Ba Sao chi mộ

Ba Sao chi mộ

Phạm Thanh Nghiên

28-3-2016

Tấm bia thờ tù nhân chính trị chết ở trại Ba Sao do người Giám thị lập, hiện đang được đặt tại một ngôi Chùa ở miền Bắc. Ảnh: Phạm Thanh Nghiên

Xin kính cẩn nghiêng mình thắp nén tâm hương trước tấm bia không mộ của 626 người tù chính trị đã chết trong nhà tù Ba Sao, Nam Hà giai đoạn 1975-1988. Và rất nhiều những người tù chính trị khác đã chết oan khiên trong ngục tù cộng sản.

Lời đầu

Lẽ ra, câu chuyện này phải được chúng ta kể cho nhau nghe một cách trọn vẹn. Tiếc rằng, vì một số lý do ngoài ý muốn, “người trong cuộc” (1) đã ngừng sự giúp đỡ tôi nên việc thu thập, tìm hiểu thông tin đã bị gián đoạn.

Hơn nữa, xuất phát từ nhu cầu an toàn cá nhân của nhân chứng, nỗi lo về sự can thiệp hầu phá vỡ sự bình yên, tôn nghiêm của ngôi Chùa – nơi đặt tấm bia thờ 626 người tù chính trị, nên người viết đã phải rất cân nhắc khi chuyển tải thông tin đến bạn đọc. Nhưng tôi tin, câu chuyện dù không được kể trọn vẹn như mong muốn cũng sẽ khiến chúng ta thấy xót xa cho Thân phận quê hương. Một Thân phận quê hương được phản chiếu từ Thân phận của những người con Việt bị bức tử bằng cách này hay cách khác trong một giai đoạn khốc liệt, đau thương nhất của lịch sử.

Phần 1: Chuyến tàu vét

Sau khi cưỡng chiếm miền Nam, một trong những hành động đầu tiên mà chế độ cộng sản thực hiện là trả thù những người từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Hầu hết những cựu quân nhân cán chính, những viên chức từng làm việc trong chính quyền VNCH, hoặc bị nghi ngờ thuộc thành phần này đều bị đưa đi “cải tạo”, nhưng thực chất là chịu lưu đày tại các nhà tù trên khắp cả nước. Một trong những nơi khét tiếng tàn bạo ở miền Bắc, từng giam cầm hàng ngàn cựu quân nhân cán chính VNCH là nhà tù Ba Sao, Nam Hà.

Con tàu cuối cùng chở tù chính trị từ Nam ra Bắc có cái tên rất thơ mộng: Sông Hương. Rời Sài Gòn ngày 18/4/1977, sau 2 ngày 3 đêm (2), tàu cập bến Hải Phòng, tiếp tục hành trình lưu đày tù ngục của 1200 con người thuộc “bên thua cuộc”.

Chúng tôi, cứ hai người bị chung một chiếc còng. Vừa lên đất liền, hai bên đường đã có người dân Miền Bắc đợi sẵn. Họ ném gạch đá vào chúng tôi. Vừa ném, vừa chửi rủa, mạ lỵ rất thậm tệ. Nhiều người trong số chúng tôi bị ném trúng, vỡ đầu, chảy máu và thương tích”.

Đấy là lời kể của ông Nam, một trong những người tù bị đẩy ra Bắc trong chuyến tàu Sông Hương. Khi cộng sản cưỡng chiếm Miền Nam, ông Nam đang là thiếu úy quân đội VNCH. Chi tiết này cũng được Linh mục Nguyễn Hữu Lễ thuật lại trong cuốn hồi ký “Tôi phải sống”.

Từ Hải Phòng, số tù nhân này bị tách ra để chia rải rác cho các trại giam khác. Bài viết này xin chỉ đề cập tới những người tù ở Ba Sao, Nam Hà.

Không riêng gì những người tù Ba Sao, hầu như tất cả những người từng phục vụ trong chính quyền VNCH đều bị bắt sau biến cố 30/4/1975. Một số bị đưa ra Bắc ngay thời kỳ đầu. Nhiều người khác bị giam cầm ở miền Nam sau vài năm mới bị chuyển ra Bắc, rồi lại trở ngược vào Nam để tiếp tục cuộc đời lao tù cho đến ngày chết, hoặc trở về khi sức cùng lực cạn.

Nhà tù Ba Sao lại “rộng cửa” đón thêm vài trăm người từ chuyến tàu vét Sông Hương, nơi đang đọa đày hơn 600 tù VNCH đã bị chuyển đến từ những chuyến tàu trước đó.

Tôi có dịp hỏi chuyện linh mục Nguyễn Hữu Lễ (ngài hiện đang sống tại New Zealand) và một nhân chứng khác (sống tại Sài Gòn), thì nhà tù Ba Sao thời bấy giờ chia làm 4 khu giam giữ.

Khu A: Giam cầm các thành phần thuộc viên chức chính phủ, dân biểu, nghị sĩ, sĩ quan cao cấp như thượng nghị sĩ Huỳnh Văn Cao, bộ trưởng Đàm Sỹ Hiến, Bộ trưởng Trần Ngọc Oành, tướng Lê Minh Đảo, ông Văn Thành Cao, tướng Nhu, tướng Trần Văn Chơn, ông Nguyễn Văn Lộc…, hay lãnh tụ Quốc dân đảng là ông Vũ Hồng Khanh.

Khu B: Giam những quân nhân cán chính, những người bị buộc tội “phản động” như linh mục Nguyễn Hữu Lễ, linh mục Nguyễn Bình Tỉnh…

Khu C: Giam tù hình sự miền Bắc.

Khu Mễ: Giam cầm những người bệnh tật, đau yếu. Trong khu Mễ lại có một khu “Kiên giam”. Khu “Kiên giam” dành cho các tù nhân bị kỷ luật với điều kiện giam giữ vô cùng khắc nghiệt. Đã có rất nhiều tù nhân chết trong khi bị “kiên giam”.

Chúng tôi bị chuyển từ nhà tù miền Nam tới nhà tù Ba Sao miền Bắc trong chuyến tàu Sông Hương vào tháng 4/1977. Lúc ấy nhóm của tôi có 350 người ra đi từ trại Giaray tỉnh Xuân Lộc. Ở Ba Sao được 9 tháng, tôi bị chuyển lên trại Quyết Tiến còn gọi là “Cổng Trời”thuộc tỉnh Hà Giang, nằm sát ranh giới Trung Quốc. Một năm sau đó tôi về trại Thanh Cẩm , tỉnh Thanh Hoá . Mười năm sau, tức tháng 1/1987, tất cả tù chính trị miền Nam còn sót lại rải rác trong các trại miền Bắc được dồn hết về trại Ba Sao, Nam Hà, trong đó có tôi. Nhưng đội của tôi trước khi tôi rời Ba Sao ra đi nay đã chết quá phân nửa. 

Tết năm đó có một đợt tha tù, được tổ chức rất ồn ào. Đến tháng 5/1987, tất cả số tù nhân từ miền Nam còn sót lại, được chuyển hết về Nam để ở tù tiếp. Chỉ còn “sót lại” 3 người ở miền Bắc, đó là linh mục Nguyễn Bình Tỉnh, anh Nguyễn Đức Khuân và tôi. Hầu hết họ đã chết . Chết vì tuyệt vọng, đói rét, suy kiệt, tiêu chảy, kiết lỵ và nhiều bệnh khác”.

Tác giả Bút ký “Tôi Phải Sống” bùi ngùi kể lại.

Tôi rùng mình tự hỏi, có bao nhiêu tù nhân chính trị đã chết trong suốt thời kỳ từ 1975 trở về sau?

Bao nhiêu ở nhà tù Ba Sao? Bao nhiêu ở Cổng Trời, Thanh Hóa, Phú Yên, Xuân Lộc, Xuyên Mộc, Hàm Tân, Bố Lá…?

Bao nhiêu người đã bị bách hại bởi chính người đồng bào ruột thịt mang tên “cộng sản”, và chết lặng câm ở khắp các nhà tù từ Bắc-Trung-Nam trên dải đất đau thương này?

Không ai biết chính xác, nhưng số người phải bỏ xác ở khắp các nhà tù hẳn không phải là con số ít.

Một ngày nào đó, chế độ cộng sản sẽ phải trả lời những câu hỏi này trước quốc dân đồng bào. Cũng như trả lại sự thật lịch sử cho Dân tộc này.

(Còn tiếp)

Chú thích:

(1): Người trong cuộc: Những người đã giúp đỡ tôi có được thông tin để viết bài viết này. Tên các nhân vật trong bài đã được thay đổi.

(2) Hai ngày ba đêm: Dựa vào lời kể của nhân chứng và qua hồi ký “Tôi phải sống” của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ.

____

Mời xem thêm hồi ký Tôi Phải Sống của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ. Nguồn: Việt Nam Văn Hiến.

Người Công giáo ở Pakistan là ai?

 Người Công giáo ở Pakistan là ai?

AP

Lahore là một trong những thành phố có nhiều người theo đạo Công giáo.

Vụ tấn công của Taliban vào công viên thành phố Lahore là vụ việc gần nhất trong loạt các vụ tấn công ngày càng gia tăng nhằm vào người Công giáo tại Pakistan, theo phóng viên BBC M Ilyas Khan.

Một số vụ tấn công liên quan tới luật chống báng bổ gây tranh cãi của Hồi giáo, trong khi đó một số khác có vẻ xuất phát từ động cơ chính trị.

Có bao nhiêu người Công giáo ở Pakistan?

Phần lớn dân số Pakistan là người theo đạo Hồi. Sau đạo Hindu, những người Công giáo là nhóm lớn thứ hai trong các tôn giáo thiểu số, chiếm khoảng 1,6% dân số.

Phía nam thành phố Karachi tập trung đông những người theo Công giáo. Ngoài ra có rất nhiều ngôi làng Công giáo ở trung tâm tỉnh Punjab cũng như những thành phố Lahore và Faisalabad.

Người theo Công giáo cũng sinh sống tại khu vực bảo thủ phía Tây Bắc tỉnh Khyber Pakhtunkhwa, đặc biệt ở thành phố Peshawar.

Pakistan trước khi bị chia cắt khá đa dạng về mặt tôn giáo. Tuy nhiên hiện nay sự khoan dung tôn giáo đã giảm rõ rệt do xã hội Pakistan dần bị Hồi giáo hóa và ngày càng trở nên đồng nhất.

Trước khi bị chia cắt, người tôn giáo thiểu số chiếm 15% dân số cả nước, hiện nay họ chỉ còn chiếm 4%.

AFP

Công giáo có ảnh hưởng tại Pakistan?

Phần lớn những người Công giáo tại Pakistan có nguồn gốc là người theo đạo Hindu nhưng có đẳng cấp thấp kém. Những người này đã được cải đạo dưới chính quyền Ấn Độ thuộc địa Anh, một phần là để thoát khỏi hệ thống đẳng cấp trong Hindu giáo.

Những người này trở thành nhân công lao động tại các thị trấn đồn trú. Các thành phố thường có một khu vực gọi là Lal Kurti là nơi người công giáo sinh sống.

Tuy nhiên cộng đồng Công giáo vẫn là những người nghèo nhất trong xã hội và họ thường làm các công việc chân tay. Toàn bộ dân số theo công giáo ở các ngôi làng tỉnh Punjab làm nghề nhân công và các công việc đồng áng.

Một bộ phận người Công giáo có kinh tế khá giả hơn. Họ đến từ vùng đất Goa dưới thời Ấn Độ thuộc Anh. Họ thường được giáo dục tốt và phần đông định cư tại thành phố Karachi.

Tất cả những người theo Công giáo đều có cảm giác dễ bị tấn công. Do đó nhiều người giàu có đã dời đi định cư tại Canada và Úc vì sự dung hòa tôn giáo ngày càng thấp ở Pakistan.

Tại sao người Công giáo lại bị tấn công?

Phần lớn cộng đồng Hồi giáo và Công giáo sinh sống hòa bình và không nhiều có vụ tấn công xuất phát từ thù hằn tôn giáo.

Tuy nhiên những cáo buộc về tội phỉ báng thường dẫn đến bạo lực quần chúng hướng vào người Công giáo. Trong khi đó lực lượng vũ trang Hồi giáo cũng thường nhắm mục tiêu vào cộng đồng Công giáo.

AFP

Những vụ tấn công gần đây bao gồm:

  • Hai vụ nổ bom tại nhà thờ thành phố Lahore vào tháng Ba năm 2015 làm chết 14 người và bị thương hơn 70 người.
  • Một vụ nổ bom kép tại Nhà thờ thành phố Peshawar năm 2013 làm chết 80 người
  • Năm 2009, gần 40 ngôi nhà và một nhà thờ đã bị đám đông thiêu trụi tại thị trấn Gojra tỉnh Punjab khiến tám người bị chết cháy.
  • Năm 2005, hàng trăm người đã rời nhà cửa tại thành phố Faisalabad khi đám đông phóng hỏa thiêu trụi nhà thờ và các trường học Công giáo. Nguyên nhân do một người bị buộc tội đốt các trang sách kinh Koran.

Từ thập niên 90, rất nhiều người theo Công giáo đã bị kết tội mạo phạm kinh Koran và báng bổ Nhà tiên tri Muhammad. Mặc dù vậy, chuyên gia cho rằng những cáo buộc này thường bị châm ngòi từ hiềm khích cá nhân.

Phần lớn những người này bị kết án tử hình bằng tòa án dân sự. Những cáo buộc này sau đó bị tòa án cấp cao hơn bác bỏ do thiếu bằng chứng. Ngoài ra những người đi kiện thường nhằm vào cộng đồng Công giáo để trục lợi kinh tế.

Vào năm 2012, một cô gái theo Công giáo có tên Rimsha Masih, là người không theo đạo Hồi đầu tiên được tuyên bố trắng án trong một vụ việc cáo buộc tội báng bổ. Cô này đã bị một giáo sĩ Hồi giáo địa phương vu khống.

Vụ việc được biết tới nhiều nhất là vụ đấu khẩu giữa một người Công giáo bị buộc tội phỉ báng là bà Asia Bibi với một vài người phụ nữ Hồi giáo khác tại một ngội làng ở Punjab vào năm 2010.

Salman Taseer là thị trưởng tỉnh Punjab đương chức, đã tuyên bố luật lệ chống phỉ báng hà khắc của Pakistan đã bị lợi dụng trong trường hợp này. Ông Salman sau đó bị chính vệ sĩ theo đạo Hồi của mình là Mumtaz Qadri giết chết.

AFP

Qadri bị kết án tử hình vào tháng 2 năm 2016, dẫn đến hàng loạt các cuộc biểu tình.

Bộ trưởng Bộ dân tộc thiểu số của Pakistan lúc đó, Shahbaz Bhatti, cũng là một người theo Công giáo, đã bị Taliban ám sát vào năm 2011 vì có những phát biểu chống lại luật chống phỉ báng của nước này.

Còn lý do nào khác?

Một số bạo lực trực tiếp liên quan đến cuộc chiến tại Afghanistan do Mỹ đứng đầu, do đó có mục đích chính trị rõ ràng.

Nhiều tháng sau khi liên linh do Mỹ đứng đầu tấn công vào Afghanistan vào cuối năm 2001, một quả lựu đạn đã phát nổ tại một nhà thờ bên trong bệnh viện Công giáo tại thành phố Taxila làm bốn người thiệt mạng.

Hai tháng sau, các tay súng đã hành quyết sáu nhân viên thuộc một hội từ thiện Công giáo tại văn phòng của họ tại thành phố Karachi. Những sự việc đơn lẻ như vậy vẫn tái diễn qua năm tháng.

Các vụ tấn công nhằm vào người thiểu số theo Công giáo và Hindu giáo tại Pakistan có thể là một phần trong kế hoạch quân sự nhằm gửi thông điệp đến các nước phương Tây. Điều này đã gây khó khăn cho Thủ tướng Pakistan Nawaz Sharif khi ông được cho là thân thiện với các nước phương Tây.

Tuyên bố ‘ráng làm người tử tế’ của Thủ tướng Dũng gây chú ý

Tuyên bố ‘ráng làm người tử tế’ của Thủ tướng Dũng gây chú ý

Trong kỳ Đại hội Đảng 12 vừa qua, ông Dũng “xin rút” để “về nghỉ chính sách”, sau khi có nhiều đồn đoán rằng ông sẽ chạy đua vào chức Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam với ông Nguyễn Phú Trọng.

