Những Ý Tưởng Về Đức Nhẫn Nại.

Những Ý Tưởng Về Đức Nhẫn Nại.

Những ai muốn được hạnh phúc, được yêu thương, được sống lâu, hãy nỗ lực hết sức để giữ điềm tĩnh, nhẫn nại và trong mọi giờ cầu ngyện, hãy tha thiết cầu xin Chúa ban cho ƠN BIẾT NHẪN NẠI.

Chúa Giêsu đã dạy chúng ta: “ Hãy học cùng ta vì ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng, và các ngươi sẽ tìm được BÌNH AN cho tâm hồn.”

Linh mục Paul O’Sullivan viết có ba qui luật.

  • Đừng bao giờ mở miệng khi đang tức giận
  • Đừng bao giờ nói sẵng giọng.
  • Đừng bao giờ thốt ra những lời bất nhẫn.

Trong gia đình người bất nhẫn là một con quỉ.  Họ làm khổ bản thân mình, rồi làm cho người khác phải khổ lây, họ va vấp không biết bao nhiêu lầm lỗi.

Một người nhẫn nại là một thiên thần, được mọi người quí mến, họ hạnh phúc với bản thân và được Thiên Chúa yêu thương.

( trang 148)

Trích sách “ Con Đường Nên Thánh Dễ Dàng” của LM Paul O’ Sullivan, O.P

chuyển ngữ: Matthias M.Ngọc Đính , CMC xuất bản năm 2004

Paulo Freire và chủ trương “Giáo Dục Giải phóng Con người”

Paulo Freire và chủ trương “Giáo Dục Giải phóng Con người”

( Paulo Freire : 1921 – 1997)

Đoàn Thanh Liêm

* * *

Paulo Freire sinh năm 1921 tại Brazil. Ông học Luật và Triết học, nhưng lại dấn thân vào công cuộc giáo dục đặc biệt cho giới tráng niên, nhằm gây ý thức cho đại chúng phải mạnh dạn tự giải thoát mình ra khỏi tình trạng áp bức nặng nề, tàn bạo của xã hội đương thời. Vì có tư tưởng và hành động cấp tiến như vậy, nên ông bị giới quân nhân cầm quyền bắt buộc phải sống lưu vong ở nước ngoài, từ năm 1964, mãi cho đến năm 1980, ông mới có thể trở về quê hương mình được.

Tại nước Chi lê, ông đã làm việc cho tổ chức văn hóa Unesco của Liên Hiệp Quốc, và Viện Cải cách Ruộng đất của chánh phủ Chi lê. Ông còn được mời tới làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu về Phát triển và Biến đổi xã hôi thuộc đại học Harvard ở Mỹ (Center for Studies in Development and Social Change). Rồi sau này làm giám đốc chương trình giáo dục của Hội đồng Tôn giáo Thế giới (World Council of Churches) tại Geneva, Thụy sĩ.Năm 1970, ấn bản tiếng Anh “The Pedagogy of the Oppressed” (Giáo dục của Người bị Áp bức) của Paulo Freire đã gây một tiếng

vang lớn trong giới giáo dục và hoạt động xã hôi khắp thế giới. Sau trên 40 năm, thì đã có hàng triệu cuốn được phổ biến rộng rãi qua nhiều lần tái bản, và hàng mấy chục bản dịch ra các thứ tiếng khác nữa. Ông là người đã cổ võ cho ý niệm “ Conscientizacao’ nguyên văn tiếng Bồ đào nha, mà bây giờ đã trở thành thông dụng khắp thế giới với tiếng Anh là “Conscientisation” (= Consciousness Raising, Critical Conciousness). Ta có thể diễn tả ý niệm này là : Sự thức tỉnh Ý thức và Suy nghĩ có tính cách phê phán. Quả thật, chủ trương giáo dục có tính chất cách mạng triệt để của ông đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các phong trào giáo dục và xã hội cùng khắp thế giới. Và tư tưởng triết học của ông cũng ảnh hưởng đến nhiều ngành học thuật như thần học, xã hội học, nhân chủng  học, sư phạm, ngữ học thực hành và nghiên cứu văn hóa (applied

linguistics & cultural studies). Có thể nói : Paulo Freire là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất về bộ môn giáo dục vào cuối thế kỷ XX ( the most influential thinker  about education).

Bài viết này nhằm giới thiệu tư tưởng độc đáo và dứt khoát của  ông. Đồng thời cũng lược qua về ảnh hưởng của tư tưởng này  trong thế giới hiện đại, đặc biệt là tại các quốc gia vốn xưa kia là

thuộc địa của thực dân Tây phương ở Châu Mỹ La tinh, Châu Phi và Châu Á. Để bạn đọc có thể dễ dàng theo dõi quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Paulo Freire, là một nhân vật tiêu biểu của trào lưu thức tỉnh và vận động xã hội tại Châu Mỹ La tinh là quê hương của ông, người viết xin được dàn trải việc trình bày  trong 2 bài như sau :

Bài 1 / – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh vào cuối thế kỷ XX.

Bài 2 / – Cốt lõi chủ trương “Giáo dục giải phóng” & Ảnh hưởng trong thế giới hiện đại.

I – Bối cảnh văn hóa xã hội của Châu Mỹ La tinh (bài 1).

Châu Mỹ La tinh (Latin America) là khu vực nằm ở phía nam của  nước Mỹ, mà xưa kia hầu hết đều là các lãnh thổ nằm dưới sự cai  trị của hai nước Tây ban nha và Bồ đào nha. Hiện nay khu vực này có chừng 30 nước với tổng số dân là trên 560 triệu. Chỉ có Brazil với dân số trên 190 triệu là nói tiếng Bồ đào nha. Còn lại, thì tất cả đều nói tiếng Tây ban nha. Trừ một số rất nhỏ xưa kia là thuộc địa của Pháp, Anh, Hòa lan, thì vẫn còn nói tiếng như tại “mẫu quốc”

cũ của họ.Có tới 70% dân chúng trong khu vực theo đạo Thiên chúa giáo La mã (Roman Catholic). Và chừng 15% theo đạo Tin lành.

A – Tình trạng bất ổn trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

 Kể từ thập niên 1960 trở đi, khu vực này đã trải qua nhiều biến động về chính trị kinh tế, cũng như về mặt văn hóa xã hội thật sôi  động, nhiều khi đưa đến những tranh chấp tàn bạo đẫm máu, do các chế độ độc tài thiên hữu, quân phiệt hay thiên tả gây ra. Nhiều cuộc đảo chính đã liên tục xảy ra, khiến cho xã hội luôn bất ổn định, và chế độ độc tài quân phiệt dễ có cơ hội được củng cố, và người dân bị dồn vào thế bị động, không thể hợp nhau góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển quốc gia được. Lại nữa, vào giữa thời chiến tranh lạnh, nên phía Liên Xô đã tìm

nhiều cách để gây ảnh hưởng của chủ thuyết cộng sản tại đây; điển hình là tại Cuba từ khi Fidel lên nắm chánh quyền năm 1959 và đã ngả hẳn về phía Liên Xô. Chúng ta hẳn đều còn nhớ việc Liên Xô  cho đem thiết trí lọai hỏa tiễn tại Cuba nhằm hướng vào nước Mỹ, khiến xúyt gây nên cảnh chiến tranh giữa hai siêu cường Nga-Mỹ vào năm 1962, trước sự đối đầu nẩy lửa của hai lãnh tụ Khruschev và Kennedy.Mà phía Mỹ, thì cũng tìm mọi cách can thiệp nhiều khi rất nặng

tay tàn bạo, để bảo vệ toàn thể khu vực được gọi là“cái sân sau” (backyard) của riêng nước Mỹ; điển hình như có bàn tay của CIA trong việc lật đổ chế độ thiên tả của Tổng thống Salvador Allende tại Chi lê năm 1973. Rồi sau này vào thập niên 1980, thì phe Sandinista khuynh tả đã lên nắm được chánh quyền ở Nicaragua, với sự trợ giúp đắc lực của Cuba cộng sản cũng như của Liên Xô. Và chánh quyền Mỹ dười thời Tổng thống Reagan đã ra tay can thiệp mạnh bạo, để giúp phe đối lập Contras lập lại thế cờ tại đây. Đại khái đó là vài nét đại cương về ảnh hưởng của chiến tranh lạnh tại khu vực Châu Mỹ La tinh, từ hồi thập niên 1960 cho đến khi khối Liên Xô bị tan rã kể từ 1990.

B – Sự nhập cuộc của Giáo hội Công giáo La mã.

Về phía Thiên chúa giáo, thì do ảnh hưởng của tinh thần đổi mới của Công đồng Vatican 2, trong giới tu sĩ và giáo dân tại khu vực đã có sự chuyển biến rất mạnh mẽ trong sự nhận thức, cũng như trong hành động của Giáo hội công giáo. Điển hình như trường hợp của Tổng giám mục Helder Camara của Brazil; ông là người rất năng động trong việc phục vụ và tranh đấu cho khối đa số nghèo túng, đến nỗi bị chụp mủ là “vị giám mục đỏ” (the red bishop). Ông nói chua chát như sau : “Khi tôi cho người nghèo ăn,  thì người ta gọi tôi là một ông thánh. Khi tôi hỏi tại sao người nghèo lại không có thực phẩm, thì người ta gọi tôi là một người cộng sản!” Giám mục Camara và cầu thủ Pele’ là hai người xứ Brazil mà được biết đến nhiều nhất trên thế giới.

Lại có trường hợp vị Giám mục cấp tiến Oscar Romero ở nước El Salvador, ông còn bị chánh quyền cho dùng tay chân ám sát, ngay giữa lúc ông đang cử hành thánh lễ an táng cho bà mẹ của một người bạn vào năm 1980. Và đã có đến 250,000 người đến tham dự lễ an táng của vị mục tử kiên cường này, mà họ coi như là một vị thánh tử đạo (Martyr).Cũng tại El Salvador, vào cuối năm 1980 đã xảy ra việc sát hại 4 nữ tu người Mỹ, do bàn tay của nhân viên công lực nhà nước. Sự kiện này đã gây sự phẫn nộ tột cùng của báo chí và công luận nước Mỹ, đến độ tạo thành áp lực buộc chánh phủ Mỹ phải có biện pháp răn đe mạnh mẽ đối với chánh quyền tàn bạo của El Salvador. Cũng phải kể thêm về trường hợp của vị linh mục Camilo Torres ở nước Colombia, ông là một tu sĩ cấp tiến, được đào tạo tại đại học  công giáo nổi tiếng Louvain bên nước Belgium ở Âu châu. Vì áp lực nặng nề từ phía chánh quyền Colombia, ông phải thóat ly theo

hẳn phe du kích chống chánh phủ, và đã bị hạ sát vào năm 1966 trong một cuộc đụng độ với quân đội. Tên tuổi của Camilo Torres, cũng như của Che Guerava bị hạ sát năm 1967 tại Bolivia, thì đã trở thành một huyền thoại lôi cuốn giới trẻ trong toàn thể khu vực Châu Mỹ La tinh từ trên 40 năm nay.

Nhân tiện, cũng cần phải ghi lại cái thủ đọan cực kỳ độc ác là “làm mất tích” (disappearance), bằng cách thủ tiêu những người chống  đối, mà cơ quan an ninh tại nhiều nước trong khu vực sử dụng, để  đàn áp phong trào tranh đấu cho dân chủ tự do tại các nước này.

Điển hình là tổ chức Các Bà Mẹ có con bị mất tích ở Argentina, đã liên tục trong nhiều năm tháng đến tụ hợp với nhau tại một quảng trường Plaza de Mayo trong thành phố thủ đô, để đòi hỏi chánh quyền phải cho công bố về các vụ mất tích này. Các tổ chức tranh đấu bảo vệ nhân quyền quốc tế như Hội Ân xá Quốc tế (Amnesty International) cũng đã thâu thập được khá nhiều chứng từ về các trường hợp “ người bị mất tích” (disappeared persons) tại nhiều  quốc gia trong vùng, mà có nơi con số này lên tới nhiều ngàn người. Rõ ràng chế độ độc tài nào dù theo phe tả như cộng sản, hay theo phe hữu như chế độ quân phiệt, thì cũng đều tàn bạo độc ác

như thế cả.

C – Nền Thần học Giải phóng.

