Đức hạnh của kẻ cầm quyền

Đức hạnh của kẻ cầm quyền (RFA)

tuankhanh

Liên tục những sự kiện bùng nổ trong nhiều ngày của tháng 3/2016 đã thu hút nhanh mối quan tâm của xã hội, trong số đó phải kể đến là sự kiện Sầm Sơn, thiếu tá công an xã xách súng vào khủng bố trường học ở Gia Lai, luật số 15 gây ách tắc việc điều tra tham nhũng… Những chuyện lớn lao đó đã đủ lấp đầy suy nghĩ, che lấp nhiều điều thú vị khác trong đời sống.

Một trong những chuyện, nên được nhắc lại, đó là việc ông Huỳnh Văn Nén tiếp tục theo đuổi vụ án của đời mình lại tiếp tục gây nên nhiều dư luận. Người tù oan, có thời gian bị giam giữ đến hơn 17 năm ở tỉnh Bình Thuận, sau khi trở về nhà, đã kiên trì tiếp tục mục đích của ông là đưa 14 người có chức vụ ra toà, đối mặt với công lý.

Đầu tháng 3/2016, Cục điều tra Viện KSND tối cao đã hồi đáp đơn yêu cầu điều tra của ông Huỳnh Văn Nén. Câu chuyện cuộc đời của ông Huỳnh Văn Nén, được giới luật sư goi tên là đại kỳ án của quốc gia xem ra vẫn tiếp diễn, và chắc là sẽ mở ra thêm nhiều điều đáng chiêm nghiệm từ ngành tư pháp Việt Nam hiện nay.

Có không ít dư luận quanh sự kiện này. Có người thì cho rằng hành động quyết liệt này của ông Huỳnh Văn Nén là cần thiết, và người dân chờ đợi vào kết quả như một thái độ đúng công dân. Nhưng cũng có ý kiến rằng ông Nén đã “làm quá”, vì đã được xét bồi thường từ 10-12 tỉ đồng, và được cả nước chia sẻ vụ án oan này. Thật mới mẻ với người Việt, khi chứng kiến một người tù oan quyết đi đến tận cùng của sự việc, so với thói quen cam chịu, im lặng và dễ dàng chấp nhận từ nhiều năm nay.

Cuối năm 2015, trong một cuộc gặp mặt do báo Infonet tổ chức, tôi có được may mắn tiếp xúc với ông Huỳnh Văn Nén cùng gia đình, thầy Nguyễn Thận và luật sư Phạm Công Út, những người đeo đuổi chuyện minh oan cho ông Nén. Ông Nén bị công an điều tra đánh đập, đe doạ… buộc phải nhận tội giết 2 người trong vùng của ông, giấu nhẹm cả đơn tố cáo hung thủ thật.

Điều khiến tôi hay nhớ về ông Nén, đó là một gương mặt đầy nếp nhăn, rúm ró giấu kín mọi suy nghĩ. Rất khó phân biệt được biểu cảm của ông là đang cười hay đang khóc. Chỉ đến khi thấy giọt nước mắt của ông im lặng chảy xuống, thì mới biết. Mà lúc đó thì chung quanh cũng rất nhiều người khóc, mắt đỏ hoe. Những người đàn ông thì khóc không thành tiếng, mặt rúm ró vì những quặn đau trong lòng.

Ông Nén là người hiếm hoi, không chịu ngồi xuống và hài lòng với phần đời còn lại qua số tiền bồi thường khổng lồ. Nơi ông Nén đang sống, chỉ cần có một tài sản 1 tỉ đồng đã là đại phúc, thế nhưng ông được hứa hẹn là sẽ có gấp 10 lần như vậy. Có lời bình luận rằng có thể ông Nén còn chất chứa hận thù hoặc trở nên cơ hội trong sự kiện đời mình, nhưng quan trọng nhất, đích đến của ông Nén vẫn vô cùng công chính, đó là công lý.

Ngày 3/12/2015, ông Huỳnh Văn Nén được phó chánh án TAND tỉnh Bình Thuận lạnh lùng đọc thư xin lỗi công khai. Trong 30 phút của buổi xin lỗi đó, ông Nén nhiều lần nhắm nghiền mắt, im lặng, tay buông thõng. Có lẽ ký ức của ông dội về, với những ngày tháng ông cùng 8 người thân trong gia đình bị giam cầm, nhà cửa không còn, cái chết đến cùng bữa ăn hàng ngày.

Ông Nén từng cởi áo giữa toà để chứng minh mình bị đánh đập, bức cung ra sao. Nhưng nhiêu đó thì không đủ, làm sao tả hết những ngày ông bị trói vào ghế, công an điều tra dùng chân mang giày đá liên tục và ống chân đến thâm đen. Đến mức ông té xuống, khóc, xin tha, thì bị công an viên trẻ như con mình quát “cho mày chết luôn”. Người thân của ông, bị giữ để điều tra ở nhà tạm giam nữ, khi đến chu kỳ tháng phải tự xé quần làm băng vệ sinh, chứ không được cấp phát theo quy định, vì bị người điều tra tuyên bố “không nhận tội thì ráng chịu”.

Ông Nén chắc không ngờ vì sao mình trở thành kẻ phạm tội, và vì sao phải nhận tội. Một buổi tối ghé xin ít rượu đế từ nhà hàng xóm với lời nói đùa “uống để gột rửa tội lỗi” đã biến ông thành nghi can số một. Đã có lúc ông Nén muốn chết vì quá đau đớn thân xác và tinh thần, nhưng ông đã không thể làm vậy, vì nếu ông còn sống thì công lý còn một hy vọng, sự thật còn một cơ hội. Công lý không đơn giản là một lời xin lỗi công khai, không là con số 10 hay 12 tỉ đồng. Công lý là ánh sáng giữa cuộc đời tưởng chừng như tuyệt lộ này, công lý là đòi hỏi việc xiển dương sự thật cũng như vạch mặt những kẻ không đủ khả năng để phục vụ cho sự thật.

Khi ông Nguyễn Phúc Thành gửi đơn tố cáo thủ phạm thật, xin giải oan cho ông Nén, thì bị điều tra viên Cao Văn Hùng chỉ mặt “mày muốn chết à? Tao cho mày chết”. Sau vụ án của ông Nén, điều tra viên đó ra Hà Nội ung dung hành nghề luật sư. Thậm chí số tiền dự trù 10-12 tỉ đền bồi cho ông Huỳnh Văn Nén cũng lấy từ tiền thuế của người dân, chứ 14 cán bộ người liên quan đến vụ án của ông Nén không hề thiệt hại mảy may.

Nhưng ông Huỳnh Văn Nén hay Nguyễn Thanh Chấn chỉ là những trường hợp may mắn được giải oan, còn bao nhiêu trường hợp khác chưa được biết tới đang rên xiết trong phòng điều tra, mơ ước một sự công tâm?

Hãy cám ơn ông Huỳnh Văn Nén. Ông không đi tìm công lý cho riêng mình, mà đang dựng lại ngôi nhà chung cho mọi người. Ngôi nhà đó có cánh cửa lớn tràn ngập ánh sáng chứ không âm u với những chấn song lờ mờ chực chờ. “Công lý chính là thứ đức hạnh hàng đầu của kẻ cầm quyền”, Denis Diderot (1713-1784), nhà triết học Pháp có để lại lời nhắn đó từ thế kỷ thứ 18. Lời xin lỗi hay một mớ tiền bồi thường không thể đánh tráo khái niệm đó là là công lý và đức hạnh của một quốc gia. Tìm cách để giảm thiểu bất công, soi chiếu ánh sáng công lý vào những nơi không thể đó mới chính là đức hạnh của người cầm quyền, đức hạnh của công dân.

Và hơn ai hết, xin hãy ngã nón chào người từng bị giam cầm 17 năm 5 tháng 11 ngày ấy, vì chính ông đang thay chúng ta, lặng lẽ hành động vì đức hạnh của ngành tư pháp, vì tương lai trên đất nước này.

‘Ứng viên tự do là hạnh phúc của đất nước’

‘Ứng viên tự do là hạnh phúc của đất nước’

BBC

20-3-2016

Ông Tuấn Khanh nói cần khởi tố những người vu khống các ứng cử viên độc lập. Ảnh: FB Khanh Tuan Nguyen

‘Việc có nhiều người tham gia tự ứng cử đại biểu quốc hội và xã hội dân sự phát triển là niềm hạnh phúc của đất nước’, Nhạc sĩ Tuấn Khanh nói trong cuộc trao đổi qua Google Hangout với BBC hôm 20/3.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh được nhiều bạn trẻ yêu nhạc biết đến với các ca khúc “Áo xanh”, “Rêu phong”, “Trả nợ tình xa” và các ca khúc khác.

Đặc biệt, thời gian gần đây, ông được nhiều cư dân mạng xã hội biết đến như là tác giả viết những bài chính sự sắc bén về thời cuộc, chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông và những người yếu thế như ngư dân và người nghèo.

Nói về bước chuyển này, nhạc sĩ cho hay: “Trước đây, tôi xuất hiện trên truyền hình như một giám khảo của các chương trình giải trí.

Nhưng từ một lần chứng kiến người dân đi đòi đất cầm những lá đơn mà không được giải quyết và còn bị an ninh trấn án, khi trở về tôi quyết định không thể tiếp tục là một người nghệ sĩ bàng quan về thời cuộc.

“Nếu tiếp tục im lặng, tôi thấy mình mắc sai lầm là mình đã lớn lên trên đất nước này mà không quan tâm đến người khác”.

“Tôi muốn dấn thân về những vấn đề xã hội để chuyển tải suy nghĩ của mình về những vấn đề của đất nước.

“May mắn là blog và mạng xã hội xuất hiện giúp tôi có công cụ đem tiếng nói của mình đến với nhiều người, cho dù những bài viết này có thể khiến tôi gặp rắc rối”, nhạc sĩ nói.

‘Không là đặc quyền của giới lãnh đạo’

Đề cập về chuyện những ứng viên tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 14, ông Khanh nhận định: “Chưa bao giờ thấy xã hội dân sự sôi động như vậy, đây là niềm hạnh phúc của đất nước, chứ không phải là một phong trào của một nhóm người”.

“Đây là giai đoạn người dân thật sự quan tâm đến chính trị và chính trị không phải là đặc quyền của giới lãnh đạo, mỗi người dân đều có tiếng nói và họ muốn góp tiếng nói tại nghị trường”.