Trong kỳ Đại hội Đảng 12 vừa qua, ông Dũng “xin rút” để “về nghỉ chính sách”, sau khi có nhiều đồn đoán rằng ông sẽ chạy đua vào chức Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam với ông Nguyễn Phú Trọng.

VOA Tiếng Việt

26.03.2016

Lời khuyên ‘ráng làm người tử tế’ của ông Nguyễn Tấn Dũng trong phiên họp cuối cùng trên cương vị Thủ tướng Việt Nam đang thu hút sự quan tâm của người sử dụng mạng xã hội.

Trong khi chủ trì phiên họp từ biệt các thành viên nội các hôm nay, 26/3, ông nói rằng ngày 6/4 tới ông sẽ “kết thúc nhiệm vụ”.

Ông Dũng sau đó gửi lời cám ơn tới các cộng sự của mình đồng thời chúc mừng các thành viên chính phủ tiếp tục làm nhiệm vụ, trong đó ông nêu tên người được giới thiệu kế nhiệm mình là ông Nguyễn Xuân Phúc, cũng như bí thư thành ủy Sài Gòn và Hà Nội là Đinh La Thăng và Hoàng Trung Hải.

Sau đó ông cũng khuyên hơn 10 thành viên chính phủ về hưu kỳ này, trong đó có bản thân mình, là “ráng giữ gìn sức khỏe, làm công dân tốt, đảng viên tốt, ráng làm người tử tế, sống tử tế”. 

Trong đoạn thu âm được đăng tải trên báo chí trong nước, khi ông Dũng nói tới chữ “người tử tế” thì nhiều người tham dự cuộc họp đã bật cười.

Một bạn đọc tên Bon Nguyễn viết cho VOA Việt Ngữ: “Làm người tử tế quá dễ, làm người lãnh đạo tử tế mới là cả một vấn đề”.

‘Vung tay quá trán’

Phát biểu của Thủ tướng Việt Nam được đưa ra ít ngày sau khi người được cho sẽ lên kế nhiệm ông nói rằng “nợ chính phủ đã vượt giới hạn”.

Truyền thông trong nước dẫn lời ông Nguyễn Xuân Phúc phát biểu trong phiên khai mạc kỳ họp thứ 11 của quốc hội sáng 21/3 rằng “nợ công tăng nhanh, áp lực trả nợ lớn, nợ chính phủ đã vượt giới hạn quy định”.

Trong bài viết có tựa đề “ngân sách không đủ tiêu, đầu năm chính phủ lo vay nợ”, báo điện tử VietNamNet viết: “ Đang có hiện tượng “vung tay quá trán” trong chi tiêu nên mới đầu năm, để đảm bảo ngân sách nhà nước, chính phủ đã phải tính chuyện đi vay cả trong ngoài nước 116 nghìn tỷ đồng để chi tiêu. Rất có thể, thuế nội địa sẽ tăng để bù đắp cho khoản vay này”.

Còn trong bài viết về “bức tranh ngân sách quốc gia đầy báo động”, tờ Tuổi Trẻ cho rằng “hiện chúng ta cũng có những định chế và những người chịu trách nhiệm, nhưng lại không chịu trách nhiệm cụ thể nên cuối cùng chẳng ai chịu trách nhiệm”.

Ông Nguyễn Tấn Dũng được quốc hội Việt Nam bầu làm thủ tướng năm 2006, và ông cho biết, tính tới ngày 6/4 này, ông đã làm thủ tướng được “9 năm 10 tháng”.

Trong kỳ Đại hội Đảng 12 vừa qua, ông Dũng “xin rút” để “về nghỉ chính sách”, sau khi có nhiều đồn đoán rằng ông sẽ chạy đua vào chức Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam với ông Nguyễn Phú Trọng.

Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sau đó được giới thiệu kế nhiệm vị trí đứng đầu chính phủ Việt Nam.

Tin cho hay, Quốc hội khóa 13 dự kiến sẽ miễn nhiệm thủ tướng ngày 6/4 và việc bỏ phiếu kín bầu thủ tướng diễn ra một ngày sau đó.

Phải chặn ngay cái trò hội nghị cử tri

Phải chặn ngay cái trò hội nghị cử tri

Có thể một Myanmar đang thai nghén. Và ông Nguyễn Phú Trọng đang cuống quýt chống đỡ. Ông có quyền chống, có quyền phá, nhưng hãy bằng những phương tiện chính đáng và văn hoá, đừng quá lạm dụng bạo lực. Trước một công chúng chỉ có lòng yêu nước, dùng bạo lực là hành vi không cao thượng.

____

Bùi Quang Vơm

27-3-2016

Việc cố gắng đánh phá phong trào tự ứng cử là điều ai cũng biết là có sự chỉ đạo ráo riết của bộ chính trị đảng cộng sản.

Tiếp xúc cử tri ngày 8-3, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Không để lọt vào cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước những phần tử thế này thế khác”. Đây là chỉ thị của lãnh đạo tối cao. Chỉ là phát ngôn công khai, nhưng phía sau, có thể hình dung một lực lượng khổng lồ đang được huy động.

Và cũng có thể hiểu rằng công cụ chuyên chính của đảng sẽ không loại trừ bất cứ thủ đoạn nào, chưa kể các cấp dưới mẫn cán nhưng thiếu văn hoá có thể sáng tạo những trò lố bịch như trò khiêu vũ, trò cưa đá trước tượng đài Lý Thái Tổ của Nguyễn Đức Chung, nguyên Giám đốc công an Hà Nội.

Tại hội nghị xây dựng đảng ngày 26/03/2016, ông Trọng nhắc lại “Các thế lực xấu, thù địch đang rất muốn chúng ta thay đổi chế độ chính trị. Tôi đã nói đổi mới chính trị không có nghĩa là thay đổi chế độ chính trị, không có nghĩa là làm thay đổi bản chất của Đảng ta, Nhà nước ta. Đường lối phải đi đúng phương hướng của Cương lĩnh và Hiến pháp mới được thông qua. Tiếp tục phát huy dân chủ nhưng phải có kỷ cương, kỷ luật“.

Quyết tâm của ông Trọng rất cao, và một vài nhân vật cơ hội trong bộ chính trị mới cũng đang hò hét hùa theo, nhưng có vẻ như số này không nhiều, và có vẻ trơ trẽn, lạc lõng.

Hội nghị hiệp thương lần hai đã chấp nhận một danh sách ứng cử viên chưa từng có trong suốt 80 năm cầm quyền. Ở hai thành phố lớn quan trọng nhất nước, ứng cử viên độc lập đều chiếm quá bán. Hà nội 48/80 và thành phố HCM 50/97. Có thể thấy rằng chủ trương “mỗi ứng viên do đảng giới thiệu sẽ phải tranh cử với một ứng viên tự do” như ý muốn ban đầu của tiến sĩ Nguyễn Quang A và những người dẫn đầu phong trào đã được thực hiện.

Tuy nhiên, chỉ là ban đầu. Trước mắt là vòng hiệp thương lần ba, lập danh sách ứng viên đủ tiêu chuẩn. Và để lọt vào danh sách nằm trên bàn hiệp thương lần ba sẽ phải qua hai trận “huyết chiến” là hội nghị lấy phiếu tín nhiệm của cử tri ngày 28/03 và hội nghị xác minh, trả lời các khiếu nại tố cáo của cử tri đối với các ứng viên, ngày 12/04. Các thủ đoạn ác độc và vô liêm sỉ nhất sẽ được đảng trình diễn ở cả hai hội nghị này.

Hội nghị cử tri về bản chất là hội nghị nhằm giúp các ứng viên tiếp xúc và vận động với những người sẽ bỏ phiếu cho mình. Trong hội nghị này đáng lẽ chủ yếu là để ứng viên trình bày chương trình hành động của mình, trong trường hợp trúng cử. Nhưng từ trước đến nay, các ứng viên do đảng và nhà nước giới thiệu thường gần 100% là đảng viên. Loại ứng viên này làm gì có chương trình, và những điều họ được phép nói là truyền đạt hay diễn giải lại nghị quyết của đảng cộng sản. Cho nên, hội nghị cử tri biến thành công cụ để thanh lọc các ứng viên có khả năng độc lập, các ứng viên tự do.

Sẽ có những cử tri “đểu” kiểu dư luận viên. Sẽ có loại cử tri được tuyển từ những tên ma cô, côn đồ, dân anh chị của tiểu khu. Tất nhiên cũng sẽ có những cử tri danh giá, loại cử tri có ít nhiều ảnh hưởng tại tiểu khu, nhưng linh hồn đã bị được đem ra đổi chác. Đội quân này sẽ được dàn dựng để chiếm số đông trong số cử tri được “cấp phép” tham dự, được huấn luyện trước, và được cung cấp trước những căn cứ tố cáo ứng viên do công an phường soạn thảo, kể cả bịa đặt và cung cấp. Thủ đoạn phá phiếu tín nhiệm là phá rối đến mức không thể tổ chức lấy phiếu được. Các cử tri này sẽ dùng những tư liệu không xác minh được để gây sự, bằng ngôn ngữ thô lỗ và hành động khiêu khích hung hăng, nhằm mật mặt, bôi nhọ, hạ nhục ứng viên, một mặt, cố tình tạo tình huống để ứng viên sơ hở và phạm sai sót. Cuối cùng là chính những cử tri loại này gây sự lẫn nhau, tạo ra ẩu đả để hội nghị không thể kết luận và bị coi là không có kết quả.

Đối phó với loại thủ đoạn này là việc rất khó khăn, do các ứng viên độc lập thường chỉ là những cá nhân riêng rẽ, vũ khí duy nhất chỉ là sự trong sáng trong động cơ tranh cử, và cố gắng bằng danh dự và năng lực.

Nếu có thể vận động, chuẩn bị được một lực lượng cử tri trung thực khách quan trong hội nghị là một việc quan trọng có tính quyết định. Cần phải cảnh báo và kiến nghị trước những hành vi không được phép trong hội nghị. Cần phải có người vạch mặt chân tướng của các lọai cử tri “đểu” khi xét tư cách cử tri. Cần phải yêu cầu quay phim, ghi hình, chụp ảnh hội nghị. Cần phải ngoài hội nghị…

Ở vòng xác minh và xét các khiếu nại tố cáo, thủ đoạn quen thuộc là tung tài liệu bội nhọ ứng viên như kiểu “hai bao cao su”, các clíp ghép dựng, các tố cáo vô danh, những tài liệu không thể xác minh, nhằm đưa hồ sơ của ứng viên vào tình trạng không rõ ràng để loại khỏi danh sách.

Vũ khí của chúng ta chỉ duy nhất là pháp luật. Vì vậy, cần phải được thu thập chứng cớ để đưa ra xét xử trước pháp luật những loại phát ngôn như “một số người có sự ủng hộ của tổ chức phản động trong nước, nước ngoài đứng ra vận động bầu cho họ, thậm chí cung cấp tài chính để vận động”. Cần phải tìm cho ra người phát ngôn này là ai. Và những loại hành vi như việc ông Trần Văn Bái tổ trưởng tổ dân phố 13 Phường Gia Thụy, Long Biên, Hà Nội phát tán một tài liệu “hành trình tội lỗi của Nguyễn Quang A” chứa nhiều thông tin bịa đặt, vu cáo và phỉ báng tiến sĩ Nguyễn Quang A, người dẫn đầu phong trào tự ứng cử, cần phải bị kiện ra Toà.

Đang có những âm mưu phá hoại phong trào tự ứng cử, kể cả việc lôi chú ý của dư luận sang một hướng khác. Chuyện xử Anhbasam Nguyễn Hữu Vinh, cộng tác viên Nguyễn Thị Minh Thúy, và chuyến thăm của bộ trưởng quốc phòng Trung quốc ngày 17/03/2016 có cùng mục đích ấy. Từ nay cho tới hiệp thương lần ba, ngày 17/04/2016 sẽ còn nhiều trò diễn nữa.

Không thể để mắc mưu nhà cầm quyền. Dư luận cần tập trung vào việc chống lại những thủ đoạn bẩn thỉu đang được âm thầm chuẩn bị. Phải tổ chức điều tra, xác minh ngay những cử tri được trả lương và được huấn luyện trước, bao vây và vô hiệu hoá ngay những nhân vật vô lại này. Cần phải kiện ra toà ngay nhân vật vu khống các ứng viên có tổ chức phản động chống lưng, phải kiện ra toà ngay tác giả và ông Trần Văn Bái, kẻ lưu hành và phát tán tài liệu vu cáo, xúc phạm.

Chúng ta cũng biết rất rõ rằng, chúng ta đang được ủng hộ. Phía sau những ứng viên dũng cảm là cả khối hơn 90 triệu dân chúng đã hoàn toàn giác ngộ. Họ đã nhận ra quyền quyết định cơ quan quyền lực cao nhất của Quốc Gia là của họ, nằm trong tay họ, và họ biết rằng những tên tham nhũng nhất chính là những kẻ có chức quyền cao nhất, chính là những tên thuộc danh dách do đảng và nhà nước giới thiệu.

Chúng ta cũng biết rằng chúng ta không đơn độc. Ngay trong bộ máy lãnh đạo đảng cộng sản, ngay trong bộ máy quyết định quy trình của chiến dịch bầu cử từ cấp trung ương tới các địa phương, đang có những nhân tố ủng hộ chúng ta, đang âm thầm tiến hành một cuộc cách mạng thật sự.

Có thể một Myanmar đang thai nghén. Và ông Nguyễn Phú Trọng đang cuống quýt chống đỡ. Ông có quyền chống, có quyền phá, nhưng hãy bằng những phương tiện chính đáng và văn hoá, đừng quá lạm dụng bạo lực. Trước một công chúng chỉ có lòng yêu nước, dùng bạo lực là hành vi không cao thượng.

Vô Cảm & (Giả Vờ) Hữu Cảm

Vô Cảm & (Giả Vờ) Hữu Cảm

tuongnangtien

RFA

tuongnangtien's picture

Dù sống ở Mỹ đã lâu nhưng chả mấy khi có dịp đi đâu, và cũng không mấy lúc tiếp xúc với người bản xứ nên tôi không được am tường lắm về nhân tình/thế thái của nước Hoa Kỳ. May nhờ có net, cùng nhiều vị thức giả chịu khó du hành (và ghi chép) nên thỉnh thoảng tôi cũng biết thêm được đôi điều lý thú về xứ sở này:

  • “Lần đầu tiên đến Mỹ cách đây 19 năm, tôi thực sự ngạc nhiên vì những ngôi nhà ở Mỹ không đóng khóa cửa. Trong mỗi ngôi nhà của họ có biết bao thứ đắt tiền. Nhưng không mấy ai lọt vào nhà người khác để lấy cắp. Có nhiều lý do. Nhưng lý do cơ bản nhất là ý thức làm người của họ cùng với sự trợ giúp cho ý thức sống ấy là luật pháp và cách quản lý xã hội …” (Nước Mỹ “quên” khóa cửa và thấy khóa bị phá ở Nội Bài – Nguyễn Quang Thiều).
  • “Người Mỹ có lòng hảo tâm, thích giúp đỡ. Trên máy bay, khi chúng tôi đưa hành lý lên khoang chứa gặp khó khăn, lập tức người đứng cạnh làm giúp. Nhiều người cuối tuần đi giúp chăm sóc ở các nhà dưỡng lão. Có người chạy xe dọc theo các xa lộ để giúp đỡ những trường hợp xe bị sự cố, tai nạn.” (Mỹ Du Ký – Tiêu Dao Bảo Cự).

Tôi thực sự không ngờ là ở Hoa Kỳ lại có những ngôi nhà cửa không khoá, và có những người (tốt bụng) chạy xe dọc theo các xa lộ để giúp đỡ tha nhân như thế. Sự hiểu biết giới hạn này –  như đã thưa – vì tôi đi ít, sống ít, và thường chỉ sống “cầm chừng” như một công dân bán – thời- gian (part – time – citizen) ở phần quê hương thứ hai này. Cứ ra khỏi nhà, ra khỏi nơi làm việc quen thuộc là tôi lại biến ngay thành một anh di dân ngơ ngác nơi xứ lạ.

I came from Viet Nam. Và rất nhiều đêm, nếu không muốn nói là hàng đêm, tôi vẫn cứ lò dò trở về chốn cũ.

