‘Không ai chống lại được quy luật’

‘Không ai chống lại được quy luật’

Luat khoa

Ông Nguyễn Hữu Vinh

Người biên tập trang Ba Sàm hiện tại tiết lộ với BBC về quá trình làm trang web, trước phiên tòa xét xử ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy.

Phiên xử ông Nguyễn Hữu Vinh cùng bà Nguyễn Thị Minh Thúy diễn ra ngày 23/3 tại Tòa án Nhân dân TP Hà Nội.

Hai người này bị khởi tố theo Điều 258 Bộ luật hình sự về việc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích nhà nước”.

Bà Đinh Ngọc Thu, từ Hoa Kỳ, nói với BBC: “Năm 2007, anh Vinh làm trang web Ba Sàm. Anh Vinh không đơn độc. Anh Trần Hoàng cũng nghĩ như vậy và đã giúp anh Vinh.”

“Tháng 4 năm 2009, anh Trần Hoàng rút lui. Tháng 8 năm 2009, tôi tình nguyện thay vào chỗ anh Hoàng.”

Bà giải thích: “Tôi cũng có thể nhặt nhạnh, gom góp đưa đủ thông tin đúng đến đồng bào của mình như các anh thay vì chỉ bất bình, chửi đổng rồi thôi.”

Lịch sử từng cho thấy bạo lực không thể tạo ra phát triển và thịnh vượng.Đinh Ngọc Thu

“Không thù lao, không có bất kỳ thứ phúc lợi nào mà lại không thể ngưng nghỉ. Mỗi ngày từ 14 đến 16 tiếng. Mỗi tuần bảy ngày. Mỗi tháng đủ 30 ngày. Tôi đã có ý định bỏ cuộc cả chục lần vì áp lực quá lớn.”

Theo bà, ông Vinh từng cảm thấy “đuối” vì đối diện áp lực từng ngày.

“Sự lo ngại của chính quyền tỉ lệ thuận với việc Ba Sàm bị tấn công. Chúng tôi đã từng bị đánh gục nhưng chúng tôi đã tự gượng dậy vì sự nâng đỡ tinh thần của độc giả.”

Tháng Tư 2014, bà Thu “quyết định bỏ cuộc”.

Nhưng bà nói bà mở lại trang Ba Sàm sau khi ông Vinh và bà Thúy bị bắt tháng 5 2014.

Trước giờ phiên tòa diễn ra, bà Thu bày tỏ: “Lịch sử từng cho thấy bạo lực không thể tạo ra phát triển và thịnh vượng.”

“Cứ ngẫm sẽ thấy, không ai có thể chống lại các quy luật.”

Phiên xử ông Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thúy đang gây sự quan tâm đặc biệt.

Hôm 22/3 từ New York, Tổ chức nhân quyền Human Rights Watch (HRW) đã phát đi thông cáokêu gọi Việt Nam hủy bỏ cáo buộc với ông Nguyễn Hữu Vinh.

Blogger người Việt sắp ra tòa

Blogger người Việt sắp ra tòa

Asia Sentinel

Người dịch: Trần Văn Minh

21-3-2016

Ông Nguyễn Hữu Vinh. Nguồn: Ba Sàm.

Anh Ba Sàm bị truy tố tội “xâm phạm lợi ích nhà nước”

Tòa án Nhân dân TP Hà Nội vào ngày thứ Tư, dự kiến sẽ đưa ra xét xử một blogger độc lập có lẽ có ảnh hưởng nhất ở Việt Nam, ông Nguyễn Hữu Vinh (bút danh Anh Ba Sàm) và phụ tá của ông, bà Nguyễn Minh Thúy, về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi hợp pháp của các tổ chức, công dân”, theo Bộ luật Hình sự Việt Nam.

Phiên tòa bắt đầu trong lúc Mỹ, Việt Nam và mười một nước khác ký tên tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, tức TPP, là thỏa thuận thương mại gồm nhiều điều khoản đang bắt đầu tiến trình phê chuẩn, vẫn chưa được Quốc hội Mỹ phê chuẩn, lại là hiệp ước Việt Nam đã đồng ý ký vào, và cũng gồm có ngôn ngữ chưa từng có tiền lệ để bảo vệ nhân quyền ở các nước thành viên cam kết trở thành những nước ký kết.

Phiên xử Anh Ba Sàm vì thế trở thành chỉ dấu cho thấy liệu lãnh đạo mới của Việt Nam có cam kết bảo vệ bất đồng chính kiến hay không. Đất nước vẫn trong chế độ cộng hòa xã hội chủ nghĩa độc đảng với ngành tư pháp tùy thuộc vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Các thẩm phán và người đại diện tố tụng được chọn lựa từ người của đảng. Trong khi ngành tư pháp trên danh nghĩa chịu trách nhiệm trước Quốc hội, về mặt lý thuyết là bộ phận cao nhất của quyền lực chính phủ, nhưng chính là đảng nắm quyền kiểm soát.

Hai blogger là những nhà phê bình chế độ gay gắt, chắc chắn là thế, nhưng ưu tiên hàng đầu của blog Anh Ba Sàm là đăng tải một bản tóm tắt có chủ đích các sự kiện thời sự trong và về Việt Nam. Trang blog dịch và đăng nhiều bài viết trên báo Asia Sentinel của ông David Brown, một nhà ngoại giao Mỹ đã nghỉ hưu vẫn còn quan tâm đến Việt Nam.

Việc bắt giữ ông Vinh và bà Thúy hồi tháng 5 năm 2014 diễn ra trong bối cảnh căng thẳng tột độ giữa Việt Nam và Trung Quốc, sau khi Bắc Kinh di chuyển giàn khoan dầu nước sâu đầu tiên của họ vào vùng Biển Đông tranh chấp và ngăn cấm tất cả các tàu thuyền đi vào bên trong bán kính một dặm của giàn khoan Hải Dương 981. Các lời kêu gọi một cuộc biểu tình chống Trung Quốc đã được gióng lên khắp nơi trong giới blogger Việt Nam.

Một số nhà bất đồng chính kiến Việt Nam xem vụ bắt giữ hai blogger là bằng chứng cho thấy chính quyền Việt Nam đã “khuất phục” trước đối tác Trung Quốc, bằng cách bắt giữ blogger “chống Trung Cộng” nổi tiếng.

Điều 258 của Hiến pháp Việt Nam mô tả tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước”. Điều luật này thường được sử dụng để bỏ tù các blogger và các nhà hoạt động dân chủ ở Việt Nam trong những năm gần đây.

Blog Anh Ba Sam đầu tiên xuất hiện trên mạng vào năm 2007 với hai thể loại bài: một loại bài điểm tin, bình luận khách quan về các sự kiện thời sự trong và về Việt Nam và một loại bài bình luận kỹ lưỡng của những người đóng góp nổi bật. Blog Anh Ba Sàm luôn là một trong số ít các blog của Việt Nam vẫn duy trì các tiêu chuẩn báo chí cao.

ABS lần đầu tiên bị tấn công vào tháng 11 năm 2010 bởi những kẻ tấn công không rõ lai lịch, và một lần nữa vào tháng 6 năm 2011. Thiệt hại đã được sửa chữa và trang blog sớm hoạt động trở lại. Ba năm trước đây, vào ngày 13 tháng 3 năm 2013 (*), ABS đã bị tấn công một lần nữa. Lần này những kẻ tấn công đã lấy hồ sơ tài liệu và thay đổi tất cả mật khẩu. Bà Đinh Ngọc Thu, Biên Tập viên điều hành của trang blog ở Mỹ, trở thành mục đích của một cuộc tấn công cá nhân rất thô bỉ, được làm từ các bức ảnh lấy từ hồ sơ máy tính cá nhân của bà.

Cuộc tấn công năm 2013 xảy ra giữa lúc có một cuộc tranh luận sôi nổi trên blog Ba Sàm về cách thức Hiến pháp Việt Nam nên được sửa đổi thế nào. Mặc dù Quốc hội kêu gọi người dân đóng góp ý kiến, văn bản cuối cùng, được ban hành vào cuối năm 2013, “đã thất bại trong việc giải quyết  nguyện vọng của dân chúng về sự thay đổi và cải cách”, theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW), trong đó kêu gọi các nhà tài trợ cho Việt Nam và các đối tác phát triển gia tăng gấp đôi nỗ lực để thúc đẩy sửa đổi hiến pháp và luật pháp để bảo vệ các quyền cơ bản, như quyền tự do ngôn luận và quyền lập hội.

Tuy nhiên, dựa theo lời nói của cơ quan lập pháp, các bài bình luận đăng trên Anh Ba Sàm nghiêng nhiều về phía tự do, bảo đảm quyền con người đã được ghi trong Hiến pháp hiện hành, thoát khỏi một loạt các hạn chế bảo mật tàn hại dựa trên an ninh quốc gia. Cũng có sự hỗ trợ đáng kể trong việc giảm thiểu độc quyền quyết định chính trị của Đảng Cộng sản và giải thoát tòa án và các phương tiện truyền thông chính thống, thoát khỏi quá nhiều các chỉ đạo chính trị.

Mọi thứ trở lại bình thường vào tháng 6 năm 2013 khi Anh Ba Sàm một lần nữa bắt đầu đăng tải tin tức cập nhật và bình luận trong bản tin hàng ngày tại những địa chỉ web mới, an toàn hơn. Sau đó, vào ngày 5-5-2014, ông Vinh, người sáng lập và biên tập viên của trang blog – một sĩ quan công an về hưu – đã bị bắt tại nhà riêng. Ổ đĩa cứng và các hồ sơ khác của ông đã bị lấy làm chứng cớ. Người phụ tá của ông Vinh, bà Thúy, cũng bị bắt.

Thực ra, kể từ tháng 10 năm 2012 ông Vinh đã giao việc điều hành hàng ngày trang ABS cho bà Thu, người đã một mình gồng gánh trang blog trong suốt thời gian ông Vinh bị giam giữ. Khi áp lực trong việc điều hành tin tức cập nhật trang ABS trở nên quá lớn, bà Thu đã phải bỏ phần điểm tin hàng ngày, với lý do cư dân mạng ở Việt Nam hiện nay có thể tìm được tin tức nước ngoài về [tình hình] Việt Nam từ các nguồn đáng tin cậy khác. ABS vẫn là một nguồn bình luận dẫn đầu về các sự kiện. Các cộng tác viên nổi bật [đóng góp các bài viết cho blog Ba Sàm] bao gồm các học giả Việt Nam, các nhà lão thành cách mạng, các nhà báo độc lập và các cán bộ hưu trí.

Bà Thu nói: “Mục tiêu của chúng tôi nhắm tới là các độc giả bình thường, sống ở Việt Nam. Chúng tôi cung cấp các tin tức tổng quát, những thông tin có thể bị nhà cầm quyền Việt Nam kiểm duyệt, nhằm mục đích ủng hộ phong trào dân chủ và giúp những người dân oan cất lên tiếng nói. Blog Ba Sàm hoàn toàn độc lập. Chúng tôi không ủng hộ bất kỳ đảng phái hay phe nhóm chính trị nào. Chúng tôi chưa từng nhận hỗ trợ tài chính từ bất kỳ cá nhân, các tổ chức NGO hoặc các nhóm chính trị nào“.

