16 chữ vàng đánh tan “luận điệu xuyên tạc”?

16 chữ vàng đánh tan “luận điệu xuyên tạc”?

Lê Thiên

2-4-2016

Khi truyền thông CSVN báo tin Bộ trưởng Quốc phòng Trung cộng tới VN ngày 27-31/3/2016 “nhằm phản bác những luận điệu xuyên tạc sai trái về vướng mắc, bất đồng trong quan hệ Việt-Trung,” thì vào ngày 25/3/2016 chúng tôi cống hiến bạn đọc bài viết Mấy ghi nhận nhỏ về một bản tin của CSVN, phân tích cái mục tiêu hồ đồ ngang ngược của phía Trung Cộng cũng như thái độ hèn hạ đê tiện của phía CSVN đối với quan thầy của họ.

Rồi từ ngày 27 tới 31/3/2016 tất cả các báo lề đảng từ Quân Đội Nhân Dân tới Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Vietnamnet, VNExpress, Dân Trí…. đều như quên tiệt cái chuyện “phản bác những luận điệu xuyên tạc sai trái…” mà chỉ xoáy sâu vào 16 chữ vàng và 4 tốt!

16 Chữ Vàng

Cụ thể, bản tin ngày 27/03/2016 của Thông Tấn Xã CSVN (dưới nhan đề Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Đoàn đại biểu cấp cao Bộ Quốc phòng Trung Quốc) nêu rõ “Đồng chí Thường Vạn Toàn khẳng định….thực hiện nghiêm các thỏa thuận giữa lãnh đạo cao cấp hai Đảng… theo phương châm ‘16 chữ’ và tinh thần ‘4 tốt’. Tiếp theo sau, tới lượt “Phó Tham mưu trưởng Thích Kiến Quốc khẳng định…. TQ mong cùng với VN thực hiện 16 chữ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai…” theo nguyên văn bản tin của Vietnamnet ngày 28/03//2016 – Tướng TQ: ‘Anh em xa không bằng làng giềng gần’. Vietnamnet còn lưu ý độc giả: “Ông [Thích Kiến Quốc] nhấn mạnh” lời khẳng định trên của ông ta!

Thế là các báo đảng đua nhau xoáy vào 16 chữ vàng và 4 tốt bằng hàng loạt thành ngữ, sáo ngữ và công thức lừa mị quen thuộc, như “đoàn kết, hữu nghị, hòa bình, hợp tác, ổn định, phát triển, lòng tin…”

Chẳng hạn, bản tin ngày 27/3/2016 của VNExpress (lặp lại bản tin của TTXVNCS) nêu rằng “Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc thăm Việt Nam, bàn về Biển Đông”, nhưng họ nào có hề đề cập gì tới những điều thiết thực ở Biển Đông mà phía Trung Cộng gây ra cho Việt Nam và ngư dân Việt Nam, ngang nhiên gia tăng phức tạp trên Biển Đông từng ngày cho Việt Nam?

Biển Đông

Nói là “bàn về Biển Đông”, sao không chỉ ra cụ thể những vụ Trung Cộng công khai cướp bóc, đánh đắm tàu cá của người Việt Nam, gây thương vong và cả tử vong cho ngư dân Việt Nam, thậm chí hèn hạ cướp bóc tài sản trên tàu thuyền của Việt Nam, hành xử côn đồ kiểu hải tặc độc ác? mà chỉ nói chung chung “nhất trí quân đội hai nước phải kiềm chế, kiểm soát tốt tình hình, không đe dọa sử dụng vũ lực, không để xảy ra xung đột, cùng giữ gìn hòa bình, ổn định hợp tác…” ?

Người dân Việt Nam có lạ gì miệng lưỡi quân Trung Cộng, luôn lớn tiếng tự cho mình “hết sức tự kiềm chế, kiểm soát tốt tình hình…” nhưng đồng thời lại ồ ạt chuyển vũ khí và các công cụ chiến tranh khác tới Hoàng Sa, Trường Sa, lại còn cho đó là “hành vi tự vệ”, đâu có “đe dọa sử dụng vũ lực” với ai!

“Trung Quốc-Việt Nam hợp tác bàn về Biển Đông”?

Vậy, thử hỏi có bàn hay không việc Cục Hải sự của Trung Cộng thông báo đặt giàn khoan Hải Dương 943 tại khu vực Biển Đông trong phạm vi lãnh hải Việt Nam từ ngày 25/4 đến 31/4/2016!

Có bàn hay không việc Cục Hải sự ấy của Tàu Cộng cảnh báo tàu thuyền “nước ngoài” không đi lại trong phạm vi bán kính 1 hải lý (1,85 km)?

Có bàn hay không “việc Trung Cộng liên tục tiến hành xây dựng ở Biển Đông” cũng như “việc Trung Cộng xây đường băng 3.500 m ở Hoàng Sa”?

Điều này khiến Dương Danh Dy, cựu Tổng lãnh sự CSVN tại Trung Cộng, không thể không lên tiếng với BBC ngày 28/3/2016 (qua bài TQ muốn làm dịu quan hệ với VN), cảnh báo rằng: “Các báo trong nước khi viết về quan hệ Việt – Trung thì lúc nào cũng nhấn mạnh ‘hữu nghị, hòa hảo’, nhưng sự thực có như thế đâu?”

Ông Dương Danh Dy mạnh mẽ cảnh báo: “Cứ tin Trung Quốc là chết!”

Ông Dương Danh Dy còn cho biết: “Khi có tin Bắc Kinh điều giàn khoan Hải Dương đến Biển Đông (đồng thời với sự hiện diện của Bộ Trưởng Quốc phòng TC tại VN) thì rõ là họ vẫn chơi trò ‘hai mặt.’”

Báo Giáo Dục Việt Nam ngày 28/3/2016, trong bài 7 nỗi lo lớn của dân tộc cũng đã đặt ra vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. 7 nỗi lo lớn của dân tộc là do đại biếu QHCS Võ Thị Dung đưa ra. Theo bà Dung, nỗi lo thứ nhất và lớn nhất của dân tộc VN là nỗi lo về ngoại xâm: “Trung Quốc đã ngang nhiên xâm chiếm biển đảo của nước ta, trước đây là quần đảo Hoàng Sa, nay là một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa”. Bà Dung nói: “Đảng và Nhà nước đã có một số chủ trương đấu tranh kiên quyết!” Chúng ta có quyền không tin về điều này. Cũng vậy, chúng ta chắc chắn không ai tin vào chuyện “Đảng và Nhà nước kiên trì bằng biện pháp hòa bình”. Toàn là đánh gió! Nhưng chuyện “họ [TC] càng ngày càng lấn tới” thì là điều có thật! Và đó mới thực sự là “nỗi lo lớn cho đại sự quốc gia.”

Báo Giáo Dục Việt Nam còn đưa ra nhận xét của ông nghị Dương Trung Quốc: “Làm sao cho biển không còn gợn sóng nữa, làm sao cho chúng ta bảo vệ được chủ quyền đất nước. Trên lĩnh vực này tôi thấy Quốc hội qua ý kiến của người dân là chưa hài lòng.” Là thành viên của cái gọi là Quốc Hội dưới chính thể CS, ông Dương Trung Quốc tự đỡ đòn và đỡ đòn cho cơ chế của ông. Người dân không phải chỉ “chưa hài lòng”! Người dân căm hận và hết sức bất bình về cách ứng xử ngậm miệng ăn tiền của các đại biểu quốc hội CSVN chứ không phải chỉ là “chưa hài lòng” thôi đâu!

Trở lại chuyện “tàu lạ” đâm chìm tàu thuyền của ngư dân Việt Nam. Chuyện ấy đâu là chuyện mới xảy ra! Hai từ “tàu lạ” đã xuất hiện từ lâu, khiến người dân ai cũng rõ “lạ” mà không lạ!

Qua bài ‘Tàu lạ’ giết ngư dân…’ ngày 27-3-2016 trên Blog Anh Ba Sàm, Ts Phạm Chí Dũng lại đưa ra chuyện “tàu lạ” đánh hạ tàu cá ngư dân Việt Nam. Ông Dũng than thở: “Ngoài khơi Biển Đông, ‘tàu lạ’ vẫn ung dung tấn công và bắn giết ngư dân Việt. Trong đất liền, giới quan chức bám bờ vẫn hảo hảo chén thù chén tạc với nhau” và với cả bọn quan tướng Hán triều!

Cuối bài, Phạm Chí Dũng báo động: “Tương lai rất cận kề là hàng loạt vụ khiêu khích và có thể cả tấn công của ‘tàu lạ’ sẽ liên tiếp xảy ra. Tương lai hãi hùng không kém là còn nhiều mạng sống của ngư dân sẽ được bạn vàng tính sổ.” Rồi ông Dũng đặt ngay câu hỏi: “Ai sẽ phải chịu trách nhiệm về những cái tang ấy?” Còn ai nữa, thưa Ts Phạm Chí dũng? Nhưng rồi bọn thủ ác cũng lũ a dua vẫn bình chân như vại!

Cam Ranh trong nội vi Đường Lưỡi Bò

Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, Trung Cộng đã đánh chiếm, cướp đoạt sau khi gây đổ máu hàng trăm sinh linh vô tội! Chẳng thấy có câu nào, lời nào từ phía CSVN đấu tranh với kẻ thù. Đã vậy, người ta còn tự nhận mình “chủ động mời tàu TQ thăm cảng Cam Ranh” (theo Vietnamnet ngày 29/3/2016). Đây, nguyên văn câu nói của tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng CSVN: Chúng ta chủ động mời tàu hải quân TQ thăm các cảng VN, trong đó có cảng Cam Ranh, hưởng các dịch vụ ở đó…”

Hoàng Sa nhìn vào Cam Ranh! Chết rồi! Trúng kế chiến lược Lưỡi Bò Đại Hán rồi! Câu hỏi Việt Nam sẽ đi về đâu giờ đã có câu trả lời!

Năm ngoái, Nga xâm lược Crimea của Ukraine. Cuộc xâm chiếm trái phép này được truyền thông CSVN và cả một ông tướng – tướng Lê Văn Cương – biện hộ, tán dương và cổ vũ mạnh mẽ khiến chúng tôi viết bài “Bài học Ukraina – Nước ta trước họa Tàu Nga”. Xin trích lại mấy đoạn liên quan tới Trung Cộng với Cam Ranh như sau đây:

“Nếu với CSVN, Trung Quốc được tôn vinh là ‘người anh em thắm thiết môi liền môi’, thì Nga cũng được tung hô là người ‘ân nhân vĩ đại’ mà Việt Nam có ‘nghĩa vụ’ phải ‘đáp đền’ và đáp đền một cách cụ thể xứng đáng: Cảng Cam Ranh

“Câu hỏi đặt ra ở đây một lần nữa: Nếu trong nước nổ ra một biến động bất thường, như một cuộc biểu tình đòi hỏi thay đổi nhân sự chẳng hạn, thì nhà cầm quyền CSVN sẽ làm gì nếu phía Nga và Tàu viện cớ ‘bảo vệ lợi ích hợp pháp’ của người Nga, người Tàu tại VN như là một hành động “công khai và đúng luật”, dứt khoát đó “không phải là hành động ‘gây sự’” để đưa quân tới những điểm nóng?

“Ấy là chúng tôi chưa bàn tới việc Trung Cộng hay Nga Cộng đã cài sẵn tình báo, ngụy tạo một biến động nào đó để chơi trò tầm ăn dâu lấn đất trên khắp đất nước Việt Nam!” 

Phản bác những luận điệu xuyên tạc?

Trước khi Thường Vạn Toàn đến VN, người ta loan báo Toàn sang VN là “nhằm phản bác những luận điệu xuyên tạc… Khi Toàn đặt chân lên VN thì cái mục tiêu phản bác ấy bỗng dưng không còn được truyền thông CSVN quảng bá tung hô nữa. Người dân VN tưởng đâu mục tiêu kia đã bị gạt qua một bên để hai Đảng đi sâu vào chuyện Đảng sự to lớn hơn. Nhưng không! Không thể nào “mất cảnh giác” với những “luận điệu xuyên tạc”, việc Đảng sự sẽ hỏng bét.

Vậy thì phản bác những luận điệu xuyên tạcbằng cách nào? Bắt bớ, hành hạ, giam tù và kêu án nhiều năm luôn là thượng sách đối với CS! Vừa đẹp lòng đàn anh vừa trấn áp được “dư luận xấu” xuyên tạc mối tình thắm thiết giữa hai đảng anh em!

Hệ quả của toan tính trên là Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự, cô Nguyễn Minh Thúy trở thành vật hiến tế đầu tiên! Hai người đấu tranh cho Dân chủ – Dân quyền này bị ra tòa, ngày 23/4/2016, chỉ vài ngày trước ngày viên tướng Bộ trưởng Quốc phòng TC đến Việt Nam. Nguyễn Hữu Vinh lãnh 5 năm tù. Nguyễn Minh Thúy 3 năm!

Rồi đến Blogger Nguyễn Ngọc Già, tức cựu ký giả Nguyễn Đình Ngọc của đài truyền hình CSVN, bị đưa ra Tòa ngày 30/3/2016 và cũng chịu mức án cao: 4 năm tù về tội “đăng tin xuyên tạc, biên soạn, phát tán nhiều bài viết có nội dung chống chính quyền, xúc phạm uy tính, danh dự lãnh đạo đảng”.

Cùng ngày 30/3/2016, ba phụ nữ dân oan tranh đấu cho chủ quyền đất đai lãnh án nặng với cáo buộc chống phá nhà nước”. Bà Ngô Thị Minh Ước 4 năm tù; bà Nguyễn Thị Trí và Nguyễn Thị Bé Hai lãnh mỗi người 3 năm tù.

Như vậy, để đón tiếp quan chức Tàu Cộng, CSVN kết án 6 người dân, gồm 3 người mỗi người án tù 4 năm, cùng với 3 người khác mỗi người chịu án 3 năm. Tổng cộng 21 năm tù cho 6 dân đen thấp cổ bé miệng Việt Nam. Đúng là 21 quả đại bác chào mừng đội quân Cộng đảng đàn anh đến VN mở rộng tay ban phát lại 16 chữ vàng và 4 tốt hữu hảo mà đám đồng chí đàn em vốn đã từng khom lưng cúi đầu đón nhận, nhưng chưa thực hiện đến nơi đến chốn, khiến Hán triều xốn xang, phải thân hành đi đến Việt Nam truyền lại bài học!

Quyền lực và trách nhiệm

Quyền lực và trách nhiệm

Khi khẳng định Đảng Cộng sản là người lãnh đạo duy nhất đất nước và dân tộc, và đưa vào điều 4 của hiến pháp nhằm hợp pháp hoá quyền lãnh đạo ấy, thì đồng thời cũng phải hiểu trách nhiệm mà mình gánh vác nặng nề như thế nào? Trách nhiệm cao nhất là giữ nguyên vẹn đất nước mà tiền nhân trải qua hàng ngàn năm vun đắp bằng máu xương và công sức to lớn của lớp lớp người đi trước ! Không tội nào lớn hơn tội để mất nước!

____

Hoàng Lại Giang

1-4-2016

Ảnh minh họa. Nguồn internet

Cho đến hôm nay vẫn còn có người qui cho Nguyễn Ánh (vua GIA LONG) bán nước! Những tư liệu mà tôi tìm được suốt 50 năm qua thì cái định đề trên không có chỗ đứng cho sự thực lịch sử. Ngược lại vua GIA LONG triều NGUYỄN và chính quyền Pháp đã để lại cho chúng ta một đất nước hoàn chỉnh từ ải Nam Quan cho tới Cà Mau, từ biển đảo Hoàng Sa đến Trường Sa với đầy đủ những tư liệu chính xác mà hôm nay người phát ngôn bộ ngoại giao ta vẫn nhắc đi nhắc lại với giặc Tàu và thế giới về chủ quyền biển đảo không thể chối cãi được!