Tôi thường trở về Đà Lạt, nơi mà tôi đã lớn lên, và đã ướp đẫm tuổi thơ (cũng như tuổi trẻ của mình) bằng rất nhiều đặc sản của núi rừng: nuớc hồ Xuân Hương, sương mù, phấn thông vàng, mùi cỏ dại của Đồi Cù, và cả trăm loại hương hoa man dại.

Đôi lúc tôi trở lại Ngã Sáu, tần ngần đứng trước xe bò viên, chờ người bán mở nắp thùng nước lèo bốc khói. Không gian (của cả Sài Gòn) bỗng ngạt ngào hương vị. Chút nước thánh này – sau khi đã nhai thiệt chậm miếng thịt pha gân vừa ròn, vừa ngậy – nếu hoà nhẹ chút xíu tương đỏ, tương đen, cùng ớt xa tế ngọt ngọt cay cay có thể khiến cho đứa bé thơ trong tôi xuýt xoa mãi cho đến… khi tóc đã đổi mầu.

Có khi thì tôi trở lại những đồi trà, nương khoai, rẫy bắp ở Blao. Tôi cùng lũ bạn tù mệt lả, lếch thếch trong nắng chiều vàng, trên đường về trại Tân Rai – sau một ngày dài lao cải.

Cũng có lúc tôi ghé qua Rạch Giá, loanh quanh trong chợ Nhà Lồng – thơm nức mùi thức ăn, vào một sáng mưa mù trời vì biển động – mà lòng buồn, bụng đói, dạ hoang mang. Tôi đi thật chậm qua những bàn ăn thâm thấp, không dám mở miệng xin sỏ gì ráo trọi, chỉ chờ thực khách buông đũa là nhào đến húp vội phần thức ăn thừa (nếu) còn sót lại trong tô.

Hơn nửa đời lưu lạc, tôi vẫn cứ sống lơ mơ – theo kiểu “ngày ở / đêm về” – như thế. Và bởi thế, tôi biết rất ít về nước Mỹ và vẫn không ngớt ngạc nhiên về cách hành sử của người dân bản xứ:

  • Cop shuts down highway to save small dog, becomes Web hero     
  • Ảnh: abcnews
    Nỗ lực cứu một con ngựa bị rơi rơi xuống hố là chuyện tương đối dễ hiểu nhưng huy động đến cả lực lượng cứu hoả, và cảnh sát (chận cả một dòng xe đang chạy trên xa lộ) chỉ vì sinh mạng của một chú chó con – loài thú vẫn thường nhìn thấy treo lủng lẳng, ngược đầu, trong những quán nhậu ở quê mình – là điều khiến cho tôi hơi bị …hoang mang!

Tôi lại càng hoang (tợn) khi thấy hôm 22 tháng 2 năm 2016, trang Vietnamnet đưa tin: Hàng chục người đứng nhìn một thanh niên chết đuối!


  • Nam thanh niên chết dưới hồ trước sự chứng kiến của nhiều người. Ảnh và chú thích: vietnamnet

Gần mười hôm sau, ngày 1 tháng 3 năm 2016, VTC ái ngại thêm tin: Thấy người thoi thóp bên đường, nhấn ga chạy nhanh…! Ký giả Đăng Đức (báo Petro Times) gọi đây là “tình trạng vô cảm trong xã hội hiện nay.” Ông cũng kể thêm vài trường hợp để làm rõ vấn đề:

Vụ “hôi của tập thể” ngày 16/10 vừa qua chẳng hạn, anh Vũ Trường Chính (TP HCM) bị 4 tên đạo tặc móc trộm gói tiền 50 triệu đồng khi anh đang dừng xe chờ đèn đỏ, anh phát hiện và giằng co với chúng khiến bọc tiền rơi tung tóe ra đường. Trong lúc nạn nhân đang lo bắt cướp thì người đi đường lại ào đến… nhặt tiền rồi bỏ chạy. Chính những người điều khiển giao thông gây tai nạn cũng thể hiện một cách hành xử “máu lạnh” không kém khi có không ít kẻ thay vì đến hỏi thăm, giúp đỡ người bị nạn thì lại chọn giải pháp là bỏ trốn, rũ bỏ trách nhiệm…

Một biểu hiện rất rõ của chứng thờ ơ, vô cảm nữa là chuyện lên xe ôtô ở nơi công cộng, thấy kẻ gian móc túi hoặc bọn côn đồ hành hung người khác, người ta cũng chỉ lờ đi xem như đấy không phải chuyện của mình…


  • Thấy tai nạn mà chỉ đứng nhìn. Ảnh & chú thích:petrotimes

Để lý giải cho hiện tượng này, tác giả bài báo, dẫn lời của một chuyên gia – TS tâm lý Trịnh Trung Hoà: “Người Việt chúng ta từ xưa đến nay luôn có truyền thống tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, yêu thương, sẻ chia với đồng loại. Trong lịch sử, chưa bao giờ dân ta có bệnh vô cảm. Thế nhưng, gần đây, giữa nền kinh tế thị trường, lối sống chạy theo cái ‘tôi’ nên người ta thờ ơ trước nỗi đau của đồng loại. Nguyên nhân đầu tiên là do sự chuyển hóa sang cơ chế thị trường, mạnh được yếu thua, một số người có tâm lý việc không liên quan đến mình thì mặc kệ”.

Ủa, sao cũng “giữa nền kinh tế thị trường” mà thiên hạ lại tận tụy, hết lòng cứu mạng cả loài chó/ngựa còn “ta” thì thản nhiên nhìn đồng loại/đồng bào chết chìm hay thoi thóp – như vậy cà? Sự khác biệt, chả qua, chỉ vì cái “định hướng xã hội chủ nghĩa” chăng? Cái định hướng này không chỉ làm cho con người trở thành vô cảm mà còn có thể biến họ trở thành hữu cảm (giả vờ) nữa – theo như nhận xét của blogger Phạm Trọng Thức:

“Khoảng 10h sáng hôm qua, 9/8, đi ngang qua Văn Miếu mình thấy đang có trò dàn cảnh để chụp ảnh cảnh sát giao thông dắt dân qua đường… Không rõ những người thiết kế cái chương trình đó nghĩ gì mà vẫn cứ làm một cái việc vừa giả dối vừa cũ rích, chỉ tổ trở thành mục tiêu cho bà con đàm tiếu…

Xin chỉ ra những điểm không chân thực và phản tuyên truyền trong bức ảnh:

Thứ nhất, hình ảnh cảnh sát giao thông quen thuộc là mấy ông mặt sắt đen xì, hách dịch, đôi khi hung hãn, chứ không phải là cô cảnh sát giao thông son phấn và đeo kính trắng.

Thứ 2, luật giao thông quy định trong đô thị người đi bộ sang đường ở nơi có biển báo, vạch sơn phù hợp. Thực tế thì mọi người sang đường bát nháo, muốn đi chỗ nào thì đi. Vậy bức ảnh chụp cô cảnh sát giao thông dắt dân qua đường ở nơi không có vạch, biển cho người đi bộ không khác gì tiếp tục đồng loã hoặc khuyến khích cho lối đi lại bát nháo.

Thứ 3, mặt khác bức ảnh không khác gì thừa nhận bất lực trong việc đưa tập quán giao thông vào khuôn khổ như phải đi đúng đèn, vạch sơn, biển báo, xe cộ nhường người đi bộ, v.v…

Nhưng điều quan trọng nhất là trong đời sống thật, việc cảnh sát giao thông thân thiện, giúp đỡ là quá ít ỏi so với các hoạt động ‘bẫy’ dân để phạt, thái độ trịnh thượng hạch sách, không giúp đỡ, ăn hối lộ, v.v… Khi những cái xấu, bất thường quá nhiều, thì cái bình thường lại trở nên cao quý. Nhưng ngay cả cái gọi là bình thường đó cũng phải dàn dựng mới có để mà chụp ảnh.”

Cái “định hướng xã hội chủ nghĩa” chắc chắn sẽ qua. Tuy thế, di sản (cùng di hoạ) của nó e sẽ còn ở lại với chúng ta không biết cho đến bao giờ. Bao giờ thì người Việt thôi thản nhiên nhìn tha nhân bị móc túi, bị chết chìm, thôi làm bộ “dàn cảnh” tử tế, và có thể sống nhân từ với những con thú nhỏ bao quanh?

Một mình lưỡng lự canh chầy
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh!

MỘT CON ĐƯỜNG, BA THẾ HỆ !!!

  MỘT CON ĐƯỜNG, BA THẾ HỆ !!!

6d9f2aff-7935-46ca-9392-c48c98077e6b

Tang lễ ông Nguyễn Ngọc Bích tại Nghĩa trang National Memorial Park, Falls Church, Virginia, ngày 12.3.2016 vừa qua có lẽ là cuộc tiễn đưa lớn nhất trong cộng đồng người Việt vùng thủ đô nước Mỹ từ nhiều năm nay. Và sau ông Bích, chắc còn nhiều năm nữa mới lại có một tang lễ lớn như vậy của người Việt tại đây.

Yêu ông Bích hay ghét ông Bích, không ai có thể chối cãi ông ấy là người rất nổi tiếng, không những trong cộng đồng người Việt tại Washington D.C., Virginia và Maryland mà còn ở nhiều nơi khác trong các cộng đồng người Việt hải ngoại. Có lẽ lý‎ do là ông Bích đã tham gia sinh hoạt trong rất nhiều hội, tổ chức, đảng phái ở nhiều nơi, không kể hai hội do chính ông lập ra từ những năm đầu tới Mỹ : Hội Văn Hóa Bắc Mỹ và Nghị Hội (Toàn quốc Người Việt tại Hoa Kỳ). Ông Bích làm chủ tịch nhiều hội mà ít ai biết hết.

Ông Bích xuất hiện ở khắp nơi, xuất hiện không ngừng nghỉ, nói về đủ mọi đề tài. Dịch thuật. Văn. Thơ. Báo chí. Phê bình văn học. Lịch sử. Chính trị. Quân sự. Tôn giáo…

Ông Bích đột ngột qua đời ngày 3.3.2016 trên chuyến bay từ Washington D.C. tới Manila “để dự Hội Nghị Biển Đông do ông tổ chức cùng các đoàn thể khác trên khắp thế giới” (theo Cáo Phó)  lúc đang là “cái đinh” trong vụ tranh chấp ồn ào tại ngôi Chùa Giác Hoàng ở Hoa-Thịnh-Đốn mà ông là một trong sáu thành viên của Ban Quản Trị từ ngày thành lập cách đây 40 năm.

Khi ông Bích bất ngờ nằm xuống giống như trên một sân khấu đang diễn một vở kịch sôi động bỗng nhiên vai chính biến mất làm khán giả ngơ ngác. Sự ngơ ngác này có thể đọc được trong các lời Phân Ưu đăng trên nhiều tờ báo ở Vùng Hoa-Thịnh-Đốn: “Chúng tôi bàng hoàng và vô cùng thương tiếc”, “Thật không có cái chết nào ý nghĩa, cao quý và chấn động hơn thế nơi hải ngoại”, “Một học giả, một nhà văn hóa lớn, một nhà đấu tranh bất khuất”, “Một nhà văn hóa hàng đầu, một người yêu nước thương dân đến tận hơi thở cuối cùng, một nhân cách phi thường”, “Một thư viện vừa cháy”, vân vân.

Hiển nhiên, ông Nguyễn Ngọc Bích ra đi đột ngột đã để lại một khoảng trống mà ít ai có thể thay thế. Hay nói cách khác, một thế hệ đang theo nhau, kẻ trước người sau, rời khỏi sân khấu. Trước ông Bích hai tuần là Tướng Đỗ Kế Giai, ra đi ngày 21.2.2016. Sau ông Bích một tuần là Nhà báo Trần Bình Nam (Trần Văn Sơn), qua đời ngày 11.3.2016.

Thế hệ thứ nhất của người Việt lập cư ở hải ngoại sau khi VNCH sụp đổ năm 1975 đang theo nhau tàn rụng trong lúc không có mấy “khuôn mặt trẻ” thuộc thế hệ một rưỡi và thế hệ thứ hai trong những sinh hoạt của các hội đoàn ở hải ngoại để được “trao đuốc”.

Họ đang làm gì và ở đâu?

Có lẽ họ đang đi theo những con đường khác, hay đang tìm một con đường khác để đi vì không thấy con đường của các bậc cha anh sẽ đưa họ đến một chân trời tươi sáng. Họ muốn có một cái gì mới, thay vì cứ đi theo đường xưa lối cũ với những khuôn mặt cũ, tuồng tích cũ, sai lầm cũ. Con đường mà họ cho là đã đưa đến thất bại, đến mất nước, đến lưu vong.

Hay, chỉ đơn giản là họ cũng muốn đi chung con đường với các bác, các chú, các cô… để được “trao đuốc”nhưng đã bị đẩy ra vì đầu óc đố kỵ, bè phái, hay tệ nạn độc đoán, độc tôn.

Và như thế, ba thế hệ người Việt ở hải ngoại đang không cùng đi trên một con đường.

Nhưng thật đáng ngạc nhiên, gần đây khách vãng lai Khu Eden, trung tâm thương mại lớn nhất trong cộng đồng người Việt Vùng Hoa-Thịnh-Đốn và cả miền Đông Bắc Hoa Kỳ, để ý đến một văn phòng lớn gồm hai căn phố ( số 46-48, West Wing Eden Center) với một cái bảng hiệu sơn màu xanh dương, vàng và trắngphía trên khung cửa “TRUNG TÂM SINH HOẠT NGƯỜI VIỆT”, bên dưới là hàng chữ “MỘT CON ĐƯỜNG – BA THẾ HỆ”.

Người ta ngạc nhiên vì Khu Eden là một trung tâm thương mại, tiền phố khá đắt, sao lại vào đây sinh hoạt, và sinh hoạt những gì?

Theo một bản tin được phổ biến không lâu thì đây là một văn phòng dịch vụ được mở ra từ hơn một năm nay để giúp đỡ đồng hương trong vùng gồm nhiều lãnh vực:

  1. Thuế Vụ – Tax.
  2. Dịch thuật – Translation.
  3. Công chứng – Public Notary.
  4. Đầu tư – Investment.
  5. Trợ giúp pháp l‎ý – Paralegal service
  6. Dạy Anh ngữ.
  7. Obamacare.
  8. Luyện thi nhập tịch công dân Mỹ.

Tại đây cũng có những  máy computer để mọi người sử dụng miễn phí cho những sinh hoạt cá nhân, kể cả gọi Skype về Việt Nam.

Từ ngày 25 tháng 2, một “Tủ Sách” đã được thành lập tại trung tâm sinh hoạt này nhằm hai mục đích:

Bán những cuốn sách Việt ngữ giá trị thuộc đủ mọi thể loại: biên khảo, tiểu thuyết, bút ký, hồi ký, thơ… do chính tác giả hay các nhà xuất bản gửi bán. Hiện nay, Nhà xuất bản Tiếng Quê Hương ở Virginia đã gửi nhiều tác phẩm vừa xuất bản rất hay như Chuyện Kể Năm 2000 nguyên văn bản chính của tác giả Bùi Ngọc Tấn và Hậu Chuyện Kể Năm 2000, Việt Nam Cuộc Chiến Leo Dốc của Frank Scotton, do Phan Lê Dũng dịch, Những Sự Thật Cần Phải Biết của Đặng Chí Hùng, Cộng Sản và Tôi, tuyển tập gồm 70 tác giả…Ngoài ra còn có một số sách giá trị xuất bản đã lâu ngày nay khó tìm như Việt Nam Theo Đường nào vào Thế Kỷ 21 của Phạm Kim Vinh, Nguyễn Du Toàn Tập (trọn bộ 2 cuốn) của Bách Việt, Bút Ký Irina Tập 2 của Irina Zisman, vv. Đặc biệt, nhiều cuốn sách được bán giảm giá để khuyến khích người Việt đọc sách Việt ngữ.

Cũng trong chiều hướng ấy, ngoài sách bán, còn có một tủ sách cho mượn đọc tại chỗ thuộc nhiều thể loại và nhiều sách hay. Hàng ngày, đồng hương vào Khu Eden mua sắm, hớt tóc, làm đầu, sửa sắc đep, hay thưởng thức các món ăn ngon trong rất nhiều nhà hàng có thể ghé qua Tủ Sách để thưởng thức những món ăn tinh thần miễn phí thanh cao, vừa giải trí vừa làm giàu cho sự hiểu biết.