Châu Mỹ La tinh này lại còn là nơi phát sinh một trào lưu tư tưởng đặc biệt sôi nổi sinh động, đó là nền “Thần học giải phóng” ( Liberation Theology). Đó là cả một phong trào của các giáo sĩ và

giáo dân phản ứng không khoan nhượng trước thực trạng xã hội đày rẫy bất công áp bức, bóc lột trong xã hội các quốc gia trong khu vực. Họ lục tìm trong Kinh thánh và trong Giáo huấn chân

truyền của Giáo hội công giáo từ xưa nay, để xây dựng được một  nhận thức đứng đắn, trung thực về vai trò dấn thân nhập cuộc của  Giáo hội trong công trình giải thoát con người và xã hội khỏi các  định chế chính trị xã hội hủ lậu, phản động và vô luân trong xã hội đương thời. Trừ một số nhỏ thiên về phía marxist cộng sản quá khích, còn đa số giáo sĩ và giáo dân đều giữ vững lập trường tranh đấu ôn hòa, bất bạo động của tôn giáo.

Hệ thống tư tưởng tiến bộ này luôn được sự hưởng ứng của quần chúng giáo dân và giới chức sắc của giáo hội, mà tiêu biểu sáng ngời nhất là “Hội Đồng Giám mục Châu Mỹ La tinh (CELAM = the Latin American Episcopal Conference). Dưới sự thôi thúc của những vị lãnh đạo năng nổ, nhiệt tình như Helder Camara, Hội Đồng này đã biểu quyết thông qua chủ trương rất tiến bộ là : “ Giáo hội phải dứt khoát chọn lựa đứng về phía người nghèo” ( The Church’s Option for the Poor).

D – Vai trò của giới trí thức và văn nghệ sĩ.

Trong khi đó, thì giới hàn lâm đại học (Academia), cũng như giới văn nghệ sĩ, đều sôi nổi góp phần vào công cuộc dấn thân phục vụ xã hội, mà điển hình là sự đóng góp thật là vĩ đại của Paulo Freire với chủ trương “Giáo dục Giải phóng Con người” như đã được trình bày rất khúc chiết trong cuốn “Pedagogy of the Oppressed”. Ta sẽ đề cập chi tiết về tư tưởng này trong một bài sau.Cũng cần phải ghi thêm về ảnh hưởng của phong trào trí thức tả phái phát xuất từ Âu châu, đặc biệt là từ thập niên 1950, đối với tư tưởng và hành động của học giới và văn nghệ sĩ tại Châu Mỹ La tinh. Khuynh hướng “Bài Mỹ” (Anti-Americanism) từ Âu châu đã làm tăng thêm sự hậm hực, ân óan vốn có sẵn từ lâu đời đối với sự thống trị và khuynh lóat của chánh sách bá quyền (hegemony) của nước Mỹ đối với tòan thể các quốc gia và lãnh thổ yếu thế, mà lại bị chia rẽ, phân tán ở phía Nam bán cầu (hemisphere). Lâu lâu, người ta vẫn nghe thấy dân chúng tại đây hô thật to cái khẩu hiệu “Yankees, Go Home” (Người Mỹ, Hãy Cút Đi!) mỗi khi có phái

đòan cao cấp của Mỹ đi qua một số thành phố lớn. Điển hình là vụ phản đối rầm rộ, đến độ xô xát bạo hành đối với Phó Tổng thống Nixon của Mỹ trong chuyến viếng thăm Nam Mỹ vào năm 1958. Lại nữa, chánh phủ Mỹ vì luôn bênh vực che chở cho giới tài phiệt Mỹ làm ăn buôn bán khai thác tại các nước trong khu vực, nên đã cho thiết lập và ủng hộ các chánh quyền cực hữu, độc tài mà được đặt tên một cách mỉa mai là “Banana Republics”, vì chuyên làm tay sai cho các đại gia chuyên môn khai thác trồng chuối để xuất cảng về Mỹ, hoặc khai thác các nguồn lợi thiên nhiên khác, để thu về được một số lợi nhuận khổng lồ cho các tập đòan kinh tế có độc

quyền khai thác, mà điển hình là United Fruit.

Trước tình trạng bất ổn căng thẳng như thế, ta không lạ gì với sự chống đối quyết liệt như của những lãnh tụ mới đây như Tổng thống Hugo Chavez của Venezuela đối với nước Mỹ. Và qua đó, chúng ta có thể hiểu rõ thêm về phản ứng dứt khóat và triệt để của giới trí thức như Paulo Freire trong bối cảnh chung của khu vực Châu Mỹ La tinh vậy./

( Bài 2 : Giáo dục Giải phóng : Nội dung và Ảnh hưởng)

Sự tha thứ cao thượng

Sự tha thứ cao thượng
image
Bức ảnh đáng kinh ngạc này đã ghi lại thời khắc cuối cùng trong sự nghiệp thi đấu của đấu sĩ Matador Torero Alvaro Munera.
Giữa “trận đấu” dở dang, anh suy sụp vì hối hận khi nhận ra rằng mình không thể ép buộc con thú hiền lành kia chống trả. Dù phải chịu đựng nhiều vết thương đau đớn, con bò tót – với máu nhỏ giọt trên mõm và thanh kiếm găm trên mạng sườn – vẫn một mực không chịu tấn công đối phương.
Sau trận đấu, đấu sĩ Torero Munera đã trả lời phỏng vấn rằng:
“… Rồi đột nhiên, tôi nhìn con bò tót. Nó có đôi mắt ngây thơ, như mọi con vật, và đang nhìn tôi bằng ánh mắt tha thứ. Một tiếng khóc than cho công lý dường như đang vang vọng sâu thẳm bên trong tôi. Tôi thấy mình như thứ rác rưởi tồi tệ nhất trên trái đất.”
Chị Xuân Lang gởi

 

Trung Cộng xâm lăng kinh tế

Trung Cộng xâm lăng kinh tế
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Bộ trưởng Quốc Phòng Trung Cộng lại qua Việt Nam, chuyến đi thứ ba của các quan chức trọng yếu Trung Cộng kể từ ngày Ðại Hội 12 của đảng Cộng Sản kết thúc. Tại sao ông Thường Vạn Toàn (Chang Wanquan,常万全) không chờ đến khi Nguyễn Xuân Phúc lập chính phủ mới đầy đủ mà phải vội vã qua Hà Nội gặp Phùng Quang Thanh, một người sắp mãn nhiệm? Chuyến đi này có thể nhằm theo dõi, kiểm tra coi việc thay đổi guồng máy nhân sự đang diễn ra có đúng kế hoạch như Bắc Kinh đề xướng hay không.

Thường Vạn Toàn qua Hà Nội sau khi hai tàu Hải Giám Trung Cộng tấn công tàu đánh cá Việt Nam ngoài khơi, trong vùng quần đảo Hoàng Sa, cướp hải sản và đánh các ngư phủ. Trong khi đó, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng vẫn hô hào hai bên phải cộng tác chặt chẽ!

Mối đe dọa của Trung Cộng hiển nhiên trên mặt chính trị và quân sự. Cộng Sản Trung Hoa có cần phải đánh chiếm nước ta hay không? Họ thực sự không cần vì có thể đạt được những mục tiêu chiến lược bằng cách khác.

Trong thời đại này sức mạnh các quốc gia phải dựa trên kinh tế. Chúng ta đã chứng kiến một guồng máy quân sự khổng lồ của Liên Xô, có lúc đóng quân trên một nửa Âu Châu, cuối cùng cũng bất lực khi hệ thống kinh tế quốc doanh tê liệt rồi sụp đổ. Cộng Sản Trung Hoa từ 30 năm qua chú trọng đến phát triển kinh tế hơn là quân sự. Trung Cộng có thể ảnh hưởng tới vận mệnh Việt Nam qua con đường kinh tế, dễ dàng và chắc chắn hơn.

Trong năm 2015, thâm thủng mậu dịch cả nước đối với Trung Quốc lên tới hơn 32.3 tỷ đô la Mỹ, nhập 50 tỷ, xuất 17.7 tỷ đô. Số thiếu hụt tăng nhanh so với năm trước, năm 2013 là 23.7 tỷ, năm 2014 là 28.9 tỷ. Ðó chỉ là cán cân mậu dịch chính thức, chưa kể đến những gánh hàng buôn lậu qua một biên giới hầu như không ai kiểm soát vì các quan chức địa phương rất dễ được hối lộ và đã được “bôi trơn” từ lâu.

Ngay cả khi chính quyền Việt Nam khoe xuất cảng qua Mỹ nhiều hơn, thì trong số hàng may dệt mà Việt Nam bán cho Mỹ, 80% đến 90% là vật liệu nhập cảng từ bên Tàu. Nghĩa là chỉ xuất cảng giúp cho Bắc Kinh, gánh vàng Mỹ đi đổ sông Ngô. Một giáo sư ở Hà Nội nói với đài RFA, công nhận: Kinh tế Việt Nam đang lệ thuộc Trung Quốc đến những thứ nhỏ nhặt như cây kim, sợi chỉ. Trong 11 tháng đầu năm 2015, riêng số hàng rau, trái cây Việt Nam nhập cảng từ bên Tàu đã tăng hơn 21%, lên tới 165 triệu Mỹ kim. Ðó chỉ là con số chính thức, con số thật có thể gấp đôi hay gấp ba. Những thứ rau, trái đó có thể trồng được trong nước, nhưng các nhà vườn người Việt đã bị hàng Trung Quốc đè bẹp.

Ðiều nguy hiểm cho đất nước là Cộng Sản Việt Nam vẫn mở cửa cho Trung Quốc tấn công trên những trận địa kinh tế mà người dân Việt bình thường không để ý tới, vì không nhìn thấy trước mắt.

Một món hàng không ai nhìn thấy là điện từ Trung Quốc truyền qua Việt Nam trong những sợi dây. Các tỉnh phía Bắc nước ta đang nhập cảng điện từ Trung Quốc, tới 6% tổng số điện tiêu thụ trên toàn quốc. Coi như một biên giới đã bỏ ngỏ cho điện chảy qua. Nếu nhà cung cấp bên Tàu cúp điện, vì “sự cố kỹ thuật” nào đó, thì hoạt động kinh tế ở mấy tỉnh phía Bắc sẽ ngưng trệ ngay. Có cảnh lệ thuộc ngoại bang nào đáng sợ như thế không?

Mấy năm trước, ông Phùng Ðình Thức, chủ tịch PetroVietnam phải lên tiếng ta thán rằng công ty Ðiện Lực Việt Nam (EVN) không mua điện từ các nhà sản xuất trong nước mà lại đi mua điện Trung Quốc. Khu điện lực phía Bắc mua điện từ Vân Nam, mà giá điện mỗi năm lại tăng.

Trước đây, ký giả Ben Bland đã viết trên nhật báo Financial Times một bài, “Nhu cầu điện sẽ khiến xung đột Bắc Kinh Hà Nội giảm bớt” (Electricity demands could limit Beijing-Hanoi rift). Nói trắng ra là, vì lệ thuộc về điện, Hà Nội sẽ không dám chống lại Bắc Kinh. Sau khi quan sát thị trường điện lực Ben Bland khẳng định: “Bắc Kinh ngày càng điều khiển kinh tế Việt Nam” (Beijing is increasingly driving Vietnam’s economy).

Ben Bland cũng nhận xét Trung Quốc không quan tâm chuyện đầu tư. Trong năm 2010 họ chỉ bỏ vô 365 triệu Mỹ kim, bằng một phần trăm tổng số các quốc gia đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Không cần đầu tư nhiều, vì Trung Quốc có con đường khác để gây ảnh hưởng kinh tế, là đem tiền cho vay. Và họ cho vay dễ dàng hơn ngân hàng các nước khác, đặc biệt trong các công trình xây dựng nhà máy điện.

Ai cũng biết một nước đang bắt đầu phát triển thì nhu cầu điện lực rất lớn. Các quốc gia mới lên đều phải vay tiền ngoại quốc, gọi thầu các công ty ngoại quốc tới xây dựng nhà máy phát điện trong nước mình. Người Việt Nam có thể đi vay các ngân hàng quốc tế, có thể gọi các công ty quốc tế tới đấu thầu trong việc xây cất. Tại sao chính quyền Việt Nam không mở các cuộc “đấu thầu” công khai để các ngân hàng quốc tế cạnh tranh với nhau trong việc đem tiền tới cho vay? Tại sao không mới các công ty quốc tế cạnh tranh đem máy móc, thiết bị tới xây dựng nhà máy điện, sử dụng các chuyên viên và công nhân Việt Nam? Tại sao chính quyền Cộng Sản Việt Nam lại chăm chỉ đi vay các ngân hàng Trung Quốc thay vì vay nước khác?

Ðiện nằm trong một chiến lược kinh tế của Trung Cộng. Họ tấn công ba mặt, tài chánh, kỹ thuật và nhân dụng, mặt nào họ cũng có lợi. Các công ty kỹ thuật Trung Quốc có thể “hiến giá” chấp nhận lấy giá rẻ hơn các công ty quốc tế khác. Vì trình độ kỹ thuật của họ thấp hơn, phẩm chất các máy móc của họ cũng thấp hơn. Và tất nhiên, lương các chuyên viên và nhân công của họ cũng thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế! Nhưng khi cho vay, họ cũng đòi được đưa máy móc, phẩm vật và lao động của họ vào Việt Nam.