Biến công ơn thành tội đồ đấy không phải là tính cách của những người có văn hóa. Văn hóa của người Việt là ăn quả nhớ người trồng câyUống nước nhớ nguồn!

Hơn 600 năm trước Nguyễn Phi Khanh bị quân Minh bắt giải sang Tàu. Hai  anh em Nguyễn Trãi đi cùng cha. Đến Ải Nam quan Nguyễn Phi Khanh dừng lại  bảo Nguyễn Trãi quay về Thăng Long nuôi chí diệt giặc mới là làm tròn đại hiếu.

Hồi còn trẻ, thế hệ  tôi đã từng đến Ải Nam Quan, thác Bản Dốc! Nhưng bây giờ thì cái gọi là Hữu Nghị Quan ấy còn đâu nữa? Thác chính của bản Giốc hùng vĩ và thơ mộng là vậy, còn đâu nữa?

Tại sao đang là của ta từ các bản đồ của  triều Nguyễn và chính quyền Pháp có đầy đủ thác chính Bản Giốc, Ải Nam Quan… lại trở thành của Tàu  trong chế độ xã hội chủ nghĩa của ta?

Dù có tính theo cách gì thì vẫn không thuyết phục được lòng dân! Ông cha chúng ta xây dựng đất nước hàng nghìn năm, không phải tự nhiên… mà vào tay con cháu đại Hán! Đấy là món nợ mà hôm nay chúng ta phải trả lời trước lịch sử.

Rồi Trường Sa, Hoàng Sa? Triều Nguyễn còn lưu lại đầy đủ (dù thực dân Pháp có chiếm đất nước ta thì họ vẫn không đánh mất một tấc đất, một hòn đảo nhỏ nào của nước ta).

Khi đất nước chia đôi theo hiệp định Giơ-ne-vơ thì Hoàng Sa thuộc chính quyền Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn đã giữ Hoàng Sa với trách nhiệm rất cao. Chỉ sau hiệp định Paris được kí kết, người Mỹ chấp nhận rút quân khỏi miền Nam Việt Nam thì quân Tàu mới thừa cơ cuộc nội chiến Việt Nam đang căng thẳng, dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974. 74 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hi sinh anh dũng, đấy là sự hi sinh anh dũng đáng được tôn vinh và ghi vào lịch sử dân tộc, đáng dựng bia, tạc tượng. Không làm được điều đó là đồng loã với quân cướp nước, có tội với lịch sử. Tôi không đưa ra đây những phát ngôn mang nội hàm bán nước của một số người. Việc này văn học dân gian sẽ … khắc bia vào lòng dân tộc với những thái độ dè dặt, có phần khiếp nhược của một số nhà lãnh đạo hôm nay.

Nhớ lại sau việc « chống lưng » cho bọn Ponpot đánh phá, giết hại bao dân thường của ta ở biên giới Tây Nam, năm 1979 giặc Tàu lại đem quân qua đánh chiếm 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước ta. Bao nhiêu dân thường đã chết một cách thảm thương, bao nhiêu chiến sĩ của ta đã ngã xuống! Tội ác này: Trời không dung Đất không tha! Vậy mà sau 30 năm một tấm bia tưởng niệm cũng không có. Ai nghĩ nó sẽ phai nhạt trong lòng dân, người ấy nhầm. Ngược lại, lòng dân sẽ càng bức xúc theo năm tháng về sự xúc phạm trái với đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam, của nền văn hiến nghìn năm của dân tộc!

Năm 1988 bọn hải tặc Trung Quốc lại dùng sức mạnh quân sự ngang nhiên chiếm hàng loạt biển đảo của ta ở Trường Sa!

Và sau đó ai cũng biết chúng kéo giàn khoan 981 cùng hàng loạt tàu hộ tống vào thềm lục địa của nước ta để khoan thăm dò dầu khí!

Cho đến nay thì các đảo chúng chiếm được của ta đã là sân bay, cầu cảng, dàn ra đa và kho chứa đầy vũ khí đã được cấp tập chuyển ra!

Thứ trưởng bộ thông tin truyền thông Việt Nam Trương Minh Tuấn đã dẫn một đoàn ra Trường Sa. Và ông ta đã trực tiếp «chứng kiến hoạt động xâm lấn rầm rộ của Trung Quốc».

Rõ ràng đất nước ta đang từ từ rơi vào tay giặc Trung Quốc!!! Vậy mà có nhà lãnh đạo còn lo lắng về ‘mối quan hệ giữa hai nước, hai dân tộc’ xấu đi, thậm chí có nhà lãnh đạo còn khẳng định mối quan hệ giữa hai nước, hai dân tộc là mối quan hệ truyền thống, môi răng, cần phải giữ gìn. Tôi nghĩ những nhà lãnh đạo ấy cố tình né tránh một sự thật lịch sử: Âm mưu sâu xa của Trung Quốc là biến Việt Nam ta thành chư hầu, thành phiên thuộc của chúng như Nội Mông! Duy Ngô Nhĩ!!!

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh kiên cường, bất khuất hàng nghìn năm, trước giặc phương Bắc. Với giặc phương Tây lịch sử chỉ ghi có 80 năm mà thôi.

Cái gọi là ý thức hệ, là đồng chí, anh em, 16 chữ, 4 tốt, đại cục, tiểu cục chỉ là cái ‘bẫy’ cho những người nhẹ dạ cả tin và ảo tưởng! Ý đồ xâm lược sâu xa của con cháu nhà đại Hán đã có từ trong huyết quản của chúng, đừng hòng có sự thay máu. Cả nhân loại hôm qua và hôm nay đã biết rất rõ tâm địa của chúng. Không lý gì những nhà lãnh đạo của ta hôm nay không biết!

Tôi rất buồn khi vị bộ trưởng Văn phòng Chính phủ ta lại tin tưởng sẽ dùng biện pháp trao đổi trên cơ sở tôn trọng công ước quốc tế thì kẻ cướp biển đảo của ta sẽ nhận ra lẽ phải. Một sự tin tưởng không thực tế, một sự ấu trĩ cố tình, nếu không muốn nói là đánh lừa công luận đang sôi sục căm hờn!

Lịch sử cho thấy, chưa bao giờ ta mạnh hơn Trung Quốc! Nhưng lịch sử cũng chứng minh chưa bao giờ ta chịu thần phục Trung Quốc!

Từ đầu thế kỷ 11, Tống Thần Tôn lên ngôi, chấp nhận lời thỉnh nguyện của tể tướng Vương An Thạch, đem quân qua đánh Việt Nam. Chúng cho xây thành đắp lũy ở châu Ung, châu Liêm, châu Khâm (Ngày nay là Quảng Đông và Quảng Tây). Lý Thường Kiệt được triều thần ủng hộ, đã chặn ngay ý đồ xâm lược của chúng trên đất của chúng. Lần thứ hai Lý Thường Kiệt đánh tan tác quân Tống trên sông Như Nguyệt! Cùng với sự thất bại của biến pháp, hai trận thua đau trước Lý Thường Kiệt, Tống triều buộc phải cho tể tướng họ Vương về vườn! Vua tôi nhà Trần ba lần đánh tan quân Nguyên Mông! Và gần đây nhất là 29 vạn quân Thanh đã tan tác, bỏ cả ấn tín tranh nhau qua cầu phao, chạy về nước! Gò Đống Đa là nấm mồ lớn nhất nước Nam vẫn còn đó, cùng năm tháng nhắc nhở người Việt về niềm tự hào dân tộc, và nhắc nhở giặc phương Bắc nỗi nhục của kẻ nuôi mộng bá quyền!

Vua Trần Nhân Tông đã từng nói, ai lơ là để mất dù là một tấc đất của tiền nhân để lại, kẻ đó phải bị chém! Thời hiện đại chúng ta đã để giặc phương Bắc cướp đi bao nhiêu đất đai, biển đảo chưa thấy ai bị chém cả? Câu hỏi giành cho hậu thế.

Đến lúc phải xóa cho được câu đã thành văn học dân gian: ‘Hèn với giặc, ác với dân’ ở thời đương đại. Câu đó xuất phát từ đâu ? Xin thưa từ thái độ mềm mỏng đến nhu nhược trước nạn xâm lăng phương Bắc bằng cách dùng cả một lực lượng công an đồ sộ đàn áp những người yêu nước biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược! Hành động ấy đồng nghĩa với việc thông đồng với giặc triệt tiêu những lực lượng yêu nước chống xâm lăng.

Không phải ngẫu nhiên mà một cháu bé mới tròn 18 tuổi đã dám lấy máu mình viết lên 2 tấm vải 2 dòng chữ bày tỏ một thái độ thiếu cương quyết của chính quyền và hành động hung hăng ngang ngược, lật lọng của kẻ cướp nước. Cháu ấy là Nguyễn Phương Uyên, con một gia đình nghèo khó ở Bình Thuận. Tôi không nghĩ cháu nông nổi! Suy nghĩ và hành động của Phương Quyên là sự cô đúc tinh thần yêu nước và căm thù giặc xâm lược, truyền thống của dân tộc được đúc kết qua hàng ngàn năm giữ nước. Đó cũng là bản lĩnh, là trí tuệ: thà chết vinh hơn sống nhục!

Cũng có nhà lãnh đạo hùng hồn trước việc Trung Quốc cướp Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam rằng: Đời ta không đòi được thì đời con cháu chúng ta sẽ đòi. Tôi nghĩ đấy là một thái độ thiếu trách nhiệm. Vì tình hữu nghị, vì ý thức hệ, vì 16 chữ, 4 tốt giả dối, lừa gạt của kẻ thù hôm nay … mà mơ hồ sẽ ngồi lại đối thoại với nhau để hy vọng đòi lại biển đảo đã để mất là một ảo tưởng nếu không nói là tránh né và dồn trách nhiệm cho con cháu! Đấy không phải là hành động của bậc cha anh mà chính là sự khiếp nhược trước kẻ thù, mới hôm qua đã hết lòng « giúp » ta « giải phóng dân tộc ».

Gần 80 năm của cuộc đời, tôi chưa nghe ai gọi giặc cướp nước mình là bạn, là đồng chí!

Không ít lần chúng ta tuyên bố: Việt Nam là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa. Chúng ta đã đem triệu triệu sinh mạng của dân tộc giữ vững cái tiền đồn ấy để cho Liên Xô và Trung Quốc rảnh tay xây dựng đất nước họ. Thực chất chúng ta chiến đấu giành lại non sông gấm vóc ta, nhưng cũng là giữ thành trì chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam Châu Á – Là người Việt Nam hôm nay ai không thấy ẩn sau sự giúp đỡ nhiệt tình kia mang nội hàm việc bảo vệ thành trì chính họ!

Năm 1989-1990, hệ thống chủ nghĩa xã hội ấy sụp đổ trên chính quê hương của Mác, người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản, và Lênin, người thực hiện thành công chủ nghĩa cộng sản ở Nga, người Việt Nam vỡ nhẽ ra, cái gọi là chủ nghĩa xã hội ấy đã bị thực tiễn đào thải. Một học thuyết đã không được nhân dân chấp nhận, đấy là học thuyết ảo. Nếu còn một vài nước vẫn mang tên cái học thuyết ảo kia, thì không phải đấy là chế độ được sự đồng tình của nhân dân, mà nó được bảo vệ bởi họng súng và lưỡi lê của nhà cầm quyền nhằm giữ quyền lực cho chính mình.

Tôi nghĩ đã quá muộn, những người lãnh đạo nên đặt quyền lợi dân tộc lên trên quyền lợi của Đảng Cộng sản, của ý thức hệ mà thay đổi một cách nhìn khác, mới mẻ hơn, hợp với xu thế thời đại hơn, nhằm đòi lại cho bằng được biển đảo của tiền nhân để lại đã bị Trung Quốc chiếm và đang ồ ạt xây phi trường, biến tất cả thành sự đã rồi. Đấy là tội lỗi không thể tha thứ được, không thể biện minh được !

Thời Tam Quốc Tào Tháo còn nói bạn thù quyền biến vô lường. Thời hiện đại, nhà triết học người Anh Lord Pamaroton  nói: Không có kẻ thù vĩnh viễn, không có bạn bè muôn đời, chỉ có quyền lợi dân tộc là vĩnh viễn và muôn đời mà thôi! Hai câu nói ở hai thời đại khác nhau, nhưng cùng chung một mục đích: Quyền lợi dân tộc là trường tồn qua năm tháng.

Không ai lên án vì quyền lợi dân tộc, ta phải liên kết với dân tộc này giành lại trọn vẹn lãnh thổ mà tiền nhân đã đổ bao xương máu, nước mắt và mồ hôi để trao cho chúng ta hôm nay.

Nếu sợ mất hòa khí, đại cục, ý thức hệ mà cố tình tránh né, thậm chí nhún nhường đến mức nhu nhược, hy vọng âm mưu thâm độc đã có truyền thống của Trung Quốc sẽ mang lại kết quả thì đấy sẽ là một thứ hi vọng hão, thì đấy sẽ là hành vi phù hợp với âm mưu thâm độc của con cháu nhà đại Hán.

Qua trường kì lịch sử, không ai hiểu rõ giặc phương Bắc bằng nhân dân Việt Nam. Đừng nghĩ nhân dân Việt Nam im lặng là đồng tình với cách xử sự với giặc phương Bắc của những nhà lãnh đạo hôm nay.

Đừng nhầm sự im lặng – không muốn nói – của dân là sự đồng tình.

Cũng đừng đánh giá thấp tinh thần yêu nước và ý chí kiên cường của nhân dân Việt Nam vốn đã tôi rèn trong trường kì chống ngoại xâm hôm qua?

Phải nhìn xa hơn, đừng để: Tức nước vỡ bờ!

Khi khẳng định đảng Cộng sản là người lãnh đạo duy nhất đất nước và dân tộc, và  đưa vào điều 4 của hiến pháp nhằm hợp pháp hoá quyền lãnh đạo ấy, thì đồng thời cũng phải hiểu trách nhiệm mà mình gánh vác nặng nề như thế nào?

Trách nhiệm cao nhất là giữ nguyên vẹn đất nước mà tiền nhân trải qua hàng ngàn năm vun đắp bằng máu xương và công sức to lớn của lớp lớp người đi trước !

Không tội nào lớn hơn tội để mất nước!

Hãy nghiêm khắc nhìn lại chính mình, đừng dùng mọi phương tiện truyền thông của nhà nước ra rả:

Gia Long cõng rắn cắn gà nhà!

Bây giờ người dân có quyền hỏi:

Thời hiện đại, ai đã rước voi giày mả tổ?

Thời cận đại triều đại Gia Long đã giữ nguyên vẹn lãnh thổ mà tiền nhân để lại, hơn thế nữa, các triều đại thay nhau xác lập cương vực lãnh thổ từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, từ Quần đảo Hoàng Sa đến Quần đảo Trường Sa… bằng giấy trắng mực đen, bằng các đội binh lính thay nhau  ra túc trực ở quần đảo Hoàng Sa gọi là: Đội  Khao lề tế lính!

Những nhà lãnh đạo đảng Cộng sản phải nghĩ đến trách nhiệm để mất đất nước và biển đảo hôm nay! Người dân Việt Nam ai cũng thấy quân xâm lược Trung Quốc lợi dụng ý thức hệ và ỷ mạnh  “gặm nhấm dần đất nước ta từ tổ con đại bàn thành tổ con chim chích như lời vua Trần Nhân Tông  đã cảnh báo! Và vua Lê Thánh Tông trịnh trọng tuyên bố:Nếu các người đem một thước sông, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di!”

Khi còn nô lệ về ý thức hệ  thì độc lập, tự do chỉ là thứ bánh vẽ, thứ mỵ dân, lừa dân, phi thực tế!