64de9405-d568-4de3-af96-242540375ef0

Tên tiếng Anh của Trung tâm sinh hoạt này là “AASTODAY”, một cố gắng mở rộng hoạt động để phục vụ cộng đồng của AASUCCESS, một tổ chức bất vụ lợi đã hoạt động từ nhiều năm nay tại Vùng Hoa Thịnh Đốn với mục đích rèn luyện cho các học sinh, sinh viên người Mỹ gốc Á kỹ năng (hay năng khiếu) sống để khắc phục những khó khăn, vượt qua những trở ngại tại học đường và ngoài xã hội để đi tới thành công, như tên của Hội. AA là chữ tắt của Asian American, nhưng hầu hết hội viên là gốc Việt mà con chim đầu đàn là Dave Nguyễn, hay Nguyễn Trọng Đạt, một thuyền nhân lúc mười tuổi, thuộc thế hệ một rưỡi của người Việt tị nạn trên nước Mỹ.

Sau khi vượt qua những khó khăn và trở ngại trên quê hương mới để đi đến thành công cho chính mình, Dave Nguyễn đã không thu mình vào trong “tháp ngà” ích kỷ để hưởng thụ thành quả của những năm tháng sách đèn mà đã hướng ra ngoài, nghĩ đến những người trẻ, những khó khăn và kém may mắn của thế hệ đi sau, thế hệ thứ hai, ra đời trên nước Mỹ, và đã lập ra AASUCCESS.

AASUCCESS đã nhận  được sự bảo trợ của những người có lòng, trong cộng đồng người Việt cũng như ngoài cộng đồng người Việt, thuộc nhiều thế hệ khác nhau. Nhờ đó trong thời gian qua, AASUCCESS đã hướng dẫn nhiều lớp người trẻ đi đến thành công, và những người này sau đó đã trở nên những thành viên mới của Hội, rèn luyện những người đi sau và giúp Hội mở rộng hoạt động.

Qua những kinh nghiệm và học hỏi trong khi dấn thân hoạt động cho công ích, nhất là sự đồng lòng chung sức của cả ba thế hệ người Việt trên một con đường đã vạch ra, gần đây AASUCCESS đã chọn châm ngôn cho Hội là “Một con đường, ba thế hệ”. Một bí quyết, một điều kiện không thể thiếu để đi đến thành công trên con đường phục vụ công ích?

Nói không khó nhưng làm được thì không phải dễ. Thực hiện được châm ngôn ấy, trước hết cần có một lý‎tưởng. Ngồi lại với nhau mà chỉ vì danh hay lợi thì sẽ không đi đến đâu, chẳng làm được cái gì. Đó là tình trạng của nhiều hội đoàn người Việt ở hải ngoại, dù mang những danh xưng to lớn đến đâu, nhưng cũng chỉ là những chiếc xe không thể lăn bánh.

Có lý tưởng, tức là vạch ra một con đường để cùng đi, chưa đủ. Mỗi người cần có nhiệt tâm, đức khiêm tốn, tôn trọng lẫn nhau, học hỏi người khác, và tinh thần đồng đội.

Không có nhiệt tâm, dù làm việc nhỏ đến đâu cũng sẽ “không ra môn ra khoai” gì. Khiêm tốn, tôn trọng lẫn nhau, học hỏi người khác không phải chỉ để dành cho người trẻ đối với người già mà cả người già đối với người trẻ. Cuối cùng người trong một tổ chức phải coi nhau những cầu thủ trong một đội bóng trên sân cỏ. Tất cả cho chiến thắng của toàn đội. Tạo hào quang cho cá nhân trong khi toàn đội thất bại sẽ chẳng có ý nghĩa gì. Và vô ích.

Có lẽ Dave Nguyễn đã học hỏi được kinh nghiệm đau xót trên đây khi dấn thân muốn giúp các chú, các bác một tay để phục vụ cộng đồng.

Trước sự “lão hóa” của các tổ chức trong cộng đồng người Việt hải ngoại, các bậc “thức giả” thường chép miệng thở dài: “Tre đã già mà măng không mọc”.

Không. Măng đã mọc và đang vươn lên. Nhưng không phải từ những lũy tre già của ngôi làng xưa.

Ký Sự của Ký Thiệt / PHAN NGUYÊN LUÂN… thực hiện

Đưa bé đến trường bằng xe anh đạp.

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 2 Phục sinh năm A 10/4/2016

 “Đưa bé đến trường bằng xe anh đạp.”

Khi bước ra đường bình minh mới lên.

Ba má đã khuyên mình nên đi sớm.

Em hãy leo lên để anh đi liền!”

(Phạm Duy – Đức Bé Đến Trường)

 (Năm xưa trên cây xồi, Mẹ Maria ôi thôi!)

  Trần Ngọc Mười Hai

Bần đạo đây, mỗi lần viết chuyện phiếm, thường trích-dẫn rất nhiều nhạc bản tình-ca ướt-át, hoặc nhạc đồng quê, sinh-hoạt thật không thiếu. Duy, có nhạc trẻ nhỏ như hôm nay, thật cũng ít.

Chính vì ít, nên bần đạo cũng chẳng bận tâm nhiều đền âm-giai, tiết-điệu mà nhiều lần chỉ chú ý đến ca-từ/lời lẽ sao cho thích hợp với chủ-đề mình muốn bàn mà thôi. Thú thật thì, nhạc đời về tình yêu-đương đôi lứa, thấy rất nhiều. Còn về tình đời bé nhỏ của trẻ em, thật rất ít. Ít-oi, như các lời ở dưới vẫn ca rằng:

 Đưa bé đến trường từ nơi xóm hẹp.

Qua những con đường vòng quanh đã quen.

Ra tới công viên ngựa xe như nước.

Len giữa đám đông chật như đóng nêm.
Trên xe, trên xe em nói huyên thuyên.

Bao nhiêu, bao nhiêu chuyện cổ tích tiên,

anh tuy nghe luôn, anh vẫn quên liền.

 Thôi em, thôi em con dốc nghiêng nghiêng.

Anh đang leo lên nghẹt thở đứng tim.

Xin em im đi cho anh gắng anh đạp!
Xe lăn bon bon chuông bấm kinh coong.

Đang đi em xin ngừng lại gốc soan,

cho em giơ tay em hái hoa đẹp.

 Thôi em, thôi em ta hãy đi mau.

Không ai, không ai chờ đợi bé đâu.

Anh nghe như chuông nơi mái trường reo. “

(Phạm Duy – bđd)

 Thú thật với bạn đọc, rằng thì là: viết phiếm mà không kèm giòng nhạc êm ái, có tiết-điệu diễm-kiều/ủy mị, thì rất khó. Khó là bởi, viết mãi rồi thấy mình toàn những nói và nói, chẳng để người đọc lắng nghe. Mà, người đọc nào chịu nghe nếu không có giòng âm-nhạc ướt-át/trữ-tình cơ chứ. Thế nên, hôm nay, trước khi đi vào chi-tiết cần viết phiếm, xin mời bạn ta nghe thêm ít câu nữa:

Xe đi loanh quanh, mưa xuống nhanh nhanh.

Chân anh, chân em tràn ngập nước văng.

Anh em ca lên cho đỡ run lạnh.

Ca lên, ca lên câu hát anh em.

Ta thương yêu nhau, đời là cõi tiên.

 Nay mai xa nhau, kỷ niệm chẳng quên!
Đưa đón em bằng một xe móp mẹp.

Đưa đón em bằng tình anh với em.

Đưa đón em sao mà vui tha thiết.

Đưa đón em như là đưa người tình.
Mai mốt em thành người trong xã hội.

 Chức lớn sang giầu, nổi danh khắp nơi.

Em có đi chơi bằng xe hơi mới.

Xin chớ cán xe đạp của anh, bé ơi!

Xin chớ cán xe đạp của anh, bé ơi!

(Phạm Duy – bdd)

Nói gì thì nói. Viết gì thì viết. Viết cho lắm, cho nhiều mà không nghe người đọc phản-hồi, thì hỏng bét, đấy bạn ạ. Bởi thế nên, hôm nay, bần đạo đã từng nghe người đọc có bạn phản-hồi về chuyện hôm trước bần đạo nói về việc tôn-sùng Đức Maria, vẫn chưa đủ ý, đủ lời.

Thật vậy, nay bèn xin phép bạn đọc, ta nghe thêm đôi điều về chuyện này. Trước nhất là lời lẽ của đấng bậc thày dạy, rất thần-học, rằng:

 “Thật ra thì, lối bắt-chước Thiên-Chúa một cách trực-tiếp như thế, lại vắng bóng ở thư đích-thực do ông Phaolô soạn. Bởi lẽ, ông cũng có khuyên những ai dõi bước theo chân ông hãy sao/chép gương lành của Đức Kitô mà thôi.

 Thế nhưng, do bởi ta chỉ hiểu biết rất ít về Đức Giêsu do ông Phaolô trưng-dẫn tựa như lời ông dặn tín-hữu dân ngoại: hãy theo mẫu gương của chính ông hoặc các cộng-sự-viên gần ông nhất, là thứ mẫu và gương họ tạo về Phaolô như lời lẽ trong thư thứ nhất Côrintôi đoạn 11 câu 1 từng tuyên-bố: “Anh em hãy bắt chước tôi, cũng như tôi đối với Đức Kitô.”

 Và, đoạn 4 câu 16 trong thư này, ông còn thôi-thúc tín-hữu nhiều hơn nữa về chuyện bắt-chước như sau: “Vậy, tôi khuyên anh em hãy biết theo gương tôi.”

 Theo cách các nhà mô-phạm vẫn tỏ-bày, thì điều này có vẻ như lời khuyên-bảo về Đạo gửi đến tín-hữu ở Côrintô, ông Phaolô đề-nghị họ hãy sống và làm như ông từng thiết-lập quan-điểm mới về đạo-lý trong đó tín-hữu thấy mình trước nhất có được trạng-huống này là từ Đức Kitô; thứ đến là do Thiên-Chúa mà ra.

 Với một Người Cha ở rất xa và một Đức Kitô không diện-mạo rõ ràng, thì lời khuyên của ông Phaolô đưa ra là dành để cho các tín-hữu mới tòng-đạo còn nhút-nhát khiến họ có thể xem những người gần-gũi với họ xem có ai khiến họ tin-tưởng được hay không, mà thôi.

 Xem như thế, đã bắt-đầu thấy có xu-hướng rất dễ thấy nơi các vị theo Công giáo hoặc Chính-thống-giáo tạo khuôn-mẫu, những người môi-giới và trung-gian hoà-giải giữa các kẻ tin và Thiên-Chúa. Các người trung-gian khi xưa, là: Đức Kitô và ông Phaolô. Và sau này, nhờ nguồn hứng của cộng-đoàn Phaolô khi ấy, là: Đức Maria, Mẹ của Đức Giêsu Đấng-bậc trong một số nguồn-cội của Đạo Chúa lại có khuynh-hướng được đối-xử gần như nữ-thần, ít ra là Đấng Thứ Tư trong Bốn Ngôi Thần Thiêng Thánh ái.

 Vào các thế-kỷ đầu của Hội thánh, các Đấng được các thánh tử-vì-Đạo gộp chung lại làm một và từ đó, một số các thánh khác ngày càng làm như thế. (Xem Gs Geza Vermes, Khuôn Trăng Diện mạo Ngài thay đổi: Đức Giêsu và cuộc sống trọn lành theo ông Phaolô,

www.giadinhanphong.blogspot.com 14/3/2016)

Những giòng suy-niệm trên đây đại-ý muốn bảo rằng: Đạo của ta cũng đã tạo hình-tượng để dân con mọi người tôn-thờ và bắt chước Đức Maria là mẹ hiền của Hội-thánh luôn thương-yêu, che chở và cầu bàu cho con cái của Mẹ. Tuy nhiên, chừng như ta lại cứ tôn-sùng/phụng thờ Mẹ quá độ, đến là thế.

Tôn-sùng Mẹ đến như thế, như thể nghệ-sĩ già họ Phạm đã đưa lên thành ca-khúc, rất như sau:

“Đón bé ra trường, chiều mưa hoang lạnh.

Manh áo tơi trùm cả em, lẫn anh.

Thương chiếc xe xanh, nhỏ xinh ướt át.

Nhưng ấm trong tim hồi chuông giáo đường.
Đón bé ra trường, chiều mưa xám xịt.

Đi giữa hai hàng đèn đêm đứng im.

 Em bé co ro ngồi ôm tay lái.

Anh cũng so vai còng lưng tiến lên.
Nhưng em không quên em nói, em khoe.

Hôm nay cô cho mười điểm, thích ghê!

Nhưng đôi tai anh đâu có nghe gì.

 Thôi em, thôi em khi nước mưa tuôn,

xe đang đi trên đường hẹp đất trơn.

Em im đi cho anh gắng anh đạp!

(Phạm Duy – bđd)

Tôn-sùng hay phụng-thờ Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ loài người, cũng là biểu-tượng của sự tôn-trọng và cảm-kích tình mẫu-tử trong đời người. Kể nhiều về tình này, chắc mỗi người và mọi người đều kích-động, mủi lòng, như truyện kể dài ở bên dưới để minh-hoạ cho bài phiếm hôm nay.

Truyện, là truyện như thế này đây:

“Tôi không khó khăn nhận ra mẹ khi bà vừa bước ra khỏi trạm kiểm soát an ninh phi trường. Một tay kéo chiếc valy nhỏ, một vai mang chiếc xách tay, mẹ thong dong như trôi theo dòng người. Dáng mẹ trông mảnh mai, thanh nhã, linh hoạt dù rằng đã ở cái tuổi tám mươi. Tóc đã bạc phơ. Chiếc áo sơ mi màu trắng như giúp khuôn mặt mẹ tươi tắn hơn ngày tôi gặp mười lăm năm trước. Mẹ đưa mắt tìm kiếm. Tôi giơ tay vẫy. Bà mừng rỡ vẫy lại. Tôi cười khi mẹ đến gần:

-Chào mẹ!

Mẹ buông rơi chiếc va ly, mở vòng tay ôm ghì lấy tôi. Tôi cũng ôm xiết mẹ mà sao không cảm nhận chút nồng ấm nào.

 Từ khi chưa đầy một tuổi, ba mẹ tôi đã đành đoạn bỏ rơi tôi. Thôi nôi, ngoại cúng kiến van vái. Lên ba, ông ngoại mất. Lên năm, bà ngoại lìa đời. Cậu mợ tôi thừa hưởng gia sản nên… thừa hưởng luôn việc săn sóc dưỡng dục tôi. Vì vậy mà khi khôn lớn, tôi hầu như quên hẳn mình còn đủ cha đủ mẹ.

 Tôi lái xe vào trung tâm thủ đô, chạy vòng vòng cho mẹ xem phố xá rồi quẹo sang đường Constitution. Tôi chỉ mẹ xem đài tưởng niệm Washington, tòa Bạch ốc và hứa một ngày khác sẽ đưa mẹ vào xem tận bên trong. Mẹ nói mẹ muốn ưu tiên gặp em của mẹ, còn việc tham quan chừng nào cũng được. Tôi cho mẹ biết cậu mợ đang chu du Âu châu, hai tuần nữa mới về. Sợ mẹ hiểu lầm, tôi giãi bày:

-Cậu mợ ghi tên đi chơi trước ngày mẹ báo tin qua đây nên không hủy bỏ được. Con đã xin nghỉ một tháng. Trong tháng đó mình sẽ đi một vòng sơ khởi nước Mỹ. Mẹ sẽ gặp em trai mẹ vào tuần lễ thứ ba…

 Tôi ngưng nói khi thấy mẹ xoay mặt về khung cửa kính. Nhân lúc xe qua cầu, tôi cất cao giọng:

-Đây là sông Potomac . Đi xuôi dòng sẽ trông thấy một phần hình ảnh rất đẹp của thủ đô. Nhà của con phía thượng dòng cách đây độ nửa giờ.

 Mẹ vẫn nhìn quang cảnh thành phố, chỉ có tiếng “thế à” hờ hững vang lên. Tôi nhìn đồng hồ và mừng là đã tới giờ cơm chiều. Tôi nói nhỏ nhẹ:

-Suốt ngày đêm trên máy bay, chắc mẹ thèm cơm. Khu thương mại Eden của người Việt vùng này có một nhà hàng nấu món canh chua cá bông lau, cá kho tộ ngon lắm!