Sau những vụ vay tiền rồi vỡ nợ kiểu Vinashin, chính quyền Việt Nam rất khó vay tiền trên thị trường thế giới. Nhưng đó không phải là lý do chính. Các ngân hàng quốc doanh Trung Quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay với lãi suất thấp hơn trên thị trường quốc tế. Ðổi lại, họ đặt thêm điều kiện khi cho vay để hưởng lợi trong việc khác. Một điều kiện là Cộng Sản Việt Nam phải cho các công ty Trung Quốc trúng thầu cung cấp thiết bị và xây dựng nhà máy.

Các ngân hàng Trung Quốc khi cho vay đã yêu cầu Cộng Sản Việt Nam phải sửa đổi các điều kiện gọi thầu. Phải hạ tiêu chuẩn các máy móc thiết bị xuống một mức thấp hơn, để các nhà thầu Trung Quốc đủ điều kiện tham dự! Và Cộng Sản Việt Nam rất dễ tính trong việc này. Thế là khi xây dựng mỗi nhà máy điện, Trung Cộng sẽ xuất cảng các máy móc, các sản phẩm kỹ thuật thấp kém của họ. Khi so sánh hai nhà máy điện, một ở Na Dương sử dụng các kỹ thuật của Nhật Bản và các nước Tây phương, hai là ở Cao Ngạn dùng kỹ thuật Tàu, thiết bị Tàu, thì các chuyên gia đã thấy hiệu năng ở Cam Ngạn rất thấp so với Na Dương, và đã trục trặc nhiều lần.

Chưa hết, Trung Cộng được dịp xuất cảng nhân lực dư thừa trong nước họ, đem lao động không chuyên môn sang Việt Nam làm việc. Báo Thanh Niên ở Sài Gòn đã có lần nhận thấy tại công trường nhà máy đạm thuộc dự án khí-điện-đạm Cà Mau có những công nhân Trung Quốc sang làm những “công việc thủ công” như “khiêng gạch, bẻ sắt” với tiền công mỗi ngày khoảng 100 nghìn đồng.

Những ngân hàng và công ty kỹ thuật của Âu Châu, Ấn Ðộ hay Hàn Quốc, họ không có chính sách pha lẫn lợi ích kinh tế với mục tiêu chính trị, họ không thể cung cấp những “gói hàng” đủ mặt với giá thấp như vậy, tự nhiên bị gạt bỏ ra ngoài cuộc cạnh tranh! Các công ty Trung Quốc đang làm nhà máy điện khắp nước Việt Nam, từ Kontum, Quảng Ngãi, cho tới Sơn Tây. Trong cuộc gọi thầu làm nhà máy điện ở Cao Ngạn, chỉ có bốn công ty Trung Quốc tham dự; sau cùng công ty HPE của Trung Quốc đã trúng thầu! Công ty Sơn Ðông của Trung Quốc không cần tranh thầu với ai trong dự án nhà máy điện Cẩm Phả 2, vì cả guồng máy chính quyền được lệnh riêng của Nguyễn Tấn Dũng phải cho họ trúng thầu theo thủ tục đặc biệt, “vì lý do nhu cầu cấp bách!” Ông Nguyễn Tấn Dũng có được đồng nào khi ra lệnh như vậy, hay chỉ làm theo “chính sách lớn của đảng và nhà nước,” như ông giải thích về vụ Bô Xít?

Nhưng trong các cuộc trao đổi ba mặt như vậy, thì Việt Nam bị thiệt hại những gì? Thiệt hại trước tiên là phải chấp nhận những sản phẩm kỹ thuật với phẩm chất thấp hơn. Thiệt hại thứ hai là phải chấp nhận cho công nhân nước khác vào làm việc trong nước mình trong lúc nạn thất nghiệp trong nước mình cũng rất cao. Thứ ba, nền kinh tế càng ngày càng lệ thuộc vào Trung Cộng! Lệ thuộc kinh tế rất khó gỡ!

Ðảng Cộng Sản sẵn sàng bán tất cả các thứ để bảo vệ độc quyền cai trị. Ông Thường Vạn Toàn có thể đến Hà Nội để khen ngợi Nguyễn Phú Trọng đã dàn cảnh thay đổi nhân sự thành công. Nhưng cũng để nhắc nhở họ phải trung thành tuyệt đối với Bắc Kinh. Ðể nhắc Trọng nhớ rằng: “Còn Trung Cộng che chở thì Việt Cộng còn tồn tại!” Sau đại hội vừa năm ngoái, Nguyễn Phú Trọng vẫn bảo các đảng viên: “Phải trung thành tuyệt đối với dân, với chế độ, với Ðảng, giữ cho được chế độ này, Ðảng này.” Không nói gì đến việc gìn giữ “Ðất nước này.”

 

 

LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Trong suốt tuần Bát Nhật, từ đêm Vọng Phục Sinh tới hôm nay, Chúa nhật 2 Phục Sinh, các bài đọc đã trình bày cho ta nhiều lần Đức Kitô Phục Sinh hiện ra.  Từ những lần thấy Đức Kitô Phục Sinh hiện ra ấy, các môn đệ đã có những cảm nghiệm sau đây:

  1. Cảm nghiệm đầu tiên là, Đức Kitô đồng hành với họ trên mọi nẻo đường

LTXot

Đức Kitô Phục Sinh không còn bị giới hạn trong không gian.  Người có thể cùng lúc xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau.  Người xuất hiện trong vườn, gần mồ chôn Người.  Người xuất hiện bên bờ hồ, nơi các môn đệ đang chài lưới.  Người xuất hiện ở làng Emmau, cách Giêrusalem một quãng đường dài.  Người xuất hiện trong phòng đóng kín cửa, nơi các môn đệ tụ họp.  Sau này, Người còn xuất hiện ở mãi tận Damas, bên nước Syrira, nơi Phaolô lùng bắt người theo đạo.  Không gian xa xôi không làm chậm bước Ngài.  Không gian khép kín không ngăn được bước Ngài.  Đức Kitô Phục Sinh ra khỏi mồ có mặt trên mọi nẻo đường của cuộc sống.

Đức Kitô Phục Sinh cũng không bị giới hạn trong thời gian.  Người xuất hiện với Maria khi trời còn đẫm sương khuya.  Người xuất hiện bên bờ hồ với các môn đệ khi bình minh vừa ló rạng.  Người xuất hiện trong phòng tiệc ly ngay giữa ban ngày.  Người xuất hiện ở Emmau khi trời sụp tối.  Trong mọi lúc của cuộc đời, Đức Kitô luôn có mặt.  Không có thời gian nào Người không ở bên ta.

Đức Kitô Phục Sinh không còn bị giới hạn, trong một cảnh ngộ cuộc sống nhất định.  Trong vườn, Người xuất hiện như người làm vườn.  Bên những người chài lưới, Người xuất hiện như một bạn chài chuyên nghiệp, rành rẽ đường đi của đàn cá.  Trên đường Emmau, Người xuất hiện như một khách hành hương, đồng hành với hai linh hồn buồn bã, e ngại đường xa.  Người xuất hiện để khích lệ các môn đệ đang lo buồn sợ hãi.  Người xuất hiện để soi chiếu niềm nghi ngờ tăm tối của Tôma.

  1. Cảm nghiệm thứ hai là, Đức Kitô Phục Sinh khơi dậy niềm bình an, tin tưởng

Biết các môn đệ đang buồn sầu, bối rối, bấn loạn sau cái chết của Thầy, Đức Kitô Phục Sinh mỗi lần hiện ra, đều chúc các ông: “Bình an cho các con.”  Người còn thổi hơi vào các ông và nói: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần.”

Cử chỉ thổi hơi nhắc cho ta nhớ lại việc sáng tạo.  Khi ấy vũ trụ còn là một khối hỗn mang, vô định hình.  Rồi Thần Linh Chúa bay là là trên mặt nước.  Nhờ đó mọi vật dần dần có hình hài vóc dáng, đi vào trật tự, ổn định.

Sau cuộc khổ nạn của Đức Kitô, tâm hồn các môn đệ cũng tan nát như một khối hỗn mang, vô định hình.  Đức Kitô thổi hơi ban Thánh Thần trong một tạo dựng mới, đem lại trật tự ổn định, uốn nắn các môn đệ thành những con người mới, tràn đầy bình an của Chúa Thánh Thần.  Sau khi gặp Đức Kitô Phục Sinh, Maria buồn bã trở nên vui tươi, hai môn đệ Emmau u sầu tuyệt vọng trở nên phấn khởi, các môn đệ chài lưới mệt mỏi rã rời được hồi phục sức lực, các môn đệ sợ sệt bối rối ẩn núp trong phòng được bình an, Tôma nghi nan bối rối được vững niềm tin mến.  Đức Kitô phục sinh chính là niềm bình an cho các ông.

  1. Cảm nghiệm thứ ba, cũng là cảm nghiệm quan trọng nhất, Đức Giêsu Phục Sinh làm cho cuộc đời có ý nghĩa

Sau khi Đức Kitô bị hành hình, cả một bầu trời sụp đổ.  Các môn đệ tuyệt vọng.  Họ sống trong lo sợ, buồn bã, chán chường.  Không, họ không còn sống nữa vì cuộc đời đối với họ chẳng còn ý nghĩa gì.  Họ như đã chết với Thầy.  Chỉ còn nỗi lo sợ, nỗi buồn, niềm tuyệt vọng sống trong họ thôi.  Đức Kitô là linh hồn của họ.  Linh hồn đã ra đi.  Xác sống sao được.

Khi Đức Kitô Phục Sinh trở lại, những xác chết bỗng hồi sinh, những bộ xương khô bỗng chỗi dậy, mặc lấy da thịt, trở lại kiếp người, những trái tim nguội lạnh trở lại nhịp đập, ánh mắt nụ cười lại rạng rỡ tươi vui, vì cuộc sống từ nay có một linh hồn, cuộc sống từ nay có một ý nghĩa.

  1. Cảm nghiệm cuối cùng là, Đức Kitô Phục Sinh sai họ đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh

Đức Giêsu Phục Sinh đã biến đổi toàn bộ cuộc đời các môn đệ.  Đức Kitô Phục Sinh là Tin Mừng lớn lao trọng đại đem lại ý nghĩa cho cuộc đời.  Nên các môn đệ không thể không loan báo Tin Mừng lớn lao đó.  Maria lập tức chạy về loan tin cho các môn đệ, mời Phêrô và Gioan đến xem ngôi mộ trống. Hai môn đệ Emmau lập tức trở về Giêrusalem bất chấp trời đã tối đen.  Phêrô chạy bay ra mồ dù còn sáng sớm và còn bị nỗi sợ người Do Thái ám ảnh.  Và sau này, Phaolô, sau khi ngã ngựa, đã trở thành một người loan báo Tin Mừng không biết mệt mỏi.

Hôm nay chính Đức Kitô Phục Sinh nói với các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con.”

Tất cả những người đã thấy Đức Giêsu Phục Sinh đều trở thành những sứ giả loan báo Tin Mừng Phục Sinh.  Tất cả các môn đệ đều đã lấy máu mình mà làm chứng cho lời rao giảng.  Vì Đức Kitô Phục Sinh là một Tin Mừng không thể không chia sẻ.  Vì lệnh sai đi của Đức Kitô là một lệnh truyền không thể chống cưỡng.  Như Thánh Phaolô sau này đã nói: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng.”

Hôm nay Đức Giêsu Phục Sinh cũng đang hiện diện bên ta.  Người luôn ở bên ta trong mọi thời gian. Từ buổi bình minh khi ta mới chào đời cho đến lúc mặt trời chói lọi của tuổi thanh niên.  Từ lúc xế chiều của đời xế bóng cho đến lúc bóng đêm tuổi già phủ xuống đời ta.

Người vẫn ở bên ta trong mọi không gian: Trong nhà thờ, nơi trường học, ở sở làm, nơi giải trí, trong gia đình, trong chòm xóm.

Người vẫn ở bên ta trong mọi cảnh ngộ vui buồn của cuộc đời.  Người ở bên em bé mồ côi đang khóc đòi vú mẹ.  Người ở bên em học sinh đang miệt mài đèn sách.  Người ở bên cô thiếu nữ đau buồn vì bị tình phụ.  Người ở bên chàng thanh niên lạc hướng giữa ngã ba đường.  Người ở bên ngưỡng cuộc đời bế tắc không lối thoát.

