Trả Lại Sự Thật Cho Lịch Sử Việt Nam

Trả Lại Sự Thật Cho Lịch Sử Việt Nam

Nguyễn Ngọc Bích

12/03/2016

LTS.- Ngày 3-3-2016, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích từ trần trên chuyến bay tới Phi Luật Tân dự Hội Nghị về Biển Đông. Hôm nay, Thứ Bảy 12 tháng Ba, lễ tang được chính thức cử hành tại Virginia. Nhân dịp này, Việt Báo trân trọng giới thiệu một trong những bài viết sau cùng của Giáo sư  Bích, đề cập tới những diễn tiến tại đại học Cornell,  trong nỗ lực làm sáng tỏ sự thật về chiến tranh Việt Nam,  từ việc ông tham dự cuộc hội luận “Voice from the South Vietnam” năm 2012 tới việc tác giả “Giải Khăn Sô cho Huế” nói chuyện tại Cornell năm 2015. Giáo sư  Bích đã viết bài này vào đêm 16 tháng 12 năm 2015, dành riêng Việt Báo Tết Bính Thân. Khi bài tới, báo đã in xong. Nhờ vậy, đây là lần đầu tiên bài viết được phổ biến. Vào ngày tiễn đưa vị học giả một đời tận tụy với văn hóa lịch sử dân tộc, xin mời đọc bài viết nhiều tâm huyết của ông.

Hình ảnh ngày hội luận Cornell 2012 về Đệ Nhị Cộng Hòa VN trước Kehin Center tại Đại Học Cornell. Hàng thứ hai, người thứ nhất từ phải, người đầu bạc áo trắng cúi tựa lan can là Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích. Người đứng dưới GS Nguyễn Ngọc Bích là bình luận gia Trần Bình Nam, tức cựu dân biểu Trần Văn Sơn, vừa từ trần sáng Thứ Sáu 11-3-2016 ở Calif.

***

Hội-thảo “Những Tiếng Nói từ Miền Nam” (“Voices from the South”) ở Cornell University do Giáo sư Keith W. Taylor đứng ra mời và tổ-chức vào tháng 6 năm 2012.

Là một cựu-chiến-binh đã từng tham chiến tại Việt-nam, sau khi về Mỹ, ông Keith W. Taylor đã muốn tìm hiểu thêm về nước ta.  Ông học tiếng Việt, tiếng Hán, chữ nôm và đã viết cuốn sách rất giá trị trong tiếng Anh,The Birth of Vietnam  – “Việt Nam Khai Quốc”, do University of California Press in ra năm 1983- kể lịch-sử nước ta từ thuở lập quốc đến thế-kỷ X.  Gần đây nữa, năm 2013, ông lại có một cuốn sách để đời do Cambridge University Press ở Anh in ra mang tên A History of the Vietnamese (“Một cuốn sử về người Việt”).

Trong nhiều năm dạy ở Cornell, ông Taylor đã bị ảnh-hưởng không ít bởi lối trình bầy lịch-sử truyền-thống của chúng ta: rằng Việt-nam là một dân-tộc thống nhất với một lịch-sử tuyến-tính, kết thúc (làm như lịch-sử có kết thúc) bằng sự thống nhất dưới sự giầy xéo của xe tăng Nga vào Dinh Độc Lập ngày 30 tháng Tư 1975.  Nhưng rồi ông tỉnh ra rằng lịch-sử Việt-nam đã có nhiều giai-đoạn phân ly, chia cách.  Như ở thế-kỷ XVI đã một thời-gian dài nước ta có ba chính-quyền (nhà Mạc, nhà Lê với sự phò trợ của chúa Trịnh, rồi chúa Nguyễn ở miền Nam) hoặc giai-đoạn Trịnh-Nguyễn phân tranh (trên 200 năm), rồi sự tranh hùng giữa hai nhà Nguyễn (Nguyễn Tây-sơn và Nguyễn Gia-miêu, chưa kể là mấy anh em nhà Tây-sơn cũng chia nước ra làm ba) và nhất là Việt-nam sau Genève 1954.  Thành thử không thể thiên-vị phe này để gọi phe kia là “ngụy” được.

Chính vì thế mà cách đây ít năm ông đã viết một bài dài phân-tích, cho rằng lối trình bày cũ không sát thực-tế, là quá một chiều.  Từ đó ông nhìn lại lịch-sử Việt-nam cận-hiện-đại để thấy Miền Nam trong ít nhất 21 năm (1954-1975) đã thực-sự là một quốc gia được quốc-tế công-nhận rộng rãi (hơn rất xa miền Bắc CS trong nhiều lãnh-vực và trong nhiều nghĩa).  Từ đó ông nảy sinh ra ý-tưởng phải nghiên cứu một cách đứng đắn về Miền Nam, về hai nền Việt-nam Cộng-hòa.

Đó là lý-do vì sao ông, tức là Cornell University, là nơi đầu tiên trong các đại-học lớn ở Mỹ tìm cách mời một số diễn-giả mà đã có vai trò đáng kể trong những lãnh-vực như chính-trị, ngoại-giao, an-ninh quốc-phòng, kinh tế tài-chánh, thông tin tuyên-truyền thời Đệ nhị Cộng-hòa đến trình bầy cho khoảng 100 học-giả đến từ khắp nước Mỹ và cả một số nước khác (Pháp, Anh, Canada…) về những kinh-nghiệm xây dựng dân-chủ, qua một hiến-pháp (1967) tôn trọng tam quyền phân lập và những quyền căn-bản của người dân, qua một nền kinh tế tự do nhưng có điều tiết, khuyến khích phát triển nông-nghiệp và công-nghiệp, xuất khẩu, và đang trên đà bứt phá (takeoff).

Đến từ Chicago, Illinois, là Hoàng Đức Nhã, ông trình bầy về những nỗ lực xây dựng một nền dân-chủ ngay trong chiến-tranh.  Như các cuộc tranh cử có cạnh tranh, trong Quốc-hội có đối-lập, có khối này khối nọ.  Và ông Thiệu dám cưỡng lại tổng-thống Mỹ Nixon và ông Kissinger trong những ngày cuối của hòa-đàm Ba-lê khi thấy hiệp-định như Kissinger và Lê Đức Thọ thỏa-thuận quá bất lợi cho miền Nam.

Ủng-hộ cho lập-luận của ông Hoàng Đức Nhã là ông tòa Phan Quang Tuệ, đến từ San Francisco, và ông Trần Văn Sơn, một cựu-sĩ-quan Hải-quân và một dân-biểu đối-lập, đến từ Phila.  Ông Sơn, một thành-viên trong khối đối-lập của Luật-sư Trần Văn Tuyên (29 dân-biểu, đa-phần thân Phật-giáo), cho biết là khối đối-lập của ông có tiếng nói rõ ràng trong Quốc-hội, được báo chí đưa tin đầy đủ và sự an-toàn cá-nhân của các thành-viên trong khối không bị đe dọa.  Tuy phút chót không đến được nhưng B.S. Mã Xái cũng đã gởi bài nói về sự “đóng góp của Đảng Tân Đại Việt vào việc xây dựng dân-chủ ở miền Nam.”

Sang lãnh-vực xây dựng quốc gia có bài thuyết-trình của cựu-tổng-trưởng Thương mại và Kỹ-nghệ Nguyễn Đức Cường đến từ San Jose.  Gốc kỹ-sư, ông Cường trình bầy bằng những con số thuyết-phục về các chương-trình do chính-quyền đưa ra thời đầu thập-kỷ 1970 để kìm lạm-phát (kinh tế thị-trường), phát triển đầu tư và công-kỹ-nghệ (như khu chế xuất Biên-hòa), tìm ra dầu hỏa v.v.  Riêng cựu-thứ-trưởng Cải cách Điền địa và Phát triển Nông-nghiệp Trần Quang Minh, đến từ Louisville, Kentucky, nói về chương-trình “Người cày có ruộng” (1970), thành công tới mức khi CS vào cũng không thay đổi gì được, cũng như chương-trình về thực-phẩm quốc gia, tất cả trong một khung-cảnh chiến-tranh toàn-diện trên toàn-quốc.

Về mặt an-ninh quốc-phòng thì có hai bài, một của Trung-tướng Lữ Lan đến từ Virginia nói về an-ninh diện-địa và một của Phó-đề-đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, tư lệnh Khu Duyên hải vùng I, tư lệnh trực-tiếp của hải-chiến Hoàng-sa 1974 và cũng là tác-giả cuốn Can trường trong chiến bại.  Ông đến từ Houston, Texas, và đã cho biết trong chi-tiết những diễn-biến của trận hải-chiến để đời này trong lịch-sử nước nhà, với những anh-hùng  như Ngụy Văn Thà và 71 đồng-đội hải-quân hy sinh trong trận chiến đó.

Ngoài ra, ông Phan Công Tâm thuộc Trung-ương Tình-báo mô-tả một số hoạt-động của ông ở Cao-miên cũng như sang tận Phi-châu mang con gái ông Bokassa sang nước Trung-Phi.

Riêng tôi nói về công-tác thông tin quốc-ngoại, không chỉ ở Sứ-quán VNCH tại Hoa-thịnh-đốn (1967-1971) mà còn trong thời-gian tôi làm Trung-tâm-trưởng Trung-tâm Dân-vụ (lo cho các nhà báo ngoại-quốc đến làm tin ở VN) và Cục-trưởng Cục Thông tin Quốc-ngoại, hơn một lần phụ-tá cho Tổng-thống Nguyễn Văn Thiệu để tiếp đón các nhà báo Tây-phương (như Oriana Fallaci, Patrice De Beer, v.v.) và thậm chí trong cả chuyến đi họp Thượng-đỉnh San Clemente với Tổng-thống Mỹ Nixon, sau đó đi diện kiến Đức Giáo-hoàng và trên đường về, ghé thăm Tổng-thống Phác Chánh Hy của Đại-Hàn và Tổng-thống Tưởng Giới-thạch ở Đài-loan (Trung-hoa Dân-quốc).

Cựu-Đại-sứ Bùi Diễm, đến từ Maryland, thì cho một cái nhìn tổng-quan về quan-hệ Việt-Mỹ, những ngộ-nhận đáng tiếc để sau đó dẫn đến những sai lầm trong chính-sách của Hoa-kỳ đối với VNCH.  Chuyến đi Cornell này còn để lại cho tôi một số ký-ức thật đẹp vì Đại-sứ Bùi Diễm, “boss” cũ của tôi ở Tòa Đại-sứ Washington, và chúng tôi đã hẹn gặp nhau ở phi-trường Rochester (với tôi bay thẳng từ Cali về) để sau đó tôi thuê xe lái qua vùng Finger Lakes (Mấy hồ thật đẹp có hình như mấy ngón của một bàn tay) leo núi xuống đồi đôi khi thật ngoạn mục qua vùng mấy vườn nho làm rượu vang trước khi đến trường Cornell.

Tóm lại, chuyến đi như một cuộc du ngoạn song cũng nhân cơ-hội đó mà 12 diễn-giả gốc từ miền Nam đã nói lên được một cách khá đầy đủ và dõng dạc về những thành-tựu rất đáng kể và đáng nể của VNCH, nhất là nền Đệ nhị Cộng-hòa, một quốc gia càng ngày càng chứng minh được nếp sống văn-minh và dân-chủ cao-độ so với miền Bắc u tối cùng thời.

Hội-luận Cornell, “Những Tiếng Nói từ Miền Nam,” đến quá muộn (37 năm sau khi mất miền Nam) nhưng vẫn là một “corrective” cần thiết đối với lịch-sử.  Và qua hội-luận đó, Giáo-sư Keith Taylor đã trả lại được phần nào sự thật cho lịch-sử–gần như “ở ngay trong lòng địch” vì cũng chính ở Cornell, chính khoa Đông-Nam-Á-học ở đây, đã là “lò phản-chiến” của Mỹ trong chiến-tranh VN với ông George McT. Kahin viết cùng với ông John W. Lewis cuốn “Thánh Kinh” của phong trào phản chiến Mỹ (và trên thế-giới), cuốn The United States in Vietnam (A Delta Book, 1967), một cuốn sách méo mó xuyên tạc khá tệ hại.

Sau hội-luận Cornell 2012, các bài tham-luận đã được in thành sách dưới tên VOICES from the Second Republic of South Vietnam (1967-1975), K.W. Taylor, editor (Cornell Southeast Asia Program Publications, 2014). Năm nay, đánh dấu 40 năm ngày miền Nam bị đẩy vào cảnh sụp đổ,  ông Taylor lại đi thêm một bước nữa trong việc trả lại sự thật cho lịch-sử Việt-nam khi ông mời nhà văn Nhã Ca lên Cornell nói về sự thật Tết Mậu Thân tại Huế. Cuốn Giải khăn sô cho Huế của Nhã Ca đã được  Olga Dror dịch thành Mourning Headband for Hue (Indiana University Press, 2015).

Tiến sĩ Olga Dror là một nhân vật khá lạ.  Là người gốc Do Thái sinh tại Nga, bà nói lưu loát tiếng Việt và đã dịch cuốn sách của Nhã Ca sang tiếng Anh cũng không kém văn chương.  Trong quá-khứ bà đã từng nghiên cứu về folklore Việt-nam và viết được một cuốn sách rất giá trị mang tên Cult, Culture and Authority: Princess Liễu Hạnh in Vietnamese History (“Thờ phụng, Văn-hóa và Quyền-uy: Chúa Liễu Hạnh trong Lịch-sử VN,” University of Hawaii Press, 2007).  Để có thể dịch được cuốn của Nhã Ca, bà đã nghiên cứu và đào sâu về trận Mậu-thân ở Huế cũng như tìm cách xác-định về vụ thảm-sát Tết Mậu-thân ngoài đó.  Do đó mà cuốn sách có một phần dẫn nhập thật dài và chi-tiết (50 trang) trình bầy kiểu nói có sách mách có chứng tất cả những sự tranh cãi về trận Mậu-thân tại Huế, chẳng hạn như vai trò của Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân, trong thời-gian Cộng-sản chiếm đóng Huế trong 23 ngày.  Chỉ riêng phần dẫn nhập này với đầy đủ cước-chú các nguồn tin cũng đủ đáng để cho ta mua cuốn sách rồi.

Tháng trước sang Cali để dự “Đại-nhạc-hội Việt-nam Cộng-hòa Trở Lại”, hôm ghé thăm Việt Báo gặp anh Trần Dạ Từ, anh bảo tôi: “Ông ơi, ông đã tham dự hội luận “Voices from the South” ở Cornell năm 2012 để lấy lại sự thật cho miền Nam, vậy thì ông phải viết về chuyến đó cho báo Tết năm nay!”

Như mọi khi, tôi hay có tật ừ.  Thế là…

Đồng Xuân, bang Trinh Nữ, Hoa Kỳ Quốc

Viết xong đêm 16 tháng 12, 2015

Nguyễn Ngọc Bích

Yêu thương và nhường nhịn.

Yêu thương và nhường nhịn.

Có hai ông bà cụ nọ đã sống với nhau hơn 60 năm. Họ chia xẻ ngọt bùi, đủ mọi thứ. Duy chỉ có cái hôp đựng giầy  mà bà cụ để ở  dưới gầm tủ là ông cụ không hề biết trong đó đựng cái gì. Và cũng tôn trọng riêng tư của bà, ông chẳng bao giờ hỏi tới  cái hôp đó.

Năm  này qua năm nọ, một ngày kia cụ bà bỗng bệnh nặng. Biết vợ mình không qua khỏi ,cụ ông chợt nhớ tới  cái hộp giầy bí mật.Bèn lấy đem đến bên giường cụ bà, cụ bà cũng đồng ý  cho ông mở cái hộp ra.

Khi chiếc hộp được mở ra,bên trong chỉ vỏn vẹn  có hai con búp bê bằng len nhỏ va một số tiền là 95.500 đô. Ông cụ ngạc nhiên hỏi vợ” Thế này là sao? “.

 “Khi chúng ta mới lấy nhau”, cụ bà nói” Bà nội của em có dặn em rằng: Bí quyết để giữ hạnh phúc gia đình là đừng bao giờ cãi nhau. Nếu lỡ chồng con có làm  điều gì  khiến con bực mình, tức giận. Con nên im lặng và bình tỉnh,đi ra chỗ khác  lấy len đan một con búp bê nha con”. Và anh thấy đó…

Nghe thế, Cụ ông  không cầm được nước mắt. Cả suốt cuộc đời, sống chung với nhau  người vợ thân yêu của mình chỉ giận mình chỉ có hai lần thôi ư ? Ông cảm thấy  hạnh phúc vô cùng.

 “Và còn món tiền lớn nay thì sao?” Ông cụ hỏi.
  Cụ bà mắt đỏ hoe trả lời:” . Và đó là.. số tiền  em đã bán những con búp bê mà em đã đan..”

Câu chuyện có một kết thúc bất ngờ đầy thú vị. Nó khiến người đọc mỉm cười nhưng dư âm của nụ cười là một sự cảm động sâu sắc. Số tiền khá lớn thu được từ việc bán những con búp bê cũng chính là số lần những nhịn nhục âm thầm mà người vợ phải chịu trong suốt thời gian chung sống với chồng mình. Người vợ đã cho chúng ta một gương sống yêu thương và nhẫn nhịn chịu đựng những lầm lỗi của người chồng. Bà ta tìm một lối thoát rất tích cực mỗi khi người chồng làm mình bực mình, tức giận, tránh những cãi vã tranh chấp có thể gây mất hạnh phúc cho gia đình đó là lấy len ra ngồi đan búp bê. Một việc làm xem ra rất bình thường, rất đơn giản nhưng với một tình yêu sâu sắc, sự cảm thông, chấp nhận những bất toàn của người chồng trong yêu thương, hành động đó đã trở nên một phương cách hữu hiệu trong việc gìn giữ hòa khí trong gia đình. Sự nhẫn nhịn đó thực sự là kết quả của một tình yêu rất mạnh mẽ và khả năng chiến thắng cảm xúc nóng giận của bản thân rất tuyệt vời.