Bà nói giọng mệt mỏi:

-Nói chung thì mẹ thèm một tô phở.

Một cái gì nghẹn ngào đột ngột trào dâng trong tôi. Hai mươi năm tập kết ra Bắc mẹ đã bị đồng hóa. Không chỉ thay đổi cả giọng nói, ngôn từ mà lơ là luôn cả món ăn ưa thích của miền Nam . Tôi ngờ rằng bà không phải là người sinh ra tôi… Tôi đưa mẹ vào tiệm Phở Xe Lửa và gọi tô đặc biệt. Mẹ khen ngon hơn phở ở Sài Gòn. “Nhưng vẫn thua phở Hà Nội”, tôi nhanh nhẩu tiếp lời. Mắt mẹ thoáng chút ngạc nhiên rồi lặng lẽ quan sát xung quanh…

 Tôi cũng quan sát bà. Tôi giống mẹ lạ lùng. Chắc chắn nhìn chúng tôi, không ai nghĩ khác hơn là mẹ và con. Mà giống mẹ để làm gì khi tâm hồn chúng tôi không có chút gì hòa điệu… Tôi nhấn một chiếc nút trên trần khi xe sắp quẹo vào driveway và lái thẳng vào garage. Trong khi tôi mở cóp nhấc xuống các hành lý, mẹ đi ra phía trước đường. Tôi bước đến bên mẹ khi bà ngắm nghía ngôi nhà, trầm trồ:

-Nhà của con đây hả? To và đẹp quá, ngoài tưởng tượng của mẹ. Quang cảnh cũng thật sáng sủa tươi mát.

Tôi cười buồn:

-Chúng con mới mua năm ngoái và chắc cũng sắp bán…

Giọng mẹ thảng thốt:

-Tại sao thế?

Tôi nắm cánh tay mẹ dìu đi:

-Mẹ vào nhà nghỉ ngơi. Từ từ rồi mẹ sẽ biết…

Tôi bấm số liên hợp và mở toang cánh cửa. Mẹ bước vào, đứng sững người trên tấm thảm nhỏ mang chữ welcome. Dường như mẹ không tin những gì mẹ đang thấy. Mẹ ngập ngừng bước đi, mắt dừng lại từng vật trang trí ở phòng khách, phòng gia đình, miệng lẩm bẩm lời tán thưởng. Khi mẹ hướng về khu bếp, tôi biết mẹ sẽ ở đây lâu hơn nên lặng lẽ trở ra ngoài mang hành lý vào nhà.

 Khóa cửa xong, tôi đảo mắt tìm mẹ. Bà đang ở trong phòng đọc sách, đứng lặng yên trước bàn thờ. Mẹ không nhìn các tượng Phật rất đẹp tôi thỉnh tận Thái Lan. Mắt mẹ đang đăm đăm nhìn di ảnh của Huy. Anh mặc áo tiểu lễ hải quân với dây biểu chương, trên một nắp túi là chiếc huy hiệu hạm trưởng và bảng tên Lê Quang Huy. Bên kia là hai hàng huy chương nhiều sắc màu khác biệt. Và Huy đang tươi cười… Mẹ nói bằng giọng ngạc nhiên mà bình thản:

-Sao con không nói gì với mẹ?

Tôi lắc đầu:

-Để làm gì? Mẹ có biết gì về ảnh đâu và chắc cũng không ưa ảnh!

 Mười lăm năm trước, khi về chịu tang ba tôi, tôi đã từ chối trả lời mọi câu hỏi của mẹ. Tôi muốn cho thấy khi bà đã có can đảm bỏ rơi tôi thì tôi cũng có can đảm coi như đời tôi không dính dáng gì tới bà. Mãi gần đây, khi mẹ ngỏ ý muốn qua thăm chúng tôi, Huy khuyên tôi nhận lời, dù gì bà cũng là người sinh thành ra mình. Tôi nghe lời khuyên nhưng chỉ một mình tiếp đón mẹ. Huy chết bất thần vì cơn đột quỵ. Mẹ nhìn khắp bàn thờ rồi quay phắt sang tôi:

-Sao không thấy con thờ ba con?

-“Thờ ba? Tại sao con phải thờ ba?

 Mặc dù đã tự nhủ, tôi vẫn không dằn được cơn bực tức bùng vỡ.

Mẹ quay đi, lặng lẽ thắp nén nhang cắm vào lư hương, nhìn Phật Bà, nhìn Huy rồi thở dài lặng lẽ bước lên thang lầu. Tôi đã từng nghe nhiều tiếng thở dài tương tự của mẹ trong suốt thời gian mười ngày về dự đám táng ba tôi. Tôi đã cho bà thấy tôi không chỉ dửng dưng với người chết mà còn lạnh lùng với cả người còn sống. Liệu có ai cư xử khác tôi khi suốt quãng đời dài gần bốn mươi năm mà chỉ vài lần được nghe nhắc đến mẹ cha mình bằng lối bông đùa.

 Năm tôi lên mười bốn, sau trận Mậu Thân khói lửa khắp Chợ Lớn Sài Gòn, một bữa, lần đầu tôi nghe cậu nhắc tới ba mẹ.

 Trong bộ đồ trận rằn ri mang lon trung tá, cậu ra vẻ trịnh trọng:

-Nè, Phượng! Con có biết là suýt nữa con đã có dịp trùng phùng ba mẹ con không?

Trong khi tôi tò mò lắng nghe, cậu tỉnh bơ tiếp:

– Nhưng vì cậu thấy họ không xứng đáng làm bậc cha mẹ, cậu đã đuổi họ về mật khu rồi!

Tôi thường cười với mỗi cợt đùa của cậu nhưng lần đó tôi mím môi muốn khóc. Năm hai mươi mốt tuổi, khi tôi đưa Huy về nhà giới thiệu nhân buổi tiệc mừng cậu thăng cấp tướng, cậu nói nhỏ vào tai tôi:

-Chà chà! Như vầy là kẹt cậu rồi! Con mà chọn tên hải quân đó làm chồng thì cậu khốn khổ với chị cậu. Tuy nhiên, nếu con… năn nỉ cậu, cậu cũng liều cho con làm… bà thiếu tá.

 Tôi vẫn cười thầm về chuyện này vì bốn tháng sau, sự thể đảo ngược. Chính cậu lại là người phải “năn nỉ” tôi để cả gia đình được lên tàu của Huy rời khỏi Việt Nam.Chúng tôi thành hôn ở Mỹ. Huy trở lại đại học, tôi đi làm ngày đêm. Rồi lần lượt hai đứa con ra đời. Huy ra trường đi làm. Tôi vào đại học. Vất vả mà hạnh phúc. Tôi quá bận rộn để nhớ về quê cha đất tổ, cho tới mười năm sau tôi mới lại nghe tin tức ba mẹ. Lại vẫn do cậu đưa tin. Cậu tôi cho biết đã liên lạc được với chị của mình.

 Không lâu sau đó tôi liên tiếp nhận được thư ba mẹ tôi bày tỏ lòng khao khát mong nhận được thơ tôi và hình ảnh gia đình. Và tiếp đến là những lá thư mong mỏi tôi về Việt Nam . Tôi nhận thư, tôi đọc, lòng ngơ ngẩn, bâng khuâng nhưng không có chút hứng thú trả lời. Thậm chí nhiều năm sau, cái tin ba tôi đau nặng cũng chỉ được đón nhận với lòng dửng dưng. Huy bảo tôi nên về. Cậu mợ gọi điện bảo tôi phải về. Tôi thưa với cậu mợ rằng tôi không có cha mẹ nào khác ngoài cậu mợ nhưng cậu mợ tiếp tục thúc bách và giảng đạo lý. Tôi rủ cậu mợ cùng về. Cậu bảo cậu không muốn giỡn mặt với chính quyền cộng sản.

 Cuối cùng tôi khăn gói một mình lên đường. Thời điểm này chúng tôi còn nghèo nên Huy đành ở lại với hai con. Nhưng đoạn đường quá xa để ba tôi không thể chờ. Ông vĩnh viễn ra đi vài giờ trước lúc tôi bước vào ngôi nhà xưa. Dù vậy tôi vẫn còn kịp nhìn mặt ba tôi. Nhìn chỉ một lần mà vẫn đủ để khuôn mặt già nua, khắc khổ, hoàn toàn xa lạ đó theo tôi về tận xứ Mỹ.

 Thỉnh thoảng nhân một liên tưởng về dòng họ ai còn ai mất, khuôn mặt của ông lại hiện ra cùng với những tiếng thở dài của mẹ. Thế mà tuyệt nhiên, tôi không hề nghĩ đến việc thờ phượng ông…Mẹ nằm trong buồng riêng suốt đêm ngày, mãi đến tối hôm sau mẹ mới tươi tỉnh hẳn. Tôi rủ mẹ đi ăn đồ biển. Mẹ ăn tự nhiên, ngon lành. Nếm đủ tôm cua nghêu sò ốc hến. Luôn cả hào tươi. Lâu lắm mới có dịp ăn ngoài, tôi cũng tận lực nuốt. Trên đường về nhà, mẹ hỏi:

-Cậu bảo con có hai thằng con trai. Chúng nó đâu mà mẹ chưa gặp?

-Tụi nó đều đã lập gia đình. Mỗi đứa ở mỗi tiểu bang khác nhau, khá xa. Đứa lớn ở Georgia, có hai con, đứa nhỏ ở Texas, đang chờ con đầu lòng. Con đã sắp xếp để mẹ đến chơi với chúng nó, mỗi đứa vài ngày, sau khi mẹ gặp cậu mợ.

Mẹ nhìn tôi, dò hỏi:

-Con ở đây một mình sao?

Tôi gật đầu:

-Vì vậy mà con có ý muốn bán nhà này về sống với mấy đứa nhỏ, luân phiên mỗi đứa một thời gian. Tụi nó đang năn nỉ con về ở chung.

Giọng mẹ ngập ngừng:

-Phải thú nhận rằng mẹ vừa trông thấy căn nhà này là mê ngay. Nếu con bán thì bán cho mẹ. Mẹ con ta sẽ ở đây, mãi mãi tới ngày mẹ chết…

 Tôi đăm đăm nhìn mẹ. Tôi đã biết từ lâu là mẹ rất giàu, chỉ ngạc nhiên về ý cuối. Nó đến quá bất ngờ như là một nhánh gai quẹt vào người. Tôi nghe xót đau, khó chịu. Tôi không chuẩn bị việc này, cũng không muốn nó xảy ra. Đầu óc tôi đông cứng. Chợt hình ảnh Huy hiện ra, miệng cười cười. Ba tháng nay, từ ngày anh mất, khi tôi gặp điều gì khó xử là anh lại hiện về. Nụ cười của anh luôn luôn giúp tôi tìm giải pháp. Tôi thấy bao nhiêu phiền phức nếu cho mẹ ở chung.

 Tôi đã quen với cuộc sống không có mẹ. Chỉ mới hai mươi bốn tiếng đồng hồ “có mẹ” mà tôi đã chịu đựng biết bao gượng ép. Mẹ nhìn tôi dò hỏi. Tôi nói:

-Con mới mất anh Huy. Con cần một thời gian yên tĩnh.

-Mẹ cũng cần có thời gian sắp xếp mọi việc ở Việt Nam . Năm tới mẹ trở qua sống hẳn với con. Con đồng ý chứ?

 Tôi không biết nói gì hơn. Tôi như nghe tiếng Huy văng vẳng:

-Đừng làm mẹ buồn!

Tôi cố nhìn vào bóng đêm loang loáng tìm hình bóng Huy nhưng chỉ thấy ánh đèn đỏ vừa bật ở ngã tư…

Sau năm ngày dạo chơi phố xá và ngắm cảnh Nữu Ước, chúng tôi dành hai đêm thử thời vận ở sòng bạc Atlantic City . Thánh nhân đãi kẻ khù khờ, cả hai mẹ con thắng lớn. Chúng tôi về đến nhà, tẩy rửa xong lớp bụi đường thì trời tối hẳn. Tôi thấy mệt mỏi nhưng mẹ tỉnh bơ đề nghị để mẹ nấu ăn ở nhà. Tôi nói sẽ ăn ở nhà nhưng mẹ khỏi nấu. Mẹ không tỏ gì ngạc nhiên khi tôi gọi thức ăn bằng điện thoại. Bà ngồi thoải mái trong bộ ghế êm ái, xem truyền hình đưa tin thế vận hội. Tôi sắp đặt chén đũa, khăn ăn và nước ngọt rồi ngồi xuống cạnh mẹ.

 Chợt mẹ quay sang tôi, giọng ngập ngừng thiếu tự nhiên:

-Mẹ phải nói với con chuyện này. Em trai con muốn nhờ mẹ hỏi con giúp nó một việc.

Em trai tôi? Tôi từ từ hình dung đứa em trai của mình. Tôi đã nhớ ra một hình dáng hiền hòa thường quanh quẩn gần tôi. Cũng như cậu và mẹ, em tôi nhỏ thua tôi năm tuổi. Nhưng nó khác với tất cả chúng tôi là đã không chào đời ở miền Nam .

Tôi nhìn mẹ chờ đợi. Giọng mẹ đều đều:

-Đứa con gái út của nó học rất giỏi. Năm tới lên đại học. Nó muốn nhờ con giúp cháu qua học bên này. Nó không muốn cho cháu ở nội trú. Nó xin cho cháu ở với con. Cơ bản là con không phải tốn kém gì hết. Mẹ sẽ lo đi chợ, nấu ăn cho cả nhà…

 Cơn giận chợt ứ lên ngực làm tôi khó thở. Tôi hít vào một hơi thật sâu. Tôi biết là mở miệng lúc này tôi sẽ nói ra lời cay độc. Tôi nhìn ra ngoài trời đang đổ mưa với những ánh chớp liên hồi. Tôi nhớ tới những cơn mưa đầy sấm sét trong căn nhà thênh thang thuở lên mười. Thuở đó cậu tôi đổi đi đơn vị xa và mợ theo cậu. Người giúp việc thì ngủ gần bếp, xa căn buồng riêng biệt của tôi. Tôi đã vô cùng sợ hãi và từng ước ao có được một đứa em. Bây giờ tôi đâu còn cần. Tôi nói chầm chậm:

-Thì ra mẹ qua đây không phải vì con mà vì tương lai cháu nội của mẹ!

Bà nhìn tôi tỏ vẻ ngạc nhiên:

-Con nói gì lạ vậy. Tất nhiên mẹ qua đây là vì con, bởi vì mẹ muốn bù lại thời gian ba mẹ bỏ bê con. Mẹ không hề vì cháu nội. Nó chỉ ngỏ lời sau khi biết ý định của mẹ.

Mẹ đưa tôi lá thư cầm sẵn:

-Đây là thư nó gửi cho vợ chồng con.

Tôi hững hờ nhận.

Mẹ tiếp:

-Thật ra nó cũng đã hỏi các thủ tục xin ở nội trú. Không có con ở đây, con của nó vẫn qua đây học. Mẹ thấy điều quan trọng là có người ruột thịt cận kề, coi sóc, nhắc nhở.

Tôi cười chua xót, không còn ngăn được lời mai mỉa:

-Ruột thịt? Có là ruột dư với thịt thừa! Và mẹ đã từng cắt bỏ không thương tiếc!

Mẹ nhìn tôi đăm đăm:

-Con vẫn còn giận mẹ đến thế sao? Lần con về, mẹ đã hết lời giải thích…

-Con vẫn nhớ các lời giải thích đó: Ba mẹ đâu có muốn xa con, chẳng qua chỉ vì muốn góp phần giành độc lập, thống nhất đất nước.

-Thì đất nước đã độc lập thống nhất, sao mẹ và cháu nội không ở Việt Nam mà hưởng. Mẹ buông tiếng thở dài. Tôi cũng chợt nhận ra mình vừa buông lời xỉa xói hỗn hào. Tôi trầm giọng:

-Con xin lỗi. Hễ nhớ đến những ngày con bị bỏ rơi là cứ muốn nổi xung thiên…

-Mẹ phải làm gì để được con tha thứ, quên đi chuyện cũ. Con nghĩ lại đi. Ba mẹ đâu có gửi con cho ai xa lạ. Người đó chính là ba mẹ ruột của mẹ. Con lúc nào cũng nhận được trọn vẹn tình thương và chăm sóc…

 Tôi cố giữ giọng bình thường:

-Ba mẹ ruột của mẹ chớ đâu phải ba mẹ ruột của con! Suốt tuổi thơ của con, con bị bạn bè cười nhạo là đứa trẻ mồ côi, là con không cha không mẹ!