Chỉ cần quay đầu, dừng bước là gặp được Người.  Hãy khao khát đón chờ Người.  Hãy tỉnh thức lắng nghe tiếng bước chân Người.  Bước chân Người rất nhẹ nhàng, không ồn ào.  Đừng bỏ lỡ cơ hội gặp Người.

Gặp được Người, lòng ta sẽ bình an, linh hồn ta sẽ hồi sinh, cuộc đời ta sẽ sống, sống mãnh liệt, sống phong phú, sống dồi dào.

Lạy Đức Kitô Phục Sinh, con đang chìm trong cái chết dần mòn.  Xin hãy đến và cho con được Phục Sinh với Người.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Thư ngỏ của công dân gửi công an Quận 3 Sài Gòn

Thư ngỏ của công dân gửi công an Quận 3 Sài Gòn

Ngô Thị Hồng Lâm

Trong gần một thế kỷ qua, cộng sản đã rất thành công trong việc “gây sợ hãi kinh hoàng” với dân chúng. Bắt dân Sợ mà phải theo, vì sợ mà phải nghe giáo điều của công sản. Điển hình là công cuộc cách mạng Cải cách ruộng đất long trời lở đất đã chém giết vô tội vạ nhân dân, khiến cho dân chúng vì sợ hãi mà phải nghe theo, phải tung hô .

Tiếp đến cuộc đánh tư sản ở miền Nam sau 30/4/197 đã khiến cho dân miền Nam sợ hãi , phải bỏ xứ tha hương trở thành “Khúc ruột ngàn dặm” của đảng ta ở khắp năm châu.

Tiếp theo là “ngu để trị”. Vừa qua cộng đồng mạng đã phẫn nộ với sách giáo khoa học đường của trẻ em hiện nay có dạy bài “Bạn An dũng cảm”. Đây là một bài học dạy về kỹ năng sống cho trẻ em hết sức độc hại. Sách đã dạy các em cầm cưa để cưa một quả bom, mà không cần biết sự nguy hiểm đang cận kề.

Hẳn không ai lạ khi tác động lên quả bom một lực thì sẽ khiến quả bom phát nổ. Thế nhưng qua bài học này, sách lại dạy trẻ hãy dũng cảm dùng cưa để cưa quả bom mà bất chấp sự nguy hiểm cho tính mạng của các em và của những người xung quanh!!! http://vietbao.vn/Giao-duc/Soc-voi-sach-ky-nang-day-hoc-sinh-cua-bom-de-the-hien-long-dung-cam/2147592482/202/

Thực tế đã cho thấy từ bài học “Bạn An dũng cảm” cưa quả bom “để được như Bạn Cường” vừa qua đã dũng cảm dùng đèn khò để cưa quả bom. Một hậu quả thiệt hại đau thương về người và tài sản của xã hội đã không được báo trước tại Hà Đông.

http://dantri.com.vn/xa-hoi/ai-chiu-trach-nhiem-trong-vu-no-kinh-hoang-o-ha-dong-20160322070633915.htm

Một thực tế về bài toán rợn người cũng phản ảnh sự giáo dục kỹ năng cho các em rất tệ hại, đó là bài toán như trong hình dưới đây.

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20120609/bai-toan-ron-nguoi/495819.html

Với cách giáo dục phản khoa học như thế này này đã đầu độc biết bao thế hệ các em trong những năm qua. Còn nhiều chuyện nữa nhưng để không làm phiền quý vị chỉ xin phép trích dẫn hai trường hợp điển hình này.

Tình trạng xuống cấp trầm trọng về kỹ năng sống, kể cá các em sinh viên cũng còn chưa được trang bị đào tạo bài bản như sinh viên ở các nước tiên tiến văn minh. Điều mà lẽ ra nhà nước cộng sản Việt Nam phải trang bị cho thế hệ trẻ mà con người là vấn đề “CHIẾN LƯỢC”.

Ngày 20/3/2016 vừa qua, thầy giáo Phạm Minh Hoàng có buổi trao đổi với các em sinh viên về “Kỹ năng mềm” tại quán cà phê ở địa chỉ 134/12/Cách mạng Tháng 8, phường 10, quận 3, Sài Gòn. Nhưng đã bị công an quận 3 bất chấp pháp luật xông vào sách nhiễu lớp học với lý do: “có thư tố cáo của dân phản ảnh thầy giáo Hòang và các sinh viên tụ tập để chống đối chính quyền, vì thầy Hoàng là đảng viên đảng Việt Tân!”. Và an ninh đã đánh đập các bạn trẻ (đánh gây đổ máu em Nguyễn Việt, khi em này đưa máy lên quay phim).

Các em đồng thanh yêu cầu công an làm việc với dân phải tuân thủ luật pháp: phải mặc sắc phục và biển tên cùng số hiệu tên họ. Nhưng người mặc thường phục đã đạp lên Luật pháp, trả lời các em: Bọn bay là cái gì mà tao phải mặc sắc phục?”. Một cách trả lời dân của những kẻ lưu manh, côn đồ! Thuộc cấp của ngài Trần Đại Quang!

Tiếp theo, họ cách ly thầy giáo Phạm Minh Hoàng để thẩm vấn nhiều giờ liền và đến tối cũng vẫn không cho các em ăn cơm. Sau đó thì họ tách các em ra đưa về nhiều phường để đánh đập và thẩm vấn riêng. Trong thẩm vấn, công an phường 3, Sài Gòn đã không tìm ra được bằng chứng nào là “thầy Hoàng và các em bàn bạc chống đối chính quyền” nên rạng sáng ngày hôm sau 21/3/2016 các em mới được trả về trong tình trạng thân hình bị đánh bầm dập.

Riêng thầy giáo Phạm Minh Hoàng bị gọi thẩm vấn sách nhiễu, họ đòi coi máy tính riêng của thầy. Cũng không tìm được bằng chứng nào về “chống đối chính quyền” như cáo buộc từ phía công an quận 3 đối với thầy Hoàng. Nhiều ngày sau đó thầy Hoàng bị mời làm việc và bắt phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng. Nhưng thầy Hoàng đã khước từ những sách nhiễu vi phạm pháp luật này.

Tôi đã gặp và xin được thầy giáo Phạm Minh Hoàng giải thích cụm từ “KỸ NĂNG MỀM” và nội dung của buổi trò chuyện với các em sinh viên. Được nghe thầy giải thích như sau:

Kỹ năng mềm bao hàm: kỹ năng sống. Kỹ năng giao tiếp. Kỹ năng làm việc nhóm. Hiến pháp Việt Nam và Lịch sử nước Việt Nam; nhằm giúp các em tự tin trong lĩnh vực mà các em khi bước vào cuộc sống. Tịnh không có “cái gọi là” chống đối chính quyền Việt Nam của thầy Phạm Minh Hoàng và các em sinh viên trong buổi gặp nhau tại quán cà phê ngày 20/3/2016.

Từ bản hiến pháp đầu tiên 1946 của chính quyền cộng sản Việt Nam đã ghi nhận, khẳng định các quyền phổ quát của con người: Quyền tự do hội họp, Quyền tự do ngôn luận, Quyền tự do đi lại cư trú, v.v và những điều này cũng đã được ghi nhận tiếp tục trong các bản Hiến pháp được sửa đổi sau này và bản Hiến pháp mới nhất 2013 của nhà nước Việt Nam.

Khi Việt Nam tham gia thành viên của Hội Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, Nhà nước CS VN đã tự nguyện cam kết tham gia Tuyên Ngôn Quốc Tế về Nhân Quyền của Liên Hợp Quốc năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, trong đó quyền tự do Lập hội, quyền tự do ngôn luận của cá nhân!

Việc gặp gỡ trao đổi với các em sinh viên ngày 20/3/2016 của thầy giáo Phạm Minh Hoàng với các em sinh viên hoàn toàn chính đáng và phù hợp với Luật pháp Việt Nam và chính công an quận 3 , Sài Gòn đã không tìm được chứng cứ cụ thể nào về “chống đối chính quyền” !

Việc trao đổi về “KỸ NĂNG MỀM” của thầy giáo Hoàng với các em sinh viên là một việc hữu ích, chính đáng không vi phạm pháp luật Việt Nam và được các bậc phụ huynh tin tưởng và hưởng ứng. Các em là hiền tài của đất nước, nguyên khí của quốc gia. Các em cần được bảo vệ và tôn trọng!

Việc thầy giáo Phạm Minh Hoàng là đảng viên đảng Việt Tân là chuyện riêng của thầy giáo Hoàng. Nó không liên quan gì đến “KĨ NĂNG MỀM” mà thầy đã trao đổi nhằm nâng cao dân trí cho các em. Xin công an quận 3, Sài Gòn đừng đánh đồng và tiếp tục vi phạm pháp luật, đánh đập con em chúng tôi như vừa qua, làm xấu đi một cách nghiêm trọng hình ảnh của nhà nước cộng sản Việt nam trên thế giới. Công an là cơ quan thực thi pháp luật cần phải biết thượng tôn pháp luật! Có lẽ việc “thượng tôn” pháp luật của công an với dân là thứ xa xỉ thật!

Kể cũng lạ, khi giàn khoan 981 của Trung Quốc vào đến tận cửa ngõ của Việt Nam thì không thấy bóng dáng ai xông ra đánh đuổi quân Trung quốc xâm lược. Ngư dân Việt Nam đánh cá trên vùng biển truyền thống của Việt Nam bị quân Trung Quốc bắn chìm tàu và ngư dân chết trên biển thì các chú còn đảng còn mình ẩn nấp ở đâu không thấy xông ra bảo vệ ngư dân? Chỉ giỏi đánh dân! Gặp giặc thì hèn!

Sài Gòn ngày 27/3/2016

N.T.H.L.

Tác giả gửi BVN

Ông nào nói chia tay cũng vậy thôi!

Ông nào nói chia tay cũng vậy thôi!

Blog RFA

VietTuSaiGon

29-3-2016

Dường như hầu hết các lãnh đạo Cộng sản Việt Nam khi về hưu hay sắp mất chức cũng có những hành động phá bĩnh, cũng nói quá một chút những việc mà lúc đương chức dù có biết, có đủ khả năng làm họ cũng không bao giờ nhắc đến. Cái sự nói quá kiểu như Nguyễn Sinh Hùng thì chép miệng nói rằng “với hàng trăm khoản thuế như vậy thì dân làm sao sống nổi!” hoặc “cơ quan hành chính của chúng ta làm việc quá rườm rà, thủ tục quá phức tạp”. Hay ông Nguyễn Tấn Dũng nói về vấn đề sống tử tế, nói về đặt để cấp quản lý chưa phù hợp.

Tất cả những vấn đề trên, khi đương chức các vị này không bao giờ nhắc đến. Bởi vì chính các vị là những người sai phạm nặng nhất. Ví dụ như đặt để người quản lý, đương nhiên không ai chấp nhận một anh y tá miệt vườn lên làm Thống đốc ngân hàng để rồi vừa làm vừa học cử nhân luật, sau đó lên làm Phó Thủ tướng, rồi Thủ tướng chính phủ. Nhưng cái qui trình lãnh đạo của ông Dũng là vậy. Nên chi lúc đương chức, nếu ông lên tiếng về vấn đề chuyên môn và quản lý thì ông sẽ là người mắc mướu đầu tiên.

Đó là chưa muốn nói đến vấn đề khác, trong đó có quản lý kinh tế. Người từng hô hào sẽ dùng quả đấm thép Vinashin và Vinaline để kéo đầu tàu kinh tế Việt Nam tăng tốc, sánh vai cùng các nước giàu trong khu vực chính là ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Và kết thúc câu chuyện Vinashin, Vinaline của ông Dũng là một đống nợ to như quả núi án ngay trước cái tên Việt Nam.

Tiếp đến, vấn đề xuất khẩu dầu, khai thác bauxite Tây Nguyên, rồi giải thể Viện nghiên cứu và phát triển IDS. Dường như mọi thứ ông làm đều có chung một kết quả là tạo cơ hội cho người Trung Quốc sang làm việc tại Việt Nam và đẩy kinh tế Việt Nam đi từ nợ nần này sang nợ nần khác.

Đương nhiên, lúc đó nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào kinh tế Trung Quốc và câu chuyện Hoàng Sa, Trường Sa đang ngày càng nóng lên nhưng ông Dũng vẫn không nhắc gì đến chuyện này. Thế rồi khi biết mình không trụ nổi trong bộ máy trung ương đảng, nói nôm na là rớt đài. Ông Dũng tuyên bố “phải đưa vụ việc Hoàng Sa, Trường Sa ra Tòa án quốc tế”. Nhưng đó chỉ là lời nói, chứ ông đâu còn làm Thủ tướng hay đâu còn quyền lực gì để mà thực hiện.