“Nếu những ứng viên tự đề cử này được đối xử trân trọng và họ có đủ năng lực để thành những đại diện thật sự của người dân, tôi tin này đất nước này sẽ phát triển. Hơn bao giờ hết, nghị trường đang cần những đại biểu thấu hiểu được những nỗi đau, vấn đề cấp bách của đất nước như quyền im lặng của phạm nhân, ứng xử khôn khéo với Trung Quốc…

“Ngược lại, nếu những ứng viên tự do không được tạo điều kiện, rõ ràng đang có những trở ngại cho việc phát triển xã hội mà chưa được giải quyết”, nhạc sĩ nói.

Trả lời câu hỏi của phóng viên Ben Ngô, BBC Việt ngữ về chuyện một số ứng viên tự do là nghệ sĩ như ca sĩ Mai Khôi và diễn viên Vượng Râu đang bị các báo trong nước chỉ trích, nhạc sĩ cho hay: “Họ ứng cử theo đúng luật với sự khuyến khích của chính phủ chứ không tự ý làm càn. Nhưng bước đầu các ứng viên này đã bị khích bác trên mặt báo trong nước, và tôi nghĩ chính những người bêu riếu ứng viên tự do mới không đủ tư cách và đáng bị khởi tố theo luật 258”.

“Tôi có tìm hiểu về các ứng viên là nghệ sĩ và biết họ có ước muốn cũng như khát vọng đáng quý. Anh Vượng Râu muốn xây dựng nền văn hóa truyền thống đặc sắc, còn chị Mai Khôi muốn lên tiếng về nữ quyền và xử lý nạn bạo lực xã hội đang gia tăng. Có thể họ không phải là đại biểu xuất sắc như chúng ta kỳ vọng, nhưng họ thành tâm và đáng được ủng hộ. Vì họ đang là những tiếng nói trong tiến trình dân chủ ở Việt Nam”.

Ông Khanh cũng nói thêm: “Hiện tôi đang quá đa mang nên chưa tham gia tự đề cử nhưng bốn hoặc tám năm nữa, nếu có cơ hội thì tôi nghĩ vẫn còn kịp. Dù không tự ứng cử nhưng tôi vẫn góp tiếng nói ở góc độ trung lập để giúp được nhiều người hơn”.

Để xem Tổng Trọng xoay vần đến đâu?

Để xem Tổng Trọng xoay vần đến đâu?

THÁI TUẾ

21-3-2016

Các lãnh đạo đảng và nhà nước. Nguồn: internet

Lấy cảm hứng từ loạt bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Từ Huy Việt Nam có thể cải cách chính trị hay không?. Trong loạt bài này, bà Nguyễn Thị Từ Huy tập trung nghiên cứu về Nguyễn Phú Trọng và đi đến kết luận: “Nguyễn Phú Trọng không tham nhũng, không tham nhũng thì còn tự trọng và tự trọng có thể thay đổi”. Cũng như Bùi Quang Vơm, tôi rất kính trọng những nghiên cứu của Nguyễn Thị Từ Huy, nhưng không hoàn toàn đồng ý với bà.

Chính vì vậy tôi xin lặp lại cách mà Nguyễn Thị Từ Huy đã dùng để nghiên cứu Nguyễn Phú Trọng. Đó là bắt đầu sự nghiên cứu bằng việc tìm hiểu về cá nhân Nguyễn Phú Trọng. Cũng như bà, tôi không tin chắc 100% những nghiên cứu này là đúng, vì thiếu thông tin, nên chắc chắn phiến diện. Nhưng dẫu sao vẫn phải nghiên cứu từ số lượng thông tin ít ỏi ấy.

Cách đây vài năm tôi được ông Nguyễn Mạnh Can, nguyên Phó ban Tổ chức Trung ương hồi Lê Đức Thọ cho xem một tấm hình. Đây là một bức ảnh chụp đen trắng từ những năm 80 của thế kỷ 20, khi ông cùng Nguyễn Phú Trọng ngồi ở bàn thư ký của Đại hội 6. Nguyễn Phú Trọng lúc đó đeo kính cận gọng đen dầy cộp, ngồi ở mép ngoài của dãy bàn thư ký, mới khoảng gần 30 tuổi. Kể từ hồi đó ông đã vào sâu trong cơ cấu của đảng Cộng sản. Đến bây giờ đã khoảng trên 40 năm. Như vậy có thể xem là ông đã tham gia rất nhiều đại hội Đảng và là người làm nghề công tác Đảng chuyên nghiệp và có thâm niên, thực tế ông đã có bằng cấp TS về xây dựng Đảng. Vậy với một người làm nghề lâu năm thì như thế nào? Sẽ xảy ra hai trường hợp: a) rất yêu nghề, hoặc b) rất chán ngán nghề, chẳng qua phải làm vì cái nghiệp, vì miếng cơm manh áo. Theo tôi Nguyễn Phú Trọng thuộc trường hợp a, tức ông rất yêu nghề và Đảng đã trở thành máu thịt của ông. Suy luận này đúng, người ta có thể kiểm chứng dễ dàng qua hành động và phát ngôn của ông. Tuy vây, ông để lại dấu ấn mờ nhạt qua rất nhiều cương vị công tác trong Đảng, chỉ từ khi ông làm Tổng Bí thư thì dấu ấn của ông trong công tác Đảng bắt đầu đậm nét. Đó là giọt nước mắt tại Hội nghị T.Ư 6 (khóa 11) năm 2012, đó là câu nói nổi tiếng “Tôi bất ngờ vì được tái bầu làm Tổng Bí thư với kết quả gần 100%”, đó là “dân chủ đến thế là cùng”.

Vấn đề là giọt nước mắt và phát ngôn của ông xảy ra khi nào. Rất dễ thấy, xảy ra sau các cuộc đấu cam go với các thế lực trong Đảng. Tại sao ông phải đấu cam go? Vì ông nhận thức rằng một bộ phận lớn trong Đảng đã suy thoái và quyết chống lại trào lưu đó. Đây là một việc vô cùng khó khăn và vì vậy nó rất cam go. Người ta còn nhớ, tại trận đấu cam go đầu tiên vào năm 2012 ông đã phải rơi nước mắt. Nhưng ông không chịu thua, trận 2016 ông đã nở nụ cười. Vậy ông đã thắng chưa? Ông đã chặn đứng được đà suy thoái biến chất chưa? Chăc chắn là chưa. Vậy lúc này đây ông đang làm gì? Ông làm tiếp cái việc tập hợp đội ngũ những Đảng viên “chưa suy thoái” để chống lại các Đảng viên “đã suy thoái”. Năm trước ông điều Bá Thanh ra Hà nội để chặn suy thoái, chống tham nhũng. Bá Thanh đã ngã ngựa giữa dòng. Năm nay ông cử La Thăng vào Sài Gòn cũng để chặn đà suy thoái, tham nhũng.

Một động thái khác quan trọng hơn. Đó là phát biểu của tướng Phan Anh Minh về chỉ thị 15 rằng công an không được trinh sát đảng viên. Ai cho phép vị tướng này tiết lộ chỉ thị tuyệt mật 15? Ai cho phép các cơ quan truyền thông đăng tải rầm rộ phát biểu này? Có phải Nguyễn Phú Trọng không. Chắc chắn rồi, trong cơ chế độc Đảng, lời nói của vị tướng đó nhất định sẽ bị vô hiệu hóa nếu không được phép từ cơ quan cao nhất.

Vậy bạch hóa chỉ thị 15 để làm gì? Để làm điều ngược lại. Để chuẩn bị cho công an được phép trinh sát đảng viên. Vậy rõ ràng là sau thắng lợi tại đại hội 12, khi mà Nguyễn Phú Trọng dùng nghị quyết 244 và 1510 đại biểu dự đại hội Đảng để loại bỏ Nguyễn Tấn Dũng, thì bây giờ là lúc ông dùng công an để loại bỏ các đảng viên suy thoái khác. Có lẽ chúng ta sẽ thấy một trận chiến mới, rộng hơn, mạnh hơn, qui mô lớn hơn và tất nhiên cam go hơn. Theo dự đoán người đầu tiên bị đưa vào tầm ngắm sẽ là vị thủ tướng sắp được bổ nhiệm Nguyễn Xuân Phúc. Nguyễn Xuân Phúc sẽ được đưa lên cao để lật đổ cho dễ.

Nhưng tại sao ông Nguyễn Phú Trọng lại phải chống suy thoái? Cơ sở nhận thức nào cho phép ông tiến hành công tác chống suy thoái (chúng ta hãy tạm quên biệt danh Trọng Lú để tin rằng ông có thể nhận thức các hiện tượng vô cùng phức tạp của chính trị, xã hội)?

Cơ sở thứ nhất là tình yêu của ông đối với Đảng. Hơn 40 làm nghề xây dựng Đảng ông rất yêu Đảng, tin rằng Đảng là đạo đức là văn minh, bất chấp rất nhiều hành vi vô đạo đức và kém văn minh của Đảng. Theo ông, vì Đảng là đạo đức là văn minh thì tất nhiên Đảng phải loại bỏ các phần tử suy thoái.

Cơ sở thứ hai là triết học Mác mà ông thuộc lòng từ trẻ. Triết học Mác dạy ông và rất nhiều người rằng đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo ra sự phát triển. Vì Nguyễn Phú Trọng muốn bảo vệ, xây dựng và phát triển Đảng nên ông đã và đang tiến hành các cuộc đấu cam go chống lại thế lực suy thoái trong Đảng.

Trong hai cơ sở nhận thức trên, cơ sở thứ nhất thuộc về trái tim. Trái tim có thể mù lòa, lạc lối và chúng ta chưa bàn sâu về sự u mê của trái tim vội. Chúng ta hãy bàn về cơ sở nhận thức thứ hai thuộc về phần trí tuệ. Nội hàm thực sự của cái gọi là biện chứng trong triết học Mác về sự đấu tranh giữa các mặt đối lập chỉ là một phần sơ khai của thuyết âm-dương. Nguyễn Phú Trọng đã dựa vào nội hàm đó, lấy nó làm cơ sở triết lý cho cuộc đấu tranh chặn suy thoái trong Đảng. Ông tin rằng đấu tranh chống tham nhũng, loại bỏ suy thoái, sẽ làm trong sạch Đảng và một Đảng trong sạch sẽ hoàn thành nhiệm vụ đưa đất nước đến giàu mạnh, dân chủ, công bằng. Nhưng ông đã quên rằng Đảng chỉ là một bộ phận trong mối quan hệ rộng lớn hơn đối với 90 triệu dân. Thực chất, Đảng là dương và dân là âm hoặc ngược lại. Bộ phận suy thoái trong Đảng là thiếu âm của dương và lực lượng tiến bộ trong nhân dân là thiếu dương của âm.