Không một người dân Việt Nam nào còn chút lòng yêu nước có thể chấp nhận một chính quyền để mất dần đất và nước vào tay kẻ thù truyền kiếp!

HỘI NGHỊ CỬ TRI VÀ NHỮNG THỦ ĐOẠN GÂY BẤT LỢI CHO ỨNG CỬ VIÊN ĐỘC LẬP

HỘI NGHỊ CỬ TRI VÀ NHỮNG THỦ ĐOẠN GÂY BẤT LỢI CHO ỨNG CỬ VIÊN ĐỘC LẬP

Blog RFA

Nguyễn Tường Thụy

1-4-2016

Hội nghị Hiệp thương lần thứ 2 của Hà Nội đã thông qua danh sách 87 ứng cử viên, trong đó có 48 người tự ứng cử. Trong số những người tự ứng cử có khoảng hơn 10 ứng cử viên độc lập. Vì khái niệm ứng cử viên độc lập chỉ là tương đối nên không thể đưa ra con số cụ thể. Con số tự ứng cử ở Sài Gòn cũng bằng Hà Nội nhưng số ứng cử viên độc lập ít hơn.

Hiện nay có một số ứng cử viên độc lập đã đưa ra Hội nghị cử tri để lấy ý kiến. Qua các Hội nghị cử tri này cho thấy Ban tổ chức đã dùng những thủ đoạn gây bất lợi cho ứng cử viên bằng những việc làm trái luật.

Vì vậy, với các ứng cử viên độc lập chưa đưa ra Hội nghị cử tri cần hết sức lưu tâm.

H1Ứng cử viên độc lập Hoàng Dũng. Nguồn: Facebook

Buổi lấy ý kiến cử tri đối với ứng cử viên Hoàng Dũng ở quận Phú Nhuận, Sài Gòn nổi tiếng với màn ném mắm tôm vào những người đến ủng hộ anh và được công an làm nhiệm vụ ở đấy làm ngơ. Những người ủng hộ anh không được vào đã đành mà ban đầu họ còn định ngăn cản cả vợ anh, mặc dù cô cùng có hộ khẩu tại tổ dân phố. Hoàng Dũng cho biết có người ở hội phụ nữ chồm lên hai bàn trước chỉ vào mục không tín nhiệm để hướng dẫn người khác gạch chéo vào đấy. Kết quả anh được 7% số phiếu.

H1Ứng cử viên độc lập Đỗ Anh Tuấn. Nguồn: FB Tuấn Đỗ

Về Hội nghị lấy ý kiến cử tri tại cơ quan Đỗ Anh Tuấn (Vĩnh Phúc), anh cho biết Công ty anh có 104 người nhưng chỉ mời 15 người còn mời các công ty khác 103 người. Thành phần mời chủ yếu là các đảng viên. Đa số những người đến dự anh không biết họ và họ cũng chẳng biết anh là ai. Anh chỉ được 8,6% số phiếu, chủ yếu là của người ở cơ quan anh. Sau màn lấy ý kiến cử tri ở cơ quan, Đỗ Anh Tuấn còn phải trải qua Hội nghị cử tri ở nơi cư trú. Ngày hôm qua, lúc 6 giờ chiều, anh mới nhận được giấy mời đến Hội nghị lấy ý kiến cử tri ở nơi cư trú vào lúc 1 giờ 30’ trưa hôm nay 1/4/2016, tức là anh chỉ được báo trước chưa đầy 1 ngày.

Ứng cử viên Phan Vân Bách. Nguồn: Facebook

Trường hợp Phan Vân Bách còn quái dị hơn. Phường Trung Tự, Quận Đống Đa Hà Nội tổ chức Hội nghị cử tri mà anh không hề hay biết trong khi anh là ứng cử viên Đại biểu quốc hội. Hay “tin dữ” anh vội chạy đến xin dự nhưng họ không cho anh vào. Tôi hỏi anh sao không hỏi những người đi dự xem như thế nào, cử tri “tín nhiệm” anh mấy phần trăm nhưng anh cho biết, anh có hỏi nhưng họ bí mật lắm, không ai dám nói. Anh đã gửi đơn tố cáo về việc này.

Ở Sài Gòn, ca sĩ Ngân Mai Lâm được 3 phiếu trên 82 cử tri, trong đó có 2 phiếu của cô và mẹ cô, còn 1 phiếu không biết của ai, cô gọi là “ánh sáng duy nhất trong tăm tối”.

Tuy vậy, cô không buồn. Cô cho rằng “bằng trò dàn cảnh sắp xếp, họ chặn được Mai vào lần này, nhưng sẽ thế nào sau 5 năm nữa? Mai tin rằng niềm tin của mình đại diện cho tương lai, còn họ chỉ đại diện cho một quá khứ đang lụi tàn dần. Cuối cùng để xem cái gì sẽ thắng”

Với Nguyễn Thúy Hạnh, tuy chị đã trải qua Hội nghị cử tri ở cơ quan với con số 100% ủng hộ nhưng vẫn còn một lần được “góp ý kiến” ở cơi cư trú nữa. Thông thường, màn ở tổ dân phố là cửa ải khó qua nhất vì những thủ đoạn ở đấy dễ thực hiện như truyên truyền, bôi nhọ trước, bố trí, sắp xếp thế nào để bất lợi cho ứng cử viên. Thúy Hạnh cho biết, em sẽ “chết” ở chỗ ấy anh ạ.

*

* *

Qua những trường hợp người ứng cử độc lập đã đưa ra Hội nghị cử tri cho thấy những phát biểu không ủng hộ cử tri là họ cố nói lấy được hoặc không không hiểu luật. Theo họ là cứ phải là “người của tổ chức”, phải “ủng hộ chủ trương chính sách của đảng và nhà nước”, phải “hòa mình với quần chúng”. Đây là hệ ý thức quá lỗi thời, lạc hậu.

Qua các trường hợp nêu trên có thể thấy, cách thức tổ chức hội nghị sẽ có tác động rất lớn đến kết quả lấy ý kiến. Vì vậy, những anh chị em ứng cử viên độc lập chưa đưa ra Hội nghị cử tri cần chú ý một số qui định của pháp luật để có ý kiến nếu địa phương cố tình làm trái:

– Về địa điểm tổ chức ở tổ dân phố: Điều 45 Luật bầu cử khoản 1 qui định “Hội nghị cử tri ở xã, phường, thị trấn được tổ chức tại thôn, tổ dân phố nơi người ứng cử đại biểu Quốc hội cư trú thường xuyên…”

Điều này nhằm tạo điều kiện cho cử tri thuận tiện trong việc tham gia. Như vậy nếu tổ chức ở thôn xóm khác là trái luật. Việc đưa đi nơi khác họp khiến nhiều cử tri không có điều kiện tham gia, nhưng những cử tri được bố trí thì họ sẽ không vắng mặt.

– Về thành phần tham dự: Cũng điều 45 qui định “Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị đã giới thiệu người ứng cử được mời tham dự hội nghị này”

Điều này có thể hiểu là ngoài đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị đã giới thiệu ứng cử viên, không được mời các cơ quan, đoàn thể hay các thành phần khác. Đề phòng trường hợp đưa cử tri ở nơi khác đến để tăng số người không ủng hộ ứng cử viên.

Ban tổ chức không thể chỉ mời một số cử tri vì làm như thế là tước quyền công dân của họ. Nếu cho rằng đó là mời đại biểu cử tri thì chưa thấy có qui định nào nói về mời đại biểu cử tri. Đại biểu cử tri nếu có, phải do dân bầu ra. Việc chỉ định là trái luật. Vì vậy phải mời hết cử tri trong tổ.

– Một số trường hợp ứng cử viên độc lập đã đưa ra Hội nghị cử tri không trường hợp nào đạt được 50% số phiếu. Tuy vậy, chưa có qui định nào nói rằng nếu không đạt được 50% thì sẽ bị loại. Kết quả của hội nghị cử tri là một trong những căn cứ để lựa chọn, lập danh sách ở Hội nghị Hiệp thương lần thứ 3 (khoản 2 điều 49 Luật bầu cử).

– Việc ứng cử viên đang công tác phải lấy ý kiến cử tri ở cả hai nơi chưa rõ thuộc quy định nào và áp dụng với thành phần nào. Nếu không có quy định này thì phải xem lại tính pháp lý của nó. Nhiều khi ý kiến cử tri ở nơi cư trú và nơi công tác rất khác nhau.

Những thủ đoạn nhằm gạt ứng cử viên độc lập có rất nhiều, tôi đã đề cập ở các bài viết trước. Ở đây chỉ nêu mấy vấn đề xung quanh Hội nghị cử tri.

GẶP CHÚA TRÊN ĐƯỜNG

 GẶP CHÚA TRÊN ĐƯỜNG

Các bạn trẻ thân mến,

Không biết có điều gì thay đổi về vẻ bề ngoài của Chúa Giêsu hay không, nhưng rất nhiều người, dù có một tương quan gắn bó rất chặt chẽ với Ngài cũng không thể nhận ra Ngài sau khi Ngài sống lại từ cõi chết.  Đầu tiên là bà Maria Madalena.

EMAU

Buổi sáng ngày đầu tuần, bà cùng một số phụ nữ khác kéo nhau ra mộ, dự định là sẽ dùng dầu thơm để xức xác Chúa, nhưng không thấy xác Chúa đâu.  Bà đứng bên ngoài mà khóc, vì ngỡ là người ta đã nhẫn tâm mang xác Chúa đi giấu ở đâu rồi.  Thầy Giêsu hiện ra đứng sau lưng gọi tên bà, bà cứ ngỡ là người làm vườn.  Mãi đến khi Chúa Giêsu gọi bà bằng cái tên thân thương, bà mới thật sự nhận ra đó chính là Chúa.

Hai môn đệ Emmaus cũng vậy.  Họ đang lê bước về quê nhà sau một thời gian rong ruổi theo Chúa. Cái chết của Thầy dường như là một cú sốc rất lớn với họ.  Họ liên hồi bàn thảo với nhau những chuyện liên quan đến Ngài.  Chúa Giêsu bước tới, giả vờ hỏi han.  Họ chẳng hề nhận ra, còn trách “người khách lạ” sao vô tâm với những chuyện động trời vừa xảy ra ở Giêrusalem trong những ngày vừa rồi.  Thấy họ vẫn còn mê muội chưa hiểu chuyện gì, Chúa Giêsu lên tiếng dạy dỗ họ, giải thích cho họ hiểu ý nghĩa của Thánh Kinh và những lời tiên tri nói về Đấng Mesia.  Lòng họ như bừng cháy, nhưng vẫn chưa nhận ra.  Cho đến khi Chúa Giêsu được họ mời vào nhà và làm những cử chỉ hệt như trước kia là bẻ bánh trao cho mọi người, họ mới nhận ra người đã đồng hành với mình từ chiều đến giờ là Thầy Giêsu chí thánh.

Tại bờ hồ Tiberia cũng vậy.  Suốt một đêm cực nhọc đánh cá, các tông đồ, dù là những tay ngư phủ cừ khôi một thời, chẳng bắt được con cá nào.  Khi ngày vừa lên, họ mỏi mệt chèo chiếc thuyền vào bờ trong tâm trạng của những người thất bại.  Bỗng đâu xuất hiện trên bãi biển một người đàn ông lạ mặt, hỏi han các ông về thành tích lao nhọc của đêm qua.  Họ thật thà trả lời là mình tay trắng mà không hề nhận ra người hỏi đó là ai.  Nghe theo lời chỉ dẫn của người này, họ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền như một hy vọng cuối cùng, vớt vát được chút đỉnh.  Quả nhiên, mẻ cá thu được mới kinh khủng làm sao.  Mọi người tất bật lo kéo lưới để thu lượm cá bắt được, thì chỉ có một người trong số đó nhận ra chính Thầy là người đang đứng trên bãi biển kia.

Các bạn trẻ thân mến,

Nhận ra Chúa hiện diện bên chúng ta là điều không dễ tí nào.  Ngay cả các môn đệ, những người đã từng sống chung với Chúa một khoảng thời gian dài cũng không ngay lập tức nhận ra Ngài khi Ngài hiện đến, huống gì những con người xa lạ như chúng ta.

Chúa Giêsu đã phục sinh, và chắc là sau khi phục sinh, Ngài vẫn là Ngài, nhưng cũng có gì đó khác trước.  Cuộc sống với biết bao khó khăn che khuất đôi mắt của ta bằng những giọt lệ buồn như Madalena, những tranh luận như hai môn đệ Emmaus, hay những chán chường, thất vọng như các tông đồ, khiến ta không còn nhìn thấy Chúa hiện diện ngay bên chúng ta.  Những tư tưởng buồn lại nối tiếp tư tưởng buồn.  Hễ cứ gặp một chuyện không vui là ta tiếp tục suy diễn ra những hoàn cảnh khác tệ hại hơn, khiến cho tâm trí ta chỉ toàn những hố sâu của u buồn và chán nản.  Chúa ở ngay đó, nhưng có mấy khi ta nhận ra Ngài.

Maria Madalena đã được Chúa gọi đích danh mình bằng giọng nói thân quen ngày nào.  Nhờ thế mà bà như bừng tỉnh và được giải thoát khỏi những giọt nước mắt tang thương.  Các môn đệ Emmaus thấy nơi Chúa những lời giáo huấn tuyệt diệu thiêu đốt tâm tư và cử chỉ bẻ bánh mà Ngài vẫn hay làm.  Còn các tông đồ thì nhận ra Ngài qua phép lạ mẻ cá.  Ngày đầu tiên khi Giêsu kêu gọi Phêrô, Ngài cũng thực hiện một phép lạ tương tư như vậy.  Làm từ không ra có, hóa ít ra nhiều, chỉ có thể là Thầy Chí Thánh của mình mà thôi.  Chúa sẽ để lại những dấu chỉ để người ta nhận ra Ngài.  Hai người yêu thương nhau luôn có những ký ức về nhau mà chỉ cần nhìn hay nhớ đến ký ức ấy, là trọn vẹn hình ảnh của người kia sẽ được nhận ra.

Đối với chúng ta, có lẽ Chúa cũng để lại muôn vàn dấu ấn như thế để ta có thể nhận ra Ngài.  Hình ảnh về Ngài là hình ảnh của những người nghèo đang cần hơi ấm, cần chút cơm.  Hình ảnh về Ngài là hình ảnh của những người đi tha hương cầu thực, của những ông già bà lão bơ vơ, hình ảnh của những em bé ngây thơ thiếu thốn tình cảm, nơi những bệnh nhân hay những người bị gạt ra bên lề cuộc sống.  Người ta sẽ nhận thấy Chúa trong ta khi ta cũng biết gọi tên người khác bằng một giọng ấm áp yêu thương, khi ta biết dùng những lời dịu ngọt để vỗ về những con tim khô cứng, biết sống một cuộc đời sẻ chia, nâng đỡ, biết an ủi người khác và làm gia tăng những niềm vui nho nhỏ của mọi người.

Các bạn thân mến, giữa các bạn và Chúa Giêsu có dấu hiệu gì của riêng nhau không để khi bạn nhìn vào đó, bạn có thể gặp được Chúa Giêsu?  Có một ký ức nào về Chúa Giêsu hằn in trong trái tim bạn không?  Chúa Giêsu vẫn đang ở đó, chờ đợi bạn đến gặp Ngài.

Pr. Lê Hoàng Nam, S.J.

langthangchieutim gởi

Cái Lon, Chiếc Nón & Nùi Giẻ Rách

Cái Lon, Chiếc Nón & Nùi Giẻ Rách

tuongnangtien

Bây giờ, trừ cái labtop, tôi rất ít để ý đến những vật dụng khác quanh mình. Sau tháng 4 năm 1975 – có lúc – tôi cũng không bận tâm đến bất cứ một thứ gì, ngoài cái lon Guigoz.