Tuy nhiên, đa số mỗi người trong chúng ta lại là hình ảnh của người chồng, tức là chúng ta cứ vô tình gây khổ, làm đau lòng người thân của mình mà không hề hay biết. 

S.T.

Ghi Chép “Đêm Trực” Của Một Bác Sĩ

Ghi Chép “Đêm Trực” Của Một Bác Sĩ

0 giờ

Một người đàn ông đến cấp cứu vì đau quặn bụng. Khi mình đến khám, ông ta cứ luôn miệng nói : Tôi quen anh giám đốc A. Tôi có làm ăn với chị trưởng phòng B. Có lẽ do ông ta nghĩ rằng, khi nói ra những mối quan hệ ấy, mình sẽ làm việc chu đáo hơn. Mình đã đáp lời rằng :

– Anh có thể thôi nói tên và chức vụ của người khác. Anh hãy nói về chính anh đi, tên, chức vụ và bệnh của anh.

Ông ta trố mắt ra nhìn mình, phải mất vài phút sau ông ta mới có thể bắt đầu khai bệnh.

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta cũng hay như vậy, bạn nhỉ? Cứ vỗ ngực tự hào chứng tỏ với nhau rằng : tôi là con ông D, cháu bà C, tôi quen biết ông E và có mối quan hệ thân thiết với bà F, thay vì chúng ta nói về chính mình.

Nhưng một người trưởng thành thật sự lại là người luôn tự đứng vững trên đôi chân mình, can đảm chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình, không dựa vào ai cả, không đổ thừa ai cả.


0 giờ 30 phút

Một người phụ nữ 70 tuổi, được đưa đến phòng cấp cứu trong tình trạng suy kiệt nặng, da xanh niêm nhạt, thở ngáp cá, toàn thân khai mùi phân dãi. Khi mình xử trí cấp cứu xong, mình hỏi hai người con gái ăn bận rất bảnh bao và thơm tho : Bệnh nhân bị bệnh gì trước đây, điều trị ở đâu, và diễn tiến nặng bao lâu rồi?

Mình đã ngỡ ngàng khi nhận được một câu trả lời : Bệnh tim mạch và u hạch gì đó không rõ, mẹ tôi đã khó thở cả tháng nay rồi, nhưng tôi nghĩ không sao nên không đưa đi khám bệnh.

– Hai chị là con ruột?

– Ừ con ruột.

Mình im lặng thở dài khi kết quả xét nghiệm và MSCT trả về là bệnh Lymphoma ác tính di căn não, di căn phổi, đái tháo đường, suy thận… Làm sao mà cứu chữa? Mẹ thì chỉ có một trên đời.

Tuần trước mình có đi dự đám tang của một bệnh nhân rất thân. Và đã chứng kiến những giọt nước mắt ăn năn của người con út.

– Bác sĩ biết sao không, cả bốn tháng nay tôi chưa gặp mẹ, dù nhà tôi và nhà mẹ cách có vài bước chân. Ai ngờ trưa hôm thứ 7, nhận điện thoại báo mẹ đã mất rồi… Giá như tôi …

Thật, càng lớn tuổi, mình càng sợ trực cấp cứu. Không phải vì sức khoẻ vì chuyên môn hay vì áp lực phải tiếp xúc phơi nhiễm với những bệnh lây nhiễm hay vì có thể bị hành hung bất cứ lúc nào. Mà vì cứ phải chạm vào thật sâu bên sau mỗi con người dù mình không muốn…

1 giờ sáng

Bệnh nhân nam 23 tuổi, cơ thể gầy teo, nấm trắng đầy miệng đến cấp cứu vì tiêu chảy. Khi mình giải thích tình hình bệnh và đề nghị nhập viện thì bệnh nhân không chịu vì không có tiền.

– Em điện thoại kêu ba mẹ vào viện đi.

– Ba mẹ em li dị hồi em còn nhỏ xíu. Em sống với bà, mà bà ở tuốt dưới Vĩnh Long, em nói thiệt, em bị nghiện ma tuý  và bị nhiễm HIV.

– Nhưng nếu em không nằm viện thì phải làm sao?

– Em cũng không biết nữa.

Nhìn cơ thể bệnh nhân chi chít những hình xăm, mái tóc nhuộm vàng khè … sao mà khác quá với cách bệnh nhân trả lời.

– Em chỉ nghĩ mình đau đến đây để bác sĩ cấp cứu…

Mình lại thở dài, dù tiếng thở dài chẳng làm đêm ngắn lại. Phần lớn những người sa ngã và lầm lạc thường được lớn lên trong gia đình không có hạnh phúc, cha mẹ ly dị, hay nghiện rượu, cờ bạc và thuốc lá. Có bao giờ mỗi bước chân đi, mỗi quyết định trong cuộc đời, chúng ta đều cẩn trọng?

Sinh con rất dễ, nhưng nuôi dưỡng con lại rất khó! Khó vô cùng.

2 giờ sáng

Một thanh niên sỉn rượu đến để may những vết thương vùng mặt và lưng do bị chém. Khi điều dưỡng hỏi phần hành chính, thì anh ta nạt nộ đập bàn : Sao không khâu liền đi, cứ hỏi mấy cái vớ vẩn làm gì?

– Muốn khâu thì phải làm hồ sơ khai tên tuổi bị đánh ở đâu chứ, rồi còn phải kí tên yêu cầu khâu chứ.

– Tao đ* khai. Bây giờ tao hỏi tụi mày có khâu không thì bảo? Tụi mày có tin tao chém tụi mày bây giờ không?

Mấy anh bảo vệ nghe ồn ào, báo ngay cho công an. Và thanh niên sỉn rượu vừa thấy bóng công an lập tức bỏ chạy. Mới đó còn hùng hổ đòi đâm đòi chém …

Thật, những người có xu hướng hung bạo và dễ kích động thường là những người sống trong sự sợ hãi và yếu đuối.

Vì sao khi đi trên phố mấy thanh niên trẻ hay nẹt bô rồ ga? Vì sao giữa đám đông mấy người trung niên kia ăn bận diêm dúa trang điểm cầu kì?

Bởi vì trong sâu thẳm họ khát khao được chú ý, khát khao được công nhận… nhưng họ chẳng có gì đặc biệt, buộc họ phải hành động như thế. Họ lạc loài!

3 giờ sáng

Một người đàn ông, 50 tuổi được đưa vào cấp cứu vì đau đớn vùng hạ sườn phải. Ông ta la hét inh ỏi :

– Bác sĩ đâu rồi? Tụi bây chết hết rồi hả? Tao vào bệnh viện cả tiếng rồi mà chẳng thấy tụi bây đâu…

– Bác sĩ đây, anh mới vào mà, y tá còn chưa kịp lấy dấu hiệu sinh tồn…

Người nhà vội nói bệnh nhân và quay qua nói với mình : Bác sĩ thông cảm, tại ảnh bệnh ung thư đường mật di căn gan, di căn hạch giai đoạn cuối rồi nên đau đớn và hay la hết. Bệnh Viện C đã cho về, khuyên gia đình, bệnh nhân muốn ăn gì thì cứ cho…

Đêm dường như sâu hơn với tiếng thở dài.

Nỗi đau niềm thống khổ là có thật, luôn hiện diện bên trong mỗi con người. Ai cũng đau cũng khổ, có người nhờ nỗi đau mà vượt lên được chính mình, tìm ra được con đường giải thoát và an lạc, nhưng cũng có người bị chết chìm trong đó.

Lẽ thường, khi người ta gần đến bên kia con dốc cuộc đời, cận kề cái chết, người ta sẽ buông bỏ hết những sân si, người ta sẽ chấp nhận và mỉm cười… Đằng này …

4 giờ sáng

Một người phụ nữ đến cấp cứu vì đau đầu ngủ không được. Trong khi mình đang viết bệnh án thì nghe bà ta kêu lên : Chú bác sĩ và cô y tá kia, mau trả điện thoại lại cho tôi.

– Bà coi lại cẩn thận đi, tụi con đâu có lấy điện thoại của bà.

– Cô nói gì? Chỉ có cô và chú bác sĩ kia lại gần tôi… Không cô thì chú kia lấy. Báo bảo vệ hay công an ngay đi.

Bệnh nhân ngồi bật dậy, khác với lúc mới vào nhăn nhó khó chịu mệt mỏi.

– Ôi mẹ ơi, mẹ nói cái gì kì lạ vậy? Con giữ điện thoại của mẹ đây. Tại con đi đóng tiền tạm ứng nhập viện nên mẹ không biết.

– Vậy hả? Tao tưởng hai đứa này nó ăn cắp.

Bé Khánh vừa định lên tiếng, mình vội ngăn lại và thì thầm : Thôi bỏ đi em.

Mình nhớ một câu chuyện trong Phúc Âm, có người đến hỏi : Nếu ai đó tát vào má con thì sao? Chúa Giêsu đã trả lời : Con hãy đưa luôn má còn lại cho người ta tát. Và nếu có ai xin con cái áo khoác bên ngoài, con cũng hãy cởi luôn cái áo khoác bên trong mà cho.

Thường chúng ta chỉ đến với Thượng Đế khi bị đau khổ, mất mát, muốn mà chưa được…

Và khi chúng ta bị ức hiếp bị bắt nạt, chúng ta mong là luật công bằng, luật nhân quả được thực thi.

Nhưng Thượng Đế luôn im lặng. Ngài dạy : Hãy tha thứ, hãy cho đi nhiều hơn.

Bởi chỉ những người yếu đuối, thiếu thốn, bị bỏ rơi … mới dùng đến bạo lực và đi xin.

Ngài Đạt Lai Lạt Ma từng nói : Cây lúa nào hạt non hạt lép thì nó đứng thẳng vươn cao. Còn những cây lúa nặng trĩu hạt luôn oằn mình xuống dưới thấp.

Cái Tôi của ai nhỏ bé thì tâm lượng người đó mênh mông!

– Vô Thường –

Nỗi khó xử của Giáo sư Lý Chánh Trung

Nỗi khó xử của Giáo sư Lý Chánh Trung

 Đòan Thanh Liêm

 Cũng như Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung là giáo sư dậy môn Triết học

tại các Đại học ở miền Nam Việt nam trước năm 1975. Vì cả hai người đều

có tên là Trung, nên để phân biệt thì bà con thường gọi là Trung Lý, Trung

Nguyễn. Trung Lý thì viết ít, nhưng các bài nhận định thời sự đày tràn nhiệt

huyết của ông được nhiều giới trẻ hồi đó rất hâm mộ. Còn Trung Nguyễn thì

lại là một nhà biên khảo nổi tiếng với nhiều tác phẩm được phổ biến khá

rộng rãi trước 1975. Cả hai ông đều xuất thân từ trường đại học Louvain nổi

tiếng ở nước Belgique hồi đầu thập niên 1950. Nói chung, thì cả hai ông

giáo sư này là những trí thức có đầu óc cởi mở tiến bộ, chịu ảnh hưởng của

“phe tả, không cộng sản” ở Âu châu sau thế chiến, và không có mấy thiện

cảm với chính sách của người Mỹ ở Việt nam. Cả hai ông còn là thành viên

họat động của Phong trào Trí thức Công giáo Pax Romana, thời Đệ nhất

Cộng hòa, cùng với các Bác sĩ Nguyễn Văn Ái, Nguyễn Văn Thơ, Luật sư

Nguyễn Văn Huyền, các Giáo sư Phạm Thị Tự, Phó Bá Long, Trần Long,

các chuyên gia kinh tế Lâm Võ Hòang, Anh Tôn Trang, kỹ sư Võ Long Triều

v.v…

Lại nữa, có hai Dân biểu trẻ tuổi, năng động, người miền Nam với lập

trường đối lập với phe đa số thân chánh quyền của Tổng thống Nguyễn Văn

Thiệu mà hay được báo chí nhắc đến, thì cũng có tên là Chung, đó là Lý

Quý Chung và Nguyễn Hữu Chung. Đọc lên, thì tên Chung nghe cũng tương

tự như tên Trung, nên nhiều người khó phân biệt được. Cả hai ông Chung

này cũng vừa qua đời cách nay mấy năm rồi : Nguyễn Hữu Chung thì mất ở

Canada, còn Lý Quý Chung thì mất ở Saigon.

Lý Chánh Trung, ngòai việc đi dậy học lại còn làm việc lâu năm tại Bộ Quốc

gia Giáo dục với các chức vụ Công cán Ủy viên, Giám đốc Nha Trung học

và làm cả Đổng Lý Văn Phòng tại bộ này. Vào thời Đệ nhị Cộng hòa, ông

còn hay viết bài cho các nhật báo, tạp chí có khuynh hướng đối lập với

chánh quyền Nguyễn Văn Thiệu. Là người xuất thân từ miền Trà Vinh –

Vĩnh Bình, ông Trung Lý sát cánh gần gũi với “ Nhóm Liên Trường” của

các nhà họat động chính trị xã hội của miền Nam trước năm 1975. Và một

bộ phận không nhỏ của Nhóm Liên Trường này đã vận động cho “giải pháp

Dương Văn Minh” để thay thế cho chánh quyền Nguyễn Văn Thiệu.

Sau năm 1975, thì Lý Chánh Trung được cử làm Phó chủ tịch Hội Trí thức

Yêu nước và đặc biệt được sắp xếp ra tranh cử chức vụ Đại biểu Quốc hộ

tại một đơn vị bàu cử ở Saigon. Ông còn điều hành một văn phòng thường

trực của Đòan Đại biểu Quốc hội , tọa lạc tại đường Thống Nhất, nơi căn

nhà của vị mục sư phụ trách Nhà Thờ Tin Lành của những người nói tiếng

Pháp (Eglise Réformée de Langue Francaise). Vào hồi đầu thập niên 1980,

ông sát cạnh với cánh miền Nam để đòi hỏi cho có chánh sách phù hợp hơn

với người dân Nam bộ, mà sau này nổi bật nhất là “Nhóm Câu lạc bộ Kháng

chiến” do các đảng viên kỳ cựu như Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng… lãnh đạo.

Và trong những năm tháng cộng tác với chánh quyền cộng sản sau năm

1975, ông Lý Chánh Trung đã gặp phải nhiều điều phiền phức khó xử, mà

điển hình là một số sự việc được mô tả như sau đây.

 

1/ “Triết học Mác Lênin là môn chẳng ai muốn học, mà cũng chẳng ai muốn

dậy”.

Vào năm 1988, báo Tuổi Trẻ có đăng một bài báo gây chấn động dư luận ở

miền Nam, đó là bài viết của Giáo sư Lý Chánh Trung có nội dung đại khái

như trên. Ông viết đại ý như sau : Là một nhà giáo dậy môn triết học đã lâu,

ông thấy hiện nay cái môn Triết học Mác Lênin đang được giảng dậy ở các

trường Trung cũng như Đại học ở Việt nam thì là điều áp đặt miễn cưỡng,

học trò chẳng ai muốn học, mà thầy giáo cũng chẳng ai thực sự còn muốn

dậy nữa. Lời phát biểu này quả là một trái bom nổ, phủ nhận hòan tòan cái

lối giáo dục “giáo điều, nhồi sọ “ cứng nhắc của người cộng sản.

Một ông cụ ngòai tuổi 70 mà đã rất phấn khởi khi được đọc bài báo này. Cụ

đã trao cho tôi một số tiền nhỏ và nhờ tôi gửi đến vị giáo sư tác giả bài báo.

Cụ nói với tôi : “Tôi chưa bao giờ quen biết với giáo sư Trung, nên phải cậy

nhờ đến ông vốn là chỗ thân quen lâu ngày với giáo sư, để trao đến tay tác

giả món quà nhỏ này, vốn chỉ là tượng trưng cho sự quý mến và khâm phục

của một ông già đã vào tuổi thất thập đối với vị giáo sư đã có sự can đảm nói

lên tiếng nói lương tâm như vậy…” Và tôi đã làm theo lời của vị bô lão này,

để trao tận tay cho giáo sư Trung nơi văn phòng của ông tại đường Thống

Nhất như đã ghi ở trên.

Nghe tôi trình bày, anh Trung đâm nghi ngờ và nói : “Món tiền này là của

chính anh có ý muốn tặng riêng cho tôi. Chứ làm gì mà lại có một ông cụ già

lạ hoắc nào rút bóp đem tặng tiền bạc cho tôi?” Tôi phải trả lời : “Anh

Trung, chúng ta quen biết nhau từ mấy chục năm rồi, việc gì mà tôi phải bày

ra cái trò này đối với một người bạn thân thiết của mình, để làm gì cơ chứ?

Anh không nên đa nghi như Tào Tháo ấy. Ông cụ là người đáng kính, là

người đồng hương đáng bậc vị anh cả của tôi. Cụ tuy chưa bao giờ gặp gỡ

anh, nhưng qua bài báo này, cụ cảm phục và muốn bày tỏ tấm lòng quý mến

đối với anh vậy thôi. Đó là tiêu biểu cho số quần chúng nhân dân tại thành

phố Saigon này, tôi nghĩ anh là một người Đại biểu Quốc hội, anh phải nhận

ra và trân quý đến cái tình cảm chân thật, sâu sắc như thế này chứ?…”Và rút

cục, anh Trung đã hoan hỉ tiếp nhận món quà và nhờ tôi gứi lời cảm ơn vị ân

nhân.

Ông cụ nay đã quy tiên từ lâu, nên bây giờ tôi có thể nêu danh tánh của

cụ.Đó là cụ Đinh Văn Năm, nguyên trước năm 1954 cụ đã giữ chức vụ Phó

Tỉnh trưởng Tỉnh Bùi chu, mà người dân địa phương đều biết đến và mến

chuộng đức độ và sự tận tâm phục vụ của cụ cả trong việc đời, lẫn việc đạo.

 

2/ “ May mà bây giờ có sự Đổi mới rồi, nếu không thì mình đã bị mất cái

đầu đi rồi”.