 Nước mắt tôi tự dưng ứa ra, rơi dài xuống. Mẹ đứng lên, bước lại ôm choàng lấy tôi. Tôi khóc nức nở trên vai mẹ. Khi muộn phiền đã dịu xuống, tôi nhìn thẳng vào mắt mẹ:

-Mẹ không thấy là mẹ không công bằng sao? Lúc con ở cái tuổi rất cần sự săn sóc của ba mẹ thì ba mẹ bỏ đi biền biệt. Còn bây giờ, khi mẹ muốn ở gần con thì mẹ đã bước vào cái tuổi gần đất xa trời, cái tuổi mẹ cần con chớ con không cần mẹ. Thật lòng mà nói, cho tới giờ phút này, con không một mảy may cảm thấy chút gì thương yêu mẹ, thì nói chi thương yêu cháu.

 Mẹ ôm mặt, thân hình thả rơi lên ghế. Tôi nghe tiếng nấc của mẹ và nghe lòng chùng xuống. Tôi nói nhanh như sợ không còn nói được:

-Nhưng có điều chắc chắn là con cũng không thể chối bỏ mẹ không phải là mẹ của con. “Chừng nào mẹ muốn ở với con, mẹ cứ ở. Chừng nào mẹ muốn đi, mẹ cứ đi.” Điều em con muốn, cháu con muốn, con khó mà nói được lời từ chối!

 Mẹ vẫn ngồi yên, thút thít khóc. Đúng lúc tôi muốn ngồi xuống ôm lấy mẹ thì tiếng chuông reo. Tôi thở hắt ra, bước về phía cửa nhận thức ăn mang tới…Rời San Francisco trên chiếc xe chở khách chúng tôi ôn lại những địa điểm đã viếng thăm qua ba ngày ở vùng vịnh. Mẹ tỏ vẻ hài lòng đã được chính mắt chiêm ngưỡng chiếc cầu nổi danh Golden Gate . Mẹ cũng yêu thích cái công viên cùng tên với khung cảnh nên thơ thanh bình mà mẹ gọi là hồ Tịnh Tâm.

 Hai ngày ở San Jose, ấn tượng nhất đối với mẹ là những hình ảnh sinh động, huy hoàng và lạ mắt của vô số loài sống dưới nước hiển hiện ngay trước mắt trong Monterey Bay Aquarium. Khi chúng tôi về tới quận Cam . Cậu và các con cháu đón chúng tôi ở bến xe, chỉ thiếu có mợ.

 Khi tôi thông báo mẹ sẽ sang thăm gia đình cậu, cậu nói sẵn sàng gặp mẹ nhưng từ chối cho chúng tôi tạm trú. Nhà cậu mợ rất rộng, nhiều buồng ngủ. Vợ chồng con cái tôi mỗi khi qua Cali là ở nhà cậu mợ hà rầm. Cậu mợ hẳn phải đau lòng khi lần này để tôi ở khách sạn chỉ vì… có mẹ!. Mợ không muốn chứa mẹ trong nhà. Hai đứa em trai của mợ đều bị tập trung, một bỏ xác trong rừng Yên Bái.

 Mỗi ngày trong suốt một tuần, cậu lái xe đến khách sạn đón chúng tôi đi viếng thăm hết nơi này đến nơi khác. Ngày đầu, cậu dành cho khu Little Saigon . Mẹ thú nhận là rất ngạc nhiên về mức phát triển quy mô và sự phồn vinh sang giàu của người Việt tỵ nạn. Những ngày kế dành cho danh lam thắng cảnh. Có ngày chúng tôi bay khỏi thành phố đỏ đen Las Vegas về phía Bắc để chiêm ngưỡng Grand Canyon vô cùng kỳ vĩ ngoạn mục. Cậu thường dùng khoảng thời gian di chuyển để hỏi mẹ về gia đình và dòng họ ở quê nhà. Cậu cũng kể về cuộc đời của cậu trong suốt nửa thế kỷ không gặp chị. Tôi vô cùng thú vị được nghe hai chị em nhắc lại những kỷ niệm thời họ sống bên nhau…

 Đêm chót trước khi rời Quận Cam trở lại Maryland chúng tôi được cậu mời một bữa tiệc cá 7 món, đặc sản Cali . Khi chúng tôi đến nhà hàng, tôi thật sự ngạc nhiên và vui mừng khi thấy có cả mợ hiện diện. Mợ đứng lên vui vẻ chào hỏi và mời mẹ ngồi bên cạnh. Mợ vốn hoạt bát, nên mẹ lúc nào cũng cười tươi. Tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Lúc chờ tính tiền cậu hỏi mẹ bao giờ về Việt Nam . Mẹ bảo còn lâu, khoảng sáu tháng nữa. Và năm tới có thể là qua ở luôn. Cậu gật gù nhìn mẹ rồi nhìn tôi.

 Tôi tưởng cậu tán thành quyết định của mẹ nhưng cậu chậm rãi nói:

-Phải nói là rất ngạc nhiên khi nghe chị tính qua Mỹ ở luôn. Chị biết không, khi xưa nhiều người chủ-trương đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào! Mấy chục năm qua, Ngụy đã nhào Mỹ đã cút thế mà giờ đây có người từng đánh đuổi Mỹ lại cứ muốn … “cút” theo Mỹ!

 Tôi bật cười nhưng kịp hãm khi thấy mặt mẹ sa sầm… Về Maryland, theo dự trù chúng tôi nghỉ ngơi ba ngày trước khi bay xuống Georgia và Texas . Nhưng chỉ mới qua đêm, buổi sáng mẹ buồn rầu đổi ý. Mẹ muốn về ngay Việt Nam . Tôi ngỡ ngàng. Nhưng tôi chợt hiểu ra. Câu trêu chọc của cậu đã chạm tự ái mẹ.”

Truyện kể thì như thế. Chẳng có ý tuyên-truyền chính-trị quốc/Cộng, cũng chẳng muốn phổ biến thói quen tôn sùng Đức Mẹ đến độ thờ lạy. Có nhớ, có lần bần đạo chợt nhận ra ca-từ ở bài hát mình vẫn cùng hát với cộng-đoàn tình-thương đến 60 năm trong đó có câu:

 “NĂM XƯA TRÊN CÂY SỒI

LÀNG FATIMA XA XÔI,

CÓ ĐỨC MẸ CHÚA TRỜI

HIỆN RA UY LINH SÁNG CHÓI.

MẸ NHẮN NHỦ NGƯỜI ĐỜI

HÃY MAU ĂN NĂN ĐỀN BỒI,

HÃY TÔN SÙNG MẪU TÂM ,

HÃY NĂNG LẦN HỘT MÂN CÔI.

MẸ MARIA ƠI! CON VÂNG NGHE MẸ RỒI,

SỚM CHIỀU TỪ NAY THỐNG HỐI.

MẸ MARIA ƠI! XIN MẸ ĐOÁI THƯƠNG NHẬM LỜI

CHO NƯỚC VIỆT XINH TƯƠI,

ĐỨC TIN SÁNG NGỜI.

Thôi, chết thật rồi, các cụ ạ! Xin gì không xin lại đi xin cho đất nước Việt Nam , ôi thôi! “đức tin sáng ngời” là thứ, là điều chỉ có Chúa mới cho thôi. Còn Đức Maria, dù là Mẹ Việt Nam hay Mẹ quốc tế, chỉ là Đấng hộ-phù, cầu bàu cùng Đức Chúa, mà thôi.

Nghĩ thế rồi, nay mời bạn mời tôi, ta cứ thế hiên ngang ngẩng đầu về phía trước, không phải để xin xỏ điều gì với Mẹ hiền rất Maria, mà để hát với lũ trẻ bài đồng ca mà rằng:

“Mai mốt em thành người trong xã hội.

Chức lớn sang giầu, nổi danh khắp nơi.

Em có đi chơi bằng xe hơi mới.

Xin chớ cán xe đạp của anh, bé ơi!

Xin chớ cán xe đạp của anh, bé ơi!

(Phạm Duy – bdd)

 Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn muốn hát thật nhiều

Cho vui cuộc đời mình và đời người

Chứ không để xin xỏ, điều gì

Với một ai.

Từng ngọn nến ta thắp lên ngàn ánh sáng,

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Hai Phục Sinh năm C 03/4/2016

 Tin Mừng (Ga 20: 19-31)

Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!” Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”

Một người Dtrong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Điđymô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” Ông Tôma đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em.” Rồi Người bảo ông Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Ông Tôma thưa Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Đức Giê-su bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!

Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người

“Từng ngọn nến ta thắp lên ngàn ánh sáng”,

Nguyện cầu xin cho thế gian mãi vui”

(Dân từ thơ Quốc Vượng)

 Thắp sáng ngọn nến, để thế-gian mãi vui, còn là thắp sáng cả niềm tin-tưởng của dân gian trần thế, chốn người phàm. Thắp sáng ngọn nến tinh-thần đầy tình thương còn là ý-tưởng được diễn tả ở trình thuật, rất hôm nay.

Trình thuật hôm nay, ghi lại giòng kể rất thông thoáng những điều dính dấp đến niềm tin của TôMa. Là môn đệ một lòng yêu Chúa, nhưng thánh nhân vẫn tỏ ra hơi cứng tin. Vẫn tuyên bố một lập trường, nghe khá quen. Lập trường: chỉ tin khi được phép sờ vào vết thương đau Thầy Chí Thánh, nay sống lại.

Tôma là hình ảnh của rất nhiều con dân nhà Đạo, ở khắp nơi. Những người có thói quen phản ứng theo cung cách của chốn đời thường. Chí ít, là nơi các kẻ tin cậy và thương mến Đức Kitô, những thành viên dấn bước theo chân Chúa, xưa cũng như nay. Có thể gọi họ là những người có niềm yêu không thay đổi. Nhưng, niềm tin như thế cũng chẳng nên “viết trrên giấy có kẻ giòng”, ngày Chúa sống lại.

Trình thuật tuần Chúa sống lại, là Tin Mừng mới mẻ về một niềm yêu, và cả về niềm tin. Mới mẻ là bởi, trên hết mọi sự, niềm tin phải là tin vào Đức Kitô sống lại. Và, niềm yêu cũng cũng vẫn là lòng thương mến Đấng Nhân Hiền đã dạy đàn con thân yêu phải như thế. Ngài yêu thương loài người rất bền bỉ, cả lúc chết lẫn khi sống lại. Khi sống lại, Ngài hoàn tất sứ vụ Thiên Sai, Cha đã trao.

Tin Mừng Chúa đã sống lại nay hiện diện với Tôma thánh nhân, cũng mang dáng dấp của một thuật truyện khá thần bí. Thần bí với Tôma là đại diện cho nhiều dân con nhà Đạo. Khá thần bí, vì dân con nhà Đạo không hiểu rằng sứ vụ Thiên Sai chỉ kết thúc bằng và qua sự Sống lại của Đúc Chúa; để nhờ đó, Ngài mới về với Thiên tính, hòa hợp cùng Chúa Cha.

Trình thuật hôm nay còn nhắm gửi đến cộng đoàn Êphêsô, là hội thánh đang hoang mang và hãi sợ. Hoang mang, vì cộng đoàn dân Chúa đã kinh qua nhiều thử thách. Hãi sợ, vì Người Do thái vẫn dè chừng, dòm ngó, chẳng để yên. Hoang mang và rất sợ, còn vì người ngoài cuộc chẳng tin là Thầy mình đã sống lại.

Bàn về niềm tin và niềm yêu của người dân đi Đạo, trình thuật hôm nay cũng nhấn mạnh đến sự hiện diện và quyền năng của Đức Kitô Phục Sinh. Đức Chúa Phục Sinh nay ở giữa chúng ta, những kẻ cứng tin như thánh Tôma. Và từ lúc đó, việc tin Chúa Phục sinh đã phổ biến rất nhanh, như lời kể trong sách Công Vụ: “Càng ngày có nhiều người tin theo Chúa, cả đàn ông đàn bà rất đông” (CV 5: 12b)

Về niềm tin của cộng đoàn dân Chúa tuy có hãi sợ, lúc ban đầu: “Nơi các môn đồ ở, các cửa đều đóng kín.” (Ga 20: 19). Nhưng với lời chúc phúc của Thầy Chí thánh đã sống, niềm hãi sợ giờ này đã tan đi:  “Bình an cho anh em” (Ga 20: 27).

Với chúc phúc của Đức Chúa, thánh Tôma và dân con nhà Đạo từ nay đã trở về với cung lòng yêu thương của Đức Chúa. Về với niềm tin đích thực, không đổi thay. Được Chúa Nhân Hiền chúc phúc, loài người từ nay được Chúa ờ cùng. Ở với đàn con nay đã có niềm tin và niềm yêu, không đổi thay. Với niềm tin –yêu không còn thay đổi, thánh tông đồ nay đã mở mắt để nhận ra Thầy mình đích thực là Đức Chúa, Đấng Thiên Sai do Cha gửi đến: “Lạy Chúa  con! Lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20: 29). Thành thử, lòng cứng tin của thánh Tô ma tông đồ cũng là cơ hội để Chúa Cha chúc phúc cho mọi người. Đứng đầu là thánh nhân.

Qua tuyên xưng của thánh nhân tông đồ, con dân nhà Đạo nay không còn cứng tin nữa. Nhưng, nhận ra Thiên tính của Thầy Chí Thánh, Đấng Nhân Hiền. Và, đây còn là thông điệp đậm nét mà thánh sử Gio-an, người môn đệ “được Chúa thương yêu”, muốn bày tỏ. Thuật lại niềm tin yêu và hãi sợ của Tô-Ma tông đồ, thánh Gio-an cũng minh chứng: đây không đơn thuần chỉ là cuộc xum họp gia đình môn đệ của Đức Chúa, mà thôi.

Nhưng, đây còn là thông điệp mang xác chứng của một lệnh truyền: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.” (Ga 20: 21). Là Đức Chúa sống lại, nay Thầy sai anh em ra đi để rao truyền niềm yêu và niềm tin “không còn thay đổi” đến với mọi người. Với lệnh truyền của Đức Chúa Phục sinh được chứng xác, đồ đệ kẻ tin nay được đảm bảo có Thánh Thần Chúa ở cùng. Rồi từ đó, các vị được quyền thứ tha lỗi lầm của anh em cùng niềm yêu và tin, nhưng chưa tha thứ.

Quyền uy tha thứ mọi lỗi phạm của anh em, không chỉ là quyền hòa giải giữa các người anh em với nhau, nhưng còn là một giảng hòa sâu đậm giữa con người với Đức Chúa, nữa. Với lệnh truyền hòa giải, nay  dân con nhà Đạo sẽ trở nên một. Một người con có Cha Chung là Đức Chúa, đã sống lại. Một cộng đoàn gồm những người có niềm yêu và niềm tin. Những người con yêu được ở trong Chúa. Và với Chúa.

Xem như thế, xác định về niềm yêu và tin của mọi dân con Đức Chúa, từ nay được “viết trên giấy có kẻ giòng”, “không đổi thay”. Từ nay, mọi con dân nhà Đạo sẽ không còn cứng tin như Tôma tông đồ, vào dạo trước. Và từ nay, các Tô-ma đương đại sẽ không còn hoang mang, hãi sợ. Vì được Đấng Nhân Hiền Chí Thánh chúc phúc: “Bình an cho anh em!” .

Các Tôma thời đương đại, chung cuộc rồi ra cũng nhận biết được dung mạo của Thầy Nhân Hiền đã sống lại, nơi người anh, người chị của mình tại các xóm nghèo thành thị. Và, những người em còn ở chốn nhân gian đầy kinh sợ. Sợ nghèo, sợ đói. Sợ cả dân gian chưa có được niềm tin. Sợ đến độ chẳng còn biết “tin” vào ai. Nói gì đến niềm yêu “không đổi thay”.

Và nếu con dân nhà Đạo vẫn còn những đồ đệ chưa xác tín, vẫn hãi sợ mông lung, thì này đây thêm một khẳng định, nơi trình thuật: “Những điều được chép ở đây, là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa.