Tôi bắt đầu làm quen với nó vào mùa mưa năm 1975, trong trại cải tạo. Chịu đói là bài học đầu tiên mà chúng tôi được học, và đây cũng là bài học kéo dài suốt khóa.

Ở vào hoàn cảnh này mà vớ được mấy củ khoai đào sót, một con ếch chậm chân, một nắm rau rừng cấu vội, hay một vốc gạo thừa – vét được sau những lần tạp dịch dọn kho – mà có sẵn cái lon Guigoz bên mình thì tiện lắm. Cất dấu tang vật rất dễ, và chỉ cần rất ít nhiên liệu trong việc nấu nướng.

Hằng đêm chúng tôi đều được nghe giảng dậy về một cuộc sống mới không giai cấp, không còn cảnh người bóc lột người, mọi sản phẩm đều là của chung, làm việc theo khả năng và hưởng thụ theo nhu cầu… Chúng tôi cũng được động viên cứ yên tâm học tập, không phải bận tâm gì về thân nhân hay gia quyến. Cả nước đang đi từ giai đoạn ăn no mặc ấm, sang ăn sang mặc đẹp. Còn cả thế giới thì đang chuẩn bị bước vào thế giới đại đồng.

Chúng tôi tiếp thu tốt, thảo luận tốt, viết thu hoạch tốt, nhất trí rất cao về tất cả mọi vấn đề. Sau đó – sau giờ học tập – mọi người lại lục đục mang tất cả những thứ “cải thiện” được trong ngày, bỏ vào lon Guigoz, lúi húi tìm một góc riêng đun nấu, để “sột sệt” cho đỡ đói.

Cái lon Guigoz đối với chúng tôi (những kẻ thuộc bên thua cuộc) không chỉ là một vật dụng thiết thân mà còn trở thành một kỷ vật, với những kỷ niệm rất buồn. Điều tôi không ngờ là nó cũng rất thân thiết, và cũng là một kỷ vật buồn (không kém) đối với những người thuộc bên thắng cuộc:

Nhớ thằng bạn cùng đơn vị xưa kia kể lại, bà mẹ của cậu ta cứ nắc nỏm ao ước tìm đâu ra một chiếc hộp sắt để đựng kim chỉ khâu hay đựng thuốc cảm cúm, nhức đầu… Tìm đâu ra vài chiếc bình, chiếc chai thật đẹp để tích lạc, đựng vừng phòng ngày mưa gió, lụt lội. Vừa khô ráo, vừa tiện lợi, bày biện chỗ nào cũng sáng cả một góc nhà. Bà mẹ tơ tưởng vậy thôi, chứ đang thời bom rơi đạn nổ, mọi người chỉ sống nhờ vào mấy chiếc tem đậu phụ, tem thịt, vào những viên gạch xếp hàng giữ chỗ thay người trước một xe bán  rau,  trước cửa hàng bán nước mắm mậu dịch…, bới đâu ra chiếc hộp, chiếc chai bà ưng ý?

Ấy vậy mà hôm tiễn thằng bạn tôi vào chiến trường, không hiểu bằng cách nào, bà mẹ đã tìm được chiếc vỏ hộp sữa Guigoz đặt vào một bên túi cóc của cậu con trai. Nhờ cái vỏ hộp sữa ấy – chống được ẩm mốc, mưa nắng – cái ba lô lính của thằng bạn tôi thực sự trở thành một cái chạn di động. Không gặp thì chớ, hễ gặp nhau y như rằng nó sẵn sàng khoản đãi tôi đủ thứ “cao lương mỹ vị”: thịt nai sấy khô, mắm ruốc cá, thịt cheo sào gừng, sả… Tất cả chứa trong chiếc hộp sữa Guigoz đó!

Bạn tôi hy sinh ở Bàu Bàng cuối năm 1969. Nhận được giấy báo tử người con trai đâu đó chín tháng hay một năm, bà mẹ ngã bệnh qua đời. Mãi hơn hai mươi năm sau, những đội viên Hội Chữ thập Đỏ phường Mã Mây mới tìm ra nơi chôn cất thằng bạn tôi. Họ kể lại, di vật của người hy sinh đã ẩm mục, rã rữa hết, chỉ còn tìm được chiếc vỏ hộp sữa Guigoz. Hôm đưa hài cốt bạn tôi về với bà mẹ cậu ta ở một khu phố cổ Hà Nội, người ta đã đặt chiếc vỏ hộp sữa bên cạnh bó hài cốt bạn tôi trước bàn thờ bà mẹ. Đủ lệ bộ ngay ngắn, họ mới thắp hương báo với bà con trai bà đã về. (“Nỗi Buồn Lâu Qua” – Tô Hoàng).

Ngày trở về của chiếc nón cối thì ồn ào, và hoành tráng hơn nhiều:

Ảnh: AP

Năm 1968, người lính trẻ Hoa Kỳ là John Wast, khi lục soát trận địa tìm vũ khí, tài liệu, bất chợt trông thấy một chiếc nón cối có vết đạn, vẽ hình con chim bồ câu. Anh ta buộc chiếc nón vô ba-lô, và khi hồi hương vào năm tháng sau đó, anh ta mang theo làm kỷ niệm chiến tranh và đặt trên cái giá sách trong phòng.

Có một cựu chiến binh làm công tác từ thiện đến gặp anh lính cũ và hỏi anh ta có muốn trả lại chiếc nón về nơi cũ chăng, bởi vì năm tháng qua đi, cũng chẳng còn khơi lại những đau thương nhức nhối nữa. Một phái đoàn có tên là “Đoàn phát triển kinh phí thiện nguyện tại Việt Nam” tìm ra gia đình anh bộ đội Bùi Đức Hùng, bị tử thương, nhưng hài cốt không bao giờ được thu hồi.

Vào ngày Thứ Ba, bốn cựu chiến binh Hoa Kỳ mang hoàn trả chiếc nón cối cho gia đình anh Hùng qua một nghi lễ tại một ngôi làng cách Hà Nội 70 cây số; với nghĩa cử đề cao nhu cầu hòa bình và hòa giải.

Ông Bùi Đức Dục, 52 tuổi, là cháu của liệt sĩ Hùng phát biểu, “Đây thật là giây phút thiêng liêng đối với gia quyến chúng tôi.”

Ông Dục bật khóc khi chiến nón cối được mang đặt lên bàn thờ gia tộc, trước sự chiêm bái của những cựu chiến binh Hoa Kỳ, khoảng 100 dân làng và viên chức xã có mặt. Trong căn phòng cũng đặt một bức tượng ông Hồ Chí Minh, người đã lãnh đạo cuộc chiến tranh thắng lợi.

Ảnh: AP

Ông Dục ngỏ lời “Chúng tôi coi chiếc mũ này như chính một phần thân thể chú tôi, và sẽ bảo tồn nó để nhắc nhở cho thế hệ tiếp nối của gia tộc chúng tôi.”

Hơn ba triệu người Việt Nam đã chết trong chiến tranh qua thời gian Hoa Kỳ phải hành động để ngăn chặn làn sóng Cộng Sản tại Đông Nam Á. Ông Wast, nay đã 67 tuổi, là người dân vùng Toledo, bang Ohio, chưa từng du lịch Việt Nam. Lời nói của ông ta đã ghi và phát lại qua buổi lễ cho biết rằng liệt sĩ Hùng đã chiến đấu thành thạo và ngoan cường… (“46 years on, Vietnamese helmet returned.” Tran Van Minh. AP. Trans Y.Y).

Trường hợp của ông Nguyễn Chánh Nhường thì hơi khác, theo bản tin (“Sau 40 năm, liệt sỹ trở về thành hộ nghèo”) của báo Lao Động, số ra ngày 1 tháng 2 năm 2015:

Một sự kiện hy hữu vừa diễn ra tại xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) khi ông Nguyễn Chánh Nhường, đã có giấy báo tử và được công nhận Liệt sỹ tròn 40 năm bỗng trở về trước sự ngỡ ngàng của người thân và bà con xóm giềng. Ông Nhường hiện trí nhớ suy giảm, sức khỏe yếu được chính quyền địa phương xếp vào diện hộ nghèo.

Vào ngày 10.4.2014, gia đình ông Nguyễn Chánh An, xóm 19 xã Quỳnh Lâm hết sức ngỡ ngàng khi thấy một người đàn ông ăn mặc rách rưới, dáng vẻ tiều tụy, khắc khổ xuất hiện trước cửa nhà. Sau phút định thần, gia đình ông An bàng hoàng nhận ra đây là ông Nguyễn Chánh Nhường, người anh em ruột của gia đình, đi bộ đội và được báo tử, truy điệu Liệt sỹ vào năm 1974, vừa tròn 40 năm.

Ông Nguyễn Chánh Nhường sinh năm 1949, quê quán xã Quỳnh Lâm, lớn lên theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông xung phong lên đường nhập ngũ. Sau một thời gian bặt tin tức, vào năm 1974, cả gia đình ông chết lặng khi nhận được giấy báo tử của đơn vị gửi về, thông báo ông đã hi sinh ngày 6.4.1973. Địa phương và các tổ chức đoàn thể đến thăm hỏi, động viên gia đình và tổ chức lễ truy điệu. Gia đình ông được phát bằng Tổ quốc ghi công số DE 145, được lưu giữ trang trọng tại nhà ông anh cả Nguyễn Chánh Nghiệm…

“Liệt sỹ” Nguyễn Chánh Nhường trở về sau 40 năm báo tử. Ảnh và chú thích: Lao Động

Bà Bùi Thị Hường, Phó Chủ tịch UBND xã Quỳnh Lâm cho biết: “Sau khi nghe tin có ông Nhường trở về, chúng tôi đã thành lập đoàn xác minh thông tin. Kết quả cho thấy người trở về chính là ông Nguyễn Chánh Nhường, đã được công nhận Liệt sỹ cách đây 40 năm. Ông Nhường không có giấy tờ gì, trí nhớ cũng không còn minh mẫn, ngay cả nói cũng không mạch lạc…

Bà Hường nói:“Chúng tôi chưa thăm, tặng quà ông Nhường, nhưng đã có kế hoạch tặng quà và đề xuất UBND huyện tặng quà cho ông trong dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi. Đây là một trường hợp hết sức hi hữu, mong rằng các cơ quan chức năng sẽ xem xét giải quyết chế độ phù hợp cho một người đã từng đi bộ đội, tham gia chiến đấu và được công nhận là Liệt sỹ.”

Ông Nhường trở về ngày 18 tháng 3 năm 2014, gần một năm sau (hôm 1 tháng 2 năm 2015) bà Phó Chủ Tịch UBND xã Quỳnh Lâm tuy vẫn chưa đến thăm nhưng đã có “kế hoạch” và “đề xuất UBND huyện tặng quà” rồi. Chả biết “đề xuất” này có được chấp thuận hay không nhưng (“tiếng chào cao hơn mâm cỗ”) thế cũng qúi hoá lắm rồi.

Nếu ông Nguyễn Chánh Nhường đi luôn, và chỉ có cái lon Guigoz hay chiếc nón cối trở về (thôi) thì việc tiếp đón – chắc chắn – sẽ long trọng và đình đám hơn nhiều. Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi. Đã đi chinh chiến mà còn (ráng) trở về làm chi nữa, cho nó thêm rách việc!

Vì sao người Công giáo có tỉ lệ ly hôn thấp?

 Vì sao người Công giáo có tỉ lệ ly hôn thấp?

Dongchuacuuthe.com

Xuất phát từ niềm tin tôn giáo, người Công giáo coi việc ly hôn là chuyện cấm kỵ. Vì thế, tỉ lệ ly hôn ở người công giáo không cao. Tuy nhiên, bên cạnh niềm tin và sự giàng buộc tôn giáo, trước khi kết hôn, các bạn trẻ công giáo đều cho biết, họ được trang bị khá đầy đủ những kiến thức để hòa hợp trong quá trình chung sống.

ChaKha

Linh mục Giuse Ngô Văn Kha. Ảnh: J.B Nguyễn Hữu Vinh

Cha Giuse Ngô Văn Kha – một linh mục của giáo xứ Thái Hà (Hà Nội) cho biết: Trước khi bước vào cuộc hôn nhân, các cặp đôi phải tham gia lớp học tiền hôn nhân. Đây là lớp học bắt buộc của người công giáo và thông thường sẽ kéo dài từ 3 – 6 tháng.

Ở lớp học này, bên cạnh những kiến thức về tôn giáo, các cặp đôi sẽ được học các kiến thức chuyên môn.

“Về kiến thức chuyên môn, chúng tôi có mời các cộng tác viên, đó là các nhà tâm lý học. Họ nói về tâm lý nam nữ, tâm lý vợ chồng, sự khác biệt giữa nam và nữ giữa các thời kỳ mà họ sống.

Ví dụ, phụ nữ khi chưa kết hôn, tâm lý của họ khác, khi kết hôn họ khác và khi có con họ lại khác nữa. Vì thế, nam giới, hay cụ thể là người chồng cần phải hiểu để có sự cảm thông chia sẻ với người phụ nữ của mình.

Bên cạnh đó là về sức khỏe sinh sản. Đối với người công giáo, nạo phá thai là điều tối kỵ. Do đó, tại lớp học này, chúng tôi có mời chuyên viên về sức khỏe sinh sản tới để chỉ cho các bạn các kiến thức khoa học để các bạn hiểu về mình; hiểu về cơ thể mình, hiểu về chu kỳ, hiểu về những ham muốn nhục dục; hiểu về những nguyên lý tác động, kích thích người nam, người nữ; hiểu về tất cả những điều trong cơ thể của mình để tìm cách phòng tránh thai khi chưa có ý định có con.

Hay nói tóm lại, đó là những kiến thức cần hiểu để sống tiết độ trong đời sống hôn nhân gia đình” – vị linh mục nói

traonhancuoi

nh có tính chất minh họa

Ngoài ra, vị linh mục này còn cho biết, tại lớp học tiền hôn nhân, những kiến thức về kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, những bài học về sự xung đột, xung khắc cũng được đề cập đến.

“Chúng tôi luôn nói cho các bạn biết rằng, cuộc sống hôn nhân không phải màu hồng. Sau khi kết hôn, các bạn sẽ gặp phải rất nhiều những khó khăn phức tạp. Đó là những khó khăn mà nếu lường trước được hết, chắc chắn nhiều bạn sẽ không dám kết hôn.

Những bất đồng về lối sống, quan niệm sống khi sống chung trong một gia đình có tam tứ đại đồng đường cũng sẽ dẫn đến rất nhiều mâu thuẫn. Thậm chí, 2 bạn có lấy nhau và ra ở riêng ngay thì những xung khắc xung đột vẫn sẽ xảy ra. Lý do là vì, con người ta độc lập về ý thức, độc lập về tư duy… Chúng ta khác biệt nhau hoàn toàn nên mâu thuẫn khi sống chung là chuyện tất yếu” – cha Kha nói.

Tuy nhiên, sau khi chỉ ra những khó khăn, ở lớp học tiền hôn nhân, các linh mục cũng sẽ chỉ cho các bạn trẻ khái niệm thế nào là yêu, thế nào là sống chung trong một đời sống mà người ta phải sống vì nhau, sống với nhau. Sống để cùng nhau đạt được mục đích mà mục đích ở xã hội này đó là tạo lập cho mình một gia đình êm ấm, vợ chồng đề huề, con cái thành đạt giỏi giang.

Hơn nữa, theo cha Kha, một lý do khiến cho các cuộc hôn nhân bên công giáo luôn bền vững đó là, ngay cả khi đã kết hôn, nếu xảy ra mâu thuẫn, tất cả mọi người vẫn luôn có sự trợ giúp từ các linh mục. Các linh mục sẽ luôn lắng nghe để tư vấn, giải đáp và giảng hòa. Vì thế, dù có làm sai đi chăng nữa thì cuối cùng họ cũng sẽ biết nhìn nhận lại những hành vi sai trái của mình và tìm đường quay trở về.