Khi Đảng đã suy thoái trầm trọng thì Đảng đang là dương trong giai đoạn trước dần biến màu thành âm trong hiện tại và cái thiếu âm (suy thoái) chính là lực lượng mang tính động lực thúc đẩy sự biến tính của Đảng, chuyển hóa Đảng từ dương thành âm. Trong khi đó, nhân dân vốn là âm (giai cấp bị trị) dần biến mầu thành dương và lực lượng tiến bộ trong nhân dân (trí thức, doanh nhân, các nhà dân chủ,…) đang là thiếu dương thì trở thành động lực thúc đẩy sự biến tính của âm (nhân dân) thành một lực lượng thống trị mới. Quan sát sự dịch chuyển đó, nếu Nguyễn Phú Trọng không lú, thì ông phải tiến hành cuộc tự diễn biến, nhập cuộc với lực lượng tiến bộ trong nhân dân để biến Đảng từ chỗ suy thoái thành tích cực. Do đó, nếu Nguyễn Phú Trọng giỏi về thuyết âm dương, giỏi về triết học thì ông không nên đấu tranh chống suy thoái trong Đảng mà phải tích cực ủng hộ tiến bộ trong dân. Cụ thể ông nên tiến hành dân chủ hóa từ làng xã, tổ chức bầu cử tự do, dân chủ thực sự dần dần từ làng xã, để loại bỏ cường hào cấp thấp, dần dần loại bỏ tham nhũng cấp cao và đưa đất nước đến văm minh, dân chủ. Nhưng Nguyễn Phú Trọng đã không làm như vậy, ông đã tiến hành đấu tranh trong Đảng, loại bỏ Nguyễn Tấn Dũng với mong muốn qua đó loại bỏ tham nhũng. Chắc chắn ông đã và sẽ gặp trở lực rất lớn.

Thắng lợi ở đại hội 12 vừa rồi chỉ là thắng lợi tạm thời. Ông, với tư cách là người có thâm niên nghề nghiệp trong xây dựng Đảng, sẽ đẩy Đảng đến chỗ tan rã khi cứ kiên quyết chống tham nhũng. Như vậy có thể kết luận, nếu ông chiến đấu ở thượng tầng, chặn suy thoái, chống tham nhũng, thì ông đang lú và ông sẽ thua, thua trong công tác xây dựng Đảng. ‘Đánh trên đánh xuống’, nhưng trầy trật mãi cũng không đánh được thì ‘dưới lại mạnh thế ngoi lên’. Như thế, coi như Tổng Trọng thất bại, dù đã nhiều trải biến chịu trận ‘cố đấm ăn xôi’, nhưng ‘lực bất tòng tâm’… Ngược lại, nếu ông đi với nhân dân, thì ông không lú và ông sẽ đi vào lịch sử dân tộc như một người có công trong việc loại bỏ chế độ toàn trị. Nhưng thôi, với phép suy chiếu – theo ngữ luận thường dùng của Tiến sĩ Xây dựng đảng là khách quan, biện chứng – thử phân tích vậy và ‘cứ biết vậy cái hẵng’, thử xem Tổng Trọng xoay vần đến đâu ?!

Th.T (Tác giả gửi BVB)

Vẫn chuyện ông Trump: Cộng Hòa họp khẩn cấp

Vẫn chuyện ông Trump: Cộng Hòa họp khẩn cấp
Nguoi-viet.com


Nguyễn Văn Khanh

Dùng chữ “họp khẩn” thì đúng là… hơi quá, nhưng chỉ nhìn nỗi lo âu hiện trên khuôn mặt của thành phần lãnh đạo đảng Cộng Hòa thì thấy ngay tình hình quả đã đến giai đoạn thật “cấp bách,” phải tìm cách cứu đảng và chận ông Donaald Trump.

Hình ảnh đó được thể hiện rõ hơn trong cuộc họp bỏ túi diễn ra ngay tại Washington D.C. vào trưa hôm Thứ Năm, 17 Tháng Ba 2016. quy tụ gần một chục nhà tài trợ và các chiến lược gia hàng đầu của đảng. Ðề tài của cuộc thảo luận: làm thế nào để ông tỷ phú Trump không trở thành ứng cử viên của đảng, và kể cả trong trường hợp ông Trump là người được cử tri Cộng Hòa chọn để ra tranh cử, làm thế nào để có một ứng cử viên vừa “tiêu biểu” cho “lập trường bảo thủ của đảng” vừa có đủ sức để chiến thắng. Nói rõ hơn: họ sẵn sàng ủng hộ một ứng cử viên khác, ra tranh cử đối đầu với cả bà Hillary Clinton của phía Dân Chủ và ông Trump, nhân vật hiện đang nổi bật nhất của cánh Cộng Hòa.


(Hình minh họa: Angelo Merendino/Getty Images)

Cuộc họp diễn ra vào đúng thời điểm tin tức bầu cử cho thấy toàn là những điều có lợi cho ông Trump. Trước hết là tin Thứ Ba tuần tới “gần như chắc chắn” ông Trump sẽ thắng cuộc bầu cử sơ bộ ở Arizona, kế đến là dự báo cho hay từ giờ cho đến đầu Tháng Sáu, ông tỷ phú nổi tiếng thế giới “chỉ cần lấy được 52% tổng số phiếu đại biểu” là đủ 1,237 phiếu để đại diện đảng. Vì thế, theo lời một người biết rõ chuyện, “cuộc họp mặt ở D.C. trở thành rất cần thiết,” vì “chẳng ai muốn ông Trump đại diện cho đảng” nhưng đồng thời những người tham dự “ai nấy đều cuống quít” vì không tìm được giải pháp để giải quyết điều họ đang lo sợ là không những ông Trump sẽ thua bà Clinton, mà sự hiện diện của ông ta có thể sẽ gây nên thảm trạng “vỡ đảng.”

Giới thạo tin tại Washington D.C. cho hay trong cuộc họp kéo dài hơn 3 giờ đồng hồ với sự hiện diện của nhà bình luận chính trị Erick Erickson và lãnh tụ tập thể Thiên Chúa Giáo bảo thủ Bob Fischer, nhiều ý kiến đã được nêu lên như sẽ dồn mọi nỗ lực ủng hộ Thượng Nghị Sĩ Ted Cruz hoặc mở mặt trận đánh bóng ông Thống Ðốc John Kasich, người vài ngày trước đây vừa chiến thắng ở tiểu bang nhà Ohio. Sau khi thảo luận, “mọi người đồng ý cả 2 giải pháp đó đều không khả thi,” vì “ông Cruz không thể nào lấy được 80% số đại biểu còn lại để đại diện đảng ra tranh cử tổng thống, đồng thời cũng tin rằng sau Ohio, ông Thống Ðốc Kasich khó có thể thắng được những tiểu bang khác.” Cuối cùng, mọi người đồng ý với nhau ở điểm: nếu tình hình hiện nay tiếp diễn, chắc chắn đến Ðại Hội Ðảng vẫn chưa có ứng cử viên nào đủ phiếu đại biểu, lúc đó thành phần lãnh đạo sẽ có cơ hội “dàn xếp” để đưa ra một liên danh đủ mạnh, lấy lại Tòa Bạch Ốc cho đảng Cộng Hòa.

“Ðây là điều đã được nhiều người nói tới” theo lời ông Henry Barbour, một nhân vật uy thế của lực lượng Cộng Hòa ở các tiểu bang miền Nam. “Chúng tôi đã làm rất nhiều bài toán, đã đưa ra mọi giả thuyết để xem ai là người có đủ 1,237 phiếu đại biểu. Cuối cùng, chúng tôi tin rằng mọi chuyện sẽ được quyết định ở Ðại Hội Ðảng, người được chọn có thể là ông Trump và cũng có thể không phải là ông Trump.”

Nếu điều đó xảy ra, “chuyện không yên ắng như mọi người nghĩ đâu” là lời cảnh báo của ông Joseph Twinning, từng làm việc với ban tham mưu vận động tranh cử cho Phó Tổng Thống Al Gore.

“Tôi thấy trong vài tuần gần đây chỗ nào ông Trump xuất hiện vận động là chỗ đó có gây gổ, chuyện người ủng hộ ông Trump và người chống đối ông ta đánh nhau cũng đã từng xảy ra và tôi tin sẽ tiếp tục xảy ra. Vì thế, nếu Ðại Hội Ðảng Cộng Hòa trở thành nơi để thành phần lãnh đạo đảng dàn xếp đưa ra một liên danh tranh cử, lúc đó chắc chắn sẽ có xáo trộn lớn.” Xáo trộn tới mức nào? Ông Twinning trả lời “nhẹ nhất là thành phần cử tri ủng hộ ông Trump biểu tình rầm rộ phía bên ngoài để làm áp lực, nặng nhất là những người ủng hộ ông Trump sẽ cướp diễn đàn, đòi hỏi phải chọn ông Trump, họ không chấp nhận ai khác.”

Chuyện sẽ có xáo trộn là chuyện chính ông tỷ phú Trump cũng đã nói tới. Thứ Tư tuần này khi trả lời phỏng vấn của đài truyền hình CNN. Ông Trump cho hay nếu ông không có đủ phiếu đại biểu và đảng dàn xếp loại ông để đưa người khác ra tranh cử, khối cử tri ủng hộ ông “sẽ nổi loạn.” “Nếu (đảng Cộng Hòa) không tôn trọng ý kiến của lực lượng cử tri ủng hộ tôi,” ông Trump nói thêm, “(lúc đó) sẽ xảy ra chuyện chưa từng xảy ra.”

Nhức nhối chuyện giáo dục ở Việt Nam

Nhức nhối chuyện giáo dục ở Việt Nam

VietTuSaiGon

RFA

Việt Nam là nước nghèo, dù đứng trên góc độ nào vẫn không thể chối bỏ thực trạng nghèo khổ và lạc hậu. Nhưng đáng sợ hơn cả là đất nước hình chữ S này lại gánh chịu trên đôi vai vốn gầy gò của mình cái gánh y tế và giáo dục quá tồi, hỏng hóc và vô luận. Chỉ có thể nói vậy!

Chuyện mất đạo đức của ngành y tế có thể xem như hết thuốc chữa, chỉ mong vào những thế hệ sau. Nhưng để có những thế hệ sau tốt hơn thì ngay từ bây giờ phải có một nền giáo dục tốt, một nền giáo dục đào tạo ra những con người đúng nghĩa chứ không phải những cái máy, những con vẹt hay những cá thể mang thần kinh khốn nạn (nói theo cách của giáo sư Ngô Bảo Châu).

Rất tiếc là hiện tại, nền giáo dục Việt Nam không những dự báo sẽ cho ra đời những cái máy, những con vẹt, những kẻ mang thần kinh khốn nạn mà rất có thể tương lai Việt Nam sẽ là những thế hệ khốn nạn, những đám đông khốn nạn và một đất nước khốn nạn.