Và, để nhờ tin mà được sống nhờ danh Nguời.” Nói cho cùng, mấu chốt cơ bản của Đạo Chúa không là gì khác ngoài những TIN và YÊU. Một niềm yêu và niềm tin không đổi thay. Và các niềm ấy, không chỉ “viết trên giấy có kẻ giòng”, thôi. Mà, còn được ghi tạc nơi phần sâu thẳm của tâm can mỗi người. Nơi mọi người.

Tham dự tiệc thánh hôm nay, ta cầu mong sao niềm tin của ta vẫn mãi trong sáng. Không hãi sợ. Không sợ cả người ngoài hay kẻ xấu.

Cầu và mong sao, khi được Chúa chúc bình an và sai đi loan truyền niềm yêu không đổi thay, ta sẽ vững tin hơn, mà lên đường. Vững tin, để rồi với lời chúc phúc bình an của Đức Chúa, ta sẽ nhận ra Ngài nơi mọi người, người trong Đạo cũng như ở ngoài.

 Lm Richard Leonard, sj biên soạn

Mai Tá lược dịch.

BA CÁCH ĐÓN NHẬN CÁI CHẾT KHÁC NHAU

BA CÁCH ĐÓN NHẬN CÁI CHẾT KHÁC NHAU

Chúa Giêsu đã từng nói: “Được cả thế gian, mà phải thiệt mất mạng sống, nào có ích gì”.  Thực vậy, có những người khi sống đã được cả thế gian, nhưng cuối đời họ đã đánh mất tất cả.  Mất cả danh dự.  Mất cả bổng lộc.  Mất cả người thân và cuối cùng là mất cả mạng sống.

Cuối năm 2006, toàn thể thế giới đều nghe nói về ba cái chết của ba nguyên thủ ba quốc gia.  Ba người ba cá tính, ba cung cách lãnh đạo khác nhau.  Trước cái chết của họ, có kẻ khóc, có người vui. Có kẻ ngậm ngùi thương tiếc, có kẻ khai rượu ăn mừng.  Điểm chung của họ là được cả thế gian nhưng rồi họ cũng ra đi tay trắng như bao người khác.

Người thứ nhất đó là tổng thống Chilê, Ausgusto Pinochê đã qua đời ngày 10/12/2006.  Ông đã cai trị nước Chi Lê từ năm 1973 đến 1990.  Các tổ chức nhân quyền của Chi Lê đã ước lượng dưới quyền thống trị của ông, có ít nhất 2,100 người bị xử tử vì lý do chính trị, hơn 1,100 tù nhân bị mất tích và khoảng 10,000 tù nhân bị tra tấn trong những trại tù bí mật ở trong nước.  Ông đã bị toà án quốc tế truy tố năm 1998 về tội diệt chủng.  Ngày an táng của ông, Đức Hồng Y Karmelic đã cầu xin Thiên Chúa “quên đi những lầm lỗi của Augusto Pinochê”.

Người thứ hai đó là tổng thống Geral Ford, tổng thống thứ 38 của Hoa Kỳ.  Ông đã an nghỉ vĩnh viễn vào ngày 26/12/2006.  Cuộc đời ông không có gì vẻ vang, không có chiến tích đánh đông dẹp tây, nhưng ông được nhìn nhận là người ôn hoà.  Ông đã có một hành động thật phi thường là tha thứ cho cựu tổng tống Nixon khỏi bị truy tố.  Ông đã nói rằng: Ông tha thứ cho Nixon vì quốc gia Hoa Kỳ chứ không phải vì bản thân Nixon.

Cuối cùng là cái chết của nhà độc tài Sadam Hussen, cựu tổng thống Iraq.  Ông đã bị kết án treo cổ tử hình vì tội giết người vô tội.  Ông là một người đã được trời ban cho mọi vinh hoa phú qúy trần gian, nhưng khi chết chỉ có một dây thòng lòng quốn quanh cổ.  Dù rằng, ông không chấp nhận bản án, không chấp nhận cái chết nhục nhã này, nhưng định mệnh đã lấy đi mạng sống của ông khỏi trần gian.

****************************************

Ba nhân vật này đã đi vào cái chết khác nhau.  Có người bình thản ra đi.  Có người ra đi nhưng vẫn ôm trong lòng những ray rức lương tâm.  Có người ra đi trong bất mãn tột cùng.  Và như vậy, cuộc đời chỉ có giá trị khi mình biết sống để phục vụ sự sống.  Cuộc đời sẽ bị người đời khinh chê nếu chỉ biết gieo vãi sự chết chóc và kinh hoàng.  Sự ra đi trong thanh thản bình an hay lo âu sợ hãi cũng tùy thuộc vào cuộc sống của chúng ta: nhân đức hay tội lỗi, công bình hay giả dối, hiền lành hay gian ác.

Cách đây hơn hai ngàn năm, trên đồi Golgôtha, có ba tử tội đã bị kết án tử hình trên thập tự giá.  Ba tử tội, tuy sinh không cùng năm nhưng lại chết cùng ngày, cùng tháng.  Ba tử tội đã đi vào cái chết thật khác nhau.

Người thứ nhất bên tả đã oán hận phận số của mình.  Cuộc đời của anh chỉ biết giết người và cướp của.  Cuộc đời anh chỉ lo gom góp cho bản thân, chỉ nhằm phục vụ bản thân, cuối cùng anh đã ra đi tay trắng trong uất hận đau thương.

Người thứ hai bên hữu đã đón nhận cái chết trong khiêm tốn, ăn năn. Anh đã hoang phí cuộc đời để chạy theo ảo ảnh trần gian. Thế nhưng, anh đã kịp ăn năn về cả một quá khứ lầm lạc.  Anh đã chấp nhận cái chết khổ hình như một hình phạt xứng với tội lỗi của mình.  Anh ra đi trong an bình của người biết sám hối ăn năn.

Ở chính giữa là thập giá Chúa Giêsu.  Chúa đi vào cái chết như của lễ đền tội cho nhân sinh. Chúa chấp nhận cái chết vì loài người và để cứu rỗi loài người.  Chúa đã chịu khổ hình không do lầm lỗi của mình mà vì vâng phục thánh ý Chúa Cha.  Chúa đã chết vì tình yêu đối với nhân loại, đến nỗi đã trở thành khuôn mẫu cho mọi tình yêu.  Vì “không có tình yêu nào cao qúy hơn tình yêu dám chết thay cho bạn hữu”.

****************************************

Hôm nay thứ sáu tuần thánh, Giáo hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm tình yêu tự hiến của Chúa Giêsu.  Khi mang thân phận của một con người như chúng ta, Chúa Giêsu đã sống một đời để phục vụ con người, và Ngài cũng đón nhận cái chết vì con người.  Thế nên, tình yêu của Ngài đã thành bất tử trên trần gian.  Thập giá không còn là nỗi ô nhục mà là một cuộc khải hoàn vinh quang.

Đó chính là sứ điệp ngày thứ sáu tuần thánh mà Chúa đang mời gọi chúng ta, muốn trở nên môn đệ của Chúa hãy vác khổ giá mà buớc theo Chúa.  Hãy sống một đời biết cho đi.  Hãy biết dùng khả năng của mình mà phục vụ sự sống cho đồng loại.  Và hãy biết hiến thân mình để đem lại hạnh phúc cho tha nhân, vì chưng: “được lời lãi cả thế gian, chết mất linh hồn nào ích gì?”  Amen!

Trích từ Veritas

ĐƯỜNG EM-MAU, ĐƯỜNG THƯƠNG XÓT (ĐẠI LỄ PHỤC SINH NĂM THÁNH 2016)

  ĐƯỜNG EM-MAU, ĐƯỜNG THƯƠNG XÓT (ĐẠI LỄ PHỤC SINH NĂM THÁNH 2016)

Cv 10,34a.37-43; 1Cr 5,6b-8; Lc 24,13-35

Tác giả:  TGM. Jos Ngô Quang Kiệt

Lời Chúa hôm nay nói về những con người mới. Thánh Phê-rô và thánh Phao-lô trở nên người mới sau khi gặp Chúa Phục Sinh. Tin mừng trình bày chi tiết hai môn đệ buồn phiền chán nản đến tuyệt vọng: Bỏ Giê-ru-sa-lem; Bỏ lý tưởng; Bỏ cộng đoàn; Bỏ Chúa. Họ đi vào đêm đen, tâm hồn chìm trong bóng tối, không lối thoát. Họ đang chết. Nhưng, Chúa đã đến. Chúa làm ấm lên cõi lòng băng giá; Chúa làm sáng lên đêm đen; Chúa làm sống lại hi vọng. Họ trở lại: với Chúa, với anh em, với lý tưởng và với sự sống.

Chúa Giê-su đã phục sinh các tâm hồn nhờ những phương thuốc thần diệu sau:

1.Chúa phục sinh. Họ chết vì nghĩ rằng Chúa đã chết. Họ sống lại ngay khi biết Chúa sống lại. Nhưng để phục sinh Chúa đã phải trải qua khổ nạn, trải qua cái chết, trải qua nhục nhã, trải qua thất bại.

 2.Chúa đi tìm. Con người cô đơn và buồn phiền. Đi trên con đường tăm tối bất định. Họ không thể tìm Chúa nên Chúa đi tìm họ. Chúa đến gặp họ, ngay trên đường họ đi, ngay trong nỗi buồn của họ.

3.Lúc trời đã tối. Buổi tối là lúc nghỉ ngơi. Chẳng ai làm việc buổi tối, nhất là phải ra đường thì rất nguy hiểm. Nhưng Chúa đã lên đường lúc trời tối vì  Chúa thương những tâm hồn tăm tối hơn bóng tối.

4.Chúa chia sẻ. Chúa đến chia sẻ những ưu tư lo lắng của họ. “Các anh có chuyện gì mà buồn thế”? Chúa để họ chia sẻ nỗi niềm. Họ được dịp giãi bầy. Chúa lắng nghe. Chúa giải nghĩa Thánh Kinh suốt chặng đường dài mấy giờ đồng hồ.

 5.Chúa trở nên người bạn. Từ người xa lạ Chúa đã trở thành thân thiết. Đến nỗi họ không muốn rời xa Chúa nữa, vì Chúa hiểu họ và giúp họ.

Đó chính là Lòng Thương Xót của Chúa. Lòng Thương Xót nhìn thấu nỗi cô đơn tuyệt vọng; Quan tâm đi tìm những tâm hồn lạc lõng bơ vơ; Chiếu sáng và sưởi ấm giữa đêm đen lạnh lẽo; Cảm thông chia sẻ với những tâm hồn cô đơn; Chữa lành những tâm hồn bị thương tích; Phục sinh những tâm hồn đang chết dần mòn.

Thế giới hôm nay tràn đầy những con người như thế: buồn sầu, tuyệt vọng nhưng chẳng có ai cứu giúp. Vì con người ngày nay quá bận rộn, chỉ chú ý đến bản thân, không có thời giờ cho người khác. Mỗi con người đang trở thành một con đường cô đơn đi về sự chết, cần có Chúa, cần có Lòng Thương Xót để đường Em-mau trở thành đường yêu thương gặp gỡ, đường sự sống. Ta hãy thực hành những gì Chúa đã làm. Đó là:

Hãy đi tìm. Biết bao anh em đang cô đơn lạc lõng giữa ngã ba đường, đang khao khát được gặp gỡ, được chia sẻ.

Hãy khẩn cấp lên đường. Dù giữa đêm khuya. Biết bao người sắp chết đang chờ đợi ta.

Hãy trò chuyện. Hãy lắng nghe. Biết bao nỗi lòng cần được giãi bầy, cần được cảm thông.

Hãy làm bạn. Một người bạn sẵn sàng chia vui sẻ buồn, sẵn sàng hiện diện. Có mặt dù chỉ để cảm thông, chỉ để ăn một bữa cơm, chỉ để nói một câu chuyện, hoặc giản đơn chỉ để ở bên nhau dù không làm được gì.

Nhưng trước hết và trên hết ta hãy phục sinh chính mình. Thánh Phao-lô mời gọi ta hãy chết cho con người cũ để “sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa” được tỏ hiện. “Đừng lấy men cũ là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ”.

Hãy đón nhận Lòng Thương Xót của Chúa Phục Sinh. Hãy đem Lòng Thương Xót gieo rắc khắp nơi để bất cứ con đường nào ta đi cũng trở thành Đường Em-mau, Đường của Lòng Thương Xót; để bất cứ ai gặp ta cũng gặp được Lòng Thương Xót, gặp được lòng tốt, gặp được sự cảm thông chia sẻ, gặp được một người bạn.

Lạy Chúa, hằng ngày Chúa đi bên cạnh con mà con không nhận biết Chúa. Xin cho con nhận ra Chúa trong những người anh em sống chung với con, đi bên cạnh con, cùng làm việc với con. Amen.

+ TGM.Giuse Ngô Quang Kiệt

Đan viện Châu Sơn – 2016

Đã quên sao ?

Đã quên sao ?

Tết qua đã hơn nửa tháng rồi mà những người Úc gốc Việt đi Việt Nam ăn tết vẫn chưa trở về. Chợ búa lưa thưa ế ẩm buồn hiu như chợ chiều 30. Tiếng rao hàng dẽo nhẹo có kèm theo câu pha trò của mấy anh bạn hàng bán trái cây thường khi vẫn vang inh ỏi gọi mời bây giờ im thin thít khiến người ta có cảm tưởng đây là một khu shop hết thời sắp closing down dẹp tiệm.

Đứng chờ mua bánh mì, tôi nghe hai bà Việt Nam nói chuyện với nhau rôm rả. Bà này hỏi bà nọ:

– Lâu quá không thấy bà đi chợ, bộ đi Việt Nam hả?

Bà nọ cười toe toét trả lời:

– Ờ, tui về VN trước tết cả tháng lận. Đáng lẽ chưa trở qua đâu nhưng mới đây con nó kêu về nói bộ An sinh xã hội gởi giấy “hỏi thăm sức khỏe”. Tui về ló cái mặt ra cho nó thấy rồi vài bữa trở qua bển nữa. Ở đây buồn quá, về bển chơi cho vui cái tuổi già. Việt Nam bây giờ tiến bộ lắm, nhà cửa đầy đủ tiện nghi, xe cộ có máy lạnh, khách sạn 5 sao, sang còn hơn ở ngọai quốc, cái gì bên Úc có là ở bển cũng có. Ăn uống cũng vậy, nhà hàng lềnh khênh, đồ tây, đồ tàu, Mỹ, Úc, Hàn, Nhật, Thái, Ấn vv… không thiếu nước nào. Đặc biệt đồ biển tươi chong, tôm cá nhảy soi sói chớ không phải đông đá như bên này.

Nghe bà ta nói mà tôi cảm thấy bất mãn lẫn chua xót dùm cho chính phủ Úc ân nhân, đã làm ơn còn mắc oán. Tôi không hiểu sao bà lại có thể hiu hiu tự đắc nói như vậy mà không chút áy náy ngượng miệng.

Chẳng lẽ bà đã quên là bà từ đâu chạy tới đây rồi hay sao? Chẳng lẽ bà không còn nhớ tại vì sao, nguyên do nào bà có mặt ở nước Úc này?
Chẳng lẽ bà đã quên hết những kinh nghiệm xương máu dưới chế độ cộng sản phi nhân, những thống khổ đọa đày, những áp bức kềm kẹp, bóc lột tận cùng xương tủy của bọn độc tài đảng trị khiến bà không chịu đựng nổi nên phải liều mình vượt thoát ra đi bất kể sống chết thế nào.

Chẳng lẽ bà không còn nhớ gì đến chuyến vượt biển kinh hoàng, những ngày đêm đói khát lênh đênh trên biển cả bao la mịt mùng vô tận, giữa bao hiểm nguy rình rập bủa vây, nào là sóng gió bão bùng, nào là hải tặc cướp bóc hết lần này đến lần nọ tưởng chừng như không còn mạng tới bờ.

Nhưng may mắn thay cho bà, cuối cùng bà đã cặp bến tự do. Nước Úc đã nhân đạo mở rộng vòng tay đón tiếp bà, đã cưu mang bà, cho bà hưởng mọi quyền lợi như người dân bản xứ, cho con cái bà có cơ hội phát triển, vươn lên và thành đạt như tất cả những con dân được sinh ra và lớn lên trong một thế giới tự do, một xã hội có luật pháp, có nhân quyền.