“Thêm vào đó, tôi vẫn thường khuyên các bạn trẻ, mỗi ngày hãy dành ra một chút thời gian để cầu nguyện. Trước khi cầu nguyện hãy dành một ít phút để soi xét lại những hành động đúng sai mà trong ngày mình đã làm đối với bản thân, với gia đình và với những mối tương quan khác.

Trong bầu không khí đó, nếu có những mâu thuẫn xảy ra, thì đây chính là lúc dễ dàng nhất để người ta có thể nói với nhau, giảng hòa…

Có lẽ vì những lý do đã nêu trên mà ở bên tôi, tỉ lệ ly hôn thường thấp hơn so với mặt bằng chung của xã hội ” – vị linh mục nói

Minh Anh

Nguồn: Vietnamnet

Sống trên đời cần có một tấm lòng

 Sống trên đời cần có một tấm lòng

Dongchuacuuthe.com

Không chỉ cần “một tấm lòng” nữa mà cần đến vạn tấm lòng để chia sẻ bớt nỗi khổ của người nghèo vùng hạn mặn. Để đời bớt mặn đi, lòng người bớt mặn với nhau hơn để yêu nhau hơn, để hiệp nhất với nhau hơn.

Năm 25 tuổi, trong một lần đi nghe nhạc ở một phòng trà. tôi đã nghe những ca từ này của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “…Sống trong đời sống cần có một tấm lòng/ Để làm gì em biết không?/ Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi…”.

Lúc đó, tôi thật sự ngạc nhiên, sao ông nhạc sĩ nãy viết kiểu gì trớt quớt quá vậy. Cần có một tấm lòng nhưng chẳng để làm gì cả, để gió cuốn đi khơi khơi cho dzui là sao?

Thời gian trôi qua, thỉnh thoảng ở đâu đó, trong vài dịp tình cờ tôi lại nghe được ai đó hát những ca từ này, và ý nghĩa của những ca từ đó lại làm cho tôi phải suy tới nghĩ lui.

Ba năm sau, trong lần tham gia cùng một nhóm công tác xã hội đến giúp đỡ đồng bào miền trung khắc phục hậu quả kinh khủng của một cơn siêu bão kèm theo một trận lụt lịch sử. Trong đêm quây quần bên một bếp lửa trong một căn chòi trống giữa đồng, một bạn nữ khuyết tật trong nhóm chợt cất tiếng hát giữa đêm vắng, trên nền nhạc của một cây guitar, cả nhóm đang ồn ào trò chuyện bỗng im bặt.

de gio cuon di

Mọi người ngồi sát lại bên nhau, những bàn tay nắm lấy nhau và cùng lắng nghe tiếng hát của bạn gái đó – cô gái bị mất một chân trong một tai nạn giao thông nhưng vẫn quyết tâm đi theo nhóm trong chuyến công tác dài ngày ở vùng rốn lũ.

Lắng nghe tiếng hát, lặng nhìn khuôn mặt của cô gái chập chờn qua ánh lửa, câu hỏi “cần có một tấm lòng… để gió cuốn đi” lại trở về trong óc của tôi.

Cần có một tấm lòng… để gió cuốn đi… Tôi chợt ngộ ra một điều quá hay mà cố nhạc sĩ họ Trịnh đã gửi gắm qua những ca từ đơn sơ mộc mạc nhưng đầy ý nghĩa nhân văn đó. Vâng, rất cần có một tấm lòng để gió cuốn đi đến ngàn nơi, để cảm nhận, để chia sẻ và để cùng đồng cảm với những nơi đang khó khăn.

* * *

han-man

Hạn mặn nghiêm trọng tại miền tây. Ảnh: VietNamNet

Nhóm chúng tôi vừa đến một tỉnh miền Tây, nơi đang phải chịu cảnh hạn hán, nhiễm mặn nghiêm trọng nhất trong 100 năm qua. Buổi sáng thức giấc, vào nhà vệ sinh để đánh răng súc miệng, ai cũng nhăn mặt vì sao nước mặn thế. Mọi người đùa là ở đây được miễn phí nước muối súc miệng.

Đứa cháu từ Sài Gòn xuống, nhiệt tình nấu bò kho cho cả nhà ăn. Đến bữa, phải châm thêm nước sôi vào cho bớt mặn, dù châm thật nhiều nhưng không giải quyết được cái mặn. Hỏi ra thì cô bé đã lấy nguồn nước sẵn có để nấu bò kho. Nước vốn đã mặn, còn thêm muối vào thì làm sao nuốt cho nổi.

Sàn nhà lau xong, đi tới đi lui cái chân nó nhớt nhớt, rất trơn và có thể té bất cứ lúc nào. Đó là bởi nồng độ muối trong nước quá cao.

Có lẽ, những người đang sống ở nơi có nguồn nước sạch dồi dào sẽ chẳng bao giờ có cảm giác trân quý nguồn nước mà mình đang có. Thỉnh thoảng, nếu có bị cúp nước vài tiếng đồng hồ, thì cảm giác khó chịu cũng xuất hiện trong chốc lát rồi thôi, chẳng có gì phải bận tâm cho lắm.

Chỉ khi nào ở trong vùng hạn mặn đến tận cùng ta mới hiểu một giọt nước ngọt có giá trị đến mức nào.

cho-nuoc

Cụ bà ở Bến Tre cho bà con đến lấy nước miễn phí. Ảnh: FB Hoang Huong

Các hồ nước ngọt khô nẻ. Cánh đồng lúa chết khô. Người dân phải mua nước ngọt về để sinh hoạt với giá đắt cắt cổ, từ 100-180 nghìn đồng/m3.

Dù “ăn nên làm ra” nhưng chính những người bán nước ngọt cũng không thấy vui, bởi sự khốn khổ của đồng loại, bởi nguy cơ cạn kiệt nguồn nước hiển hiện trước mắt.

Đang trong cảnh sống như vậy, đẹp biết bao gia đình một cụ bà ở Bến Tre có giếng nước ngọt đã cho mọi người đến lấy miễn phí trong khi cách đó chỉ 50 mét là nơi đổi nước ngọt giá 5.000/20lít.

Có nhiều tấm lòng hảo tâm khác cũng đang hướng về với vùng nghèo miền Tây sông nước. Nhiều tổ chức, cá nhân đã chung tay chia sẻ với bà con vùng hạn, mặn những bình nước, dù ít ỏi nhưng vô cùng quý hóa.

Phải nói rằng không chỉ cần “một tấm lòng” mà cần đến vạn tấm lòng để chia sẻ bớt nỗi khổ của người nghèo vùng hạn mặn. Để đời bớt mặn đi, lòng người bớt mặn với nhau hơn để yêu nhau hơn, để hiệp nhất với nhau hơn.

Những vấn đề biển Đông (phần 2)

Những vấn đề biển Đông (phần 2)

Nguyễn Duy Vinh

1-4-2016

Tiếp theo Phần 1: Nhân đọc bài của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích viết trước khi ông mất

Phần 2: Nhà cầm quyền Việt Nam phải có thái độ mạnh mẽ hơn trước những hành xử hung hăng của Trung Quốc

Trước hết phải xin nói ngay là tác giả bài viết không phải là luật sư mà cũng chẳng là một chuyên gia pháp lý nên chắc chắn sẽ không dám múa rìu qua mắt thợ. Bài viết này chỉ có một mục đích duy nhất là nói lên vài dữ kiện mà tác giả cảm thấy cần chia sẻ với cộng đồng trẻ trên mạng và cũng nhân tiện nói lên cái thấy và hiểu của mình về những diễn biến phức tạp và đầy thách đố về tình hình biển Đông.

Thách đố thứ nhất: từ ngày có UNCLOS, bãi đá chim … ỉa trở nên có giá nghìn vàng

Phần đất lồi của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có diện tích tổng cộng không quá 15 km2. Ngày xưa hình như đã có một nhà lãnh đạo Việt Nam hay một nhà ngoại giao Việt Nam nào đó gọi những đảo đó là “những bãi đá chim … ỉa”. Ngày nay nếu được định nghĩa là “đảo” theo Công Ước Quốc Tế về Luật Biển (UNCLOS, xin xem bài [1] để hiểu về những từ dùng trong bài này), nước có chủ quyền những quần đảo này có thể đòi và được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế quanh đảo (EEZ). Vùng này, theo UNCLOS, dài đến 200 hải lý đo từ đường cơ sở của đảo trở ra. Những bãi đá “chim ỉa” đó bỗng nhiên trở nên vô cùng quý giá. Những đảo đó không còn là những đảo nhỏ có đường cơ sở, nội thủy và lãnh hải 12 hải lý không thôi, nó còn được nới rộng đến 200 hải lý xung quanh.

Việc này cho thấy tầm quan trọng nắm được chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tầm ảnh hưởng vùng EEZ này là đầu mối của rất nhiều quan ngại, tranh cãi cũng như tranh chấp trên biển Đông. Chúng ta chỉ việc lấy bút vẽ từ đảo Tri Tôn (thuộc Hoàng Sa và gần bờ biển Việt Nam nhất) một khoanh tròn có bán kính 200 hải lý, chúng ta sẽ thấy là nếu TQ được tòa án  quốc tế chính thức cho phép nắm chủ quyền Hoàng Sa, vùng đặc nhiệm kinh tế EEZ với 200 hải lý từ bờ biển Việt Nam đo ra, và thuộc về Việt Nam, sẽ bị bé đi như thế nào.

Cuộc tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa thêm vào quyền EEZ của quần đảo này sẽ làm những nước chung quanh “nhức đầu” lắm, đó là chưa nói đến vấn đề chiến lược của quần đảo này. Và TQ thì chúng ta đều biết, họ đã ngày đêm ráo riết xây cất từ khi chiếm được hoàn toàn Hoàng Sa năm 1974. Hiện nay trên đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc quần đảo Hoàng Sa đã có một phi đạo lớn và dài 3000 m và gần đây nhất họ đã đem ra đó những giàn hỏa tiễn (hay tên lửa nói theo tiếng trong nước) địa không (sol-air) như hình chụp được bởi vệ tinh quốc tế ngày 17 tháng 02 năm nay:

H1Ảnh tác giả gửi tới

Thách đố thứ hai : hiệp ước Việt-Trung năm 2011

Trước những hành xử hung hăng và tiếp tục lì lợm của Trung Quốc (TQ) trên biển Đông, Việt Nam không thể khoanh tay ngồi im mãi.

Nhà cầm quyền CHXHCNVN hiện nay đang bị kẹt cứng bởi hiệp ước Việt-Trung mà cả hai nước đã cùng ký ngày 11 tháng 10 năm 2011.  Hai nước “anh em xã hội chủ nghĩa” đã ký thỏa thuận với nhau trên 6 nguyên tắc:

  1. Lấy quan hệ đại cục giữa 2 nước làm trọng, phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Kiên trì thông qua hiệp thương hữu nghị, xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển, phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện VN-TQ.
  2. Tôn trọng chứng cứ pháp lý, nỗ lực tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài.
  3. Đàm phán vấn đề biển, hai bên nghiêm chỉnh tuân thủ thỏa thuận và nhận thức chung. Theo nguyên tắc DOC (Tuyên bố ứng xử của các bên biển Đông) đối với tranh chấp trên biển giữa VN-TQ, giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị.
  4. Tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng.
  5. Tự tiệm tiến, dễ trước khó sau.
  6. Tiến hành cuộc gắp gỡ định kỳ Trưởng đoàn đàm phán biên giới cấp Chính phủ một năm hai lần.

Sáu điểm rất là đẹp và cũng rất lý tưởng. Trên thực tế, những sự kiện xảy ra trên biển Đông sau ngày ký hiệp ước này (từ vụ giàn khoan HD-981 cho đến những vụ đánh phá tàu đánh cá và giết ngư dân Việt Nam gần đây nhất trong vùng EEZ của Việt Nam) cho thấy người bạn phương Bắc là một người bạn đểu. Việt Nam không thể tiếp tục đặt niềm tin vào cái hiệp ước này. TQ rõ ràng là một anh láng giềng xỏ lá.

Đứng trước một TQ vừa mạnh vừa hay bắt nạt đó, Việt Nam (VN) phải tìm cách bảo vệ chủ quyền và biển đảo của mình. Hiện nay VN hầu như không có đồng minh trong những tranh chấp trên biển Đông. Mà Việt Nam lại sợ TQ một phép nên không dám tỏ ra thân thiện với Mỹ.

Thách đố thứ ba : sự trì trệ yếu hèn của Việt Nam trước Trung Quốc

Ông Jonathan London trong bài viết mới đây [2] nói Việt Nam cần dũng cảm đối với Trung Quốc (TQ). Ông này đã nhìn thấy rõ ràng sự yếu hèn và trì trệ của nhà cầm quyền Việt Nam trước những hành xử bạo cường của TQ. Bài viết của ông rất thâm thúy mà tôi nghĩ các cấp lãnh đạo trong nước nên đọc. Trong những phương pháp ông London đưa ra, có đoạn này (chép lại dưới đây mà tôi muốn đào sâu thêm):

“Mặc dù Hà Nội không nên có những động thái kích động Bắc Kinh, nhưng họ cũng không nên e ngại làm những gì trong phạm vi chủ quyền của mình. Chẳng hạn như việc kiện TQ ra trước Toà Án Công Lý Quốc Tế hay Toà Án Hàng Hải Quốc Tế sẽ không phải là một hành động gây hấn, mà là việc chẳng đặng đừng vì cách hành xử phi pháp của Bắc Kinh đã không cho Việt Nam một lựa chọn nào khác.

Tôi rất tâm đắc với ông London về điểm này. Xin nói sơ về Tòa Án Quốc Tế ở đây. Tòa Án Quốc Tế được thành lập từ năm 1922 và mang nhiều tên gọi khác nhau theo thời gian : Tòa Án Trọng Tài Thường Trực (Permanent Court of Arbitration hay PCA), Tòa Án Thường Trực Công Lý Quốc Tế (Permanent Court of International Justice hay PCIJ), Tòa Án Công Lý Quốc Tế (International Court of Justice hay ICJ). Tên được dùng nhiều nhất ngày nay là ICJ. Các tòa chính thức nhận hồ sơ, thụ lý và giải quyết tranh chấp các vấn đề giữa các quốc gia thành viên, cũng như làm công tác cố vấn pháp luật cho Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc và Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và các ủy ban khác trực thuộc Liên Hiệp Quốc như đã ghi rõ trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc từ năm 1946. Tòa tọa lạc tại thành phố Den Haag (hay La Haye – tiếng Pháp), Hoà Lan.

Tòa Án Quốc Tế đã xử những vụ tranh chấp chủ quyền biển đảo từ năm 1928 (giữa Mỹ và Hòa Lan, sẽ nói thêm chi tiết dưới đây) và vụ gần đây nhất là vụ Phi Luật Tuân đưa Trung Quốc ra tòa trọng tài thường trực (PCA) với một hồ sơ kiện dầy 4000 trang hoàn tất vào ngày 30 tháng 03 năm 2014. Nghe đâu giữa tháng 07 sắp tới sẽ diễn ra tại La Haye những phiên xử đầu tiên về vụ tranh chấp này dù Trung Quốc tuyên bố không tham dự cũng như phản đối tính cách pháp lý của vụ kiện.

Thách đố thứ tư : sửa soạn hồ sơ cho vụ kiện Trung Quốc ra Tòa Án Quốc Tế

Việc sửa soạn hồ sơ này công phu lắm và phải bắt đầu ngay. Phải có một toán luật sư quốc tế giỏi lo thiết lập hồ sơ và đứng ra lo toàn vụ kiện tụng. Kiện đây là kiện đòi chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa cho Việt Nam.

Tác giả bài viết cũng muốn tản mạn thêm ở đây về những vụ kiện đã xảy ra trong quá khứ, tuy không phải là một chuyên gia pháp lý. Đa số những vụ kiện về lãnh thổ và lãnh hải đều có thể tìm được trên mạng, nếu có thì giờ các bạn có thể tìm đọc bài viết của ông Brian Taylor Sumner [3] rất xúc tích. Đọc qua những case studies (khảo sát) về những vụ kiện [6], tác giả bài viết ghi lại được cả thảy 5 tiêu chuẩn quan trọng mà các quan tòa đã dựa vào để đi đến phán quyết cuối cùng :

  1. Hiệp Ước hay Công Ước quốc tế giữa các nước : nếu các nước đã ký với nhau những hiệp ước hay công ước được Liên Hiệp Quốc ủng hộ hay phê chuẩn, những hiệp ước này sẽ có một ảnh hưởng lớn trong vụ kiện. Ví dụ như Hòa Ước giữa Mỹ và Tây Ban Nha ký năm 1898. Hòa Ước này cho phép Mỹ nắm chủ quyền các đảo Puerto Rico, đảo Guam và quần đảo Philippines. Ví dụ Hiệp Định Lausanne ký năm 1923 đưa đến việc thành lập các nước Jordan, Syria và Iraq sau khi vương quốc Ottoman bị thua trận sau đại chiến thứ nhất…
  2. Uti Possidetis (dịch tạm là tiếp tục giữ cái gì đang có) : đa số những nước bị đô hộ trong thời kỳ thuộc địa, sau khi nhà nước đô hộ ra đi, họ trả lại cho nước bị đô hộ biên giới lãnh thổ đã có sẵn. Như trường hợp Việt Nam, vấn đề đàm phán biên giới Việt-Trung đã phải dựa trên biên giới vạch ra từ hòa ước Pháp – Thanh. Dĩ nhiên trong cuộc đàm phán này, VN đã bị TQ lừa về vấn đề cột mốc và còn bị bắt nạt nữa và VN có thể đã mất hàng ngàn km2 trên biên giới Việt-Trung. Vụ Ải Nam Quan nay thuộc TQ cũng như thác Bản Giốc bị cắt đi phân nửa là một vài ví dụ về sự mất mát của Việt Nam sau cuộc đàm phán này. Các bạn trẻ trong nước nên tìm hiểu và học hỏi thêm để thấy tại sao chúng ta lại đàm phán thiệt thòi như thế, có bài của ông Trương Nhân Tuấn cũng đáng xem lắm [4].
  3. Quản trị hữu hiệu : tôi dịch tạm từ chữ “effective control”. Nếu dùng google để dịch chữ này thì sẽ được dịch là “kiểm soát hiệu quả” nhưng khi đọc sâu vào các chi tiết vụ kiện, hai chữ đó dính dấp đến việc quản trị nghiêm túc và hiệu quả với lãnh thổ (hay lãnh hải) mình đòi chủ quyền. Tỉ dụ đối với Hoàng Sa và Trường Sa, các quan tòa có thể đặt câu hỏi này : xin quý vị cho chúng tôi biết các nhà nước Việt Nam từ thời các vua triều Nguyễn cho đến nay đã có những bằng chứng nào về việc tổ chức quản trị hữu hiệu những quần đảo này. Qua các vụ xử mà tôi sẽ lần lượt nói sơ đến dưới đây, tiêu chuẩn này có thể được xem là tiêu chuẩn quan trọng nhất đưa đến những phán quyết cuối cùng của Tòa Án.
  4. Sự đồng thuận (acquiescence) : chữ này tôi mượn của ông Trương Nhân Tuấn vì tôi không tìm được từ nào hay hơn. Khi mình làm lơ, im hơi lặng tiếng không phản đối về vụ chiếm đảo chẳng hạn, là mình có sự đồng thuận. Một câu hỏi xin nhờ các chuyên gia và học giả Việt Nam cho một câu trả lời (không dễ) là : khi Trung Cộng chiếm hết đảo Hoàng Sa năm 1974, chỉ có VNCH phản đối chính thức với LHQ trong khi VNDCCH thì im hơi lặng tiếng. Ngày nay CHXHCNVN là kế thừa của VNDCCH, vậy thì CHXHCNVN có bị quy vào tội “acquiescence” không đối với chủ quyền Hoàng Sa ? Nhà nước CHXHCNVN luôn coi VNCH là “ngụy” thì có cách nào để được tư cách kế thừa VNCH ? Tôi có đọc một số bài viết về vụ này nhưng chưa thấy một giải pháp nào đơn giản. Vần đề lại càng khó khăn hơn vì thêm vào đó có công hàm 1956 của ông Phạm Văn Đồng.
  5. Công Ước Quốc Tế về Luật Biển (UNCLOS) : xin nhớ là UNCLOS chỉ cho ra những khuôn khổ cho việc thẩm định trong khi việc xác định chủ quyền thuộc về luật quốc tế, các bạn nào có thì giờ có thể nghiên cứu thêm về luật quốc tế với những tác phẩm của ông James Crawford xuất bản bởi đại học Oxford bên Anh.

Bây giờ mời các bạn xem những tóm tắt của tôi về những case studies:

Vụ kiện giữa Mỹ và Hòa Lan về chủ quyền đảo Palmas, 1928:

Sau cuộc chiến Mỹ-Tây Ban Nha (TBN), Mỹ chiếm đóng Phi Luật Tân (PLT) và đòi chủ quyền đảo Palmas vì đảo này thuộc quần đảo PLT mà Mỹ là nước kế thừa sau hòa ước Paris năm 1898. Hòa Lan (HL) phản đối và đòi chủ quyền đảo này mà theo HL là một phần của các đảo miền Đông (Dutch East Indies) dưới quyền đô hộ của HL. Tòa Án Quốc Tế (PCA) xem hòa ước Mỹ-TBN không đủ tư cách pháp lý vì trong hòa ước này không có tên đảo Palmas và HL không là nước ký hòa ước này. Theo lịch sử thì HL có quản trị và kiểm soát đảo hữu hiệu, có cả cờ HL được cắm trên đảo từ năm 1700 và có thu thuế từ đó. Thêm vào đó TBN đã không phản đối HL về chủ quyền đảo Palmas khi TBN rút quân ra khỏi Molucca năm 1666. Không phản đối chủ quyền có nghĩa là đồng thuận (acquiescence). Ông chánh án Max Huber kết luận là HL tiếp tục có chủ quyền đảo Palmas vì đã gìn giữ quản lý ôn hòa đảo này trong một thời gian dài kể từ năm 1700. Mỹ thua.

Vụ kiện giữa Na Uy và Đan Mạch về chủ quyền Đông Greenland, 1933:

Năm 1933, TAQT (PCIJ) phán xét cuộc tranh chấp giữa Na Uy (NU) và Đan Mạch (ĐM) dành chủ quyền miền Đông của đảo Greenland. Theo hòa ước Kiel ký năm 1814 thì trên nguyên tắc Greenland thuộc về ĐM. Tuy nhiên TAQT (PCIJ) cũng khảo sát xem ĐM có tiếp tục quản lý tốt đời sống trên toàn đảo sau hiệp ước Kiel. TAQT định nghĩa việc quản lý “tốt” như sau : “ý định và thiện chí lãnh nhận chủ quyền và tiếp tục thực thi cũng như thể hiện chủ quuyền đó”. TAQT xét lại tất cả những văn kiện ngoại giao và thương mại của ĐM trong suốt thời gian quản lý Greenland thì rõ ràng có chứng tích là những văn kiện này bao gồm cả vùng phía đông đảo Greenland [5]. Thêm vào đó lại có bằng chứng “acquiescence” phía NU qua bức thư trả lời của bộ trưởng bộ ngoại giao NU, ông Nils Claus Ihlen về chủ quyền trên toàn đảo Greenland vào ngày 22 tháng 07 năm 1919. PCIJ kết luận là chủ quyền Greenland hoàn toàn thuộc về Đan Mạch. Vụ xử này cho thấy việc quản lý và kiểm soát hữu hiệu đảo của một nước dành chủ quyền rất quan trọng trong phán quyết của tòa án.

Vụ kiện giữa Pháp và Anh về chủ quyền đảo Minquiers và Ecrehos, 1953:

Năm 1953, ICJ phán quyết chủ quyền của 2 nhóm đảo nhỏ Minquiers và Ecrehos. Hai nước tranh chấp là Anh và Pháp. Tòa đã dựa vào sự quản lý hữu hiệu để xác định chủ quyền. Và tòa đã xử có lợi cho Anh Quốc. Pháp đưa ra bằng chứng về công ước đánh cá và các phao đặt để giúp thuyền bè qua lại, Anh không phản đối, Pháp đưa lý do acquiescence. Nhưng những bắng chứng này chỉ có tác dụng trên biển và không đụng tới đảo nên tòa quyết định chủ quyền thuộc vế Anh.

Vụ kiện giữa El Salvador và Honduras về đất, đảo và biên giới đảo, 1992:

Ba đảo trong vụ tranh chấp này là 3 đảo nằm trong vịnh Gulf of Fonseca: đảo El Tigre, đảo Meanguera và đảo Meanguerita. Tòa định dùng uti possidetis lúc đầu để định chủ quyền nhưng cách này không rõ ràng. Tòa xem những bằng chứng về quản trị hiệu quả trong thời gian hậu thuộc địa với Tây Ban Nha. Tòa cũng chấp nhận những bằng chứng về acquiescence và cuối cùng tòa quyết định trao chủ quyền đảo El Tigre cho Honduras (dựa trên tiêu chuẩn quản trị hữu hiệu) và trao chủ quyền hai đảo kia cho El Salvador.

Rồi tôi có thể tiếp tục kể thêm nhưng đến đây tôi thấy cũng khá tạm đủ, tôi cho tất cả những case studies đọc được [6] vào bảng dưới đây:

H1

Và tác giả bài viết xin ngừng tại đây và xin dán xuống đây một tấm hình tiêu biểu cho những tranh chấp hiện nay trên biển Đông Nam Á:

H1

Tấm hình này cho thấy những yêu sách đòi chủ quyền của mỗi nước. Màu vàng trong vùng biển của mỗi nước là vùng đòi chủ quyền, một loại EEZ như theo đòi hỏi của Brunei. Đường lưỡi bò của TQ và Đài Loan cũng được thể hiện rất rõ. Chỉ cần chụp những đòi hỏi này lên cùng một bản đồ, chúng ta có thể mường tượng dễ dàng sự chồng chéo lên nhau của những yêu sách.

Thay lời cuối thì hiện nay Hoàng Sa đã bị TQ hoàn toàn chiếm đóng, riêng Trường Sa thì tôi mời độc giả xem bảng tóm tắt dưới đây:

H1____

Tài liệu tham khảo:

[1] https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C3%B9ng_%C4%91%E1%BA%B7c_quy%E1%BB%81n_kinh_t%E1%BA%BF

[2] Việt Nam Cần Dũng Cảm Đối Với Trung Quốc

[3] TERRITORIAL DISPUTES AT THE INTERNATIONAL COURT OF JUSTICE

[4] Về bài viết “Ải Nam Quan và thác Bản Giốc được phân chia như thế nào” của TS Trần Công Trục

[5] Charles Cheney Hyde, American Journal of International Law, Oct 1933

[6] Jason S. Nakata, “Law on the rocks : international law and China’s maritime disputes”, Dec. 2014, M.Sc. Thesis, Naval Postgraduate School, Monterey, USA

Nguyễn Duy Vinh (Douala, mùa mưa năm 2016)

Ts Nguyễn Quang A: Tôi muốn thức tỉnh người dân, thúc đẩy quá trình học tập dân chủ

Ts Nguyễn Quang A: Tôi muốn thức tỉnh người dân, thúc đẩy quá trình học tập dân chủ

Dongchuacuuthe.com

Sự kiện một số người tự ứng cử vào Quốc hội khóa XIV đã làm nóng các diễn đàn mạng và báo chí. Một số người đã đưa chương trình hành động khi ra tranh cử, một số người đã gặp những khó khăn từ nhiều phía. Điểm chung nổi bật là hầu hết họ đã tỏ rõ quyết tâm “biến quyền hão thành quyền thực” như Tiến sĩ Nguyễn Quang A đã phát biểu.

Nhân việc tự ứng cử vào Đại biểu Quốc hội khóa 14, chúng tôi đã thực hiện một loạt phỏng vấn các ứng cử viên độc lập cũng như quan điểm và suy nghĩ của các nhân sĩ, trí thức về vấn đề này. Quan điểm, điều kiện, suy nghĩ của họ ra sao… được phản ánh qua video và các cuộc phỏng vấn sau đây.

 

Tiến sĩ Nguyễn Quang A: Tôi muốn thức tỉnh người dân, thúc đẩy quá trình học tập dân chủ

– Thưa ông, vừa qua được tin là ông đã vào danh sách tự ứng cử vào Quốc hội VN khóa 14. Xin ông cho biết việc tự ứng cử này có ý nghĩa gì đối với ông?

NguyenQuangA_ungcu

– Sở dĩ tôi ứng cử vào ĐB Quốc hội, là tôi muốn thức tỉnh người dân, người dân có rất nhiều quyền, trong đó có quyền ứng cử để tham gia vào việc xây dựng đất nước. Mục đích là tiếp tục thúc đẩy quá trình học tập dân chủ mà chúng tôi đã khởi động từ lâu, chí ít là từ Kiến Nghị 72[1].

– Thưa ông, trong quá trình bắt đầu tự ứng cử cho đến bây giờ, ông có gặp khó khăn, thuận lợi gì?

– Trong quá trình nộp hồ sơ đăng ký ứng cử, nói chung khá thuận lợi. Tuy nhiên, có một vài thủ tục hành chính không được thuận lợi cho lắm. Nhưng, tất cả những cái đó đều vượt qua được.

– Thưa ông, nếu trúng cử, ông sẽ hành động như thế nào với tư cách của một Đại biểu Quốc hội?

– Nếu trúng cử vào Quốc hội, như tôi đã nêu trong cương lĩnh tranh cử của mình, tôi sẽ yêu cầu Quốc hội sửa hàng loạt Luật và loại bỏ tất cả những điều khoản của những Luật hiện hành vi phạm nhân quyền và vi hiến, cũng như thúc đẩy để Quốc hội ra những điều luật mới, để tạo điều kiện pháp lý cho người dân thực hiện các quyền của mình chứ không phải là các Luật để cản trở hay quản lý người dân.

– Thưa ông, tiền lệ từ trước đến nay là Đảng cử, dân bầu. Bây giờ dân tự ứng cử mà  không được Đảng cử. Như vậy, ông có hy vọng trong cuộc bầu cử này được đối xử công bằng và trúng cử hay không?

– Tôi mong muốn được đối xử công bằng. Nhưng thực tiễn tôi nghĩ rằng người ta sẽ không đối xử công bằng, người ta sẽ tìm mọi cách để loại tôi ra khỏi danh sách ứng cử viên cuối cùng. Điều đó cũng sẽ giúp cho người dân và bản thân chính quyền thấy Luật Bầu cử hiện hành nó phi lý như thế nào và mọi người phải lên tiếng để sửa đổi trong tương lai.

Như tôi đã nói, mục tiêu của tôi là thúc đẩy quá trình học tập, và khả năng lọt vào vòng trong là không nhiều.

– Thưa ông, câu hỏi cuối có hai ý: Thứ nhất là vừa qua một số báo chí đã lên những bài viết, để “đánh” những người tự ứng cử và bôi nhọ họ về vấn đề cá nhân, bới móc đời tư cũng như những động tác mà người ta gọi là “đánh dưới thắt lưng”. Những động tác như vậy có ý nghĩa gì với những người tự ứng cử hay không? Thứ hai là theo ông đánh giá chung, Quốc hội VN từ trước đến nay qua các bầu cử. Ở phương Tây, VN thường hay gọi là “dân chủ giả hiệu”. Vậy ở Việt Nam, có phải là dân chủ thật sự hay không?

