Việt Nam tụt hậu, trách nhiệm không nhỏ thuộc về những nhà “khoa học” và “trí thức”

Việt Nam tụt hậu, trách nhiệm không nhỏ thuộc về những nhà “khoa học” và “trí thức”

FB Trương Nhân Tuấn

18-3-2016

Nếu có tầm nhìn thì VN đã không mỗi ngày một tụt hậu như hôm nay. Trách nhiệm là do lãnh đạo, nhưng một phần không nhỏ là do những nhà “khoa học” và “trí thức”.

Một thí dụ đơn giản, Hà Nội, Sài Gòn… cũng như nhiều tỉnh thành khác. Khoảng mười năm trở lại đây, hễ mùa mưa đến là ngập lụt. “Hà Nội mùa này nước cũng như sông”. Sài Gòn cũng vậy, không kém.

Nguyên nhân do trời hay do người? Và đâu là “giải pháp”?

Cả chục năm rồi, mưa xuống là lụt, người dân dài cổ chờ “giải pháp”.

Người ta cần giải pháp chớ không cần nghe “lý thuyết”.

Người nông dân đồng bằng sông Cửu Long hiện nay đang khóc ròng, lớp khóc vì mất mùa, ruộng lúa cháy khô. Lớp khóc vì tiền tỉ nuôi con hàu, con tôm, con cua… tiêu tan thành mây khói. Mà một phần lớn dân nghèo khác khóc đến chảy máu mắt, vì giá nước ngọt trở nên đắt đỏ.

Người dân cần “giải pháp” chớ không cần nghe “khoa học gia” dạy bảo phải trồng cây gì, nuôi con gì.

Ý kiến của những “khoa học gia” VN, trên “lý thuyết” đều rất hay. Vấn đề là “trái mùa”.

Chuyện nhiễm mặn, chuyện trái đất hâm nóng và thay đổi thời tiết, chuyện các nước xây dựng đập ở thượng nguồn sông Cửu Long, cũng như chuyện lụt lội mùa mưa ở Hà Nội, Sài Gòn… người ta đã biết trước hàng chục năm rồi. Người ta cần giải pháp. Người ta mỏi cổ chờ mà giải pháp không thấy.

Hôm qua tôi đã viết, nếu có tâm và có tầm, thì trước tiên người ta đào tạo “vốn con người”. Đài Loan, Đại Hàn là hai nước có điểm tương đồng với VN, sau độc lập, kinh tế đặt nền tảng lên nông nghiệp. Hai nước này “hiện đại hóa, công nghiệp hóa” đất nước thành công, từ thập niên 70, 80. Đóng góp của nông nghiệp cho GDP từ 40%, chiếm 70% dân số, xuống còn khoảng 3% và không tới 10% dân số. Còn Việt Nam, bốn thế hệ đã qua là bốn đời nông dân tiếp bước. Dân số sống về nông nghiệp, đặc biệt ở miền nam (lục tỉnh), vẫn không thay đổi với thời gian, lên trên 80%.

Nếu có “tầm”, lý ra VN đã phải kiểm soát các đập nước ở thượng nguồn. Bởi vì VN không thể ngăn cấm các nước khác xây đập. Vì vậy, để không bị lệ thuộc, VN phải “kiểm soát” được các đập, bằng cách “đầu tư” xây dựng. VN không “nắm” được, vì thế sinh mạng ĐBSCL nằm trong tay các nước thượng nguồn.

Và nếu có tâm và có tầm, hạ tầng cơ sở (hệ thống điện, nước, đường xá, cầu cống, trường ốc…) lý ra cũng phải được xây dựng từ lâu. “Hệ thống nước uống” của nông dân vẫn là những lu nước bên hè (như trăm năm trước). Đường xá nhiều nơi vẫn là chèo xuồng… Nếu hệ thống giếng nước ngọt (miễn phí) dưới thời (chó đẻ) Mỹ, Diệm, Thiệu, Kỳ… được tiếp tục xây dựng thì dân đâu đến đỗi khóc ra máu mắt như hôm nay ?

Hạn hán khắp nơi, bây giờ khoa học gia bày ra chuyện nuôi tôm nuôi cua, thật là trái khoáy.

Những năm trước, khi má tôi còn khỏe, năm nào cận tết cũng cho xe chở về quê (Bạc Liệu) vài chục tấn gạo để “cứu đói”. Mĩa mai, đây là xứ của “công tử Bạc Liêu”, ruộng cò bay thẳng cánh.

Khu vực quê ngoại của tôi, từ khi nước nhiễm mặn, dân người ta cũng bỏ ruộng, đào mương nuôi tôm. Một hai mùa đầu bà con trúng đậm. Nhưng sang các mùa sau, tôm chết như rạ. Thay nước, đổ thuốc… đủ cách, mà cách nào dân cũng chết. (Tôm nhiễm thuốc trụ sinh bán không nước nào mua, cũng chết). Bơm nước rửa ruộng, thì ngay nước ngọt rửa ruộng cũng đã nhiễm mặn. Lúa trồng không được. Rốt cục trồng cây gì, nuôi con gì dân cũng chết. Người dân bỏ xứ đi các nơi ở đợ.

Năm nào cũng vậy, hiếm khi nhìn thấy người dân quê ở đây một nụ cười. Bây giờ nghe nói hạn hán ghê lắm, không có nước ngọt để uống.

Má tôi càng già trí nhớ càng mông lung. Không nhớ tới làng quê không chừng lại khỏe!

Và bây giờ không chỉ riêng quê ngoại của tôi chết vì nhiễm mặn, vì hạn hán. Các vùng khác, trước kia toàn là dân “phú hộ”, nay cũng bắt đầu than trời!

Kế hoạch thì phải tính trước 10 năm, 20 năm. Không cần ai dạy, lũ đến, người dân cũng biết mình phải “trồng cây gì, nuôi con gì”.

Mà bây giờ người dân cần nước ngọt.

Để Thấy Mình Hạnh Phúc

Để Thy Mình Hạnh Phúc

 Dưới đây nhắc bạn nhớ lại những viên ngọc quý mà bạn đã có, chỉ cần lấy ra dùng là sẽ có hạnh phúc.

 Sau đây là 7 điều quán chiếu hạnh phúc:

1/ Ta đang còn sống

2/ Ta có sức khỏe
3/ Ta có đủ sáu căn
4/ Ta có tự do
5/ Ta có tiện nghi vật chất
6/ Ta có tình thương
7/ Ta có sự hiểu biết

 1/ Ta đang còn sống
     

Trên đời này quý nhất là sự sống. 

 Tất cả sinh vật từ côn trùng, sâu bọ, thú vật cho đến con người, loài nào cũng tham sống sợ chết. 

 Giả sử bây giờ phải lựa chọn giữa trúng số độc đắc mà chết và sạt nghiệp mà sống thì bạn sẽ lựa cái nào ? 

 Ở đời ai cũng lo đi tìm tiền của, nhưng thật ra tiền của chỉ để bảo đảm sự sống an toàn, tiện nghi. 

 Có nhiều người giàu sang sẵn sàng chi hết tiền của để cứu lấy mạng sống.

 Như thế đủ thấy sự sống quý hơn tiền bạc, quý hơn gấp trăm ngàn, triệu ngàn lần. 

 Ngay cả một tỷ đô la cũng không mua nổi mạng sống khi bị bệnh ung thư hay sida (aids). Vậy mà sáng nay mở mắt thức dậy còn sống, bạn có thấy mình hạnh phúc không?

 Mỗi khi cảm thấy khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng thì hãy nhớ lại ta đang còn sống đây. Còn sống thì còn tất cả.

 2/ Ta có sức khỏe

   Sự sống quý nhất trên đời, sức khỏe quý nhất trong sự sống. 

 Có sức khỏe không có nghĩa là phải khỏe như lực sĩ thế vận hội mà chỉ cần không đau nhức, bệnh hoạn, không có bệnh trầm kha, nan y, v.v…

 Ở đời mấy ai tránh khỏi bệnh tật, không bệnh này thì bệnh nọ. 

 Bệnh nặng như ung thư hay sida phải có thuốc giảm đau như morphine mới chịu nổi, nếu không thì đau đớn rên siết như bị hành hình ở địa ngục, bệnh nhẹ như cảm cúm, sổ mũi, nhức đầu cũng làm cho ta mệt mỏi, khó thở, đau nhức. 

 Mỗi khi khỏe mạnh, không bệnh hoạn thì ta hãy mừng rỡ ý thức đó là một hạnh phúc

 Có nhiều tiền mà bệnh hoạn liên miên, ăn không được, ngủ không yên, hết nằm nhà thương này đến nhà thương nọ, có tiền như vậy đâu có sướng !

 Mỗi khi cảm thấy khổ đau, chán nản hay tuyệt vọng thì hãy nhớ lại ta đang còn sức khỏe đây. 

 Còn sức khỏe thì còn làm được tất cả.

 3/ Ta có đủ sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý)

 Có nguời đầy đủ sức khỏe nhưng lại bị mù, điếc, hoặc câm, què, tàn tật, v.v… 

 Những người này dù có tiền, có sức cũng đâu sung sướng gì ! 

 Bạn có thể tưởng tượng nếu bây giờ bị mù thì bạn sẽ ra sao ? 

 Chỉ cần nhắm mắt lại trong năm, mười phút đi tới đi lui trong nhà mình xem. 

 Bạn có hiểu được nỗi khổ của người mù không ? Vậy mà bạn đang còn đôi mắt sáng thấy được trời xanh, mây trắng, tai nghe được chim hót, nhạc hay, mũi ngửi được mùi cơm thơm, miệng nói năng được với người thương, thân không què quặt, tâm không điên loạn

 Như vậy còn đòi hỏi gì hơn? 

 Chỉ cần mất đi một căn thôi đời bạn sẽ mất đi rất nhiều ý nghĩa.

 Dù ở trong cảnh khổ nào đi nữa, nhớ lại mình còn nguyên vẹn sáu căn cũng đủ an ủi và xóa tan đi mọi niềm đau.

 4/ Ta có tự do

  Tự do ở đây là không bị tù đày chứ không có nghĩa chính trị hay tôn giáo. 

 Hiện tại bạn có đang ở tù không? 

 Có đang bị trói buộc, xiềng xích không ? 

 Có ai cấm bạn đi đứng nói năng, ăn uống không? 

 Có ai đánh đập theo dõi kiểm soát bạn không ? 

 Bạn có biết đời sống trong tù ra sao không? Dù đó là tù ở Pháp, ở Mỹ? 

 Có thể bạn nghĩ tù ở các xứ văn minh giàu có thì sướng hơn ở xứ nghèo chăng? 

 Ở Mỹ nhân viên cai tù không hành hạ tù nhân nhưng chính những người tù đánh đập, áp bức, hiếp dâm lẫn nhau rất dã man.

 Ngay bây giờ nhìn lại, bạn có thấy mình được tự do đi đứng nói năng không ? 

 Nhớ ai thì lên xe rồ máy đi thăm, thèm ăn món gì thì ra chợ mua hoặc đi nhà hàng, v.v… 

 Có biết bao người đang bị tù đày khổ sở, trong đầu chỉ ao ước được tự do như bạn là họ sung sướng lắm. 