Và giờ đây khi bà tới tuổi hưu trí, chính phủ Úc lại còn tử tế phụng dưỡng bà trọn đạo như bà là mẹ già của họ bất kể bà có đóng góp gì cho nước Úc này hay không trong đời tị nạn của bà.

Quê hương ai chẳng nhớ chẳng muốn về, nhưng nếu về thăm thân nhân, bằng hữu, cảnh cũ làng xưa vì tình quê nung nấu trong lòng thì còn có thể hiểu được, thì còn rán dày mặt bấm bụng mà về một vài lần cho thỏa lòng thương nhớ đất tổ quê cha. Nhưng đàng này bà cứ đi đi về về như đi chợ, ở Việt Nam nhiều hơn ở Úc chỉ vì muốn du hí muốn hưởng thụ, vô hình chung bà đã tiếp tay làm đầy thêm túi tiền cho bọn chóp bu cộng sản vốn không thể đội trời chung với bà. Mỉa mai thay! một nơi mà ngày xưa bà cho là địa ngục trần gian không thể sống, bất cứ giá nào cũng phải cao bay xa chạy thì giờ đây bà lại hớn hở quay đầu về ca tụng, coi đó là thiên đường. Dĩ nhiên là thiên đường vì bà đang có đồng đô Úc trong tay. Nếu như chính phủ Úc cúp trợ cấp cho bà thì bà sẽ ra sao? Ở xứ này, bệnh họan vô nhà thương không tốn một đồng xu từ A tới Z. Còn thiên đường cộng sản từ A tới Z đều phải nộp thủ tục đầu tiên. Tội cho dân nghèo, tiền đâu mà làm thủ tục đầu tiên để được chữa bệnh!

Nếu bà cho là Việt Nam ngày nay đáng cho bà sinh sống thì bà hãy ở hẳn bên đó đi và đừng lợi dụng quốc tịch Úc, dùng đồng tiền cấp dưỡng của chính phủ Úc để thủ lợi mua vui cho bà. Như vậy mới không hổ mặt bà và công bằng cho nước Úc.

Bà chỉ thấy cái vỏ hào nhoáng mị dân bề ngoài chớ có biết đâu thực chất bên trong trống rỗng. Cả một bè lủ gọi là chính quyền, lãnh đạo chỉ giỏi đàn áp, tham nhũng vơ vét làm của riêng, mạnh ai nấy đầu tư ở nước ngoài thủ thân dọn đường chạy. Dân đói mặc dân. Chẳng ai có lòng thương nước thương dân, đặt lợi ích của toàn dân trên hết để cải thiện công bằng trật tự xã hội, ổn định đời sống cho dân nhờ. Dân giàu thì nước mới mạnh. Đàng này, cái nghèo đói đã khiến con người chỉ nghĩ đến làm sao kiếm miếng ăn, từ chỗ đó sinh ra lươn lẹo mánh mung, trộm cướp, giựt giọc, giết người một cách ác độc vô cảm vô nhân tính. Xã hội càng ngày càng loạn, luân thường đạo lý càng xuống dốc thì đất nước càng sớm đi đến chỗ diệt vong nhứt là từ vua tới dân, mạnh ai có tiền cũng chỉ biết ăn chơi hưởng thụ mà không biết xây dựng, củng cố hay bảo vệ giữ gìn thì sớm muộn gì cũng vào tay ngọai bang thôi.

Người trong nước đã thấy vận mạt của Việt Nam cho nên ai có khả năng cũng tìm đủ mọi cách để ra khỏi nước thì tại sao bà lại lội ngược dòng. Cái vị thế của bà, một công dân Úc ai thấy cũng ao ước thèm thuồng nhưng sao bà không biết quý, có phải là nghịch lý lắm hay không?

Mỗi người có quyền tự do riêng, muốn làm gì thì làm nhưng cũng nên lựa chọn, lựa chọn đạo lý làm người hay lựa chọn vong ân bội nghĩa, vô ý thức!

Người Phương Nam

Cần thay đổi cách nhìn về hiệu quả thủy điện sông Mekong

Cần thay đổi cách nhìn về hiệu quả thủy điện sông Mekong

Việt Hà, phóng viên RFA
2016-03-25

Một nông dân Việt Nam bên cánh đồng lúa xanh mướt vùng ĐBSCL hôm 11/12/2014

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và các nước thuộc hạ nguồn sông Mekong đang làm dấy lên những câu hỏi đến vấn đề thay đổi khí hậu và tác động của các đập thủy điện trên dòng sông Mekong. Bên cạnh đó là những lo ngại về hiệu quả làm việc của Ủy hội sông Mekong bao gồm các nước Việt Nam, Lào Campuchia và Thái Lan trong đó Myanmar và Trung Quốc chỉ đóng vai trò đối tác. Việt Hà phỏng vấn chuyên gia Richard Cronin, Giám đốc chương trình Đông Nam Á thuộc trung tâm Stimson ở Washington DC, Hoa Kỳ, về những vấn đề này.

Việt Hà: Thưa ông có nhiều yếu tố gây hạn hán và xâm nhập mặn ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long hiện nay. Có ý kiến cho rằng nguyên nhân chính là do việc xây đập của các nước ở thượng nguồn nhưng cũng có ý kiến cho rằng thay đổi khí hậu là nguyên nhân chính. Theo ông yếu tố xây đập thủy điện đóng góp thế nào vào tình hình hiện nay?

Richard Cronin: Đã có những sự kiện từ trước kia mà Trung Quốc bị cáo buộc là nguồn gốc vấn đề. Ủy hội sông Mekong (MRC) đã có một câu trả lời rất mập mờ về nguyên nhân của hạn hán vào năm 2010. Vấn đề là lúc đó mọi người phàn nàn về Trung Quốc và cuối cùng Trung Quốc đồng ý xả nước từ đập ra nhưng nó cho thấy một vấn đề quan trọng khác đó là lập luận của Trung Quốc với các nước hạ nguồn sông Mekong là các đâp của Trung Quốc sẽ giúp họ vì chúng sẽ đưa thêm nước vào sông trong mùa khô nhưng nhiều mùa khô đã qua mà điều này không xảy ra.

Đã có những sự kiện từ trước kia mà Trung Quốc bị cáo buộc là nguồn gốc vấn đề. Ủy hội sông Mekong (MRC) đã có một câu trả lời rất mập mờ về nguyên nhân của hạn hán vào năm 2010.
– Richard Cronin

Bây giờ với sự tăng trưởng kinh tế chậm lại và nhu cầu điện ở Trung Quốc thấp hơn thì điều này có nghĩa là ở các đập của Trung Quốc người ta sẽ phải quyết định là họ để nước đi qua đập trong khi họ không dùng nó để sản xuất điện hoặc chỉ để nước đi qua khi cần dùng để sản xuất điện. Điều này tạo nên một sự mập mờ không rõ cho những nước hạ nguồn. Họ sẽ không biết là họ sẽ nhận được bao nhiêu nước và Trung Quốc sẽ thay đổi tình hình thế nào. Đó là một vấn đề lớn.

Theo lý thuyết thì điều này cần phải được đề cập ở Thượng đỉnh Lang Thương- Mekong, họ cần phải phải thảo luận hợp tác giữa việc Trung Quốc điều hành các đập và nhu cầu nước của các nước hạ nguồn sông đặc biệt là vào mùa khô…

Chúng tôi không biết được cụ thể Trung Quốc đang làm gì và họ xả nước ra bao nhiêu nhưng chúng tôi biết là vào lúc này, theo ước tính của các chuyên gia thì các con đập của Trung Quốc đang giữ lại khoảng 80 đến 90% phù sa mà đáng ra phải chảy xuống hạ lưu Mekong.

Phù sa này cần phải xuống vùng đồng bằng nhưng giờ bị giữ lại và đó là nguyên nhân khiến đồng bằng phía dưới sông Mekong bị thu hẹp lại vì không có đủ phù sa. Bên cạnh đó là mực nước biển cũng đang lên cũng góp phần làm đồng bằng thu hẹp. Lượng phù sa chảy xuống dòng sông giảm một phần nữa bởi các con đập mà Việt Nam xây ở Tây nguyên và các con đập mà Lào cho xây dựng. Các con đập này đã ngăn cản phù sa xuống đồng bằng. Nhìn chung có nhiều yếu tố ảnh hưởng và trong đó có yếu tố Trung Quốc nhưng chúng tôi lại không có dữ liệu cụ thể là các con đập Trung Quốc giữ lại bao nhiêu và bao nhiêu chảy xuống dòng sông.

Vai trò của MRC

Việt Hà: Ông đánh giá thế nào về khả năng hợp tác giữa các nước thuộc khu vực sông Mekong trong việc chia sẻ thông tin và quản lý nguồn nước trong tương lai?

Richard Cronin: Từ kinh nghiệm hiện có cho đến lúc này, tôi thấy không có lý do gì để lạc quan về hợp tác này. Điều mà Trung Quốc phải quyết định là liệu họ có muốn hợp tác Lan Thương – Mekong có hiệu quả và nhận được sự ủng hộ từ các nước khác vì cơ chế này không chỉ tập trung vào vấn đề hợp tác kinh tế, hợp tác kinh tế bao gồm việc xây dựng hạ tầng cơ sở…. nhưng nó cũng phải bao gồm chia sẻ thông tin và hợp tác về nguồn nước sông.

Theo ước tính của các chuyên gia thì các con đập của Trung Quốc đang giữ lại khoảng 80 đến 90% phù sa mà đáng ra phải chảy xuống hạ lưu Mekong.
– Richard Cronin

Tôi không thấy là điều này sẽ xảy ra. Tôi nghĩ là họ sẽ đưa ra các cam kết mập mờ để khiến các nước hạ nguồn sông quan tâm… vấn đề là tại sao họ xả nước bây giờ? Theo lý thuyết thì họ phải xả nước vì các nước láng giềng cần nước. Cho nên thời điểm mà họ xả nước rất trùng khơp với thời điểm diễn ra thượng đỉnh Lan Thương – Mekong và điều này có nghĩa là Trung Quốc hiểu được là nếu họ muốn đạt được bất cứ điều gì qua LMC thì họ có lẽ phải có nhượng bộ về nước và công khai hơn về vấn đề này. Liệu họ có những nhượng bộ hay không thì tôi không biết nhưng nếu tôi là các nước hạ nguồn sông thì tôi sẽ nghi ngờ.

Tôi sẽ không trông đợi gì ở Trung Quốc mà biết là Trung Quốc sẽ làm theo cách của họ về hợp tác kinh tế chủ yếu là trên đất liền,… hiện nay chưa có một cơ chế nào về hợp tác nguồn nước có liên quan đến Trung Quốc trong khu vực.

Việt Hà: Việt Nam hiện cũng rất quan ngại về việc Thái Lan lấy nước từ sông Mekong đổ vào đồng bằng của mình. Điều này cho thấy vấn đề hợp tác giữa các nước qua cơ chế MRC. Ông có nhận xét gì về hiệu quả làm việc của MRC?

000_Hkg10129166-400

Một chiếc đò đưa khách qua sông trên dòng Mekong địa phận thành phố Cần Thơ hôm 14/12/2014. AFP photo

Richard Cronin: Đó là lý do mà MRC đang gặp rắc rối. Vì sao MRC đã bị coi là thất bại trong nhiệm vụ của mình, đó là vì cuối cùng MRC chỉ có thể làm được việc của mình khi các chính phủ hợp tác ở mức chính trị dù họ có ủy ban làm việc với các bộ môi trường hay không hay thậm chí họ đưa nó lên mức cao hơn là với các bộ về kinh tế.

Những bộ đó không được phép hành động trừ khi họ được phép từ trên cao đưa xuống. Cho nên các quyết định về hợp tác đưa ra cần phải đến từ mức độ hợp tác chính trị cao hơn và điều này không xảy ra. Thái Lan thực tế luôn là một nước có xu hướng tự làm theo ý mình. Theo lịch sử thì Thái Lan dường như luôn muốn giống như một Trung Quốc thu nhỏ khi đối xử với các nước láng giềng; họ hoạt động trên cùng một nguyên tắc khi mở rộng ảnh hưởng của mình là sức mạnh kinh tế lên khu vực, dựa vào vị thế địa chính trị của mình để tăng cường sức ảnh hưởng của họ lên các nước khác trong khu vực. Điều này cũng giống như Trung Quốc đang làm chỉ khác là Thái Lan làm ở mức độ nhỏ hơn mà thôi.

Tỉnh hình VN

Việt Hà: Theo ông nếu tình hình diễn biến như hiện này thì sắp tới tình hình ở Việt Nam, nước cuối nguồn sẽ như thế nào ?

Richard Cronin: Tôi không thấy có sự cải thiện tốt hơn trong tương lai gần cho Việt Nam ở cuối dòng sông. Theo tôi nếu bạn cố gắng thuyết phục chính phủ Thái lan hay Lào về những ảnh hưởng tiêu cực của các đập thủy điện lên môi trường hay ảnh hưởng lên cuộc sống của người dân trong vùng thì chắc chắn là họ sẽ không quan tâm. Đó là một lập luận không hiệu quả. Theo tôi điều có thể xảy ra trong tương lai và chắc là sẽ xảy ra là hiệu quả kinh tế của các dự án thủy điện lớn thay đổi và chúng càng ngày càng trở nên kém hiệu quả.

Việt Hà: Ông nói rằng MRC hoạt động không hiệu quả vậy theo ông trong tương lai liệu có cơ chế nào thay thế cho MRC hay không?

Tôi không thấy có sự cải thiện tốt hơn trong tương lai gần cho Việt Nam ở cuối dòng sông.
– Richard Cronin

Richard Cronin: Không tôi không nghĩ là như vậy. MRC được thành lập sau nội chiến ở Campuchia. Nó là sáng kiến của Nhật với mong muốn củng cố hòa bình trong khu vực và khuyến khích phát triển bền vững. Ý tưởng của Nhật bản lúc đó là làm thế nào để tạo các cơ sở chế tạo của Nhật ở nước ngoài. Nhật bản cho rằng bằng việc thiết lập sản xuất ở các nước Lào, Campuchia và Việt Nam và phối hợp với các cơ sở sản xuất đã có sẵn ở Thái Lan thì điều này không những củng cố hòa bình cho khu vực bị chiến tranh tàn phá mà còn mở một cách cửa hậu về thương mại vào Trung Quốc.

Nhưng đó là một tính toán sai lầm vì bong bóng kinh tế của Nhật bị vỡ và kinh tế Nhật gặp khó khăn. Vào năm 1992 Đặng Tiểu Bình nói ở Thượng Hải tuyên bố việc mở cửa cho các công ty nước ngoài được chế tạo sản phẩm ở Trung Quốc. Đó là thời điểm hợp lý để thành lập MRC nhưng đó cũng là thời điểm của nhiều thay đổi. Cho nên câu hỏi bây giờ là chúng ta sẽ làm lại từ đầu ra sao, làm thế nào để tạo dựng lại ASEAN vào lúc này nói ví dụ như ASEAN chưa tồn tại. Nếu vậy thì sẽ rất khó khăn, cho nên không thể thay thế MRC và tôi vẫn tin là MRC xứng đáng nhận được những ủng hộ nhưng nó cần sự cam kết chính trị từ các nước thành viên. MRC cần có cải tổ và cần có sự cam kết về chính trị từ các nước.

Việt Hà: Theo ông thì các cường quốc khác như Mỹ và Nhật bản đóng vài trò gì trong việc hỗ trợ hoạt động của MRC?

Richard Cronin: Các nước đó có cung cấp hậu thuẫn cho MRC nhưng đang bị yếu đi vì thực tế là MRC đã không làm được những gì mà MRC đáng ra đã phải làm. Nhưng những nước có ảnh hưởng và đóng góp lớn nhất bao gồm Mỹ, Nhật, một số nước Bắc Âu, Australia và New Zealand hiện tại chỉ tạo ảnh hưởng chủ yếu qua các hợp tác song phương với từng nước qua các dự án với chính phủ. Ví dụ Hoa Kỳ thì có sáng kiến hạ sông Mekong (LMI) và không có nhiều tiền trong đó. Phần lớn các dự án trong LMI là song phương.

Việt Hà: Xin cảm ơn ông đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn.