một xã hội bất công do các chế độ cai trị độc đoán gây ra.

Có nhà báo lề dân nói với chúng tôi, thế lực có khả năng làm lung lay chế độ không phải là diễn biến hòa bình, hay điều gọi là tự diễn biến mà chính là lực lượng dân oan hàng triệu người.

BIỂN MÙA NÀY LẶNG SÓNG

BIỂN MÙA NÀY LẶNG SÓNG

Tìm đến biển vào một ngày cuối xuân, dường như cái nắng nhẹ vàng đang nhuộm màu biển cả, làm làn nước ấy thêm xanh.  Nhưng lạ một nỗi, sóng biển hôm nay đã bớt rì rào, và có lúc lắng lặng.

BIEN

Người ta thường tìm đến biển để cảm được một chút nào đó sự bé nhỏ của phận người.  Quả thật không sai.  Khi đứng trước biển bao la kia, con người chỉ còn là một chấm phết, chẳng đủ lớn lao để có thể góp phần vào bức tranh kỳ vĩ xanh một màu mang tên biển cả.  Nhỏ bé vô cùng!

Có người lại tìm đến biển để mong bắt gặp một cõi bình yên.  Giữa biển chiều vắng, thả bộ thong dong, nghe làn gió mát, để hồn phiêu diêu theo từng nhịp sóng vỗ bờ; bình yên.  Hay đơn giản chỉ là nhìn ngắm, trông về phía xa ngoài khơi nơi những con tàu ẩn hiện, nơi ngọn hải đăng chốc chốc vụt sáng rồi tắt đi, nơi đôi mắt chẳng còn nhìn thấy bờ; bình yên đơn giản là thế.  Nhưng liệu biển đất trời kia có thể mang bình yên vào hồn người đang mong ngóng?

Thật ra, sóng biển kia chỉ vỗ theo nhịp sóng trong lòng kẻ ngắm nhìn.  Hãy để ý mà xem, khi lòng người xô bồ nhộn nhịp, họ chẳng thể đụng chạm được cái nhẹ êm của biển, dù chỉ với những con sóng lăn tăn.  Còn nếu lòng tịnh lắng, sóng biển kia dù vồn vã xô nhau vẫn chỉ là những cú vỗ êm đềm.  Vậy ra, biển của trời đất kia lặng hay nổi sóng chẳng phải vì tự nó vốn thế, nhưng vì sóng trong lòng người đang lắng hay đang mãi xô bờ, từ đó hòa điệu với nhịp vỗ của tự nhiên.

Và biển mùa này lặng sóng.  Thật ra sóng biển cả vẫn vỗ, nhưng sóng lòng đang lắng để có thể khắc khoải trong một mùa thánh thiêng, mùa sám hối, mùa trở về.

Nói cho cùng, nếu biển của đất trời lặng sóng, nó sẽ chẳng còn là biển.  Nhưng còn lòng người, nó vẫn mãi là nơi mà ta gọi là tâm hồn, và tâm hồn ấy sẽ tĩnh hơn, đẹp hơn, hấp dẫn hơn, nếu những cơn sóng ở đó tan đi.  Bạn mệt mỏi và quay quắt với bài vở, công việc, bạc tiền; sóng lên.  Bạn ngập chìm trong cảm giác cay đắng của thất bại, của tổn thương; bạn tức tối, hận thù, kiệt sức vì mãi tranh giành, để tìm chỗ đứng; lòng bạn nổi sóng.  Bạn yêu, bạn ghét, bạn nhớ thương đợi chờ trong những mối tình nhân loại; lòng bạn yên được sao?  Đôi khi sự giả trá và cả những đổ vỡ bất công nơi môi trường bạn sống cũng khiến lòng bạn sóng lên.

Mùa Chay đã qua nửa chặng đường, bạn có muốn lòng mình lắng một chút với những con sóng thế gian?  Mời bạn ngồi xuống, ngồi trước biển lòng bạn trong cõi riêng tư, và nghe những tiếng sóng vỗ vào hồn.  Chúng sẽ lặng đi trong cõi tĩnh mịch của riêng bạn.  Chính khi để những cơn sóng ngủ yên là khi bạn trở về.  Và lúc đó bạn sẽ nghe rõ tiếng tình yêu Thiên Chúa đang ngỏ cùng bạn, từ muôn thuở.

Mùa Chay 2016,

Nguyễn Minh Vương, S.J.