 Vậy mà đang sống tự do bạn có cảm thấy hạnh phúc không? 

 Nếu không thì bạn hãy ý thức và nhớ lại đi, đừng để khi mất tự do rồi mới mơ ước thì quá muộn.

 5/ Ta có tiện nghi vật chất.

 Tiện nghi vật chất không hẳn là nhà cao cửa rộng, xe hơi, ti vi, tủ lạnh, máy giặt, máy rửa chén, v.v… 

 Tiện nghi ở đây là những thứ căn bản mà phần đông chúng ta đều có, đó là cơm ăn, áo mặc, chỗ ở che mưa nắng, không phải đi ăn xin, ngủ đầu đường xó chợ. 

 Nhiều người ở Việt Nam vẫn tưởng rằng sống ở Pháp hay Mỹ chắc sướng lắm vì đầy đủ tiện nghi, họ đâu biết là ở đâu cũng có kẻ giàu người nghèo. 

 Ngay tại Paris, thủ đô ánh sáng, hàng ngày vẫn có nhiều người ăn xin vô gia cư, tiếng pháp gọi là SDF (sans domicile fixe), ngửa tay đi xin tiền trong xe điện ngầm (métro), tối đến họ chui vào những gầm cầu thang để ngủ.; như ở Mỹ cũng có Homeless vậy.

 Nhìn lên chẳng bằng ai, nhưng nhìn xuống thì ta vẫn còn may mắn hơn nhiều người

 Hãy nhìn lại hoàn cảnh của mình, bạn có đói đến nỗi thiếu ăn không ? 

 Có nghèo đến nỗi không còn mảnh vải che thân ? 

 Nếu chưa đến nỗi như vậy thì bạn hãy xem mình đầy đủ. 

 Khi tâm biết đủ (tri túc) thì bao nhiêu cũng đủ, khi tâm tham muốn đòi hỏi thì bao nhiêu cũng không đủ. 

 Người biết đủ là người giàu có hạnh phúc vì không thấy thiếu thốn, người tham lam keo kiệt dù có nhiều tiền vẫn là người nghèo vì không bao giờ thấy đủ.

 6/ Ta có tình thương

 Nhiều người khổ sở vì cảm thấy cô đơn, không có ai thương mình hết. 

 Không ai thương mình bởi vì mình đâu có thương ai. 

 Khi trong lòng ta tràn đầy tình thương thì tự nhiên nó tỏa ra và mọi người sẽ tìm đến. 

 Giống như mùa xuân hoa nở thơm ngát thì tự động ong bướm bay tới xung quanh

 Ai cũng có một trái tim, tiếng Hán là tâm, bản chất của tâm (tim) là thương yêu. 

 Ta có dư tình thương cho chính mình và cho kẻ khác. 

 Chỉ cần nhớ lại mình có trái tim thương yêu và đem ra xử dụng

 Hiện tại bạn có ai là người thân thương không? 

 Có cha mẹ, anh em, vợ con, bạn bè không? 

 Có ai đang thương và lo lắng cho bạn không? 

 Có tình thương, biết thương và được thương là một hạnh phúc lớn nhất trên cõi đời này.

 7/ Ta có sự hiểu biết

 Hiểu biết ở đây là hiểu biết đạo lý chứ không phải kiến thức bằng cấp. 

 3 điều Thương Ghét

 1) Ða số người thường suốt ngày sống trong sự thương ghét. Người nào vừa ý, hợp ý mình thì thương, kẻ nào trái ý mình thì ghét.

 2) Khi bắt đầu biết đạo thì tập tánh bình đẳng, không thương người này ghét người kia.

 3) Sau khi hiểu đạo thì chỉ còn tình thương. Thấy ai cũng là bà con thân thuộc của mình từ nhiều đời, và thấy ai cũng đáng thương hết. 

 Anh chị Thụ & Mai gởi

CHO VÀ NHẬN

CHO VÀ NHẬN

Một hôm, một sinh viên trẻ có dịp  dạo chơi cùng giáo sư của mình. Vị giáo sư này vẫn thường được các sinh viên gọi thân mật là “người bạn của sinh viên” vì sự thân thiện và tốt bụng của ông đối với họ.
Trên đường đi, hai người chợt thấy một đôi giày cũ nằm ở giữa đường. Họ cho rằng đó là đôi giày của một nông dân nghèo làm việc ở cánh đồng gần bên, và  người ấy đang chuẩn bị kết thúc ngày làm việc của mình.
Anh sinh viên quay sang nói với vị giáo sư: “Chúng ta hãy thử trêu chọc người nông dân xem sao. Em sẽ giấu đôi giày của ông ta rồi thầy và em cùng trốn vào sau những bụi cây kia để xem thái độ ông ta ra sao khi thấy bị mất giày.”
Vị giáo sư ngăn lại: “Này, anh bạn trẻ, chúng ta đừng bao giờ đem những người nghèo ra mà trêu chọc để mua vui cho bản thân. Nhưng em là một sinh viên khá giả, em có thể tìm cho mình một niềm vui lớn hơn nhiều nhờ vào người nông dân này đấy. Em hãv đặt một đồng tiền vào trong mỗi chiếc giày và chờ xem phản ứng ông ta ra sao.”
Người sinh viên làm như lời vị giáo sư chỉ dẫn, sau đó cả hai cùng trốn vào sau bụi cây gần đó.
Chẳng mấy chốc người nông dân đã xong việc và băng qua cánh đồng đến nơi đặt giày và áo khoác của mình. Vừa mặc áo khoác vừa xỏ chân vào một chiếc giày, bác nông dân bỗng thì cảm thấy có vật gì cứng cứng bên trong. Ông ta rút chân ra, cầm gìầy lên xem thì đó là một đồng tiền.

Sự kinh ngạc bàng hoàng hiện rõ trên gương mặt ông. Ông ta chăm chú nhìn đồng tiền, lật hai mặt đồng tiền qua lại và ngắm nhìn thật kỹ. Rồi ông nhìn khắp xung quanh nhưng chẳng thấy ai. Lúc bấy giờ ông bỏ đồng tiền vào túi, và tiếp tục xỏ chân vào chiếc giày kia. Sự ngạc nhiên của ông dường như được nhân lên gấp bội, khi ông tìm thấy đồng tiền thứ hai bên trong chiếc giày. Với cảm xúc tràn ngập trong lòng, người nông dân quì xuống, ngước mặt lên trời và đọc to lời cảm tạ chân thành của mình. Ông bày tỏ sự cảm tạ đối với bàn tay vô hình nhưng hào phóng đã đem lại một món quà đúng lúc cứu giúp gia đình ông khỏi cảnh túng quẫn người vợ bệnh tật không ai chăm sóc và đàn con đang thiếu ăn.
Anh sinh viên lặng người đi vì xúc động, nước mắt giàn giụa. Vị giáo sư lên tiếng: “Bây giờ em có cảm thấy vui hơn lúc trước nếu như em đem ông ta ra làm trò đùa không?” Người thanh niên trả lời: “Giáo sư đã dạy cho em một bài học mà em sẽ không bao giờ quên. Đến bây giờ em mới hiểu được ý nghĩa thật sự của câu nói mà trước đây em không hiểu: “Cho đi là hạnh phúc hơn nhận về”.

CẢM ƠN CUỘC SỐNG

CHO VA NHAN*Nếu bạn thấy đêm nay khó ngủ – Cứ nghĩ đến những kẻ không nhà chẳng nệm ấm chăn êm.

*Nếu bạn gặp một ngày tồi tệ nơi làm việc – Hãy nghĩ đến những người đã mấy tháng nay không tìm được việc làm.

*Nếu bạn chán nản vì mối quan hệ xấu đi – Hãy nghĩ tới những kẻ không bao giờ biết hương vị của thương yêu và được người yêu thương lại.

*Nếu bạn buồn phiền vì thêm một cuối tuần vô vị trôi qua – Hãy nghĩ tới những người phụ nữ quẫn bách, quần quật cả ngày, suốt tuần không nghĩ, chỉ mong kiếm được chút tiền còm nuôi mấy miệng ăn.

*Nếu bạn hỏng xe dọc đường, phải cuốc bộ vài dặm vài mới tìm ra được người giúp đở – Hãy nghĩ tới những ai liệt cả đôi chân, luôn khao khát được bước đi như bạn.

CHO NHAN 1
*Nếu bạn cảm thây đời mình bị mất mát và băn khoăn về ý nghĩa kiếp người – Xin bạn hãy biết ơn cuộc sống vì có nhiều người đã không được sống hết tuổi trẻ của mình để có những trải nghiệm như bạn.
*Nếu bạn cảm thấy mình là nạn nhân của những ai hay cay nghiệt, dốt nát, nhỏ nhen, nghi kỵ – Hãy nhớ rằng việc đời có khi còn tệ hại hơn thế rất nhiều.

S.T.

OAN KHIÊN

OAN KHIÊN

Lm. Vĩnh Sang, DCCT,

 Trích EPHATA 685

 Trong tuần thứ năm Mùa Chay, Hội Thánh cho chúng ta nghe chuyện bà Susanna trong sách Đanien ( Sách Đanien chương 13 ), câu chuyện thật kỳ thú vì đan xen nhiều tình tiết thú vị. Câu chuyện này được trình bày làm nền để câu chuyện về người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình trong Tin Mừng được nổi bật lên ( Ga 8, 1 – 11 ).

Bà Susanna là nạn nhân của hai người đàn ông, họ là thầm phán kỳ lão trong dân, họ là người có chức có quyền, do lòng dục vọng bất chính, không thỏa mãn được lòng tà, họ bày mưu kiếm cớ để vu oan và kết tội bà, kết cục bà bị lôi ra “tòa án nhân dân”, với những lời buộc tội của hai tên thủ ác mưu thâm, bà bị oan ức nhưng không làm sao minh oan được. Thân phận là người đàn bà, loại người không có quyền tự bào chữa, kẻ tố cáo và kết án lại là kẻ có quyền, có thừa thế lực và lòng tham. Chắc chắn bà phải chết. Bản án tử hình đã được tuyên, đây là loại “án bỏ túi”.

Trong cơn tuyệt vọng, Kinh Thánh ghi lại thái độ phản ứng của bà: Bấy giờ bà Susanna kêu lớn

tiếng rằng: “Lạy Chúa hằng hữu, Ðấng thấu biết mọi bí ẩn và mọi sự trước khi xảy ra, Chúa biết họ làm chứng gian hại con; và đây con phải chết, dù con không làm điều gì mà họ ác ý vu khống cho con”.

 Điều kỳ diệu là, để gỡ thế bí và cứu sống bà, Thiên Chúa lại sử dụng một đứa trẻ, không phải là

một người có quyền thế, không phải là một kẻ có chức tước hoặc lão niên, nhưng là một đứa trẻ.

Đanien đã mạnh dạn đứng ra giữa hội đồng, không khiếp sợ uy lực của kẻ ác, Đanien lớn tiếng bày tỏ sự thât về lòng dạ của kẻ thủ ác, Đanien nói về bản chất của sự việc: “Hỡi lão già độc ác, các tội xưa kia ông đã phạm, giờ đây lại tái phạm, ông đã xét xử bất công, đã lên án kẻ vô tội và tha cho người có tội, mặc dầu có lời Chúa phán: “Ngươi chớ giết kẻ vô tội và người công chính”.

Kết thúc vụ án, kẻ ác phải bị chết, người oan được giải oan, mọi người vui mừng vì nhận ra

quyền năng của Thiên Chúa: “Chiếu theo luật Môsê, họ lên án xử tử hai ông, và ngày hôm đó máu người vô tội khỏi đổ oan”.

Lịch sử con người cứ tiếp diễn như một vòng tròn, Kinh Thánh ghi lại những kinh nghiệm của con người về tội lỗi của mình và sức mạnh của quyền năng Thiên Chúa. Đọc Kinh Thánh giữa cuộc sống hôm nay, chúng ta không khỏi ngao ngán vì có quá nhiều những vụ án oan sai liên tục diễn ra trên đất nước chúng ta, có quá nhiều vụ kết án người vô tội và tha bổng cho kẻ có tội.

Có những vụ án đã được phanh phui, kẻ bị oan đã được giải oan, nhưng kẻ gây ra án oan vẫn nhởn nhơ thăng quan tiến chức.Có những vụ án mà gia đình, cha mẹ của tù nhân kéo lê thân già đi khắp nơi kêu oan cho con, bao nhiêu năm tháng sống vật vã ngoài đường ngoài chợ, đến hết cửa cơ quan này rồi lại cổng cơ quan khác, mùa đông rét mướt hoặc mùa hè nòng nực, râu tóc bạc phơ theo năm tháng và dấu thời gian hằn trên gương mặt khắc khổ, con vẫn ở tù, án vẫn cứ trả đi trả về không kết luận, tuổi xuân qua đi chôn vùi cả tương lai cuộc đời. Có những vụ án kẻ oan chết một cách uất ức, gia đình nạn nhân sống trong tủi nhục không lối gỡ, đành ngậm hờn về chốn vĩnh hằng. Ba năm qua, hơn 200 người chết trong đồn CA là những án gì ?

Là người Kitô hữu, qua câu chuyện bà Susanna, Kinh Thánh khuyên chúng ta tin tưởng vào

Chúa, hãy nhìn lên Chúa và kêu cầu Ngài. Chúa nghe tiếng kẻ oan khiên và ra tay cứu vớt. Chúa có cách của Chúa, lắm khi chúng ta không hiểu nổi, Chúa cứu bà Susanna bằng cách sử dụng một đứa trẻ con. Chúa cứu cả thế giới này bằng một trẻ thơ vấn tả đặt nằm trong máng cỏ nơi một hàng bò lừa. Con rắn hiện thân của sự gian tà và độc ác, nó vẫn là thứ gian tà và độc ác không thay đổi, nhưng nếu người Do Thái biết nhìn lên nó theo lời dạy của Chúa, biết nhìn vào sự ác bằng một tâm hồn lắng nghe tiếng Chúa, tin tưởng và yêu mến Chúa thì sẽ thoát chết. Có sự ác nào hơn sự ác con người giết chết Con Thiên Chúa, con người bêu Con Thiên Chúa lên, con người đâm thâu Con Thiên Chúa, nhưng ngay khi ấy, nếu con người biết nhìn lên Đấng bị đâm thâu thì sẽ được cứu. Lời khuyên chân chính vẫn là tin tưởng, kêu cầu và phó thác cho Chúa khi chúng ta “đi qua lũng âm u”.Tuy nhiên, Kinh Thánh không chỉ trình bày cho chúng ta hướng sống như trên, Kinh Thánh còn kể cho chúng ta nghe về sự can đảm và dám nói sự thật của trẻ Đanien. Đanien bất chấp quyền lực thế gian, bất chấp vai vế, chức vụ thế gian, bất chấp sự sợ hãi về hậu quả của việc nói lên sự thật và bất chấp những nguy hiểm có thể đến với mình, những rắc rồi đến với những người thân của mình. Đanien mạnh dạn nói lên sự thật, lên án bất công, minh oan cho người vô tội. Chúa không làm phép lạ bằng cách hô biến, nhưng Chúa cần có người cộng tác với Chúa để bày tỏ quyền năng và tình thương.

Có ai làm Đanien hôm nay không ?

Lm. Vĩnh Sang, DCCT,

tuần 5 Mùa Sám Hối 2016

Ba bí mật dẫn đến hạnh phúc

Ba bí mật dẫn đến hạnh phúc

NEW YORK CITY, New York – Đối với con người có lẽ hạnh phúc là điều quan trọng nhất trong cuộc sống. Nhưng như thế nào là hạnh phúc?

Cuộc nghiên cứu về sự phát triển của con người ở trường đại học Harvard là một trong những cuộc nghiên cứu được tiến hành trong thời gian lâu nhất trong lịch sử, để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “Làm sao để hạnh phúc?”. Bác sĩ tâm lý Robert Waldinger, giám đốc đứng đầu của cuộc nghiên cứu cho biết, kết quả đã chỉ ra ba bí quyết để đem đến hạnh phúc cho con người.

Cuộc nghiên cứu được tiến hành với sự tham gia của hai nhóm sinh viên nam trong suốt 75 năm, bắt đầu từ năm 1938.

– Nhóm thứ nhất bao gồm 268 sinh viên năm thứ hai của trường đại học Harvard, đứng đầu là giáo sư George Vaillant.

– Nhóm thứ hai bao gồm 456 thanh niên 12 đến 16 tuổi sinh sống ở thành phố Boston, đứng đầu là giáo sư Sheldon Glueck.

Cuộc nghiên cứu khảo sát về cuộc sống của nhóm người tham gia (trong đó bao gồm cuộc sống hôn nhân, sự hài lòng về công việc, và các hoạt động xã hội khác) mỗi hai năm và theo dõi sức khỏe, thể chất của họ (bao gồm chụp X-quang, xét nghiệm máu, nước tiểu và siêu âm tim) mỗi năm năm.

HANH PHUC

Và điều mà các nhà nghiên cứu nhận ra rằng chính mối quan hệ tốt đẹp giúp con người trở nên vui vẻ hơn và khỏe mạnh hơn. Điều này chính là chìa khóa của hạnh phúc. Vậy ba bí mật của hạnh phúc là gì?

  1. Mối quan hệ thân thiết và gần gũi

    Đàn ông trong cả hai nhóm nghiên cứu nếu gần gũi với gia đình, bạn bè và cộng đồng có xu hướng hạnh phúc và khỏe mạnh hơn so với những người ít hoặc không tương tác. Người ta nhận ra rằng cô đơn làm con người cảm thấy ít hạnh phúc hơn, có thể chất và tinh thần tồi tệ hơn.

Ngoài ra trong bảng đánh giá của tạp chí tâm lý xã hội Compass vào năm 2014, sự cô đơn có thể ảnh hưởng đến chức năng tâm thần giấc ngủ và làm tăng nguy cơ về bệnh tật.

  1. Hạnh phúc là dựa vào chất lượng của mối quan hệ chứ không phải là nhiều mối quan hệ xung quanh

    Các cặp vợ chồng kết hôn cho biết, nếu như họ liên tục tranh luận với nhau và ít gần gũi nhau thì họ cảm thấy ít hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, chất lượng của mối quan hệ phụ thuộc phần nào vào tuổi tác. Cuộc nghiên cứu công bố trên tạp chí Psychology and Aging cho biết chất lượng của một mối quan hệ thật sự quan trọng hơn nhiều so với những người có quá nhiều mối quan hệ nhưng không thật sự gắn bó.

  2. Hôn nhân bền vững

    Gần gũi với những người thân không chỉ tốt cho sức khỏe mà còn giúp cho tinh thần thêm thoải mái. Cuộc nghiên cứu cho thấy, so với những người từng ly hôn, thì những người vẫn giữ được hôn nhân bền vững có khả năng trí nhớ tốt hơn khi về già.

Với ba yếu tố trên, chúng ta có thể thấy rằng, một mối quan hệ đúng nghĩa và hỗ trợ lẫn nhau giúp cho sức khỏe luôn khỏe mạnh. Và điều này dẫn đến hạnh phúc của mỗi con người.

Xã hội chúng ta thường nhấn mạnh vào sự giàu có và sự nghiệp để đánh giá sự hạnh phúc. Nhưng theo giáo sư Waldinger, sau 75 năm, cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người hạnh phúc chính là những người có mối quan hệ tốt đẹp và gần gũi với gia đình, bạn bè, và cộng đồng. (N.A)

S.T.

BÀI HỌC TỪ BỤI TRO

BÀI HỌC TỪ BỤI TRO

Hoa và Rác

      Người giúp việc vừa lau chùi bàn ghế trong phòng khách vừa ngắm nghía bình hoa hồng tươi đẹp đang được trân trọng đặt trên mặt bàn bóng láng.
Thấy người giúp việc chăm chú nhìn mình với ánh mắt cảm phục, hoa hồng tỏ ra kiêu hãnh và nói:

– Anh xem trên đời nầy có hoa nào vừa đẹp, vừa sang, vừa thơm ngát như tôi không?

Người giúp việc đáp:
– Sớm muộn gì thì mầy cũng chỉ là rác!

Hoa hồng cảm thấy bị xúc phạm nặng nề trước lời nói đó, nên tỏ ra gay gắt:

– Ta xinh đẹp thế nầy, ta đang toả hương thơm ngát thế nầy, ai cũng quý mến ta; ta được tôn vinh trong phòng khách sang trọng thế nầy, vậy mà nhà ngươi dám xỉ nhục ta, dám gọi ta là rác ư!

Nhà ngươi xúc phạm ta quá đáng.

Người giúp việc bồi thêm:
– Mầy sẽ là bụi tro!

Hoa hồng tức tối đáp lại :
– Nhà ngươi là kẻ ăn nói ngang ngược! Nhà ngươi có biết trong Ngày Tình Yêu, tất cả các đôi nam nữ trên thế giới đều chọn ta để đem tặng cho những người bạn tình yêu quý nhất đời của họ hay không? Nhà người có biết là trong ngày đó, ta được các hoàng tử, các công chúa, những chàng công tử tài hoa, các cô thiếu nữ cao sang đài các… nâng niu ta trên tay, ôm ấp ta vào lòng, quý trọng ta đến thế nào không? Thế mà nhà ngươi dám cho rằng ta là bụi tro ư! Thật không có lời nào xúc phạm đến phẩm giá của ta như những lời ngươi vừa nói.

Người giúp việc bồi tiếp :
– Mầy sẽ là phân bón!

Hoa hồng tỏ ra phẫn nộ :
– Ôi ! Trời ơi là Trời ! Có ai ăn nói hỗn hào như ngươi không! Ta là Hoa Hồng, là Nữ Hoàng của các loài hoa. Nhà ngươi xúc phạm đến ta là xúc phạm đến các chủng loại hoa hồng nói riêng, đồng thời xúc phạm cả mọi loài hoa trên đời, vì ta là Hoa Hồng, là Nữ Hoàng của các loài hoa.

Hoa Hồng giận quá! Cơn giận bốc lên ngùn ngụt khiến hoa hồng ngất đi một hồi lâu mới tỉnh.

Thế là từ lúc đó, cơn giận sôi sục trong lòng đoá hoa hồng khiến nó không ăn, không ngủ, không một phút giây bình an… Và thế là nó héo đi nhanh chóng.

Qua ngày hôm sau, chủ nhà thấy hoa hồng đã héo, vứt nó ra hố rác. Thế là hoa hồng kiêu sa, đẹp lộng lẫy, toả hương thơm ngát làm đắm đuối lòng người, bây giờ trở nên rác, đúng như lời người giúp việc đã nói về nó.

Bởi vì rác hoa hồng nằm chung với các thứ rác khác nên bốc mùi hôi, do đó chủ nhà bảo người giúp việc đốt rác đi. Thế là hoa hồng bây giờ trở thành tro! Đúng như lời người giúp việc đã nói về nó.

Mấy ngày sau, chủ nhà lại sai người giúp việc hốt tro trong hố rác trộn chung với các thứ phân chuồng để đem đi bón ruộng. Thế là hoa hồng bây giờ đã trở thành phân bón! Đúng như lời người giúp việc đã nói về nó, mới ngày hôm kia.

Ôi, kiếp hoa hồng là thế, hôm nay là hoa đẹp lộng lẫy kiêu sa toả hương thơm ngát, ngự trị trong phòng khách xa hoa sang trọng, mai sẽ là rác thối, là tro bụi và cuối cùng là phân bón!

Xin ngẫm lại mà xem. Thân xác chúng ta rồi cũng như thế thôi. Dù hôm nay chúng ta rất xinh đẹp được nhiều người mê say quyến luyến; dù hôm nay chúng ta giàu có sang trọng được mọi người kính nể; dù hôm nay chúng ta thông minh, tài trí được người ta tôn trọng… thì mai đây thân xác chúng ta cũng chỉ là rác, là tro bụi và là phân bón thôi.

Nghi thức xức tro trong ngày thứ Tư Lễ Tro nầy nhắc nhở ta luôn nhớ rằng mai đây chúng ta chỉ là bụi tro.

Ý tưởng nầy được thánh vịnh hôm nay nhắc lại : “Hỡi người! Hãy nhớ mình là bụi tro. Mai sau người sẽ trở về bụi tro.”

Bài học bụi tro

Khi biết thân phận mình rồi chỉ là tro bụi, tôi rút được nhiều bài học hay:
Tôi sẽ không tự cao tự đại, không kiêu căng, vì phận mình là tro bụi, là thứ thấp hèn mà tự nâng mình lên, tự cho mình là lớn lao cao cả hơn người khác là chuyện nực cười.

Tôi sẽ không khinh dể, không xem thường người khác, vì mình là tro bụi thì có đáng xá gì mà dám khinh dể người ta!

Tôi sẽ không chê bai, phê phán, chỉ trích người khác vì mình là tro bụi mà dám lên mặt chê bai khích bác người khác thì thật phi lý và điên rồ.

Và khi bị người ta xem thường, khinh dể, tôi sẽ không hờn, không giận và vui lòng chịu đựng vì mai đây mình chỉ là bụi tro; vô số bụi tro vẫn thường bị chà đạp hằng ngày dưới chân con người cũng là chuyện bình thường thôi !

Hơn hết, một khi biết mai đây mình chỉ là bụi tro, tôi sẽ không dại dội đầu tư tất cả thời giờ, công sức, tài năng, trí tuệ… của tôi để chăm lo cho thân xác nầy, để rồi rốt cuộc, thân xác nầy trở thành bụi tro.

Trái lại, tôi phải dành nhiều thời giờ hơn, nhiều công sức hơn, nhiều tiền bạc hơn… để đầu tư cho đời sống thiêng liêng của tôi, nhờ đó, một khi thân xác nầy trở về với bụi tro thì linh hồn tôi sẽ được chiếm hữu sự sống hạnh phúc vĩnh cửu trên quê trời.

S.T.

Văn hóa… nhang khói

Văn hóa… nhang khói
Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Tôi ra tù năm 1982. Bảy năm qua các trại cải tạo, tôi hiểu được những người Cộng Sản nhiều hơn ngày trước. Sau khi ra tù, về lại Sài Gòn, tôi lại hiểu được những người Cộng Sản hơn những ngày còn trong nhà tù. Cán bộ coi tù dù có chức phận đi nữa thì số phận cũng không hơn gì thằng tù, cũng thâm sơn cùng cốc, cũng bữa sắn bữa ngô, thằng tù phải lên rừng xuống rẫy giữa mùa Đông giá rét, hay trời Hè nóng nực, thì thằng cai tù cũng phải vác súng đi theo. Gia tài cai tù thì áo quần mỗi năm cũng chỉ hai bộ, đôi dép râu vừa mang trong chân vừa để chà lưng lúc tắm, cũng có thể để gối đầu lúc ngủ, thêm một cái bàn chải đánh răng, một cái chén ăn cơm với đôi đũa mang theo. Sang hơn thì có cái ca nhôm uống nước, nhưng không thì cơm rồi, rót nước vào chén cũng xong.

(Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Cán bộ cấp cao còn có cái “xắc cốt” đeo kè kè bên mình.

Năm 2002, tỉnh Quảng Trị lắp đặt hệ thống thoát nước tại cổ thành Quảng Trị đã phát hiện ra một chiếc hầm chữ A, trong hầm còn nguyên năm bộ hài cốt của lính miền Bắc trong tư thế đang ngồi, trong đó có bộ hài cốt của một sĩ quan, Thượng Úy Lê Binh Chủng, chỉ huy phó chính trị của một tiểu đoàn. Duy nhất bên bộ hài cốt này có chiếc “xắc cốt” da Liên Xô. Trong “xắc cốt” người ta tìm thấy: Một quyển nhật ký một nửa ghi chép công việc, một nửa viết cho cho gia đình, một quyển điều lệ đảng, một quyển 10 điều chính sách của mặt trận GPMN, một chiếc lược làm bằng nhôm, và một cái bút máy Trường Sơn có khắc dòng chữ tặng. Trong cuốn nhật ký còn kẹp những lá thư của người vợ từ quê nhà miền Bắc gửi cho chồng.

Gia tài của một binh sĩ hay một sĩ quan chỉ có ngần ấy.

Lúc không có gì trong tay, đến cả một đồng bạc lẻ, người ta dễ nói chuyện lý tưởng hay hy sinh. Năm người lính Bắc Việt trong chiếc hầm này không chết vì súng đạn mà vì chết đói và hầm bị gạch đá lấp kín, vì lý tưởng “chết là chết cho Liên Xô-Trung Quốc!”Năm 1982, tức là năm năm sau khi “giải phóng,” cán bộ Cộng Sản vào Nam không còn nghèo nữa, họ có thể vơ vét một ít chiến lợi phẩm là “tàn dư” hay “phồn vinh giả tạo” của miền Nam đem về Bắc đắp đổi, hay được ở lại miền Nam là “chuột sa” vào “hũ nếp” Mỹ Ngụy.

Nhà tôi ở Quận 10, Sài Gòn, gần đường Minh Mạng, là nơi chuyên bán đồ mộc. Tôi không chú ý đến chuyện cán bộ miền Bắc mua sắm, bàn ghế, tủ, giường… vì bây giờ họ có nhà cửa, cơ ngơi, sắm đồ đạc là chuyện thường tình. Điều tôi chú ý là cán bộ (giờ đó hầu hết còn mặc đồ bộ đội) đã chở trên xe gắn máy hay những chiếc xích lô những chiếc tran thờ còn mới mua từ những tiệm mộc đem về nhà.

Đó là những tran thờ Thần Tài, Ông Địa, dấu hiệu của chuyện bảo vệ tư hữu, tức là của cải mình có từ vợ con, nhà cửa, tiền của đến chức vụ, quyền lực.

Khi con người chỉ có một cái chén và một đôi đũa, ăn xong, tự rửa lấy và đeo bên mình thì không hề sợ mất và cũng chẳng nhờ con người hay ông Thần, ông Thánh nào giữ giùm.

Bây giờ cướp được chính quyền rồi thì cán bộ có chức phận, có nhà cửa, có tiền bạc. Thực tế là phải nuôi con chó giữ nhà để đêm hôm canh chừng trộm đạo, chức sắc lớn thì có nhân viên bảo vệ, nhà cửa thời đại này chắc chắn phải gắn máy quay phim. Chưa đủ, phải nhờ thêm đến Thần Linh, tức là Ông Địa, ông Thần Tài để giữ của, giữ chức vụ, tức là giữ ghế cho bền. Bàn thờ Ông Địa, ông Thần Tài thì phải nhang khói suốt năm, khi điếu thuốc lá, khi nải chuối, đối với cấp trên cũng vậy phải nhớ “nhang khói” đừng quên. Cấp trên thì không cần chuối, cũng chẳng cần gà, cũng chẳng cần điếu thuốc 555 như thời bao cấp. Bây giờ cái mặt “bác Hồ” cũng chẳng còn giá trị gì nữa mà phải là chân dung quý vị tổng thống Mỹ.

Thói quen là văn hóa, văn hóa hối lộ đã tràn qua địa hạt tín ngưỡng hay mê tín, dân tình trong đó tất nhiên có cán bộ nhét tiền vào tay Phật, đầu rùa, bỏ tiền vào ngai vua, bỏ lên bài vị, tượng La Hán, Kim Cương bị “ép” cầm tiền lễ ở tay, bị nhét dưới râu, thậm chí nhét tiền vào thạch nhũ khi thăm động. Hối lộ để cầu xin may mắn, tiền của vào nhiều, thăng quan tiến chức, giữ yên ổn cho gia đình và bản thân mình.

Ngày xưa, nghe lời dụ dỗ của đảng, thanh niên miền Bắc “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,” trên đầu nón cối, dưới đất dép râu, không biết cầu xin, van vái ai, cuộc đời cũng chẳng biết đến nhang khói là gì. Ngày nay khi đã có chính quyền trong tay, với thế giặc phương Bắc, chỉ biết có một điều cư xử là cúi lạy. Khi người dân cúi lạy xin tha mạng trước bạo lực, thì chính phủ phải lấy đó làm nhục, vì chính phủ là đại diện của dân, chính phủ không che chở được cho dân, thì dân lạy vái cũng như chính phủ lạy vái.

Cả nước ngày này không có gì gọi là dũng khí, ngay cả báo chí Việt Nam cũng đã than thở đất nước đã đến hồi “mạt vận.” Thay vì ngẩng cao đầu, đứng thẳng lưng, thì cả biển người lại sống bằng quỳ lạy dập đầu và đi xin xỏ Thần Thánh ban phát sự giàu có, vinh hiển, công danh sự nghiệp.

Ở miền Bắc Việt Nam rộ lên cái gọi là lễ hội văn hóa, tôn giáo, với cảnh chen chúc giẫm đạp nhau nơi đền chùa, dâng đội mâm cao cỗ đầy, sì sụp lạy lục, lâm râm khấn vái, đốt vàng mã cho thần thánh, để xin xỏ, năn nỉ xuýt xoa, rồi giành giật nhau, đánh nhau u đầu chẩy máu để lấy hay cướp lộc mang về.

Xin một cái ấn đền Trần, là được may mắn thăng quan tiến chức. Chính ông Nguyễn Thiện Nhân, khi còn làm phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, đã “đích thân” đóng ấn để phát cho du khách thì còn ra cái sĩ diện quốc gia gì nữa!

Ba triệu thanh niên miền Bắc với “cái chén ăn cơm và đôi đũa giắt lưng” đã nằm xuống cho ba triệu đảng viên Cộng Sản hôm nay chỉ biết lạy lục kẻ thù và nhang khói Thần Thánh.

Trong bức di thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh chết tại cổ thành Quảng Trị, để lại, có viết cho vợ:

-“Thôi nhé em đừng buồn, khi được sống trong hòa bình hãy nhớ tới anh!”

Theo tôi nghĩ, chỉ tiếc thương cho những cái chết trở thành vô nghĩa như của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh. Máu xương của hàng triệu người đó, không phải hy sinh để chúng ta có một đất nước như ngày hôm nay!

CÔ ĐƠN VÀ THẤT VỌNG

CÔ ĐƠN VÀ THẤT VỌNG

R. Veritas

Một người đàn ông sau những ngày đắm chìm trong sự cô đơn và thất vọng đã quyết định thắt cổ tự tử. Sau khi đã thắt dây thòng lọng quanh cổ và cột dây vô một cành cây. Ông nhảy vội từ cành cây xuống và nói:

– Tạm biệt thế giới tàn ác, buồn thảm và xấu xa này.

Tuy nhiên sợi dây bị đứt và ông té xuống đất mà vẫn sống như thường. Bực quá, ông về nhà lấy khẩu súng lục và bắn xuyên qua trán, nhưng cò súng gẫy và súng cũng chẳng nổ được. Người đàn ông vẫn khăng khăng không chịu thôi. Ông chạy xuống bếp và lấy con dao chặt cánh tay mình, nhưng ông rất ngạc nhiên vì dao cùn quá nên da ông cũng không đứt. Quá giận dữ, ông quyết định đi mua thuốc độc. Ông chạy ào ra đường và dừng lại một lúc bên vệ đường. Tên qủy từ đầu đến giờ vẫn theo đuổi người đàn ông sung sướng lắm và thì thầm thúc giục ông:

– Sao lâu thế? Lẹ lên! Hãy mua thuốc độc và uống đi! Ta sắp sửa lấy được mạng của ngươi rồi.

Người đàn ông lập tức trả lời tên quỷ:

– Sao mày ngu thế? Mày đui à? Hàng loạt xe nối tiếp nhau đang chạy như bay, tao băng qua bây giờ thì chết làm sao?

***

Sống trên cõi đời, thế nào cũng có lúc ta cảm thấy cô đơn. Sự cô đơn rất dễ làm cho chúng ta buông thả và có thái độ tiêu cực. Thường thì sự cô đơn sẽ dẫn đến một tâm trạng buồn tủi. Hơn nữa, nếu ta cứ để mặc cho nỗi buồn cuốn ta đi thì sức mạnh của nó sẽ tăng lên cấp số nhân và tàn phá tâm hồn ta đến tan nát, nó rút hết nhuệ khí của ta và làm cho ta trở nên kiệt quệ.

Cô đơn trong nỗi đau sẽ dẫn ta đến sự cô độc. Chính nỗi buồn và sự cô đơn đã đưa người đàn ông trong câu chuyện trên đây đi đến quyết định đầy tiêu cực là tìm đến cái chết bằng bất cứ giá nào. Chỉ có cách duy nhất giúp ta thoát khỏi những nỗi cô đơn và những hệ quả tiêu cực là chúng ta hãy dừng lại để suy nghĩ về những giá trị của con người và của cuộc sống.

Như chúng ta quan sát thấy trong câu chuyện vui trên, chỉ một chút dừng lại bên vệ đường cũng đủ làm cho người đàn ông trên nhận ra rằng dù sao cuộc sống vẫn còn đáng sống, cuộc sống tự nó vẫn có giá trị. Hơn nữa, là người Kitô, chúng ta còn có mẫu gương của Chúa để chiến thắng và thách thức sự cô đơn. Người biết đi vào trong thinh lặng để trở về với Thiên Chúa Cha, để lắng nghe, để xác nhận sứ mạng được Chúa Cha trao phó là chu toàn thánh ý Chúa Cha, Đấng đã sai Người vào trần gian:

“Lạy Cha, xn hãy cất lấy chén này khỏi con, nhưng xin đừng theo ý riêng con mà vâng theo ý Cha mà thôi”.

Chúa Giêsu luôn hướng về Cha, vì Người biết rằng trong mọi hoàn cảnh, mọi thăng trầm và mọi đảo điên của cuộc sống chỉ có ý của Thiên Chúa Cha mới giải thoát Người. Nhất cử nhất động của Chúa Giêsu đều nhằm thực hiện thánh ý Chúa Cha. Vậy, bằng hết khả năng của mình, chúng ta hãy sống cho trọn vẹn những giá trị cao đẹp của con người với ý thức rõ ràng về sứ mạng lãnh nhận từ Chúa, với quyết tâm thực hiện thánh ý Chúa trong mọi sự.

Chắc hẳn có những lúc chúng ta cảm thấy cô đơn, cảm thấy đơn thương độc mã, cảm thấy bất lực, mỏng dòn, khi đó ta cần biết mình phải nương tựa vào Chúa, Đấng đã sống đến tột cùng của sự cô đơn và những yếu đuối, nhưng đã toàn thắng và luôn sẵn sàng nâng đỡ ủi an chúng ta.

***

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã sống và chia sẻ với chúng con trong nỗi cô đơn tột cùng của con người, trong bản tính nhân loại. Xin ban ơn trợ lực để chúng con luôn biết hướng lên Ngài, tìm ra con đường Ngài muốn chúng con đi, vì chúng con biết rằng chỉ có Chúa là Đấng giải thoát chúng con khỏi những thăng trầm của cuộc sống, nhờ đó, chúng con sẽ vững vàng bước đi trong hành trình đức tin.

R. Veritas

Xin cho con có được những gì con muốn, để những gì con có đều là của Chúa

CO DON

 

NGẪM NGHĨ VỀ MỘT MÙA CHAY NỮA

NGẪM NGHĨ VỀ MỘT MÙA CHAY NỮA

Thiên Ân

Khi nói đến Mùa Chay, người ta thường hay đề cập đến những từ như ăn chay, giữ chay, hoán cải, trở về, cầu nguyện, sám hối, bố thí, chia sẻ bác ái cho người nghèo kèm theo.  Nhưng tất cả những điều đó chỉ là những phương thế để dẫn đến một mục đích tối hậu là “đói khát Thiên Chúa.”

Là người giáo dân, khi nghe cụm từ “đói khát Thiên Chúa,” tôi thấy thật lạ tai!  Tôi thầm nghĩ chỉ có các tu sĩ, linh mục và những ai muốn làm… thánh sống, mới có khát khao ấy, chứ còn mình – với tâm hồn lạnh tanh, làm sao có tâm trạng đó được!

MUA CHAY

Tuy nhiên, sau một thời gian ngẫm nghĩ cặn kẽ, với nhiều Mùa Chay tiếp nối, nhờ ơn Chúa, tôi chợt khám phá ra, khao khát Thiên Chúa phải trở nên mẫu số chung và là lẽ sống của mọi Kitô hữu.  Câu chuyện sau đây đã giúp tôi tỉnh ngộ:

Thuở xưa, vua Salomon nổi tiếng thông minh, đã đưa ra một câu đố cho quan cận thần: Tìm đâu ra một chiếc vòng mà khi nhìn nó, người hạnh phúc hóa ra u buồn; người đau khổ nhìn nó thì lại thấy niềm vui?

Nghe vua nói thế, quan sa sầm nét mặt, vì biết đó là một bài toán khó có lời giải đáp vẹn toàn.  Quan lên đường chu du khắp năm châu bốn bể mong tìm ra chiếc vòng kỳ diệu.  Lang thang từ các làng mạc đến chốn thị thành nhiều tháng ngày, cực nhọc trăm bề, mà vẫn vô vọng, chưa tìm ra lời giải đáp nào cho nhà vua, khi kì hạn đã gần hết.

Bỗng một hôm, khi đến một làng, ông gặp một ông lão ngồi bán đồ linh tinh ở ven làng.  Ông lão ngồi bán nhưng như không bán, ông cứ đưa mắt nhìn xa xôi, rồi nhắm mắt trầm tư trong tư thế thiền!

Quan ghé vào tai ông lão hỏi nhỏ:

– Ông ơi!  Ông có bán chiếc vòng nào, khi nhìn nó, người vui hóa buồn; người buồn hóa vui không ông?

Lão ông không nói gì, lẳng lặng mở chiếc túi vải đeo bên mình ra và lấy một chiếc vòng bên trên có hàng chữ: “điều đó rồi cũng qua đi,” rồi trao cho ông quan.

Thì ra là như vậy, tất cả mọi sự ở trên đời này rồi cũng trôi qua.  Dẫu là sướng vui hay vất vả, đau khổ, tất cả rồi cũng sẽ tan bay.  Chỉ có Thiên Chúa mới chính là suối nguồn hạnh phúc chân chính và vĩnh cửu.

Bằng cách này hay cách khác, hành động của mọi người đều nhằm mưu cầu hạnh phúc đời này và cả đời sau, như niềm tin đa số tín hữu.  Mùa Chay cho ta cơ hội để tái định hướng hạnh phúc mà mình đang tìm kiếm.  Đây là mùa sống chậm, để sống đậm chiều kích tâm linh, nâng cao chất lượng nội tâm.  Mùa Chay cũng là thời gian phục hồi, bồi dưỡng tâm hồn.  Là lúc “thuận tiện,” là “giờ cứu độ” để ta chuẩn bị tâm hồn đón mừng lễ Chúa Phục Sinh và kết hiệp với Chúa Kitô Phục sinh.

Hành trình hoán cải và canh tân trong Mùa Chay gồm các bước sau:

–       Ý thức tội lỗi xúc phạm đến Thiên Chúa

–       Hối hận tội mình đã phạm: ray rứt, đau buồn (nhưng không mặc cảm tội lỗi)

–       Gặp gỡ Thiên Chúa trong nội tâm

–       Quyết tâm thú nhận tội – đón nhận Bí tích Hòa giải

–       Thực sự sửa đổi đời sống (thường ta hay quên bước này)

Thế nên, tâm trạng đói khát Thiên Chúa không thể chỉ là tâm trạng của riêng giới nào, mà phải là tâm trạng của con cái Chúa, thái độ của những ai muốn đi theo làm môn đệ của Đức Giêsu Kitô.

Lạy Chúa,
Bước vào Mùa Chay thánh này, con mang theo gì?
Nếu không phải là những hành lý nặng nề của con,
Với tâm tư nặng trĩu những lo toan, gánh bổn phận hàng ngày
Cơn mê bã lợi thú, danh vọng phù hoa đang bủa vây
Chúa ơi!  Chúng giăng bẫy rình rập con tứ phía
và kiềm hãm con tiến bước đến bên lòng Chúa khoan nhân.

Con vẫn biết: chúng chỉ là phù vân và sẽ qua đi
Nhưng thú-lợi-danh mạnh mẽ lôi kéo con từng giờ
Và vẻ bề ngoài của chúng thật hấp dẫn, êm ái!
Trong quá khứ, con đã không đủ sức để vượt thắng chúng.
Con đã sa lưới kẻ thù, vấp ngã thê thảm, té đau từ trên cao.

Chúa ơi!  Chẳng lẽ Mùa Chay này cũng sẽ trôi qua vô vị
và con lại tiếp tục ra đi với hai bàn tay lấm lem?

Tâm hồn con đang tan nát, rã rời,
như kẻ dở sống, dở chết,
khi kẻ nội thù như sư tử đang rình rập, chờ dịp cấu xé con.

Giờ đây, con chỉ có thể trông mong Chúa xót thương
Và cậy dựa vào quyền năng của Chúa.
Con không dựa dẫm vào người đời,
vì họ không thể giúp con tránh xa tội.

Chúa ơi!  Xin cứu giúp con người đầy yếu đuối của con.
Xin ban ơn hoán cải, để con cương quyết dứt bỏ tội lỗi,
Can đảm khước từ bóng tối
Và vui sống như con cái của sự sáng
Xin đừng để cho bất cứ điều gì chiếm hữu lòng con,
ngoại trừ một mình Chúa.
Hãy cho con không ngừng đói khát Chúa,
Hạnh phúc đích thực và trường tồn của đời con!

Thiên Ân

NỮ TỬ TỘI VÀ VỊ THẨM PHÁN BẤT ĐẮC DĨ,

NỮ TỬ TỘI VÀ VỊ THẨM PHÁN BẤT ĐẮC DĨ,

Ga 8:1-11

Lang Thang Chiều Tím

Ngày xửa ngày xưa… tại một đất nước Do thái xa xôi, nơi mà thân phận người phụ nữ bị đối xử rẻ mạt coi khinh trong một xã hội với bao phong tục tập quán khắc nghiệt.  Trong vô số mớ luật lệ của Môse để lại, có một luật định dành cho những vụ án ngoại tình, người đàn ông và người đàn bà có chồng bị bắt quả tang đang phạm tội ngoại tình thì cả hai sẽ bị ném đá cho đến chết (Lv 20:10; Ðnl 22:22).  Và theo sách Đệ Nhị Luật những ai bắt được quả tang sẽ là người phải ném viên đá đầu tiên khai mào cuộc xử tử kẻ có tội. 

          Bình minh vừa ló dạng nơi Đền Thờ ở Giêrusalem, người ta đã thấy một đám đông đang vây quanh một vị kinh sư đến từ Galilee.  Họ đã nghe đồn thổi về tiếng tăm của vị này với bao phép lạ lẫy lừng, và những lời giảng dạy đầy quyền uy.  Vị kinh sư Giêsu ngồi xuống giữa đám đông và bắt đầu giảng dạy về Nước Trời, về tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa.  Dân chúng đổ xô kéo đến ngày càng đông hơn, họ im lặng chăm chú lắng nghe như muốn nuốt lấy từng lời, từng chữ đầy nghĩa yêu thương của Ngài. 

          Bỗng một đám đông khác ồn áo náo nhiệt, với những tiếng la hét ầm ĩ từ đâu ùn ùn kéo lại, phá tan bầu không khí thánh thiêng.  Chuyện gì thế?  Họ ngơ ngác nhìn nhau dò hỏi…  À, thì ra đám đông ồn ào đó đã bắt được quả tang một người phụ nữ đang ngoại tình, những kẻ chiến thắng hớn hở kéo lê nàng trên đất như kéo một chiến lợi phẩm, lăm lăm tiến về phía vị Ngôn sứ Giêsu.  Người thiếu phụ tội nghiệp ghì người lại như muốn dùng chút hơi tàn yếu đuối, chống lại sức mạnh của đám đông đang lôi mình đi sềnh sệch.  Nhưng sức nàng cự sao được với sức mạnh của bao thanh niên trai tráng.  Khi tới trước mặt Giêsu, họ thảy nàng ra lăn long lóc giữa đám đông nhờ Ngài xét xử.  Một vị Pha-ri-sêu đứng tuổi với chòm râu dài nghiêm nghị bước ra giữa đám đông, hất hàm cao giọng hỏi:

          –  “Thưa Thày, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình.  Trong sách Luật, ông Môse truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó.  Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?”

          Họ nói thế chỉ nhằm thử Người thôi, đám đông ai ai cũng biết số phận hẩm hiu của người phụ nữ kia đã được định đoạt rồi.  Chẳng phải đám đông đang háo hức hùa nhau đi xem thi hành án tử, như đi trẩy hội đó sao?  Chẳng phải ai ai cũng đang lăm le trên tay những hòn đá đó ư?  Họ lôi nàng về đây như một con mồi, để câu thêm một con nhạn sa lưới.  Biết đâu một mũi tên lại bắn được hai con chim.  Lại trừ khử được cái gai nhọn dưới con mắt của các vị kinh sư đạo hạnh, và những người Pha-ri-sêu đức độ.  Để coi, phen này một người nổi tiếng hay xót thương cho những mảnh đời bất hạnh như ông Giêsu này, có dám lên tiếng bênh vực cho người phụ nữ tội lỗi đó không?  Nếu tha cho nàng thì ông đã chà đạp và chống lại luật lệ của Môse, và họ sẽ dùng nó để tố cáo kẻ phản bội cha ông.  Còn nếu Giêsu đồng ý kết án nàng.  À…, ra thế… thiên hạ phen này sẽ sáng mắt ra để thấy ông ta cũng tầm thường như bao nhiêu người khác mà thôi.  Những lời giáo huấn của ông về lòng nhân từ xót thương chỉ là sáo rỗng, giả hình và đầy mâu thuẫn.

          Vị Ngôn sứ đang rao giảng về Nước Trời bỗng dưng trở thành vị quan tòa bất đắc dĩ.   Ngài ngao ngán nhìn đám đông xung quanh như dò hỏi vì lý do nào mà mình lại được đặt vào vị trí này, rồi Ngài lại hướng tia nhìn về phía người nữ tử tội!  Trông nàng thật thê thảm, áo quần tang thương rách nát quấn vội quanh người, như chỉ vừa đủ để che những chỗ cần phải che.  Mái tóc dài xoã tung rũ rượi, chân tay, mặt mày lem luốc trầy trụa.  Nàng ngồi co rúm lại như một con chó con, mặt cúi gằm xuống đất, những sợi tóc dài lấm đầy cát, bê bết đầy nước mắt quyện lẫn mồ hôi.  Có lẽ nàng xấu hổ lắm!  Nhìn nàng sợ hãi và cô đơn trước đám đông hung dữ, như muốn ăn tươi nuốt sống nàng, chẳng ai buồn thắc mắc người đàn ông cùng nàng phạm tội ngoại tình đâu?  Sao không thấy đám đông kéo người đàn ông đó ra đây để cùng xử luôn?  Luật định rằng phải xử tử cả hai mà?  Chẳng lẽ nàng phạm tội ngoại tình một mình sao?

Dan ba ngoai tinh         

Đám đông phấn khích hò la vang dội, như khán giả trước hai đội không cân sức đang thi đấu đến hồi gây cấn.  Một đội chỉ có một người với khuôn mặt bình thản, hơi thở đều đặn, ánh mắt vẫn không ngừng nhìn chăm chú xót thương người phụ nữ, đang cúi gằm mặt giữa đám đông.  Cũng là phận người mà!  Sao nỡ đày đọa nhau?  Có ai chưa từng bao giờ phạm tội trong kiếp người yếu đuối không?  Xen lẫn trong tiếng hò reo, người ta nghe ra một tiếng thở dài xót xa!  Đối đầu là một đội quân hùng hậu, phất phới những tà áo đen rộng thùng thình của các vị đạo sĩ, với những khuôn mặt dương dương tự đắc đang chờ câu trả lời.  Có vẻ như phen này, họ nắm chắc phần thắng trong tay rồi.

 **********************         

Mời các bạn ngắm nhìn trong đám đông những khuôn mặt giận dữ đằng đằng sát khí, với những cặp mắt đỏ ngầu, miệng đang la hét hò reo, tay lăm lăm cầm viên đá đang chờ…., chờ gì?  Đợi gì?  Chờ một viên đá được ném ra khai mạc án tử, đợi một hiệu lệnh nổi lên là những hòn đá lớn bé sẽ được tung ra ào ào…

          Tôi là ai trong đám đông đang la hét reo hò ầm ĩ đó?  Là người đạo đức giữ đúng những luật lệ, luôn ăn ngay ở lành, ghét sự ác nên thấy sự phản bội, tôi muốn kết án?  Là người công chính, chưa bao giờ phạm tội, nên thấy sự tội lỗi xấu xa, tôi muốn diệt trừ?

          Tôi là ai khi cùng đám đông gào thét hò la?  Là một người đàn ông từng theo đuổi và muốn chiếm đoạt nàng nhưng không được, nay thấy nàng ngoại tình với người khác, tôi giận dữ căm ghét, không ăn được thì đạp đổ, thương tiếc gì hạng người đàn bà đó?  Là một người phụ nữ từng ghen ghét vì sắc đẹp của nàng, từng hậm hực tức tối khi thấy ong bướm lả lơi quanh nàng, với tôi đây là cơ hội tốt nhất để diệt trừ hạng người đàn bà lẳng lơ như nàng?

          Tôi là ai đang trong cơn cuồng nộ giận dữ?  Là một người chồng chung thủy bị phản bội, tôi căm hận người vợ lăng loàn và muốn nàng phải trả giá cho tội lỗi của mình dù đám con sẽ bị mất mẹ?  Là một người cha gương mẫu, người chủ của một gia đình danh gia vọng tộc, tôi không thể chấp nhận đứa con gái hư hỏng mất nết làm nhục gia phong của gia đình, nó cần phải chết để danh dự gia đình được bảo toàn, sĩ diện của tôi vẫn được coi trọng?

          Tôi là ai mà tay lăm lăm hòn đá chỉ chực chờ ném ra?  Là một người vợ hiền đảm đang của một gia đình tan nát chỉ vì những người thứ ba vô đạo đức như ả này, nên bây giờ tôi muốn nàng phải chết một cách đau thương nhục nhã cho hả cơn giận?  Hay tôi cũng giống như chị ta, từng ngoại tình, gian dâm… chỉ khác là chưa ai biết được, nên tôi phải la thật to, hét thật lớn, để đám đông tưởng rằng tôi vô tội, để bạn bè nghĩ tôi cũng ghét phường tội lỗi vô liêm sỉ đó.  Ồ, tôi phải hét lớn hơn nữa chứ nhỉ!

                    Tôi là ai mà đang hí hửng vui thích với hòn đá trong tay?  Ồ, không!  Tôi chỉ đi theo đám đông thôi, đám đông ném đá thì tôi ném đá, đám đông bỏ đá xuống, thì tôi cũng quăng cục đá đi.  Phải chăng tôi là một người không ý thức, chỉ a dua theo người khác, thiếu sự hiểu biết, và không có quan niệm sống đúng đắn.  Vậy tôi có phải chịu trách nhiệm cho hành động của mình không?  Ồ, không! tôi không biết.  Có lẽ là đám đông phải chịu trách nhiệm, tôi chỉ làm theo thôi mà!

                    Tôi là ai trong vụ án xử tử hình lưu động này?  Phải chăng chỉ là khách qua đường thấy chuyện hay hay thì đứng lại xem, và khi vở kịch vãn tuồng thì tôi bỏ đi?  Không chút xót thương với người bị kết án, cũng chẳng buồn quan tâm đến vị quan toà bất đắc dĩ Giêsu là ai?  Sẽ xét xử bản án này ra sao?  Ai là đối tượng chính mà các nguyên cáo kinh sư và Pharisêu muốn khử trừ trong vụ án này?

                    Tôi là ai trong đám đông cuồng điên đó?  Tôi có phải chịu trách nhiệm cho hành động của tôi không?  Xin mời các bạn tự hỏi lòng mình và tự tìm cho mình câu trả lời.

 **********************         

Vị thẩm phán bất đắc dĩ Giêsu nhẹ lắc đầu thở dài lặng im cúi xuống, lấy ngón tay di di viết trên đất những dòng chữ ngoằn nghèo khó hiểu.  Chẳng ai hiểu Ngài muốn viết gì?  Cũng chẳng ai đọc được những dòng chữ đó.  Và cũng chẳng ai hiểu Ngài đang muốn làm gì hay nói gì với đám đông?  Câu giờ chăng?  Đang ở thế bí không lối thoát chăng?  Các vị kinh sư và Pharisêu bắt đầu sốt ruột.  Một vị bô lão bước ra giữa, bắt đầu tằng hắng và gằn giọng lập lại câu hỏi lần nữa:

          –  “Thưa Thày, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình.  Trong sách Luật, ông Môise truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó.  Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?”

          Đức Giêsu từ từ ngước mắt nhìn lên một vòng những khuôn mặt chung quanh.  Từ những khuôn mặt giận dữ mất bình tĩnh của đối phương, đến những khuôn mặt phấn khởi hí hửng chờ đợi màn kịch kết thúc của những kẻ vô tình, xen lẫn là những khuôn mặt căng thẳng lo âu sợ hãi của người thân và bạn bè tội nhân.  Cả đám đông im phăng phắc nín thở chờ đợi.  Ngài nhắm mắt, nhẹ lắc đầu chán nản.  Họ muốn có một câu trả lời cụ thể.  Tha hay giết, thế thôi!  Bởi tha hay giết, đều là con đường chết của vị quan tòa bất đắc dĩ trong vụ án này.  Hít một hơi dài, Ngài từ tốn cất tiếng nói:

           –  “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi!”

          Cả đám đông bỗng đứng ngây ra như phỗng, lặng im phăng phắc.  Họ không chờ câu trả lời này.  Đó là tha hay giết?  Không rõ ràng!  Không dứt khoát!  Câu trả lời lại không nhắm vào tội nhân đang chờ bản án, mà lại nhắm vào họ, những người đang có quyền kết tội, nhắm vào trái tim chai đá của họ, như muốn khơi dậy lương tâm đã ngủ quên nhiều năm của họ.  Chẳng ai bảo ai tất cả đều cúi xuống đất né tránh cái nhìn của người mà họ đã trót dại đặt vào vị trí thẩm phán.  Chẳng ai có đủ can đảm để cất tiếng hoạnh hoẹ nữa, bởi ai là người dám tự xưng mình là sạch tội?  Vị quan tòa bất đắc dĩ lẳng lặng cúi xuống và tiếp tục ngón tay nguệch ngoạc trên đất những nét chữ ngoằn nghèo.

          Từng hòn đá, từng hòn đá rơi xuống đất, những bàn tay trước đây nắm chặt cục đá bao nhiêu, giờ từ từ thả lỏng ra, những viên đá vô hồn rơi loảng xoảng xuống nền đất, hết viên này… đến viên khác… tiếng đá chạm vào nhau lách cách… nghe như một khúc nhạc reo vui.  Những bước chân nặng nề, giằng co, lôi kéo trước kia, giờ đây nhẹ nhàng lặng lẽ rút lui… từng bước…, từng bước chân bỏ đi… Những bước chân chậm chạp và tiếng gậy lóc cóc của những vị cao niên bỏ đi trước, rồi đến bước đi chầm chậm vững chắc của tuổi trung niên, rồi bước chân thoăn thoắt của đám thanh niên và sau cùng đến những bước chân chim của những em bé tò mò đi theo đám đông coi xử án cho vui.  Đám đông bỏ đi với những khuôn mặt, và những tâm sự ngổn ngang khác nhau trong tâm hồn mỗi người, kẻ buồn người vui, kẻ khóc người cười.  Họ bỏ đi mang theo những nỗi niềm ăn năn hay những tính toán khác cho bàn cờ sắp tới.  Không ai biết được họ đang suy nghĩ gì! 

          Trái tim người nữ tử tội bật lên khúc nhạc hoan ca khi bước chân cuối cùng bỏ đi…  Chỉ còn lại một đôi chân trần duy nhất trên nền đất đen sần sùi!  Nàng bò lết lại dưới đôi chân người cuối cùng đó!  Mạng sống nàng lệ thuộc vào người này!  Nàng sẽ được tha bổng hay lại là một bản án khác?  Trái tim nàng đập loạn xạ, căng thẳng chờ đợi.  Nàng luống cuống không biết phải làm gì, nói gì hay xin gì.  Thời gian như kéo dài ra.  Bỗng một giọng nói trầm bổng cất lên trong không gian, đưa nàng về với thực tại:

          –  “Này chị, họ đâu cả rồi?  Không ai lên án chị sao?”

          Với ánh mắt lo sợ hồi hộp người nữ tử tội từ từ nhìn lên.  Bốn mắt chạm nhau, hai tâm hồn khác biệt, một tội lỗi xấu hổ ăn năn, một thánh thiện rộng lượng nhìn nàng tha thứ, như khích lệ trấn an nàng đừng sợ, ánh mắt như muốn ôm nàng vào lòng để ủi an, để xoa dịu nỗi đau thể xác cũng như tâm hồn nàng!  Ánh mắt như xót xa cho thân phận con người yếu đuối, dễ sa ngã!  Ôi, ánh mắt nhân từ của vị quan tòa bất đắc dĩ!  Sao không một lời trách móc?  Ngài có quyền đó mà.  Nàng bối rối lắp bắp trả lời:

          –  “Thưa…. ông, thưa…. Không có ai cả.”

         Rồi nàng lại thổn thức xấu hổ cúi gằm mặt xuống đất.  Nàng không đủ can đảm để tiếp tục nhìn vào ánh mắt của vị thẩm phán nữa, không đúng hơn là vị Ngôn sứ được dân chúng kính trọng.  Nàng không biết gì nhiều về con người ông Giêsu này.  Nàng nhớ loáng thoáng xóm giềng nói ông ta là một người nhân từ, chữa lành nhiều người, hay ăn uống chung với những người thu thuế, không kết án những người tội lỗi.  Nhưng có thể đó là tại ông chưa gặp trường hợp một người bị bắt quả tang phạm tội tày trời như nàng.  Nàng biết tội mình, chỉ vì một phút yếu lòng nhẹ dạ, bởi một lòng tin đặt không đúng chỗ, tại một tình yêu hoang tưởng ngây ngô nghe theo những lời đường mật, bởi chạy theo những phù phiếm xa hoa của thế gian.  Nàng không dám biện hộ, cũng chẳng dám xin ơn tha thứ, hay lòng cảm thông.  Nhưng lòng nàng khao khát nóng bỏng, muốn xin ơn tha thứ dù biết mình chẳng xứng đáng.  Nàng muốn có một cơ hội để làm lại cuộc đời, để chuộc lại lỗi lầm đã qua, liệu có quá muộn màng hay không?  Lòng thì đã mở ra, nhưng làm sao để có thể mở miệng xin ơn tha thứ được?  Khó quá Chúa ơi!

          Người nữ tử tội ngại ngùng sợ hãi cúi mặt xuống đất thầm thì: “Giêsu ơi!  Con không xứng đáng với ánh mắt bao dung đó, con không đáng để được hưởng ơn tha thứ, nhưng… nhưng…. con rất cần sự thứ tha… để trở về với gia đình, trở về với chính con, trở về với cuộc đời mà con đã trót lỡ đánh mất!” 

          –  “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu!  Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”

          Một phút bàng hoàng ngỡ ngàng, lời xin tha thứ vẫn chưa thoát ra khỏi cửa miệng mà!  Rồi niềm vui vỡ oà, nàng bật lên khóc nức nở, gục mặt xuống trên đôi chân vị thẩm phán đã cứu mạng mình! 

          Nước mắt xối xả tuôn rơi trên bàn chân vị ân nhân, len lỏi qua những ngón chân trần, chảy xuống trên nền đất.  Vui quá sao tôi lại khóc?  Nàng khóc nức nở như chưa bao giờ được khóc.  Những giọt nước mắt bị cầm nín bấy lâu vì sợ hãi xấu hổ, vì lo lắng cho cái chết oan nghiệt của chính mình, vì sợ không có cơ hội gặp lại những người thân yêu giờ có dịp tuôn trào.  Nàng vội vàng lấy mái tóc lòa xòa lau đi những giọt nước mắt trên đôi chân trần ấy.  Giọt nước mắt của sám hối ăn năn, giọt nước mắt xót xa cho quá khứ tội lỗi, giọt nước mắt mừng mừng tủi tủi khi được cứu sống.  Qua màn lệ nhòe nhoẹt, nàng thấp thoáng thấy cuộc đời mới đang mở ra trước mắt.  Vâng, lạy Thầy Chí Thánh Giêsu, con sẽ nhất quyết làm lại cuộc đời, sẽ từ bỏ cuộc đời tội lỗi để trở về với gia đình, về với đường ngay nẻo chánh.  Con không biết người ta gọi Ngài là ai, nhưng riêng con qua cuộc gặp gỡ này, con gọi Ngài là Thiên Chúa nhân từ, Thiên Chúa của lòng tha thứ xót thương, Thiên Chúa của Tình Yêu.

          Vị thẩm phán nhân từ chậm rãi đứng lên cởi áo khoác ngoài của mình ra, Ngài nhẹ nhàng cúi mình xuống choàng lên tấm thân rách nát đang run lẩy bẩy, như choàng lên người nàng một tấm áo nhân phẩm mới.  Rồi Ngài dìu nàng đứng lên, nàng vịn vào đôi bàn tay đó, như một điểm tựa vững chắc để lấy thêm sức mạnh, rồi loạng choạng đứng lên, chới với như trong mơ với những gì xảy ra quá nhanh ngoài sức tưởng tượng của nàng.   Đức Giêsu đưa tay nhẹ lau những giọt máu đang rỉ ra từ những vết trầy xước trên đôi tay gầy guộc.  Không nghe thấy tiếng trách móc, không tiếng hạch hỏi tại sao, cũng không một lời kết án!  Nàng lắc đầu, hoa mắt, đôi tai ù lên, lờ mờ nửa tin nửa ngờ.  Vị Ngôn sứ đưa tay vén những lọn tóc nhớp nhúa dính đầy cát, và nước mắt trên khuôn mặt xanh lè của nàng, như người cha vỗ về an ủi đứa con thơ trong cơn sợ hãi.  Ngài dìu nàng đi về hướng thôn xóm và ôn tồn lập lại:

          –  “Con về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”

          Dòng nước mắt lại xối xả lăn xuống như mưa, người nữ tử tội trẻ lại nức nở quỳ sụp xuống hôn lên đôi chân của vị ân nhân lần cuối như thay cho lời tạ ơn.  Bỗng nàng đưa tay bụm lấy miệng chặn tiếng nấc thoát ra từ đáy lòng, rồi chạy ù về phía cuối chân trời, không một lời giã biệt.  Nàng không đủ can đảm để nói lời xin lỗi, càng không đủ sức để nói hai chữ cám ơn.  Ngôn từ không đủ để diễn tả hết tâm tình tạ ơn và lòng xấu hổ ăn năn vì tội lỗi nhơ nhuốc của nàng.  Nhưng nàng biết, vị ân nhân Giêsu nhìn xuyên thấu tâm hồn nàng.  Nàng chỉ biết tạ ơn trời đất đã cho nàng cơ hội sống sót để chuộc lại lỗi lầm của mình.  Cám ơn tấm lòng quảng đại đầy yêu thương của vị thẩm phán bất đắc dĩ Giêsu đã cho con một cơ hội để làm lại cuộc đời mình.  Cám ơn Đức Chúa Cha đã gởi Người Con Dấu Yêu xuống thế gian này để làm ấm lại tình người.  Cám ơn những người anh em đã không kết án con.  Cám ơn những bàn tay đã buông bỏ những viên đá vô tri xuống.  Xin cám ơn tất cả!  Con xin ghi khắc trong tim câu dặn dò đầy yêu thương của Chúa Giêsu Kitô:

           “Con hãy về đi và đừng phạm tội nữa!”

     Vâng con sẽ về trong bình yên và sẽ cố gắng không bao giờ vấp phạm nữa!

 Lang Thang Chiều Tím

Mùa Chay Năm Thánh Lòng Thương Xót 2016

Ứng cử viên tự do và vòng vây dư luận

Ứng cử viên tự do và vòng vây dư luận

Cát Linh, phóng viên RFA
2016-03-16

000_875JO

Facebook, một trong những trang mạng xã hội các ứng cử viên dùng để vận động bầu cử.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Truyền thông Nhà Nước và cơ quan chức năng phụ trách bầu cử của chính quyền có nhiều ý kiến bất lợi nhắm vào số người tự ứng cử Quốc hội khoá 14. Phản ứng từ phía những ứng cử viên độc lập đó ra sao, Cát Linh ghi nhận ý kiến của người trong cuộc và người quan sát với vai trò của một cử tri.

Mới hôm 15 tháng 3 vừa qua, một thành viên của ban giám sát, tiểu ban an ninh của Hội đồng bầu cử quốc gia lên tiếng trong buổi làm việc giữa Đoàn giám sát công tác bầu cử do Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu nói với thành phố Hà nội rằng có những tổ chức phản động đứng đằng sau những người tự ra ứng cử đại biểu quốc hội lần này.

Người này nói tiếp là vì lý do đó nên trong số 47 người tự ứng cử lần này phải loại một số người khỏi danh sách ứng cử trong các lần hiệp thương tới đây.

Có thêm ý kiến nói rằng một số đối tượng tự ứng cử đã sử dụng công nghệ để tuyên truyền vận động. Báo này nói thêm là những người này dùng những trang mạng cá nhân để hô hào bỏ phiếu ủng hộ họ.

Theo bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, chủ tịch ủy ban bầu cử thành phố Hà Nội thì trong số 47 người tự ứng cử có nhiều nhân sĩ trí thức quan tâm đến các vấn đề xã hội, tuy nhiên phải loại trừ những một số đối tượng đặc biệt.

Cũng tại buổi làm việc như vừa nêu, ông Nguyễn Xuân Phúc nói là trong kỳ bầu cử lần này có việc ứng cử, đề cử, mở rộng dân chủ nhưng phải đảm bảo chất lượng đại biểu.

Chưa sẵn sàng?

Nghệ sĩ hài Vượng Râu, một trong những ứng cử viên độc lập lần này, cho rằng phản ứng của dư luận và những bài viết trên báo chí vừa qua là do đến từ việc tự ứng cử của các ứng cử viên tự do chưa được sẵn sàng đón nhận. Chính vì thế mà từ một việc hoàn toàn bình thường, có nhiều người đã làm ra thành những việc bất bình thường, thậm chí có phần hoang tưởng.

“Tức là nếu như mọi người cứ để nó bình thường như vốn dĩ nó có thì nó không sao. Nhưng bây giờ chúng ta cứ cố tình để cho nó khác đi, thì đương nhiên hàng trăm con mắt, hàng trăm đôi tai và hàng trăm sự nhìn nhận của người dân vào sự bầu cử nó sẽ khác đi.”

Giải thích rõ thêm, nghệ sĩ Vượng Râu nói rằng một trong những vấn đề chưa sẵn sàng mà hội đồng bầu cử đang gặp phải đó là cách ban bầu cử đón nhận hồ sơ và hướng dẫn thủ tục cho ứng cử viên. Ông đưa ra trường hợp hồ sơ ứng cử của ca sĩ Mai Khôi được cho là không hoàn chỉnh và đòi hỏi phải sửa gấp:

“Cái việc thủ tục hành chính đó là một việc mà tôi khẳng định rằng nó không thể hoàn thành một cách vội vã. Như thế nó sẽ làm giảm đi thời gian và tiến độ của việc chốt hồ sơ. Tất cả những việc đó nếu chúng ta có ý định cho số người tự ứng cử vào thì cần phải thoải mái hơn.”

Nhà văn Nguyễn Quang Thiều trong bài viết cá nhân của mình, ông lên tiếng về sự việc này và cho rằng đây là do một cơ cấu chưa quen với việc tự ứng cử:

“Bởi chúng ta vẫn chưa quen được hành động này. Chúng ta đã mắc một thói quen cố hữu lâu nay khi cho những người tự ứng cử trong những trường hợp tương tự nói trên là những người không hiểu mình là ai, là những người ham danh háo chức…” (Trích bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Thiều).

“ Rõ ràng thể chế bầu cử ở Việt Nam bây giờ tồn tại quá nhiều hạn chế mà nó khiến cho việc tạo ra những chính trị gia chuyên nghiệp, những dân biểu chuyên nghiệp vẫn còn quá xa vời.
– Nhà hoạt động Nguyễn Anh Tuấn”

Theo nghệ sĩ Vượng Râu, khi các ứng cử viên tự do thực hiện việc tự ứng cử nghĩa là họ đã không lo ngại việc bị ném đá, đã quyết định việc có trách nhiệm với đất nước. Chính vì vậy ông kêu gọi nên có những thái độ công bằng đối với các ứng cử viên tự do.

“Để có tiến trình của sự dân chủ rõ rệt, và đặc biệt là cho những người dân nhìn thấy sự phát triển của đất nước thì không nên có những thông tin cũng như những bài báo phiếm diện nói về việc tự ứng cử của những người nhằm mục đích để phát triển đất nước tốt hơn.”

Vấn đề uy tín

Thế nhưng, phản ứng lại với những trách nhiệm như nghệ sĩ Vượng Râu đề cập thì theo ông Nguyễn Văn Pha, Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát biểu với truyền thông trong nước rằng “không uy tín thì khó.”

Thầy giáo Đỗ Việt Khoa, người ra ứng cử ĐBQH lần thứ hai cho kỳ này, lên tiếng cho rằng uy tín của ứng cử viên là do cử tri quyết định:

“Uy tín hay không hãy để cho cử tri đánh giá. Có rất nhiều ứng cử viên tự do có uy tín gấp mấy lần những người đã làm ĐBQH. Có vô số ĐBQH hoạt động rất mờ nhạt. Cả một nhiệm kỳ không phát biểu, không tham gia, bỏ nhiều cuộc họp không có mặt. Các vị ấy cho rằng mình được người ta cơ cấu, phát biểu gì cũng sợ đụng chạm. Vừa rồi chúng ta còn nghe nhiều ĐBQH tâm sự là khi đi họp thì lãnh đạo địa phương căn dặn là không được phát biểu về vấn đề tham nhũng.”

‘Mười năm phấn đấu không bằng một năm cơ cấu’

Như chúng ta đã biết, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, blogger Đặng Bích Phượng, nhà báo Trần Đăng Tuấn, luật sư Lê Luân và một số ứng cử viên tự do khác là những người có nhiều hoạt động, đóng góp về chính trị và các chính sách phát triển xã hội dân sự. Chính vì thế, họ nhận được rất nhiều sự ủng hộ từ người dân trong nước, những người mong muốn có một sư thay đổi về đường lối lãnh đạo nhà nước.

Chính vì vậy, khi những người nghệ sĩ như nghệ sĩ Vượng Râu, ca sĩ Mai Khôi, quyết định ra ứng cử, họ nhận được khá nhiều phản ứng khác nhau từ dư luận.

Nguyễn Anh Tuấn, một nhà hoạt động xã hội dân sự trẻ cho biết góc nhìn cá nhân của mình về sự việc này:

“Đứng ở góc độ cử tri thì với những người tự ứng cử mà mình tạm gọi là vẫn còn non kinh nghiệm thì câu chuyện phức tạp hơn thế nhiều. Rõ ràng thể chế bầu cử ở Việt Nam bây giờ tồn tại quá nhiều hạn chế mà nó khiến cho việc tạo ra những chính trị gia chuyên nghiệp, những dân biểu chuyên nghiệp vẫn còn quá xa vời. Chẳng hạn như vòng hiệp thương thứ nhất, họ lựa chọn thành phần đại biểu quốc hội, nghe rất xa lạ với truyền thống dân chủ tây phương. Nghĩa là nó chọn ra sẵn cái cơ cấu, thành phần đến từ tầng lớp nào, giai cấp nào, cơ quan nào, cơ quan nào, nghề nghiệp nào. Nghe rất là lạ. Thành phần đó được ấn định thành một tỷ lệ gọi là cơ cấu.”

Chính vì thế, theo Nguyễn Anh Tuấn, rất là khó để có một đại biểu hay dân biểu chuyên nghiệp.

Tuy nhiên, không vì vậy mà những ứng viên tự do không thuộc “cơ cấu” định sẵn của Hội đồng bầu cử quốc gia như nghệ sĩ Quốc Vượng, ca sĩ Mai Khôi lại không thể thực hiện quyền ứng cử.

“Có thể họ chưa có kinh nghiệm hoạt động xã hội chính trị, tuy nhiên, sự tham gia, quyết định tự ứng cử của họ đóng góp rất quan trọng ở khía cạnh là bình thường hoá quyền tự ứng cử. Ai cũng có thể thực hiện được.”

Và từ những cử tri như Nguyễn Anh Tuấn cho thấy rằng dù việc tự ứng cử là một cuộc chơi từ các ứng cử viên tự do, thì họ vẫn có tâm ý và kế hoạch, xã hội Việt Nam vẫn chấp nhận thay cho những người do cơ cấu sắp đặt nên. Vì những ứng viên tự do ấy sẽ đưa đến một xã hội đa diện trong sinh hoạt dân chủ của đất nước.