– Một trong những khẩu hiệu tôi nếu ra là hãy biến quyền hão thành quyền thực. Nói cách khác, những quyền trước đây là quyền hão, được ghi trong giấy tờ nhưng trong thực tế không được thực hiện. Cho nên, các quyền đó xưa nay chỉ là các quyền hão mà thôi.

Chuyện người ta bôi nhọ những người tự ứng cử, về phía tôi, tôi phấn đấu cho một xã hội dân chủ, tôi tôn trọng quyền tự do biểu đạt của tất cả mọi người.  Nhưng, tôi kiên quyết phản đối những việc lạm dụng quyền đó để bôi nhọ người khác. Những người bôi nhọ đó đã vi phạm luật hình sự hiện hành của nước Việt Nam, những người tự ứng cử sẽ cân nhắc xem liệu có đưa những kẻ phạm tội phỉ báng đó ra trước pháp luật hay không.

– Xin cảm ơn ông, chúc ông thành công trong việc tự ứng cử để khẳng định quyền công dân của mình, cũng chúc ông mọi sự bình an và thành đạt trong sự nghiệp cũng như công việc của mình.

– Xin cảm ơn.

YouTube player

Nhà giáo Phạm Toàn: Dấy lên một ý thức rõ rệt, về quyền của mình

– Thưa nhà giáo Phạm Toàn[2], xin hỏi cụ một vài ý kiến về việc ông Nguyễn Quang A và một số người tự ứng cử Quốc hội khóa 14. Xin cụ một vài ý kiến.

– Tôi phải nói luôn là lần ứng cử, bầu cử năm 1946, ở Hà Nội rất vui, từng đoàn kéo nhau đi qua các phố để cổ động cho các ứng cử viên. Đoàn cổ động cho ông Tôn Thất Tùng là đoàn đẹp nhất.  Ăn mặc blu trắng, một cái ông tiêm to đẩy trên cái xe bò, hô Tôn Thất Tùng, Tôn Thất Tùng… rất vui.

Sau đó, nhiều nhiều giải pháp cho phong trào tự do dân chủ đúng Hiến pháp lụn bại đi. Đợt trước, có nhiều người tự ứng cử, nhưng mà không có một ý thức như lần này. Lần này, anh chị em ứng cử với ý thức là làm thay đổi thực sự. Mỗi người có một cương lĩnh, đặc biệt nó sẽ làm gương kê khai tài sản. Những ai mà kê khai như xưa nay mà ông tướng ở trong Sài Gòn nói, là kê khai xong bỏ tủ, thì bây giờ phải nghĩ lại, yêu cầu các anh kê khai đi. Dần dần nó phải như thế.

Triển vọng chưa biết thế nào, nhưng nó dấy lên một ý thức rõ rệt, về quyền của mình.

– Xin cảm ơn ông và chúc ông sức khỏe.

DuongTuong

Dịch giả, nhà thơ Dương Tường: Những lần bầu cử trước tôi đều coi là những trò giả vờ

– Xin chào nhà thơ Dương Tường[3], xin hỏi cụ về việc một số ứng cử viên tự do, tự ứng cử vào Quốc hội khóa 14 lần này, ý kiến cụ cảm nhận điều đó như thế nào?

– Tôi thấy năm nay những người tự ứng cử có khác so với những năm trước. Tôi xin thú thực là những lần bầu cử trước tôi đều coi là những trò giả vờ. Những người dân đi bầu cử là gạch số nào, để số nào chứ không cần biết là tên nữa… Năm nay, tôi thấy trong số những người tự ứng cử, có những người như ông Nguyễn Quang A, là một cái mừng về ý thức là những cái tự ứng cử lần này nó có khác.

Tôi thấy trong dư luận, việc tự ứng cử lần này có một ý thức rõ rệt. Đó là một điều đáng mừng.

– Xin cảm ơn nhà thơ, chúc nhà thơ sức khỏe.

J.B Nguyễn Hữu Vinh

[1] Bản Kiến nghị của 72 nhân sĩ, trí thức khởi đầu gửi Quốc hội để góp ý cho việc sửa đổi Hiến Pháp 1992 theo Nghị quyết của Quốc hội. Bản Kiến nghị đã đưa ra nhiều vấn đề cẩn thay đổi cơ bản bản văn Hiến pháp. Nhưng bản văn đã không được chấp nhận.

[2]  Nhà giáo Phạm Toàn sinh năm Nhâm Thân (1932) quê quán Đông Anh, Hà Nội, là một nhà giáo, nhà văn và dịch giả. Ông được biết tới nhiều là nhờ những hoạt động chính trị, như vào năm 2009, cùng với giáo sư Nguyễn Huệ Chi và Giáo sư Nguyễn Thế Hùng, thành lập ra trang mạng Bauxite Việt Nam, để phản đối khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Ngoài ra ông còn cùng với giáo sư Ngô Bảo Châu, và giáo sư toán học Vũ Hà Văn, mở một trang mạng giáo dục với tên là Học thế nào chính thức hoạt động vào ngày 1/5/2013 với kỳ vọng đóng góp vào việc tìm ra phương hướng giải quyết các vấn đề của giáo dục Việt Nam.

[3] Dương Tường là một dịch giả, nhà thơ, nhà phê bình nghệ thuật, phóng viên,… trong đó nổi bật nhất là dịch giả của nhiều tác phẩm văn học có giá trị như Cuốn theo chiều gió, Con đường xứ Flandres và tác giả của những bài thơ như Tình khúc 24. Nhiều bài thơ của ông lấy cảm hứng từ chủ nghĩa siêu thực và phong trào tượng trưng.

Ông tự nhận bản thân “một đời ăn nằm với chữ”. Về dịch thuật, ông quan niệm “một bản dịch lý tưởng phải là một tác phẩm, trong đó người dịch là đồng tác giả”.

II – Giáo Dục Giải Phóng Con Người : Nội dung & Ảnh hưởng

II – Giáo Dục Giải Phóng Con Người : Nội dung & Ảnh hưởng

                                                                       Đoàn Thanh Liêm

Trước khi đề cập đến nội dung của chủ trương “Giáo dục Giải phóng Con người” của Paulo Freire, người viết xin được kể sơ lược về cái duyên hạnh ngộ với nhà tư tưởng nổi danh này, xuất thân từ xứ Brazil là quốc gia đông dân nhất của Châu Mỹ La Tinh. Đó là vào cuối năm 1970, trong dịp tham dự một hội nghị quốc tế tại Paris, nhằm thành lập Institut Oecuménique au service du Développement des Peuples ( INODEP = Viện Đại kết Phát triển các Dân tộc), tôi đã được gặp đích thân Paulo Freire là một thuyết trình viên chính của Hội nghị, mà ông cũng còn được bàu là vị chủ tịch của INODEP nữa. Người tầm thước với bộ râu tóc dài đã điểm muối tiêu của người đã bước vào tuổi ngũ tuần, Paulo Freire có lối nói thật say mê sôi nổi, lôi cuốn như là một thi sĩ, mà lại diễn giải quan điểm lý luận của mình với niềm xác tín sâu sắc của một triết gia. Cử tọa gồm nhiều nhân vật đại diện từ khắp năm châu đều chăm chú theo dõi bài nói chuyện quan trọng, mà đày nhiệt tình của ông. Rồi qua năm 1972, lúc tôi đến Geneva để trao đổi gặp gỡ với một số vị tại văn phòng trung ương của Hội Đồng Tôn Giáo Thế Giới (WCC World Council of Churches), thì tôi cũng gặp lại Paulo Freire đang phụ trách về vấn đề giáo dục của tổ chức này.

Mùa hè năm 1971, vào dịp đến tham dự một cuộc hội thảo khác nữa tại Mindanao Philippines, thì tôi thấy sinh viên ở đây chuyền tay bán cho nhau cuốn sách “The Pedagogy of the Oppressed”, ấn bản địa phương đơn giản, chỉ có ruột sách, chứ không có bìa riêng theo kiểu tự làm lấy, cho nên giá rất rẻ, có 2 US$ một cuốn thôi. Và dĩ nhiên là tôi cũng đã mua vài cuốn để đem về cho các bạn ở Việt nam. Chuyện nhỏ này lại càng khiến tôi chăm chú theo dõi tư tưởng và đường lối giáo dục của Paulo Freire suốt từ hồi năm 1970 cho đến nay.

A – Nét chính yếu của tư tưởng và hành động của Paulo Freire.

Có thể nói Paulo Freire luôn nhất quán về cả phần lý thuyết, cũng như thực hành trong đường lối Giáo dục, nhằm giúp khối quần chúng bị áp bức tìm ra cho mình một phương cách cụ thể, hữu hiệu để tự giải thóat khỏi thân phận của người bị áp bức, bị tha hóa do các điều kiện khách quan của môi trường xã hội, cũng như chủ quan nội tại của bản thân mình. Quan điểm của ông có tính chất triệt để, dứt khóat là : Xã hội đương thời ở châu Mỹ La tinh, cũng như ở nhiều nơi khác đều do bao nhiêu bất công, áp bức bóc lột tạo ra nỗi lầm than cơ cực triền miên cho đa số quần chúng nhân dân. Và không khi nào mà giới thống trị lại chịu tự nguyện đứng ra chủ động việc cải thiện các định chế xã hội vốn bảo vệ các đặc quyền đăc lợi cho riêng họ.

Như vậy, chỉ khi nào chính cái đại khối quần chúng là nạn nhân của sự áp bức thống trị tệ hại đó, mà nhất quyết dấn thân vào công cuộc giải phóng kiên trì để tự cứu thóat lấy mình, thì xã hội mới có cơ may được xây dựng tốt đẹp, và con người mới phục hồi được nhân phẩm cao quý cho từng cá nhân được. Nói khác đi, chỉ khi nào chính quần chúng nhân dân mà được thức tỉnh giác ngộ về vai trò làm chủ nhân đích thực của xã hội, và cùng đồng lòng lăn xả vào cuộc tranh đấu giải phóng đó, thì họ mới có được một tương lai tươi sáng viên mãn, như từng mơ ước từ bao nhiêu thế hệ xưa nay.

Với niềm xác tín như thế, Paulo Freire đã nhập cuộc với xã hội quê hương mình, bằng cách phát triển phương thức giáo dục tráng niên, thúc bách cho các học viên cần phải có sự suy nghĩ với thái độ phê phán (critical thinking = conscientization) về hiện trạng xã hội, mà họ là nạn nhân của bao nhiêu áp bức bất công. Và rồi từ đó, chính họ sẽ ra tay hành động, nhằm biến đổi xã hội hủ lậu đó đi (transformative action). Do lối suy nghĩ và hành động cụ thể, cấp tiến như vây, mà ông đã bị phe quân nhân cầm quyền ở Brazil bắt giữ, rồi trục xuất đi ra khỏi nước vào năm 1964.

Trong thời gian sống lưu vong, ông có dịp đúc kết các suy nghĩ và hoạt động của mình, để rồi trình bày trong 2 cuốn sách xuất bản hồi cuối thập niên 1960, và được nhiều người đánh giá rất cao. Đó là cuốn sách đầu tiên có nhan đề  “ Education, the Practice of Freedom”, và đặc biệt là cuốn “The Pedagogy of the Oppressed”. Ta sẽ phân tích chi tiết rành mạch hơn về tác phẩm quan trọng này trong một đoạn sau. Và ông đã kiên trì tiếp tục tìm kiếm trong suốt cuộc đời còn lại, nhất là kể từ ngày được trở về lại quê hương vào năm 1980, để khai triển cho thêm phong phú hơn nữa cái chủ trương giáo dục có tính cách khai phóng và nhân bản cao độ này.

Tác giả Henry A Giroux nhận định về Freire rằng : “ Thực ra, ông là người đã kết hợp được điều mà tôi gọi là cả hai thứ ngôn ngữ phê phán với thứ ngôn ngữ khả thể” (In effect, Freire has combined what I call the language of critique with the language of possibility).

B – Giới thiệu tác phẩm “ Giáo dục của Người bị Áp bức”. 

Trong cuốn sách 160 trang ngắn gọn, xúc tích với chỉ có 4 chương này, Paulo đã phân tích khá rành mạch, dứt khoát về chủ trương kiên quyết không thỏa hiệp với nền thống trị đàn áp, vẫn ngự trị lâu đời trong xã hội đương thời, đặc biệt là tại châu Mỹ La tinh là quê hương bản quán của ông. Và sau khi cuốn sách ấn bản tiếng Anh ra đời vào năm 1970, tác giả lại còn có nhiều dịp trao đổi với các thức giả khắp thế giới, và từ đó ông đã hoàn chỉnh hơn quan điểm và lý luận của mình, như được trình bày trong nhiều cuốn sách và bài báo xuất bản vào thập niên 1980-1990 nữa. Ta có thể tóm gọn tư tưởng của ông trong mấy khía cạnh chính yếu sau đây :

1 / Giáo dục đại chúng cốt yếu là một cuộc đối thoại giữa” người dậy” và “người đi học” ( a dialogue between the educator and the learner), trong đó phải có sự tương kính lẫn nhau giữa hai phía (mutual respect). Paulo Freire đặc biệt phê phán cái lối dậy học “nhồi nhét”, mà ông gọi là “banking concept”, tức là chỉ có người dậy chủ động chuyển mớ kiến thức vào đầu óc của học viên, y hệt như việc ký gửi các số tiền vào nơi chương mục tại ngân hàng (making deposits). Như vậy, thì người học viên hoàn toàn đóng vai trò “thụ động” của một đối tượng, chứ không hề được khuyến khích để chủ động phát huy óc sáng tạo và sự suy nghĩ có tính cách phê phán (critical thinking), để mà có thể tự mình khám phá ra hoàn cảnh bị áp bức của mình và rồi đưa đến một hành động thích đáng.

Thay vào đó, tác giả đề ra cái khái niệm “Giáo dục đặt vấn đề” (problem-posing concept of Education), trong đó cả hai phía người dậy và người học đều cùng hợp tác với nhau trong một quá trình hỗ tương (a mutual process), nhằm cùng nhau khám phá thế giới, và chung với nhau cố gắng vươn tới một mức độ nhân bản viên mãn hơn (their attempt to be more fully human).

2 / Cuộc đối thoại này không phải chỉ nhằm đào sâu sự hiểu biết, mà còn là một phần làm thay đổi nơi thế giới. Tự bản thân, sự đối thoại là một loại hoạt động có tính hợp tác bao gồm sự tôn kính (a co-operative activity involving respect). Quá trình này quan trọng, vì nó giúp tăng thêm sức mạnh cho cộng đồng và đồng thời lại xây dựng nên nguồn vốn xã hội  (enhancing community and building social capital), mà lại đưa dẫn chúng ta đến hành động cho công lý và phát triển nở rộ về phương diện nhân bản (human flourishing) nữa.

Cơ sở cụ thể cho hệ thống giáo dục căn cứ vào sự đối thoại này chính là nơi các“câu lạc bộ văn hóa” (culture circle), trong đó các học viên và người phối trí hợp cùng nhau bàn thảo về những” chủ đề khởi sinh” (generative themes), mà có ý nghĩa trong bối cảnh cuộc sống thực tiễn của người học viên. Các chủ đề này liên hệ tới thiên nhiên, văn hóa, công việc làm và các tương quan xã hội, thì đều được khám phá ra qua sự tìm kiếm chung nhau giữa nhà giáo dục với học viên. Rồi các chủ đề đó được sử dụng làm căn bản cho cuộc đối thoại trong phạm vi sinh họat nội bộ của câu lạc bộ. Từ đó, mà dần dần diễn ra quá trình cấu tạo được ý thức phê phán (critical consciousness) nơi các học viên tham gia, với tư cách là chủ thể của xã hội, mà chính họ đang cùng nhau ra sức xây dựng với quyết tâm của cả tập thể của mình.

 3 / Tính chất độc đáo trong tư tưởng của Paulo Freire chính là việc ông đã khôn khéo tổng hợp đến độ nhuần nhuyễn được kinh nghiệm của những nhà tư tưởng tiền bối, và đem áp dụng vào đường lối giáo dục của ông. Điển hình là phép biện chứng của triết gia Hegel giữa “ông chủ và đày tớ”, thì đã được Freire áp dụng trong lối “giải thóat khỏi các hình thức độc đóan trong giáo dục”(liberation from authoritarian forms of education). Chủ thuyết hiện sinh của Jean Paul Sartre và của Martin Buber, triết gia Do Thái đã giúp Freire đưa ra khái niệm về “ sự tự biến đổi của người bị áp bức để tiến vào trong lãnh vực của tình trạng liên chủ thể tiến bộ” (the self-transformation of the oppressed into a space of radical intersubjectivity). Kể cả thuyết duy vật lịch sử của Karl Marx cũng ảnh hưởng tới quan niệm của Freire về lịch sử tính của các mối quan hệ xã hội (historicity of social relations).

Và chủ trương “Thần học giải phóng” cũng ảnh hưởng rõ rệt đến quan điểm của Freire, khi ông cho là “Tình yêu thương là điều kiện thiết yếu cho một nền giáo dục đích thực”. Rồi quan điểm cách mạng chống đế quốc của Ernest Che Guevara và Frantz Fanon, tác giả cuốn sách nổi tiếng “Les Damnés de la Terre”, cũng ảnh hưởng đến sự phân tích của Freire về tình trạng trầm đọng (sedimentation) của tư tưởng của giới áp bức thống trị, mà vẫn còn hằn sâu nơi não trạng của chính bản thân lớp người nạn nhân bị áp bức. Và rồi từ đó, ông đã dấn thân hết mình vào công cuộc tranh đấu chống lại chế độ thực dân đế quốc ở khắp mọi nơi.

C – Ảnh hưởng của tư tưởng Paulo Freire trên thế giới.

Có thể nói Paulo Freire là mẫu “con người tri hành hợp nhất” theo lối nói của Vương Dương Minh là nhà tư tưởng nổi danh của Trung quốc ngày xưa. Ông không chỉ đơn thuần là một lý thuyết gia, mà còn là một con người dấn thân hoạt động hết mình cho lý tưởng giải phóng con người. Chủ trương Giáo dục của ông tuy rất cương quyết dứt khoát, triệt để tiến bộ, nhưng đày tính nhân bản ôn hòa, khác hẳn với khuynh hướng quá khích, bạo hành của lớp người cộng sản Marxist tại châu Mỹ La tinh, cụ thể như Che Guevara, Fidel Castro. Vì thế mà đại bộ phận quần chúng nhân dân tại khu vực quê hương ông, vốn theo Thiên chúa giáo, thì đã tiếp nhận tư tưởng của Freire một cách nồng nhiệt, phấn khởi.

Tại Phi châu cũng vậy, trong nhiều dịp đến làm việc tại châu lục này, nhất là tại mấy nước trước đây cũng là thuộc địa của Bồ Đào Nha, như Angola, Mozambique, Guinea Bissau, Paulo Freire đã được đón tiếp một cách rất thân tình trân trọng, bởi lẽ ông cùng chia sẻ cái thân phận của người dân đã từng phải sống dưới sự thống trị hà khắc của các chánh quyền thực dân đế quốc trước kia, cũng như của các chế độ độc tài bản xứ trong giai đoạn độc lập tự chủ hiện nay.

Tại Á châu, ông cũng được đón tiếp tại nhiều nơi như Ấn độ, Papua New Guinea, và có nhiều dịp trao đổi với các giới chức hoạt động trong lãnh vực giáo dục, cũng như hoạt động cộng đồng.

Đã có nhiều quốc gia thiết lập các Viện Nghiên cứu Paulo Freire (Paulo Freire Institute = PFI) nhằm cổ võ và quảng bá tư tưởng của ông về lãnh vực cải cách giáo dục tráng niên, cũng như thúc đảy công cuộc tranh đấu cho công bằng xã hội trên phạm vi toàn cầu. Điển hình như PFI tại Nam Phi, tại Tây Ban Nha, tại Phần Lan, tại đảo quốc Malta, và dĩ nhiên tại Brazil là quê hương của ông.

Riêng tại Mỹ, thì có FPI đặt tại đại học UCLA ở thành phố Los Angeles California. Viện nghiên cứu này được thiết lập năm 2002 và rất hoạt động với việc xây dựng những mạng lưới liên kết giới học giả, nhà giáo,  nhà họat động xã hội, nghệ sĩ và các thành viên của cộng đồng. Thông qua các cuộc gặp gỡ trao đổi thường xuyên, tất cả các thành viên và các thân hữu của Viện FPI đều dồn nỗ lực vào việc xây dựng công bằng xã hội, và sử dụng giáo dục như là một phương tiện để tạo sức mạnh cho khối quần chúng bị áp bức, bị khuất phục tại khắp nơi trên trái đất.

Ngòai ra, cũng còn phải kể đến các Diễn Đàn Paulo Freire ( bi-annual PF Forums) được tổ chức mỗi năm 2 lần, nhằm mở rộng và nâng cao sự nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm của những thức giả vốn theo đuổi đường lối giáo dục tiến bộ do Paulo Freire đã dày công khai phá từ trên nửa thế kỷ nay.

D – Thay lời kết luận.

Có thể nói Paulo Freire là một con người tòan diện, vừa có trình độ suy tư lý luận rất thâm hậu, mà cũng vừa là con người dấn thân họat động suốt đời, không bao giờ mệt mỏi. Ông được quần chúng mến phục, không những do các tác phẩm sâu sắc về triết lý giáo dục, về phương pháp vận động khích lệ cho tầng lớp người bị áp bức bóc lột, mà còn vì cái nhân cách sáng ngời, cái tinh thần khiêm cung hòa ái, và nhất là vì tấm lòng tha thiết yêu mến tột cùng đối với nhân quần xã hội nữa.

Quả thật, Paulo Freire là một tiêu biểu rất xứng đáng, là niềm tự hào cho tầng lớp sĩ phu trí thức của xứ Brazil, cũng như của tòan thể châu Mỹ La tinh vậy./

California, Tiết Trung Thu Canh Dần 2010

Ai sẽ chịu trách nhiệm trên đất nước này?

Ai sẽ chịu trách nhiệm trên đất nước này?

 Trách nhiệm luôn đi cùng danh dự và sự tồn vong của tổ quốc. Chúng ta sẽ mất cả, nếu không ai có đủ danh dự để chịu trách nhiệm trên đất nước mình, khởi đầu từ những điều nhỏ nhất.

____

Tuấn Khanh

30-3-2016

H1

Cuộc tranh cãi gay gắt giữa hai phe phụ huynh vẫn không ngớt về nạn bắt cóc trẻ em, hiện râm ran trong từng gia đình.Người ta kể về những chuyện giành giật lại con cháu mình từ bọn bắt cóc ở ngã tư, có người may mắn, có người thì chỉ còn khóc hận.

Cuộc tranh cãi dữ dội hơn, ngay sau khi có lời tuyên bố của trung tá Nguyễn Quang Thắng, phó phòng tham mưu Công an TPHCM rằng không thể có nạn bắt cóc tràn lan trên đường phố.

Theo ông Quang Thắng thì cơ quan công an điều tra chỉ tiếp nhận duy nhất một vụ như vậy mà thôi.

Thật đáng phân vân, một bên là lời đoán chắc của hệ thống công quyền, còn một bên là an nguy của chính mình.

Báo Phụ nữ Việt Nam thì khẳng định rằng nhiều trường đã ra thông báo cho phụ huynh về tình trạng này, mà nhiều nơi đang xảy ra như ở trường Đặng Thuỳ Trâm (quận 7, TPHCM), trường mầm non Anh Tú (quận Tân Bình), trường Phan Như Thạch (phường 9, Lâm Đồng)…

Thật bất ngờ khi trong những lời cảnh báo về nạn bắt cóc trẻ em, có cả thông báo chính thức của Bộ Giáo dục vào ngày 13/1. Vụ trưởng vụ Công tác học sinh sinh viên Ngũ Duy Anh đã kêu gọi các trường học phải đề cao cảnh giác, tăng cường đảm bảo an ninh cho các em.

Trên truyền hình, các bài học võ thuật cơ bản nhằm chống cướp con trên tay cũng xuất hiện.

Vậy thì ai đúng, ai sai? Trong một xã hội mà mỗi ngày càng có nhiều biến động, người ta không thể răn đe việc tán phát tin đồn trong sự bất an của dân chúng, mà phải có những phương pháp giải quyết khủng hoảng hợp lý và tích cực của chính quyền.

Việc trống đánh xuôi, kèn thổi ngược chỉ làm mọi thứ thêm rối rắm, và cuối cùng chỉ có người dân là nạn nhân.

Xã hội Việt Nam nhận được rất nhiều các phát ngôn của các quan chức và chính quyền địa phương. Nhưng có vẻ như ít khi nào tìm thấy được ai thật sự là người chịu trách nhiệm trước mắt người dân, hoặc chịu trách nhiệm của bản thân mình.

Ngược lại, đôi khi người có trách nhiệm thường thoái thác rằng “bận họp” hoặc cúp máy đột ngột khi trả lời phỏng vấn. Dường như có ai đó phải chịu trách nhiệm, phải hành động trên đất nước này là điều mơ hồ, xa xôi.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng tại Hà Nội, bị một nhóm người lạ mặt tấn công dã man bằng gậy vào ngày 23/3 ngang nhiên như trong phim xã hội đen.

Vụ tấn công diễn ra giữa ban ngày, như một nỗi nhục của nền báo chí quốc gia mà cho đến khi kết thúc không hề có bóng dáng công an viên nào xuất hiện. Sau khi đi cấp cứu, nhà báo Đỗ Doãn Hoàng phải tự mình ra công an của khu vực đó để trình báo.

Lúc này, có rất nhiều nhà báo, rất nhiều sinh viên truyền thông dõi theo sự kiện này với nỗi phập phồng về tương lai và nghề nghiệp của mình, nhưng có vẻ vụ án như “bế tắc”. Và không ai phải chịu trách nhiệm về việc mất an ninh kỳ quặc như vậy ngay giữa thủ đô Hà Nội.

Trong sự kiện nữ học sinh Lê Thị Hà Vi, 15 tuổi ở Cư Kuin, Dăk Lăk bị bệnh viện địa phương chẩn đoán sai khiến phải cưa chân, ai cũng bất ngờ khi bà Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đến động viên và nói “bác hứa sẽ giúp cho con thi đậu vào ngành y”.

Sự kiện tắc trách của ngành y tế khiến ai cũng đau lòng, khiến một nữ sinh phải tàn tật suốt đời, nhưng để “đền” cho chuyện đó, mà một nữ sinh có nguyện vọng học ngành công an, đột nhiên được động viên chỉ cần học một năm là sẽ được giúp đậu ngành y, khiến ai cũng ngạc nhiên.

Nguyên gốc câu nói đó có thể trở thành vấn đề của pháp luật. Thi cử và học vấn là vấn đề thiết yếu của quốc gia, không thể tuỳ tiện như vậy. Ở vị trí là một người có học và có trách nhiệm, bà Tiến không thể tuỳ tiện. Việc “hứa giúp” của bà Tiến có thể đặt vào thế bị Bộ Giáo dục Việt Nam khởi kiện.

Nhưng tiếc thay, có vẻ như Bộ Giáo dục Việt Nam cũng không có ai thấy mình có trách nhiệm để cần phải lên tiếng.

Trách nhiệm cá nhân là một phần quan trọng của đất nước, trong giai đoạn mà mọi thứ đang có vẻ dần vào rối ren bởi quá nhiều hư hỏng, quá nhiều tai ương… hiện ra, cho thấy đó là những quyết định sai lầm, vội vã hay tư lợi của những cá nhân, những nhóm người nhưng hôm nay thì thật khó tìm ra người chịu trách nhiệm.

Chỉ còn lại nhân dân là người phải gánh vác những hậu quả, từ nợ công cho đến sự sụp đổ một cây cầu, một con đường hay một hàng cây xanh.

Từ chuyện một đứa trẻ bị bắt cóc, cho đến chuyện của Bộ Y tế, Bộ Giáo dục… rồi đến việc đánh đập nhà báo để bịt miệng công luận… mọi thứ cứ đi dần vào cõi u u mê mê của đời sống, vào tiếng thở dài của những người ngồi trên vỉa hè nhìn về tương lai đất nước với cảm giác rằng mọi thứ đang bị bỏ trôi, không có ai thật sự chịu trách nhiệm trên đất nước này.

Trách nhiệm luôn đi cùng danh dự và sự tồn vong của tổ quốc. Chúng ta sẽ mất cả, nếu không ai có đủ danh dự để chịu trách nhiệm trên đất nước mình, khởi đầu từ những điều nhỏ nhất.

LÀM NGƯỜI TỬ TẾ, SAO KHÓ THẾ ?

LÀM NGƯỜI TỬ TẾ, SAO KHÓ THẾ ?

Xin cái sổ tạm trú (sổ xanh) để con cái đi học, bị hành hạ kéo dài, với muôn trùng lý do điều kiện. Cuối cùng cũng phải lót tay, thế là mất một cơ hội làm người tử tế.

Nhất quyết không chạy trường cho con, không đạp cổng trường, không trèo hàng rào vì như vậy sao có thể dạy con làm người tử tế.

Ra đường phải ráng căng mắt vừa nhìn xe vừa nhìn cảnh sát giao thông, để tránh những ổ mai phục. Nếu không sẽ bị thổi, mà thổi phải hối lộ, nếu không muốn nếm cảnh nhiêu khê khi đi nộp phạt. Mà đưa hối lộ thành ra là người không tử tế.

Cả nhà phải đừng ốm, mà có ốm thì cũng ráng mua thuốc về trị, chứ ốm mà vào bệnh viện là phải lót tay mới mong có chổ nằm đàng hoàng, có người quan tâm. Không thì nằm giường đôi, nằm hành lang, nằm đất, đau kêu cũng mặc. Mà lót tay thì không được tử tế cho lắm.

Muốn xin một chân giáo viên để dạy cho học trò tử tế, hay muốn một chổ đứng quèn trong nhà nước để cống hiến sức mình thì cũng cố mà gửi gắm bôi trơn, thế thì sau này sao làm việc tử tế.

Có việc đến cửa quan thì phải ráng mà kiên nhẫn, chờ đợi, nay thiếu này mai thiếu kia cũng phải cố mà chịu đựng để được việc, nếu không thì phải này kia. Vậy là tiếp tay cho tiêu cực, là không tử tế.

Làm doanh nghiệp thì phải ráng mà chịu các trò sách nhiễu từ cơ quan thuế, gấp gáp đăng ký in hoặc mua cuốn hoá đơn để xuất cho tử tế, hay làm thủ tục xin hoàn thuế thì coi như tự biến ta thành mồi ngon. Đủ trò để diển, đến khi kiểm tra xong cái phong bì thì xem như hạ màng. Mà làm vậy thì làm sao tử tế…

Nghĩ cũng lạ, làm người tử tế sao khó thế ?. Thôi thì chắc phải đợi đến khi nào về hưu, lúc đó tự trồng rau, tự nuôi gà, hằng ngày chỉ biết ruộng vườn nương rẫy không còn liên can gì đến xã hội, có như vậy mới mong làm được người tử tế.

(Lời chia sẻ của thằng bạn không tử tế)

Ảnh của Nguyễn Phương Đông.