Nhìn chung, dường như ông lãnh đạo nào trước khi về vườn cũng có những câu nói hết sức ruột gan đối với dân tộc, quốc gia. Mà giá như lúc còn tại vị, ông chỉ cần nói đến một phần ba vấn đề thôi thì mọi chuyện đã tốt hơn nhiều. Cũng giống như ông Hùng hay ông Sang khi sắp về vườn thì lại nói về dân chủ, nói về quyền lợi của người dân, nói về nỗi lo của dân nghèo… Tất cả những kiểu nói chuyện này đều cho thấy các ông rất sợ hãi khi về hưu. Có hai lý do để các ông rất sợ hãi, đó là: Các ông quá giàu có nhưng lại không có đất dung thân và; Các ông đã làm tổn thương nhân dân nặng nề nên các ông luôn lo sợ bị trả thù.

Ở vấn đề thứ nhất, các ông không có đất dung thân. Chuyện này không riêng gì ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Đỗ Mười, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Sinh Hùng mà ngay cả cấp lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo huyện khi về hưu cũng chả ra thể thống gì. Các ông có thể giàu có, ngồi ghế dát vàng, nạm bạc, có thể có biệt thự này biệt thự nọ nhưng chẳng mấy người dân nào thèm chơi với các ông, thậm chí người ta nhắc đến các ông bằng thái độ dè bĩu, coi thường. Còn giới quan chức thì chắc chắn chẳng có ma nào ghé đến thăm các ông khi quyền lực đã thuộc về người khác, họ mãi bận xun xoe người mới lên nắm quyền lực.

Hơn nữa, nếu một người làm ăn chân chính, chỉ cần 20% tài sản của một trong số các ông thì họ có thể sang nước ngoài sống một cách thoải mái vô tư. Nhưng các ông thì khác, sang các nước tư bản thì các ông càng mau chết nếu như một ngày nào đó các ông bị phanh phui về tội lỗi, bị điều tra về tài sản và xã hội Việt Nam thay đổi. Chỉ có một số nước để các ông trú mà không bị coi khinh, đó là Trung Quốc, Bắc Triều Tiên hoặc các nước châu Phi. Nhưng chắc chắn đó không phải là những nước các ông muốn đến.

Trong khi đó, các phong trào dân quyền và mô hình xã hội dân sự đang ngày càng mạnh lên tại Việt Nam. Điều này dự báo một cơn bão trong tương lai. Và đến một lúc nào đó Việt Nam có một cuộc cách mạng dân chủ, cái giá mà các ông trả sẽ khó mà lường trước nếu các ông vẫn giữ nguyên thái độ hống hách, coi thường người dân. Chính vì vậy mà trước lức về hưu, hầu hết các quan chức Cộng sản đều tỏ ra luôn quan tâm, luôn trăn trở về vấn đề dân sinh, luôn nghĩ đến nhân dân.

Và người dân, dù hiểu theo cách nào thì cũng có một bộ phận không nhỏ hầu như chẳng biết tin ai và cũng chẳng biết phân tích thông tin nên rất dễ bị ma mị. Người ta dễ dàng nghe và tin vào những chủ trương, đường lối hoặc những lời “bộc bạch” đầy tâm huyết của các ông. Nhưng trên thực tế, các ông không dừng trò tiểu xảo của mình mà lại tiếp tục công kích đối thủ và lấy lòng dân bằng cách chọn đứng bên lề có nhân dân. Nhưng nhân dân giờ đã khôn hơn nhiều, ít nhất là họ thừa biết rằng suốt bốn mươi năm nói hươu nói vượn, lời nói của cán bộ Cộng sản không những không đáng tin cậy mà còn là sự bịp bợm.

Lần này, ông Dũng, ông Sang, ông Hùng nói lời chia tay với nhà nước, lời nói chia tay trước thời hạn của các ông được xem như là một vụ án chính trị vi hiến của những kẻ đang nắm quyền lực đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, đích nhắm bị chiếu nhiều nhất có lẽ là Nguyễn Phú Trọng, người mệnh danh lú mà gian trong các đời Tổng bí thư. Không những thế, gần đây ông Trọng còn có một biệt danh khác là “đít mọc rễ” để nói lên bản chất tham quyền cố vị của ông.

Và với không ít người, lời nói chia tay của Nguyễn Tấn Dũng như một sự mất mát một nhà lãnh đạo tài ba, một con người luôn hướng đến dân chủ. Đó là với số đông người không hiểu biết người ta thấy vậy. Chứ với người có hiểu biết, chẳng ai nghĩ vậy cả. Vì họ thừa hiểu ông từng làm gì và ông được hưởng lợi gì từ những việc làm mờ ám của ông cũng như các đồng đảng của ông.

Chính vì thấy được bản chất của sự việc nên hầu hết người ta lắc đầu, chẳng có gì tiếc nuối đối với cái điều gọi là “sự về vườn” của ông Dũng. Bởi trong một thể chết độc tài, man trá như Cộng sản xã hội chủ nghĩa, ông nào về vườn cũng vậy thôi, chẳng có gì là đáng tiếc. Người ta chỉ tiếc là tại sao các ông không về vườn hết luôn đi, hay tại sao chế độ độc tài tại Việt Nam này không về vườn, không cáo chung đi để dân tộc này còn có cơ hội mà ngóc đầu lên.

Và điều mà nhân dân mong mỏi không phải là ông Dũng, ông Trọng, ông Hùng về hưu, cũng như điều mà nhân dân thấy tiếc nuối cũng không phải là ông Dũng về hưu, ông Trọng ở lại, ông Hùng về hưu để rồi một bà chủ tịch quốc hội mới lại lên thay thế để điều khiển cái quốc hội bù nhìn hay ông Sang về hưu để một ông tướng công an lên làm chủ tịch nước, một kẻ có thành tích đao phủ đối với tương lai dân chủ Việt Nam. Mà vấn đề nhân dân mong mỏi nhất vẫn là cả chế độ độc tài được về hưu, được chết đúng qui trình của nó.

Một qui trình vốn đã được xếp đặt trong lịch sử phát triển thế giới. Sự chết đi của chế độ độc tài cộng sản Việt Nam ngay bây giờ cũng là đúng qui trình rồi. Bởi lẽ, tiền đề của qui trình cáo chung này chính là những cái chết của các tập đoàn nhà nước; Cái chết của tài nguyên môi trường, khoáng sản; Cái chết của tiền vốn vay ODA; Cái chết của ngân sách nhà nước mà tiền thân của nó là đồng thuế do nhân dân đóng góp mà có; Cái chết của đạo đức xã hội; Cái chết của giáo dục khiến nhiều thế hệ phải chết lâm sàn trong mất nhân tính, máu lạnh và hung ác, tham lam; Cái chết của lương tâm dân tộc biểu hiện qua nhiều mặt, trong đó gồm thái độ cúi luồn trước kẻ xâm lược và sự băng hoại, thiếu tính người, tình người trong ngành thầy thuốc… Và đặt biệt là cái chết về niềm tin còn sót lại trong nhân dân về đảng Cộng sản.

Cái chết hay sự cáo chung hay nói sang hơn một chút là sự về hưu của đảng Cộng sản mới là niềm mong mỏi của nhân dân. Lời nói chia tay của một thực thể đảng Cộng sản mới gây cảm động. Chứ ông Dũng hay ông Hùng, ông Sang có nói một ngàn lời chia tay chăng nữa thì đó cũng là câu chuyện (có gian lận, có đấu đá, có hạ sát nhau) giữa các ông với nhau. Điều này chẳng gây cảm động gì đối với nhân dân. Bởi, khi nhân dân đã ngán ngẩm, đã mệt mỏi thì ông nào nói lời chia tay cũng vậy mà thôi!

Con người và sự tử tế

Con người và sự tử tế

Hiệu Minh

29-3-2016

Sự tử tế nên bắt đầu từ tuổi thơ. Ảnh minh họa internet

Tôi không tin trời có mắt, nhưng sự tử tế luôn có ánh nhìn theo ta suốt cuộc đời. Sự tử tế được lan tỏa và nhân lên sẽ có một xã hội tử tế. Từ quan đến dân đều tử tế thì sẽ có quốc gia tử tế.

Sự tử tế mai một dần

Mới đây khi phát biểu từ nhiệm, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có nhắc đến sự tử tế. Ông khuyên 10 thành viên chính phủ về hưu kỳ này, trong đó có bản thân mình, là “ráng giữ gìn sức khỏe, làm công dân tốt, đảng viên tốt, ráng làm người tử tế, sống tử tế”.

Lãnh đạo tầm quốc gia hay tầm toàn cầu thì ngoài chuyện tử tế trong từng cá nhân, họ phải có thêm một tố chất quan trọng, đó là sự lan tỏa về sự tử tế của chính con người họ. Thể chế phải tạo ra môi trường pháp luật và đạo đức sao cho dân sống tử tế.

Nelson Mandela bị tù 27 năm do chống lại chế độ phân biệt chủng tộc Nam Phi. Sau khi ra tù lên làm tổng thống nhưng ông tha thứ cho kẻ giam mình vì muốn đất nước đoàn kết. Đó là sự tử tế tầm toàn cầu.

Lý Quang Diệu dù có bị mang tiếng độc tài nhưng ông giúp tạo ra thể chế mà mọi người đều được hưởng và đưa Singapore tiến lên hàng đầu thế giới. Đó là sự tử tế tầm quốc gia.

Người Việt từng trải qua nhiều cuộc chiến tranh tàn khốc kể từ ngàn năm nay, nếu không có sự tử tế của phần đông dân chúng thì hỏi rằng, làm sao vượt được nỗi can qua.

Những năm 1970 Hà Nội đi sơ tán vì máy bay Mỹ đánh phá, cha mẹ dán lên cửa tờ giấy dặn, nếu con (đi bộ đội) về phép qua nhà, chìa khóa để ở dưới cái thảm chùi chân. Đi ba tháng quay về, nhà cửa vẫn nguyên, người hàng xóm còn sang giúp tưới cây và cho con mèo ăn.

Thế mà hôm nay chỉ vì vài cen ti met đất lối đi chung người ta có thể đưa nhau ra tòa, giơ dao đòi xin tý tiết của hàng xóm “tối lửa tắt đèn có nhau”. Ngoài đường xe chen lấn, mạnh ai nấy đi, hội hoa xuân thì bẻ hoa xả rác, cửa quan thi nhau đút lót, sự tử tế cứ mai một dần.

Từ thế giới mạng đến ngoài đời

Sự tử tế của mỗi cá nhân rất quan trọng nhưng sự lan tỏa còn quan trọng gấp bội phần.

Tôi đọc trên internet một chuyện của tác giả vô danh kể về một anh tên là Bryan Anderson đang lái xe trên đường cao tốc thì gặp một bà cụ già đang đứng cạnh chiếc xe hơi Mercedes mới cứng bị xịt lốp và dáng vẻ lo lắng.

Anderson liền dừng xe và đi bộ lại chỗ cụ bà. Thấy một anh đầu óc bù xù, quần áo nhếch nhác, vẻ mặt hơi dữ, râu ria không cạo, cụ già hơi sợ. Biết ý, Anderson hỏi từ xa, cụ có cần giúp không, cháu tên là Bryan Anderson. Cụ đành gật đầu vì đã đợi cả tiếng trên cao tốc dưới nắng gắt mà không ai dừng lại giúp.

Chỉ trong mươi phút, chàng trai đã thay xong cái lốp bị hỏng dù quần áo bị bẩn lem luốc thêm,  tay anh bị kẹt sưng tấy.

Khi xong việc, cụ bà hỏi, anh lấy bao nhiêu, nhưng Anderson cười và nói “Cụ chẳng nợ chi cả. Nếu muốn trả tiền công, lần sau thấy ai cần sự trợ giúp thì cụ hãy giơ tay bàn tay thân ái. Và lúc đó cụ nghĩ đến cháu, thế là vui lắm rồi.”

Chiều tối, cụ già dừng ở một quán ăn gần đó và nhìn thấy một phụ nữ bụng chửa vượt mặt đang chạy bàn. Vẻ cô rất mệt, tóc tai bơ phờ, mồ hôi lấm tấm nhưng có nụ cười rất tươi và thân thiện. Bỗng cụ nhớ lại anh chàng Bryan Anderson vừa thay lốp xe giúp mình.

Cụ ăn xong và để lại một tờ 100 đô la kẹp vào hóa đơn. Khi người phụ nữ mang tiền đi thanh toán tại quầy thì cụ bà đã đứng dậy và đi ra cửa. Bà để lại mấy dòng trên tờ giấy ăn “Cô không phải trả lại tiền, của cô hết đó. Cô đừng nghĩ nợ nần gì tôi. Có ai đó chiều nay đã giúp tôi, bây giờ tôi giúp lại cô một chút. Nếu cô muốn trả nợ tôi thì hãy đừng để sự tử tế dừng lại ở nơi cô”. Người phụ nữ còn thấy vài tờ 100$ nữa kẹp trong tờ giấy ăn.