Trong 6 tháng cuối năm 2015, trang ABS trung bình có trên 100.000 lượt truy cập mỗi ngày.

___

Ghi chú: Trang Ba Sàm bị tấn công và chiếm quyền kiểm soát lần thứ 3 vào ngày 8/3/2013, không phải ngày 13/3/2013.

Mùa đảo chính đã bắt đầu

Mùa đảo chính đã bắt đầu

Vũ Thạch

22-3-2016

Lãnh đạo đảng và nhà nước. Nguồn ảnh: internet

Như nhiều nhà bình luận tiên đoán, cuộc sát phạt của phe thắng thế trong Đại Hội Đảng 12 đối với cánh thua cuộc đã bắt đầu. Tuy vậy, người ta vẫn phải kinh ngạc về mức độ gấp rút, bất chấp tiến trình chuyển quyền đã có hàng mấy chục năm nay và bất chấp luôn các luật lệ của chính chế độ.

Để lột sạch quyền lực của đối phương, các cố vấn của ông Trọng nghĩ ra một tiến trình thật rắc rối, dưới tấm vải che đậy của cơ chế nhà nước pháp quyền văn minh hiện đại. Đó là, chỉ trong khóa họp cuối cùng kéo dài 19 ngày hiện nay, Quốc Hội Khóa 13 (QH13), sẽ phải làm nguyên tiến trình sau đây:

  1. Việc đầu tiên là thay ngay chủ tịch QH13 cũ Nguyễn Sinh Hùng bằng chủ tịch QH13 mới Nguyễn Thị Kim Ngân. Lý do thay chủ tịch QH khá khó hiểu. Chẳng lẽ chỉ bà Ngân mới làm theo lệnh phe cánh ông Trọng còn ông Hùng thì không?
  2. Kế đến bà Ngân cho QH 13 của bà bãi nhiệm chủ tịch nước Trương Tấn Sang, rồi bảo họ bầu chủ tịch nước mới Trần Đại Quang.
  3. Kế đến bà Ngân cho QH 13 của bà bãi nhiệm thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
  4. Kế đến chủ tịch nước mới Trần Đại Quang đề cử thủ tướng mới Nguyễn Xuân Phúc để QH 13 của bà Ngân bỏ phiếu chấp thuận.

Rồi khi có QH 14 vào tháng 6/2016, nguyên tiến trình bầu bán này và phải đúng kết quả này được lập lại một lần nữa, khởi đi bằng việc chủ tịch QH13 Nguyễn Thị Kim Ngân bảo QH14 bầu bà Nguyễn Thị Kim Ngân làm chủ tịch QH14.

Rất tiếc, toàn bộ kịch bản công phu này trở thành vô ích vì Điều 87 của bản Hiến pháp năm 2013 đã qui định rằng: “Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu Chủ tịch nước”. Tức nhiệm kỳ của ông Trương Tấn Sang còn kéo dài đến khoảng tháng 7-2016 nếu ông không từ nhiệm và không phạm tội gì quá nặng đến độ bị truy tố, kết án, và truất phế.

Như vậy, phe cánh ông Nguyễn Phú Trọng chỉ còn một trong 2 lựa chọn chứ không thể có cả hai: Hoặc chơi trò du đãng, bỏ mặt nạ nhà nước pháp quyền, đạp lên hiến pháp, lấy “quyền lực cách mạng trên nòng súng” để đảo chính, lôi ông Trương Tấn Sang xuống khỏi ghế chủ tịch nước bất cần lý do; Hoặc phải chấp nhận nuốt giận ngồi nhìn cả ông Trương Tấn Sang và ông Nguyễn Tấn Dũng ở ghế lãnh đạo đến tháng 7-2016. Không có chủ tịch nước mới thì không có người đề cử thủ tướng mới, cho dù có lấy lý do suy xụp kinh tế để hạ bệ thành công ông Dũng đi nữa.

Đó là chưa kể trường hợp nếu phe cánh riêng của ông Sang, ông Dũng còn một số lực tối thiểu nào đó và biết hiệp lực lại, họ vẫn có thể tuyên bố các kết quả bầu bán của Quốc Hội Bà Ngân vô giá trị vì đều vi phạm hiến pháp. Trong trường hợp đó, Việt Nam sẽ có 2 chủ tịch nước và 2 thủ tướng, mạnh ai nấy ra lệnh. Đất nước sẽ có nội chiến.

Tại điểm này, chưa biết kịch bản nào sẽ xảy ra nhưng 2 điểm sau đây đã có thể khẳng định:

– Phe cánh ông Nguyễn Phú Trọng đã hạ quyết tâm bằng mọi giá phải lôi ông Trương Tấn Sang và ông Nguyễn Tấn Dũng ra khỏi ghế chủ tịch nước và thủ tướng càng sớm càng tốt, và phải xong nội trong tháng 4.

– Phe ông Trương Tấn Sang và phe ông Nguyễn Tấn Dũng đã hết tin và bất chấp các lời hứa, các khoản thương lượng, đặc biệt là chức tước dành cho con cái họ, từ phía ông Trọng. Cả 2 ông từ chối ngoan ngoãn viết thư xin từ nhiệm, đặc biệt khi thấy đòn sỉ nhục “bãi nhiệm” mà QH bà Ngân đang toan tính dành cho họ.

Còn một câu hỏi cuối. Động cơ nào khiến phe ông Trọng khẩn trương ra tay sát phạt đến như thế? Không chờ được đến tháng 11 như các nhiệm kỳ trước thì đã đành, nhưng chỉ đến tháng 6-2016 cũng không chờ được là sao?

Hiện có một vài lý do khá hữu lý sau đây:

– Cánh đang thắng thế vẫn sợ cánh ông Nguyễn Tấn Dũng có thể “trỗi dậy không hòa bình” trong cuộc bầu cử QH khóa tới qua công cụ Nguyễn Thiện Nhân, người đang nắm Mặt Trận Tổ Quốc — bộ phận lèo lái tiến trình tuyển lựa ứng viên quốc hội.

– Cánh đang thắng thế không quan tâm lắm đến ông Sang nhưng nhắm chính vào việc phải hạ bệ ông Dũng trong tháng 4, trước khi đón Tổng Thống Obama đến thăm vào tháng 5. Rút kinh nghiệm việc chính quyền Obama đòi chỉ gặp ông Nguyễn Tấn Dũng tại Sunnylands vào tháng 2-2016, cánh ông Trọng không thể để cảnh này tái diễn. Nếu ông Dũng, trong vai trò thủ tướng, bỗng ký kết gì đó với Tổng Thống Mỹ chống Tàu, thì cánh ông Nguyễn Phú Trọng biết ăn nói làm sao với Bắc Kinh.

– Và sau hết, cánh đang thắng thế bị sức ép nặng nề từ Bắc Kinh phải gấp rút loại bỏ các lãnh tụ không đáng tin tưởng, phải xiết chặt hàng ngũ đứng sau TQ vì cuộc chiến tại Biển Đông có thể nổ ra bất kỳ lúc nào.

Mùa đảo chính đã bắt đầu. Các sứ quán Tây Phương chuẩn bị đón nhận người xin tị nạn chính trị nhé.

RỬA CHÂN

RUA CHAN

Trầm Thiên Thu

Khi tham dự phụng vụ ngày Thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta hãy suy niệm những bài học Chúa Giêsu đã làm.

Rửa là hành động làm cho sạch.  Cái gì cũng phải rửa mới sạch, thân xác cần được rửa đã đành, chính tâm hồn cũng cần được rửa để làm sạch những “vết nhơ.”

Rửa chân là bổn phận phục vụ và là công việc của tôi tớ (hoặc nô lệ).  Ngày xưa, tôi tớ phải rửa chân cho chủ.  Rửa chân là một cách phục vụ của tôi tớ.  Chúa Giêsu là Thầy và là Chúa nhưng Ngài đã hạ mình để làm việc của tôi tớ mà rửa chân cho người khác, dù Ngài đã xác định: “Tôi tớ không trọng hơn chủ” “kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi.”  Trước khi các Giáo hoàng ký các văn bản, truyền thống Giáo hội có “cách nói” khiêm nhường thật tuyệt vời: “Tôi tớ của các tôi tớ.”

Có lẽ chân đi nhiều nên phải rửa.  Tay muốn phạm tội mà chân không đi thì cũng… “bó tay.”  Rửa chân còn có nghĩa là yêu thương, khiêm nhường, phục vụ và tha thứ.

Rửa Chân Là Yêu Thương

Trong Phúc âm, thánh Gioan ghi chép lại nghi lễ rửa chân do chính Chúa Giêsu thực hiện vào đêm cuối đời Ngài trên thế gian.  Đây là điểm khác so với các Phúc âm nhất lãm.  Rửa chân người khác là hành động yêu thương.  Nghi thức rửa chân chỉ có trong Phúc âm của thánh Gioan – là “chàng trai trẻ” tự xưng “người môn đệ Chúa yêu” và vì thế mà thánh Gioan cũng rất thích nói về tình yêu.  Người rửa chân là “người thực hành yêu thương,” còn người được rửa chân là “người được yêu thương” – và cũng có trách nhiệm yêu thương người khác.

Tình yêu là bản chất của Thiên Chúa, như thánh Gioan định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8).  Tình yêu ấy là Lòng Thương Xót vô biên của Ngài, là khối tình cuồng si không ai hiểu thấu: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4:10).  Tình yêu có lý lẽ riêng của con tim mà lý trí không thể hiểu hết, nó có những nghịch lý vừa “kỳ diệu” vừa “dễ thương” và khả dĩ chấp nhận.  Thánh Gioan phân tích: “Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Ngài nơi chúng ta mới nên hoàn hảo” (1 Ga 4:12).  Đại văn hào Victor Hugo cũng có ý tưởng độc đáo: “Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa.  Chết vì yêu là sống trong tình yêu.” Chết vì yêu lại là sống trong tình yêu.  Quá ngược đời, và lạ thật!  Người đời còn nhận ra như vậy, huống chi Thiên Chúa.

Rửa Chân Là Khiêm Nhường

Người có lòng yêu thương thì luôn sống khiêm nhường.  Mà khiêm nhường chính là nền tảng mọi nhân đức.  Rửa chân người khác là động thái chứng tỏ sự khiêm nhường, khi chúng ta làm vậy là chúng ta vâng lời mà thực hành mệnh lệnh Chúa Giêsu đã truyền dạy.  Chúa Giêsu quan tâm công việc mà người ta cho là hèn hạ đó, thế nên chúng ta cũng phải noi gương mà làm với sự vui vẻ và lòng khiêm nhường, khi đó chúng ta sẽ cảm nghiệm được ý nghĩa sâu xa để hiểu đúng và làm đúng.  Ý nghĩa sâu sắc này sẽ giúp chúng ta nhận ra tầm quan trọng của gương Chúa Giêsu đối với chúng ta ngày nay.