Vào đầu năm 1989, có tin đồn là ông Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh có rày

rà, ám chỉ giáo sư Lý Chánh Trung sao đó, ông nói đại ý như : “Có một số

người trước đây là đồng minh với chúng ta trong cuộc chiến đấu chống đế

quốc, thực dân. Nhưng bây giờ họ lại có lập trường khác, làm cản trở sự

nghiệp xây dựng đất nước của ta v.v…” Nghe vậy, tôi có đến gặp anh Trung

và nói ngay : “Tôi nghe thiên hạ đồn rằng bây giờ ông bạn giáo sư đang bị

“rét”, vì bị Tổng bí thư ” xát xà bông” làm sao đó. Sự thực ra sao vậy?” Anh

Trung liền trả lời : “Quả là bây giờ có sự Đổi mới rồi, chứ nếu không, thì

mình bị “ lấy mất cái đầu đi rồi” đấy! Nói xong anh bèn rút từ ngăn kéo ra

bức thư viết tay của ông Nguyễn Van Linh gửi cho anh và trao cho tôi. Bì

thư cũng như giấy viết đều là của một khách sạn ở Ấn Độ, nơi mà Tổng bí

thư mới đi thăm vào năm 1988. Bì thư cũng như lá thư đều được viết bằng

tay, nắn nót cẩn thận, có đề “ Xin gửi Anh Lý Chánh Trung (Nhờ các Anh

Thành Ủy chuyển giao). Nội dung bức thư hòan tòan có tính cách trấn an,

xoa dịu do ông Nguyễn Văn Linh gửi riêng đến với Lý Chánh Trung. Anh

Trung giải thích : “Đây là thư hồi âm của ông Linh gửi cho mình, vì trước đó

mình đã gửi thư cho ông ấy, nêu thắc mắc về sự ám chỉ trong bài nói chuyện

với cán bộ đảng viên, mà có liên hệ đến mình. Sự việc như vậy, kể như đã

tạm yên, thiết nghĩ chẳng cần phải bận tâm thắc mắc gì thêm nữa…”

 

3/ “Các anh định bắt tôi ư?”

Tháng Tư năm 1990, tôi bị công an bắt và đưa vào trại tạm giam trong khu

Tổng Nha Cảnh sát cũ. Đó là trong vụ càn quét bắt giữ các cán bộ đảng viên

nòng cốt như Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng, Đỗ Trung Hiếu …, và bắt quản chế

linh mục Chân Tín, giáo sư Nguyễn Ngọc Lan… Trong suốt 3 tháng điều

tra, người phụ trách thẩm vấn tôi là Đại tá Quang Minh (tên thật là Ngô Văn

Dần). Có lần ông Quang Minh cho tôi biết là ông có đến tận nhà các anh Lý

Chánh Trung, Ngô Công Đức để cật vấn họ về họat động liên quan đến âm

mưu đòi “đa nguyên, đa đảng” sao đó. Ông kể lại : Ông Lý Chánh Trung có

ý thách thức tôi với câu hỏi rằng “Các anh định bắt tôi ư?” Tôi phải trả lời

rằng :”Nếu cần phải làm điều đó, thì chúng tôi vẫn có thể “rút lại cái quyền

bất khả xâm phạm của người đại biểu Quốc hội như anh đang nắm giữ hiện

nay được lắm chứ”. Ông Quang Minh mô tả là cuộc trao đổi giữa hai người

lúc đầu khá căng thẳng, gay gắt; nhưng về sau thì cũng ổn thỏa êm diụ thôi.

Chỉ có Ngô Công Đức, thì ông ta nói hơi sỗ sàng, đại khái ông Đức nói :

“Tôi có 2 điều không ưa : đó là tôi không ưa thích mấy người công an, và tôi

cũng không ưa thích người Bắc kỳ”. Tôi phải giải thích với ông Đức là “Phải

tốn biết bao xương máu, bây giờ nước nhà mới thống nhất. Thái độ kỳ thị

Nam/Bắc của ông như vậy là đi ngược lại với chiều hướng đòan kết, thống

nhất của tòan thể dân tộc chúng ta…”

 

4/ “Anh Trung Lý bây giờ bị lẫn mất rồi”

Đó là lời mô tả của anh chị Phó Bá Long nói với tôi vào giữa năm 2008, lúc

tôi đến thăm và ở lại nhà anh chị tại Virginia. Anh Long kể lại là vào năm

2007, anh chị có về Việt nam thăm lại bà con, bạn hữu. Và anh có đến thăm

gia đình Lý Chánh Trung vẫn ở căn nhà cũ tại khu Làng Đại học Thủ Đức

gần với xa lộ Biên hòa. Ban bè lâu ngày mới gặp nhau, nên có dịp tâm sự

nhiều. Thế mà anh Trung đã quên lãng rất nhiều, đến nỗi đi ra khỏi nhà

không xa bao nhiêu, mà anh cũng quên luôn lối trở về nhà nữa. Năm nay anh

Trung mới chỉ cỡ 83-84 tuổi thôi à!

Mấy tháng trước đây, thì Lý Tiến Dũng lại bị mất chức Tổng biên tập báo

Đại Đòan Kết của Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Dũng

chính là con trai trưởng của Lý Chánh Trung. Cháu đã đi bộ đội tham gia

chiến đấu ở Cambodia trên 20 năm trước và sau này gia nhập ngành báo chí

của chánh quyền cộng sản. Nhưng có lẽ cũng vì tiếp nối cái tinh thần khí

phách của cha mình, mà Dũng đã có đường lối thông thóang không phù hợp

với chánh sách “xiết chặt tự do ngôn luận của đảng cộng sản”, cho nên mới

bị lọai bỏ khỏi chức vụ như vậy chăng?

Như vây là về cuối đời, lúc đã về nghỉ hưu rồi, ông bạn giáo sư của chúng

tôi vẫn còn gặp điều khó xử nữa, xuyên qua cái vụ việc bị cất chức của con

trai Lý Tiến Dũng này vậy.

Và để tóm tắt lại, xuyên qua trường hợp của giáo sư Lý Chánh Trung như

đã trình bày sơ lược trong bài này, chúng ta có thể ghi nhận rằng : Con

đường hợp tác với người cộng sản ở Việt nam quả thật vẫn đày dãy chông

gai, trắc trở và bạc bẽo lắm vậy đó !

California, Tháng Chín 2009

Đòan Thanh Liêm

Giải phóng hay ăn cướp?

Giải phóng hay ăn cướp?

Nguyên Thạch (Danlambao) – Đảng CSVN đã cướp miền Nam dưới mỹ từ giải phóng để từ đó biến miền Nam trở thành nghèo nàn lạc hậu giống với miền Bắc và đưa Việt Nam vào ngang hàng với những nước nghèo đói nhất thế giới. Ông Hồ Chí Minh đã không lường được rằng chính cái từ CUỚP chính quyền mà ông sử dụng, nó đã trở thành những phương thức, những “tư duy” cho đảng cộng sản cùng lớp hậu duệ học hỏi và noi theo để gọi là noi gương đạo đức Hồ Chí Minh. Quả vậy, đảng CSVN cùng những thành viên của nó là một đảng CƯỚP và những tên CƯỚP đúng nghĩa.

*

Tựa bài dưới dạng một câu hỏi nhưng thực chất đó là một câu khẳng định vì người cộng sản thường hay mụ mị che giấu những hành vi ăn cướp của chúng bằng những mỹ từ để khỏa lấp hành động xấu xa đáng khinh tởm.

Tập thể Quân Dân Cán Chính thuộc Việt Nam Cộng Hòa thường gọi cộng sản Bắc Việt là: Quân xâm lược, Quân xâm lăng, tệ hơn chút là Quân cướp nước hoặc Bọn cộng nô. Những cách nói ấy thường bị đối phương phê phán và cho rằng đó là biểu hiện của sự thù hận đầy xuyên tạc và bôi bác.

Để giải thích vấn đề một cách xác thật và khách quan hơn, chúng ta hãy nghe chính con người của bên kia chiến tuyến mà tiêu biểu là một vài nhân vật sau đây:

1- Nữ Nhà văn Dương Thu Hương người đã từng phục vụ cho chế độ cộng sản, “thuộc thế hệ xẻ Trường Sơn đánh Mỹ” đã có lần công khai bày tỏ rằng, tháng Tư năm 1975, khi từ Hà Nội tiến vào thành phố cùng đoàn quân “giải phóng”, bà đã ngồi trên lề đường của Sài Gòn ôm mặt khóc:

“Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ… nếu người ta muốn. Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Ðó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Ðó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải.”

2- Trung tướng Trần Độ: “Thực chất là chế độ thì rất dã man, cho nên phải dùng nhiều thủ đoạn để lừa bịp nhân dân,”

“Chế độ cộng sản như một sự kết hợp giữa cái ngu muội của Tần Thủy Hoàng với cái dã man của chế độ phát-xít Hitler”.

Và từ đó ông cũng đã yêu cầu

“Đảng Cộng sản phải tự mình từ bỏ chế độ độc đảng, toàn trị, khôi phục vai trò, vị trí vốn có của Quốc hội, Chính phủ. Phải thực hiện đúng Hiến pháp, tức là sửa chữa các đạo luật chưa đúng tinh thần Hiến pháp. Đó là phải có những đạo luật ban bố quyền tự do lập hội, lập đảng, tự do ngôn luận, luật báo chí, xuất bản. Sửa chữa các luật bầu cử ứng cử tự do, từ bỏ quyền quyết định của cơ quan tổ chức Đảng, trừ bỏ “hiệp thương” mà thực chất là gò ép”.

Nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, ra sức nô dịch toàn bộ tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối chỉ biết nhai như vẹt các nguyên lý bảo thủ giáo điều… Nó đang làm hại cả một nòi giống.”

Ăn cướp như thế nào và tại sao cộng sản Bắc Việt phải đi ăn cướp?. Để giải đáp cho những câu hỏi này, chúng ta hãy đi tìm nguyên nhân.

1- Miền Bắc trước 1975. Có quá nhiều tài liệu, sách vở, hình ảnh, thơ văn, chuyện kể về miền Bắc trước 75 qua các nhân vật sống mà phạm vi của một bài viết nhỏ bé không thể nào liệt kê ra hết được. Lớp người lớn tuổi thì đã mục kích qua thực tế cuộc sống, lớp người nhỏ tuổi hơn sinh sau 75 thì nghe lớp người đi trước kể lại hoặc cũng có thể nhìn thấy xã hội miền Bắc vào những đầu thập niên của 1975 – 1985 cái thời kỳ mà cả nước ăn chung một món canh “toàn quốc” (toàn nước) và toàn dân muốn tự tử tập thể. Lớp sinh sau vào những thập niên gần đây thì có thể tìm hiểu qua tiện ích của nền tin học mà nguồn cung cấp thông tin vô cùng phong phú.

Những câu chuyện và những hình ảnh tàn ác mà đảng cộng sản đã áp dụng trên miền Bắc, nổi bậc nhất là phải nói đến cuộc Cải Cách Ruộng Đất 1953 – 1956 đã giết 172.008 người là con số có thể gần với sự thật nhát. Tuy nhiên, theo Hoàng Văn Chí thì con số đã lên đến 675.000 người đã chết (1). Tà sách này đã là những ảnh hưởng cực kỳ ghê gớm đến đời sống của miền Bắc nói riêng và VN nói chung cho xã hội, phong tục tập quán, đạo lý truyền thống tốt đẹp lâu đời mà dân tộc có được và sự ảnh hưởng ấy vẫn còn kéo dài cho mãi đến tận ngày hôm nay, một xã hội ăn gian nói dối không hề biết ngượng miệng, đạo lý suy đồi cùng cực, cướp giựt hoành hành, con người ta sẵn sàng giẫm lên nhau để tranh giành sự tồn tại. cho dẫu sự tồn tại trong một CƠ CHẾ đầy BẤT CÔNG và NGHỊCH LÝ.

Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956

Cải Cách Ruộng Đất và những giọt nước mắt cá sấu

Nói chung xã hội miền Bắc là một xã hội rất nghèo nàn lạc hậu mà nguyên nhân của mọi nguyên nhân là do ông Hồ đã du nhập một chủ thuyết hoang đường vào miền Bắc của Việt Nam thời bấy giờ để áp dụng và tập tành thực hiện những bước tiến của Chủ Nghĩa Xã Hội lấy kinh tế tập trung được chỉ đạo bởi đảng và nhà nước trong mô hình quốc hữu hóa, hợp tác xã và chế độ tem phiếu để cung cấp đến toàn hệ thống xã hội mà chúng ta có thể mường tượng ra hình ảnh của một xã hội qua 2 câu ca dao sau đây:

Một năm 2 thước vải thô

Em mặc không đủ, Bác Hồ lòi ra.

Một xã hội mà người phải thay trâu đi cày, đi chợ phải giấu thức ăn ngon dưới đáy rổ, đám cưới đám hỏi hay tiệc tùng giỗ ông bà muốn thịt con gà phải chờ tới nửa đêm mới dám vặn cổ nó cho thật nhanh, kẻo không nhỡ nó la thì người hàng xóm đi khai khai báo với ông tổ trưởng khu phố thì cũng bỏ mẹ, vặn cổ con gà xong tới khi trụng nhổ lông thì phải lén đi chôn lông, kẻo bị phát hiện được thì cũng chết chắc. Những mẩu truyện về sự bưng bít độc tài của đảng, cáo nghèo, cái khổ của xã hội miền Bắc mà những người đã từng chứng kiến hoặc am hiểu về nó, có thể bổ sung thêm để cho kho tàng dữ liệu càng thêm đầy đủ.

Trong đời thường, chúng ta thường nghe những bày tỏ về cảm xúc về những thứ gì rẻ và thối “rẻ như bèo, thối như cức”, thế nhưng ở miền Bắc lúc bấy giờ bèo cũng không rẻ và cức cũng rất quí. Xin xem bài viết “Nợ cứt” của tác giả Phạm Thế Việt (3)

2- Miền Nam trước 1975. Sau Hiệp định hiệp định genève năm 1954 chia đôi đất nước, miền Bắc theo chế độ XHCN, miền Nam theo chế độ tự do. Sự nổi bật nhất ở giai đoạn này là hình ảnh của số lượng khoảng 600.000 đến một triệu người miền Bắc di cư vào Nam,[5] trong khi đó 14.000–45.000 cư dân và 100.000 binh sĩ Việt Minh tập kết ra miền Bắc. (4). Con số khác biệt quá lớn này đã nói lên ý nguyện của người dân mong muốn được sống ở thể chế nào vào thời đó, còn ở thời điểm 2016 này, nếu có một Hiệp định tương tự như vậy thì có lẽ trên 40 triệu người miền Bắc sẽ di cư vào Nam và chọn thể chế Tự Do để mà sống. Sau một thời gian dài hơn 70 năm, người ta đã quá hiểu cộng sản là như thế nào và họ sẽ có thái độ dứt khoát, nghĩa là không bao giờ chấp nhận cộng sản.

Miền Nam Việt Nam qua 2 nền Đệ nhất và Đệ nhị cộng hòa, người dân đã được sống trong một chế độ đầy Tự Do và Nhân Bản với sự phát triển đầy hài hòa mặc dù vẫn luôn bị miền Bắc tấn công. Xã hội miền Nam mang đầy tính văn minh vì không theo một chủ thuyết cực đoan, sự tư hữu đã làm cho con người luôn cố gắng và năng động… đó là lý do miền Nam đã phát triển về nhiều mặt mà trong đó công nghệ sản xuất cung ứng gần đầy đủ để phục vụ cuộc sống. Chẳng những thế, miền Nam còn có khả năng phát triển về những công nghệ tiên tiến khiến Việt Nam Cộng Hòa đã vượt trội các nước trong khu vực Đông Nam Á Châu và tiến xa hơn cả Trung cộng. Hãy đơn cử một vài ví dụ trong thập niên 1960: Lý Quang Diệu từng mơ ước: Singapor một ngày nào đó sẽ được như Sài Gòn.

La Dalat trên đường phố Sài Gòn

Còn các nước láng giềng như Nam Dương, Thái Lan, Campuchia, Lào, Miến Điện thì không thể nào so sánh. Thế mà sau 40 năm dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng CSVN quang vinh, Việt Nam giờ đây lẹt đẹt chạy theo ngửi khói các quốc gia này!.

Một thể chế mà người dân có cuộc sống ấm êm đầy hạnh phúc, trai không phải đi lao nô, gái không phải đi đánh đĩ xứ người. Một chế độ mà không ai muốn bỏ chạy trốn quê hương đất nước của mình cả.

1975 sau khi cướp được miền Nam, như vô số người đã nhìn thấy người Bắc 75 đã rất tích cực trong phong trào 4 V (Vào vơ vét về), họ vơ vét từng cái đồng hồ, từng chiếc xe đạp, từng chiếc radio cho đến vàng bạc của cải và chiếm hữu bao nhiêu công xưởng, cơ sở sản xuất, tài sản nhà cửa, biệt thự… và dùng tiêu chuẩn lý lịch để cưỡng bức và cai trị.

Đảng CSVN thực chất chỉ là là một lũ ăn hại không hơn không kém, đây là tập hợp của rất nhiều tên bất tài vô tâm luôn mị dân với chiêu bài vì dân vì nước, vì sự công bằng và hạnh phúc nhưng trên thực tế đảng chẳng vì dân vì nước gì cả mà chỉ vì đảng là truớc nhất, điều 4 Hiến Pháp đã khẳng định điều đó. Chúng lại càng chẳng phải vì sự công bằng hay hạnh phúc của toàn dân vì tự CƠ CHẾ của chúng tạo ra vốn dĩ đã là BẤT CÔNG, chúng bỏ công sức để giành lấy hạnh phúc, tiền tài của cải cho bọn chúng là chính, ngoài ra dân chết mặc dân mà trên thực tế của xã hội VN hôm nay đã chứng minh một cách rõ nét nhất.

Đức Dalai Lama

Đảng cộng sản không tạo ra của cải cho xã hội. không phát minh hoặc sản xuất được bất cứ phần cứng phần mềm gì cho công nghệ, không sản xuất được xe hơi, vật dụng để phục vụ cho nhu cầu dân sinh mà ngược lại đảng chỉ là một đám quái đảng tự cho mình cái quyền ăn trên ngồi trốc, nắm đầu bàng dân để mà cai trị, để mà ra nghị quyết, nghị định mang đầy tính phá bỉnh đầy xuẩn ngốc. Chúng bày đủ thứ trò để tiêu xài ngân quỹ quốc gia, tụ tập bầy đàn băng đảng mánh mung, chúng vẽ vời nhiều cách để có dịp bòn tỉa rút ruột để làm giàu trên công lao và xương máu của nhân dân. Tóm lại đảng CSVN chỉ là một lũ vô tích sự, phá nhiều hơn xây cho nên đất nước mới lâm vào cảnh nợ nần, nghèo đói và tụt hậu. Chúng là những bầy chuột hôi tanh nhơ nhớp, tàn phá đất nước một cách kinh khủng bởi vì chúng quá đông.

Rồi đây nhằm mục đích Hán hóa, Thiên triều phương Bắc sẽ cho tiến hành mạnh hơn nữa về thể chế CÔN AN TRỊ và Việt Nam cũng sẽ như là Tân Cương, Nội Mông hay Tây Tạng mà tầng lớp tôi tớ đảng CSVN sẽ được giàu có một cách bất chánh, nhưng những tên tham quan này có biết rằng trong lầu son gác tía kia, từng viên gạch tự nó đã được đúc bằng xương thịt của bao triệu dân nghèo, nước sơn của những lâu đài hoàng tráng đã được pha trộn bởi màu máu và nước mắt của bao dân oan nghiệt ngả, những cổ xe hơi đắt tiền sang trọng có mùi mồ hôi cùng nước mắt của tầng lớp công nông dân vất vả chắt chiu từng hơi tàn sức kiệt, của những cụ già đói rét rau muối, của những em thơ dãi nắng dầm mưa lang thang đi bán vé số trên từng cây số của quê hương. Sự khắc khoải đợi chờ trong dồn nén bực tức của hơn 90 triệu tù nhân trong một nhà tù vĩ đại đã nung lên một bầu không khí ngột ngạt hận thù, sức bộc phá ấy rồi một ngày không xa sẽ như những trận cuồng phong, những đợt sóng nhầm cuồn cuộn trào dâng để cuốn trôi đi những tên bán nước hại dân để gom chúng trở lại đúng chỗ của rác rưởi hôi tanh trùng độc.

Ngẫm cho cùng, trong thời đại tiến bộ hôm nay thuyết quả báo vẫn còn ứng nghiệm. Cho nên những tham quan mà nhất là ngành CÔN AN nên chuẩn bị tinh thần để nhận lãnh sự trừng phạt từ những hành động vô nhân, hung ác mà lưới Trời đã lồng lộng bủa giăng một cách nhiệm mầu.

Tuy nhiên, việc Tàu cộng muốn, những tên tay sai như Nguyễn Phú Trọng, Hoàng Trung Hải, Nguyễn Xuân Phúc, Trần Đại Ngu muốn đó là chuyện của chúng còn được hay không là chuyện của Trời. Cho nên toàn Dân Tộc hãy mau thức tỉnh và vùng dậy là những việc phải làm ngay.

Đảng CSVN đã cướp miền Nam dưới mỹ từ giải phóng để từ đó biến miền Nam trở thành nghèo nàn lạc hậu giống với miền Bắc và đưa Việt Nam vào ngang hàng với những nước nghèo đói nhất thế giới. Ông Hồ Chí Minh đã không lường được rằng chính cái từ CUỚP chính quyền mà ông sử dụng, nó đã trở thành những phương thức, những “tư duy” cho đảng cộng sản cùng lớp hậu duệ học hỏi và noi theo để gọi là noi gương đạo đức Hồ Chí Minh. Quả vậy, đảng CSVN cùng những thành viên của nó là một đảng CƯỚP và những tên CƯỚP đúng nghĩa.

Nguyên Thạch

danlambaovn.blogspot.com

Ghi chú:

Ai ra lệnh không được nổ súng trong trận Gạc Ma?

Ai ra lệnh không được nổ súng trong trận Gạc Ma?

 Mặc Lâm

(biên tập viên RFA, Bangkok)

Mỗi năm vào ngày 14 tháng Ba, hình ảnh cuộc tàn sát 64 bộ đội công binh Quân đội Nhân dân Việt Nam lại ám ảnh gia đình họ và người có quan tâm. Những cái chết này là một sự kiện lịch sử cần phải làm rõ ai là thủ phạm trực tiếp, trói tay bộ đội bằng chính sách kềm chế trước đội quân hung hãn Trung Quốc

clip_image001

Tàu chiến Trung Quốc trực xạ bắn vào tàu vận tải công binh của Việt Nam khiến 64 chiến sĩ Hải quân VN đã hy sinh cùng với lệnh không được nổ súng…

Lệnh không được nổ súng

Từ đầu năm 1988 Trung Quốc đã có những hành động lấn chiếm các đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa bằng cách đưa hai chiến hạm thị uy chung quanh khu vực. Trước hành động khiêu khích công khai ấy Việt Nam đã khởi động chiến dịch có tên Chủ quyền 88 viết tắt là CQ-88 bằng cách gửi bộ đội công binh mang vật liệu xây dựng tới nhóm đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma để xây dựng các cơ sở tại đây nhằm khẳng định sự có mặt của Việt Nam trên nhóm đảo quan trọng này.

Tuy biết trước sự hiếu chiến và quyết tâm chiếm đảo của Trung Quốc nhưng bộ đội công binh Việt Nam lại không được trang bị vũ khí và quan trọng hơn nữa họ được lệnh không được bắn trả lính Trung Quốc. Chỉ một vài bộ đội trên tàu mang vũ khí cá nhân và nhóm bộ đội tiến vào cắm cờ trên đảo Gạc Ma đã tay không đối diện với giặc. Anh Nguyễn Văn Thống một người sống sót trong khi tiến vào Gạc Ma xác nhận với Đài Á Châu Tự Do lệnh không được nổ súng này:

-Bên mình lúc ra đi là quán triệt không được nổ súng bất kỳ giá nào cũng không được nổ súng.

Thượng tá Hoàng Hoan, Chỉ huy phó Chính trị trung đoàn công binh 83 kể lại với báo chí cái chết của trung úy Trần Văn Phương người đầu tiên ôm cờ chịu bị lính Trung Quốc bắn chết trước mặt đồng đội. Thượng tá Hoan xác nhận đây là hành động kềm chế trước sự hung hãn của lính Trung Quốc:

-Sau một thời gian giằng co nhau quyết liệt và xảy ra việc Phương bị thương và sau chết tại đảo và Lanh thì bị thương nằm gục xuống rồi thì anh em cùng với nhau đối với bọn Trung Quốc đó cuối cùng thì bọn nó nhanh chóng rút lui ra. Nhưng mà nó có cái chuyện, tức là nó nổ súng trước còn ta thì có thái độ kềm chế chủ yếu là mềm dẻo để giải quyết đúng đắn khẳng định rõ chủ quyền Việt Nam, tôi đã ở đây rồi! Thế nhưng phía Trung Quốc vẫn cứ nổ súng vào cán bộ chiến sĩ của xây dựng và đi giữ đảo.

Câu chuyện của 27 năm về trước vẫn nằm im trong những trang sử của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Lời kể của những bộ đội công binh không đủ sức thuyết phục dư luận cho đến khi chính một vị tướng chính thức lên tiếng về việc này. Ông là thiếu tướng Lê Mã Lương, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, từng giữ chức Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam nói trước cuộc tọa đàm kỷ niệm cuộc chiến Gạc Ma do Trung tâm Minh triết tổ chức vào năm ngoái, Tướng Lê Mã Lương cho biết:

-Nó có một câu chuyện như thế này: Có đồng chí lãnh đạo cấp cao ra lệnh bộ đội ta không được nổ súng nếu như đánh chiếm cái đảo Gạc Ma hay bất kỳ đảo nào ở Trường Sa. Không được nổ súng! Và sau này nó có một câu chuyện và nó đã được ghi vào tài liệu mà ta đã rõ rồi là khi trong một cuộc họp của Bộ Chính Trị, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đập bàn và nói là ai ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng?

Những người lính hy sinh đầu tiên ấy cộng thêm con số bộ đội bị quân Trung Quốc sát hại nâng lên 64 người là một vết thương lớn cho người lính bất cứ quân đội nào khi họ không được cầm súng chống lại quân thù, tướng Lê Mã Lương chia sẻ:

-Trong lịch sử của Hải quân Nhân dân Việt Nam chưa có trận nào mà hải quân ta chỉ có mấy phút thôi chúng ta chết đến hơn nửa đại đội. Không có chuyện lịch sử Hải quân, lịch sử của các đơn vị chiến đấu bộ binh chỉ trong mấy phút mà tiêu như thế, trừ bom, nó bỏ trúng đội hình đang hành quân hoặc là nó thả trúng đội hình đang đóng quân còn trong đánh nhau ta cũng trong thế chủ động thì không có chuyện đó. Cho nên đó là cái nỗi đau mà nỗi đau này nó âm ỉ và nó sẽ đi với người lính cho tới khi kết thúc sứ mệnh trên cái đất này.

TS Nguyễn Văn Khải người tham dự buổi hội thảo cho biết nhận xét của ông về việc tướng Lương công khai điều mà Bộ quốc phòng Quân đội Nhân dân Việt Nam giấu kín sau sự cố Gạc Ma:

-Câu đó của Lê Mã Lương là hoàn toàn đúng bởi vì những năm 80 tôi là TS Thiếu tá và có anh họ là Lê Ngọc Hiền là Thứ trưởng Quốc phòng, Lê Trọng Tấn là Tổng Tham mưu trưởng quân đội cho nên những chuyện này chúng tôi biết cả.

Bộ trưởng Quốc phòng, Lê Đức Anh

Ông Nguyễn Khắc Mai giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá Minh Triết cho biết vai trò của ông Lê Đức Anh lúc ấy là Bộ trưởng Quốc phòng, người được xem là đã ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng:

-Ngài Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hồi bấy giờ là ngài Lê Đức Anh đã ra cái lệnh như vậy mà anh Lê Mã Lương đã tường thuật trong hội thảo tưởng niệm Gạc Ma của chính Trung tâm Minh Triết tổ chức ở Khách sạn Công đoàn năm ngoái, thì bây giờ ta phải công khai cái này.

Một Bộ trưởng Quốc Phòng thấy giặc nó xâm lấn bờ cõi của mình mà ra lệnh không được chống lại, đứng im như thế cuốn cờ lên người mình để cho nó nã súng nó bắn!

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, một nhà ngoại giao kỳ cựu, am hiểu sâu sắc vấn đề Trung Quốc đánh giá quyết định không nổ súng của Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh:

-Tôi cho rằng lúc bấy giờ ông Lê Đức Anh được đưa lên làm Bộ trưởng Quốc phòng mà làm cái việc như thế là một việc phản quốc. Ra lệnh không được bắn lại để cho Trung Quốc nó giết chiến sĩ của mình như là bia sống thì tôi cho đó là một hành động phản động, phản quốc.

Ông Lê Đức Anh là cai đồn điền cao su của một người tình báo của Pháp chứ ông ta không phải tham gia cách mạng lâu dài gì đâu. Chẳng qua ông ấy khai man lý lịch rồi thì được lòng ông Lê Đức Thọ, ông Lê Đức Thọ cứ đưa ông ấy lên vù vù trở thành Bộ trưởng Quốc phòng, sau này thành chủ tịch nước. Cái điều đó những người biết chuyện như tôi lấy làm đau lòng lắm và cho là một nỗi nhục của đất nước.

Sau khi bị tàn sát, thi thể những người lính tay không súng ống ấy không phải đều được về nhà mà một số rất lớn đã trôi dạt khắp vùng biển quê hương bởi Bộ Quốc phòng Việt Nam không có một một cố gắng nào mang họ về đất liền như tất cả mọi quân đội khác trên thế giới phải làm. Ông Nguyễn Khắc Mai nhận xét:

-Cho đến hôm nay 64 người anh hùng liệt sĩ ở Gạc Ma đấy nhiều người xác vẫn còn nằm dưới biển và cái ông Nông Đức Mạnh nguyên Tổng bí thư lại trả lời rằng thôi cứ để yên như thế! Đáng lẽ anh phải can thiệp với Chữ thập đỏ quốc tế để tìm cách vớt và đưa thân xác của các liệt sĩ ấy về quê mẹ thì anh lại để im, bởi vì anh sợ Tàu mà. Động chạm đến Tàu thì anh run lên vì anh bị cầm tù rồi.

Tại sao cứ im lặng? chỉ cho mấy cái anh cấp người phát ngôn Bộ Ngoại giao nói tới nói lui một điệp khúc nhàm chán vô cùng và bọn Trung Quốc nó không thèm đếm xỉa gì tới, nó coi đấy là cái chuyện tào lao thì đấy là cái đau, đấy là cái nhục về Gạc Ma.

Ngày 14 tháng Ba mỗi năm không những là ngày giỗ chung của 64 gia đình liệt sĩ nhưng còn là ngày mà lịch sử Việt Nam sẽ phải làm rõ ai là thủ phạm chính trong cuộc tàn sát này. Mặc dù nó được phóng lớn lên thành cuộc chiến Gạc Ma nhưng người trong cuộc biết rõ đó là một cuộc chiến mà bên bị hại không được nổ súng.

M.L

Nguồn:http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/who-ord-no-fir-in-garma-03122015052720.html

Tội ác nào, cũng không được che giấu

Tội ác nào, cũng không được che giấu

FB Đặng Bích Phượng

14-3-2016

Các bạn DLV thường thắc mắc, tại sao chúng tôi lại chỉ tưởng niệm những người đã chết, hy sinh trong các cuộc chiến chống giặc Tàu, mà không tưởng niệm những người đã chết, hy sinh trong chiến tranh chống Pháp, Mỹ, Nhật v.v…

Trước hết, Pháp, Mỹ, Nhật không lấy của Việt Nam một tấc đất nào cả. Và cả 1000 năm giặc Tàu đô hộ, Việt Nam cũng không mất một tấc đất nào cả. Vua quan triều Nguyễn vẫn giữ được cái bãi chim ỉa tít ngoài biển Đông, bắt thuyền bè của Tàu qua lại phải đóng thuế. Thế mà đến thời đảng cộng sản cầm quyền, họ đã khoanh tay nhìn giặc Tàu cướp Hoàng Sa, Trường Sa, và bao nhiêu đất ở biên giới phía bắc nữa.

Sau là mặc dù các cuộc chiến đã kết thúc từ lâu, nhưng khắp đất nước này, bia căm thù giặc Mỹ nhan nhản, còn bia căm thù giặc Tàu đâu? Hay đã bị đục bỏ rồi?

Có Huân chương kháng chiến chống Pháp chống Mỹ, sao không có huân chương kháng chiến chống Tàu?

Ai đó có thể đục bỏ bia ghi dấu tội ác của giặc Tàu, nhưng sẽ có người nhắc nhở chúng. Tội ác nào cũng ko được che giấu, dù đó là tội ác của “Mỹ, Ngụy”, Tàu, hay cả cộng sản cũng vậy.

Một cậu an ninh đã giễu cợt hỏi tôi, có bao nhiêu người Việt Nam biết về Gạc Ma?

Một clip mới đây phỏng vấn các bạn trẻ về trận thảm sát Gạc Ma, thì không một bạn nào biết cả.

Và đó là điều chúng tôi đang cố làm, là để nhiều người biết về một giai đoạn lịch sử đau thương bị lãng quên. Còn những gì mà nhà nước này nói quá nhiều rồi, chúng tôi đâu cần nhắc tới nữa?

Mời xem thêm:

YouTube player

Tôi thiết tha đề nghị VN đổi chính sách’

Tôi thiết tha đề nghị VN đổi chính sách’

  • BBC      
  • GS. Nguyễn Khắc Nhẫn
  • Nguyễn Khắc Nhẫn ‘thiết tha’ đề nghị chính phủ Việt Nam thay đổi chiến lược về năng lượng, năng lượng hạt nhân, trước tình hình biến đổi khí hậu.

Trước diễn biến biến đổi khí hậu đang diễn ra phức tạp ở Việt Nam, nhân 5 năm đánh dấu thảm họa sóng thần và nhà máy điện hạt nhân Fukushima, một chuyên gia về chiến lược năng lượng từ Pháp ‘thiết tha’ đề nghị chính phủ Việt Nam thay đổi chiến lược năng lượng, đặc biệt là năng lượng hạt nhân.

“Tôi rất buồn vì thảm họa Fukushima không lay chuyển quyết định của Chính phủ Việt Nam: một hai vẫn muốn làm điện hạt nhân. Thật là sai lầm khi cho rằng hạt nhân có thể cứu được trái đất khỏi sự nóng lên của thời tiết,” đó là quan điểm của Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn, chuyên gia về chiến lượng năng lượng, cựu cố vấn của hãng Năng lượng Quốc gia Pháp (EDF) và nguyên Giáo sư Đại học Bách khoa Grenoble.

Mời qu‎ý vị theo dõi toàn văn cuộc phỏng vấn của BBC với chuyên gia năng lượng sau đây.

BBC: Tại Hội thảo về chiến lược năng lượng cho Việt Nam tại Đại học Bách khoa Grenoble mới đây, sau Hội nghị Thượng đỉnh Quốc tế về Biến đổi khí hậu COP21, Giáo sư đã có những kiến nghị cụ thể gì?

“ Tôi đề nghị ba kế hoạch căn bản. Đó là khai thác và đầu tư mạnh vào năng lượng tái tạo, triệt để tiết kiệm năng lượng ở mọi lĩnh vực, khuyến khích việc nâng cao hiệu suất năng lượng.

Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn “                   

Nguyễn Khắc Nhẫn: Tôi đề nghị ba kế hoạch căn bản. Đó là khai thác và đầu tư mạnh vào năng lượng tái tạo, triệt để tiết kiệm năng lượng ở mọi lĩnh vực, khuyến khích việc nâng cao hiệu suất năng lượng.

Muốn thành công, Việt Nam cần thành lập Bộ Năng lượng tái tạo (như ở Ấn Độ), tăng cường hỗ trợ năng lượng tái tạo, đơn giản hóa thủ tục hành chính để đẩy nhanh thời gian thực hiện các dự án, giảm tỷ số đàn hồi (coefficient d’élasticité), chống lãng phí, triển khai các dự án thí điểm về cộng đồng dân cư năng lượng sạch, không lãng phí, không rác thải, phát triển giao thông sạch và đào tạo đội ngũ cán bộ.

Làm gì để giảm nhẹ?

BBC: Việt Nam đang trải qua đợt hạn hán ở nhiều tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên, ngập mặn và xâm nhập mặn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, vựa lúa của cả nước, theo Giáo sư Việt Nam có thể làm gì để giảm nhẹ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu?

Nguyễn Khắc Nhẫn: Việt Nam là một quốc gia đối mặt với nguy cơ cao. Việt Nam xếp hạng thứ 26, nằm trong nhóm các nước có nguy cơ đặc biệt lớn. Những rủi ro cho Việt Nam cũng như các nước châu Á gồm bão ngày càng lớn và thường xuyên hơn, ngập lụt tăng cao do nước biển và sóng, lở đất do tan băng ở Himalaya, xói mòn, tài nguyên nước và dự trữ nước mềm giảm, mực nước biển tăng, ngập úng, mặn hóa, hiệu suất nông nghiệp giảm, đói kém, tử vong tăng, các bệnh tiêu chảy, dịch tả lan tràn do nhiệt độ tăng.

Ta hiểu tại sao phái đoàn Việt Nam, cũng như nhiều nước có nguy cơ lớn bị ảnh hưởng, tại COP21 đã đề nghị giảm ngưỡng từ 2°C xuống 1,5°C. Ngay trước ngày khai mạc Hội nghị ở Paris, Việt Nam đã quyết định ngày 25/11/2015, giảm lượng khí thải CO2, so với mức bình thường theo kế hoạch sau: 5% vào năm 2020, 25% năm 2030 và khoảng 45% năm 2050.

Khả năng thích ứng của Việt Nam thấp, do thiếu quyết tâm chính trị và tài chính. Những công việc đồ sộ cần thực hiện không được chậm trễ như : rà soát lại quy hoạch đô thị và kế hoạch phòng chống, xây dựng lại cầu đường và nhà cửa, bảo vệ các công trình, làm sạch hệ thống dẫn nước, bảo vệ các đê, đập, di chuyển dân cư… Đừng quên rằng nông nghiệp là nguồn sản xuất metan lớn (40 lần nguy hiểm hơn CO2). Các súc vật chăn thả gặm cỏ, đồng lúa, phân, và cây cỏ lên men cũng thải ra khí metan.

Cũng như các nước khác trên thế giới, Việt Nam phải xây dựng gấp rút nền kinh tế ít carbon. Nếu chúng ta càng trì hoãn, càng khó cho việc đối đầu với các đe dọa và thiệt hại sẽ lớn hơn, khó xử lý hơn. Tất nhiên, đó là một thách đố trường kỳ.

Không lay chuyển quyết định

BBC: Năm nay, Nhật Bản đánh dấu tròn 5 năm thảm họa sóng thần và sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima, Việt Nam học được gì từ thảm họa này và theo Giáo sư, chương trình điện hạt nhân của Việt Nam có gì mới trước tình hình và xu hướng tới đây của biến đổi khí hậu?

“ Tôi rất buồn vì thảm họa Fukushima không lay chuyển quyết định của Chính phủ Việt Nam: một hai vẫn muốn làm điện hạt nhân. Thật là sai lầm khi cho rằng hạt nhân có thể cứu được trái đất khỏi sự nóng lên của thời tiết.          Nguyễn Khắc Nhẫn “

Nguyễn Khắc Nhẫn: 5 năm sau thảm họa, nhà máy Fukushima, với 8.000 nhân công (kĩ sư, chuyên gia, kĩ thuật viên) liên tục thay phiên nhau, vẫn còn là một công trường ngổn ngang với phóng xạ mạnh.

Bên ngoài, trên một diện tích rộng hơn 1.000 km2 bị ô nhiễm, hàng ngàn công nhân, kể cả SDF, bất kể nguy hiểm đã làm công việc khử nhiễm, cùng với 1000 công ty. Chi phí cho quá trình này ước tính chừng 25 tỷ euro. Đây chỉ là bước đầu vì chất phóng xạ (césium 134 và 137, strontium 90) đã ảnh hưởng 24 000 km2 trong những ngày đầu tiên của thảm họa.

Sự ô nhiễm lan đến phía nam, vùng Tokyo và đến 250 km về phía bắc. Cựu thủ tướng Naoto Kan, đương chức lúc xảy ra sóng thần, đã cho biết : thảm họa đã suýt khiến phải di tản 30 triệu dân vùng Tokyo, điều này có thể gây suy sụp quốc gia!

Tôi rất buồn vì thảm họa Fukushima không lay chuyển quyết định của Chính phủ Việt Nam: một hai vẫn muốn làm điện hạt nhân. Thật là sai lầm khi cho rằng hạt nhân có thể cứu được trái đất khỏi sự nóng lên của thời tiết. Thực ra, hạt nhân, trên đà suy thoái ngay cả trước thảm họa Fukushima, chỉ còn chiếm 11,7% tổng năng lượng điện thế giới (67,9% từ than, dầu mỏ, khí đốt – 16,3% thủy điện – 4,1% năng lượng mặt trời, gió, sinh khối). So với năng lượng sơ cấp toàn cầu, nó chỉ chiếm khoảng 5%.

Chuyên gia đề nghị Việt Nam hủy bỏ gấp chương trình hạt nhân 5 năm sau sự cố sóng thần và cháy lò phản ứng hạt nhân ở Fukushima, Nhật Bản.

Khác với những lời tuyên truyền không đúng sự thật, lượng khí CO2 thải ra trong toàn bộ các khâu của quá trình hạt nhân không phải thấp! Từ đầu đến cuối: khai thác mỏ, vận chuyển Uranium từ nước ngoài đến tận nhà máy chế biến, tạo ra vật liệu với các thành phần khác nhau, công trường xây dựng của nhà máy (xi măng, thép), chu kì của nhiên liệu, khai thác, tháo gỡ, tái xử lý, quản lý chất thải… Tổng lượng carbon khó mà bỏ qua được!

Vì sự sống còn

Điện hạt nhân quá nguy hiểm và bắt đầu đắt hơn các nguồn điện khác, kể cả năng lượng tái tạo. Trong thời gian COP21, sử gia về khoa học của Hoa Kì, Naomi Oreskes, khẳng định nhiều nghiên cứu uy tín đã chỉ ra rằng có thể thực hiện được một nền kinh tế không carbon và không hạt nhân, bằng cách tập trung vào gió, mặt trời, thủy điện, kết hợp với việc kết nối tất cả các lưới điện, với hiệu quả năng lượng và với quản lý nhu cầu hiệu quả.

“ Vì sự sống còn của đất nước mến yêu, một lần nữa, tôi thiết tha trân trọng yêu cầu chính phủ Việt Nam hủy bỏ gấp chương trình điện hạt nhân .             

Nguyễn Khắc Nhẫn “

Dù sao, năm 2030, phần hạt nhân sẽ chỉ đóng góp tối đa là 10% lượng điện của Việt Nam. Con số này nhỏ hơn nhiều so với số tỷ kWh lãng phí ở Việt Nam. Việc tiết kiệm năng lượng không gây nguy hiểm gì và chi phí nhỏ hơn nhiều so với việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân.

Hàng chục và sau này sẽ là hàng trăm tỷ đô la đầu tư cho hạt nhân sẽ có hiệu quả kinh tế và xã hội lớn hơn nếu được dùng cho việc thích nghi với biến đổi khí hậu và phát triển mạnh mẽ năng lượng tái tạo của Việt Nam.

Không nên quên rằng khoảng thời gian từ khi lò phản ứng dân sự đầu tiên đưa vào hoạt động vào năm 1951 ở Mỹ đến thảm họa Fukushima ngày 11/3/2011 chỉ có 60 năm. Trong khoảng thời gian này, nhân loại chứng kiến 5 lần chảy tâm lò: 1 tại Three Miles Island, 1 tại Tchernobyl, 3 tại Fukushima. Trung bình, cứ 12 năm xảy ra một lần chảy tâm lò.

Vì sự sống còn của đất nước mến yêu, một lần nữa, tôi thiết tha trân trọng yêu cầu chính phủ Việt Nam hủy bỏ gấp chương trình điện hạt nhân.

Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn nguyên là Giám đốc Trường Cao đẳng Điện học và Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ (hiện là Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh), Cố vấn Nha kinh tế, dự báo, chiến lược EDF Paris, Giáo sư Trường Đại học Bách khoa Grenoble và Viện kinh tế và chính sách năng lượng Grenoble.

Người Bắc Âu có thể nói là những người “biết sống” nhất trên thế giới này

Người Bắc Âu có thể nói là những người “biết sống” nhất trên thế giới này

 
Họ sống tự nhiên, đơn giản, hạnh phúc – chính là những điều mà con người hiện đại mong muốn hướng tới.

tự nhiên, người Bắc Âu, hạnh phúc, cuộc sống đơn giản,

(Ảnh: denmark.dk)

Nếu để ý một chút, chúng ta sẽ nhận thấy, các quốc gia ở Bắc Âu không có nhiều nhà cao tầng, người dân ăn mặc rất mộc mạc, đi những chiếc xe cũ kỹ và ăn những món ăn đơn giản.

Sau 7 giờ tối, gần như trên đường đều rất yên ắng, không có cuộc sống “xa hoa trụy lạc” vào ban đêm, cũng không có những dịch vụ cao cấp lãng phí kích thích thần kinh con người. Vậy, hạnh phúc của những người dân Bắc Âu đến từ đâu?

Người Bắc Âu thường nhắc đến cụm từ “Chất lượng cuộc sống”. Đất nước Thụy điển có câu châm ngôn:“Tiền là thứ có thể để dành được còn thời gian thì không để dành được. Bạn sử dụng thời gian như thế nào thì nó sẽ quyết định chất lượng cuộc sống của bạn

Giữa 2 vế: cuộc sống đầy đủ nhà cao cửa rộng, tiền bạc và xe hơi sang trọng, so với cuộc sống có đầy đủ vợ chồng, con cái, sân vườn, người Bắc Âu lựa chọn cái vế thứ hai bởi vì thứ mà họ muốn là “phẩm chất” chứ không phải là “vật chất”.

“Nhanh một chút” rồi lại “nhanh một chút!”, sống như vậy, bạn có nghĩ rằng linh hồn của mình sẽ không theo kịp thể xác không? Người Bắc Âu lựa chọn cách sống “chậm một chút!” nhưng bạn có thể tìm được hạnh phúc thực sự từ đây.

tự nhiên, người Bắc Âu, hạnh phúc, cuộc sống đơn giản,

Một ngôi làng tại Đan Mạch, đẹp như tranh vẽ (Ảnh: Google Image Travel)

Đơn giản – Giảm ham muốn vật chất, trở về với tâm linh yên bình, thư thái

Môi trường thiên nhiên hà khắc khiến cho thói quen tiết kiệm đã trở thành điều tất nhiên ở đây: Cơm không thể không ăn, nhưng không nhất thiết phải ăn quá ngon. Tiền không thể không có, nhưng không nhất thiết phải có quá nhiều.

Cuộc sống đơn giản của người Bắc Âu rất dễ để nhận ra, ví dụ trong cách ăn mặc, bất luận giá cả như thế nào cũng cần phải phù hợp. Những phụ nữ 70-80 tuổi thường mặc áo khoác vàng nhạt kết hợp chân váy, đi giày nữ tính, khăn trùm đầu phong cách nữ hoàng Anh. Nhìn họ vừa nữ tính vừa trang nghiêm nhưng cũng không mất đi vẻ cuốn hút.

tự nhiên, người Bắc Âu, hạnh phúc, cuộc sống đơn giản,

Trang phục truyền thống Bắc Âu (Ảnh: Laila Durán)
Ngoài ra, nếu nhà ai đó mới sinh em bé thì những nhà hàng xóm hay bạn bè đều sẽ mang những bộ quần áo cũ đã được giặt rũ thơm tho đến cho em bé sử dụng. Điều này là rất bình thường ở đây, có vẻ như nó cũng trở thành một thói quen lâu đời.

Nếu một anh chàng thanh niên, một ông lão hay một cô gái đang đi trên đường mà bất chợt gặp bạn bè, thì quán cà phê ở đầu đường hay cuối ngõ sẽ là lựa chọn đầu tiên của họ. Một cốc cà phê Cappuccino nồng nàn trong không gian tĩnh lặng sẽ khiến họ ấm áp và thân thiết hơn.

Những con đường ở các quốc gia Bắc Âu thường hẹp hơn đường ở nước Đức, phần lớn nó không phải những con đường thẳng mà là những ngõ, hẻm.

Người dân nơi đây chủ yếu sử dụng những loại xe ô tô cá nhân cỡ nhỏ. Rất nhiều người họ đều là đạp xe đạp đi làm. Bảo vệ môi trường đối với họ không phải là một loại “mốt” mà là một sự “cao thượng”.

tự nhiên, người Bắc Âu, hạnh phúc, cuộc sống đơn giản,

“Giờ cao điểm” ở thủ đô Copenhagen, Đan Mạch (Ảnh: Google Image Travel)

Hiệu suất cao – Làm việc để cuộc sống chất lượng hơn

Công việc của họ khá nhẹ nhàng, thời gian rảnh đủ để làm thêm một công việc khác. Nhưng họ lại không làm như thế mà là lựa chọn tới quán cà phê thưởng thức cùng bạn bè hoặc ngồi đọc sách.

tự nhiên, người Bắc Âu, hạnh phúc, cuộc sống đơn giản,

Môt quán cà phê ở Copenhagen, Đan Mạch (Ảnh: Google Image Travel)
Nhưng mà bạn đừng nghĩ rằng, người Bắc Âu suốt ngày chỉ biết uống cà phê nhé! Điều kiện tiên quyết để họ được hưởng cuộc sống hạnh phúc là từ một thể chế phúc lợi do chính thái độ và hiệu suất làm việc của họ đem lại. “Đừng suy xét đến thu nhập, trước tiên hãy hỏi mình thích gì, công việc mình phải thích thì mới làm tốt được nó”, đây là quan niệm của người Bắc Âu, cho nên công việc đối với họ mà nói cũng không phải là một loại “đau khổ, giày vò”.

Vì đề cao hiệu suất, nên người Bắc Âu nghĩ mọi cách để sáng tạo, như vậy để họ có nhiều thời gian hơn cho việc nghỉ ngơi và cho gia đình. Chỉ cần nhìn vào số lượng giải Nobel hay những giải thưởng danh giá khác trên thế giới bạn sẽ thấy rõ điều này thôi!

Người Bắc Âu nổi tiếng là những người yêu du lịch. Họ thường xuyên đi hưởng thụ, ngắm cảnh đẹp trong nước cũng như trên toàn thế giới.

Yêu gia đình – vui chơi cùng con cái

Trong cuộc sống của người Bắc Âu, chỉ cần vừa có kỳ nghỉ là họ sẽ cùng gia đình tận hưởng những ngày vui đùa bên nhau, cùng tắm biển, tắm nắng, trượt tuyết, cưỡi ngựa…

Người Bắc Âu rất đề cao giá trị gia đình, người chồng trong gia đình sẵn sàng hủy bỏ những buổi gặp gỡ ăn uống với bạn bè sau giờ làm để dành thời gian cho vợ con.

tự nhiên, người Bắc Âu, hạnh phúc, cuộc sống đơn giản,
Điều đầu tiên sau khi tan ca trở về nhà chính là mọi người giành thời gian cho gia đình. Họ cùng nhau nấu ăn, vui đùa, kể chuyện, có rất ít người ở lại bên ngoài. Cho dù là có muốn làm thêm thì họ cũng phải chọn thời gian để tránh ảnh hưởng đến gia đình.

Ví dụ, người chồng sẽ chọn đi làm tăng ca vào lúc 3 giờ sáng bởi vì họ cho rằng buổi sáng ít nhất còn có người vợ ở nhà dùng bữa sáng cùng các con. Như vậy, người chồng sẽ chỉ bị mất đi khoảng 1 tiếng đồng hồ là thời gian gia đình gặp gỡ nhau ăn sáng. Làm thêm giờ vào buổi sáng sớm, nghe thì có vẻ khó tin, nhưng điều này lại cho các ông bố có thêm thời gian vào buổi tối để gia đình được ăn tối cùng nhau.

Một người đàn ông tên là Fredrik nói: “Nếu như một ngày, tôi không nhìn thấy những đứa con của tôi, không kể cho chúng một câu chuyện, không hôn lên đầu chúng thì tôi không thể làm được bất cứ điều gì!”

Họ cho rằng, khoảnh khắc hạnh phúc nhất chính là những đứa trẻ leo lên đầu gối và ôm lấy cổ bố chúng, hôn một cái trước khi đi ngủ. Họ cảm thấy đây chính là một loại thành tựu, một loại hạnh phúc.

Đối với người đàn ông Bắc Âu mà nói, gia đình và con cái không phải là nền tảng giúp người đàn ông tìm kiếm sự thành công, mà là một phần quan trọng nhất trong chất lượng cuộc sống của họ.

Theo daikynguyenvn.com

Khối 8406: Một chặng đường 10 năm

Khối 8406: Một chặng đường 10 năm

Hòa Ái, phóng viên RFA
2016-03-13

Bản “Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006” của Khối 8406.

Courtesy of vietlist.us

Your browser does not support the audio element.

Bản “Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006” của Khối 8406 lần đầu tiên được công bố ở Việt Nam cách nay 10 năm đã thu hút được sự chú ý đặc biệt của công chúng trong và ngoài nước. Xuyên suốt qua các hoạt hoạt động của Khối 8406 trong 1 thập niên tạo nên tầm ảnh hưởng không nhỏ cho quá trình tự do dân chủ ở Việt Nam. Nhân kỷ niệm 10 năm được thành lập, Hòa Ái có cuộc trao đổi với ông Vũ Hoàng Hải, đại diện của Khối 8406 ở Hoa Kỳ.

Hòa Ái: Xin chào ông Vũ Hoàng Hải. Thưa ông, kể từ khi Tuyên ngôn Tự do Dân chủ và Khối 8406 ra đời đến nay tròn 10 năm, ông vui lòng chia sẻ những kết quả đạt được của Khối 8406 trong 1 thập niên qua.

Kể từ khi Bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006 ra đời có 118 vị chiến sĩ dân chủ trong nước ủng hộ và từ đó phong trào đấu tranh trong nước phát triển rầm rộ đến nỗi chính quyền Cộng sản phải lo sợ.
– Ông Vũ Hoàng Hải

Ông Vũ Hoàng Hải: Xin chào cô Hòa Ái và xin kính chào quý khán thính giả Đài ACTD, kể từ khi Bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006 ra đời có 118 vị chiến sĩ dân chủ trong nước ủng hộ và từ đó phong trào đấu tranh trong nước phát triển rầm rộ đến nỗi chính quyền Cộng sản phải lo sợ. Từ cuối tháng 8 họ bắt Trương Quốc Huy, sau đó bắt bản thân tôi là Vũ Hoàng Hải rồi một số anh em khác. Đến 2007, họ đã bắt Linh mục Nguyễn Văn Lý, Luật sư Nguyễn Văn Đài và cô Lê Thị Công Nhân.

Cho đến ngày hôm nay, tổng kết thì Khối 8406 có 50 vị thành viên bị đi tù, trong đó nặng nhất là Linh mục Nguyễn Văn Lý, Mục sư Nguyễn Công Chính và anh Nguyễn Hoàng Quốc Hùng. Mới đây là LS Nguyễn Văn Đài và Trung tá Quân đội Nhân dân của Cộng sản, đó là Trần Anh Kim.

Thành công của Khối 8406 là gì? Chúng tôi đã nhận được 37 giải Nhân quyền do Mạng lưới Nhân quyền trao; 24 giải của Human Rights Watch trao, trong đó có một số giải Hellman-Hammett. Liên tục trong 10 năm, Khối 8406 đã cho ra đời bản “Bán Nguyệt san Tự do Dân chủ”, được 238 số. Kể từ 2007 đến giờ, tại Hoa Kỳ chúng tôi có chương trình phát thanh cũng như có diễn đàn Paltalk hàng tuần. Từ năm 2008 đến nay, chúng tôi có nhiều cuốn sách về vấn đề tranh đấu. Đặc biệt năm 2013, chúng tôi đến Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và Quốc hội Hoa Kỳ vận động thả Linh mục Nguyễn Văn Lý và 12 thành viên của Khối 8406.

Chúng tôi liên kết tất cả các tổ chức quốc tế về vấn đề phụ nữ nhân quyền cũng như các vấn đề về “human rights”. Hiện nay, Khối 8406 được đông đảo quần chúng trong và ngoài nước ủng hộ. Một số mấy chục Dân biểu của Hoa Kỳ, một số ở Châu Âu và rất nhiều các tổ chức quốc tế ủng hộ. Đó là niềm kiêu hãnh của Khối 8406. Và Khối 8406 luôn luôn đồng hành với dân tộc, tức là trong mọi biến động ở Việt Nam chúng tôi đều tham gia; ví dụ như vừa rồi có cuộc vận động “Quốc tế đồng hành với dân oan”, “We are one” hay “Vinh danh tù nhân lương tâm”… Đó là những thành quả mà Khối 8406 đồng hành với dân tộc, với tất cả đoàn thể đấu tranh ở trong nước.

Hòa Ái: Như ông vừa chia sẻ, xin ông cho biết hiện những thành viên nào đang còn bị ở tù và điều kiện sinh hoạt cũng như sức khỏe của họ ra sao, thưa ông?

Khối 8406 kêu gọi bãi bỏ điều 4, Hiến pháp

Khối 8406 kêu gọi bãi bỏ điều 4, Hiến pháp

Ông Vũ Hoàng Hải: Thứ nhất là Linh mục Nguyễn Văn Lý vẫn còn ở trong tù. Thứ hai là Mục sư Nguyễn Công Chính. Thứ ba là Luật sư Nguyễn Văn Đài mới vừa bị bắt và ông Trần Anh Kim. Một trường hợp đặc biệt là Mục sư Nguyễn Công Chính, hiện ông đang bị o ép ở trong tù và gia đình của Mục sư Nguyễn Công Chính kêu gọi chúng ta cố gắng làm sao hỗ trợ cho trường hợp của ông. Riêng trường hợp ông Trần Anh Kim mới bị bắt, có thể bị truy tố theo Điều 79. Chúng tôi đang vận động làm sao giảm hình phạt đối với Trần Anh Kim cũng như yêu cầu chính phủ Việt Nam phải thả Luật sư Nguyễn Văn Đài. Về trường hợp của Linh mục Nguyễn Văn Lý theo như bản án thì tháng 6 này Ngài sẽ về. Chúng tôi được biết tinh thần đấu tranh hiện nay của Linh mục Nguyễn Văn Lý rất cao.

Hòa Ái: 10 năm không phải là khoảng thời gian ngắn để ghi nhận những sự hy sinh, trả giá trong sự khai mở các hoạt động cổ vũ cho tự do dân chủ ở Việt Nam. Bên cạnh những gì đạt được, ông có thể cho biết tình hình hiện tại của Khối 8406 cũng như sẽ tập trung vào các hoạt động nào trong chặng đường mới 10 năm nữa?

Ông Vũ Hoàng Hải: Từ khi thành lập đến giờ được 10 năm. Trải qua một quá trình đấu tranh rất cam go, chúng tôi trực diện đấu tranh với Cộng sản để làm sao cho Việt Nam có tự do dân chủ và nhân quyền. Trong hoàn cảnh đó, rất nhiều anh em của Khối 8406 sinh hoạt đứng ra thành lập một số hội; chẳng hạn như “Hội Cựu Tù nhân Lương tâm”, “Hội Anh em Dân chủ”, “Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam”.

Do sự đàn áp và vì có nhiều mâu thuẫn trong nội bộ cũng như trong vấn đề tranh đấu, các thành viên của Khối 8406 đã chuyển sang hoạt động trong một số hội đoàn khác. Chúng tôi luôn luôn liên kết với nhau tranh đấu trong mọi mặt trận, trong mọi tình huống. Chúng tôi luôn luôn đồng hành với dân tộc, với tất cả những chiến sĩ dân oan, và đồng hành với các tổ chức đảng phái để đấu tranh làm sao cho Việt Nam thực sự có tự do dân chủ và nhân quyền.

Hòa Ái: Ở trong nước sắp diễn ra cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội Khóa XIV và trong cuộc bầu cử lần này nhiều người dân quyết định tự ra ứng cử, trong đó có nhiều gương mặt hoạt động dân chủ cho Việt Nam. Khối 8406 có ghi nhận gì về hiện tượng này và sẽ có những hoạt động nào liên quan đến cuộc bầu cử lần này hay không?

Ông Vũ Hoàng Hải: Cuộc bầu cử tại Đại hội Đảng vừa rồi chúng ta thấy họ vẫn còn độc tài và vẫn kiên định con đường Xã Hội Chủ Nghĩa. Hiện nay chúng ta thấy có một số anh em đã đứng ra vận động để tham gia ứng cử; chẳng hạn như trường hợp của TS Nguyễn Quang A hay của một số luật sư như Luật sư Võ An Đôn. Nhà cầm quyền Việt Nam nói rằng người dân có quyền tự ứng cử hội đồng các cấp. Bây giờ họ tự ứng cử, họ tự vận động để xem nhà cầm quyền Việt Nam phản ứng như thế nào đối với những người đang ra ứng cử. Nếu nhà cầm quyền làm mạnh quá thì họ đã vi phạm với những điều đã cam kết với quốc tế.

Chúng tôi sẽ làm để quảng bá tinh thần dân chủ, quảng bá cho người dân biết mình có quyền gì và mình phải thi hành với những quyền đó như thế nào và sẽ mang lại được những lợi ích gì…Vì thế Khối 8406 đồng hành với những người tự ứng cử và chúng tôi mong rằng đây là làn sóng đổi mới để người dân hiểu được nhiệm vụ, trách nhiệm của mình cũng như hiểu được mình có những gì và mình cần phải làm những gì.

Qua 10 năm, Khối 8406 luôn luôn đồng hành với dân tộc và chúng tôi vẫn kiên trì theo con đường đấu tranh hòa bình, bất bạo động.
– Ông Vũ Hoàng Hải

Hòa Ái: Nhân kỷ niệm 10 năm, một chặng đường khởi đầu của Khối 8406, là người đại diện, ông có muốn gửi thông điệp nào đến với những người dấn thân cũng như những người quan tâm về tự do chủ cho Việt Nam, thưa ông?

Ông Vũ Hoàng Hải: Qua 10 năm tranh đấu chúng tôi đã có rất nhiều anh em, bạn bè, đoàn thể hỗ trợ. Kỷ niệm 10 năm tranh đấu này, chúng tôi có mời một số anh em, những người có uy tín, để viết những nhận định của họ về Khối tranh đấu 8406 một cách khách quan, chẳng hạn anh Đỗ Thông Minh ở Nhật Bản, Sử gia Phạm Trần Anh, GS. TS Nguyễn Hồng Dũng và một số anh em bạn bè. Qua 10 năm, Khối 8406 luôn luôn đồng hành với dân tộc và chúng tôi vẫn kiên trì theo con đường đấu tranh hòa bình, bất bạo động. Chúng tôi cố gắng làm sao để Việt Nam có tự do dân chủ, có đa nguyên và người dân phải có quyền tự do hội họp, tự do lập hội, tự do lập công đoàn cùng các quyền tự do mà Thượng đế ban cho mỗi con người. Khối 8406 luôn luôn cảm ơn tất cả các hội đoàn tranh đấu, các đoàn thể đã ủng hộ Khối 8406 suốt 10 năm qua. Chúng tôi luôn luôn đồng hành với các bạn, đồng hành với dân tộc, nhất là về nạn phương Bắc đang xâm lấn nước ta như bây giờ.

Xin thay mặt cho Khối 8406, tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả quý vị đã ủng hộ chúng tôi trong những tháng ngày qua.

Hòa Ái: Xin cảm ơn ông Vũ Hoàng Hải dành thời gian chia sẻ với Đài ACTD.

Niềm vui trong thời đại đa chủng tộc, đa văn hóa.

Niềm vui trong thời đại đa chủng tộc, đa văn hóa.

Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm

* * *

Đối với một cá nhân mỗi người, thì cuộc sống trên dương thế này đều có

những niềm vui xen lẫn với những nỗi buồn. Đối với một tập thể dân tộc

cũng vậy, lịch sử của quốc gia nào thì cũng đày dãy những vinh quang rực rỡ

huy hoàng, xen lẫn những nhục nhằn đen tối u buồn. Điều này cũng có thể áp

dụng cho tình hình chung của nhân lọai cùng sinh sống chung với nhau trên

hành tinh trái đất này – mà hiện đang chứa đến 7 tỉ con người chen chúc trong

nhiều quốc gia và lãnh thổ khác nhau.

Nói chung, thì trong một thế kỷ gần đây nhân lọai đã gặt hái được những tiến

bộ vượt bậc về nhiều phương diện – đặc biệt là về khoa học kỹ thuật, về kinh

tế thương mại, cũng như về văn hóa tinh thần. Về mặt khoa học kỹ thuật cũng

như về kinh tế thương mại, thì thế giới chúng ta đã có những thành tựu lớn

lao vĩ đại – như đã được ghi lại qua những con số thống kê khách quan và

chính xác – mà ai cũng có thể kiểm chứng được một cách dễ dàng. Vì thế

nên người viết thấy không cần phải trưng dẫn các chi tiết có tính cách vật

chất định lượng đó ra ở đây nữa.

Mà bài viết này chủ yếu nêu ra những tiến bộ về mặt chính trị cũng như về

văn hóa tinh thần trong khỏang thời gian 70 năm gần đây – kể từ sau năm

1945 lúc chấm dứt thế chiến thứ hai cho đến ngày hôm nay sắp bước sang

năm 2015. Nói chung, thì những thành quả tích cực vô cùng ngọan mục về

nhiều phương diện đó làm cho chúng ta có thể lạc quan, vui mừng và thêm

tin tưởng ở một tương lai tốt đẹp tươi sáng hơn cho nhân lọai hiện nay đang ở

vào những năm đầu của thế kỷ XXI.

 

I – Thế giới đang mỗi ngày một tiến bộ thêm mãi về các mặt độc lập tự chủ,

bình đẳng và hoà bình – trong đó phẩm giá và quyền con người của mỗi cá

nhân được đề cao tôn trọng hơn.

A / Chỉ trong có chừng 40 năm đầu của thế kỷ XX, mà đã xảy ra hai cuộc thế

chiến tàn khốc là chiến tranh 1914 – 18 và liền theo đó là chiến tranh 1939 –

  1. Ấy thế, mà từ 1945 đến nay tức là đã qua 70 năm, thì lại không hề có một

cuộc chiến tranh thế giới nào nữa.

Mặc dầu có tình trạng “chiến tranh lạnh” nhiều lúc rất căng thẳng gay cấn

giữa hai khối Tư bản và Cộng sản khởi sự ngay từ sau năm 1945 lúc thế

chiến thứ hai chấm dứt – thì may mắn sao, đã không có một cuộc đổ máu tàn

sát nào giữa hai siêu cường Nga, Mỹ. Và từ thập niên 1990 với sự xụp đổ của

Liên bang Xô viết, thì chiến tranh lạnh đã không còn là mối đe dọa cho nền

hòa bình trên thế giới nữa.

Như vậy, quả thật là chúng ta đang được hưởng thụ một tình trạng hòa bình

an lạc tương đối lâu dài trong thế giới hiện nay vậy.

B / Về mặt quan hệ giao tiếp giữa các quốc gia, thì rõ rệt đã có một sự nở rộ

của phong trào nhiều dân tộc khắp các châu lục Á, Phi và Mỹ La tinh dành lại

được quyền tự chủ, độc lập và bình đẳng của mình thóat khỏi sự kềm kẹp của

các nước thực dân đế quốc xuất phát từ Âu châu. Và tổ chức Liên Hiệp Quốc

mỗi ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong sứ mệnh giữ vững được

mối thuận thảo giữa các dân tộc vốn xưa kia thường có sự hiềm khích xung

đột với nhau.

Khởi sự vào năm 1945, thì Liên Hiệp Quốc (LHQ) chỉ mới có 51 quốc gia là

thành viên, mà ngày nay con số quốc gia thành viên đã lên tới 193. Đó là một

sự tiến bộ cực kỳ quan trọng trong đời sống chính trị của chung mọi dân tộc

trên thế giới ngày nay vậy.

Cũng nên ghi nhận sự kiện là một số nhân vật từ Á châu đã từng đảm nhiệm

chức vụ Tổng Thư Kí LHQ, như U Thant trước đây và Ban Ki Moon bây giờ.

Đại sứ Kishore Mahbubani từ Singapore cũng đã từng giữ chức vụ Chủ tịch

Hội Đồng Bảo An LHQ.

Đó là chưa kể đến những cuộc hội họp gặp gỡ rất lớn hàng năm của Diễn

Đàn Kinh Tế Thế Giới (WEF = World Economic Forum) và của Diện Đàn

Xã Hội Thế Giới (WSF = World Social Forum) v.v…

C / Trong hầu hết các quốc gia, thì các tổ chức phi chính phủ (NGO = Non-

Governmental Organizations) càng ngày càng phát triển cả về mặt số lượng,

cả về mặt hiệu quả công tác phục vụ xã hội – trong nội bộ mỗi quốc gia, cũng

như trên phạm vi quốc tế. Các NGO này là nòng cốt tạo thành khu vực Xã

hội Dân sự (XHDS = The Civil Society). Vì thế, mà ta có thể nói rằng các

NGO hợp thành XHDS như vậy, thì được coi như các Tác nhân không phải

là Nhà nước (Non-State Actors) với vai trò mỗi ngày càng quan trọng hơn,

nhất là trong lãnh vực bang giao quốc tế.

Có thể nói các NGO đã tạo thành một thứ Quyền Lực Mềm (Soft Power)

mỗi ngày một thêm vững chắc tại nhiều quốc gia ngày nay. Và thông qua các

NGO này, quần chúng nhân dân có thêm nhiều cơ hội thuận tiện dễ dàng – để

cùng tham gia vào công cuộc cải thiện môi trường sinh sống cụ thể trong tầm

tay với của mình. Nói cách khác, đó là một hình thức sống động của một nền

Dân chủ Tham gia vậy (The Participatory Democracy).

Nhiều quốc gia lại còn cấp cho các NGO quy chế “được miễn thuế” (tax-

exempt) – để khuyến khích người dân nào mà cung cấp tiền bạc cho các NGO

đó, thì họ được trừ vào khỏan tiền thuế để khỏi phải nộp cho ngân sách nhà

nước. Nhờ vậy, mà người dân hăng hái tham gia yểm trợ cho các NGO.

Hơn nữa, khu vực Xã hội Dân sự Toàn cầu (The Global Civil Society) mỗi

ngày thêm phát triển và họat động rất phong phú khởi sắc – nhờ được sự hỗ

trợ lớn lao về tài chánh của giới doanh nghiệp, về trí tuệ của giới hàn lâm đại

học, cũng như về tinh thần của các tôn giáo.

D / Riêng về mặt Bảo vệ Nhân quyền, thì càng ngày các tổ chức tranh đấu

nhằm tôn trọng Phẩm giá và Quyền Con Người càng mở rộng phạm vi họat

động khắp nơi. Các tổ chức này đã thực sự đóng được vai trò làm Đối trọng

(Counterbalance) đối với các chánh quyền nhà nước – mà thường có khuynh

hướng lạm quyền hay cấu kết với giới tài phiệt để bóc lột và đàn áp người

dân. Những tổ chức như Amnesty International, Human Rights Watch,

Reporters Sans Frontieres v.v… đã và đang mỗi ngày thêm tích cực trong sứ

mệnh phát huy và bảo vệ Nhân Quyền.

Cũng cần phải ghi thêm rằng : Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền do

Liên Hiệp Quốc công bố vào năm 1948 cùng với hai văn kiện tiếp theo được

thông qua năm 1966 – là Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị và

Công ước Quốc tế về Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa – đã tạo thành một

cơ sở pháp lý thật vững chắc trên quy mô toàn cầu cho công cuộc tranh đấu

Nhân quyền ngày nay.

Quả đúng như lời phát biểu rất hùng hồn ở Paris vào năm 1948 của vị Cựu

Đệ Nhất Phu Nhân nước Mỹ là Bà Eleanor Roosevelt : “Bản Tuyên Ngôn

Quốc Tế Nhân Quyền có thể được coi như là một Đại Hiến Chương cho nhân

lọai ngày nay vậy” (Magna Carta for mankind in our modern time).

 

II – Các sắc dân thiểu số không còn bị chèn ép khinh rẻ miệt thị như xưa nữa.

Cái tình trạng “Kẻ mạnh khỏe hà hiếp người yếu thế”, “Kẻ khôn ngoan lợi

dụng gạt gẫm người khù khờ” là chuyện thường xảy ra trong xã hội lòai

người. Đến nỗi mà từ xưa, người La mã đã có câu tục ngữ : “Con người đối

xử với nhau như lang sói” (Homo homini lupus).

Cụ thể như ngay trong nước ta, thì từ lâu vẫn xảy ra tình trạng người sắc tộc

Kinh là đa số chiếm đến 86% dân số toàn quốc lại đi lấn ép giành giật khai

thác đất đai của những sắc dân thiểu số vốn định cư lâu đời ở khu rừng núi tại

vùng cao nguyên. Vì thế mà vào năm 1964, các sắc dân này đã quy tụ với

nhau để lập thành Phong trào Fulro nhằm tranh đấu chống lại sự khai thác bất

công áp bức đó. Fulro là chữ viết tắt bằng tiếng Pháp : Front Uni pour la

Libération des Races Opprimées (= Mặt trận Thống nhất Giải phóng các Dân

tộc bị Áp bức).

 

A / Vẫn còn nhiều vụ tranh chấp vì lý do chủng tộc.

Tuy từ năm 1945 đến nay, không xảy ra một cuộc chiến tranh thế giới nào, thì

lại có đến hàng trăm những cuộc xung đột vũ trang tại rất nhiều quốc gia và

lãnh thổ trên khắp thế giới. Các nhà nghiên cứu đã hợp nhau làm bảng tổng

kê các cuộc chiến tranh cục bộ địa phương này và đưa ra một con số thống kê

rằng : Tổng số các nạn nhân bị thiệt mạng trong biết bao nhiêu cuộc chiến

tranh dù với quy mô hạn chế như thế đã lên tới con số kinh khủng vượt qua

số nạn nhân của cả hai cuộc thế chiến gộp lại!

Mà phần lớn là bắt nguồn từ những cuộc tranh chấp mâu thuẫn vì lý do chủng

tộc (racial conflict). Đúng như lời phát biểu rất chính xác của vị Giáo sư danh

tiếng ở Pháp là Raymond Aron đã viết từ 50 năm trước là : “Không phải là

chuyện tranh đấu giai cấp, mà là tranh chấp chủng tộc” (Ce n’est pas la lutte

des classes, mais c’est la lutte des races). Điển hình như các cuộc chiến tranh

ở Mindanao Philippines, ở Bosnia, Kosovo thuộc Liên bang Nam Tư cũ hay

cuộc diệt chủng ở Rwanda Phi châu hồi giữa thập niên 1990 gần đây thôi.

 

B / Sự nhập cuộc của Tôn giáo và Đại học.

Trước tình trạng chém giết sát phạt nhau tại nhiều địa phương như thế, mà

gần đây đã có sự hợp tác chặt chẽ giữa các Tôn giáo và các Đại học để góp

phần vào những công việc cụ thể như “ Trung gian Hòa giải”,“Chuyển biến

Tranh chấp” và “Xây dựng Hòa bình”. (Mediation – Conflict Transformation

– Peacebuilding) tại các địa phương đang bị xâu xé tàn phá bởi chiến cuộc.

Điển hình như tại Đại học Eastern Mennonite University (EMU) ở Virginia,

thì có cả một chương trình bậc cao học về môn Chuyển biến Tranh chấp (MA

program in Conflict Transformation) và còn có cả Viện Xây dựng Hòa bình

mùa Hè (SPI = Summer Peacebuilding Institute) quy tụ rất nhiều giới họat

động xã hội từ khắp nơi trên thế giới đến trao đổi học hỏi kinh nghiệm họat

động trong lãnh vực cụ thể như “Hàn gắn chấn thương” do chiến cuộc gây ra

(Trauma healing), “Điều giải tranh chấp’ (Mediation) v.v…

Lại còn có những tổ chức tình nguyện đi đến tận những nơi đang có tranh

chấp để tìm cách hòa giải giữa hai bên đối nghịch nhằm tránh được việc sử

dụng bạo lực – điển hình như các Đoàn Xây dựng Hòa bình Thiên chúa giáo

(CPT = Christian Peacebuilder Teams).

 

C / Một số nhân vật tiêu biểu trong cuộc tranh đấu cho người thiểu số ở Mỹ.

* Tại nước Mỹ, ngay từ thập niên 1950 vị mục sư Martin Luther King đã tận

tình dấn thân nhập cuộc với người da đen để tranh đấu cho Dân quyền (Civil

Rights) của tầng lớp người Mỹ gốc Phi châu vốn từng bị đối xử tàn tệ và bị

kỳ thị khinh rẻ – đặc biệt là tại các tiểu bang ở khu vực miền Nam nước Mỹ.

Mặc dù bị bắt giữ tù đày nhiều lần, Luther King vẫn kiên trì sát cánh với các

chiến hữu trong cuộc tranh đấu cho một ly tưởng cao đẹp của thế hệ con cháu

những người nô lệ xưa kia. Ông được cấp phát Giải thưởng Nobel về Hòa

bình vào năm 1964. Nhưng tiếc thay, vào năm 1968 ông bị một kẻ cuồng tín

sát hại lúc mới ở vào tuổi 39 còn quá trẻ.

Martin Luther King được toàn thế giới kính phục vì chủ trương bất bạo động

mà lại kiên cường tranh đấu cho Dân quyền. Rõ ràng ông đã để lại một hình

ảnh tuyệt vời của người chiến sĩ hy sinh trọn vẹn cho Phẩm giá và Quyền

Con Người tại nước Mỹ vào giữa thế kỷ XX.

* Một nhân vật khác cũng được sự kính trọng và yêu mến của nhân dân nước

Mỹ, đó là Cesar Chavez. Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo gốc

Latino, Cesar đã tận tình tranh đấu cho quyền lợi chính đáng của những

người lao động tại các nông trại ở khu vực miền tây nước Mỹ – đặc biệt là ở

tiểu bang California. Ông tham gia lãnh đạo tổ chức United Farm Workers

(UFW =Hiệp hội Thống nhất Công nhân Nông trại) nhằm đòi hỏi giới chủ

nhân nông trại trại phải bảo đảm trả lương sòng phẳng và tạo điều kiện làm

việc thỏai mái cho giới công nhân phần đông thuộc nhóm thiểu số gốc

Latino, đặc biệt là từ nước Mexico sát liền với Hoa Kỳ (mà thường được gọi

là Chicanos).

Cũng giống như Martin Luther King, Cesar Chavez triệt để theo đuổi chủ

trương bất bạo động của Mahatma Gandhi trong cuộc tranh đấu trường kỳ

của mình. Ông mất tại Arizona vào năm 1993 ở độ tuổi 66.

Thành phố Los Angeles ở California đã vinh danh Martin Luther King và

Cesar Chavez bằng cách đặt tên các ông cho hai đại lộ chính yếu của mình.

 

III – Các nền văn hóa khác biệt càng bổ túc cho nhau để tô điểm cho cuộc

sống con người hiện nay thêm phong phú tươi đẹp viên mãn.

Hồi xưa người Tàu thường coi mình văn minh tiến bộ vượt trội hơn tất cả các

dân tộc khác mà họ gọi chung là “một lũ man di, mọi rợ”với một giọng điệu

miệt thị kẻ cả. Sau này, từ thế kỷ XIX trở đi, thì người Tây phương cũng tự

gán cho mình cái sứ mệnh đi mở mang khai hóa giúp đỡ các dân tộc khác

(mission civilisatrice) ở Phi châu, Á châu và châu Mỹ Latinh – chủ ý để biện

minh cho hành động đi xâm chiếm các thuộc địa của họ.

Ngày nay ở vào thế kỷ XXI, cái não trạng hủ lậu cực đoan quá khích đó đã bị

xóa tan lọai bỏ hết rồi. Và giữa các dân tộc trên thế giới đã có sự thông cảm,

liên đới và quý trọng lẫn nhau một cách chân thành sâu sắc hơn. Quá trình

nhận thức và chia sẻ tình cảm thân ái như thế rõ ràng là một sự tiến bộ đi lên

của xã hội loài người chúng ta. Chiều hướng tích cực đó là điều không một ai

mà lại có thể làm đảo ngược lại được nữa vậy (an irreversible processus).

 

A / Sản phẩm đa văn hoá.

 Thế hệ chúng tôi là những người được sinh ra vào khỏang 10 – 15 năm trước

khi thế chiến thứ hai chấm dứt vào năm 1945. Từ trong gia đình, cũng như từ

học đường, chúng tôi được hướng dẫn chu đáo về nhiều mặt, đặc biệt về luân

lý đức dục. Cụ thể như được học những câu “tiên học lễ, hậu học văn”, “ăn

quả nhớ kẻ trồng cây”, “ nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước

phải thương nhau cùng” v.v… Những bài đọc trong cuốn “Luân lý giáo khoa

thư” quả thật đã in đậm nét trong tâm khảm của lớp thiếu niên chúng tôi –

cùng với vô vàn vô số những câu ca dao tục ngữ là đúc kết từ những kinh

nghiệm quý báu của cha ông chúng ta qua bao nhiêu thế hệ của những bậc

tiền bối đáng kính đáng trọng.

Rồi lên bậc Trung học, chúng tôi được tiếp cận với văn hóa của Pháp với tất

cả những tinh hoa của nền khoa học kỹ thuật hiện đại và của nền học thuật tư

tưởng tích lũy từ thời đại Hy lạp & La mã cả mấy ngàn năm trước.

Và khi theo lên bậc Đại học vào thập niên 1950 – 60, chúng tôi lại được tiếp

thu thêm những tiến bộ trong văn hóa của Mỹ đang ở vào giai đọan phát triển

rực rỡ – đặc biệt là cái phong cách cởi mở thông thóang và năng động trong

các hình thái sinh họat xã hội thường ngày.

Nói vắn tắt lại, thế hệ chúng tôi là những người thật may mắn vì được đào tạo

và thấm nhuần bởi cả ba nền văn hóa : văn hóa truyền thống dân tộc – văn

hóa nhân bản của Pháp – văn hóa thực dụng của Mỹ. Có thể nói vắn tắt được

rằng : Chúng tôi đích thực là một thứ “sản phẩm đa văn hóa” vào cuối thế kỷ

XX bước qua thế kỷ XXI vậy (a multicultural product)

 

B / Thế hệ lớp cháu được sinh ra tại các nước Âu Mỹ.

 Thế hệ thứ ba là lớp cháu của chúng tôi, thì hầu hết là được sinh ra tại các

nước Âu Mỹ. Nhờ vậy mà các cháu được tiếp nhận một nền giáo dục thật tiến

bộ về khoa học kỹ thuật cũng như về khoa học nhân văn. Rõ ràng là các cháu

đã có đủ điều kiện thuận lợi để mà có thể hội nhập êm thắm vào với dòng

chính của xã hội sở tại hầu kiến tạo được cho mình một nếp sống văn minh

an hòa thư thái trong thế giới hiện đại.

Chỉ có một điều chúng tôi phải quan tâm lo ngại. Đó là các cháu dễ mắc phải

cái khuyết tật gọi là “mất gốc” (uprooted) – bởi lý do là ít hiểu biết về nguồn

cội văn hóa tinh thần của cha ông mình và cũng ít quan tâm đến những vấn

đề liên hệ đến tương lai đất nước Việt nam nữa. Đó là “cái mặt trái của tấm

huy chương” – được về mặt này, thì lại mất về mặt khác vậy.

Cái thách đố này đòi hỏi chúng ta phải luôn cảnh giác để cùng với nhau tìm

ra được một giải pháp thỏa đáng cho sự khiếm khuyết bế tắc đó.

 

IV – Để tóm lược lại.

 Bài viết đến đây kể đã khá dài rồi, tôi xin được tóm lược lại trong mấy điểm

ngắn gọn như sau :

1 – Nhìn một cách tổng quát, thế giới hiện nay ở thế kỷ XXI đang có một

triển vọng tương đối tươi sáng tốt đẹp hơn – với sự thông cảm và bao dung

hòa ái giữa các dân tộc, sự hợp tác chân thành trong công cuộc xây dựng nền

hoà bình ổn định, cũng như trong cố gắng tích cực phát triển sự thịnh vượng

kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Đó là điều khiến chúng ta lạc quan với chính

bản thân mình và cũng an tâm cho tương lai của thế hệ con cháu mình.

2 – Ý thức về Phẩm giá và Quyền Con Người mỗi ngày được nâng cao và

phổ biến rộng rãi hơn mãi – khiến cho thế hệ trẻ nô nức hăng say nhiệt tình

trong sự dấn thân nhập cuộc tranh đấu nhằm thực hiện công bằng xã hội và

kiến tạo một không gian xã hội thông thóang tự do thỏai mái hơn nữa. Nhờ

vậy mà cuộc sống luôn có được một ý nghĩa cao đẹp hơn, một động cơ hấp

dẫn lôi cuốn hơn.

3 – Nhờ có nhiều cơ hội thường xuyên tiếp cận và sát cánh với nhau trong

những việc làm cụ thể, thiết thực – mà những hàng rào ngăn cách, những

thành kiến ngộ nhận, những ác cảm miệt thị xưa kia trong xã hội đã bị xóa bỏ

lọai bớt đi rất nhiều. Rõ ràng là thời đại hiện nay của chúng ta đang có những

điều kiện thuận lợi nhất để có thể xây dựng và duy trì được một nếp sống

thắm đượm tinh thần nhân bản đích thực và lòng nhân ái bao la viên mãn cho

tất cả mọi người hiện có mặt trên hành tinh trái đất này.

Đích thực đó là một thành quả kỳ diệu kết tụ tích lũy được từ bao nhiêu nỗ

lực kiên trì của nhiều thế hệ con người.

Và đây cũng là bước đầu của quá trình thực hiện được cái điều lý tưởng mà

cha ông chúng ta đã bao đời từng mơ ước vậy./

 

Costa Mesa California, Tháng 11 Năm 2014

Đoàn Thanh Liêm

Mạn đàm về Đại học Việt Nam

Mạn đàm về Đại học Việt Nam

    Đoàn Thanh Liêm & Phạm Xuân Yêm

Bài này viết ra như một tiếp nối so với những gì mà GS Hoàng Tụy đã từ lâu nhận xét, đặc biệt câu sau đây trích trong Kỷ Yếu Sĩ phu Thời nay [1]: Thật ra, giáo dục và khoa học của ta không chỉ tụt hậu mà đi lạc ra ngoài con đường chung của thế giới, hết sức ‘không giống ai’ và đó là nguồn gốc của mọi vấp váp, khó khăn khi hội nhập nếu không kịp chấn chỉnh.”

1- Triết học không phải là một giáo điều

Đại cương, sinh viên ngành triết học được hướng dẫn về phương pháp suy luận và cách thức đặt vấn đề nhằm tìm hiểu sự thật trong cuộc sống nội tâm, cũng như khám phá ra những quy luật vận hành của xã hội, của vũ trụ nhân sinh. Triết học cũng trình bày cho sinh viên hiểu biết được lịch sử phát triển về tư duy và nhận thức của con người, nhờ vào những tìm kiếm nhẫn nại không ngừng của các triết gia tại Đông cũng như Tây phương, liên tục từ biết bao năm trường. Nói chung, môn triết học cung cấp cho chúng ta một chân trời luôn mãi mở rộng, một viễn tượng toàn cầu, một tầm nhìn thật là bao quát và thông thoáng. Đó là kim chỉ nam, tấm bản đồ giúp cho con người hướng thượng để đi tới mãi trong cuộc hành trình lâu dài của mỗi cá nhân, cũng như của toàn thể cộng đồng nhân lọai, mà không sợ bị lạc lối trong cái mê hồn trận của cuộc sống mỗi ngày một thêm phức tạp xáo động trong xã hội ngày nay.

Cũng như môn khoa học tự nhiên, triết học là cả một kho tàng kiến thức vô cùng phong phú và quý báu mà nhân lọai đã tích lũy được, trải qua bao nhiêu thế hệ tìm kiếm, phân tích và đãi lọc thành những sản phẩm tinh hoa của trí tuệ con người, không phân biệt sắc tộc, màu da hay khuynh hướng chính trị, học thuật và tôn giáo nào. Và như vậy, việc giảng dậy môn triết học không bao giờ chỉ tập trung, đóng khung chật hẹp vào một triết thuyết độc tôn duy nhất nào, mà trái lại cần phải giới thiệu cho các sinh viên tìm hiểu được nhiều trường phái triết học, các lý thuyết cổ xưa cũng như hiện đại của các nhà tư tưởng kiệt xuất của nhân lọai từ Đông sang Tây, Bắc xuống Nam.

Xin trích dẫn mấy dòng ngắn ngọn sau đây về sự tương đồng cũng như khác biệt giữa khoa học và triết học [2]:

Triết học nghiêm túc giống khoa học đích thực ở hai điểm:

1- đều dựa vào một số nguyên lý. Những nguyên lý này, ta chỉ có thể tán thành hay không, không chứng minh tuyệt đối, vĩnh viễn được. Do đó phát triển khoa học hay triết học đều đòi hỏi ý thức tự do và sáng tạo.

2- trên cơ sở đó, đòi hỏi một kiểu suy luận khắt khe, chặt chẽ, nhất quán xuyên qua những bộ ngôn từ tương xứng. Thiếu ngôn ngữ khoa học, không thể tiếp thu và phát triển tư duy khoa học. Thiếu ngôn ngữ triết học “cho ra hồn”, không thể tiếp thu và phát triển tư duy triết.

Triết học và khoa học khác nhau ở hai điểm :

1 – Giá trị của lý thuyết khoa học được xác định bằng thử nghiệm : ứng dụng nó thì hành động đạt được kết quả đã dự đoán. Lý thuyết khoa học đúng hay sai là phải do thực nghiệm kiểm chứng được hay không.

2 -Giá trị của triết thuyết được xác định qua nghiệm sinh của con người ở đời. Có thể bỏ mạng mà vẫn đáng sống.

Cả hai đều cần thiết để làm người. Nếu chua thêm được tí ti văn nghệ trong cuộc sống thực thì tuyệt.

Vậy mà từ lâu rồi, theo Trần Đức Thảo : “ở Việt nam không có triết học, mà chỉ có chính trị”, nền giáo dục Việt Nam lại đặt nội dung giáo dục ý thức hệ Marx-Lenin làm trọng tâm. Trẻ vào mẫu giáo đã nghe những bài hát chính trị. Người soạn sách giáo khoa nhiều khi cũng cố lồng chính trị vào, coi đó là một thành tích [3]. Việc giảng dậy môn triết học Marx Lenin tại các trường ở Việt nam từ mấy chục năm nay là một hạn chế khiên cưỡng, sinh viên phải học tập duy nhất có một học thuyết mà không được tiếp cận trên cùng một bình diện cả một vườn hoa tư tưởng muôn màu muôn sắc của nhân lọai. Rõ ràng là triết học do Karl Marx khởi xướng từ trên 150 năm nay và sau đó bổ xung bởi Lenin đã và tiếp tục là một đóng góp đáng kể cho nhân lọai, tuy nhiên nó không phải là một đường lối tư tưởng duy nhất, tuyệt đối và vĩnh viễn. Như vậy, thì lại càng không thể đem học thuyết này mà áp đặt trên quần chúng học sinh, sinh viên, buộc thế hệ thanh niên phải chấp nhận nó như một giáo điều chính thức của quốc gia. Sự áp đặt như vậy nào có khác chi việc thiết lập một thứ quốc giáo độc quyền, độc tôn trên toàn thể dân tộc?

Qua sự trình bày trên, thiết nghĩ ta cần phải dứt khoát thay đổi lề lối và nội dung của việc giảng dậy môn triết học hiện nay. Cụ thể trong thời buổi hội nhập này là nên áp dụng các phương thức phổ quát trên thế giới, đó là hướng dẫn cho sinh viên nâng cao tầm nhận thức và trình độ hiểu biết rộng rãi, thấu đáo hơn mãi về lịch trình tiến triển của tư duy loài người từ xưa đến nay, thông qua những tìm kiếm vô cùng phong phú và kiên trì của biết bao lớp nhà tư tưởng ưu tú vĩ đại của nhân lọai. Chứ không phải chỉ đóng khung hạn hẹp trong bất kỳ một học thuyết duy nhất nào. Khác nào xưa kia thời quân chủ phong kiến hàng ngàn năm bên Đông Á, học thuyết cửa Khổng sân Trình đã thống trị tư duy thần dân. Cũng như Cơ đốc giáo với giả thuyết điạ tâm sai lầm bên Âu châu đã đưa Giordano Bruno lên dàn hỏa thiêu (1600) và Galileo Galilei (1633) phải quỳ gối tự chối bỏ tác phẩm nền tảng của Khoa học hiện đại như Vật lý, Cơ học, Thiên văn. Điển hình gần đây hơn là thời Stalin đã dùng quyền lực chính trị để áp đặt lý thuyết về di truyền của Lysenko, gây tai hại trầm trọng cho nền khoa học của Liên Xô vào giữa thế kỷ XX vậy. Cũng vậy giáo điều quốc xã thời phát xít Đức đã đẩy lùi nền khoa học Âu châu trong bao năm.

Chúng ta hãy lắng nghe ý kiến sau đây [4]:

Tôi đề nghị chúng ta vẫn giữ học thuyết Marx – Lenin, nhưng chúng ta không chỉ biết và vận dụng duy nhất học thuyết Marx-Lenin, mà cần phải biết và vận dụng những học thuyết tinh hoa của nhân loại như chúng ta bắt đầu làm từ khi đổi mới. Từ đó Đảng ta mới phát huy được dân chủ, tự do trong Đảng, trong nhà nước và trong xã hội ta. Vì chỉ có dân chủ tự do mới có thể có điều kiện thật sự cho sự phát triển vững mạnh, mới có sức mạnh vô địch để vượt qua mọi khó khăn thử thách, bảo vệ được thành quả của Cách mạng và không ngừng đưa Cách mạng Việt Nam tiến lên phía trước cùng với bạn bè năm châu bốn biển ”.

Các nước tư bản họ cũng làm như vậy. Họ vẫn nghiên cứu và giảng dạy chủ nghĩa Mác-Lênin ở các trường đại học. “ Giữ học thuyết Marx – Lenin ” không phải để tôn sùng và mù quáng vâng theo mà có chăng chỉ để gạn đục khơi trong, để ôn cũ biết mới .

Điểm son của triết lý giáo dục tiến bộ trên thế giới là sự bao dung, tôn trọng và bàn cãi tự do những tư tưởng, văn hóa, chính kiến, tín ngưỡng khác nhau, chúng bổ túc cho nhau. Tư duy độc lập, phê phán, phản biện, tự vấn không ngừng là những yếu tố quyết định của một nền giáo dục tiến bộ và phổ quát. Không thể áp đặt một hệ tư tưởng bất luận nào đó – cho dù ưu việt đến mấy trong một thời – lên sự nghiệp giáo dục đào tạo con người. Nó chỉ kìm hãm tư duy sáng tạo. Triết lý giáo dục công lập ở Pháp dựa trên hai nền tảng : nhà trường thế tục và cộng hòa. Nhà nước tôn trọng và trung lập đối với mọi tín ngưỡng, chính kiến, tư tưởng, nhân sinh quan, triết học. Nhà trường là nơi hòa trộn mọi thành phần, không phân biệt nguồn gốc, chủng tộc, giai cấp xã hội của học sinh.

2- Nhân sự giảng dạy và nghiên cứu

Đại học, nơi tụ hội những tinh hoa của xã hội, mặc nhiên có vai trò làm gương mẫu cho mọi sinh hoạt. Nó phải là một môi trường lành mạnh, đạo đức để phục hồi và củng cố niềm tin của tuổi trẻ. Sự nghiệp của đại học là khai sáng tư duy, là đào tạo chất lượng cao về tri thức tổng quan và chuyên ngành. Những tiêu cực như giả dối, nạn dỏm trong nhân sự phải tuyệt đối vắng mặt, thày ra thày, trò ra trò. Đó là điều kiện tiên quyết của nền giáo dục nói chung mà đại học đi tiên phong. Người sinh viên phải được hưởng quyền nổi loạn trong học thuật. Họ có quyền tụ tập để tranh luận học thuật dưới mọi hình thức và về bất cứ chủ đề nào [5].

Đội ngũ nhân sự giảng dạy đại học cần phải có trình độ tiến sĩ theo tiêu chuẩn quốc tế, số lượng tiến sĩ đủ tiêu chuẩn này hiện nay quá nhỏ so với số sinh viên, hiện tượng thạc sĩ dạy cử nhân cần phải giảm đi đến mực tối thiểu. Chuyển giao tri thức chuyên môn cho sinh viên chỉ là một trong hai nhiệm vụ chính của giảng viên đại học, điều quan trọng không kém là nghiên cứu khoa học theo tiêu chuẩn quốc tế để cập nhật thường xuyên tri thức chuyên môn, đào sâu tăng trưởng kiến thức và tìm tòi sáng tạo. Tiến sĩ chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để thành giảng viên đại học, chức vụ này đòi hỏi một thời gian ‘sau tiến sĩ ‘(postdoc) khá gian nan để đạt tới sự độc lập chín chắn trong quá trình giảng dạy và khám phá, mở rộng trao đổi với các môi trường khác nhau để sàng lọc, đua tranh lành mạnh nhưng gay gắt. Tiêu chuẩn quốc tế được hiểu theo nghĩa sau đây:

(a) công trình khảo cứu khoa học đăng trên các tạp chí đẳng cấp quốc tế (hầu hết bằng tiếng Anh mà ISI thu thập). Trong hàng chục ngàn tạp chí của ISI, có nhiều cái cũng chỉ vừa phải về chất lượng, vậy có lẽ nên linh động hơn, đừng thái quá về vai trò quyết định của ISI. Trong mỗi ngành chuyên môn, ai cũng rõ cấp bậc nọ kia (xếp loại theo impact factor cao là một thí dụ) của các tạp chí để tự mình chọn mặt gửi vàng đến các tạp chí với hệ thống bình duyệt và phản biện nghiêm túc. Mỗi ngành nghề chuyên hẹp chỉ có chừng vài chục tạp chí đủ chất lượng cao mà ta cần tập trung vào đó.  (b) số lần trích dẫn (hay/và H index) các công trình khoa học bởi đồng nghiệp khắp thế giới, (c) sách giáo trình cao học phát hành bởi các nhà xuất bản uy tín (d) báo cáo trong hội nghị quốc tế và sự giao lưu thường xuyên với các cơ quan giảng dạy-nghiên cứu trên thế giới, (e) sự nghiệp đào tạo các nghiên cứu sinh và tiến sĩ, (f) đối với các ngành khoa học ứng dụng, văn bằng sáng chế và cộng tác với các công ty kỹ nghệ mang lợi nhuận cho cơ quan.

Ðó là ít nhiều hành trang thông thường của nhân viên giảng dạy-nghiên cứu của một đại học chuẩn mực quốc tế mà nền đại học cần đạt tới. Qua các tiêu chí  (a) – (f), ta thấy rõ sự liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu và giảng dạy, sự thăng chức thăng ngạch trong mỗi hàm nên tùy thuộc chủ yếu vào các công trình nghiên cứu khoa học. Cũng như ở nhiều nước phát triển cao, tổng số giờ giảng dạy trong một năm của giáo sư đại học ở Pháp chỉ có khoảng 130 giờ để thấy rõ tầm quan trọng mà họ phải bỏ hết thời gian còn lại làm nghiên cứu. Vì thế họ mang tên gọi là nhân viên giảng dạy-nghiên cứu (enseignant-chercheur).

Chương trình dài hạn đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế (bằng cách tuyển chọn sinh viên tài năng gửi đi soạn cao học, tiến sĩ và hậu tiến sĩ ở các nước khoa học tiền tiến) một đội ngũ mới giảng viên đại học để tiếp nối dần thế hệ trước, phải là ưu tiên hàng đầu của nền đại học. Đội ngũ nhân viên giảng dạy cần được coi là trọng tâm của mọi sinh hoạt trong đại học, ban quản lý chỉ có nhiệm vụ duy nhất là hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi sao cho được tối ưu hai sự nghiệp chính của giảng viên là chuyển giao tri thức và nghiên cứu khám phá. Ngoài ra vai trò quan trọng của hai môn Lịch sử Đảng và Triết học Mác- Lê khoảng 15% trong học trình của các ngành khoa học tự nhiên là điều hoàn toàn khác lạ với tiêu chuẩn quốc tế. Nên coi môn trước nằm trong kiến thức chung của triết học nhân loại và môn sau trong lịch sử  thăng trầm quốc gia. Trong hồ sơ các sinh viên trong nước sang ghi tên du học về ngành khoa học tự nhiên, hai môn kể trên có hệ số tính điểm khá cao chẳng thua các hệ số về toán, lý, hoá, sinh, ngoại ngữ. Ở các nước phát triển, không đâu có hai môn bắt buộc này trong học trình của các ngành khoa học tự nhiên. Nhiều bạn bè trên thế giới đã mất công sức giải bầy với đồng nghiệp và bộ máy hành chính của đại học mình khi họ xét hồ sơ tuyển chọn sinh viên Việt Nam sang du học. Ðể so sánh công bằng với sinh viên các nước khác trong việc tuyển chọn vào đại học, hai môn ‘không khoa học tự nhiên’ này bị loại bỏ tự động, làm lãng phí thời gian tiền của.

Rồi chuyện học hàm học vị nhiêu khê của hệ thống giáo dục hiện nay; nhiều người có học vấn thật bị đứng vào chỗ văn hoá giả tạo, và ngược lại. Chức giáo sư, phó giáo sư đại học cần phải hiểu theo những tiêu chuẩn phổ quát quốc tế, đó chỉ là chức vụ để giảng dạy-nghiên cứu với trách nhiệm cụ thể trong các đại học, chứ không phải là phẩm hàm quí tộc hình thức để quản lý hay hoạt động ngoài môi trường đại học. Nguyên tắc để xác nhận hai khả năng giảng dạy-nghiên cứu nói trên cần giản dị, minh bạch, không gây khó khăn bởi những thủ tục hành chính xa lạ với chất lượng nghiêm túc.

Ngoài vấn đề đội ngũ giảng dạy ra, quy chế tự chủ và tự do trong môi trường học thuật, chính sách đãi ngộ và đồng lương tương xứng, hướng nghiên cứu và phương pháp đào tạo, mở rộng cộng tác (theo hợp đồng dài ngắn hạn) với các cơ quan và chuyên gia nước ngoài là những điều vô cùng quan trọng cần thực hiện để đảm bảo cho sự thành công của đại học chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế. Sự liên kết mật thiết giữa Đại học và viện Khoa Học & Công Nghệ (VAST) nên phát huy tận lực, cơ chế hành chính của hai cơ quan cần điều hòa ra sao để hai bên cùng có lợi trong sự nghiệp nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu. Đó là điều mà các nước khoa học tiền tiến đã từ lâu thực hiện.

Tăng cường và xây dựng nhanh chóng cơ sở vật chất, phòng làm việc thường trực của nhân viên giảng dạy-nghiên cứu, thư viện phong phú với sách giáo trình và tạp chí khoa học quốc tế, máy tính và truy cập internet, cư xá cho sinh viên thuê giá rẻ, học bổng trợ cấp sinh viên chăm chỉ tài năng mà gia cảnh thiếu thốn.

Với hàng ngàn vạn tuổi trẻ trong và ngoài nước đang thành công tốt đẹp trong nhiều lãnh vực trên trường quốc tế, chúng ta tin tưởng rằng khi có môi trường thuận lợi, con người Việt còn có thể vươn cao hơn nữa. Thí dụ tượng trưng, trong các cựu sinh viên sang du học ở Pháp khoảng hơn mươi năm nay gần đây, một số đã trở thành giảng sư các Đại học hay nghiên cứu viên của Trung tâm Quốc gia Khảo cứu Khoa học (CNRS). Ðó là tiềm năng chất xám quý báu của dân tộc ta, chất xám ấy lại mang thêm một đặc điểm nữa mà hiếm các quốc gia khác có được, đó là sự phong phú đa dạng của các thành phần đến từ nhiều chân trời văn hóa khác nhau nhưng bổ túc cho nhau, từ Ðông qua Tây Âu, từ Bắc đến Nam Mỹ, Đông Bắc đến Tây Nam Á, Úc, được thử thách chọn lọc theo tiêu chuẩn quốc tế. Lại thêm biết bao tài năng, đặc biệt với thế hệ thứ hai, nằm trong cộng đồng ba triệu người Việt ở nước ngoài sinh hoạt trên khắp năm châu.

Thực ra vấn đề xuất cảng rồi sớm muộn trở thành giao lưu chất xám đã xảy ra từ lâu rồi ở các nước lân cận Việt Nam. Do lòng gắn bó với cội nguồn, môi trường hoạt động thoải mái thoáng đãng và chính sách đãi ngộ thích ứng ở các nước đó, phần đông các nhân tài đã trở về cố hương đóng góp cho sự phát triển kỳ diệu của nước họ, trong đó các đại học và viện công nghệ mang tầm quốc tế giữ vai trò không nhỏ.

Người viết tâm tình với lòng thành là nền đại học Việt Nam không thể không đạt tới chuẩn quốc tế, vấn đề chỉ là thời gian khoảng mươi năm. Nó đến sớm hay muộn là ở trong tay chúng ta từ chính quyền đến người dân hữu trách, và lời chúc đầu năm là chúng ta sẽ thành công nhanh hơn và trội hơn ước tính.

Tham khảo

[1] Kỷ Yếu Sĩ phu Thời nay, nxb Tri Thức (2008) Hà Nội, trang 161

[2] Phan Huy Đường, Tạp chí Tia Sáng (2010),

http://amvc.free.fr/PHD/LangThangChuNghia/TrietHoc-KhoaHoc.htm

[3 ] Trong cuốn giáo trình “Nhiệt động lực học và Vật lý thống kê, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội (1996), ngay ở trang 11, tác giả, một nhà vật lý, viết: Như Lenin đã chỉ rõ “ Khái niệm nhân quả của con người …”, điều chẳng liên đới chút nào đến toàn bộ nội dung cuốn sách.

[4] Nguyễn Văn An, nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên trưởng Ban Tổ chức TƯ Đảng, nguyên Chủ tịch Quốc hội qua những trả lời phỏng vấn “ Tuần Việt Nam ” ngày 12 tháng 12 năm 2010.

[5] Phạm Anh Tuấn, hội thảo “Sự xuống cấp văn hóa và đạo đức trong xã hội ngày nay” do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tổ chức ngày 27.11.2010 tại Hà Nội.

http://boxitvn.wordpress.com/2010/11/30/khi-tm-h%E1%BB%93n-con-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-b%E1%BB%8B-t%C6%B0%E1%BB%9Bc-do%E1%BA%A1t/