Tối đó chị về nhà sớm hơn thường lệ, nghĩ về cụ bà và số tiền mà cụ típ nhiều một cách kinh ngạc. Và nghĩ sao cụ lại có thể biết nhà cô đang cần số tiền đó vì sắp đến ngày sinh con, rất nhiều thứ phải mua. Và chồng cô cũng rất lo điều đó. Vì vậy cô rất vui sẽ báo tin này cho chồng. Cô chỉ nói nhỏ nhẹ “Bây giờ mọi việc ổn rồi. Em yêu anh, Bryan Anderson”.

Có thể câu chuyện trên được hư cấu về sự trùng lặp, người giúp cụ bà chính là chồng của người chạy bàn, và sự đền ơn đáp nghĩa quay lại đúng với người đã giúp cụ. Nhưng thông điệp về sự tử tế cần lan tỏa rất quan trọng.

Người viết bài này từng làm một việc tử tế trong đời. Những năm đầu 1980 ai có xe máy đi là một điều mơ ước. Tôi cũng có một chiếc Honda 67 cũ vẫn chạy ngon lành, nhưng đi xa hay bị… chết máy. Đôi lúc tôi dắt xe hỏng hàng chục km là thường nên thông cảm với những ai cùng cảnh ngộ.

Tôi nhớ khi đó trời lạnh, gió mùa đông bắc tràn về, đi từ Ninh Bình ra Hà Nội gió ngược rất mệt. Đang bon bon một mình một xe thì thấy một anh dắt xe chết máy, phía sau là một cụ già cùng đẩy xe giúp con, trông rất thương.

Đi chậm lại tôi hỏi, xe làm sao vậy? Anh có cần giúp không? Anh nói xe có lẽ chết máy, chưa biết bệnh gì. Tôi bảo, hay để tôi đưa cụ về Hà Nội trước cho. Anh mừng quá gật đầu lia lịa. Thôi thì trăm sự nhờ anh.

Cụ già vui lắm vì có người đèo về Hà Nội. Dọc đường mới biết cụ bị lòa, lúc xe hỏng cụ phải bám xe con mới đi được và cũng nhân đó đẩy xe giúp con. Tới Phú Xuyên ngồi nghỉ uống nước và hỏi địa chỉ, cụ bảo làng tôi gần Văn Điển, nhưng ngõ bao nhiêu thì không nhớ, vì hồi đó làm gì có số nhà.

Thế là hai ông con đi gần Văn Điển, vừa đi vừa dò hỏi làng cụ ở đâu. Dừng hỏi khoảng mươi lần, thì một bà bán nước bên đường bỗng reo lên, ôi, cụ đã về quê ra. Thế là biết cụ trong xóm đó.

Tôi đưa cụ vào và cả nhà cảm ơn rối rít, nhất định giữ tôi lại ăn cơm. Nhưng do bận, chẳng kịp ghi lại địa chỉ tên tuổi của cụ, cứ thế tôi về Hà Nội và nghĩ mình làm được một việc tử tế.

Hơn tháng sau tôi về quê thăm nhà. Bố tôi cũng bị lòa từ mấy năm trước cũng kể, mấy lần được người đi đường cho đi nhờ xe máy từ quốc lộ 1 về nhà cách đó mấy km và cụ chẳng hiểu đó là người làng nào. Giá như họ đưa lạc sang làng khác cũng không biết vì mắt có nhìn thấy gì đâu.

Sự tử tế luôn có ánh nhìn theo ta

Tôi không tin trời có mắt, nhưng sự tử tế luôn có ánh nhìn theo ta suốt cuộc đời. Sự tử tế được lan tỏa và nhân lên sẽ có một xã hội tử tế. Từ gia đình tới nhà trường rồi ra xã hội, từ quan đến dân đều tử tế thì có quốc gia tử tế.

Và khi quan tử tế về vườn thi dân vẫn nhớ mà không cần một lời nhắc nhở như Thủ tướng về vườn tâm sự.

Bài đăng trên VNN

HỌ LÀM VẬY ĐỂ LÀM GÌ? (03-2016)

HỌ LÀM VẬY ĐỂ LÀM GÌ? (03-2016)

6 năm trước, khi đọc thông tin về phiên tòa xét xử vụ án anh Lê Công Định và Trần Huỳnh Duy Thức, tôi đã đặt ra câu hỏi đó. Ngày ấy, vì chỉ đọc và tin một cách mù quáng vào thông tin một chiều từ báo chí “lề phải”, tôi vẫn nghĩ rằng họ là thành phần “phản động”, bị các “thế lực thù địch” lôi kéo, dụ dỗ. Không những thế, tôi còn ngây ngô đến mức cứ tin rằng mỗi người cứ học thật tốt, làm thật tốt công việc của mình là có thể góp phần xây dựng đất nước. Là một sinh viên Bách Khoa, ở cái tuổi hai mươi hừng hực lửa, tôi đã từng tin theo ngọn cờ Đoàn, cờ Đảng, mong góp sức xây dựng quê hương.

Thế nhưng, khi có dịp ra nước ngoài để tiếp tục con đường học vấn, tôi đã thấy được nhiều điều làm tôi thay đổi suy nghĩ. Giấc mơ đưa Việt Nam ngang tầm quốc tế vẫn cháy bỏng trong tôi, nhưng tôi nhận ra rằng cứ tin một cách mù quáng như thời sinh viên không phải là cách. Tôi bắt đầu nghi ngờ về những điều mình đã được rao giảng, những bài học bị bắt phải thuộc lòng. Tôi bắt đầu tìm hiểu “bọn phản động”, bắt đầu từ Facebook anh Lê Công Định. Tôi tìm đọc quyển “Con Đường Nào Cho Việt Nam” của anh Trần Huỳnh Duy Thức. Từ đó, tôi quen biết và follow nhiều “thế lực thù địch” khác. Càng đọc và suy ngẫm, tôi càng thấu hiểu tâm tư của họ dành cho đất nước. Những cô chú, anh chị thuộc “thành phần phản động” đã cho tôi hiểu ra rằng cái Việt Nam cần là một nền tự do dân chủ thật sự, từ đó trí thức mới có thể góp tiếng nói phản biện để xây dựng đất nước.

Sau phiên tòa xử blogger Anh Ba Sàm chiều nay, tôi lại nhớ đến câu hỏi ngày xưa, nhưng hôm nay tôi đã có câu trả lời: Họ làm thế vì một Việt Nam tươi đẹp hơn. Có thể hôm nay sẽ có nhiều người chỉ trích họ, như tôi đã từng chỉ trích anh Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức ngày xưa, nhưng tôi tin những việc họ làm không vô ích. Họ đã nhóm lên những ngọn lửa nhỏ cổ vũ cho tự do dân chủ. Những ngọn lửa nhỏ ấy không ít thì nhiều sẽ có tác động tích cực đến vài người, để một ngày nào đó tất cả mọi người cùng cất lên tiếng nói vì một Việt Nam tươi sáng hơn.

Đối với tôi, họ là những bông hoa thầm lặng mà có thể bây giờ, hay trăm năm sau vẫn bị vùi lấp và chưa thể tỏa hương. Tuy nhiên, tôi vẫn tin rằng trong tương lai không xa, những bông hoa ấy sẽ tỏa hương mãi mãi trong những trang sử tiếp theo của dân tộc Việt Nam.

Thật đáng mừng vì Việt Nam đã, đang và sẽ có nhiều hơn nữa những “thành phần phản động” như Anh Ba Sàm!

Hung Le

PHỤC SINH LÀ GÌ?

PHỤC SINH LÀ GÌ?

PHUC SINH

Phục Sinh là người chết sống lại, hay là sự sống lại từ cõi chết (chứ không phải luân hồi hay đầu thai kiếp khác).  GLGHCG điều 997 định nghĩa: “Sống lại là gì?  Trong sự chết, linh hồn lìa xa thân xác, xác con người ta sẽ hư nát trong khi linh hồn tới gặp Thiên Chúa và chờ đợi tới lúc tái hiệp nhất với thân xác được tôn vinh của mình.  Với sức Toàn năng của mình, Thiên Chúa sẽ vĩnh viễn trả lại sự sống bất diệt cho thân xác của chúng ta bằng cách kết hiệp chúng với linh hồn của chúng ta do quyền năng của Chúa Giêsu Phục Sinh.”

Công đồng Latêranô thứ tư (1215) dạy rằng khi Thiên Chúa trở lại lần thứ hai tất cả mọi người, dù đang ở trong địa ngục cũng sẽ đuợc sống lại cùng với thân xác của họ, để chịu sự phán xét của Thiên Chúa về những việc họ đã làm khi còn sống (lúc này chưa có tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm, đến 08-12-1854 mới có).  Theo ngôn ngữ của tuyên xưng đức tin trong Kinh Tin Kính thì sự sống lại được gọi là sự sống lại của thân xác, vì hai lý do.  Thứ nhất, linh hồn được phát xuất từ Thiên Chúa nên bất tử, do đó không thể gọi là sống lại; thứ hai, theo lạc thuyết mà Thánh Phao-lô đã chỉ trích: “Trong số những người đó có Hy-mê-nê và Phi-lê-tô.  Hai người này đã đi trệch đường chân lý, khi nói rằng sự phục sinh đã xảy ra rồi và như vậy họ phá đổ đức tin của một số người” (2Tm 2:17-18).  Lạc thuyết này cho rằng theo Thánh Kinh thì sự sống lại không phải là thân xác được sống lại, nhưng là sự sống lại của linh hồn từ sự chết trong tội, và linh hồn ấy được vào trong sự sống của ân sủng.  Chúng ta phải loại trừ lạc thuyết này, vì nó sai trật hoàn toàn với tín điều xác loài người ngày sau sống lại của Giáo Hội Công Giáo chúng ta.

Đối với Chúa Giêsu, Ngài có hai bản tính.  Dĩ nhiên với bản tính thần linh làm sao sự chết có thể đụng đến được.  Ngài sống lại vì bản tính, thân xác loài người của Ngài.  Chính thân xác loài người của Ngài sống lại là bảo đảm và bằng chứng rõ ràng cách tuyệt đối cho niềm tin của người Kitô hữu chúng ta. Ngài đã chứng tỏ có uy quyền trên mọi sự dữ, tội lỗi và kể cả tử thần.  Ngài sống lại và sau đó về trời, ngự bên hữu Thiên Chúa Cha, nghĩa là Ngài rất quyền uy và đã đem theo cả thân xác phàm trần lên Thiên quốc.  Trước kia Chúa phán “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3:13), nhưng nay thân xác phàm trần hèn hạ, ô uế của chúng ta cũng sẽ được diễm phúc tiến vào Thiên quốc, vì Ngài đã hứa: “… vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em.  Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14:2-3).

Vào thế kỷ 13, Thánh Tôma A-qui-nô (Tiến Sĩ Hội Thánh) được chỉ định để giải thích ý tưởng thần học của Kinh Tin Kính.  Căn cứ từ Thư Thứ I Corintô 15: 42-44 của Thánh Phaolô Tông Ðồ, Ngài đã nêu lên nhiều đặc tính sau khi sống lại.  Bốn trong số đó là:

1/ Không bị chi phối bởi cảm xúc (Impassibilitas): Không biết đau đớn; không cần những nhu cầu cho thể lý như ngủ nghỉ, lương thực.

2/ Sự trong suốt sáng láng (Claritas): Sự trong suốt sáng láng hoàn hảo của linh hồn được thể hiện trên những nét đặc trưng của thân xác.  (Có lẽ đây là lý do khiến các tông đồ không thể nhận ra Chúa ngay, đòi hỏi phải có thời gian mới quen mắt).

3/ Sự nhanh nhẹn (Agilitas): Có thể di chuyển nhanh như sự suy tưởng, nghĩa là nghĩ đến nơi nào là xuất hiện tại nơi đó tức thì.  Chúa Kitô đã đến hoặc đi trong tích tắc.

4/ Tính huyền ảo (Subtilitas): Có khả năng đi xuyên qua các vật thể cứng mà không để lại dấu vết.  Chỉ có Thiên Chúa mới biến đặc tính này thành phép lạ: Đó là Ngài có thể ăn uống, đụng chạm đến người khác bằng xuơng bằng thịt thật sự.

Nhân tiện xin nêu thêm một đặc điểm về tuổi tác khi sống lại.  Thánh Tôma-A-qui-nô viết: “Tất cả đều được sống lại ở độ tuổi hoàn hảo, lý tưởng, đó là tuổi ba mươi hai hoặc ba mươi ba.  Bởi vì những ai chưa đạt đến độ tuổi này, tức là chưa có những đặc tính hoàn hảo, lý tưởng của độ tuổi đó, và những người già cả thì đã bị mất đi những đặc tính này.  Do đó trẻ em và những người trẻ tuổi sẽ được bổ sung những đặc điểm họ thiếu, còn những người già cả sẽ được phục hồi những đặc tính đã mất: “Cho tới khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Ðức Kitô” (Eph 4:13).  Ðiều này có lẽ đã được chứng minh mỗi lần Ðức Mẹ hiện ra như ở Lộ Ðức, Fatima và các nơi khác v.v… đều được chứng thực là một phụ nữ trẻ, đẹp (khi Ðức Mẹ từ trần cũng đã già lắm, it ra cũng 60 hay 70 tuổi chứ không còn trẻ đẹp).

Tóm lại, chính Thần Khí của Thiên Chúa đã làm cho Đức Giêsu sống lại, thì cũng chính Thần Khí ấy sẽ làm cho chúng ta sống lại.  Và nếu Thiên Chúa đã đem cả thân xác nhân loại của Ngài vào Thiên quốc, thì chúng ta cũng tràn ngập hy vọng, hân hoan, chắc chắn sẽ được gặp và ở với Ngài trên Thiên quốc như Ngài đã hứa.

Sưu tầm

http://www.dccthaingoai.com

***************************************

Lạy Chúa Giêsu phục sinh,

Xin ban cho con sự sống của Chúa, sự sống làm đời con mãi mãi xanh tươi.

Xin ban cho con bình an của Chúa, bình an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời.

Xin ban cho con niềm vui của Chúa, niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn.

Xin ban cho con hy vọng của Chúa, hy vọng làm con lại hăng hái lên đường.

Xin ban cho con Thánh Thần của Chúa, Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con.

 

Anh Ba Sàm, cuộc chiến khai dân trí

Anh Ba Sàm, cuộc chiến khai dân trí

Kính Hòa, phóng viên RFA
2016-03-28

RFA

image-basam

Những người ủng hộ blogger Nguyễn Hữu Vinh đứng trước Tòa án Hà Nội ngày 23 tháng 3 năm 2016.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Tạp chí điểm blog do Kính Hòa thực hiện với phần trích lời trực tiếp của các blogger được thực hiện qua giọng đọc của các anh chị em ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do.

Hy vọng

Các blogger Việt Nam hướng mọi sự chú ý vào ngày 23 tháng Ba, ngày tòa án Hà nội mở phiên xét xử một người đồng nghiệp của họ, blogger Nguyễn Hữu Vinh, anh Ba Sàm.

Nhiều người thấy rằng đã có nhiều đổi thay theo chiều hướng tiến bộ trong thời gian qua, nhất là trong lĩnh vực thông tin truyền thông, cho nên người ta hy vọng rằng vụ án được cho là phạm nhiều sai trái này của cơ quan tố tụng sẽ có một kết thúc có hậu.

Blogger Cánh Cò viết trước phiên xử rằng anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh sẽ được trở về với gia đình.

Sáng ngày 23, trước khi phiên tòa diễn ra, blogger Nguyễn Anh Tuấn, một nhà hoạt động dân sự trẻ tuổi viết bài hồi tưởng những kỷ niệm của anh với trang thông tin Ba Sàm. Đối với Nguyễn Anh Tuấn con đường mà blogger Nguyễn Hữu Vinh lựa chọn là con đường của lương tâm, và anh hy vọng:

Anh Vinh đã lựa chọn theo một lương tâm như vậy. Chúng ta, bạn đọc thân thiết của anh, chúc anh – một nhà báo lương tâm – hôm nay quay trở về với gia đình bè bạn.

Và về với nước Việt mà anh luôn đau đáu muốn phá vòng nô lệ để giải phóng – một sự giải phóng đích thực, đến từ nhận thức của mỗi công dân được tiếp nhận thông tin tự do đa chiều.

Mong đợi của Nguyễn Anh Tuấn và nhiều blogger khác đã không thành sự thực, khi anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh bị xử 5 năm tù về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ để chống phá nhà nước.

Vụ án và xử án

Ông Nguyễn Hữu Vinh cùng một cộng sự bị bắt cách đây gần hai năm, trong một vụ án mà nhiều người cho là có rất nhiều sai phạm từ phía cơ quan tố tụng. Một trong những sai phạm quan trọng, theo luật sư Hà Huy Sơn, bào chữa cho ông Vinh thì cơ quan tố tụng đã bắt người trước khi đi tìm chứng cứ. Ngoài ra sau 5 lần điều tra, một lần hoãn xử án, thời gian của qui trình xử án cũng không được tôn trọng theo qui định của chính luật pháp Việt nam.

Một điểm khá đặc biệt của vụ án này là ông Nguyễn Hữu Vinh là một đảng viên cộng sản, lúc ông bị xử ông vẫn còn là đảng viên. Điều này là một sự trớ trêu vì theo chỉ thị 15 của đảng cộng sản đang độc quyền cai trị Việt nam thì cơ quan công an không được lập hồ sơ theo dõi ông Vinh. Blogger cùng tên, JB Nguyễn Hữu Vinh nhận xét rằng vì việc làm của anh Ba Sàm làm đảng nguy cơ bị bóc trần, lộ ra sự thật nên dù vướng phải chỉ thị 15 của chính mình, đảng cũng phải bắt Nguyễn Hữu Vinh.

Đã có rất nhiều người nhận ra, muốn vô hiệu hóa “chuyên chính vô sản” tại Việt Nam thì phải cung cấp đủ thông tin đúng cho đồng bào của mình. Thông tin là con đường duy nhất giúp thay đổi nhận thức.
– Bà Đinh Ngọc Thu

Phiên tòa Nguyễn Hữu Vinh được nhà nước Việt Nam tuyên bố là một phiên tòa công khai, nhưng lại được một lực lượng an ninh dày đặc ngăn chận không cho những người ủng hộ ông Vinh vào tham dự. Hơn thế nữa, những người đáng ra là nhân chứng tại tòa như blogger Đoan Trang lại bị cầm giữ trong đồn công an trong thời gian diễn ra phiên xử.

Blogger Đoan Trang là tác giả của một số bài viết đăng trên trang Ba Sàm, mà nhà cầm quyền dùng để kết tội ông Vinh.

Dấn thân phá vòng nô lệ

Ông Nguyễn Hữu Vinh sinh ra trong một gia đình cán bộ cộng sản cao cấp. Blogger Song Chi viết rằng ông Vinh có thể có một con đường công danh và sự nghiệp thăng tiến trong lòng chế độ cộng sản, nhưng ông đã chọn con đường khó khăn, con đường khai dân trí người Việt nam bằng tự do thông tin.

Bà Đinh Ngọc Thu, một cộng sự của Ông Nguyễn Hữu Vinh, viết rằng:

Đã có rất nhiều người nhận ra, muốn vô hiệu hóa “chuyên chính vô sản” tại Việt Nam thì phải cung cấp đủ thông tin đúng cho đồng bào của mình. Thông tin là con đường duy nhất giúp thay đổi nhận thức. Khi nhận thức đã thay đổi thì hành vi cũng sẽ thay đổi. Hình như “phá vòng nô lệ” phải khởi đầu từ đó.

Một blogger khác là Lê Sơn viết trên trang Dân Luận rằng trang Ba Sàm của ông Nguyễn Hữu Vinh đã khai mở tâm trí cho nhiều thanh niên Việt Nam trong thời gian qua, để họ không bị nhồi sọ, không bị nhuộm đen:

Một xã hội thiếu thốn sự thật thì ham muốn tự nhiên của con người là tìm kiếm sự thật.

Sự thật về xã hội Việt Nam từ trang blog anhbasam đến đâu thì hãy xem hàng triệu bộ não của tất cả các thành phần đánh giá đúng bản chất của nó. Tôi không nghĩ rằng ‘’những bộ óc lãnh đạo thiên tài’’ của đảng cộng sản lại qua mặt được hàng triệu người dân Việt Nam đau đáu vì hiện tình đất nước?.

Nếu đất nước Việt Nam không có tham nhũng. Nếu đất nước Việt Nam không bị Trung Quốc cộng sản xâm lược Biển Đông. Nếu đất nước Việt Nam thực sự có nhân quyền, dân chủ, cuộc sống người dân đầy đủ ấm no, không phải vay nợ thế giới, thì có thể những bài viết trên trang Anhbasam đã thực sự ‘’bôi nhọ nhà nước’’ do đảng cộng sản cai trị.

Tuy nhiên, những điều vừa nói trên tại Việt Nam đều được phủ định đã, đang, diễn ra một cách trầm trọng và có hệ thống.

Một bạn trẻ nói rằng ‘’nếu không có internet, không có basam, không có các blog tự do thì chắc chắn đầu óc tôi vẫn bị cộng sản nhồi sọ và nhuộm cho đen như đít nồi’’.

Cách dọn dẹp tàn dư của đám cháy là hãy cho nó cháy sạch sành sanh thành tro bụi.

ee3d1372-3c94-4d44-8e73-535c1c5409ba-400

Blogger Basàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự, bà Nguyễn Thị Minh Thúy, tại Tòa án Nhân dân Hà Nội ngày 23 tháng 3 năm 2016. AFP photo

Chẳng có ai bôi nhọ được đít nồi cả, vì nó đã đen sẵn rồi làm sao mà bôi đen được nữa. Dù vậy, người dân lên tiếng về các sai phạm nhũng nhiễu, về chủ quyền biển đảo, về sự tham ô hối lộ thì lại gán cho họ cái tội bôi nhọ nhà nước ?!

Một tác giả khác là Đỗ Trọng, từng là chuyên viên cao cấp trong chính quyền Việt nam, cho rằng việc làm của ông Nguyễn Hữu Vinh và cộng sự đáng lý ra phải được đảng cộng sản hàm ơn vì trang Ba Sàm đã cảnh tỉnh những sai lầm của họ. Đỗ Trọng viết trên trang Dân Luận:

Đảng cộng sản Việt Nam thường khoe những lời kiêu ngạo cộng sản “Đảng ta là chân lý, là văn minh, là trí tuệ”. Nếu đúng như vậy thì người khôn phải lấy những lời cảnh tỉnh để tự răn mình. Chỉ những kẻ đã mất trí mới đàn áp những người đã cho mình những lời cảnh tỉnh. Vì thế, thay vì bỏ tù ông Vinh và bà Thúy, đảng nên cảm ơn họ đã chỉ cho mình vết nhơ trên mặt để lau chùi cho sạch sẽ, hủy bỏ những lời cáo buộc họ ngày 23/3/2016 và trả tự do ngay cho họ.

Ông Vinh và bà Thúy thuộc những người có công lớn góp phần chống lại đà tha hóa bộ máy quyền lực ở Việt Nam, đòi đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam phải luật hóa và thực thi các quyền tự do dân chủ của người dân đã được Hiến pháp thừa nhận và góp phần thúc đẩy xu thế tất yếu lịch sử ra đời Xã hội dân sự ở Việt Nam. Chúng ta thành thực cảm ơn họ và cùng nhau lên tiếng đòi Chính quyền hủy bỏ bản án ngày 23/3/2016, trả tự do ngay cho ông Vinh và bà Thúy.

Sự dấn thân phá vòng nô lệ của Nguyễn Hữu Vinh cũng gây sự chú ý rất lớn bên ngoài Việt nam. Một dân biểu Đức là ông Martin Patzelt đích thân sang Việt nam với mong muốn tham dự phiên tòa. Phát biểu của ông về công lao của những blogger dấn thân như ông Nguyễn Hữu Vinh được nhiều trang blog chia sẻ:

Dùng kẻ ngu để vô hiệu hóa, tầm thường hóa trí thức – đó là chiến thuật mà chính quyền công an trị vẫn sử dụng suốt nửa thế kỷ nay.
– Nhà báo Đoan Trang

“Họ đã thay đổi thế giới. Và họ đã thực sự tranh đấu cho một đời sống mà ngày nay chúng ta đương nhiên coi đó là cuộc sống của chúng ta. Chúng ta nên ghi nhớ rằng chúng ta được thừa hưởng của những người đấu tranh dũng cảm mà trong quá khứ đã nghĩ ra, hình dung, khuyến khích và tranh đấu cho các quyền con người. Đoàn kết, liên đới là điều mà chúng ta nợ họ“.

Blogger Song Chi tiếp lời về những gì mà ông Nguyễn Hữu Vinh đã làm được, đồng thời cảnh báo những nguy hiểm của việc cản trở con đường dân chủ hóa đất nước,

Tôi nghĩ rằng tôi và tất cả những ai đã từng tìm đọc tin, bài trên trang anh Ba Sàm ngay từ khi trang này mới thành lập và vẫn tiếp tục đọc cho tới bây giờ, đều mang “nợ” anh Ba Sàm và những người biên tập viên, phụ tá… đã âm thầm làm việc để giữ cho trang anh Ba Sàm tồn tại. Nếu không có sự hy sinh của những người như anh Ba Sàm và rất nhiều người khác, trước anh, đồng thời với anh, và sau anh, đất nước này sẽ không bao giờ thay đổi.

Bởi thực tế đã chứng minh một chế độ độc tài do đảng cộng sản cầm quyền sẽ tồi tệ hơn, di hại cho đất nước, dân tộc hơn mọi chế độ độc tài khác nhiều, và cũng lì lợm, bảo thủ, thù dai, cố giữ quyền lực tới cùng nhất; nếu mỗi người trong chúng ta không cố gắng làm một điều gì đó về phần mình để góp phần thức tỉnh người dân và cả thức tỉnh nhà cầm quyền nữa, để thúc đầy quá trình tự do dân chủ hóa… thì sự thay đổi còn lâu mới đến trên đất nước này.

Bản án và bạo lực cách mạng

Sau khi bản án được công bố, Luật sư Lê Công Định, người từng là tù nhân chính trị bình luận rằng bản án chứng tỏ chế độ cộng sản là hết thuốc chữa, phải đào thải đi như một cái xác chết chứ không còn cách nào khác.

Blogger Trần Minh Nhật cho rằng bản án đó cũng như tất cả những bản án chính trị tại Việt Nam đều là những bản án cười ra nước mắt, chúng là thắng lợi của đảng cộng sản nhưng lại là những thất bại trước mắt của nhân loại.

Nhà báo blogger Đoan Trang nhận thấy một điều là trong phiên xử vụ án này, nhà cầm quyền đã dùng những người kém cỏi, một đặc điểm của chế độ công an trị,

Xử một người như Nguyễn Hữu Vinh, một trí thức, một blogger đi tiên phong trong việc dùng mạng Internet để khai dân trí, mà lại dùng những thẩm phán không sử dụng mạng và không biết đọc từ “wordpress”, không đọc nổi cả từ “gmail”. Điều đó khiến tất cả những lập luận của ông Vinh và các luật sư, dù sắc sảo, dù hùng biện đến đâu, cũng thành vô nghĩa trước những bộ mặt ngớ ngẩn. Bảo mật hai lớp, quyền quản trị, chứng cứ điện tử, dữ liệu điện tử, quyền tự do thông tin, quyền riêng tư trên mạng… tất cả những cái đó có nghĩa là gì vậy?

Dùng kẻ ngu để vô hiệu hóa, tầm thường hóa trí thức – đó là chiến thuật mà chính quyền công an trị vẫn sử dụng suốt nửa thế kỷ nay.

Chế độ công an trị mà Đoan Trang đề cập được những người cộng sản gọi là chuyên chính vô sản, và để thiết lập nền chuyên chính đó, những người cộng sản công khai tuyên bố là họ dùng bạo lực. Bà Đinh Ngọc Thu nhận xét về nền tảng bạo lực này của những người cộng sản:

“Bạo lực cách mạng” có thể giúp Đảng CSVN đạt được một số “thắng lợi” nhưng lịch sử từng cho thấy bạo lực không thể tạo ra phát triển và thịnh vượng. Đó là quy luật. Cứ ngẫm sẽ thấy, không ai có thể chống lại các quy luật.

Trang blog Nghiên cứu lịch sử cũng viết rằng lịch sử của tất cả các chế độ sử dụng bạo lực đều kết thúc một cách bi thảm.

Và sau cùng, sau khi bản án được công bố, giáo sư Trần Hữu Dũng, người thực hiện trang thông tin Việt-Studies, đặt câu hỏi một cách trào lộng rằng trong các vụ án chính trị tại Việt Nam, người ta cần đến luật sư để làm gì!

Ba Sao chi mộ

Ba Sao chi mộ

Phạm Thanh Nghiên

28-3-2016

Tấm bia thờ tù nhân chính trị chết ở trại Ba Sao do người Giám thị lập, hiện đang được đặt tại một ngôi Chùa ở miền Bắc. Ảnh: Phạm Thanh Nghiên

Xin kính cẩn nghiêng mình thắp nén tâm hương trước tấm bia không mộ của 626 người tù chính trị đã chết trong nhà tù Ba Sao, Nam Hà giai đoạn 1975-1988. Và rất nhiều những người tù chính trị khác đã chết oan khiên trong ngục tù cộng sản.

Lời đầu

Lẽ ra, câu chuyện này phải được chúng ta kể cho nhau nghe một cách trọn vẹn. Tiếc rằng, vì một số lý do ngoài ý muốn, “người trong cuộc” (1) đã ngừng sự giúp đỡ tôi nên việc thu thập, tìm hiểu thông tin đã bị gián đoạn.

Hơn nữa, xuất phát từ nhu cầu an toàn cá nhân của nhân chứng, nỗi lo về sự can thiệp hầu phá vỡ sự bình yên, tôn nghiêm của ngôi Chùa – nơi đặt tấm bia thờ 626 người tù chính trị, nên người viết đã phải rất cân nhắc khi chuyển tải thông tin đến bạn đọc. Nhưng tôi tin, câu chuyện dù không được kể trọn vẹn như mong muốn cũng sẽ khiến chúng ta thấy xót xa cho Thân phận quê hương. Một Thân phận quê hương được phản chiếu từ Thân phận của những người con Việt bị bức tử bằng cách này hay cách khác trong một giai đoạn khốc liệt, đau thương nhất của lịch sử.

Phần 1: Chuyến tàu vét

Sau khi cưỡng chiếm miền Nam, một trong những hành động đầu tiên mà chế độ cộng sản thực hiện là trả thù những người từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Hầu hết những cựu quân nhân cán chính, những viên chức từng làm việc trong chính quyền VNCH, hoặc bị nghi ngờ thuộc thành phần này đều bị đưa đi “cải tạo”, nhưng thực chất là chịu lưu đày tại các nhà tù trên khắp cả nước. Một trong những nơi khét tiếng tàn bạo ở miền Bắc, từng giam cầm hàng ngàn cựu quân nhân cán chính VNCH là nhà tù Ba Sao, Nam Hà.

Con tàu cuối cùng chở tù chính trị từ Nam ra Bắc có cái tên rất thơ mộng: Sông Hương. Rời Sài Gòn ngày 18/4/1977, sau 2 ngày 3 đêm (2), tàu cập bến Hải Phòng, tiếp tục hành trình lưu đày tù ngục của 1200 con người thuộc “bên thua cuộc”.

Chúng tôi, cứ hai người bị chung một chiếc còng. Vừa lên đất liền, hai bên đường đã có người dân Miền Bắc đợi sẵn. Họ ném gạch đá vào chúng tôi. Vừa ném, vừa chửi rủa, mạ lỵ rất thậm tệ. Nhiều người trong số chúng tôi bị ném trúng, vỡ đầu, chảy máu và thương tích”.

Đấy là lời kể của ông Nam, một trong những người tù bị đẩy ra Bắc trong chuyến tàu Sông Hương. Khi cộng sản cưỡng chiếm Miền Nam, ông Nam đang là thiếu úy quân đội VNCH. Chi tiết này cũng được Linh mục Nguyễn Hữu Lễ thuật lại trong cuốn hồi ký “Tôi phải sống”.

Từ Hải Phòng, số tù nhân này bị tách ra để chia rải rác cho các trại giam khác. Bài viết này xin chỉ đề cập tới những người tù ở Ba Sao, Nam Hà.

Không riêng gì những người tù Ba Sao, hầu như tất cả những người từng phục vụ trong chính quyền VNCH đều bị bắt sau biến cố 30/4/1975. Một số bị đưa ra Bắc ngay thời kỳ đầu. Nhiều người khác bị giam cầm ở miền Nam sau vài năm mới bị chuyển ra Bắc, rồi lại trở ngược vào Nam để tiếp tục cuộc đời lao tù cho đến ngày chết, hoặc trở về khi sức cùng lực cạn.

Nhà tù Ba Sao lại “rộng cửa” đón thêm vài trăm người từ chuyến tàu vét Sông Hương, nơi đang đọa đày hơn 600 tù VNCH đã bị chuyển đến từ những chuyến tàu trước đó.

Tôi có dịp hỏi chuyện linh mục Nguyễn Hữu Lễ (ngài hiện đang sống tại New Zealand) và một nhân chứng khác (sống tại Sài Gòn), thì nhà tù Ba Sao thời bấy giờ chia làm 4 khu giam giữ.

Khu A: Giam cầm các thành phần thuộc viên chức chính phủ, dân biểu, nghị sĩ, sĩ quan cao cấp như thượng nghị sĩ Huỳnh Văn Cao, bộ trưởng Đàm Sỹ Hiến, Bộ trưởng Trần Ngọc Oành, tướng Lê Minh Đảo, ông Văn Thành Cao, tướng Nhu, tướng Trần Văn Chơn, ông Nguyễn Văn Lộc…, hay lãnh tụ Quốc dân đảng là ông Vũ Hồng Khanh.

Khu B: Giam những quân nhân cán chính, những người bị buộc tội “phản động” như linh mục Nguyễn Hữu Lễ, linh mục Nguyễn Bình Tỉnh…

Khu C: Giam tù hình sự miền Bắc.

Khu Mễ: Giam cầm những người bệnh tật, đau yếu. Trong khu Mễ lại có một khu “Kiên giam”. Khu “Kiên giam” dành cho các tù nhân bị kỷ luật với điều kiện giam giữ vô cùng khắc nghiệt. Đã có rất nhiều tù nhân chết trong khi bị “kiên giam”.

Chúng tôi bị chuyển từ nhà tù miền Nam tới nhà tù Ba Sao miền Bắc trong chuyến tàu Sông Hương vào tháng 4/1977. Lúc ấy nhóm của tôi có 350 người ra đi từ trại Giaray tỉnh Xuân Lộc. Ở Ba Sao được 9 tháng, tôi bị chuyển lên trại Quyết Tiến còn gọi là “Cổng Trời”thuộc tỉnh Hà Giang, nằm sát ranh giới Trung Quốc. Một năm sau đó tôi về trại Thanh Cẩm , tỉnh Thanh Hoá . Mười năm sau, tức tháng 1/1987, tất cả tù chính trị miền Nam còn sót lại rải rác trong các trại miền Bắc được dồn hết về trại Ba Sao, Nam Hà, trong đó có tôi. Nhưng đội của tôi trước khi tôi rời Ba Sao ra đi nay đã chết quá phân nửa. 

Tết năm đó có một đợt tha tù, được tổ chức rất ồn ào. Đến tháng 5/1987, tất cả số tù nhân từ miền Nam còn sót lại, được chuyển hết về Nam để ở tù tiếp. Chỉ còn “sót lại” 3 người ở miền Bắc, đó là linh mục Nguyễn Bình Tỉnh, anh Nguyễn Đức Khuân và tôi. Hầu hết họ đã chết . Chết vì tuyệt vọng, đói rét, suy kiệt, tiêu chảy, kiết lỵ và nhiều bệnh khác”.

Tác giả Bút ký “Tôi Phải Sống” bùi ngùi kể lại.

Tôi rùng mình tự hỏi, có bao nhiêu tù nhân chính trị đã chết trong suốt thời kỳ từ 1975 trở về sau?

Bao nhiêu ở nhà tù Ba Sao? Bao nhiêu ở Cổng Trời, Thanh Hóa, Phú Yên, Xuân Lộc, Xuyên Mộc, Hàm Tân, Bố Lá…?

Bao nhiêu người đã bị bách hại bởi chính người đồng bào ruột thịt mang tên “cộng sản”, và chết lặng câm ở khắp các nhà tù từ Bắc-Trung-Nam trên dải đất đau thương này?

Không ai biết chính xác, nhưng số người phải bỏ xác ở khắp các nhà tù hẳn không phải là con số ít.

Một ngày nào đó, chế độ cộng sản sẽ phải trả lời những câu hỏi này trước quốc dân đồng bào. Cũng như trả lại sự thật lịch sử cho Dân tộc này.

(Còn tiếp)

Chú thích:

(1): Người trong cuộc: Những người đã giúp đỡ tôi có được thông tin để viết bài viết này. Tên các nhân vật trong bài đã được thay đổi.

(2) Hai ngày ba đêm: Dựa vào lời kể của nhân chứng và qua hồi ký “Tôi phải sống” của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ.

____

Mời xem thêm hồi ký Tôi Phải Sống của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ. Nguồn: Việt Nam Văn Hiến.