Bởi lẽ, dù đứng trên góc độ nào thì nói về giáo dục, cái chuẩn đầu tiên và mục tiêu lớn nhất vẫn là con người chứ không phải cơ sở hạ tầng hay những cái chuẩn về cơ sở hạ tầng, những cái “chuẩn quốc gia” đậm tính hình thức và dung chứa đầy rẫy tham nhũng, hối lộ, đút lót và đánh mất lòng tự trọng.

Từ những năm 2010 cho đến nhay, có nhiều vụ nổi cộm về nạn bằng giả trong giới quan chức, đút lót để mua chức, đút lót để được dạy học, mua chỗ hành nghề trong giáo dục để hợp thức hóa việc dạy ngoài giờ, chạy sô trong giảng dạy… Những chuyện này, hầu như không có chuyện nào là không phản giáo dục, nếu không muốn nói là nó phát sinh nguy cơ làm cho nền giáo dục trở thành chợ búa và hổ lốn.

Nhưng đó vẫn chưa phải là chuyện cộm cán khi mà đạo đức của người dạy học trở nên băng hoại, đội ngũ quản lý giáo dục trở thành những kẻ cò mồi, tú ông, tú bà để đưa học sinh vào con đường trụy lạc với giới quan chức. Sự tổn thương về phẩm hạnh của học sinh trở thành thứ hàng xa xỉ để giới quan chức giáo dục bôi trơn con đường hoạn lộ thông qua việc môi giới cho những cuộc mua vui của giới quan chức hành chính cấp cao hơn.

Câu chuyện hiệu trưởng Sầm Đức Xương ở Hà Giang đã môi giới nhiều nữ sinh bán dâm cho giới quan chức cấp tỉnh và khi các em nữ sinh này tố cáo thì Sầm Đức Xương không bị gì mà chính các em nữ sinh, các nạn nhân bị truy tố trước cơ quan pháp luật địa phương. Điều này cho thấy giới quan chức, đặc biệt là quan chức ngành giáo dục đã không những đánh mất nhân cách, tư cách mà còn hiện rõ bản chất lưu manh, tú ông mà về nguyên tắc giáo dục họ tuyệt đối không được bén mảng đến gần môi trường phấn trắng bản đen.

Nhưng trong nền giáo dục Cộng sản xã hội chủ nghĩa, những kẻ lưu manh không những bị loại bỏ mà còn được nâng cấp, thăng tiến trở thành lãnh đạo ngành, kẻ làm sai quấy càng nhiều thì càng mau thăng quan tiến chức, kẻ càng nghiêm túc, càng có trách nhiệm với công việc bao nhiêu thì càng bị đày bấy nhiêu, bởi họ trở thành cái gai trong mắt của đám lãnh đạo.

Và những tưởng đây sẽ là bài học để giới quản lý giáo dục biết nhìn vào đó mà tổ chức quản lý tốt hơn cũng như giới cầm phấn đứng bục giảng sẽ lấy làm bài học mà tu thân, mà giữ đạo đức làm thầy. Nhưng không, hoàn toàn không dừng ở đó mà câu chuyện đáng xấu hổ này vẫn tiếp tục nảy nở.

Câu chuyện về thầy giáo Cao Văn Dũng (mà đa phần báo chí trong nước chỉ đăng tên C.V.D hoặc thầy D.) ở trường tiểu học Hưng Bình tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã xúc phạm thân thể, sờ mó vùng kín của các nữ học sinh lớp ba (tức hành vi dâm ô với học sinh tiểu học) và khi bị cha mẹ các em tố cáo, thầy giáo này vẫn chưa chịu bất kỳ hình thức kỉ luật nào tương thích. Giả sử giới quản lý giáo dục cố tình bao biện cho con yêu râu xanh này rằng y là một giáo viên giỏi, trường đang thiếu giáo viên thì điều này chỉ cho thấy hai vấn đề: Chạy theo thành tích và nói láo.

Bởi một nền giáo dục quen chạy theo thành tích từ chuẩn tỉnh cho đến chuẩn quốc gia dựa vào cơ sở hạ tầng và thành tích chạy thi giải này giải nọ nhưng yếu tố nhân cách, phẩm cách không bao giờ được đề cập thì chẳng những không tạo ra thế hệ con người tốt mà có nguy cơ lưu manh hóa xã hội.

Hơn nữa, giả sử lý do để không loại bỏ con yêu râu xanh này là vì trường thiếu giáo viên thì càng không hợp lý! Bởi hiện tại, có hàng ngàn sinh viên loại giỏi, loại khá đã tốt nghiệp nhưng không có chỗ để dạy, phải đi bưng bê thức ăn cho quán, đi phụ hồ, đi bưng cà phê, chạy xe ôm… để tồn tại. Như vậy giáo viên không bao giờ thiếu mà chỉ thiếu sự công bằng và thiếu sự minh bạch trong tuyển chọn, đào tạo cũng như bố trí công việc.

Trở lại chuyện giáo viên dâm ô với những học sinh tiểu học, những cháu bé này đang tuổi thiếu nhi, sự sờ mó của con yêu râu xanh này sẽ làm các cháu tổn thương tâm lý và khó có thể nói rằng tương lai của các cháu không bị khủng hoảng bởi một sự mặc cảm sâu xa nào đó. Lẽ ra thì tội dâm ô với trẻ em phải bị truy tố trách nhiệm hình sự. Nhưng ở đây, bà Ngô Thị Nguyệt, Phó trưởng phòng Giáo dục thành phố Vinh cho rằng mức độ sai phạm chưa có gì trầm trọng vì chưa để lại hậu quả nghiêm trọng và “do hoàn cảnh thầy Dũng nghèo khổ nên trường tạo điều kiện cho thầy vượt qua khó khăn…”(?!).

Chỉ riêng góc độ xã hội thuần túy thì tên Cao Văn Dũng đã phải lãnh án tù giam từ năm đến bảy năm với bản án hình sự. Đằng này hắn ta là một giáo viên, mà kẻ làm quản lý giáo dục lại cho rằng mức độ phạm tội chưa trầm trọng thì không còn gì để bàn!

Trong khi đó, chúng ta đang sống trong một đất nước mà ăn trộm một con gà có thể chịu ba năm tù, vậy mà dâm ô, sàm sỡ trẻ nít chỉ bị nhắc khéo.

Lẽ ra, động thái đầu tiên mà ngành giáo dục bắt buộc phải làm là loại bỏ tên giáo viên râu xanh này ra khỏi ngành nhằm giữ cho ngành giáo dục được trong sạch, sau đó chuyển toàn bộ hồ sơ phạm tội cũng như đơn thư tố cáo về những tội y gây ra sang cho ngành công an và Viện kiểm sát để họ tiếp tục điều tra làm rõ vấn đề.

Đằng này một Phó trưởng phòng giáo dục ở một thành phố là quê hương của ông Tổ Cộng sản Việt Nam, thành phố luôn “học tập và làm việc theo gương Bác” lại cho rằng tội sàm sỡ, dâm ô trẻ em vị thành niên là “không có gì trầm trọng”. Câu nói này chẳng khác nào đang đổ nước thối vào gương mặt của ngành và chứng minh rằng ngành giáo dục là thối nát, là chẳng có gì gọi là đạo đức.

Thế nhưng bà Nguyệt đã nói như vậy và kẻ sàm sỡ, dâm ô vẫn chưa bị bắt, vẫn còn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Điều này không những gây bức xúc cho giới phụ huynh học sinh mà còn cho thấy rằng nền giáo dục đang đứng ngay hố trũng của thối nát, băng hoại, vô liêm sỉ!

Và câu chuyện của Sầm Đức Xương cũng như câu chuyện của tên giáo viên mà báo chí nhà nước đăng với tên “thầy D.” chỉ cho thấy rằng tương lai đất nước này sẽ bệ rạc khinh khủng hơn hiện tại rất nhiều. Bởi các thế hệ trẻ của đất nước đang bị đầu độc bởi những tên lưu manh đội lốt nhà giáo và chúng được dung dưỡng, được bao che bởi giới quan chức lãnh đạo ngành dốt nát và cũng không kém phần khốn nạn.

Một tương lai của đám đông khốn nạn, tập thể khốn nạn, quốc gia khốn nạn đang chờ đợi chúng ta nếu như ngành giáo dục Việt Nam tiếp tục bị thao túng bởi những kẻ mang thần kinh khốn nạn như đang thấy!

DẤU CHỨNG TÌNH YÊU

DẤU CHỨNG TÌNH YÊU

Cô Ann Thomas kể lại câu chuyện sau đây:

Hôm đó, cô và Betty ghé vào một sạp bán đồ cũ. Ann vừa lôi ra một khay đồ linh tinh, Betty bước tới hỏi:

– Cô có đồ gì đáng giá không?

Ann trả lời:

– Không toàn là đồ năm vố thôi.

Đoạn cô bước sang bên cạnh nhường cho Betty vào xem. Betty chăm chú nhìn vào đống lặt vặt, nhặt lên một cây thập giá cũ han gỉ và nói:

Thật khó mà tin được. Tôi đã tìm được đồ quí: cây thánh giá này làm bằng chất bạc xưa.

Cô bạn của Ann đem về nhà lau chùi và đánh bóng cây thập giá. Đây quả là một vật quí.

Về sau, đứa con trai bảy tuổi của Betty tên Bobby cầm cây thập giá lên ngắm nghía hồi lâu. Bỗng nhiên cậu bé oà lên khóc. Betty liền hỏi:

– Con sao vậy?

Bobby nói:

– Con không cầm lòng được khi thấy Chúa Giêsu bị treo trên thập giá.

***

Ba người nhìn vào cây thập giá, có ba thái độ khác nhau: một người dửng dưng cho là đồ ve chai, người khác thích thú vì khám phá ra vật quí, còn người khác nữa lại xúc động rơi lệ vì nhận ra Đức Giêsu chịu đau đớn trên thập giá.

Tin Mừng hôm nay kể, Đức Giêsu bất thần hỏi các môn đệ: “Đám đông nói Thầy là ai?” Các ông thưa: “Họ bảo Thầy là ông Gioian Tẩy Giả, nhưng có kẻ thì bảo là ông Êlia, kẻ khác lại cho là một trong các ngôn sứ thời xưa đã sống lại”. Nhưng Người lại muốn biết suy nghĩ của chính họ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Và chỉ một mình Phêrô mau mắn, đầy xác tín thưa: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa” (Lc 9:18-20).

Phêrô trả lời quá chính xác, các môn đệ khác thở phào nhẹ nhõm vì các ông còn mơ hồ không biết Thầy là ai. Nhưng Đức Giêsu phải xác định ngay rằng Đấng Kitô đây không phải là vị vua chiến thắng muôn nước, bá chủ muôn dân, khôi phục nước Israel, giải phóng nô lệ Rôma như họ vẫn nghĩ. “Đấng Kitô của Thiên Chúa” sẽ là vị vua chiến thắng tử thần, chinh phục các tâm hồn, khôi phục quyền làm con Chúa, và giải phóng con người khỏi ách nô lệ tội lỗi, ma quỉ.

Tuy nhiên, con đường đi đến chiến thắng lại là con đường đau khổ, con đường thập giá: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng các kinh sư loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sống lại” (Lc 9,22). Tất cả những ai muốn làm môn đệ Người, không thể đi con đường nào khác: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23).

Thập giá tuy là một khí cụ độc ác và ô nhục mà con người đã nghĩ ra để hành hạ kẻ khác, nhưng Đức Giêsu lại biến nó thành dấu chứng của tình yêu: Tình yêu vâng phục thánh ý Cha và tình yêu dâng hiến cho nhân loại. Khi nhìn lên thập giá, chúng ta không ngừng nghe vang vọng lời yêu thương ấy. Chính tình yêu đã biến thập giá trở nên nhẹ nhàng, và khổ đau thành nỗi hân hoan.

Chúa đã chết thay cho chúng ta, mặc dầu chúng ta không xứng đáng ơn cao cả ấy, tại sao chúng ta lại không dám chết cho chính mình, từ bỏ tội lỗi để bước theo chân Người? Chúa đã sẵn lòng chịu mọi đau khổ cực hình thay cho chúng ta, mặc dầu chúng ta ngàn lần bất xứng, tại sao chúng ta lại từ chối hy sinh cho anh em, đang cần sự nâng đỡ ủi an?

***

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã phán: “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai mất mạng sống mình vì Tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”, xin ban cho chúng con ơn can đảm, để chúng con luôn sẵn lòng bỏ mình cho tình yêu. Xin cho chúng con tìm được niềm vui khi đón nhận mọi gian nan thử thách Chúa gởi đến trên đường đời. Amen!

Thiên Phúc

Anh chị Thụ & Mai gởi

Những lời nói thật lòng

Những lời nói thật lòng

Lang Anh

19-3-2016

1. Dự cả hai lần hội nghị hiệp thương, khi được mời góp ý, thiếu tướng Trần Ngọc Thổ – nguyên Tham mưu trưởng Quân khu 7 – nói: “Vừa rồi họp ở địa phương, tôi cũng nói việc lựa chọn ĐBQH hết sức cẩn thận. Nhìn vào danh sách ứng cử ĐBQH thì thấy ngoài Đảng quá nhiều, tự ứng cử quá nhiều. Đây là tổ chức thứ tư (ý ông Thổ nói MTTQ VN – PV) của Đảng sau Chính phủ, Nhà nước, Quốc hội chứ có phải ai muốn vào thì vào, ai muốn ra thì ra”.

Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ: ‘Tự ứng cử quá nhiều’

2. Trả lời câu hỏi về việc tới nay liên quan tới kiện toàn các chức danh nhà nước thì đã có ai nộp đơn xin từ chức chưa, thí dụ như trường hợp của Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội?

Ông Nguyễn Hạnh Phúc cho biết, không nhất thiết những trường hợp này phải nộp đơn xin từ chức, vì công tác nhân sự là của Đảng. Không nhất thiết Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội phải có đơn từ chức

3. Tổng Bí thư nhấn mạnh, để hạn chế thấp nhất thiệt hại, không để người dân thiếu nước ngọt, cần chủ động phương án phòng chống, thích ứng cho cả trước mắt và lâu dài, nghiên cứu chuyển đổi cây trồng vật nuôi, cơ cấu kinh tế phù hợp, như phát triển công nghiệp chế biến gắn với vùng cây nguyên liệu vốn là tiềm năng thế mạnh của địa phương.

Trước mắt, cần kiểm tra xử lý kịp thời tình trạng xâm nhập mặn, làm sao ngăn mặn, giữ ngọt, tìm ra những nguyên nhân không chỉ khách quan mà cả chủ quan để tháo gỡ giải quyết, cái gì vướng mắc thì đề nghị Trung ương hỗ trợ, cần có phương án chủ động, tính toán kỹ lưỡng các kịch bản có thể xẩy ra.

“Trung ương luôn sát cánh cùng bà con vùng hạn mặn vượt khó khăn”

Ba sự kiện, ba kiểu phát ngôn của các quan chức cấp cao của Đảng.

Phát ngôn đầu tiên là của thiếu tướng Trần Ngọc Thổ, nguyên tham mưu trưởng Quân khu 7. Ông bày tỏ nỗi ấm ức của ông trước thực trạng số Đại biểu tự ứng cử Đại Biểu Quốc Hội năm nay quá nhiều so với các kỳ bầu cử trước. Trong cơn bực tức của mình, ông đã buột miệng nói trắng ra, là Mặt trận tổ quốc cùng với Chính phủ, Nhà nước và Quốc hội tất cả đều là thành phần trong 4 tổ chức của Đảng mà thôi. Một lời nói rất thật lòng của một đảng viên cấp cao cho thấy bản chất của nền chính trị Việt Nam, dù cơ quan tuyên huấn vẫn ngày ngày rao giảng nói về nhà nước và quyền lực thuộc về nhân dân. Ông Thổ có lẽ đã cho mình trèo qua hiến pháp khi bất bình về cái quyền ứng cử, vốn là quyền đương nhiên của công dân căn theo hiến pháp và cả Luật bầu cử quốc hội được thông qua ngày 22/06/2015 vốn vẫn chưa ráo mực.

Cũng trong cùng mạch sự kiện, ông Nguyễn Hạnh Phúc, tổng thư ký Quốc hội, khi trả lời về công tác quyết định nhân sự cấp cao của chính phủ, vốn được Hiến pháp ghi rõ là thẩm quyền thuộc về Quốc hội thì cũng đã trả lời rất thẳng thắn: “Công tác nhân sự là của Đảng”

Có lẽ cả ông Phúc và ông Thông không lường hết được tính lan truyền và phổ cập của thông tin toàn cầu. Cũng có thể các ông quá tự tin và cho rằng chẳng có gì phải dấu diếm. Dù sao thì những câu nói rất thật lòng của các ông chỉ phơi bày một sự thật duy nhất thôi: Ở đất nước này, người dân chẳng có quyền gì ngoài quyền đóng thuế. Mọi sự bầu bán, mọi thứ được gọi là lá phiếu, chỉ là câu chuyện riêng của Đảng Cộng Sản với 4,5 tr đảng viên. Liệu còn bao nhiêu người Việt Nam nữa còn chưa chịu nhìn thẳng vào sự thật mà chính các đảng viên cao cấp nhất của ĐCS đã thẳng thắn phơi bày.

Cuối cùng, nhân sự kiện cả vùng đồng bằng sông Cửu long chết khát, lúa chết, người cũng đang khát, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng công cán đến ngó xem và để lại một phát ngôn dân tuý: “Trung ương luôn sát cánh cùng bà con hạn mặn vượt khó khăn”

Cảnh báo về thiếu nước ngọt vùng đồng bằng sông Cửu Long đã được đưa ra từ 20 năm qua khi Trung Quốc bắt đầu xây những con đập đầu tiên tại thượng nguồn và cổ suý các nước khác xây đập trên dòng chính sông Mekong. Trong khoảng 10 năm qua, dù liên tục trải qua bất ổn, thay chính phủ liên tục và đảo chính liên miên, nhưng Thái Lan, dù bất cứ ai nắm quyền, cũng đều có những kế hoạch dài hơi để đối phó vấn đề này, dù mức chịu ảnh hưởng của Thái thấp hơn Việt Nam rất nhiều. Ngày hôm nay, hạn nặng khắp vùng hạ lưu sông MeKong, nhưng người Thái đã sẵn sàng các trạm bơm, hồ nước và đập chứa để đối phó tình hình. Gần nhất là họ đang bơm 47 triệu m3 nước từ dòng chảy chẳng còn nhiều của sông Mekong để dự trữ cho nông nghiệp Thái Lan. Tất nhiên, những trạm bơm và hồ chứa ấy không tự nhiên sinh ra. Người Thái đã chuẩn bị cho chúng trong hàng chục năm.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, có lẽ cần phải hỏi ông điều này, Đảng cộng sản đã luôn cầm quyền và luôn được nghe cảnh báo. Mười năm qua, đã có bao nhiêu hồ chứa, bao nhiêu đập trữ nước được chuẩn bị để đối phó với tình hình ở đồng bằng sông Cửu long? Để đến nỗi bây giờ hạn hán cạn khô, Đảng chỉ còn cách cầu xin Trung Quốc xả van mà hầu hết các chuyên gia tính toán điều đó chẳng cứu được gì nhiều cho cơn khát tại Nam bộ. Cuối cùng thì đất nước này còn cần quỳ gối trước Trung Quốc thêm bao nhiêu lần nữa cùng với các ông, để đổi lại vẫn là đói nghèo và chết khát???

Lý Chánh Trung có là trí thức cánh tả?

Lý Chánh Trung có là trí thức cánh tả?

Bùi Văn Phú Gửi cho BBC từ Hoa Kỳ

BBC

Giới trí thức thời Việt Nam Cộng hòa ai cũng nghe biết đến giáo sư Lý Chánh Trung qua những bài viết gây sôi nổi về tinh thần dân tộc, lòng yêu nước và về tinh thần tôn giáo nhập thế.

Qua những tập sách, cùng hàng trăm bài báo, ông đưa ra lý luận triết học, những cái nhìn từ đường phố, qua đó phản ánh quan điểm của ông là chống lại sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam, là mơ ước một xã công bằng, không còn cảnh người giầu bóc lột người nghèo.

Trong sinh hoạt của giới trí thức thời đó, giáo sư Trung không chỉ ngồi trong tháp ngà hay quanh quẩn ở sân trường, nơi giảng đường đại học để nói những điều lý thuyết mà ông đã dấn thân, xuống đường cùng với những nhà đối lập, những lãnh đạo tôn giáo, với thanh niên, sinh viên vì mục tiêu độc lập, tự chủ của đất nước. Ông tham dự ngày Ký giả Ăn mày dưới đường phố Sài Gòn, ông đến chùa Quảng Hương dự lễ ra mắt của Mặt trận Nhân dân Cứu đói.

Sinh hoạt của các phong trào, mặt trận này sau ngày 30/4/1975 đã được nhiều lãnh đạo thành đoàn xác nhận là những bình phong hoạt động của cộng sản.

Qua tác phẩm “Tìm về dân tộc”, xuất bản lần đầu năm 1967, khi tình hình chính trị miền Nam đầy rối ren và lính chiến đấu Mỹ đã được đưa vào Việt Nam, ông lên tiếng cảnh báo về một đất nước đang rơi vào hoàn cảnh bị đô hộ bởi người Mỹ, sau nhiều năm bị đô hộ bởi thực dân Pháp, cho dù ông đã được theo học ở các “trường dòng”, tức trường công giáo, từ Taberd ở Sài Gòn, Thiên An ở Huế và ông đã theo đạo công giáo năm 20 tuổi. Năm 1950 ông đi du học Bỉ, tại trường Đại học Công giáo Louvain và tốt nghiệp cử nhân ban tâm lý học và cử nhân chính trị học.

Năm 1956 ông về nước, làm việc tại Bộ Giáo dục với chức công cán ủy viên rồi lên đến đổng lý văn phòng của bộ này. Ông cũng dạy triết tại các đại học ở Sài Gòn, Huế, Đà Lạt.

Ông chủ trương một đất nước hoàn toàn độc lập, không chấp nhận có trường Tây trên lãnh thổ miền Nam, vì cho rằng như thế sẽ đào tạo ra một lớp người việt vong bản, mất gốc ngay trên quê hương. Ông kêu gọi phụ huynh cho con em theo học trường Việt cho dù số học sinh quá đông, đến 60 trong mỗi lớp, và trường sở phương tiện giáo dục còn thiếu thốn.

Rồi những năm sau đó ông lại chê hệ thống giáo dục của miền Nam khi ông viết trên báo Điện Tín ngày 1/3/1972:

“Ngay trong một môi trường tương đối thuận lợi như VĐH Đà Lạt, tôi thấy công cuộc giáo dục chẳng đi tới đâu hết cả, ngoài cái việc cấp phát hằng năm một mớ văn bằng. Những văn bằng mỗi năm thêm mất giá! Chẳng những mất giá vì trình độ sút giảm mà còn mất giá vì văn chương chữ nghĩa ngày nay đã rẻ hơn bèo, vì bực thang giá trị đã hoàn toàn đảo lộn, vì chiến tranh đã bít nghẽn mọi tương lai”. [“Đối diện với chiến tranh” tr. 165. Lý Chánh Trung, Nxb Trẻ 2000]

Từ những cái nhìn về triết học, tôn giáo, và trên quan điểm dân tộc giáo sư Lý Chánh Trung đã tham gia vào chính trị, vào các phong trào tranh đấu.

Trước Tết năm 1968, ông cùng 65 giáo chức đại học ký tên vào một thư ngỏ với mục đích kêu gọi ngưng bắn giết trên quê hương: “Để có không khí thích hợp cho những cuộc đối thoại cởi mở giữa những phe tham chiến và nhất là để cứu hàng ngàn người tiếp tục đổ máu trong khi những người có trách nhiệm đang đi tìm sáng kiến giải quyết xung đột, chúng tôi thiết tha kêu gọi các phe tham chiến hãy kéo dài vô hạn định thời gian hưu chiến nhân dịp Tết Nguyên đán và tìm phương thức tiến ngay đến hòa bình thực sự”. [Báo Sống Mới ngày 24/1/1968, in lại trong “Đối diện với chiến tranh” tr. 22]

Một tuần sau khi lời kêu gọi được đưa ra, bộ đội cộng sản Bắc Việt mở những cuộc tấn công vào các tỉnh thành miền Nam ngay trong những ngày đầu năm âm lịch. Đó là Tổng Tấn công Tết Mậu Thân đã đi vào lịch sử của cuộc chiến tranh tàn khốc trên quê hương.

Lời kêu gọi đó của những người trí thức, vì thực sự muốn hòa bình hay việc làm này đã được một ai trong lãnh đạo thành đoàn cộng sản chỉ đạo, để che đậy cho chiến dịch tấn công quân sự đang được khai triển? Nghi vấn đó cũng đã được nhiều người đặt ra cho giáo sư Lý Chánh Trung: Ông chỉ là người trí thức công giáo cánh tả, thuộc Thành phần thứ Ba hay ông được cộng sản móc nối để hoạt động nội thành?

Trong quá khứ ông đã phát biểu rằng ông không là đồng chí với người cộng sản mà chỉ đồng hành với họ. Ông được cho là đứng chung với những nhóm tranh đấu cho một miền Nam không lệ thuộc ngoại bang, không cộng sản.

Nhưng nhìn lại các phong trào tranh đấu chống chính quyền ở miền Nam, sau ngày 30/4/1975 nhiều cán bộ nội thành đưa ra những bằng chứng cho thấy nhiều tổ chức cánh tả và Thành phần thứ Ba đã được điều phối bởi cộng sản.

Những nhân vật chính trị như Ngô Công Đức, Nguyễn Văn Binh, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Lý Quý Chung; tôn giáo như Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần, Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín và thành phần sinh viên học sinh như Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng, Dương Văn Đầy, Lê Văn Nuôi, Nguyễn Công Khế, Ngô Kha, chưa kể đến những người đã quyết định vào bưng theo cộng sản như Trương Như Tảng, Lê Văn Hảo, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường v.v…

Sau ngày 30/4/1975 giáo sư Lý Chánh Trung đã bị nhiều sinh viên một thời xem ông là thần tượng phản đối vì thái độ ủng hộ chính quyền mới của ông trước vấn đề sinh viên không được học hành mà bị bắt buộc phải đi nghe nhà nước tuyên truyền chính trị, về vấn đề học tập cải tạo kéo dài đối với quân cán chính miền Nam.

Trong khi đó ông tham gia Mặt trận Tổ quốc, là ủy viên ban chấp hành trung ương, làm phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh và được đưa vào Quốc hội các khoá VI, VII và VIII.

Ông chỉ bị thất sủng và sau đó bị loại ra khỏi các chức vụ nhà nước sau khi ông phát biểu năm 1988 về việc bầu Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tức thủ tướng, mà chỉ có một ứng cử viên. Ý của ông là không muốn bầu cử độc diễn vì trước đây ở Sài Gòn ông đã chống lại ông Nguyễn Văn Thiệu ra tranh cử chỉ có một mình vào năm 1971.

Khoảng thời gian đó là lúc có chính sách đổi mới về kinh tế và cởi trói về văn nghệ nên ông còn mời nhà văn Dương Thu Hương đến nói chuyện về những tác phẩm của bà.

Giáo sư Trung cũng được chú ý đến nhiều khi viết bài trên báo đưa ra nhận định là môn học chính trị về triết thuyết Mác-Lê không còn hợp thời đại vì thày thì không muốn dạy và trò cũng không còn muốn học.

Sau khi các chế độ cộng sản ở Đông Âu sụp đổ và Liên bang Xô-viết tan rã thì ở Việt Nam mọi thứ lại bị xiết lại, với cá nhân ông, cũng như trong sinh hoạt của giới trí thức, văn học.

Nhưng trong 40 năm sống với cộng sản, ông dường như im lặng trước một xã hội vẫn đầy bất công, nền giáo dục xuống cấp.

Giới trí thức miền Nam cũ mong đợi ông sẽ có những thái độ với nhà cầm quyền cộng sản trước những bế tắc của xã hội do bởi chính sách độc tài chuyên chính dựa trên chủ thuyết Mác-Lê, như một số nhân vật đã lên tiếng là Tướng Trần Độ, nhà toán học Trần Xuân Bách, linh mục Chân Tín, giáo sư Nguyễn Ngọc Lan, luật sư Đoàn Thanh Liêm, giáo sư Đoàn Viết Hoạt, luật sư Lê Hiếu Đằng v.v… Nhưng ông đã không lên tiếng.

Kể từ đầu thập niên 1990 ông hầu như im lặng trước những vấn đề của thời cuộc.

Đến năm 2000, 50 bài viết của ông từ thời Việt Nam Cộng hòa được cho phép in lại trong tập “Đối diện với chiến tranh”. Đó là những bài chọn ra từ 300 bài viết đã được đăng trên các báo ở miền Nam trước năm 1975.

Nhiều người trách thái độ xu thời theo cộng sản của ông. Theo hồi ký của Võ Long Triều, một người từng là bạn của giáo sư Trung, thì đó là vì thái độ ham danh lợi của ông.

Dưới thời Việt Nam Cộng hòa giáo sư Lý Chánh Trung năng nổ xuống đường, có dăm bảy tác phẩm được xuất bản và rất nhiều những bài chính luận, nhận định về sự đồi trụy văn hóa, bất công xã hội, về nguy cơ bị nô lệ ngoại bang đã được đăng trên các báo và tạp chí.

Nhưng trong 40 năm sống với cộng sản, ông dường như im lặng trước một xã hội vẫn đầy bất công, nền giáo dục xuống cấp, hòa hợp hòa giải dân tộc không có, quyền tự quyết không được tôn trọng là những điều trước đây ông luôn quan tâm và lên tiếng.

Giáo sư Lý Chánh Trung sinh ngày 23/12/1928 tại Trà Vinh, mất ngày 13/3/2016 tại Sài Gòn, hưởng thọ 89 tuổi.

Các tác phẩm của ông: Cách mạng và đạo đức (1960), Ba năm xáo trộn (1967), Tìm về dân tộc (1967), Tìm hiểu nước Mỹ (1969), Những ngày buồn nôn (1972), Tôn giáo và Dân tộc (1973) và Đối diện với chiến tranh (2000).

Tác giả là một nhà báo tự do hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, California.

Việt Nam sai khi ‘nhờ cậy’ Trung Quốc cứu hạn

Việt Nam sai khi ‘nhờ cậy’ Trung Quốc cứu hạn
Nguoi-viet.com

CẦN THƠ (NV)Ðó là nhận định của ông Lê Anh Tuấn, phó giám đốc Viện Nghiên Cứu Biến Ðổi Khí Hậu thuộc Ðại Học Cần Thơ. Nhận định này được trình bày trên tờ Thơi báo Kinh tế Sài Gòn.

Ðồng bằng sông Cửu Long đang đối diện với một đợt hạn hán chưa từng có. Do trời nóng nhiều ngày, ít mưa, lưu lượng nước giảm từ 30% đến 60% và do Trung Quốc trữ nước để vận hành các công trình thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong, tại đồng bằng sông Cửu Long đang có hàng trăm ngàn hecta lúa và các loại cây khác chết khô, hàng triệu người khốn khổ do thiếu nước ăn uống.


Ông Thạch Thanh (42 tuổi) ở vùng bị mặn xâm nhập nặng thuộc huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, bần thần bên ruộng lúc khô cằn, nứt toác. (Hình: VNExpress)

Hôm 15 tháng 3, 2016, Trung Quốc đã bắt đầu xả nước từ đập thủy điện Cảnh Hồng, tọa lạc tại tỉnh Vân Nam để hỗ trợ Việt Nam chống hạn. Trong khi Việt Nam đề nghị để giúp ngăn mặn, giảm thiệt hại do hạn hán, Trung Quốc nên xả nước nhiều đợt từ nay đến trung tuần tháng 8, mỗi đợt khoảng bảy ngày, lưu lượng xả phải vào khoảng 2.300 khối mỗi giây thì Bộ Ngoại Giao Trung Quốc thông báo, việc xả nước chỉ kéo dài cho đến ngày 10 tháng 4.

Theo các viên chức Việt Nam thì phải mất khoảng nửa tháng, nước từ đập thủy điện Cảnh Hồng mới về tới đồng bằng sông Cửu Long.

Tuy việc Trung Quốc xả nước không như Việt Nam mong muốn nhưng một số viên chức Việt Nam hy vọng, nhờ vậy, nước mặn sẽ bị chặn lại, không lấn sâu hơn vào đất liền và các địa phương sẽ có nước để tổ chức tích trữ.

Trong bài viết có tựa là “Hạn, mặn ở đồng bằng sông Cửu Long: Có nên trông chờ vào thủy điện Trung Quốc?,” ông Tuấn không xem việc Trung Quốc xả nước, hỗ trợ Việt Nam chống hạn là đáng “phấn khởi.”

Ông nhấn mạnh, Trung Quốc không cho biết sẽ xả bao nhiêu nước và phương thức xả (liên tục hay gián đoạn trong khoảng thời gian từ nay đến 10 tháng 4. Ông Tuấn bảo rằng, điều đó chẳng có gì lạ vì xưa nay, tin tức và số liệu về thủy văn từ phía Trung Quốc lúc nào cũng rời rạc và mơ hồ như vậy.

Ông Tuấn cho biết, mỗi năm, đoạn thượng nguồn sông Mekong chảy trên đất Trung Quốc đóng góp khoảng 21% lượng nước cho khu vực trung lưu và hạ lưu của con sông này. Ðập của nhà máy thủy điện Cảnh Hồng (Jinghon) là nơi gần Lào nhất. Bên trên Cảnh Hồng còn năm đập nước khác trong chuỗi 14 đập nước mà Trung Quốc dự tính xây dựng tại thượng lưu sông Mekong. Dung tích hữu dụng của hồ chứa nước thuộc nhà máy thủy điện Cảnh Hồng là 249 triệu mét khối nước. Nếu Trung Quốc chỉ dùng hồ chứa nước thuộc nhà máy thủy điện Cảnh Hồng để giúp Việt Nam chống hạn theo đề nghị của Việt Nam thì chỉ sau 30 tiếng, hồ chứa nước của nhà máy thủy điện Cảnh Hồng sẽ cạn.


Bản đồ phác họa tình trạng hạn hán và nước mặn xâm nhập đồng bằng sông Cửu Long. (Ðồ họa: zing.vn)

Cũng vì vậy, hy vọng nước từ nhà máy thủy điện Cảnh Hồng sẽ giúp ngăn mặn, tích trữ để chống hạn bị ông Tuấn xem là hão huyền. Ông Tuấn cho rằng, có nhiều lý do khiến đề nghị Trung Quốc xả nước giúp Việt Nam ngăn mạn và giảm thiệt hại bởi hạn hán là thiếu khôn ngoan. Với đặc điểm như đã kể của nhà máy thủy điện Cảnh Hồng, Trung Quốc sẽ chỉ xả cầm chừng, rửa được tiếng nhơ (vô trách nhiệm trong sử dụng tài nguyên, hủy diệt môi trường và nguồn sống của hàng trăm triệu người), mua được tiếng tốt (có trách nhiệm với các quốc gia ở khu vực hạ lưu sông Mekong) mà vẫn duy trì được hoạt động của nhà máy thủy điện Cảnh Hồng.

Ngoài ra do khoảng cách từ nhà máy thủy điện Cảnh Hồng đến đồng bằng sông Cửu Long lên tới 4,000 cây số, địa hình của Lào, Thái Lan, Cambodia lại có nhiều nhánh, vùng trũng nên theo ông Tuấn lượng nước thật sự về tới đồng bằng sông Cửu Long sẽ chẳng còn được bao nhiêu.

Chưa kể khi về tới đồng bằng sông Cửu Long, lượng nước mà nhà máy thủy điện Cảnh Hồng xả ra sẽ không cứu cho hàng trăm ngàn hecta lúa và cây trồng khác đã chết khô sống lại.

Giữa tháng 4, thời điểm nhà máy thủy điện Cảnh Hồng ngưng xả nước là thời điểm toàn khu vực không có mưa, hạn hán sẽ nghiêm trọng hơn. Quyết định của Trung Quốc: Xả nước giúp Việt Nam chống hạn chẳng đem lại lợi ích nào thật sự tích cực cho Việt Nam.

Phó giám đốc Viện Nghiên Cứu Biến Ðổi Khí Hậu thuộc Ðại Học Cần Thơ nhắc lại kinh nghiệm của nhiều quốc gia khác, đó là khi đối diện với hạn hán nghiêm trọng, người ta chấp nhận thiệt hại, không tìm mọi cách để chuyển nước từ nơi khác đến để cứu hạn vì điều đó vô nghĩa do tốn kém quá mức, hiệu quả kinh tế rất thấp. Bên cạnh đó, các quốc gia này đều tích lũy nguồn lực để hỗ trợ thích đáng những người bị thiệt hại do hạn hán nói riêng và thiên tai nói chung.

Ông Tuấn cho rằng, đợt hạn hán và nước mặn xâm nhập lần này là một cơ hội để xem lại tính hiệu quả của hàng loạt chính sách mà chính quyền Việt Nam đã thực hiện trong quá khứ, bất chấp các khuyến cáo từ giới chuyên gia: Ngọt hóa vùng ven biển. Thoát lũ ra biển Tây. Xây dựng hệ thống đê bao, phá bỏ hai hồ chứa nước tự nhiên lớn nhất ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long là Ðồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên để tăng diện tích trồng lúa.

Theo ông Tuấn, dẫu hậu quả của đợt hạn hán và nước mặn xâm nhập lần này rất nghiêm trọng nhưng nó sẽ trở thành tích cực nếu xem lại toàn bộ định hướng phát triển kinh tế-xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long. (G.Ð)

Sầm Sơn & Đồ Sơn

Sầm Sơn & Đồ Sơn

tuongnangtien

RFA

“Một người đến Sầm Sơn trước và sau khi đọc Trống Mái sẽ … nhìn Sầm Sơn khác đi. Bởi quyến vọng biển, núi, mây, nước trong tác phẩm có khả năng thúc đẩy, chuyển biến, có khả năng thay đổi con người, mời gọi viễn du, invitation au voyage, nói theo Bachelard. Và nói theo ngôn ngữ hàng ngày, Trống Mái có khả năng sáng tạo lại môi sinh, tìm về một thế giới nguyên thủy, ở đó có sự thăng hoa của con người đến bầu trời tự do sáng tạo.”

Tôi chưa bao giờ có cơ hội được đặt chân đến Thanh Hoá, và cũng chưa đọc tác phẩm Trống Mái nên không khỏi cảm thấy xấu hổ (lẫn ngạc nhiên) khi xem đoạn văn thượng dẫn của nhà phê bình văn học Thụy Khuê.

Tôi xấu hổ vì vốn kiến thức cùng vốn sống nghèo nàn/hạn hẹp của mình, và ngạc nhiên về khả năng (“thay đổi con người, mời gọi viễn du, invitation au voyage”) của thiên nhiên, qua ngòi bút Khái Hưng.

Nếu nhà văn của chúng ta đừng bị thủ tiêu vào năm 1947, và vẫn sống cho đến hôm nay – chắc chắn – ông cũng kinh ngạc (không ít) khi biết ra rằng Sầm Sơn còn có khả năng “khêu gợi lòng tham” nữa. Bãi biển này, trong những ngày qua, đã làm xôn xao dư luận.

Bãi biển Sầm Sơn. Ảnh: Tuấn Minh

Xin ghi lại đây là vài nhận định – ở trong cũng như ngoài nước, và của cả hai lề – để rộng đường dư luận.

  • Bùi Thanh Hiếu: “Cướp lớn ở Sầm Sơn… Liên tiếp những ngày đầu tháng 3 năm 2016, các ngư dân thuộc thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã biểu tình để phản đối dự án khu ăn chơi nghỉ dưỡng của tập đoàn FLC triển khai ở bờ biển Sầm Sơn.”
  • Thạch Lựu: “Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được, ngày 03/3/2016 cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hoá đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự ‘gây rối trật tự công cộng’ và đang tiến hành điều tra, củng cố chứng cứ về hành vi phạm tội của một số đối tượng để xử lý nghiêm trước pháp luật.”
  • Văn Thị Hương: “tôi thử hỏi, 100 triệu các đồng chí bồi thường cho mỗi hộ dân, họ làm gì khi nguồn thực phẩm chính của họ bị mất, đất đai ruộng vườn không còn, khu công nghiệp không có, giá đất tăng vọt, lạm phát tăng, tệ tham nhũng chưa hết?”
  • Hoàng Anh – Văn Hùng:  “Điều bức xúc của người dân Sầm Sơn… Sau khi nhường hết đất cho Cty CP Tập đoàn FLC xây dựng các đại dự án sân golf, resort, khách sạn nghỉ dưỡng…, hàng nghìn người dân ở các xã Quảng Cư, phường Trung Sơn, Trường Sơn, Bắc Sơn… thuộc thị xã Sầm Sơn (tỉnh Thanh Hóa) chỉ còn sinh kế cuối cùng là bám biển mưu sinh. Vậy mà cũng chẳng yên…

Theo quan sát của phóng viên, hàng trăm người dân các xã Quảng Cư, phường Trung Sơn, Trường Sơn và Bắc Sơn đã tập trung trước cổng UBND tỉnh Thanh Hóa. Họ mang theo mỳ tôm, bánh mỳ, nước uống và cả chăn chiếu để chờ đợi gặp lãnh đạo tỉnh. Tuyến đường chính trước cổng UBND tỉnh phải lập hàng rào, hàng chục công an, cảnh sát được huy động để giữ trật tự. Người dân kiên trì chờ đợi.

Chúng tôi sẽ sống bằng gì nếu mất bãi biển”?

Ảnh: Tuấn Minh

Nỗi băn khoăn về sinh kế của người dân Sầm Sơn, trong những ngày tháng tới, khiến tôi chợt nhớ đến Đồ Sơn và sự “phồn thịnh” ở nơi đây nhờ vào dịch vụ bán dâm:

“Bãi biển Đồ Sơn nằm trong những bãi biển du lịch nổi tiếng. Nhưng nói không ngoa chút nào, nếu thiếu và yếu cái dịch vụ đi kèm thì Đồ Sơn chẳng thu hút được mấy khách. Từ lâu, những cô gái chân dài tứ xứ đã đổ về đây cư ngụ, mưu sinh bằng cái thứ mà ông trời ban phát. Hễ nói đi Đồ Sơn là nhiều người lại nháy mắt nhìn nhau bí hiểm. Bởi đến đây, ngoài mục đích là tắm biển thì cái thú vui duy nhất được khách du lịch quan tâm tới đó là…chơi gái…

Ở Đồ Sơn người ta gọi cái nghề bán miền xuôi, nuôi miền ngược này là ngành công nghiệp không khói hay còn nói hay ho là nghề làm giàu không khó. Xây một cái nhà nghỉ, nuôi mấy ả cave, chăn thêm mấy đứa bảo kê là ngồi một chỗ đếm tiền. Tiền vào như nước, mỗi ngày vài chục triệu đồng dễ ợt. Trong khi nền kinh tế suy thoái chưa có hồi kết nhưng những tụ điểm mây mưa, thác loạn như thế này thì vẫn ăn nên làm ra.” (Biên Thùy – “Những Cuộc Mua Vui Nhớp Nháp Ở Đồ Sơn”).

Số lần “nhớp nháp” của khách mua vui đều được ghi chép cẩn thận trong nhật ký của người bán. Xin xem qua đôi dòng của ký giả Anh Đào viết về một cuốn Nhật Ký Đồ Sơn:

Nguồn ảnh: báo Lao Động

“Đó là nhật ký ‘làm việc’ của một cô gái mại dâm gần như kín các dấu ‘X’. Sở dĩ phải ghi chép là để cuối tháng, cuối tuần, cuối ngày ‘đọ sổ’ với chủ mà thanh toán tiền, giống hệt với một dạng ‘chấm công’. Đây là một đoạn trong bài viết: ‘Những ký hiệu dấu sao ‘*’ trong vòng tròn, đó là ‘đi qua đêm’ và được tính bằng 3 ‘cuốc’ đi nhanh. ..Dấu ‘X’ có gạch dưới là những lần đi một lần, tính với chủ là 1, nhưng em cho khách làm 2, được bo khá. Còn cái dấu ‘X’ nằm trong ô vuông thì em không nói gì cả, nhất định không chịu nói ra. Như vậy, đây là một dạng ‘văn vật’ có hồn. Có ngày em đánh dấu 16 ‘nhát’, nói chung số ngày có trên 10 ‘nhát’ hơi nhiều. Ngày nhiều nhất là có tới đánh 21 cái dấu X’, lại có 3 gạch chân’. Nhưng 21 lần/ngày vẫn chưa phải là kỷ lục. Cũng chính cô gái này kể lại: Ở Đồ Sơn có đứa dịp 30/4, đã ‘đi khách’ tính với chủ là 50 lần.”

Số “nhát” hay số lần “nhớp nháp” được tính đủ và chia đều, theo như tường thuật của nhà báo Biên Thùy: “Một cô cave ở Đồ Sơn kể rằng, đằng sau những cô gái bán dâm, đằng sau những đêm mua vui dài dằng dặc là cuộc sống sung túc, đủ đầy của tầng tầng, lớp lớp những tú ông, tú bà. 250 nghìn đồng tàu nhanh ấy cũng phải chia năm, xẻ bảy ra thì mới yên thân, chứ đâu phải làm 10 đồng hưởng cả 10 đồng.

Lại nói đến cái tầng tầng, lớp lớp tú ông, tú bà ở thiên đường này cho rõ. Có những tú ông phơi mặt ngay cổng nhà nghỉ, đứng đón khách tận cửa phòng. Nhưng có cái loại tú ông, tú bà cao cấp hơn, chẳng cần đón khách, chẳng cần phơi mặt ra làm gì cũng có tiền. Những ‘tú ông cao cấp’ như thế chỉ đạo bằng những cú điện thoại, bằng một thứ văn bản không có dấu. Và, ngày ngày vẫn nghiễm nhiên hưởng lợi từ thân xác của gái bán dâm. Thế mới tài!”

Loại “tú ông cao cấp” này càng ngày càng xuất hiện nhiều ở Việt Nam, riêng Thanh Hoá – tất nhiên – cũng không ít. Cứ theo cách nói nước đôi của ông Bí Thư Tỉnh Ủy Thanh Hoá (“bà con nào đồng ý di dời thì nhận tiền bồi thường trước ngày 15.4… bà con nào chưa đồng ý thì cứ làm bình thường như lâu nay…”) trong cuộc đối thoại với dân – vào ngày 7 tháng 3 vừa qua – và theo chủ trương, đường lối, chính sách chung của Nhà Nước hiện nay thì sớm muộn gì Sầm Sơn cũng trở thành Đồ Sơn thôi.

Việt Nam tụt hậu, trách nhiệm không nhỏ thuộc về những nhà “khoa học” và “trí thức”

Việt Nam tụt hậu, trách nhiệm không nhỏ thuộc về những nhà “khoa học” và “trí thức”

FB Trương Nhân Tuấn

18-3-2016

Nếu có tầm nhìn thì VN đã không mỗi ngày một tụt hậu như hôm nay. Trách nhiệm là do lãnh đạo, nhưng một phần không nhỏ là do những nhà “khoa học” và “trí thức”.

Một thí dụ đơn giản, Hà Nội, Sài Gòn… cũng như nhiều tỉnh thành khác. Khoảng mười năm trở lại đây, hễ mùa mưa đến là ngập lụt. “Hà Nội mùa này nước cũng như sông”. Sài Gòn cũng vậy, không kém.

Nguyên nhân do trời hay do người? Và đâu là “giải pháp”?

Cả chục năm rồi, mưa xuống là lụt, người dân dài cổ chờ “giải pháp”.

Người ta cần giải pháp chớ không cần nghe “lý thuyết”.

Người nông dân đồng bằng sông Cửu Long hiện nay đang khóc ròng, lớp khóc vì mất mùa, ruộng lúa cháy khô. Lớp khóc vì tiền tỉ nuôi con hàu, con tôm, con cua… tiêu tan thành mây khói. Mà một phần lớn dân nghèo khác khóc đến chảy máu mắt, vì giá nước ngọt trở nên đắt đỏ.

Người dân cần “giải pháp” chớ không cần nghe “khoa học gia” dạy bảo phải trồng cây gì, nuôi con gì.

Ý kiến của những “khoa học gia” VN, trên “lý thuyết” đều rất hay. Vấn đề là “trái mùa”.

Chuyện nhiễm mặn, chuyện trái đất hâm nóng và thay đổi thời tiết, chuyện các nước xây dựng đập ở thượng nguồn sông Cửu Long, cũng như chuyện lụt lội mùa mưa ở Hà Nội, Sài Gòn… người ta đã biết trước hàng chục năm rồi. Người ta cần giải pháp. Người ta mỏi cổ chờ mà giải pháp không thấy.

Hôm qua tôi đã viết, nếu có tâm và có tầm, thì trước tiên người ta đào tạo “vốn con người”. Đài Loan, Đại Hàn là hai nước có điểm tương đồng với VN, sau độc lập, kinh tế đặt nền tảng lên nông nghiệp. Hai nước này “hiện đại hóa, công nghiệp hóa” đất nước thành công, từ thập niên 70, 80. Đóng góp của nông nghiệp cho GDP từ 40%, chiếm 70% dân số, xuống còn khoảng 3% và không tới 10% dân số. Còn Việt Nam, bốn thế hệ đã qua là bốn đời nông dân tiếp bước. Dân số sống về nông nghiệp, đặc biệt ở miền nam (lục tỉnh), vẫn không thay đổi với thời gian, lên trên 80%.

Nếu có “tầm”, lý ra VN đã phải kiểm soát các đập nước ở thượng nguồn. Bởi vì VN không thể ngăn cấm các nước khác xây đập. Vì vậy, để không bị lệ thuộc, VN phải “kiểm soát” được các đập, bằng cách “đầu tư” xây dựng. VN không “nắm” được, vì thế sinh mạng ĐBSCL nằm trong tay các nước thượng nguồn.

Và nếu có tâm và có tầm, hạ tầng cơ sở (hệ thống điện, nước, đường xá, cầu cống, trường ốc…) lý ra cũng phải được xây dựng từ lâu. “Hệ thống nước uống” của nông dân vẫn là những lu nước bên hè (như trăm năm trước). Đường xá nhiều nơi vẫn là chèo xuồng… Nếu hệ thống giếng nước ngọt (miễn phí) dưới thời (chó đẻ) Mỹ, Diệm, Thiệu, Kỳ… được tiếp tục xây dựng thì dân đâu đến đỗi khóc ra máu mắt như hôm nay ?

Hạn hán khắp nơi, bây giờ khoa học gia bày ra chuyện nuôi tôm nuôi cua, thật là trái khoáy.

Những năm trước, khi má tôi còn khỏe, năm nào cận tết cũng cho xe chở về quê (Bạc Liệu) vài chục tấn gạo để “cứu đói”. Mĩa mai, đây là xứ của “công tử Bạc Liêu”, ruộng cò bay thẳng cánh.

Khu vực quê ngoại của tôi, từ khi nước nhiễm mặn, dân người ta cũng bỏ ruộng, đào mương nuôi tôm. Một hai mùa đầu bà con trúng đậm. Nhưng sang các mùa sau, tôm chết như rạ. Thay nước, đổ thuốc… đủ cách, mà cách nào dân cũng chết. (Tôm nhiễm thuốc trụ sinh bán không nước nào mua, cũng chết). Bơm nước rửa ruộng, thì ngay nước ngọt rửa ruộng cũng đã nhiễm mặn. Lúa trồng không được. Rốt cục trồng cây gì, nuôi con gì dân cũng chết. Người dân bỏ xứ đi các nơi ở đợ.

Năm nào cũng vậy, hiếm khi nhìn thấy người dân quê ở đây một nụ cười. Bây giờ nghe nói hạn hán ghê lắm, không có nước ngọt để uống.

Má tôi càng già trí nhớ càng mông lung. Không nhớ tới làng quê không chừng lại khỏe!

Và bây giờ không chỉ riêng quê ngoại của tôi chết vì nhiễm mặn, vì hạn hán. Các vùng khác, trước kia toàn là dân “phú hộ”, nay cũng bắt đầu than trời!

Kế hoạch thì phải tính trước 10 năm, 20 năm. Không cần ai dạy, lũ đến, người dân cũng biết mình phải “trồng cây gì, nuôi con gì”.

Mà bây giờ người dân cần nước ngọt.