Có vẻ lạ khi 3 tác giả phúc âm kia (Mátthêu, Máccô và Luca) tập trung vào Bánh và Rượu mà Chúa Giêsu biến thành Mình Máu Ngài lúc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể vào chiều tối ngày Thứ Năm Tuần Thánh, buổi tối cuối cùng của đời Ngài.  Tông đồ Gioan lại có cái nhìn hoàn toàn khác. Chúng ta biết rằng “người môn đệ Chúa yêu” ghi lại đầy đủ các hành động và lời nói của Chúa Giêsu, còn các tác giả kia không ghi lại.  Câu trả lời có thể đơn giản là Gioan cảm thấy nghi thức rửa chân cần được thuật lại trong Tân ước.  Mặt khác, Gioan có thể nhận thấy có sự nối kết trực tiếp giữa việc rửa chân và “việc làm khác thường” của Đức Kitô trong cuộc đời Ngài, trong cái chết của Ngài và sự sống đời sau.

Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã noi gương Chúa Giêsu một cách trọn vẹn, không chỉ rửa chân cho người khác mà còn cúi xuống hôn chân người được rửa chân.  Một động thái “kỳ lạ” gây ấn tượng rất sâu sắc, nhưng thật là dễ thương!

ĐGH Phanxicô, lúc còn là Hồng y Bergoglio TGM của TGP Buenos Aires, ngài cũng đã rửa chân và hôn chân người được rửa.  Một biểu hiện của đức khiêm nhường và tôn trọng nhân vị của người khác.  Ngài chỉ thở bằng một lá phổi từ hồi thiếu niên, nhưng ngài vẫn khỏe mạnh vì lá phổi đó hít thở không-khí-yêu-thương của Đức Kitô.  Ngài sống giản dị, thương người nghèo, tự nấu ăn và không có xe đưa rước, sống cầu nguyện, điều đó cho thấy ngài là một người thánh thiện.

Ngày nay khó tìm được những linh mục, giám mục và hồng y sống khó nghèo như vậy.  Không can đảm thì không thể sống nghèo và sống phục vụ trong yêu thương!  ĐGH Phanxicô đã và đang làm gương cho mọi người là HÀNH ĐỘNG chứ không NÓI SUÔNG, nhất là đối với những người Công giáo, và đặc biệt là đối với các giáo sĩ.

Rửa Chân Là Phục Vụ

Người có lòng khiêm nhường thì luôn sẵn sàng phục vụ người khác.  Chúa Giêsu xác định: “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em” (Mt 20:26).  Ngài không nói cho có lệ, không nói suông, mà chính Ngài đã nêu gương và xác định: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28; Mc 10:45).

Nghi thức rửa chân được ghi lại trong Ga 13:1-17 cho chúng ta một cái nhìn mới về tính cách của Đấng Cứu Độ.  Khi nào chúng ta áp dụng bài học “độc nhất vô nhị” này trong đời sống, chúng ta sẽ có thể hiểu hơn về lý do có người vẫn cố gắng đi tìm hạnh phúc mà chưa đạt được trọn vẹn, còn có người lại may mắn đầy ắp niềm vui sướng – như người Việt Nam nói: “Sướng từ trong trứng sướng ra” hoặc “đẻ bọc điều.”  Đây cũng là một bí ẩn mầu nhiệm của cuộc đời, một dạng “vô cực.”

Chúa Giêsu đã làm công việc mà người ta cho là hèn hạ, đó là rửa chân, nhưng không phải là rửa chân cho người trên mà là rửa chân cho người dưới quyền mình.  Rõ ràng là Ngài không muốn được phục vụ mà chỉ muốn phục vụ.  Tuy nhiên, đó cũng chính là mệnh lệnh của Ngài: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa.  Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.  Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:13-16).

Thánh Luca cũng nói đến việc đó trong buổi tối lễ Vượt Qua: “Các ông còn cãi nhau sôi nổi xem ai trong Nhóm được coi là người lớn nhất.  Đức Giêsu bảo các ông: Vua các dân thì dùng uy mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân.  Nhưng anh em thì không phải như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ.  Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai?  Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22:24-27).

Qua hành động, Chúa Giêsu cho thấy rõ rằng Ngài không đòi hỏi chúng ta làm gì cho Ngài, dù Ngài là Thủ lĩnh và Đại huynh của chúng ta, đáng lẽ Ngài phải được người khác phục vụ, thế mà Ngài lại phục vụ họ – tức là chúng ta, và Ngài không chỉ muốn mà còn bắt buộc chúng ta phải vui vẻ phục vụ nhau.  Như vậy, chắc chắn sự phục vụ là thực chất của việc lãnh đạo.

Chúa Giêsu thích phục vụ, cả đời Ngài rong ruổi khắp nơi để phục vụ người khác – đặc biệt là những người nghèo khổ.  Điều này được xác định qua mẩu đối thoại giữa Chúa Giêsu và tông đồ Phêrô trong trình thuật Ga 13:6-10: “Chúa Giêsu đến chỗ ông Phêrô, ông liền thưa với Ngài: “Thưa Chúa, Thầy mà lại rửa chân cho con sao?”  Chúa Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu.”  Ông Phêrô lại thưa: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!”  Nhưng Chúa Giêsu nói ngay: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy.”  Sợ không được chung phần, ông Phêrô phấn khởi: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân mà cả tay và đầu con nữa.”  Chúa Giêsu cười rất hiền: “Ai đã tắm rồi thì không cần phải rửa nữa, toàn thân người ấy đã sạch.”  Và Ngài “láy” một câu quan trọng: “Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!”

Rửa Chân Là Tha Thứ

Người mau mắn phục vụ thì dễ dàng tha thứ.  Vì cảm nghiệm được ơn tha thứ nên muốn tha thứ, muốn rửa mình và rửa người khác.  Ở đây, động từ “rửa” không chỉ là làm cho sạch mà còn là tha thứ.  Phàm cái gì bẩn thì phải rửa, dù bẩn theo nghĩa đen hay nghĩa bóng.  Thánh vương Đa-vít cũng đã cầu nguyện: “Xin rửa con sạch hết lỗi lầm; tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy” (Tv 51:4).

Rửa sạch là việc cần làm ngay, tha thứ cũng là việc cần làm càng sớm càng tốt và càng nhiều càng tốt.  Có lần ông Phêrô hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” (Mt 18:21).  Đức Giêsu đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy” (Mt 18:22).  Không chỉ vậy, chúng ta còn phải yêu thương, tha thứ, cầu nguyện và làm ơn cho cả kẻ thù nữa (Mt 5:44; Lc 6:27).  Khó quá, nhưng không được phép không làm!

Tha thứ mỗi ngày 1 lần cũng khó rồi, nhất là khi “sự xung đột” trầm trọng, huống chi mỗi ngày tha thứ 7 lần.  Giáo hoàng Phêrô nghĩ mình có thể tha thứ 7 lần là “khá” lắm rồi, ai dè…!

Chúng ta thực sự may mắn nên có thể tạ ơn vì luôn tận hưởng hồng ân tha thứ mỗi khi chúng ta cần đến Lòng Thương Xót của Chúa.  Nếu chúng ta không biết tha thứ thì chúng ta là người đầy tớ không biết thương xót đồng loại (x. Mt 18:23-35), nghĩa là chúng ta vừa ích kỷ vừa độc ác nên không thể được Thiên Chúa tha thứ!

Lòng Chúa Thương Xót quá lớn nên ơn tha thứ của Ngài cũng vô cùng, vẫn cầu xin Chúa Cha thương chính những kẻ đã dã tâm giết chết Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34).

Lạy Chúa, xin rửa chúng con được sạch.  Xin giúp chúng con biết chân thành yêu thương, luôn sống khiêm nhường, vui vẻ phục vụ và mau mắn tha thứ cho nhau như Con Một Ngài.  Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con.  Amen.

  Trầm Thiên Thu

Đây mới thực là cao nhân chân chính!

Đây mới thực là cao nhân chân chính!

Tác giả: Theo NTDTV | Dịch giả: Minh Nữ

Việt Đại Kỷ Nguyên
Cao nhân chân chính, chính là có thể thắng nhưng không nhất định phải thắng, có thể đánh bại kẻ khác nhưng không nhất định phải đánh bại. (Ảnh: NTDTV)

Thế nào gọi là cao nhân? Tương truyền, Tả Tông Đường rất thích chơi cờ vây, hơn nữa còn là một cao thủ, gần như không có ai là đối thủ của ông.
Có một lần, Tả Tông Đường cải trang trước khi xuất chinh đánh trận, trên đường bỗng nhìn thấy một ngôi nhà tranh, trên xà nhà có treo tấm biển “Thiên hạ đệ nhất kỳ thủ”. Tả Tông Đường thấy thế thì trong lòng không phục, liền đi vào trong để cùng chủ nhân ngôi nhà đánh ba ván cờ.
Vị chủ nhà đánh ba ván đều thua, Tả Tông Đường cười nói: “Ông nên tháo tấm biển kia xuống đi!

Nói xong, Tả Tông Đường tràn đầy tự tin, cao hứng bừng bừng mà rời đi.
Không lâu sau, Tả Tông Đường thắng trận trở về, lại đi ngang qua ngôi nhà ấy, thấy tấm biển “Thiên hạ đệ nhất kỳ thủ” vẫn chưa được gỡ xuống, Tả Tông Đường tức giận đi vào trong nhà để cùng vị chủ nhân tỷ thí ba ván cờ nữa.
Lần này, Tả Tông Đường thua cả ba ván.
Tả Tông Đường vô cùng kinh ngạc, liền hỏi vị chủ nhân tại sao lại như vậy.
Vị chủ nhân đáp: “Lần trước, ngài tuy mặc thường phục nhưng ta đã sớm biết ngài là Tả Công, ngài mang trên mình nhiệm vụ đánh giặc, ta không thể dập tắt nhuệ khí chiến đấu của ngài. Lần này, ngài đã chiến thắng trở về, ta đương nhiên toàn lực ứng phó, việc đáng làm thì ắt phải làm, không thể nhượng bộ!”
Cao thủ chân chính trên thế gian, chính là có thể thắng nhưng không nhất định phải thắng, có thể đánh bại kẻ khác nhưng không nhất định phải đánh bại, ấy là vì có tấm lòng khiêm nhượng, thiện tâm với người.
Cuộc sống chẳng phải là như vậy sao?
Thông minh không nhất định là có trí tuệ, thế nhưng trí tuệ thì nhất định bao quát thông minh.
Người thông minh tâm nặng chuyện được mất, người trí tuệ có thể dũng cảm xả bỏ.
Tai thính thật sự thì có thể nghe được tiếng lòng, mắt sáng thật sự thì có thể nhìn thấu tâm linh.
Chứng kiến, không có nghĩa là nhìn thấy.
Nhìn thấy, không có nghĩa là nhìn rõ.
Nhìn rõ, không có nghĩa là hiểu được.
Hiểu được, không có nghĩa là hiểu rõ.
Hiểu rõ, không có nghĩa là đã thông suốt.
Chúng ta vẫn thường nghe nói: “Không có văn hóa thì thật đáng sợ!”. Thế nhưng “văn hóa” ấy rốt cuộc là cái gì vậy? Là bằng cấp? Là kinh nghiệm? Hay là sự từng trải?
Đáp án: Tất cả đều không phải!
Ngày hôm nay, coi như chúng ta đã được thấy một lời giải thích thuyết phục, “văn hóa” ấy chính là biểu đạt bởi bốn điều sau đây:

  1. Đào sâu vào tu dưỡng nội tâm.
  2. Tự giác không cần nhắc nhở.
  3. Lấy ước thúc làm tiền đề cho tự do.
  4. Suy nghĩ lương thiện vì người khác

MƯỜI THỨ DÙ CÓ GIA TÀI BẠC TRIỆU CŨNG KHÔNG MUA ĐƯỢC

 MƯỜI THỨ DÙ CÓ GIA TÀI BẠC TRIỆU CŨNG KHÔNG MUA ĐƯỢC

Jordi Al Emany là người sáng lập một công ty tư nhân. Vừa qua, ông đã đăng một bài trên mạng xã hội, nói rằng tiền tài không phải vạn năng, có 10 thứ cho dù có gia tài bạc triệu cũng không mua được. Bài viết đã nhanh chóng nhận được sự hoan nghênh trên cộng đồng mạng, mọi người đều tán thành.

Chúng ta hãy cùng xem, rốt cuộc là những điều gì mà cho dù là tỉ phú thế giới cũng không thể mua được?

  1. Khỏe mạnh.

Đạt Lai Lạt ma:

Nhân loại, vì kiếm tiền mà hy sinh sức khỏe. Vì chữa bệnh mà hy sinh tiền tài. Sau đó, vì lo lắng tương lai nên không cách nào hưởng thụ hiện tại. Cứ như vậy mà không cách nào sống cho hiện tại. Khi còn sống, họ quên rằng cuộc đời là ngắn ngủi. Đến khi chết, mới phát hiện mình chưa từng một lần sống thật tốt.

  1. Tình thương

Tagore:

Lúc thoát khỏi cảnh nghèo khó, chúng ta sẽ có được tiền tài của mình nhưng để có được khoản tiền này, chúng ta đã mất đi bao nhiêu thiện tâm, bao nhiêu cái đẹp và bao nhiêu sức lực chứ!

  1. Niềm vui

Nhà chính trị, nhà khoa học về vật lý, điện từ, nhà phát minh Mỹ Franklin:

Tiền tài không thể khiến người ta vui vẻ, vĩnh viễn sẽ không vì trong bản chất của nó không hề tồn tại cái gọi là vui vẻ. Người có được càng nhiều, lại càng muốn nhiều hơn.

  1. Chính trực

Nhà tiểu thuyết người Anh – Douglas Adams:

Lúc thật sự phục vụ người khác, điều cần thiết mà tiền tài không thể nào mua sắm hay đong đếm, đó chính là sự chân thành và chính trực.

  1. Tôn trọng

Nhà triết học người Mỹ – Ayn Rand:

Tiền tài là công cụ để tồn tại, thái độ của bạn đối với công việc cũng chính là thái độ của bạn đối với cuộc đời của chính mình. Nếu công việc kiếm sống là sa đọa, bạn đã hủy diệt ý nghĩa tồn tại của chính mình. Bạn đã từng cầm qua đồng tiền bất nghĩa chưa? Đã từng vì giành thêm chút lợi nhuận mà giễu cợt người khác chưa? Hoặc là hạ thấp tiêu chuẩn đạo đức của mình? Vì để có thể sống qua ngày bạn đã làm những việc không nên làm? Nếu là như vậy, tiền tài cũng không mang đến dù chỉ một chút niềm vui. Đồ vật bạn mua sẽ trở thành một loại sỉ nhục mà không phải là kính trọng; là một loại căm hận mà không phải thành tựu. Như vậy, bạn sẽ cho rằng tiền tài là một loại tội ác bởi vì bạn không thể nào có được sự tự tôn từ nó.

  1. Nội tâm thanh tĩnh

Doanh nhân nổi tiếng tại Mỹ – Richard M. DeVos:

Tiền tài không thể nào mua được sự thanh bình trong nội tâm, nó không thể chữa trị mối quan hệ bị xé rách, hoặc làm cho cuộc sống không ý nghĩa trở nên ý nghĩa.

  1. Đạo đức .Ký giả kiêm tác giả người Mỹ – George Lorimer:

Thứ có thể mua được bằng tiền dĩ nhiên là tốt nhưng không nên quên rằng điều không thể mua được bằng tiền sẽ càng tốt hơn.

  1. Giáo dục

Phóng viên kiêm tác giả người Mỹ – Neil de Grasse Tyson:

Con người không dùng sự cảm thông và chia sẻ để cảm nhận tình cảm và ý nghĩ của người khác hay những sinh vật khác trên trái đất, có lẽ giáo dục chính quy của chúng ta nên thêm vào giáo dục sự cảm thông và chia sẻ. Thử tưởng tượng, nếu giáo dục gồm có đọc, viết, toán học, cảm thông và chia sẻ, thì thế giới này sẽ không còn như cũ nữa.

  1. Trí tuệ

Steve Jobs nhà sáng lập Apple:

Tôi không phải vì kiếm tiền mà quay về Apple. Thần may mắn vẫn luôn quan tâm đến tôi; năm 25 tuổi, tôi đã kiếm được tài sản 100 triệu đô-la. Lúc ấy rất rõ ràng rằng tôi sẽ không bị tiền tài nô dịch. Bởi vì tôi chắc chắn không có khả năng tiêu hết số tiền kia, hơn nữa, tôi cũng không dùng tiền tài để kiểm chứng trí tuệ của mình.

  1. Giác ngộ tâm linh

Người vô danh:

Tiền tài có thể mua phòng ốc để ở nhưng không thể mua được một mái nhà an hòa; nó có thể mua một chiếc giường nhưng không mua được một giấc ngủ thoải mái dễ chịu; nó có thể mua một chiếc đồng hồ nhưng không mua được thời gian; nó có thể mua được quyển sách nhưng không mua được tri thức; nó có thể mua máu huyết nhưng không mua được sức khỏe.
Vì vậy, tiền tài không phải là vạn năng.

GS Nguyễn Ngọc Bích và sự dấn thân suốt cuộc đời

GS Nguyễn Ngọc Bích và sự dấn thân suốt cuộc đời

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2016-03-19

25658277466_c9236bf881-622.jpg

GS Nguyễn Ngọc Bích (1937-2016)

Courtesy photo

Your browser does not support the audio element.

Nói tới người hoạt động văn hóa ở hải ngoại không thể không nhắc tới ông, một trí thức đúng nghĩa, một bầu nhiệt huyết vì văn học, con người Việt Nam không hề chảy chậm lại trong cơ thể ông bất cứ phút giây nào và vượt lên trên tất cả, sự dấn thân suốt cuộc đời vì hai chữ tự do cho Việt Nam đã làm tên tuổi ông nằm sâu trong lòng những người từng gặp và biết ông, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích.

Một trí thức đáng kính

Sống và làm việc ở những vị trí quan trọng của Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975 và sau này khi định cư tại Hoa Kỳ, GS Nguyễn Ngọc Bích là một trí thức đáng kính trọng bởi những việc làm cụ thể trước cộng đồng. Được đào tạo từ những đại học nổi tiếng của Hoa Kỳ từ thập niên 50 như Princeton trong ngành chính trị học cho tới văn học cổ điển Nhật Bản tại Columbia University, cũng như tham dự những khóa học khác nhau tại Vienna, Munich, hay Madrid, Tokyo… Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích có kiến thức ngôn ngữ, chính trị và văn hóa học nhiều nước đủ để giảng dạy tại các đại học lớn của Mỹ sau này như George Mason, Trinity College và Georgetown University.

Là một học giả chuyên ngành ngôn ngữ, ông có những đóng góp đồ sộ cho kho tàng văn hóa Việt Nam ở nước ngoài. Những tác phẩm của ông dịch ra từ các tác giả cổ điển như Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương cho tới các tác giả hiện đại như Nguyễn Chí Thiện, Dương Thu Hương, Trần Cao Lĩnh cùng hàng chục tác giả Việt Nam khác để giới thiệu với thế giới đang nằm trong các thư viện lớn của quốc hội Mỹ và nhiều đại học nổi tiếng.

Đối với cá nhân tôi thì Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích là người tượng trưng cho tấm lòng tử tế, dấn thân trên rất nhiều lĩnh vực và mục tiêu chính của ông là góp phần làm tốt đẹp cho con người và đất nước Việt Nam.
-Nhà báo Đinh Quang Anh Thái

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích được Tổng thống George W.H Bush (cha) bổ nhiệm chức Giám đốc song ngữ của Bộ Giáo dục Liên bang từ năm 1991 cho tới năm 1993, là Giám đốc đầu tiên của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự do từ năm 1997 cho tới khi về hưu năm 2003. Chủ tịch “Nghị Hội Toàn Quốc Của Người Việt tại Hoa Kỳ” cho tới ngày ông mất.

Nhà báo Đinh Quang Anh Thái có cơ hội biết nhiều tới ông từ khi còn là sinh viên trong nước cho tới khi về làm việc cho đài Phát thanh RFA khi GS Bích làm giám đốc Ban Việt Ngữ. Cho biết cảm nhận của anh về GS Bích như sau:

“Đối với cá nhân tôi thì Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích là người tượng trưng cho tấm lòng tử tế, dấn thân trên rất nhiều lĩnh vực và mục tiêu chính của ông là góp phần làm tốt đẹp cho con người và đất nước Việt Nam. Điển hình là lúc ông học bên Mỹ thời thập niên 50 trước khi về Sài Gòn làm việc thì ông là người đã cùng với sinh viên khác lên tiếng bênh vực chính nghĩa tự do của quân dân miền Nam trong việc bảo vệ vùng đất miền Nam. Đối đầu với đám biểu tình do hiểu sai lạc tin tức nên chống cuộc chiến tranh Việt Nam.

Khi ông về Sài gòn năm 1970-1971 thì ông đóng một vai trò quan trọng trong chính quyền là Cục trưởng Cục thông tin quốc ngoại. Đối với sinh viên thì ông là Tổng thư ký Viện Đại học Cửu Long. Ông gần gũi với sinh viên và ngoài tư cách như một vị thầy, một người anh lớn ông lúc nào cũng gắn bó với tất cả mọi sinh hoạt của sinh viên hồi đó, từ cứu trợ nạn nhân chiến tranh cho tới các buổi hát cộng đồng hay các sinh hoạt văn hóa của sinh viên Sài Gòn.

gs-nguyen-ngoc-bich-622.jpg

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Giám Đốc đầu tiên của Ban Việt ngữ RFA, ảnh chụp năm 2015.

Ông trước sáng tác nhiều, dịch thuật cũng nhiều và góp rất nhiều công lao giới thiệu văn hóa Việt Nam cho thế giới. Cho tới năm 1975 biến cố 30 tháng 4 xảy ra và ông sang Mỹ giữ vai trò trong nhiều tổ chức khác nhau không ngoài mục tiêu đấu tranh cho một đất nước Việt Nam tự do dân chủ. Lịch sử hoạt động của GS Nguyễn Ngọc Bích thì chắc chúng ta không kể xiết được nhưng có thể tóm lại về phương diện văn hóa thì ông là nhà văn hóa đã đóng góp rất nhiều trong việc giới thiệu nền văn hóa Đông phương nói chung và văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Đối với người Việt Nam ngoài nước thì ông là một người đấu tranh cho tự do dân chủ và là người xây dựng cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ vững mạnh và tốt đẹp hơn.

Trong vai trò là người Giám đốc ban Việt Ngữ của Đài Á châu Tự do thì ông là người sáng lập đầu tiên của Ban Việt ngữ và đã dẫn dắt ban Việt ngữ trong nhiều năm trời. Khi ông về hưu chỉ ngồi nhà viết sách cho tới cuối đời của ông thì như chúng ta đều biết GS Nguyễn Ngọc Bích đã mất trên đường đi dự Hội nghị Biển Đông tại Manila và ông đột tử trên máy bay. Đó là bằng chứng cho thấy rằng ông đã sống cho tới lúc chết đã không bỏ sót phút giây nào trong cuộc đời mình cho những mục tiêu cao đẹp mà ông đề ra và đeo đuổi.

Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ

Trên chuyến bay từ Istanbul đến Philippines vào tối ngày 2 tháng 3 năm 2016 để tham dự Hội nghị Biển Đông Việt-Phi lần thứ II ông đã từ trần đột ngột do nhồi máu cơ tim bên người vợ theo ông suốt cả cuộc đời là TS Đào Thị Hợi. Cuộc đời ông chưa bao giờ ngưng nghỉ cho riêng mình, nói với chúng tôi, nhà văn Trương Anh Thụy, người hơn nửa thế kỷ cộng tác với ông trong lĩnh vực viết lách và cùng với Giáo sư Bích khởi xướng Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ kể lại:

“Tôi lập ra nhà xuất bản gọi là Tủ sách Cành Nam hay gọi tắt là Cành Nam, anh Bích cứ thấy sách vở ở đâu là nhào tới thôi! Anh ấy nghĩ là nếu chỉ in sách của gia đình thì nó hạn hẹp quá, tại sao mình không làm hẳn một Tổ hợp xuất bản Miền Đông Hoa kỳ chung nhau lại để xuất bản cả sách của những người khác? Căn bản những người khác là ai? Họ là những văn nghệ sĩ lúc đó rất hiếm người có phương tiện in ấn và đặc biệt là không biết phát hành ở đâu trong khi tác phẩm của họ rất có giá trị, rất có ích cho văn hóa hay ngay cả cho chính trị nữa. Chúng tôi đặt ra như một thứ slogan là yểm trợ các văn nghệ sĩ để mà họ có một chút phương tiện thời giờ để tiếp tục viết lách.

Anh Bích là người đa dạng, anh ấy nhiều tài lắm thành ra anh ấy làm rất nhiều việc. Nhưng trước khi nói gì thì tôi phải thưa một điều là tôi với anh Bích cũng có những lần tâm sự thì tôi luôn luôn nói với anh Bích rằng anh giỏi quá về văn học sao anh không chuyên về văn học mà lại đi sâu vào lĩnh vực chính trị để nó chia trí và cũng đâm ra chia thời giờ công sức. Dĩ nhiên là làm việc này thì phải bớt việc kia.

Anh ấy nghĩ là nếu chỉ in sách của gia đình thì nó hạn hẹp quá, tại sao mình không làm hẳn một Tổ hợp xuất bản Miền Đông Hoa kỳ chung nhau lại để xuất bản cả sách của những người khác?
-Nhà văn Trương Anh Thụy

Thế nhưng anh ấy nói rằng chẳng may đất nước mình nó ở trong tình trạng rất nhiểu nhương và có rất nhiều nỗi đời đau khổ quá. Nếu cứ ngồi làm chuyện văn hóa không thôi thì chả hóa ra mình vô tình với nước non lắm sao? Thành ra chuyện chính trị mà ảnh dính vào là một chuyện rất bất đắc dĩ nhưng chẳng may nó lại rất nổi bật cũng chỉ vì hoàn cảnh đất nước mà thôi.”

Điều mà nhà văn Trương Anh Thụy nhận xét không có gì lạ. Hầu như ai gặp ông cũng nhìn thấy tấm lòng tin tưởng thiết tha vào một ngày mai tươi sáng cho đất nước. Ông không hề mỏi mệt bay từ nước này sang nước khác để vận động, huấn luyện cho những người trẻ có lòng với đất nước. Ông tham gia hàng trăm buổi hội thảo ở nước ngoài nhiều đến nỗi Hà Nội phải vận động nhiều nước cấm ông nhập cảnh vì lo sợ. Điển hình là vào ngày 21 tháng giêng năm 2014 Malaysia đã không cho ông nhập cảnh để làm việc với nhóm Lao Động Việt. Cùng ngày hôm ấy ông chia sẻ với chúng tôi:

“Khi vào phi trường Kuala Lumpur mấy người khác không bị gì cả nhưng tới phiên tôi thì tự nhiên nó chặn và nói rằng chúng tôi có lệnh không cho ông vào Mã Lai. Tôi hỏi lại sao lại có chuyện như vậy thì họ bảo tôi cũng không có câu trả lời cho ông chỉ vì trên headquarter nói với chúng tôi là không cho ông vào thế thôi, mặc dù ông có giấy tờ đàng hoàng.

Tôi bảo ông có thể giải thích vì sao hay không thì họ nói tôi chỉ có thể nói với ông như thế này: có phải lần trước ông vào Mã Lai vào năm 2009 phải không? Tôi nói là đúng như vậy. Họ lại nói sau khi ông vào Mã Lai lần đó thì giữa năm 2010 chúng tôi có lệnh không cho ông vào.”

Với người trẻ, GS Nguyễn Ngọc Bích không quên đưa tay ra làm một nhịp cầu cho họ trên mảnh đất tri thức mà ông đã trải qua. Nguyễn Phương Uyên, một người tranh đấu trẻ từ Việt Nam may mắn được ông dìu dắt kể lại:

“GS Nguyễn Ngọc Bích là một người đã theo tôi từ những chặng đường đầu tiên khi bước vào xây dựng phong trào dân chủ. Bác luôn luôn rất giàu nhiệt huyết và năng lượng trong việc giúp đỡ tôi ngay cả khi bác bệnh thì bác vẫn cố gắng trả lời những câu hỏi, những thắc mắc của tôi trước khi bác đi khám bệnh, bác bị bệnh tiểu đường và tim mạch cũng lo cho các câu hỏi của tôi trước.

Bác như là người cha đẻ của phong trào Bước chân Lạc hồng. Những bước đầu mình ấp ủ như thế nào, xây dựng một diễn đàn cho giới trẻ, mở rộng cho giới trẻ tham gia thì mình nói với bác cách thức ngay cả việc sinh hoạt trong nhánh, trong group ra sao đều chia sẻ với bác ngay cả in ấn và phát hành.”

Bất cứ gặp ông lần đầu hay thường xuyên người ta đều có ấn tượng về khuôn mặt hiền lành, dễ mến kỳ lạ. Nụ cười không bao giờ tắt trên môi ông như nói với mọi người rằng cuộc đời có gì mà phải buồn rầu áo não, ngay cả lúc bi thương nhất vẫn còn tia hy vọng cuối con đường kia mà!

Nhà văn Uyên Thao một bạn đời lâu năm của ông nhận xét:

“Nhận xét anh Bích trong vòng anh em thì có lẽ nhận xét của anh Nguyễn Ngọc Linh, là bào huynh của anh Bích, thì có vẻ chính xác nhất với cái nhìn của tôi. Anh Linh nhìn bọn tôi nhiều khi anh ấy nói thằng tuột. Anh ấy nói tôi với ông anh của Bích là hai anh dở người không làm được cái quái gì hết. Riêng Bích thì cái gì cũng lao vô cuối cùng do vậy chẳng có việc gì làm cho nó ra hồn, đấy là cái nhận xét của anh Linh. Tôi thì tôi nhìn thấy cái nhận xét đó của anh Linh thì thấy hình dung của Bích nó có vẻ phù hợp với cái câu tôi nghe từ bao lâu rồi. Là con người vừa là cái hạt cát lại vừa là viên ngọc.

Nó phải biết rằng nó là cái hạt cát để đừng tranh chấp, đừng mưu cầu cái gì và nó cũng phải hiểu nó là viên ngọc để lúc nào cũng giữ gìn cái chất ngọc đối với tất cả tha nhân. Tôi nghĩ nhận xét của anh Linh có vẻ chê mấy thằng em nhưng mà Bích đã thể hiện được cái câu đó. Hầu như y chẳng nghĩ cái gì mưu cầu cho bản thân của mình mà cứ làm theo tinh thần vị tha theo cái hướng mà nhìn thấy người chết đuối thì lập tức nhảy xuống dưới sông trong khi không biết mình có biết bơi hay không. Đấy là cái nhìn của tôi về Bích.”

GS Nguyễn Ngọc Bích chắc không còn cười tươi được nữa dưới ba tấc đất nhưng gia đình, bạn bè, người thân, học trò của ông đều tin rằng ông đã làm tròn trọng trách của một nhà văn hóa, một trí thức trải qua bao biến động vẫn giữ được cái tâm trong sáng và khí tiết của kẻ sĩ Việt Nam.

Bí quyết để Đan Mạch trở thành nước hạnh phúc nhất thế giới

https://1.bp.blogspot.com/-csTnE_A5b-w/Vtp7G2yWtII/AAAAAAAAhzo/CnHL50U9iu8/s1600/de-cham-vao-hanh-phuc.jpg
Hạnh phúc không phải là điều bạn phải đi tìm kiếm, mà là những gì bạn tạo dựng…”
 Đan Mạch là một trong những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới những năm gần đây. Câu hỏi đặt ra là tại sao nước này lại có chỉ số hạnh phúc cao đến vậy? Cùng tìm hiều điều đó dưới đây nhé.


Trong 4 năm gần đây, 3 năm Đan Mạch về nhất trong “cuộc đua” quốc gia hạnh phúc

Đan Mạch đã đứng đầu danh sách những quốc gia hạnh phúc nhất thế giới của LHQ năm 2016, 2014 và 2013. Mặc dù thời tiết ở Đan Mạch rất u ám trong mùa đông, thế nhưng nơi đây vẫn được coi là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. Tại sao?

Khảo sát về mức độ hạnh phúc thực hiện bởi Liên Hợp Quốc và Viện Trái đất tại Đại học Columbia (Mỹ), dựa trên các yếu tố như: sức khỏe, dịch vụ y tế, mối quan hệ gia đình, công việc bền vững, tự do chính trị và một bộ máy nhà nước không tham nhũng. Dưới đây là lý do tại sao Đan Mạch lại “giữ ngôi” hạnh phúc nhất trong nhiều năm như vậy.

Cân bằng giữa công việc và cuộc sống
Ở Đan Mạch, trung bình một người làm việc 37 tiếng/tuần. Họ có thời gian nghỉ lễ 5 tuần/năm. Điều này có nghĩa là thời gian nghỉ ngơi chiếm phần lớn trong văn hóa Đan Mạch. Việc này rất có ích. Tan làm đúng giờ, đi xe đạp về nhà, hoặc sử dụng một phương tiện công cộng rất hiệu quả, đón con từ trường học và có một bữa ăn tối ấm cúng cùng gia đình, là định nghĩa của hạnh phúc ở hầu hết các gia đình Đan Mạch.


Người Đan Mạch chỉ làm việc 37 tiếng/ tuần

Dành nhiều thời gian để giải trí thư giãn
Người Đan Mạch thường dành thời gian rảnh rỗi của mình với người thân, gia đình, bạn bè. Những cuộc gặp mặt ấm cúng này có thể là một buổi tụ tập bên lò sưởi sau ngày Giáng sinh khi trời đầy tuyết rơi, hoặc đi dạo trên bãi biển, xuống phố, tranh thủ mọi nơi để trò chuyện, cùng nhau uống cốc bia… Người Đan Mạch luôn muốn làm những điều này. Ra ngoài uống bia hay uống café hoặc ăn tối với người thân là một trong 10 điều cần phải làm ở Copenhagen, Đan Mạch.


Thường xuyên dành thời gian với gia đình, bạn bè là chìa khóa hạnh phúc của người Đan Mạch

Ít kì vọng
Người Đan Mạch không quá tham vọng. Trong xã hội Đan Mạch, mọi người đều như nhau. “Bạn không hề tốt hơn những người khác.” là một câu nói nổi tiếng của người Đan Mạch. Không ai chỉ trích bạn vì lựa chọn sự nghiệp hoặc thiếu tham vọng, nếu bạn hạnh phúc với nó, thì cứ tận hưởng. Ít kì vọng khiến mọi thứ trở nên dễ dàng hơn với người Đan Mạch. Như người ta vẫn nói, ít hy vọng thì ít thất vọng. Người Đan Mạch thực sự thích thú với những điều đơn giản và một cuộc sống đơn giản.


“Ít hi vọng, ít thất vọng”

Chính sách phúc lợi “hào phóng”
Đan Mạch được coi là một trong những quốc gia bình đẳng nhất trên thế giới, nơi mà cả nam giới và phụ nữ đều có trách nhiệm như nhau. Thuế ở đây rất cao, giúp quyên góp vào hệ thống chăm sóc sức khỏe của đất nước. Mọi người đều được khám chữa bệnh miễn phí. Trường học cũng miễn phí. Sinh viên được trợ cấp hàng tháng trong suốt năm. Trợ cấp thất nghiệp và các chương trình hỗ trợ thấp nghiệp đều rất hào phóng.
Chi tiêu của chính phủ về trẻ em và người cao tuổi cao hơn so với bất kỳ nước nào trên thế giới. Hệ thống phúc lợi xã hội ở Đan Mạch phát triển mạnh đã tăng cảm giác an toàn và làm cho người dân cảm thấy thoải mái, luôn tin rằng nếu họ thất nghiệp hoặc bị ốm, xã hội sẽ hỗ trợ và giúp đỡ họ hồi phục.


Sinh viên sẽ được hưởng trợ cấp tới 7 năm

An ninh tốt
Niềm tin là một yếu tố quan trọng trong khái niệm hạnh phúc của người Đan Mạch: tin tưởng vào chính phủ, tin tưởng nơi làm việc, trường mẫu giáo và trường học chăm sóc con của bạn, tin tưởng rằng bạn an toàn, với tỉ lệ tội phạm và tham nhũng thấp, tin vào lực lượng cảnh sát đáng tôn trọng và những người hàng xóm thân thiện.

Các bà mẹ có thể vô ý để quên con mình trong xe đẩy ngoài tiệm café mà không có chuyện gì xảy ra. Ở làng quê, bạn ra ngoài mà chẳng cần khóa cửa nhà. Và có lẽ chiếc xe đạp thân yêu là biểu tượng đẹp nhất của sự hạnh phúc ở Đan Mạch. Nhiều người Đan Mạch đủ khả năng để mua ô tô, nhưng vẫn chọn xe đạp: đơn giản, tiết kiệm, thân thiện với môi trường và giữ cho bạn khỏe mạnh.

http://static.new.tuoitre.vn/tto/i/s626/2016/03/17/dan-mach-1458179932.jpg
Nụ cười của trẻ em Đan Mạch

Quốc gia này vừa được bình chọn là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới, theo Báo cáo hạnh phúc thế giới 2016 do Liên Hiệp Quốc công bố hôm 16-3. 

Việt Nam xếp thứ 96 trong danh sách này.


VietBF © Sưu Tầm

Chuyện về chị Ba Sen của tôi

Chuyện về chị Ba Sen của tôi

Đòan Thanh Liêm

Gia đình tôi rất đông anh chị em, có đến tất cả là 11 người gồm 3 anh em trai

và 8 chị em gái. Chúng tôi gốc gác ở miền quê, thuộc tỉnh Nam Định trong

vùng đồng bằng sông Hồng ngòai Bắc. Vì họ hàng bên họ nội cũng như bên

họ ngọai đều sinh sống trong một ngôi làng hay vài ba làng kế cận, nên bà

con rất gần gũi gắn bó với nhau.

Bà chị cả là chị Chắt bị bệnh câm điếc từ nhỏ, nên mọi việc trong nhà đều do

người chị thứ ba là chị Sen cáng đáng giúp đỡ cha mẹ để chăm sóc lũ em

nhỏ như tôi. Vì thế mà chị không được đi học nhiều, chỉ cỡ vài ba năm theo

học ở trường làng mà thôi. Mẹ tôi kể là từ nhỏ chị Sen rất tháo vát, biết lo

lắng mọi việc trong nhà đâu ra đó. Chị hơn tôi đến trên một con giáp, nên

ngay từ tấm bé tôi có sự quyến luyến với người chị dịu hiền này, với bao

nhiêu kỷ niệm đẹp đẽ trong khung cảnh đồng quê êm ả nơi xóm làng có lũy

tre xanh bao bọc xung quanh. Chị tôi mất tại Mỹ năm 1993 vào tuổi 75, giữa

lúc tôi còn đang bị giam giữ tại nhà tù Hàm Tân, Phan Thiết.

Nay sắp đến ngày giỗ năm thứ 17, tôi muốn ghi lại một số kỷ niệm thân

thương với chị là người tôi luôn luôn yêu mến quý trọng. Chị tôi lập gia đình

sớm với anh Tống Huy Chỉnh, nên mấy cháu lớn cuả anh chị cũng không

thua kém về tuổi tác là bao nhiêu so với tôi. Vì thế chị hay rủ tôi khi nào

rảnh rỗi như vào các kỳ nghỉ hè, không phải đi học, thì đến ở nhà chị và chơi

với mấy cháu. Chị lại làm món ăn rất khéo và mau lẹ gọn gàng, nên tuổi nhỏ

còn ham ăn ham chơi, tôi rất thích được đến ở nhà chị chỉ cách xa nhà cha

mẹ tôi chừng 5-6 kilomet thôi.

Chị rất tháo vát năng nổ và có nhiều sáng kiến trong lối sắp xếp công việc

làm ăn kinh doanh. Nhận thấy anh rất khéo tay, nên ngay từ hồi còn ở thị xã

Bùi chu lúc vưà mới thành lập, chị đã bày vẽ ra chuyện chế biến và buôn bán

nữ trang bằng vàng là các thứ mà người dân quê thường rất ưa chuộng để cất

giữ làm vốn liếng, mà khi cần thì có thể dễ dàng đem bán đi. Và đến khi di

cư vào Nam năm 1955, chị cũng tìm cách mở lại hàng vàng ở khu Ngã Ba

Ông Tạ là nơi có rất đông người Bắc tới định cư. Tiệm vàng này có tên là

Trường Nguyên, nên mọi người mới gọi anh chị tôi là “Ông Bà Trường

Nguyên”.

Hồi đó tôi còn đang học ở trường Luật Saigon, vào các ngày nghỉ tôi

thường về ở với chị, nhiều hơn hồi xưa ở ngoài Bắc nữa. Vì lúc này cha mẹ

tôi đều đã qua đời ở ngoài Bắc, nên lũ em còn nhỏ tuổi chúng tôi phải phân

tán chia nhau ra mà tá túc tại nhà các anh chị lớn, mà đã có nhà riêng đủ

rộng rãi để chứa chấp các em. Chị luôn khích lệ cổ võ cho tôi trong chuyện

học hành thi cử. Nhờ vậy mà tôi đã học xong hết cấp đại học.

Tôi rất nhớ những chuyện chị tâm sự với tôi. Điển hình như lúc tôi ngồi tại

quầy bán hàng vàng với chị, thì có lần chị nói : “Em có biết không, làm cái

nghề buôn bán này, thì có nhiều cám dỗ để mà tham lam, gạt gẫm khách

hàng hầu kiếm lợi tối đa cho mình. Như vậy là phạm tội lường gạt, là “lỗi

đức công bằng”. Riêng một mình chị thì phạm tội để có thêm tiền cho chồng

con ăn xài. Như vậy là cả nhà được hưởng lợi, mà riêng chị thì mắc tội để

sau này bị vướng mắt trước tòa phán xét nghiêm ngặt của Chúa. Do đó mà

chị phải cảnh giác, không làm chuyện lừa gạt khiến gây thiệt hại cho thân

chủ khách hàng…” Lời chị nói như thế đó càng làm cho tôi nhớ lại điều mà

mẹ tôi thường hay nhắc nhủ chúng tôi về bổn phận của con nhà có đạo là

phải giữ “đức công bằng”. Bà cụ nói : “ Chúng con phải hết sức tránh, không

được để cho mình phạm lỗi đối với bà con, vì làm điều gian dối khiến gây

thiệt hại cho họ. Đó còn là cái tội trước mặt Chúa nữa…”

Dịp khác, chị còn nói : “ Đứa trẻ chỉ có thể lớn lên được, đó là nhờ ở tình

yêu thương ấp ủ trong cái nôi êm ấm của gia đình bằng tình yêu thương của

cha mẹ, của các anh chị em và bà con họ hàng nội ngoại …” Điều bà chị của

anh nói rõ ràng là “ do kinh nghiệm bản thân, chứ không phải là do sách vở

mà trích dẫn ra “ : Đó là nhận xét của chị bác sĩ Olivette người Bỉ nói với

tôi, khi tôi nhắc lại câu nói trên do chị Ba tâm sự với tôi vào năm 1969-70 ở

Saigon, lúc chính vợ chồng tôi cũng đã có mấy đứa con rồi.

Tôi thấy anh chị suốt đời đã rất thuận thảo và đồng lòng hợp ý chăm sóc rất

chu đáo cho các cháu, cũng như là lo lắng bảo bọc lũ em như chúng tôi.

Điểm đặc biệt tại nhà anh chị là vì bận rộn với chuyện kinh doanh làm ăn,

phải vắng nhà, thì anh chị giao toàn quyền cho Cô Đoán như là một vị

“Quản gia”, để quán xuyến mọi việc trong nhà, nhất là lo trông coi mấy cháu

nhỏ. Cô được sự tín nhiệm hoàn toàn trong mọi việc nội trợ, đến nỗi mà mấy

cháu nhỏ phải nói với tôi : “ Tụi cháu sợ Cô Đoán la rày, hơn là sợ bố mẹ

chúng cháu “. Sự đối xử tế nhị như thế làm cho Cô Đoán thật cảm phục.

Không những đối với con ruột, mà ngay cả đối với các con dâu, con rể, thì

chị cũng đối xử rất ngọt ngào, hiền dịu. Cháu Hà là con dâu trưởng nhiều lần

tâm sự với tôi : “ Cháu chưa thấy một bà mẹ chồng nào mà lại đối xử với

con dâu tốt đẹp, tươm tất như mẹ của anh Hiền chồng cháu”. Cháu Hưng là

con trai út, thì cũng tâm sự : “ Cháu đi tìm người con gái nào mà có được

đức tính như mẹ của cháu, thì mới có thể xin cưới cô ta làm vợ được. Nhưng

mà, cháu kiếm hoài vẫn chưa gặp được người nào nết na, dịu hiền như mẹ

cháu cả. Thật là khó đấy! “

Còn luật sư Đỗ Xuân Hòa, thì cũng thường nói : Ít có bà cụ nào mà có sự

khôn ngoan chín chắn và có tấm lòng nhân hậu dịu dàng như bà cụ Trường

Nguyên. Luật sư Hòa có bà xã nhận chị tôi là “ người đỡ đầu khi chị gia

nhập đạo công giáo”, nên hai anh chị thường có dịp lui tới thăm nom gặp gỡ

với gia đình chị tôi. Vì thế mà cả hai vợ chồng rất gắn bó với toàn thể gia

đình. Luật sư Hòa còn nói rõ : “ Mọi việc trong nhà, thì hầu hết là do bà cụ

sắp xếp, tổ chức đâu ra đấy. Mà ông cụ thường luôn thuận thảo, tán đồng

theo ý kiến rất xác đáng có tình có lý của bà, nhờ vậy nên công việc đều êm

xuôi “thuận chèo mát mái” cả.

Cụ thể là nhờ tính cương quyết, kiên trì của chị mà toàn bộ gia đình mới có

thể đi thoát khỏi chế độ cộng sản vào năm 1975. Chị đã lo bố trí ghe thuyền

tươm tất để tất cả gia đình và một số bà con khác có thể êm thắm ra khơi tại

bãi biển Vũng Tàu, đúng vào lúc miền Nam sụp đổ vào tay quân đội cộng

sản vào ngày 30 Tháng tư oan nghiệt năm đó. Tôi vẫn còn nhớ lúc gặp chị

vào cuối tháng Tư năm 1975 tại xưởng làm nước mắm của chị tại khu Bến

Đá Vũng Tàu, thì chị dặn tôi : “Em ở Saigon ráng thu xếp đưa gia đình di tản

đi thôi. Người trí thúc như em, thật khó mà sống với cộng sản được. Cái

chuyện “cha chung không ai khóc” khiến cho nền kinh tế tập trung kiểu

cộng sản mỗi ngày một lụn bại, làm dân chúng đói khổ lầm than mà thôi!”

Để chị yên tâm, tôi cũng nói là em có thể kiếm máy bay cho cả gia đình đi từ

Saigon cho tiện, vì các cháu còn nhỏ dại. Và đó là lần sau cùng hai chị em

chúng tôi gặp nhau.

Vì anh chị đều tận tâm chăm sóc dìu dắt lũ con như thế, nên các cháu đều

thành đạt về nghề nghiệp, cũng như noi theo được tấm gương đạo hạnh tốt

lành của cha mẹ. Đặc biệt là các cháu đều tham gia rất tích cực vào các loại

công tác xã hội từ thiện, cũng như công việc xây dụng của giáo hội công

giáo. Điển hình như cháu Hồng Vân là trưởng nữ và chồng là bác sĩ Nguyễn

Duy Thuần, khi còn sinh tiền làm ăn ở bên Texas, thì cả hai vợ chồng đã hết

sức góp phần yểm trợ cho các giáo phận ở ngoài Bắc và được Đức Hồng Y

Phạm Đình Tụng công khai tán dương công đức vào lúc cháu Vân Thuần

qua đời vì bạo bệnh.

Riêng về phần anh, thì Chúa đã cho anh sống tới tuổi thọ khá cao. Năm 2009

này, anh đã bước qua tuổi 95, kể là vào loại “thượng thọ” được rồi. Mà anh

vẫn còn minh mẫn sáng suốt. Anh vẫn thường kể lại về những kỷ niệm thật

tươi đẹp với chị trong suốt bao nhiêu năm chung sống với nhau. Và bây giờ

các cháu đều trưởng thành chững chạc, sinh hoạt thuận thảo quây quần với

nhau trên đất Mỹ. Các cháu đều hết lòng biết ơn cha mẹ đã hy sinh trọn cuộc

đời để vun đắp cho các cháu trở thành người có nhân cách thanh cao, có

nghề nghiệp đàng hoàng, và nhất là có lòng đạo hạnh và niềm tin sắt đá

vững vàng. Rõ rệt đây là trường hợp “Cha mẹ hiền lành để đức cho con”.

Về phần bản thân mình là người em của chị, tôi thật tự hào là có được một

người chị vừa nết na đạo hạnh, vừa có tài ba để xây dựng được một gia đình

yên vui hạnh phúc với lũ con, cháu và chắt thật là đông đúc, mà lại rất thuận

hòa yêu thương gắn bó mật thiết với nhau. Chị tôi chẳng phải là một bậc nữ

lưu tài ba nổi tiếng ngoài xã hội ; chị chẳng có công trạng lớn lao đáng kể gì

đối với làng quê, đối với quốc gia, để mà được tung hô ca tụng. Mà chị chỉ

là một phụ nữ bình thường, là một người mẹ, một người chị suốt cả cuộc đời

chỉ biết hoạt động bên trong ngưỡng cửa của gia đình. Nhưng rõ rệt là chị đã

để lại một tấm gương sáng ngời với một nhân cách cao quý, một tinh thần hy

sinh tận tụy cho gia đình nhỏ của riêng mình, cũng như cho cả đại gia đình

bên nội và bên ngoại của các cháu. Chị là người đã giữ mãi được cái ngọn

lửa yêu thương nồng ấm của truyền thống gia phong gia đạo, do cha mẹ

chúng tôi truyền lại. Từ thời thơ ấu đến tuổi trưởng thành, tôi đã học hỏi

được biết bao nhiêu điều tốt đẹp quý báu nơi chị.Tôi thật biết ơn chị và cũng

phấn khởi với chị xuyên qua những điều cao quý như thế đó.

Tôi luôn tưởng nhớ về chị với tấm lòng yêu thương quý trọng của một

người em nhỏ trong gia đình. Và tôi cũng luôn cố gắng để xứng đáng với

người chị tuyệt vời của mình nữa./

California, Tháng 12 Năm 2009

Đoàn Thanh Liêm

Nạn hạn hán ở Mekong tệ hại hơn giữa những nghi ngờ về lời hứa của Lào

 Nạn hạn hán ở Mekong tệ hại hơn giữa những nghi ngờ về lời hứa của Lào

Đập Xayaburi do Lào xây dựng đã gây ra nhiều tranh cãi và phản đối từ các nước xung quanh vì những tác động tiêu cực về môi trường. (Ảnh: Tom Fawthrop)

Đập Xayaburi do Lào xây dựng đã gây ra nhiều tranh cãi và phản đối từ các nước xung quanh vì những tác động tiêu cực về môi trường. (Ảnh: Tom Fawthrop)

21.03.2016

Hạn hán tại Đông Nam Á đã gây lo ngại rất nhiều cho Việt Nam và Campuchia, nơi nước mặn đang vào sâu trong Sông Mekong và nhiều người nghi ngờ về những lới hứa mới đây của Lào là nước này sẽ tôn trọng quyền của những quốc gia ở vùng lạ lưu trong việc xây dựng các con đập. Thông tín viên Luke Hunt của đài VOA gởi bài tường thuật về từ Phnom Penh.

Bảo đảm từ Vientiane được đưa ra bởi ông Bounhang Vorachith, người vừa mới được bầu làm tổng bí thư của đảng Cộng sản Lào, đã mang lại mối hy vọng là ông có thể cho thấy một khuynh hướng hòa giải trong các cuộc thương thuyết với những nước cùng chia sẻ việc sử dụng Sông Mekong. Ông nói: “ Lào sẽ nỗ lực đảm bảo là sẽ không có ảnh hưởng gì cả”. Ông Bounhang vừa mới nói với chính phủ Campuchia về kế hoạch của Vientiane để xây dựng 11 con đập dọc theo Sông Mekong và ảnh hưởng của những con đập này đối với các nước láng giềng.

Ông cũng nhắc nhở Thủ tướng Hun Sen là Lào đã nghiên cứu ảnh hưởng có thể có của những con đập và hứa hạn chế ảnh hưởng của đập thủy điện Don Sahong gây nhiều tranh cãi. Báo Phnom Penh Post loan tin là con đập này sẽ được xây dựng ngay phía bắc biên giới Campuchia.

Tuy nhiên, lời hứa của ông Bounhang không trấn an được những nước phụ thuộc nhiều vào Sông Mekong, nơi mực nước thấp gây nên hạn hán trầm trọng. Tình trạng này được nhiều người cho là phát sinh từ biến đổi khí hậu, việc phá các khu rừng nhiệt đới để sử dụng trong công nghiệp và những con đập trên thượng nguồn, chủ yếu tại Trung Quốc.

Có đến 70 triệu người sống dọc theo Sông Mekong, trong đó những  sắc dân thiểu số  như Jarai, Kraol, Phnong, Ro Oung, Stieng, Su, Oey, Kreung and Tampuan.

Ông Samin Ngach, phát ngôn viên của Hiệp hội Thanh niên Bản địa Campuchia, nói nguồn cung cấp thực phẩm và nước ngọt bị thiếu hụt tiếp sau những mùa lúa với sản lượng thấp do thiếu mưa trong mùa mưa vừa qua.

Ông Samin Ngach nói:

“Cộng đồng người bản địa không thể trồng lúa. Cuối cùng họ không có lương thực để ăn. Rừng cũng cần nước và gia súc cũng cần nước. Thật là khó khăn cho mọi người”.

Ông nói khả năng ứng phó hạn hán của các chính quyền trong vùng của cũng là một vấn đề cần quan tâm. Việc này được nêu bật bằng quyết định của Thái Lan trong tháng trước nhằm chuyển dòng Sông Mekong chảy vào những vùng bị hạn hán gây nên những lo ngại tại Việt Nam và Campuchia. Hà Nội làm áp lực để đòi Bangkok dùng Ủy ban Sông Mekong (MRC) để giải quyết vấn đề, trước khi những vấn đề này leo thang trong tương lai. Tuy nhiên, MRC bị các nhà tài trợ cắt giảm ngân sách trầm trọng vì bất bình với Ủy ban Sông Mekong và những cáo buộc quản lý không tốt và tham nhũng trong ủy ban.

Ông Ou Virak, người đứng đầu cơ quan nghiên cứu ở Campuchia có tên là Diễn đàn Tương lai, nói:

“Nguồn cá nước ngọt đối với người Campuchia rất quan trọng. Tôi nghĩ biến đổi khí hậu có thể cảm nhận được hiện nay. Mùa nắng nóng đến rất sớm, không còn có mùa đông nữa, không có mùa mát nữa”.

Ông Ou Virak nói thêm là biến đổi khí hậu cũng ảnh hưởng tới hoạt động ngoại giao khu vực, với việc Trung Quốc kiểm soát  dòng chảy Sông Mekong xuyên qua một hệ thống mạng lưới đê đập rộng lớn được xây dựng trong 20 năm qua.

Ngư dân Thái biểu tình chống lại việc xây đập Sayabouri trên Sông Mekong.

Ngư dân Thái biểu tình chống lại việc xây đập Sayabouri trên Sông Mekong.

Đây là một lợi điểm to lớn của Trung Quốc trong những cuộc thương thuyết với những nước nằm dọc Sông Mekong như Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam.

Ông Ou Virak nói tiếp:

“Nhưng nếu nhìn vào những con đập trên thượng nguồn Sông Mekong ở Trung Quốc, tôi nghĩ là những con đập này chắc chắn ảnh hưởng rất nhiều, không những ảnh hưởng đến nguồn cá mà còn ảnh hưởng đến nguồn nước. Những nước ở hạ lưu Sông Mekong như Việt Nam, Campuchia sẽ phải tìm cách thương thuyết với Trung Quốc”.

Nông dân Việt Nam đang phải đối mặt với thiệt hại lớn về mùa màng vì hạn hán nghiêm trọng và nước mặn tràn vào đất nông nghiệp tại vùng đồng bằng Sông Mekong và 12 tỉnh của Việt Nam. Một số báo cáo cho biết nước mặn đã tràn đến biên giới Campuchia.

Ông Cao Đức Phát, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, được báo chí nhà nước trích lời nói rằng cho tới nay đã có 139.000 hecta đất bị nhiễm mặn và con số này sẽ gia tăng ít nhất cho đến khi mùa mưa kế tiếp bắt đầu, thường là vào khoảng tháng 6.

Ông Tek Vannara, giám đốc của Diễn đàn các Tổ chức phi chính phủ, nói có thêm 200.000 hecta lúa bị tiêu hủy vì hạn hán ở Campuchia, và việc này có ảnh hưởng rất xấu đối với đời sống của nông dân.

Ông Tek Vannara nói:

“Đồng lúa bị hủy hoại vì hạn hán. Nước mặn tràn vào do phá rừng tại vùng Sông Mekong. Các khu rừng nhiệt đới bị biến đổi để trở thành đất nông nghiệp hoặc để dùng trong công nghiệp làm cho vấn đề này tệ hại hơn nữa. Tại Campuchia, Lào, Việt Nam  và Thái Lan, rừng đã biến thành đất nông nghiệp rồi lại được sử dụng trong công nghiệp. Do đó đây là một nguyên nhân căn bản khác”.

Tại Việt Nam, ông Cao Đức Phát nói tình trạng thiếu nước ngọt ảnh hưởng tới 575.000 người cùng với những cơ sở kinh doanh như bệnh viện, trường học, khách sạn và công xưởng.

Đức hạnh của kẻ cầm quyền

Đức hạnh của kẻ cầm quyền (RFA)

tuankhanh

Liên tục những sự kiện bùng nổ trong nhiều ngày của tháng 3/2016 đã thu hút nhanh mối quan tâm của xã hội, trong số đó phải kể đến là sự kiện Sầm Sơn, thiếu tá công an xã xách súng vào khủng bố trường học ở Gia Lai, luật số 15 gây ách tắc việc điều tra tham nhũng… Những chuyện lớn lao đó đã đủ lấp đầy suy nghĩ, che lấp nhiều điều thú vị khác trong đời sống.

Một trong những chuyện, nên được nhắc lại, đó là việc ông Huỳnh Văn Nén tiếp tục theo đuổi vụ án của đời mình lại tiếp tục gây nên nhiều dư luận. Người tù oan, có thời gian bị giam giữ đến hơn 17 năm ở tỉnh Bình Thuận, sau khi trở về nhà, đã kiên trì tiếp tục mục đích của ông là đưa 14 người có chức vụ ra toà, đối mặt với công lý.

Đầu tháng 3/2016, Cục điều tra Viện KSND tối cao đã hồi đáp đơn yêu cầu điều tra của ông Huỳnh Văn Nén. Câu chuyện cuộc đời của ông Huỳnh Văn Nén, được giới luật sư goi tên là đại kỳ án của quốc gia xem ra vẫn tiếp diễn, và chắc là sẽ mở ra thêm nhiều điều đáng chiêm nghiệm từ ngành tư pháp Việt Nam hiện nay.

Có không ít dư luận quanh sự kiện này. Có người thì cho rằng hành động quyết liệt này của ông Huỳnh Văn Nén là cần thiết, và người dân chờ đợi vào kết quả như một thái độ đúng công dân. Nhưng cũng có ý kiến rằng ông Nén đã “làm quá”, vì đã được xét bồi thường từ 10-12 tỉ đồng, và được cả nước chia sẻ vụ án oan này. Thật mới mẻ với người Việt, khi chứng kiến một người tù oan quyết đi đến tận cùng của sự việc, so với thói quen cam chịu, im lặng và dễ dàng chấp nhận từ nhiều năm nay.

Cuối năm 2015, trong một cuộc gặp mặt do báo Infonet tổ chức, tôi có được may mắn tiếp xúc với ông Huỳnh Văn Nén cùng gia đình, thầy Nguyễn Thận và luật sư Phạm Công Út, những người đeo đuổi chuyện minh oan cho ông Nén. Ông Nén bị công an điều tra đánh đập, đe doạ… buộc phải nhận tội giết 2 người trong vùng của ông, giấu nhẹm cả đơn tố cáo hung thủ thật.

Điều khiến tôi hay nhớ về ông Nén, đó là một gương mặt đầy nếp nhăn, rúm ró giấu kín mọi suy nghĩ. Rất khó phân biệt được biểu cảm của ông là đang cười hay đang khóc. Chỉ đến khi thấy giọt nước mắt của ông im lặng chảy xuống, thì mới biết. Mà lúc đó thì chung quanh cũng rất nhiều người khóc, mắt đỏ hoe. Những người đàn ông thì khóc không thành tiếng, mặt rúm ró vì những quặn đau trong lòng.

Ông Nén là người hiếm hoi, không chịu ngồi xuống và hài lòng với phần đời còn lại qua số tiền bồi thường khổng lồ. Nơi ông Nén đang sống, chỉ cần có một tài sản 1 tỉ đồng đã là đại phúc, thế nhưng ông được hứa hẹn là sẽ có gấp 10 lần như vậy. Có lời bình luận rằng có thể ông Nén còn chất chứa hận thù hoặc trở nên cơ hội trong sự kiện đời mình, nhưng quan trọng nhất, đích đến của ông Nén vẫn vô cùng công chính, đó là công lý.

Ngày 3/12/2015, ông Huỳnh Văn Nén được phó chánh án TAND tỉnh Bình Thuận lạnh lùng đọc thư xin lỗi công khai. Trong 30 phút của buổi xin lỗi đó, ông Nén nhiều lần nhắm nghiền mắt, im lặng, tay buông thõng. Có lẽ ký ức của ông dội về, với những ngày tháng ông cùng 8 người thân trong gia đình bị giam cầm, nhà cửa không còn, cái chết đến cùng bữa ăn hàng ngày.

Ông Nén từng cởi áo giữa toà để chứng minh mình bị đánh đập, bức cung ra sao. Nhưng nhiêu đó thì không đủ, làm sao tả hết những ngày ông bị trói vào ghế, công an điều tra dùng chân mang giày đá liên tục và ống chân đến thâm đen. Đến mức ông té xuống, khóc, xin tha, thì bị công an viên trẻ như con mình quát “cho mày chết luôn”. Người thân của ông, bị giữ để điều tra ở nhà tạm giam nữ, khi đến chu kỳ tháng phải tự xé quần làm băng vệ sinh, chứ không được cấp phát theo quy định, vì bị người điều tra tuyên bố “không nhận tội thì ráng chịu”.

Ông Nén chắc không ngờ vì sao mình trở thành kẻ phạm tội, và vì sao phải nhận tội. Một buổi tối ghé xin ít rượu đế từ nhà hàng xóm với lời nói đùa “uống để gột rửa tội lỗi” đã biến ông thành nghi can số một. Đã có lúc ông Nén muốn chết vì quá đau đớn thân xác và tinh thần, nhưng ông đã không thể làm vậy, vì nếu ông còn sống thì công lý còn một hy vọng, sự thật còn một cơ hội. Công lý không đơn giản là một lời xin lỗi công khai, không là con số 10 hay 12 tỉ đồng. Công lý là ánh sáng giữa cuộc đời tưởng chừng như tuyệt lộ này, công lý là đòi hỏi việc xiển dương sự thật cũng như vạch mặt những kẻ không đủ khả năng để phục vụ cho sự thật.

Khi ông Nguyễn Phúc Thành gửi đơn tố cáo thủ phạm thật, xin giải oan cho ông Nén, thì bị điều tra viên Cao Văn Hùng chỉ mặt “mày muốn chết à? Tao cho mày chết”. Sau vụ án của ông Nén, điều tra viên đó ra Hà Nội ung dung hành nghề luật sư. Thậm chí số tiền dự trù 10-12 tỉ đền bồi cho ông Huỳnh Văn Nén cũng lấy từ tiền thuế của người dân, chứ 14 cán bộ người liên quan đến vụ án của ông Nén không hề thiệt hại mảy may.

Nhưng ông Huỳnh Văn Nén hay Nguyễn Thanh Chấn chỉ là những trường hợp may mắn được giải oan, còn bao nhiêu trường hợp khác chưa được biết tới đang rên xiết trong phòng điều tra, mơ ước một sự công tâm?

Hãy cám ơn ông Huỳnh Văn Nén. Ông không đi tìm công lý cho riêng mình, mà đang dựng lại ngôi nhà chung cho mọi người. Ngôi nhà đó có cánh cửa lớn tràn ngập ánh sáng chứ không âm u với những chấn song lờ mờ chực chờ. “Công lý chính là thứ đức hạnh hàng đầu của kẻ cầm quyền”, Denis Diderot (1713-1784), nhà triết học Pháp có để lại lời nhắn đó từ thế kỷ thứ 18. Lời xin lỗi hay một mớ tiền bồi thường không thể đánh tráo khái niệm đó là là công lý và đức hạnh của một quốc gia. Tìm cách để giảm thiểu bất công, soi chiếu ánh sáng công lý vào những nơi không thể đó mới chính là đức hạnh của người cầm quyền, đức hạnh của công dân.

Và hơn ai hết, xin hãy ngã nón chào người từng bị giam cầm 17 năm 5 tháng 11 ngày ấy, vì chính ông đang thay chúng ta, lặng lẽ hành động vì đức hạnh của ngành tư pháp, vì tương lai trên đất nước này.